Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 27654 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #255 vào: 05/07/2018, 23:41:28 »
BÁCH KHOA |  SỐ 50  [1-2-1959 |  128 trang]  giá: 15$

⎎  Số đặc biệt    Xuân Kỷ Hợi 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Dân số và kinh tế [II] |  3-11
Hoàng Minh Tuynh |  Khái luận về dân chủ: Dân chủ thật và dân chủ giả [III] |  12-17
Bách-Khoa |  Muốn cho sự giao du được lâu bền |  17
Nguyễn Hiến Lê |  Tết đi thăm một nhà cách mạng |  18-21
Thuần Phong |  Con heo theo quan niệm ta trong văn thơ |  22-26
Phùng Bá Khanh |  Trưng cầu tôn ý độc giả: Tế Giao Thừa giờ nào mới đúng? |  27-30
Bách-Khoa |  Thế nào là kẻ trộm? |  30
Xuân Việt |  Nhân dịp Tết Nguyên Đán nhớ đến hoa Đào và so sánh Nguyễn Du với thi sĩ Đông và Tây phương |  31-33
Đoàn Thêm |  Xem bói, xem số |  34-39
Bách-Khoa |  Cách giáo hóa của bậc Vương giả |  39
Đông Hồ |  Mảnh vá trên vai áo nàng thơ |  40-48
Bách-Khoa |  Những bậc tôi hiền |  48
Đinh Cường |  Thung lũng Mùa Xuân trường cửu |  49-55
Bách-Khoa |  Lời lão Tử khuyên Khổng Tử |  55
Nguyễn Phan Lan |  Năm tàn đất khách (thơ) |  56
Tôn Nữ Hoàng Trân |  Nhạc thanh bình (thơ) |  56
Diên Nghị |  Hoa thắm mùa Xuân (thơ) |  56
Mộng Tuyết |  Xuân chậm |  57-60
Đông Xuyên (dịch) |  Cửu giang Quan xá Trừ tịch (thơ) \ Âu Đại Nhâm |  61
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Việc nước |  62
Bình Nguyên Lộc |  Lệ ngày Xuân (tùy bút bằng thơ) |  63
Nguyễn Anh Linh |  Điểm sách: “Sứ mệnh văn nghệ” |  64-67
Bách-Khoa |  Cái dũng của bực quân tử |  67
Trần Văn Khê |  Ngày Xuân khai bút (nhạc) |  68-69
Huy Lực |  Ý Xuân (thơ) |  70
Võ Phiến |  Tâm hồn [II] (truyện) |  71-83
Xuân Hiến |  Câu đối xuân |  84
Xuân Hiến |  Mấy cảnh xuân (thơ) |  85
Kiều Yiêu (dịch) |  Một chuyện Liêu trai: Trương Hồng Tiệm \ Bồ Tùng Linh |  86-92
Nguiễn Hữu Ngư |  Nằm yên… (thơ) |  92
Thùy Song Thanh |  Với Xuân (thơ) |  93
Lưu Nghi |  Hăm lăm tháng chạp |  94-106
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn \ Giới thiệu sách mới |  107
Quảng cáo |  108-126


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #256 vào: 05/07/2018, 23:58:48 »


Con heo theo quan niệm ta trong văn thơ

CHÓ ĐÃ SỦA TRĂNG tháng chạp mà rút về dĩ vãng theo năm Mậu Tuất thì đã hiện về anh Hợi chễm chệ với bộ áo xuyến nọng heo.(1) Không biết chàng ta có cộm cộm cái giò heo sau lưng hay chăng mà cái bản mặt heo hầm cho một đống! Nhưng không sao, và không kêu eng-éc như con chim heo đem điềm bất thường, va chỉ có ì-ịt đòi ăn, mà không lừa kén:

                  Tuổi hợi; con heo ăn hèm,
                  Ham ăn hốt uống, chẳng cần miếng ngon.


         Con người còn “dĩ thực vi tiên”, huống hồ chàng va: chủ nghĩa bao tử hay là căn bản dồi trường trước đã! Chớ tại sao muốn heo nuôi nân, mà lại cám treo để heo nhịn đói? Muốn cho heo lăn mỡ, ú na ú nần, muốn bỏ ống nuôi heo, tất nhiên vì đầu heo phải ánh gộc chuối! Chớ va xấu chứng đói đã nổi tiếng: lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm. Sự thật, nói có Trư Bát Giái chứng minh, chứng đói của va vẫn còn thua lũ tằm ăn lên xa lên: Lợn đói một năm không bằng tằm đói một bữa. Phải nói cho miêng, chớ lợn lành mà bảo lợn toi thì e tủi hồn Trương Ba da hàng thịt.
         Trong thực tế, chàng va cũng tiếng tăm lẫy lừng như cồn, kém gì du côn Mỹ Tho, gái Cao Lãnh, và cũng không nhường gái thôn Đoài, trai thôn Thượng: thiên hạ đồn lợn Tó, gà Tò (Trò) kia mà!
         Thực tế hơn nữa, là va được người ta hoan nghinh nhiệt liệt mỗi năm, vào dịp Tết Nguyên đán trong khắp cùng thôn xóm; trong dịp ấy, va tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của nhân dân và cũng biểu hiệu tài kinh tế tự túc của họ; nói theo văn chương thời nguyên tử của chúng ta, va cụ thể hóa sự phát triển cộng đồng. Văn từ có lẽ to lớn, chớ sự thiệt, mỗi xóm người ta xúm nhau mần hàng heo, chia nhau một nhà ít kí để cùng nhau ăn Tết, khỏi phải lặn lội ra chợ gánh vàng đi đổ sông Ngô. Rồi mỗi khi mần hàng, người dân lành nhớ đem đầu heo nọng thịt biếu cho xã hương: của ít lòng nhiều, cũng như miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ.
         Với công dụng vật chất và tinh thần như thế, va đáng quí thật, cho nên thiếu chi người đã vì tham va mà phải gả bán con một cách ép uổng:

                  Mẹ em tham thúng xôi đền,
                  Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
                  Tôi đã bảo mẹ rằng đừng,
                  Mẹ hấm mẹ hứ, mẹ bưng mâm vào!


         Va quí thật, cho nên người ta đã đem va mà đổi lấy cô gái có duyên:

                  Còn duyên anh cưới ba heo,
                  Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi!


         Do đó, nổi lên một phong trào chăn nuôi to rộng, xâm chiếm các lớp tư sản, bần cùng: giàu nuôi lợn đực, khó cực nuôi lợn nái. Vì trong trường hợp nào, người ta cũng thủ lợi:

                  Lợn bột thì thịt ăn ngon,
                  Lợn nái thì đẻ lợn con cũng lời.


         Rủi ông chuồng bà chuồng không cho, nếu va bỏ ăn, người ta cũng không thiệt thòi nhiều, vì ít lắm người ta cũng còn vớt vát: nuôi heo rán lấy mỡ, cũng như nuôi con đỡ chơn tay.
         Vì lẽ va là nguồn lợi của gia đình, nên người ta đã ấn định một điều luật nữ công cho bạn gái:

                  Đàn bà thì phải nuôi heo
                  Thời vận đương nghèo, nuôi chẳng đặng trâu.


         Điều luật đó có điều khắc nghiệt, không thể kháng cáo, không có trạng sư biện hộ cho, một khi bạn gái đứng vào hạng V1, V2 và V vân vân:

                  Lấy chồng, lấy lẽ khó thay,
                  Đi cấy, đi cày, chị chẳng kể công;
                  Đến tối chị giữ lấy chồng,
                  Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài.
                  Đêm đêm gọi những: “Bớ Hai!
                  Chờ dậy nấu cám thái khoai, băm bèo!”


         Mà muốn nuôi va chi kết quả mỹ mãn:

                  Trông mặt mà bắt hình dong:
                  Con lợn có béo thì lòng mới ngon.


thì bạn gái phải lao động nhọc nhằn, nào lót ổ rơm, nào treo lá ủ, nào tấm cám, muống bèo:

                  Trắng da vì bởi má cưng,
                  Đen da vì bởi lội bưng vớt bèo.


         Va đã quí như vậy, thế mà nhiều lúc cũng ế hàng, có lẽ vì kinh tế khủng hoảng, vì thất bác mùa màng:

                  Ba bà đi bán lợn con,
                  Bán thì chẳng được, bon bon chạy về.
                  Ba bà đi bán lợn sề,
                  Bán thì chẳng được, chạy về bon bon!


         Heo với gái như bóng với hình. Nói theo văn chương kim thời thì heo với gái có giá trị tương quan, vì chính các bà đã luôn miệng dặn dò: nuôi heo kén nái, cưới gái chọn dòng. Nói theo văn chương toạc móng heo đó, đố khỏi các cô, các bà cất tiếng oanh lảnh lót mà hò tạt mặt cho mấy câu:

                  Anh kia ăn nói ồ ề
                  Như thể heo sề táp c… cầu tiêu!


         Mắng như vậy thật là tội nghiệp, chẳng khác nào con gà nỡ nhiếc con heo:

                  Heo ăn rồi ngủ ngáy sì sì,
                  Giả ngây dại, biết gì việc chủ.
                  Ngắm diện mạo, dị hình, dị thú,
                  Xem dung nhan khác thế lạ đời.
                  Như nuôi chơi, chẳng phải giống chơi,
                  Chạy rau cám như tiền nội án.
                  Nó đú mỡ, nhảy quanh, nhảy quẩn,(?)
                  Đói xép hông, cắn máng, cắn chuồng.
                  Mỗi một ngày ba bữa ròng ròng,
                  Đố chẳng thấy bữa nào sai chạy.
                  Báu bất gì mà người yêu vậy?
                  Mù quáng chi mà phải báo cô?
(2)

         Nhiếc oan ức, nên heo buộc lòng phải phản đối phân trần:

                  Chú gà chớ lung lăng múa mỏ,
                  Giữ! có ngày cắn cổ chẳng tha!
                  Ghét thương thì mặc lượng chủ nhà,
                  Chớ thóc mách kiếm lời phỉ báng.
                  Như các chú lao đao đã đáng,
                  Heo thong dong ăn nhảy mặc heo.
                  Nội hàng trong lục súc với nhau
                  Ai sánh đặng mình heo béo tốt?


         Heo trắng, heo quay thật là béo tốt nên dự vào lễ vật dưng cúng thánh thần. Một trứng gà hay một trứng vịt với một con cua hay một con tôm, cần phải có một miếng thịt heo mới thành lễ tam sên; cũng như cần phải có mặt cả con heo bên cạnh con trâu và con dê mới thành lễ tam sanh đầy đủ:

                  Vua ngự lễ Nam giao đại đột
                  Phải có heo mới gọi tam sanh.


         Con heo đóng một vai tuồng trong việc tế lễ như vậy, há chẳng đáng cho con gà kính nể sao? Vậy con gà hãy:

                  Đừng đừng quen lời nói lanh chanh,
                  Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ.


         Phương chi trong việc cưới xin, người ta còn phải cậy đến heo:

                  Kìa những việc hôn nhân giá thú,
                  Không heo ra, tính đặng việc chi?
                  Dẫu cho mỗi năm bảy chuyến đi,
                  Cũng không thấy một người thấp thoáng.


         Con heo trong cũi hay con heo cột bốn giò vẫn có công trạng ngang nhau: phạt tạ, hòa giải đều cần đến nó:

                  Việc hòa giải, heo đầu công trạng,
                  Thấy mặt heo, nguôi dạ oán thù.
                  Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu
                  Giận nhau đánh giập đầu chảy máu,
                  Làng xã tới lao đao, láu đáu,
                  Nào thấy ai gỡ rối cho xong?
                  Khiêng heo ra để lại giữa dòng
                  Mọi việc rối liền xong trơn trải.
                  Phải chăng, chẳng phải,
                  Nghĩ lại mà coi:
                  Việc quan hôn, tang, tế, vô hồi,
                  Thảy thảy cũng lấy heo làm trước.


         Heo vốn khù khờ, không hay khua môi múa mỏ, nhưng vì gà hiếp đáp nên phải biện phân:

                  Bởi gà nhỏ nói lời lấn lướt,
                  Nên phải phân ít chuyện mà nghe,
                  Dễ heo nào có dạ dám khoe?
                  Khắn khắn cũng lo làm việc phải.
                  Heo cũng biết đền ơn, báo ngãi,
                  Heo cũng hay tiêu họa, trừ tai,
                  Toái thân, phân cốt chi nài?
                  Nát thịt tan xương bao quản?
                  Lòng thờ chủ ngay đà tỏ rạng,
                  Thân mình nầy vi bằng như không.
                  Tại chú gà lời nói khùng khùng,
                  Mới sinh sự so đo trường đoản.


         Cuộc tranh công giữa gà heo được chủ nhân xử chìm xuồng:

                  Gà biết chữ “xả sinh thủ ngãi”,
                  Heo đặng câu “sát thân thành nhân”.


         Nhưng cuộc tranh công ấy được một vị cai tổng phân đoán có lẽ công minh hơn:

                  Rốt loài lục súc thiệt là heo,
                  Tế tự làm ra mới phẻo vèo.
                  Bộ mặt u-nu hầm một trách,
                  Vóc mình ú-líu máng ba treo.
                  Bà con chung chạ không kiêng nể,
                  Em chị xa gần cũng đánh đeo.
                  Họa có Chà và hay sợ gã,
                  Trọn đời xốc táp giãi chơn heo.
                                     ●
                  Linh tánh như ai dám bì,
                  So tài hữu dụng dễ thua chi?
                  Ghe phen trước án nghe đờn thổi,
                  Nhiều thuở sau lưng chịu lạy quì.
                  Cưới hỏi thiếu thì sao phải lễ,
                  Miểu đường không lại chẳng nhằm nghi.
                  Lỗi lầm gặp mắt đều êm mát,
                  Tới cửa quan tiên thấy cũng vì.
(3)

         Người chủ nhìn nhận con heo được sâu “sát thân thành nhân”, nghĩa là nhìn nhận đức hy sinh của nó. Đức hy sinh ấy cũng được đề cao.

                  Con heo nằm trước cửa lò
                  Biết mình mãn số, tới giờ bỏ thây
                  Cùng người thọc huyết kêu nài:
                 “Từ bi xin chú lần nầy tha tôi!”
                  Người rằng: “Ta cảm thương ngươi;
                  Nhưng mà phải hiểu sự đời cạnh tranh.
                  Phần ngươi hèn yếu chết đành,
                  Phần ta hại vật sát sanh là nghề.
                  Tử sanh kim cổ thường lề,
                  Chết vinh hơn sống cam bề nhục ô.
                  Đừng ăn xin kiếp sống nhơ,
                  Chết vinh thiên hạ hoan hô muôn đời”.
(4)

         Con gà và con heo đã gặp nhau trong Lục súc tranh công, gây ra một cuộc đấu khẩu vui vui, và còn gặp nhau trong một giai thoại giữa một chị quán và một thầy đồ.
         Thầy đồ ấy đi lỡ đường, ghé trọ nơi một quán bên đường mà chủ nhân là một gái góa còn trẻ tuổi và còn nhan sắc. Vì chủ quán trẻ đẹp mà thầy ta không thể ngủ yên sáng đêm cứ rọ ray. Đến chừng gà gáy sáng, thấy cô chủ quán đã thức dậy, thầy liền gầy chuyện và biểu cô ra câu đối cho thầy đối. Chủ quán giả dốt, nhưng rốc cuộc cũng tuân lời thầy mà ra câu đối, nhưng ra từng hai tiếng một. Chủ quán ra: “Đêm khuya”. Thầy đồ thấy dễ quá, liền đối ngay: “Ngày sáng”. Chủ quán tiếp: “Gà gáy”. Thầy đồ đối: “Heo kêu”. Chủ quán thêm: “Ó o”. Thầy đồ đối: “Ột ệt”. Chủ quán ra thêm: “Chị quán thức dậy”. Thầy đồ đối: “Thầy đồ nằm xuống”. Chị quán thêm: “Mà lo”. Thầy đồ: “Đặng sắm”. Chị quán chấm dứt: “Đồng tiền”. Thầy đồ: “Hột thóc”. Đối xong, chị quán đọc lại câu của mình:

                  Đêm khuya gà gáy ó o,
                  Chị quán thức dậy mà lo đồng tiền.


         Thầy đồ đọc lại câu của mình:

                  Ngày sáng heo kêu ột ệt,
                  Thầy đồ nằm xuống đặng sắm hột thóc.


rồi khăn gói ra đi, không dám ngó lại xem chị quán ôm bụng cười nghiêng cười ngửa.
         Đó là câu đối con heo theo nghĩa trong cặp luận nhứt của Lê Quang Chiểu, làm hạ giá của heo, thứ heo nọc đó, thứ heo ít có lắm. Người heo thì làm câu đối heo vậy. Còn đây là người tướng, nên làm câu đối hùng hổ:

                  Tướng hổ gặp binh hùng ăn quá cọp,
                  Quân đồn làm thịt lợn ních như heo.


         Câu đối nầy còn cho thấy một đặc sắc khác của heo, một đặc sắc về ngôn ngữ chứng tỏ tiếng ta không phải nghèo nàn, vì trong câu sau ta thấy con heo còn kêu là đồn, lợn.
         Vâng, con heo đã đỡ ngặt cho con người, lại còn làm giàu cho tiếng nói, vì người ta còn kêu nó bằng những tên chữ nghĩa nào hợi, nào trư; bằng những tên đồng bóng nào con cúi, nào con gỏi, nào con éc, và bằng những tên tưng tiu nào con lang, nào con quắn, nào con ột, nào con đen.
         Ngoài bao nhiêu đức tánh và bao nhiêu công trạng của nó, con heo còn có một giá trị tượng trưng cao cả bất ngờ. Phải chăng nó tượng trưng sự thống nhứt ngôn ngữ, vì Nam Bắc tuy kêu heo, lợn khác tiếng, nhưng ở đây người ta không kêu bánh da heo mà vẫn kêu bánh da lợn. Nếu ai nấy đồng ý, thì nên hoan nghinh con heo, con lợn và năm Hợi phong phú!


Thuần-Phong NGÔ VĂN PHÁT

_____________________________________
(1) Những thành ngữ, tục ngữ, ca dao văn thơ về con heo đều in bằng chữ xiên.
(2) Lục súc tranh công (trích).
(3) Lê Quang Chiểu, Quốc Âm Thi Hiệp Tuyển, nhà in Claude & Cie Saigon, 1904.
(4) Thuần Phong, Ngụ ngôn Việt Nam I, Dân Chủ xuất bản, Saigon 1952.


BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #257 vào: 07/07/2018, 11:25:01 »


Trưng cầu tôn ý độc giả: Tế Giao Thừa giờ nào mới đúng?
000
I.– Định nghĩa chữ Giao Thừa
         GIAO.– Nghĩa chữ Hán là thế hoán, điều hoán; nghĩa nôm là trao đổi, thay đổi.
         THỪA.– Nghĩa chữ Hán là tiếp liên, kế tục; nghĩa nôm là tiếp theo, tiếp nối.
         Vậy hai chữ Giao Thừa, nghĩa đen, là trao tiếp nhau.
         Riêng trong trường hợp mà danh từ Giao Thừa được dùng để chỉ quãng thời gian kế tiếp giữa năm cũ và năm mới, danh từ này còn có ý nghĩa tôn giáo và đượm màu sắc dị đoan, mê tín nhiều hơn.
         Trong cuốn “Coutumes et Légendes de la Fête du Têt au Viet-Nam” do tạp chí Horizons ấn hành bản đặc biệt, có đoạn viết rằng:
          “Le Têt commence véritablement avec le Giao-Thừa qui marque la transition d’une année à l’autre et se célèbre à partir de minuit…
          “Le Giao-Thừa se célèbre simu’tannément dans les familles mais aussi dans les pagodes. Chaque année, l’Empereur de Jade désigne dans chaque foyer un nouveau génie qui a mission de veiller sur la famille. Le Giao-Thừa a pour double objet de reercier le génie qui s’en va fire son rapport à l’autorité céleste et d’accueillir son successeur…”
         Như vậy, theo tác giả, Giao Thừa là lúc mà Táo quân năm cũ lập “biên bản” bàn giao công việc trần thế cho Táo quân kế tục, trước khi thăng thiên để báo cáo thế sự vối Thượng Đế Ngọc Hoàng.
         Cho nên, dân chúng tin tưởng dị đoan đã nhằm lúc Giao Thừa để hành hương tiễn đưa ông Táo cũ với hy vọng được ông báo cáo tốt lên Thiên Đình, và đồng thời cung nghinh ông Táo mới, để cầu khẩn ông phù hộ độ trì cho cả năm sắp tới. Bởi lẽ đó, người ta còn gọi Lễ Giao Thừa là Lễ Tống Cựu Nghinh Tân.

II.– Lễ Giao Thừa khác Tết Nguyên Đán chỗ nào?
         Giao Thừa, như trên đã nói, là khoảng thời gian nối tiếp giữa năm cũ và năm mới. Nguyên Đán là buổi sớm mai thứ nhất của một năm. Tự điển Trung Hoa định nghĩa rằng:
         NGUYÊN: khai thủy đệ nhất dã;
         ĐÁN: tảo thần dã.
         Cho nên, người ta mới phân biệt: Lễ Giao Thừa với Tết Nguyên Đán.
         Lễ Giao Thừa thường cử hành vào hồi nửa đêm Trừ Tịch.
         Tịch là lúc mặt trời lặn mà người Trung Hoa giải thích là: Nhật lạc đích thời hàu. Trừ tịch là cái đêm cuối cùng của năm cũ mà người Trung Hoa giảng rằng: Niên trung tối hậu nhất thiên đích dạ gian.
         Như vậy, người ta làm lễ tế Giao Thừa xong rồi lại đi ngủ để chờ sáng sớm hôm sau, mới trở dậy “ăn” Tết Nguyên Đán của đầu năm.
         Tết Nguyên Đán khởi thủy từ sáng sớm ngày mùng Một tháng Giêng âm lịch và tùy theo khả năng tài chánh của từng nhà mà kéo dài từ một, hai, ba ngày đến năm, bảy, chín, mười ngày… liên tiếp.
         Bởi vì Tết là ngày hay những ngày kỷ niệm, khánh chúc và yến tiệc vui mừng, muốn lâu bền bao nhiêu cũng được, chứ không ấn hạn trong một thời gian nhất định nào. Ta thường nói: Ngày Tết Đoan Ngọ, ngày Tết Trung Thu, những ngày Tết Cộng hòa hay Quốc khánh (vì có khi dân chúng ăn tết hai, ba ngày liền).

III.– Lễ Giao Thừa cử hành giờ nào mới đúng?
         Ngày nay, không riêng gì Việt Nam, ngay cả Trung Hoa, Cao Ly, và Nhật Bổn cũng vẫn còn làm lễ Giao Thừa và ăn Tết Nguyên Đán vào ngày mồng Một tháng giêng âm lịch mà người Trung Hoa kêu là Nông lịch để phân biệt với Tây lịch và họ đã tự nhận là Quốc lịch, kể từ năm thành lập Trung Hoa Dân quốc.
         Trong dịp này, tất cả mọi người Á Đông theo văn minh Trung Hoa đều bảo tồn cổ tục, không phân biệt Giống nòi và Tôn giáo.
         Đến giờ Giao Thừa, người ta cúng tế Tổ Tiên, ra Đình lễ Thần, hay ra Chùa lễ Phật để xin Lộc (oản chuối…), rồi hái Lộc (lá cây non)…
         Người theo Thiên Chúa giáo thì cũng thức giấc, đốt đèn sáng trưng, đốt pháo ăn mừng và truyện trò vui vẻ để mừng phút đầu tiên của năm mới. Nhiều người Công giáo còn cầu nguyện trong lúc Giao Thừa, để xin Bề trên ban phước cho Gia đình, làng xóm.
         Tuy nhiên, có một điều mà chúng tôi rất phân vân là:
         – Lễ Giao Thừa có lẽ đã bị cử hành không đúng lúc! Theo kinh nghiệm và nhận xét riêng trong gần bốn chục năm trời đằng đẳng, hàng năm, cứ đến 12 giờ đêm hôm trừ tịch (hoặc nhanh chậm độ 5 hay 10 phút, vì đồng hồ các nhà không được đúng nhau), các gia đình mới bắt đầu làm lễ tế Giao Thừa, các đình chùa mới rung vang chuông trống cúng bái Thần, Phật. Đồng thời, lúc ấy là lúc nổi lên xung thiên, tám hướng, Tiếng Pháo Giao Thừa, làm chấn động cả không gian, trong khoảng thời gian đầu tiên của năm mới.
         Theo ngu ý chúng tôi, thì tế Giao Thừa vào lúc 12 giờ đêm là thất sách.
         Tại sao vậy?
         Bởi vì như trên đã nói, Giao thừa là khoảng thời gian kế tiếp giữa năm cũ và năm mới, theo cách tính toán ngày tháng của người Trung Hoa, nghĩa là theo Hán lịch.
         Mà theo Hán lịch, thì mỗi ngày có 12 giờ, kể từ giờ Tý đến giờ Hợi. Nếu đem đối chiếu với Âu lịch, thì giờ Tý bắt đầu từ 11 giờ 1 tích tắc đến đúng 1 giờ, và giờ Hợi bắt đầu từ 9 giờ 1 tích tắc đến đúng 11 giờ.
         Tự điển Trung Hoa cắt nghĩa rằng:
         – Tý thời: xưng dạ gian, thập nhất điểm đáo nhất điểm;
         – Hợi thời: chỉ mân thượng cửu điểm đáo nhất điểm.
         Như vậy, theo Hán lịch, ngày mồng một tết phải bắt đầu vào đầu giờ Tý, nghĩa là nhằm lúc 11 giờ 1 tích tắc trong đêm hôm trước.
         Nói một cách khác, năm cũ đã hoàn toàn đi dứt vào lúc 11 giờ nghĩa là vào cuối giờ Hợi đêm hôm trừ tịch.
         Lẽ tất nhiên, ông Táo cũ, nếu có thực, sẽ phải bàn giao ngay ấn tín và hồ sơ cho ông Táo mới vào ngày đầu giờ Tý (tức lúc 11 giờ 1 tích tắc), chứ không lẽ nào lại cố ngồi lỳ thêm 60 phút nữa cho tới 12 giờ đêm (tức khoảng Giữa giờ Tý), mới chịu cưỡi cá lên Trời hay sao?
         Cho nên, vì lễ Giao Thừa là lễ Tống Cựu Nghinh Tân, nếu chúng ta muốn, đồng thời, vừa tiễn chân ông thần cũ, lại vừa nghênh tiếp ông thần mới, thì thiết tưởng chúng ta cần phải cử hành lễ Giao Thừa vào đầu giờ Tý, nghĩa là vào hồi 11 giờ 1 tích tắc đêm hôm trừ tịch mới đúng.
         Cũng nên phỏng đoán rằng có lẽ Tổ Tiên chúng ta, ngày xưa, đã tế Giao Thừa nhằm gan trúng vào hồi đầu giờ Tý (11 giờ 1 tích tắc) thì phải.
         Chẳng qua từ khi có cái đồng hồ nhập cảng của Tây phương, đồng bào ta mới dùng 12 giờ đêm, để làm lễ Giao Thừa cho dễ nhớ.
         Vậy muốn cử hành lễ Giao Thừa cho đúng với ý nghĩa dị đoan của nó chúng tôi đề nghị đồng bào hãy xét lại xem có nên tế Giao Thừa đúng vào hồi 11 giờ đêm hôm 30 Tết nghĩa là vào đầu giờ Tý ngày mồng Một tháng Giêng Hán lịch hay không?
         Mấy lời thô thiển, kính mong quý vị đồng bào và các bậc nhân sĩ Ngoại kiều Á Đông hãy vui lòng biên thơ về Tòa soạn để chỉ giáo chúng tôi. Chúng tôi xin chân thành trông đợi và cảm ơn tôn ý.


Cao Nguyên, mùa thu năm Mậu Tuất
PHÙNG BÁ KHANH

_______________________________________________
L. T. S.– Chúng tôi sẽ cho đăng tải trên mặt báo, tất cả những ý kiến xây dựng và hợp lý của bạn đọc bốn phương, ngõ hầu mở rộng đường dư luận và giải quyết giùm mỗi thắc mắc chung của một số đồng bào, mà tác giả bài này là một.


BÁCH KHOA |  SỐ 50

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #258 vào: 08/07/2018, 11:10:41 »

                   Năm tàn đất khách

            HÀ nhật công thành quy cố hương?
            Mẹ già mái tóc bạc phơ sương,
            Mây trùm ngõ trúc chim quên lối
            Cúc lạnh vườn sương bướm lẫn đường,
            Khói ngút hoàng hôn sầu lữ thứ,
            Năm tàn đất khách thẹn văn chương,
            Mười năm hành động duyên còn hết?
            Một tấm lòng son, mấy dặm trường…


                                NGUYỄN PHAN AN
                                (Trích Thi phẩm “Nghĩa sự hành”
                                1945-1955 sẽ xuất bản
)




BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #259 vào: 08/07/2018, 23:53:04 »


                     Nhạc thanh bình

            HƯƠNG trầm bay thoảng nhà bên xóm,
            Tiếng pháo reo dòn ngõ cuối thôn;
            Sực tỉnh giấc hoa, bừng cánh thắm
            Mai vàng phong nhị ngát khuê môn.

            Tôi ra cửa sổ nhìn lơ đãng
            Bỗng thấy trong lành xuân ý dâng…
            Lất phất mưa bay… Mồng một Tết!
            Vòm trời kiều diễm dáng thanh tân.

            Trang trọng vầng dương dậy ánh hồng
            Nghiêng nghiêng ngọn trúc bái xuân phong;
            Cành non ríu rít đàn chim bé
            Cánh thiệp êm êm lượn mấy vòng.

            Vào bàn tay thảo bài xuân cảnh
            Nguyên Đán trong lòng: Xuân ý thơ.
            Đặt giấy đỏ dần theo nét bút,
            Hiền hòa cung bậc mấy đường tơ.


                                       Đà Nẵng, Bính Thân
                                       TÔN NỮ HOÀNG TRÂN




BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #260 vào: 09/07/2018, 23:20:24 »


                 Hoa thắm mùa Xuân

            NẮNG mở bình minh, hanh ngõ lá,
            Hoa nào phô thắm nhởn nhơ bay.
            Hương lan dịu gợn hồn trinh nữ,
            Men đượm xuân nồng ngan ngát say.
                                    ¤
            Sắc áo nàng xuân thắm lạ thường
            Là xuân vạn thuở của tình thương.
            Sữa căng vú mẹ, hồng môi trẻ,
            Lòng rộn tin yêu, biếc dặm đường.
                                    ¤
            Dậy thì cô gái tóc lên xanh,
            Ước mộng hài hoa, truyện vững lành.
            Cảm gió xuân về xao xuyến quá,
            Buồn ai tựa cửa dáng băn khoăn.
                                    ¤
            Nghe vọng chuông xa đổ trở mùa…
            Đất lành trổ lộc, ngát hương đưa.
            Từ đây qua đó cầu luôn nhịp,
            Hẹn đến giêng hai kể cũng vừa.
                                    ¤
            Vườn ai trái chín mọng duyên xuân,
            Con bướm trinh nguyên lụa trắng ngần.
            Mừng khúc xuân ca, hồng hạnh nở,
            Hoa cười e thẹn nhớ tình quân.
                                    ¤
            Vọng tưởng mùa xuân nhịp thái hòa
            Xuân thời vinh hạnh của đôi ta
            Sông kia núi nọ, ghi tình sử
            Bốn biển giờ chung một mái nhà.


                                         Đất Tự Do – 1958
                                         DIÊN NGHỊ




BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #261 vào: 11/07/2018, 11:29:32 »


Lệ ngày Xuân
                            Tùy bút bằng thơ

Chiều xuống. Trong hang tối rét,
Ba người ôm nhau lấm lét nhìn trời,
Trái lửa kia đã rụng rồi,
Ngày mai trở lại cho đời ấm không?

Nhánh khô hai khúc cong cong,
Chủ hang lơ đãng cọ, hòng vui tay.
Bỗng đâu tia lửa xẹt ngay
Xuống chồng lá chết, khói bay lên liền.

Lặng nhìn ngọn lửa đầu tiên,
Cả hang kinh khủng: ma thiêng đây à?
Lửa càng cháy rộng lan ra,
Trong hang sáng, ấm, như là ban trưa.

Cả hang dạ thích lòng ưa
Cầm tay nhau nhảy, nhặt thưa tiếng cười.
Vách hang in bóng ba người
Điên cuồng múa rối: đời tươi thắm rồi.

Từ ngày bắt gặp lửa trời
Loài người trôi nổi, sống đời định cư.
Đêm đêm nhen nhúm lửa dư,
Đời đời kiếp kiếp, đến chừ còn nhen.

Lửa thiêng, ôi lửa thiêng liêng!
Vỗ về an ủi, ưu phiền tiêu tan,
Nỗi lo tiền sử trong hang
Giờ đây đã mất, nhờ nàng tiên đêm.

Nàng tiên bầu bạn êm đềm
Sưởi da cho ấm lại thêm sưởi lòng,
Dưới đèn, quanh bếp lửa hồng,
Cả nhà sum họp nghe dòng đời trôi.

Đang vui tôi bỗng lệ rơi,
Vị thần giữ lửa đâu rồi, hỡi ai?
Loài người bội bạc, lợt phai
Phụ ba ông Táo từ nay hết thờ.

Lệ tuôn, tôi khóc gái thơ,
“Vết Tan”(1) La Mã xa xưa đâu rồi,
Ôi bao trinh nữ cổ thời,
Xả thân giữ lửa cho đời bình an!

Lệ ngày Xuân, ôi hận không tan! 
       Sao cầm được, trước mái nhà hoang? 
Người nhúm lửa Tết,
Nhà ấy tro tàn!         
          Cái bếp lạnh, mái nhà không quyện khói,
             Là không có người nhem nhúm lửa thiêng!
             Dòng người đứt, dòng lửa cũng không liền.
           Lửa thiêng, lửa thiêng liêng!

Có ai tắt ngọn lửa lòng
Lại đây ta khóc đời không đãi người.
Tro tàn ta cố mà bươi,
Biết đâu lửa ngún núp cười đón ta?

                              BÌNH NGUYÊN LỘC

________________________________
(1) Les Vestales.


BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #262 vào: 11/07/2018, 23:36:06 »


Điểm sách: “Sứ mệnh văn nghệ”

Tên sách: Sứ mệnh văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Nam Châu   
Nhà xuất bản: Đại Học           
dày: 234 trang. Giá 50$
         

DƯỚI SỰ KHUYẾN KHÍCH và bảo trợ của nhà xuất bản Đại-Học Huế, nhiều loại sách đã được ra mắt bạn đọc.
         “Sứ mệnh văn nghệ” là một trong những tác phẩm đầu mùa. “Sứ mệnh văn nghệ” tìm cách vạch một con đường mới cho văn hóa nước nhà. Có hai phần: phần Một nói về khái luận tổng quát, và phần Hai, về ý lực chi phối văn nghệ thế giới.



         Trong những trang đầu, tác giả nêu lên các thuyết “nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh, nghệ thuật vị luân lý” (trang 13).
         Tác giả nhấn mạnh vào chủ đích của văn nghệ và xác định đúng ý hướng của nó: các văn hào cảm thấy một sứ mệnh đối với nhân loại, không thể không nói ra; không thốt ra tức là phản bội, như André Chénier, trước khi lên máy chém, đau đớn đập trán bảo: “Dù sao tôi có một cái gì ở đây!” Hay các nhạc sĩ cảm thấy “một cái gì kêu trong óc”. “Con người không thể chứa đựng, giam hãm mãi trong trí khôn được [những tình cảm tha thiết, xao xuyến], phải thổ lộ ra ngoài cùng cỏ cây mây nước… cho nguôi cõi lòng” (trang 16).
         Nhưng không phải bất cứ “những khát vọng u uẩn chứa chất trong lòng, những tư tưởng bị dồn ép trong tiềm thức” cũng để cho ra ánh sáng (trang 18). Không phải vì thành thực mà tôi lại có quyền bộc lộ những tình cảm hèn yếu, đê tiện của tôi. Chính vì kính trọng người khác mà tôi lại phải thận trọng khi cởi mở tâm hồn: “chủ đích truyền thống, gợi cảm đòi tôi chẳng những phải phát triển một cách quyến rũ, nhưng lại bắt tôi phải chú trọng tới giá trị của nội dung nữa” (trang 20).



         Trong việc tranh chấp gay go và nan giải để phân biệt văn minh và văn hóa, tác giả tỏ rõ lập trường, bằng cách căn cứ vào khả năng con người: “homo faber” và “homo sapiens”, con người lao tác và con người trí thức, con người hành động và con người suy tưởng, Marx và Khổng Tử. Tác giả mỉa mai viết: “Nếu không có gì ấn định cho lãnh vực văn hóa, thì biết lấy tiêu chuẩn nào để phân biệt, so sánh được trình độ văn hóa trong người trần trụi của bậc vĩ nhân Gandhi ngồi trên manh chiếu tả tơi kia, với trình độ văn hóa trong anh chàng triệu phú bụng bự, quần áo bảnh bao. Ngồi trong chiếc xe hơi tối tân Hoa Kỳ nọ. Có phải cái anh chàng lực sĩ đẹp trai kia sẽ được coi là có văn hóa cao hơn nhà bác học gầy còm, cặm cụi trong phòng thí nghiệm kia không?…” (trang 27). Yếu tố quyết định cho trình độ văn hóa mỗi người là do cái vốn linh thiêng trong sinh hoạt nội tâm. Và văn hóa là yếu tố quyết định của văn minh: con người trí thức cộng lực với con người lao tác để cải hóa thế giới. Tuy nhiên, giữa văn hóa và văn minh có những mối tương quan chặt chẽ: văn minh bao trùm văn hóa: “Văn hóa chỉ có những yếu tố tinh thần; nhưng văn minh thì lại bao quát cả hai yếu tố tinh thần (văn hóa) và yếu tố vật chất (vũ trụ và sức lao tác)” (trang 36).
         Tác giả có lý khi công kích quan niệm thông thường chỉ ghép chữ văn minh cho những người hay xã hội đã lên tới một mực độ khá cao. Thực ra, có nhiều mực độ văn minh của xã hội loài người: tác giả đề nghị nên dùng những danh từ: văn minh cổ sơ, văn minh trung độ, văn minh cao độ.
         Tác giả bất đồng ý kiến với Auguste Comte về lịch trình tiến triển của loài người. Theo Auguste Comte, loài người đi từ giai đoạn sơ khởi, hay thần thoại (Comte gọi là théologique, nhưng theo tác giả thì phải nói là mythologique, trang 33, 34), qua giai đoạn triết luận (état philosophique), đến giai đoạn khoa học duy lý của Tây phương hiện kim. Ở trang 67, tác giả trình bày thuyết đó lại và kết luận: “Không có một giai đoạn thay thế giai đoạn triết học-thần học. Con người ngày nay vẫn còn đương dò dẫm trên con đường tìm kiếm: tìm kiếm để hiểu sự vật sinh hoạt làm sao, và nhất là tìm hiểu bởi đâu lại có vũ trụ, có con người. Nghĩa là khoa triết, thần học sẽ còn mãi mãi đi song song với nhau trên con đường văn hóa, vươn tới Chân, Thiện, Mỹ, hệt như ngày xưa đời các triết gia Hy Lạp và Trung Hoa cổ thời”.
         Nhưng nếu xét kỹ, tác giả sẽ cũng nhận thấy đời nay, giai đoạn thần thoại vẫn còn: con người siêu nhân cuồng bạo của Gide, con vật sản xuất của Marx, hay chủ nghĩa chủng tộc Đức quốc xã…, đều là những chuyện thần thoại, không tưởng. Và con người chúng ta, khi còn bé, cũng trải qua giai đoạn thần thoại (3 đến 7 tuổi).
         Đại để, phần Một, tác giả đã dày công xây dựng, nêu lên những tư tưởng hay và bổ ích, ngay cả đến nhận định của tác giả về cái đẹp trong văn nghệ. Nói đến cái đẹp là rất khó và dễ làm cho chúng ta mất đứng đắn. Tác giả đã tránh được cái đó và có một kiểu nói tao nhã, thanh lịch: “Nhan sắc không thể lẫn được với cái duyên được. Cái duyên thuộc về phẩm tính của tâm hồn, và được biểu lộ ra bên ngoài bằng những nét những điệu khác hẳn cái đẹp lộ liễu của thể xác. Vẻ duyên dáng thực được biểu lộ trong đôi mắt dịu dàng nét mặt thùy mị, dáng điệu khoan thai, lời nói nhẹ nhàng, tính tình nết na…” (trang 53).



         Sau khi cho biết những nét đại cương về văn nghệ, tác giả cần tìm ở phần Hai một ý hướng cho văn nghệ, và phải đương đầu với tất cả những lý thuyết từ cổ chí kim, vì những lý thuyết đó đều chủ trương phụng sự nhân loại, phụng sự con người, nghĩa là đều có nhãn hiệu nhân bản cả. Tác giả trong hơn 150 trang đã trình bầy và bình luận từ Thích Ca qua Khổng Tử, Schopenhauer, Nietzsche, Sartre, Camus, cho đến V. Ghéorghiu với tác phẩm “Thế giới của giờ thứ 25”.
         – Chắc hẳn, nếu ra sau vụ Pasternak thì sách sẽ dày thêm được mười trang là ít: muốn bao quát quá, thì không thể đi sâu được; và vì không thể đi sâu được, thì tất nhiên sẽ có những sơ suất trong cách trình bày và những lời nông nổi trong cách phê bình: đó là những khuyết điểm không tài nào tránh nổi.
         – Giới thiệu với trí thức Việt Nam thuyết của Đức Phật hay Khổng Tử, tác giả nên chua chữ Phạn và chữ Nho, cũng như khi trình bày thuyết của Zénon, nên chua một ít tiếng chính của Hy Lạp v.v… Chua như thế không phải để thị uy, trái lại để giúp ích những nhà khảo cứu, sưu tầm sau này.
         – Về Phật giáo theo thiển ý chúng tôi, tác giả quá hăng hái và quá quả quyết: “Phật giáo là một triết học phi nhân bản… Tôi nói phi nhân bản, vì nếu diệt hết thân ý, tâm ngã và sinh hoạt ý thức, thì con người không phải là con người nữa…” (trang 96). Thực ra, vấn đề này là then chốt và là một tranh chấp lớn giữa các giáo phái. Cần có thái độ dè dặt hơn. Tác giả cũng thấy mình đi quá trớn: “Vậy phê bình theo quan niệm nhân sinh nhà Phật trên đây, chúng tôi chỉ có ý phê bình theo quan niệm thông thường của Phật giáo. Chúng tôi đợi sự trả lời của những nhà Phật học ngày nay về vấn đề đó. Chúng tôi cũng thầm mong rằng các nhà Phật học chân chính sẽ phủ nhận một quan niệm vô ngã để trở về quan niệm Tiểu Thừa Nguyên Thủy, công nhận có nhân vị riêng biệt” (trang 97).
         – Nói đến nhân bản Thiên Chúa giáo tác giả xem ra kém hào hứng, chỉ dành có 2 trang, trong khi Phật giáo chiếm 8 trang, Nho giáo 11 trang. Tác giả khiêm nhường nhận: “Trong một giai đoạn sách ngắn, không thể nói hết về đạo Thiên Chúa: nhưng có thể tóm lược…” (trang 98).
         Bàn đến phái Khắc Kỷ (trang 101), hay thuyết Kant (trang 114), tác giả cũng như phần đông thường chú ý đến phần luận lý mà ít lưu tâm đến nền tảng triết học của nó. Có thể nói thuyết khắc kỷ là một trong những thuyết sâu xa nhất của Hy Lạp và về ảnh hưởng không kém gì thuyết của Platon.
         Lầm lỗi trên, tác giả đã tránh được khi trình bày Nho giáo.



         Đọc thiên XI liên hệ đến nhân bản duy vật vô thần, chúng tôi có cảm tưởng đó là một “cuộc đàm thoại giữa những người điếc”. Cách phê binh của tác giả khó bề thuyết phục nhân tâm, vì xem ra tác giả đã sẵn có mầm ác cảm. Tác giả hậm hực đả phá những quan niệm nhân bản của Fenerbach, Nietzsche, Marx, Sartre, Gide, Malraux, Camus, nhấn mạnh vào những tai hại, nguy hiểm của cái thuyết đó.
         – Vâng, ai cũng công nhận với tác giả “con người giết Thiên Chúa, con người siêu nhân cuồng bạo, con vật sản xuất, con người nôn mửa trước cuộc đời, đứa con phung phá, kẻ chinh phục mù quáng, con người công phẫn”, hay con người bạc mệnh của Nguyễn Du… đều là hạng người tác yêu tác quái hay sa đọa.
         – Nhưng chúng ta phải nói ngay hạng người đó đã đặt trước chúng ta những vấn nạn mà chúng ta không thể lẩn tránh được; là những chướng ngại vật, là những gai nhọn trong xã hội ngày nay. Gabriel Marcel, trong sách L’Homme problématique, đã cho ta biết cái cảnh khốn cùng, vô gia đình, vô tổ quốc, không lẽ sống của hàng triệu con người vì chính trị đã bị đuổi đi lang thang khắp thế. Sự hiện diện của những thứ con người đó không thể làm cho ta yên thân được. Nên, Roquentin (Sartre), Caligula Clamence (Camus), Tchen (Malraux), cũng như những nhân vật của Dostoievski (Stavroguine, Roskolnikov) là những “con người vấn nạn”, là những con người ngoại lệ (out-siders). Chúng ta sẽ cho họ là điên cuồng. Phải! Điên cuồng như kiểu Tolstoi (Ký ức của một anh điên)!
         Đi sâu vào nội tâm của các tác phẩm chúng tôi thiết tưởng không nên quả quyết quá hấp tấp.
         Phần cuối sách khi nói đến cái dã man, bỉ ổi của con người, tiếc rằng tác giả đã phô bầy, trích dẫn quá nhiều (2 trang dành cho những vụ hiếp dâm của lính Nga: trang 220-221) làm cho độc giả đôi khi ngượng nghịu mà quên rằng mình đương nghiên cứu những vấn đề đứng đắn và trọng đại.


NGUYỄN ANH LINH


BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #263 vào: 12/07/2018, 23:10:19 »


                  Ý Xuân
                               Gửi Kỳ, Vũ, Tổng, N. T.

            Ý xuân về run rẩy
            Nàng xuân đến thăm tôi…?
            Đời phong trần đưa đẩy
            Nụ cười héo trên môi…
                            ○
            Bao lần mơ xuân đến,
            Mộng đời khép dở dang…
            Con đò xuân không bến
            Giao thừa vẫn lang thang…
                            ○
            Ngày xanh đi nghiêng ngả
            Mấy xuân rồi… lao đao?
            Thua đời tan chí cả
            Tiêu sầu mượn ly tao…
                            ○
            Say rồi quên vũ trụ
            Sơn hà… đắng vị men
            Ôm nàng xuân yên ngủ
            Mặc truyện đời đỏ đen…
                            ○
            Hăm hai xuân rồi đấy,
            Còn nhiều mộng sông hồ.
            Lại lên đường… tin cậy,
            Mặc sóng đời nhấp nhô…


                                   Xuân Kỷ Hợi
                                   HUY LỰC




BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #264 vào: 14/07/2018, 23:27:09 »


                        Câu đối xuân

Dán phòng Ông Chủ nhiệm báo Bách-Khoa
             Nghị luận, Văn chương Trăm vẻ đẹp
             Kinh luân Chính trị lắm Khoa hay



Tặng Ông Hoàng Minh Tuynh
            Dân chủ vờ? Dân chủ thật?
            ― Dân chủ đeo gông: Dân chủ phượn!
            Tự Do đúng? Tự Do sai?
            ― Tự Do ép rệp: Tự Do suông!



Tặng Ngu-Í Nguiễn Hữu Ngư
            Nước chẳng quên nguồn, Giỗ Tết tiền nhân Ngu-Í nhắc
            Chim còn nhớ tổ, Khói Hương hậu thế Cụ Từ lo



Tặng Ông Vi Huyền Đắc
            Tiếc người xưa: trọn vẹn câu Tòng, Khói Lửa chẳng thương người bạc mệnh
            Đau truyện mới: thờ ơ chữ Đức, Kinh Thành thêm ngán bụi phồn hoa



Tặng Ông Nguyễn Thiệu Lâu
            Mấy nét đơn sơ, rạng rỡ nghìn thu trang Sử Việt
            Đôi lời mộc mạc, uy linh muôn thuở cảnh Trời Nam



Tặng Kiều Yiêu
            Dịch giả họ cùng Ma? Tỉnh giấc Liêu Trai còn chiếc cũn
            Kiều “Yiêu” thân với “Quỷ”? Tàn hồi Kinh dị sót cành hoa



Dán nhà… Thơ
            Nhà nát khách không ưa, bạc hiếm tiền khan nên “trốn” Tết
            Thơ mộng đời chẳng thích, rượu ôi trà nhạt phải “lờ” Xuân



Riêng tặng Tiểu Dân
            Tối Ba mươi, pháo nổ vang Trời, thi sĩ trùm chăn “Nghe” Tết đến
            Sáng Mùng một, người qua rộn phố, nhà thơ mở cửa “Ngắm” xuân về



                                                                      Bạch-Ngưu-Lang XUÂN HIẾN



BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #265 vào: 15/07/2018, 23:31:29 »


                   Mấy cảnh xuân

            NGƯỜI ta bán ngược buôn xuôi
            Mỗi độ Xuân về nghỉ xả hơi
            Sổ sách tính qua xem lỗ lãi
            Ông bà khoái trá liếc nhau cười.
                                    ¤
            Bạc lắm, tiền nhiều: đấy mới Xuân!…
            Cúc vàng mai thắm xếp đầy sân…
            Hột soàn, cà rá: Xuân Thơm Ngát
            Bà đẹp như tiên giáng cõi trần.
                                    ¤
           “Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà”(1)
            Thấy Xuân lắm bác giật mình la
            Củi không, mắm cạn: Xuân Ngơ Ngác
            Ký khổ, lương còn, dạ xót xa.
                                    ¤
            Hăm chín, ba mươi nước tới chân,
            Xoay tiền, “anh ký” chạy bong gân
            Lắm anh cáu tiết nhìn thiên hạ:
            Túi rỗng thành ra… ghét cái Xuân.
                                    ¤
            Lắm cập chàng nàng vẫn nhởn nhơ
            Mặc cho bố mẹ loạn đầu lo
            Mơ màng em bảo: “Xuân Đôi Lứa!…”
            Đến lúc tàn Xuân bụng… đã to.
                                    ¤
            Còn Xuân ký giả NGỌT hay CHUA?
            Nợ tết năm nay chạy có phờ?
            Quan bác mừng Xuân hay sợ Tết
            Thấy nàng Xuân đến vội… phe lờ?
                                    ¤
            Hỡi ôi, Tết Tết với Xuân Xuân
            Xuân nặng hầu bao hay túi trần
            Mỗi độ Xuân về lần cất bút
            Đôi lời cảm khái gửi xa gần:

            Muôn sắc muôn hương lại lắm trò
            Kẻ thì hí hửng, kẻ buồn so
            Say xuân trai tráng hung hăng lượn…
            Sợ pháo Ông già húng hắng ho…
            Xuân vút lầu cao: XUÂN trắng muốt
            Tết chìm ngõ hẹp: TẾT đen thô
            Gập Xuân nâng chén mừng Xuân đã
            Chưa đủ trăm xuân chớ vội lo…


                                  Bạch-Ngưu-Lang XUÂN HIẾN

_____________________________________
(1) Thơ Tú Xương


BÁCH KHOA |  SỐ 50

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #266 vào: 16/07/2018, 11:45:27 »


Nằm yên…

Nằm yên trên chõng tre hiền,
Thân thơ thới giãn, hồn nghiêng nghiêng đầy…

Mịn màng, Xanh-nhẹ-lá-cây,
Đong đưa dìu dịu càng say nắng hường…

Càng trông khí nhẹ càng vươn,
Vươn lời Đất mở, vươn hương Trời bình…

Lặng tờ, Xanh-đứng-vòm-thanh,
Tỏa Thương không bến, gội Lành không nguôi…

Xác, Hồn giờ mới lứa đôi:
Phiêu phiêu Gió chuyển về nơi không màu.

Ngày Mai nhè nhẹ bước vào.

                                Chân núi Thiên Ấn, Thu 1947
                                NGUIỄN HỮU NGƯ
                                (Có những bài thơ)



BÁCH KHOA |  SỐ 50
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #267 vào: 16/07/2018, 23:41:02 »


                          Với Xuân

         Tháng năm trôi bên lề đời huyên náo
         Lòng lãng quên như những giấc chiêm bao
         Xuân đến đây cuộc sống chửa lên mầu
         Ý rượu lòng hoa hững hờ gió sớm
         Ngõ tối âm thầm niềm vui mới chớm
         Biết đời buồn, Xuân muốn bỏ ra đi
         Ai đợi mong ai biết có ai về
         Mộng e ấp như hoa ngàn sắp nở
         Áo trắng bay pha mầu chiều nhung nhớ
         Nghe như thu còn nán lại trong hồn
         Nghe lòng trôi trên biển gió hoàng hôn
         Như Xuân đến từ trong hai ngõ mắt
         Như tất cả ngày xưa chưa héo nát
         Tôi đếm từng kỷ niệm kết thành hoa
         Ôi quê hương!
         Dòng sông xanh rũ tóc liễu la đà
         Lúa sữa rập rờn gió trời vô định
         Đặt bước vu vơ tóc cài sương lạnh
         Năng Xuân reo trên mầu áo phố phường
         Lòng rưng rưng nhớ lối cỏ mưa vương
         Người về hội đạp thanh còn in dấu
         Có tiếng ai ngân vang mùa hợp tấu
         Mai trắng rồi – tôi chưa trở về ư
         Cố nhân ơi sao vắng khúc tạ từ
         Mộng lỡ dỡ như mây ngoài song cửa
         Tôi dấu được ai mắt sầu lệ ứa
         Dấu làm sao – thiên hạ vẫn chung niềm
         Với mùa xuân tôi muốn giữ lặng im
         Để nghe ngóng tình yêu chầm chậm đến
         Đường tay nhỏ với đường tơ ước hẹn
         Nắn cung trầm tôi hát bản tình ca
         Bao nhiêu sầu nghiêng xuống giấc mơ hoa
         Và trời đất nằm nghe như nín thở.


                                        THÙY SONG THANH



BÁCH KHOA |  SỐ 50

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #268 vào: 17/07/2018, 23:12:52 »
BÁCH KHOA |  SỐ 51  [15-2-1959 |  104 trang]  giá: 10$

    Số Tân niên 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Dân số và kinh tế [III] |  3-7
Thế Quang |  Một ý kiến về “chữ Trung” |  8-14
Bách-Khoa |  Đạo thờ người quân tử |  14
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Mặc cảm tự ti |  15
Đông Hồ |  Cánh quạt đề thơ |  16-17
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo: Khổng giáo, quốc giáo của Trung Hoa [III] \ F. Houang |  18-21
Vương Hồng Sển |  Thú chơi sách [II] |  22-28
Mộng Tuyết |  Đêm bất dạ |  29-35
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim bên Anh” hay là “mang danh kịch sĩ một thời” |  36-41
Ưng Trình |  Góp ý kiến với ông Nguyễn Hiến Lê về vấn đề: Dịch kinh sách |  42-45
Nguyễn Hiến Lê |  Sau khi đọc bài “Dịch kinh sách” của cụ Ưng Trình |  46-47
Bách-Khoa |  Cách thờ phụng song thân của Tử Lộ |  47
Nguiễn Ngu Í |  Nguyễn Huệ (1752-1792) hay là giấc mộng lớn chưa thành [V] |  48-55
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [X] |  56-60
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [XI] |  61-64
Quỳnh Hương |  Bâng Khuâng (thơ) |  65
Bách-Khoa |  Biết cách dùng người |  66
Nguyễn (dịch) |  Cuộc phiêu lưu của chàng sinh viên Đức \ Washington Irving |  67-72
Đông Xuyên |  Trước hiên xuân sớm (thơ) |  73
Bách-Khoa |  Cách trị dân của người quân tử |  73
Tường Linh |  Mùa xuân cao nguyên (thơ) |  74
Vũ Hạnh |  Một cái tết trong rừng (truyện) |  75-84
Xuân Vĩnh |  Mẹ (thơ) |  82
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 49 và 51 |  84
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXXI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  85-88
Quảng cáo |  89-104


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #269 vào: 17/07/2018, 23:32:16 »


Một ý kiến về “chữ Trung”

Nhân bài “Chữ Trung” của ông Nguyễn Văn Trung
đăng trong “Sinh-Lực” số 3 ngày 13-11-58

         Bài khảo luận “chữ Trung” của ông Nguyễn Văn Trung, đăng ở số 3 Sinh Lực, ngày 13-11-58, đã gây nên nhiều thắc mắc. “Chữ trung làm cho tôi lệ thuộc người khác, mất cả tự lập, phải giữ một điều hứa mà chính mình không còn muốn và không thể giữ được nữa”, vì tình thế đổi khác, nên chúng ta không thể giữ được lời thề xưa. “Lời thề chẳng qua là một ảo vọng, một tin tưởng ngây ngô có thể vĩnh viễn hóa thời gian thay đổi”.
         Nên “ta không giữ mãi được một điều đã hứa, vì ta lệ thuộc vào thời gian, không làm chủ được thời gian, không thể nhận định đúng một cách tuyệt đối và chỉ một lần hướng đi của cuộc đời ta”.
         Một vài đoạn đó cho ta thấy cách lập luận của tác giả chẳng khác gì chủ trương của thuyết hiện tượng, và vô tình hay hữu ý tác giả có thể mở đường cho chủ nghĩa duy vật vô thần.
         Vẫn hay, những hiện tượng của chữ Trung, những áp dụng của chữ Trung có thể đổi thay, nhưng nguyên tắc làm căn bản cho chữ Trung không thể đổi thay. Xưa kia, vì phò vua, vì trung thành với một nhân vật, có người để hỏng cả cuộc đời, khi vua hay nhân vật thất thế. Nhưng dù sao, trước cảnh hy sinh đó chúng ta vẫn kính phục.
         Dĩ nhiên ngày nay, hành động của ta hơi khác, vì trên và ngoài nhân vật hay chế độ còn tổ quốc, chính nghĩa, ích chung, tôn giáo: quan niệm của ta sâu rộng, tinh vi hơn, nhưng không vì thế mà nguyên tắc căn bản của chữ Trung đổi thay. Dựa vào tình thế khác biệt và sự biến đổi không ngừng để phi bác nguyên lý bất biến, thì quả là một ngộ nhận, và sớm chầy sẽ đưa ta đến phóng túng, bại tục, vô tôn. Phải chăng đó là thực phẩm tinh thần, hay là “thực phẩm trần gian” theo kiểu Gide?
         Thực ra, ông Trung cũng cảm thấy thế nên ông viết: “Dĩ nhiên, xin đừng nhầm tiếng gọi bên trong đó của nhân vị với những sở thích dục vọng chốc lát, để có thể thả cửa “lòng người, dạ thú”, thay đổi như áo. Nay thế này, mai thế khác như chong chóng xoay theo chiều gió”.
         Lời thanh minh đó đâu đủ để bào chữa cả bài? Phải chăng ông đã bị những triết gia duy vật Âu châu ám ảnh? Câu “đời là đi tìm hơn là tìm thấy” làm cho ta nhớ đến nhà lập dị Emile Alain đã đầu độc thanh niên Pháp. Hơn nữa, ông chọn câu của Oscar Wilde làm chủ đề cho bài khảo luận “Không bao giờ ta trung thành với ta hơn khi ta thay đổi”. Oscar Wilde là nhà văn hào Ái Nhĩ Lan đã làm hoen ố tác phẩm của mình bằng cuộc sống vô luân, chính vì bất trung, đã bị xử án vì gian dâm và hai năm khổ sai…
         Chúng tôi xin nhường lời cho ông Thế Quang phê bình bài của ông Trung, đứng trên lập trường Phật giáo, một lập trường rất đáng tôn trọng.


―  L. T. S.

○ ○ ○


ĐỌC XONG BÀI “chữ trung” của ông Nguyễn Văn Trung, tôi có một cả giác là lạ mà sau khi lắng lặng, có thể phân tích ra như sau:
         – tôi cảm thấy nhẹ nhàng; những gì ràng buộc tôi chặt chẽ lúc trước, nay trở nên lỏng lẻo hơn.
         – tôi cảm thấy “tuột xuống”, cảm thấy người tôi bây giờ không bằng người tôi trước.
         Nguyên tôi có một người bạn, hiệu trưởng một tư thục nọ. Mà huê lợi là nguồn sống chánh của gia đình anh. Cách đây ba năm, tôi mới bước chân vào nghề giáo, anh bạn đã dành cho tôi nhiều giờ; về phần tôi, tôi đã hứa sẽ hợp tác với anh lâu dài và tận lực cùng anh xây dựng cái trường. Lúc bấy giờ, trường khá đông học sinh; số lương tôi lãnh hàng tháng cũng khá. Ba năm qua, anh và tôi là hai trụ cột của tư thục. Tuy nhiên, cũng trong thời gian ấy, do sự cạnh tranh càng ngày càng gay gắt giữa các tư thục, trường bạn tôi đi dần đến chỗ suy sụp: số học sinh giảm nhiều…
         Hiện nay, số lương tôi lãnh hàng tháng kém trước nhiều; mặt khác tôi đã có bộn kinh nghiệm giáo khoa và được những trường trả lương khá mời dạy.
         Đã bao lần tôi muốn bỏ trường nầy vì tôi thấy những lý do khiến cách đây ba năm, tôi hứa hẹn hợp tác lâu dài với anh bạn tôi, nay không còn nữa. Nhiều người bạn mà tôi đã trình bày tình cảnh và ý muốn của tôi, cũng cho rằng tôi đi dạy trường khác là phải. Tuy nhiên, mỗi lần định thực hiện ý muốn thì tôi lại do dự, rồi lại thôi vì tôi cảm thấy không nên xử tệ, không nên thất hứa với bạn. Rồi tôi tiếp tục dạy và tôi tiếp tục sống trong cảnh thiếu thốn, nhưng tôi lại cảm thấy một niềm vui tinh thần tự bảo rằng mình ở đời cũng khá đấy.
         Sau khi đọc bài ông Nguyễn Văn Trung, tôi thấy cái “tình bạn”, cái luân lý “giữa lời hứa lời thề” không thể ràng buộc tôi mãi khi mà những điều kiện đẻ ra nó đã thay đổi. Tôi cảm thấy nhẹ người.
         Nhưng còn cái cảm giác, “tuột” xuống, tôi tìm nguyên nhân của nó thì thấy không phải vì lời chê bai của người ngoài, như đã nói ở trên, mà là một cảm giác đến với tôi từ bên trong.
         Nghe lời ông Nguyễn Văn Trung, tôi tự nhủ: mình không thể để cho một lời hứa một lời thề nhất thời ràng buộc và phải nhìn vào bên trong, lắng nghe “tiếng gọi bên trong của đời mình”.
         Nhưng lắng tai, tôi chỉ nghe từ bên trong vọng ra, càng ngày càng lớn, tiếng “tệ thật”, “tệ thật”.
         Suy nghĩ kỹ, tôi thấy như sau: ông Trung đã giải thoát cho tôi khỏi những sự ràng buộc chỉ có tính chất tạm thời, nhưng lại không cho tôi một cái gì vĩnh viễn để bám vào.
         Trước kia tôi đã bám vào những cái không vĩnh viễn nhưng ít ra tôi cũng có một cái gì để tạm thời bám vào mà đứng; nay thì tôi mất chân đứng và cảm thấy “tuột” xuống.
         Theo ông Nguyễn Văn Trung thì: cái bên ngoài ta biến đổi không ngừng trong thời gian biến đổi, mà cái bên trong thì cũng là cái mà ta đang đi tìm.
         Theo thiển kiến của chúng tôi thì sau cái biến đổi có cái không biến đổi, sau cái tạm thời có cái vĩnh viễn, sau hiện tượng có nguyên lý, sau luân lý có đạo đức.
         Viết bài về chữ “trung”, ông Nguyễn Văn Trung chỉ thấy luân lý mà không thấy đạo đức. Trọn bài ấy, từ đầu đến cuối, ông chỉ nhắm đến chữ “đạo đức” có một lần, lúc đầu khi mới nhập đề, còn lúc đi vào trọng tâm của vấn đề ông chỉ nói “luân lý”, “cuộc đời luân lý”, “đời sống luân lý”.
         Vì không thấy “đạo đức” nên ông không thấy cái trường tồn, cái bất biến, cái tuyệt đối.
         Dưới đây chúng tôi xin trình bày về luân lý và đạo đức.
         Thông thường, nói luân lý, đạo đức, thì phải nói việc phải, việc quấy, việc lành, việc dữ và chánh yếu là phải nói đến lương tâm.
         Đã là người ai cũng biết lương tâm. Người ta biết lương tâm bằng trực giác. Lương tâm là tiếng nói của bên trong, giúp ta phân biệt phải với quấy, lành với dữ; khen ngợi khi ta làm phải, làm lành, la rầy, trách móc khi ta làm quấy, làm dữ. Thú vật thì không phân biệt được phải, quấy, lành, dữ, vì thú vật không có lương tâm. Lương tâm là đặc điểm làm cho người khác thú vật.
         Lương tâm thật là một ánh sáng kỳ diệu, một linh quang mà các nhà hiền triết gọi là “Phật tâm”, “tính thiện”, “chơn nhơn” v.v… Dưới đây, khi dùng danh từ “chơn nhơn” là chúng tôi muốn nói lương tâm.
         Trong sinh hoạt của lương tâm, ai cũng có thể có những nhận xét sau đây:
         – Việc phải thường là việc lành nhưng vẫn có trường hợp việc lành lại cho là quấy.
         Quan Công tha Tào Tháo tại Huê Dung đạo là một việc lành, nhưng dưới mắt một người căm thù Tào Tháo thì hành động ấy là quấy.
         – Việc dữ thường là quấy nhưng vẫn có trường hợp việc dữ được cho là phải.
         Bên thây Đổng Trác giữa chợ, moi rún y làm tim thắp đèn là một việc dữ, nhưng bầy tôi trung của nhà Hán thì cho hành động ấy là phải.
         Tuy nhiên:
         – Việc lành dù bị coi là quấy, do một người hay một nhóm người, nhưng vẫn được người đời nói chung và qua các thời đại cho là một hành động có đạo đức và được lương tâm khen ngợi.
         – Việc dữ, dù được coi là phải, do một người hay một nhóm người, nhưng vẫn bị người đời nói chung và qua các thời đại cho là một hành động bất nhơn, phi đạo đức và bị lương tâm trách cứ.
         Qua những nhận xét trên, chúng ta thấy rằng:
         – Phải, quấy là đứng trên lập trường từng người hay từng nhóm người mà nhận xét.
         – Đạo đức hay phi đạo đức là đứng trên tư cách con người nói chung mà nhận xét.
         Do đó:
         – Người này, người kia, nhóm người này, nhóm người kia có thể nhận xét về phải, quấy khác nhau. Ngay một người hay một nhóm người cũng có thể nhận xét phải quấy khác nhau từ thời gian nầy qua thời gian khác.
         – Trái lại về lành dữ, đã là người thì nhận xét phải nhứt trí trong không gian và thời gian.
         – Phải, quấy là thuộc về luân lý, dựa vào người, có tính chất tương đối, hay biến đổi.
         – Lành, dữ là thuộc về đạo đức, dựa vào tự nhiên, dựa vào Trời, có tính chất tuyệt đối, bất biến.
         – Nhận xét về luân lý là nhận xét của cái ta ích kỷ có sự tham gia của lương tâm.
         – Nhận xét về đạo đức là nhận xét đơn thuần của lương tâm.
         Do đó:
         – Nhận xét về luân lý và nhận xét về đạo đức có chỗ nhứt trí và có chỗ không nhứt trí.
         – Lương tâm ta, chơn nhơn ta, về bản chất, dính với Trời.
         Trên đây là những nhận xét đầu tiên về luân lý và đạo đức, đứng bên ngoài mà nhận xét vấn đề. Dưới đây, chúng tôi xin nhìn vào bên trong, phân tách nội dung để giải đáp hai câu hỏi:
         – Đạo đức là gì?
         – Luân lý là gì? liên hệ giữa đạo đức và luân lý là thế nào?

Đạo đức là gì?
         Nếu ta sống cô độc một mình thì khó mà nhận thức thế nào là đạo đức, thế nào là phi đạo đức. Vậy nói đạo đức và phi đạo đức tức phải nói có người, có ta, có đời sống tập thể, có xã hội.
         Sống trong xã hội, mỗi hành động của ta đều có ảnh hưởng đến những người xung quanh và mỗi hành động đều có một chiều hướng. Ta hướng hành động vào một chiều hướng. Ta hướng hành động vào một chiều nào tức là ta mặc nhiên xác định một cái “tỷ” giữa Ta và Người. Cái tỷ ấy có thể viết ra như sau: N/T.
         N = NGƯỜI, xin hiểu là một cá nhân hay một tập thể ngoài ta với những gì quan hệ đến sự tồn tại, sự phát triển của cá nhân, của tập thể ấy.
         T = TA, xin hiểu là cá nhân ta với những gì quan hệ đến sự tồn tại, sự phát triển của nó.
         Hiểu như vậy, chúng ta hãy nhận xét sự biến đổi của N, của T và của N/T.
         Ở đời, có kẻ biết coi người là trọng, biết coi mình là nhẹ, cũng có kẻ coi mình lớn quá mà coi người chẳng ra gì, do đó:
         N có thể biến từ 1 đến 0 cũng như T có thể biến từ 1 đến 0.
         Do sự biến đổi của N hay của T, tỷ N/T cũng biến đổi, trải qua nhiều trường hợp:
         ― Trường hợp (1) N = T; N/T = 1
         Ta đặt người ngang hàng với ta, hành động ta có lợi cho ta mà cũng có lợi cho người, hoặc lợi cho ta mà không hại cho người.
         Đây là hành động của một giáo sư tận tâm dạy dỗ học sinh nhưng đòi hỏi trả lương xứng đáng, hành động của một ông chủ xưởng tính toán, thế nào cho xưởng mình ngày một phát đạt đồng thời đảm bảo cho công nhân mình một đời sống dễ chịu; hành động của một người bán hàng bán với giá phải chăng, thu cho mình một số tiền lời hợp lý mà không làm thiệt hại khách hàng.
         Những hành động kể trên có tánh chất công bình, làm cho mọi người thỏa mãn, gây đoàn kết, thân mến lẫn nhau.
         ― Trường hợp (2) N < T; N/T < 1
         Ta xem người nhẹ hơn ta; coi ta trọng mà coi người như cỏ rác; bóc lột người để cho ta vinh thê, ấm tử.
         Từ một thương gia nói dối, lừa khách hàng để thanh toán một món đồ ứ đọng, đến một ông quan tham lam, bắt người lương thiện để khảo của; một tên bạo chúa, xây ngai vàng trên xương máu muôn dân v.v…
         Tỷ như một con số dưới đơn vị, nghĩa là những hành động loại nầy không có lợi cho ai cả; đối với người thì gây đổ vỡ, đau thương, tang tóc; còn đối với ta, hành động như thế, mặc dầu tạm thời ta có thể nên sự nghiệp, nhưng cuối cùng, cái hoạnh tài ấy nhất định tiêu tan.
         Người đời gọi những hành động như thế là tàn ác, phi đạo đức.
         Khi N từ < 1 xuống gần 0 thì tỷ N/T cũng từ < 1 tuột xuống gần 0, và khi N = 0 thì N/T = 0/T = 0.
         Con người tuột xuống gần con vật, không còn biết đồng bào, đồng chủng nhân quần, xã hội gì nữa; đó là hạng người uống máu không biết tanh, là quỷ, là yêu.
         ― Trường hợp (3) N > T; N/T > 1
         Ta xem người trọng hơn ta, quên ta mà lo cho người.
         Đây là hành động của một quân nhơn bỏ mình vì nước; của một nhà cách mạng, hy sinh gia đình, vào tù ra khám để tranh đấu cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, dân tộc; của một tín đồ, chịu cực khổ, gian lao, lăn mình vào giữa những kẻ đi đoan mê tín, để truyền bá chánh đạo.
         Người đời thường gọi đó là những hành động đạo đức.
         Trường hợp (1) và trường hợp (2) hằng ngày được cụ thể hóa trước mắt ta.
         Những hành động thuộc trường hợp (2) N < T thường được kể nhan nhản trên báo chí, làm cho chúng ta than dài, thở vắn, lo âu.
         Những hành động thuộc trường hợp (1) N = T may thay, cũng được thường thấy, được ta khen ngợi, mến phục, khiến ta tin tưởng nơi con người, nơi tương lai xã hội.
         Tuy nhiên, những hành động thuộc trường hợp (3) N > T thì hiếm, nhưng đó là đích nhắm của chúng ta; vì thế chúng ta cần phân tích để nhận xem, bất đẳng thức N > T, N/T > 1 tượng trưng cho những sự kiện cụ thể gì.
         Khi con người tiến tới nhận thức được tương quan giữa ta và người như biểu diễn trong bất đẳng thức N > T, N/T > 1, thì trong con người có những biến đổi mà sau khi phân tích chúng ta thấy những sự kiện sau đây:
         – Sở dĩ con người nhận thức N > T là vì, nhìn ra cái không phải ta, cái phi ngã, con người không thấy từng cá nhân lẻ tẻ, mà thấy một đại thể; cái đại thể ấy gồm bao nhiêu cá nhân khác, trong số đó có chính mình.
         Đem nhận xét này mà rọi lại những tỷ dụ đã nêu ở trên, chúng ta thấy:
         – Quân nhân bỏ mình vì nước là thấy mình hy sinh cho Quốc gia dân tộc, một đại thể gồm ức triệu con người, trong số đó có mình.
         – Nhà cách mạng hy sinh hạnh phúc gia đình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng có một nhận thức như vậy.
         – Tín đồ vượt gian lao, nguy hiểm để truyền bá chánh đạo cũng thấy mình phục vụ một cái gì lớn lao, cao cả, đem chân lý lại cho toàn thể chúng sinh, trong đó có mình.
         Tóm lại, con người nhận thức mình phụng sự một đại thể mà những người khác và chính mình là những bộ phận; và nhận thức ấy có một năng lực cực kỳ mạnh mẽ, động viên con người làm những việc phi thường.
         – Làm những việc anh dũng, phi thường ấy, con người cảm thấy một niềm vui sướng tinh thần khó tả, một niềm vui trong sạch, lâu dài, khác hẳn những lạc thú nhục dục ô trọc, thoáng qua; vui sướng vì thấy rõ hành động của mình đem lại hạnh phúc lại cho những người xung quanh, vì được lương tâm khen ngợi, người đời mến phục.
         – Con người tin tưởng chắc chắn rằng mình đã đi vào con đường đúng đắn, đưa tới lý tưởng cao cả của đời mình.
         – Về trí tuệ, vì con người, được động viên mạnh mẽ, đem hết khả năng, toàn tâm, toàn lực ra thi hành nhiệm vụ, nên học hỏi kinh nghiệm trong hành động rất nhiều; mặt khác vì không bị cái cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, che mờ nhận thức, nên trí tuệ con người phát triển mau chóng lạ thường.
         – Do sự phát triển mau chóng của trí tuệ mà dần dần, sau bao nhiêu công phu học tập, tu tâm, dưỡng tánh, trầm tư mặc tưởng, con người tiến tới nhận thức càng ngày càng rõ cái Đại thể mà mình và những người khác là bộ phận.
         – Đến một mức giác ngộ cao độ, con người nhận thức được cái chân lý kỳ diệu sau đây:
         – Cái bản ngã chân chính của mình không phải là cái ta ích kỷ đắm say nhục dục, mà là cái chơn nhơn khát khao lý tưởng.
         – Mỗi người quanh ta là một chơn nhơn.
         – Ta và người không đối lập nhau; giữa ta và người, tuyệt đối không có mâu thuẫn. Ta và người là đồng nhứt thể, xuất phát từ một Đấng Đại Thể.
         – Đấng Đại Thể ấy là Thực Thể trường tồn của vũ trụ, Đấng Toàn Chân, Toàn thiện, Toàn năng, Nguyên lý tuyệt đối của vũ trụ.
         Đấng Đại Thể ấy, các vị thánh hiền Đông Tây đã thấy được và kính cẩn soi bằng những danh từ khác nhau.
         Logos (của phái Khắc Kỷ Zénon), Le Verbe (Thánh Gioan), Idée (Hégel) – Noumène (Kant) – Mind, Spirit (Emerson), Brahman (Giáo phái Védanta, Ấn Độ), Chân Như (Phật giáo). Danh từ phổ biến ở Á châu là Đạo, của Lão Tử. Dưới đây, mỗi khi đề cập đến Đấng Đại Thể, chúng tôi xin phép dùng danh từ Đạo.
         . . . . . .


THẾ QUANG


BÁCH KHOA |  SỐ 51

 
The following users thanked this post: tnghia