Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 15081 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #150 vào: 11/04/2018, 22:39:28 »


                      Những con đường
                                                   Tặng một con đường

            TÔI yêu mến những con đường biết mấy,
            Những con đường cũ kỹ đã bao năm.
            Bờ đã vỡ theo dòng đời cuộn chảy,
            Mà nhân gian không đoái tới hồn câm…
            Tôi yêu mến những con đường biết mấy,
            Đã cùng tôi kết chặt nghĩa tri âm.

            Họ ôm ấp một cõi lòng vô số,
            Giăng muôn tay ham hố đến muôn miền.
            Ghi ức triệu dấu chân từ vạn cổ,
            Họ quặn mình trong thương nhớ triền miên…
            Họ ôm ấp một cõi lòng vô số,
            Không bao giờ nguôi được khát Vô Biên.

            Họ u uất bao nhiêu niềm thống khổ:
            Khi rét run theo từng trận phong sương,
            Khi đau xé những trưa hè lửa đỏ,
            Và bơ vơ hiu quạnh giữa đêm trường…
            Họ u uất bao nhiêu niềm thống khổ,
            Mà không than với khách qua đường.

            Họ ban bố một Yêu đương bất tận,
            Vẫn còn nguyên như vào thuở sơ sanh.
            Mơn bóng lá trên những hồn đau đớn,
            Họ thầm hun những gót giậm lên mình…
            Họ ban bố một Yêu đương bất tận,
            Không cần ai trả lại chút ân tình.

            Tôi yêu mến những con đường biết mấy,
            Những con đường nằm lặng để người đi.
            Họ vĩnh viễn sống cuộc đời phụ rãy,
            Chôn u sầu trong cát bụi vô tri.
            Tôi yêu mến những con đường biết mấy,
            Bằng một tình chan chứa vị mê si.


                                         TRƯƠNG UẨN NGỌC


BÁCH KHOA |  SỐ 31

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #151 vào: 11/04/2018, 23:41:15 »
BÁCH KHOA |  SỐ 32  [1-5-1958 |  100 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Một bài học cho Việt Nam |  3-9
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít |  10-14
Trần Hồng Hừng |  Ngày lễ Quốc tế Lao động |  15-18
Phạm Duy Lân |  Công ty bảo hiểm quốc gia |  19-24
Tiểu Dân |  Liên Hiệp Quốc trong giờ trách nhiệm |  25-30
Nguyễn Huy Khánh |  Lược dẫn truyện Thủy Hử |  31-36
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Thống nhất “Thoại” |  37-41
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn: Bách-Khoa số 1 đã được in lại |  42
Tân Fong Hiệb |  Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) |  43-56
Bách-Khoa |  Phương pháp sinh tài của Quốc gia |  57
Phan Lạc Tuyên |  Những hoàng hôn tím (thơ) |  58-59
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 31 và 32 |  60
Cô Liêu |  Chung quanh tô phở |  61-66
Ngụy Tần Thương |  Vọng bốn phương (thơ) |  67
Quảng cáo |  68
Yã-Hạc & Trinh Nguiên (thuật) |  Ánh trăng trong lòng đá |  69-76
Bách-Khoa |  Thế nào là lấy “Nghĩa” làm lợi cho Quốc gia? |  76
Nguyễn Hiến Lê |  Thomas Alva Edison |  77-82
Bách-Khoa |  Đường lối phải đi để nắm được dân |  82
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XIV] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  83-86
Quảng cáo |  87-100


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #152 vào: 12/04/2018, 23:19:49 »


Vấn đề “THOẠI” và vài ý kiến nhỏ về việc:
Thống nhất “THOẠI”

Lời nói đầu.– Bài này vốn là hai chương trong tập cổ văn, có tánh cách giáo khoa, tập “Chiêu hồn” và “Tiếc thay duyên Tấn phận Tần” của Nguyễn Du do chúng tôi giới thiệu, chú thích và bình giải; chúng tôi lược bỏ vài câu, đôi đoạn cho hạp với một bài báo. Và bài này đã được rao ở Bách-Khoa từ số 1, ngày 15-1-1957 (nghĩa là cách đây đến 15 tháng), và sẵn sàng để đăng vào số 2. Nhưng lại không đăng vì nhà xuất bản tỏ ý muốn giữ “hương vị đầu mùa” cho tập sách: sách sắp in. Chúng tôi chiều theo ý muốn của nhà xuất bản. Song mãi đến nay, vì nhiều lý lẽ, sách kia vẫn còn nằm trong bản thảo, mà chúng tôi thấy có bổn phận cho ra mắt những ý kiến mình về một vấn đề liên quan mật thiết đến văn học và giáo dục nước nhà. Nhà xuất bản cũng thấu hiểu “nỗi lòng” của chúng tôi, nên phá lệ nhà mình. – Chúng tôi xin có lời cám ơn; và mong rằng những ý kiến dưới đây, tuy phải để trên 15 tháng mới ra mắt độc giả, cũng chữa lỗi thời và mong sẽ được nhiều tiếng vang nhất là trong giáo giới.

○ ○ ○

I.– Vấn đề “THOẠI”
         Tháng sáu dương lịch năm nay (1956), vụ kiện Trê Cóc của thời đại xảy ra vừa đúng ba mươi năm. Một phần ba thế kỷ đã qua mà vụ kiện cứ kéo cù cưa, chưa ngả ngũ ra sao cả. Đó là vụ tìm cha và giành cha cho bản dịch “Chinh phụ ngâm”.
         Tất cả những nhà học giả hoạt động trong vụ nầy đều có công lớn đối với văn học nước nhà, và họ đều đáng cho ta kính phục vì công phu to của họ và sự thành thật của họ.
         Nhưng quanh vụ kiện, nổi lên hai điều đáng tiếc.
         Điều thứ nhất là những đám “đánh hôi”. Đó là những bài báo viết để binh vực phe nầy, đả kích phe nọ, viết với thiên kiến rõ rệt khiến cho lòng người, đang hoang mang vì một vụ rắc rối, càng mờ thêm vì nhân dục.
         Điều đáng tiếc thứ nhất kéo theo khả hận thứ nhì, tai hại rất lớn, là: mảng bàn cãi về tác giả của bản dịch, người ta đâm ra quên lửng trọng tâm chánh của mối lo nghĩ. Làng văn quên, giáo giới cũng quên, còn học sinh và sinh viên thì đành phải điên đầu.
         Việc quan trọng bị bỏ quên ấy là vấn đề “thoại”.
         Thoại là gì?
         Ông Hoàng Xuân Hãn đã mượn danh từ Nhật Bổn ấy để dịch tiếng “version” của Pháp mà trước kia ta tạm dịch bằng danh từ bản, không đúng.
         “Version” là gì thì chắc ai cũng biết, nhưng chúng tôi cũng xin giải sơ lược ra đây:
            a) Thường thường những bài văn truyền khẩu hay bị sửa đổi, nên mỗi người đọc bài văn ấy mỗi khác, tức là mỗi người có mỗi thoại riêng.
            b) Những áng văn cổ, bị “tam sao thất bổn” nên cũng lưu lại nhiều thoại khác nhau, tùy theo người sao. Trường hợp thứ nhì nầy xảy ra gần như là kinh niên ở xứ ta vì cái tật bất trị của ta là ưa sửa văn người khác với tham vọng làm hay hơn bổn cũ.
            c) Một tác phẩm được xuất bản rồi, lắm khi chính tác giả nó sửa lại, rồi cho tái bản. Mặc dầu không bị “tam sao”, tác phẩm ấy cũng có hai thoại.
         Vậy thoại là lối chép một văn phẩm (theo định nghĩa của ông Hoàng Xuân Hãn).
         Biết chắc ai là tác giả hoặc dịch giả của một văn phẩm cũng là điều hay thật đó. Nhưng điều hay ấy chỉ hay một cách tương đối thôi.
         Trong khi một áng văn có hơn chục thoại, thì trọng tâm thật của mối lo nghĩ ta phải là thỏa thuận với nhau để chọn lấy một thoại độc nhứt cho khỏi rối trí người đọc và khổ sở thêm học sinh.
         Hiện nay tác phẩm cổ nào của ta cũng có nhiều thoại. Lấy quyển “Chinh phụ ngâm” làm thí dụ.
         Tất cả các bản in quốc ngữ đều khác nhau, không khác nhiều, cũng khác vài mươi chữ.
         Tai hại của sự bất nhất kia là đây:
         Học sinh trường A học:
                  Gieo Thái Sơn nhẹ tợ hồng mao,

         Học sinh trường B học:
                  Gieo Thái Sơn bằng độ hồng mao,

         Nếu ông giám khảo lại hỏi nghĩa chữ nhữ trong thoại:
                  Gieo Thái Sơn nhẹ nhữ hồng mao,

         Thì có phải là chết cử tử hay không?
         Trong khi ấy người lớn muốn giải buồn, người thì ngâm:
                  Nước có chảy mà phiền chẳng giã,
                  Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.


         Kẻ lại ngâm:
                  Nước có chảy mà phiền khôn rửa,
                  Cỏ có thơm mà nhớ khó quên.


         Kẻ khác lại:
                  Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa,
                  Cỏ xanh thơm, dạ nhớ không quên.


         Có phải là lộn óc người ta hay không?
         Giá trị thật của một bản in cổ văn là thoại. Bình chú, giảng luận, v.v… chỉ là phụ thuộc thôi, dẫu bản in ấy dành riêng cho học sinh vậy.
         Nên chi, trong khi chưa có thoại thống nhất, những bản in cổ văn nào được hiệu đính một cách khoa học, thì bản ấy được tín nhiệm. Nói rõ là: hiệu đính một cách khoa học, chớ hiệu đính hàm hồ thì cũng chẳng còn giá trị gì.
         Nếu vì lẽ gì mà người soạn sách không tiện hiệu đính, sách của họ cũng vẫn được tín nhiệm nếu họ chịu nói rõ xuất xứ của thoại mà họ dựa theo.
         Cho dẫu soạn giả lầm, dùng thoại không đúng, người đọc cũng tha thứ được, vì nhờ thế, ít ra người đọc cũng được biết chắc rằng thoại họ đang đọc là sai.
         Những bản in không đả động lai lịch của thoại, bị nghi ngờ và làm cho người đọc hoang mang, khó chịu vô cùng.
         Và có nói rõ căn nguyên của thoại mình, các học giả mới cân nhắc mà thống nhất thoại được, việc thống nhất nầy cần thiết và cần kíp biết bao, như ta vừa thấy trên, thấy sự lộn xộn do tình cảnh nhiều thoại gây ra.

II. – Vài ý kiến nhỏ về việc thống nhất “thoại”
         Thống nhất thoại phải là một công việc tập thể của nhiều khuynh hướng để tránh áp bức của một bản in nào đó.
         Và quyết định của ban nghiên cứu thống nhất phải được bộ Quốc gia Giáo dục nhìn nhận và toàn thể đồng bào biết đến. Nếu không, các trường sẽ tiếp tục dùng nhiều thoại khác nhau, và quyết định trên không được thi hành.
         Văn nghệ sẽ tự do hết sức, ai muốn tin theo thoại nào thì tin, ai thích thoại nào cứ đọc, nhưng bộ Giáo dục không thể rộng rãi như vậy được, vì có hại cho học sinh. Các trường sẽ chỉ dùng những bản in nào mà thoại là thoại vĩnh viễn, từ quyết định của ủy ban trên mà ra.
         Ủy ban nghiên cứu thống nhất thoại sẽ làm việc với tinh thần nào và theo phương pháp nào?
         Trước hết, xin loại trừ nguyên thoại ra không nói đên nó nữa, vì nếu còn nguyên thoại thì đâu có chuyện thống nhất, mà sự còn ấy, thật ra, không có.
         Ủy ban phải hết sức khách quan, không vì thích riêng thoại nầy hay thoại nọ mà binh vực nó.
         Ủy ban cũng không được phép binh vực thoại hay. Lý lẽ hay đứng không vững ở đây. Thoại X hay hơn thoại Z, đành là thế, nhưng thoại X có phải là thoại gần nguyên thoại nhất hay không? (Tức là ít bị sửa chữa nhất, tức là của tác giả nhất.)
         Trừ phi khi ta nhìn nhận nguyên tắc sửa áng văn một cách tập thể, thì ta muốn sao cũng được, chớ nếu còn nhìn nhận tác giả áng văn ấy, thì áng văn là của tác giả, dầu có thoại mới hay hơn mười mươi cũng mặc, không dùng đến được.
         Mục đích ta là tìm ra áng văn của ông A, ông B chớ có phải làm áng văn tương tợ và hay hơn đâu.
         Trên đây là tinh thần làm việc của ủy ban.
         Còn phương pháp làm việc thì cố nhiên là phải khoa học rồi, không còn ai chối cãi nữa được.
         Nhưng cũng thỏa thuận nhau về cái tĩnh từ khoa học nầy.
         Thế nào gọi là khoa học?
         Một bản Nôm giấy cũ, có thể gọi là rất cổ được chăng? Bề ngoài của sự cũ, mới, thật là gạt gẫm. Nếu không có phương pháp cụ thể đo mực cũ của nó thì cũng không thể xét đoán mà không sai.
         Tất cả công việc của ủy ban, có thể chia ra năm phần:
            a) Tìm ra cho thật nhiều thoại.
            b) Tìm xuất xứ các loại ấy.
            c) Định trước sau của các thoại, rồi lấy thoại cổ nhất.
            d) Hiệu đính thoại cổ nhất nếu có thể được.
            e) Nếu không thể hiệu đính, thì dùng nguyên vẹn cái thoại cổ nhất ấy, tức là thoại gần nguyên văn nhất.
         Cả bốn công việc đầu đều rất khó. Nhưng khó nhất là hiệu đính.
         Vì làm cho xong, không khó, mà khó là làm cho khỏi lầm.
         Thường thường ta thấy vài học giả hiệu đính “Chinh phụ ngâm” hay chua ở dưới:
         “Chúng tôi thấy chữ X sai nghĩa với Hán văn, nên đổi lại là Y”.
         Làm như vậy tức là biến hình sự thật rồi.
         Chữ X quả sai nghĩa thật, nhưng dịch giả đã dịch sai như vậy thì trên đời nầy không một ai có quyền sửa đổi cả. (Trừ phi khi nào bản dịch ấy là một công trình tập thể.) Ta phải dùng nguyên vẹn bản dịch, hay là chê nó dở mà không dùng, chỉ có thế thôi, ta không quyền sửa đổi một cái phết nhỏ. Nếu ta giỏi hơn thì cứ việc dịch lối khác, và người đời sẽ truyền tụng bản dịch của ta.
         Có nhà học giả lại dung hòa nhiều bản khác nhau, đúc lại làm một thoại, lấy chữ hay ở bản nầy ráp với chữ hay ở bản khác.
         Làm như thế càng đi xa nguyên thoại hơn bản nào hết, và tức là một mình dám đảm đương công việc tập thể của nhiều thế hệ.
         Công trình tập thể cũng hay. Nhưng tác giả không cho phép bao giờ, ta không nên làm. Phương chi, ta có một mình, chớ không phải đông người của nhiều thế hệ, sao cho đủ thẩm quyền.
         Lối làm việc ấy rất tai hại vì nếu ta có quyền sửa, thì người sau ta cũng có quyền sửa, và càng ngày càng thêm lắm thoại ra.(1)
         Nếu ta không trồng một hàng rào bảo vệ mấy nguyên tắc nói trên thì ngày kia các bản cổ văn sẽ đi xa vạn dặm.
         Người hiệu đính không nên vượt ra khỏi phạm vi của mình. Nếu không có bằng cớ rằng bản văn chép sai thì không được sửa chữa gì cả, dầu gặp câu văn dở, câu dịch sai, đáng cho ta bực mình cũng phải ôm bụng chịu.
         Trên đây chỉ là ý kiến của chúng tôi, mong được nhiều người bài bác, và tha thiết mong bài nầy sẽ được hân hạnh châm ngòi phong trào thống nhất thoại.
         Phong trào nầy cấp bách hơn cả phong trào thống nhất thổ âm, thổ ngữ.
         Xin nhấn lại là công việc phải tập thể. Cái tập thể nầy sẽ đánh đổ được cái tật tập thể sửa danh văn của cổ nhân, cái tật bất trị nó đã làm khổ trí ta ngày nay.


Thủ đô nước Việt, cuối mùa mưa năm 1956
BÌNH NGUYÊN LỘC & NGUIỄN NGU Í

_______________________________________
(1) Người ta cứ viện lẽ rằng cổ văn là của chung rồi mạnh ai nấy nhuận sắc. Đành rằng đó là của chung dân tộc. Nhưng chỉ chung đến mực nào đó thôi. Mặc tình cho ta in, ta sử dụng, không ai đòi hỏi bản quyền gì cả. Bấy giờ ta lại áp nhau mà nhuận sắc thì thà là đừng để tên tác giả còn hơn, xem nó như là ca dao vậy.
      Chúng tôi tưởng cần chép lại những dòng nầy của Vũ Ngọc Phan:
      “Đến nay chưa có quyển quốc văn hợp tuyển nào biên rõ những bài văn cổ trích ở đâu ra, ở sách in hay ở sách viết, sách chữ nôm hay sách quốc ngữ. Ngày nay là lúc ta cần phải biết những bài văn cổ xuất xứ ở bản nào để so sánh, kiểm điểm, họa may mới giữ cho đúng được nguyên văn”.
      Mười lăm năm sau, đọc lại những dòng trên đây của tác giả “Nhà văn hiện đại”, chúng ta thấy điều nhận xét của tác giả vẫn còn đúng, và điều tác giả mong mỏi cũng vẫn còn là đều chúng ta mong chờ.


BÁCH KHOA |  SỐ 32

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #153 vào: 14/04/2018, 22:03:46 »


                 Những hoàng hôn tím
                                               Mến gửi Mạc Ly Châu
                                               PLT


            TA bước đi…
            Giữa lòng ngày nở bóng đêm thẳm sâu
            Từng bậc thang nắng gục ngã u sầu
            Ánh điện đường hầm ngái ngủ rã rời
            Cặp mắt bao chuyến tàu không nghỉ ngơi
            Đường đan mạch máu trong tim Nữu Ước
            Bâng khuâng hoàng hôn trên bước du khách
            Khe khẽ nhìn nhau ngỡ ngàng
            Như đã quen từ xa xăm
            Nhìn Em màu trời đại dương

            Hổ phách mùa thu lá vàng
            Có tiếng ca ngợi đời tươi thắm
            Lửa hồng nhạc biển tím mặt trời
            Hôm nay muôn ngả đường đi
            Có bước chân Ta và Em
            Không gặp nhau trên ga đường hầm lạnh lẽo hoàng hôn
            Đã cùng nhìn nhau huyền diệu đẹp ngã tư linh hồn
            Làn môi mặt trời và lời thơ Whitman:

           “Hãy ở bên Ta trọn ngày hôm nay
            Em có trọn vẹn lời Thơ-Muôn-Đời
            Em có kho tàng Trái-Đất Mặt-Trời…”
            . . . . . . . . . . . . . .
            Em hẹn một trời tuyết rơi
            Có áo thông xanh như cuộc đời
            Để đẹp những mùa Xuân hồng tươi

            Rời nhau trong giải đường hầm tăm tối
            Từng con tàu lạnh lùng không chờ đợi
            Ôi sợi đường tầu bó chặt tim người
            Du khách – Có hoàng hôn trên nụ cười


                                            Nữu Ước, Chiều lạnh
                                            Cuối năm 1957

                                            PHAN LẠC TUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 32

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #154 vào: 14/04/2018, 23:36:23 »


                   Vọng bốn phương

            ĐÊM thu nguyệt lạnh dãi ngoài song,
            Sao nhạt chìm châu, lạnh đáy lòng!
            Ôi! những chân trời không giới hạn,
            Những đường vun vút, những con sông…

            Ta ở phương này vọng bốn phương,
            Có ai bắt được ý sầu thương,
            Nói lên một tiếng ngoài xa ấy,
            Làm dấu đêm trăng tiếng đoạn trường.

            Núi, đồi, rừng, biển dưới trăng thu,
            Hồ lặng sương khuya tỏa mịt mù,
            Có nghĩ gì không trong tịch mạc?
            Có chờ năm tháng, có tương tư?

            Nghĩ ngợi xa miền xa cách nhau,
            Ngàn đời ta đã sống đâu đâu?
            Không gian rộng lắm, trăng thu rộng!
            Ai có cùng ai một tứ sầu?


                                           NGỤY TẦN THƯƠNG
                                                   Thu, 1948



BÁCH KHOA |  SỐ 32

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #155 vào: 15/04/2018, 23:35:51 »


Thomas Alva Edison
Người có 2.500 bằng phát minh

CÁCH ĐÂY CHÍN MƯỜI NĂM, một nhật báo nọ đăng tin một nhà giáo ở Nam Việt kiện người cha một học sinh của ông. Cậu này làm biếng, lại nghịch ngợm, bị thầy học rầy và bắt quỳ gối, mắc cỡ với bạn, uất ức về mách ba, và ba cậu – mà địa vị trong tỉnh hình như cao hơn ông giáo một chút – nổi cơn lôi đình lên, dắt cậu con lại nhà ông giáo để mắng ông giáo, làm ông này mất mặt. Nhà giáo đưa đơn kiện, và vị thẩm phán, hồi đó còn là người Pháp, xử ông giáo thắng, lại tặng thêm cho người cha nóng tính nọ một bài luân lý về phép cư xử với thầy học của con. Tờ báo đó kết luận đại ý như vầy: Dân tộc mình nổi tiếng là biết trọng ông thầy, nên có câu “quân, sư, phụ”; mà bây giờ có kẻ để cho người Pháp dạy lại bài mình học kính thầy đó thì thực là xấu hổ quá.
         Chắc bạn cũng trách người cha đó là lỗ mãng, vô lý, mười phần có lỗi cả nữa. Nhưng xin bạn đọc một câu chuyện tương tự dưới đây, xảy ra ở Mỹ cách nay khoảng một thế kỷ, vào năm 1854.
         Bạn biết tên Edison chứ, nhà phát minh kỳ tài sáng chế ra đèn điện và máy hát? Hồi bảy tuổi, ký tính ông rất kém, học cái gì quên cái đó, luôn luôn “đội sổ”, ở trong lớp thì hoặc mơ mộng, hoặc nói chuyện làm cho thầy giáo thất vọng. Nhiều bác sĩ coi đầu ông vừa lớn dị thường, vừa móp, đoán rằng ông sẽ đau óc.
         Một buổi chiều, ở trường về, ông hỏi bà mẹ:
         ― Má, thế nào là “trật đường rầy”, má?
         Bà cụ phì cười:
         ― Một chuyến xe lửa trật đường rầy, mà con không hiểu sao?
         ― Hiểu chứ, má; nhưng một đứa nhỏ trật đường rầy là nghĩa làm sao?
         ― Nghĩa là nó hơi khùng, chứ làm sao?
         ― Và thế nào là “không bình thường” má?
         ― Không bình thường? Nghĩa là… Nhưng con nghe ai nói vậy?
         ― Chiều nay ông Thanh tra tới thăm trường, má ạ. Ông có hỏi thầy về các học trò. Con thấy thầy chỉ con cho ông Thanh tra, rồi bảo rằng con “trật đường rầy”, con “không bình thường” như những trò khác, và dạy dỗ con chỉ là tốn công vô ích.
         Tức thì bà cụ la:
         ― A, thầy giáo bảo con như vậy, hả? Đi ngay với má, má lại làm một trận cho thầy ấy biết.
         Và bà cụ, mắt long lên, nắm tay cậu con lôi đi, hùng dũng tiến lại nhà ông giáo. Tới nơi, bà hỏi:
         ― Thầy nói những gì với ông Thanh tra về thằng Al của tôi – Edison chính tên là Thomas Alva Edison, trong nhà thường gọi là Al – tôi đã biết hết. Thầy bảo nó là “trật đường rầy”; tôi truyền đời cho thầy hay: có kẻ nào trật đường rầy thì là thầy, chứ không phải nó. Tôi chỉ cầu cho thầy thông minh bằng nửa nó thôi.
         Rồi bà lớn tiếng:
         ― Thầy nhớ kỹ, một ngày kia người ta sẽ nhắc đến tên tuổi nó.
         Ông giáo nín thinh.
         Nói xong, bà bảo cậu con:
         ― Thôi, từ nay, con khỏi tới trường nữa, ở nhà má dạy cho. Và quay gót bước ra.
         Bà đã giữ đúng lời đó. Bà dạy con lấy và Edison sau thành một thiên tài bực nhất thế giới.
         Tôi cũng nhận rằng bà cụ “Trương Phi” quá, nhưng bảo bà là vô lý, thì tôi không dám. Nếu bà cho lời ông giáo là phải, mà rầy con, bắt con tiếp tục đi học, thì có lẽ Edison đã “trật đường rầy” thật, mà ngày nay chưa chắc chúng ta đã có đèn điện để dùng. Và tôi tự hỏi nếu cậu bé đã gây ra vụ kiện tôi kể ở trên, sau này thành một vĩ nhân, thì lời phán đoán của chúng ta về hành vi của thân phụ cậu có thay đổi chút nào không nhỉ?



         Thân mẫu Edison có tánh Trương Phi như vậy một phần do ông nội bà là nhà cách mạng cầm quân dưới thời Washington. Chồng bà cũng có máu hảo hớn. Từ mấy đời trước, giòng Edison vẫn nổi danh là cương cường, bất khuất. Quê quán ở Hòa Lan, tổ tiên Edison làm nghề đánh cá, có óc mạo hiểm, qua Gia Nã Đại lập nghiệp ở tỉnh Vienne.
         Thân phụ Edison là cụ Sammuel cùng với vợ mở một quán cà phê ở đó, tụ hợp các người chống chính quyền của Anh, nòi giống Huê Kỳ phất cờ khởi nghĩa để giành độc lập cho Gia Nã Đại. Việc thất bại, Sammuel phải đào tẩu, qua Huê Kỳ lập nghiệp ở Milan, trên bờ hồ Erié. Alva Edison sanh tại đó ngày 11 tháng 2 năm 1847.
         Mấy năm sau, một đường xe lửa đầu tiên xuyên qua miền ấy. Cụ Sammuel tiên đoán rằng đường xe lửa đó sẽ làm cho sự buôn bán ở Milan suy sút, bèn rời nhà qua Port Huron, mở một tiệm buôn lúa. Lúc đó Alva bảy tuổi, vào học trường làng. Nhưng cậu chỉ học có ba tháng, rồi, như trên tôi đã kể, thân mẫu cậu cho cậu học tại nhà. Cụ hồi trước cũng đã dạy học, nên săn sóc sự giáo dục cho con rất chu đáo. Edison rất quý mẹ, sau này viết: “Nhờ có má tôi, tôi mới được như ngày nay. Tôi quyết tâm không khi nào làm cho người thất vọng. Người rất thành thực, rất tin ở tôi. Người là lẽ sống của tôi. Luôn luôn tôi nhớ tới người”.
         Alva học ở nhà được ba bốn năm. Cậu rất thích môn hóa học, và có óc rất thực tế. Sau nhà có một khu đất. Song thân cậu cho cậu tự ý muốn trồng gì thì trồng. Cậu bèn trồng rau để bán cho hàng xóm, dành dụm được một số tiền kha khá, biếu bà cụ một nửa, còn một nửa dùng để mua sách và các chất hóa học về thí nghiệm.
         Người hỏi mua rau mỗi ngày một nhiều mà sức cậu trồng không được mấy. Cậu nảy ý đi buôn rau. Cậu xin phép song thân đi lại Detroit mua rau, chở xe lừa về bán. Hai cụ mới đầu không chịu nghe: “Đồ con nít, mới mười hai tuổi đầu, mà đòi đi buôn!” Nhưng cậu năn nỉ quá, song thân đành phải cho.
         Alva thích chí lắm. Xe lửa tới Detroit, cậu nhảy xuống đi mua rau xong rồi còn dư thì giờ lang thang hết phố phường, ngắm nhà cửa, hàng hóa, kẻ đi người lại; gần tới giờ về, mới hấp tấp lại ga, leo lên xe với một thúng lớn đầy rau.
         Nhưng đi lang thang hoài cũng chán, sau cậu nghĩ cách dùng thì giờ rảnh ở trên xe và trong khi đợi xe sao cho có lợi. Cậu xin vô một hội thanh niên để được mượn sách ở thư viện. Cậu lại xin chân bán báo cho công ty xe lửa, như vậy khỏi phải trả tiền xe mà lại kiếm thêm được tiền. Cậu bán tờ Detroit Free Press cho hành khách trên xe và các nhà ga. Công ty xe lửa cho cậu một khu trong một toa chở hàng để cậu chứa rau, báo, sách và các chất hóa học, vì cậu vẫn mê hóa học, lúc nào rảnh là làm những thí nghiệm hóa học, ngay trong toa.
         Mới nhỏ tuổi, mà cậu đã có tài đầu cơ nữa chứ. Hồi đó gặp lúc nội chiến đương phát dữ, Detroit mới nhận được tin tướng Johnston tử trận ở Shiloh. Cậu yêu cầu nhân viên điện tín nhà ga đánh điện cho các ga trên đường về Port Huron để dán một tờ báo cáo nhỏ cho hay rằng chiều sẽ có nhật báo đăng đủ chi tiết về trận Shiloh. Rồi cậu lại nhà báo Detroit Free Press xin mua chịu thêm 800 số nữa, cộng với 200 số trả mặt thường lệ là 1.000 số.
         Giá báo cứ tăng vọt lên từ ga này tới ga sau; Edison bán hết cả ngàn số.
         Hôm sau chàng dùng ngay số tiền đó để mua một cái máy in cũ. Gọi là máy in, chứ sự thực nó chỉ là một cái máy ép rất đơn sơ quay bằng tay.
         Và đã hùng tâm ghê gớm chưa? Từ hôm đó chàng thành ông chủ báo. Tờ báo lấy tên là Weekly Herald, mỗi tuần ra một số. Tòa soạn là toa chở hàng của công ty xe lửa. Edison, lúc đó mới mười lăm tuổi, vừa làm giám đốc vừa làm chủ bút, vừa làm thợ sắp chữ, thợ in, vừa lấy tin tức cùng quảng cáo, vừa viết, vừa phát hành. Báo in hai trang, mỗi kỳ bốn trăm số. Chàng khôn lanh, nhận thấy rằng tờ Detroit Free Press chỉ đăng tin trong nước mà thiếu tin trong miền, nên chỉ lượm toàn những tin trong miền, bán rẻ ba xu một số, và ai mua tháng thì chỉ phải trả tám xu. Không biết bán báo có chạy không, nhưng đã có một tiếng vang tới tận Luân Đôn… Tờ Times, lớn nhất ở Luân Đôn phải nhắc tới nó, nhận rằng chưa có tờ nào in trong một toa xe lửa như nó.
         Nhưng chẳng bao lâu, ông chủ báo Edison bị người xếp xe của công ty hỏa xa bạt tai và xô xuống đường: Một buổi sáng năm 1862, chuyến xe lửa chở tòa soạn của Edison đương chạy hết tốc lực để khỏi trễ, thì ở toa chở hàng, có khói đen bốc lên. Còi xe rít lên rùng rợn. Xe chạy chậm lại rồi ngừng. Người thợ máy nhảy xuống đường, lại toa chở hàng, rồi hết thảy nhân viên trên xe đều xách nước lại dập lửa. Họ liệng từ trong toa ra nào là rau, sách vở, báo chí, pin điện, máy in, ống thuốc. Một thanh niên độ 16 tuổi, bị xô xuống đường. Người xếp xe mặt đỏ gay, bạt tai thanh niên đó, mắng:
         ― Mày chừa đốt xe của tao chưa?
         Edison vừa xoa tai, vừa lượm đồ, thu lại một chỗ. Tai nạn đó xảy ra vì trong lúc thí nghiệm, chàng sơ ý để cho một thỏi lân tinh rớt trên sàn xe rồi bốc lửa, cháy lan qua đống báo. Từ bữa đó, chàng nặng một bên tai, không nghe được những tiếng nhỏ.
         Nhưng chàng không thất vọng. Chàng không hề biết thất vọng là gì. Lần thất bại đó là lần đầu. Sau này chàng còn thất bại nhiều lần nữa, mà lần nào cũng vậy, cứ sau mỗi thất bại, chàng lại hăng hái thêm một chút.
         Về nhà, chàng đặt máy in trong cái hầm của cha, đổi tên báo là Paul Pry, không đăng tin vặt trong miền nữa mà viết những mục trào phúng để chỉ trích các nhà tai mắt ở Port Huron. Số độc giả tăng lên mạnh; nhưng những người bị chỉ trích nổi đóa lên, và một kỹ nghệ gia nọ, giận quá, chạy lại nhà Edison, nắm cổ chàng kéo xềnh xệch ra tới bờ sông và liệng chàng xuống nước. Chàng lóp ngóp lội vào và ngưng nghề làm báo.



         Cách đó không lâu, một dịp may xảy tới, và chàng tìm được một hướng đi cho đời mình. Một hôm, chàng thơ thẩn trong ga Mount Clemens, nhìn một toa xe hàng rời đầu máy mà chạy một mình trên một đường dốc về chỗ tránh của nó. Thình lình chàng hoảng hồn: một em nhỏ đương chơi trên con đường rầy mà toa xe sắp tới. Chàng đâm bổ lại, vừa kịp kéo đứa nhỏ ra thì bánh xe chạm vào gót chân chàng. Người xếp ga chạy ra, rất cảm động:
         ― Cậu đã cứu sống con tôi. Tôi làm cách nào đền ơn cậu được? Tôi giúp cậu được việc gì không?
         Edison suy nghĩ một chút, đáp:
         ― Tôi muốn học nghề điện báo. Ông dạy tôi được không?
         ― Được lắm! Tôi rất sẵn sàng. Bao giờ cậu lại học? Sáng mai nhé?
         Hồi đó điện tín mới được áp dụng ở Mỹ và dọc theo các đường xe lửa, chỗ nào người ta cũng dựng những cột dây thép mới. Edison rất ham nghiên cứu về phát minh mới đó, muốn học thuộc những dấu “Mooc” (Morse) nhất là tìm hiểu xem có cái sức gì làm cho người ta gõ máy ở đầu dây đằng này mà ở đầu dây đằng kia cách cả ngàn cây số máy cũng chạy.
         Trong buổi học đầu, chàng hỏi người xếp ga. Viên này đáp:
         ― Có gì đâu. Cậu cứ tưởng tượng có một con chó lùn, mình dài cả ngàn cây số, đuôi ở Edimbourg mà đầu ở Luân Đôn. Nếu mình kéo đuôi nó ở Edimbourg thì có phải nó sủa lên ở Luân Đôn không? Máy điện tín là vậy.



         Óc của Edison quả là “không bình thường”, luôn luôn suy nghĩ, tính toán, tìm tòi. Cậu không tin lời giảng đó, tra cứu thêm và sau bốn tháng, cậu biết cặn kẽ về khoa điện tín, được viên xếp ga cho làm việc. Hồi đó cậu mười bảy tuổi, nghĩ ra được một phát minh, nhưng chính vì tài phát minh đó mà cậu bị mất việc.
         Bổn phận của cậu là phải gác đêm trong một ga nhỏ, ga Stratford. Mỗi giờ cậu phải đánh về ga chánh dấu hiệu “6” để cho ga chánh biết rằng cậu vẫn thức. Đêm nào, số “6” cũng được đều đều truyền đi. Rồi một đêm ga chánh gọi ga Stratford mà không thấy trả lời. Viên kiểm soát tức thì đến Stratford để coi xem vì lẽ gì, và thấy Edison đương ngủ khò trong một góc phòng!
         Thì ra cậu Edison làm biếng, không chịu thức, chế ra được một cái máy cứ đúng giờ là truyền số “6” đi. Máy có một cái đồng hồ, nối với một bánh xe có răng, khi bánh xe quay thì hơi điện khóa, mở, thành một vạch dài và bốn chấm, tức con số sáu.
         Sau vụ đó, Edison xách va li về nhà. Luôn trong năm năm sau, chàng tiếp tục làm điện tín viên cho nhiều Công ty xe lửa khác, vừa làm việc, vừa thí nghiệm về hóa học, vừa phát minh. Một lần, thấy trong phòng nhiều gián quá, chàng đóng vào tường hai miếng giấy bạc nối với hai điện cực của một cái pin, rồi kiên nhẫn ngồi đợi gián bay tới, đậu vào giấy bạc, bị điện giật mà chết.
         Chàng học thêm về điện, về hóa học, hí hoáy chế tạo, làm việc gần hai chục giờ một ngày. Chàng nói: “Tôi có nhiều việc làm quá, mà đời thì ngắn quá, nên tôi phải làm gấp!”
         Chàng lập một xưởng nhỏ, chế tạo được một kiểu máy ghi số thăm, và trình chính phủ để xin chứng chỉ phát minh. Chứng chỉ đó là chứng chỉ đầu tiên, và sau này Edison còn xin được hai ngàn rưỡi chứng chỉ khác nữa. Máy ghi sổ thăm đó rất tinh xảo; ta chỉ cần nhấn một cái nút, rồi máy sẽ làm lấy hết mọi việc. Nhưng khi đem máy lại Hoa Thịnh Đốn, trình quốc hội, thì quốc hội không chịu dùng. Edison ngạc nhiên hỏi:
         ― Tại sao vậy? Ông cũng thấy rằng máy ghi đúng lắm mà!
         ― Phải. Nó ghi rất đúng. Nhưng chính vì nó ghi đúng quá, nên không thể dùng nó được. Đúng quá thì người ta không thể nghi ngờ về giá trị của cuộc bỏ phiếu nữa, và như vậy người ta không thể chống nhau, gây lộn với nhau được nữa, chú em hiểu không?
         Edison đứng ngây người một lúc rồi ra về. Chàng nghĩ cách chế một cái máy điện tín kiểu mới cho các nhà doanh nghiệp dùng, và năm 1869, chàng xa quê, lên Nữu Ước làm ăn. Tới Nữu Ước, chàng chỉ còn có mỗi một Mỹ kim.



         Cũng may chàng kiếm được một bạn đồng nghiệp cũ, ở nhờ trong phòng điện tín của người đó. Một hôm, đúng lúc mà các nhà buôn, các nhà doanh nghiệp ở Wall Street (Nữu Ước) mong đợi tin tức về giá vàng, thì máy điện thoại hư, điện tín viên loay hoay chữa không được. Ba trăm người chạy việc cho các hãng lớn khắp châu thành ùn ùn tới phản đối. Ông chủ thị trường vàng, ông Laws, cũng lại coi tình hình. Edison nói là có thể sửa được. Chàng thay một cái ruột gà gẫy và máy chạy lại. Ông Laws mừng quá, cho chàng làm giám đốc kỹ thuật, với số lương ba trăm Mỹ kim mỗi tháng. Chàng nghe số tiền khổng lồ đó mà sướng quá muốn hóa điên. Thần tài đã bắt đầu gõ cửa.
         Con người lạ lùng đó có tánh lúc nào cũng mong kiếm được nhiều tiền, nhưng kiếm tiền chỉ là để có phương tiện tìm tòi, phát minh, chứ không phải để làm giàu.
         Có tiền trong tay rồi, chàng mở một xưởng thí nghiệm. Ông giám đốc mới của công ty Gold and Stock Telegraph Company, tức tướng Lefferts, bảo chàng chế tạo một máy điện tín in được dấu. Chàng chế tạo xong, xin giấy chứng chỉ. Tướng Lefferts muốn mua lại, hỏi chàng đòi bao nhiêu tiền.
         Chàng suy nghĩ: đòi được 5.000 Mỹ kim thì là nhất, không có thì 3.000 cũng được. Nhưng nếu đòi nhiều quá, sợ Lefferts mắng vào mặt, rồi đuổi cổ đi thì tai hại. Chàng lanh trí, xin Lefferts cho biết có thể mua được với giá nào.
         Lefferts đáp:
         ― Bốn vạn Mỹ kim được không?
         Sau này Edison chép lại chuyện đó, viết: “Nghe số tiền đó tôi muốn té xỉu. Nhưng tôi cũng ráng đứng vững, lắp bắp bảo rằng giá đó cũng vừa phải”.
         Ba ngày sau, chàng ký xong giao kèo và lãnh một chi phiếu 40.000 Mỹ kim.
         Chàng còn quê mùa, lần đó là lần đầu cầm một chi phiếu, chưa biết cách dùng nó, thấy trên chi phiếu để tên nhà ngân hàng, chàng đem lại ngân hàng, đưa cho viên giữ két. Viên này trả lại chàng và nói một câu gì mà chàng nghe không ra, vì một bên tai vẫn còn nặng sau vụ “đốt xe lửa” mấy năm trước. Chàng lủi thủi bước ra, lẩm bẩm:
         ― Ông già đó chơi mình một vố cay thật! Mà mình khờ làm sao mà khờ! Đời thủa nhà ai mà trả cái máy đó bốn vạn đồng không? Bốn vạn đồng mình làm mười một năm chưa kiếm được số tiền đó, mà máy đó chế tạo ra tốn công gì đâu. Vậy mà mình cũng tin chứ! Rồi tới khi ông ấy chìa cái miếng giấy lộn này ra mà mình cũng nhận!
         Nghĩ vậy chàng vò nát tấm chi phiếu trong túi, quay về phòng giấy ông Lefferts, hậm hực, định nói mỉa mấy câu cho hả dạ. Ông Lefferts bình tĩnh nghe từ đầu đến cuối, rồi phá lên cười:
         ― Ngốc! Thầy giữ két bảo anh ký vào sau lưng chi phiếu đó rồi thầy ấy sẽ phát tiền cho. Có vậy thôi. Trở lại mà lãnh tiền đi.
         Edison bẽn lẽn, xin lỗi rồi chạy một mạch tới ngân hàng. Viên giữ két biết rằng chàng khờ khạo, cũng đùa chàng một vố, trả cho chàng toàn bằng giấy một đồng. Chàng lóng cóng thồn vào túi trên, túi dưới, túi trong, túi ngoài, người chàng phồng lên như một cái bị, về nhà, luýnh quýnh, không biết cất tiền vào đâu cho kỹ, đành thức suốt đêm để canh.
         Sáng hôm sau, chàng lại thồn đủ số giấy bạc vào đầy các túi, lại phòng ông Lefferts vấn kế. Ông Lefferts cười một hồi nữa rồi chỉ cách cho chàng đem gởi bớt lại ngân hàng.
         Từ đó chàng mới bắt đầu khôn.



         Gởi tiền xong, chàng viết thư về báo tin mừng cho cha mẹ hay:
         “Bây giờ ba má có thể nghỉ ngơi được rồi. Ba đừng làm quá sức nữa, và má muốn thức gì thì xin ba cứ mua cho má. Hễ thiếu tiền thì có con… Con bận việc lắm; con có một cái xưởng dùng mười tám người thợ, và đương lập một cái xưởng khác dùng tới một trăm rưỡi thợ. Con đã thành một “kỹ nghệ gia” có hạng rồi”.
         Nhưng chàng giấu, không cho song thân hay rằng phải làm việc mười chín, hai mươi giờ mỗi ngày, không có thì giờ ăn, không có thì giờ ngủ nữa. Và chàng giữ mức làm việc đó gần nửa thế kỷ.
         Luôn luôn trong đầu chàng nảy ra những ý mới, bắt chàng phải thực hành liền. Có lần chàng thực hành bốn mươi lăm phát minh một lúc! Ghê gớm chưa?
         Từ năm 1870 đến năm 1875, chàng gần như chuyên phát minh về máy điện tín. Chàng chế được một máy gởi đi một lúc được bốn điện tín, thành thử trong một phút có thể đánh đi được ba ngàn rưỡi tiếng.
         Nhiều kỹ thuật gia trẻ tuổi lại cộng tác với chàng; một số được chàng dìu dắt mà sau nổi danh. Ai cũng trọng chàng là tính tình ngay thẳng, giản dị, nhưng bề ngoài có vẻ bẩn thỉu, lôi thôi.



         Một hôm chàng gặp một thiếu nữ tên là Mary Stilwel. Trời mưa. Nàng đi ké dù chàng, rồi kể lể tâm sự:
         ― Tôi mới thôi học, ở nhà buồn quá. Làm cái thân con gái, nghĩ mà chán. Cứ ngồi bó gối đợi cho người đàn ông nào tới rước đi.
         ― Sao cô không kiếm việc làm?
         ― Đâu được? Con gái tử tế ai lại đi kiếm việc làm. Vả lại tôi không biết khâu. Còn vô một xưởng để làm như mọi thì tôi không chịu.
         ― Tôi có việc làm cho một thiếu nữ thông minh. Cần biết vật lý, hóa. Cô biết không?
         ― Biết lờ mờ.
         Thế là Mary giúp việc cho Edison, tỏ ra vừa tận tâm, vừa có khả năng.
         Một bữa nọ, hai người cùng thí nghiệm với nhau. Bỗng nhiên chàng ngưng công việc, ngó nàng trân trân:
         ― Cô Mary…
         ― Thưa, chi?
         Edison móc túi ra, lấy một đồng tiền, đánh điện tín bằng dấu Moóc lên mép bàn: “Hồi này tôi nghĩ hoài đến cô. (Chấm) Cô chịu cưới tôi không (chấm hỏi)”.
         Mary đỏ mặt lên, mỉm cười, cũng gõ dấu Moóc, đáp: “Làm vợ ông em sung sướng lắm”.
         Cuối năm đó 1871 họ làm lễ cưới.



         Từ khi lập gia đình, hai ông bà làm việc còn hăng hơn trước. Ông kiếm một miếng đất rộng ở Menlo Park, cách Nữu Ước bốn chục cây số, cất một xưởng mới, và làm việc tại đó cho tới khi mất. Xưởng của ông sau nổi tiếng khắp thế giới vì phòng thí nghiệm trong xưởng lớn vào bực nhất thời đó.
         Năm 1878, là năm kỷ niệm độc lập bách châu niên của Huê Kỳ. Tại Philadelphie có cuộc triển lãm lớn. Người ta bày rất nhiều máy móc mới phát minh. Edison lại coi và xem xét tỉ mỉ máy điện thoại của Bell. Về nhà ông nghĩ cách cải thiện máy đó cho tiếng nói được rõ hơn và ông suýt phát minh được máy vô tuyến điện.
         Từ hồi thượng cổ, loài người vẫn có ý muốn ghi được thanh âm. Theo một truyền kỳ La Mã, một tên nô lệ nọ khám phá được rằng vua Midas có tai lừa, nói ra thì sợ tới tai vua mà bị tội, còn giữ kín trong lòng thì tức tối, chịu không nổi. Hắn bèn kiếm một chỗ hoang vắng, trên bờ sông, chung quanh toàn là lau sậy, rồi la lớn lên cho hả: “Midas, vua Midas có tai lừa!” Nhưng những cây sậy ghi được câu đó, lào xào nhắc lại cho nhau suốt ngày suốt đêm, rút cục cả xứ đều hay tin vua Midas có tai lừa.
         Vậy cổ nhân đã ngờ rằng có cách ghi lại được thanh âm, nhưng trong mấy ngàn năm, chưa ai tìm được thứ sậy ghi thanh âm đó, cho tới một ngày kia, năm 1877, Edison bị kim đâm vào ngón tay.
         Ông đương sửa một máy ghi dấu điện tín, miệng trò chuyện với người cộng sự, tay kéo cây kim ghi những gạch lên trên một ống bằng sáp. Khi ông thốt ra một tiếng hơi lớn, thì cây kim nhảy lên và đâm vào đầu ngón tay ông. Việc đó, người khác chắc không ai để ý tới, nhưng óc tìm tòi, tò mò của ông không bỏ qua nó được.
         Ông ngưng công việc lại, suy nghĩ, kiếm nguyên nhân tại sao cây kim nhảy. Tại tiếng nói của ông lúc đó lớn, làm rung chuyển một miếng thép đính với cây kim. Như vậy, ông có thể kiếm cách ghi tiếng nói được. Tức thì ông vẽ phác kiểu máy gồm một miệng loa mà đáy có một miếng thép mỏng dính với một đầu kim, đầu kim này chạy trên một ống bằng kim thuộc có tay vặn.
         Máy đóng xong, ông bao ống đó bằng một tờ giấy thiếc, rồi ông vừa quay tay vặn, vừa kề miệng vào gần ống loa, đọc một bài thơ cho trẻ em:
                 “Mary có một con trừu nhỏ
                  Mà lông trắng như tuyết…”
         Trong lúc đó, mũi kim vẽ một đường trên tờ giấy thiếc. Đọc xong bài, ông ngưng lại, đặt đầu kim trở về chỗ cũ, rồi kề tai vào miệng loa, nghe rõ ràng thấy máy lập lại câu thơ:
                 “Mary có một con trừu nhỏ,
                  Mà lông trắng như tuyết…”
         Trong lúc đó, mũi kim vẽ một đường trên tờ giấy thiếc đọc xong bài, ông ngưng lại, đặt đầu kim trở về chỗ cũ của nó, rồi kề tai vào miệng loa, nghe rõ ràng thấy lập lại câu thơ:
                 “Mary có một con trừu nhỏ…”
         Mấy người giúp việc đứng trân trân, kinh khủng. Chính ông cũng ngạc nhiên vô cùng. Sau này, chép lại chuyện đó, ông viết: “Trong đời tôi, chưa lần nào tôi choáng người như lần ấy. Thực ra, mỗi khi một cái máy mới phát minh chạy lần đầu tôi cũng thấy sờ sợ”.
         Vậy, do một sự cố bất ngờ, do một mũi kim đâm vào đầu ngón tay ông mà máy hát ra đời, Edison nổi tiếng khắp thế giới; các báo chí không ngớt nhắc đến cái “máy nói” của “nhà phù thủy ở Menlo Park”. Người ta đổ xô nhau lại phòng thí nghiệm của ông để coi, đông đến nỗi công ty Hỏa xa phải đặt thêm những chuyến xe riêng. Ông được mời tới Hoa Thịnh Đốn để trình máy đó cho các nhân viên cao cấp coi. Có kẻ không tin, ngờ rằng chính ông nói trong bụng nghĩa là nói mà không cử động môi lưỡi để gạt họ, chứ “máy gì mà biết nói?”
         Nhưng tờ giấy thiếc ông dùng để ghi thanh âm chưa phải là một giải pháp tốt: máy chỉ dùng được ít lần là nghe không rõ nữa và phải bỏ. Chẳng bao lâu, người ta quên nó. Mười năm sau, năm 1888, ông mất năm ngày năm đêm liên tiếp để cải thiện, thay miếng thiếc bằng một lớp sáp chế tạo theo một cách đặc biệt, và thay tay vặn bằng một máy đồng hồ. Lần này máy được hoan nghênh trên thị trường, làm giàu cho ông và nhiều con buôn. Sau này Emil Berliner, một người Huê Kỳ, cải thiện nữa mà thành máy hát chúng ta dùng ngày nay.



         Danh tiếng của ông lên đến cực độ khi ông chế tạo được bóng đèn điện. Ông phải tốn công bốn năm, từ năm 1878 đến năm 1882. Người ta thường lấy câu: “Thất bại là mẹ thành công” để khuyên thanh niên và lấy gương Edison để chứng thực câu đó. Ông đã thất bại không biết bao nhiêu lần, rồi mới kiếm được thứ chỉ, để đốt trong bóng đèn, và mỗi lần thất bại lại đưa ông tới gần thành công hơn một chút.
         Ý chế tạo đèn điện nẩy ra khi ông thấy một khí cụ phát ánh sáng của William Wallace. Khí cụ đó rất đơn sơ, gồm một cái khung bằng gỗ đỡ hai cây ngang di động được, đầu mỗi cây có một cục các-bon. Wallace cho điện chạy vô, thì ở khoảng giữa hai cực các-bon hiện ra một vòng ánh sáng xanh xanh, chóa mắt. Chất các-bon tiêu dần đi rồi ánh sáng tắt.
         Ông quyết chí cải thiện phương pháp, tuyên bố trên báo chí rằng chỉ trong hai năm sẽ có đèn điện. Ông viết: “Một ngày kia, trong một tỉnh lớn, người ta chỉ cần xây vài trung tâm phát điện là có đủ ánh sáng cho mọi nhà. Muốn thắp đèn, người ta chỉ phải vặn một đinh vít. Ánh sáng sẽ trắng, không chập chờn như ánh đèn dùng ngày nay. Không có khói, không hại vệ sinh; tường, trần, đồ đạc khỏi bị ám khói”.
         Tin đó phát ra gây một nỗi hoảng sợ trong đám hội viên các công ty khí đèn vì hồi đó ở Mỹ cũng như ở Âu châu, đèn thắp bằng khí. Người ta chế nhạo ông, mạt sát ông.
         Ông hăng hái bắt tay vào việc, dùng một kíp thợ từ bốn chục đến năm chục người làm việc không ngừng, thay phiên nhau mà thức suốt đêm. Ông ăn, ngủ ngay trong phòng thí nghiệm, ca hát với các người cộng sự.
         Ông để hết tinh thần vào sự tìm tòi, nên nhiều lúc đãng trí. Một lần ông lại tòa án đóng thuế, đứng nối hàng sau những người khác. Khi phiên ông tới, ông quên hẳn tên của mình, lắp bắp, lúng túng. Một người quen đứng bên cạnh phải nhắc là Thomas Edison.
         Một lần khác, trong khi đợi điểm tâm, ông gục xuống bàn ngủ, vì đã làm việc suốt đêm trước. Một người giúp việc muốn phá ông, ăn xong phần của mình rồi, đặt những chén đĩa dơ trước mặt ông. Một lát sau, ông tỉnh dậy, giụi mắt, thấy những chén đĩa dơ đó, tưởng mình đã ăn rồi, châm điếu thuốc hút rồi lại bàn làm việc. Cả phòng cười rộ lên, ông mới hay rằng mình bị gạt.
         Ông cho làm những bóng đèn bằng thủy tinh rồi rút hết không khí trong bóng ra, để khi điện chạy vô, đốt một chất chứa trong bóng thì chất này sáng mà không cháy tan mất. Chỗ khó là kiếm chất gì để dùng. Giấy đốt thành than, cháy rất sáng nhưng chỉ được vài giây thôi. Bạch kim sáng lâu hơn nhưng đắt quá. Mà mục đích của ông là chế tạo những bóng đèn rẻ tiền ai mua cũng được. Ông thử đủ thứ than: đốt giấy bồi, vỏ dừa, vỏ bào, bấc, xen-luy-lô-it, cả râu người nữa. Không thứ nào được vừa ý: Ông phí công trọn một năm mà chưa trông thấy kết quả. Mắt ông nhức nhối chịu không nổi mà ông không dám tỏ cho người giúp việc ông hay. Những người bỏ vốn cho ông thí nghiệm bắt đầu nản lòng, bực tức vì ông đã tiêu hết tiền của họ.
         Rồi một buổi tối tháng mười năm 1879, ông ngồi hút thuốc, lo lắng không biết kiếm cách nào, tay mân mê nút áo, thì nút áo đứt ra, nằm gọn trong tay ông với một khúc chỉ.
         Ông nhảy phắt lên, chạy vô phòng thí nghiệm, bảo các người giúp việc:
         ― Các anh em đã thử dùng thứ này chưa? Sao không thử? Lấy một cuộn chỉ, cắt ra từng khúc ngắn, đốt ra than rồi bỏ vào bóng đèn xem sao.
         Họ thử ngay, kiên nhẫn, cẩn thận từng tí, đốt sợi chỉ ra than rồi đặt vào bóng đèn sao cho sợi không gẫy. Sau họ rút không khí ra, mắc điện vào. Một ánh sáng vàng vàng hiện lên. Nó sáng được bao nhiêu lâu? Người đoán một giờ, kẻ đoán nửa giờ; không ai ngờ rằng nó cháy được bốn chục giờ!
         Bốn chục giờ, vẫn chưa đủ cho ông mãn nguyện. Ông bỏ ra một thời gian nữa để cải thiện cho nó cháy được năm trăm giờ. Bấy giờ ông mới tin rằng ngọn đèn của ông có giá trị về thực tế.
         Ông bèn mới thiên hạ lại Menlo Park coi bóng đèn của ông. Cuối năm 1880, trong đêm giao thừa, hàng ngàn người dắt nhau lại coi và được thấy một cảnh thần tiên chưa hề có trên trái đất: hàng trăm bóng đèn mắc trên dây ở hai bên đường từ nhà ga tới Menlo Park, ở xa coi tựa hai dãy sao gần chân trời. Người ta trầm trồ khen ngợi, lấy làm lạ rằng đèn chúc ngọn xuống mà vẫn cháy. Ông tuyên bố với mọi người rằng ông sẽ làm cho một khu ở Nữu Ước dùng toàn đèn điện.
         Ông lại bỏ ra hai năm nữa để san phẳng mọi trở ngại về lý tài, kỹ thuật và tổ chức, mà xây được một nhà máy điện, mắc mấy cây số dây điện trong chín trăm nhà và đặt mười bốn ngàn bóng đèn điện. Một mình ông đứng chỉ huy mọi việc. Ông tin rằng sự nghiệp đó lớn nhất trong đời ông. Ông lựa ngày mùng bốn tháng chín năm 1882 để làm lễ hoàn thành.
         Tờ New York Herald chép: “Nhà phát minh đại tài ra lệnh, người ta hạ một tay vặn xuống, tức thì, cùng một lúc, hàng ngàn bóng đèn trong mọi căn nhà cháy lên, tỏa một ánh sáng ấm áp. Ôi! lạ lùng, ngọn đèn không chập chờn như ngọn đèn khí, mà cháy đều đều, làm cho chúng ta có thể ngồi viết hàng giờ mà không ngờ rằng ánh sáng đó là ánh sáng nhân tạo!…”
         Ngày đó, Edison đã mở màn cho kỷ nguyên điện.
         Thân mẫu ông đã đoán đúng: “Một ngày kia người ta sẽ nhắc đến tên tuổi con tôi…” Dân thành Nữu Ước đổ xô nhau lại coi những bóng đèn mới và coi vẻ mặt sáng sủa, khả ái, cương quyết và ngây thơ, vừa mơ mộng vừa hoạt động của ông. Khắp thế giới nhắc đến tên ông, đặt ông vào hàng vĩ nhân bực nhất đương thời, và câu nói: “Thiên tài là một phần trăm hứng và chín mươi chín phần trăm toát mồ hôi” được người ta truyền lại cho hậu thế.



         Năm 1884, bà Mary mất, ông càng cặm cụi làm việc để quên nỗi đau lòng. Hai năm sau, ông cưới bà vợ kế, bà Mina Miller d’Akron.
         Từ đó đến đầu đại chiến thứ nhất, ông phát minh được rất nhiều máy mới nữa, và máy được nhiều người hỏi tới là máy chiếu hình (kinétoscope). Máy đó tức là bước đầu tiên của máy chiếu bóng. Ông chụp bằng phim một loạt hình liên tiếp nhau của mỗi cử động rồi chiếu nhanh lên một tấm màn, thành thử ta có cảm tưởng thấy người và vật cử động trên màn.
         Không hiểu tại sao ông không cải thiện máy đó thành máy chiếu bóng ngày nay, mà chỉ chế thành một máy nhỏ chiếu những người khiêu vũ, những trẻ em chơi nhảy trong khi một máy hát phát ra một bản nhạc hợp với cảnh.
         Mấy năm sau ông thất bại liên tiếp, tiêu hết cả vốn. Một hôm, ông bảo các người giúp việc:
         ― Chúng ta hết nhẵn tiền rồi, nhưng đã được dịp tiêu khiển thú quá, phải không anh em?
         Vâng, suốt đời ông chỉ là một cuộc tiêu khiển say mê, không ngừng, và những khi ông làm việc hai mươi giờ một ngày chính là những lúc vui nhất của ông.
         Hồi đại chiến thứ nhất nổ ra ở Âu châu, ông đã gần bảy chục tuổi, bỏ việc nhà mà tình nguyện giúp chính phủ để kiếm những thuốc uống và thuốc nhuộm thay thế những thuốc không nhập cảng được của Đức nữa.
         Ông làm việc cho gần tới khi mất, ngày 18 tháng 10 năm 1931, thọ tám mươi bốn tuổi. Người ta coi ông gần như một bực thánh về phát minh. Trước ông, chỉ có Léonard de Vinci, ở thế kỷ 15, là ví được với ông; mà sau ông thì chắc không có ai nối gót ông được; vì hiện nay chúng ta đã bước vào thời đại chuyên môn, không ai có đủ sức để tìm tòi về nhiều lĩnh vực rất rộng như ông.


NGUYỄN HIẾN LÊ


BÁCH KHOA |  SỐ 32

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #156 vào: 16/04/2018, 22:37:22 »
BÁCH KHOA |  SỐ 33  [15-5-1958 |  102 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Một chính sách tổng quát |  3-6
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [II] |  7-11
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 32 |  11
Trần Hồng Hừng |  Cây: cội; Nước: nguồn; Người:? |  12-15
Phan Khoang |  Dư luận và Thanh nghị |  16-20
Bách-Khoa |  Đối với bực quốc trưởng, điều “nhân” quan trọng thế nào |  20
Nguyễn Thiệu Lâu |  Mấy sử liệu về sự khẩn hoang đồng bằng Nam Việt vào năm Kỷ Dậu 1789 |  21-23
Bách-Khoa |  Nghĩa hai chữ “Trung Dung” |  23
Võ Phiến |  Đông Tây hai ngả |  24-26
Nguiễn Hữu Ngư |  Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947): một ông già đáng thương |  27-34
Thái Văn Kiểm |  Người Mỹ đầu tiên tới Việt Nam |  35-40
Bách-Khoa |  Cái tai hại khi bọn tiểu nhân nắm chính sự |  40
Nguyễn Huy Khánh |  Lược đàm truyện Thủy Hử [II] |  41-48
Nguyễn Hiến Lê |  Thomas Alva Edison [II] |  49-55
Đỗ Tấn |  Những giòng hoa đại lộ (thơ) |  56-57
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  58
Vũ Hạnh |  Miếng thịt vịt |  59-73
Bách-Khoa |  Nghĩa hai chữ “Trung Hòa” |  73
Quảng cáo |  74
Vũ Quỳnh Bang |  Tâm tư (thơ) |  75
Quảng cáo |  76
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai chưa từng có ai dịch: Bạch Thu Luyện \ Bồ Tùng Linh |  77-83
Quảng cáo |  Văn-Hóa Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương |  84
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Đường thi dịch giải: Xuân vọng \ Đỗ Phủ |  85
Quảng cáo |  86
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XV] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  87-90
Quảng cáo |  91-102


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #157 vào: 16/04/2018, 23:06:30 »


Cây: cội; Nước: nguồn; Người:?
000
Chim kia còn biết gọi đàn,
Chút tình “nhớ Tổ” ta bàn cùng nhau.
(1)

DÂN VIỆT đặc biệt ở điểm: nhớ ơn.
         Nhớ ơn đấng sanh thành, nhớ ơn người đến trước, nhớ ơn những ai mình chịu ơn, gián tiếp hay trực tiếp, và dù những ai đó là người nước thù(2) đi nữa: nước Sĩ Vương, miếu Khổng Tử, đường Yersin, viện Pasteur…
         Mà nhất là nhớ ơn những bậc đã dựng nước non này:

                 “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,
                  Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.
                  Người ta nguồn gốc từ đâu?
                  Có ông tổ trước, rồi sau có mình
”.(3)

         Tổ tiên của riêng mình…, tổ tiên của chung dân tộc. Lòng biết ơn, niềm thành kính, có gì sánh tày?
         Cho nên, ngay dưới thời bị Pháp đô hộ, tại “Hùng Vương miếu”, rỡ ràng câu đối:

                 “Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ tích,
                  Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương
”.

         Cho nên, ngay dưới thời bị Pháp đô hộ, có cụ cử lên đền Hùng, ghi lại:(4)

                 “Từng từng dạo bước lên non,
                  Nhìn xem miếu mạo, nghiêm tôn khác thường.
                  Rằng đây là miếu Hùng Vương,
                  Ấy là thỉ tổ Nam phương nước nhà.
                  Kể từ gây dựng sơn hà,
                  Đô là Bạch Hạc, nước là Văn Lang.
                  Nối truyền một mối Hồng Bàng,
                  Sử sanh ghi chép rõ ràng còn đây.
                  Bốn ngàn năm lẻ tới nay,
                  Con con, cháu cháu mỗi ngày thêm đông.
                  Đều là khí huyết Lạc Hồng,
                  Khắp Trung, Nam, Bắc cùng chung máu đào
”.

         Cho nên, ngay dưới thời bị hai đế quốc Pháp và Nhật siết chặt gông cùm, hội đền Hùng năm tân tị (1941) ấy đông đúc, nhiệt thành hơn bao giờ hết và ngàn bài hát “Đi hội đền Hùng” của một sinh viên miền Nam nặng tình dân tộc, do Tổng hội sinh viên phát không cho lớp người từ bốn phương vững chí biết bao người.

                                          I
                  Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm,
                  Nơi cố hương của giống Tiên Rồng.
                  Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm,
                  Những vết xưa của núi sông.
                  In dấu chân biết bao anh hùng,
                  Cùng với nhau: Nam-Bắc-Trung.
                  Chúng ta về thăm mộ Tổ ta,
                  Cho vẻ vang với nước non nhà.


                                          II
                  Biết bao đời Tiên vương nổi lên,
                  Lo chống ai đắp lũy xây thành.
                  Biết bao đời Tiên vương nổi lên,
                  Giữ núi sông, trọng thanh danh.
                  Xây nước non với tôi trung thành,
                  Cùng khắc tên trên sử xanh.
                  Hiến thân mình để lo quốc gia,
                  Cho vẻ vang với nước non nhà.


                                          III
                  Chúng ta cùng vui ca hát lên,
                  Ta hát lên trước cảnh huy hoàng.
                  Chúng ta cùng vui ca hát lên,
                  Lễ Tổ tiên, người Văn Lang.
                  Ta hát lên khúc ca nhịp nhàng,
                  Cùng với nhau, lên tiếng vang.
                  Chúng ta cùng nhau lên tiếng ca,
                  Cho vẻ vang thêm nước non nhà
.

         Để nước non nhà thêm vẻ vang, cho nên năm 1953 làng báo Bắc Việt đã làm nên một việc vô cùng ý nghĩa: quyết định lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm dương lịch mỗi năm làm “Ngày Báo chí”, ngày đại đoàn kết của tất cả ký giả khắp nước, ngày thiêng liêng để lớp người nâng bút hướng về Tổ Hùng Vương mà xét mình, mà nghiệm suy về trách nhiệm thiêng liêng đối với Dân với Nước.

         “Chúng tôi đã chọn ngày đó là đã cố tâm muốn được anh hồn Tổ tiên của nòi giống Lạc Hồng ấp ủ lên công việc của Báo chí, nâng đỡ, phù hộ cho Báo chí ngày một phát triển và trở nên dụng cụ tranh đấu thiết thực nhất của Dân chúng trong Quốc gia, và của Quốc gia trong Thế giới.
         “Chúng tôi chọn ngày đó là muốn chiêm ngưỡng tiền nhân, mà nhớ đến tiền nhân là nhớ rằng bổn phận mình là ở bên cạnh Dân chúng, và vun đắp vào công cuộc chung làm cho Quốc gia Việt Nam xứng đáng với những trang sử oanh liệt của tiền nhân
”.(5)

         Cảm động hơn nữa, là làng báo Bắc Hà năm ấy, cũng như năm sau, nghỉ ngày lịch sử ấy – khác nào cái lệ nghỉ ngày lễ Quốc tế Lao động – và cho xuất bản một “Số đặc biệt hợp nhất báo chí Bắc Việt”. Và trong số đặc biệt năm sau, 1954, chúng ta đã được đọc bài thơ thiết tha “Ngày giỗ Tổ” của bạn Xuân Tiêu mà nay chúng tôi xin trích đoạn kết:

                 “Đứng trước ngọn lửa thiêng rừng rực,
                  Đỉnh trầm hương sực nức khói hương.
                  Chúng ta con cháu Hùng Vương,
                  Cao tay thề quyết noi gương Tổ truyền.
                  Nguyện gìn giữ cho bền Danh dự,
                  Cố ganh đua rộng mở tinh thần.
                  Nước non ngày một canh tân,
                  Tiên Rồng nòi giống góp phần văn minh.
                  Cờ độc lập tung hoành trước gió,
                  Đài vinh quang đồ sộ ngất cao.
                  Năm châu thiên hạ trông vào,
                  Việt Nam lên tiếng tự hào từ đây…


         Tiếc rằng hiệp định Genève chấm dứt việc làm ý nghĩa này đáng lẽ phải thành truyền thống.



         Cho đến ngày chế độ Cộng hòa thành lập. Ba năm qua. Ba ngày giỗ Tổ qua.
         Và nếu ký ức chúng tôi chưa quá phụ phàng, thì hình như năm đầu, hầu hết báo hằng ngày ở đây đều có bài nhắc đến Tổ Hùng Vương; năm sau, thì bảy trong mười hai tờ có quay về cội; năm nay, chỉ còn có hai tờ, mà bài lại đặt vào nơi không lấy gì làm xứng đáng.
         Và chúng ta có lễ Thiên Chúa giáng sinh, có lễ Phật tổ về trời, có lễ Khổng Tử chào đời, có lễ Nhị Trưng tuẫn tiết, có lễ Tổng thống nắm quyền…, mà ngày kỷ niệm các Vua Hùng, ngày giỗ Tổ, vẫn chưa thành một ngày quốc lễ.
         Cho nên năm rồi có báo yêu cầu một cách khoa học.(6)
         Cho nên, năm nay, có báo đòi hỏi một cách hằn học.(7)



         Phải chăng Chánh phủ và Quốc hội nghĩ rằng: sự tích nhà Hồng Bàng chẳng có gì là khoa học?
         Nhưng thử hỏi thế gian có mấy nước có một lịch sử gần gụi và giản dị như nước Hoa Kỳ? Thời tiền sử của dân tộc nào mà chẳng âm u, hư thực trộn pha, huyền bí dẫy đầy…
         Vấn đề không phải là: 18 vua Hùng Vương có hay không?
         Vấn đề là: họ Hồng Bàng, mười tám đời Hùng Vương có nằm trong tận đáy lòng bất cứ người Việt nào không? Có lắng trong tiềm thức con cháu Rồng Tiên, Lạc Hồng chăng? Chúng ta có ngày quốc lễ nào để toàn dân kỷ niệm trọng thể, vọng về một hướng hầu cảm thông với Tổ tiên đã khổ công dựng nước, với Tiền nhân đã khổ trí giữ gìn, với Ông cha đã khổ tâm làm cho sáng, cho ấm, đặng thương nhau thêm, hiểu nhau nữa, gần nhau hơn…?
         Ngày quốc lễ đó, đến nay, chế độ Cộng hòa lên ba, vẫn chưa có.
         Mà ngày quốc lễ ấy, cần phải có.
         Khi mà chúng ta chẳng thể đến núi Hùng, chẳng thể lên đền Hùng, chẳng thể thắp nén hương thành kính trước bàn thờ các vị vua Hùng…



         Thế thì, người Việt chúng ta, của thế giới tự do này, há lại chịu thua ai kia về mặt: nhớ ơn tiên tổ?
         Thống nhất lãnh thổ là việc một thời.
         Nhớ ơn tiền nhân là điều muôn thuở.
         Nhớ ơn để mà làm. Làm sao cho xứng đáng với ông cha; làm sao cho con cháu tự hào.
         Vậy, ngày thiêng liêng của dân tộc Việt, một dân tộc giàu tình cảm luôn nhớ ơn người đã khuất, chẳng hề quên cội quên nguồn, ngày giỗ Tổ phải là ngày quốc lễ, ngày ấy phải có.


Nước Việt Tự do, ngày giỗ Tổ
Năm mậu tuất (1958)

TRẦN HỒNG HỪNG

_____________________________________________
(1) Nhại thơ Tản Đà.
(2) Thù trong một giai đoạn lịch sử nào đó.
(3) Ca dao. Hai câu sau có chỗ chép:
         “Ai ơi nên phải nghĩ sâu,
     Có tiên tổ trước, rồi sau có mình
”.
(4) Vũ Khắc Tiệp – “Nét mực giang hồ”, 1923.
(5) Trích lời Ban tổ chức đọc ngày giỗ Tổ năm 1953.
(6) “Ngôn luận”, ngày 9-4-1957, trong bài: “Chim có tổ, người có tông”.
(7) “Thời luận”, ngày 9-3-1958, trong bài: “Tại sao ngày 10 tháng 3 âm lịch, ngày giỗ Tổ, không được chọn là ngày Quốc lễ”.


BÁCH KHOA |  SỐ 33

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #158 vào: 17/04/2018, 23:43:02 »


Những giòng hoa đại lộ
                            Gởi nhiều anh em Sáng Tạo

TÔI đứng giữa đồng nâu
Giữa những người cuốc bẩm cày sâu
Nghe vang reo những giòng hoa tư tưởng
(Tư tưởng nào không từ đất mà ra)
Vì như thế nên tôi làm sung sướng

Tôi thương những ai mòn giày trên đại lộ
Để nặn ra những giòng hoa cổ lỗ
Nghèo nàn như những cô gái khỏa thân
Dù có khoe trương cũng chỉ bao ngần

Anh đến với tôi, trên tay: những giòng hoa nước mắt
Tin làm sao mà anh bắt tôi tin
Trời hôm nay muôn hoa muôn sắc
Tại làm sao anh lại bắt yêu anh

Anh nói nhiều quá
Làm cửa sổ nhà tôi phải mở toang loãng gió
Tôi chỉ thương anh vì anh đã mòn giày
Gõ cửa nhà ai cũng không ai buồn mở

Có lẽ tuổi tôi vừa hai mươi cay đắng
Không được nói nên tôi đành im lặng
Nhưng màu xanh vẫn là của chúng tôi
Như hồng nâu là của cả muôn người

Đại lộ ba mươi tối đen như màu hoa cơ khí
Anh đến đây làm chi với giòng hoa ủy mị
Nhưng tôi vẫn cầu xin cho Thượng Đế ban lành
Vì lối mòn anh chịu thức năm canh
Vì lỡ thương yêu nên anh đành giả dối
Vì quá yêu thương nên anh đà bạo nói
Anh cứ trở về nào ai có can ngăn
Da trời kia vẫn xanh biếc trong ngần

Tôi van anh: đừng đưa đến đây những giòng hoa đại lộ
Những giòng hoa cổ lỗ
Những giòng hoa dang dở
Những giòng hoa đau khổ
Những giòng hoa đau khổ quá đi thôi
Tôi chỉ cho anh: kìa, dưới chân đồi
Từ luống cày sâu
Từ luống đồng nâu
Những giòng hoa chứa chan yêu mến
Và ở đó, chúng tôi vừa mới đến.


                                      Tháng 4-1958
                                      ĐỖ TẤN



BÁCH KHOA |  SỐ 33

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #159 vào: 18/04/2018, 22:07:29 »


               Tâm tư
                               Kính viếng hương hồn bạn
                               và anh Bùi Đặng Hà Phan


            NỬA đời ăn quán  trọ,
            Bạc tóc ngủ nhà thuê.
            Vườn thưa trăng gác nhỏ,
            Bếp lạnh gió đi về.
            Đời nghèo, năm tháng dãi,
            Chiều nay buồn sơn khê.

            Đất hẹp không nơi dựa,
            Nhân tình sao éo le?
            Công danh mờ thế sự,
            Cơm áo quên tình quê.
            Nẻo đời mưa gió loạn,
            Giàu sang mơ làm chi.
            Đêm nằm thức suốt sáng,
            Nào đâu người tương tri?…

            Giận đời không sự nghiệp,
            Đêm đêm ngồi ngâm thơ.
            Gió trăng nghe đến viếng,
            Thánh Hiền tựa án thư.
            Thơ làm chưa trọn ý,
            Giàu sang đà có dư.


                          VŨ QUỲNH BANG
                          (Trích “Thơ mùa ly loạn”)



BÁCH KHOA |  SỐ 33

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #160 vào: 18/04/2018, 23:24:28 »
BÁCH KHOA |  SỐ 34  [1-6-1958 |  110 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [III] |  3-8
X. X. X. |  Nhìn qua tổ chức lãnh đạo tiền tệ của Đức |  9-14
Nguyễn Nông Đài |  Nhơn một vụ hạ bệ bảng hiệu Đại học và Cao đẳng |  15-17
Nguiễn Ngu Í |  Nguyễn Huệ (1752-1792) hay là giấc mộng chưa thành [III] |  18-26
Tiểu Dân (dịch) |  Bão tố trên Lục địa Trung Hoa \ Charles Couturier |  27-35
Bách-Khoa |  Trên không giáo hóa, tội không ở dân |  36
Lưu Nguyễn Đ. T. T. |  Nhân mấy cái án các văn nghệ sĩ, học giả, trí thức ở miền Bắc nước Việt |  37-53
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  54
Nguyễn Thiệu Lâu |  Mấy nhận xét về: Vấn đề nước đối với nông dân ở Việt Nam |  55-58
Nguyễn Huy Khánh |  Lược đàm truyện Thủy Hử [III] |  59-64
Diên Nghị |  Vương Vương (thơ) |  65
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 32 và 33 |  66
Vũ Hạnh |  Một chuyến xe |  67-76
Bách-Khoa |  Thế nào gọi là “thất giáo” |  77
Quảng cáo |  78
Phan Lạc Tuyên |  Sầu Tư Bộ Lạc (thơ) |  79-80
Quảng cáo |  81
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai chưa từng có ai dịch: Cát Cân \ Bồ Tùng Linh |  81-88
Bách-Khoa |  Vì đâu vua Thuấn trở nên vua Thuấn? |  88
Quảng cáo |  89
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Đường thi dịch giải: Hạ chung Nam san ngộ Hộc Ty san nhân túc trí tửu \ Lý Bạch |  90-91
Quảng cáo |  92
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XVI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  93-96
Quảng cáo |  97-110


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #161 vào: 19/04/2018, 23:42:22 »


Lược đàm truyện Thủy Hử
000
Vài nét về nhà văn Thi Nại Am
VỀ TIỂU SỬ của nhà văn Thi Nại Am người đã tu soạn bộ Thủy Hử đầy đủ và xuất sắc nhất, hiện chúng ta có rất ít tài liệu. Hồi gần đây, mới phát hiện được hai tài liệu được đăng tải trong quyển “Hưng Hóa huyện tục chí”:
            1.– “Thi Nại Am mộ chí” và
            2.– “Thi Nại Am truyện ký”.
         Mộ chí do Cổ Đạo Sanh đời nhà Minh soạn, chép rằng:
         Thi Nại Am tên Tử An, sanh năm Bính Thân dưới trào Nguyên Trinh đời nhà Nguyên, đến đời Thuận Trào, đậu tấn sĩ khoa Tân Mùi, từng làm quan hai năm tại Tiền Đường, nhơn vì không chịu kết bè với bọn quyền quí, nên từ chức lui về cố lý, đóng cửa trứ thuật. Uất ức, bất đắc chí, đến năm Canh Tuất đời Minh Hồng Võ thọ bệnh mà thác, hưởng thọ được bảy mươi tuổi. Theo lời môn sanh của tiên sinh là La Quán Trung, trứ tác của tiên sinh gồm các bộ: “Chí Dư, Tam Quốc diễn nghĩa, Tùy Đường chí truyện, Tam Đội bình yêu truyện, Giang Hồ hào khách truyện (tức Thủy Hử). Mỗi lần viết xong bản thảo một tác phẩm, tiên sinh đều đưa cho môn sanh xem lại coi có lỗi lầm không”. Trong công việc này, La Quán Trung đã đóng góp khá lớn lao. Thi Nại Am nhà ở Hoài An, lúc mất chôn tại đại doanh Hưng Hóa.
         Còn theo những điều tìm thấy trong truyện ký, thì:
         Thi Nại Am nguyên danh là Nhĩ, người Bạch Câu, tổ tiên gốc ở Cô Tô. Lúc thiếu thời đã rất thông minh, lại giỏi về văn chương. Khoa Tân Mùi đời Thuận Trào nhà Nguyên đậu tấn sĩ, vốn là bằng hữu của Kha Nguyên Hanh, bộ tướng của Trương Sĩ Thành, Sĩ Thành khởi binh mưu đoạt chánh quyền nhà Nguyên, dùng Nguyên Hanh làm tiên phong. Nguyên Hanh bèn tiến cử Thi Nại Am với Sĩ Thành. Nhưng Sĩ Thành mấy phen sai người đến mời, tiên sinh đều từ chối.
         Sau khi chiến thắng quần hùng và xưng vương, Sĩ Thành đến thăm tiên sinh, nhưng người nhà lại không muốn cho tiên sinh tiếp kiến. Sĩ Thành cũng không nệ hà, đi thẳng vào tận tư phòng, chỉ thấy tiên sinh đang ngồi trứ tác. Nguyên lúc ấy, tiên sinh đang viết bộ Giang Hồ hào khách (tức Thủy Hử). Sĩ Thành cười nói:
         ― Tiên sinh không chịu làm quan cầu hiển đạt, mà chỉ muốn trứ tác để tiêu khiển, chẳng là lãng phí năm tháng lắm sao?
         Nại Am nghe nói, lật đật ngưng viết cúi đầu mà rằng:
         ― Thần chẳng tài cán chi, chỉ biết lấy bút mực làm tri kỷ mà thôi. Đại vương hào khí bao trùm hải nội nghe danh đều bái phục. Nay để nhọc lòng đại vương hạ cố giáng lâm, kẻ hèn này thật cam đắc tội. Cố nhiên, chí sĩ phải lập công, anh hùng cần báo chúa, nhưng chỉ vì thần còn mẹ già, chẳng thể đi xa; nếu bỏ người lại, biết nương tựa vào đâu? Duy chỉ mong đại vương thương cho tấm lòng của kẻ ngu hiếu.
         Nói xong, cứ quì phục, chẳng dám đứng dậy. Sĩ Thành chẳng biết làm sao. Đành phải cáo từ, nhưng trong dạ không vui.
         Thi Nại Am thấy tình hình như vậy, sợ ở lâu sẽ có tai họa, bèn dời nhà về Hoài An.
         Những năm đầu đời Minh Hồng Võ, triều đình mấy lần vời tiên sinh, nhưng tiên sinh vẫn không đi, chẳng bao lâu thì thác.
         Dựa theo hai sử liệu trên đây, ta có thể biết Thi Nại Am nguyên danh là Nhĩ, lại có tên Tử An, người Bạch Câu. Tổ tiên gốc ở Cô Tô, sanh năm Bính Thân đời Nguyên Trinh (Nguyên) mất năm Canh Tuất đời Hồng Võ (Minh), thọ 75 tuổi. Đời Thuận Trào, đậu tấn sĩ khoa Canh Tuất, làm quan tại Tiền Đường hai năm, sau đó bất mãn bọn quyền thế, về nhà đóng cửa viết văn. Trứ tác nhiều bộ truyện, trong đó có bộ Thủy Hử nổi tiếng hơn hết. Là bạn thân của Kha Nguyên Hanh, bộ tướng của Trương Sĩ Thành. Trương Sĩ Thành, cũng như Châu Hồng Võ mấy lần mời ra làm quan, tiên sinh đều từ chối. Sau sợ hãi, dời nhà về Hoài An. Lúc mất, chôn tại đại doanh Hưng Hóa.

Mấy đặc điểm của bộ truyện Thủy Hử
         Từ mấy năm nay, truyện Thủy Hử dã được hằng mấy triệu người đọc và say mê. Cho đến ngày nay, bộ truyện này vẫn chiếm một chỗ ngồi khá cao trên lịch sử văn học Trung Quốc.
         Nhưng, Thủy Hử hay ở chỗ nào?
         Đó mới là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm. Dĩ nhiên là văn hay rồi. Nếu không hay sao lại được nhà phê bình trứ danh của Trung Quốc, Kim Thánh Thán, tặng là “văn như nhạc trổi chuông ngân”? Mà cũng chẳng nghe ai cãi lại?
         Tuy nhiên, nếu chỉ hay về phương diện văn chương cũng chưa đủ sức thu hút cảm tình của đông đảo độc giả từ mấy thế kỷ nay.



         Như chúng ta đã biết, bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào muốn trở thành bất hủ, đều phải cống hiến cho loài người chẳng những thành tựu về phương diện nghệ thuật mà còn phải có tác dụng nhất định đối với đời sống nhân loại. Nghệ thuật chân chính phải đem lại cái gì hữu ích cho công cuộc giải phóng con người. Nghệ thuật không những chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đối với sinh hoạt của con người như chánh trị hay triết học mà thôi, nó còn gián tiếp ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội bằng cách thông qua tình cảm, lý tưởng và hành động của những nhân vật điển hình, những đứa con tinh thần, mà nó đã sáng tạo ra trong tác phẩm. Gọi nhân vật điển hình, là những “người sống trong tác phẩm” với những tình cảm, tư tưởng và hành động sát đúng với con người “phổ biến” ngoài đời.
         Như vậy, nghệ thuật tuyệt vời phải là tổng hợp và thể hiện cho được cái “thiện chân, thiện mỹ” của cuộc đời thiết thực. Người văn nghệ nhất thiết phải lấy cái “thiện chân, thiện mỹ” đó làm cơ sở cho nghệ thuật, hơn nữa, làm mục tiêu mà nghệ phẩm của mình phải đạt tới. Xa rời cái “thiện chân, thiện mỹ” đó, nghệ thuật không thể là nghệ thuật chân chính, nghệ thuật trác việt được.
         Tác giả (cứ tạm gọi như thế) Thủy Hử diễn nghĩa chính nhờ bám sát những mục tiêu đó mà đã đạt đến trình độ mực thước của nghệ thuật (dĩ nhiên là vẫn còn khuyết điểm).
         Đọc Thủy Hử, chúng ta khoái trá mà thấy dường như cả một xã hội Trung Quốc của thế kỷ thứ mười hai đang hiển hiện trước mắt chúng ta, với tất cả những thúi nát, rối loạn và xung đột sâu sắc trong bản thân nó.
         Tiêu biểu cho tầng lớp vua quan hủ bại đang thống trị nước Trung Hoa thời bấy giờ là Cao Cầu và nội bọn. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ mà thấy tác giả đã dùng khá nhiều bút mực và công phu để giới thiệu tên Thái Úy xuất thân cờ bạc, du côn, ăn trộm, chỉ nhờ tài cầu và nịnh bợ mà thăng quan ấy. Dưới ngòi bút châm biếm chua cay tài tình của tác giả, chúng ta có thể thấy xuyên qua hình ảnh tiêu biểu Cao Cầu, cả bộ mặt thật của một hệ thống phong kiến mục nát đang hồi suy bại. Từ Cao Cầu, Thái Kinh, Lương Trung Thơ, v.v… cho đến bọn quản dinh, sai phát, công sai…, toàn là một lũ giá áo túi cơm, vô năng bất tài, “văn thì dốt, võ lại chẳng thông”, chỉ biết có mỗi một ngón là tham ô hối lộ, hà hiếp dân lành, tàn hại bá tánh, không việc ác nào mà chúng không dám làm. Lật bộ Thủy Hử ra, có thể nói bất cứ chỗ nào, độc giả cũng tìm thấy những cảnh giựt vợ, bắt con, giết người, cướp của v.v… do bọn quan lại lớn nhỏ đó gây ra.
         Quan là “phụ mẫu dân” mà đã như thế, thì bọn cường hào, viên ngoại tha hồ mà tác oai tác phước. Mỗi một trang viên (như Chúc Gia trang, Tăng Đầu Thị…) là cả một tiểu giang san, mà trong đó thống trị tối cao là các ông chủ lớn, chủ nhỏ với toàn quyền sinh sát trong tay. Người dân nghèo chỉ có nhiệm vụ phải đi lính, đi phu để bảo vệ trang viên cho chúng.
         Có người sẽ hỏi: “Còn pháp luật đâu?”
         Pháp luật gì nữa, một khi mà cả hệ thống quyền uy ấy đã châm rễ vào tận quan trường, triều nội? Mỗi tên cường hào, mỗi chủ trang viên đều có những “gốc dựa” vững chắc – cho nên, chúng ta mới thấy Tây Môn Khánh thông dâm với Kim Liên rồi lại mưu hại Võ Đại Lang mà vẫn yên như bàn thạch (nếu không có Võ Tòng trả oán), Tưởng Môn Thần giựt chỗ làm ăn của người mà vẫn được huyện quan hết lòng che chở. Những điều đó không có gì là lạ, dưới thời phong kiến.
         Cái thúi nát đó còn “ăn lan” cả vào đến cửa thiền. Nhà chùa cũng cho vay nặng lãi, cũng vơ vét của thiện nam tín nữ. Trong cửa Phật, cũng phân chia đẳng cấp, cũng lớn chèn ép nhỏ như ngoài đời. Như thế, chẳng trách gì Lỗ Trí Thâm đại náo Ngũ Đài Sơn?
         Chế độ cai trị của triều đình lại vô cùng khắc nghiệt và bất minh. Động một tí là khắc tự phát phối, là chém đầu răn chúng. Biết bao nhiêu kẻ vô tội như Lâm Xung, Vương giáo đầu v.v… vì hàm oan mà suốt đời lao đao lận đận. Nhà tù là cả một địa ngục trần gian. Nào sát oai bổng, nào đại lao, thổ lao (tựa như khám tối)…, tội nhơn vào đó, nếu không có tiền đút lót cho bọn quản dịch, sai phát, thì chỉ chờ ngày qua thế giới khác.
         Vua quan tham nhũng, tàn bạo, mà lại bất lực, cho nên trộm cướp nổi lên như ong. Không chỗ nào không có cường đạo. Trong giới nào cũng có cường đạo. Trước một tình thế hỗn loạn như vậy, trước cái thế trên đe, dưới búa đó, dân chúng còn sống cách nào được nữa? Ngoài con đường tổ họp lại để “thượng Lương Sơn”?



         Nếu nói nhà văn phải đi sát với sinh hoạt của dân chúng, phải rung cảm theo nhịp điệu tình cảm của dân chúng và phải cùng tham gia làm ăn với dân chúng, thì có lẽ tác giả Thủy Hử chỉ còn thiếu điểm thứ ba thôi.
         Cho nên tác giả đã miêu tả con người trong xã hội phong kiến hết sức tinh tường và sinh động. Mỗi người một vẻ, không người nào giống người nào. Một trăm lẻ tám vị anh hùng, mỗi mỗi đều khác nhau từ tánh tình, tâm lý, đến ngôn ngữ, hành động. Hoàn cảnh nhập Lương Sơn, cũng không người nào trùng với người nào. Người ta bảo trí tưởng tượng của tác giả Thủy Hử thật cực kỳ phong phú. Có lẽ cần phải nói thêm kinh nghiệm sống thực tế dồi dào và tài quan sát tinh vi của tác giả nữa mới đầy đủ.
         Bởi thế, tính tình, tâm lý, hành động của mỗi nhân vật đều được tác giả miêu tả khít khao, sát đúng với hoàn cảnh, gia thế, xã hội mà họ xuất thân, từ Triệu Cái giàu có khôn ngoan, Tống Giang hào hiệp, mềm mỏng, cho đến Lý Quì lổ mãng, hồ đồ, Lỗ Trí Thâm nóng nảy, ngay thẳng, Võ Tòng nghiễu dõng v.v… thảy thảy đều được tác giả chăm sóc một cách chu đáo. Đến cả những Huỳnh Văn Bỉnh gian ngoan, xảo quyệt, Lưu tri trại dốt nát, tiểu mọn… tác giả cũng không hề khinh xuất.
         Đặc biệt là khi vẽ lên tâm trạng của mỗi người trước, trong và sau khi lên Lương Sơn, tác giả đã tỏ ra am hiểu sâu sắc tâm lý của những kẻ bị áp bức dưới chế độ phong kiến.
         Đời nào cũng thế, người dân luôn luôn chỉ muốn được sống yên ổn bằng sự làm ăn cần cù của mình. Dù cực khổ bao nhiêu, họ cũng không nại hà, miễn người ta đừng quấy rầy họ. Hay dù có quấy rầy đôi chút, họ cũng ráng chịu đựng. Lúc nào cũng tự cảm thấy mình quá yếu đuối trước kẻ cai trị quá cường bạo, họ sẵn sàng nhẫn nhịn tất cả để lây lất qua ngày tháng. “Bề nào cũng là kẻ trên, cũng là đức vua, cũng là triều đình”, học tự an ủi như thế để cam tâm gánh lấy số kiếp hẳm hiu của mình. Câu “quân tử thần tử…” được in sâu trong đầu óc họ từ bao nhiêu thế kỷ, đã biến thành nề nếp tư tưởng, tình cảm của họ rồi. Cho nên, ý nghĩ “làm phản, chống lại triều đình” là cả một cái gì quá ư táo bạo. Thà rằng chịu trăm nghìn cay đắng, ức oan, chứ họ không muốn bị mang tiếng phản nghịch.
         Nhưng, “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”. Nanh vuốt của phong kiến cứ ngày càng đục khoét họ đến tận xương tủy. Quan thì tham tàn, vua thì vô đạo, họ còn biết trông cậy vào đâu? Khi đó, ý nghĩ làm phản mới mang máng phát sanh trong đầu óc họ. Nhưng, nghĩ thế thôi, chứ vẫn chưa dám làm. Bởi vì, ý nghĩ làm phản vẫn còn bị cả một trường thành luân lý cũ ngăn cản mạnh mẽ. Nếu trong những lúc đó, triều đình kịp thời thay đổi chánh sách, thanh khiết bộ máy quan lại, thì những người dân bất mãn đó chắc không bao giờ lên Lương Sơn.
         Khốn đỗi, dưới thời phong kiến, đâu bao giờ có được trường hợp như vậy. Một triều đại khi bắt đầu đi xuống dốc, là họ cứ nhắm mắt lần đến khoen cuối cùng của sợi xích diệt vong. Chỉ khi nào dân chúng kiên quyết đứng dậy quật ngã họ, thì khi đó họ mới chịu mở mắt ra. Vì thế, người dân bất đắc dĩ phải lên Lương Sơn.
         Tâm trạng này đã được thể hiện rõ rệt trong các nhân vật Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa, Dương Chí, Lâm Xung, v.v… nhứt là Tống Giang. Họ đều là những người muốn làm dân lương thiện, muốn làm tôi trung thành. Chính chánh sách phản nước hại dân của nhà Tống đã dồn ép họ vào chỗ phải làm những “tôi loàn con giặc” bất đắc dĩ.
         Cho nên, mặc dù đã “thượng Lương Sơn”, họ vẫn mong triều đình có một ngày tỏ ra hiểu biết, hạ chiếu chiêu an, họ sẽ trở về với triều đình để lo ngăn ngừa giặc dữ. Nhưng vua quan nhà Tống lại không bao giờ muốn “hạ mình” nói chuyện với quân “phản loạn”. Đối với nhóm Lương Sơn, cũng như nói chuyện với các nhóm khác, trước sau họ vẫn áp dụng một chánh sách duy nhất là thẳng tay tàn sát. Nhiều binh đoàn to lớn cứ tấp nập kéo lên thảo phạt Lương Sơn.
         Trước tình thế đó, nhóm Lương Sơn không còn cách nào hơn là kiên quyết phủ nhận triều trình, dựng cờ “thế thiên hành đạo”.
         Như vậy chắc đâu họ là tội phạm, mà không phải là nạn nhân đau khổ nhất của một chế độ tàn ác?
         Tất cả những diễn biến tâm lý tình cảm khúc chiết, phức tạp đó đã được ngòi bút sắc sảo của tác giả vẽ lại một cách rất tỉ mỉ, linh hoạt, xác đáng.



         Trong khi viết Thủy Hử, tác giả đã tỏ rõ quan điểm của mình là đứng hẳn về phía dân chúng để thét lên những tiếng kêu đau thương, những nguyện vọng bức bách của lớp người quằn quại dưới ách vua quan.
         Văn của Thủy Hử là một thứ văn bình dị, nhưng thành thật, thiết tha, chan chứa cảm tình. Chính vì thế mà nó đã rung cảm được sâu sắc, kích động được mạnh mẽ hằng trăm triệu con người bị nô dịch. Nó khác hẳn với giọng văn của những bộ truyện như Đãng Khấu truyện (mà người ta đã vô tình hay cố ý gọi là Thủy Hử, từ hồi 71 đến 141) hay Thuận Trị quá giang.



         Kết cuộc của truyện Thủy Hử cũng khác hẳn với các bộ truyện khác. Không có tôn vương, phong quan, mà cũng chưa có đắc thắng khải hoàn gia đình đoàn tụ. Nó đã mạnh bạo vượt qua khuôn sáo cũ là:

                           Công tử lâm nàn đỗ trạng ngươn,
                           Phụng chỉ hoàn hôn với công nương.


         Ở đây, không có ai đậu trạng, không có ai làm vua quan, mà cũng không có ai “hoàn hôn với công nương”.
         Mấy trăm năm trước đây mà dám đưa ra một kết luận cách mạng táo bạo như vậy, tác giả đã biểu lộ một tinh thần bài phong mạnh dạn ít có vậy!



         Với một tác phẩm vĩ đại như Thủy Hử diễn nghĩa, phạm vi một bài báo khó mà bàn cho đầy đủ được. Hơn nữa, hiện nay, những tài liệu về văn học Trung Hoa rất hiếm, mà sự hiểu biết của kẻ viết bài này lại quá kém cỏi. Cho nên, về sử liệu cũng như nhận xét, chắc rằng còn nhiều điểm chưa được chính chắn. Rất mong được các bạn chỉ cho những chổ sơ suất.

NGUYỄN HUY KHÁNH
Sưu tầm và phê phán


BÁCH KHOA |  SỐ 34

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #162 vào: 20/04/2018, 23:20:24 »


                     Vương Vương

            ĐÊM lên đường, vàng võ trăng non,
            Trăng sao buồn lạnh, lối sao mòn!
            Đèn hiu hắt dọi qua phên mỏng.
            Lệ tủi mắt em, hồn xót hồn…
                                    ○
            Súng đạn quân mang nặng vai gầy,
            Ngựa mỏi, đồi cao, núi tiếp mây.
            Rung rúc chim ngàn ca nhịp bước,
            Rộn rực tình sâu, đầy vơi đầy.
                                    ○
            Bóng em lấp lánh bên dòng suối,
            Theo mãi anh đi suốt dặm trường.
            Chạnh nhớ hôm nao mình mới cưới,
            Trầu xanh, cau ngọt, thương càng thương!
                                    ○
            Vội gửi lời về thôn xóm ấy,
            Bảo rằng chiến trận dù chưa thôi!
            Nắng mưa dù lỡ ngăn sông núi,
            Gối phượng, phòng loan, đôi chung đôi.
                                    ○
            Trăng ngả chênh đầu, đêm rưng rưng,
            Thì thầm tiếng lá rụng bên lưng.
            Tưởng em đang nói câu đưa tiễn,
            Gió lộng, cành lay, rừng lại rừng…


                                               DIÊN NGHỊ


BÁCH KHOA |  SỐ 34

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #163 vào: 21/04/2018, 23:41:04 »


                         Sầu Tư Bộ Lạc

                        Say như trưa hè nhiệt đới
                        Quỳ trên cát biển trắng phau
                        Gục đầu trên vai cô gái
                        Đầy hoa mà lòng u sầu

            Hờ ơi im lặng trầm tư như hỏa diệm sơn đã chết
            Hồ nước lạnh ngàn đời trong tim buồn đau tha thiết
            Bập bùng trong đêm nao rực ánh lửa thiêng
            Nhạc của môi hồng mắt lả lơi u huyền
            Cuồng nhạc say ca hờ ơi
            Lửa đỏ môi sóng tay mời
            Ôi hoang vu lời ca lên vút cao
            Chầm chậm bập bùng tiếng trống lửa reo
            Đêm quay cuồng ở tay Em
            Về đâu mộng ước ngàn năm
            Những đêm hoa đăng
            Có hỏa diệm sương ngùn ngụt lửa thiêng
            Có lời ca trầm trầm u buồn
            Có tiếng trống bập bùng ru hồn
            Có vũ khúc man dại say cuồng
            Hồn vũ trụ trên búp tay
            Sầu tư bộ lạc ngày mai
            Hờ ơi man dại nhạc ca
            Tìm đâu dĩ vãng phai mờ
            Những đêm nao lửa gầm như sóng biển
            Ngọt lịm lời thơ điệu nhạc u huyền
            Muôn tay yếu ớt níu hồn nhiên về đâu
            Hiện tại phù du như bãi biển nương dâu

            Trưa nhiệt đới lịm ngủ bên gốc dừa xanh
            Ru hồn trong suối tóc mun đen gợi tình
            Run rẩy trên gót điên cuồng vũ nữ
            Tìm say sưa và hồn nhiên cuộc đời
            Sầu tư bộ lạc tiếng hát chơi vơi


                                       Hạ Uy Di mùa gió 58
                                       (trong tập “Chúng Ta”)

                                       PHAN LẠC TUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 34

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #164 vào: 23/04/2018, 23:10:57 »
BÁCH KHOA |  SỐ 35  [15-6-1958 |  106 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Những chi tiêu của chính phủ và hiện tình kinh tế Việt Nam |  3-8
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [IV] |  9-13
Bách-Khoa |  Phương pháp trị thiên hạ |  13
X. X. X. |  Nhìn qua tổ chức lãnh đạo tiền tệ của Đức [II] |  14-23
Tiểu Dân (dịch) |  Bão tố trên Lục địa Trung Hoa [II] \ Charles Couturier |  24-29
Nguiễn Hữu Ngư |  Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947): một ông già đáng thương [II] |  30-37
Bách-Khoa |  Hành động người quân tử |  37
Nguyễn Thiệu Lâu |  Mấy nhận xét về: Vấn đề nước đối với nông dân ở Việt Nam [II] |  38-42
Lưu Nguyễn Đ. T. T. (dịch) |  Những chặng đường của một cuộc tuyết tan giá rã \ Suzanne Cusumano |  43-51
Bách-Khoa |  Chính sách của bậc Minh vương |  51
Quảng cáo |  52
Vũ Ký (dịch) |  Xem thần thuật ở nhà \ Giovanni Papini |  53-55
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 33 và 34 |  56
Phan Sơn Vũ |  Vấn đề báo chí tại Hoa Kỳ |  57-64
Bách-Khoa |  Đạo của bực Minh vương |  64
Yã-Hạc & Trinh Nguiên |  Một đoạn những ngày qua |  65-67
Triệu Đường & Trúc Mai |  Phượng nở (thơ) |  68
Vũ Quỳnh Bang |  Người lái phụ |  69-73
Tạ Ký |  Chuyện buồn (thơ) |  74-75
Quảng cáo |  76
Phạm Thếng |  Tiếng cuốc đò ngang |  77-82
Bách-Khoa |  Thái độ người quân tử |  82
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  83
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Từ ô dạ đề (thơ) \ Bạch Cư Dị |  84-85
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 29 và 32 |  86
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai chưa từng có ai dịch: Thụy Vân \ Bồ Tùng Linh |  87-89
Quảng cáo |  90
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XVII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  91-94
Quảng cáo |  95-106


SAIGON |  1958