Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 22375 lần)

1 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #180 vào: 09/05/2018, 22:44:21 »


Tần Thủy Hoàng có công hay có tội đối với lịch sử?

Những vấn đề cần được xét lại
trong lịch sử Trung Quốc

I.– Vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc…
TRƯỚC ĐÓ, Trung Quốc còn có một vị vua đứng đầu Ngũ Đế, cũng gọi là Hoàng Đế, nhưng đó chỉ là tên của một vị tù trưởng bộ tộc Hạ trên lưu vực sông Hoàng Hà. Hai chữ “Hoàng Đế” tuy trùng âm, nhưng dị nghĩa.
         Sự thật, phải đợi đến khi Tần Thủy Hoàng ra đời, Trung Quốc mới có vị hoàng đế đầu tiên. Nói thế không phải chỉ vì lý do đơn giản là bắt đầu từ nhà Tần mới có xưng hiệu hoàng đế, mà còn vì một ý nghĩa lịch sử hết sức phong phú nữa. Đó là: bắt đầu từ đời Tần Thủy Hoàng, nước Tàu đã từ một quốc gia chia cắt, phân quyền, trở thành một đại đế quốc thống nhất tập quyền.

II.– Gồm thâu lục quốc, thống nhất sơn hà
         Như chúng tôi đã trình bày (Bách-Khoa số 36: “Hoàng đế xuất hiện từ bao giờ”), trước Tần Thủy Hoàng, chỉ có xưng hiệu “Vương” chứ chưa có xưng hiệu “hoàng đế”, và cũng chưa có một nền quân chủ tập quyền. Các vị “Vương” nhà Châu, tuy mang danh nghĩa “cộng chúa” của chư hầu, nhưng vẫn không có quyền lực thực tế. Dưới Châu Vương, còn vô số chư hầu nữa; mỗi lãnh thổ chư hầu là một “nước”, hoàn toàn độc lập về mọi mặt: tài chánh, quân sự, hành chánh v.v… Thậm chí, có lúc một số chư hầu như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, v.v… còn cường mạnh hơn Châu Vương, dám triệu cả Châu Vương đến làm bình phong để “hiệp thiên tử” mà “lệnh chư hầu”. Qua đời Chiến quốc, chư hầu kiêm tính lẫn nhau, rốt cuộc chỉ còn bảy nước lớn, gọi là “Chiến Quốc thất hùng”. Thất hùng đều xưng vương, coi như không còn có Châu Thiên Tử dưới mắt nữa.
         Sự phân chia manh mún đó đã làm cản ngại lớn lao cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Mỗi “nước” của chư hầu, mỗi “thái ấp” của Khanh Đại Phu là một đơn vị kinh tế tự túc tự cấp, do đó, sức sản xuất rất thấp. Giao thông cách trở, thuế khóa phức tạp, nặng nề, chiến tranh liên miên… đã làm cho chẳng những nông nghiệp bị suy sụp nghiêm trọng, mà thương nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn to tát.
         Vì thế, một quốc gia thống nhất ra đời vô luận như thế nào, cũng tiến bộ hơn trước. Ai thực hiện được việc đó là góp một tác dụng lớn lao vào sự phát triển của lịch sử.


¤

         Một số đông sử gia cũ, đối với Tần Thủy Hoàng, thường không chú ý phê phán những chỗ đúng, chỗ hay, mà chỉ nhắm vào những thủ đoạn hung bạo của ông ta. Dĩ nhiên, trong những thi thố của Tần Thủy Hoàng, vẫn có những điều bạo ngược, làm tổn hại nặng nề đến lợi ích của nhân dân thời bấy giờ. Nhưng chúng ta không nên vì thế mà không nhìn đến phương diện tiến bộ trong chánh sách của ông ta, đã có tác dụng tích cực thúc đẩy lịch sử tiến tới.
         Chúng tôi còn nhớ, trên mặt báo này, bạn Bình Nguyên Lộc đã có lần xác nhận “Tần Thủy Hoàng: một ông vua nhiều sáng kiến”.(1) Theo chúng tôi có lẽ nên thêm “và có nhãn quang chánh trị xa rộng” nữa mới đầy đủ.
         Cái nhìn thấy đúng đắn nhất của ông là đã nhận được trào lưu thống nhất thời bấy giờ. Chính điểm nhìn thấy đó là nhân tố căn bản đã đưa ông ta đi đến những thành công rực rỡ trong công cuộc gồm thâu lục quốc: năm 230 (trước k.n.) diệt được Hàn, năm 228 (trước k.n.) lấy được Triệu, năm 225 (trước k.n.) thôn tính Ngụy, năm 223 (trước k.n.) phá được Sở, năm 222 (trước k.n.) diệt Yên, năm 221 (trước k.n.) diệt được Tề. Thế là chỉ trong vòng chín năm (từ 230 đến 221 trước k.n.) Tần Thủy Hoàng đã hoàn thành được sự nghiệp đại thống nhất Trung Quốc.
         Đương nhiên, thống nhất được Trung Quốc không phải chỉ nhờ tài thao lược của riêng Tần Thủy Hoàng, mà còn do nhiều yếu tố khác nữa, tỉ như:
         – nhờ các nước Chiến quốc đã tiêu diệt được những thái ấp của Khanh Đại Phu mà gom lại thành những vương quốc tương đối rộng, do đó, sau này, nhà Tần chỉ cần đánh được sáu nước là thống nhất được giang san, chứ không phải chinh phục đến “vạn quốc”.
         – trước Tần Thủy Hoàng, nhà Tần cũng đã thi hành một loạt cải cách liên tiếp như: phế tỉnh điền, khai mạch điền xây dựng nhiều công trình thủy lợi, làm cho nền sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh chóng, tăng cường mạnh mẽ quốc lực của Tần.
         Nhưng, trọng yếu hơn hết là yếu tố nhân dân. Như chúng ta đã biết, những cuộc nội chiến ác liệt giữa các nước chư hầu trên năm trăm năm dưới đời Xuân Thu, Chiến Quốc đã làm cho trăm họ vô cùng lầm than, điêu đứng. Vì vậy, tất cả các từng lớp dân chúng đều khao khát mau xuất hiện một quốc gia thống nhất và thái bình. Tần thắng được các nước chính là nhờ đã đáp ứng đúng yêu cầu chính đáng đó.
         Điểm nhìn thấy xa rộng thứ nhì của vua Tần là cương quyết phế trừ chế độ phong vương kiến quốc, và thiết lập chế độ quận huyện, chia Trung Quốc ra thành ba mươi sáu quận, mỗi quận có một Quận Thú, do hoàng đế bổ nhậm, làm việc thẳng với hoàng đế; ngoài ra, trong mỗi quận, còn một Thừa Úy để cai quản ba quân và một Ngự Sử để giám thị Quận Thú. Dưới quận, có huyện. Huyện lớn thì đặt huyện lịnh để cai trị, huyện nhỏ thì huyện trưởng; huyện lịnh, huyện trưởng cũng đều do triều đình bổ nhậm. Dưới huyện, có hương đình. Tất cả những đất phong và vương tước trước kia đều đương nhiên bị hủy bỏ.
         Chánh quyền trung ương thì có Tả Hữu Thừa Tướng để giúp hoàng đế, Ngự Sử Đại Phu để giúp Thừa Tướng, Thái Úy cai quản quân đội, Đình Úy coi về Tư pháp, Trị túc Ngự Sử lo việc Tài chánh và Bác sĩ làm cố vấn. Nhà vua tự xưng là “Hoàng đế”, ý muốn bảo là “đức kiêm Tam Hoàng, công quá Ngũ Đế”, “mệnh vua” gọi là “chế”, “lệnh” gọi là “chiếu”, Hoàng đế tự xưng là “trẫm”, nghĩa là “độc tôn vô nhị”. Tần Vương Chánh tự xưng là “Thủy Hoàng đế” và quy định con cháu đời sau phải tiếp tục xưng “nhị thế, tam thế, tứ thế”, v.v… cho đến vô cùng tận.
         Thiết lập chế độ quận huyện, tuy dụng ý của Tần Thủy Hoàng là để duy trì vững chắc nền thống trị của mình, nhưng đứng về mặt khách quan mà xét, chánh sách đó đã cống hiến to tát vào sự củng cố nền thống nhất Trung Quốc, cả cho những đời sau này nữa.


¤

         Điểm thứ ba đáng được đề cao trong chánh sách của Tần Thủy Hoàng là thống nhất văn tự, thống nhất đo lường, thống nhất tiền tệ, thống nhất chế độ thuế khóa.
         Văn tự nhà Tây Chu (gọi là đại triện hoặc lưu văn), nét bút rất phức tạp. Qua thời Xuân Thu chiến quốc, mỗi nước đều tự canh cải văn tự, cho nên tuy về đại thể, kết cấu vẫn giống nhau, nhưng cách viết và nét bút của từng địa phương đã sai chạy đi rất nhiều. Sau khi gồm thâu lục quốc, vua Tần liền ra lịnh cho bọn Lý Tư chế định lại văn tự cốt sao cho nét bút được đơn giản hơn trước. Về sau, Trình Mạo lại dựa theo những cách viết giản dị trong dân gian mà chế định lại một thứ chữ sáng sủa, dễ viết hơn gọi là “lệ thư”, rất gần với chữ chân phương hiện nay.
         Trước Tần Thủy Hoàng, mỗi nước đều có chế độ đo lường, cân lượng riêng biệt. Vua Tần diệt được lục quốc, cũng hủy luôn cả những cách đo, cân phiền phức đó, mà định ra đơn vị cân, lượng, thước tấc thống nhất.
         Tiền tệ cũng được định chế lại. Những mai rùa, ngọc qui từ đó trở đi sẽ không được dùng làm tiền nữa. Nhà nước đúc một số loại tiền thống nhất, lấy vàng và đồng làm bản vị: vàng là “thượng tiền” mỗi đơn vị là một “dật” (hai chục lượng); đồng là hạ tiền, mỗi đơn vị là nửa lượng.
         Về thuế khóa, nhà Tần đã bãi bỏ tất cả quan thuế có tánh cách địa phương của lục quốc, mà thực hành chế độ thu góp thống nhất.
         Ngoài ra, đối với nông nghiệp, nhà Tần cũng có những khuyến khích đặc biệt, tỉ như: đặt ra chánh sách “dân danh điền”, cho phép dân chúng được tự do mua bán ruộng đất, tiến hành những công trình dẫn thủy nhập điền qui mô, dẫn nước từ Đông-Bắc vào tưới các vùng bình nguyên tỉnh Cam Túc và các nước: Tề, Sở, Ngô, Thục, v.v… cũ, làm cho trên 18 vạn mẫu ruộng khô, cháy trở thành phì nhiêu.


¤

         Làm cho một nước Trung Hoa chia xẻ thành một quốc gia thống nhất về mọi mặt kinh tế, chánh trị, văn hóa, và chấm dứt được tình trạng loạn lạc rối bời trên 500 năm. Tần Thủy Hoàng thật đã có công lớn đối với sự tiến triển của lịch sử Trung Quốc.
         Nhưng, ngoài những thi thố có lợi trên, Tần Thủy Hoàng vẫn còn nhiều hành động phản tiến hóa mà lịch sử không bao giờ quên được.

III.– Bạo tàn phải sớm diệt vong
         Tần Thủy Hoàng chỉ là một vị Hoàng đế của thời đại chuyên chế, hơn nữa lại là vị Hoàng đế đầu tiên xác lập nền quân chủ tập quyền, cho nên tất cả những thi thố của ông ta đều xuất phát từ tham vọng củng cố nền thống trị đó. Vì thế, muốn phê phán vị vua đầu tiên ấy, chúng ta cần phải xem xét kỹ những điều kiện lịch sử phức tạp đương thời mới có thể vô tư được. Nếu không, rất dễ rơi vào thành kiến, thiên lệch.


¤

         Việc đốt sách, chôn học trò là một trong những hành động mà người đời sau công kích kịch liệt hơn hết. Cho nên, chúng tôi xin phép đi sâu một chút vào sự kiện đó.
         Sách Sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng:
         “Thừa tướng Lý Tư tâu: “Hiện nay, bọn nho sinh không theo kim mà theo cổ, bài bác chính sách thời này để mê hoặc lòng dân… Họ cho những điều sở học của họ là đúng mà hay công kích những việc xây dựng của bên trên… Như thế, nếu không cấm thì bên trên, thế vua phải suy, bên dưới, loạn đảng sẽ nhóm thành. Nên cấm đi thì tốt. Xin rằng những sách sử không hợp với pháp chế nhà Tần thì đốt đi. Không phải là quan bác sĩ, mà có tàng trữ Thi, Thư và sách của Bá gia thì phải đem nạp cho Quận Thú và Thừa Úy để đốt đi. Ai bàn bạc Thi, Thư sẽ bắt đem bỏ chợ, hoặc xử tử. Ai dám “thị cổ phi kim” (khen xưa chê nay) thì giết cả họ. Quan lại biết mà không cáo thì cũng xử đồng tội. Đã được lịnh 30 ngày mà không đốt sách thì sẽ bắt đi đắp Trường Thành. Chỉ có sách thuốc, sách bói khoa và sách dạy trồng cây mới được giữ. Ai muốn học pháp lệnh phải đến quan mà học”.
         Tần Thủy Hoàng liền dung nạp kiến nghị của Lý Tư, lập tức hạ lịnh đốt sách. Hằng ngàn, hằng vạn người vì thi hành chậm trễ hoặc chống lại sắc dụ, đã bị bắt đi đày hoặc xử tử. Nhưng, làm xúc động dư luận cổ kim hơn hết là vụ án chôn sống một loạt 460 nho sinh đã phạm tội “khen xưa chê nay”.
         Tuy nhiên, chính sách đốt sách chôn học trò của Tần Thủy Hoàng không phải chỉ có một mục đích đơn giản là đàn áp nhân dân. Dụng ý của vua nhà Tần còn để ngăn ngừa và chế phục sự trổi dậy của những quí tộc lục quốc và phe đảng của họ, đang lăm le khôi phục lại chế độ cát cứ xưa. Như chúng ta đã biết, dưới thời Chiến Quốc, phong khí “dưỡng sĩ” rất thịnh. Những kẻ “sĩ” thường lợi dụng tình trạng hỗn loạn và chia xẻ để thao túng chánh tình. Sau khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, mọi việc đều được sắp đặt lại. Muốn làm quan, phải theo một chế độ nhất định; phải học tập luật lệ mới. Những kẻ “sĩ” thấy chế độ cũ quả là có lợi cho họ, tốt với họ hơn, do đó, mới sinh ra thái độ “khen xưa chê nay”. Đối với những kẻ mưu toan kéo xã hội trở lại chế độ cũ đó, Tần Thủy Hoàng đã không ngần ngại dùng những hình phạt cực kỳ nghiêm khốc mà trừng trị.
         Nhưng, dù thế nào hành động đốt sách chôn học trò vẫn cần phải bị lên án một cách nghiêm khắc.
         Hai dụng ý trên, mới xem qua dường như mâu thuẫn, nhưng kỳ thực đều xuất phát từ một tham vọng duy nhất là duy trì nền cai trị “vạn thế nhất hệ” của nhà Tần. Có thể nói tất cả những hành động của vua Tần đều xuất phát tự điểm đó cả. Tỉ như: ra lịnh tịch thu tất cả vũ khí trong dân gian đem về kinh đô Hàm Dương, đúc thành 12 hình đồng, mỗi cái cân nặng đến 240 ngàn cân. Hành động này, một mặt tuy là để đề phòng âm mưu nổi dậy của lục quốc, nhưng mặt khác cũng là để tước hết phương tiện phản kháng của dân chúng.
         Pháp lịnh và hình phạt của nhà Tần tàn khốc hơn triều đại nào cả, tỉ như: cưa hai, nấu dầu, voi giày, ngũ mã phân thây, cung hình, tru di tam tộc v.v… Dưới sự cai trị của vua Tần, Trung Quốc tự nhiên mà trở thành một địa ngục trần gian. Nhưng ông ta vẫn chưa thấy là đủ.
         Để có thể kịp thời trấn áp những cuộc nổi loạn, ông ta còn ra lịnh bắt dân làm xâu, sửa hết các công lộ, nối liền kinh đô Hàm Dương với lục quốc. Chủ trương đó, về khách quan, cố nhiên là có lợi cho việc phát triển giao thông khuyếch trương thương nghiệp, nhưng đối với vua Tần, trước nhất là có lợi về mặt quân sự.
         Chế độ tô thuế của nhà Tần cũng hết sức nặng. Dân chúng phải nạp đến trên năm chục phần trăm huê lợi của mình cho quốc khố.
         Vua Tần lại hay thích chinh phạt và xây dựng những công trình đồ sộ, cho nên, thường động viên nhân lực một cách quá đáng, tỉ như: sai Mông Quát đánh Hung Nô (từ 215 đến 214 trước k.n.), đắp Vạn Lý Trường Thành,(2) xây Hoàng lăng ở Ly Sơn, dựng cung A Phòng v.v… Chỉ riêng việc dựng cung A Phòng đã phải dùng đến 700 ngàn người.
         Chế độ tàn bạo đó đã làm cho trăm họ vô cùng công phẫn.
         Vua Tần tưởng rằng có thể dùng chánh sách đàn áp quân sự để củng cố nền cai trị, nhưng ông đã lầm và đã thất bại.
         Ông đã đốt hết sách, nhưng không hủy diệt được ý chí quật khởi của trăm họ. Trái lại, chính ngọn lửa bạo tàn đó đã đốt cháy rực lên lòng căm hờn bấy lâu âm ỉ trong tim gan hằng chục triệu con người đau khổ.
         Dù chôn được bao nhiêu nho sinh, ông vẫn không sao vùi dập được sức phấn đấu của một thế hệ sĩ phu đang khao khát tự do.
         Ông đã cẩn thận tịch thu cả binh khí trong dân gian nhưng mười lăm năm sau, Trần Thắng, Ngô Quảng vẫn “chặt cây làm binh khí, bẻ lau làm cờ”, cầm cuốc, xuổng, gậy gộc đứng lên, một tiếng hô, muôn ngàn người hưởng ứng.
         Những công lộ mà ông tính tu sửa để tiện bề phái binh trấn áp mau lẹ các cuộc quật khởi, lại cũng sớm trở thành những phương tiện tập họp mau lẹ lực lượng dân chúng, kéo về đánh đổ bạo Tần.
         Ảo mộng “vạn thế nhất hệ” của Tần bạo chúa rốt cuộc phải tan theo mây khói!


TRẦN HÀ

____________________________________
(1) Bách-Khoa số 10 ngày 1-6-1957.
(2) Vạn Lý Trường Thành chạy từ Sơn Hải Quan (Hà Bắc) đến Gia Cốc Quan (Cam Túc), dài trên 5.000 dặm.


BÁCH KHOA |  SỐ 38

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #181 vào: 10/05/2018, 23:24:35 »


                   Trùng Dương Cách Cảm

           … “Mẹ đau con chẳng biết, mẹ mất con chẳng hay,
        biển rộng trời cao muôn dặm luống trông tin mẹ mãi”.

                                           ―  Tây-Hồ Phan Châu Trinh

            CHO con về,
            Đìu hiu mưa gió thổi,
            Nẻo quê xinh, cát trắng ướt chân dừa;
            Xa lắm rồi
            Chặng đường nhỏ về quê xưa.
            Chim mỏi cánh không mang giùm nhắn gởi.
            ○
            Cho con về,
            Nụ cười trai vẫn nguyên màu tươi sáng,
            Buồn mênh mang lai láng mỗi bước đường,
            Nói làm sao đây,
            Một về vẫn tròn vẹn tình thương.
            Có nên cười.
            Hay khóc.
            ○
            Mẹ ơi!
            Con về đây,
            Hai bàn tay không ôm trùm trái đất,
            Manh áo tả tơi,
            Lòng ưu tư gió bụi ngập tràn đầy.
            ○
            Khép giùm con cánh cửa,
            Mơ xa xôi về thổi lạnh phên xiêu;
            Con chấp tay…
            Nhớ ra đi.
            Một buổi tất nắng chiều,
            Chân bé quá và lòng ươn ướt lệ.
            ○
            Không ạ!
            Muôn trùng không êm êm như lòng mẹ,
            Con trở về càng bé bỏng hơn xưa
            Mười năm ra đi,
            Ngày trở lại nào thấy gì
            Tâm tư mang nặng dấu giày nghiêng ngả.
            ○
            Không! Không!
            Sông dài đơn chiếc quá
            Khách sang ngang như còn bận bao điều;
            Cho con về.
            Mùa đông này sương gió xuống đìu hiu,
            Tình!
            Bạn!
            Và tuyết trắng
            Từng cánh nhẹ rơi rơi đầy góc phố.
            ○
            Cho con về. Bên nụ cười hiền hậu,
            Mẹ ơi! Nụ cười yêu tóc trắng gió lay bay,
            Con xin về,
            Cho bõ những ngày
            Nhớ tấm tức nụ cười cưng thằng bé dại…


                                         NGUYỄN VĂN CHÂU
                                         Dâng mẹ hiền nghìn trùng xa cách
                                         Ba-Lê, Một chiều vào Thu



BÁCH KHOA |  SỐ 38

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #182 vào: 11/05/2018, 22:18:40 »


                          Đôi mắt
                                              Không gởi một ai

            XAO động tựa niềm trai mười tám
            Được giai nhân một sớm cầm tay…
            Thuyền du ghé bến tình nao sóng
            Ai vượt trùng dương mà chẳng say?

            Ngang tàng chí lớn trùm thiên hạ,
            Đâu lẽ dìm sâu tận đáy hồ?
            Trở gối vơi canh hoài mộng lạ,
            Lệ nhòa song cửa dáng mưa ngô.

            “Ngô đồng nhất diệp…” thu về đó,
            Trăng, sao mùa thu dăng đầu ngõ;
            Hoa nở lòng xuân xin ánh ngân,
            Nhìn lên… người thơ lòng bâng khuâng.

            Người thơ viết bài thơ “Đôi mắt”,
            Viết để không hề gửi một ai…
            Mưa nguồn chớp bể đêm dằng dặc,
            Rồi Hạ, rồi Thu, ấp ủ hoài.


                                     Đầu Hè mậu tuất
                                     VŨ HÂN
                                     (Mai sau)



BÁCH KHOA |  SỐ 38

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #183 vào: 11/05/2018, 23:24:31 »
BÁCH KHOA |  SỐ 39  [15-8-1958 |  112 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Tiểu Dân |  Nước Pháp và giải pháp De Gaulle [II] |  3-11
Nguyễn Hiến Lê |  Xã hội theo Nho giáo |  12-17
Dương-Tuyền dã phu Phan Vọng Húc |  Những bài thơ hay của Băng Hồ Công Trần Nguyên Đán |  18-20
Phùng Bá Khanh |  Lược sử về Thuốc Bắc |  21-22
Nguiễn Ngu Í |  Nguyễn Huệ (1752-1792) hay là giấc mộng chưa thành [IV] |  23-35
Phan Sơn Vũ |  Vấn đề báo chí tại Hoa Kỳ [III] |  36-41
Bách-Khoa |  Làm điều nhân, phải thấy xa |  41
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Chùa Thiên Mụ (hay là Linh Mụ) |  42-46
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [II] |  47-51
Bách-Khoa |  Giới thiệu: Bách-Khoa đóng thành tập |  52
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam |  53-57
N. T. M. T. D. |  Đọc Thơ |  58
Cô Liêu |  Những trang nhật ký viết bằng máu và nước mắt |  59-63
Bách-Khoa |  Sự học quan trọng thế nào? |  63
Phan Lạc Tuyên |  Hát một mình (thơ) |  64-65
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  66
Võ Phiến |  Lỡ làng |  67-81
Nguiễn Hữu Ngư & Xuân Hiến |  Dòng Bến Hải (thơ) |  82-83
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai chưa từng dịch: Cô Bảy họ Tiêu \ Bồ Tùng Linh |  84-87
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Đường thi dịch giải: Hành lộ nan \ Lý Bạch |  88-89
Quảng cáo |  Đón coi: Bộ Đại cương Văn học sử Anh quốc của Phạm Công Thiện |  90
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 37 và 38 |  90
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  91-97
Quảng cáo |  98-112


SAIGON |  1958




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #184 vào: 12/05/2018, 23:10:48 »


Lược sử về Thuốc Bắc

Tặng các Đông Y sĩ toàn quốc

CÓ LẼ ngay từ Thượng cổ, tổ tiên người phương Đông đã biết khai thác các dược tính của thực vật để làm vị thuốc trị bịnh ngoài da và nội tạng. Có điều phải trải qua lần hồi, từ đời này sang kiếp khác, bằng kinh nghiệm bản thân, tổ tiên chúng ta mới có thể khám phá được hằng hà sa số vị thuốc, mà thế hệ chúng ta đang may mắn được thừa hưởng hiện thời.
         Tục truyền vị Tổ sư nghề thuốc Bắc là vua Thần Nông, đản sinh ngày 28-4-3220 trước kỷ nguyên Thiên Chúa giáo. Dã sử còn chép: “Thần Nông thị thường bách thảo”, nghĩa là vua Thần Nông đã có công nếm vị của hàng trăm loài thảo mộc để nghiên cứu xem ảnh hưởng của thúng đối với thể chất loài người ra sao?
         Nối chí Thần Nông là vua Hoàng Đế (2700-2600 trước Thiên Chúa giáng sinh) và ông Tể tướng Kỳ Bá, mà đời sau đã xưng tụng là “Y Khoa Tam Kiệt”. Cho nên, đến thế kỷ thứ nhứt sau Tây lịch, người ta đã soạn cuốn “Thần Nông Bản Thảo () Kinh” kèm thêm danh sách của 365 vị thuốc bắc. Tiếp theo là các cuốn “Hoàng Đế nội kinh” và “Hoàng Đế nan kinh”.
         Về đời nhà Thương (1766-1123 trước T.L.), ông Tể tướng Y Doãn lại phát minh phương pháp “sắc thuốc”, để nấu kỹ lấy nước cho bịnh nhân uống.
         Năm 127 sau Thiên Chúa, danh y Trịnh Huyền (Cheng-Hian) viết cuốn “Chu lễ”, mà trong đó, có dạy cách dùng thủy ngân làm đông dược.
         Năm 200, lương y Trương Trọng Cảnh (Chang-Chung-King), soạn sách “Thương hàn luận”, có đề cập thêm các vị thuốc chữa ho, nóng, cảm, mửa, kiết lỵ, thổ tả, bổ tỳ và kiện vị v.v…
         Dưới thời Tam Quốc (222-447), có ông Hoa Đà (Hwa-To) là một vị thánh y lừng danh bốn cõi. Bất luận về nội khoa, ngoại khoa, sản khoa hay khoa châm chích, ông đều tinh thông tất cả. Nhưng ông giỏi nhứt là về kỹ thuật ngoại khoa mà ông đã biết dùng chất ma túy làm thuốc mê để cho bịnh nhân khỏi bị đau đớn, trong khi cần mổ xẻ.
         Chính ông đã chữa nhiều chứng bịnh hiểm nghèo cho Đại tướng Quan Vũ nhà Thục và Thừa tướng Tào Tháo nhà Hán.
         Tiếc rằng Hoa Đà là người quá khảng khái. Đã có lần, ông cự tuyệt không thèm nhận chức Thái úy của Triều đình, là một chức rất lớn của Cựu chế Trung Hoa.
         Và cũng chính vì cái thói hiên ngang bất khuất ấy, mà về sau, ông bị Tào Tháo hạ ngục, khiến cho hầu hết các tài liệu y khoa do ông biên soạn đều bị thiêu hủy ra tro mất cả.
         Đến đời nhà Đường (618-907), các quan ngự y lại viết cuốn “Khai Bảo Bản Thảo” và hướng dẫn thêm về phương thuốc trừ diệt ký sinh trùng tức bịnh giun và sán lãi… Đồng thời, cuốn “Đường Bản Thảo” cũng tốn công trong suốt 5 năm (650-655) nghiên cứu, sưu tầm mới thành tựu.
         Sang triều nhà Minh (1363-1644), một vị y học đại danh là Lý Thời Trân (Li-She-Chen – 1518-1593) lại soạn thêm cuốn “Bản Thảo Cương Mục”.
         Cuốn này xứng đáng là một bộ y thư cự phách mà tác giả đã vất vả trong 27 năm trời liên tiếp mới viết xong.
         Sách chia làm 13 bộ gồm 52 quyển. Nội dung trình bày dược tính của 1094 loài thực vật, hơn 400 động vật và hơn 200 khoáng vật.
         Đặc biệt là tác giả đã giải thích rất công phu và tỉ mỉ về nơi sản xuất, hình vóc, sắc thái và khí vị của riêng từng loại dược phẩm, kèm theo phương pháp phối chế và bịnh căn chuyên trị.
         Về phương diện phối chế, thuốc Bắc được trình bày dưới nhiều hình thức như sau:
         Cao tễ (thuốc cao), đan tễ (thuốc bốc theo toa), hoàn tễ (thuốc viên), tán tễ (thuốc bột) v.v…
         Hiện nay, nhiều vị Đông y đều trị bịnh theo phương pháp Lý Thời Trân trong cuốn “Bản Thảo Cương Mục”, và đã cứu thoát rất nhiều đồng bào hoạn nạn ốm đau.


Cao nguyên
PHÙNG BÁ KHANH
(Dịch báo Tàu)


BÁCH KHOA |  SỐ 39

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #185 vào: 13/05/2018, 23:16:48 »


Đọc Thơ
000
                            Trông trời mưa nhớ trời mưa
                  Ngồi đây không tiễn không đưa mà buồn!


ĐÓ LÀ hai câu thơ mở đầu và cũng là hai câu kết trong bài “Mưa lọt lòng chiều” của Diệu Thanh. Với những vần êm êm, dịu nhẹ, Diệu Thanh đã rót vào tâm hồn người đọc một nỗi buồn mênh mang, khó tả – Nỗi buồn thể hiện ra nơi những giọt nước đều đều, rả rích trong lúc nhá nhem, và được Diệu Thanh ghép vào những vần lục bát thật là duyên dáng.
         Mỗi khi nói đến hình thức thi ca thuần túy dân tộc, chúng ta không khỏi không nghĩ đến thể thơ Lục bát. Diệu Thanh đã dựa vào thể thơ này để phát triển tài năng mình. Chúng tôi nghĩ rằng Diệu Thanh đã không chọn lầm.
         Xưa cũng như nay, thể thơ Lục bát vẫn giữ được vị trí đặc biệt của nó trên dòng thi ca luôn luôn chuyển biến của chúng ta. Không kiểu cách như thơ Đường, không ồn ào như thơ Mới (thơ buông), không phóng túng như thơ Tự do; những vần Lục bát hiền lành len lén thấm nhập vào tâm tư ta như hương vị bát nước chè tươi ngát khói.
         Giờ đây, nâng bát nước đầy vơi, chúng ta hãy nhấp thêm một chút cho đậm tình dân tộc:

                          Mưa tuôn, gió cũng đành tuôn
                  Chim bay nước cũng theo nguồn mà trôi
                              Thì ra nước hẹn cây đồi,
                           Và đây là lá hẹn rơi bên bờ!


         Diệu Thanh có những nhận xét thật là tế nhị, nhất là phương tiện tình cảm:

                               Vội xa để nhớ khi gần,
                  Vội hờn, mau giận để thân nhau nhiều.

                                            (Mưa lọt lòng chiều)

                              Ồ sao hoa rụng đầy đường
                  Mà trong hồn cũng tàn hương lạnh lùng?

                                                            (Hoài Cảm)
                  . . . . . .

         Đọc qua một số bài khác, điều nhận xét trước hết của chúng tôi là Diệu Thanh không chịu đi xa hơn mấy đề tài hơi có vẻ “công thức” (Hoài cảm thương cảm…) và đôi khi Diệu Thanh thường nhắc đi nhắc lại một đôi vần sáo cũ.
         Thơ Diệu Thanh không có những nét thật độc đáo, những viết đều tay, bài nào cũng dễ cảm người đọc:

                       Rung rinh nắng động hồ xinh,
                    Êm êm dừa ngả, trao tình êm êm
                     Đường xanh mắt gót chân mềm
                  Cửa hoa e thẹn, gió thềm gửi hương…

                                                   (Bên xứ bạn)

                      Chiều nay mây trắng qua sông,
                  Chim đàn gọi gió hoài mong bên bờ.
                      Người đi rừng khép sương mờ
                   Kẻ về trông bóng con đò xa xa…

                                                   (Hoài cảm)

         Trong những bài thơ gửi tới tòa soạn, cũng có một số bài thuộc loại thơ bảy chữ, nhưng chúng tôi tưởng Diệu Thanh không mấy thành công về loại này, nên chúng tôi đã không bàn tới.


N. T. M. T. D.


BÁCH KHOA |  SỐ 39

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #186 vào: 14/05/2018, 22:50:49 »


                     Hát một mình

            ĐƯỜNG xa còn dài đi chưa hết
            Hun hút dáng chiều lên mi mắt
            Từng quán gió cô đơn ngủ bên đường
            Từng mái tóc chĩu nặng buồn tha hương
            Tóc bời sương gió
            Như mây ngàn bay
            Tiễn đưa bao lần nhớ
            Không về đôi bàn tay
            Một mảnh tàn nhỏ bé nằm trong trang nhật ký cũ
            Đượm nhiều kỷ niệm âm thầm của lòng biển khơi
            Sao trống rỗng vẫn chạy trong mạch máu
            Dù uống hết rượu Ngân Hà vòm trời
            Tôi từng mê ngủ trong làn hương của rừng hoa
            Mà lòng rạo rực nỗi hận sầu Dương Quý Phi
            Bừng dậy đêm hoàng hôn ngủ ở trong làn tóc gió sương
            Những vì tinh tú ấp ủ tôi như bàn tay mẹ hiền
            Từng mái nhà mở nếp kinh cầu nguyện
            Để đọc lên lời tha thiết các vì sao
            Khi Vô Cùng không muốn ngự ở trái tim loài Người
            Những mái chùa cong nức nở
            Xác phật buồn, tim chảy máu
            Bệnh truyền kiếp dâng về
            Lửa linh hồn hết cháy hình hài
            Đã lụi tàn mà sầu còn lạnh tê
            Thuyền ai trôi trên giòng Ngân Hà
            Lạnh lẽo buốt tê buồn xa lạ
            . . . . . . .
            Sầu cô độc như đường về Tây Trúc
            Trong bão lốc ghê hồn sa mạc hoang vu
            Khi Đường Tăng hướng tới bóng Bồ Đề.

            Tôi cúi xuống
            Tháng ngày là bánh xe
            Đang qua bao nhiêu vườn hoa…


                                     PHAN LẠC TUYÊN
                                     1958



BÁCH KHOA |  SỐ 39

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #187 vào: 14/05/2018, 23:06:09 »

Đón coi: Bộ Đại cương Văn học sử Anh quốc của Phạm Công Thiện

TRỌN BỘ gồm 7 cuốn (trên 1.000 trang), một bộ sách biên khảo đầu tiên về văn học sử Anh quốc tại Việt Nam.
         Trích lời tựa giới thiệu của học giả NGUYỄN HIẾN LÊ: “Gần như không thể tin được! Vâng, lần đó tác giả lại thăm tôi, tôi tưởng là một học sinh trung học.  Rồi thì tôi nhận được cuốn Anh ngữ Tinh âm từ điển của ông tự xuất bản.  Và hôm nay nhận được cuốn Đại cương Văn học sử Anh quốc và biết thêm rằng ông mới mười sáu tuổi! Ông viết từ hồi nào nhỉ, mà trong bảng kê sách của ông đã có mười lăm tác phẩm, toàn thuộc loại khảo cứu?  Chỉ đọc bộ Đại cương văn học sử Anh quốc nầy cũng thấy tinh thần ông già giặn hơn tuổi nhiều lắm…  Chỉ nội cái công phu khảo cứu, sưu tầm, phân tích, ghi chép rành rẽ của ông, cũng đủ cho tác phẩm có một địa vị trong thư viện của chúng ta rồi v.v… (Tựa giới thiệu bộ “Đại cương Văn học sử Anh quốc” đề ngày 22-11-1957).

         Cùng một tác giả sẽ xuất bản:  TỔNG QUAN LỊCH SỬ VĂN HỌC THẾ GIỚI (2 cuốn);  ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC SỬ ĐÔNG PHƯƠNG (3 cuốn);  VĨ NHÂN VĂN HỌC THẾ GIỚIVĂN HỌC TRUNG QUỐC YẾU LƯỢCVĂN HỌC MỸ QUỐC CƯƠNG YẾU,  vân vân.

         Muốn bán bản quyền cho một nhà xuất bản đứng đắn những tác phẩm tự học ngoại ngữ cùng một tác giả:
             ―  ENGLISH IN A HURRY
             ―  TÔI NÓI TIẾNG ĐỨC  (Ich spreche deutsch)
             ―  TÔI NÓI TIẾNG Ý  (Parlo italiano)
             ―  TÔI NÓI TIẾNG TÂY BAN NHA  (Hablo espanol)


                   Thư từ giao dịch xin đề:  PHẠM CÔNG THIỆN,
                             43,  Thủ Khoa Huân  ―  MỸ THO



BÁCH KHOA |  SỐ 39

 
The following users thanked this post: Mua về để đấy

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #188 vào: 15/05/2018, 22:04:52 »
BÁCH KHOA |  SỐ 40  [1-9-1958 |  114 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Phạm Duy Lân |  “Thị trường chung” Âu châu |  3-9
Nguyễn Hiến Lê |  Chính sách chính trị của Nho giáo |  10-19
Bách-Khoa |  Tư cách làm người của Quản Trọng |  19
Nguyễn Thiệu Lâu |  Việc giữ cửa Hàn vào năm Mậu ngọ (1858) |  20-23
Tiểu Dân |  Bên lề những biến cố chính trị ở Liban Irak: Trung Đông đi về đâu? |  24-30
Trần Hà |  Lữ Bất Vi là cha ruột của Tần Thủy Hoàng? |  31-33
Thiên Giang |  Ta phải lưu ý đến cái tiềm lực vĩ đại có sẵn trong đứa trẻ |  34-41
Bách-Khoa |  Thông báo tòa soạn thay đổi địa chỉ |  42
Viên Đài & Nguyễn Đồng |  P. J. B. Trương Vĩnh Ký: người đã mở đầu một kỷ nguyên văn học Việt Nam mới |  43-57
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [III] |  58-63
Cô Thoại Nguyên |  Nhân ngày phụ nữ Phù Tang ngậm ngùi |  64-67
Phan Lạc Tuyên |  Thương (thơ) |  68-69
Bích Chương |  Điểm sách: Nhân một bài điểm sách |  70
Võ Phiến |  Lỡ làng [II] |  71-81
Nguyễn Văn Châu |  Tư cố nhân (Trùng Dương Cách Cảm II) (thơ) |  82-83
Bách-Khoa |  Sách báo mới |  84
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai chưa từng dịch: Vương Quế Am \ Bồ Tùng Linh |  85-89
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [II] |  90-93
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  94-97
Quảng cáo |  98-114


SAIGON |  1958




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #189 vào: 15/05/2018, 23:42:15 »


Chính sách chính trị của Nho giáo

ĐỌC BÀI TRƯỚC, độc giả đã thấy rằng trị nước, theo Nho giáo là giữ trật tự trong xã hội (trị có nghĩa vậy, có trật tự, trái với loạn), một trật tự mà nhà Nho cho là tự nhiên và công bằng. Có hai cách giữ trật tự: một là trọng lễ nghĩa, hai là dùng pháp luật. Thường thường chế độ chính trị nào cũng phải dùng cả hai, nhưng Nho giáo vốn trọng đạo đức, không phân biệt chính trị với đạo đức, cho sự tu thân là gốc của trị quốc thì lẽ tất nhiên, trọng lễ nghĩa hơn pháp luật.
         Đại Đái Lễ Ký có câu: “Cái biết của người là chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có; pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi. Ôi lễ, lễ quý ở chỗ dứt được điều ác từ lúc chưa nẩy mầm ra, gây lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày gần điều thiện, xa tội lỗi, mà tự mình không biết”.
         Lễ dạy người ta nên làm điều gì, không nên làm điều gì; pháp luật cấm người ta làm điều gì, nếu không tuân thì phải tội. Lễ có ý nghĩa giáo dục, đề phòng; pháp luật có ý nghĩa trừng trị. Lễ có tính cách khoan nhân; pháp luật có tính cách bạo tàn. Cho nên Khổng Tử ghét dùng hình pháp, nói “Xử kiện thì ta cũng như người khác thôi, phải làm sao cho đừng có kiện tụng chứ” (Đại học). Thậm chí, ông cho rằng “mắng giận để cải hóa dân là phương pháp kém nhất” (Trung Dung).
         Tuân Tử mặc dầu chủ trương thuyết tính ác mà vẫn trọng lễ, nhạc, chưa xa đạo Khổng nhiều; đến Hàn Phi Tử, không nói đến nhân nghĩa nữa, mà trọng hình pháp, thì đạo Nho đã sai lạc hẳn đi rồi.



         Muốn giữ trật tự trong xã hội, thì điều cốt yếu là mỗi người phải giữ địa vị và bổn phận của mình; địa vị càng cao thì tài đức càng phải lớn. Đó là một lý tưởng khó thực hành được và thời nào cũng có nhiều kẻ tài, đức không xứng với địa vị mà gây mối loạn trong xã hội. Để trừ tệ đoan đó, Khổng Tử đề xướng thuyết chính danh. Ông bày tỏ một cách kín đáo chủ trương của ông trong bộ Xuân Thu, và môn đệ ghi chép những lời giảng dụ của ông trong bộ Luận Ngữ, chương Tử Lộ:
         Một hôm Tử Lộ hỏi ông:
         ― Nếu vua nước Vệ nhờ thầy sửa việc chính trị thì thầy làm điều gì trước?
         Ông đáp:
         ― Tất phải sửa danh cho chính trước hết.
         ― Có đâu thế? Thầy nói vu khoát. Sửa danh cho chính trị để làm gì?
         ― Anh quê mùa lắm. Người quân tử chưa biết điều gì thì đừng vội nói. Danh không chính thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng, lễ nhạc không hưng thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết xử trí ra sao cho khỏi bị hình phạt. Cho nên người quân tử danh mà chính thì tất nói được, nói được thì tất làm được.
         Chỗ khác ông lại nói: “Cái cô (một loại bình đựng rượu) mà không ra hình cái cô, thì không phải là cái cô” (Luận ngữ – Ung Dã). Phải chăng ông muốn ám chỉ rằng kẻ làm vua làm quan mà tàn bạo với dân thì không phải là vua là quan và như vậy không đáng cho dân kính trọng, tuân mệnh nữa?
         Tuân Tử cũng cho sự chính danh là cần thiết: “Nếu kẻ vương giả lại sinh ra đời thì tất lại theo cái danh cũ mà sửa cái danh mình cho chính”. Ông viết một chương về chính danh, phát huy được nhiều điều mới, song đứng về phương diện triết lý, hình pháp hơn là đứng về phương diện đạo đức như Khổng Tử.



         Trật tự xã hội đã quy định tỉ mỉ, ai cứ theo phận nấy là quốc gia bình trị; sự thành lập chính đảng hóa ra vô ích, cho nên Nho giáo ghét chính đảng. Khổng Tử nói: “Quân tử kính mà không tranh, quần tụ mà không có bè đảng” (Luận ngữ – Vệ Linh công); lại nói: “Thiên hạ có đạo thì người thường không bàn bạc, nghị luận việc nước” (Luận ngữ – Quý thị). Mạnh Tử cũng nói: “Ngôi thấp mà bàn việc cao là có tội” (Vạn Chương – hạ).
         Vậy Nho giáo lấy ý chí của quốc gia làm ý chí của cá nhân. Cá nhân của Nho giáo phải theo một lý tưởng chung để hiệp lực làm cho xã hội được điều hòa.
         Về phương diện đó, chính trị Nho giáo có tính cách chuyên chế, nhưng vì nhà cầm quyền phải tôn trọng ý chí của dân, như ý của Trời, và có thể bị dân lật đổ nếu không làm tròn nhiệm vụ, nên sự chuyên chế của chính thể quân chủ Nho giáo khác sự chuyên chế của chính thể quân chủ phương Tây hồi xưa.
         Theo nguyên tắc, cũng không có vấn đề thiểu số phục tùng đa số, vì ý chí của nhân dân là ý chí của hạng nhân dân sáng suốt, chứ không nhất định phải là của đại đa số quần chúng. Ta có thể nói rằng có chuyên chế là chuyên chế của kẻ tài đức mà thôi. Sự chuyên chế đó thi hành cách nào thì ta không được biết; trong tứ thư ngũ kinh ta không thấy nói rõ cách dẹp các đảng phái ra sao.(1)



         Cũng do lẽ trọng đạo đức mà đạo Nho xét nghĩa vụ hơn là xét quyền lợi: Khổng Tử không chê hẳn lợi là thấp nhưng bảo kẻ làm điều nhân thì phải bỏ mệnh và lợi đi. (Tử hãn ngôn lợi dữ mệnh, dữ nhân). Đến đời sau có lẽ tinh thần vụ lợi mạnh quá, cho nên Mạnh Tử nhiệt liệt tấn công chính sách vụ lợi. Ông bảo: “Nước không lấy lợi làm lợi mà lấy nghĩa làm lợi”.
         Khi qua nước Lương, Lương Huệ Vương hỏi ông:
         ― Ông có điều gì làm lợi cho nước tôi không?
         Ông gạt ngay đi:
         ― Nhà vua hà tất phải nói lợi, Chỉ có nhân nghĩa mà thôi. Nếu ông vua nói: “Làm thế nào cho lợi nước ta?” Thì quan đại phu cũng nói: “Làm thế nào lợi cho nhà ta?”, kẻ sĩ và thứ dân cũng nói: “Làm thế nào lợi cho thân ta?”, mà trên dưới ai nấy cũng tranh nhau về lợi thì nguy mất. Trong một nước vạn cỗ xe, kẻ giết vua tức là nhà có ngàn cỗ xe; trong một nước có ngàn cỗ xe, kẻ giết vua tức là nhà có trăm cỗ xe. Vua có vạn, bầy tôi có ngàn, vua có ngàn, bầy tôi có trăm, như vậy không phải là không nhiều rồi. Nếu chỉ nghĩ đến lợi trước, đến nghĩa sau thì kẻ dưới không chiếm được của người trên không cho là đủ (…) Nhà vua chỉ nên nói đến nhân nghĩa, hà tất nói đến lợi. (Lương Huệ Vương – thượng).
         Lần khác, Tống Hinh ngỏ ý với ông muốn sang Tần, Sở để lấy điều lợi hại can hai nước ấy đừng đánh nhau, ông khuyên:
         “Nếu ông lấy điều lợi mà nói với vua nước Tần, nước Sở thì vua hai nước ấy sẽ vì lợi mà thôi đánh nhau; nhưng nếu ai cũng chỉ thích vì lợi thì người làm tôi sẽ lấy lòng mong lợi mà thờ vua, người làm con sẽ lấy lòng mong lợi mà thờ cha, người làm em sẽ lấy lòng mong lợi mà thờ anh. Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ cả nhân nghĩa, chỉ đem cái lòng mong đợi lợi mà tiếp đãi nhau, như vậy mà nước không mất là điều không có. Nếu lấy nhân nghĩa mà nói thì người làm tôi sẽ đem lòng nhân nghĩa mà thờ vua, người làm con sẽ đem lòng nhân nghĩa mà thờ cha, người làm em sẽ đem lòng nhân nghĩa mà thờ anh: vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi mà chỉ đem lòng nhân nghĩa tiếp đãi nhau, như thế mà không trị được thiên hạ là điều chưa có. Vậy thì hà tất phải nói lợi” (Cáo Tử – hạ).
         Tóm lại, Nho giáo tin rằng hễ bỏ lợi dùng nghĩa là thiên hạ bình: “Lấy đức mà làm chánh trị thì thiên hạ sẽ quy phục như sao Bắc đẩu ở một chỗ mà các sao khác chầu cả về” (Luận ngữ – Vi chính); còn “bất nhân mà được thiên hạ quy phục thì chưa từng có” (Mạnh Tử – Tận tâm, hạ).



         Trật tự được quy định, trên dưới chỉ nói đến nghĩa vụ, chứ không xét quyền lợi, thì các giai cấp tất hòa hiệp với nhau hơn là đấu tranh nhau. Lời xét đoán dưới đây của một học giả Nhật Bản(2) có phần xác đáng. Đại ý học giả đó nói:
         “Trong lịch sử phương Tây, mỗi khi có nguy cơ về cách mạng thì các nhà cách mạng đều nghĩ rằng giai cấp trên phải hy sinh quyền lợi mới tránh được cách mạng; nhưng giai cấp đó không chịu hy sinh và cách mạng phát. Như ở thế kỷ 18, tình hình xã hội Pháp, Đức như nhau mà ở Pháp có cách mạng, ở Đức không, chính vì nhà cầm quyền Pháp và hai giai cấp trên không chịu nhường bớt quyền lợi cho giai cấp bình dân, như ở Đức.
         “Sở dĩ thế giới thời nay có những cách mạng xã hội là vì giai cấp tư bản chỉ vụ lợi kỷ. Đề xướng nghĩa vụ cho giai cấp đó, giảng cho họ chịu hy sinh là có thể tránh được sự uy hiếp của chủ nghĩa xã hội, ngoài ra không có giải pháp nào cả. Nói cách khác, là phải theo chính sách của đạo Nho. Phải chăng vì lẽ đó mà sau mỗi kỳ đại chiến, người Âu lại hăng hái nghiên cứu Nho giáo?”



         Đã trọng nhân nghĩa thì tất ghét chiến tranh, khinh vũ lực. Có lần Tử Cống hỏi về chính trị, Khổng Tử đáp:
         ― Làm chính trị cần dân có đủ ăn, trong nước có đủ binh lính, dân tin ở ta.
         Tử Cống lại hỏi:
         ― Nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba điều đó thì bỏ điều nào trước?
         ― Bỏ binh lính.
         Lần khác, thủ tướng nước Lỗ là Quý Thị muốn đánh nước Xuyên Du, một phụ dung của Lỗ, Nhiễm Hữu và Quý Lộ vào yết kiến Khổng Tử, thưa Khổng Tử, Khổng Tử mắng. Nhiễm Hữu tự bào chữa: “Nước Xuyên Du đất hiểm mà gần nước Phí, nay không chiếm nó thì đời sau hại cho con cháu nó”. Khổng Tử bảo:
         “Anh Cầu (tức Nhiễm Hữu), người quân tử ghét những kẻ không chịu nhận lỗi mà cố đặt lời bào chữa. Ta đây nghe rằng người giữ được nước được nhà không lo gì người ít, nhưng lo người đông mà xử trí không công bằng; chẳng lo của thiếu mà lo không yên ổn. Bởi vì nếu xử trí công bằng thì không đến nỗi thiếu, hòa hợp thì không lo gì người ít, dân được yên vui thì không lo gì nghiêng đổ. Đã được như vậy rồi mà người phương xa không phục, thì phải trau giồi văn đức để họ theo mình; họ theo mình rồi an ủi họ. Nay anh Do (tức Quý Lộ) và anh Cầu giúp thầy các anh (tức Quý Thị), người phương xa không phục mà không sửa văn đức cho họ tới mình, trong nước chia rẽ mà chẳng giữ gìn được, mà lại tính việc binh đao ở trong nước, ta sợ tai họa của nhà Quý Tôn không do nước Xuyên Du mà ở ngay bức vách nhà trong đấy”.
         Mạnh Tử cũng nói:
         “Thành quách không hoàn bị, binh giáp không nhiều không phải là tai ách cho nước; đồng ruộng không khai khẩn, hàng hóa tiền của không tích tụ không phải là cái hại của nước; người trên thì vô lễ, người dưới thì không học, loạn dân dấy lên, thì chết ngày nào không biết đấy”.
         Tiến lên một bực nữa, ông còn kết tội hạng bầy tôi không hướng dẫn vua chúa bằng nhân nghĩa, chỉ lo luyện tập binh mã để chiến thắng nước khác, cho họ không phải là lương thần mà là kẻ thù của dân, không phải là giúp vua mà là giúp kẻ tàn bạo như Kiệt, Trụ.
         Nhất là những câu dưới đây của ông thì khắp cổ kim, chưa có chính trị gia nào dám nói:
         “Kẻ nào giỏi gây chiến thì phải chịu cái tội nặng nhất”.
         “Vì tranh đất đai mà gây chiến, làm dân chết thì không khác gì cho đất ăn thịt dân, tội đó không tha chết được”.
         Tuy nhiên, như độc giả đã nhận thấy, Khổng Tử vẫn cho sự có đủ binh lính là một điều cần thiết, vì vẫn có những trường hợp phải dùng tới binh lực, một là để chống với kẻ xâm lăng, hai là để vì nhân dân mà diệt những vua tàn bạo.
         Nhưng, cả trong trường hợp thứ nhất, trường hợp tự vệ, chiến tranh cũng là bất đắc dĩ: một vị nhân quân không vui lòng khi bắt dân phải chết cho đất đai, vì đất đai đâu quý bằng nhân mạng.
         Có lần Đằng Văn Công hỏi Mạnh Tử:
         ― Đằng là một nước nhỏ, tận lực thờ nước lớn mà cũng không được yên, phải làm thế nào?
         Ông đáp:
         ― Xưa Thái vương ở đất Mân bị rợ Địch xâm chiếm, đem da thú dâng nó, nó không tha, đem chó ngựa dâng nó, nó cũng không tha, đem châu ngọc dâng nó, nó cũng không tha, mới hợp các bô lão mà bảo: “Rợ Địch muốn chiếm đất đai của ta. Tôi nghe rằng người quân tử không lấy vật dùng để nuôi người mà hại người. Các ông lo gì không có vua. Tôi đi đây”. Rồi ông bỏ đất Mân, vượt núi Lương Sơn, lập ấp ở chân núi Kỳ Sơn. Người nước Mân nói: “Ông ấy là người nhân, không nên bỏ ông ấy”. Và người ta theo ông đông như đi chợ. Đó là một cách. Còn cách nữa là cố giữ lấy đất, giữ không được thì chết. Xin nhà vua lựa một trong hai cách ấy” (Lương Huệ Vương – hạ).
         Trường hợp thứ nhì là trường hợp của vua Thang đánh Cát-bá, vì Cát-bá vô đạo, mặc dầu được vua Thang giúp cho đồ cúng mà cũng không tế lễ quỷ thần, lại còn xúi dân cướp bóc dân. Ông đánh mười một trận, đều thắng. Đánh ở phương Đông thì rợ phương Tây oán, đánh phương Nam thì rợ phương Bắc oán, nói: “Tại sao không giải thoát cho nước tôi trước?” Dân mọi nơi ngóng ông như đại hạn trông mưa. Ông đánh nước nào thì dẹp vua nước đó mà vỗ về dân, cho nên dân rất vui vẻ. (Mạnh Tử – Đằng Văn Công).
         Trường hợp đó tất nhiên cũng là bất đắc dĩ nữa.



         Xét lời Mạnh Tử khen vua Thang đó thì biết Nho giáo không bác hẳn chính sách đế quốc, nhưng đế quốc Nho giáo khác đế quốc La Mã. La Mã chinh phục đế quốc bằng võ lực, rồi cai trị bằng võ lực và những đế quốc Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp… sau này đều tiếp tục chính sách đó. Nho giáo trái lại, lấy đạo đức làm phương tiện và lấy sự giáo hóa thế giới làm mục đích.
         Mạnh Tử nói: “Đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng, đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành, thế là cho thổ địa ăn thịt người, đáng tội chết; cho nên kẻ giỏi đánh nhau chịu hình phạt thứ nhất, rồi đến kẻ kết liên chư hầu, sau mới tới kẻ khai đất mà chiếm đất”(Ly Lâu – thượng).
         Lại nói: “Kẻ lấy sức mạnh mà bắt người ta phục mình thì người ta không tâm phục, sức mạnh không đủ; lấy đức mà làm người ta phục mình thì lòng người ta vui mà thành thực phục” (Công Tôn Sửu – thượng).
         Đối với các dân tộc chung quanh, Nho giáo chê là không văn minh, nhưng không có ý diệt họ để khuếch trương lãnh thổ mà có ý thương hại, muốn khai hóa cho họ. Có lần Khổng Tử thấy đạo của mình không thi hành trong nước được, định đem truyền bá nó ở những xứ di địch. Trong môn đệ có người cản: “Những nơi đó bỉ lậu, làm sao ở được?” Ông đáp: “Người quân tử ở lại đó thì có gì mà bỉ lậu?” (Luận Ngữ – Tử Hãn). Ông cho rằng đạo đức thi hành tới đâu, thì văn hóa truyền tới đó, mà những xứ dã man cũng sẽ thành những phần tử trong thiên hạ của Nho giáo. Lần khác ông còn khen Di, Địch có kỷ cương hơn là Trung Hoa nữa: “Di, Dịch có vua, không như Hoa Hạ không có” (Luận Ngữ – Bát Dịch).
         Vì muốn lấy đức mà phục các dân tộc, cho nên Nho giáo đối với họ khoan hồng, nhũn nhặn: “Đưa kẻ đi, đón kẻ đến, khen người thiện mà thương kẻ yếu, kém, là để vỗ về phương xa; dòng vua nào tuyệt thì tìm người để nối, nước nào đã suy thì phục hưng lại; trị loạn, giúp nguy, việc triều sính phải tùy lúc tiện lợi cho người, bắt người ta triều cống ít mà tặng lại người ta nhiều; như vậy để chư hầu có lòng yêu nhớ mình” (Trung Dung).
         Cách cư xử đó là cách của vua Thang đối với vua Cát. “Vua Thang ở đất Bạc, nước láng giềng là Cát. Cát-bá bỏ bê việc tế tự. Vua Thang sai sứ sang hỏi tại sao. Cát-bá đáp: “Vì không có súc vật để cúng”. Vua Thang sai người đem bò dê qua. Cát-bá mổ thịt ăn, mà không cúng. Vua Thang lại sai người qua hỏi tại sao không cúng. Đáp: “Không có xôi để cúng”. Vua Thang sai dân sang cầy cấy cho Cát-bá để Cát-bá có xôi mà cúng. Sau Cát-bá xúi dân cướp bóc những người sang cày cấy giúp mình, nên vua Thang mới bất đắc dĩ diệt Cát-bá” (Mạnh Tử – Đằng Văn Công, hạ).
         Truyện ấy có thực hay không, ta không rõ; nhưng chính sách chinh phục nước khác bằng đạo đức và văn hóa đó, mặc dầu không được luôn luôn theo đúng, cũng giảng được phần nào tại sao dân tộc Trung Hoa, thời Nghiêu, Thuấn chỉ chiếm một khu nhỏ hẹp trên lưu vực Hoàng Hà mà rồi lãnh thổ mỗi ngày một lan dần ra, tới đời Thanh, thành một nước lớn nhất thế giới! Họ đồng hóa được những dân tộc mà họ chinh phục, họ đồng hóa được cả những dân tộc thắng họ, như Kim, Nguyên, Thanh. Điều đó làm cho người phương Tây rất lấy làm lạ.



         Nho giáo đã phân biệt chính trị và đạo đức thì kết quả tất nhiên là trọng người hơn trọng chế độ. Đó cũng là một điểm phương Đông khác với phương Tây. Các chính khách Âu châu thường nghĩ rằng muốn cải lương chính trị, trước hết phải cải lương chế độ, cho nên cách mạng ở Âu châu đều là cách mạng chế độ. Khi dân chúng Âu lựa người nào để giao quyền tức là lựa chủ trương, đường lối của người đó, mà một khi nội các bị lật đổ chính là vì chủ trương của nội các đó không được tín nhiệm.
         Nho giáo ngược lại, cho rằng chính nghĩa thực hiện được hay không là do người, chứ không do chế độ, chính sách. Chế độ có hoàn thiện đến đâu, mà những người hành chánh thiếu tài thiếu đức thì kết quả cũng tai hại, vì họ không theo đúng chế độ, hoặc bỏ mà không theo. Trung Dung chương 27 nói: “Lớn đẹp thay đạo của thánh nhân, ba trăm lễ nghi, ba ngàn uy nghi, đợi có người rồi mới thi hành”. Lại chép lời Khổng Tử nói với Ai Công: “Việc chính trị của vua Văn vua Vũ bày ra ở trong sách. Nếu những người như vua Văn vua Vũ còn thì chính trị được thi hành, nếu những người ấy mất thì chính trị ấy ngừng. Đạo của người làm cho chính trị hóa tốt, cũng như đạo của đất làm cho cây tốt; chính trị như cây cỏ bồ, cỏ lư, cho nên làm chính trị tốt hay xấu là do người” (Chương 20).
         Vậy Nho giáo cho rằng phải cải thiện cá nhân rồi quốc gia mới được cải thiện, còn phương Tây chỉ nghĩ cải thiện chế độ quốc gia để cá nhân được cải thiện. Lý tưởng của Nho giáo là tạo thành những người chính nghĩa rồi sau những người đó sẽ thực hành chính nghĩa; lý tưởng của phương Tây là tạo một chế độ để kiềm chế chính khách cho họ rán giữ được chính nghĩa.
         Theo tôi, chế độ quân chủ của Trung Hoa tồn tại được mấy ngàn năm, đã đành nền kinh tế của họ xây dựng trên nông nghiệp, không biến đổi mấy, nhưng cũng còn do họ tin rằng chế độ không quan trọng bằng người. Mỗi khi chịu chính sách bạo ngược của một hôn quân, họ chỉ cho là lỗi tại ông vua đó, chứ không phải tại chế độ quân chủ, cho nên họ làm cách mạng để lật ông vua đó, đưa người khác lên mà vẫn giữ chế độ cũ. Vì vậy ở Trung Hoa ta thấy nhiều cuộc thay triều đổi ngôi hơn ở các nước châu Âu.



         Theo những nguyên tắc kể trên thì chính thể của Nho giáo tuy là quân chủ mà có tính cách dân chủ. Về hình thức thì là quân chủ; song quyền lực của vua do dân mà có, vua vì dân mà tồn tại, chứ dân không vì vua mà tồn tại, chỉ khi nào vua làm tròn nghĩa vụ với dân thì dân mới mang ơn và tôn sùng, và địa vị của vua lúc đó mới chính đáng, mệnh lệnh của vua mới được dân theo.
         Nhưng chính thể đó cũng không phải là hoàn toàn dân chủ, vì chủ quyền tuy thuộc về nhân dân, mà về hạng nhân dân sáng suốt, chứ không về hạng nhân dân duy kỷ, tức hạng mà nhà Nho ám chỉ trong câu: “Trời sinh dân có lòng dục, không có chủ thì loạn”. Hạng dân này phải bị chi phối, dắt dẫn; còn hạng trên, hạng dân chỉ trong câu “Dân muốn cái gì, Trời muốn cái đó”, là hạng có quyền giám sát vua, bắt vua theo lẽ phải.
         Nó có vẻ chuyên chế vì vua đảm đương tất cả các nhiệm vụ, từ cai trị đến giáo hóa và nghiêm cấm đảng phái, nhưng nếu ta xét rằng những phương tiện để chuyên chế như võ lực và hình phạt đều bị nhà Nho mạt sát thì ta lại thấy chính thể của đạo Nho không chuyên chế chút nào cả. Có lần Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử: “Giết kẻ vô đạo để cho dân có đạo đức, như vậy có nên không?” Ông đáp: “Làm chính trị, cần gì phải dùng đến giết người? Ông thích làm điều thiện thì dân sẽ hóa thiện” ( Luận ngữ – Nhan Uyên).
         Muốn tóm tắt, ta có thể nói rằng chính thể chuyên chế của Nho giáo là một chính thể chuyên chế của nhân dân đức trí, hay gọn hơn nữa, một chính thể chuyên chế của nhân và trí.
         Theo đúng chế độ ấy là thực hành được Vương đạo; nếu không dùng nhân nghĩa để trị dân, mà dùng sự thưởng phạt cho công bằng, làm cho dân giàu và mạnh, là thi hành bá đạo; nếu chỉ nghĩ đến cái lợi cho mình, là theo con đường mất nước.
         Sự phân biệt ba lối chính trị ấy là một chủ trương chung của các nhà Nho mà Tuân Tử đã ghi trong chương Vương bá:
         Vương đạo.– “Đem cả nước mà hô hào làm việc lễ nghĩa và không làm gì hại đến lễ nghĩa. Làm một điều bất nghĩa, giết một người vô tội mà được thiên hạ thì kẻ nhân giả không làm. Cứ giữ vững lòng mình mà giữ nước. Được như thế thì thật là vững chắc lắm vậy. Những người cùng với mình làm việc ấy đều là nghĩa sĩ, những hình pháp đem bày tỏ ra cho quốc gia đều là pháp nghĩa. Những điều mà nhân chủ đã thật tin và đem quần thần quy hướng cả về đó, đều là cái ý chú vào việc nghĩa. Như thế thì kẻ dưới lấy nghĩa mà trông cậy người trên, ấy là cơ bản định vậy. Cơ bản đã định thì nước định, nước định thì thiên hạ định (…) Không bởi cớ gì khác, chỉ bới cái cớ cố làm cho nên việc nghĩa. Ấy là việc nghĩa lập mà làm vương vậy”.
         Bá đạo.– “Đức tuy chưa đến cùng cực, nghĩa tuy chưa nên hẳn, song cái lý của thiên hạ cũng lược có tiết tấu. Hình pháp thưởng phạt làm tin cho thiên hạ, kẻ bầy tôi ở dưới đều hiểu rõ mà biết những điều yếu ước. Cái chính lệnh đã được bày ra thì dẫu thấy rõ điều lợi của mình hỏng, nhưng cũng không lừa dối dân; đã kết ước với nước nào thì dầu thấy rõ điều lợi của mình hỏng nhưng cũng không lừa dối người. Như thế thì hình mạnh, thành bền, địch quốc sợ mình, cả nước một nền, dân với nước đều tin. Tuy ở nơi hẻo lánh, cũng có uy động cả thiên hạ (…) Song không phải là hết lòng sửa cái gốc ở sự chính và sự giáo, không phải là lấy văn lý làm căn bản, không phải là làm cho lòng người ta phục. Làm điều gì thì phương hướng về phương lược, xét việc gì thì dùng cái thuật lấy dật đãi lao, nghiêm cẩn sự xúc tích, sửa sang việc chiến bị, trên dưới một lòng tin nhau, thiên hạ không ai dám đương với mình. Không bởi cớ gì khác, chỉ bởi lược thủ cái tin mà làm. Ấy thế gọi là tín lập mà làm bá vậy”.
         Vong quốc chi đạo.– “Đoạn cả nước mà hô hào làm công lợi, không cần mở cái nghĩa, giữ cái tín, chỉ cốt cầu lợi. Trong thì không sợ dối dân để cầu cái lợi nhỏ, ngoài thì không sợ dối nước thân với mình để tìm cái lợi lớn. Trong không lo sửa cho ngay chính những thổ địa tài hóa của mình, mà lại muốn những thổ địa tài hóa của người, như thế thì kẻ hạ thần và trăm họ ai chẳng lấy lòng giả dối mà đối đãi với người trên. Người trên dối với người dưới, người dưới dối với người trên, thế là trên dưới chia rẽ nhau ra, như thế thì địch khinh mình, mà nước thân với mình ngờ vực mình, ngày ngày dùng quyền mưu mà nước không khỏi sự nguy biến, đến cuối cùng là mất nước (…) Ấy không bởi cớ gì khác, chỉ bởi không dùng lễ nghĩa mà chỉ dùng quyền mưu vậy” (Bản dịch của Trần trọng Kim trong Nho giáo – Tân Việt).
         Nhà Nho nào có tâm hồn cũng mong thực hành vương đạo, không được thì bất đắc dĩ mới phải dùng bá đạo. Sử chép Vệ Ưởng lại yết kiến Hiếu Công, thuyết vương đạo, Hiếu Công không nghe, phải thuyết bá đạo, Hiếu Công mới chịu nghe, về nhà phàn nàn với bạn: “Đức của nhà vua khó mà ví với đời Ân, Chu được”.
         Nói gì tới những bực như Khổng Tử và Mạnh Tử. Tuy suốt đời đi lang thang khắp các nước, khát khao được thực hành đạo mình mà hễ gặp ông vua nào không có chí theo vương đạo thì cũng bỏ đi liền. Khổng Tử còn làm quan được ít năm chứ Mạnh Tử trước sau chỉ làm khách khanh nước Tề có vài tháng, hồi ông 55 tuổi. Làm khách khanh nghĩa là nhận tước khanh chứ không nhận bổng lộc. Nghĩa là ông chỉ làm thử để xem đạo mình thi thố được không. Rủi cho ông, mà cũng rủi cho dân Trung Quốc, vua Tề tuy trọng ông, nhưng có đủ các tật: tật thích tiền, tật thích chiến tranh, tật hiếu sắc. Chắc độc giả thuộc câu trong Cung Oán:
                     “Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng.
         Tề Tuyên chính là ông vua Tề đó. Thành thử, có lòng chí thành, có tài hùng biện như ông, chỉ vì cố giữ nguyên tắc “phi Nghiêu, Thuấn chi đạo, bất cảm dĩ trần ư vương tiền” (không phải là đạo Nghiêu, Thuấn thì không dám bày tỏ với vua), mà đành ôm hận, và than thở:
         “Người nọ trẻ thì học đạo Nghiêu, Thuấn, lớn lên muốn thực hành; ngờ đâu nhà vua lại bảo: “Hãy bỏ sở học của chú đi mà theo ý ta” thì biết làm sao bây giờ?”
         Những tiếng “biết làm sao bây giờ?” chua xót cho ông biết bao!


NGUYỄN HIẾN LÊ

______________________________________
(1) Về điểm này, tư tưởng của Tử Sản khoáng đạt hơn, tựa như các triết gia Hy Lạp thời xưa. Tử Sản lập những hương hiệu để người trong nước tới nghị luận chính sự. Có người khuyên ông đóng cửa. Ông đáp: “Sao lại đóng? Người ta tới xét chính trị có thiện không, thiện thì ta làm, bất thiện thì ta sửa, như vậy dân là thầy của ta, hủy đi làm gì?”
(2) Tôi rất tiếc không nhớ tên vị học giả đó. Trước đại chiến vừa rồi, tôi được đọc một cuốn bàn về Nho giáo của ông. Ngoài đoạn văn tôi trích ra đó tôi còn nhớ đại cương lập luận của ông và chính nhờ tư tưởng của ông mà  tôi tìm hiểu thêm đạo Nho.


BÁCH KHOA |  SỐ 40

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #190 vào: 16/05/2018, 22:36:42 »

Thông báo tòa soạn thay đổi địa chỉ
000
Bắt đầu từ ngày 1-9-1958, chúng tôi sẽ dời tòa soạn Bách-Khoa lại 160, Phan Đình Phùng Saigon, hộp thư 339.
Vậy yêu cầu các độc giả có thư từ hoặc muốn liên lạc với tòa báo xin tới địa chỉ nói trên.

__________________________

Bách-Khoa đóng thành tập
000
Bách-Khoa đã đóng thành từng tập 12 số, bìa dày (carton) gáy chữ vàng rất mỹ thuật, giá phổ thông mỗi tập 105$.
Tập I: từ số 1 đến 12, Tập II: từ số 13 đến 24, Tập III: từ số 25 đến 36.
Ở xa xin gửi thêm cước phí bảo đảm 45$ ba tập.
Số sách đóng thành tập có hạn, xin gửi mua ngay kẻo hết.

⎎  MỘT BỘ SÁCH QUÝ TRONG TỦ SÁCH GIA ĐÌNH
⎎  MỘT TẶNG PHẨM TRANG NHÃ

__________________________

Bách-Khoa đã in xong tập “Mục lục theo bộ môn” của Bách-Khoa từ số 1 đến số 24. Vậy những bạn nào mua Bách-Khoa dài hạn hoặc mua toàn tập Bách-Khoa muốn có thêm tập “Mục lục” đó xin biên thư ngay về Tòa soạn Bách-Khoa, kèm theo tem (cò) 0$50, chúng tôi sẽ gửi đến biếu các bạn.

Bách-Khoa


BÁCH KHOA |  SỐ 40

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #191 vào: 16/05/2018, 23:14:44 »


Điểm sách: Nhân một bài điểm sách

GẦN ĐÂY, nếu có dịp theo dõi những tin tức văn nghệ, ta thấy cuốn thơ Taj Mahal của Đoàn Thêm đã gây được nhiều tiếng vang. Phần nhiều là có thiện cảm: Đinh Hùng trong mục Tao Đàn, Đào Văn Hội trong “Bình Dân”, Hoan Châu trong “Gió Nam”, Văn Trường trong “Bách-Khoa”, Trần Thúc Linh trong “Quyền Sống”, các bản giới thiệu của Việt Tấn Xã, Ngôn Luận, Dân Nguyện, Tiếng Chuông hay J.E.O., tất cả đều đón chào thi phẩm mới bằng những lời khuyến khích hay ca ngợi.
         Tuy nhiên ta vẫn chờ một bài phê bình đầy đủ hơn, nêu rõ những ưu điểm của cuốn thơ, nhưng cũng nghiêm khắc với các khuyết điểm. Cần nói thêm là ở trong tâm lý độc giả, đọc một bài phê bình nghiêm khắc, – và xác đáng – vẫn thấy thích thú hơn. Có lẽ vì như thế mới hợp với cái nỗi khắc khoải của con người lúc nào cũng băn khoăn theo đuổi tận mỹ trong mọi sáng tác. Do đó, bài của Triều Đẩu điểm thơ Taj Mahal (Cách mạng Quốc gia ngày 15-8) đã mang đến một cái gì khác hơn là một lời tán tụng.
         Nhưng ta vẫn chưa thấy hài lòng. Vì tuy Triều Đẩu đã không đi cái lối mòn của những người khác, nhưng chính cái lối đi của Triều Đẩu cũng chẳng dẫn ta đến đâu cả?
         Triều Đẩu đưa ra hai ý kiến chính: ý kiến thứ nhất là “hơi hứng thơ còn ngắn quá” và “vì thiếu về lượng như vậy mà chất phẩm đã bị ảnh hưởng lây”. Người đọc phải tự hỏi: “Đã từ bao giờ rồi thơ phải dài mới có giá trị?” nếu vậy công việc của nhà phê bình chẳng dễ dàng lắm sao? Chỉ việc đếm số trang số câu, số chữ rồi là xếp hạng. Và cứ theo cái tiêu chuẩn của kích thước bề dài này thì rồi đây các thể thơ ngắn phải nhường chỗ cho các bản trường ca và chức thi bá trên Tao Đàn hẳn phải về tay tác giả bài thơ kể chuyện “con voi”.(1)
         Ý kiến thứ hai là “cũng thì đề tài này, nếu ông (Đoàn Thêm) xử dụng lối văn xuôi như anh, như tôi, rất có thể ông sẽ đạt”. Ô hay, xem thơ mà bảo đừng làm thơ bằng văn vần vì “chúng ta vẫn có thể là thi sĩ trong nghề văn xuôi!” Và cứ đà này thì phê bình một nhà viết văn trào phúng, ta sẽ bảo anh viết văn tế sẽ đạt hơn, vì câu cười của anh nghe như một tiếng khóc. Nhận xét về một nhà âm nhạc, ta sẽ khuyên ông ta nên đổi sang nghề điêu khắc vì nghề này cũng đòi hỏi những tiết tấu nhịp nhàng. Và cứ lý luận thế này rồi văn nghệ đi về đâu?



         Nói tóm lại, đọc những bài phê bình giới thiệu (không cứ gì riêng về Taj Mahal mà nói chung các cuốn sách mới ra) ta ít khi được hài lòng. Hoặc là chứa chan một thứ cảm tình dễ dãi, hoặc là tràn trề những nhận xét bấp bênh. Ai là người đứng mực nói hộ ta nỗi khắc khoải này đây?

BÍCH CHƯƠNG

_______________________________
(1) Thơ rằng:
         “Con vỏi, coi voi
          Cái vòi đi trước
          Hai chân trước đi trước
          Hai chân sau đi sau
          Còn cái đuôi đi sau rốt
          Tôi xin kể nốt cái chuyện con voi
          Con vỏi, con voi…
          và cứ thế đến khi nào muốn nghỉ.



BÁCH KHOA |  SỐ 40

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #192 vào: 17/05/2018, 22:21:11 »


                          Tư cố nhân
           (Trùng Dương Cách Cảm II)

                                         Dâng Nguyễn Phan An một tấm lòng

            NGỒI điên dại tô mảnh giấy hồng thành uất hận,
            Lòng ai đây mà thắm đỏ hơn son.
            Tiếng trống dồn,
            Chập chùng như bóng những cô hồn
            Gió đưa lại thêm khay mùi bát ngát…
                                        ¤
            Cho ta bóp ngạt vũ trụ trong lòng bàn tay nhỏ xíu
            Bàn tay mềm rớm máu tuổi hai mươi,
            Tuổi hai mươi ra đi
            Mà mi mắt cứ bùi ngùi
            Không khép nổi cho đến ngày xuống huyệt…
            Ngồi điên dại tô bóng mây chiều theo nước biếc
            Sặc tiếng cười một sớm tỉnh cơn mơ
            Người ta đê mê lòng xé nát vạn ngàn tờ
            Những tờ thắm son tươi mùa hứa hẹn.
                                        ¤
            Bạn đừng nói…
            Vì năm xưa chúng ta cùng cầm tay nhau cười ngạo nghễ,
            Ai đâu!
            Về chốn sống tôi đây.
            Giữa chiều say ngây ngất màu trăng xế
            Chiều hôm buồn
            Gió không vương vướng lá muôn cây
            Tơ đồng run nhẹ như tơ đồng sắp chết
            Và bạn cũng đừng nói thêm một lời nào hết.
                                       ¤
            Tôi chết lâu rồi từ Thế kỷ vạn niềm thương
                                       ¤
            Thơ loang loáng từng giòng sữa mát
            Lòng u hoài nhạc thét vang vang
            Người có nghe gì không…
            Đừng để nấc mãi những phím đàn
            Đời giá lạnh sẽ tan từng mảnh vụn.
                                       ¤
            Ngồi hướng mắt về bốn Trời cao rộng
            Nụ cười trai tím rụng hẳn màu xanh
            Xa xa đâu đây
            Trái đất ngập bùn lầy
            Sắc đẹp vữa trong một màu tanh nhầy nhụa.


                                  Ba-Lê xóm La-Tinh, một chiều Thu
                                  NGUYỄN VĂN CHÂU



BÁCH KHOA |  SỐ 40

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #193 vào: 17/05/2018, 23:52:54 »
BÁCH KHOA |  SỐ 41  [15-9-1958 |  114 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Phạm Duy Lân |  “Thị trường chung” Âu châu [II] |  3-11
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [VII] |  12-14
Dương-Tuyền dã phu Phan Vọng Húc |  Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác |  15-19
Trần Văn Khê |  Các loại nhạc Việt Nam |  20-24
Đoàn Thêm |  Hai cái hố |  25-29
Nguyễn Huy Khánh |  Lược khảo về Tam Quốc Diễn Nghĩa |  30-32
Sào Phủ Việt & N. T. M. T. D. |  Nửa giờ với “Anh Khóa” Á-Nam Trần Tuấn Khải |  33-39
Bách-Khoa |  Thông báo tòa soạn thay đổi địa chỉ |  40
Thái Văn Kiểm |  Suối nước nóng ở Việt Nam |  41-52
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [IV] |  53-60
Lê Văn |  Con quốc mồi |  61-66
Đỗ Tấn |  Đợi chờ \ Mười chuyến tàu (thơ) |  67-69
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  70
Lan Đình |  Người đi tìm |  71-77
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Đường thi dịch giải: Hành lộ nan [II] \ Lý Bạch |  78-79
Nguiễn Hữu Ngư |  Đêm, nằm, nghe trời mưa (thơ) |  80
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai: Tiên ăn mày \ Bồ Tùng Linh |  81-86
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [III] |  87-90
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXIII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  91-96
Quảng cáo |  97
Bách-Khoa |  Hộp thư Bách-Khoa |  98-99
Bách-Khoa |  Quân tử có ba điều phải nghĩ |  100
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 38, 39 và 40 |  100
Quảng cáo |  101-114


SAIGON |  1958




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #194 vào: 18/05/2018, 23:36:15 »


Các loại nhạc Việt Nam*

CHỊU ẢNH HƯỞNG hai lối nhạc Trung Hoa và Chàm, nhạc Việt Nam trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã lần lần phát hiện đước cá tánh. Ngày nay, tuy người ngoại quốc còn lầm nhạc Việt Nam với nhạc Trung Hoa, người Việt, dầu không phải là nhạc sĩ, cũng phân biệt được nhạc Việt với nhạc Trung Hoa.
         Nhạc Việt Nam ngày nay, có quá nghèo nàn, so với nhạc ngoại quốc thì không thấm vào đâu như các bạn trẻ thường chê, hoặc có phong phú đến nỗi ta có thể dựa vào đó mà tự phụ như vài nghệ nhân trong giới cổ nhạc thường bảo chăng? Theo thiển kiến của chúng tôi, thì hai thái độ đó đều không căn cứ vào thực tế. Bỏ qua tự ti mặc cảm và lòng tự hào, nhìn lại một cách khách quan, chúng ta thấy rằng, nhạc Việt tuy kém về chất lượng, tuy thiếu sâu sắc về mặt hòa âm, nhưng giàu về phẩm; nhạc khúc uyển chuyển và tế nhị, tiết tấu phong phú và tinh vi. Nhạc Việt cũng có một lịch sử, một truyền thống, cũng lắm cung nhiều điệu. Xin mời các bạn cùng chúng tôi vào vườn Việt nhạc để ngắm vài thứ hoa thơm cỏ lạ. Chúng tôi không đề cập đến lịch sử âm nhạc, sự biến chuyển của mỗi điệu, mỗi loại theo thời gian và không gian, những đặc điểm trong âm giai, cung điệu, tiết điệu, mà chỉ nêu ra những điều cần biết trong mỗi loại, để các bạn có một cái nhìn tổng quát, bao trùm các lối nhạc Việt Nam. Lần lượt chúng ta sẽ xem qua – và chỉ xem qua mà không đi sâu vào mỗi loại – các lối dân ca: hò, hát bội, hát chèo, ngang qua các lối nhạc mà ngày xưa ta gọi là “quan nhạc”: hát ả đào, ca Huế, đờn tài tử, hát tuồng và âm nhạc trong Cung điện, đến âm nhạc mới mà ta thường gọi là “âm nhạc cải cách”:

Vài loại dân ca
         Dân ca là gì?
         Câu hát ru em, câu hò mái đẩy, bài trống quân, quan họ hát buổi trăng rằm, bài hát xẩm hay mấy điệu chèo do anh mù hay đào kép một phường chèo hát lên giữa sân chợ, bài hát mộc mạc của trẻ em như “Cùm nụm cùm nịu” trong Nam hay “Chi chi, chành chành” miền Bắc, đều là những bài dân ca. Dân ca là những bài hát truyền khẩu phát sinh tự trong dân chúng, được truyền tụng và phổ biến trong dân chúng.
         Dân ca có những đặc tính gì?
         1.– Dân ca phần nhiều là những bài hát giản dị, hát không cần đàn phụ họa, hay là chỉ cần đôi ba nhạc khí cũng đủ, không phải như trong các lối quan nhạc (ngũ tuyệt, bát âm) phải có năm cây tám thứ, hay nhiều hơn nữa trong các giàn nhạc triều đình ngày xưa. Dân ca thuộc về loại “thanh nhạc” (musique vocale) chớ không phải về “khí nhạc” (misique instrumentale).
         2.– Dân ca đi đôi với cuộc sống hằng ngày, thành ra tiếng hát thường đi đôi với công việc làm hay mùa màng trong thôn dã. Câu hát ru em hòa với tiếng võng kẽo kẹt bên chái nhà. Câu hò mái đẩy nhịp nhàng với mái chèo lướt trên mặt nước. Người ta hát trống quân, quan họ trong lúc được mùa, hay những đêm trăng, trong các hội hè hay buổi cưới xin, những dịp đặc biệt trong đời sống nông dân.
         3.– Dân ca không phải loại nhạc “nghệ thuật vị nghệ thuật”, một môn giải trí suông cho người nhạc sĩ, như loại ca Huế hay nhạc tài tử. Cũng không phải một loại lễ nhạc dùng vào các cuộc tế lễ như các lối nhạc trong triều đình. Dân ca cốt đem một ít tươi vui vào đời sống đầu tắt mặt tối của giai cấp cần lao.
         4.– Không ai biết tên người nào đã sáng tác dân ca. Không những ở nước ta mà ngay ở khắp nơi trên thế giới, những bài dân ca được truyền tụng đều do những nhạc sĩ vô danh sáng tác.
         5.– Hầu hết các bài dân ca đều là những bản tình ca, nói lên tất cả tình tiết của người lao công.
         Là những tình ca giản dị do các nhạc sĩ vô danh sáng tác, dân ca đi đôi với cuộc sống hằng ngày cởi bớt mệt nhọc và thêm phần thú vị cho đời sống cần lao.


         Đêm khuya thanh vắng, trên những sông dài, hay suốt ngày oi ả trong ruộng sâu đầy nước, anh chèo thuyền hay chị công cấy, để quên mệt nhọc, để cởi mở lòng, cất lên những câu hò bát ngát chơi vơi. Một người khác hay cả đoàn họa lại.
         Vế hò do một người cất lên gọi là “kể”, vế hò do toàn thể hưởng ứng gọi là “xô”. Trong mấy tỉnh ở Hậu Giang nhằm mùa cấy thường có nhiều cuộc hò đối đáp. Bên trai bắt đầu:

                  Hò ơ… Tôi là người dạo kiểng lê viện,
                  Đến đây gặp gái thuyền quyên rủ hò ơ…


         Lúc bắt đầu hò ơ… cả đoàn công cấy nam nữ đều tiếp hơi. Khi một anh hát xong vế kể, thì ca bên gái hát vế xô:

                  Hò xự xang hò xang xê cống
                  Là cống xê xang là xang xê hò
                  Là hò xự xang…


         Bên gái có người ra trả lời:

                  Hò ơ… Nước sâu sóng bủa láng cò
                  Thương anh vì bởi câu hò có duyên ơ…


         Đến lượt bên trai hát câu xô. Có khi là câu vừa nói trên, nhưng cũng có khi câu khác;

                  Hò hố khoan trống bảy ban
                  Hò xang xê xự xang xê hò
                  Là xự xê xang…


         Hò là một loại hát đi đôi với việc làm. Vì thế mà nhạc và tiết tấu của vế kể hay vế xô đều tùy tính chất hoặc hoàn cảnh của động tác mà thay đổi. Công việc cấy lúa không nặng nề, phong cảnh bên ngoài lại mênh mông, câu kể, câu xô không thúc giục. Tiết tấu câu kể, khi mau khi chậm, nhạc khúc câu kể khi bổng khi trầm tùy từng người và từng câu. Nhưng câu xô thường có một nhạc khúc và một tiết tấu nhứt định.
         Hò mái đẩy hay hò mái nhì miền Trung vang lên trên con sông Hương nước chảy lờ đờ cũng thế. Tiếng mái chèo nhè nhẹ, cơn gió thoảng hiu hiu, thuyền lướt êm êm làm cho người lái đò không nghĩ đến tiết tấu mà cốt làm cho nhạc khúc uyển chuyển, để nói được tiếng lòng vang lên trong đêm vắng, phớt trên mặt sông dài.

                  Trước bến à ơ… à ơ à à ơ…
                  À ơ Văn Lâu chiều ơ… ơ (à ơ chiều)
                  Chiều chiều trước bến Văn Lâu
                            ai ngồi ai câu
                            ai sầu ai thảm
                            ai thương ai cảm
                            ai nhớ ai trông
                  Thuyền ai thấp thoáng bên sông
                  Đưa câu (à rồi, á ơ á ơ) mái đẩy động tấm lòng


         Rồi thì người hát câu xô trổi tiếng:

                  Hơ… ơ a á ơ…
                  A non nước lơ non à ờ à a ơi hự
                  Bao nhiêu câu hò là bao nhiêu bài tình ca.
                  Thùng bèng cắc
                  Con chim ngoắt
                  Con cá trừng
                  Cắc thùng bèng
                  Con chim về biển bắc
                  Con cá về biển Đông
                  Hò ơ… Đó vợ đây chồng…
                  Chắc chi đó vợ đây chồng,
                  Khóc than cho lắm ướt cái khăn vuông hồng năm canh.


         Anh lái đò ngang miền Bắc thấy cô ả xinh xinh cũng cất tiếng hát:

                  Đôi ta lên thác xuống gành, ối nường nường ôi
                  Nàng thời bẻ lái cho anh chịu sào, ối nường nường ôi


         Cô ả thẹn, đôi má ửng hồng, anh lái đò hát tiếp:

                  Em khoe em có má đào ối nường nường ôi
                  Để anh kết nghĩa tương giao làm chồng ối nường nường ôi!


         Anh chèo đò miền Nam giữa đêm khuya thanh vắng một mình để đỡ trơ trọi, anh hát lên một câu chọc ghẹo hơi trắng trợn những ai chiếu ấm chăn êm:

                  Hò ơ… a a Gió đưa … con buồn ngủ ơ lên ơ bờ
                  À ơ mùng ai có rộng ờ… cho tôi ngủ nhờ một đêm a ơ. Hò ơ khoan…


         Nhưng công việc nào đâu cũng nhẹ nhàng như đẩy mái chèo trên sông rộng. Những người phu kéo gỗ, đốn tre, đập đá không thể vừa làm việc vừa ngâm nga. Các cử động của toàn thể có khi phải cùng một nhịp như lúc kéo gỗ chẳng hạn. Câu kể câu xô vì thế mà chen nhau, thúc giục.
         Các anh đốn tre hát:

                  Bắt cái… bắt cái là dô ta
                  Chém cây tre, ngã cây gỗ dô ta


         Những người nện đất hay đập đá vùng Quảng Ngãi hát bài Hò nền hò Hò hụi:

                  Hụ là khoan là hụ là khoan
                  A la khoan hò khoan là hụ là khoan
                  Tìm… em Hù là khoan
                  Như thể tìm chim Hù là khoan
                  Chim ăn bể Bắc là hù là khoan
                  Anh tìm bể Đông Bớ hò bớ hụi
                  Bớ… hụi hát hụi hò khoan
                  Hù là khoan là hù là khoan
                  A la khoan hò khoan là hù là khoan


         Cũng như trong bài trên câu kể câu xô cùng một nhịp điệu trong lối hò giã gạo miền Trung:

         Câu mở đầu:
                  Hò ơ khoan mời bạn khoan thì hò khoan

         Câu xô:
                  Hò ơ ơ ơ…

         Câu kể:
                  Chàng ơi! Tỏ nguyền với chàng
                  Tóc dầu bạc mấy lời nguyền em nào có bạc
                  Núi kia dầu lạc (thì) em không dám phai lạt chữ tình (là hỡi tình)…


         Nhịp điệu một câu hò tùy công việc mà thay đổi. Hò giã vôi chia ra làm ba đoạn mà đoạn giữa thì tiết tấu chậm đi vì lúc đó vôi bắt đầu quánh. Nhịp điệu của hò đua ghe thì mỗi lúc một nhặt như nhịp chèo.
         Hò là một loại nhạc bình dân rất phong phú.
         Nét nhạc và nhịp điệu câu xô thường được qui định rõ rệt để cả đoàn có thể cùng hò.
         Nét nhạc câu kể tùy câu hò và người hò. Nhịp điệu câu kể thì tùy tính chất của công việc và hoàn cảnh bên ngoài.
         Về văn chương thì câu hò thường là những câu văn biền ngẫu, những câu lục bát hay lục bát biến thể.
         Nội dung bao giờ cũng diễn tả được mối tình thấm thía dịu dàng.
         Trừ ra vài lối như hò chèo ghe trong Nam hay hò mái đẩy miền Trung, có một hai người cũng hò được, hầu hết các lối hò khác đều có tánh cách tập thể. Một người hát lên câu kể, nhiều người hưởng ứng bằng câu xô.
         Hò cũng có tánh cách địa phương. Miền Bắc có hò dứt chỉ, hò giã vôi, hò kéo gỗ, miền Trung có hò máy nhì, hò máy đẩy, hò giã gạo, hò nền, miền Nam có hò cấy và hò đưa linh. Ngay như trong lối hò cấy mà vùng Tiền Giang đã khác Hậu Giang, Cần Thơ khác Bạc Liêu.
         Hò là một loại hát giúp cho lao công đỡ nhọc nhằn, làm việc thêm phấn khởi và đôi khi các bạn lao công nam nữ, nhờ câu hò mà cởi mở dược lòng, hay ngỏ ý trao lời để đi đến cuộc hôn nhân.


Ba-Lê, hè 1958
TRẦN VĂN KHÊ

______________________________
* Xin xem bài mở đầu: “Âm nhạc Việt Nam” đăng ở số đặc biệt kỷ niệm đệ nhất chu niên (số 25-26).

Vài tài liệu tham khảo:
    Tử phác: Dân ca và xã hội.– Tập San âm nhạc Tháng 10, 11 năm 1956 và tháng giêng 1957.
    Nguyễn Xuân Khoát: .– Tập San âm nhạc tháng 10, 11 năm 1956, trang 11-14.
    Thuần Phong: Các bài về câu hò miền Nam trong Tạp chí “Bách-Khoa” các số 7, 9, 10 và 13, những ngày: 15-4, 15-5. 1-6 và 15-7-1957.
    Phạm Duy: Hò máy đẩy.– Nhà xuất bản Đón gió 1953.
    G. Cordier: Essai sur la littérature annamite La chanson La revue indochinois Janv. Fév. 1920 p. 85-102.
    G. Knosp: Les chanis d’amour dans la musique prtentale Bulletin Français de la Socitété internationale de musique. Ivè année N∘ 7 15-7-1908 p. 768-791.

Vài dĩa hát:
    Dĩa hát số AMS 8, mặt thứ nhứt số 23036 của Đài phát thanh Pháp bài thứ nhì
         Hò giã gạo miền Trung
         Hai người hò có đàn cò (nhị) đàn kìm (nguyệt) và sanh nhịp theo.
    Dĩa hát Béka số 20324-1 và 203324-2
         Hò mái nhì miền Trung
         Hai người hò có đàn cò (nhị) và ống sáo phụ họa.
    Dĩa hát Le Chant du Monde số LDY 4046 mặt thứ nhứt số YEL 635-45
         Bài thứ nhứt Hò lơ giọng đàn bà độc xướng và hợp xướng.
         Bài thứ tư Hò nền hay Hò hụi giọng đàn ông độc xướng và hợp xướng.


BÁCH KHOA |  SỐ 41

 
The following users thanked this post: tnghia