Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 12551 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #90 vào: 12/02/2018, 21:00:48 »


Tìm hiểu cổ thi: Vấn đề lập ý trong thơ Đường luật

ĐỌC THƠ CỔ, nếu là người chu chí, tất ai ai cũng nhiều khi phải băn khoăn về cái chuyện thi đề. Thật vậy, trong tất cả những tập cổ thi lục hiện đang được lưu hành, thì cứ chừng mười bài thơ, tôi đã thấy có đến ba, bốn cái thi đề không thích đáng. Đây, xin hãy nghe xem:

                       Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
                       Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
                       Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
                       Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
                       Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
                       Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,
                       Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
                       Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

                                                         (Yên Đổ)

         Bài đó như vậy mà các nhà thi học lại đặt tên là Thu điếu thì ta nên nghĩ phải hay không? Thu điếu có nghĩa là mùa thu câu cá, thì chữ thu đành rồi, song họ sẽ giải thích thế nào cho ta về chữ điếu, trong khi cái phần quan trọng nhất của bài, là bốn câu thực luận, không hề tả sự câu cá, mà chỉ tả cái quang cảnh ao thu?
         Đây, xin lại kể thêm bài nữa:

                       Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
                       Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
                       Gác mái ngư ông về viễn phố,
                       Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
                       Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
                       Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
                       Kẻ chốn chương đài người lữ thứ,
                       Lấy ai mà giãi nỗi hàn ôn.

                                                (Thanh Quan)

         Bài này thì Nguyễn Văn Ngọc đặt là Cảnh chiều hôm, còn Dương Quảng Hàm thì Trời hôm nhớ nhà. Vậy nó nên là Trời hôm nhớ nhà hay Cảnh chiều hôm? Mà không lẽ nó lại nên có cả hai cái thi đề ấy, trong khi… trong khi nó lại cần phải có một cái tên nào khác để nêu ra đủ hai cái ý quan trọng nhất là giữa đường xangày sắp hết?
         Nào, những ai đồng ý với tôi mà đặt tên hai bài trên, một gọi Trên ao thu và một gọi Đường chiều?
         Những bài thơ cổ của ta sở dĩ đã có cái tình trạng lôi thôi về thi đề như vậy, ấy là do ba lẽ:
         1.– Cổ nhân không thích đặt thi đề: rất nhiều bài thơ chỉ được tác giả có làm mà không có gọi.
         2.– Cổ nhân không coi trọng thi đề: tác giả có thể đẽo gọt một thi cước suốt ba năm, nhưng ít khi chịu tìm đặt một thi đề cho thích hợp. Và do đó, khi thì đặt rất hàm hồ như ngẫu cảm, ngẫu hứng, cảm hứng, cảm hoài, vô đề, hoài cổ… khi thì đặt rất dài dòng như Nghe sáo trên sông tiễn quan thị ngự họ Lục. Tại sông Khúc sau lúc say tặng các người thân
         3.– Cũng vì không coi trọng thi đề, nên nghe đọc thơ của người khác, cổ nhân tất là chẳng mấy khi cần hỏi rõ và cần nhớ kỹ tên bài để khẩu truyền cho hậu thế. Thế rồi vì không biết được hoặc không thấy có, các nhà thi học đời sau đã tự ý mỗi người đặt cho mỗi bài một cái tên gọi; và lẽ tự nhiên rằng, văn chương tự cổ vô bằng cứ, cũng một bài một câu một chữ, đã dễ ai mà hiểu đúng như ai.
         Các nhà thi học đời nay đã có nhiều khi đặt ra những thi đề thất đáng, mà nếu quả như vậy thì tuy bởi họ đã hơi sơ suất, nhưng tôi thấy thật cũng là bởi cái cách lập ý quá phóng phiếm của tiền nhân. Thì ta hãy phân tích một bài này:

                       Năm gian nhà cỏ thấp le te.
                       Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
                       Lưng giậu phất phơ mầu khói nhạt,
                       Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
                       Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
                       Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
                       Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy.
                       Độ dăm ba chén đã say nhè.

                                                  (Yên Đổ)

         Đọc bài thơ trên, một bài mà nhà thi học Dương Quảng Hàm gọi là Thu ẩm, tôi đã phân vân mãi mà thật vẫn chưa biết nên chính danh lại thế nào cho hợp lý. Đặt là Thu ẩm? nhưng tại sao lại “ẩm” trong khi suốt cả năm câu đầu chỉ tả cái cảnh một đêm thu ở chỗ sân nhà? Còn nếu đặt là đêm thu thì trong ba câu cuối, trong những ba câu cuối, làm gì có ý tả về đêm và “thu”? Xem đến đây, chắc cũng có người nghĩ: đặt là đêm thu thì thiếu uống rượu, đặt là uống rượu thì thiếu đêm thu, vậy há còn phải dài lời chi với cái thi đề thu ẩm, hay chu toàn hơn, thu dạ ẩm? Nghĩ như thế thì cũng đúng, nhưng đúng mà tôi thấy chỉ đúng ở cái sự “thu xếp cho gọn việc”, chứ thật chưa thể đúng ở phương diện lập ý: một bài thơ, nhất là một bài thơ Đường luật, có thể nào chia ra hai phần riêng rẽ, năm câu trên chuyên tả một ý này, mà ba câu dưới chuyên tả một ý kia đâu! Kìa, ta hãy cứ tạm nói ngay trong thể văn xuôi, với cái đầu bài “thu dạ ẩm”, thì một nhà văn nào hay một thí sinh nào dám năm phần bài tả toàn đêm thu và ba phần bài toàn uống rượu?
         Để chứng minh thêm rằng những danh sĩ đời xưa cũng có nhiều khi đã cẩu thả trong việc lập ý, tôi xin nêu ra đây một bài thơ của Thôi Hiệu. Bài này là một bài đề lầu Hoàng hạc, một bài mà thi giới kim cổ đã cho là quán tuyệt cổ kim về loại hoài cổ theo thể thất ngôn bát cú, một bài mà đến ông vua thơ Lý Bạch cũng phải khâm phục cầm bút viết: “Trước mặt có cảnh mà nói không được vì có thơ Thôi Hiệu ở trên đầu”.
         Xin chép lại:

                       Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
                       Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
                       Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
                       Bạch vân thiên tải không du du
                       Tình xuyên lịch lịch Hán-dương thụ
                       Phương thảo thê thê Anh-vũ châu
                       Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                       Yên ba giang thượng sử nhân sầu.


         Bản dịch của Tản Đà:

                       Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
                       Mà đây Hoàng hạc riêng lầu còn trơ
                       Hạc vàng đi mất từ xưa
                       Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
                       Hán-dương sông lạnh cây bầy
                       Bãi xa Anh-vũ xanh dầy cỏ non
                       Quê hương khuất bóng hoàng hôn
                       Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.


         Đọc bài thơ trên và cứ xét từng câu từng chữ, thì tôi dám chắc ai cũng phải chịu nó là kiệt tác. Nhưng ta sẽ nghĩ sao nếu xét toàn bài mà cân nhắc cái tình ý của tác giả ở trong hai câu kết đối với sáu câu đầu? Theo tôi thì bài thơ này đã hỏng về phương diện lập ý, hỏng vì trong khi còn cần phải tiếp diễn cái ý hoài cổ:

                       Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
                       Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
                       Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
                       Bạch vân thiên tải không du du
                       Tình xuyên lịch lịch Hán-dương thụ
                       Phương thảo thê thê Anh-vũ châu


… thì bỗng nhiên tác giả lại bỏ bẵng ngay đi mà quay ra đột ngột:

                       Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                       Yên ba giang thượng sử nhân sầu.


         Nói cho hết lẽ thì tôi cũng chịu nhận rằng lúc bấy giờ Thôi Hiệu lên lầu Hoàng hạc, trong lòng ông ta thật đã có phát cảm ra hai mối tình, một là tình hoài cổ và một là tình hoài thổ. Nhưng luận theo cái tâm lý chung của con người thì lẽ hẳn là hai mối tình này không thể nào ngẫu sinh đồng thời, mà tất phải vào hai đợt cảm nghĩ. Chẳng hạn, một lưu lạc khách khi ghé thăm núi Dục Thúy thì có thể vừa hoài cổ vừa hoài thổ, nhưng lẽ bao giờ mà khách lại tự nhiên song hoài ngay trong một lúc để than gọn một câu rằng: “Chao ôi, chốn này trải bao dâu bể mà vẫn còn lưu lại di tích của cụ Trương xưa; trông sương đầu non, ta nhớ quê hương mà buồn nát dạ!”?
         Bởi nghĩ như vậy, nên tôi trộm tưởng bài thơ này thật đã có một khoảng trống rất lớn về thi tứ ở giữa luận và kết; và lẽ tất nhiên là tôi phải lấy làm tiếc cho Thôi Hiệu, đã muốn góp chung hai mối tình đó trong một bài thơ duy nhất, mà lại đem biệt tả một cách quá rành rẽ ở hai phần. Kìa, ta xem như một bài hoài cổ của Thanh Quan:

                       Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
                       Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
                       Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
                       Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
                       Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
                       Nước còn cau mặt với tang thương.


…Bài này, ta sẽ phê bình ra sao về cách lập ý, nếu tác giả không đặt:

                       Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
                       Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


         Mà lại đặt:

                       Trời hôm cố quận nơi nao nhỉ,
                       Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


hoặc:

                       Quê nhà lữ thứ nay đành đã,
                       Ai kẻ hàn ôn chỗ chiếu giường.


HƯ CHU


BÁCH KHOA |  SỐ 18

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #91 vào: 13/02/2018, 21:55:59 »


Văn tự tượng hình

NGÀY NAY, hầu hết thế giới đều dùng (trừ một số quốc gia theo Hồi giáo có kiểu mẫu tự riêng), hệ thống an-pha-bê, do dân Phéniciens khởi sáng, làm phương tiện ghi chép tư tưởng của loài người. Tuy nhiên, cũng có nhiều chủng tộc, vì lạc hậu, hoặc vì tập quán lâu đời, vẫn phải duy trì phương pháp họa hình (système pictographique) trong văn tự, như từ thủa muôn vạn năm xưa.
         Lối văn tự tượng hình hay họa hình có khi còn rất thô sơ như kiểu viết của dân Indiens ở châu Mỹ và dân Esquimaux ở vùng Bắc Cực.
         Gần đây, người ta tìm thấy nhiều cuốn niên lịch bằng da trâu của dân da đỏ Dakotas thuộc vùng Alaska, Bắc Mỹ. Thổ dân này đã dùng vật nhọn mũi mà vạch, lên da trâu phơi nỏ, tỷ như một hình người có nhiều chấm nhỏ ở toàn thân, để ghi một nạn dịch đậu mùa hay ban đỏ; hay vạch một hình nhân có nhiều tia dài nơi cửa miệng, để “kỷ niệm” một trận dịch ho gà của trẻ nhỏ…
         Lối văn tự họa hình của dân Esquimaux cũng không khác mấy, nhưng họ không dùng da trâu, mà dùng gỗ hay xương cốt súc vật.
         Xét ra, lối văn tự tượng hình đã có ngay từ Thái cổ do các dân tộc Trung Hoa, Á Rập và Ai Cập v.v… phát minh.
         Bằng lối cổ tự (hiéroglyphes), người Ai Cập thủa xưa đã “viết” chữ đại khái như sau:
         Muốn viết chữ “SAO”, họ vẽ một điểm tròn có phụ thêm năm tia nhỏ từ điểm đó tỏa ra các phía. Muốn viết chữ “ĐÊM”, họ vẽ một vòng cong hình bán nguyệt úp sấp, rồi thêm một ngôi sao ở phía dưới. Muốn viết chữ “TÉ”, họ vẽ hình một bức tường nghiêng đổ. Muốn viết chữ “ĐỘI”, họ vẽ một đầu người có cái lọ để trên…
         Người Á Rập xưa cũng dùng phương pháp đó. Nhưng về sau, họ cải biến và đơn giản hóa dần dần, cho tới mức chỉ còn là những dấu hiệu (signes), không ăn nhịp gì với lối tượng hình nguyên thủy.
         Sau khi xét qua những kiểu viết của dân Esquimaux, Indiens ngày nay hay của dân Ai Cập, Á Rập ngày xưa, rồi so sánh với Hán Tự, ta thấy rằng lối chữ tượng hình của người Trung Hoa hoàn hảo hơn nhiều, nhưng rất rườm rà, cầu kỳ và khó nhớ.
         Thoạt kỳ thủy, người Trung Hoa cũng chỉ biết “viết” một cách thô sơ như kiểu Á Rập và Ai Cập nói trên, nghĩa là họ vẽ theo gần đúng hình hài của những vật mà họ muốn ghi chép.
         Tỷ như, họ đã viết chữ “NHÂN” giống với hình người; chữ “MỤC” giống con mắt; chữ “NHĨ” giống cái tai; chữ “KHẨU” giống cái miệng; chữ “HỎA” giống ngọn lửa cháy; chữ “XUYÊN” giống giòng sông chảy; chữ “SƠN” giống dãy núi ba chòm; chữ “MÔ giống con ngựa; chữ “NGƯ” giống con cá; chữ “ĐIỂU” giống con chim.
         Nhưng về sau, người Trung Hoa thấy rằng nếu cứ vẽ nguyên hình các đồ vật và súc vật, thì vừa mất thì giờ, vừa trông rắc rối không đẹp, nên họ đơn giản hóa và hoa mỹ hóa dần dần, khiến cho ngày nay, ta mới có những chữ Hán gọn gàng và đẹp mắt.
         Bằng chứng là hiện thời, mặc dầu đã có quốc ngữ, người Việt vẫn ưa dùng chữ Hán, nhứt là kiểu chữ Triện (Caractères calligraphiques), trong việc trang sức thân thể, cũng như việc trang hoàng phòng khách, bàn thờ, đình, chùa, nghè, miếu… khác nào, vào hồi thế kỷ 17 và 18 trở đi, người Âu châu đã ưa dùng kiểu chữ Gothique do người Đức đặt ra.
         Một đặc điểm của Hán Tự là ngoài lối viết tượng hình, lại còn lối viết hội ý (écriture idéographique).
         Tỷ như, để tả anh thợ săn bắn chết mười con sư tử, người ta liền vẽ một cái nỏ (arbalète) căng dây, hướng vào hình vẽ của mười con sư tử. Nhưng để đỡ tốn công, người đời sau chỉ vẽ mười cái đầu sư tử, có mũi tên dài xuyên thủng ngang qua. Rồi người đời sau nữa lại đơn giản hóa đến mức tối thiểu…
         Đó là cách dùng một phần làm tiêu biểu cho toàn thể hay dùng một vài vật hữu hình rồi xếp đặt lại để gợi ý tới những vật trừu tường, vô hình dung hay không cụ thể.
         Cho nên, người Trung Hoa đã viết hai chữ “MỘC 木” để chỉ cái rừng (Lâm 林), hay ba chữ “MỘC” thành chữ “SÂM 森” để tả cái cảnh cây cối um tùm rậm rạp.
         Đồng thời, Hán Tự, với hai cái dấu chân bước, nếu ở trên gạch ngang là chữ “THƯỢNG 上”, nếu ở dưới gạch ngang là chữ “HẠ 下”; một gạch ngang đặt ở trên chữ “THỔ 土” thành chữ “VƯƠNG 王” với ngụ ý rằng nhà Vua có quyền hành hơn hết mọi người trên trái đất; một gạch ngang đặt trên chữ “ĐẠI 大” thành chữ “THIÊN 天” với hàm ý rằng Trời là lớn nhất trong Vũ Trụ; một dấu chấm điểm trên đầu chữ “VƯƠNG” thành chữ “CHÚA 主”, nếu điểm bên cạnh chữ “VƯƠNG” thành chữ “NGỌC 玉”.
         Về chữ “VIẾT 曰” là nói, theo Hán Tự, thì chữ “TẢ” nghĩa là “VIẾT” (écrier), còn chữ “VIẾT” nghĩa là “NÓI” (dire); như trong câu “KHỔNG TỬ VIẾT”, người ta chỉ việc chấm thêm một điểm ngang vào giữa chữ “KHẨU 口”, để tỏ rằng khi mồm há ra và lưỡi lo le, tức là “NÓI” vậy. Ngoài ra, chữ “TÙ 囚” gồm có chữ “NHÂN 人” (người) trong một cái khung như bốn bức tường đóng kín; chữ “SẦU 愁” gồm có chữ “THU” ở trên chữ “TÂM”, (Thu tâm ai gợi lên sầu?!!) để tả nỗi buồn mỗi độ thu sang với hoa tàn lá úa…
         Nhưng không hiểu tại sao, người Trung Hoa thượng cổ lại khinh thường bạn nữ lưu quá xá?! Bằng chứng là người Trung Hoa đã qui tụ ba chữ “NỮ 女” là con gái, để làm thành một chữ “GIAN 姦” nghĩa là kém đoan trang và bất chính. Âu, một phần cũng là nhờ chữ Hán, mà ta biết thêm cái óc “Trọng nam khinh nữ” của dân tộc Á Đông thủa xưa vậy.
         Ngoài ra, cũng nhờ Hán Tự mà ta có thể tìm hiểu được phần nào về trạng thái xã hội thời Phong kiến phôi thai. Tỷ như chữ “QUẦN” là “BẦY” (troupeau), đem phân tách ra, ta thấy chữ “QUẦN 羣” hợp lại bởi chữ “QUÂN” là ông Vua, là người cầm đầu, và chữ “DƯƠNG” là con dê; như vậy, xã hội cổ Trung Hoa cũng đã sống bằng nghề chăn dê, nghề du mục. Hay cũng chính chữ “QUẦN”, nhưng nghĩa là cái quần (pantalon): chữ “QUẦN 裙” này gồm có “QUÂN 君” là vua, là người cầm đầu và chữ “Y 衣” (theo nghĩa cổ) nghĩa là vật che thân thể, có khi bằng lá cây hay da muông thú… Như vậy, có lẽ, về thời Thái cổ, trong mỗi bộ lạc, chỉ có một mình viên đầu xỏ là được mặc quần, còn bao nhiêu bộ hạ đều phải cởi truồng hay đóng khố. (?)
         Tóm lại, lối văn tự tượng hình và hội ý của người Trung Hoa thật là tinh vi, ý vị và phong phú, khiến cho không thể nào hiểu xiết được.
         Để dẫn chứng, chúng tôi xin giới thiệu bộ “KHANG HI TỰ ĐIỂN” là một, trong những bộ sách có giá trị nhứt của Văn học sử Trung Hoa. Bộ Tự vị này xuất bản cách đây gần 300 năm, dưới Trào vua Khang Hi (Kang-Hai) tức Thanh Thánh Tổ (1662-1722). Cuốn sách này được soạn thảo rất công phu, hàng mấy năm trời, với sự cộng tác của toàn thể văn quan trong Triều và các bậc sĩ phu trứ danh trong nước.
         Ấn hành trên giấy “tàu bạch” vừa tốt, vừa mỏng và bóng, bộ Khang Hi Tự Điển gồm có 12 đại tập ghi tên theo thập nhị CHI (từ Tý, Sửu… đến Tuất, Hợi); mỗi đại tập lại chia làm 3 tiểu tập, tỷ như Tý thì chia ra “TÝ TẬP THƯỢNG”, “TÝ TẬP TRUNG”, “TÝ TẬP HẠ”.
         Bộ Khang Hi Tự Điển này, mà tôi nhận thấy nó chứa tới 45.000 chữ Hán. Ấy là chưa kể những tiếng mới mượn của Âu-Mỹ và những tiếng vì nhu cầu mới được đặt ra trong khoảng gần trăm năm nay, như ta đã thấy trong lối văn “Bạch Thoại” (Pạc Và) hiện thời.
         Chữ HÁN đã nhiều lại khó viết, khó nhớ; vì không có mẫu tự, nên học chữ nào là chỉ biết một chữ ấy thôi. Hơn nữa, nếu sai một ly, sẽ đi một dặm. Tỷ như chữ “ĐIỀN 田”, nếu nét sổ ở giữa thò lên sẽ thành chữ “DO 由”, thụt xuống sẽ thành chữ “GIÁP 甲”, nếu vừa thụt, vừa thò, sẽ thành chữ “THÂN 申”…
         Chính vì thế mà năm 1955, Ông Wei Chueh, Chủ tịch Ban Cải cách Hán tự đã phải phàn nàn với ký giả Anh Cát Lợi Jamcs Cameron như sau:
         “Ở nước tôi, một em học sinh mười tuổi phải học tới 200 chữ; nếu muốn đọc nhựt báo, ít nhứt phải hiểu 7.000 chữ. Các nhà in nước tôi, tối thiểu, phải có 35.000 chữ đúc. Chúng tôi không có an-pha-bê, nên không thể dùng máy chữ được. Về điện tín, chúng tôi phải đếm nét chữ, rồi đổi ra con số (chiffres). Như vậy, việc giáo dục ở nước tôi ngăn trở rất nhiều, và văn hóa bị chậm tiến. Cho nên, chúng tôi nhất quyết phải cải cách Hán Tự, để theo kịp trào lưu tiến hóa của Tây phương”…


PHÙNG BÁ KHANH

____________________________________________
Tài liệu tham khảo:
Le premier alphabet de l’homme của Johannes Lowenstein;
Les hommes fouymis (les Chinois) travatllent của J. Cameron;
La définition du mot “Ecriture” của Paul Augé;
– Phần cổ văn trong bộ Khang Hi Tự Điển.


BÁCH KHOA |  SỐ 18

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #92 vào: 13/02/2018, 22:56:15 »


                  Đường lên Tây Bắc
                                                 Thân tặng các chiến hữu
                                                 Chiến Dịch Tây Bắc 1952-1953


            NHỚ về chiến dịch ngày nào,
            Đường lên Tây Bắc núi cao biếc trời.
            Sơn La dằng dặc núi điệp trùng;
            Nước bầu cơm ống súng đeo lưng,
            Thân Uyên gió cuốn mù bụi đá,
            Lửa sáng rừng đêm gợi nhớ nhung.
            Tsin-Ho đèo cao người ngựa mỏi,
           “Sạn đạo” xứ Thái mây vời cao.
                     Hun hút Đà Giang,
                     Đoàn quân biên cương,
            Phong thổ mấy mùa lưu động chiến,
            Vắt muỗi đầy rừng rét thấu xương.
            Pa-Ma hoang vu không suối nước,
            Nhựa chuối từng hơi thay nước uống.
                     Rau mương nha phiến,
                     Cơm ướt sương đêm.
            Phiên gác trăng rừng áo vá lưng,
            Súng địch bên sông hoa lửa đỏ,
            Reo hờn hốc núi đạn tua sao,
            Nằm gối súng mưa rừng run rẩy lạnh,
            Vượn hú buồn heo hút giữa rừng lau.
            Biên thùy Trung Hoa lửa sầu dâng cao,
            Viễn xứ đêm trăng lạnh áo bào.
            Thương nhớ đường về quê cũ,
            Từ quy khắc khoải hơi sương,
            Đèo cao mây đi tha hương…


                                          PHAN LẠC TUYÊN


BÁCH KHOA |  SỐ 18

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #93 vào: 14/02/2018, 21:26:37 »
BÁCH KHOA |  SỐ 19  [15 tháng Mười  1957 |  82 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh [III] |  1-4
Nguyễn Sung |  Tiểu công nghệ gia và các sắc thuế |  5-10
Hoàng Thái Linh |  Tự tử |  11-18
Bách-Khoa |  Quan hệ vua tôi hay quan hệ trên dưới |  18
Hư Chu |  Vấn đề nhất khí trong lối thơ Đường luật |  19-22
Bách-Khoa |  Lòng kẻ kiêu ngạo |  22
Nguiễn Hữu Ngư |  Lê Lợi: hình ảnh của dân tộc Việt |  23-36
Bách-Khoa |  Khẩu khí của một nhân tài |  36
Việt Tử (trích dịch) |  Người quét đường \ J. Rousselot |  37-38
Đông Xuyên |  Vũng nước (thơ) |  39
Thuần Phong |  Đất nước trong ca dao [III] |  40-48
Cô Liêu |  Nhân đọc “Nhập thiên thai” của Vũ Khắc Khoan |  49-53
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 16 |  53
Quảng cáo |  54-55
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 16, 17, 18 |  56-57
Bách-Khoa |  Bao giờ, dù sao, ta cũng chỉ là người |  57
Văn Quang |  Nguyện (truyện) |  58-63
Bách-Khoa |  Tác pháp tự tệ |  63
Quảng cáo |  64
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [II] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  65-77
Quảng cáo |  66, 68, 70, 72, 74, 76, 78-82


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #94 vào: 14/02/2018, 22:00:39 »


Tự  tử

Chỉ có một vấn đề triết lý thực sự quan trọng: việc tự tử.
Suy tính xem đời đáng sống hay không
là trả lời câu hỏi căn bản của triết học.
A. CAMUS (Le mythe de Sisyphe, trang 15)

Ý THỨC là ơn huệ đặc biệt của con người đồng thời cũng là mối lo âu lớn lao nhứt. “Người là con vật biết rằng mình sẽ phải chết” (Bergson).
         Đã đành tôi không thể hỏi tại sao tôi đã sinh ra ở đời này, vì sự sống là một sự kiện tồn tại trước khi có ý thức. Khi tôi ý thức được đời sống, nó đã có đấy rồi. Cho nên tôi không thể muốn hay không muốn sinh ra, vì việc tôi sinh ra đã xẩy ra ngoài ý muốn tôi. Nhưng tôi có thể chấp nhận hay từ chối đời sống đó. Vấn đề này không ai tránh được: mỗi người đều phải suy nghĩ xem cuộc đời mình có ý nghĩa gì không, vì số mệnh của mình trực tiếp liên hệ đến ý nghĩa mình muốn gán cho cuộc sống. Nếu đời không có lẽ sống, ta có được quyền tiêu diệt nó bằng một cử chỉ điên rồ hay sáng suốt không? Luân lý trả lời: “Người là một vật có thể tự sát nhưng không được phép làm”. Vậy tại sao tôi không được phép tự giết.
         Trước khi bàn luận về vấn đề có được phép tự tử hay không, ta xác định thế nào là tự tử. Tự tử là cử chỉ của một người tiêu hủy đời mình. Nhưng định nghĩa như thế còn mơ hồ. Người hoa tiêu khi thua trận hủy tàu mình điều khiển đồng thời chết theo nó để tàu khỏi lọt vào tay quân địch, người can đảm chết cháy khi liều xông vào nhà đương cháy để cứu người bị lửa bao vây trong nhà đó đều là những người tự giết cả, nhưng không thể gọi là tự tử, vì mục đích hành động không phải tự sát mà là để cứu vãn một giá trị luân lý, hay chu toàn một bổn phận. Vậy tự tử là coi việc tự sát làm cứu cánh cử chỉ tự sát. Trong hai trường hợp kia, ta gọi là Hy sinh.
         Luân lý kết án tự tử và ca tụng việc tự sát hy sinh. Nhưng tại sao người đi tự tử bất chấp dư luận kết án. Vì họ nghĩ rằng họ có quyền tiêu diệt đời sống, khi đời sống đó là của họ. Nếu tôi làm chủ đời tôi, tại sao không được hủy bỏ nó khi tôi thấy nó vô dụng, làm cho tôi đau khổ. Như vậy, vấn đề tự tử liên quan đến Tự Do. Sở dĩ tôi được quyền tự sát là vì tôi tự do, có thể quyết định và lựa chọn theo ý muốn. Cấm tôi xử dụng đời tôi, tức là phủ nhận tự do của tôi, nghĩa là đặt tôi ngang hàng với sự vật phải hoàn toàn tuân theo những định luật tất yếu của vũ trụ vật chất. Con vật không thể tự tử vì nó không có tự do.
         Xã hội sẽ cãi lại: anh không dược tự do tuyệt đối xử dụng đời anh, vì đời anh cũng là của chúng tôi. Xã hội kết án tự tử vì nó là một lối thoát nợ đời. Cá nhân từ khi sinh ra đã mắc nợ đời rất nhiều. Xã hội (cha mẹ, nhà trường, tổ quốc v.v…) nuôi nấng giáo dục, đào tạo, là để về sau người được hưởng thụ sẽ trả lại cho xã hội. Đó là luật vay trả, trả vay. Tự tử tức là xóa bỏ khế ước anh đã ký kết với xã hội lúc sinh ra.
         Nhưng lý lẽ đó không thuyết phục được người tự tử. Nếu ý nghĩa cuộc đời tôi chỉ thu hẹp vào một khế ước tại sao bắt tôi trung thành với nó khi một bên (xã hội) đã phản bội nó.
         Montesquieu nói giùm cho người tự tử: tại sao người ta muốn tôi làm việc cho một xã hội mà tôi không còn ưng thuận nữa, tại sao tôi bị bó buộc bằng một quy ước ký kết ngoài ý muốn tôi. Xã hội xây trên nguyên tắc lợi chung, nhưng nếu xã hội trở nên thiệt thòi cho tôi, ai có quyền cấm tôi bỏ xã hội đó (Lettres persannes).
         Sở dĩ tôi phải bỏ xã hội, không phải vì tôi không muốn cộng tác với xã hội. Tôi biết rằng tôi không thể sống ngoài xã hội. Tôi là con người xã hội. Nhưng chính xã hội đã ném tôi ra khỏi Đoàn thể, đẩy tôi vào tình trạng cô đơn tuyệt vọng. Mà không ai có thể sống cô đơn được, vì sống là sống thiết yếu ở đời và với người khác. Do đó, chính xã hội trách nhiệm sự thoát ly của tôi. Những tổ chức, chế độ, điều kiện sinh sống chà đạp, áp bức, cá nhân tôi chỉ còn là một phần tử, một bộ phận vô nghĩa lý trong guồng máy xã hội khổng lồ, vô ngã.
         Paunl Lansberg, triết gia Đức, đã nói: “Bao lâu xã hội còn đẻ ra những lầm than vật chất, tinh thần, cho xã hội quyền kết án những kẻ muốn thoát khỏi sự áp bức của xã hội bằng cái chết là một vụng về, thiếu sáng suốt” (Essai sur L’expérience de la mort).
         Như vậy xã hội không thể kết án tự tử chỉ nhân danh một khế ước, vì không có lý gì bắt người bất mãn với khế ước đó rút lui, khi khế ước đó trở nên thiệt hại. Cho nên, nếu xã hội muốn kết án tự tử, phải đứng trên lập trường luân lý cao hơn lập luận vị lợi của tinh thần khế ước, nghĩa là căn cứ vào một quan niệm siêu hình về con người như sẽ bàn sau đây.
         Lý do thứ hai thường được viện ra để kết án tự tử là sự xúc phạm đến nhân phẩm con người. Đời sống tốt đẹp, nhất là vì chỉ con người ý thức được vẻ tốt đẹp đó. Con người là một giá trị vô song, nếu mất rồi thì không thể lấy lại được. Nhận thức đó bao hàm lòng yêu chuộng kính trọng giá trị nói trên, đồng thời đòi hỏi nỗ lực phát huy cho nó phong phú thêm lên mãi. Tự tử là khinh rẻ giá trị nhân phẩm, hơn nữa còn là giết con người phổ biến, bản tính nhân loại trong mình như Chesrterton nói: “Cái gì là đối tượng của tự tử? Là cái tôi. Nhưng có phải tôi diệt cái tôi không? Không, chính là tiêu diệt nhân loại thế giới”.
         Nhưng vấn đề là xem người sắp tự tử có thể nghĩ như vậy không? Thực sự luận điệu trên chỉ là những lời nói đẹp của người đang sống thanh bình thỏa mãn về cuộc đời. Nói cách khác, người tự tử không có những điều kiện vật chất và tinh thần của người bằng lòng với cuộc sống để nhìn thấy vẻ cao cả của nhân phẩm, nhân vị.
         Thiết thực, trong tâm trạng sắp tự tử, nhân phẩm, nhân vị v.v… chỉ là những danh từ đẹp, trừu tượng và trống rỗng. Tôi không thấy nhân phẩm trong tôi, cũng không thấy đâu cả nhưng người ta vẫn nhân danh nó để cấm đoán tôi. Vậy chỉ có một lối thoát khỏi sự áp bức vô lý đó là tự ra khỏi thân phận làm người.
         Lý do thứ ba kết án tử tự: sự hèn nhát vì không dám đương đầu với những khó khăn của cuộc đời. Nhiệm vụ làm người là phải lướt thắng mọi khó khăn và chinh phục cả cái chết nữa, vì không còn gì quý hơn sự sống. Chết là một điều xấu. Nhưng sống khó khăn lắm, vì đòi hỏi nhiều cố gắng, gian khổ. Tự tử tức là sợ gian khổ, chọn một giải pháp dễ dãi. Đó là thái độ hèn nhát của kẻ chiến bại. Thua trận là điều nhục nhã. Nhưng không gì nhục hơn là đang khi giao chiến tuyên bố đầu hàng trước khi thua. Những người kinh doanh to lớn, những nhà chính trị lẫm liệt một thời phút chốc sa cơ lỡ thế, nhìn ngắm sự nghiệp của mình tan như mây khói, đôi khi còn lo âu trước viễn ảnh nhà tù, trại giam, cực hình chờ đợi. Họ không đủ can đảm xây lại cuộc đời hay chịu đựng những thử thách của ngày mai, thế là họ bỏ cuộc, quyên sinh… Nhưng lý luận đó chứa đầy tính chất trừu tượng của những kẻ đứng ngoài cuộc. Giả thử đặt mình vào hoàn cảnh người trong cuộc, có lẽ họ sẽ không dám lên giọng đạo đức kết án một cách quá dễ dàng như vậy. Đứng ngoài cuộc, bắt người khác anh hùng, ai chả làm được. Cho nên, dù tự tử, khách quan mà nói, có phải là hèn nhát đi nữa, kẻ biết tôn trọng sự đau khổ của một người ngay lành oan uổng hay của kẻ có tội cũng sẽ rất thận trọng trong việc phê bình, vì đặt ta ở vào địa vị họ, biết đâu ta lại chẳng như họ?
         Voltaire lên án những người mô phạm: “Đủ lắm rồi, những lý do người ta đưa ra để chứng minh rằng không được tự do thôi sống khi đau khổ quá độ, khi phải ra khỏi nhà vì không thể ở được nữa”.
         Sở dĩ ta không nên chê trách người đau khổ, là vì ta không bao giờ có kinh nghiệm của người sắp tự tử để có thể đo lường cường độ đau khổ và xác định thế nào là hèn nhát, can đảm. Kinh nghiệm của người sắp chết chỉ là độc nhất của đương sự mà thôi. Trái lại, đôi khi người tự tử lại trách người sống là hèn nhát, cố bám lấy cuộc đời không đáng sống vì sợ chết. Phải can đảm lắm mới làm chủ được sự chết vì trong những trường hợp khác, người ta đều bị thần chết đưa đi. Nếu cuộc đời không đáng sống, tại sao ham sống một cách nhục nhã. Vậy chết vinh chẳng hơn sống nhục sao?



         Như vậy, những lý luận đưa ra trên đều không thuyết phục hoàn toàn lý luận của người sắp tự tử vì chỉ đặt vấn đề trong viễn tượng hạn hẹp nhiệm vụ đối với xã hội, chưa đi vào nguồn gốc việc tự tử. Không nên đứng ở lập trường người ngoài để phán đoán người đương cuộc. Phải đứng ngay trên lập trường của đương sự, nghĩa là coi việc tử tự trước hết liên quan đến cuộc đời của họ. Vì dù sao người sắp tự tử thực sự cô độc trước số mệnh của mình.
         Vậy vấn đề là tìm hiểu ý nghĩa tự tử để chứng minh rằng tự tử thất bại, không giải quyết được những nguyện vọng của người tự tử.
         Lý luận xã hội học chỉ có giá trị khi vượt những bó buộc có tính cách khế ước, và đặt trên một quan niệm xác đáng về con người. Con người đây không phải là một phần tử xã hội, như nguyên tử trong một tổng hợp sinh lý hóa, nhưng là một đơn vị không thể giản lược, một nhân vị có khía cạnh đoàn thể, liên lạc với xã hội trong một tương quan cộng tác nhằm mục đích nhân vị hóa. Trong viễn tượng đó, không phải con người hy sinh cho đoàn thể, theo nghĩa hy sinh là mất cái gì riêng, nhưng là tìm thấy quyền lợi đích thực của mình trong việc bảo vệ, phát huy quyền lợi đoàn thể. Cho nên cứu cánh cuối cùng cuộc đời vẫn là quyền lợi của nhân vị, không phải xã hội trừu tượng. Vậy một lý luận kết án tự tử chính đáng là một lý luận căn cứ vào quyền lợi hỗ tương của nhân vị và cộng đồng, không phải vào quan niệm con người xã hội phản nhân vị kiểu Auguste Comte.
         Những nhận xét trên cho ta thấy chỉ có một phương pháp chính đáng là đối thoại với người sắp tự tử, đặt mình vào địa vị họ, thông cảm tâm trạng của họ để tìm hiểu đúng họ muốn gì, sau đó mới có thể lập luận rằng tự tử không phải là một giải pháp hiệu quả. Nhưng trước hết, có thể đối thoại với người tự tử được không? Trong nhiều trường hợp, người tự tử là vì bất ngờ gặp một tai nạn làm cho người đó đau khổ vô cùng (thất vọng vì tình, thi trượt, phá sản, bệnh tật v.v…) Họ mất tự chủ, không còn sáng suốt để suy nghĩ, đắn đo theo lẽ phải, và trong lúc đau khổ đến cực độ, không chịu được nữa họ buông theo tiếng gọi của tử thần… Đa số các nhà tâm lý học đều công nhận rằng người ta chỉ tự tử được khi điên cuồng nghĩa là mất trí, hoàn toàn nô lệ tình cảm.
         Nhưng cũng có những trường hợp đau khổ xâm chiếm dần dần, không đột nhập một cách phũ phàng, nạn nhân trải qua một thời gian tính toán cân nhắc lâu dài trước khi quyết định tự sát như trường hợp của những người chịu bệnh hai ba mươi năm chẳng hạn… Tự tử khi đó ta gọi là tự tử có ý thức, tự ý (mort volontaire). Nhưng sự thực có lẽ người tự tử dù cố ý, trong lúc thi hành quyết định vẫn phải có tâm trạng điên rồ; sự bình tĩnh tính toán là ở thời gian sửa soạn thôi. Vậy ta thử đối thoại với họ trong lúc họ còn bình tĩnh, đủ can đảm nhận thức lẽ phải.
         Trước hết, phải tìm hiểu tại sao người ta muốn tự tử. Vì đau khổ, thất vọng về đường tình ái, công danh không đạt được, đời sống vật chất lầm than, áp bức tinh thần; có trăm nghìn lý do khác nhau, nhưng tựu trung vẫn ở tại đau khổ không thể chịu được, tuyệt vọng rồi tự tử. Vậy ý nghĩa tự tử là từ chối đời này, nguồn gốc đau khổ, là phủ nhận đời này vẫn được coi như phương tiện tìm hạnh phúc. Nhưng thái độ của người tự tử biểu lộ rõ rệt ý chí muốn sống và nguyện vọng đạt được hạnh phúc. Vì nếu không ước muốn cũng không có chán nản, thất vọng. Thất vọng chỉ thị một ý muốn không được thỏa mãn. Nói cách khác, người chán đời chỉ chán đời vì quá yêu đời, nghĩa là không tránh được sự ham sống trong khi tự tử. Cho nên tự tử không phải là từ chối hạnh phúc nhưng chỉ là từ chối một thứ hạnh phúc để tìm một thứ hạnh phúc khác, vì con người không thể tránh được hướng về hạnh phúc, ngay cả kẻ sắp đi thắt cổ như Pascal đã nói. (Tout le monde veut être heureux, même ceux qui vont se pendre.) Người tự tử thất vọng với cuộc đời này như phương tiện tìm hạnh phúc, để tìm nó trong đời khác hay ít nhất trong cử chỉ tiêu diệt đời này.
         Vậy người tự tử phải công nhận rằng sở dĩ mình muốn chết là vì muốn sống. Như thế then chốt của vấn đề là: tôi không tránh được lòng ham sống, nhưng có thể thực hiện được ý chí muốn sống bằng cách tiêu diệt sự sống không? Hủy sự sống có thể thỏa mãn được lòng ham sống không? Có hai trường hợp. Nếu người tự tử không tin có gì sau khi chết, nghĩa là chỉ có sự sống ở đời này là phương tiện độc nhất để đạt hạnh phúc, ngoài ra là hư vô, tự tử không thỏa mãn được lòng ham sống, trái lại đã bỏ hết mọi dịp may còn có thể có được ở đời này để tìm hạnh phúc.
         Trong trường hợp thứ hai, nếu người tự tử tin có một đời sau, có lẽ sẽ có hạnh phúc, người tự tử có dám chắc tự tử là con đường chân chính đi vào đời sau đó không? Sự tin tưởng đời sau bao hàm lòng tin có Thượng Đế dựng nên ta, vậy tự tử là cướp quyền sống chết mà ta không phải là nguồn gốc, có chính đáng không?
         Như thế cả trong hai trường hợp, tự tử là một cử chỉ vô ích hay có hại. Hơn nữa, nếu đời là khổ ải, tự tử không giải quyết được những đau khổ đó, vì anh chết đi rồi, đau khổ vẫn còn, anh chỉ tiêu diệt được cá nhân anh thôi, không thể tiêu diệt được thân phận con người.
         Vậy nếu không giải quyết được vấn đề, phải tìm cho đời có một ý nghĩa đáng sống. Nhưng ta thấy đời đầy khổ cực, bất công, áp bức, hỗn loạn. Tất cả những sự kiện đó nói lên cái vô lý của cuộc đời, nhất là cái chết vô tội, nỗi đau khổ của trẻ con, hài nhi. Nếu có Thượng Đế, Tình Yêu làm chủ vũ trụ, tại sao có hỗn loạn bất công? Cho nên hoặc là bất công đau khổ bộc lộ sự bất lực của Thượng Đế, và vì thế không còn quyền bính gì ngăn cản được sống chết, hay chứng minh không có Thượng Đế. Trong cả hai trường hợp, con người được tự do xử dụng đời mình, định đoạt một thái độ cho mình trước cái vô lý cuộc đời.
         Đã đành đời là vô lý thật, nhưng không có một liên lạc luận lý giữa cái vô lý cuộc đời với quyền được tự tử. Đó là lập trường của A. Camus.
         Tại sao ta phải chấp nhận cuộc đời hoàn toàn vô thường (contingent) và vô lý, đồng thời từ chối mọi giải pháp tôn giáo? Vì ta chỉ biết được cuộc đời vô lý bằng ý thức. Ý thức đi liền với cái vô lý cuộc đời. Nếu ta tự hủy ý thức, đời không bao giờ còn vô lý nữa. Vật giới tồn tại mà không bao giờ đặt vấn đề ý nghĩa tồn tại. Vậy nếu ta tiêu diệt ý thức, là điều kiện nhận thức, không còn vấn đề nữa.
         Cho nên phải sống, chấp nhận cuộc đời vô lý vì “vấn đề là tìm xem cuộc đời có ý nghĩa gì không, trái lại ở đây cuộc đời càng đáng sống nếu không có ý nghĩa sống” (Le mythe de Sisyphe – trang 18 – A. Camus).
         Sartre cũng kết án tự tử. Theo Sartre con người là sự mâu thuẫn đau khổ giữa ý thức tồn tại và vô thức tồn tại (le pour-soi et l”en-soi). Con người ý thức, nhưng ý thức không bao giờ đạt tới được thực thể của mình là vô thức tồn tại. Phải luôn luôn hướng về nó mà không thể đạt được. Tình trạng bi đát đó xác định thân phận con người. Nhưng mặc dầu bi đát, con người không thể xóa bỏ tình trạng đó, vì tự tử tức là tiêu diệt ý thức tồn tại trở thành vô thức tồn tại, nghĩa là một sự vật.
         Heidegger cũng phản đối tự tử dù Triết học của ông định nghĩa người là con vật để đi cái chết (sein-zum Tode). Con người lo âu, xao xuyến khi ý thức được tình trạng bi đát đó. Nhưng không được phép chấm dứt nhanh chóng thời gian chờ đợi cái chết bằng một thoát ly dễ dãi.
         Đời sống đích thực là ý thức được chân lý đó và tự do chấp nhận. Vậy tự tử xóa bỏ khả năng đó, nghĩa là tiêu diệt luôn cả tự do. Vì thế ta không được tự do lựa chọn giữa sống và chết, nhưng tự do lựa chọn trong khuôn khổ sự sống mà thôi. Ta có thể lựa chọn cái này hay cái kia, nhưng không thể lựa chọn được sự không lựa chọn.
         Thái độ cấm tự tử mặc dầu công nhận đời vô lý và phủ nhận mọi giải pháp tôn giáo của những triết gia trên có vẻ anh hùng, nhưng thực sự biểu lộ một luyến tiếc bi đát: thèm muốn chân lý, một ý nghĩa đích thực cuộc đời. Nói rằng đời vô lý tức là gián tiếp công nhận phải có cái gì khác cái vô lý mới có cái vô lý. Cũng như thái độ tôn giáo, thần thánh chỉ hiểu được khi gián tiếp bao hàm có thần thánh. Cuộc đời vô lý bao hàm có cái lý cuộc đời. Vậy ta có thể đảo lộn câu nói của Camus; “Cuộc đời càng đáng sống khi tìm được lẽ sống”. Nhưng lẽ sống ở đâu?
         Theo Phật giáo, ở trong sự diệt dục, Phật dạy nguồn gốc đau khổ là ở Dục, lòng ham muốn. Muốn khỏi khổ, phải diệt dục nhưng như thế diệt dục vẫn bao hàm dục, ý muốn hạnh phúc, cho nên Phật dạy phải diệt ngay cả lòng ham muốn tránh đau khổ, được hạnh phúc để vào một nơi không muốn gì cả tức là Nát Bàn. Nát Bàn cũng không vui sướng cũng không khổ sầu, không phải tồn tại hay hư vô. Ta không thể xác định là cái gì khi chưa tự giác ngộ và chưa vào. Gọi theo một danh từ công giáo, Nát Bàn là một huyền nhiệm (mystère ineffable). Nhưng sau cùng phải diệt ngay cả ý muốn vào Nát Bàn, vì muốn vào vẫn còn là Dục. Nghĩa là phải thực hiện một thoát ly tuyệt đối (viraga) một chán nản (nirvena) ngay cả con đường đi tới Nát Bàn. Phật dạy rằng cái Dục vào Nát Bàn không phải là cái Dục tồn tại hay hư vô (soif d’existence ou soif d’inexistence). Con đường đến Nát Bàn là một tri thức (jnana): tất cả mọi ước muốn sống hay không muốn sống đều đau khổ. Đó là cái nhìn thật sâu xa của Đức Phật: Lẽ sống ở chỗ diệt dục, nghĩa là diệt cả ý muốn sống hay không muốn sống để giải thoát vào một thế giới không phải tồn tại, hay hư vô, chưa thể hiểu biết được trước khi giác ngộ. Như thế không thể chấp nhận tự tử, vì tự tử vẫn bao hàm ý muốn sống như đã phân tích trên. Cái chán đời của đạo Phật không phải cái chán đời của người sắp tự tử thất vọng vì dục không được thỏa mãn, nhưng là cái chán mọi thứ ước muốn sống, hay hư vô để thoát khỏi vòng luân hồi, đến cái thể thanh bình, viên mãn, trong sáng còn là một huyền nhiệm. Sự giải thoát thực hiện bằng tu trì, bát chính đạo. Vậy tự tử không thể đưa đến giải thoát lên Nát Bàn được, vì không có tu trì, tẩy rửa. Trái lại chết mà chưa tẩy rửa, còn ham sống, thì vẫn còn vướng vào cái nghiệp luân hồi, lại có thể bị đầu thai vào một kiếp sống khác khốn nạn hơn.
         Giải pháp thứ hai là tin rằng đời này tuy có đau khổ nhiều, nhưng cũng có Tình Yêu, Công Chính, Thanh Bình. Nếu chết là hết, tại sao không cố gắng thực hiện thêm sự công chính, Tình Yêu, thanh bình. Cho nên dù sao, đời này vẫn đáng sống vì có lúc buồn khổ thì cũng có lúc vui.
         Nhưng thái độ thực tế của phần đông người đời đó cũng bế tắc khi đặt vấn đề căn bản. Nếu những yêu đương công chính, thanh bình chỉ là những khoảnh khắc chốc lát trong cái biến đổi của thời gian, những giá trị đó có nghĩa lý gì trước cái chết, nghĩa là trước cái hư vô tuyệt đối. Cho nên lòng tin tưởng vào những giá trị nhất thời đó, chỉ là một ảo tượng, ảo huyền. Đức Phật đã nhìn thấy chỗ bế tắc đó, nên mới dạy phải ra khỏi cái biến đổi, thời gian, phải hủy diệt mọi ý chí muốn sống vì chỉ là ảo tưởng để đạt tới Nát Bàn.
         Nhưng đạo Phật chỉ là một giải pháp nhằm giải thoát cuộc đời đau khổ mà không cắt nghĩa tại sao có cuộc đời. Ở khởi điểm, Đạo Phật công nhận đời sống là một sự kiện, rồi thấy đời đau khổ và nguồn gốc đau khổ là dục. Nhưng Phật không nói tại sao tôi sinh ra. Đã đành có thể nói tôi đầu thai kiếp trước trong vòng luân hồi. Nhưng cứ đi lên mãi, thế nào cũng phải hỏi tại sao có những sự sống biến đổi trong luân hồi? Tại sao có tồn tại? Phật không trả lời câu đó vì cho rằng không cần cho sự giải thoát. Người ốm cần được cứu chữa không cần phải biết tại sao sống để mà mắc bệnh.
         Nhưng như thế là chưa đi đến tận nguồn gốc. Nhận thấy đời là bể khổ vì dục, nhưng trước khi đau khổ, dục, phải tồn tại đã. Vậy tại sao có sự tồn tại. Tự nhiên mà có hay do ai tạo nên? Không trả lời được vấn đề đó thì những giải pháp đề nghị ra dù sâu xa cũng mất hết giá trị vì không xây trên một nền tảng vững chắc nào. Vấn đề ý nghĩa sự sống không giải quyết được trong đạo Phật.
         Cho nên chỉ còn hai đường lối: một là cho rằng sự tồn tại là do hư vô, ngẫu nhiên mà có. Trong trường hợp đó, cuộc đời hoàn toàn vô thường vô lý; sống chết đều không có nghĩa lý gì và không có nguyên tắc, quyền lực nào cấm sống hay cấm chết.
         Đường lối thứ hai là công nhận sự tồn tại đã được dựng nên. Trong viễn tượng đó, cuộc đời có ý nghĩa như một sửa soạn đời sau đích thực. Chết là ra khỏi thời gian vào vĩnh viễn. Nhưng chỉ có thể vào vĩnh viễn bằng cách qua thời gian. Như thế, thời gian có ý nghĩa và giá trị vì xây trên vĩnh viễn, nghĩa là tất cả những hành động, vui sướng, sầu khổ ở đời này đều nằm trong chương trình cứu rỗi bằng cách chấp nhận chịu đựng để tẩy rửa, sửa soạn vào vĩnh viễn. Chỉ lòng tin có vĩnh viễn mới cho thời gian, nghĩa là đời này, một ý nghĩa. Lòng tin đó bao hàm lòng tin có một linh hồn bất tử. Vì chỉ có thể vào vĩnh viễn nếu con người, cũng là một vĩnh viễn, không phải là một vật thời gian (être temporel) như Phật dạy. Lòng tin linh hồn bất diệt cấm đoán tự tử. Vì con người có thể giết được xác, mà không giết được linh hồn. Cho nên tự tử không phải là con đường đưa vào vĩnh viễn, vì con đường duy nhất, chính đạo không phải là từ chối thời gian, sự sống, nhưng là chấp nhận, chu toàn nó trong Tin tưởng và Hy vọng.


HOÀNG THÁI LINH


BÁCH KHOA |  SỐ 19

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #95 vào: 15/02/2018, 18:59:59 »


Người quét đường

TÔI CÓ NGƯỜI BẠN thường nguyện kinh sáng bằng cách này: anh mở cửa sổ nhìn người quét đường.
         Quét đường thì có trăm cách quét đường, cũng như làm bộ trưởng thì có trăm cách làm bộ trưởng. Người quét đường mà bạn tôi ngắm mỗi buổi sáng là một người quét đường lành nghề. Không những vì khi ông quét xong, đường sá vỉa hè đều sạch sẽ, mà đến cả cách quét nữa. Phải xem cách người ấy quét mới được. Cái thoáng mắt kia, cái nhát chổi nọ: những “cú” thật là thần tình!
         Khi trời vừa sáng tỏ, người ấy đã có mặt đấy rồi, không sớm quá, không trễ quá… người ấy đến với ánh dương, cầm chổi trong tay. Và, thánh vụ bắt đầu liền.
         Không kể thời tiết. Mưa gió, giá rét, lá vàng mùa thu, mẩu giấy vụn, chó đánh đổ thùng rác, vật và người… người quét đường nhận tất cả trong thực trạng của chúng. Ông đến đó không phải là để than vãn, mà để phụng sự. Điều cần là con đường phải thật sạch. Và đó là sứ mạng của ông, trên thế gian; ông cho sứ mạng ấy là tốt đẹp. Tôi chẳng biết ông có ý tưởng gì khi cẩn thận nhặt từng chiếc vỏ trái hoặc từng mảnh chai. Có lẽ ông nghĩ tới bà cụ có thể trượt bước gẫy chân, nếu mai ấy ông không đến; hoặc nữa ông nghĩ đến em bé kia, té ngã và có thể bị thương tích!… Và bạn tôi bắt gặp ông ta lâu lâu lại tủm tỉm cười một mình.
         Một người bước ra sập mạnh cửa, rồi lấy một điếu thuốc, châm lửa và vứt bao không ra đường. Người quét đường sẽ cúi nhặt lấy chiếc bao, không than phiền, cũng không phán đoán.
         Người kia không cám ơn mà cũng chẳng bao giờ có ai cám ơn. Đã bao năm, như thế! Người ta cho đó là điều dĩ nhiên, khi có người lượm đồ mình vứt bỏ, và quét dọn khi mình đi qua. Người quét đường cũng vậy, ông ta cũng cho đó là điều dĩ nhiên.
         Và bạn tôi, trước ngày mới hứa hẹn bao khó nhọc, đã đến “múc” can đảm nơi người quét đường. Và anh còn dám quyết nếu Thiên Chúa có đi quét đường, chắc cũng chẳng làm hơn được người kia. Anh nói: người quét đường giống Thiên Chúa, Đấng đã sai Con mình xuống quét các nẻo đường thế gian, “quét sân lúa của Người” như thánh Gioan Tẩy-giả đã nói.
         Và bạn tôi còn tiếp: “Chính Thiên Chúa đã quét cửa nhà tôi mỗi buổi sáng. Với tất cả tấm lòng Người yêu dấu tôi”, – và Người đến để dạy bảo tôi: “Hãy làm việc, làm việc với lòng khiêm cung nhẫn nại, tha thiết ân cần. Chứ không vì tiền bạc. Người quét đường kia có được mấy đồng lương? Phải làm để phụng sự anh em”.
         Và bạn tôi thêm: “Ước gì các người trong phố tôi, mỗi buổi sáng, ra đứng dí mũi nơi cửa sổ để nhìn, để cho mắt và lòng ngập tràn cử chỉ đơn giản nhỏ nhoi của người quét đường. Người hàng thịt, người hàng bánh, để mỗi khi nhào bột trong chậu, thì nghĩ rằng mình đang phục vụ đồng loại, anh em, và phải nhào trộn vào đó tình yêu, chứ không phải chỉ lao lực, với ý nghĩ làm giàu mà thôi. Người nội trợ, người công nhân, cô đánh máy… Tất cả hãy dán đầu nơi cửa sổ mỗi buổi sáng, để rồi cố làm cho bổn phận thường nhật của mình, dù có đôi khi nặng nhọc thật, trở thành ra một động tác làm vì tình huynh đệ”.
         Tiếc thay lát nữa, khi họ đi ra, vì bận công việc, họ sẽ chẳng để ý ngay cả vỉa hè đã quét sạch cho họ bước trên…, hoặc Thiên Chúa, Đấng đã từng qua tay người công nhân khó nghèo, đặt một chút tình yêu dưới chân họ. Họ sẽ rẻ rúng cả người quét đường lẫn công tác của ông. Họ tưởng, cái tưởng của họ mới đáng tội nghiệp làm sao! Họ tưởng họ hơn cái người mà họ cho là hèn kém kia.
         Nhưng bạn tôi nghĩ khác: “Lát nữa, khi đi tới sở, tôi sẽ được chào nhiều hơn người quét đường kia được chào trong suốt cả một đời, vì tôi có địa vị, có địa vị cao hơn… Bất công: tôi là gì trước người quét đường kia?
         “Tôi nói thật với anh: Trên Trời, người quét đường kia sẽ đứng trên tôi.
         “Ông ta không biết rằng tôi thèm thuồng số phận ông, chỉ “trên ấy” thôi, ông mới biết tôi đã thèm số phận ông tới mức nào? Tôi muốn ra khỏi nhà, giật lấy chổi ở tay ông và quét thay ông!
         “Nhưng có lẽ ông sẽ chẳng hiểu, hoặc giả ông sẽ trả lời đơn sơ: xin chớ! mỗi người mỗi việc! Phải, mỗi người mỗi việc. Ông nói thật chí lý! Nhưng công việc ấy phải biến thành công việc làm với tinh thần phục vụ! Không phải là dân công, không phải là do khế ước, không phải vì “cơm gạo”; chỉ bởi muốn phục vụ mà thôi.
         “Không có nghề xấu, không có nghề hèn. Chỉ có nghề cao quí làm với một tâm hồn cao thượng như ông bạn quét đường của tôi”.


J. ROUSSELOT
Việt Tử trích dịch


BÁCH KHOA |  SỐ 19

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #96 vào: 15/02/2018, 21:18:05 »


                  Vũng nước

            MẤY hôm trời mưa to,
            Nước chẩy xuống chỗ trũng,
            Trong những khu nhà nghèo,
            Nước nhiều đọng thành vũng.

            VŨNG sâu và vũng nông,
            Vũng đục và vũng trong,
            Bao nhiêu vũng nước đọng,
            Bấy nhiêu khuôn gương lồng!

            CHIỀU ngồi bên cửa sổ,
            Vũng nước, tranh mờ tỏ:
            Kìa bóng đầu cây xanh,
            Kìa ánh mặt trời đỏ.

            VŨNG nước đẹp làm sao!
            Muôn trùng soi trời cao!
            Nhưng trời cao đáy nước,
            Có thấu cho dân nghèo?

            DÂN nghèo ở trong ngõ,
            Mùa mưa, cực và khổ,
            Ngày lội nước ăn chân,
            Đêm nằm chung muỗi bọ!!


                                        Bàn Cờ 1957
                                        ĐÔNG XUYÊN
                                        (Trích “Thuyền Thơ”)



BÁCH KHOA |  SỐ 19

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #97 vào: 19/02/2018, 18:46:18 »
BÁCH KHOA |  SỐ 20  [1 tháng Mười Một  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh [IV] |  1-5
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 19 |  5
Bách-Khoa |  Thuật trị dân theo Khổng Tử |  5
Cô Liêu |  Dân tộc tính văn nghệ |  6-9
Bách-Khoa |  Gió thổi qua thì cỏ rạp xuống |  9
Phạm Hoàn Mĩ |  Nhân ngày giỗ Phan Sào Nam thứ 17: Người đến hơi thở cuối cùng “còn nặng gánh gian san” |  10-21
Huỳnh Đức Quang |  Tìm hiểu kế hoạch Marschall |  22-29
Nguyễn Văn Ba |  Cụ Hải Thượng Lãn Ông |  30-35
Minh Anh |  Quy luật của một vài lối thơ |  36-45
Triệu Đường (dịch) | Nếu (thơ) \ Ruydard Kipling \ André Maurois chuyển Pháp ngữ |  46-47
Quảng cáo |  48
Nguiễn Ngu Í |  Nhơn xem tranh: Việt Nam năm ngàn năm văn hiến của Lê Văn Siêu |  49-52
Quảng cáo |  53
Tạ Ký |  Bài thơ dễ hiểu (thơ) |  54-55
Nguyễn Phúc |  Thoát (truyện) |  56-62
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Đường thi dịch giải: Tặng Vệ-Bát xử sỹ \ Đỗ Phủ |  63-64
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [III] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  65-75
Quảng cáo |  68, 70, 72, 74, 76-84


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #98 vào: 19/02/2018, 19:05:15 »


Dân tộc tính văn nghệ

TRONG MỘT BÀI DIỄN THUYẾT đọc tại thủ đô ngày 9-3-1955, giáo sư Nguyễn Đăng Thục quan niệm dân tộc tính là:
         “Hồn nước, cái ý thức truyền thống khi tiềm tàng, khi biểu lộ, từ cá nhân thông cảm với núi sông vũ trụ, một vòng bất đoạn bất phân nối quá khứ với hiện tại và tương lai”.
         Ý thức ấy được cấu tạo bởi một dân tộc đã cộng đồng chung đụng trong một thời gian tương đối lâu dài với những điều kiện thỏa mãn về lãnh thổ, giống nòi, kinh tế, chánh trị, ngôn ngữ và tâm lý chung.
         Văn nghệ là phản ảnh của đời sống một dân tộc, thì văn nghệ dù thoát thai bằng đường lối thơ, họa, nhạc, hay hình thức nào khác, cũng phải diễn tả những mầu sắc riêng biệt của phong tục, tính tình, cảnh vật của dân tộc ấy.
         Như vậy, tìm hiểu xem ý thức về sự sống cộng đồng chung đụng phát hiện ra thế nào trong phong tục, tập quán, ngôn ngữ v.v… của một dân tộc, là tìm những yếu tố để định nghĩa danh từ dân tộc tính trong văn nghệ.
         Chúng ta thử phân tách hai câu thơ rất phổ thông trong dân chúng lúc này:

                           Hỡi cô tát nước bên đàng
                           Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.


         Đề tài là một cảnh tát nước đêm trăng bằng gầu, một cảnh đặc biệt chỉ có thể có ở Việt Nam mà nhà văn, với khiếu rung cảm riêng biệt đã ghi lại bằng một phương pháp diễn ý trừu tượng: thi ca. Cách lấy nước vào ruộng ấy, thông dụng trên lãnh thổ Việt Nam, nên thành một lề lối riêng biệt của dân tộc Việt. Các dân tộc khác có những lề lối khác để lấy nước vào ruộng, chẳng hạn như dân tộc Cận Đông cho bò kéo một thứ guồng làm bằng gỗ. Thi sĩ Việt Nam ngắm vịnh cảnh tát nước, dĩ nhiên, không thể dắt bò và guồng vào thơ của mình. Vì thế khung cảnh ấy, lề lối làm việc đồng áng ấy, đã làm thể hiện dân tộc tính Việt Nam.
         Văn chương là tinh hoa của ngôn ngữ đã trung thành ghi lại nếp sống của dân tộc với tất cả ước vọng thống khổ lẫn hân hoan.
         Đó là phần nội dung của văn chương. Nhưng nếu ta xét văn chương về cạnh khía công cụ để ghi lại ý tưởng, thì chính cái công cụ ấy cũng nhuốm nặng hương vị dân tộc.
         Đây là trường hợp truyện Kiều, một tinh hoa văn nghệ của đất nước. Kiều lấy đề tài ở một câu chuyện xảy ra dưới triều Minh bên Tầu. Cái xã hội đề cập đến là xã hội Trung Quốc, nhân vật là nhân vật Trung Quốc. Nhưng thiên trường hận ấy chỉ có thể là phản ảnh trung thành của xã hội Việt Nam.
         Là vì văn chương truyện Kiều đã cô kết được những gì là tinh hoa của tiếng nói chúng ta. Tính tình, tâm trạng nhân vật trong truyện, cũng chỉ có phong độ Việt Nam. Trong cái vỏ người Tầu, các nhân vật đã rung cảm, vui, buồn, lo âu hay phẫn uất bằng những sợi tơ lòng của người Việt. Cốt truyện chỉ là những cái đinh đóng lên tường dùng làm móc để treo những bức tranh Việt Nam tuyệt mỹ. Dân tộc tính đã được biểu lộ qua tâm trạng nhân vật, qua lời văn.
         Long, ly, quy, phượng, bốn con vật thần bí đã dùng để trang trí nóc đình, nóc chùa, cho đến y phục, dụng cụ thường dùng, đồ thờ cúng của ta. Đó là những con vật biểu hiện quan niệm của dân tộc về tín ngưỡng: nghệ thuật muốn diễn tả một ý nghĩa tượng trưng thần bí, thường biểu hiện theo quan niệm ấy. Mỗi dân tộc có những quan niệm thần bí khác nhau, do đó quan niệm nghệ thuật cũng khác.
         Thử so sánh một cái ấm, cái chén, cái hộp trầu, con dao của ta với những thứ đồng loại của Cao Miên, của Thái Lan, của Nhật Bản, ý nghĩa tượng trưng về thần thoại, về lịch sử, nét vẽ, nét chạm, khắc, hình thù, khác nhau bao nhiêu, đến nỗi không thể ghép một cái tống của Nhật vào bộ khay chén “Xích Bích” của Tầu chẳng hạn, mà không thấy chướng mắt. Một kiến trúc sư Việt Nam không thể thay một cái cột, một cánh cửa ngôi chùa của ta bằng thứ mượn của Cao Miên mà không phạm đến nhịp điệu chung của toàn thể.
         Ở đây, quan niệm về thần bí là một hình thức biểu hiện ý thức về dân tộc tính. Mỗi dân tộc tùy phong thổ và đường lối sinh hoạt, quan niệm vấn đề một khác, do đó có bao nhiêu dân tộc là có từng ấy quan niệm thần bí, dắt đến từng ấy quan niệm mỹ thuật. Tuy nhiên, nhiều dân tộc vẫn mượn kỹ thuật và bắt chước mỹ thuật của nhau, nhưng họ đã biến đổi đi cho hợp với nhu cầu, với khiếu thẩm mỹ của mình, làm cho mỹ thuật biến ra một sắc thái khác. Chính việc làm biến đổi và dung hòa cho hợp với mình, là một hành động bộc lộ linh hồn dân tộc, ta không thể coi việc bắt chước ấy là cách cắt đứt với quá khứ.
         Âm nhạc của mỗi dân tộc nào phảng phất những âm điệu của dân tộc ấy. Những nhịp điệu đơn giản, chất phác, mộc mạc, phát nguồn tự người dân, do những cảm xúc trước trời đất và nhân tình thế sự, phải trải qua bao nhiêu cuộc đào thải biến hóa mới trở thành những tiết điệu được coi là căn cứ cho sự sáng tác nhạc. Sáu câu vọng cổ, một lời than vắn dài, não nùng và điêu luyện của sân khấu cổ nhạc, tuy mới được khai sinh vài chục năm nay, từ khi có bài vọng cổ hoài lang, nhịp 4, bắt đầu bằng câu:

                           Nhời thề xưa sơn hải
                           Nghĩa nặng ai nỡ phôi pha…


         Nhưng đã bắt nguồn từ những câu hát ru em, những điệu hò, hiện nay còn lưu truyền ở Nam Việt và miền Nam Trung Việt.
         Như thế, một sáng tác âm nhạc có mầu sắc dân tộc, là vì đã đúc kết những ý niệm về âm thanh, tiết điệu, phổ biến trong dân chúng, hoặc còn tiềm tàng trong dân chúng.
         Trong cái gia tài của ông cha ta để lại có phần gia tài tinh thần là to tát và can hệ hơn cả. Phong hóa, tập quán, tính tình, đều là di sản của tổ tiên khiến cho thế hệ của chúng ta chỉ là một giai đoạn của dòng sông dân tộc triền miên. Mỗi dân tộc có những lề thói riêng biệt để tưởng niệm tổ tiên, chôn cất người chết, dựng vợ gả chồng. Kỷ cương gia đình xã hội đã làm cho mỗi dân tộc có những phong thái khác nhau, những mối cảm nghĩ khác nhau trước cùng một cảnh ngộ.
         Thử đặt ba thanh niên Pháp, Việt, Lèo, trước cùng một hoàn cảnh: cùng là thanh niên ở nhà quê nghèo, đang lo lắng sính lễ đi cưới vợ.
         Thanh niên Việt sẽ gửi can trường vào hai câu thơ của Nguyễn Bính:

                           Ai làm cả gió đắt cau?
                           Ai làm sương muối cho trầu đổ non?


         Anh ta nghĩ đến nộp treo hoa tai, bánh trưng bánh dầy.
         Nhưng thanh niên Pháp sẽ nghĩ đến rượu nho, tiền nộp cho nhà thờ làm lễ cưới, đến chiếc “Alliance”, đến những cuộc khiêu vũ say sưa dưới ánh trăng.
         Thanh niên Lèo lại lo ông bố vợ tương lai sắm thêm ruộng đất, vì anh sẽ phải nai lưng ra làm hết, không có thì giờ hút thuốc và thổi khèn dưới cửa nhà người vợ tương lai. Anh ta lấy nhân công làm sính lễ.
         Vậy là cùng một hoàn cảnh đã tạo ra những mối lo nghĩ khác nhau.
         Ý thức về sự cộng đồng chung đụng đã bắt rễ sâu xa xuống lãnh vực phong tục, tập quán, tính tình, để tạo ra một đời sống tinh thần chi phối hết thẩy mọi người cùng có một linh hồn tổ quốc, cùng chung một đường lối sống.
         Chúng ta nhận thấy bất cứ trên phương diện nào, như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, tâm tình, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật, một dân tộc có những quan niệm tương đồng về chân, thiện, mỹ, khiến cho người ta chỉ có thể làm, cảm, nghĩ, trong khuôn khổ những cái mốc do sự sống cộng đồng đã đặt ra.
         Nhận định sự vật như trên, chúng ta có thể đề nghị một định nghĩa như sau:
         Dân tộc tính văn nghệ là những ý niệm về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lề thói, tính tình, ngôn ngữ. Những ý niệm ấy chỉ đạo và hướng dẫn sự sáng tác, làm cho văn nghệ của một dân tộc có những sắc thái riêng biệt, khác hẳn với văn nghệ của dân tộc khác.


CÔ LIÊU


BÁCH KHOA |  SỐ 20

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #99 vào: 20/02/2018, 18:59:31 »


                           Nếu
                                            Triệu Đường dịch

            NẾU con thấy cơ đồ sụp đổ
            Mà thản nhiên lao khổ đắp xây,
            Hay bạc tiền một phút trắng tay,
            Không than thở cau mày thê thảm;

            NẾU con yêu song không mê đắm,
            Mạnh dũng mà không kém dịu dàng,
            Không oán hờn dầu bị ghét oan,
            Song tranh đấu, sẵn sàng tự vệ;

            BỊ xuyên tạc, con mào sá kể,
            Không dại khờ mắc kế lưu manh,
            Dầu miệng sằng thêu dệt quẹo quanh
            Một lời con chẳng đành dối thế;

            BÌNH dân, nhưng vẫn tròn phong thể,
            Quyền cao mà như kẻ bạch đinh,
            Thương bạn như huynh đệ thâm tình
            Song chẳng nặng riêng mình ai hết,

            NẾU như con trầm ngâm, xét, biết,
            Nhưng hoài nghi, phá diệt, thì không;
            Mơ màng chẳng để mộng xiêu lòng,
            Suy tưởng song thoát vòng lý thuyết;

            Cứng cỏi nhưng không hề nóng tiết,
            Gan dạ thừa song quyết chẳng liều,
            Tử tế nhiều, khôn khéo bao nhiêu,
            Con cũng chẳng làm kiêu, lên mặt…

            DẦU thắng, bại, con không đổi sắc,
            Vẻ hiên ngang, trối mặc cơ cầu;
            Vững cang tràng, tỉnh trí mặc dầu
            Những kẻ khác điên đầu tán loạn;

            THÌ khi ấy Vương, Thần, May, Thắng
            Con khiến sai hẳn dễ như chơi,
            Hơn vinh quang, vua chúa trên đời,
            Vì con sẽ là Người, con ạ.


                                      RUYDARD KIPLING
                                      André Maurois chuyển Pháp ngữ



BÁCH KHOA |  SỐ 20

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #100 vào: 20/02/2018, 23:04:52 »


               Bài thơ dễ hiểu

         TÔI viết cho anh
         Bài thơ dễ hiểu
         Đây không mắt xanh
         Tóc không là tơ liễu
         Không cầm ca gõ nhịp bến Tầm Dương
         Không mộng xa với những chuyện mười phương
         Không bóng dáng hồ ly, không má thắm
         Không cuộc tình duyên nửa chừng thông cảm.
         Bài thơ tôi
         Nói chuyện yêu đời
         Vì bài thơ đẹp anh ơi
         Chỉ là nói được những lời của anh.
         Anh yêu đất hiền lành
         Yêu con trâu, cái cuốc
         Ban đêm ngắm đàn con lem luốc
         Ban ngày, đồng lúa xanh xanh
         Và lời thơ đẹp của anh:
        “Hôm qua tát nước đầu đình,
         Bỏ quên cái áo với cành hoa sen.”

         DẠO nào gió lên
         Đời anh chuyển hướng
         Bờ tre tan tành
         Máu loang bờ ruộng
         Nhà thân yêu lửa đốt ra tro
         Con anh bữa đói, bữa no
         Vợ anh sớm bến, chiều đò gian nan
         Anh thề chịu cực làm dân
         Còn hơn sung sướng làm quân quên thù
         Thơ tôi không viết
         Những vần âm u
         Tay anh rắn chắc
         Xây dựng một đời Tự do
         Mồ hôi hòa với giòng thơ đẹp
         Mong được ngày mai sống ấm no
         Bài thơ dễ hiểu
         Viết đầu mùa thu
         Gieo không lạc điệu
         Như những vần tâm tư
         Những vần thơ loạn anh ơi
         Làm sao ăn nhịp với lời thơ anh
         Nhạc điệu kinh thành
         Điên cuồng ủy mị
         Áo tôi đứt chỉ
         Vải nhạt màu xanh
         Một bài thơ rất hiền lành
         Đọc lên giữa lúc tan tành núi sông
         Ngày mai, tôi chỉ chờ mong
         Đất, thơ thành vợ thành chồng với nhau.


                                               TẠ KÝ


BÁCH KHOA |  SỐ 20