Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 18553 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #225 vào: 12/06/2018, 21:10:49 »
BÁCH KHOA |  SỐ 46  [1-12-1958 |  108 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Gian lận ngoại tệ |  3-5
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [XI] |  6-11
Tiểu Dân |  Hậu phương trong chiến lược hiện đại |  12-15
Bách-Khoa |  Tự xét lại mình |  15
Nguyễn Hiến Lê |  Vương Dương Minh: một người đa tài cổ kim, đã đạt được mục đích là học để làm thánh [II] |  16-23
Bách-Khoa |  Cần có người can gián |  23
Đông Hồ |  Chung quanh bài “Thăng Long hoài cổ” của bà Huyện Thanh Quan |  24-28
Song An Cư Sĩ |  Liên bang Mã Lai |  29-36
Cô Liêu |  Thế hệ J3 ở Pháp và Anh [II] |  37-42
Đoàn Thêm |  Vài nhận xét nhân dịp đi thăm các nhà sách |  43-47
Lưu Nguyễn Đ. T. T. |  Boris Léonidovitch Pasternak hay là nhà văn đối với mình, đối với chính quyền |  48-58
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 44 và 45 |  58
Bà Vân Trang |  Hai thế giới |  59-68
Hoàng Khanh |  Chuyện lòng (thơ) |  69
Hy Văn |  Con trâu đi cày (thơ) |  70
Ngụy Tần Thương |  Hồn vương tóc mịn (thơ) |  70
Lưu Kiếm |  Hoài (truyện) |  71-77
Quảng cáo |  78
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [VIII] |  79-82
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai: Xảo kế \ Bồ Tùng Linh |  83-85
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXVIII] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  86-89
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 45 |  89
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  90-92
Quảng cáo |  93-108


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #226 vào: 12/06/2018, 23:26:49 »


Vài nhận xét nhân dịp đi thăm các nhà sách

CŨNG NHƯ NHIỀU BÀ, nhiều cô thích đi thăm các gian hàng tơ lụa hoặc tạp hóa tân thời, tôi có thói quen hay đúng hơn là cái thú đặc biệt la cà ở các nhà sách.
         Mua sách một đôi khi, dở qua để ngắm nghía suông và rút lui với sự thèm thuồng hoặc sự hãi hùng vì giá quá cao(1) nhưng lần nào cũng cố quan sát thái độ những người “đồng bệnh”, thỏa mãn tính tò mò xem có tác phẩm nào mới phát hành, tác giả nào mới xuất hiện để đoán khuynh hướng của các độc giả và có một ý niệm đại khái về sự tiến triển trong phạm vi sáng tác và xuất bản.
         Phần lớn các tiệm sách có tiếng đều quá chật hẹp. Sách chất đống càng ngày càng cao; cách trình bầy không khỏi luộm thuộm bề bộn. Số người ra vào rất đông, nhất là sáng chủ nhật, nên mua được một quyển sách, hay tìm tòi xem xét nhiều khi phải chen vai thích cánh, đề phòng sự xô đẩy, dâng câu xin lỗi cho ông bạn bên trái, cười để nhận cái dẫm chân của ông bạn bên phải. Có bạn thản nhiên mặc người lui tới va chạm mà dở một tạp chí đọc hết một trang, rồi lại còn xem tranh ảnh Radar, Paris-Match… Nhưng dầu sao, đáng quí thay tính hiếu học của đồng bào! Và đi thăm các nhà sách cũng là giải trí lành mạnh, vì không khác nào đi xem triển lãm văn hóa, một cuộc triển lãm vĩnh viễn.


¤

         Xét một cách tổng quát thì số loại sách ấn loát có tăng nhiều cùng với số nhà xuất bản. Sách giáo khoa nhiều nhất; giữa những chồng tiểu thuyết và tạp chí xanh đỏ, sách nghiên cứu khô khan cố lách một vài chỗ, cố chiếm một địa vị. “The American Presidency” hay “The Painted Veil” và hàng trăm cuốn sách bỏ túi (pocket book) la liệt mấy bàn, dồn vào một góc “Đông Lai Bác Nghị” và “Thuật xử thế của người xưa”; song “Triết lý Đạo Phật” và “Nho giáo” vẫn chót vót trên quầy cao ngang mắt.
         Các bạn trẻ chen chúc ở góc bàn cạnh tủ có “Muốn thành học trò giỏi” theo Thiên Giang, hoặc chú ý tới “Những điều mà người con gái lấy chồng nên biết” của T. T. Nam và Tr. N. Hơn? “Ông chúa đảo dị kỳ Robinson” có lôi cuốn được độc giả của “La Thông tảo Bắc” hay “Chung Vô Diệm” không? Sách dạy Hán văn lác đác vài quyển, nhưng càng ngày càng thấy tràn ngập sách báo Anh văn, trong khi sách Pháp văn vẫn còn nhiều người không mua thì chăm chú dở xem; có bạn lục lọi mãi đống tạp chí Việt văn, và đã lôi hẳn ra một cuốn rồi, nhưng còn ngó vào các tập “Ciné Revue” và “Télémone” và rút cuộc chỉ mua một “Mon Film”: nụ cười khóe mắt của Brigitte Bardot đã tranh cướp mất một khách hàng của “Bách-Khoa”, “Sáng-Tạo” hay “Nhân-Loại”.
         Sở thích, nhu cầu của mỗi nhóm độc giả ra sao, chưa có tài liệu nào đầy đủ mà xét; nhưng dù thiếu những con số thống kê, người quan sát cũng nhận được rõ rệt là sự học tiến mạnh gấp đôi hơn trước đây mấy năm và sự đòi hỏi đồ ăn tinh thần hiện nay cũng cấp bách như sự cần dùng gạo vải. Sách Việt ngữ chưa từng thấy nhiều như bây giờ, và giữa trào lưu học hỏi bồng bột, khi văn hóa Âu Mỹ tiếp tục lan tràn, thì cổ văn cũng có vùng dậy tuy còn đuối sức. Song hình như ngoài những đạo lý cao siêu những lý thuyết cổ điển, độc giả đương tìm những sách nói về cách sống (way of life), tìm thỏa mãn cho những nhu cầu thiết thực của con người buổi mới. Những điều xưa kia không thành vấn đề, đã được chú ý và có thắc mắc: cho nhi đồng đọc sách gì? Nuôi con như thế nào? Lấy vợ lấy chồng ra sao? Sinh nhai lập nghiệp lối nào cho thích hợp?… Thanh niên đương hướng về chân trời Âu Mỹ và cả về dĩ vãng Đông phương để tìm hỏi những thứ gì có thể tô điểm cho đời sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn.


¤

         Tuy nhiên, nếu xét kỹ hơn về một vài loại ấn loát thông thường, chúng ta thấy còn nhiều điều mong mỏi ước ao.
         Số loại sách giáo khoa chứng tỏ một sự nỗ lực đáng quý của giáo giới bậc tiểu học và trung học công hay tư, ở tất cả các môn. Chắc là các ấn loát phẩm này được tiêu thụ mạnh nhất, nên 54 nhà xuất bản hiện có đều thi nhau in, mặc dầu có nhà chuyên chú về một vài loại khác.
         Nhưng tại sao cùng một cấp, cùng một lớp, một môn học như Toán hay Lý hóa, mà quá nhiều tác giả? Hơn nữa, phần đông được Bộ Quốc gia Giáo dục chấp nhận tuy cũng là một cách khuyến khích việc sáng tác theo lối tự do cạnh tranh, nhưng không khỏi bất tiện cho học sinh và phụ huynh: biết sách nào nên dùng hơn? Thiết nghĩ ở bậc trung học, điểm đó không phải là không đáng chú ý.
         Ngoài ra muốn giúp đỡ thí sinh một cách thiết thực, nhiều vị đã viết những loại sách luận đề, luyện thi, giải đề thi. Sách đó rất có ích cho những người phải tự học; song cũng khiến cho thiếu niên học sổi, học vội, học để “trúng tủ” như họ thường nói. Riêng ở phạm vi văn chương, ngoài những luận đề lẻ tẻ về từng văn nhân, như về Nguyễn Du, về Hồ Xuân Hương… ước gì bớt tánh cách cấp tốc để đàng hoàng tiến lên bậc nữa, tới những pho nghiên cứu tổng bình cao rộng hơn vì những cuốn văn học sử hiện nay quá ít (ngoài những bộ của các Giáo sư Bùi Hữu Sủng, Nghiêm Toản, hoặc của Cố giáo sư Dương Quảng Hàm…)
         Dù sao, cũng đáng mừng cho học sinh. Nhưng trái lại, nghĩ tới sinh viên đại học, thì người có con em không khỏi thắc mắc lo âu. Sách bậc tiểu và trung học sao nhiều thế, mà sách cần cho các trường Luật khoa, Y khoa, Khoa học, Bào chế Công chánh, Kiến trúc… vẫn còn chưa thấy bán? Chúng ta ngày nay thiếu gì giáo sư thạc sĩ, tiến sĩ? Vì số sinh viên tương đối ít, sự tiêu thụ không được nhiều, thì in không bõ chăng? Tôi chắc chắn không phải vì lý do đó; nếu vị nào soạn thảo, chắc Viện Đại học hoặc Bộ Quốc gia Giáo dục sẵn lòng in giúp; vả lại, những sách kinh tế, tài chánh, pháp lý, kỹ thuật, khoa học v.v… là những tác phẩm có giá trị, không những đối với sinh viên, mà còn ích lợi chung cho cả các giới trí thức khác: cho tới khi nào chúng ta chưa thể tự hào là nền quốc học đã được hoàn bị. Nếu sự giảng dạy bằng ngoại ngữ có lợi cho sinh viên tốt nghiệp để xuất dương du học bổ túc hay tu nghiệp, thì chỉ lợi cho một thiểu số.
         Cho nên, dù có sự khó khăn thế nào chăng nữa, các giới ham học vẫn chờ mong tha thiết, ở những vị tài cao học rộng bậc nhất trong nước, sách cần thiết cho sinh viên, tác phẩm có giá trị cho văn hóa Việt Nam. Giáo sư của ta, ở mỗi ngành cũng chẳng kém gì giáo sư các trường đại học nước ngoài, có phần hơn nữa là khác, vì nhiều vị đã được đào luyện theo hai văn hóa đông tây. Trung Hoa có sách đại học của Trung Hoa, Nhật có sách đại học của Nhật: vậy thì một ngày gần đây, con em chúng ta và phụ huynh chắc chắn sẽ được toại nguyện.
         Trong khi chờ đợi những sách cao đẳng về các ngành khoa học, tôi cũng tự an ủi khi trông thấy những sách về loại phổ thông: dạy vô tuyến điện, quang học, dạy chữa xe hơi… Rất đáng chú ý là 18 quyển sách về y học thường thức của 4 vị bác sĩ, còn thì không biết có phải của bác sĩ không, vì tác giả chỉ đề tên hiệu.(2)
         Nhưng các cụ đông y, với một thiện chí đáng kính, cũng hăng hái đem cao đan hoàn tán ra ganh đua, và hiện nay đã đếm được 19 bộ sách thuốc Nam thuốc Bắc.
         Ngoài ra, chưa thấy gì đáng kể về khoa học thực hành, mặc dầu chúng ta đương ở thời đại nguyên tử.


¤

         Hơn nữa, vẫn có dòng nước ngược chảy về dĩ vãng, – không phải dĩ vãng cao minh còn rạng ánh Khổng Mạnh, Tống Nho – nhưng một dĩ vãng huyền bí, hoang đường của thần tiên quỷ quái hay hảo hán anh hùng dã sử Trung Hoa: sách bói sách tướng, sách tử vi, sách tam thế diễn cầm, bên cạnh 53 bộ truyện Trung Hoa. Có bộ 8 pho dày hơn tự vị Laroisse: Phong Thần, Phong Kiếm Xuân Thu, Tàn Đường, Bắc Tống v.v… Lỗ trí Thâm hay Võ Tòng (200$) được trị giá gấp bốn lần Lý Đỗ (50$), Truyện cổ tích Việt Nam, Truyện Kỳ mạn lục nào có thể chống lại sự ngoại xâm của dị nhân Trung Quốc?
         Chắc có bạn nghĩ: dân tộc nào không thích chuyện hoang đường? và cũng phải cho những tâm hồn chất phác những giờ phút say sưa, lãng xa thực tế! Đành rằng thế, song những truyện của Andersen hay truyện thần Zeus, truyện Siegfeied hay Barberousse không đến nỗi làm cho dân tộc Đan Mạch, Hy Lạp hay Nhật Nhĩ Man quên mất thực tế như Nhất Chi mai, Nhị Lang Thần, Lý Nguyên Bá đối với nhiều người trong xã hội ta. Đã có nhiều vị cố đem “Ba nhà chí sĩ họ Phan”, “Hoàng Hoa Thám”, cả “Ba Giai Tú Xuất” hoặc nhờ cả “Winstonn Churchill” hay “Carnegie” góp sức đồng minh để đánh đuổi bọn Tống Tử Văn hay Tiêu Đinh Quí. Và thắng lợi cuối cùng, chắc hẳn về ta.
         Vì nếu sự thịnh hành sách nói về đời mới có thể biểu lộ khuynh hướng hiện nay của Nhi đồng, Thanh niên và Phụ nữ, thì ta hy vọng rằng thế hệ sau này, với sự giúp đỡ của những tác giả ưu thời mẫn thế, sẽ xô mạnh về hiện tại và tương lai, về khoa học và thực tế.
         Thiếu nhi đã ham đọc những sách Hồng, bình dị và có ích hơn cho óc suy luận: “Tâm sự con chó mực” hay “Lão Họa sĩ ăn mày” đã được thưởng thức hơn, vì dễ hiểu hơn là Ngũ Hổ bình tây với những danh từ cổ lỗ, những khung cảnh nịnh thần trung thần mà chúng không hiểu, những tên Lão tổ hay tên hiệu dài dằng dặc của Tống Giang mà chúng rất ghét. Đã có em bực mình: làm sao ra trận mà còn có thời giờ mắng nhau và không xưng tên thì không thèm chém? Nhưng ta cần cố gắng hơn nữa, vì tuy chúng đã chán Triệu Tử Long, nhưng vẫn chưa ưa thích “Con dế của thằng Tín” bằng Peter Pan hay Blanche Neige.
         Thanh niên chú trọng nhiều hơn tới sức khỏe “Bắp thịt trước đã”; sách thể thao và hướng đạo, đâu cũng thấy bán. Quần vợt, bóng bàn, được ưa hơn là các miếng võ của Ngũ Mai sư bá. “Óc sáng suốt”, cũng giúp cho “Học làm Công Dân”. Có “sống đơn giản” mới dễ thắng “Con đường hạnh phúc”; khôn lớn, tất phải nghĩ tới “Tổ chức Gia Đình”, và hơn nữa, về phương diện đó, cũng cần lưu ý tới khoa học sinh lý: vì thế đã thấy bán từ lâu “Người con trai nên biết…” Lại phải thành “Người lịch sự”, phải biết “Thành công xử thế”, phải có “Đức tự chủ”, v.v… tóm lại là phải “Học làm người” theo lời khuyên của Ch. Wagner, của P. Girardet, của A. Maurois, v.v…
         Còn phụ nữ, thì hình như lại tiến mạnh hơn. Số sách dành cho các bạn gái hướng vào mục đích rõ rệt: đào tạo một thế hệ phụ nữ mới, “Trẻ lâu, đẹp”, “Sống lâu” (hình như có sự mâu thuẫn), phải hiểu biết tất cả các sự kiện để xây dựng “Hạnh phúc lứa đôi”, “Con gái dậy thì nên biết”, “Cô gái lấy chồng nên biết”, “Các bà vợ nên biết”… (theo thiển ý, không nên biết nhiều quá). Rồi còn phải biết “Làm bếp khéo” (cần nhất) “Biết xã giao” (vừa vừa thôi) biết “Nuôi con”, biết “Cắt may Việt phục”, biết “Lái xe hơi”, và lúc nào cũng sẽ lo sao cho “Thuận vợ thuận chồng”…


¤

         Một loạt ấn phẩm nữa đáng được chú ý, nhan nhản khắp nơi, ngay ở những nhà sách rất nhỏ gần Chợ Lớn hay Dakao, tràn từ các tủ hàng ra các vỉa hè: sách báo ngoại ngữ, Pháp hay Anh và cả Đức. Nếu kể cả những bài học của các Đài phát thanh, thì quả thiệt phong trào ngoại ngữ mạnh mẽ hơn bao giờ hết; dĩ nhiên phải thế, vì chúng ta đã hòa mình vào đời sống quốc tế trên các lãnh vực công tư.
         Trước hồi Đại chiến thứ hai, phần đông học tiếng Pháp, số ít học tiếng Anh qua các sách của Pháp, của Anh; Ngày nay, nhiều người học qua các sách của ta, Việt-Pháp, Việt-Anh, và chính vì thế sự phổ biến ngoại ngữ càng rộng rãi: Pháp văn các lớp, Pháp văn tự học, Anh văn thực hành, bài dịch, và nhất là hơn hai chục thứ tự điển dày mỏng các cỡ mới xuất hiện ít lâu nay.
         Song sự truyền bá tư tưởng Âu Mỹ còn đòi hỏi rất nhiều loại sách khác, soạn bằng Việt văn, thì văn minh hiện đại mới có thể đi tới các tầng lớp dân chúng: những sách phổ thông hay khảo cứu nói về tất cả các phát minh của nhân loại ở mọi phạm vi từ đầu thế kỷ này, như ở Trung Hoa trước thời Cộng sản, hoặc ở Miến Điện ngày nay. Vì ngoại ngữ tuy được hoan nghênh, số người tới trình độ cao chưa thể tăng mau nên sách quốc ngữ nói về thế giới ngày nay vẫn dễ hiểu hơn.
         Đứng trước hàng ngàn ấn loát phẩm ngoại ngữ, tôi đã nhớ lại câu hỏi của một ông thầy học cũ; hồi 1943, gặp tôi trong một nhà sách, trước các tập sách dạy tiếng Nhật, cụ giáo T. cười mà bảo tôi: “Phần đông các anh học tiếng Tây nhiều mà chẳng giúp được gì cho văn hóa Việt Nam. Nay lại học tiếng Nhật, thì liệu có đem được tinh hoa của người ta truyền thụ giúp ích cho đồng bào không?”
         Câu hỏi đó đã khiến tôi suy nghĩ nhiều…
         Kim, cổ, đông, tây, Valery hay Lý bạch, Phật thích Ca hay Jefferson, Platon hay Hồ Thích, tự điển tiếng Anh hay sách Kỹ thuật Đức… chỉ có ý nghĩa cao đẹp chừng nào đã có thể Việt Nam hóa để góp phần xây dựng một nền quốc học phong phú và thích hợp, hướng về sự cải thiện công dân và con người Việt Nam: Cụ giáo tôi, tuy chỉ đỗ thành chung, đã thấy từ lâu.


ĐOÀN THÊM

_______________________________
(1) Sách ngoại ngữ thường 200$, 300$, có khi 700$, 800$.
(2) Duy tôi thấy hơi thắc mắc: theo luật lệ, thì phải là y khoa bác sĩ hoặc có những bằng cấp y khoa xứng đáng mới được phép chữa bịnh cho thuốc. Nhưng viết sách dạy về cách dùng thuốc, nghĩa là cho toa vĩnh viễn và chữa bá chứng còn có thể nguy hiểm hơn nếu không đủ điều kiện chuyên môn.
      Vậy thì có thể bất cứ ai cũng viết sách y học không? Nếu là Bác sĩ, thì xin cứ đề là của Bác sĩ và tên họ, còn tên hiệu thì nên để cho tác giả tiểu thuyết hay thi sĩ… Dù sao vấn đề cũng nên được các giới có thẩm quyết xét lại.


BÁCH KHOA |  SỐ 46

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #227 vào: 14/06/2018, 21:32:32 »


                  Chuyện lòng
                                              Gửi H. C.

      ÔI những chuyện ngày xưa Thơ Mộng quá
      Ngược Thời Gian anh vẫn mãi đi tìm
      Thuở chín mười âu yếm dắt tay Em
      Làm chồng vợ kiếm lá vàng mua bán
      Em duyên dáng như một cô chủ quán
      Anh một chàng khách lạ ở phương xa
      Ghé hàng Em uống nước với ăn quà
      Em đon đả ra mời chào khách lạ
      Rồi Anh trả tiền Em bằng xác lá
      Xác lá rừng thu nên có rất nhiều
      Đôi vợ chồng son sung sướng chi tiêu
      Như những truyện thần tiên trong cổ tích
      Nhưng cuộc đời cho chúng ta rất ít
      Quãng ngày thơ lấy lá rụng làm tiền
      Thuở mười lăm sầu dâng kín mắt Em
      Chắc Em chẳng còn nằm mơ hàn sĩ
      Tay gối đầu mà nghe lòng thủ thỉ
      Suốt năm canh áo đẹp với lâu đài
      Xe ngựa bon bon trên nẻo ngày mai
      Anh cứ giận sao tiền không là lá
      Anh cứ giận sao đời khờ dại quá
      Sao không tiêu bằng những xác lá vàng
      Để cho Đời thêm nhiều nghĩa cao sang
      Để cho Em như những ngày thơ dại
      Trong góc vườn bước khoan thai tay hái
      Những lá xanh và những xác lá vàng
      Giầu nhất là những buổi chớm thu sang
      Rừng lá rụng như muôn ngàn cánh bướm
      Mộng cứ sầu, mộng cứ sầu rất lớn
      Tuổi mười lăm Em ước vọng cao xa
      Tưởng cuộc đời tươi đẹp như xe hoa
      Nhiều tiền bạc cũng như là xác lá
      Em từ biệt Anh sang sông vội vã
      Không khoan thai như cô gái bán hàng
      Bỏ mình Anh đi đón gió thu sang
      Nhặt lá rụng hong thơ sầu trong Nắng
      Hồn lênh đênh trong nhiều đêm thức trắng
      Vẫn giận hờn sao cứ bước bơ vơ
      Vẫn nuốt sầu đem lá chép thành thơ
      Mộng đem bán cho một linh hồn nhỏ
      Chuyện tâm tình mong trở thành muôn thuở
      Mà cuộc đời chắc là lắm đa đoan
      Anh xin trao thơ lấy xác lá vàng
      Về lại chép những vần thơ khờ dại
      Bằng linh hồn kẻ yêu thương mãi mãi
      Mong cuộc đời đổi nghĩa chữ cao sang
      Và xin đời chìu mến xác lá vàng
      Để cho Anh không còn sầu vạn kỷ
      Mà tìm Em dù tình xa vạn lý
      Gọi Em về trong một sớm thu sang
      Gọi Em về trong chiều gió thu vàng


                                       HOÀNG KHANH


BÁCH KHOA |  SỐ 46

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #228 vào: 15/06/2018, 21:21:27 »


             Con trâu đi cày

      MỒ hôi thánh thót ruộng cày
      Con trâu, người cấy một ngày thương nhau
      Con trâu đi trước
      Người bước theo sau
      Xa xanh núi nhạt một màu
      Ao liền, ruộng cả, vườn rau, nương chè

      Anh lắng tai nghe
      Tiếng rì tắc họ
      Đôi trâu ở đó
      Hăm hở bước đầu
      Đất mới có nhớ thương yêu
      Riêng ta ta nhớ mình nhiều lắm nghe.
      Xa xanh tóc rũ làng quê
      Bên tê chắc cũng đề huề như đây?

      Đám người hăm hở cuốc
      Trâu bước nhịp nhàng
      Hòa mình dưới ánh nắng vàng
      Ra công cày cấy cho làng ấm no

      Con trâu lang ó
      Con bò non tơ
      Cùng nhau tâm sự nên thơ
      Dưới luống cày dở bên bờ ruộng xanh
      Rì rì tắc họ
      Trâu lại bước nhanh
      Ngày mai lúa chín thơm lành
      Trâu mình sẽ đứng nhứt ngành nông gia

      Hôm nay lệ nhỏ chan hòa
      Tôi ăn bát gạo lức mà nhớ trâu.


                                           HY VĂN


BÁCH KHOA |  SỐ 46

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #229 vào: 15/06/2018, 23:51:10 »


                  Hồn vương tóc mịn

            MÂY buồn trưa ấy bâng khuâng quá!
            Gió vụt qua hồn, mưa bụi êm.
            Tôi gặp bên hiên người thục nữ
            Lơi lơi tóc xõa lượn tơ mềm.
                                    ⟡
            Là sợi cong trầm buộc mến thương,
            Là dây giăng mắc quyện tâm trường,
            Ôi! làn tóc gió bay phơ phất!
            Tôi thấy hồn si đã vấn vương…
                                    ⟡
            Đứng lặng giờ lâu ngắm bóng người,
            Thẫn thờ tôi đếm giọt mưa rơi.
            Bỗng người ngoảnh lại nhìn lơ đãng,
            Mái tóc rờn tơ phất ngậm ngùi!
                                    ⟡
            Bước vào trong cửa, người đi khuất,
            Ngọn tóc vờn theo vóc liễu non.
            Tôi ngước trông lên, đầu lộng gió
            Nghe tơ tóc mịn xõa qua hồn…


                                     NGỤY TẦN THƯƠNG
                                     1949



BÁCH KHOA |  SỐ 46

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #230 vào: 16/06/2018, 22:12:01 »
BÁCH KHOA |  SỐ 47  [15-12-1958 |  108 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Bích Quang |  Lý tưởng với cuộc đời |  3-5
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ Mác-xít [XII] |  6-8
Nguyễn Hiến Lê |  Nhi đồng giáo dục: Kỷ luật phải xây dựng trên những qui tắc nào? |  9-13
Nguyễn |  Hui Shen, người phát kiến châu Mỹ? |  14-19
Bách-Khoa |  Làm chúa tể cần nghe thiên hạ |  19
Nguyễn Thiệu Lâu |  Rừng ở Trung Việt |  20-21
Đoàn Thêm |  Vợ, con, và nước |  22-28
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 46 |  28
Bách-Khoa |  Cần người trung trực |  28
Song An Cư Sĩ |  Liên bang Mã Lai [II] |  29-36
Gian |  Lại chơi chim |  37-40
Cô Liêu |  Thế hệ J3 ở Pháp và Anh [III] |  41-44
Bách-Khoa |  Phải tự cho mình là kém |  44
Lưu Nguyễn |  Tiếng ta với sự phổ nhạc và cách hát ngày nay |  45-48
Nguyễn Huy Khánh |  Lược khảo về Tam Quốc Diễn Nghĩa [IV] |  49-55
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [VIII] |  56-60
Huy Trâm |  Trưa vàng |  61-64
Bách-Khoa |  Không nhận thưởng không công |  64
Đông Xuyên (dịch) |  Mộ quy (thơ) \ Lâm Nhan (thi nhân đời Minh) |  65
Giản Chi |  Hương nhớ (thơ) |  65
Lưu Nghi |  Con thằn lằn đứt đuôi |  66-71
Diệu Thanh |  Bốn năm chỉ nhớ một người \ Lòng tôi (thơ) |  72
Kiều Yiêu (dịch) | Một chuyện Liêu trai: Ái nô \ Bồ Tùng Linh |  73-77
Quảng cáo |  78
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [IX] |  79-82
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXIX] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  83-88
Quảng cáo |  89
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  90
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 46 |  91
Quảng cáo |  92-108


SAIGON |  1958




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #231 vào: 16/06/2018, 23:25:26 »


Vợ, con, và nước
000
         ― Vi-ta-mi-nes B1, B2, B12! Hé-pa-vi-ta! Hé-pa-trol! Vi-ta-mi-né-rals! Hé-pa-trol! Hé-pa-crine! Cal-ci-gé-nol!… Làm gì mà đến 85 thứ thuốc? Định biến thành nhà thuốc hay sao? Bổ lắm chỉ khéo làm hư cơ thể!
         Thấy Chi làu nhàu mãi, Lan bực mình lườm chồng mà gắt lại:
         ― Anh lạc hậu hết chỗ nói! Có con thì phải trông nom cho chúng nó. Mình không biết lợi dụng khoa học mà nuôi con, cứ để chúng xanh xao vàng vọt như khi xưa các cụ nuôi mình, thì em không thể chịu!
         ― Em là nạn nhân của mấy ông lang băm, nay sinh tố này, mai sinh tố khác. Mấy ngàn năm nay cơm gạo rau đậu vẫn chán vạn sinh tố mà bây giờ các ông đó mới bịa chuyện ra và quấy rầy. Cứ cho chúng no ăn uống no đủ, điều độ thì thôi, vẫn sống 80 như ông nội!
         ― Anh quá lắm. Đã bao nhiêu lần nhai lại chuyện đó. Nếu không có mấy chai “vitamines”, anh có chắc mấy đứa con mình đã thoát bịnh “sài” như scorbut chưa?
         ― Lại chuyện chữa bịnh của em mới kỳ! Bọn con mình hơi nóng đầu xổ mũi là auréomycine, pénicilline, lúc nào cũng nơm nớp như mấy anh Tây sợ đau màng óc. Nếu lỡ bị bịnh nặng, không có thuốc nào chữa nổi đâu!
         Lan bực quá rưng rưng nước mắt, vùng vằng ra khỏi phòng.



         Chẳng phải lần đầu tiên mà họ cãi nhau. Đã bao nhiêu bận rồi, hai vợ chồng điều qua tiếng lại, không những về chuyện thuốc men tẩm bổ cho các con, nhưng còn về rất nhiều vấn đề liên quan tới lũ trẻ: ăn ngủ, mặc, chơi, học, cho đến nói năng cử chỉ, v.v…
         Thực ra sự bất hòa đó chứng tỏ rằng đôi vợ chồng trẻ hết sức quan tâm đến sự nuôi nấng dạy bảo các con. Họ vẫn đồng ý với nhau ít ra về nguyên tắc: sinh con thì phải săn sóc, chớ không thể còn chuyện trời sinh trời dưỡng, sinh voi sinh cỏ, và phó mặc cho “phúc đức”, cho “số mệnh” như ông cha đối với họ ngày xưa. Ngay từ khi được đứa nhỏ đầu lòng, họ đã muốn giáo dục theo phương pháp thích hợp.
         Nhưng trời đất ơi, thế nào cho thích hợp?



         Lan là một thiếu phụ theo tân học rất tin tưởng khoa học, thâm phục văn minh phương Tây, và yên trí rằng tiến bộ là đi về hướng trời Âu Mỹ. Trong đời sống của mình, cũng như của chồng con, Lan đều muốn mỗi ngày một đổi mới cho tới trình độ cao hơn. Từ cách ăn mặc cho tới sự trau dồi trí thức, Lan nhất nhất tìm hỏi ở sách báo nước ngoài.
         Nhưng éo le thay Chi rất hoài nghi, và tuy đôi khi chiều ý vợ, trong bụng vẫn cười thầm có lần buột ra:
         ― Nên xếp xó mấy bộ sách lại! Le Bon Médecin (Thầy thuốc tốt), L’Encyclopédie familiale (Tự điển gia đình), Guide des bons usager (Sách dạy lịch sự) chỉ nhồi sọ và nếu không nói nhảm thì cũng chẳng hợp với người Á Đông, nhất là người Việt Nam, vì mực sống thấp hơn, vì có những nhu cầu đặc biệt mà các tác giả ngoại quốc không hiểu! Và lý thuyết viễn vông quá chừng! Đây nhé: 5g đường, 18g mỡ, 29g rau, hành 46g, 50 trứng v.v… em đã bắt anh ăn hai ba lần món nấu theo sách gia chánh tối tân, đúng với điều kiện khoa học dinh dưỡng của những sách thuộc loại “Cuisine Express”, “La Parfaite Ménagère” hay “la Bonne Cuisine”; anh đã cố nhắm măt nhắm mũi mà nuốt cho em vui lòng! Như vậy thì đối mọi cách nuôi con dạy con mà cũng cứ một mực theo sách thì anh cũng vái dài!…



         Nào có phải Chi đã lạc hậu như Lan trách. Rất thương yêu các con và mong cho chúng sau này khá hơn mình, Chi thường lưu ý rất nhiều về đời sống hiện tại của chúng, nhất là tính tình, khả năng, cử chỉ xấu tốt, v.v… để liệu uốn nắn. Chi đã chịu đọc nhiều sách về giáo dục mới, và ngay đến cả vấn đề trẻ con hư hại tội lỗi (délinqunce juvénile), Chi còn thông hiểu và theo dõi hơn Lan. Nhưng Chi khác vợ ở chỗ không theo sách nhiều, vì vẫn nhớ câu Mạnh Tử: quá tin sách thà không có sách (Tận tín thư bất như vô thư), lại vì cuộc đời lăn lộn, những sự biến chuyển trong 15 năm vừa qua, đã đánh tan nhiều thành kiến của Chi ở phạm vi văn hóa và giáo dục.
         Lan muốn con ăn mặc sung sướng, và dạy dỗ thế nào để sau này con cũng sẽ được sung sướng như vậy hay là hơn nữa. Cuộc đời của các con dù trai hay gái cũng sẽ chỉ có một mục đích: hạnh phúc, và hạnh phúc gồm sự đầy đủ thỏa thích về vật chất, sự hiểu biết rộng rãi để hưởng được những lạc thú về tinh thần. Hơn người cổ ở chỗ bất cần hư danh, và tuy không dám ước mơ đời sống Mỹ, Lan mong cho con và chỉ mong thế, được mực sống về mọi phương diện bằng một người Thụy Sĩ, Tân Tây Lan hay Na Uy, là người nước nhỏ mà đủ điều kiện theo kịp đà tiến trung bình của nhân loại.
         Chi cũng đồng tình, nhưng không đồng ý về phương pháp mà Lan áp dụng.
         Con hơi chạy nắng, thì Lan gọi về phòng e xổ mũi hay đúng hơn là “quả đấm của mặt trời” như Tây nói. Giường của các con, đều phải có nệm êm, và nóng thì Lan thay nệm cỏ bằng nệm cao su; Lan thường trách thằng Út rằng đứt tay chảy máu mà không hề mách mẹ để bôi ngay cho mercure-au-chrome sát trùng, ngộ lỡ sưng mủ thì sao? Con ngủ, ban đêm Lan phải dậy xem có đứa nào đạp tung chăn ra không, e lạnh thì bị sưng màng phổi, vì mấy ông lương y dạy thế. Đồ ăn của con phải có sữa, trứng, bơ, trái tươi vì cần sinh tố, và thịt cá nhiều vì trẻ đương lớn cần nhiều chất bổ gọi là albuminoides; cấm không cho mua đồ ăn sáng bán ở tiệm vì nhiều bụi bậm và sinh trùng. Quần áo mặc, phải thay mỗi ngày một bận; con gái phải biết chọn mầu vải lụa cho có “gout” (dễ coi, vừa mắt), con trai thì hễ quần nhầu, phải đưa ủi lại vì nhầu là vô lễ. Lan dạy con chào khách phải cười và phản đối lối chắp tay lạy cụ ạ. Mỗi ngày, Lan bắt con trình bài vở ở trường để xét hoặc giảng lại, và tuy lo về sức khỏe cho con, vẫn buộc phải cố học cho nhất nhì trong lớp, và nghỉ hè bắt phải đi học tư với hy vọng giỏi hơn trẻ khác chơi giong. Hễ đứa nào có lỗi mà Ba chúng quát, thì Lan vội can: “Chi ơi, đối với trẻ phải nhẹ nhàng chứ?” Nếu con chơi với bạn mà vật nhau, thì Lan vội kêu về, e gẫy chân tay; nếu có đứa nào đánh thì dặn chạy về mách mẹ chớ đừng đánh lại, ngộ lỡ bị thương và sinh chuyện…
         Xét những việc hàng ngày, Chi cũng thấy nhiều khi Lan không thể làm khác ở địa vị một người mẹ yêu con, nhất là khi người mẹ đó còn tự hào hiểu biết đời mới và căn cứ vào kinh nghiệm của nhiều tác giả lão thành về sách giáo dục. Hơn nữa, Chi chịu nhận rằng cho chúng tập theo vệ sinh, nhã nhặn lịch thiệp, chuyên cần học hỏi hay ôn hòa trong kỷ luật v.v… là những điều tốt và cần.
         Nhưng Chi vẫn cảm thấy chưa đủ, tuy bao ngày chưa tìm được lý do cụ thể để bộc lộ cảm tưởng lơ mơ và dẫn chứng cho những điều muốn bổ khuyết.
         Chi băn khoăn suy nghĩ mãi đọc lại nhiều bộ sách dạy trẻ, và cả mấy quyển nói về đời vĩ nhân: nhưng cũng chưa tìm thấy ánh sáng, chưa thấy hợp ý, nhất là chưa biết nói thế nào cho vợ hiểu.
         Một hôm Chi mua được số tạp chí có in ảnh thiếu nữ Do Thái vác súng đứng canh đồng, bên hàng rào dây thép gai; Chi ngắm đi ngắm lại mãi, Lan đã ngờ vì cô đó có nhan sắc; nhưng xấu lắm.
         Lại một lần, qua một tỉnh miền núi, Chi dừng xe, ngắm mãi một cảnh đồn điền hiu quạnh của người Pháp, và thừ mặt. Lan không hiểu vì sao.
         Chi đã thấy hai cảnh hợp với những ý nghĩ thường phảng phất trong đầu óc: chí quật cường hay là bí quyết của một quốc gia nhỏ xíu, đã khiến ngót hai triệu dân Do Thái bảo vệ được tự do và tiến mạnh, giữa mấy chục triệu cừu địch lân bang; – gan dạ xông pha mạo hiểm của Thực dân, khiến chúng chịu khó nhọc, xa đến đâu cũng tới, rừng sâu nước độc cũng dám ở, nên chúng đã thống trị được nhiều dân tộc Á và Phi châu.
         Rồi cách ít lâu, một buổi chiều, Chi bảo vợ:
         ― Anh đã thấy rõ anh muốn gì và có thể cho em hiểu. Mình hèn hơn Do Thái và Thực dân. Mình phải dạy con sống mạnh hơn.



         Ý kiến của Chi đại khái như sau:
         Chúng ta muốn con sướng: được rồi. Nhưng chúng nó chỉ sướng nếu chúng và những hạng cùng tuổi, hơn được chúng ta. Phải làm thế nào cho các con tránh khỏi những tật xấu, những thiếu sót của chúng ta và của nhiều người cùng thế hệ: đó là căn cứ vững chắc và thiết thực nhất để xây dựng giáo dục gia đình, chớ theo sách nước ngoài cũng chưa đủ và chưa thích hợp.
         Chúng ta thuộc một thế hệ đã bị trị, lâu ngày ỷ lại vào người ngoài để mưu hạnh phúc cho mình mà không được toại nguyện: nên phải gây cho con cái, dù nam hay nữ, óc tự lập và tự cường.
         Chúng ta đã là những kẻ hàng phục để cầu an, cầu lợi, cầu lạc thú của Tây phương mà không chịu tranh đấu như người Âu-Mỹ: vậy con chúng ta phải hiểu thấu rằng hạnh phúc chỉ là kết quả tranh đấu.
         Nên bổn phận chúng ta là gây cho các con ý chí tranh đấu, và giúp chúng tạo nên phương tiện tranh đấu.
         Chúng phải có bắp thịt chịu được nắng mưa, và tự chống đỡ chớ đừng chạy về mách mẹ; có dạ dày chịu được dưa cà, không phải chỉ có thịt cá mới ăn được cơm; quen xoay sở lấy chớ đừng trông vào cha mẹ để cởi hộ cái nút quần bị thắt chặt hay đắp chăn hộ, rửa mặt hộ.
         Má chúng phải giảng ngay từ giờ cho chúng rằng: tập bắn súng giúp nước là cần và quý, chớ đừng hòng buộc ba chúng đi vận động cho miễn quân dịch hay tìm cách cho chúng thoát ra ngoại quốc để trốn tránh nhiệm vụ; rằng đừng nên ườn xác trên giường ấm vì một ngày kia chúng sẽ phải canh gác trong sương lạnh; hay khai sơn phá thạch, chớ không ru rú một nơi để đến nỗi ở nhiều miền đất nước phì nhiêu chỉ ngoại nhân có gan khai khẩn lấy lợi.
         Có tập cứng rắn mới tránh được hèn nhát. Không cần nhồi sọ cho chúng nhiều pho sách đạo lý chín tầng mây; nhưng chúng không nói dối, không lạy ông ạ để lấy cái kẹo, cứ việc học đừng chờ khen, không thể đòi hối lộ một “chầu” chiếu bóng rồi mới đọc xong cuốn Sách Hồng; như vậy chúng sẽ không dối mình lừa người, việc mình thì phải làm không đợi khen thưởng và không ăn cắp của xã hội.
         Giúp cho chúng học, giảng lại kỹ bài cho chúng nhưng rồi đứa lớn phải giúp đứa bé: sau này chúng có đỗ cao học giỏi thì liệu giúp ích cho người khác chớ không những chỉ để lợi riêng cho mình; giảng cho một chữ, thì tập làm câu áp dụng ngay, chớ không phải để nhồi sọ; đã học thuộc bài vệ sinh thì phải biết lấy xà bông mà rửa tay: chúng cần hiểu là học để hành, chớ không phải “dắt lưng dành để tháng ngày chơi” hoặc để thành ông học phiệt.
         Và cần nhất, là gây cho chúng tinh thần đoàn thể: cho mỗi đứa hiểu rằng chỉ ngủ yên khi các anh em nó không làm rộn; chỉ được đi chơi “pic-nic” nếu tất cả Ba má anh em nó đều yên vui: để khi lớn, chúng nhớ rằng chỉ được hưởng cảnh ấm cúng nếu xung quanh chúng đồng bào đừng đói rét, và nếu đói rét thì phải giúp họ mới yên cho mình; còn nếu chỉ biết có mình hay có nhà, thì rồi lại bị cảnh nước mất nhà tan, vợ đẹp con khôn cũng không còn nữa; vẫn biết điều này bị nhiều người coi thường quá, nhưng chính vì coi là quá thường, nên không lưu ý mà áp dụng.
         Tóm lại, phải cho chúng tập chịu đựng xông pha, đương đầu với mọi sự khó khăn, và chỉ cho ăn mặc, ngủ chơi vừa phải để hòng đạt mục tiêu đó, tránh những sự quá êm ấm làm ủy mị con người, những sự săn sóc quá cẩn thận khiến chúng quen thói trông vào người.



         Lan đã hỏi lại Chi:
         ― Anh không nghĩ đến nhiều tính tốt khác mà em vẫn cố luyện cho bọn trẻ, làm thế nào cho chúng ngoan ngoãn, hiền lành, dễ bảo, biết yêu đương.
         ― Ai bảo là không cần? Nhưng chưa đủ. Cả thế hệ ông nội rất đạo đức; chúng ta cũng đã mất nước. Cả thế hệ anh rất ngoan ngoãn, hiền lành; rồi hết Tây Nhật đến bắt nạt.



         ― Anh nói nhiều quá, em ngỡ là lại lập thuyết. Anh muốn thành một thứ Rousseau, và tạo ra một số Emile?
         Chi thấy Lan không bẻ lại được, may ra Lan cho là phải, nhưng Lan chưa chịu, chỉ vì Lan không ưa thích mà thôi.
         Nên Chi lại phải nghĩ ngợi và cách đó ít lâu mới tiếp tục câu chuyện: lý luận không đủ, phải cố cho Lan “cảm thấy” sự thực.
         Và sau đây là những ý kiến bổ túc của Chi.



         Lan không ưa thích đường lối giáo dục mà Chi vạch rõ, vì nó không hợp với hoàn cảnh dĩ vãng đã tạo nên Lan và những tâm hồn như Lan.
         Từ bé, Lan dược ăn trắng mặc trơn, sống một đời yên ấm phẳng lặng, trước cũng như sau khi lấy Chi. Lan chỉ biết những sự tốt đẹp êm đềm, chỉ muốn biết có thế, và chỉ muốn được như thế mãi cho mình và chồng con.
         Sau ngày 19-12-1946, Lan vẫn ở lại cùng với Ba Má, nên mặc dầu có chiến tranh, Lan vẫn được sống đầy đủ và không trông thấy rõ như Chi.
         Chi cũng như Lan được nuôi nấng dạy dỗ, và ra đời trong cảnh yên vui; cha mẹ cho học hành, để thi đỗ, cưới Lan và đi làm, nên tất cả sự giáo dục chỉ có mục đích cho Chi thành người hiền lành, chăm chỉ để sống đời phong túc an nhàn, và cũng như nhiều bạn Chi đã lầm tưởng rằng cuộc đời có thể như thế mãi.
         Chi không thấy rõ vấn đề xã hội, quốc gia, tự do, độc lập; hoặc có biết là vì đọc sách mà biết như biết sử Tầu sử Pháp, biết khoa học, chớ không thấy tâm can rung động, không thấy lo lắng rằng các vấn đề đó phải giải quyết thì mình mới sống được.
         Thực ra, hồi đó chẳng ai cho phép lo về việc gì khác việc kiếm ăn, và lương thiện có nghĩa gần chánh thức là yên mà sống với vợ con. Dù sao, Chi đã không được rèn luyện để có sức đối phó với những sự hiểm nghèo khi thời cuộc đổi thay.
         Cho nên từ ngày 9-3-45, Chi và bao người khác đã bị tràn ngập bởi những biến chuyển không ngờ: đảo chánh, cách mạng, xung đột, phá hoại, tàn sát… sau bao năm để tâm hồn khoan khoái trôi theo giấc mộng đẹp có mảnh vườn trồng cúc, thì sao? Thì hoang mang, kinh hãi, ngơ ngác phía này xem có ai giúp, ngóng đợi phía khác không thấy gì, rút cuộc: bó gối qui hàng trước bạo lực, để mong vớt vát lại đôi chút bình an mà sống sót; sống sót và ngẩn tiếc suông cuộc đời ấm cúng xưa kia, mà Chi đã không biết bảo vệ, cũng không dám làm gì để lấy lại.
         Tóm lại, Chi đã bị thời cuộc trói nộp cho một định mạng khủng hiếp, cho những hung thần không biết tình thương.
         Cho nên, Chi muốn cho các con không bị lôi xuống vực thẳm mà Chi may lắm mới thoát. Và muốn thế, thì chúng đừng mù quáng và thấp hèn.
         Chúng phải biết rằng rất nhiều sự khó khăn còn chờ đợi chúng. Nhưng không phải vì thế mà chúng nản lòng; trái lại, phải nhận sự thực mà chuẩn bị đối phó, như thanh niên thiếu nữ Do Thái, chớ không theo “chánh sách đà điểu” (politique de l’autruche) nhắm mắt phủ nhận sự nguy hiểm.
         Chúng cần phải khỏe mạnh hơn Chi, gan dạ hơn Chi, coi thường những sự “êm ấm dễ chịu” của phương Tây mà chính người phương Tây cũng biết nhịn nếu cần. Chi tin rằng chỉ vì kém liều mà khổ.
         Chúng sẽ tiến hơn Chi, nghĩa là từ giai đoạn “vợ con” mà thế hệ Chi đã qua, chúng sẽ bước mạnh sang giai đoạn “nước” để tạo đời sống chung mà thu xếp đời sống riêng của chúng.



         Lan thở dài mà hỏi thêm:
         ― Nếu em hiểu rõ ý anh, thì anh muốn các con chịu một chế độ giáo dục khắc khổ, tập kham khổ, bắt chúng nhịn hết các thứ “dễ chịu” mà em vẫn cho chúng?
         ― Đâu đến nỗi thế? Phim Walt Disney, nếu có tiền vẫn cứ cho chúng đi mà vỗ tay, con gái lớn thì cứ cho chọn áo mầu và buộc tóc đuôi ngựa; có sữa tươi thì cứ cho uống; bố mẹ chỉ mong cho con được thế. Duy chúng phải ăn rau muống cũng thấy ngon, mặc áo vải cũng thấy ấm, chớ đừng quá lệ thuộc các thứ khoái lạc mà sẵn sàng hàng phục bất cứ ai để được các thứ đó.
         Chúng sẽ cố gắng để có áo đẹp mà mặc, nhưng nếu cần, phải biết vứt phăng đi mà tươi cười lội bùn như sĩ quan Nhật hay Mỹ.
         Chẳng biết được như vậy, thì chúng có đủ điều kiện xây dựng hạnh phúc chưa? Có điều chắc chắn, là sướng hay khổ, ít ra chúng cũng còn hơn Ba chúng…
         Như muốn đề phòng sự hoài nghi của Lan, Chi nói tiếp:
         ― Dạy mười phần, ít ra cũng được một, nhưng một tánh tốt sẽ sinh ra nhiều điều tốt. Dạy tám con, may ra cũng được một hai đứa nên người: như thế cũng là phước rồi.


         Từ đó, thản hoặc Chi và Lan còn cãi nhau, thì chỉ về vấn đề khác.

ĐOÀN THÊM


BÁCH KHOA |  SỐ 47

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #232 vào: 17/06/2018, 22:26:09 »


                   Chiều về

            CHIỀU về, núi mờ tối,
            Rửa chân, trăng dưới suối,
            Cổng hẹp chim nghỉ yên,
            Đường mờ, đóm bay rồi.
            Vợ con đợi ta về,
            Đốt đèn cơm dưa muối.
            Đứng mát gốc quế tòng,
            Sao Ngân Hà le lói.


                                LÂM NHAN
                                (Thi nhân đời Minh)
                                Đông Xuyên dịch



BÁCH KHOA |  SỐ 47

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #233 vào: 17/06/2018, 23:20:52 »


                      Hương nhớ
                                            Gửi Đông Xuyên

            HƠN nửa năm rồi, xa cách nhau,
            Bèo sông, mây núi, Bạn tôi đâu?
            Muôn trùng thư nhạn mờ hơi súng;
            Đôi ngả quan san đứt nhịp cầu.
            Án sách dăm pho ngày trắng lệch;
            Hiên tre nửa mái mộng xanh nhầu;
            Hoang mang hương nhớ lòng xuân vắng,
            Hoa bưởi mưa chiều rơi ngõ sau…


                                             GIẢN CHI
                                             Mỹ Đức 1948
                                             Trích tập “Mây Thu”




BÁCH KHOA |  SỐ 47

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #234 vào: 18/06/2018, 21:15:17 »


           Bốn năm chỉ nhớ một người
                                        Gửi Ánh Mai

            MÌNH lại ra đi không hẹn,
            Bốn năm chỉ nhớ một người!
            Mộng đời xây chưa toàn vẹn,
            Bao giờ chắc những ngày mai?
            Chỉ thấy lòng mình chua xót,
            Tủi mình cũng phận làm trai…
            Nào biết bao giờ gặp nữa!
            Bốn năm chả nói một lời.
            Chỉ một mình thương mình nhớ,
            Ra đi mang nửa mảnh đời.
            Với nửa mảnh hồn lỡ dỡ,
            Biết mình gửi gấm cho ai?…
            Đã dối lòng mình mấy độ,
            Muốn quên dù một phút thôi.
            Mình đã bao lần chạy trốn,
            Chưa tan những giấc mộng dài.
            Đã quyết bao lần chả gặp,
            Mặc lòng đau nhớ khôn nguôi.
            Đã định bao lần chả viết,
            Gửi đi, đã gửi đi rồi!
            Cũng tưởng thời gian như nước,
            Xóa mờ bóng cũ xa xôi.
            Nào biết tim mình xây mãi
            Tình yêu để hận một đời!
            Mang nặng bên mình chua xót,
            Bốn năm chả nói một lời.
            Chỉ có hôm nay mình thấy
            Thành đô mới có hồn thôi.
            Mình lại ra đi không hẹn,
            Bốn năm chỉ nhớ một người…


                                 Một ngày biệt Saigon
                                 để ra đất thần kinh

                                 DIỆU THANH



BÁCH KHOA |  SỐ 47

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #235 vào: 18/06/2018, 23:54:15 »


                    Lòng tôi

            SÂN khấu hoang giữa trời,
            Sau buổi người vui chơi,
            Nửa đêm mưa ngập lối,
            Còn lại một mình tôi.

            Đây màn bay theo gió,
            Đây hoa lá rơi thừa,
            Ghế không người; đèn tắt;
            Trên sân mưa gió lùa.

            Nghẹn ngào lên tiếng gọi,
            Nhưng mà không ai thưa.
            Ngoảnh trông: đường phố vắng,
            Mưa rơi rơi, gió lùa…


                         Một đêm kịch tàn, trên công trường
                        Thương Bạc, bên bờ Hương giang

                         DIỆU THANH




BÁCH KHOA |  SỐ 47

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #236 vào: 19/06/2018, 21:08:03 »
BÁCH KHOA |  SỐ 48  [1-1-1959 |  104 trang]

⎎  Số đặc biệt  ⎩ Lễ Giáng Sinh ⎭
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Vũ Văn Thiện |  Thiên Chúa đã vào lịch sử |  3-9
Bách-Khoa |  Phải làm hòa cùng anh em trước khi dâng của lễ |  9
Hoàng Minh Tuynh |  Khái niệm về dân chủ: Dân chủ là gì? |  10-12
Nguyễn Văn Tuyên |  Sử quan trong tư tưởng hiện đại |  13-18
Nguyễn Văn Xung |  Lũ cháu của tôi |  19-20
Nguyễn Hiến Lê |  Leon Tolstoi: một Á thánh |  21-33
Tiểu Dân |  Những gì bên trong việc Nga Sô định rút khỏi Đông Bá Linh? |  34-41
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo \ F. Houang |  42-45
Nguyễn Thiệu Lâu |  Một quân công của Nguyễn Công Trứ: Sự tảo thanh giặc Tầu Ô vào năm Mậu Tuất (1838) và năm Kỷ Hợi (1839) |  46-51
Cô Liêu |  Hội nghị quốc tế nghiên cứu: Nguyên tử phụng sự hòa bình |  52-56
Thái Văn Kiểm |  Ăn Bắc mặc Kinh: Bát Trân |  57-60
Bách-Khoa |  Phải trọn lành như Đức Chúa Cha trọn lành |  60
Nguyễn Huy Khánh |  Lược khảo về Tam Quốc Diễn Nghĩa [V] |  61-65
Bách-Khoa |  Cha nào con nấy |  65
Nguyễn (dịch) |  Cái chân khỉ \ W. W. Jacobs |  66-75
Huy Trâm |  Lời linh hồn (thơ) |  76
Thùy Song Thanh |  Bên máng cỏ (thơ) |  76
Phạm Duy Lân |  Trở về |  77-83
Diên Nghị |  Biệt… (thơ) |  84
Hy Vũ |  Kiếp phù sinh (thơ) |  84
Bách-Khoa |  Truyện người nước Lương và người nước Sở |  85
Bách-Khoa |  Phải cương quyết lánh tội \ Phải tuyệt đối tránh trả thù |  86
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  87
Quảng cáo |  88-104


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #237 vào: 19/06/2018, 23:28:00 »


Sử quan trong tư tưởng hiện đại

Lời tòa soạn.– Đây là bài của một vị linh mục Việt Nam du học tại thủ đô Công giáo gửi về cho Bách-Khoa, bàn về lập trường quan điểm của nền triết học và Ki-tô giáo đối với lịch sử, với ý muốn đem lại một lời “giải đáp những vấn đề trọng yếu nhất của con người sống trong không gian và thời gian, thừa hưởng di sản của quá khứ, xây dựng hiện tại và hướng về tương lai”. Một bài khảo cứu công phu và có giá trị. Tuy nhiên, phải chăng một cuốn sách của Cha Daniélou S. J., cuốn “Essai sur le mystère de l’Histoire”, đã giúp một phần lớn cho vị linh mục viết nên bài này. Có lẽ do đấy mà mấy đoạn phê bình về triết học đông phương của tác giả quá sơ sài, khiến ta có cảm giác tác giả chưa đi được sâu tới căn bản của vấn đề, để đem lại cho ta một khoái cảm thỏa mãn. Lại nữa, khi nói về sử quan của Marx-Hégel với sử quan của Ki-tô giáo, tác giả hình như không biết đến cuốn “Christ et le temps” của O’culman, tác giả thệ phản, là cuốn đã giúp Cha Daniélou rất nhiều. Vì thế kết luận kém phần súc tích và quá vắn, có thể làm cho nhiều người bỡ ngỡ. Ngoài mấy khuyết điểm trên, thiên khảo luận này nêu lên được khá nhiều điểm mới lạ về ý nghĩa lịch sử xin lục đăng để bạn đọc thưởng thức.

○ ○ ○


DƯỚI ĐỀ TÀI “Sử quan trong tư tưởng hiện đại”, ở đây chúng tôi không có ý trình bày một hệ thống triết học toàn vẹn về lịch sử. Trong những năm gần đây, các danh từ “Triết học lịch sử”, “Thần học lịch sử” đã thành những từ ngữ rất thông dụng, nhưng danh từ triết học và thần học ở đây phải hiểu theo nghĩa: đem năng lực của lý trí hay ánh sáng chân lý tôn giáo để suy niệm về ý nghĩa của lịch sử, vì thực ra sử quan không phải là một hệ thống triết học tự lập khả dĩ xếp ngang hàng với các triết học khác: triết học kinh viện, triết học Các-mác, triết học duy sinh v.v… Sử quan chính là lập trường, quan điểm, viễn tượng của mỗi nền triết học đối với lịch sử, là lời giải đáp những vấn đề trọng yếu nhất của con người sống trong không gian và thời gian, thừa hưởng di sản của quá khứ, xây dựng hiện tại và hướng về tương lai.

Khái niệm về lịch sử
         Vậy lịch sử là gì?
         Quan niệm về lịch sử bao hàm rất nhiều yếu tố và mỗi sử gia có một định nghĩa riêng, tùy theo quan điểm mỗi người. Đại để có thể định nghĩa: Lịch sử là sự khai diễn sinh hoạt nhân loại trong không gian và thời gian. Lịch sử chứa đựng mọi biến cố do đoàn thể nhân loại và liên quan đến đoàn thể nhân loại. Như thế lịch sử có thể coi như một thực tại khách quan có thể kiểm chứng bằng các phương pháp thực nghiệm mỗi ngày thêm hoàn hảo.
         Lịch sử là một thực tại khách quan nhưng thực tại khách quan đó có nghĩa gì? Các biến cố liên kết với nhau theo định luật nào? Lịch sử đang tiến về đâu? Tương lai nhân loại sẽ ra sao, làm sao cắt nghĩa được địa vị, ý nghĩa, vận mệnh con người trong không gian và thời gian? Con người có liên quan gì đến đồng loại, đến xã hội? Đem lý trí suy niệm tìm các định luật hướng dẫn lịch sử, tìm lời giải đáp về ý nghĩa của lịch sử thuộc địa hạt triết học lịch sử. Từ địa hạt của lý trí bước sang lĩnh vực tôn giáo, tìm ý nghĩa lịch sử trong ánh sáng chân lý của tôn giáo thuộc phạm vi thần học lịch sử.
         Không phải mãi ngày nay con người mới có ý thức về lịch sử. Ý thức lịch sử đã xuất hiện ngay tự nơi con người sơ khai từ lúc con người sơ khai biết lướt thắng mọi trở ngại vật chất vẫn kiềm chế mình, biết khuất phục sức mạnh thiên nhiên để phát triển khả năng tinh thần của mình. Những bức họa giản dị của con người sơ khai phác trên vách hang đá thời tiền cổ vì thế có thể coi như biểu hiệu ý thức lịch sử của họ. Dần dần con người biết vượt qua hàng rào cá nhân sống thành bộ lạc, ý thức về lịch sử của họ càng biểu lộ rõ rệt nhờ sự quan sát cách phát triển của đoàn thể. Ý thức lịch sử phát sinh nhờ hai yếu tố: Động và Tĩnh, Liên Tục và Gián Đoạn. Liên tục giữa các gia tộc, các bộ lạc, các triều đại. Gián đoạn vì các biến cố liên quan đến sinh hoạt của đoàn thể hay mối bang giao với các đoàn thể khác: phát minh kỹ thuật, trao đổi kinh tế, phân chia lãnh thổ… Khi con người biết hợp quần thành quốc gia hay quốc tế, chân trời lịch sử càng mở rộng, nhưng cũng vẫn cấu tạo bằng những yếu tố trên. Sau cùng, quan niệm về lịch sử được áp dụng cho cả nhân loại, nhân loại được coi như một đơn vị duy nhất, phát triển, tiến tới. Với quan niệm về lịch sử bao quát đó, tư tưởng hiện đại mỗi ngày càng chú trọng đến lịch sử, tìm trong lịch sử hy vọng giải quyết nổi các vấn đề liên quan đến nhân sinh.
         “Hiện đại cố tìm trong mọi vấn đề khái niệm lịch sử: hình như người ta chỉ có thể hiểu thật một hiện tượng về con người hay về thế giới bằng cách nhìn nó trong nguồn gốc hay sự tiến triển thời gian. Thực ra, hiện nay chúng ta đang được chứng kiến sự phát sinh một nền Nhân bản lịch sử với những vấn đề chính yếu: Trong lịch trình tiến hóa ngàn năm, con người đã phát triển thế nào, và con người phải theo đường nào để đáp lại sứ mệnh chính yếu của mình?” (J. Laloup et J. Nélis, tựa cuốn Culture et Civilisation).

Khước từ lịch sử
         Lịch sử cấu tạo bằng hai yếu tố: liên tục và gián đoạn. Chối bỏ một trong hai yếu tố đó là khước từ ý nghĩa của lịch sử.
         Các tư tưởng cổ điển ở Đông phương (Trung Hoa, Ấn Độ) cũng như ở Tây phương (Hy Lạp) đều chỉ nhấn mạnh về liên tục tính và do đó khước từ lịch sử. Tư tưởng Trung Hoa lấy sự hòa hợp của hai nguyên lý âm dương để cắt nghĩa vận chuyển của vũ trụ và vạn vật. Đó là định luật đại đồng bao gồm vũ trụ quan và nhân sinh quan: lịch sử được coi như một chu trình luôn luôn tái diễn một lý duy nhất, không nguyên khởi, không tận đích. Tư tưởng Ấn Độ cũng không thoát khỏi viễn tượng trên: Ấn Độ giáo, Bà-la-môn cũng như Phật giáo lấy “Nghiệp” làm chân lý căn bản: Nhân sinh Quả, và Quả tác Nhân, con người trầm luân trong dây luân hồi và Niết bàn cũng chỉ là sự tan biến trong Thực tại bất dịch, muôn thủa. Tư tưởng Hy Lạp cũng ngừng lại ở một hình thức tương tự. Các triết gia tiêu biểu nhất của Hy Lạp đều chủ trương: Thực tại thần linh chính là thế giới Ý niệm bất dịch và vĩnh viễn. Các định luật của vũ trụ và của xã hội chỉ là phản ảnh của thế giới bất dịch đó (xem J. Daniélou, Essai sur le mystère de l’Histoire, tr. 9).
         Triết học duy sinh của Sartre đối lập hẳn với với các lập trường cổ điển trên. J. P. Sartre chỉ nhìn con người tự tạo trong thời gian, vì thế lịch sử bị bẻ vụn thành những khoảnh khắc biệt lập không liên quan với nhau. Bằng một tác động tự do, mỗi giây phút con người tự sáng tạo chính mình, tạo cho chính mình một yếu tính (création de propre essence). Con người trong vũ trụ và nhân sinh đối với Sartre là một vô lý, do đó lịch sử là một cuộc phiêu lưu vô nghĩa. Vì bên trên con người và lịch sử không có một qui luật tối cao, một giá trị tiên quyết, lịch sử là một đống vụn những sự kiện cô lập, những tác động vô hướng. Trong cuốn l’Être et le Néant, Sartre nhận định lập trường: “Mọi hiện sinh không ý nghĩa, tồn tại bởi yếu đuối, chết bởi gặp gỡ” (Tout existant nait sans rison, se prolonge par faiblesse, meurt par rencontre).

Ý nghĩa lịch sử
         Ngày nay đối với lịch sử, tư tưởng hiện đại tiến theo ba hướng chính: lãng mạn, thực nghiệm và biện chứng.
         Quan niệm lãng mạn chủ trương lịch sử là sân khấu của những vĩ nhân thông minh, nghị lực, không chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh nhưng do ý chí riêng sáng tạo nên lịch sử. Alexandre, César, Napoléon chẳng phải là những anh hùng tạo nên thời thế là gì? Suy luận một cách tương tự, quan niệm lãng mạn đề cao một nền văn minh nào đó, coi nền văn minh đó như có sứ mệnh hướng dẫn lịch sử lãnh đạo các nền văn minh khác trên đường tiến hóa.
         Quan niệm lãng mạn hoàn toàn chủ quan, chối từ các điều kiện xã hội, vật chất ảnh hưởng đến cá nhân và tách cá nhân khỏi môi trường sinh hoạt của mình. Phải chăng chính quan niệm lãng mạn về lịch sử đã khiến Âu châu tự tôn muốn nhận lấy vai rò “khai hóa” cho các dân tộc Á-Phi, đã khiến cho thế giới điêu linh với các chủ nghĩa phát xít, quốc xã và quân phiệt trong đại chiến vừa qua.
         Do ảnh hưởng của các phát minh khoa học thực nghiệm các phương pháp chính xác của lý hóa sinh, một trào lưu tư tưởng khác muốn đem áp dụng các định luật của vật giới vào lịch sử. Đem áp dụng các phương pháp thực nghiệm để khảo sát các hiện tượng lịch sử, các sự kiện xã hội, các nhà xã hội học muốn biến triết học lịch sử thành một “vật lý lịch sử” căn cứ vào các bản thống kê, các cuộc điều tra. Sau những giây phút bỡ ngỡ và thán phục buổi đầu, người ta sau tự hỏi: nếu lịch sử có một ý nghĩa thì ý nghĩa đó không vượt qua các con số, các đồ thị, rọi một tia sáng linh động vào toàn thể các sự kiện sao?
         Người đầu tiên đem triết học giải thích lịch sử là Hégel. Tư tưởng của Hégel xây trên nền tảng biện chứng pháp: tất cả lịch sử khai diễn theo biện chứng pháp của tinh thần. Cũng như tinh thần đối lập với Vật chất hợp thành con người, các sự kiện nhân loại đối lập với sự kiện tương phản tạo nên lịch sử. Ngay chính các nền văn minh cũng tiến theo định luật trên: đối lập và tiến triển. Với biện chứng pháp, Hégel đã đem lại cho lịch sử một viễn tượng mới: có một nguyên lý tối cao và phổ biến hướng dẫn lịch sử.

Sử quan Các-mác
         Đảo lộn biện chứng pháp của Hégel, Mác đề cao quan niệm hoàn toàn duy vật về lịch sử. Thay cho Tinh thần như trong hệ thống Hégel, Mác đặt ngay ở nguồn gốc mọi lịch trình tiến hóa một yếu tố căn bản: Vật chất. Vạn vật do chính vật chất tiến hóa. Mác không phủ nhận Tinh thần nhưng chủ trương Tinh thần cũng là sản phẩm của vật chất.
         Áp dụng vào lịch sử, Các-mác chủ trương tất cả lịch sử là một cuộc chiến đấu trường kỳ để giải phóng con người theo hai hướng: chế ngự thiên nhiên và xây dựng chủ nghĩa xã hội không biên giới, không giai cấp. Chế ngự thiên nhiên vì con người cộng sản trước hết là con người công nhân và chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa hành động. Lấy lý trí làm tiêu chuẩn, lao công là sức mạnh giải phóng, là sự sáng tạo chính mình bởi chính mình. Lao công là giá trị tuyệt đối, là đơn vị đo lường của mọi giá trị khác. Nhưng sự giải phóng bằng lao công chỉ hoàn toàn nếu sức lao công không bị bóc lột, con người không bị tha hóa (aliénation), cuộc giải phóng đó phải đi đôi với cuộc giải phóng xã hội của giới vô sản. Các-mác nhìn mọi sự dưới khía cạnh kinh tế: sản xuất, phân chia tài sản v.v… vì kinh tế là hạ tầng cơ sở trên đó xây dựng thượng tầng cơ sở như chính trị, nghệ thuật, tôn giáo. Trong viễn tượng đó, cho tới nay lịch sử là một cuộc bóc lột, một cuộc vật lộn giữa giới thống trị với giới bị trị, và từ nay lịch sử phải là cuộc tranh đấu qua các giai đoạn: cách mạng hủy bỏ chế độ tư bản, vô sản chuyên chế, chính thể xã hội đại đồng. Đó là tương lai, là thiên đàng của nhân loại theo cộng sản. Người cộng sản tranh đấu cho tương lai đó bằng cách sống hoàn toàn cho Đảng, với Đảng, vì Đảng. Vì chỉ có Đảng mới có chân lý, khước từ mệnh lệnh Đảng hay do dự là thoái hóa, là quay ngược lại hướng đi của Lịch sử.

Triết học duy linh
         Trong hai thế kỷ 18 và 19, tư tưởng triết học bị kiềm chế trong vòng kín của thế giới vật chất. Với khuynh hướng duy linh của Bergson, triết học hiện đại đã tìm thấy một lối thoát: con người thế kỷ XX đã nhận rõ nhìn xuống và nhìn ngang chưa đủ, muốn tìm thấy ánh sáng cho vấn đề nhân sinh, phải biết khiêm tốn nhìn lên. Tư tưởng triết học không thể khai trừ huyền bí nhưng đưa con người tiếp xúc với huyền bí.
         Trong lĩnh vực lịch sử với các tác phẩm “Les données immédiates de la conscience” và “l’Evolution créatrice”, Bergson mở một chân trời mới cho sử quan. Khởi điểm của triết gia là quan niệm về thời khắc bất đồng, sáng tạo, có phẩm tính (durée hétérogène, vréatrice, qualitative). Đối với vật lý gia, thời gian là một môi trường, một khung, có thể chia thành nhiều khoảnh khắc biệt lập không tương quan với nhau. Trái lại, Bergson nhấn mạnh vào kinh nghiệm nội giới, vào sinh hoạt tâm linh, thời khắc luôn liên tục và liên quan với nhau, không thể xác định khởi điểm hay tận điểm. Thời khắc đối với Bergson có cường độ vì thuộc trật tự tâm lý. Le Senne định nghĩa thời khắc theo Bergson: “La durée ne s’arrête jamais, son cour peut devenir plus lent ou plus vif, il ne cesse jamais de couler…” Chính Bergson viết: “Pour un être concient, sxister consiste à changer, chaner à se murir, se murir à se créer indéfiniment soi-même”. Vì thời gian luôn luôn hiến cho tinh thần khả năng tự tạo và tiến triển. Trực giác của Bergson đối lập hẳn với quan niệm duy vật về lịch sử và đề cao sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt nhờ động lực thời gian.
         Lecomte du Nouy không nguyên dựa vào triết học nhưng còn căn cứ vào các phát minh khoa học: từ toán học, vật lý tới sinh vật và cổ vật học để rút ra một giả thuyết: lịch sử nhân loại nằm trong lịch sử toàn thể sinh vật. Theo Lecomte du Nouy trong cuộc tiến hóa đại đồng, các sinh vật hạ cấp tiến tới sinh vật thượng cấp. Từ con người, chiều tiến hóa qui về một hướng mới: không phải tiến hóa xác thể nhưng tiến hóa tinh thần: phát triển các giá trị thiêng liêng để hoàn thành sứ mệnh của con người trước thượng đế.
         Teilhard de Chardin cũng chủ trương một viễn tượng lịch sử tương tự nhưng còn muốn đi xa hơn nữa: đem lịch trình tiến hóa áp dụng vào phạm vi thần học.
         Toynbee áp dụng quan điểm duy linh vào lịch sử một cách thực tiễn hơn. Theo sử gia, lịch sử nhân loại chia làm ba giai đoạn: các xã hội sơ khai, các nền văn minh và sau cùng Đại-xã-hội (La Grande Société). Để tiến từ giai đoạn này qua giai đoạn khác, mỗi đoàn thể phải trải qua nhiều cuộc “thử thách” (challenge), nếu thắng vượt được thử thách, đoàn thể có cơ tiến triển, nếu không đủ sức đương đầu, đoàn thể bắt đầu suy vong. Toynbee gọi hiện tượng đó là “Tan vỡ” (breakdown). Nền văn minh nào thắng vượt được hết mọi “Breakdown” nền văn minh đó sẽ tiến tới Đại-xã-hội, một nền siêu văn minh, hoàn toàn phổ biến, trong đó con người biết đặt các nhu cầu vật chất vào đúng chỗ của chúng và đem hết nghị lực phụng sự các giá trị tinh thần như nghệ thuật, luân lý, tôn giáo.
         Lý thuyết của Toynbee áp dụng vào các hiện tượng lịch sử quá khứ có nhiều điểm đúng, nhưng điều đáng chú ý nhất là Toynbee đã biết nhấn mạnh vào địa vị tinh thần và tự do của con người, biết phân loại các giá trị nhân bản và suy tôn các giá trị thiêng liêng.
         Cuộc khảo sát sơ lược trên minh chứng muốn giải quyết vấn đề ý nghĩa lịch sử, triết gia phải đứng vào quan điểm duy linh. Quan niệm chu trình về lịch sử ngày nay đã gián tiếp bị phủ nhận vì chối từ đà tiến hóa của nhân loại. Nếu lịch sử có một ý nghĩa thì lịch sử phải có một khởi điểm và một tận đích. Tư tưởng duy sinh vô thần của J. P. Sartre đưa tới một ngõ hẻm không lối thoát: chủ trương một thế giới đóng kín, triết học của Sartre đưa tới bi quan, thất vọng, âu lo, vô nghĩa. Quan điểm thực nghiệm không đem lại một giải pháp toàn vẹn về con người vì con người là thực tại vừa vật chất vừa thiêng liêng… Nếu đã chối từ quan niệm về “siêu việt” (transcendance) và “vĩnh viễn” (éternité), con người làm sao có thể tiến tới một tương lai lý tưởng… vì con người hữu hạn trong không gian và thời gian? Muốn cho thời gian có một ý nghĩa, muốn cho những biến cố nội tại trong lịch sử có một ý nghĩa phải đi tìm ý nghĩa đó ở vĩnh viễn, và siêu việt. Vĩnh viễn và siêu việt không tách biệt khỏi thời gian nhưng nội tại và hiện tồn ngay trong thời gian. Chỉ có mối tương quan đó mới giải quyết được vấn đề lịch sử. Phê bình sử quan của cộng sản, Jean Lacroix viết: “Seule une dialectique plus complète, une dialectique de l’immanence et de la transcendance, du temps et de l’éternité permet de sauver la totale historicité de l’homme tout en donnant à son histoire terrestre un terme, qui ne soit ps une mort, mais une résurreection” (Marxisme, Existentialisme Personnalisme p. 47).
         Và nếu muốn đi xa hơn nữa muốn tìm thấy ý nghĩa toàn vẹn của lịch sử phải tìm đến Thần học lịch sử chứa đựng trong Thánh kinh. Trong viễn tượng của Thần học, lịch sử nhân loại là một lịch sử cứu độ. Lịch sử có một ý nghĩa tuyệt đối vì chính Thiên Chúa đã xuất hiện trong thời gian và không gian. Thiên Chúa vô hình, vĩnh viễn, siêu việt, tuyệt đối đã nhập thể và nhập thế để cứu độ, thánh hóa, biến thời gian thành vĩnh viễn cho tương đối một ý nghĩa tuyệt đối. Thiên Chúa xuống thế làm người để con người trở thành Thiên Chúa, đó là trung tâm, là ý nghĩa của lịch sử.


NGUYỄN VĂN TUYÊN
Roma, Hè 1958


BÁCH KHOA |  SỐ 48

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #238 vào: 20/06/2018, 23:38:32 »


                 Lời linh hồn

      CÚI lạy Chúa tôi trở về đất cũ,
      Lòng hoang mang thân lấm bụi trần gian;
      Tôi lặn ngược dòng đời như thác lũ,
      Nhưng mười phương trời đất dựng điêu tàn.

      Đêm lầm lạc chở hồn qua đất chết,
      Đò đời trôi trên sóng máu âm u.
      Bao kẻ thác Linh hồn oan chẳng diệt,
      Chiều lang thang xa Chúa lạc sương mù.

      Chuông đã đổ trong chiều mưa gió lạnh;
      Đời cô đơn tôi khóc Chúa xa tôi.
      Cơn bão tố trong hồn xuân đã tạnh,
      Đây mùa hoa Thiên Chúa đẹp muôn đời.

      Đêm giáng thế Chúa về trong ánh sáng,
      Rồi bình minh che lấp lối đau thương;
      Quỷ đã ngã trong tim người biển lận,
      Tin và yêu: chân lý sáng mười phương.

      Chúng tôi nguyện xóa trang đời tội lỗi,
      Mầu máu tươi thôi xé, sạch biên thùy.
      Cây Thánh giá sáng ngời trong bóng tối,
      Trên đường hoa tương ái vạn người đi.


                                              HUY TRÂM


BÁCH KHOA |  SỐ 48

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #239 vào: 21/06/2018, 23:30:08 »


                     Bên máng cỏ

      NGỬA linh hồn, con xin nguồn thương xót
      Đau thương quỳ trên gai nhọn trần gian
      Buồn chưa đi buồn đọng lại đầy hồn
      Con vẫn hỏi vì sao đời khổ lụy
      Chắp tay dại con run lời năn nỉ
      Sầu bao nhiêu sầu ngun ngút mênh mênh
      Thiên địa muôn phương đói khát muôn tình
      Cho con trở về Be-Lem cố xứ
      Làm mục tử ngủ ngây thơ giường cỏ
      Đêm đông nào chợt tỉnh giấc cô miên
      Mừng Ngôi Cao xuống máng cỏ nghèo hèn
      Mang trọn nghĩa Từ Bi làm cách mạng
      Nghìn xưa đó ý lành Cha định hướng
      Nghìn sau nầy ai chung nẻo Chúa đi
      Nhân loại lớn khôn, vũ trụ xuân thì
      Biết đâu hẹn những đêm dài thao thức
      Bất mãn mọc mầm đau thương tủi cực
      Con rơi vào lòng thế kỷ chông chênh
      Thế hệ con đi những nẻo gập ghềnh
      Sầu chênh chếch những bàn chân bé mọn
      Tim rung động trên đường tay búp nõn
      Jésus ôi con nhập cõi Vô Cùng
      Đêm Noel nhân loại đẹp tình chung
      Khép mắt lại sợ mầu yêu tan vỡ
      Còn có ai đi bơ vơ hè phố
      Tôi cầu xin người gặp mặt ân tình
      Nhỏ dại môi hồng bát ngát hương kinh
      Dưới chân Chúa lần tròn xâu chuỗi thánh
      Yêu vĩnh cửu và thương không hạn định
      Tình hôm nay tình đến tự bao giờ
      Hỡi giai nhân Nazareth nghìn xưa
      Mẹ thánh khiết! xót đời xin dắt giữ
      Con úp mặt làm thơ bên máng cỏ
      Nước mắt rưng rưng tay bé yếu hèn
      Con khóc đêm nay – Chúa hiểu – Amen.


                                         THÙY SONG THANH


BÁCH KHOA |  SỐ 48