Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 18245 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #60 vào: 12/01/2018, 18:33:42 »
BÁCH KHOA |  SỐ 10  [1 tháng Sáu  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Thử tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề phân phối hàng hóa |  1-8
Hoàng Minh Tuynh |  Rút-Xô với bộ Dân-ước luận |  9-11
Nguyễn Huy Lịch |  Người trước dư luận |  12-15
Nguyễn Văn Ba |  Vua Thần Nông nếm thuốc |  16-20
Nguyễn Tử Quang |  Cần xây dựng một cảm quan đúng đắn trong khi đọc truyện Tàu |  21-22
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [II] |  23-32
Bách-Khoa |  Hai cách đối xử |  32
Bình Nguyên Lộc |  Tần Thỉ Hoàng, một ông vua nhiều sáng kiến |  33-34
Thuần Phong |  Lễ giá thú trong câu hò miền Nam |  35-40
Bách-Khoa |  Có “dũng” chưa đủ, còn phải có “trí” |  40
Tuyết Nga |  Chung quanh vấn đề nam nữ bình quyền |  41-42
K. C. Thanh Trung |  Quê tôi miền Bình Định (thơ) |  43-44
Quảng cáo |  45-48
Lê Văn |  Anh Mười Méo (truyện ngắn) |  49-57
Quảng cáo |  50, 52, 54, 56
Bách-Khoa |  Từ lý thuyết đến thực hành |  57
Mặc Thu |  Một chuyện Liêu Trai: Lan Tình Sử |  58-63
Bách-Khoa |  Chết trong hơn sống đục |  63
Quảng cáo |  64
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Tinh thần Nho giáo và Tinh thần Tây học khác nhau thế nào? |  65
Quảng cáo |  66-67
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [VII] (truyện dài) \ Từ Vu |  68-70
Quảng cáo |  71
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  72-74
Bách-Khoa |  Chân nghĩa “Tôn quân” |  75
Bách-Khoa |  Một cách giáo hóa của Khổng Tử |  76
Quảng cáo |  77-80


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #61 vào: 12/01/2018, 19:07:58 »


Vua Thần Nông nếm thuốc

VUA THẦN NÔNG họ Khương, sống vào khoảng 2.000 năm trước Đức Chúa giáng sanh. Vua là bực tài đức chẳng những dạy dân lập chợ búa buôn bán, mà còn dạy cày cấy trồng tỉa, nên dân tôn hiệu là “Thần Nông”. Vua Thần Nông để lại cho ta bộ Thần Nông Bản Thảo, gồm có 3 quyển, tổng cộng được 365 vị thuốc, ấy là bộ sách xưa nhứt và quí nhứt trong nghề Y.
         Trong bộ ấy, 365 dược tánh được giảng giải rất rành mạch, phân minh chắc chắn, đầy đủ, đến nỗi ngày nay khoa học tối tân xem xét thí nghiệm đến những vị nói trong ấy, đều nhiệt liệt tán thành không sửa cải được điều gì, mà cũng không thêm được sự phát minh nào cho đích đáng hơn.
         Ví dụ như Ma-Hoàng: “Khí Vị Khổ Ôn, vô độc, chủ trúng phong thương hàn, đầu thống ôn ngược. Phát biểu xuất hàn, khử tà nhiệt khí, chỉ khái nghịch thượng khí, trừ hàn nhiệt, pha trưng kiện tích tụ, khử tiết căn”. Trong Bản Thảo có nói rõ khử tiết căn, nghĩa là khi dùng Ma-Hoàng thì chỉ dùng cọng, bỏ tiết là mắt và căn là rễ. Khoa học ngày nay phân tích, thấy trong Ma-Hoàng có chất éphédrine, vì đó mà Ma-Hoàng được công hiệu. Nhưng trong cọng thì có éphédrine rất nhiều, còn trong tiết và rễ thì không có éphédrine nào cả.
         Trong Bản Thảo lại dạy cắt Ma Hoàng đúng vào tiết Lập Thu thì mới tốt. Ngày nay người ta thấy rõ Ma Hoàng gặt ở mùa Hạ thì không có éphédrine, mà gặt ở mùa Đông thì chỉ có phần ba éphédrine của mùa Thu mà thôi. Một ví dụ nhỏ như thế cũng đủ chứng chắc giá trị đặc biệt của sự nghiên cứu của Vua Thần Nông. Hay nói một cách khác, Vua Thần Nông cũng là người mà dùng phương pháp gì để rõ vị khí, tính chất, hiệu năng, tác dụng của vị thuốc một cách chắc chắn, mau chóng, mà khoa học máy móc ngày nay cũng phải nhận là quá đúng?
         Tục chỉ truyền rằng Vua Thần Nông một ngày ngộ độc đến 70 lần mà không chết, nhưng chẳng nói cho chúng ta biết Vua Thần Nông nếm thuốc với phương pháp nào. Một người mạnh giỏi như Vua Thần Nông tự nếm thuốc để coi thuốc ấy trị được bịnh gì thì làm sao nếm cho biết được. Ít nữa phải có bịnh nhơn chẩn đoán cho trúng bịnh đã, rồi mới thử thuốc, thử đến 10 lần, 100 lần đúng như nhau rồi mới dám truyền lại cho hậu thế. Nếu không có bịnh nhơn để thử thuốc mà thử lấy một mình, mà mình lại vô bịnh thì làm sao rõ được công hiệu của vị thuốc. Bởi vì lý lẽ ấy mà nhiều người cho câu chuyện Vua Thần Nông là câu chuyện huyền hoặc như trăm nghìn câu chuyện huyền hoặc khác; rồi bỏ lơ mà nói: Bộ Thần Nông Bản Thảo do sự ghi chép kinh nghiệm của nhiều dược học gia ở nhiều đời mà ra, chớ không phải của một người.
         Nếu tục chẳng truyền cho chúng ta biết rằng Vua Thần Nông ngộ độc 70 lần trong một ngày mà không chết thì chúng ta thật chẳng biết làm sao mà lần mò ra được. Nhưng tục đã truyền như vậy thì ta có thể lần phăng ra đầu dây mối nhợ ấy mà đạt đến chỗ ta muốn biết, là với phương pháp gì Vua Thần Nông nếm thuốc mà biết được dược tánh một cách chắc chắn và phân minh như vậy. Vì rằng, một khi nhận rõ phương pháp ấy ta cũng có thể áp dụng nó trong việc khảo cứu dược tánh của ta ngày nay cho được nhanh chóng và tinh vi. Ta thử xem chung quanh ta, có biết bao nhiêu cây cỏ dùng làm thuốc được, ta gọi là “cây nên thuốc” mà ta chẳng biết làm sao thí nghiệm cho rõ chúng nó trị được những bịnh gì. Dầu với máy móc tối tân, ta cũng chẳng đi được một bước xa nào, ta chỉ nhờ những kẻ nghèo nàn hay người rủi ro ăn phải một cách ngẫu nhiên, nhiều lần như vậy, rồi ta mới dám biên vào sách nhưng với một dấu hỏi to, vì không phải tự tay ta đã thí nghiệm. Ta phải chờ thì giờ và ngẫu nhiên, biết mấy mươi năm mới thêm chắc chắn được một vị thuốc mới.
         Nhưng, trước khi bàn đến phương pháp của Vua Thần Nông, tôi xin đem quí ngài một tí qua phía trời Âu.
         Cuối thế kỷ thứ 17, tại quận Saxe ở Đức quốc, Bác sĩ Hahnemann phát ra một phương trị liệu, nói cho đúng bác sĩ chỉ áp dụng phương cổ truyền dạy từ Hippocrate, là tổ thầy thuốc bên Âu châu như Huỳnh Để được coi là Tổ y học của Á châu; phương trị liệu ấy gọi là “Đồng Chủng trị liệu pháp”. Một buổi kia bác sĩ được đọc một tờ kỷ yếu của một Tạp chí Y khoa, thấy nói có nhiều người đang lành mạnh mà không biết vì lẽ gì mà uống ký ninh nhiều quá, bỗng trở nên sốt rét như người bị bịnh sốt rét rừng. Bác sĩ tức thời chạy lấy ký ninh mà uống rất nhiều, và cho vợ con tôi tớ uống nữa. Mọi người đều bị chứng run rét, rồi nóng, rồi đổ mồ hôi. Mỗi ngày cũng có từng cơn y như bị muỗi độc truyền bịnh rét rừng cho. Bác sĩ lấy làm lạ quá, và dùng thuốc ký ninh, lần nầy ít-ít, mà chữa bịnh thì ai nấy đều được mạnh.
         Từ đó, Ông Hahnemann mới thử thêm các thứ thuốc khác, có lúc Ông uống, có lúc cho người tình nguyện uống, công phu hơn ba mươi năm trời mới để lại cho đời một Bản Thảo, mà nếu so sánh với Thần Nông Bản thảo thì như hai anh em ruột. Sự so sánh nầy rất bổ ích cho người tìm hiểu căn nguyên của y lý, nhưng nói ra sẽ dài quá, không thể để trong khuôn khổ bài nầy được. Nhờ sự sáng kiến của Ông Hahnemann, công phu thí nghiệm của Ông và bộ Bản Thảo của Ông (tiếng Pháp: Matière Médicale), mà ngày nay Âu Mỹ mới có một khoa trị liệu mới, rất thần tình, gọi là Đồng Chủng trị liệu pháp, tên Âu Mỹ gọi là Homéopathie.
         Vậy chớ Đồng Chủng trị liệu pháp là gì? Ta cũng nên thừa dịp nầy mà biết sơ qua. Xưa nay, Đông y hay Tây y đều dùng thuốc theo khoa Dị Chủng trị liệu, nghĩa là một bịnh nào chẳng hạn, như bịnh kiết lỵ, vì sự ngẫu nhiên mà người ta biết Émétine hay Kim-ngân-Hoa trị được, nhưng vì sao mà trị được? Trị được là vì Emétine có tính sát trùng amibes, còn Kim-ngân-Hoa có tính hàn, giải được độc của nhiệt lỵ. Dầu ta có trị kiết lỵ bằng những phương khác, hoặc tứ-linh, ngũ-linh, hoặc với hoàng-liên ngô-thù, thì các vị thuốc ấy không thấy có đi một chiều với bịnh, trái lại đi nghịch chiều với bịnh thì mới trị được bịnh. Hàn thì phải ôn, nhiệt thì phải lương, ngộ độc vào thì ta phải cho mửa ra, hư thì phải bổ, thực thì phải tả, đều là phải dùng phương trái ngược với bịnh mới trị được bịnh. Phương ấy gọi là Dị Chủng trị liệu, Âu Mỹ gọi là Allopathie.
         Ông Hahnemann, khi đã uống ký ninh nhiều thì thấy rét run như sốt rét rừng, khi uống lại ít-ít thì chữa lại được chứng sốt rét ấy, bèn nghĩ đến những trường hợp giống như thế. Cà-phê uống nhiều thì không ngủ được, bắt trằn trọc hoài. Mà uống rất ít lại trị được chứng bất mi (không ngủ) vì thần kinh. Nha phiến hút nhiều làm giảm sức não tủy, còn dùng rất ít thì, trái lại, giục sức bộ thần kinh lên. Nhơn-Ngôn uống nhiều giết hại hột máu đỏ trong người, dùng ít lại làm tăng hột máu đỏ. Thuốc hút, hút nhiều thì say, hút một tí thì trái lại chữa được chứng huyền vựng (chóng mặt). Mã-tiền uống nhiều thì các bắp thịt đều chuyển cứng, cho đến bộ tiêu hóa từ cuống họng tới hậu môn đều bị co bóp rất mạnh và đau. Trái lại, biết dùng ít thì mã-tiền trị được lý cấp (bụng bóp đau) và chuyển cân (dọp bẻ). Khi bị ong chích, thì thấy một quầng đỏ và chỗ ấy nhức nhối như ai đâm kim chích vào chỗ đó, thì ta uống một tí nọc ong sẽ hết nhay lập tức…
         Suy nghĩ đến mấy ví dụ ấy, Ông Hahnemann thấy rằng một bên: là một thứ thuốc của người đang mạnh giỏi dùng cho đến sức lượng ngộ độc, như cà-phê kích thích thần kinh cho đế mất ngủ; một bên: là cũng một vị ấy mà biết cách dùng ít đi, thì lại chữa được bịnh mà chính nó đã gây nên bởi uống nhiều, như cà-phê biết cách dùng ít thì chữa được bịnh mất ngủ vì thần kinh kích thích.
         Biết cách dùng ít một vị thuốc để chữa những bịnh, hay chứng mà chính nó gây nên nếu uống nó nhiều, lấy nó mà trị nó, “đạp gai lấy gai mà lể”, ấy là phương pháp của Ông Hahnemann, mà ngày nay đã bành trướng khắp hoàn cầu.
         Quay về phương Đông của chúng ta, chúng ta cũng thấy pháp Đồng Chủng trị liệu đã được áp dụng nhiều lần mà ta chẳng hay. Như bã đậu dùng nhiều thì ỉa đến chết, mà lấy 1 hột bã đậu, đem giã nát với mấy chục ngàn chày trong giấy bạch (giấy bản) với ít hột tiêu sọ rồi lấy một ít bằng hột lúa cho uống, thì trị bịnh thiên-thời ỉa đến gần chết rất hay. Như rắn bách-hoa-xà uống vào nhiều thì làm đến rụng răng, chảy máu mủ ở lợi (nướu), nhưng lấy một chút bột rắn ấy phết với dầu dừa chà ở tám kẽ ngón tay thì lại trị được bịnh ung xỉ rất hay. Như lá giác uống nhiều thì sưng nổi cùng mình, nhứt là sưng vú; nhưng lấy một ít đâm dập bó ở đầu ngón tay cái thì chữa được nhũ-ung rất tài. Vú bên mặt thì bó ngón trái, vú bên trái thì bó ngón mặt vì sự giao thông bắt tréo của các đường kinh lạc; mới vừa bó thì thấy tê rần rần và ngứa ở vú; một chốc lát hết ngứa thì phải rửa chỗ bó lá giác ngay là khỏi. Cũng có khi người mình chữa bịnh yết hầu hay ung-xỉ mà chỉ hít hơi thuốc bôi ở vách cách xa miệng độ 3, 4 tấc tây.
         Xưa kia người mình dùng phương Đồng Chủng trị liệu như thế rất nhiều, mà trong phép ấy vị thuốc dùng phải rất ít, có khi chỉ có một phần triệu của một ly (Ông Hahnemann dùng đến 1 phần 10 triệu của ly), có khi một luồng hơi cũng đủ trị, mà dùng nhiều hơn thì lại không trị được. Người mình, gần đây, không biết vì lý lẽ gì hít hơi thuốc ở vách, hay bó thuốc ở ngón tay trái mà trị được bịnh ở vú bên mặt, bèn chế nhạo rồi khinh bỉ Ông Bà mình là mê tín dị đoan; tức nhiên là những công nghiệp quí báu của tổ tiên đã tiêu diệt gần hết.
         Chắc cũng có được một vài độc giả muốn biết tại sao thuốc ít như thế mà cũng công hiệu được.
         Một vị thuốc uống vào người thì hóa ra hai phần: một phần vật chất chạy khắp trong tạng phủ, một phần đã hóa ra khí thuốc, chạy theo kinh lạc nào nó hợp, như trong Bản Thảo thường nói là vị thuốc nào chạy vào kinh nào, chớ không nói nó chạy vào gan hay phế mà nói chạy vào túc huyệt âm kinh hay thủ thái âm kinh mà thôi. Phần vật chất không quan hệ cho mấy đến sự trị bịnh, mà chính là phần khí-hóa của thuốc mới bổ hay tả được kinh lạc, rồi kinh lạc mạnh lên hay yếu đi sẽ trở lại ảnh hưởng đến ngũ tạng lục phủ mình. Phần khí-hóa mới thật là phần trị bịnh. Theo phép Dị Chủng trị liệu như ta thường dùng, thì thuốc thường không độc cho mấy, nên uống nhiều hơn hay ít hơn một tí cũng không sao; và trong phép trị liệu như thế ta để tự nhiên thuốc biến hóa thế nào là biến hóa thế ấy, không can thiệp đến. Còn theo phép Đồng Chủng trị liệu, như cách dùng bã đậu trị bịnh thiên-thời, thì ta phải giã bã đậu đến mươi ngàn chày, ta phá tan tế bào nó ra, giúp nó mau thành khí-hóa; tế bào càng tan ra nhiều chừng nào thì sức khí-hóa của nó càng to và mạnh chừng nấy, thì sức trị liệu của nó càng to gấp bội phần. Ông Hahnemann lấy một giọt thuốc nặng chừng 1 ly tây, nhiễu giọt ấy trong một cái bình đựng 99 giọt nước lã, Ông đóng nút chặt, cho máy vừa xoay vừa lắc, một phút đến cả ngàn vòng. Kế đó, Ông lấy một giọt trong bình thứ nhứt, nhiễu qua bình thứ nhì có sẵn 99 giọt nước lã và cũng cho quay và lắc nhiều như thế, cho đến 30 lần, 50, 100 lần bình như thế rồi Ông mới lấy ra 5, 3 giọt chế như thế mà dùng thì hiệu nghiệm vô cùng, càng phá tan tế bào nhiều chừng nào càng công hiệu chừng nấy.
         Về thuốc khô, Ông Hahnemann cũng tán ra, đâm ra biết bao nhiêu ngàn chày thì lại thấy thuốc càng hay lên. Cho nên chúng ta chẳng lấy làm lạ rằng thuốc tán uống ít mà công hiệu không kém, có khi nhiều hơn thang thuốc cân lượng gấp 5, 6 lần của thuốc tán.
         Khi thuốc phết ở kẽ tay, thì nhờ máu huyết của thân thể chia phân các tế bào của thuốc, kéo giãn sức thuốc ra, thì khí-hóa của thuốc được mạnh và sung túc, sự công hiệu càng tăng vậy.
         Khi dùng phép Dị Chủng trị liệu, thì ta dùng bất cứ vị thuốc nào, miễn là vị thuốc ấy theo lối trị liệu trái ngược của bịnh: hàn phải ôn, nhiệt phải lương… thì được. Càng bịnh nặng, càng uống nhiều, thì phần vật chất của thuốc cũng nhiều nên sự phá hoại tạng phủ không phải nhỏ.
         Khi dùng phép Đồng Chủng trị liệu, tức là ta phải tìm cho được thứ gai nào đã đạp mà lấy thứ gai ấy để lể. Nói một cách khác, phải tìm được vị thuốc nào mà khi người mạnh dùng nó nhiều mà đến bị bịnh gống in như bịnh của ta đang muốn trị, lấy vị ấy mà kéo giãn khí-hóa-lực của nó để có công hiệu nhiều hơn; đem vị ấy mà dùng ít chừng nào thì hay chừng ấy. Phần vật chất của thuốc rất ít nên sự phá hoại tạng phủ không nhiều.
         Lúc tôi có dịp đi diễn thuyết Đông y tại Châu thành ở Đức, tôi có tìm gặp những người đệ tử cũ Ông Hahnemann để hỏi cách nếm thuốc của họ. Có nhiều bác sĩ tự nếm thuốc lấy mình, có khi cho người tình nguyện uống. Nhưng bao giờ cũng phải chọn người lành mạnh không bịnh tật, và uống cho đến khi thấy ngộ độc mới thôi. Họ cho 5, 10 người uống một vị thuốc, rồi biên chép hết các chứng đã xảy ra, chọn lấy chứng chánh, chứng phụ, ghi ra thành sách. Hễ người lành mạnh mà ngộ độc ra chứng gì, ví dụ ỉa mửa và nhức đầu thì người ta ghi rằng vị thuốc nầy trị được chứng ỉa mửa nhức đầu; vị khác mà ngộ độc làm kinh trợn mắt thì người ta chép rằng vị thuốc ấy trị được chứng làm kinh trợn mắt. Đó là phương ghi chép dược-tính một cách mau chóng, chắc chắn và ai làm cũng được. Phương pháp ấy nhờ những đệ tử sáng suốt và trung thành của Ông Hahnemann mà ngày nay được toàn bác sĩ thế giới công nhận là không sai. Phương ấy được chánh thức dùng ở các nước văn minh và càng ngày càng được bành trướng.
         Nhân ngày lễ Thần Nông, ta cũng nên nhận thấy chỗ giống hệt của hai phương nếm thuốc: phương của Thần Nông và phương của Hahnemann; cả hai phương đều dùng người lành mạnh, cả hai phương đều nếm cho đến sức ngộ độc, cả hai phương đều ghi chép một cách mau chóng và chắc chắn, lưu truyền được hậu thế.
         Nếu ta đem phương ấy mà áp dụng cho những cây thuốc Nam của ta thì chẳng bao lâu ta sẽ được ngoài những mấy ngàn thứ thuốc giống thuốc Tàu đem lại, mà còn được thêm mấy trăm vị thuốc mới, đặc biệt thổ sản Việt Nam, thì nền Y học Việt Nam và kinh tế Việt Nam tấn bộ không phải nhỏ. Phương pháp nếm thuốc phải được duy nhất trong các Ông thầy thử thuốc để có thể so sánh với nhau; và phương pháp ấy phải là phương pháp được lâu năm và nhiều người công nhận, như phương pháp Thần Nông đã được 5.000 năm thử thách, và phương pháp Hahnemann trong 300 năm gần đây được mấy ngàn bác sĩ ở thế giới đeo đuổi một cách say mê và tiến bộ. Ta cũng nên nghĩ đến ta mà suy xét và tìm cách thi hành.


NGUYỄN VĂN BA


BÁCH KHOA |  SỐ 10

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #62 vào: 12/01/2018, 22:48:51 »


Lễ giá thú trong câu hò miền Nam
000
Lễ giáo
TRONG CÁNH ĐỒNG bát ngát, giữa đám mạ xanh non, trên biển vàng lúa chín, trai với gái cũng tỉ như gió mát với trăng thanh, gió cho trăng thêm thú, trăng cho gió thêm duyên, đưa đẩy dịu dàng, như nồng nàn, như hờ hững, khi gần gũi, khi xa xôi, dầu tự do ở giữa khoảng đất trời, song vẫn chẳng vượt ngoài vòng lễ giáo.
         Câu hò là nguyên do tiếp xúc giữa gái tốt trai lành; câu hò cũng là chuyến đò nên nghĩa, miễn thỏa mãn một điều kiện căn bản là trọng quyền sở định của mẹ cha.
         Cao cả hơn hết là cha mẹ; kinh nghiệm hơn hết cũng là cha mẹ; sáng suốt hơn hết cũng là cha mẹ; thương yêu lo lắng cho con hơn hết cũng là cha mẹ. Người con kim thời thường tự tín, cho mình thấy rõ quyền lợi và tương lai của chủ quan mình một cách minh xác hơn ai; nhưng sự thật luôn luôn chứng tỏ trái lại và xác nhận bao giờ cha mẹ cũng có cặp mắt sáng suốt, có trí óc minh mẫn, thấy xa hiểu rộng và nhận định đúng hơn con.
         Căn cứ vào công ơn sanh dưỡng và những điểm ưu thắng về kinh nghiệm, tình thương quyền sở định của cha mẹ trong việc hôn nhân được thừa nhận, lắm khi một cách vô minh: tự do cá nhân phải nhường hẳn cho thủ tục, cho lễ giáo. Vì vậy, người con hiếu hạnh bao giờ cũng tôn trọng quyền sở định của mẹ cha.

                  Kiếm nơi nước vận cậm sào,
                  Chừng nào cha với mẹ định nơi nào sẽ hay.


         Mẹ cha là đấng sinh thành dưỡng dục, lẽ đương nhiên là có quyền định vợ gả chồng cho con. Nhưng xã hội xây dựng trên căn bản gia tộc vẫn có quyền tham gia ý kiến. Ở trên cha mẹ, còn có ông bà, ngoài ra vẫn còn có cô bác; phải được toàn thể thân tộc tán đồng, phải được những người có quyền góp ý kiến thỏa thuận, cuộc hôn nhân mới được liễu thành:

                  Cũng nhờ cô bác đôi bên,
                  Một người một tiếng mới nên cang thường.


         Thật vậy, nếu gia tộc không thuận ưng, nhất là mẹ cha cản trở, thì dầu cho thuyền quyền quân tử có cảm tưởng xứng lứa vừa đôi, họ cũng không mong gì vượt khỏi vòng lễ giáo, họ phải tuân lệnh mẹ cha, họ phải đành thất vọng:

                  Chữ cận là gần,
                  Chữ viễn là xa,
                  Tôi với mình cách trở, tại mẹ cha không đành.


         Tuy nhiên, cũng lắm khi trong thân tộc có người không tán thành, chẳng hạn như những cô bác yếu thế lực và nhẹ tình nghĩa đối với cha mẹ, thì cha mẹ cũng dám bỏ qua ý kiến chống đối, miễn là ông bà bằng lòng, miễn là được thỏa mãn những điều kiện chính yếu như tiền tài hay danh giá hoặc đức hạnh, đặc biệt là sự thỏa thuận của con:

                  Hai đứa mình đành,
                  Phụ mẫu cũng đành,
                  Phụ mẫu đâu nỡ dứt duyên lành của con.


Mai-dong
         Ý nguyện thành hôn cần phải chuyển đạt đến mẹ cha, đến cả ông bà, cô bác; mà phận làm con, dầu trai dầu gái, ai có quyền lãnh nhiệm vụ gay go chuyển đạt ý nguyện ấy? Phải có một tay trung gian, một người mối lái. Cho nên cô gái tuy lòng đã thuận chiều, mà vẫn còn dè dặt:

                  Nay em còn cha, còn mẹ,
                  Còn cô, còn bác,
                  Nên em không dám tự tung tự tác một mình;
                  Anh có thương, cậy mai đến nói, cha mẹ đành, em sẽ ưng.


         Anh trai vẫn là người biết lễ giáo và đồng ý tuân theo lễ giáo, đợi lịnh mẹ cha, nhưng trước khi “bước tới”, muốn được lời cho cởi tấm lòng:

                  Đợi lịnh song thân em phải vậy,
                  Song em quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai-dong.


         Anh trai có vẻ biết điều, song phận làm gái phải giữ gìn danh tiết, dám đâu vội vã hẹn hò, phải tránh câu “tiền dâm hậu thú”:

                  Thông kinh sử ấy phần nam tử,
                  Giữ nết na là phận nữ nhi;
                  Xử sao vẹn chữ xướng tùy?
                  Tiếng ừ thì dễ, em lo về ngày sau.


         Anh trai cố đánh đổ cái lý luận chèo xuôi mát mái, cởi mở mối lo lắng xa xăm của cô, liền hứa hẹn quả quyết:

                  Miễn bậu đành ừ,
                  Qua chẳng từ lao khổ:
                  Dẫu đăng sơn tìm hổ,
                  Dẫu nhập hải tróc long,
                  Trước sau giữ trọn một lòng,
                  Vào lòn ra cúi anh đành lòng theo em.


         Lòng người tiết nghĩa không phải manh chiếu mà dễ cuốn, không phải hòn đá mà hòng lăn; lời nói danh dự ngàn vàng khôn mua, tấm lòng băng tuyết dễ đâu một sớm một chiều mà trao gởi? Vả chăng lời nói tuy không mất tiền mua, song có thể làm tổn đức ở mai hậu, nên cô gái đáp:

                  Em ừ bốc bây chừ,
                  Cha mẹ từ chẳng khứng:
                  Có phải hại anh đau ngồi đau đứng,
                  Báo anh lo ngược lo xuôi,
                  Trước vui, sau lại không vui:
                  Chi bằng anh cậy mối, nói hồi ban sơ.


         Trong thực tế, mai-dong là tay “lợi hại”; thành hay là không thành duyên nợ đều do ông mai, bà mai. Buộc vào, mở ra, khen tốt, chê xấu, làm thế nào mà có khi hoài công mai chước, lỡ mối nhân duyên:

                  Đi ngang cầu sắt
                  Hỏi gắt chung tình:
                  Bướm xa ong tại nhụy, tôi xa mình bởi tại ai?


         Có khi tại già lời nói, người ta đâm ra nghi ngờ:

                  Cây oằn vì bởi trái sai,
                  Xa em vì bởi ông mai lắm lời.


         Có khi vụng nói, mai-dong cũng không thành công trong sứ mạng trung gian:

                  Xấu dao xắc chẳng mỏng gừng,
                  Xấu người mai chước, lỡ chừng đôi ta.
                  Xấu tre uốn chẳng nên cần,
                  Xấu mai nên chẳng được gần với em.


         Lại có khi duyên nợ bất thành vì mai-dong ác ý, thêu dệt những điều bất lợi cho đôi bên:

                  Lộ bất hành bất đáo,
                  Chung bất đả bất minh;
                  Bây giờ anh mới rõ tình:
                  Tại bà mai ở độc, hai đứa mình mới xa.


         Trái lại, nếu ông mai bà mai khéo ăn khéo nói cho thành lứa đôi, thì ngoài ra lễ vật, như đầu heo, trà rượu, người đem đến tạ ơn, hai bên trai gái vẫn ghi lòng công đức tác thành giai ngẫu.

                  Cậy người giá thú trao lời,
                  Đôi ta sum hợp, ơn người tạ ơn.


         Dầu ông mai, bà mai nói xong, cuộc hôn nhân cũng không phải đến đây là thành tựu. Vấn đề còn phức tạp hơn. Người ta còn phải nhờ đến một vai trò khác, cũng hệ trọng không kém vai tuồng mai-dong: ấy là ông thầy bói.
         Vấn đề hôn nhân, ai cũng làm thầy bói được một phần nào, cũng như về chữa bịnh mỗi người đều tưởng mình có thể thay thế ông thầy thuốc: một ít câu thiệu, như “nhứt gái lớn hai, nhì trai hơn một”, “dần, thân, tị, hợi, tứ hành xung”… cũng đủ cho người ta có một vài mẫu mực để chọn lựa theo thành kiến thông thường. Tuy nhiên bao nhiêu cẩn thận ấy cũng chưa đủ an lòng người; cha mẹ cần có bảo đảm chắc chắn hơn về tương lai con cái, nên phải đi cầu nhà chuyên môn, đi xem thầy bói: lời đoán của thầy bói có quyền lực quyết định; thầy nói hai tuổi xung khắc là phải hồi ngay, bằng không, e cho vợ chồng ăn ở chưa rách một đôi chiếu là sẽ gẫy gánh giữa đường:

                  Bói khoa năm bảy ông thầy,
                  Tuổi tôi chẳng đặng sum vầy với anh.


         Người ta dám tin tưởng khoa coi tuổi cũng như một khoa học tinh xảo, cho đến đỗi người ta cụ thể hóa sự xung khắc mà không ngại ngần:

                  Tại phèn kỵ nước, nước trong,
                  Đôi ta kỵ tuổi, chưa xong vợ chồng.


Hàng rào thưa
         Chừng nào lứa đôi coi mòi đã xứng, mai mối bên trong thương thuyết đã xong và tuổi tác cung mạng bói xem đã hạp, chừng đó lễ nghi chánh thức mới có thể bắt đầu.
         Đã là một dân tộc tự hào với trên bốn ngàn năm văn hiến, đã sống trong vòng lễ giáo văn minh, người ta bằng lòng đặt mình vào khuôn phép ngàn xưa, vừa phiền phức, vừa hao tốn:

                  Như anh có muốn cùng em,
                  Anh lo sáu lễ phòng đem đến nhà.


         Đối với nhà giàu, sáu lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh. Có lẽ là sáu cơ hội thù tạc để cho hai họ tô bồi tình thân, nếu không phải là dịp khoe khoang tiền của; nhưng đối với nhà nghèo, sáu lễ là không biết bao nhiêu âu lo, khó nhọc:

                  Tôi về thưa với mẹ cha,
                  Chạy lo sáu lễ đem qua cưới nàng.


         Bề nào nghi lễ cũng không thể bỏ qua, phải chạy lo làm sao cho coi được, cho rạng mặt rỡ mày đôi bên, cho nên ông mai hay là bà mai, đã vận động bên trong hoàn thành, còn phải trở lại đàng gái với “mâm trầu cho tốt, hũ rượu cho ngon” để cầu hôn chánh thức:

                  Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng,
                  Cậy mai đến nói, phụ mẫu tàng thì xong.


         Theo cha mẹ đàng gái, trầu ấy gọi là trầu héo, rượu ấy cho là rượu lạt, nhưng theo quan niệm thông thường hai lễ vật ấy tượng trưng cho cái hoa con gái, cái vinh diện cho kẻ danh thành, cái danh dự của gia tộc. Lễ vật ấy là tối cần, là quyết định, vì hễ được nhận, là hôn nhân kể như đã thành: một bức rào thưa đã cậm chung quanh cái hoa con gái. Trái lại, bằng không có miếng trầu héo, thiếu chung rượu lạt, thì e việc không thành:

                  Em cũng có mẹ cha,
                  Xin anh đến nhà thưa lại;
                  Riêng tình ân ái,
                  Nhân ngãi chẳng phai,
                  Song hiềm trắc trở duyên hài,
                  Phải cho có mối có mai lễ trầu.


         Cuộc đời mới càng ngày càng phức tạp khó khăn, lễ tục đủ càng ngày càng thất truyền giản dị. Sáu lễ ở đây chỉ còn có ba, mà lễ bỏ trầu cau là lễ giao thiệp chánh thức đầu tiên giữa hai họ, dầu sao cũng phải cử hành; cho nên muốn tính cuộc vuông tròn thì bề nào cũng phải thỏa mãn nghi lễ sơ giao ấy:

                  Anh rằng: anh tưởng anh thương,
                  Xin anh mau khá lo lường sinh nghi.
                  Tốn hao anh chẳng màng chi,
                  Chỉn e lỡ dở uổng thì trầu cau.
                  Một lời đã hứa với nhau,
                  Anh cậy mai đến nói, em nào sai ngôn.


         Ngoài ra trầu cau còn ý nghĩa khác ở khía cạnh của khách liễu yếu đào thơ; nó tượng trưng tấm lòng biết ơn sanh thành dưỡng dục, tiêu biểu chữ hiếu của người con gái tiết trinh:

                  Thương tôi, rượu chén, trầu cơi,
                  Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành.


         Dẫu cho giàu hay nghèo, phận làm gái phải để cho cha mẹ định hôn, mới được nhìn nhận làm con hiếu, chớ mấy ai dám tự tung tự tác mặc áo qua đầu.
         Vậy, vì danh dự, vì đạo hiếu, lễ bỏ trầu cau bắt buộc phải cử hành: tiếng là bức rào thưa, nhưng thường là một bức thành kiên cố, một nền móng vững vàng bảo đảm chắc chắn cho cuộc hôn nhân. Trầu cau là một thứ giao ước bất thành văn mà vô cùng giá trị, không dễ phản bội mà không khỏi tổn hại thanh danh.

Hiệp-cẩn giao bôi
         Tuy cũng có khi vì lợi mà xẩy ra cuộc “ép dầu ép mỡ”, song con người đạo nghĩa vẫn nép mình nhường bước cho đại gia đình: thể thống và gia phong quý trọng hơn là tự tung tự tác. Cuộc đời đặc biệt là đời tình ái, được giản dị nhiều, nhờ không có tự do kết hôn, nhờ bạn trai bạn gái không đòi hỏi tự do kết hôn, mặc dầu đôi khi trong đáy tim vàng, sau màn lễ giáo, thấp thoáng hình bóng một khách tao nhân. Cũng nhờ không có tự do kết hôn mà biển tình ít khi sóng xao gió dậy: không có tự do kết hôn nên không có tự do ly dị.
         Mỗi lần kết hôn là mỗi lần phải thỏa mãn nhiều nghi lễ thiêng liêng cả thể. Sau lễ bỏ trầu cau sơ vấn và sau lễ hỏi trang trọng hơn, là đến kỳ lễ cưới.
         Lễ, tức là lạy, – lạy tổ tiên, lạy cha mẹ, lạy họ hàng. Lạy, trước con mắt người “văn minh”, là hình dung tinh thần nô lệ, là đả đảo bản ngã của người, là chà đạp nhân phẩm. Nhưng thông thường, lạy trong tinh thần đạo nghĩa của ta xưa, là thể hiện tấm lòng hiếu thảo, là đáp nghĩa đền ơn, – cái ơn nghĩa sanh thành, lớn nặng như Thái Sơn, sâu rộng như Đông Hải. Lạy là nghi lễ của một văn minh, mặc dầu là văn minh phong kiến. Trong đời người, gần như có một lần trong dịp lễ thành hôn, người ta phải lễ người sống, vì cuộc lễ thành hôn trọng thể quá, thiêng liêng quá: không có nhà Sư chen vào chứng giám, tuy nhiên lễ thành hôn được vinh tôn gần bằng một nghi thức tôn giáo, – lý do cái lạy có lẽ là đây.
         Cho nên sau khi làm lễ từ đường, đôi tân-nhân cúi lạy cha mẹ với tất cả thành kính:

                  Lục bình chưng trước tam sơn,
                  Đôi ta quỳ xuống đền ơn mẫu từ.


         Nhưng không phải lạy suông, vì cái lạy chưa đủ lễ, còn phải dưng trầu, rót rượu, – rượu mới là lễ vậy:

                  Rượu lưu ly chân quỳ tay rót,
                  Cha mẹ uống rồi, dời gót theo anh.


         Rượu chẳng những rót mời cha mẹ, mà rượu còn phải rót làm lễ cô bác bà con hai đàng:

                  Một bộ chén chung lớn sơn đỏ,
                  Một bộ chén chung nhỏ sơn vàng,
                  Rượu song-chưng rót đãi đôi đàng,
                  Đền ơn cha mẹ, con bạn vàng theo anh.


         Sau cuộc lễ hai họ, mới đến lễ hiệp cầu giao bôi, là giờ phút long trọng nhứt là giờ phút, trong phòng loan, tân-nhân mới bắt đầu kết nghĩa tơ tóc, trước đôi ngọn đèn tơ hồng:

                  Đèn loan hiệp-cẩn trong phòng,
                  Trăm năm chí quyết bá tòng vầy dươn.


         Lễ cưới chẳng những là dịp long trọng để cho người sống hai họ tác thành duyên phận cho tân-nhân, mà, hệ trọng hơn, là dịp thiêng liêng để cho nguyệt lão xe tơ kết tóc cho đôi lứa. Trong quan niệm thông thường, nguyệt lão là vị thiêng liêng chủ hôn trong mọi cuộc hôn phối, với danh hiệu là bà Nguyệt lão hay ông Tơ hồng. Cho nên, ngay trong phòng loan ngay trong lúc nhập phòng, người ta vẫn phải lập một bàn thờ Tơ hồng và phải làm lễ Tơ hồng: một đôi dép sáp sơn đỏ, một quả nhỏ dựng nếp, một dĩa mứt, một chung trà, ba chung rượu ba chén chè… là những lễ vật cúng dưng thông thường, tùy theo trường hợp, tùy theo địa phương và tùy theo thời đại:

                  Tay bưng quả nếp vô phòng.
                  Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng cầu hôn.
                  Vái Ông Tơ một dĩa bánh bò bông,
                  Cùng bà Nguyệt lão gắng công xe giùm.
                  Nấu chè van vái Nguyệt bà,
                  Khiến cho chung hiệp một nhà phụng loan.
                  Hai đứa mình đứng lại một bên,
                  Ông Tơ xe quyết mới nên cang thường.
                  Chỉ điều ai khéo vấn vương,
                  Một người một xứ mà thương nhau đời.
                  Chữ tình ai bứt cho rời,
                  Tơ hồng đã định, đổi dời đặng đâu.
                  Đêm nằm dã dượi lầu tây,
                  Tơ hồng xe quyết, đó với đây vợ chồng.
                  Đạo vợ chồng, tôi nói mình nghe:
                  Đôi ta gá ngỡi, ông Tơ xe đã rồi.



         Thành kiến cũ kỹ cho rằng: “Phú quới sanh lễ nghi” và bình dân không trọng nghi lễ. Sự thật chứng minh có ít lắm là hai thứ lễ nghi: một thứ lễ nghi phù hiệu, một thứ lễ nghi thành khẩn. Hạng phú quới chưa ắt chí thành trong lễ nghi, đành rằng hạng bình dân khó lòng mà tự đắc trong nghi lễ.
         Dầu theo tinh thần nào, cuộc hôn nhân chánh thức vẫn cử hành theo nghi lễ cổ truyền, như ca dao còn lưu dấu.
         Trai lành gái tốt biết trọng thể diện của mình và trọng danh giá của gia quyến, ai ai cũng tuân theo lễ nghi và cố gắng làm tròn nghi lễ, đúng theo mỹ tục thuần phong.


THUẦN PHONG


BÁCH KHOA |  SỐ 10

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #63 vào: 13/01/2018, 18:08:52 »


           Quê tôi miền Bình Định

            BÌNH Định giờ đây giải phóng
            Nắng lên reo ngát hương đời
            Tám hướng bừng lan sức sống
            Ai về… Bình Định quê tôi…

            QUÊ tôi có bãi dâu xanh
            Có lụa tơ vàng An Thái
            Có dừa Tam Quan ngọt lành
            Ven đèo An Khê trồng cải…

            AI đã về qua quê tôi?
            Hẳn biết Phủ Phong thuốc lá
            Khói thơm quyện lẫn mây trời
            Có đũi Hoa Sung đẹp lạ…

            XA xa ruộng mía xanh màu
            Thấp thoáng vài nàng thôn nữ
            Miệt mài, hò vọng đôi câu
            Nhọc nhằn, không hề tư lự…

            SỬ Chàm mờ trong đất đỏ
            Thành xưa năm tháng quạnh hiu
            Nhớ chăng kỳ công vạn cổ?
            Hôm nay lặng lẽ tiêu điều…

            YÊU hơn chàng trai Bình Định
            Sáng ngời đôi mắt hùng anh
            Rám nắng ngoài khơi, ven vịnh…
            Cần cù: thuyền, vó, biển xanh.

            DANH một Quang Trung hoàng đế
            Chiến công quyện lấy trầm nhang
            Tỏa hương muôn mùa thế hệ…
            Quy Nhơn: quốc thổ huy hoàng.

            AN ninh nhờ anh lính chiến
            Tiếp thu tạo lại cuộc đời
            Hòa bình thắm hồn dân tộc
            Ai về… Bình Định quê tôi…


                                    Mùa giải phóng
                                    K. C. THANH TRUNG



BÁCH KHOA |  SỐ 10

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #64 vào: 15/01/2018, 18:55:57 »
BÁCH KHOA |  SỐ 11  [15 tháng Sáu  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Phan Văn Trí |  Bảy nguyên tắc Hợp tác xã Rochdale |  1-6
Hoàng Minh Tuynh |  Rút-Xô với bộ Dân-ước luận [II] |  7-10
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề xử dụng người |  11-16
Nguyễn Hiến Lê |  Hai điều nên nhớ khi tìm hiểu Nho giáo: Tính cách truyền thống và chính trị của Nho giáo |  17-20
Thiên Giang |  Ích lợi của Tân giáo dục đối với sự phát triển của trẻ em |  21-24
Trực Định |  Một vài ý định nhân ngày Kiệu Mình Thánh Chúa |  25-27
Bác sĩ T. |  Bịnh Cúm (Grippe, Influenza) |  28-31
Bách-Khoa |  Học trò của nhà hiền triết Aristote |  31
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [III] |  32-36
Cẩm Vân |  Trăng thôn dã (thơ) |  37-38
Quảng cáo |  39-42
Võ Phiến |  Dung (truyện) |  43-64
Bách-Khoa |  Cử chỉ của bậc đàn anh |  64
Quảng cáo |  65-70
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [VIII] (truyện dài) \ Từ Vu |  71-72
Quảng cáo |  73-80


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #65 vào: 15/01/2018, 19:08:22 »


Hai điều nên nhớ khi tìm hiểu Nho giáo: Tính cách truyền thống và chính trị của Nho giáo

KHỔNG TỬ có công làm cho Nho giáo thành một hệ thống tư tưởng. Công đó rất lớn, cho nên người đời sau thường gọi Nho giáo là Khổng giáo, rồi lần lần có người tưởng lầm rằng Khổng Tử đã sáng lập ra đạo Nho. Sự thực thì trước Khổng Tử đã có đạo Nho, cũng như trước Thích Ca đã có đạo Bà-La-Môn, trước Giê-Du đã có đạo Do Thái. Đại loại đạo Nho hồi nguyên thủy gồm những điểm chính dưới đây:
         – Vũ trụ mới đầu là một cuộc mờ-mịt chứa một cái “lý” linh diệu gọi là Thái cực, Thái cực biến hóa ra thành âm và dương, rồi âm dương biến hóa mãi ra thành vạn vật.
         – Ở trên cả, có Trời và quỷ thần, dưới quỷ thần là người. Trời như một ông vua, coi mọi việc ở trần gian, cho nên gọi Trời là Đế, là Thượng Đế.
         – Người được bẩm thụ tính của trời cho nên thiên đạo và nhân sự quan hệ mật thiết với nhau: mà việc gì hợp với thiên lý là phải, trái với thiên lý là sái. Thiên lý là lẽ phải, cho nên ý của dân hợp với lẽ phải tức thị là ý của Trời.
         – Người phải thờ phụng Trời và cúng quỷ thần, nhưng chỉ có Thiên Tử – người thay Trời trị dân – mới được tế Trời còn chư hầu thì tế Thần bốn phương và thường dân thì tế Tổ tiên trong nhà.
         – Xã hội là một xã hội phong kiến rất có trật tự, ở trên có nguyên-hậu – sau gọi là Thiên Tử – rồi tới các vua chư hầu, dưới nữa là các đại phu, kẻ sĩ và thường dân. Chính trong giai cấp đại phu và sĩ đó xuất hiện bọn Nho: họ đều giỏi văn chương và lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) làm cố vấn cho giai cấp trên, tức Thiên Tử và vua chư hầu. Tư tưởng của họ có tính cách rất thực tế – một phần lớn vì họ là quan liêu – gồm lại thành một học thuyết mà Khổng Tử có công sắp đặt, hợp lý hóa, rồi phát huy trong những lời giáo huấn cùng sách vở của ông.
         Những sách này gồm sáu bộ: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Xuân Thu.(1) Thì năm bộ trên đều là công trình sưu tầm và chú thích: kinh Dịch do Văn Vương đời Chu diễn ra khi bị giam ở ngục Dữu Lý, sau Chu Công cắt nghĩa vắn tắt rồi Khổng Tử lấy những sự thiết thực mà giải thích cho thêm rõ ràng; kinh Thư chép những điển, mô, huấn, cáo, thệ, mệnh, tức những tài liệu về chính trị và sử từ đời Nghiêu Thuấn đến đời Đông Chu, không thêm bớt chút gì; kinh Thi là một tập sưu tầm tuyển lựa những bài ca, bài dao từ đời thượng cổ đến đời vua Bình Chương nhà Chu; kinh LễNhạc chép lễ nghi và nhạc của các đời trước. Chỉ riêng kinh Xuân Thu là có thể coi là một Công Trình sáng tác của Khổng Tử, nhưng thực ra phần sáng tác rất ít, vì Kinh đó là một bộ sử biên niên, giá trị ở tư tưởng chỉ ở chỗ nó ngầm chứa một chủ trương về chính trị, tức chủ trương chính danh, định phận, ngụ bao biếm.
         Vậy lời của Khổng Tử: “Ta thuật đạo cổ nhân mà không sáng tác gì mới” trong Luận ngữ (Thuật nhi bất tác) không phải chỉ là một lời nói nhũn; mà Herlee Glessner trong đoạn dưới đây đã định được đúng địa vị của Khổng Tử trong Nho giáo.
          “Khổng Tử chỉ là người cuối cùng và tài giỏi nhất trong số các nhà đó (tức là các nhà Nho đời nhà Chu). Một phần do ông xuất hiện vào cuối thời kỳ thứ nhất của truyền thống Nho giáo và tóm tắt truyền thống đó, cho nên ông thành một đại biểu danh tiếng cho Nho giáo (…) Hầu hết những điểm trong triết lý của Khổng Tử đều do phái Nho gia sinh trước ông để lại”.(2)
         Tóm lại Khổng Tử đã tập kỳ đại thành của người trước. Đó là điều thứ nhất ta nên luôn luôn nhớ khi tìm hiểu Nho giáo. Nếu quên rằng Nho giáo là một truyền thống tín ngưỡng và triết lý của một dân tộc, mà cứ tưởng nó hoàn toàn là tư tưởng của một nhà sáng lập – Khổng Tử – thì ta sẽ không nhận được tại sao nó không có tính cách Tôn giáo mà lại ảnh hưởng rất mạnh, không kém một Tôn giáo, tới hàng chục, hàng trăm triệu người trong mấy ngàn năm như vậy.
         Điều thứ nhì còn quan trọng hơn, mà tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh ở đây là tính cách chính trị của Nho giáo.
         Nhiều học giả xét về Nho giáo, coi những tư tưởng chính trị trong đạo ấy là kết quả của những tư tưởng triết lý và đạo đức.(3) Tôi không thể bảo rằng kiến giải đó sai vì chính trị Nho giáo đặt cơ sở trên đạo đức; nhưng tôi nghĩ đạo đức của Nho giáo có mục đích chính trị, và Nho giáo dùng chính trị để gây đạo đức, cho nên phải đặt vấn đề ngược lại, coi phần chính trị là phần quan trọng nhất trong đạo Nho mà những quan niệm về giáo hóa, về học vấn, về cách thao thủ là kết quả của những tư tưởng chính trị, thì mới là thấu cái thâm ý của đạo Nho, mới thấy được chân tướng của nó.
         Thực vậy, đạo Nho là một triết lý chính trị trước hết. Tôi xin dẫn chứng:
         1°) Ở đoạn trên, tôi đã nói những Nho gia đầu tiên xuất hiện trong giai cấp quan lại (nhất là trong giới sử quan), thông văn chương và lục nghệ, cho nên tư tưởng của họ rất thực tế nhắm mục đích an dân tế thế, tức mục đích chính trị.
         2°) Xét ngũ kinh của Khổng Tử thì trừ kinh Thi ra, kinh nào cũng có mục đích chánh là dạy về chính trị; mà ngay trong kinh Thi, ý tưởng chính trị cũng tiềm tàng, có khi lộ liễu. Xét tứ thư thì Đại học là sách dạy cách sửa mình đề “bình thiên hạ”, còn ba cuốn kia (Luận ngữ, Trung dung, Mạnh Từ) bàn về chính trị rất nhiều. Mà chẳng riêng gì Nho giáo, đến Lão giáo… cũng có tính cách chính trị. Đó là một ảnh hưởng của hoàn cảnh: thời Xuân Thu và Chiến quốc là thời loạn, nên triết gia nào cũng muốn cứu loạn, mà cứu loạn thì chính trị là gấp nhất
         3°) Những ông Thánh của Nho giáo không phải là những nhân vật lý tưởng – có khi thần bí – xuất thế hoặc nhẫn nhục hy sinh cho nhân loại, mà đều là những vị xử thế và làm chính trị, tức như vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Văn, vua Vũ, Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử.
         4°) Quan niệm về Trời và người của Nho giáo cũng rất đặc biệt. Người Trung Hoa cho Trời là ông vua của Vũ Trụ, nên gọi Trời là Đế, là Thượng Đế, như trên tôi đã nói, và cho loài người là dân của Trời. Quan niệm đó hiện rất minh bạch trong câu: “Đức Thượng Đế rất lớn, soi xuống rất rõ ràng xem xét bốn phương để tìm nỗi khốn khổ của dân mà cứu giúp” (Hoàng tử Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc – Thi kinh). Độc giả nhận thấy câu đó dùng chữ dân là người dân, chứ không dùng chữ nhân là người. Trong Ngũ kinh, ta ít khi gặp chữ nhân mà rất thường gặp chữ dân: “Trời sinh dân”, “Trời yêu dân lắm”… Sách Tả truyện cũng viết:
          “Trời sinh dân mà đặt ra vua để làm lợi cho dân” (Văn Công năm 13). “Trời sinh dân mà đặt ra vua, sai các quan chăn nuôi dân” (Tương Công năm 14).
         Cơ hồ quan niệm: Trời là vua, người là dân, cũng là một quan niệm truyền thống, đặc biệt của dân tộc Trung Hoa.
         5°) Đạo đức, theo Nho giáo, có mục đích chính trị tức như ý trong những câu: “Hiếu là để thờ vua” (Hiếu giả, sở dĩ sự quân giả – Đại học). “Đạo người thì chính trị là lớn” (Nhân đạo chính vi đại – Lễ ký); nhất là trong đoạn đầu Đại học:
          “Đời xưa, muốn làm sáng đức trong thiên hạ thì trước phải tự nước mình; muốn trị nước mình thì trước phải tề nhà mình; muốn tề nhà mình thì trước phải sửa thân mình”.
          (Cổ chi minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân.)
         Nghĩa là: tu thân là để tề gia, rồi trị quốc, rồi bình thiên hạ rút cục là để làm chính trị. Vì có quan niệm đó, cho nên các Nho gia đều cầu được làm chính trị: Khổng Tử bôn ba non hai chục năm, chu du các nước, tìm một ông vua biết dùng mình để hành đạo, gần bảy chục tuổi mới thất vọng, về Lỗ soạn sách và dạy học; Còn Mạnh Tử cũng đi khắp Tề, Lương, Tống, Đằng, đem tài hùng biện thuyết phục các vua, không được dùng mới về nhà, cùng với môn đệ trước tác.
         Năm điều vừa kể đủ chứng rằng Nho giáo trước hết là một triết lý chính trị; và muốn phê bình Nho giáo phải đứng về phương diện chính trị mà xét thì mới không lầm, mới hiểu rằng sở dĩ đạo Nho, về một mặt nào đó, không cao siêu bằng đạo Phật hay đạo Lão, đạo Gia-Tô, chính vì nhà Nho muốn làm những chính khách, chứ không muốn làm những nhà tu hành hoặc những triết nhân thuần túy.


NGUYỄN HIẾN LÊ

_________________________________________________________
(1) Sau vì mất mát đi nhiều, kinh Nhạc chỉ còn một thiên phụ vào kinh Lễ, thành thử còn lại năm kinh: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Xuân Thu.
(2) Chinese thought, from Confucius to Mao Tso-Tung, – The University of Chicago Press 1953.
(3) Chẳng hạn Trần Trọng Kim trong 140 trang bàn về đạo Khổng, chỉ để ra 15 trang cuối xét tư tưởng chính trị, sau khi đã phân tích tỉ mỉ quan niệm quân tử và tiểu nhân, sự học vấn và cách thao thủ của người quân tử, sự giáo hóa của Khổng giáo (Coi trong Nho giáo – Quyển thượng – của Nhà Tân Việt xuất bản).


BÁCH KHOA |  SỐ 11

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #66 vào: 15/01/2018, 22:25:54 »


Bịnh Cúm
(Grippe, Influenza)

NĂM 1957 khác hẳn mấy năm trước, chẳng những bởi sức nóng như thiêu của mùa nắng, mà còn bởi sức lan tràn của “Dịch cúm” trong vòng tháng năm vừa qua.
         Đối với anh em nào chưa am hiểu, dịch cúm là một hiện tượng kỳ lạ, và đây có lẽ là lần đầu tiên, nó xuất hiện ở Nam phần một cách đột ngột và mãnh liệt như thế. Nhưng Y giới đã biết nó từ lâu vì nó đã uy hiếp nhơn loại ở khắp cả hoàn cầu trong bao thế kỷ.
         Luôn luôn sốt sắng với nhiệm vụ, Bộ Y tế loan báo những lời giải thích và cách phòng ngừa bịnh ấy, nên đánh tan được kịp luồng dư luận dị đoan về “Bà co, Ông cúm”.

Nguyên nhân
         Bịnh phát ra nào phải do sự oán ghét của “Ông cúm, Bà co” đâu, mà chỉ tại một thứ loại vật vô hình đối với mắt ta; nó còn quá nhỏ hơn thứ loại vi trùng kia nữa! Đó là loại Virus-filtrant (Vi khuẩn, Cực vi bịnh độc hay Siêu trùng), có tài đặc biệt chui ngang qua nổi những bình lọc có tiếng thuở giờ cản ngăn được vi trùng bịnh. Kiếng hiển vi thứ thường chưa đủ năng lực khám phá ra nó. Người ta phải nhờ thứ kiếng hiển vi chế tạo riêng – thứ điện tử – tinh xảo hơn nhiều, mới trông thấy nó. Thứ vi khuẩn nầy có hai loại A và B.



         Bạn đọc tử hỏi Vi khuẩn bịnh cúm ở đâu?
         Nó ở trong nước mũi, nước miếng, nước đàm của bịnh nhơn. Khi họ ho, sặc, nói chuyện… mà không chịu khó bao miệng và mũi cẩn thận với khăn mu-soa, tức nhiên, vi khuẩn ấy tung ra không khí ngoài trời, bay luồng khắp mọi nơi. Hễ ai rủi hít lấy thì mang bịnh. Vì thế, nơi mấy chỗ đông người, thuở giờ được sống bình an, mà nay có một bịnh nhơn nào bước tới, thì trong vòng 1, 2 ngày sau bịnh cúm sẽ phát ra nơi đó. (Trường học, rạp hát, chỗ hội hợp, trên xe đò, trong xưởng, trong hãng v.v…) Ngay trong nhà ở, nếu có người vướng bịnh, thì tất cả nhà cũng có thể bị lây luôn.

Triệu chứng
         Tuy nhỏ mặc dầu, vi khuẩn bịnh cúm có sức tấn công mãnh liệt. Gần gũi tạm một bịnh nhơn, người mạnh có thể rước lấy vi khuẩn bịnh rồi. Từ lúc vi khuẩn xâm nhập vào thân thể, thì độ vài giờ sau cho tới 1, 2 ngày là trễ, bịnh cúm sẽ phát ra.
         Bỗng dưng, người ấy thấy mình mệt mỏi, rêm cả người, tay chơn, khớp xương (xương sống, xương chả vai) đều đau nhức rũ liệt, như mới vừa trải qua một trận đòn dữ dội. Họ kêu chóng mặt và nhức đầu…
         Họ bị nhức ở trước trán, trên chơn mày, hai màng tan; lúc nào cái đầu cũng nặng trĩu, như bị treo đá. Nước mắt, nước mũi, chảy ra không nhiều thì ít. Hai chơn có khi bại xụi, không đi được bước nào. Một, hai ngày sau, cơn nóng tới thình lình, nhiệt độ lên cao 39°-40°. Miệng khô mắt đỏ, trong họng bị ngứa, bị rát, bịnh nhơn ho, ho khô khan, hay có đàm. Họ không ăn uống gì được, miệng hôi, lưỡi dơ, và đóng trắng. Chừng ba bốn ngày, bịnh nhơn mới thấy được mạnh. Mồ hôi tuôn ra, nhiệt độ hạ xuống mau lẹ, hay từ từ. Nhưng bịnh nhơn vẫn còn mệt mỏi và lấy sức lại lâu, không thể làm việc liền được.
         Bịnh phát ra với nhiều trường hợp nặng nhẹ vô chừng, hoặc với nhiều hình thức khác hơn. Có khi bịnh biến chuyển trọn cả 1, 2 tuần lễ, rồi mới chịu dứt hẳn.



         Nhưng dầu sao, Y giới cũng đoán ra chắc bịnh cúm, không sai lầm, nhờ “cấy máu” của bịnh nhơn ở phòng thí nghiệm (Viện Pasteur).


         Như thế, chỉ riêng mình nó, bịnh cúm không có gì quá nguy hiểm. Sở dĩ bịnh nhơn chết là vì tai hại của những biến chứng của nó.
         Biến chứng trong bộ máy hô hấp làm sưng phổi, máu đọng trong phổi, màng phổi có mủ, có nước…
         Biến chứng ở bộ máy tiêu hóa làm ỉa, mửa, như kiết, đau ruột…
         Biến chứng ở bộ máy tuần hoàn làm sưng tim, chảy máu…
         Biến chứng ở bộ thần kinh, làm đau màng óc, tủy xương sống…
         Các cơ quan khác cũng bị tàn phá như lỗ tai, mắt, thận…
         Trong trường hợp biến chứng, có những vi trùng độc hại loại: Streptocoque, Pneumocoque, Bacille de Pfeiffer… hiệp sức với vi khuẩn bịnh cúm để uy hiếp bịnh nhơn. Biến chứng nguy hiểm đáng sợ và thường thấy nhứt đều phát sanh tại phổi.



         Tất cả người đều có thể làm mồi cho bịnh cúm, thứ nhứt, những người trẻ tuổi từ 15 tới 40 tuổi.
         Kể ra những người bị vướng nặng là trẻ em mới sanh, những người già cả, những người đang đau tim, đau thận, đau phổi…

Phương ngừa
         Đã biết cách lây do tại đường hơi thở, tức nhiên người ta áp dụng phương ngừa trên đường ấy bằng cách khử độc: lỗ mũi và họng.
         Đối với người mạnh khỏe:
            – Nhỏ vào lỗ mũi, mỗi ngày 6-7 lần (nhiều lần càng tốt), những thứ thuốc có chất sát trùng mà hiệu thuốc tây thường có bán:
            – Huile goménolée,
            – Sérum physiologique,
            – Tyzine,
            – Argyrophédrine,
            – Rhinamide,…
         Nhỏ 3, 4 nhiễu trong mỗi lỗ mũi, rồi bóp vành lỗ mũi cho thuốc thắm vào toàn cả da non trong lỗ mũi. Nếu thuốc có rơi vào họng thì hãy nhổ ra; rủi lỡ nuốt chút ít thì cũng chẳng hại gì.
            – Súc miệng: mỗi ngày 6, 7 lần với nước nóng. Lúc đang súc miệng, hãy ngước mặt lên trời, để cho thuốc thấm xa vào đóc giọng.
            – Hoặc dùng thuốc nước:
            – Synthol,
            – Eau oxygénée,
            – Liqueur de Labarraque, v.v… 1 muỗng cà-phê một thứ nào cũng được, pha với ½ ly nước nóng.
            – Trong cơ quan làm việc đông người, muốn tiếp xúc với đồng bào, hãy mang vải thưa bịt mũi, và miệng, có tẩm nước thuốc sát trùng.
            – Đừng gần bịnh nhơn, đừng gần những người đang ho, hay than nhức đầu mệt mỏi…
            – Rửa tay, mặt, trước khi ăn.
            – Đừng thức đêm, tránh những chỗ đông người.
            – Đừng làm việc nhiều, nên tránh lạnh.
            – Thuốc chích ngừa: Mấy năm gần đây, Y giới có nghiên cứu thuốc chích ngừa (Virus-Vaccin) chứa cả hai loại A và B, hiện thông dụng bên Mỹ.
         Chích một lần thôi, 1cc. Chích rồi, 1 tuần lễ sau, mới có phép miễn nhiễm, và có hiệu lực chừng 3, 4 tháng.
         Vì lý do thực tế và chuyên môn, thuốc nầy chưa dùng tại xứ mình.
         Đối với bịnh nhơn:
            – Dời họ ở riêng hẳn trong 1 căn phòng hay căn nhà.
            – Cho họ 1 cái chậu đựng nước sát trùng pha (như Eau de Javel, cứ 1 muỗng súp thuốc pha với 1 lít nước), để họ bỏ khăn mu-soa, khăn ăn, ly, chén, quần áo, tất cả đồ của họ dùng vào đó, rồi sẽ nấu giặt.
            – Xịt nước thuốc D.T.T. trong phòng họ.
            – Trong cơ quan nào có bịnh nhơn, tốt hơn đóng cửa tạm hoạt động một thời gian: chợ, trường học, rạp hát, hãng làm việc.
            – Mỗi lần muốn ho, hay sặc, bịnh nhơn hãy lập tức dùng khăn mu-soa bao trùm miệng và lỗ mũi cho kín, để cản vi khuẩn bịnh cúm được phần nào khỏi văng túa đi ra ngoài trời.

Trị bịnh
            – Bịnh nhơn phải nằm ở giường, ăn toàn đồ nước.
            – Khi biết đói bụng, sẽ lần lần ăn cháo, khoai tây tán…
            – Khử độc lỗ mũi và họng như trên đây.
            – Giác hơi trên ngực.
         Tới nay, chưa có thuốc nào đúng đắn gọi là chuyên môn trị diệt bịnh cúm. Chỉ có những thuốc để làm đỡ khổ bịnh nhơn thôi: Aspirine, Antipyrine, Quinine, Caféine… dùng chung với nhau, để hạ bớt chứng nóng.
         Những “thuốc trị cúm” bán ở các tiệm thuốc tây đều có chứa một hay nhiều chất thuốc nầy.
         Trong thuốc Sirop dùng đỡ ho thì có: Aconit, Belladone. Thuốc dưỡng tim như Camphre và sinh tố C dùng được để giúp bịnh nhơn bớt mệt. Quấn cổ với khăn nhúng nước ấm. Khi bớt nóng uống thuốc xổ (xổ dầu, huile de ricin, hay xổ múi, Sulfate de soude)…
         Nếu có biến chứng, thì cách chữa khó khăn hơn nhiều, chỉ có thầy thuốc mới đảm nhận được.



         Tóm lại, bịnh cúm là bịnh do vi khuẩn gây ra; nó ở trong nước mắt, nước mũi, trong đàm, nước miếng của bịnh nhơn. Bịnh lây giữa người và người, lây rất mau lẹ; lây tại đường hơi thở. Có phương ngừa, và cách trị. Chỉ riêng nó, bịnh cúm không có gì đáng sợ; những biến chứng của nó mới thật là nguy hiểm. Tốt hơn, bịnh nhơn hãy cần nhờ thầy thuốc chăm nom sanh mạng của mình, mới có thể tránh những điều tai hại bất ngờ.

BÁC SĨ T.


BÁCH KHOA |  SỐ 11

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #67 vào: 16/01/2018, 10:26:38 »

                  Trăng thôn dã

      ĐÊM dần xuống êm êm và dìu dịu,
      Không gian mờ pha đục một màu sương;

      A… kia rồi!… nhô bóng cuối khu vườn,
      Nàng trăng đẹp mỉm cười nhìn thôn dã.
      Cây sung sướng rung nhìn muôn chiếc lá
      Như chào mừng ánh sáng của trăng trong;
      Lúa reo lên nghiêng ngả hát quanh đồng,
      Sông nhẹ sóng đón trăng vàng ngự xuống.

      SÁNG huyền ảo giữa trời cao vất vưởng,
      Nhìn chung quanh trăng bỗng nhớ đêm nào,
      Có đoàn người chiến sĩ trải gian lao,
      Mắt sáng quắc băng mình vào đêm tối,
      Trăng là xuống soi nhanh cho đường lối,
      Thương đoàn người vì nước quyết hy sinh,
      Và hôm nay đất Việt nở thanh bình,
      Trăng nghe họ cười lên niềm tin tưởng.
      Khẽ bằng lòng, trăng vui tươi nhìn xuống:
      Trong xóm làng tiếng giã gạo chày ba.
      Người ba miền thân ái sống chan hòa,
      Cầu vĩ tuyến ven sông đang dựng lại.

      TIẾNG hát ngân lên ca hò đối thoại,
      Ca vì trăng mà hát cũng vì trăng;
      Thanh bình ơi! Thôn dã tắm trăng vàng
      Trong sáng lắm, rót vàng qua các luống,
      Đêm tịch mịch, trăng lên cao, trăng xuống
      Thôn yên lành,
                         Văng vẳng tiếng hò mơ:
                Hò… ơ… hơ!
                         “Đồng Nai uốn khúc lặng lờ,
      Trăng thanh bình rọi đôi bờ ruộng xanh”.


                                                    CẨM VÂN


BÁCH KHOA |  SỐ 11

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #68 vào: 19/01/2018, 18:11:14 »
BÁCH KHOA |  SỐ 12  [1 tháng Bảy  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Trở lại kế hoạch năm năm, thử đề nghị một thí nghiệm |  1-9
Bách-Khoa |  Câu chuyện cái kéo của Chamfleury |  9
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Chủ trương của phái Trọng Nông |  10-13
Bách-Khoa |  Một bài học về đức khiêm tốn |  13
Phan Lạc Tuyên |  Cuộc khẩn hoang miền Lục tỉnh của binh sĩ Việt Nam thời xưa |  14-18
Bách-Khoa |  Thế nào là một việc cao đẹp? |  18
Huỳnh Văn Nghi |  Giáo hội và chính quyền |  19-22
Cô Thoại Nguyên (dịch) |  “Tân giáo dục” do đâu mà có? \ A. M. M.|  23-31
Bách-Khoa |  Bí quyết để giữ vẻ thanh tân bất diệt |  31
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam |  32-35
Bách-Khoa |  Truyện ông quan đất Hoa chúc vua Nghiêu |  35
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [IV] |  36-45
Lam Giang |  Từ xa giới tuyến (thơ) |  46-47
Quảng cáo |  48
Bình Nguyên Lộc |  Không chủ đích (kịch) |  49-53
Bách-Khoa |  Rudolph Valentino với hạnh phúc |  53
Quảng cáo |  54-58
Lê Văn |  Con chó Bê-đê (truyện) |  59-64
Bách-Khoa |  Tô Tần với vua Sở |  64
Quảng cáo |  65-70
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [IX] (truyện dài) \ Từ Vu |  71-74
Quảng cáo |  75-80


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #69 vào: 19/01/2018, 18:30:12 »


Cuộc khẩn hoang miền Lục tỉnh của binh sĩ Việt Nam thời xưa

Lời tác giả.– Trong việc mở mang bờ cõi về phía Nam kể từ đời nhà Trần lấy hai châu Ô, châu Rí của Chiêm Thành đến ngày nay có miền Tây phì nhiêu màu mỡ bát ngát ruộng đồng, chúng ta biết chăng về những thế kỷ trước các bậc tiền bối đã chiến đấu với mọi thứ để khai phá vùng hoang vu hiểm độc này.
      Trong công cuộc khẩn hoang đó binh sĩ Việt Nam thời ấy đã đóng một vai trò chống giặc, mở đất một cách vô cùng quan trọng và kết quả tươi đẹp còn đến ngày nay…
      Với bài biên khảo này, chúng tôi muốn mời các bạn nhìn lại những việc làm của người xưa để chúng ta có một quan niệm về công việc khẩn hoang hiện tại.


○ ○ ○

NHÂN DÂN VIỆT NAM vốn là một dân tộc nông nghiệp, quen sinh sống từ xưa ở những triền sông, và các vùng đồng bằng.
         Dần theo thời gian, với những đức tính cổ truyền và hoàn cảnh, dần dần một mặt chống nạn xâm lăng của Trung Hoa ở phương Bắc, một mặt mở bờ cõi xuống miền Nam.
         Trong việc khuyếch trương bờ cõi, có nhiều điều kiện thuận tiện cho cuộc Nam tiến, và trong đó có việc khai khẩn những miền đất hoang vu.
         Trong công cuộc khẩn hoang ấy, những người dân Việt Nam đi mở mang những vùng đất hoang vu, phải đương đầu với nhiều trở ngại, nào chống với thiên nhiên, lụt bão, lam sơn chướng khí, bệnh tật, thú dữ, nào chống với xâm nhập cướp phá của dân tộc thiểu số; hồi đó quân đội đã ghi nhiều công trình lớn lao trong việc khẩn hoang.
         Công cuộc khai khẩn đầu tiên những vùng hoang vu, hoặc miền thượng du phía Bắc, hoặc miền Nam đã có từ đời vua Lý Thánh Tôn (1128-1137) và Lê Thánh Tôn (1460-1497), nhưng mãi tới thời Chúa Nguyễn Ánh (1788) việc khẩn hoang và mở mang những vùng đất trồng trọt mới thực là được phát triển mạnh mẽ, theo những kế hoạch đại qui mô. Đó là việc binh sĩ tham gia công cuộc khẩn hoang những vùng đất mới ở miền Hậu Giang hay nói khác đi, quân sự hóa công tác đại qui mô này.
         Những tài liệu lịch sử của Cận kim thời đại, cho chúng ta biết khá đầy đủ về cơ cấu tổ chức và những phương pháp làm việc đương thời.
         Đất Gia Định thời bấy giờ chia làm 4 Doanh:
            – Phiên Trấn
            – Trấn Biên
            – Trấn Vĩnh
            – Trấn Định

         Nhưng vì tình thế nhiễu loạn, giặc giã nhiều, ruộng đất bỏ hoang nhiều chỗ, dân tình đói khổ, đâu đâu mùa màng hoa lợi cũng bị thiếu hụt. Nguyễn Vương thấy tình cảnh nhân dân như vậy, để chấn chỉnh lại tình trạng xã hội nguy ngập, phái các văn thần và Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Chu, Hoàng Minh Khánh, cả thảy 12 người làm Điền Tuấn Quan để khuyến khích Quân dân cố làm ruộng, và mở mang khai thác những vùng đất bỏ hoang.
         Hồi Nguyễn Vương coi công việc khẩn hoang những vùng đất Hậu Giang là công cuộc quan trọng, nên ban hành lệnh bắt binh sĩ cùng nhân dân lấy công việc này làm trọng. Binh sĩ thì vừa lập đồn giữ giặc cướp, vừa khai khẩn hoang, để tăng gia sản xuất.
         Những vùng đất khai khẩn đó gọi là Đồn điền (屯田), có những quan Điền Tuấn trông coi việc canh tác khai khẩn. Người ở đồn điền gọi là Điền Tuấn. Chữ đồn điền có từ đây. Binh sĩ hoặc nông dân làm trong đồn (điền) được phát trâu bò và các dụng cụ canh tác nông nghiệp. Nhưng đến mùa phải hoàn lại cho công khố bằng thóc, kho thóc chung của đồn điền gọi là “Đồn điền khố”.
         Đến mùa lúa chín khi gặt hái rồi, người làm ruộng đồng bằng phải nộp 100 Cơ (mỗi Cơ chừng 42 bát), còn ruộng miền núi thì nộp chừng 70 Cơ. Ai nộp đủ tô như là binh lính làm đồn điền thì được miễn một năm không phải đi đánh giặc, nếu là nhân dân thì được miễn một năm tập dịch. Ai thiếu số tô thóc, bắt buộc không được hưởng lệ này.(1)
         Để khuyến khích cho công chộc khẩn hoang và lập đồn điền có kết quả mỹ mãn, Nguyễn Vương định rằng các quan văn võ đều phải mộ người lập thành đội, gọi là Đồn Điền Đội, mỗi năm một người phải nộp 6 hộc thóc. Còn nhân dân, ai mộ được 10 người trở lên, được làm cai trại và miễn sưu dịch.(2)
         Vào khoảng năm 1830, viên quan Tổng Đốc thành Gia Định lúc đó tên là Thượng đã được ủy nhiệm để thành lập những đồn điền, viên Tổng Đốc này chọn thành Saigon là nơi luyện tập và thí nghiệm việc đồn điền.
         Binh sĩ làm đồn điền được chia làm 4 đội, binh sĩ được hưởng quyền ở nhà, cày cấy những khoảnh đất do nhà vua ban cho. Về địa tô mỗi năm phải đóng 2 nén bạc và 10 giạ lúa.
         Để có thể vẫn có một khả năng kỹ thuật tác chiến, hàng năm vào khoảng tháng giêng, tất cả các binh sĩ làm đồn điền được gọi để thao luyện, ôn tập các tác động quân sự. Sau mỗi kỳ luyện tập, binh sĩ để lại khí giới tại kho và được trở về nhà để tiếp tục làm ruộng. Những binh sĩ làm đồn điền được miễn tập dịch, nhưng mỗi khi có giặc giã cần đánh dẹp hoặc có lệnh động binh, đều phải nhập ngũ.
         Những binh sĩ làm trong các đồn điền là tình nguyện, cấp bực và phẩm trật theo như trong ngành hiện dịch, nhưng không ai được quá cấp Đội trưởng (mỗi đội: 50 người) sự thăng trật cho các binh sĩ làm tại đồn điền tính theo cao niên và ít nhất là có hai năm làm tại đồn điền.
         Năm 1842, viên Tổng Đốc tỉnh Gia Định là Thượng chết, tất cả binh sĩ làm đồn điền ở Gia Định đều do viên cai đội Phạm Văn Huy trông coi và biến thành một đạo quân chánh quy. Toán quân này đồn trú tại xã Thanh Sơn, tổng Lợi Trinh, tỉnh Mỹ Tho. Chính do những binh sĩ này đã bắt tay vào việc khai khẩn các vùng đất hoang tại Đồng Tháp Mười hoang vu và thành lập nên chợ Vàm Ngựa và Cai Lậy.
         Mãi tới triều vua Tự Đức thứ 2 (1849) ông Nguyễn Tri Phương, lúc đó làm Kinh lược 6 tỉnh miền Nam, có đi thăm những vùng đất hoang vu chưa được khai khẩn. Ông lấy làm ngạc nhiên về những kết quả tốt đẹp của công việc làm đồn điền tại vùng Thanh Sơn. Thấy vậy, biết rằng nếu tiếp tục công việc với phương pháp ấy sẽ rất có lợi cho việc khẩn hoang những vùng đất hoang vu. Ông nghiên cứu và bắt đầu tổ chức lại cơ cấu khẩn hoan. Từ đó, ruộng đất được phân phát cho các binh sĩ nhập ngũ và bắt buộc phải khẩn hoang. Sau bảy năm binh sĩ làm ruộng phải nộp địa tô. Tất cả những gia đình binh sĩ làm đồn điền đều tụ tập thành từng xóm, mỗi Đội(3) phải thành lập một cái chợ để tiện sự mua bán sinh hoạt.
         Mỗi binh sĩ làm đồn điền được cấp phát riêng một khu ruộng để cày cấy, do sự phân chia từ trước và không được quá 2 mẫu tây. Để cho có sự đồng nhứt và nhanh chóng trong việc gây dựng các cơ sở sinh hoạt, những tân binh nhập ngũ làm đồn điền được họp thành từng đội 50 người. Những đồn điền dần dần khai thác được và do một Quản Cơ hay Phó Quản Cơ trông coi. Tuy nhiên vẫn có sự liên hệ trực tiếp với các cơ quan hành chánh tỉnh.
         Hằng năm, để giám sát và có một ý thức nhận xét công việc phát triển sự khai khẩn, quan Bố Chánh thuộc cơ quan hành chánh tỉnh đi kinh lý các đồn điền. Những công việc thăng thưởng những cấp bực nhỏ, như Đội, Quản đều do quan Tổng Đốc hoặc cơ quan Trung Ương định đoạt.
         Về luật lệ thừa kế những ruộng đất khai khẩn; chỉ có các chức việc trong nghề võ mới được, hoặc binh sĩ không phạm kỷ luật bao giờ.
         Mỗi đồn điền lại xây cất các đồn lũy để canh phòng an ninh phần nhiều xây cất gần các sông rạch để tiện việc kiểm soát các sự thông thương. Tất cả võ khí của đồn điền được tập trung ở đó, những võ khí này phần lớn gồm có giáo mác, súng ống của chức việc hoặc binh sĩ đã trúng tuyển kỳ thi sát hạch về võ nghệ tại Saigon.
         Ngoài việc canh gác, dân binh thay phiên nhau buôn bán. Bảy năm đầu tiên khi bắt đầu khai khẩn, binh sĩ được miễn thuế thân, về sau phải nộp theo như nhân dân. Mỗi khi binh sĩ ở đồn điền đi tham gia những trận giặc, khi thắng, chiến lợi phẩm được chia đều cho mọi người.
         Đồn điền thoạt đầu lập chỉ gồm có chừng 6 Vệ (lối 3.000 người) dần dần lên tới 24 Vệ (lối 10.000 người) có trang bị võ khí và được tập luyện. Số quân các Vệ làm đồn điền chia ra như sau:
            – Gia Định, 7 Vệ
            – Mỹ Tho, 6 Vệ
            – Vĩnh Long, 5 Vệ
            – Biên Hòa, 4 Vệ
            – An Giang, Châu Đốc, 2 Vệ
            Tổng cộng là: 24 Vệ.
         Đời vua Minh mạng thứ 10, tất cả binh sĩ làm đồn điền vùng Cái Răng (Mỹ Thuận Trung) tham dự cuộc đánh dẹp giặc Mên ở vùng Sóc Trăng. Kết quả trận tiễu trừ này mỹ mãn, nên nhà vua lại ban thêm đất cho binh sĩ khai khẩn.
         Sau đó là một cuộc cải tổ đồn điền, được các từng lớp nhân dân hoan nghinh đặc biệt. Sự khai khẩn phát triển rất mau lẹ ở miền Tây nhứt là vùng Ba XuyênLạc Hóa. Các đồn điền trước còn lập ở ven các Vàm (cửa sông), dần dần lan đến hai bên các rạch và xâm nhập dần vào trong các Giồng. Nếu không có sự khai hoang này, có lẽ các vùng như Sóc TrăngTrà Vinh còn bị bỏ hoang.
         Hồi quan Pháp sang xâm lấn miền Lục tỉnh, những dân binh ở các đồn điền đã tham dự tích cực vào cuộc kháng chiến. Tháng giêng năm Tân Dậu (1861) Tướng Charner đem 70 chiếc thuyền và 3.500 đổ bộ đánh chiếm Gia Định và 20 ngày sau đánh đồn Kỳ Hòa (tức Chí Hòa) do vị danh tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống giữ. Cuộc chiến đấu của quân đội ta hồi đó tuy rất anh dũng nhưng vì khí giới thua kém nên hai ngày sau đồn Kỳ Hòa thất thủ.
         Trong tài liệu lượm được khi quân Pháp và Y Pha Nho đã hạ được thành, có nói đến trong số 20.000 binh sĩ Việt Nam giữ thành, có hơn 1.000 binh sĩ ở các đồn điền tham gia cuộc chiến đấu.(4)
         Khi cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam ở Lục tỉnh bị tan vỡ, người Pháp đặt ách thống trị rồi bèn tiêu diệt các cơ sở đồn điền nhứt là vùng Gia Định và Mỹ Tho. Năm 1867 viên Toàn quyền người Pháp hồi đó là De La Grandìere có ký một sắc lệnh ngày 20-9-1867 để ra lệnh giải tán tất cả mọi tổ chức đồn điền, vì e ngại ở đó sẽ phát khởi lên những cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ thực dân của họ.
         Trong vùng Cần Thơ, những dân ở các đồn điền đã thành lập những chợ búa vùng Đình, Ô Môn, Trà Ôn v.v…
         Ngày nay, ai có qua miền Tây bát ngát đồng ruộng thẳng cánh cò bay, lúa vàng thơm chín; ghe lạch chợ búa tấp nập, có biết chăng cách đây hơn một thế kỷ, những chiến sĩ Việt Nam đã vừa chiến đấu, vừa khai khẩn đất hoang, chống với bao nỗi khó khăn của thiên nhiên. Những chiến sĩ tiền bối vô danh ấy để lại cho hậu thế những mảnh đất đẫm máu và mồ hôi mà chúng ta quyết sẽ giữ gìn và mở mang mãi mãi.


PHAN LẠC TUYÊN

______________________________________________
(1) Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.
(2) Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.
(3) Đội – 50 người.
(4) Tài liệu của Georges Durwell.


BÁCH KHOA |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #70 vào: 19/01/2018, 21:32:43 »


Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam

(Mến tặng các em học sinh đã làm việc với tôi
trong những giờ mỹ thuật.)

Vât liệu
NHÀ Ở VIỆT NAM có nhiều kiểu khác nhau, tùy theo từng địa phương, và cũng tùy theo địa vị xã hội, khả năng tài chính của chủ nhà.
         Vì điều kiện thổ địa và nhất là vật liệu, nên nhà ở Việt Nam phần nhiều làm bằng tre, hay bằng gỗ. Ngoài ra cũng có số ít nhà gạch.
         Những người nghèo làm nhà tranh, vách đất. Sườn nhà tre, hay bương, mái lợp tranh, hay rạ, vách trét bằng đất bùn nhồi với rơm hay đất sét. Nền nhà thì là đất nện.
         Có một điều nhiều người thắc mắc, nhà nào ở miền Bắc, cũng có đàng trước hay đàng sau ít nhất một cái ao.
         Công việc đào ao nầy có nhiều tiện lợi cho người nông dân miền Bắc. Trước khi làm nhà, người ta đào ao, lấy đất bùn ấy (vùng Trung châu Bắc Việt là vùng đất bùn) đem lên đắp nền nhà, hoặc trộn rơm trét vách. Nền nhà nện kỹ bằng những chiếc vồ gỗ to. Nếu nện kỹ về sau nền đất này sẽ không bị nứt nẻ và láng bóng như nền xi măng.
         Ao ấy sẽ là nơi nuôi bèo cho lợn, thả cá để ăn, để bán, và thả rau muống.
         Những người trung bình làm nhà gỗ phần nhiều là gỗ xoan. Vách dựng phên tre hay gỗ. Mái lợp tranh, lợp lá gồi, lá kè.
         Những người khá giả, giàu có, làm nhà ngói. Sườn nhà dựng bằng gỗ mít, gỗ gụ hay kiền-kiền. Tường nhà xây gạch, nền lát gạch, sân lát gạch.
         Sườn nhà dựng lên theo dàn mái, đặt trên mặt đất, không đổ móng. Cột nhà gỗ thượng kê trên những hòn đá tảng tròn, hoặc vuông, cao từ 1 tấc rưỡi đến 2 tấc. Đôi khi những hòn đá tảng này cũng được thay bằng những viên gạch chồng lên nhau, hoặc là chôn chân cột xuống đất sâu độ chừng 30 đến 50 phân trở lại.
         Nhà tre phần nhiều chôn chân cột sâu trong lòng đất.

Cách thức
         Lối kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam không phải chỉ là một công việc cấu tạo đơn sơ cho thành hình một lều, một mái tranh hay một căn nhà gỗ, mà còn là một công trình kiến trúc mỹ thuật rất tế nhị. Dù là một mái tranh song vẫn nằm trong một khung cảnh thanh lịch, dịu dàng, biểu lộ tâm hồn yên tĩnh và thi vị của người dân Việt trường kỳ.
         Nhà người Việt có nhiều gian, nằm thành dãy: dãy nhà trên, nhà dưới hay nhà ngang và nhà bếp, nằm vuông theo mặt sân rộng. Còn mặt tiền ngay trước dãy nhà chính là một cái ao to, nước trong xanh.
         Khi làm nhà, trước hết dựng bốn cột cái gian giữa, và đòn nóc. Sau thêm những cột cái và kèo các gian bên. Rồi đến các hàng cột con và cột hiên. Vì lý do thổ địa và vật liệu, những cột kèo ấy phải chằng chịt nhau thành một sườn nhà thật vững. Rồi trên đó đặt mái nhà. Mái nhà phải làm nặng, vách nhà cũng phải cho vững chắc, phòng khi gió bão.
         Vì khí hậu Việt Nam nóng nực, nên nhà làm thường tiết kiệm tường, vách. Mặt tiền ba gian chính để trống. Nếu nhà gỗ thì làm cửa lùa, cửa xếp, mỗi lần mở thì mở hết. Những nhà giàu thì làm cửa bức bàn cao vào khoảng trên dưới 8 tấc. Hoặc nhà tre thì làm cửa liếp, ban ngày chống cao lên, tối hạ xuống. Có nhà chỉ treo một cái rèm thưa.
         Có một điều đặc biệt là mặt sau của gian chính giữa không khi nào có cửa sổ. Vì gian ấy là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, ông bà.
         Bàn thờ kê sát vách. Ở Trung Việt bàn thờ còn đặt trên một cái rầm cao độ 4 tấc. Trước bàn thờ này có kê một bộ sập hay một bộ phản (bộ ván) gỗ.
         Những nhà khá giả còn kê thêm một bộ bàn ghế, trước bộ sập ấy, để làm nơi tiếp khách.
         Hai gian bên có kê những bộ phản gỗ, để làm nơi ngồi nghỉ ngơi, trò chuyện của những người trong gia đình, hay nơi ăn uống trong những ngày cúng giỗ. Những gian này đôi khi cũng có kê những bàn thờ khác nữa.
         Ba gian giữa thường thông luôn nhau. Để ngăn những gian bên ra với những gian chái hai đầu nhà, người ta làm vách gỗ vách đất hay vách phên, tùy theo tình trạng mỗi gia đình.
         Hai căn chái hai bên thường là buồng ngủ hay là vựa lúa, nơi chúa các vật dụng cần thiết, tài sản trong nhà.
         Những nhà khá giả thường làm một mái hiên rộng đằng trước suốt năm gian hai chái, hay suốt ba gian hai chái. Hoặc chỉ làm mái hiên trước những gian chính thôi. Bề rộng của mái hiên có khi đến một thước rưỡi, và thường có một hàng cột hiên.
         Nhà ở miền Bắc, ngoài những hàng cột hiên vững chãi này (có nhà làm cả cột hiên sau), người ta còn phải làm thêm hai hàng cột chống bão đằng trước và đằng sau. Hai hàng cột này chống xuống đất và chống lên sườn nhà thoai thoải như hai chân chữ A (V ngược).
         Nhà ở miền Trung thì không làm thêm những hàng cột này, song mái nhà rất xuôi, thấp hẳn xuống.
         Còn nhà miền Nam thì tuyệt nhiên không có một tính cách chống gió bão. Những hàng cột hiên chỉ làm cho đẹp mắt. Vì khí hậu miền Nam tương đối điều hòa hơn.
         Ở miền Bắc thường nhà nào cũng có làm cổng. Cổng nhà có nhiều kiểu khác nhau. Có khi là một tấm liếp bằng tre đan có thể kéo lên, thả xuống, hay là kéo ngang. Bên trên cổng cũng có mái nhỏ lợp ngói, hay lợp lá.
         Ở Huế có nhiều nhà làm cổng rất đẹp. Tường nhà xây, cổng gỗ, nóc cũng lợp ngói.
         Kiểu nhà có cổng lợp nóc này bị ảnh hưởng của lối kiến trúc nhà cửa Trung Hoa, nhà nào dù lớn nhỏ, giàu nghèo cũng đều có một cái cổng hẹp có nóc. Nhưng đi dần từ Huế trở vào Nam phần, thì cổng nhà không còn nữa. Ở đồng quê Nam phần, nhiều nhà chỉ làm một chà gai vững chãi để đến đêm thì kéo ngang, ngăn ngõ ra vào là đủ.

Những kiểu
         Kiểu nhà xưa hơn hết ở Việt Nam thì có 4 mái. Hai mái chính và hai mái chái ngang. Rồi đến kiểu nhà hai mái bịt đốc, không chái. Căn cứ nơi những nhà nhỏ bằng đất nung đào ở các mộ xưa tại các làng Nghi Vệ tỉnh Bắc Ninh, làng Lạc Y tỉnh Vĩnh Yên, làng Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, thì hai kiểu nhà trên đã có từ thế kỷ thứ ba, thứ tư ở Bắc Việt.
         Nhà cửa mỗi nơi mỗi khác, miền Bắc khác với miền Trung và miền Nam.
         Tùy theo từng địa phương mà sườn nhà, mái nhà thay đổi đi với những tên khác nhau.
         Ở miền Bắc thì có những kiểu nhà thông dụng theo hình chữ ĐINH (丁), ba gian hay năm gian.
         Ở miền Trung có những kiểu nhà chữ ĐINH, nhà RÔI, nhà RƯƠNG, nhà VUÔNG, hay là nhà Ba căn. Kiểu nhà Ba căn là kiểu biến hình của nhà RƯƠNG.
         Nhà Vuông là một kiểu nhà, ba gian chính thông luôn nhau. Hai gian chái thông luôn nhau bằng một ngăn rộng sau bàn thờ chính của những gian giữa.
         Ở miền Nam cũng có những kiểu nhà BA CĂN, NĂM CĂN, và đặc biệt nhất là kiểu nhà BÁNH ÍCH, bốn mái đều nhau.
         Cách thức và phong tục làm nhà tuy có những điểm khác nhau tùy theo mỗi nơi, mỗi nhà, song không phải vì thế mà mỗi kiểu đều cách biệt nhau hẳn. Chung qui cũng chỉ là những điều đại đồng tiểu dị.


Từ-Quyên ĐẶNG VĂN NHÂM


BÁCH KHOA |  SỐ 12

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #71 vào: 19/01/2018, 23:26:12 »


               Từ xa giới tuyến

         NẮNG hạ phai rồi lộng gió may
         Vàng rơi từng lá có ai hay?
         Từ xa giới tuyến chưa nguôi nhớ.
         Lo ngại thu nào lạnh tới nay.

         LÁ rụng tường hoa rêu phủ biếc,
         Thấm sương vách đất buồn đơn chiếc!
         Vóc liễu gầy hơn, áo đã chùng,
         Phấn son tàn hết vẻ phù dung!

         NGÀN mây xuống thấp khép hoàng hôn,
         Giày sắt đường vang nhạc thép dồn.
         ― Ai nhớ thùy dương cầu thệ thủy?
         ― Ai chặt thùy dương xây chiến lũy?

         VÀNG rụng canh trường thiếu áo len.
         Xa phương Người Lạ choáng hơi men.
         Liên hoan cho lấp hờn vong quốc…
         ― Người khóc thu tàn, cửa khóa then!

         HOÀI vọng bây chừ nhớ cố đô
         Nẻo đường quen thuộc chữ  □  □
         Vàng rơi tường bắc… Ai lưu lạc?
         Quán khách nằm mơ chuyện hải hồ.

        “THỆ tảo Hung Nô bất cố thân”…
         Dăm chàng văn sĩ thú liên ngâm.
         Thương sao xương trắng công trường mới…
         Chờ thuở trừng thanh, ước nguyện thầm!


                                                    LAM GIANG


BÁCH KHOA |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #72 vào: 22/01/2018, 21:39:29 »
BÁCH KHOA |  SỐ 13  [15 tháng Bảy  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Đính chánh Bách-Khoa số 12 |  i
Huỳnh Văn Lang |  Hợp tác xã tiêu thụ |  1-8
Phạm Ngọc Thảo |  Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng quân sự địa phương |  9-13
Bách-Khoa |   Trị binh |  13
Hào-Nguyên Nguyễn Hóa |  Thử tóm tắt học thuyết Kant |  14-22
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam [II] |  23-28
Bách-Khoa |  Chính và chính |  28
Lam Việt |  Một vài ý tưởng về cuốn “Tản văn chọn lọc” của Ba Kim |  29-35
Bách-Khoa |  Cách làm cho dứt nạn trộm cắp |  35
Thuần Phong |  Đạo nghĩa vợ chồng trong câu hò miền Nam |  36-43
Mặc Thu (dịch) |  Họa trúc ca (thơ) \ Bạch Cư Dị |  44-45
Quảng cáo |  46-48
Lê Văn |  Nhân vẽ bản địa đồ tí hon (tùy bút) |  49-53
Quảng cáo |  54-56
Minh Đức |  Dứt khoát (truyện) |  57-64
Bách-Khoa |  Quí người hơn của |  64
Quảng cáo |  65-68
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [X] (truyện dài) \ Từ Vu |  69-73
Quảng cáo |  74-77
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  78-80
Quảng cáo |  81-84


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #73 vào: 22/01/2018, 22:38:58 »


Thử tóm tắt học thuyết Kant

HÔM NAY chúng tôi thử đề cập đến học thuyết luân lý của nhà triết học Đức Emmanuel Kant (1724-1804).
         Sánh với các học thuyết đã đề cập trước, học thuyết này có phần phiền phức, rắc rối hơn.
         Học thuyết Kant chiếm một địa vị rất quan trọng trong luân lý, như chính địa vị quan trọng của triết học luân lý trong nền triết học nói chung. Lại có người ví cái địa vị quan trọng ấy như chính cái địa vị tối đại của luân lý mà Kant dành trong toàn thể hệ thống triết học của mình.
         Học thuyết Kant gây ảnh hưởng rất lớn lao và lâu bền trong đời sống luân lý ở xã hội văn minh ngày nay. Có người cho rằng chính cái ý thức tôn trọng danh dự cá nhân, nhân phẩm của người là ý thức phổ biến ngày nay có thể đã bắt nguồn từ tư tưởng Kant. Cho nên không ngờ rằng, ngay cả đến các nhà lập pháp, lập ra những bộ luật văn minh, lấy sự tôn trọng nhân phẩm của con người làm tinh thần căn bản, có lẽ cũng đều chịu ảnh hưởng không gần thì xa học thuyết Kant cả. Ngay đến phái tân học ở nước ta đây, chịu ảnh hưởng văn minh Tây phương, đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Kant, ít ra cũng trong tư tưởng tôn trọng cá nhân. Xem thế ảnh hưởng tư tưởng Kant trong xã hội tân tiến ngày nay thật lớn lao vậy.

Học thuyết Kant như thế nào?
         Trước khi đi vào học thuyết Kant, ta chớ quên rằng Kant sinh trưởng trong gia đình Tin Lành. Ông đã chịu ảnh hưởng rất sâu xa của mẹ ông, một người đàn bà tuy ít học, nhưng rất ngoan đạo, noi theo đạo đức một cách chặt chẽ, khắc khổ, khiến cho ông sau này lớn lên, tuy suy nghĩ tự do nhưng vẫn tôn trọng đạo đức. Cũng vì ảnh hưởng của mẹ ông mà ông đã sớm tìm nguồn suy luận luân lý trong sâu thẳm của lương tâm, và trong sự gắn bó thiết tha của Thượng Đế. Cũng lại bởi ảnh hưởng ấy mà từ tuổi trẻ, ông đã tỏ ra tôn trọng cái ý chí của nội tâm, cái tính cách khắc khổ của bổn phận. Trong triết học, suốt đời, ông không hề rời khỏi ảnh hưởng ấy. Ngoài ra lòng tin ở bản chất thiện của loài người, lòng quí trọng cá nhân, quí trọng nhân dân, quần chúng, và sự tin tưởng rằng luân lý không phải là vấn đề của khoa học, cũng không phải là vấn đề của lý thuyết, đều là những tư tưởng mà Kant chịu ảnh hưởng của Rousseau cả, tuy Rousseau trái với Kant, chủ xướng một thứ luân lý tình cảm.(1)
         Tuy Kant chịu ảnh hưởng Rousseau như thế, nhưng học thuyết luân lý của Kant là một học thuyết luân lý duy lý.(2)
         Cũng như nhiều nhà triết học khác thuộc phái duy lý, Kant không tin cậy “con tim”. Kant đã triệt để bài xích tình cảm với chủ quan và thất thường. Nếu hành động luân lý mà dựa trên tình cảm có lúc mạnh như thác lũ, có lúc khô như đất hạn, đối với Kant, không có gì còn có thể lầm lạc hơn.
         Chỉ tin ở lý trí,(3) Kant cho rằng người đạo đức là người luôn luôn hành động hợp với lý trí và chỉ lý trí thôi. Kant lại tin rằng lý trí không đủ sức để lập nên một trí thức siêu hình khả dĩ vững chắc: Kant gần như loại bỏ siêu hình. Kant gọi học thuyết của ông là một học thuyết duy lý thực tiễn vì căn cứ trên lý trí thực tiễn. Trong phần tâm lý học, Kant có biện biệt hai thứ lý trí khác nhau, tuy cùng một nguồn gốc:
         Một gọi lý trí lý thuyết, là thứ lý trí chuyên tìm những nền nếp cho tư tưởng khoa học. Một gọi lý trí thực tiễn, chuyên tìm nền nếp hành vi luân lý của người ta. Kant lại chú trọng rất nhiều đến luân lý trong toàn thể hệ thống triết học của ông, nên lẽ tự nhiên, ông chú trọng rất nhiều đến lý trí thực tiễn. Ông rất ít đề cập đến siêu hình. Vì lẽ đó, nhiều người tưởng lầm rằng Kant không tin hay không tin hẳn có thượng Đế.(4) Cũng vì lẽ đó, ta vẫn gọi học thuyết luân lý Kant là học thuyết luân lý thực tiễn.

“Thiện chí” trong học thuyết luân lý Kant
         Luân lý dù ai muốn thế nào, tự nó vẫn là vấn đề của nội ngã. Phán quyết về luân lý không thể có được từ bên ngoài ta. Kant xác nhận rằng chỉ có “Thiện chí”(5) là đáng quí nhất trên đời, chỉ có thiện chí là bản nhiên tốt mà thôi. Xem như của cải, tài nghệ vẫn giúp người ta để xoay xở đấy, nhưng nó cũng chỉ còn tốt khi ta biết dùng nó, nghĩa là ta lấy nó mà xoay xở với thiện chí mà thôi. Nếu ta theo đuổi một mục đích, thôi thúc bởi một tình cảm thì thiện chí không còn độc lập vì nó phải phụ thuộc một tình cảm. Ta nên nhớ rằng thiện chí chỉ tốt khi nó còn độc lập, nghĩa là nó không phải phụ thuộc vào một thứ gì khác. Vì thiện chí độc lập cần thiết trong đời sống luân lý như thế, nên có thể nói, vấn đề luân lý là vấn đề gìn giữ cho thiện chí được độc lập.

Làm thế nào để gìn giữ “thiện chí” độc lập?
         Kant phân biệt hai cách hành động: hành động hợp với bổn phận và hành động vì bổn phận.
         Chúng ta gìn giữ tính mệnh của mình vì một thôi thúc tự nhiên, một bản năng tự vệ; người bác ái thích giúp người khốn khổ để được một nỗi vui; một người sợ bị trừng phạt mà phải làm việc bổn phận; một nhà buôn vì quyền lợi riêng mà phải ăn ở thật thà… đều là những người hành động hợp bổn phận. Tại sao nói thế?
         – Ấy chỉ vì nhà buôn không vì “Bổn phận” mà thật thà; người bác ái không vì “Bổn phận” mà giúp người, còn kẻ vì lòng sợ bị trừng phạt mà làm việc bổn phận thì không hành động vì “Bổn phận”. Thực ra họ chỉ nghe theo một thứ tình cảm riêng mà thôi.
         Bây giờ, có kẻ chẳng bác ái gì, nhưng hễ thấy việc bổn phận là làm tròn, hễ trao lời hứa là giữ đúng, không nghĩ đến làm tròn bổn phận để được khen, giữ lời hứa để được tin. Người ấy hành động vì bổn phận. Hành động như thế, người ấy chỉ biết có lòng tôn trọng “Bổn phận”, tôn trọng luật lệ luân lý. Hành động như thế, người ấy giữ được thiện chí độc lập. Hễ theo đúng thiện chí độc lập mà hành động là hành động phải.

Vô thượng mệnh lệnh
         Thiện chí, như ta nói trên, phản ảnh bổn phận, luật lệ luân lý, là cái kết quả, có thể nói thế, của lý trí thực tiễn ở mỗi chúng ta. Muốn hiểu nó một cách rõ ràng, ta hãy nghĩ đến những lúc chúng ta phải chống lại những sự quyến rũ của tiền của, dục vọng. Trong những lúc ấy, thiện chí(6) hiện ra rất rõ rệt. Nó có sức cưỡng bách trên chúng ta một cách rất quyết liệt, bắt buộc chúng ta phải tôn trọng nó. Ta gọi nó là một vô thượng mệnh lệnh. Nó đòi chúng ta phải tuân theo nó vô điều kiện, không cần biết đến kết quả, lợi lộc gì. Ngoài sự tôn trọng duy nhất “Bổn phận” là hoàn toàn độc lập, độc lập đối với mọi sự suy nghiệm, đối với tất cả những tấm lòng vụ lợi, nói chung, độc lập đối với tất cả mọi thứ tình cảm của ta. Bởi thế nên nói: “Người ta phải tuân theo bổn phận vì bổn phận, không suy luận dài dòng gì cả”. Cái Thiện, đối với Kant thật là giản dị. Bởi cái thiện là sự tuân theo vô thượng mệnh lệnh, hợp với “Bổn phận” (uy nghiêm). Đến đây ta lại nói: Tuân theo vô thượng mệnh lệnh là thiện; trái lại, hành động theo tư tâm, tư ý (hiểu đúng danh từ) theo xúi giục của tình cảm phiền toái đủ mọi thứ là hành động trái. Tại sao thế? – Chỉ vì hành động thế, chúng ta thúc bách vô thượng mệnh lệnh phụ thuộc vào những động cơ tình cảm biến chuyển từng phút từng giây.
         Bởi thế, trong khi hành động, ta phải xa lánh những lời khuyên, nó luôn luôn bất nhất, thay đổi tùy từng người và tùy từng trường hợp. Còn phải tránh những mệnh lệnh uy nghiêm không có nguồn gốc thuần túy luân lý. Ví dụ đừng hành động theo những mệnh lệnh như mệnh lệnh sau này: “Muốn được tin, chớ nói dối!” Không nói dối, theo mệnh lệnh này, không phải vì luân lý mà thật ra vì lòng ham muốn được tin. Như thế ta đã uốn nắn cái thiện chí vào dục vọng; thiện chí không còn độc lập. Ta chỉ nên, và chỉ phải tuân theo, chỉ phải tuân theo “vô thượng mệnh lệnh” mà thôi: “Chớ nói dối!” Câu nói vắn tắt và xẳng xớm ấy có đủ uy quyền, và chính tự nó đủ tốt để ta theo. “Chớ nói dối” là một luật lệ, một mệnh lệnh, tuy suông, nhưng quyền uy tối thượng, do thiện chí độc lập phán bảo. Nói thiện chí độc lập tức là nói thiện chí không phụ thuộc vào tình cảm hay gì nữa cả. Cho nên, nếu hỏi: “Tại sao không nên nói dối?” ta thấy rõ rằng chỉ còn một lối trả lời, một lối trả lời hợp lý duy nhất mà thôi: “Sự nói dối không thể đem lập thành một luật lệ phổ biến được”.

Luân lý hình thức
         Muốn biết một hành động có thể biến thành một luật lệ phổ biến là việc rất dễ dàng. Người ta tự nhiên mà biết, biết trước khi suy luận, trước khi thí nghiệm. Thật ra, trong luân lý, những kinh nghiệm mà người ta thâu thập được, hay những suy luận này nọ đều vô ích. Trước “bổn phận” mọi người đều một mực bình đẳng với nhau, kẻ có thiên tài lỗi lạc, kẻ thông minh xuất chúng, nếu có hơn người ta ở địa hạt khác trong luân lý, trước “bổn phận”, họ cũng không còn hơn ai. Bổn phận ngự trị trên tất cả mọi người với một vẻ uy nghiêm bất dịch. Theo Kant, chủ nghĩa luân lý chân chính phải là một chủ nghĩa luân lý hình thức, nghĩa là phải rõ ràng khách quan.
         Vì ai ai cũng có thiện chí, và vì sự mọi người đều nhất luật bình đẳng trước Bổn Phận, Kant gọi luân lý duy lý của ông là luân lý phổ biến, bình dân.
         Luân lý không thể rút ra từ kinh nghiệm mà ra. Sự quan sát cũng không giúp ích gì được cho hành động, vì sự quan sát có bao giờ cho ta biết đích xác tính chất của hành động. Ta vẫn nhìn hành động, ngoại vật, nói chung, qua lòng vị lợi, qua tình cảm, nghĩa là qua cái kính tam-lăng trước nhãn quan ta. Ví như ta có thể từ hành vi trước mà rút kinh nghiệm, thì bất quá ta cũng chỉ có thể lập được một luật lệ thuộc khoa học mà thôi, chớ không thể làm thành một luật lệ luân lý được.
         Huống chi, muốn có thể dùng được kinh nghiệm một cách hữu hiệu, thì trước hết ta phải nắm chắc được một tiêu chuẩn để làm căn cứ mà nhận định cái gì là đạo đức, cái gì là vô luân, mà nhận định được thế nào là đạo đức, thế nào là vô luân là điều mà chúng ta đi tìm. Rõ là lẩn quẩn. Tin như thế, Kant cho rằng những nền luân lý cóp nhặt đầu này một ít, đầu kia một ít, đem phối hiệp nhau một cách quái gở, để làm thành những nền luân lý quái đản, mệnh danh là thế này thế khác, đều hoàn toàn sai lầm.
         Đối với Kant, hoặc là luân lý hình thức, hoặc không có luân lý.

Phương châm hành động
         Bổn phận uy nghiêm ngự trị trên chúng ta, có tính cách hoàn toàn hình thức. Từ bổn phận và tính cách hình thức của bổn phận, Kant nêu ba phương châm tiếng tăm:
         – Phương châm thứ nhất:
        “Luôn luôn hành động theo một phương châm mà chính ta muốn phương châm ấy có thể biến thành một luật lệ phổ biến được”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của lý trí. Nó giúp ta qui định được bổn phận của cá nhân đối với chính mình. Ví dụ ta phải công bình, phải thật thà. Ta không thể mượn của ai một vật gì mà đã “rắp tâm không trả”. Nếu hành động rắp tâm “không trả” biến thành một luật lệ phổ biến thì hẳn ta không muốn tí nào! Ta không nói vu cho ai, chỉ vì, “nói vu”, nếu biến thành một luật lệ phổ biến, thì chính ta cũng không thích. Hễ cái gì “ta không muốn, thì người cũng chẳng ưa”. Tại sao lại thế? – Ấy chỉ vì mỗi người chúng ta đều có lý trí, đều có thiện chí mà ta nói ở trên.(7)
         Có những bản thể mà ta có thể xem như phương tiện, vì chính tự nó không có cứu cánh nội tại. Nó vốn thật chỉ là những phương tiện mà thôi, và giá trị của nó, không phải tự ở nó mà có, lại do ở người dùng nó, cấp cho nó, định cho nó. Giá trị của nó, tùy ở người dùng mà lên lên xuống xuống, cho nên hoàn toàn có tính chất phương tiện. Bởi lẽ đó, Kant gọi chung những bản thể ấy là “sự vật”, như: đồ dùng, ngựa, cừu, vàng, bạc v.v…
         Nhưng con người không phải là những “sự vật” như thế, chỉ vì lẽ “Con Người” có cứu cánh nội tại, hay nói một cách khác, con người tự mình có một giá trị tự tại. Người là một “bản thể” vô giá vì quí giá vô ngần, không có gì sánh kịp. Quí giá vô ngần, con người có một giá trị riêng, có nhân phẩm.(8) Người ta thường lấy của cải để trả công cho “Con Người”, nhưng thật ra, cái thiện chí của người ta không thể đánh giá được.(9) Con người là một bản thể có lý trí, có thiện chí, hành động hợp đạo đức; ta không ngờ gì nữa, con người mang trong bản thân một cứu cánh.
         Con người có giá trị vô song, cái giá trị hiển nhiên đến nỗi ngày nay, dưới ánh đèn điện, đâu đâu ta cũng nghe nói: “Nhân phẩm là cái giá trị thiêng liêng, cái quí của con người, không phải giá trị tiền bạc, địa vị, của cải…”
         Từ tư tưởng này, Kant nêu phương châm thứ nhì:
        “Luôn luôn hành động cách nào mà người ta có thể xem nhân loại (hoặc chính bản thân ta, hoặc người khác) không như một phương tiện mà như một cứu cánh”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của công bình. Những kẻ bắt con người làm nô lệ cho con người đã xem con người như phương tiện. Kẻ nào tự tử, xem mình như một phương tiện; kẻ nào hứa mà không giữ lời, xem người khác như một phương tiện. Đến như kẻ thờ ơ chẳng cứu giúp một người hoạn nạn, kẻ ấy không xem người khác như một phương tiện, nhưng có điều cũng không xem người khác như một cứu cánh.



         Trong xã hội mà đạo đức chưa toàn thắng, luân lý chưa hoàn hảo, ta thấy người ta thường xem nhau như phương tiện, và còn đáng buồn hơn, “lý kẻ mạnh, bao giờ cũng hơn”, đúng như lời nói chua chát của La Fontaine. Nhưng trong xã hội đạo đức, người ta thường xem nhau như cứu cánh. Ai cũng hành động hợp thiện chí (độc lập), tức là đồng thời những hành vi của mọi người đều có thể biến thành những luật lệ phổ biến, mà mọi người vui vẻ tuân theo (bởi nó đều thiện). Vậy thì, trong xã hội đạo đức này, ai cũng vừa là nhà làm luật, mà cũng vừa là người thi hành luật (luân lý). Xã hội cơ sở trên một thứ hợp đồng, xem như một dân ước mà mọi người tự do ký kết: Xã hội an lành, đạo đức phát triển, dựa trên bản “dân ước” cấu tạo trong tinh thần tự do của mỗi người và bình đẳng giữa mọi người.
         Từ đấy, Kant nêu phương châm thứ ba:
        “Luôn luôn hành động thế nào mà ta có thể xem như vừa là người làm ra luật lệ, vừa là người thi hành luật lệ trong một xã hội đạo đức, cấu tạo trong tự do và bình đẳng, trong đó mọi người đều xem nhau như cứu cánh”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của tự do.
         Đến đây, chúng ta đã tóm tắt lý luận luân lý “bổn phận” của Kant. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua được những định đề dưới đây, để có thể hiểu cả hệ thống tư tưởng Kant. Nếu không tìm hiểu những định đề này, ta có thể nghĩ lầm rằng Kant không tin có Thượng Đế, vì thật ra trong lý luận luân lý bổn phận, Kant không hề nói đến Thượng Đế. Những định đề này không làm thành một hệ thống lý thuyết siêu hình(10) mà chỉ có thể làm như Kant, xem những định đề này như những bí mật trong tôn giáo, những bí mật mà chúng ta chỉ có thể thừa nhận, chứ không có tài nào hiểu nổi. Và chính Kant đã nói: “Khoa học phải im đi, để cho đức tin nói lên”.
         Lời ấy chúng ta cần nhớ để hiểu những quan niệm dưới đây.

Quan niệm “tự do” của Kant
         Không gian và thời gian, đối với Kant, là những hình thái mà cảm quan nhận biết được trước khi phải nghiên cứu thí nghiệm. Cái thế giới mà khoa học thiết lập trong không gian và thời gian, không phải là thế giới thực tại. Nó chỉ là một thế giới hình tượng.(11) Cái thiện chí mà mọi người đều có, “tự do” không thể nào thuộc vào thế giới hình tượng ấy được. Nhưng ta thấy “tự do” của thiện chí có hiển nhiên trong khi hành động luân lý. Vậy ta phải quả quyết rằng “tự do” hằng tồn tại trong một thế giới khác, một thế giới mà sự vật tự nó có sẵn, ta gọi là thế giới đương nhiên tự tại.(12) Chúng ta không thể hiểu thấu được “tự do”, nhưng “tự do” phải có. Và chính lý trí thực tiễn cũng nói cho ta biết rằng “tự do” có thật. “Tự do” vốn hằng tồn tại. Nếu không, hành động của con người làm sao lại có thể tốt đẹp, đạo đức; vì ta biết, mỗi khi hành động mà không tự do (tự do của thiện chí) thì hành động tức thì rơi ngay vào những thúc phọc, những bóp nắn tình cảm… thuộc thế giới hình tượng?

Thượng Đế
         Bằng “lý trí thực tiễn” và bằng “thiện chí tự do”. Kant đã giải thích tất cả. Và cả hệ thống triết học của ông cũng đều cơ sở trên ấy. Nhưng, cuối cùng, trong những định đề, Kant lại đem luân lý của mình đến tính chất siêu hình một cách rất lý thú (nhờ ảnh hưởng của bà mẹ và của gia đình Tin Lành).
         Đối với Kant, lý trí không những chỉ là một khả năng phổ biến (nghĩa là mọi người đều có) mà còn là một khả năng liên kết. Có những điều hay do tình cảm đem lại, như cảm thấy an tâm, sung sướng. Có những điều hay thuộc luân lý như: đức hạnh, tuân theo bổn phận. Ta gọi điều hay do tình cảm đem lại là “cái thiện tự nhiên”, điều hay luân lý, là “cái thiện luân lý”. Lý trí lại muốn rằng cái thiện tự nhiên và cái thiện luân lý phải hòa hợp nhau để làm thành “cái thiện tối cao”. Ta thấy, như chúng tôi đã đề cập trong những số trước, phái Epicure giải quyết vấn đề này bằng cách đem phụ thuộc cái thiện luân lý vào cái thiện tự nhiên, vì đức hạnh, đối với Epicure, là tìm khoái lạc. Những người khắc kỷ lại giải quyết bằng cách đem phụ thuộc cái thiện tự nhiên vào cái thiện luân lý. Nhưng Kant không thế. Kant đem đối lập tình cảm và luân lý: với ông, hành vi thực sự luân lý phải là hành vi độc lập đối với tình cảm. Cũng như tình cảm không thể hòa hợp được với lý trí, đức hạnh và hạnh phúc không thể hòa hợp được với nhau. Trong khi đó, lý trí lại muốn nó phải hòa hợp. Muốn nó hòa hợp được, tất cả phải có một “cái gì” để cho người làm việc thiện được sung sướng, kẻ tội lỗi phải bị khổ sở. “Cái gì” ấy, Kant cho là một thế lực lớn lao… chính Thượng Đế vậy.
         Đến đây, lý trí thực tiễn lại bắt buộc ta phải thừa nhận rằng Thượng Đế hằng tồn tại.

Linh hồn bất diệt
         Thế mà trong thế giới tình cảm, đức hạnh và hạnh phúc không thể hòa hợp đằm thắm được. Bị tình cảm trên níu xuống, thiện chí khó mà vươn lên đạo đức cho được hoàn thiện, trong khi lý trí đòi phải hoàn thiện. Bởi lẽ đó, chúng ta lại phải thừa nhận rằng con người tốt phải có một đời sống khác nữa… đời sống của linh hồn bất diệt. Nếu không có linh hồn bất diệt, tại sao lý trí thực tiễn lại đòi đến một độ không thể nào thực hiện được trong đời này?

Phê bình học thuyết Kant
         Ngoài công truyền bá ý thức tôn trọng nhân phẩm con người mà người văn minh, xã hội tân thời, không thể nào quên được, nhà triết học Đức còn có sự thông hiểu gần như linh diệu để giải thích một vấn đề trọng đại, đã làm rụng nhiều tóc của nhiều nhà triết học, một cách thông suốt lạ lùng. Ấy là vấn đề: có quả thật mọi người đều có lương tâm luân lý không? Nếu quả thật là mọi người đều có, tại sao có kẻ tốt người xấu?(13) Kant cũng đã biện biệt rất rõ rệt tính chất của luật lệ luân-luân-lý khác hẳn với luật lệ thiên nhiên, luật lệ luân lý, vì luật lệ luân lý bao giờ cũng chứa chất tự do: luật lệ luân lý được tuân theo một cách tự do. Và ngay khi tuân theo luật lệ ấy, người ta hoàn toàn được tự do.(14) Những điều trọng yếu này chính là cái giá trị lâu bền của tư tưởng Kant.
         Tuy nhiên, cũng như những nhà triết học duy lý, Kant có cái lầm lẫn là đã lên án “tình cảm”, buộc tội “con tim”. Thật ra những luân lý tình cảm, mà luân lý Cơ Đốc tiêu biểu, đã gây ảnh hưởng rất lớn lao trong cuộc sống xã hội. Luân lý Cơ Đốc đã được xem như một phúc âm gieo rắc trong xã hội loài người những niềm tin yêu nhân ái…, đã cải tạo tâm tình, đạo đức con người với sức mãnh liệt nào ta đều biết. Mạnh Tử có nêu: cái tình trắc ẩn của người ta chính là đầu mối của mọi đức hạnh cũng đáng cho ta suy nghĩ.(15) Theo Kant, lòng trắc ẩn của Mạnh Tử, vì là tình cảm, không còn là thuần túy luân lý nữa ư? Thật ra, biết được bổn phận không phải là điều kiện đầy đủ để thực hiện bổn phận. Trước một việc thiện, người ta thường bị khích động. Chính sự khích động ấy là động cơ của những việc thiện kế theo,(16) vì việc thiện vốn có sức quyến rũ rất mãnh liệt. Lyautey có nói một câu đáng cho ta suy nghĩ:
         “Không có một sự nghiệp nào của con người thật sự vĩ đại mà không cần có một ít tình cảm”. Thật ra tình cảm đóng vai trò rất trọng yếu trong đời sống luân lý, một vai trò không kém cái vai trò của lý trí. Tình cảm làm cho bổn phận luân lý trở nên đáng ưa, bớt vẻ khắc khổ nghiêu khê. Thật ra có nhiều người(17) đã đem tình cảm chống lại vô thượng mệnh lệnh vì vô thượng mệnh lệnh không thể xúi giục ta hành động luân lý được. Không quyết liệt như thái độ những người ấy, ít ra ta cũng phải nói: không thể có một hành vi thực sự luân lý nếu thiếu nhiệt tình. Mê tín ở lý trí để buộc tội tình cảm như Kant là không đứng đắn.
         Ta cũng không thể nào đồng ý với Kant mà xem thường kinh nghiệm luân lý. Có phải chăng những người quen sống đạo đức làm việc thiện một cách dễ dàng, còn những kẻ bất lương vô đạo làm việc thiện nhọc nhằn? Kẻ quen nói thật, một lần nói dối, ngượng mồm. Kẻ quen giả dối tỏ ra thành thật một cách vất vả. Và những kinh nghiệm đạo đức luân lý của lớp người xưa, của xã hội trước, trong thực tế, chẳng phải là những mẫu mực khuôn thước cho chúng ta noi theo hành động ư? Và biết bao nhiêu đồ đệ các tôn giáo, các chủ nghĩa vẫn hằng mô phỏng hành động xuất xử của thánh nhân mình hằng tôn thờ để hành động xuất xử, chẳng phải là một lời đối đáp hùng hồn lại tư tưởng Kant sao?
         Kant đã muốn tách biệt con người, bắt ly khai với cả hoàn cảnh xã hội, với học thuật, với kinh nghiệm, cả với các thế hệ dĩ vãng, vị lai, để con người trơ trọi. Còn hơn thế, Kant bắt con người rời bỏ cả phần tâm lý tình cảm của mình, rồi đem con người ấy đối đầu với vô thượng mệnh lệnh (danh từ mới khô khan làm sao!), đối đầu với bổn phận (xẳng xớm(18) làm sao!) – Nói đến đây, con người bản nhiên luân lý (vì con người vốn có tính thiện) của chúng ta đã thấy rờn rợn trong người. Phải chăng học thuyết luân lý Kant là một học thuyết khổ hạnh xẳng xớm, tuy phổ biến nhưng khó áp dụng trong đại chúng chớ không như ông tưởng! Con người luân lý, đúng theo lý tưởng Kant, quả nhiên là một anh hùng mà ta có thể hình dung (một cách không hoàn thiện) qua hình dung thân mẫu ông.
         Mặc dù còn nhiều khuyết điểm như chúng tôi vừa lạm bàn trong học thuyết luân lý Kant, ta cũng không thể nào quên được cái “nhân phẩm” con người của mỗi chúng ta, đã bị chà đạp từ trước, được Kant khơi dậy để làm cứu cánh cho sự sống xã hội văn minh.
         Tư tưởng và công nghiệp lớn lao thay!


Hào-Nguyên NGUYỄN HÓA

___________________________________________________
(1) Gọi luân lý tình cảm những học thuyết luân lý cơ sở trên tình cảm để lập nguyên tắc. Đối với Rousseau, người hướng đạo vững chắc của hành vi luân lý là lương tâm. Émile đã nói một câu tiếng tăm: “Lương tâm! Lương tâm!… Tiếng nói thiêng liêng…”
(2) Gọi luân lý duy lý tất cả những học thuyết luân lý cơ sở trên lý trí để lập nguyên tắc.
(3) Xin hiểu lý trí theo nội dung trong tâm lý học. Vắn tắt: một khả năng tinh thần, phán đoán, suy xét, mà ai ai cũng đều có, một khả năng phổ biến.
(4) Ta sẽ thấy dưới đây rằng nói như thế là sai lầm.
(5) Chúng tôi dùng chữ Thiện chí để dịch chữ bonne volonté của chữ Pháp, là cốt cho dễ hiểu vì chữ này ta vẫn thường dùng. Tuy nhiên cần nhớ nội dung của nó bao gồm tự chủ, sự quyết tâm thực hiện hành vi, sự tự do nữa.
(6) Luôn luôn nhớ là thiện chí độc lập.
(7) Suy ra, thì tư tưởng này của Kant cũng gần giống tư tưởng tính thiện của mạnh Tử. Chỉ khác có một điều, Mạnh Tử chú trọng nhiều đến lòng NHÂN (仁) mà Kant lại bài xích.
(8) Xin hiểu theo nghĩa từ-nguyên: giá trị con người.
(9) Chính tư tưởng này đề cao giá trị con người, gây ảnh hưởng lớn lao lâu bền trong xã hội văn minh.
(10) Nên nhớ, gần như Kant loại bỏ siêu hình vì ông cho rằng lý trí không đủ sức để lập một trí thức siêu hình vững chắc. Tự đấy ông bài xích luân lý có nguồn gốc siêu hình.
(11) Dịch chữ monde phénoménal.
(12) Dịch chữ monde nouménal.
(13) Nhắc lại, Kant cho rằng người ta đều có lý trí, thiện chí bản nhiên tốt. Nhưng người ta xấu là vì đã không biết giữ gìn thiện chí độc lập và không biết tuân theo vô thượng mệnh lệnh. Cũng điểm này: Rousseau cho rằng người có lương tâm, một khả năng tiên thiện, nhưng hình như đã lúng túng để giải đáp câu trên. (Xin xem ở “Tìm hiểu Triết học luân lý” do Tân Việt xuất bản.)
      Ở Đông phương, Mạnh Tử đã trả lời rõ ràng và đáng tin cậy. Mạnh Tử cho rằng người ta có tánh thiện do trời phú cho. Nếu có thành ra bất thiện là vì người ta không biết giữ lấy cái bản tâm. Đạo đức nhân nghĩa không phải ở ngoài mà đúc nên được, ta vốn có sẵn mà không nghĩ đến thôi. Những kẻ dở là những kẻ không dùng hết cái bản năng của mình ví như cây cối ở núi Ngưu Sơn vốn là rườm rà rất đẹp, nhưng cứ bị rìu búa chặt mãi, cây cũng đến phải cằn cỗi.
(14) – Ta không thể lý luận 2+2=5 được, vì trái luân lý. Ta bị bắt buộc phải thừa nhận 2+2 là 4.
      – Ta không thể đi giữa sa mạc xứ Á Rập mà mặc áo quần miền địa cực mà sống được, vì ta làm trái luật lệ thiên nhiên.
(15) “Người ta ai cũng có lòng thương người… Giá bất thình lình người ta trông thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng có lòng bồn chồn thương xót. Bồn chồn thương xót, không phải là vì trong bụng có ý muốn cầu thân với cha mẹ đứa trẻ ấy, không phải là vì muốn cho người làng xóm, bè bạn khen, không phải là sợ người ta chê cười. Xem như thế thì ai không có lòng trắc ẩn, không phải là người; ai không có lòng tu-ố không phải là người, ai không có lòng thị phi không phải là người. Lòng trắc ẩn là cái mối của nhân”. (Trích trong Nho Giáo của Trần Trọng Kim – Quyển Thượng.)
(16) Đây xin nêu ra một ví dụ tóm tắt: Đứng nhìn một người xả thân cứu một người, ta sẽ bị việc làm của người kia xúc động đến ta, khiến ta nảy sanh cảm tình yêu kính người ấy, bồn chồn muốn bắt chước, muốn làm theo… (Xem rõ trong “Tìm hiểu Triết học luân lý” do Tân Việt xuất bản.)
(17) Faguet chẳng hạn…
(18) Cứng cỏi, không uyển chuyển.


BÁCH KHOA |  SỐ 13

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #74 vào: 23/01/2018, 00:55:19 »


                     Bài ca vẽ trúc
                                                   Mặc Thu dịch

            Cỏ cây vẽ khó nhất loài trúc,
            Xưa nay vẽ nhiều nhưng không thực.
            Chàng Tiêu vẩy bút giống tài tình,
            Một nét đan thanh một chung đúc.
            Người vẽ thân trúc như sưng phù,
            Đốt trúc chàng Tiêu nét nét sơ.
            Nhành trúc tươi non lá lá động,
            Đâu giống trúc người ngọn xác xơ.
            Không rễ mà sống vì ý sống,
            Không măng mà tươi vì bút thành.
            Xum xuê đôi khóm mươi lăm gióng,
            Lả ngọn đường quê bờ gập ghềnh.
            Gái ngoan còn mãi phấn thơ ngây,
            Bút hoa vờn dậy tình khói mây.
            Bỗng thấy như không là bức họa,
            Bỗng nghe tiếng nhẹ lướt đâu đây.
            Khóm Tây bảy gióng cứng mà khỏe,
            Đều hướng về xa Thiên Lạp từ.
            Tám gióng khóm Đông gầy lạnh lẽo,
            Chạnh nhớ Miếu Tương vùi trong mưa.
            Mênh mang chí lớn ai người biết,
            Cùng ngẩng lên trời cất tiếng than.
            Tiêu lang già rồi thực đáng tiếc,
            Run tay, mờ mắt, đầu gội tuyết.
            Nhủ mình: đâu còn bút thịnh thời,
            Trúc ấy bây giờ khó kiếm được.


                                             BẠCH CƯ DỊ
                                             (Họa trúc ca)



BÁCH KHOA |  SỐ 13