Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 27793 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #105 vào: 02/03/2018, 22:10:07 »
BÁCH KHOA |  SỐ 22  [1 tháng Mười Hai  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu [II] |  1-4
Huỳnh Đức Quang |  Tìm hiểu Hội nghị Á-Phi họp lần thứ nhứt tại Bandung |  5-13
Bách-Khoa |  Đạo quân thần |  13
Nguyễn Văn Ba |  Đông y trên căn bản nhân vị |  14-20
Quang Huấn |  Ấn Độ ngày nay và ông Nerhu |  21-25
Bách-Khoa |  Đức tốt bị điều hại che lấp |  25
Tân Fong Hiệb |  Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ dễ thương |  26-36
Nguyễn Nhược Pháp |  Đi cống (thơ) |  37
Thuần Phong |  Phần đóng góp của văn học bình dân trong văn học bác học: hay là nguồn văn liệu của Trinh Thử và Kim Vân Kiều |  38-42
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học [II] |  43-47
Lê Văn Siêu & Nguiễn Ngu Í |  Chung quanh tranh Văn hiến Việt Nam |  48-50
Thuần Phong |  Trên sông quạnh vắng (thơ) |  51-52
Phạm Hoàn Mĩ |  Về ngày tháng bức thơ tâm huyết cụ Sào Nam viết cho cụ Tây Hồ |  53-54
Quảng cáo |  55-56
Hư Chu (tỉnh dịch) |  Trung Hoa tình sử: Cổ Áp Nha |  57-61
Quảng cáo |  62-64
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Đường thi dịch giải: Bát nguyện thập ngũ dạ \ Hàn Dũ |  65-66
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [V] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  67-77
Quảng cáo |  70, 72, 74, 76, 78-80


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #106 vào: 02/03/2018, 22:37:25 »


Đông y trên căn bản nhân vị
000
Y học nhân vị trong văn minh cơ giới và văn minh dịch lý
TRONG KHI bóng tối vừa tan và hương dịu của bình minh hòa cùng gió thoảng, tôi thấy một con diều hâu bay từ đỉnh núi cao, xẹt xuống đồng bằng, một hơi không động cánh. Với một ý chí, một tấm lòng, nó kiếm mồi ngon để chiều lại bay về dưỡng nuôi con dại nằm trong ổ mịt mù cao trên đỉnh non êm lặng.
         Giống như con diều hâu, người đã lăn lóc giữa bịnh tật tử thần để tìm nguyên lý của sự đau khổ, rồi một ngày kia, trở về với nhân loại yêu thương, với một ý chí, một tấm lòng, người ấy nâng đỡ dưỡng nuôi đồng loại bằng một tình thương nồng nàn vô tận. Không tình nồng nàn vô tận ấy, người lương y trong khi hành nghiệp, như một chiếc thuyền không kim chỉ hướng, lay quay trên biển cả mênh mông; hoặc như người cầm lái xe vô trách nhiệm, ông lương y chỉ đưa nhân loại mau xuống hố mà thôi.
         Một thợ lò gốm nhồi đất nặn đồ, có thể nghĩ đến tiền mà không nghĩ đến nhân sinh. Một nhà bác học cặm cụi trong gian phòng làm bom nguyên tử để giết người hay để người khác dùng giết người, có thể không nghĩ đến nhân loại. Một ông lương y, với cái linh của lương tâm, với cái lương tâm, với cái thần kỳ của nhân trí, với tay xương mắt mũi của nhơn thân mình để dò thám nhơn thể, cảm ứng nhơn tình mà thông suốt nhơn bịnh của người, thì không thể không nghĩ đến NHÂN VỊ của người chung quanh mình được.
         Tiền bối ta nói: “Xuất Vi Lương Tướng, Nhập Vi Lương Y”, chẳng phải đợi làm lương y mới biết thương người, trọng nhân phẩm, kính nhân vị mà thôi, lương tướng cũng như lương y, cũng như các chính trị gia, triết học gia, bác học gia, xã hội gia đều phải căn cứ sự hiểu biết việc làm của mình trên Nhân Vị.
         Làm sao mà không cho được. Đã là con người trong vũ trụ thì phải theo luật tự nhiên của vũ trụ. Bởi luật biến dịch không ngừng của tạo hóa, phần tử nào trong vạn vật bao giờ cũng tìm bạn đồng thanh đồng khí để tương ứng tương cầu. Khổng Tử đã nói: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu…, các tông kỳ loại dã”. Đồng thanh thì ứng với nhau, đồng khí thì cầu với nhau… mọi vật đều theo về loại của mình vậy. Con người không sao ngoài luật ấy được.
         Phàm sinh ra ở trong trời đất, chưa có cái gì đứng một mình không tương cầu lẫn nhau mà tồn tại được. Nhưng muốn ứng cầu hòa hợp được nhau thì phải trừ bỏ gián cách, căn cứ trên nhân vị, lấy tình đồng loại mà thông cảm hòa xướng với nhau. Tử Thị Trung Hàng, khi luận về lời của Khổng Tử trong kinh Dịch, có nói: “Minh hạc tại âm nhi kỳ tử bất hòa, tình chi sở đồng, vô ẩn hiện chi gián dã”. Chim Hạc kêu ở chốn âm u, con nó tất họa lại chỗ đồng tình ấy không có gì ẩn hiện làm gián cách cả. Tình mẫu tử, tình phụ tử là tình đồng loại thân mật nhứt, nên chim cha chim mẹ kêu, tất con nó phải họa lại, vì đã là tình yêu thương đồng loại thì không gì làm trở được.
         Văn minh cơ giới, nảy sanh ra 300 năm nay, có giúp xã hội tạo ra được những nhà lương y trên căn bản nhân vị, hòa đồng với nhân loại hay không? Văn minh cơ giới có cái hay của nó: học biết để khắc phục ngoại cảnh, làm lợi khí cho sự phát triển vật chất thỏa mãn lòng thị dục của con người. Bởi vậy ta thấy những nhà cao cửa rộng chọc trời, máy bay vòng quanh thế giới mấy mươi lần mà không đáp cánh, hỏa tiễn bắn tận cung trăng, bom nguyên tử sát hại một lúc mấy triệu người nếu ta muốn.
         Nhưng, khuyết điểm thứ nhứt của văn minh cơ giới là: chỉ dùng cái trí để biết sự vật mà quên cái tâm để hiểu sự vật. Vì quên cái tâm ấy mà sự hiểu người và vạn vật không có, chỉ có biết những luật của thế giới tự nhiên để lợi dụng cho con người mà thôi. Phải dùng cả trí lẫn tâm, thì mới biết và hiểu; khi biết và hiểu một lượt thì cái TRÍ mới nảy sanh và chỉ có cái trí ấy mới đáng quí, vì chỉ có ái trí ấy mới hiểu biết được cái LÝ của người và của vạn vật. Hiểu biết được cái lý của con người thì khoa học ấy và văn minh ấy mới nằm được trên căn bản Nhân vị. Trong Đại Học, ông Tăng Tử có nói” “Cái nhân tâm chi linh, mạc hữu bất tri, nhi thiên hạ vạn vật mạc bất hữu lý. Duy ư lý bất cùng cớ kỳ tri bất hữu tận dã”. Chỗ linh của nhơn tâm (trí và tâm) không có gì không hiểu biết và thiên hạ vạn vật không gì là không có lý. Cái lý đã không cùng, thì sự hiểu biết cũng vô tận.
         Khuyết điểm thứ nhì của văn minh cơ giới là: đi xa ở ngoại cảnh mà lìa bỏ nội tâm. Con người đối với ngoại cảnh là phải khắc phục, phải chiếm đoạt vũ trụ, chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt kinh tế, chiếm đoạt ngày giờ, chiếm đoạt tự do và hạnh phúc của kẻ khác. Người ta không bước lên xe lửa mà nhảy lên xe lửa; người ta không ngắm cảnh bao la của vạn vật khi xe chạy giữa cánh đồng bát ngát, mà chỉ xem báo chí hoặc mở va ly ra rồi lại đóng vào. Xe đến chỗ sớm hơn mươi phút, là người ta đã mừng rồi, như là được văn minh thêm chút nữa. Nhưng rồi họ đi đâu, họ sẽ làm gì? Chiều hôm ấy, thấy họ ngồi ở tiệm cà phê, để giết thì giờ với chuyện gẫu, vẩn vơ, ngắm cảnh vật giả tạo với một ý chí bông lông. Ở những xứ chỉ có văn minh cơ giới, con người không đi mà chạy, không ngưởng mặt để vui với cảnh thiên nhiên, mà gục đầu nặng chĩu với những tư tưởng chiếm đoạt đấu tranh, chừng đến khi đêm vắng trăng thanh, tự vấn lòng mình coi hạnh phúc nơi nào, thì bỗng dưng thấy lòng mình trống rỗng.
         Ông Descartes là thủy tổ của văn minh cơ giới ngày nay, nói câu rất rõ rệt. Ông nói: Tôi biết được vũ trụ là nhờ tôi biết tôi đang sống, đang có tôi ở đây. Mà tôi làm sao tôi biết được là đang có tôi ở đây? Tôi biết được như thế là nhờ tôi suy nghĩ. Hễ khi nào tôi suy nghĩ, thì sự suy nghĩ ấy tỏ rằng tôi đang sống, đang có tôi ở đây. “Je pense, done je suis” (tôi suy nghĩ, tức là có tôi vậy), là một câu danh tiếng được thế giới công nhận là hay, nhưng hay có phân nửa, vì nó phủ nhận cái tâm mà chỉ dùng cái trí.
         Ông cũng nói: “Je frappe un chien, il crie mais il ne sent pas”. Tôi đánh con chó, nó kêu mà nó không đau. Tôi biết nó kêu vì tôi nghe nó kêu, tôi có thể đo sự kêu nó đến bực nào. Còn nó đau? Tôi không nhận vì tôi không thể thấy, thể đo, thể lường được cái tâm của nó. Câu ấy đem áp dụng cho con người, thì có thể nói: “Tôi chiếm đoạt đất đai của người khác, tôi chiếm đoạt tư tưởng và tự do của người khác, tôi ném bom giết chết muôn triệu người, tôi biết rằng tôi có giết họ, vì tôi đếm được số người, tôi trông thấy họ đang quằn quại, nhưng họ có đau khổ hay không, tôi không cần, vì tôi không nhận cái tâm của họ”. Không nhận cái tâm của người tức là không nhận nhân phẩm, nhân cách, nhân vị của ai hết, và cũng khinh bỉ nhân phẩm, nhân vị của mình; “khi nhân tức khi kỳ tâm, khi kỳ tâm tức thị khi kỳ thiên” là vậy đó.
         Chính trị gia chỉ có văn minh cơ giới thì chà đạp nhân vị, đúc khuôn nhân loại, bắt ai ai cũng phải tư tưởng như nhau, coi con người như một đàn bò nuôi cho lớn, dạy cho tinh để làm việc theo thị dục của mình. Còn một lương y nếu chỉ có hấp thụ văn minh cơ giới, nhìn con người như nhìn cái máy, cần phải thay bộ phận này, lau bộ phận kia. Con người là một sinh vật, biết ăn uống, sinh sản, sống chết theo luật phản ứng hóa học không hơn không kém.
         Văn minh dịch lý Á Đông căn bản trên sự biến chuyển không ngừng của vũ trụ, trên những luật biến dịch và giao dịch của hai mãnh lực âm dương, bao trùm cả không gian và thời gian, CON NGƯỜI và sự vật; văn minh dịch lý ấy đã tạo được những khoa học nhân vị, luân lý nhân vị, nghệ thuật nhân vị, triết lý nhân vị. Nhưng, cách đây 100 năm, văn minh cơ giới Âu châu tràn qua Á Đông như nước thủy triều, như ngọn cuồng phong bạo lực. Mạnh được yếu thua là câu phương ngôn trên đầu lưỡi mọi người căn cứ trên học thuyết phiến diện “Sinh tồn cạnh tranh” của Đạt Nhĩ Văn (Darwin). Chánh trị cơ giới đánh chà đạp lên, khoa học máy móc tiến là khoa học nhân vị lùi; luân lý của kẻ mạnh là luân lý chánh đáng; nghệ thuật không vì nhân sinh nữa mà vì những thị dục vẩn vơ; còn triết lý cao siêu tuyệt đích về TU THÂN XỬ THẾ của những bậc hiền nhân, chính người Á Đông mình, trước sự tấn công mãnh liệt của sức mạnh máy móc, đã phủ nhận và mất hết cả tự tín mà xóa bỏ khỏi cõi lòng những tư tưởng chân lý mà trước kia mình quí nhứt.
         Trong hai trận thế giới chiến tranh, sức mạnh của máy móc tàn phá đến cực điểm, người Á châu và người Âu châu đều bi đát mà nhìn nhận; nhưng, từ khi hai quả bom nguyên tử nổ tại Hiroshima và Nagasaki, người Á châu nhận được chân tướng của văn minh cơ giới là chỉ có tàn phá mà thôi, tàn phá rồi để không biết làm gì nữa. Người Á châu nhìn lại tâm mình, thấy sao tâm mình hay ho, vẫn còn ngọn đèn leo lét làm ấm được cõi lòng. Trái lại, người Âu châu hoảng hốt vì không kiểm soát được mãnh lực máy móc mình đã tung ra: máy móc đến lúc không còn phục vụ con người mà làm chủ lại con người đó. Một số người phản đối sự công dụng ngu xuẩn của máy móc, quay về Á Đông là miếng đất bao la, triền miên tư tưởng cao siêu, của tâm linh và trí diệu. Còn một số người, sau khi hoảng hốt, nhìn lại tâm mình trống rỗng lại càng hoảng hốt, không biết làm thế nào hơn bằng cách dấn thân vào con đường mình đã vạch.
         Một trăm năm nay, văn minh cơ giới thổi rạp cả thế giới, nhưng văn minh dịch lý NHÂN VỊ của Á Đông như cây sậy, cong mà không gãy. Triết lý nhân vị đã được bành trướng trở lại; nghệ thuật nhân vị đã được đề cao; luân lý nhân vị đã được áp dụng; khoa học nhân vị đã được nêu ra và chính trị nhân vị đã được đề xướng. Nhưng, ĐÔNG Y HỌC NHÂN VỊ, nhờ có ích lợi thiết thực hằng ngày cho nhân dân toàn cõi Á Đông, nhờ nó đấu tranh không lùi bước để giữ vững lòng mến chuộng của đồng bào trong một thế kỷ nay, nhờ chủ lực của muôn ngàn cán bộ tận tâm với Đông y ẩn tại chốn thôn quê, nên ngày nay nó trở dậy được, mạnh mẽ kiện toàn.
         Ba mươi sáu nước thế giới ngày nay, nhờ sự cố gắng không ngừng của Đông y sĩ Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản, hiểu rõ NHÂN VỊ của Đông y mà mến phục, thấm nhuần lý thuyết nhân vị của Đông y mà quyết tâm theo đuổi cho đến cùng khoa học nhân vị của Đông y mà châm cứu là bước đầu.
         Trước một bịnh nhân đau thương đang quằn quại mà học thuyết nhân vị của Đông y chữa khỏi, thì không còn ai phủ nhận được giá trị của nó. Nhưng muốn biết tại sao Đông y căn bản được trên nhân vị, thực hành được trên nhân vị, tồn tại và vinh quang được trên nhân vị, xin hãy xét mấy đoạn sau.

Căn bản của Đông y nhân vị là dịch lý
         Trước đây một muôn năm, dân Việt Nam cùng với dân Hán, Ngụy, Tấn, Tần, Ngô, Sở…, rời bỏ ngọn núi Tây Tạng cao vót và lạnh lẽo mà lần theo hai con sông to lớn Hoàng Hà, Dương Tử, rồi rải rác định cư trên miếng đất mênh mông gọi là Trung Hoa lục địa ngày nay.
         Trong cuộc di dân khổng lồ ấy, trải năm sáu ngàn năm, dân tộc Á Đông ở trong tình cảnh du mục, nghĩa là nay đây mai đó, lấy sự săn bắn chăn nuôi, trồng tỉa tạm thời mà độ nhật. Cảnh màn trời chiếu đất khiến dân tộc Á Đông mật thiết với thiên nhiên, cảm hiểu định luật thiên nhiên, và nhận sự tương quan con người và vũ trụ rất rõ rệt.
         Một chiều hôm ấy, PHỤC HI, thủ lĩnh của nhiều bộ lạc đã đến định cư sớm trên Cao nguyên trung tâm Trung Quốc, đẩy cửa gai bước ra trước lều.
         Đỉnh Cao nguyên mênh mông, trơ trọi, u tịch, vắng lặng: xa xa những đồi gò, nhấp nhô xanh xanh tận mãi chân trời. Ánh Thái dương vừa lặn, bỗng phừng trở lại những tia êm dịu, như thân chào mọi vật cho đến ngày mai.
         Thủ lĩnh có một thân hình đồ sộ, cứng rắn như một pho tượng đẽo với vài nhát búa đơn giản mà hùng hồn: mũi cao, mắt rộng, sáng sủa và thông tuệ. Ngài bước mạnh dạn cứng cáp và dẻo dai như một người còn niên thiếu.
         Ngài bước lên mô đất cao vòi vọi, tầm mắt nhìn được rõ ràng những bãi đồng xanh, phơi phới ở tít mù xa.
         Gió đã êm trên ngọn cỏ, mà vừng trăng bỗng đâu lố dạng, vàng lớn hiên ngang, vừa tao nhã vô cùng.
         Thủ lĩnh ngắm bầu trời, trên ấy đã hiện tỏ các ngôi sao… Những cộng tác viên của Ngài cũng đã đến đông đủ và đêm, theo luật tự nhiên, đã tuần tự thả bóng tối khắp cả mọi nơi. Ngài đã ngoại bát tuần, tóc Ngài đã bạc. Lúc thiếu thời, Ngài là tướng dũng cảm, lao động không biết mệt. Ngài che chở dân Ngài khỏi vạn nỗi khó khăn: đói rét, tật bịnh, giặc giã, mê tín. Nay Ngài hợp những bậc lão thành, đã cùng với Ngài biết bao đêm kiểm điểm học thuật dưới ánh mờ của đom đóm, để tổng quát hết tất cả sự hiểu biết truyền tử lưu tôn tự mấy nghìn đời.
         Ngài nói: “Các Em hãy xem, vũ trụ không phút nào ngừng. Ngày mới hết thì đêm đã nối liền theo. Đêm chưa tận thì ngày bỗng dưng đã thấy. Ngày là căn nguyên của đêm, đêm là nguyên do của ngày: Không gì hoàn tất, mọi vật đang biến chuyển, ràng buộc liên hệ lẫn nhau. Sự sanh đã có mầm sự tử, mà sự tử đã phát động sự sanh. Tử sanh, sanh tử là hai trạng thái biến chuyển không ngừng của một nguồn sống vô tận vô biên tràng vũ trụ.
         “Kìa xem, to lớn thay cái đức của trời, là nguồn sanh vạn vật, nuôi nấng muôn loài, hanh thông mà lại chính bền, người quân tử coi đó mà tự cường không thôi. Cùng tột thay cái đức của đất, muôn vật nhờ đó mà sanh ra. Bao dung, rộng rãi, sáng láng, lớn lao, hanh thông mà lại thuận bền, người quân tử coi đó mà mến yêu muôn loài, hòa đồng với vạn vật. Con người nằm trong lòng trời đất vạn vật, không có lý gì tách riêng biệt được. Trời đất vạn vật không phải là ngoại cảnh mà khắc phục, tâm con người không phải là nội tâm mà bảo thủ. Tâm người tất là tâm trời đất vạn vật, lý của vạn vật tức là lý của ta. Vạn vật đồng nhất thể, nhân loại là một người. Tiếng người nói rung động cả trời đất; vạn vật âu sầu thì lòng người héo hon, mà lòng người càng héo hon khi đồng loại mình khốn đốn. Yêu đồng loại mình là yêu trời đất; kính trời đất tất phải kính người. Hãy nhìn chung quanh các Em: họ như ta, mắt sáng ngời, đượm đầy anh linh của vũ trụ. Đáng kính thay, CON NGƯỜI; đáng trọng thay, CON NGƯỜI cũng như vạn vật đồng đáng kính trọng vậy.
         “Các Em nhận rõ: con người và vũ trụ là một. Trời đất có gì là ta có nấy, liên quan mật thiết vô cùng. Cả thảy đang biến chuyển trên một cái Lý chung. Nhưng cái lý đương nhiên của sự vật, khi hành động phải thuận lý, ứng vật mà làm thì không sai. Con người chẳng nên tạo ra một việc gì, rồi trên sự giả tạo ấy xây cất lầu đài tư tưởng mà bắt người khác làm theo. Con người chẳng nên âm mưu dục vọng, theo thị dục của mình mà làm như thế tất phải sai lầm. Mà hễ sai lầm thì ảnh hưởng đến ta, mọi vật có thể giúp ta sống mà cũng có thể làm cho ta chết, như nước chở thuyền mà cũng cũng lật thuyền được vậy. Thiên địa có một cái Cơ. Con người phải thông hiểu máy huyền vi ấy, thì mới thuận lý ứng vật được. Khi thuận lý ứng vật, thì làm trước trời đất mà trời đất cũng đồng lòng, làm sau trời đất cũng ưng thuận. Muôn triệu người tuy khác nhau, nhưng chừng thuận lý ứng vật, thì đồng qui về một chỗ, đưa dâng cho nhau những bó hoa muôn sắc.
         “Đứng trên núi, các Em nhận thấy lý do nó khác đồng bằng; bây giờ đang đêm tối, các Em cũng xác thực rằng chẳng phải là ban ngày. Vậy thì tối sáng, thấp cao, nặng nhẹ, lạnh nóng, cứng mềm… là những đức tánh của trời và của đất; cho đến thể chất với tinh thần, mọi lý lẽ ở đời đều có hai mãnh lực âm dương đối lập. Dương là những gì sáng sủa, phát động, biến hóa…, và Âm là những gì thâm tối, thu tàng, dưỡng dục… không gì là hoàn toàn Âm, không gì là hoàn toàn Dương. Âm Dương là hai tiếng tiện lợi để bàn luận khi ta nói đến thiên hình vạn trạng của vật thể và khi ta muốn nói đến sự đối lập của sự vật mà thôi. Nhận đối lập của sự vật tức là nhận hai chữ Âm Dương; nhận có Âm Dương tức phải học những luật phối hợp của Âm Dương mà ta gọi là luật Đối Đãi.
         “Thật ra, không có sự vật có đối lập, là tại ta phân tách để dễ nhận xét mà thôi. Sự vật đối lập là sự vật chết; phân tách mà không phối hợp là cắt đứt trời đất, nhân loại, vũ trụ làm hai, gây sự loạn ly khốn khổ cho loài người. Luật vĩnh viễn của trời đất là phối hợp, là xướng hòa, vui vẻ với nhau mà hòa hợp, thuận lý với nhau mà đi đến chỗ trí trung hòa. Sở dĩ có chỗ chưa hòa hợp được, là vì có gián cách, bỏ gián cách đi thì lại có hòa hợp. Các Em nhìn xem, trời đang trong, đất đang lặng, bỗng nhiên gió thổi mây che: Trời đất đâu phải không hòa mà tại có ngọn cuồng phong ở đâu thổi đến, nay nó đã đi thì thiên địa tự nhiên tương cảm lại mà vạn vật xướng hòa hanh thông hạnh phúc với nhau.
         “Các Em hãy đưa cành cây cho ta vẽ vũ trụ bằng một vòng tròn. Ta vẽ Âm Dương biến chuyển ở trong bằng một lằn cong và trong Âm có điểm Dương đối đãi trên 8 luật này mà ta gọi là Bát Quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Không có luật đối đãi thì không sanh hóa muôn loài vạn vật được. Luật đối đãi ấy, ta vẽ ra 64 quẻ sau đây, các Em nên coi đó là nền tảng trong không gian và thời gian. Dầu là thiên văn, dầu là địa lý, dầu là triết học, nghệ thuật, chính trị, Y HỌC, muôn việc gì cũng đều biến chuyển như nhau, nhưng ở phương diện khác nhau mà thôi. Các Em phải nhớ câu này: dầu làm việc gì cũng phải lấy con người làm gốc, thương yêu kính trọng lẫn nhau, VÌ CON NGƯỜI LÀ ANH LINH CỦA VẠN VẬT”.


NGUYỄN VĂN BA


BÁCH KHOA |  SỐ 22

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #107 vào: 03/03/2018, 22:54:25 »


                             Đi cống
Lệ cống thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số
và thợ thuyền, mỗi hạng ba người, cùng các đồ sản vật như là
         sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ.

                               (Trần Trọng Kim)


               Núi cao, lửa hồng reo chói lọi,
               Đổ vàng cây cối um tùm xanh.
               Khi lòe nắng lóa, khi thâm tối,
               Sườn non con đường mềm uốn quanh.

               Hiu hắt cờ bay tua phơ phất,
               Binh lính hò reo gầm bốn phương.
               Nón đỏ, bao vàng, chưn giậm đất,
               Một toán đạp rừng um dẫn đường.

               Mặc áo bào xanh, ngồi ngựa trắng,
               Sứ nghe nhạc lắc vang bên rừng.
               Hai bên hai lọng vàng che nắng.
               Giời, mây, trông non nước muôn trùng!

               Mười xe bịt đồng, trâu mập kéo,
               Bánh sắt khi kề lên sườn non,
               Đá đổ ầm ầm như sấm réo,
               Gầm nhảy xuống vực sâu kêu dòn.

               Trên xe nào mâm vàng, dát ngọc,
               Châu báu, sừng tê và ngà voi;
               Hai pho tượng vàng đỏ đòng đọc;
               Bào nạm kim cương, đai đồi mồi.

               Binh lính hò quanh hoa giáo mác
               – Võ tướng khua đao to lầm lầm –
               Hễ thấy đường chênh kề miệng thác,
               Bỏ giáo lên xe xoay bánh vần.

               Thầy nho, thầy thuốc bên thầy bói,
               Thợ thêu, thợ chạm cùng thợ nề,
               Mỗi người đeo một cái khăn gói
               Đỏ, buông cương ngựa theo gần xe.

               Lúc ấy, giời xanh không u ám.
               Đầu non không tờ mờ bóng sương,
               Làm sao họ âu sầu thảm đạm?
               Buồn thay! người cố quận tha hương.

               Xe đi mỗi lúc một thêm khó.
               Hang thâu hổ đói rên vang lừng;
               Những con trăn xám văng như gió,
               Quật đuôi đè gẫy bẹp cây rừng.

               Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ.
               Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ!
               Vợ con ở chưn trời mây phủ,
               Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ…

               Hỡi ai đi thẩn thơ miền núi!
               Nhìn ngọn cây xanh gió thổi ào,
               Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi,
               Nên yêu người cũ hồn trên cao.


                                                10-3-1933
                                  NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
                                  (Ngày xưa)



BÁCH KHOA |  SỐ 22

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #108 vào: 03/03/2018, 23:05:18 »


               Trên sông quạnh vắng
                                     Thân tặng các bạn học Việt ngữ với tôi.

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Từ ngàn xa lẳng lặng trôi xuôi,
            Đất lành ngọn nước rẽ đôi,
            Hai bờ ngăn cách, một vời minh mông?

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Từ biển xa trầm lặng chảy xuôi,
            Nước xanh giòng biếc một ngòi,
            Hai bờ ngăn cách, mấy vời xa trông?

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Là con sông ngăn chận lối đi,
            Suối ngàn, nước biển xanh rì,
            Dạt dào sóng gió, chia ly bến bờ?

            SÔNG quạnh vắng trơ vơ buồn tẻ,
            Nhịp cầu qua không kẻ bắc cho,
            Lòng sâu, sông rộng khôn dò,
            Nhịp cầu không bắc cho bờ thêm xa!

            SÔNG quạnh vắng khôn qua khôn lại,
            Bờ xa xăm khôn tới khôn lui,
            Giòng xanh dào dạt sụt sùi,
            Như thầm đợi khách, như ngùi thương ai.

            TRONG đêm quạnh, sông dài thêm quạnh,
            Dưới trời khuya, hơi lạnh càng khuya,
            Sương chan mặt nước đầm đìa,
            Thuyền ai thấp thoáng đi về nơi nao?

            MÀN sương trắng lợt màu đêm tối,
            Tà áo ai phất phới in sương?
            Không trăng có khách nghê thường,
            Ai đưa tiên nữ canh trường đến đây!

            NÀNG ké né đưa tay sẽ vẫy,
            Thuyền gay chèo trở mái ghé theo,
            Sạp hoa rón rén gói kiều
            Con sào tách bến, mái chèo ra khơi.

            SÔNG quạnh vắng thêm người thôi vắng,
            Sóng lao xao đã lặng thôi xao,
            Canh dài, nước rộng, trời cao,
            Bốn bề trầm mặc vái chào khách tiên.

            TRONG đêm tối con thuyền nhẹ lướt,
            Trên dòng khuya mặt nước nhẹ đưa,
            Người thơ cảnh lại nên thơ,
            Giọng vàng sẽ trổi tiếng hò véo von.

            TRONG đêm tối thuyền con nhẹ mái,
            Trên dòng khuya tay lái nhẹ đưa,
            Cảnh thơ khách lại còn thơ,
            Oanh vàng càng nổi giọng hò thanh tao.

            ĐÊM càng vắng càng cao giọng hát,
            Người như say như khát đời thơ,
            Đời thơ trên một chuyến đò
            Chứa chan như nước, nhấp nhô theo triều.

            ĐÊM thơ mộng thêm chiều thơ mộng
            Sông bao la bớt rộng bao la,
            Đời thơ lần với đêm qua.
            Con thuyền thơ mộng sang ra đến bờ!

            THUYỀN cặp bến người thơ lên bến,
            Chèo về khơi sóng quyện ra khơi,
            Mặt nhìn, tay vẫy, chơn rời,
            Hai lòng thơ luyến, một trời thơ vương.

            THUYỀN thơ mộng giã nàng thơ mộng,
            Nàng mộng thơ lên võng mộng thơ,
            Thuyền về sông vắng bơ vơ,
            Nàng về cõi mới trên bờ vinh quang

                                  ⎎⎎⎎

            TÔI là chú đò ngang sống vắng
            Dưới sương dầm đêm lặng trời mơ,
            Các em cặp sách ngây thơ
            Xuống thuyền thơ mộng sang bờ sắc hương.


                                                   THUẦN PHONG


BÁCH KHOA |  SỐ 22

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #109 vào: 09/03/2018, 19:00:46 »
BÁCH KHOA |  SỐ 23  [15 tháng Mười Hai  1957 |  82 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Một ít nhận xét về chế độ bảo vệ kinh tế |  1-11
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu [III] |  12-15
Bách-Khoa |  Cách làm “nhân” |  15
Phạm Hoàn Mĩ |  Nhà Triệu là một triều Đại Việt? Lữ Gia là một anh hùng Việt? |  16-26
Nguyễn Hiến Lê |  Cái thần trong văn |  27-34
Kim Ý |  Mộng và thực của khoa học |  35-39
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 22 |  39
Thuần Phong |  Phần đóng góp của văn học bình dân trong văn học bác học: hay là nguồn văn liệu của Trinh Thử và Kim Vân Kiều [II] |  40-44
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học [III] |  45-52
Đông Xuyên |  Mưa đêm (thơ) |  53
Hư Chu (tỉnh dịch) |  Trung Hoa tình sử: Lưu Hoài Âm |  54-56
Mặc Thu |  Một truyện Liêu Trai mới: Nồi kê thứ hai |  57-60
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Bạch tuyết ca (thơ) \ Sầm Sâm |  61-62
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [VI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  63-73
Quảng cáo |  66, 68, 70, 72, 74-82


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #110 vào: 09/03/2018, 20:18:43 »


Cái thần trong văn

MỘT NHÀ VĂN PHÁP, biệt hiệu là Criticus viết bộ Le Style au microscope gồm ba cuốn để phân tích tỉ mỉ – như nhìn dưới kính hiển vi – những chỗ hay và dở của các danh sĩ Pháp đương thời. Ông dành cuốn đầu cho các nhà văn đã có tên tuổi từ lâu như André Gide, Jules Romains, André Maurois, Paul Valéry…; cuốn giữa cho những nhà mới nổi danh: Albert Camus, Simone de Beauvoir, Roger Peyrefitte…; cuốn cuối cho các nhà soạn kịch: Paul Claudel, Jean Giraudoux, Sacha Guitry… Muốn tỏ rõ thiện chí và công tâm của mình, ông lấy đoạn đầu trong tác phẩm nổi danh nhất của mỗi nhà đó để phê bình, vì ông cho rằng đoạn đó thường được viết kỹ hơn hết.
         Rồi ông xay, giã, mổ xẻ từ cách dùng mỗi chữ, mỗi dấu ngắt câu để tìm ra những hạt cát, hạt bụi và tất nhiên ông lượm được rất nhiều bụi cùng cát. Mười danh sĩ thì ông chê tới bảy, tám; chẳng hạn Paul Claudel bị trách là làm ông thất vọng, Jean Giraudoux làm ông ngáp, còn Camus, thì chỉ là một người viết ký sự hấp tấp, không đáng là một nghệ sĩ…
         Phương pháp ấy có chỗ bổ ích; nhờ ông phân tích tỉ mỉ, ta thấy được công phu của những cây bút thận trọng, ta lại học được cách sửa văn, luyện văn. Nhưng chỉ dùng óc để xét văn như ông, thì tôi e rằng không sao thưởng thức được hết cái hay của văn; vì văn có nhiều khi rất tế nhị, chỉ cảm được, chứ không phân tích được, hoặc nếu cố phân tích ra thì cái đẹp sẽ biến mất hết.
         Ai yêu văn chương mà chẳng nhiều lần nhận rằng có những bài đọc lên thích thú lạ lùng, mà xét kỹ thì thấy trái hẳn với những quy tắc hành văn thông thường. Jean Prévost trong cuốn Baudelaire (Mercure de France) đã cho ta một thí dụ rõ ràng. Ông viết:

         “Giả thử Baudelaire đưa danh tác Recueillement dưới đây cho một nhà phê bình mê tín những quy tắc cổ điển về phép hành văn, như một Désiré Nisard, một Gustave Lanson:

                  Sois sage ô ma Douleur, et tiens-toi plus tranquille.
                  Tu réclamais le Soir; il descend; le voici:
                  Une atmosphère enveloppe la ville,
                  Aux uns portant la paix, aux autres le souci.

                  Pendant que des mortels la multitude vile,
                  Sous le fouet du Plaisir, ce bourreau sans merci,
                  Va cueillir des remords dans la fête servile,
                  Ma Douleur, donne-moi la main; viens par ici,

                  Loin d’eux. Vois se pencher les défuntes Années,
                  Sur les balcons du ciel, en robes surannées;
                  Surgir du fond des eaux le Regret souriant;

                  Le Soleil moribond s’endormir sous une arche,
                  Et, comme un long linceul trainant à l’Orient,
                  Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.

                  (Hỡi em Đau khổ của tôi, em hãy ngoan ngoãn và bình tĩnh hơn.
                  Em đòi Buổi chiều; nó đương xuống; nó đây nầy:
                  Một không khí bao phủ châu thành,
                  Đem cho kẻ nầy sự an tĩnh, cho kẻ khác sự lo lắng.

                  Trong khi đám đông hèn hạ là người trần,
                  Dưới ngọn roi của Khoái lạc, tên đao phủ tàn nhẫn đó,
                  Đi hái những hối hận trong đám hội đê tiện,
                  Đau khổ của tôi ôi, em đưa tay tôi dắt; đây, đi lối nầy,

                  Xa họ đi. Nầy, em nhìn những năm đã chết,
                  Bận áo cũ kỹ, nghiêng mình trên bao lơn của trời;
                  Nhìn Ân hận mỉm cười từ đáy nước nhô lên;

                  Nhìn Mặt trời hấp hối, thiêm thiếp dưới một nhịp cầu,
                  Và, em thân mến ơi, em hãy nghe, nghe Đêm êm đềm bước,
                  Như một khăn liệm dài lê thê ở phương Đông.
)

thì nhà phê bình tất sẽ bảo thi sĩ:
         – Trong bài đó có nhiều hình ảnh rất đẹp, nhưng biết bao chỗ vụng về, biết bao chữ dư và ý điệp!
         Lời phê bình đó rất đúng. Trong câu đầu, hai chữ sois sage (em hãy ngoan) hơi mơ hồ. Ngoan là ngoan ra làm sao? Phải chăng là không được cựa quậy, mà phải bình tĩnh hơn? Nếu vậy thì là dư ý.
         Câu thứ nhì: il descend (nó đương xuống) cũng dư nữa vì ở sau có chữ: le voici (nó đây nầy).
         Câu thứ ba rườm: có thứ không khí (atmosphère) nào mà không bao phủ châu thành, dầu là không khí buổi sáng hay buổi chiều?
         Trong câu thứ tư: chữ portant (đem) nghe nặng lắm.
         Câu thứ năm cũng thừa chữ mortels (người trần) vì đám đông hèn hạ thì tất không phải đám tiên thánh rồi. Lại thêm mortels là một tiếng sáo.
         Trong câu thứ sáu: chữ bourreau (đao phủ) ích lợi gì? Đã bảo rằng thần Khoái lạc tàn nhẫn quất người ta thì đọc giả đủ hiểu nó là một đao phủ rồi.
         Cây thứ bảy chứa một hình ảnh vụng: hái hối hận (cueillir des remords) thì phải là hái ở cây chứ sao lại hái trong đám hội đê tiện? Vả lại ý đó cũng hơi yếu.
         Hai chữ ma Douleur (Đau khổ của tôi) ở câu sau là điệp.
         Trong câu thứ chín: bạn thử xét hai chữ Loin d’eux (Xa họ đi) có phải là dư không? Vì câu trên đã nói: “đây, đi lối nầy”, nghĩa là đi xa đám đông hèn hạ đó. Những động từ nguyên thể se pencher (nghiêng mình), surgir (nhô lên) s’endormir (ngủ) đều làm cho giọng thơ nặng nề.
         Hai chữ défuntes Années (những Năm đã chết) bi thảm quá, làm mất vẻ đẹp của những bộ áo cũ kỹ (robes surannées) ở câu thứ mười.
         Câu thứ mười hỏng lớn: surgir du fond des eaux (từ đáy nước nhô lên) năm chữ để diễn một ý trong khi chỉ một chữ émerger cũng đủ.
         Chữ Regret (câu mười một) viết hoa thì cho hối hận là một vị thần, như vậy hơi trừu tượng, nên để chữ thường thì hơn.
         Hình ảnh trong câu mười hai: le soleil moribond s’endormir (mặt trời hấp hối thiêm thiếp) cũng quá bi thảm; mà sao không viết là s’endort cho lời văn nhẹ nhàng hơn?
         Câu mười ba: chữ long (dài) là thừa, vì khăn liệm đã lê thê (trainant) thì tất nhiên phải dài.
         Sau cùng, trong câu cuối, hai chữ ma chère (em thân mến) hơi suồng sã. Mà lập lại làm chi chữ entends (nghe) cho mất nhạc của thơ đi (bốn lần âm en).
         Đó theo ý những nhà phê bình chẻ cái sợi tóc làm tư thì Baudelaire mắc những lời nặng như vậy; mà muốn sửa lại cả bài cũng không khó; ta vẫn có thể giữ đủ ý, đủ hình ảnh mà lời rút đi được một phần ba, nhẹ nhàng hơn nhiều. Jean Prévost đã thử sửa như vầy:

                  Ma Douleur, tiens-toi plus tranquille,
                  Tu voulais le Soir; le voici:
                  L’air obscur verse sur la ville,
                  Plus de paix ou plus de souci.

                  Cependant que la foule vile,
                  Que fouette un plaisir sans merci,
                  S’écoeure à la fête servile,
                  Prends-moi la main; viens par ici,

                  Aux balcons du ciel, mainte année
                  Se penche en robe surannée;
                  Emerge un regret souriant;

                  Le soleil s’endort contre une arche;
                  Un linceul traine à l’Orient;
                  Entends la douce Nuit qui marche.

                  (Hỡi Đau khổ của tôi, em hãy bình tĩnh hơn
                  Em muốn Buổi chiều; nó đây:
                  Không khí tối tăm giội lên châu thành
                  Nhiều an tĩnh hơn hay nhiều lo lắng hơn.

                  Trong khi đám đông hèn hạ
                  Bị một khoái lạc tàn nhẫn quất,
                  Nôn ruột trong đám hội đê tiện,
                  Em nắm lấy tay tôi; đây, đi lối nầy.

                  Trên bao lơn của Trời, những năm qua
                  Nghiêng mình trong bộ áo cũ kỹ;
                  Một ân hận mỉm cười hiện lên;

                  Mặt trời dựa vào một nhịp cầu ngủ;
                  Một khăn liệm lê thê ở phương Đông:
                  Em hãy nghe Đêm êm đềm nhẹ bước.
)

         Quả là gọn gàng mà không vết, nhưng còn đâu cái giọng buồn man mác nó chầm chậm thấm vào tâm hồn ta nữa? Còn đâu cái vẻ khoan thai của mặt trời lặng trên sông? Còn đâu cái dáng lướt thướt của đêm tối? Và còn đâu cái nhạc du dương, trong những câu:
                  Et, comme un long linceul trainant à l’Orient,
         Câu chuyện sửa thơ đó làm tôi nhớ một danh sĩ Việt Nam cũng đã có lần sửa một bài thơ Đường. Danh sĩ đó là cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và bài thơ Đường đó như sau:

                  Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
                  Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
                  Tá vấn tửu gia hà xứ thị?
                  Mục đồng dao chỉ Hạnh hoa thôn.

                  (Tiết Thanh minh, trời mưa phùn phất phất
                  Người đi trên đường rét muốn đứt hồn.
                  Ướm hỏi nhà bán rượu ở đâu?
                  Em bé mục đồng chỉ ở thôn Hạnh hoa.
)

         Cụ Thủ khoa chê câu đầu dư hai chữ thanh minh vì trời mưa phùn phất phất thì là tiết thanh minh rồi (!)
         Câu thứ nhì hai chữ lộ thượng cũng phải bỏ vì người đi thi là đi trên đường chứ còn đi ở đâu nữa?
         Câu thứ ba đã là một câu hỏi thì để làm chi hai chữ tá vấn?
         Còn câu thứ tư thì ai trả lời mà không được, cứ gì phải là một mục đồng?
         Rồi cụ sửa:

                  Thời tiết vũ phân phân,
                  Hành nhân dục đoạn hồn
                  Tửu gia hà xứ thị?
                  Dao chỉ Hạnh hoa thôn.
(1)

         Bạn có thấy bài thơ đã mất già nửa phần duyên dáng, hóa ra khô khan, không còn gợi tình, gợi cảnh nữa không? Tôi có cảm tưởng như ai đó đã đem một chiếc áo dài thướt tha của phụ nữ cắt cụt lên đến quá đầu gối.
         Vậy, trong văn thơ, nhiều chỗ, khi phân tích ra, người ta cho là lỗi, là vụng, lại chính là những chỗ làm tăng giá trị nghệ thuật lên.
         Chúng ta ai không tấm tắc khen hai câu thơ bất hủ của Alfred de Musset:
                  Les plus désespérés sont les chants les plus beaux,
                  Et j’en connais d’immortels qui sont de purs sanglots.

         Nhưng Paul Valéry lại bảo không hiểu nổi nó, vì làm sao mà một tiếng nức nở lại có thể là một lời ca được? Lời ca là thì có âm điệu, nhịp nhàng, còn tiếng nức nở có nhạc gì đâu?
         Ông còn bắt bẻ câu:
                  J’aime la majesté des souffrances humaines
của Alfred de Vigny là vô nghĩa: vì sự đau khổ làm gì có cái vẻ tôn nghiêm? Thì đúng vậy. Nhưng chúng ta thấy hai chữ majesté (tôn nghiêm) và souffrances (đau khổ) đặt liền nhau thành một hòa hợp rất cao nhã và gợi ý.
         Cái phân tích theo lối của Criticus thì câu:
                  Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
của bà Huyện Thanh Quan cũng đáng sổ toẹt. Hí trường là trường chơi đùa, là nơi chơi đùa. Vậy nói cuộc hí trường có khác chi nói cuộc nơi chơi đùa, cuộc trường chơi đùa không, nghe sao được? Nhưng nếu xét kỹ hơn một chút, ta sẽ thấy chỗ dụng ý của nữ sĩ, hạ một chữ cuộc cho câu thơ thêm nghĩa. Cuộc hí trường không phải là cuộc trường chơi đùa mà là những cuộc thay đổi mau chóng y như trên một hí trường. Thử đổi chữ cuộc ra chữ cảnh, câu thơ sẽ non đi một bực.
         Tản Đà trong một bài tả thu, đã hạ được một câu tuyệt hay:
                  Cỏ vàng cây đỏ, bóng tà tà dương.
         Hay ở bốn chữ bóng tà tà dương mà nhạc cực kỳ êm đềm, thanh thoát, gợi cho ta cảnh mặt trời từ từ hạ trên một dòng nước bao la. Nhưng xin bạn thử phân tích tự loại của ba chữ tà tà dương xem có được không. Nếu thi sĩ viết bóng dương tà tà thì phân tích không khó. Còn viết bóng tà tà dương thì một trong hai chữ dương phải dư; nếu không vậy nữa thì chữ dương đã đặt sai chỗ. Lỗi đó rất nặng, phải không bạn? Nhưng chính nó đã làm nổi câu thơ và phải có cái thiên tài mới hạ được chữ dương lơ lửng ở sau hai chữ tà tà đó. Chỉ nghe nhạc trong câu, cũng tưởng tượng được vừng thái dương chầm chậm hạ xuống, như ngập ngừng khi gần tới chân trời.
         Thi nhân phương Đông cũng như phương Tây vẫn có quyền dùng chữ một cách phóng túng như vậy; miễn hình ảnh, âm nhạc gây được nhiều cảm xúc là đáng cho ta khen rồi, chứ cứ lấy những quy tắc của văn phạm hoặc của lý luận mà bắt bẻ thì mắc tật câu nệ mất.
         Trên nửa thế kỷ nay, ai cũng phục bài tả cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh:

                  Bầu trời cảnh bụt,
                  Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.
                  Kìa non non, nước nước, mây mây,
                  Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải?
                  Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái,
                  Lửng lờ khe yến cá nghe kinh.
                  Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
                  Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
                  Nầy suối Giải oan, nầy chùa Cửa võng,
                  Nầy am Phật tích, nầy động Tuyết quynh.
                  Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình,
                  Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
                  Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
                  Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.
                  Chừng giang san còn đợi ai đây?
                  Hay Tạo hóa sẽ ra tay sắp đặt?
                  Lần tràng hạt niệm: Nam mô Phật!
                  Cửa từ bi công đức biết là bao,
                  Càng trông phong cảnh càng yêu.


         Nếu phân tích ra để bắt bẻ, thì ta có thể hỏi bài đó làm thơ theo thể vịnh hay thể tức cảnh. Cứ xét những câu:
                  Kìa non non, nước nước, mây mây,
                  Đệ nhất động, hỏi rằng đây có phải?

Và:
                  Nầy suối Giải oan, nầy chùa Cửa võng,
                  Nầy am Phật tích, nầy động Tuyết quynh.

thì quả là tức cảnh rồi, nhưng bảo là tức cảnh thì cảnh đó, tác giả đã ngắm vào lúc nào? Ngày hay đêm? Ngày ư? Thì sao lại có:
                  Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt.
Vậy là đêm chăng? Đêm thì sao lại có tiếng chim thỏ thẻ, thấy cá lững lờ và nhìn được màu đá long lanh như gấm dệt?
         Xét theo những luật làm thơ đặt ra từ đời Đường, theo phép tắc làm thơ của các cử tử hồi xưa thì bài đó phải đánh liệt, chứ đừng nói là tạm được nữa. Vậy mà nó vẫn được truyền tụng, vì phần đông những người yêu thơ chỉ đòi hỏi ở thơ mỗi một điều quan trọng nầy là gợi được cái đẹp, mà bài của Chu Mạnh Trinh nhạc đã hòa nhã, ảnh lại rực rỡ, cho nên cái lỗi vừa vịnh mà vừa tức cảnh có thể tha thứ được.
         Trong bộ Luyện văn tôi đã trích bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, một bài mà phần đông phái tân học rất thích vì nó chứa nhiều ý mới mẻ, và gây được cái buồn mơ mộng hợp với tâm hồn chúng ta hơn cái buồn “cổ điển” trong các bài vịnh thu của Tương Phố hay Tản Đà. Ngâm bài của Xuân Diệu lên, ai không thấy một mối bâng khuâng vơ vẩn như xâm chiếm cả cõi lòng, nhưng đem đặt nó dưới “kính hiển vi” của Criticus thì biết bao sạn, cát sẽ hiện lên: trước hết ta có thể trách tác giả vừa vịnh mà vừa tức cảnh như Chu Mạnh Trinh; rồi có chỗ cầu kỳ: hơn một loài hoa đã rụng cành; hoặc rườm rà: đã khô gầy lại còn xương mỏng manh. Dưới dây, tôi xin chép lại trọn bài để những bạn không thuộc nó phân tích rồi suy ngẫm:

                           Đây mùa thu tới
                  Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
                  Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng,
                  Đây, mùa thu tới, mùa thu tới,
                  Với áo mơ phai dệt lá vàng.
                  Hơn một loài hoa đã rụng cành,
                  Trong vườn sắc đỏ vừa màu xanh.
                  Những luồng run rẩy rung rinh lá,
                  Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
                  Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ,
                  Non xa khởi sự nhạt sương mờ.
                  Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
                  Đã vắng người sang những chuyến đò.
                  Mây vẫn từng không, chim bay đi,
                  Khí trời u uất hận chia ly.
                  Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,
                  Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.

                  (Thơ Thơ)

         Có khi một bài thơ không có lỗi mà chỉ rán phân tích để hiểu cái đẹp, thì ta cũng thấy kém đẹp đi nữa. Tôi nhớ lần đầu tiên đọc bài Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư (một thi sĩ thời Sơ Đường) thì trong phòng viết của tôi như tràn ngập những trăng cùng nước, những nước cùng trăng. Trần Trọng Kim đã dịch bài đó như sau:

                           Đêm xuân cảnh trăng hoa trên sông
                  Sông liền biển nước sông đầy dẫy,
                  Trăng mọc cùng triều dậy trên khơi.
                  Trăng theo muôn dặm nước trôi,
                  Chỗ nào có nước là trời không trăng?
                  Dòng sông lượn quanh rừng thơm ngát,
                  Trăng soi hoa, trắng toát một màu.
                  Trên không nào thấy sương đâu,
                  Trắng phau bãi cát, ngó hầu như không.
                  Không mảy bụi, trời sông một sắc,
                  Một vầng trăng vằng vặc giữa trời,
                  Trăng sông thấy trước là ai,
                  Đầu tiên trăng mới soi người năm nao?
                  Người sinh hóa kiếp nào cùng tận,
                  Năm lại năm, trăng vẫn thế hoài.
                  Trăng sông nào biết soi ai,
                  Dưới sông chỉ thấy trăng soi giữa dòng.
                  Mảnh mây bạc bông lông đi mãi,
                  Rừng phong xanh trên bãi gợi sầu,
                  Thuyền ai lơ lửng đêm thâu,
                  Trong lầu minh nguyệt chỗ nào tương tư?
                  Trên lầu nọ trăng như có ý,
                  Vào đài trang trêu kẻ sinh ly.
                  Trong rèm cuốn cũng không đi,
                  Trên chày đập áo, phủi thì vẫn nguyên.
                  Mong nhau mãi mà tin bặt mãi,
                  Muốn theo trăng đi đến cạnh người,
                  Nhạn bay trăng cứ đứng hoài,
                  Cá rồng nổi lặn, nước trôi thấy nào.
                  Đêm trước thấy chiêm bao hoa rụng,
                  Thương quê người chiếc bóng nửa xuân.
                  Nước sông trôi hết xuân dần,
                  Trăng sông cũng lại, xế lần sang tây.
                  Trăng xế thấp chìm ngay xuống bể,
                  Cách núi sông, xa kể dường bao.
                  Cỡi trăng về, ấy người nào?
                  Cây sông trăng lặn, nao nao mối tình.

                  (Đường thi)

         Câu nào cũng lóng lánh ánh trăng và ánh nước, thực lung linh, huyền ảo. Nhưng vài năm sau, đọc một bài phê bình trong đó tác giả đã tốn công tóm tắt từng đoạn rồi phân tích những chỗ hay thì lạ quá, tấm màn càng được vén lên bao nhiêu, cái đẹp càng lẩn đi bấy nhiêu, mà những hứng thú của tôi lần trước tiêu tan hết.
         Là vì cái đẹp trong văn thơ không phải chỉ ở chỗ hình thức có thể thấy được, phân tích được, mà còn ở một cái gì tế nhị hơn, nó ẩn sau hình thức đó hoặc thoát ra khỏi hình thức đó, chỉ có thể cảm được chứ không giảng được, cái mà tôi gọi là thần của văn.
         Có những người đàn bà ta mới thấy mặt lần đầu đã mến ngay ở nét mặt cùng dáng điệu của họ tỏa ra một cái gì rất quyến rũ làm ta vui vẻ phơi phới trong lòng, nhưng khi nhìn kỹ ta nhận thấy không có nét gì đẹp hoặc có vài nét xấu: gò má hơi cao, nước da hơi tối, hay là tóc không mướt mà răng không đều. Những người đó, ta gọi là có duyên. Cái duyên của phụ nữ là cái thần của họ vậy, mà cái thần trong văn tức là cái duyên của văn. Văn miễn là có thần thì làm cho đọc giả quên được những quy tắc về kỹ thuật, cũng như đàn bà có duyên có thể không cần có đủ những vẻ đẹp công thức.
         Cho nên khi thưởng thức cái đẹp trong văn, cũng như khi ngắm vẻ đẹp của phụ nữ, cảm tưởng
đầu tiên vẫn là quan trọng nhất, mà muốn cho cảm tưởng đó đúng thì phải để lòng mình cảm thông với nghệ sĩ, đừng cho những quy tắc nặng nề của lý trí đè lên những dây đờn của trái tim, mà làm nó khó rung động. Trong nghệ thuật cũng như ở ngoài đời, phân tích vẫn là cần, nhưng nếu phân tích tỉ mỉ quá thì có hại. Những kẻ sung sướng nhất là những kẻ lý luận ít mà cảm xúc mạnh. Bạn cứ hỏi trái tim bạn, hạnh phúc ở đó, mà cái đẹp cũng ở đó.


NGUYỄN HIẾN LÊ

_________________________________________________
(1) Tài liệu trong cuốn Giai thoại văn chương Việt Nam của Thái Bạch (Sống mới xuất bản).


BÁCH KHOA |  SỐ 23

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #111 vào: 09/03/2018, 22:13:43 »


                  Mưa đêm

            ĐÊM qua mưa chợt thức,
            Gác trọ ngồi lâu lâu:
            Xa núi, thu reo suối,
            Quanh đèn, điện ném châu.
            Rêu trôi thềm đá sạch,
            Chồi nẩy ngọn cây mau.
            Xóm lá nhà bao nóc,
            Mưa ai có dột đầu?


                                Bàn Cờ, 1957
                                ĐÔNG XUYÊN
                                (Trích “Thuyền Thơ”)



BÁCH KHOA |  SỐ 23

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #112 vào: 09/03/2018, 22:54:31 »


Trung Hoa tình sử: Lưu Hoài Âm

L.T.S.– Nhắc đến cổ giai phẩm của Trung Hoa, dù có thiên về mấy bộ Tam Quốc, Tây Sương, mà xưa nay ai đã đành quên Tình Sử? Và đọc hết một pho nầy, có ai chẳng nhận rằng trong ấy thật đã chứa đựng biết bao nhiêu điển cố thường gặp ở những thi phẩm của Phạm Thái, Nguyễn Du…? Bởi vậy, dịch Tình Sử ra Việt ngữ, công việc đó tất không thể không làm; và tuy vài chục năm trước đã có mấy bản dịch của mấy bậc chuyên nho, chúng tôi thiết tưởng bây giờ ta vẫn còn nên mong gặp lại.
      Vậy đây, bản dịch Tình Sử của Hư Chu, Hư Chu, một cây bút có cái kỹ thuật tỉnh ngữ rất đặc biệt của Liêu Trai, chắc cũng không dám để phụ lòng những bạn đọc nào đang muốn tìm một phong vị cổ.


○ ○ ○

CÁCH HOÀI ÂM hai chục dặm, có chàng họ Lưu là tay hào phóng hơn đời. Thường ngày, nếu gặp kẻ phóng đãng đều mở dụng giao du. Bởi vậy, bạn bè toàn thị là một phường ngỗ nghịch. Một bữa, Lưu ra chợ huyện bỗng thấy trong nhà nọ có một giai nhân. Nhân rất lấy làm ưa, bèn hỏi bạn. Thì rằng:
         ― Đó là Hoan nương con nhà Vương thị. Bằng như mắt xanh có lọt thì cứ như mụ Vương đã nhắn, hễ ai lo ba trăm lạng, việc tất xong ngay.
         Lưu thích chí, cười mà đáp:
         ― Mỗ hiện thân thích không ai, mà ruộng vườn cũng chẳng mong cố giữ. Chi bằng nay đem đổi phăng lấy con người “nhất tiếu” cho xứng danh một kẻ hào tình!
         Rồi đó về làng, gọi người bán ruộng. Nhưng ruộng bán hết mà mới được ngót hai trăm. Bèn lại rao bán cả nhà trên, chỉ trừ một căn sau dành làm nơi tá túc. May sao vừa khéo, cộng hai món đã đủ số cần lo. Đoạn mà vác tiền tìm đến bạn bè nhờ mau đi nói việc.
         Bè bạn đi nói, ai ngờ lại gặp lúc Vương thị không nhà. Nhân trở lại cho hay, rồi đồng thanh mà gạ bảo:
         ― Hiện đang đẫy túi, sao không cứ mở phăng một tiệc để khuây sầu?
         Lưu không nghe, đáp rằng để cầu người đẹp. Bạn bè liền hứa sẽ xoay bù. Nhưng Lưu thừa biết hão, lắc đầu mà chẳng thuận. Bè bạn thấy thế, buồn bã mà lui. Lưu nhìn theo, nghĩ chẳng đành tâm, bèn gọi nói:
         ― Hãy quay trở lại. Đã chỗ thâm giao, có lẽ nào lại vì một mảnh hồng nhan mà nỡ bỏ vui tri kỷ!
         Đoạn truyền chủ quán mổ dê non mà dọn tiệc. Tiệc thỏa thích, qua hôm sau ngờ đâu Vương thị vẫn chưa về. Bè bạn liền lại bảo:
         ― Hụt thì đã hụt, sao không cứ mở ngay tiệc nữa rồi sẽ xoay luôn?
         Bèn mà lại cùng nhau đại ẩm. Nhưng nghĩ thật giận, tối ấy rồi lại nhiều tối nữa, dê non cứ mổ mà nhà Vương thị khóa cứ còn phong. Cho đến ngót tuần sau nghe nói chủ đã lại nhà thì số bạc cầu hôn chỉ còn hai trăm lạng chẵn.
         Nhân nghĩ thiếu nhiều thì rất khó, song cũng cứ thử đi xem. Quả nhiên bè bạn ra đi mà lại quay về báo nói:
         ― Vương thị quyết đúng ba trăm. Sau nói mãi thì cũng nể tình, nhưng chỉ khăng khăng bớt có hai chục lạng.
         Lưu thất vọng mà rằng:
         ― Mỗ chỉ còn một căn bếp nát, dẫu bán cũng chẳng bao nhiêu. Vậy nay hụt gần trăm, lấy đâu bù cho đủ món?
         Bè bạn xin xoay. Đoạn mỗi kẻ chạy đi mỗi ngã. Nhưng tối đến họp, góp lại mà chỉ có bốn quan tiền. Lưu chán quá, thì chúng hứa mai sẽ có thể may hơn. Nhưng ai ngờ cái xoay hôm sau lại chưa bằng nửa cái xoay hôm trước. Lưu tắc lưỡi mà than:
         ― Cứ vài quan mỗi tối thì đầu bạc cũng chưa đủ để mua xuân. Âu đã khó thì thôi, có lẽ nào lại vì một mảnh hồng nhan mà nỡ để lo tri kỷ!
         Bè bạn chưa hiểu thì đã xỉa bạc ra quầy mà truyền chủ nhân lại bảo:
         ― Kíp đi mổ năm trâu đặt rượu. Ngày mai đây, ta có đủ bạn hữu ở Hoài Âm!
         Bè bạn nghe nói, vỗ bàn mà tán tụng. Đó rồi lại say vùi. Cho đến mấy hôm sau thì tất cả cái số hai trăm cũng vèo tiêu hết sạch. Tuy nhiên hết mà tuyệt không buồn. Từ đó, tay làm hàm nhai, lúc nào cũng vẫn ung dung khoái sảng.
         Cuối năm ấy, chẳng ngờ trời làm đói kém, nên nhân có kỳ tuyển thú, Lưu liền ứng mộ xin đi. Rồi mà giữ ải đồn dinh, suốt ba năm mới đến ngày mãn khóa. Sau đấy về làng, lại vội bon tìm những bạn bè xưa. Gặp nhau, đủ mặt năm nao, thích chí mà cười vang một tiếng. Một buổi tối, đang ngồi đối ẩm, chợt nghe có kẻ nhắc đến Hoan nương. Nhân mỉm cười mà nói:
         ― Ngày ấy dẫu vì tri kỷ mà coi nhẹ hồng nhan, nhưng cái xuân tâm thật vẫn hơi có tiếc!
         Bè bạn có kẻ liền rằng:
         ― Nếu quả tiếc nhau thì cớ sao bữa qua không áo khăn tìm đến?
         Đoạn kể là Hoan nương đã chết trúng phong cách nay ba bữa mà táng sự thì mới kết chiều qua. Lưu vừa nghe tin, liền vùng dậy bảo:
         ― Không lẽ chỉ vì một chiếc dê non mà để tuyệt lòng nhất ngộ. Vậy Lưu này cần phải ra viếng người mệnh bạc mà rỏ lấy năm ba giọt lệ chung tình!
         Nói xong hỏi chỗ rồi khảng khái ra đi. Đi, nhưng mới ra khỏi thành thì gặp mưa phải dừng lại núp. Một lát, mưa tạnh trăng sáng, song tìm đến thì ai ngờ quan quách đã vừa bị sấm sét đánh văng lên. Nhân động mối thương tâm, toan vùi lại giùm cho thì bỗng lại nhận thấy thi hài vẫn còn thơm như xác sống. Bèn mà ẵm chạy ngay về đặt ra trước chiếu, cười rằng:
         ― Vương nữ về đây. Tuy có khác âm dương nhưng cũng hãy vu qui cho phỉ nghĩa.
         Bè bạn thấy vậy, kinh sợ mà tan. Lưu đang khi ngông, liền buông màn rồi cùng cái thây gối đầu tay đánh giấc. Như thế gần sáng, ai ngờ cái xác lạnh lại cảm thấy nóng dần lên. Nhân sờ xem thì thật quả. Bèn mà, xoa vai bóp ngực rồi gọi kẻ đi lấy sâm thang. Cho đến trời tỏ bình minh thì hiển nhiên đã hồi lại hẳn. Bấy giờ thấy nàng đã tỉnh thì liền tự trỏ cười rằng:
         ― Nếu còn nhớ cái chuyện năm xưa thì chính là khách hai trăm lạng đó!
         Nói đoạn, kể đầu đuôi. Hoan nương liền khóc nói:
         ― Mẹ thiếp thật không nhẹ người nặng của. Sở dĩ đã khăng khăng đủ số, ấy chỉ là cốt ý thử tình nhau!
         Đoạn, tạ ân Lưu mà xin tạm biệt. Lưu nhờ hai kẻ đi kèm theo bên kiệu, thì một lát trở lại mà rằng:
         ― Vương bà vừa hứa ít hôm ngày tốt, sẽ đem cả cô con mà tạ cái tình thâm. Ngoài ra, ngày hôm nay, hãy tặng trước cho một trăm lạng để tùy khao bạn hữu.
         Lời vừa nói dứt đã có kẻ bưng bạc xin thu. Lưu nhận mà mở tiệc vui say thì cách đó năm hôm, quả lại thấy nhà họ Vương gọi sang cho gửi rể.


HƯ CHU tỉnh dịch


BÁCH KHOA |  SỐ 23

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #113 vào: 12/03/2018, 22:24:35 »
BÁCH KHOA |  SỐ 24  [1 tháng Giêng  1958 |  86 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Căn bản lý thuyết của Chế độ kiểm soát hối đoái |  1-10
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu [IV] |  11-14
Phạm Duy Lân |  Chiến tranh tương lai và sự phòng thủ Âu châu |  15-18
Phan Khoang |  Đức dục và Công dân giáo dục |  19-22
Phạm Hoàn Mĩ |  Nhà Thục không phải là một đời vua Việt? |  23-34
Vũ Ký (dịch) |  Ký ức của một người điên \ Giovanni Papini |  35-39
Nguyễn Anh Linh |  Tiêu chuẩn về sức khỏe |  40-43
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Khảo về kiến trúc Đình Việt Nam |  44-51
Đông Xuyên |  Đẻ (thơ) |  52
Bình Nguyên Lộc |  Thú tánh sơ khai |  53-58
Hư Chu (tỉnh dịch) |  Trung Hoa tình sử: Ma Lặc |  59-62
Quảng cáo |  63-64
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Khương thôn (thơ) \ Đỗ Phủ |  65-66
Quảng cáo |  67-68
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [VII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  69-78
Quảng cáo |  72, 74, 76, 79-86


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #114 vào: 12/03/2018, 22:42:29 »


Khảo về kiến trúc Đình Việt Nam
000
ĐÌNH – Phong tục và sự tích
         Vì quan hệ mật thiết lịch sử với dân tộc và sinh hoạt của hương thôn, nên khắp Việt Nam, làng nào cũng có một cái đình, kiến trúc công phu và cổ kính.
         Đình đã đóng một vai tuồng quan trọng trong mỗi làng. Vì đình, chẳng những là nơi thờ cúng vị thần hoàng làng, người che chở bảo vệ cho dân làng trong công việc mưu sinh, cày cấy hằng ngày, mà lại còn là chỗ họp của các vị hương chức để thảo luận, xét xử việc công, hay tổ chức cúng tế trong những kỳ đại lễ.
         Ngoài ra, theo lời những hương chức làng Yên Sở, tỉnh Hà Đông cho biết thêm, thì ngày xưa còn là nơi dành để nhà vua nghỉ chân tạm, trong khi đi du hành ngang qua đó.
         Chúng tôi thấy điều này chưa chỉnh lắm. Vì nhận thấy có nhiều ngôi đình nằm ở một địa điểm u tịch, rất xa đường cái mà nhà vua có thể vi hành qua.
         Vả nữa, kiểu đình làng xây cất lại khác hẳn với kiểu hành cung, và không thể nào dùng làm chỗ nghỉ ngơi được. Hơn nữa, nếu không nằm ngay trên con đường vi hành của nhà vua thì cấp thời, dân làng đó vẫn phải tức tốc cất lên những dãy nhà khác tiện cho vua nghỉ chân dọc đường, cũng như hành “cung” ở mỗi tỉnh.
         Vị thần thờ ở đình có khi là thiên thần như: Thần Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh, Tản Viên, Phù Đổng (trong tứ bất tử).
         Chử đồng Tử, đệ nhất tứ bất tử người làng Chử xá, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Chử Đồng Tử là con trai của Chử Cù Vân, thường gọi là Chử Đạo Tổ.
         Bà Liễu Hạnh, đệ nhị tứ bất tử, người làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, ái nữ của Lê Thái Công. Tản Viên, đệ tam tứ bất tử, sinh quán ở vùng Ái Châu, huyện Thanh Sơn, phủ Hưng Hóa, tỉnh Sơn Tây.
         Phù Đổng Thiên Vương, đệ tứ tứ bất tử, người làng Phù Đổng, huyện Võ Giang, tỉnh Bắc Ninh.
         Đình có khi thờ các vị nhân thần hay Phúc thần, như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lý Ông Trọng, Phạm Ngũ Lão. Đồng thời cũng thờ những người đã dày công sáng lập ra làng như:
         – Nguyễn Cẩn lập ra làng Đồng Lâm, tỉnh Hải Dương.
         – Hoàng Cao Khải lập ra ấp Thái Hà, tỉnh Hà Đông.
         – Nguyễn Công Trứ lập ra các làng ở hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, tỉnh Ninh Bình và Thái Bình.
         Ngoài ra đình lại còn thờ một thứ thần đã chết bất đắc kỳ tử trong giờ thiêng. Những người này đều được dân làng nơi đó thờ làm thần, bất kể chức tước hay nghề nghiệp. Chẳng hạn như làng Lộng Khê, huyện Phù Dực, tỉnh Thái Bình, đã tôn thờ thần ăn trộm; làng Đông Thôn, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, đã thờ thần trẻ con; làng Thư Lang, tỉnh Hà Nam, thờ thần ăn mày; làng Noi, tỉnh Hà Đông, thờ thần gắp phân (ở miền Bắc có nghề đi gắp phân để làm phân bón trái, rau); làng Mạc Hạ, tỉnh Hà Nam, thờ ông thần đánh vật; làng Khắc Niệm thượng, huyện Vũ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, thờ thần cụt đầu.
         Sự tích mỗi vị thần có ghi chép trong thần tích hay kinh sách, dân làng giữ rất kín cùng với thần sắc của vua ban. Thần sắc có 3 bực: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần.
         Làng nào không thần để thờ, thì thờ tạm vị Thổ thần bản thổ.
         Hằng năm, đến ngày linh hay ngày kỵ của thần, dân làng tổ chức lễ nhập tịch hay đại hội, hoặc gọi là vào đám hay vào hội. Lễ này rất lớn, có nhiều nghi tiết trọng thể và nhiều cuộc chơi, như: hát chèo, chạy chữ đánh cờ người, cướp cầu, chọi gà, chọi chim, đánh vật, con trai giả gái làm con “đĩ đánh bồng”.
         Trong lễ này, mỗi làng có một nghi tiết đặc biệt gọi là hèm, người ta bày trò để nhắc lại tính tình, sự nghiệp hoặc sinh bình của vị thần làng thờ. Ví dụ như làng thờ thần ăn trộm thì ban đêm, con trai, con gái trong làng đốt đuốc đi lùng xung quanh đình giả vờ đi tìm kẻ trộm. Trong khi ấy, người thủ từ lấy tượng thần đưa qua lỗ ngạch, có ông tiên chỉ đứng chực sẵn ở phía ngoài nắm lấy cổ tượng thần đấm ba đấm, rồi bỏ lên kiệu rước lại vào đình.
         Làng thờ thần gắp phân thì trên hương án phải có một bộ quang gánh để đựng phân, một cái gàu nhỏ để xúc phân sơn son thếp vàng.
         Trong gánh người ta lấy chuối, xôi nặn cho giống những cục phân và đặt vào đó để thờ.
         Làng thờ thần ăn mày có một tượng thần giống như người ăn mày đặt trước cửa, tay cầm gậy bị, đều sơn son thếp vàng, và người thủ từ phải luôn luôn sẵn sàng, hễ làng lân cận có việc gì đánh trống, đánh mõ để vào đám, thì ông cũng phải gióng trống, đánh mõ đình làng mình lên, kẻo thần sẽ xuất ngoại mất. Vì thần vốn là ăn mày!
         Làng thờ thần đánh vật thì ngày lễ phải mời trai các làng bên đến đánh vật trước sân đình.
         Làng thờ thần cụt đầu, thì đến ngày vào đám người ta bày một con lợn sống, có một người cầm gươm chém đứt đầu con lợn rồi bỏ vào nồi nước mắm đương sôi, xong đặt lên hương án để cúng.
         Nếu không làm đúng vậy, làng sẽ bị động, làm ăn lục đục, hoặc mất mùa, hoặc bị dịch tả v.v…

Kiểu và cách
         Kiểu đình cổ nhất ở Việt Nam gồm hai ngôi nhà lớn, bốn mái, cất song song và bằng nhau.
         Về sau, kiểu này không thông dụng nữa.
         Người ta kiến tạo đình theo kiểu hình chữ đinh 丁 ngược (tức là ⏊), và hình chữ công 工.
         Đình kiến trúc theo kiểu này, chia ra làm hai phần cách biệt:
         Phần dọc gọi là đình trong hay hậu cung, hoặc nội điện, là chỗ thâm nghiêm nơi thờ thần hoàng. Phần ngang gọi là đình ngoài hay tiền tế hoặc đại bái. Trong hậu cung thường có tượng hoặc bài vị của thần hoàng làng thờ, ở trong long ngai hoặc long khám. Trên bàn hương án có hòm sắc, đựng sắc phong và kinh sách, cùng những bộ thờ tam sự, hay ngũ sự, có đài rượu quả trầu v.v…
         Trước bàn hương án có bày các đồ nghi trượng và lễ bộ như: loan giá long đình, bát bửu, cờ quạt, tàu táu.
         Gian đình ngoài chia làm ba khoảng: giữa gọi là trung đình, nơi tế tự, hai bên gọi là gian tả và gian hữu. Trong hai gian này có kê bàn thờ thổ địa hay thờ bộ hạ của thần, hoặc hậu thần.
         Đồng thời nơi đây cũng là chỗ để hằng ngày các vị hương chức thường xuyên hội họp, xét xử mọi việc công, cũng như nhà việc hay nhà làng bây giờ vậy.
         Ở hai bên tả hữu đình làng thường có thêm hai dãy hành lang xây cất cách đơn sơ, dùng làm nhà bếp, nơi giết trâu bò, sắp dọn cỗ bàn trong những ngày tế lễ. Chẳng hạn như đình làng Phú Mẫu, tỉnh Bắc Ninh.
         Kiểu này rất gọn và đẹp đẽ, nhưng cũng có một vài nơi khác, người ta chỉ cất đình không thôi, chẳng có hành lang. Hoặc giản dị hơn, người ta cất đình theo kiểu hình chữ nhật 日.
         Tuy vậy, cũng có những làng trù phú cất đình đồ sộ gồm nhiều gian hơn. Ví dụ như đình làng Quan Tứ, tỉnh Vĩnh yên.
         a) Khung.– Cũng như nhà cửa, phần nhiều đình đều kiến trúc bằng gỗ và lợp ngói. Vì nước Việt Nam có nhiều gỗ quí và kỹ nghệ xây gạch chưa đạt đến mức tinh vi.
         Khung đình người ta thường làm bằng các loại gỗ quí có tính chất bền dẻo, chắc và kỵ mọt, mối v.v… như: lim xanh, sến mật, gụ sừng và táu mật.
         Sau khi đoàn thợ mộc đã đục, chạm xong bộ khung rồi, người ta mới làm lễ dựng khung lên. Khung đình cấu tạo tương tợ như bộ sườn nhà, duy chỉ khác có sự chạm trổ công phu hơn, gỗ quí hơn và thường khi có những bộ cột to cả người ôm không hết.
         Thợ mộc làm nhà ở Việt Nam ngày xưa không phải là những kiến trúc sư xuất thân ở một trường chuyên nghiệp nào cả. Họ chỉ học theo lối kinh nghiệm truyền khẩu và bắt chước. Tuy vậy, những bộ khung đã đục chạm sẵn, rời rẽ ở bên dưới đến khi dựng lên cũng ít khi bị sai chạy bao giờ. Vì thế người miền Bắc thường gọi công việc xây dựng nhà cửa, đình chùa là: “làm dưới đất mà cất lên trời”. Câu này đã chứng minh đầy đủ nghệ thuật kiến trúc của người Việt Nam ngày xưa.
         Tất cả bộ khung này được đặt chắc chắn trên những hòn tảng bằng đá có trang trí hay đẽo gọt đẹp đẽ.
         Ngoài ra, nhiều đình còn xây thêm trụ đá để đỡ cái rầm. Bên Tàu, kiểu này đã phổ biến từ lâu, ở những trụ cột cán đền thờ dưới thời nhà Hán.
         Nhưng về sau, thay vì xây trụ đá để đỡ rầm, người ta biến nó lần lần thành một đề tài trang trí trên những cuốn thư. Ví dụ như đình làng Thổ Hà, những cột đá này đã không còn có công dụng kiến trúc nữa mà chỉ có tính cách trang hoàng thôi.
         b) Vách.– Vách đình thường dựng ván, có khi cũng xây gạch.
         Mặt tiền thường làm cửa lùa, hay cửa xếp. Hai bên và mặt hậu dựng vách. Đình ít có cửa sổ vuông hay chữ nhật chấn song, thường làm cửa sổ tròn hình mặt nguyệt hay liên hoàn, hay hoa, lá, mây, trái v.v…
         Đình thường không bao giờ có gác, và chu vi thì rất rộng.
         “Những đình, chùa, lâu đài Việt Nam thường làm bằng gỗ, không đổ móng, vì lý do thổ địa. Những hàng cột được đặt trên những hòn tảng đá, dễ tháo rời và di chuyển đi nơi khác. Đó là những kiểu nhà làm sẵn. Những kiến trúc ấy thường không có trần nhà và mái phải rộng lớn, thật nặng, dự phòng chống với bão, lụt” (P. Huard et M. Durand).
         c) Mái.– Mái đình thường rộng lớn rất xuôi. Nếu có vào đình mới thấy đình cao; còn ở xa thì cảm tưởng như là rất thấp. Bốn đầu mái cong vút, nhọn lên những nét nhẹ nhàng, thanh lịch mà cũng rất cầu kỳ.
         Những đầu mái ấy được thực hiện dưới những hình thức sau đây:
             1.– Giống kiểu của mái lều bằng vải dựng lên bằng cọc (lều hướng đạo).
             2.– Như một nhánh cây.
             3.– Một dự phòng để tránh ảnh hưởng xấu của những đường thẳng.
         Nơi đầu “quyết” của những mái cong ấy, người ta còn chạm trổ nhiều đề tài trang trí như: cá, mây, hoa, lá, dây v.v…
         Hiện có thuyết cho rằng: kiểu ấy là ảnh hưởng của Trung Hoa từ trước. Theo chúng tôi, căn cứ trên nhiều di tích khác nhau có khắc hình trên đá thờ ở thời nhà Hán thì những đầu mái Trung Hoa cổ xưa đều thẳng tắp. Ví dụ, những hình chạm nổi ở Long Mán trong tỉnh Hồ Nam, đề thế kỷ thứ VI.
         Đến đời nhà Đường phía Nam Trung Hoa mới bắt đầu xuất hiện kiểu mái cong và ảnh hưởng ấy lan dần lên miền bắc nước Tàu.
         Những di tích kiến trúc dưới thời nhà Đường rất hiếm, hiện nay không còn bao nhiêu để minh chứng điều trên, nên người ta phải nghiên cứu qua những họa phẩm đã sáng tác vào thời kỳ đó. Trong số, chỉ có bức tranh “Viên Minh viên”, của Lý Châu Tạo, đã nói lên được cách linh động và đầy đủ hình ảnh kiểu mái cong. Tác phẩm này sáng tác vào thế kỷ VII, cùng với hai họa phẩm khác, một của Lý Siêu Hùng và một vẽ trên Tường của Tuấn Hoàng.
         Đến đời nhà Tống những mái cong đã rõ rệt lắm và phổ biến khắp Trung Hoa. Thời kỳ này, những họa phẩm của Trang Chu Tuấn cũng có ghi.
         “… Mái cong xuất hiện ở miền Nam nước Tàu, dưới thời nhà Đường, và rải rác ở miền Bắc. Chắc hẳn ảnh hưởng miền Nam, tức Anh-đô-nê-diêng” (thế kỷ VII) (P. Huard et M. Durand).
         Ở Việt Nam, người ta thấy những kiểu mái này cũng có ghi trên những chiếc Trống đồng Ngọc Lữ đã tìm được ở Đông Sơn, Thanh Hóa.
         d) Ngói.– Hầu hết đình đều lợp ngói. Người Việt Nam có một kiểu ngói thuần túy là “ngói bằng” hay “ngói nóc”.
         Đến thế kỷ VII, ảnh hưởng của “ngói ống” Trung Hoa, người Việt Nam sáng tạo ra kiểu “ngói máng”. Đó là sự phối hợp hình thể của hai loại ngói móc và ngói ống. Ngói máng còn có tên là “ngói âm dương” và chia ra hai loại: ngói tiểu và ngói đại.
         Đình cũng như chùa hay đền, miếu, thường lợp hai lần ngói. Lần đầu, bên dưới là lượt “ngói chiếu” có sơn phết sạch sẽ (trắng) hay có trang trí. Lần sau bên trên là lượt “ngói phủ”. Vì thế, mái đình rất nặng.

Trang trí
         Đình làng là một trong những kiến trúc mỹ thuật quan trọng nhất ở Việt Nam cũng như đền, chùa, miếu. Vì nơi đây, nghệ thuật điêu khắc và trang hoàng những sườn nhà đã được thực hiện một cách công phu, tỉ mỉ.
         Tuy vậy, nếu so với chùa, đền, miếu, thì đình lại tỏ ra trang hoàng đơn sơ hơn hết. Đề tài trang trí vẫn là những mẫu cố định: tứ linh: long, ly, qui, phượng; bát bửu, tứ bửu, tứ thời, thảo, mộc, hoa, lá; loài vật: sư tử, cá, dơi v.v…

Nhận xét
         Nguồn gốc đình hình như rất ít người biết đến, và cũng ít người dám cả quyết rằng đình là một ảnh hưởng Trung Hoa hay một dân tộc nào xa lạ khác?
         Tuy vậy, trong sách “Duyên Châu phả chí” của Tàu cũng có đề cập đến nguồn gốc của đình đã phát sinh ở Tàu dưới thời nhà Hán. Sách đó còn nói thêm, đình là một nơi mà dân chúng đã định cư yên ổn. Đình có tính cách là “ngưng lại hay trú ngụ, xét xử hay giảng hòa”.
         Những điều sơ lược trên vẫn chưa minh chứng được cách cụ thể rằng nguồn gốc đình là ở Trung Hoa, mà chúng ta đã bị ảnh hưởng.
         Sự thực, có một điều đáng để chúng ta chú ý là, hầu hết đình ở Việt Nam đều làm theo lối nhà sàn. Những kiểu nhà sàn này phần nhiều đều do dân “Anh-đô-nê-diêng” sáng tạo.
         Bằng cớ, hình ảnh những kiểu nhà sàn này hiện còn lưu lại trên những chiếc Trống đồng Ngọc Lữ.
         Vả nữa, kiểu nhà sàn rất thông dụng trên những vùng Cao nguyên nơi các đồng bào thiểu số của ta sinh sống.
         Trong khi đó, xét qua các kiến trúc quan trọng của Trung Hoa cổ xưa, chúng ta thấy hình như không có kiểu nhà sàn.
         Từ ấy mãi đến nay, qua các sưu khảo mới nhất, người ta vẫn chưa tìm ra được bằng cớ xác đáng, chứng tỏ rằng nguồn gốc đình ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng hoàn toàn của Tàu, và đã nhập cảng vào nước do những kẻ xâm lăng, cai trị đời Hán, trong khoảng những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên này.
         Còn theo thuyết của những nhà nhân chủng học và xã hội học, thì hình như vùng Đông Nam Á này trước kia đã bị giống dân “Anh-đô-nê-diêng” xâm chiến và cai trị.
         “Từ trước cho đến nay, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Chàm (Việt Nam ngày xưa), Sumatra, Java và những đảo gần Java, hoàn toàn bị Ấn Độ khai thác trong những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên này” (Général L. de Beylié).
         Trong cuộc xâm chiếm này người “Anh-đô-nê-diêng” đã để lại nhiều vết tích, mà trong đó, kiểu đình Việt Nam hiện giờ là một.
         Rồi về sau, qua những cuộc đô hộ Trung Hoa, người Việt Nam đã bị ảnh hưởng thêm, kiểu đình do đó mà thay đổi biến chế thêm mãi đến bây giờ.
         G. Coedes cũng nhìn nhận rằng: kiểu đình làm theo lối nhà sàn dáng “Anh-đô-nê-diêng”.
         “Đình là một kiến trúc duy nhất làm theo kiểu nhà sàn. Nguồn gốc đình có vẻ là “Anh-đô-nê-diêng” và giống những kiểu nhà cửa các sắc dân thiểu số” (P. Huard et M. Durand).
         Tóm lại những kiểu đình ở xứ ta là nguồn gốc “Anh-đô-nê-diêng” có pha với ít màu sắc kiến trúc Trung Hoa.
         Rồi từ ngày này tháng nọ, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, những ảnh hưởng ấy đã hòa chung lẫn nhau tạo nên một sắc thái riêng biệt cho nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.


XII 57
Từ-Quyên ĐẶNG VĂN NHÂM


BÁCH KHOA |  SỐ 24

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #115 vào: 13/03/2018, 21:19:03 »


Thú tánh sơ khai

LÚC CÒI BÁO ĐỘNG nổi lên thì Thành đang ngồi trên một chiếc xe hơi nhà, không biết của ai. Xe chạy trên đường Hiền Vương. Muốn ra khỏi châu thành, lẽ cố nhiên là xe chỉ còn một nước là thẳng lên Cầu Bông theo con đường đưa về những tỉnh miền Đông.
         Trên băng sau có ba người ngồi. Một cô gái đẹp ngồi giữa. Bên kia là một thanh niên đẹp mã, dễ thương và lắm lời, bên nầy là Thành.
         Thành chưa bao giờ gặp hai người đó. Nhưng sao chàng vẫn thấy sự có mặt của họ trên xe là tự nhiên, và cả sự có mặt của chàng trên một chiếc xe lạ cũng tự nhiên nốt.
         Trong khi Thành hồi hộp nghe cảnh sát thổi tu hít bắt xe lại, và hồi hộp thấy xe chàng ngồi cứ giả điếc phăng phăng chạy mãi, thì cái anh chàng đẹp trai kia cứ bình tỉnh tán tụng sắc đẹp và trí khôn của cô gái. Cô gái ăn kẹo quánh cả răng mà chàng kia cứ đưa thêm kẹo mời mọc luôn mồm.
         Tuy vậy, Thành không nghe khó chịu vì anh chàng ăn nói với một giọng thành thật lạ; bao nhiêu lời cam kết, bao nhiêu lời hứa hẹn của chàng ta dường như vọt thẳng ngay từ trong tim mà ra.
         Chàng ta có một lối nói chiếm lòng. Cũng thời câu văn rất sáo: “Tôi dám chết vì cô” nghe giả dối ở miệng của bất kỳ người con trai nào, nhưng sao ở đây nó hàm súc tất cả cương quyết hy sinh của chàng ta về phái nữ.
         Đền đáp lại tấm tình tha thiết và chân thật ấy, cô gái có những nụ cười, những lời nói bỏ dở nửa chừng khiến thanh niên rất hy vọng.
         Bây giờ xe đã ra khỏi Bà Chiểu và chạy như gió về miệt Biên Hòa.
         Ra khỏi thành phố rồi mà Thành không hết lo. Mấy tuần nay, tin tức thế giới xem chừng nghiêm trọng lắm.
         Cách đó ba hôm, một tin điện tả phút cuối cùng của thành Ết-Tốc-Khom một cách khủng khiếp: một trái bom khinh khí nổ giữa thành, tức thì cả một vùng rộng lớn cháy lên. Cả khinh khí của nước sông, nước biển trong vùng cháy lên. Ở đấy, thành ngữ biển lửa mới thật là đúng. Cách xa năm trăm cây số, người ta thấy một cục lửa tròn như viên đạn bừng cháy trong mấy tiếng đồng hồ.
         Hơn một tuần nay, địa chấn xảy ra khắp nơi rung chuyển cả địa cầu và Sàigòn ta cũng nghe thấy đất động nhè nhẹ.
         Thành nhớ mang máng có đọc quyển Sấm truyền hồi còn bé, và nhẩm lại những câu sau đây: “Mầy sẽ khủng khiếp vì những tiếng động lạ vào ngày tận thế; đất sẽ cháy, biển sẽ tràn vô đất liền và tiếng nổ hãi hùng vang lên khắp nơi”. Không nhớ rõ câu ấy thế nào nhưng ý thì như vậy.
         Phải chăng đã đến ngày tận thế? Thành tự hỏi và bỗng nghe yêu đời hơn lên, cuộc đời mà chàng cho là xấu xa, và lúc nghe nó gần mất lại muốn bám níu vào nó.
         Bỗng một tiếng nổ xa vẳng đưa lại, một tiếng nổ thường như tiếng nổ của bom cỡ một trăm kí-lô. Nhưng sức của nó mạnh đến đỗi đẩy chiếc xe chạy tới như gió cuốn lá khô.
         Người tài xế chuyển hết thần lực kìm lấy tay bánh. Hai bên đường cây cối trốc gốc bay như người ta vứt cỏ.
         Người con gái đẹp kinh hãi kêu rú lên, và chàng trai ôm lấy cô ta, vỗ về an ủi:
         ― Không sao đâu em (bấy giờ đã im rồi), có anh đây còn sợ gì. Vả nếu có chết thì chết chung, thú vị lắm.
         Xe hơi bay qua khỏi Thủ Đức, rồi sức thổi của trái bom đã dịu lại nó chạy đều đều.
         Nhưng cơn khủng khiếp ấy vừa qua thời những người trên xe lại nghe những tiếng ào ào như tiếng sóng vỗ vào bờ biển. Trời bỗng tối sẩm lại và gió, lần nầy gió thật bắt đầu nổi lên dữ dội. Trời âm u như vào lúc hoàng hôn.
         Họ nhìn lại phía sau thì, ồ nầy lạ: Nước! Phải, qua tấm kiếng sau, họ thấy nước đang rượt theo xe.
         Người lái xe mở hết tốc lực đặng chạy thoát nhưng nước cứ đuổi theo bén gót.
         Khi lên đến ngay chân núi Châu Thới thì nước đã theo khỏi bánh sau.
         Vâng theo bản năng tự tồn, người tài xế quẹo xe vào con đường lên núi. Con đường mòn ấy thẳng góc với con đường thiên lý, nên bấy giờ xe bị nước qua khỏi, day ngang mình mà hứng sóng.
         Nước lên mau trông thấy; chưa chi mà xe ngập tới nửa chừng bánh. Tới chơn núi, họ vội vàng mở cửa nhảy ùm xuống nước.
         Người con trai muốn ôm lấy cô gái mà mang đi, nhưng dưới đáy nước đá gập ghềnh và gió thổi mạnh muốn ngã người nên anh ta lại thôi, chỉ dìu cô gái và cả hai cùng chạy đi.
         Họ đạp sóng, chạy rất chậm và khua nước lọc-ọc. Tới trước một mô đất cao kia, người con trai đỡ cô gái lên trước rồi ba người đàn ông hè hụi leo theo sau. Rồi đó cả bốn bươn bả trèo, bất kể gai góc và mũi đá nhọn đâm vào chân họ. Mực nước ác hiểm cứ càng lúc càng dâng cao thêm, khiến cho họ leo mãi mà vẫn cảm giác như là đứng yên ở mé nước.
         Họ chỉ sợ nước chụp kịp họ thôi, chớ chưa đủ trí tỉnh để tự hỏi hiểm họa nào kỳ lạ xảy ra hôm nay. Khi họ đã đuối sức và chỉ muốn nhắm mắt đưa chơn cho nước cuốn đi đâu thì đi, thì kẻ thù không đuổi theo họ nữa. Mực nước dừng hẳn lại, mặc đầu sóng to cứ vỗ vào sườn núi nghe ầm ầm.
         Họ dòm lại thì thấy mình đã leo lên đến lưng chừng cái núi đất nhỏ ẩy.
         Bấy giờ hoàng hôn thật đã xuống. Bóng tối, đứng trên núi mà nhìn thì thấy nó chạy bay trên mặt nước từ hướng Đông qua hướng Tây.
         Một cái chòi tranh, chừng như của dân phu đập đá, bỏ trống không trước mặt họ. Họ uể oải đi lần vào đó mà nghỉ một đêm rồi sáng sẽ hay.
         Bây giờ trời đổ một trận mưa như ai cầm chĩnh mà trút. Sét đánh liên tiếp, khủng khiếp như một cuộc dội bom mạnh, và chớp soi sáng không phút nào tắt cái chòi tranh mà cột bằng đá ấy.
         Tâm lý của con người đang yêu lạ quá. Người con trai vẫn vui được như thường. Anh ta nói với giai nhân:
         ― Trước kia anh chỉ ước mong thấy ngày tận thế. Thiên hạ sẽ chết hết, trừ anh ra với người yêu của anh. Chừng đó, tha hồ mà yêu, vì ta chỉ còn sống để yêu thôi chớ không biết làm gì cả. Nay anh gần toại nguyện rồi đây. Tuy còn người sống sót là hai anh bạn nầy, nhưng hẳn hai bạn không ngăn trở ta yêu đương.
         Đến đó thì Thành ngủ thiếp đi vì quá mệt mỏi, không rõ cô cậu còn chuyện trò gì nữa hay không cho phỉ chí đã khỏi chết theo với loài người.
         Sáng ra một cảnh tang thương bày ra trước mặt họ. Cánh đồng ngập nước mênh mông như biển cả. Mái tranh, sườn nhà tre, trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, trôi lềnh bềnh. Xác người, lu hũ, giường ghế lẫn lộn trong các thứ ấy và xa xa một ngọn cây chọc thủng mặt nước, trông như rêu mới mọc lên khỏi mặt ao.
         Không có lấy một tiếng động, không nghe lấy một tiếng chim kêu, mà sóng cũng lặng nên cảnh vật hoàn toàn chết.
         Đất sụp chăng hay bom lại đổi thay vị trí của đại dương?
         Dầu sao, họ không sợ nữa. Cái chết lần chết mòn vì bị bỏ tù ở trên núi chỉ làm họ buồn thoang thoáng thôi chớ không khiến họ khủng khiếp như lúc bị nước đuổi theo sau.
         Ai nấy đều kêu đói. Người con trai bấy giờ mới nhớ sực lại cái bị mà anh ta mang theo lúc nhảy xuống xe.
         Đó là một cái túi may bằng bố xanh đựng gì không biết mà đầy no nóc.
         Anh ta vừa mở bị vừa nói:
         ― May quá, tôi còn đồ ăn lu bù đây!
         Nhưng nói xong câu ấy, mặt anh lộ vẻ ăn năn ngay, như vừa hớ một chuyện bởi lỡ lời.
         Tay anh ta mò rất lâu trong đáy túi rồi lôi ra một ổ bánh mì nhỏ xíu và một khúc dồi ngắn. Hắn mời:
         ― Đây, tôi còn được bấy nhiêu đây, mời các bạn đỡ lòng.
         Lời mời nầy vô ích. Nếu không có mặt cô gái thì họ đã áp giựt như người ta giựt phần trong các đám làm chay.
         Trưa hôm đó và mãi cho đến chiều không nghe chàng con trai nhắc đến vụ ăn uống nữa.
         Thành và anh tài xế cũng lạ. Khi sáng người ta đã nói: “Còn được bấy nhiêu đây” tức là bây giờ đã hết cả rồi, thật là rõ ràng, minh bạch, còn mong gì nữa.
         Thế mà hai người cứ dòm lom lom cái túi mà người con trai luôn luôn mang bên mình. Nếu hắn còn bánh giấu trong bị, thì đó là của sở hữu của hắn. Hắn nói dối là lịch sự lắm rồi, không trách hắn được. Thì làm sao mà Thành và anh tài xế cứ nghe tức ấm ách như của đó phải là của chung.
         Phải trong cơn túng ngặt, người có nên đãi người không, nhưng người không có lấy quyền gì mà xem thứ của đó là của chung? Đoàn thể nào cũng nghĩ như vậy và quyết định như vậy cả. Nhưng quyết định ấy rõ là áp bức của đoàn thể, không dựa vào công lý mà dựa vào sức mạnh của đoàn thể vậy.
         Họ càng tức thêm mà thấy hai kẻ si tình đi vắng chòi hai lượt trong ngày hôm đó, đúng vào hai giờ ăn trưa và chiều.
         Thì ra cô cậu đi trốn để ăn, quyết sống để tiếp tục nòi giống loài người.
         Thành nghiến răng, nắm chặt tay lại mà nói:
         ― Phải cướp lấy mới được, không thế chịu sự bất công nầy lâu hơn nữa.
         Anh tài xế cũng đập tay xuống đất mà hét:
         ― Tức chết đi thôi. Ta xúm lại bẻ cổ nó mà giựt cái bị ấy cho rồi.
         Nhưng không ai dám hành động cả vì thanh niên rất khỏe mạnh, sức đánh ngã hai người như chơi. Hắn sẽ tự vệ mà giết chết họ cũng nên.
         Qua ngày thứ hai, hai cô cậu cũng bỏ chòi đi ra ngoài bụi rậm. Nhưng đến chiều, cậu đi một mình, không thèm ngó tới cô. Cô đứng lên để đi theo cậu thì cậu day lại nói:
         ― Em đi làm gì, anh đi ngoài, kia mà!
         Giọng hắn xẳng và cọc cằn lạ, khiến cô gái sợ hãi đành ở lại.
         Ngày thứ ba Thành và anh tài xế, nghe bao tử bị cào dữ tợn. Một thứ nước gì như đang tiết ra trong ấy làm chua xót quá chừng cái dạ dày của họ.
         Cô gái đẹp thì coi mòi hết yêu đời. Đờn bà ít xấu chứng đói hơn đờn ông, nhưng dầu sao họ cũng là sinh vật, nên tuy không khó chịu ra mặt, họ vẫn có triệu chứng thiếu chất ăn.
         Nói có trời làm chứng, mặc dầu sự săn sóc của người con trai si tình có phần giảm, hắn vẫn chiều lụy cô gái, và hắn ái ngại rõ rệt những khi nhìn thấy bạn héo mặt vì đói bụng.
         Mỉa mai quá, cứ thỉnh thoảng hắn hỏi người yêu một lần:
         ― Em đói lắm hay không?
         Thì hẳn là em đói lắm. Nhưng anh hỏi mà chi nếu không vui lòng thỏa nhu cầu của em! Chắc cô bé nói trong bụng như thế.
         Sáng ngày thứ tư, mặc dù cựa mình đã không muốn nổi, Thành cũng ráng len lén nom theo người con trai khi thấy anh ta ra đi.
         Khi Thành vừa len lỏi tới trước một khoảng đất trống thì thấy người thanh niên ấy đang ngồi trên một tảng đá giữa đám đất. Thành núp sau một bụi cây để rình hành động chàng kia.
         Một cảnh tượng diễn ra, khiến Thành chán nản gấp mười lần lúc trước và ngã lòng thấy không còn hi vọng sống trên đời nầy: người con trai đẹp mã đang gậm một mẩu bánh mì khô. Anh ta vừa trợn trạo nuốt vừa ngó chừng lại phía chòi.
         Thành thở dài lẩm bẩm: thì ra trong những lúc cùng cực, thú tánh sơ khai của con người, chìm đi từ mấy muôn thế hệ, lại trồi trở lên, họ để cái ăn lên trên tất cả.
         Anh yêu em? Anh dám chết vì em? Có thể lắm. Nhưng đến cơn cùng, anh trốn em mà gậm mẩu bánh mì mốc nầy.
         Nụ cười nghiêng thành của em, đôi mắt ước lệ của em, đôi má mịn của em, tất cả các thứ ấy đều không bằng một vắt cơm thiu.
         Hy sinh cho em vào giờ phút nầy à? Để làm gì kia chớ? Để được em phục thêm một chút, yêu thêm vài phân? Không, cóc cần những cái ấy.
         Giờ đây việc cần là làm dịu cơn giận của bao tử. Việc cần là sống thêm được bao nhiêu ngày hay bấy nhiêu, theo bản năng ham sống.
         Rầu lòng, Thành lết về chòi. Thấy mặt mỹ nhơn, chàng buồn cười lắm, nín không được nữa. Con người ngọc nầy bây giờ thật quí không bằng một miếng cơm cháy!
         Cô gái sợ hãi khi nghe tiếng cười kỳ dị của anh. Cô tự hỏi: “Anh nầy đói quá rồi phát điên chăng?”
         Người con trai cũng đã về tới nơi. Đó là một người tỉnh giữa đám người mê, mê vì đói. Tuy háo ăn, hắn còn biết xấu hổ và thương xót. Hắn sượng sùng nhìn ba gương mặt hốc hác và bơ phờ, và đau đớn nhìn người yêu.
         Bỗng Thành chỗi dậy rồi hét:
         ― Vô nghĩa, cái gì cũng vô nghĩa cả! Thì ta không cần phải xem gì là phải, gì là quấy. Anh kia, hãy đưa cái bị đây, không thì chết bây giờ. Không đợi người có mặt làm gì nói gì cả, Thành giựt đại cái bị bánh của hắn. Hắn đạp cho Thành một đạp trúng hông, khiến Thành té lăn cù.



         Thành giựt mình tỉnh giấc mới hay đó là một cơn ác mộng dài. Chàng đang nằm cạnh một người bạn. Đôi bạn bàn cãi nhau về một vấn đề đến nỗi ngủ quên hồi nào không hay.
         Nhìn lại người bạn ngây thơ cứ cương quyết cho ái tình là cao cả hơn hết, Thành buồn cười quá. Chàng lẩm bẩm:
         ― Rất tiếc là chính mình đã mơ giấc mộng nầy. Phải chi nó thấy cảnh trong chiêm bao của mình, nó sẽ đổi ý ngay.


BÌNH NGUYÊN LỘC


BÁCH KHOA |  SỐ 24

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #116 vào: 14/03/2018, 17:53:10 »


                        Đẻ

            AI đến thăm nhà thương?
            Mới thấy người sinh đẻ,
            Có người vui được con,
            Có người buồn làm mẹ.

            LẮM bà sinh con ra,
            Miệng nở nụ cười hoa,
            Quà cáp bao cam, sữa,
            Thăm nom bao người nhà.

            LẮM bà sinh con ra,
            Ôm con, lòng xót xa,
            Ủ con không mảnh lót,
            Thăm con không người cha!

            CẢNH ấy cũng còn khá,
            Bao cảnh còn cực nữa:
            Con đỏ mang đi cho,
            Mẹ vội tìm ở vú!

            Ôi! cái đời ở vú,
            Thân người, kiếp bò sữa!
            Vắt ruột nuôi con người,
            Con mình đem bỏ chợ!

            CẢNH đời bao đau lòng,
            Chuyện đời buồn mung lung…
            Sinh con là việc mừng,
            Mà lắm người không mong!!


                                     Saigon, 1957
                                     ĐÔNG XUYÊN
                                     (Trích “Thuyền Thơ”)



BÁCH KHOA |  SỐ 24

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #117 vào: 17/03/2018, 23:13:16 »


BÁN NGUYỆT SAN BÁCH KHOA
____ ₪₪₪ ____
báchkhoa
Lá thư tòa soạn

BÁCH-KHOA ra mắt các bạn đến hôm nay là đúng một năm.
         Buổi đầu cũng như hiện nay, Bách-Khoa không có tham vọng vạch sẵn một đường lối biên khảo hay sáng tác nhất định, mà chỉ mong được hợp tác với tất cả các bạn đang “băn khoăn vì hiện tại nhưng tin tưởng lai và quyết tâm hành động”. Hợp tác để cùng nhau làm những việc gì, dù lớn dù nhỏ, miễn là lợi ích cho nước nhà, hợp tác để cùng nhau góp những ánh lửa bé rải rác bốn phương, nhập lại thành cây đuốc, hợp với trăm ngàn cây đuốc khác, làm sáng tỏ thêm đoạn đường mà dân tộc ta đương tiến bước.
         Với chủ trương trên, trong một năm qua, Bách-Khoa đã sẵn sàng tiếp nhận mọi ý kiến xây dựng, nhằm mục đích “đóng góp một chút công, một chút lòng thành cùng toàn thể, trong công cuộc chấn hưng đất nước”, và cũng nhờ đó Bách-Khoa đã một phần nào làm tròn nhiệm vụ diễn đàn chung cho những người thiết tha với các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
         Phải chăng nhờ thế mà Bách-Khoa đã được các bạn đọc gần xa, trong nước cũng như ngoài nước gửi về rất nhiều bài vở cùng thư từ khuyến khích. Và số bạn của Bách-Khoa mỗi ngày một tăng chứng tỏ những tấm lòng thông cảm với chủ trương của Bách-Khoa mỗi ngày mỗi thêm.
         Chính nhờ những ý kiến của các bạn xa gần mà Bách-Khoa được biết rằng với trên hai mươi số vừa qua, Bách-Khoa đã thâu lượm được vài kết quả đáng lưu ý: xuất bản đều đặn; thành tâm nêu ra những biện pháp cụ thể, nhất là trên lãnh vực kinh tế; bài vở tương đối đứng đắn, mỗi ngày mỗi dồi dào phong phú hơn; khai thác cái hay cái đẹp trong kho tàng văn hóa Đông phương mà đồng thời cũng không bỏ qua việc sưu tầm những cái mới, cái lạ của nền văn minh Âu-Mỹ… Nhưng bên cạnh những ưu điểm đó, Bách-Khoa còn nhiều khuyết điểm: nội dung khô khan, các bài khảo luận diễn đạt đôi khi khó hiểu, chưa thỏa mãn được đòi hỏi của mọi tầng lớp nhân dân, hình thức quá nghiêm trang nên thiếu hấp dẫn, ấn loát còn để lầm lỗi nhiều khi đáng tiếc.
         Những lời phê phán trên đây rất xác đáng, Bách-Khoa xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn và ước mong số đặc biệt ra mắt các bạn hôm nay sẽ chứng minh nỗ lực của Bách-Khoa cải tiến về mọi mặt, cũng như thiện chí của Bách-Khoa tiếp nhận mọi ý kiến phê bình xây dựng, cố gắng phát triển các ưu điểm, khắc phục lần lần các khuyết điểm, để đền đáp trong muôn một thịnh tình của các bạn thân mến.


⎎⎎⎎

BÁCH-KHOA ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, biết rằng tiếng nói của mình còn nhỏ bé, vang âm giữa đồng bào còn mơ hồ ngắn ngủi, biết rằng trở lực về mọi mặt có rất nhiều và còn mãi mãi, nhưng với thiện chí và quyết tâm của một số anh em buổi đầu, Bách-Khoa dám mạnh dạn tiến bước, chính vì Bách-Khoa đã nghĩ rằng:
         Cách đây hai mươi tám năm, nhà ái quốc Nguyễn Thái Học, với một lực lượng non yếu, nếu không dám cùng các đồng chí của mình đem xương máu mà xây thêm một nhịp cầu dù là nhỏ bé, để góp phần xây dựng cái cầu vĩ đại cho dân tộc ta bước sang mảnh đất Độc lập, thì có lẽ ngày nay những tự do dân chủ đối với ta còn xa vời. Giết được vài chục tên thực dân, trừ được một số người Việt phản quốc, kể ra về phương diện quân sự thì không thấm vào đâu, so với bộ máy an ninh của kẻ thống trị. Nhưng rất vĩ đại là lòng dũng cảm của con người đã dám ra tay hành động, tuy sức còn yếu mà mãnh liệt tin tưởng ở ích lợi và thắng lợi của công việc mình theo đuổi. Tấm gương anh hùng đó đã thúc đẩy bao nhiêu người dân Việt sau này không ngần ngại đem tài năng và sinh mạng dâng cho đất nước.
         Trong hoàn cảnh hiện nay, hẳn là mọi việc chưa được như ý muốn của toàn dân, chắc chắn việc phân phối trách nhiệm chưa được hoàn toàn thích hợp với tài đức của mọi người trong nước, chắc chắn bất công còn nhiều… Muốn cho tương lai tươi đẹp, gương của Nguyễn Thái Học vạch cho ta rõ, chỉ có một con đường là lăn mình vào công việc và dũng cảm gánh lấy trách nhiệm Hành động không phải vì tự cho mình là tài cao đức lớn, nhưng vì thành thực và mãnh liệt tin tưởng nơi lợi ích ở phần đóng góp của mình. Trên bước đường phục vụ cho đất nước, nếu những người đầy thiện chí cùng được gặp gỡ nhau, cùng có dịp đoàn kết với nhau, tất sẽ thấy chan hòa một niềm phấn khởi vô biên và sẽ tạo thành một sức mạnh hùng hậu.
         Trên căn bản nhận định đó, Bách-Khoa hi vọng qua năm thứ hai này, sẽ được nhiều bạn “đồng thanh tương ứng” hơn nữa, để Bách-Khoa chóng tiến tới chỗ hoàn hảo, làm phản ảnh trung thành nỗi băn khoăn, niềm tin tưởng và lòng cương quyết của tất cả các bạn.


BÁCH-KHOA


SỐ ĐẶC BIỆT:  KỶ NIỆM ĐỆ NHẤT CHU NIÊN |  SAIGON  1958

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #118 vào: 17/03/2018, 23:18:28 »
BÁCH KHOA |  SỐ 25-26  [15-1-1958 |  168 trang]  giá: 20$

⎎  Số đặc biệt    Kỷ niệm đệ nhất chu niên 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Lá thư tòa soạn |  1-4
Huỳnh Văn Lang |  Một chính sách hối đoái ở Việt Nam |  5-23
Hoàng Minh Tuynh (phụng dịch) |  Thông điệp của Đức Giáo Hoàng: Giáo hội thầm lặng |  24-29
Nguyễn Đồng |  Tự lực văn đoàn |  30-40
Quang Huấn |  Syrie, bài học lịch sử về kỹ thuật cướp chính quyền… |  41-45
Bách-Khoa |  Liễu Tôn Nguyên tiễn người đi làm quan |  45
Nguyễn Hiến Lê |  Một văn thể chưa phát đạt ở nước nhà: Văn thể hùng vĩ |  46-52
Nguiễn Ngu Í |  Hồ Quí Ly, một gương thất bại và đau thương [II] |  53-64
Phạm Hoàng Hộ |  Nguồn gốc loài người |  65-70
Cô Thoại Nguyên |  Một tấm gương trong: Bà Phan Bội Châu (1866-1936) |  71-75
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Thơ mừng báo Bách-Khoa |  76
Nguyễn Anh Linh |  Luật bành trướng của thân thể trẻ em |  77-82
Bách-Khoa |  Uy Hậu với sứ nước Tề |  82
Trần Văn Khê |  Âm nhạc Việt Nam |  83-88
Nguiễn Hữu Ngư |  Thi sĩ vốn xưa kia là gió (thơ) |  89
Võ Phiến |  Mưa đêm cuối năm |  90-107
Thuần Phong |  Con chó theo quan niệm ta trong văn thơ |  109-114
Hoàng Ngọc Liên |  Lá thư xuân (thơ) |  115
Lê Văn Siêu |  Khâu đít chuột (truyện vui) |  117-120
Quảng cáo |  108, 116, 121-122
Mặc Thu |  Hội trăm hoa |  123-129
Yã-Hạc & Trinh Nguiên (dịch) |  Trường hận ca (thơ) \ Bạch Cư Dị |  131-139
Bình Nguyên Lộc |  Ba con cáo (truyện) |  141-150
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [VIII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  153-156
Quảng cáo |  130, 140, 151-152, 157-168


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #119 vào: 18/03/2018, 19:14:42 »


          Mừng kỷ niệm đệ nhất chu niên tạp chí Bách-Khoa

L.T.S.– Bách-Khoa đã được vinh dự có sự hợp tác một năm nay với nhà thơ lão thành:
Cụ Á-Nam Trần Tuấn Khải, nay lại được thêm vinh dự, vì quá yêu Bách-Khoa, Á-Nam
Tiên sinh lại gửi tặng cho một bài hát nói nhân dịp kỷ niệm đệ nhất chu niên Bách-Khoa.
            Tự xét chưa được xứng đáng với lời khen nồng nhiệt trong thơ của Tiên sinh,
chúng tôi cũng cứ đăng bài hát nói trên vì nghĩ: khiêm tốn không bằng vâng mệnh!

                                                                                           ― BÁCH-KHOA


                                              MIỄU
                      Lợi danh tranh cướp tung đời,
                      Đường hay lẽ phải ai người ngó qua?
                      Đáng mừng riêng nhóm BÁCH-KHOA:
                      Trong trường ngôn luận vững đà thanh cao.

                                              Hát nói
                      BÁCH-KHOA Bán nguyệt san chu niên kỷ niệm,
                      Giữa làng văn riêng chiếm một phương châm.
                      Đem học tài kinh nghiệm sánh lương tâm,
                      Mong rằng vạch rõ lỗi lầm cùng sửa chữa.
                      Bút giới quyền hành vô cố ngã,
                      Luận đàn thao túng hữu kinh luân:

                      Nào văn chương chính trị, nào xã hội nhân quần.
                      Từ vật chất đến tinh thần cùng đổi mới.
                      Chuông cảnh tỉnh ra công khua gọi,
                      Đã năm trường vang dội khắp gần xa.
                      Đủ các môn xây dựng nước non nhà,
                      Trên đài múa xông pha cùng thế giới.
                      Biển khoa học vạch thêm đường lối mới,
                      Nghiệp phú cường dong duổi há thua ai?
                      BÁCH-KHOA trường thọ muôn đời…


                                     Sau ngày Nguyên Đán Dương lịch
                                     Á-Nam TRẦN TUẤN KHẢI viết tại Thảo lư Bình Thái Sài thành
                                     để lưu tặng BÁCH-KHOA Bán nguyệt san



BÁCH KHOA |  SỐ 25-26