Tác giả Chủ đề: Tạp chí Đại Học  (Đã xem 5521 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #60 vào: 25/12/2016, 14:02:51 »
TÂM HỒN THANH NIÊN TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ YÊU ĐƯƠNG, LUÂN LÝ, TÔN GIÁO, XÃ HỘI

            Sống ở đời, con người sau bao kinh nghiệm, dần dần nhận thấy mình không sinh ra để sống cô đơn, độc lập, trái lại có liên đới mật thiết với vạn sự trong thiên nhiên, vũ trụ, với nhân quần xã hội, cũng như với những giá trị thiêng liêng. Nhịp sinh tồn của mỗi cá nhân giúp họ suy tưởng và tìm ra cho họ một vài định luật căn bản mà bậc tiền bối thật ra cũng đã nhận thấy từ lâu. Nhưng điều đáng ghi là mỗi người tuy rong ruổi trên con đường riêng, cuối cùng lại cũng gặp nhau trên đường cái quan: sự khám phá đó, vừa triển nở bản lĩnh duy tư, lại vừa cho mọi người thông hiệp với nhau trong những thu lượm cốt yếu.
            Do đó, những thực tại như Yêu đương, Luân lý, Tôn giáo, Xã hội… là những thực tại vĩnh tồn, con người ở mọi nơi, thuộc mọi thời đại đều chú ý, nghĩ ngợi, và phát biểu phán đoán bằng những thái độ, những phản ứng cụ thể: hoặc để công nhận, hoặc để chối từ, phản kháng.
            Nói thế phải chăng là ta đã ra đời quá chậm, và mọi vấn đề đều đã được bàn hết, còn đâu đến lượt góp phần vào cuộc hội thảo? Thưa không, vì mỗi thời đại, mỗi thế hệ, mỗi đợt người, thể nào cũng cần xác định lập trường, và dù muốn hay không, sự chọn lựa cũng ảnh hưởng vào nếp sống mỗi cá nhân, hoặc làm cho nó nên sáng tươi, đượm niềm hân hoan, hoặc trở nên đen tối, thấm nhiễm bi ai, chán chường… Thành ra vấn đề, tuy già nua như nhân loại, mà thật vẫn làm cho mỗi người háo hức, phấp phỏng, nó vẫn liên can đến từng người một…
            Vậy tâm hồn thanh niên phản ứng thế nào trước những thực tại, trước những đòi hỏi của đời? Ta có thể biết được một phần nào thái độ của thế hệ ngày nay trước tình yêu, luân lý, tôn giáo, xã hội chăng?
            Đây là một đề tài mênh mông, phức tạp, nếu muốn bàn kỹ có lẽ cần xét theo từng bình diện, mỗi bình diện lại có thể thành đối tượng truy tầm của một ngành chuyên biệt…
            Sở dĩ tôi chọn đề tài này trình bày cùng quý bạn, hẳn không phải vì tôi chuyên môn gì, nhưng có lẽ vì thấy nhiệm vụ trong giới sinh viên cho tôi được gần thanh niên, cùng với họ suy nghĩ bàn hỏi một vài vấn đề cần phải nêu lên, lại được dịp chứng kiến một thái độ nhận thấy trong phản ứng sinh tồn… Vậy tôi xin đưa góp ra đây đôi ba ý kiến, không phải để xét đoán, mà để tìm hiểu. Có cần phải nói rằng ở đây chúng tôi không có ý, cũng chẳng dám bàn đầy đủ hết mọi khía cạnh, chỉ phác ra vài nét mà chúng tôi nghĩ có lẽ đáng lưu ý.


I
TRƯỚC VẤN ĐỀ YÊU ĐƯƠNG

Khi ít khi nhiều, khi nào cũng có.– Đứng trước vấn đề yêu đương, người thanh niên mới lớn lên không phải là không hề có chút ý niệm nào, dù họ chưa cảm thấy tính tình đó. Họ chưa phải là “đương sự”, nhưng họ có thể là “nhân chứng”: vì tuy chưa bước vào cuộc, song cũng đã nghe nói tới, khi ít khi nhiều, khi nào cũng có… Thanh niên biết được phần nào bởi sự thể nhận thấy chung quanh mình: trong gia đình chẳng hạn, khi có cuộc hôn nhân của anh chị, của bà con họ hàng; hoặc những cảnh hàng ngày chứng kiến nơi phố phường: cái anh chàng đầu chải mướt ngày nào cũng thấy dựa xe gắn máy ở gốc cột đèn xế bên nhà hàng xóm, như kiên nhẫn mong chờ cái chi…
            Thanh niên còn được biết bởi những hình thức văn chương, mỹ thuật diễn tả thực tại tình yêu: vì đi học phải đọc Kiều, Shakespeare, Racine, với bao bài thơ trữ tình bốn phương! Biết bao dịp họ cầm trong tay những pho tiểu thuyết mà đề tài chính quanh quẩn chung quanh yêu thương, ân ái, nêu lên một số vấn đề liên can tới “gia đình”, “đoạn tuyệt”, “thoát ly” ngay trong cái xã hội Việt Nam ta. Ấy là không kể những cuốn phim, những tạp chí điện ảnh mà cốt chuyện nói lên những cuộc tình duyên may mắn hay đau khổ, mộng mị nhiều hơn sự thật…
            Thành ra các cậu em trai, các cô em út, tuy ít tuổi mà cũng đã biết nhận xét, cũng đã tâm lý: nhưng ở đây, họ còn mới nhận xét tình yêu như một sự kiện “khách quan”: biết thì cũng biết đấy, song biết vậy thôi… Họ vẫn còn chưa tiến sâu vào trong thực tại của yêu thương, và ái tình đối với họ vẫn còn là một “huyền nhiệm”, họ mới lảng vảng ngoài hành lang. Do đó mà thanh niên thắc mắc, muốn rằng rồi đây chính mình cũng được nếm hương vị, nhất là trong cương vực này, tất cả con người đều hướng về thực tại đó…
            Cho tới khi ấy, ý kiến tiên nghiệm của thanh niên về tình yêu thường chịu ảnh hưởng của hai yếu tố quan trọng:
            Yếu tố thứ nhất là Giáo dục. Giáo dục trong gia đình hoặc nơi nhà trường có thể gây trong lòng thanh niên một khái niệm thanh cao, tế nhị, hay trái lại hẹp hòi, ti tiện về tình yêu. Với một sự hiểu biết chắc chắn về cơ cấu của con người, về những khát vọng thâm trầm, với một căn bản vững kiên gây nên thái độ quân bình, cởi mở; giáo dục có thể triển nở tâm hồn thanh thiếu niên, giúp họ xây dựng lạc quan. Ta phải nhận là đôi khi giáo dục lại khép kín một số người, vì đã gây nên dăm ba thành kiến làm họ lo lắng sợ sệt: Chẳng hạn ở một vài nơi, vì muốn làm nổi phẩm giá cuộc đời tu trì, thì lại giảm thấp ý nghĩa của tình yêu, của hôn nhân, coi đó như một cái gì không đẹp; hoặc gieo trong lòng thanh niên phấp phỏng, lo sợ, lo sợ tình yêu chỉ đưa tới lãng mạn; lại có khi giản lược tình yêu trong phạm vi định đoạt của bậc cha mẹ… Nhưng ta nên để ý: phản ứng của nhà giáo dục, của bậc cha mẹ tuy rất ảnh hưởng trong thái độ con cái, song lại cũng có thể gây nên một phong trào đối lập, con cái có thể làm ngược hẳn lại, nếu không đi sát với đời sống…
            Yếu tố thứ hai là tình cảm cơ năng (affectivité) của thanh niên, thiếu nữ, làm họ tiên đoán được phần nào tùy theo tình cảm giầu, nghèo dồi dào hay khô khan… Có người mới 15, 16 (có khi sớm hơn) đã để ý đến chuyện tình duyên, có người thì mãi về sau mới lưu tâm tới. Nhưng ngay trong lãnh vực này, lại cũng phải để ý tới khí hậu, trình độ văn hóa, tập quán gia đình, tôn giáo v.v…
            Trong giai đoạn đầu tiên, thanh niên thiếu nữ đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của người khác, của xã hội bao bọc. Tới một thời họ phải đảm nhận trách nhiệm, phải tự quyết, dấn thân trên con đường tình yêu. Đứng về phương diện tâm lý, cũng như về phạm vi đạo đức hay tôn giáo đó là một hành vi chính đáng, quí hồ xứng hợp với bản tính thâm trầm của tình yêu.

Để đi tới thế quân bình.– Nhưng trong đợt mới này, thái độ đầu tiên của thanh niên, có khi vì ảnh hưởng của những yếu tố nói trên, lại hoặc là quá lý tưởng, hoặc là thiên hẳn về lạc thú…
            1) Nói là quá lý tưởng, nhưng cũng khá lãng mạn, đa cảm, và quá đơn sơ! Yêu trên mây gió, yêu như trong thơ phú, thiếu sáng suốt, không tích cực do đó có khi tới hậu quả đáng tiếc:
            – Có người tự mình làm khổ đời mình: Văn sĩ A. Gide đã tả tâm trạng cô Alissa tuy yêu chàng Jérôme nhưng lại từ chối tình yêu đó (La porte étroite). Từ chối vì nàng muốn đạt tới cái mà nàng tưởng là thanh cao lý tưởng, là hoàn hảo; từ chối vì lại cho rằng giữa hoàn hảo và hạnh phúc có sự đối lập chẳng bao giờ dung hòa được, vì nàng nghĩ rằng tất cả những gì làm nàng sung mãn đều là trở ngại, dù chính đáng đến đâu chăng nữa. Nhưng xét kỹ, ta thấy có lẽ chỉ vì ủ ấp một quan niệm lãng mạn, chỉ vì sợ phải quên mình, mà Alissa đã khép kín lòng lại. Vì thật ra, ngay trong tình yêu trần thế cũng cần phải tinh luyện tâm hồn, luôn luôn siêu thoát, và đường lối của tình yêu, nếu quả thật là tình yêu dâng hiến, dù sao cũng hướng thượng.(1)
            – Có người lại không biết nhận định hoàn cảnh thiết thực của mình. Là thanh niên thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng Âu tây tư tưởng, chúng ta thưởng thức quan niệm cao đẹp về tình yêu, nhưng quên không phân biệt cái phần bất biến có giá trị vĩnh cửu, với cái phụ thuộc có giá trị tương đối, rất hợp với miền này xứ nọ, với mức sống, tập quán của một thời, nhưng vị tất đã hợp với mọi nơi mọi thời. Thành ra sống trong gia cảnh Việt Nam, họ thấy khác biệt, chênh lệch, do đó đâm ra chán ngán, nản lòng, không thấy rằng cần phải thích nghi…
            2) Còn khuynh hướng thiên về lạc thú một phần lớn do ảnh hưởng của phim ảnh, của tiểu thuyết. Bỗng nhiên thanh niên tìm ra một hình thức mà trước kia họ không biết đến, không ngờ tới: hình thức khoái lạc. Trong tâm trí bị ám ảnh của biết bao hình ảnh khêu gợi, người thanh niên chỉ chú trọng trong giai đoạn đó tới vuốt ve, mơn chớn, và háo hức tìm kiếm cảm giác ngũ quan. Ta phải nói thêm là trong phạm vi này, trí tưởng tượng can thiệp một phần quan trọng, làm cho con người dễ bị thắc mắc về dục tình đến nỗi một số chỉ trông thấy tình yêu dưới khía cạnh đó, và đâm ra suy bụng mình ra bụng người…
            Hai khuynh hướng đó – quá lý tưởng, quá thiên về lạc thú – hiện hữu ngay trong tâm hồn thanh niên với nhiều mực độ khác nhau. Dĩ nhiên là quan niệm như vậy tất chưa thể đạt tới tình yêu chân thật. Nhưng cứ thường sự thì sau một thời khủng hoảng, chập choạng, thiên bên này, ngả bên kia, người thanh niên lành mạnh có thể dần dần tiến tới thế quân bình, vừa thiết thực vừa thanh cao hơn…

Tình yêu toàn diện là một tình yêu dâng hiến.– Họ sẽ hiểu được rằng toàn diện con người – cả tinh thần lẫn tình cảm – đều tham gia trong tình yêu: lòng mến thương biểu lộ ra ngoài bằng lời nói, cử chỉ, bằng tất cả lối cư xử vừa đàng hoàng, tế nhị, càng yêu càng thêm thanh thoát dịu dàng tuy không kém phần tâm huyết.
            Khi đó, tình yêu không còn là thứ tình yêu xâm chiếm. Dưới hình thức này, yêu ai chỉ vì người ấy có lợi cho mình, thỏa mãn được cái lòng ham muốn ích kỷ của mình. Đó là trường hợp yêu vì xe hơi, nhà lầu, vì cái bằng kỹ sư, tiến sĩ. Tôi yêu người kia, nhưng thật ra tôi chỉ để ý đến có duy chính mình tôi, coi người kia như phương tiện có thể thực hiện dự định của tôi. Bản lĩnh riêng tư của tha nhân, tôi đâu có cần, can chi tôi phải nể nang thận trọng! Ta có thể thấy thứ tình yêu này diễn ra trong nhiều cương vực của đời: cha mẹ nói là thương con, nhưng lại nhất nhất bắt chúng phải theo quyết định của mình hơn là nghĩ cách giúp chúng thực hiện khát vọng thâm trầm của chúng; chồng bắt vợ – hay ngược lại! – phải lệ thuộc mọi ý kiến của chồng, ngay cả trong những phạm vi, trong những chi tiết mà người chồng không cần can thiệp… Yêu, nhưng yêu lối lấn áp, lối “nuốt chửng” (amour digestif), lối ích kỷ (duy ngã độc tôn). Ta có quyền gọi hình thức đó là tình yêu thực dân.
            Trái lại, tình yêu theo nghĩa chân chánh là một tình yêu dâng hiến (amour oblatif) mà hai câu thơ của Tản Đà nói lên khá đầy đủ:

                        Mình với ta tuy hai mà một,
                        Ta với mình tuy một mà hai
.

            1) Hai bên sở dĩ thương nhau là vì có nhiều điểm giống nhau: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Do đó hai bên ưng ý, mong muốn gần nhau: đồng tâm đồng chí, hai bên coi nhau như một, như chính mình vậy (alter ego). Mà vì “mình với ta tuy hai mà một”, nên có lòng hảo tâm: yêu là muốn điều lành cho người mình yêu, mong cho người hạnh phúc, cầu cho người được sung sướng, chúc cho người thực hiện đến tận cùng sứ mệnh của người…
            2) Tuy nhiên dù giống nhau đến đâu chăng nữa, dù khát khao sự hợp nhất rõ là mật thiết, mỗi người cũng vẫn giữ một phần khác biệt, vì mỗi người vẫn có một thiên mệnh độc nhất chẳng ai thay thế được, và chính cái thiên mệnh đó nếu được thực hiện cho đến cùng sẽ làm cho mỗi người triển nở toàn diện, đạt tới cứu cánh của đời mình, làm cho mình rõ thật là mình, với mầu sắc đặc biệt có một không hai trong trần. Thành ra “ta với mình tuy một mà hai”. Khi nhận định được khía cạnh này, hai bên sẽ kính trọng nhau, không nuôi ý xâm chiếm, chẳng tìm cách giản lược tha nhân, trái lại mỗi người sẽ tìm hết mọi phương thế để giúp cho nhau đi tới thành công, dù trong không gian và trong thời gian cần ly biệt dù có phải “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi”. Vì xét cho cùng, nếu tình yêu làm cho đôi bên mong được gần nhau, cùng nhau thông hiệp, tuy nhiên bản tính của sự gần gũi hà tất đã phải là một sự gần gũi hữu hình trong không gian. Kinh nghiệm cho thấy rằng nhiều khi hai bên rất gần nhau, kề vai nhau, mà lại chỉ oán thù, khinh chê, ghê tởm lẫn nhau: âu cũng vì tình yêu không phải chỉ ở trong sự liên kết của hai thân thể, mà còn cần một sự kết hợp hàm chứa hiến dâng. Biết kính trọng thiên mệnh của tha nhân, vì coi tha nhân như chính mình, con người yêu đương sẵn sàng làm theo ý bạn, giúp bạn trung thành với quyết định cũng như ngay chính mình muốn trung thành với thiên chức của chính mình. Hạnh phúc của người ta yêu, niềm vui nơi người há chẳng là hạnh phúc, hoan hỷ của ta sao? Nhưng ta còn thấy điều này nữa: là trong khi hai bên hết lòng theo đuổi đường lối để thực hiện ý nghĩa đời mình, lại là lúc hai bên được gần nhau nhất, gần nhau trong quyết định trung thành, trong cố gắng để mỗi người quả thật là mình. Bây giờ ta hiểu được rằng:

                        Gặp nhau ở chốn tinh thần,
                        Dù xa non nước, nhưng gần tấc gang!


            Trên phạm vi thanh cao này, Đông hay Tây đều đồng ý. Văn hào Antoine de Saint Exupéry cũng đã chẳng nói: “Kết chặt với nhau vì một đích cao, chúng tôi mới thấy yêu không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhìn về một hướng. Chỉ có tình bạn những người cộng tác với nhau trong lý tưởng, cùng tiến lên một đỉnh cao trên đó họ lại gặp nhau” (Terre des hommes). Ở đây không còn là chiếm đoạt, là ích kỷ, mà là dâng hiến, mà là vị tha. Yêu người chẳng phải vì người hữu ích cho mình, mà chỉ vì người là người, vì ta là ta.

Những người tìm mà không thấy.– Nhưng còn trường hợp những người tìm mà không thấy, ước mong thành lập gia đình mà hầu như chẳng được dịp? Đây cũng là sự kiện éo le, đọc báo chí Âu tây ta được chứng kiến những cánh thư tâm sự thật cảm động; bên ta tuy không quen mượn tờ báo để ngỏ nỗi lòng, nhưng vấn đề không phải vì thế mà không thành. Biết bao người trong tình cảnh trắc trở đã đau khổ âm thầm lại đôi khi trở nên chua chát, chẳng còn tin đời… Vì thật ra, đâu có phải là họ không muốn, đâu có phải là họ lãnh đạm? Họ cũng có một tâm hồn để yêu đương, như ai họ cũng mong mỏi cảnh đoàn viên xum họp, bầu không khí ấm cúng vui tươi, với tri âm tri kỷ, để cùng nhau cố gắng xây dựng… Vậy mà tại sao không được toại nguyện?
            – Phải chăng là vì những người đó chưa tìm thấy tri nhân?
            – Hoặc vì tại họ không biết yêu, vì quan niệm của họ thiếu thế quân bình, hoặc vì quá lý tưởng, hay quá hướng về yêu sách tài chính địa vị.
            – Hay chỉ vì họ không biết làm cho chính mình nên dễ thương, gây niềm thiện cảm? Thật ra điểm này rất quan trọng… Muốn yêu, điều kiện cốt yếu là phải thành thật: mình phải là mình, không che đậy, dấu giếm, điệu bộ, chẳng muốn đóng kịch hay làm vẻ kiểu cách. Trong cương vực này, ta cần nhắc đến vai trò của suy tư, của phản ứng bản thân. Nhưng trong gia đình Việt Nam, không khí sinh sống thường là bầu không khí “đại gia đình” chẳng những chỉ có cha mẹ và con cái mà lại nhiều khi cả chú bác cô dì, ông bà nội ngoại cũng cùng chung sống một nhà. Do đó con số những bậc “bề trên” can thiệp vào cuộc đời thanh niên có phần hơi nhiều. Ngoài ra, kiến trúc chiếc nhà Việt Nam thường gồm những gian rộng lớn, song lại không có tường ngăn chia thành phòng riêng, bốn năm anh em cùng học, cùng nghỉ chung, thật tiện cho việc kiểm soát mực siêng năng học hành, nhưng một đàng khác không giúp cho nhịp sống suy tư phát triển. Vì thanh niên muốn mở mang trí tuệ cũng cần có lúc sống trong cô đơn, để phản ứng, suy tưởng, cái vui mừng của ai vừa khám phá ý nghĩa một thực tại, dù thuộc về phạm vi trí thức cũng có khi lộ trên nét mặt, trên nụ cười lý thú… Nhưng nếu khi ấy lại bị anh hay chị ngồi trước mặt nghiên cứu ý nghĩa của cái vui hay cái thắc mắc, nếu tư tưởng ghi trong cuốn nhật ký để trên bàn lại bị các em tò mò lật ra mà bình luận lớn tiếng, thì dù sao trong tâm khảm thanh niên cũng sẽ sinh ra trạng thái của người bị “kiểm duyệt” và người sẽ không quen chia xẻ cùng tha nhân đời sống nội tâm mà người cố giữ bí mật, người sẽ gượng gạo khi phải bàn đến những thực tại rất chính đáng, sẽ ra vẻ lãnh đạm trong khi mà tâm hồn lại rất thiết tha, xao xuyến, rung động, sẽ chẳng dám tỏ ra nỗi lòng cùng người trong gia đình, nhất là khi bậc trên lại không muốn công nhận sự kiện biến chuyển nơi hàng con cháu – bé, biết gì mà nói – không cho họ có dịp đề cập tới những vấn đề vĩnh cửu một cách đàng hoàng, sòng phẳng… Ta lại nên thêm là trong văn chương, khi nói đến yêu đương, người ta thường dễ coi như một dịp để diễu cợt, để hạ thấp phẩm giá của thực tại đó – như trong thơ Hồ Xuân Hương, trong truyện Tiếu Lâm – tất cả những yếu tố đó dù sao cũng gián tiếp gây nên những thái độ không được tự nhiên nơi thanh niên thiếu nữ… Phải chăng cũng vì thế mà trong một giai đoạn đáng lẽ phải rất thành thật, đơn sơ, thì thanh niên lại ngượng nghịu, hoặc trái lại, đâm ra sống sượng với những cách bắt chước nhiều khi hớ hênh, tưởng rằng phải a dua, đi đứng như tài tử này, ăn mặc như minh tinh kia, điệu bộ huênh hoang, khùng khùng thì thiên hạ mới để ý, hoan nghênh. Có ngờ đâu họ lại chỉ làm cho dư luận ngạc nhiên mà không mến phục.
            Thật ra, một khi qua cái tuổi “mới lớn lên”, thanh niên cần gắng trở nên suy tư, phát triển cho đều những khả năng tiềm tàng để nên người trưởng thành, có thể siêu thoát, vượt lên trên cả cái lòng tự ái, vị kỷ, để có thể vừa đón nhận vừa biết dâng hiến, để nghĩ tới tha nhân, chứ không phải chỉ nghĩ đến mình…
            Có người không qua được giai đoạn đó, thành ra họ không thể yêu được. Vì thế họ sẽ tìm trong tình yêu khía cạnh mạo hiểm, khoái lạc, nhưng sẽ trốn những đòi hỏi của tình yêu thật, vì họ sợ, vì họ bất lực để đối phó, để đáp lại những nhu cầu ấy. Ta sẽ gặp một số người, tuy hơn 30 hay 40 tuổi đầu mà vẫn còn thái độ loăng quăng của bọn thanh niên mới lớn.

Một vài yếu tố ảnh hưởng.– Trong vấn đề tình yêu, ta phải chú ý đến vai trò của gia đình, của bậc cha mẹ, anh em bà con… Ngày nay nhiều bậc phụ mẫu am hiểu tâm hồn thanh niên, nên khi con cái đến tuổi đặt vấn đề, các vị có thái độ ôn hòa, bình tĩnh, khôn ngoan, gây được tin cẩn nơi họ. Bầu không khí cởi mở trong gia đình có thể dễ dãi sự huấn luyện tình cảm của thanh niên giúp họ mến trọng những giá trị đó mà lại cũng biết diễn tả tế nhị, tùy hoàn cảnh, tùy theo mực độ cư xử, không thái quá mà cũng chẳng bất cập, đường hoàng tự nhiên mà không suồng sã…
            Tuy nhiên, có khi thiếu sự am hiểu giữa cha mẹ và con cái, vì có chênh lệch giữa các thế hệ do phong tục, do nền giáo dục gây nên. Vì vậy mà ta thấy cảnh xung đột, giằng co, đưa đến những hoàn cảnh rất phức tạp đau đớn mà các nhà văn đã tả một cách khá sâu sắc, chân thành…
            Ta có thể mừng rằng ngày nay trong xã hội Việt Nam, một số lớn những hiểu lầm đã được giải quyết vì giữa cha mẹ và con cái có những tiêu chuẩn chung đôi bên đều đồng ý, chẳng hạn trong phạm vi văn hóa, phong tục, sự đối lập giữa “cổ” với “kim” đã giảm nhiều…
            Ta cũng cần ghi một vài tính tình có thể phát nở từ những vấn đề yêu đương, tình cảm.
            1) Tính ghen tuông: ghen đối với những bạn đã thành công, nhất là khi lại cùng để ý đến một người. Nếu không biết siêu thoát, tính tình đó dẫn tới những hành vi nhỏ nhen, những phê bình ti tiện, những câu nói chọc, nói khoáy nếu không nhã nhặn thì cũng thiếu đức công bằng.
            2) Ngoài ra tự ti mặc cảm cũng làm tê liệt thanh niên trong đường tình duyên. Thứ mặc cảm này thường chớm nở vì người thanh niên chưa có dịp thành công, hoặc đã bị thất bại: do đó họ có cảm tưởng mình xấu số, kém cỏi, và đáng lẽ cố gắng để thoát khỏi thì lại phóng đại cái trạng thái đó mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng. Trong trường hợp này nếu xét kỹ, ta thấy có một phần kiêu ngạo: kiêu ngạo ngay trong cái tự ti! Con người ở đây không chịu công nhận hoàn cảnh hạn chế của mình, công nhận để mà siêu thoát: thái độ đó là thái độ dỗi hờn thiếu đơn sơ, và thiếu luôn cả chí khí…
            3) Thái độ hà khắc, cứng cỏi, quá nghiệt (puritanisme), bao giờ cũng quan niệm tình yêu dưới khía cạnh tiêu cực, khía cạnh tội lỗi, xấu xa, nguy hiểm, coi nó như một vấn đề cấm kỵ, cũng rất bất tiện, vì làm cho con người dễ rơi vào tình trạng người bị ẩn ức mà Phân tâm học tố cáo: khi bị đè nén một cách vô ý thức, một cách mù quáng ta phải sợ sẽ có lúc bùng nổ, làm cho người lại lao mình trong những quá đáng trái ngược. Người quân bình là người biết công nhận chân giá trị của yêu đương, biết phân biệt cái cốt yếu và cái phụ thuộc…


II
TRƯỚC VẤN ĐỀ LUÂN LÝ, TÔN GIÁO, XÃ HỘI

            Vì thời gian không cho phép chúng tôi nói nhiều trong khuôn khổ một buổi thuyết trình, nên xin tóm tắt vài nhận xét về phản ứng của thanh niên trước vấn đề Luân lý, Tôn giáo và Xã hội. Như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận tính cách quan trọng của những đề tài này trong đời sống con người chúng ta.

Trước vấn đề luân lý.– Vấn đề Luân lý được đặt lên trong tâm hồn thanh niên khi óc phê bình ở nơi họ được phát triển. Họ muốn tự mình tìm ra lý do của những bó buộc phải theo. Trước đây, khi còn ở thời thơ ấu, bậc trên đưa ra chỉ thị, con cháu cứ việc tuân theo, không thắc mắc cũng chẳng bàn cãi. Nhưng càng lớn, bản lĩnh con người càng trở nên rõ rệt hơn, thanh niên càng nghiệm thấy mình phải đối lập với mọi hình thức của chính sách “thượng hành hạ hiệu”. Đó là tuổi thanh niên hay bàn cãi, hay chỉ trích bất cứ cái gì “bề trên” đề nghị. Do đó vấn đề luân lý được họ đem ra xem xét, mổ xẻ. Đây là giai đoạn học sinh, sinh viên gọi thầy dạy là “hắn”, và lên án giá trị cấp trên: đây cũng là thời người ta “đặt lại vấn đề”, nêu ra những câu hỏi liên can tới ngay nền tảng của Luân lý để xem Luân lý chính đáng hay không. Luân lý dạy thế này, thế nọ; Luân lý cấm việc này việc kia. Tại sao? Dựa vào đâu mà Luân lý dám khoác vai trò ban ra mệnh lệnh? Lấy tư cách nào mà ép buộc? Những câu hỏi đó không thể không làm cho thanh niên thắc mắc, chúng lại càng gay go nhất là trong thâm tâm họ lại hiện hữu những xu hướng, những lực lượng trái ngược, xung đột lẫn nhau, thúc đẩy họ. Sự giằng co trong tâm khảm gây hoang mang, do đó, để tỏ mình không lệ thuộc những chỉ thị có vẻ như thu hẹp phạm vi tự do, thanh niên sẽ như chẳng để ý tới những cấm đoán kiểm duyệt của Luân lý…
            Trong thái độ mà nhìn bên ngoài ta thấy thiếu kính cẩn, đoan trang thật ra có sự thử thách cả về phương diện trí thức – những vấn nạn về căn bản Đạo đức nói lên điều đó – lẫn về phương diện tâm lý – những khó khăn vấp phải trong cố gắng thực hành nền Đạo đức – mà những ai chứng kiến không thể coi thường tính cách quyết liệt trong đời người thanh niên trong cuộc.
            Giữa cha mẹ – đại diện của lễ nghĩa – và con cái có thể hiểu lầm và sự hiểu lầm có thể gây nên khủng hoảng. Để lấy một ví dụ trong phạm vi tình yêu: Cha mẹ thường khuyên con cái phải đứng đắn, nết na, không nên giao thiệp với người khác phái, vì muốn “nam nữ thụ thụ bất thân”. Nhưng chàng thanh niên kia lại bắt đầu để ý đến một thiếu nữ và có sự quý mến. Luân lý dậy ta phải tránh những việc xấu: đó là điều chí phải. Nhưng cha mẹ đôi lần lại dựa vào nguyên tắc ấy để cản ngăn con mình, chẳng phải vì sợ điều bất chính xẩy ra, mà có khi chỉ vì không ưa con mình kết bạn với người đó. Thành ra ở nơi thanh niên sinh ra phẫn uất vì thấy mình bị nghi ngờ, bị ngăn cản “nhân danh luân lý”, một mặt khác lại cảm nơi lòng những tính tình yêu đương quý mến thành thật, tế nhị… Nếu thanh niên nhút nhát thì đành thôi, đành lòng bỏ cuộc; nhưng nếu họ có bản lĩnh. Rất có thể họ bất chấp mệnh lệnh bề trên, và cùng một chập coi luân lý như hình thức, như giả tạo, không đi sát với nhịp sống nhân sinh: Yêu thì có gì là xấu, sao lại bị nhà cấm? Vì phẫn uất về một điểm phụ, thanh niên có thể đâm ra phủ nhận cả cái phần hữu lý và chân chính của đạo đức, và thiên về một thái độ đáng tiếc…
            Thật ra, cơn khủng hoảng đó không có gì là lạ. Và cũng rất bình thường có thể hữu ích nữa. Vì thái độ thơ ấu, nhu mì, dù sao cũng chỉ là tạm thời, nhịp sống còn đưa con người dần dần trưởng thành, trở nên chính chắn, già giặn, biết sáng suốt nhận định. Muốn ấu trĩ suốt đời tức là tỏ mình thiếu thốn về sức khỏe thể xác lẫn tinh thần. Vậy qua cơn khủng hoảng nói trên, thanh niên giải quyết nhiều cách:
            1) Chẳng hạn bằng sự từ chối nguyên tắc luân lý: một khi phủ nhận tư cách của Đạo đức, con người đâm vào vòng ăn chơi, gian lận, trí trá, thù ghét dưới những hình thức rất hợp thời, căn cứ trên Ích kỷ, trên Tham lam, trên Kiêu ngạo…
            2) Hoặc họ giải quyết bằng sự chấp thuận những giá trị luân đức, sau khi đã suy nghĩ, cân nhắc, chọn lựa, theo tiếng của lương tâm. Những người này hiểu rằng đó là những giá trị nhân bản có thể giúp con người tiến triển theo Chân, Thiện, Mỹ… Đó là phần thưởng của cố gắng kiên vững và tư riêng, của một cuộc chiến đấu ngay trong nội tâm, với sự cộng tác kín đáo của nhà giáo dục sáng suốt, của bậc cha mẹ và nhất là của những ảnh hưởng tinh thần.
            Thanh niên do đó nhận thấy rằng Luân lý là cố gắng của con người để chinh phục ngay chính bản thân, thông cảm với nhân quần xã hội trong công việc đạt tới Hạnh phúc. Vì con người tự do, con người đạo đức là con người sừng sững trong vũ trụ, không phải sừng sững như một vật bị tung ra một cách phi lý, nhưng sừng sững như một nhân vị biết rõ vị trí mình, và từ gốc tới ngọn, thấm nhiễm một sinh lực mạnh mẽ để chẳng lung lay trước cơn bão táp để:

                        Dù ai nói đông nói tây,
                        Thì ta cũng vững như cây giữa rừng!


Trước vấn đề Tôn giáo.– Trước Tôn giáo, thái độ thanh niên cũng tương tự như trước Luân lý: có điều là cương vực tôn giáo mênh mông hơn. Trong phạm vi này, vấn đề không phải chỉ là xác định một thái độ thực tiễn. Tôn giáo đòi hỏi hơn thế, đòi hỏi một thái độ căn bản, huy động toàn diện con người, từ tận bản thể cho tới hành động. Thái độ tôn giáo thâm trầm hơn cả thái độ triết gia chấp thuận một hệ thống siêu hình học. Trong tôn giáo có sự dâng hiến của chính bản thân cho một Tín ngưỡng, để tín ngưỡng đó cải hóa hẳn con người, chi phối tương lai người.
            Chúng tôi xin lấy một ví dụ tuy mượn ở Thiên Chúa giáo song có lẽ quý vị thuộc tôn giáo khác cũng có dịp nhận thấy một vài nét tương tự: Trong Thiên Chúa giáo, con người nhận định mình là tạo vật của Thiên Chúa lại là con Ngài và có nghĩa anh em với Đức Ki-tô cứu thế.
            Trẻ nhỏ sống trong tín ngưỡng đều biết điều đó khi học giáo lý. Nhưng trẻ nhỏ không có dịp, và cũng không cần chứng minh sự kiện con người tùy thuộc Thiên Chúa. Trẻ nhỏ tin và sống sự kiện đó một cách có thể nói là hồn nhiên…
            Nhưng thanh niên, những người trưởng thành, và nhất là nếu có những đòi hỏi tinh thần, thì sống đức tin như người bán than (la foi du charbonnier) lại không đủ, còn phải xác định lập trường, trước là đối với ngay chính mình, sau là đối với tha nhân, trong sự công nhận mối liên lạc với Thiên Chúa, một mối liên lạc mạnh hơn, khăng khít hơn mọi lưu luyến trần thế khác… Do đó mà cũng có khủng hoảng, thắc mắc, hoang mang con người tín hữu phải trải qua để tấn triển… Vì con người sẽ chẳng tin nếu không thấy là đáng tin, sẽ chẳng thuận phục nếu không thấy, hay chưa thấy là đáng thuận phục.
            Thật ra, có một vấn đề mà mọi người đều gặp và đều giải quyết không bằng cách này thì bằng cách khác: từ những ai đã chọn và chấp nhận một tín ngưỡng cho tới người còn đang tìm kiếm, và ngay cả người cho đến giờ chưa lưu ý đến lắm… Kinh nghiệm lịch sử nhân loại, trải qua mọi thái độ, từ phiếm thần cho tới tín ngưỡng độc thân, cho ta ghi lại điều này: ấy là con người có một ý hướng tôn giáo, một ước mong thỏa mãn cái khát Tuyệt đối. Khi con người bái kính hòn đá, tôn thờ bình vôi hay mặt trời, đâu có phải là thờ những cái đó theo tư cách những vật vô tri vô giác, nhưng chính vì hòn đá, bình vôi, cỏ cây, tinh tú biểu lộ trong quan niệm hộ một sức linh thiêng, huyền bí, một cái gì cao siêu hơn cái trần tục tầm thường.
            Nghĩa là có câu hỏi, có vấn đề tôn giáo.
            Thanh niên phản ứng thế nào?
            1) Có người không muốn giải quyết: họ lảng tránh bằng giải pháp không suy tưởng.
            2) Có người giải quyết bằng sự phủ nhận Tuyệt đối, chối từ Thượng Đế, chẳng hạn làm ngơ, có cũng như không (Sartre), hoặc quả quyết theo thuyết vô thần dùng biện chứng pháp chứng minh không thể có một Đấng siêu việt (Marx). Ở trong thái độ phủ nhận này, có người rất thành thật, bênh lập trường vì tin đó là chân lý; nhưng có người theo chủ nghĩa đó vì có ý hợp thức hóa hành động thực tiễn của mình, đời tư của mình nhất là khi không hợp với tiêu chuẩn lương tâm…
            3) Có người hoang mang, lo lắng, và cố tìm mối liên lạc có thể thỏa mãn lòng họ: chẳng hạn trong Khoa học, trong quan niệm Khoa học vạn năng (Sccientisme) trong sự truy tầm những giá trị thiêng liêng dưới muôn hình thức. Người ta xúc động trước một nghĩa cử anh hùng, một thái độ quân tử vô tư, hoặc thông cảm với phần trong trắng của tình yêu thanh cao tế nhị, của lòng hy sinh đượm đầy nhân đạo; cũng có khi thấy tâm hồn được nâng lên cao khi nghe khúc trầm ca bi đát của một nhạc phẩm thống thiết. Như thế đã là hướng về con đường thiêng liêng phần nào…
            4) Và có người hàng ngày vật lộn, chiến đấu để được giữ nghĩa tương quan với Đấng Tối Cao. Trong Thiên Chúa giáo, mối liên lạc ấy là mối Bác ái: con người đáp lại Tình yêu của Thiên Chúa bằng mối tình trung thành, với sự trợ giúp của hồng ân siêu nhiên.
            Những thái độ vừa nêu ra đây diễn tả tâm hồn thanh niên trước vấn đề tôn giáo. Cố nhiên là trong trường hợp chấp thuận, ta đừng vội tưởng thanh niên đã đạt ngay được tới mực độ hoàn hảo của tín ngưỡng vì từ ý hướng cho đến thực hiện, con đường cũng còn xa, còn nhiều trắc trở, thử thách, lại cũng đòi hỏi cố gắng bản thân để con người được tinh luyện, và đáng được nên bậc thánh hiền.

Trước về vấn đề Xã hội.– Người thanh niên, khi rời gia đình, lên tỉnh đi học hay đi làm, được trực tiếp với một khía cạnh mới của cuộc đời. Họ phải đụng chạm với những tập quán, những nếp sống khác với khung cảnh gia đình. Thanh niên được dịp chen vai thích cánh với nhiều tầng lớp, không cùng giai cấp, không cùng xu hướng, với những phản ứng rất khác biệt. Dĩ nhiên là trước đó, thanh niên cũng đã biết sự khác biệt đó, nhưng có lẽ chỉ biết sơ sơ, xa xa, biết theo nguyên tắc, theo những nhận xét lượm qua sách vở báo chí, và thật ra nhiều người không quan tâm chú trọng đến mấy, vì còn như bị giam cầm trong khung cảnh, hoặc vì còn mải để ý đến những vấn đề hạn chế hơn của tuổi niên thiếu. Ta đã được nghe những trang thanh niên tuấn tú tranh luận rất hăng hái về hoàn cảnh giai cấp vô sản, đề nghị những chương trình cải tạo đời sống dân quê, bênh vực quyền công nhân: nhưng lại cứ thản nhiên gắt mắng người phu quét phòng thí nghiệm, về nhà thì quát tháo á-xẩm, chú bếp! Ta cũng thấy cô sinh viên trình bầy rất tế nhị phẩm tước của tình yêu theo quan niệm “nhân vị” và cùng một chập không thể hiểu rằng theo nguyên tắc đó thì phải để cho chị làm công về nhà lấy chồng, dù có vì thế mà trong biệt thự thiếu người giúp việc đã quen…
            Nhưng bây giờ, bước vào trường đời, được chứng kiến một thế giới mới mà chính họ khám phá ra, thanh niên cư xử thế nào?
            1) Người thì sợ, sợ phải đối phó với thực tại, sợ tìm ra nhiều sự thật phũ phàng, nên không dám nhìn thẳng cuộc đời. Họ ưa thoát thân, lảng tránh trong “tháp ngà”, trong phòng riêng với đống sách. Đó là trường hợp những con mọt sách, chuyên “xã hội học” trong bốn bức tường…
            2) Người thì cố ý lãnh đạm, đôi khi một cách trắng trợn, nhất nhất không chịu quan tâm đến vì e rằng sẽ phải hy sinh, sẽ phải quảng đại nếu không may mình động lòng trắc trở.
            3) Cũng có người thì cởi mở, thông cảm thật sự với tình cảnh tha nhân, dám đặt mình vào địa vị người khác, tuy chính mình chẳng có gì đáng được may mắn, nếu đem so với những thống khổ của anh em…
            Do đó, ở nơi những người này nẩy ra cái ý muốn nâng đỡ tha nhân với một tình huynh đệ chân thành để phục hồi lại đức Công bằng trong xã hội. Tuy nhiên, muốn hiệu nghiệm, thì mong muốn đó phải thành hình, phải được tích cực thực hiện. Giới thanh niên tuy có một phần khá lớn dửng dưng với hành động xã hội, vì những lẽ nói trên, hoặc nếu để ý là chỉ chú trọng đến tư lợi, tuy nhiên có thể nói rằng người thanh niên lành mạnh không ưa tán phét, lối hùng biện suông, dựa trên tình cảm, mà lại biết uốn mình ra khỏi tháp ngà của lòng vị kỷ. Có những người trẻ đã “làm nên công chuyện”, dù không có khả năng đặc biệt, hoặc nhiều phương tiện: họ tuy nghèo trong phương cách, song có tư cách, có thiện chí với một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy họ, làm họ chẳng sợ trở ngại, đi đến nơi đến chốn, lại kéo được cả người khác gây nên một trào lưu xả kỷ.


III
KẾT LUẬN

            Trải qua những phản ứng muôn hình của thanh niên trước thực tại của đời, mấy nhận xét chúng tôi vừa trình bầy quả là thiếu sót, nhưng vì cũng có tính cách đại cương, nên chúng tôi xin giữ lại một đôi điều sau đây:
            Trước vấn đề yêu đương, luân lý, tôn giáo, xã hội, người ta có thể hoặc là cởi mở, hoặc là khép kín. Hoặc là thuận nhận, hoặc là chối từ. Thuận nhận để tiến xa, tiến cao, để xây dựng, cuối cùng để thực hiện sứ mệnh. Hay là chối từ vì thiếu sáng suốt, thiếu khiêm tốn, thiếu quảng đại, vì còn có gì đó cản trở, che lấp, những cản trở hoặc từ ở ngoài gây nên, hoặc do ngay chính tâm hồn mình…
            Giữa hai thái độ chính, ta phải công nhận còn có một số thái độ chập chừng, do dự, có thể nghiêng bên này, ngả bên kia, đó là cố gắng của con người trong khi đi tìm ý nghĩa của đời. Vì ngay khi mà ta nhận thấy lý tưởng, ngay khi ta muốn thực hiện lý tưởng đó, vẫn còn cần cố gắng để tất cả đời ta thật sự tương xứng. Việc đó không phải dễ. Nhưng điều cần, trong đời này, không phải là tới đích ngay, mà là tiến về đích “hôm nay hơn hôm qua và còn kém ngày mai”…
            Do đó, bài này chỉ có ý nghĩa khi mỗi ta lại cũng công nhận con người là một “huyền nhiệm”, mà sự phân tích không thể đào sâu cho rõ thấu triệt. Có những thái độ làm ta ngạc nhiên, khó chịu; nhưng nếu biết tự nội tâm rằng đó là những khủng hoảng, những giai đoạn có khi rất đau đớn để con người tìm đường giải thoát, thì chẳng một ai dám tự cho mình có quyền xét đoán họ một cách quyết liệt…


NGUYỄN HUY LỊCH
_________________________
(1) R. Pons Procès de l’amour.



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #61 vào: 01/01/2017, 17:47:17 »
Đại học | Số 12 [tháng 11/1959 | 128 trang]
                                          NGUỒN GỐC VĂN MINH VIỆT NAM

MỤC LỤC
O.R.T. JANSÉ |  NGUỒN GỐC VĂN MINH VIỆT NAM |  3
TRƯƠNG VĂN CHÌNH |  ĐỌC CUỐN SYNTAXE DE LA LANGUE VIETNAMIENNE |  13
PHAN XUÂN SANH |  HỌA SĨ PAUL GAUGUIN |  47
NGUYỄN NAM CHÂU |  WALT WHITMAN, THI HÀO CỦA THẾ GIỚI MỚI |  61
WALT WHITMAN |  CHÀO MỪNG THẾ GIỚI |  74
ĐẠI-HỌC |  ĐỜI SỐNG VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ |  79
NGUYỄN VĂN ÁI |  VI TRÙNG LAO VÀ THUỐC CHỦNG B.C.G. |  83
TRẦN VĂN TOÀN - LÊ NGỌC TRỤ - LÊ VĂN LÝ |  BÀN THÊM VỀ THINH TIẾNG VIỆT |  103
___________________________________________________________________________

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #62 vào: 01/01/2017, 17:49:33 »
NGUỒN GỐC VĂN MINH VIỆT NAM

Công việc giao phó cho tôi (1934-39) nhằm đích chính là,
nhờ những công trình quật phát có phương pháp, xem xét
những tài liệu cổ có thể cung cấp một số bằng cứ về nguồn gốc
và quá khứ, lúc bây giờ chưa mấy ai biết, của xứ sở các ngài.

            Vào lúc chúng tôi khởi sự cuộc tìm kiếm, văn minh Việt Nam còn được người ta xem như là một hình thức địa phương của văn minh Trung Hoa. Tuy nhiên, những công cuộc quật phát cổ học đã cho ta thấy văn minh Việt Nam, trái lại, có một nguyên bản riêng. Mặc dù ta không phủ nhận ảnh hưởng của Hán triều – nhất là vào thời đại lịch sử, – đối với các vùng mà sử ký gọi là “Đất miền Nam”, ta không nên quên rằng còn có nhiều ảnh hưởng khác. Sự thành lập mới thống nhất, – mà tôi đã nói đến thời đầu kỷ nguyên (?) – là phần lớn kết quả sự hun đúc những yếu tố truyền hóa không những từ Trung Hoa đem lại, mà còn từ những nơi xa xăm hơn nhiều, từ Ấn Độ và ngay cả từ Cận Đông và vùng Đông La Hy.
            Sau này chúng ta sẽ thấy yếu tố thần bí tôn giáo lúc bấy giờ đang ngự trị trên tâm trí con người trong những vùng ấy, và đã dọn đường cho Thiên Chúa giáo đến, yếu tố thần bí tôn giáo ấy đã gây một ảnh hưởng chắc chắn trong sự thành lập văn minh Việt Nam.
            Chính ở đây tôi muốn bàn về một vài vấn đề kể trên, nhưng tôi có nhiều câu hỏi để nêu lên hơn những lời giải đáp sẽ đưa ra. Những vấn đề đó liên quan đến những lĩnh vực rộng lớn trong thời gian và trong không gian, đến nỗi chúng chỉ có thể giải quyết dứt khoát được nhờ sự hợp tác của nhiều nhà chuyên môn của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó tất nhiên phải có sự góp sức chặt chẽ và có phương pháp của những nhà Đông phương học của hai thế giới.
            Khi tôi nói đến văn minh Việt Nam, thoạt tiên tôi không nghĩ đến thứ văn minh đã nảy nở quanh triều đình nhà vua, nơi quan trường hay trong các đô thị do ảnh hưởng Khổng giáo, nhưng trước hết tôi nghĩ đến văn minh các vùng thôn dã và làng mạc tổ chức như những quốc gia nhỏ đã tạo thành tính cách nhất trí căn bản của Việt Nam qua các thế kỷ và từ ngàn xưa.


***

            Theo ý kiến thông thường, thì văn minh Việt Nam mới được nhập cảng, như nó sẵn có, từ lưu vực sông Yến Tử, vào thế kỷ IV trước CN. Những kẻ mới đến có lẽ đã định trú tại Bắc Việt và đã mang lại đó văn minh Trung Hoa dưới hình thức địa phương; Nhưng thuyết ấy không đứng vững, như ta sẽ thấy sau này, vì cổ học cũng như bác ngữ học, cũng như việc phân tích huyết thống không tán thành thuyết đó. Những điều phát lộ từ 30 năm nay, thì văn minh Việt Nam đã dần dần nẩy nở tại miền Bắc và miền Trung do sự pha trộn nhân chủng và do những ảnh hưởng văn hóa khác nhau mà nguồn gốc phải tìm thấy ở rất xa Trung Hoa, như chúng tôi đã nói, ở Trung Đông và ở cả vùng Đông La Hy nữa.
            Bây giờ chúng ta có thể phân biệt ba thời kỳ trong công cuộc cấu tạo nền văn minh Việt Nam. Mỗi thời kỳ được tiêu biểu bởi một kỹ nghệ đặc biệt.
            – Trước tiên có thời kỳ Đông Sơn, kể đại lược thuộc khoảng từ 500 trước CN đến đầu kỷ nguyên. Kỹ nghệ tiêu biểu thời kỳ ấy được phân phối trên một diện tích gồm có: Tây Nam Trung Hoa, lúc bấy giờ do những dân cư không thuộc giống Trung Hoa ở, hầu hết tất cả bán đảo Đông Dương và ít nhất là một phần các lãnh thổ Ngoại Ấn.
            Về phần lãnh thổ Việt Nam, văn minh Đông Sơn, hình như phần lớn đã thuộc các dân tộc Mã Lai sơ cổ. Nhưng có lẽ cũng có một phần tử Lolo mà tổ tiên, theo nhiều nhà nhân chủng học; cùng một gốc với giống người Tocharéens, một dân tộc ngôn ngữ Ấn Âu.
            – Thời kỳ thứ hai được tiêu biểu bởi thứ kỹ nghệ gọi là kỹ nghệ Lạch Trường, và đại để thuộc ba thế kỷ đầu, trước và sau CN. Sự phân phối về địa lý của kỹ nghệ ấy bao gồm Bắc Việt, một phần Trung Việt, và một vài vùng khác, chưa được xác định rõ rệt, của miền Tây Nam Trung Hoa. Văn minh đó phần lớn thuộc giống người gốc Thái.
            Hai nhóm kể trên đã ảnh hưởng lớn không những đến văn minh Việt Nam, mà cả đến những dân miền núi hiện giờ cư trú tại Tây Nam Trung Hoa và tại phần lớn Đông Nam Á.
            – Sau nữa, có một thời kỳ thứ ba cần phải ghi ở đây: thời kỳ Ốc Eo. Kỹ nghệ thời kỳ đó thuộc giai đoạn bắt đầu từ thế kỷ thứ hai của kỷ nguyên đến năm 500 sau CN. Sự phân phối địa lý của văn minh ấy, chưa được biết rõ, gồm cả Nam Việt, nhưng văn minh đó chắc hẳn đã ảnh hưởng đến những giống người lúc bấy giờ đã cư trú tại miền duyên hải về miền Bắc, có lẽ lên đến châu thổ Thanh Hóa. Văn minh Ốc Eo phần lớn thuộc giống người Indiens hay Indoscythes, và giống người đó dường như đã có những dây liên lạc thương mại trực tiếp hay gián tiếp với vùng Cận Đông, hay cả với vùng Đông La Hy.
            Chúng ta sẽ xem xét ngay ở đây một cách vắn tắt cả ba nhóm nói trên, và khởi sự là nhóm Đông Sơn.

VĂN MINH ĐÔNG SƠN
            Văn minh đó được người ta biết đến là nhờ những di tích tìm thấy tại nơi hiện giờ là làng Đông Sơn, trên hữu ngạn sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Còn hai nơi khác cùng một tính cách trên được tìm thấy: một cũng tại Thanh Hóa; một tại gần Lao Kay, ở biên giới Trung Hoa.
            Những đồ vật thuộc loại Đông Sơn, nhất là những dụng cụ và khí giới bằng đồng được ngẫu nhiên đào lên tại nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và tại Yunnan. Những vật tìm thấy đó ít nhất cũng phải được xem là bằng chứng có những nơi tàng trữ khác còn chờ đợi sự quật phát của các nhà khảo cổ. Những cổ vật dắt dẫn sự tìm kiếm đó gồm có, trong số nhiều vật khác, những khí giới và dụng cụ hình thức khác nhau, những bình, lọ, giỏ, gùi bằng đồng, và trước tiên là những cái trống mà có nhiều thứ rất lớn được trang trí hoa lệ.
            Nhưng phần lớn những cổ vật tìm thấy, rủi thay, đều do các cuộc quật phát bí ẩn, và nhiều khi chúng ta không được hay biết gì về những trường hợp phát lộ ấy. Khi mà một cổ vật đã mất “hộ tịch” của nó, – nếu tôi có thể nói thế, – thì nó cũng mất luôn một phần lớn giá trị tài liệu của nó.
            Muốn bổ cứu tình trạng đó, ông Coedès, lúc bấy giờ là Giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ, đã giao phó cho tôi tổ chức ở Đông Sơn những cuộc quật phát có phương pháp. Đến tại chỗ, chúng tôi nhận thấy một phần lớn nơi tàng trữ cổ vật đã bị người ta đào bới xáo trộn để tìm của. Tuy thế, cũng có những khoảng đất còn nguyên vẹn đáng công tổ chức những cuộc đào bới có phương pháp. Căn cứ những kết quả công việc của chúng tôi, chúng tôi có thể rút ra những kết luận sau:
            Trên mấy trăm năm trước CN, đã sống ở đây một dân tộc thuộc giống Mã Lai cổ sơ, tức là tiền nhân của dân cư miền núi mà ta đã quen gọi là “Mọi”, và cũng được xem như là cùng huyết thống với tổ tiên dân Dayak ở Bornéo. Vào thuở ấy thì dân tộc kia chưa vượt khỏi Thạch khí thời đại, nghĩa là chưa biết dùng khí giới và dụng cụ bằng đồng hay bằng sắt. Nhà cửa của họ, những nhà tranh làm theo kiểu nhà sàn, được dựng trên bờ sông. Căn bản kinh tế của họ là nghề đánh cá, săn bắn và nghề trồng tỉa thô sơ. Họ tin có linh hồn và họ cũng là những kẻ săn đầu người. Đồ gốm của họ, rất cổ sơ, gồm có những ghè, chậu rất thô, nung không được chín và cũng không trang trí.
            Vào khoảng 500 năm trước CN, tình trạng ấy thình lình biến đổi, nhờ có những yếu tố truyền hóa mới mang lại. Dân cư Đông Sơn lúc bấy giờ đã học cách dùng kim khí, cách làm đồ nữ trang và bùa bằng thứ đá khá quý giống loại ngọc bích. Bấy giờ đồ gốm đã tốt hơn và có trang trí với những mẫu theo hình học. Đồng thời cũng đã xuất hiện những kiểu trống lớn bằng đồng đỏ có những mẫu trang trí tượng trưng loại hình học, hoặc phỏng theo hình người, hình thú hay nhắc lại những buổi lễ tôn giáo. Những hình trang trí trên các mẫu trống ấy chứng tỏ những quan niệm tôn giáo đã khá phát triển gồm có sự tôn thờ mặt trời và Trời.
            Làm sao cắt nghĩa sự thay đổi thình lình đó. Sau đây một sự giải thích mà chúng tôi tưởng khá xác đáng:
            Những tài liệu Trung Hoa cho biết từ thế kỷ VIII trước CN, những vùng Tây Trung Hoa đã nhiều lần bị tấn công bởi giống người mắt sáng, tóc đỏ hoe, gọi là người Yue-Chi.
            Các nhà bác ngữ đã nhận thấy rằng giống người Yue-Chi chính là giống người Tocharéens, một giống thuộc ngôn ngữ Ấn Âu mà mới phát tích cổ sơ ở vùng Pont-Euxin, miền Hắc Hải. Năm 771, giống người ấy đã chinh phục thủ đô nước Tchéon về phía Tây. Ít lúc sau, họ đã xuống phương Nam, và theo giáo sư Heine Geldern, Đại học đường Vienne, đạo quân tiền phong của những người xâm lăng đã xâm nhập đất Việt Nam cho đến Đông Sơn. Rất có thể có những giống người khác gốc ở Pont-Euxin và ở Cận Đông đã tháp tùng với người Tocharéens. Nhiều cổ vật ở Đông Sơn có những hình thức và kiểu trang trí không phải gốc ở Trung Hoa, và có khi ở Trung Hoa hoàn toàn không có, nhưng trái lại thường thấy xuất hiện trong nền mỹ nghệ xưa của Cận Đông và của Trung Âu.
            Chúng ta có lý do để phỏng đoán rằng những cuộc xâm lăng của người Tocharéens và người tháp tùng với họ, những cuộc di dân từ Hắc Hải đã là nguyên nhân của sự xáo trộn sâu rộng không những ở Trung Hoa mà cả ở các vùng phương Nam nữa. Rất có thể những cuộc di dân đã mang lại một cách trực tiếp hay gián tiếp trong miền Nam Á những yếu tố văn hóa đã đóng góp một phần lớn trong cuộc thành lập văn minh Đông Sơn.
            Vào giữa thế kỷ thứ nhất sau CN, văn minh Đông Sơn đã phải chịu một thất bại nặng nề do sự xâm lăng của Trung Hoa gây ra.
            Theo sử ký, người Trung Hoa đã khởi sự xâm nhập vào Bắc Việt, bằng một số nhỏ, từ thế kỷ IV trước CN. Đó là những người lái buôn, những người làm thợ, và dường như họ được tiếp đãi tử tế. Sau này, vào đầu kỷ nguyên, chính phủ Trung Hoa đã đưa đến nhiều quan cai trị, họ cố biến xứ này thành thuộc địa. Nhân dân đã nổi dậy kháng cự.
            Dưới sự điều khiển của hai chị em bà Trưng – như các độc giả biết – quân Hán đã bị đẩy ra khỏi xứ. Vua Tàu bị mất mặt vì sự bại trận đó, quyết trả thù, và năm 43 sau CN đã cho điều động nhiều đạo quân dưới quyền chỉ huy của tướng Mã Viện để chinh phục xứ này. Theo sử chép, một trong những đạo quân đã vượt xuống miền châu thổ Thanh Hóa, dọc theo lưu vực sông Mã, nơi lúc bấy giờ có làng Đông Sơn. Chính khi ấy làng Đông Sơn đã bị cướp bóc và tiêu diệt. Cuộc chém giết rất ghê tởm. Hàng nghìn người bị giết hay bị bắt làm nô lệ. Nhưng một vài thủ lãnh với đồng chí của họ đã trốn thoát được. Hẳn là biến cố lịch sử đó đã đánh một đòn rất nặng vào văn minh Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam. Nhân câu chuyện này, chúng ta hãy nhắc lại rằng có nhiều chỗ giấu đồ đồng, nhất là những chiếc trống, đã được tìm thấy từ khoảng 50 năm nay tại miền Bắc, trong những vùng trước kia bị cuộc xâm lăng của quân Mã Viện. Chắc hẳn những đồ vật đó lúc bấy giờ đã phải chôn vùi để khỏi phải rơi vào tay của quân Tàu.
            Nhưng nếu văn minh Đông Sơn đã bị giảm diệt tại miền Bắc Việt Nam vì cuộc xâm lăng đất nước, thì trái lại nó được sống sót nơi khác trong vùng Đông Nam Á, nhất là nơi các dân cư miền núi.
            Ở đây tôi sẽ chỉ đề cập một cách vắn tắt đến những sự sống sót ấy và đan cử một vài tỷ dụ trong số nhiều tỷ dụ khác, như là những nhà sàn theo kiểu Đông Sơn. Chúng ta có thể nói thêm rằng lối kiến trúc đó thích hợp với khí hậu và điều kiện địa phương hơn là nhà cất ngay trên mặt đất.
            Cũng có thể rằng người Mọi, cũng như những giống người khác được gọi là giống Mã Lai (Indonésiens), chẳng hạn dân Dayak ở Bornéo, đã giữ lại, trong tín ngưỡng của họ, những tập tục bắt nguồn từ thời kỳ văn minh Đông Sơn. Có những lễ tôn giáo nay còn được cử hành trong các dân chủng đó nhắc lại những cảnh tượng được ghi chép trên những chiếc trống lớn. Vả lại, vì hiện nay những chiếc trống đó còn được tiếp tục chế tạo, ta không có gì ngạc nhiên nhận thấy ở những vùng lẻ tẻ ngày nay còn có những quan niệm tôn giáo và những ý tưởng liên hệ với những chiếc trống. Chúng ta cũng có thể tự hỏi ngày nay, nhất là ở Bắc Việt, trong những lễ cử hành theo mùa tiết mà quan trọng nhất là lễ Tết mở đầu bằng những tiếng trống, chắc gì không còn lại một số kỷ niệm về thời đại Đông Sơn?

VĂN MINH LẠCH TRƯỜNG
            Bây giờ chúng ta hãy xét đến văn minh Lạch Trường.
            Văn minh này, thuộc thời kỳ từ đầu thế kỷ III trước CN đến cuối thế kỷ III sau CN, đã chịu một cách sâu đậm ảnh hưởng của nền văn minh vật chất và tinh thần của vùng Cận Đông và vùng Đông La Hy. Những căn nguyên chính để nghiên cứu văn minh đó là những phần mộ và nội dung ấy. Bây giờ, chúng ta sẽ xét lối kiến trúc của các mộ phần và phân tích những ý tưởng đã tạo nên những kiến trúc đó. Trong những bài sau chúng ta sẽ dành phần lớn cho nội dung các mộ phần.
            Khi chúng tôi bắt đầu công việc thì ông giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ đã giao phó cho tôi điều khiển công cuộc tìm kiếm cổ mộ trong tỉnh Bắc Ninh, cách ít chục cây số về phía Đông Hànội, nhằm mục đích nghiên cứu một số phần mộ bằng gạch mà lúc bấy giờ, theo ý kiến thông thường, người ta cho là những kiến trúc của người Tàu.
            Trước tiên chúng tôi đã phát lộ ra gần chợ Lim một kiến trúc lớn gồm có không dưới năm phòng, mỗi phòng giống như một tụy đạo (đường hầm). Có những kiến trúc khác giống như thế được phát lộ trong vùng đó. Chúng tôi cũng đã tìm thấy những phần mộ chỉ gồm có một phòng, thường chia làm ba ngăn, bởi những lớp cách vòng cung. Vật liệu đã được dùng và cơ cấu của những kiến trúc đó trông qua có vẻ bí ẩn, và chứng tỏ những sáng kiến mới mẻ hẳn lên, – đến nỗi làm cho ta phải ngạc nhiên, – trong cách kiến trúc mộ phần.
            Mộ phần cổ truyền cho dù ở Tàu hay ở Việt Nam (chẳng hạn ở Đông Sơn) là hoàn toàn làm bằng gỗ, giống một cái thùng lớn hình chữ nhật có mái bằng che lại. Đó là một lối kiến trúc đơn giản, ít hao tốn và đúng theo sự tin tưởng thuộc về hiệu lực của hai nguyên tố âm và dương chi phối lẫn nhau.
            Theo quan niệm ấy, mà phái Đạo học (Taoisme) tha thiết chủ trương, thì trong thiên nhiên có hai nguyên tố hay hai luồng điện phân cực, một cái tích cực (dương) một cái tiêu cực (âm). Muốn cho luồng điện phát hiện thì âm và dương phải gặp nhau, giống như hai bộ phận phân cực trong bình chứa điện. Và nếu không có luồng điện đó thì không có sự hòa hợp trong thiên nhiên, không có hạnh phúc cho người chết, sung sướng cho người sống.
            Nguyên tố dương được gán cho những vật thể như kim loại, gỗ, lửa và ánh sáng; nguyên tố âm, trái lại, được gán cho đất, đồ gốm, nước và sự hắc ám. Như vậy, muốn được kết quả mong muốn thì trong việc kiến trúc mộ phần và nội dung của nó, phải chọn những vật liệu mà một thuộc về tính dương một thuộc về tính âm. Vì đất thuộc âm, nên điều cốt yếu là phải bù lại âm tính của nó bằng một chất có dương tính, và để thực hiện mục tiêu đó thì không có gì hơn là dùng chất mộc, vì chất này được xem là nguyên liệu sản xuất ra lửa và ánh sáng.
            Lấy gạch bằng đất nung thay cho gỗ trong những kiến trúc phần mộ thì người ta dồn dập nhiều nguyên tố âm và như thế không thể gây ra linh khí tốt đẹp mong muốn. Tại sao có sự thay đổi trong cách chôn cất? Có phải lúc bấy giờ người ta đã hết tin chắc vào hiệu quả tốt đẹp của sự chi phối âm dương? Cách chôn cất mới đó có thể xem là bằng chứng của một tâm trạng hững hờ với mối tin tưởng cũ xưa đã ăn sâu vào óc não cho đến thời đó. Có những quan niệm tôn giáo mới đến thay vào, hoặc pha trộn với những quan niệm thời trước. Nguồn gốc của những tư tưởng mới đó chính ở Tây phương.
            Chúng ta có nhiều lý do để tin rằng những cuộc di dân từ Hắc Hải đã đóng một vai trò trong sự kiện đó. Những giáo lý mới, sau khi đã ăn sâu vào các dân chủng miền Tây Nam Trung Hoa, đã dần dần xâm nhập vào Việt Nam, chắc hẳn nhờ sự trung gian của người Thái. Như ta sẽ thấy sau này, chúng ta có những bằng chứng xác thật rằng nhiều phần mộ bằng gạch đó không phải của người Trung Hoa, mà chính của những người địa phương, có lẽ tiền nhân của người Việt Nam.
            Những phần mộ đầu tiên mà chúng tôi đã quật phát ở Bắc Ninh lúc xưa đã được người ta xây ngay trên những ngọn đồi tự nhiên và có vẻ là những cái động nhân tạo. Mà sự này không có gì đáng ngạc nhiên, vì chẳng hạn như ở miền Nam Trung Hoa, tại Szechwan, cũng có những mộ phần được đào sâu vào trong sườn núi. Những mộ phần giống cái động ấy có từ khoảng đời Hán.
            Vả lại, cái mặc tưởng sản xuất ra động nhân tạo đã đóng một vai trò quan trọng trong lối tin tưởng Đạo giáo. Theo sự tin tưởng đó thì có một núi lớn trong ấy có những thiên động, mà vòm trên tượng trưng nền trời, và cái đáy thuộc đất. Cửa bước vào những động đó được xem như là biên giới giữa thế giới vật chất và thế giới vô hình.
            Ý tưởng ấy đã có từ đời Hán, cứ xét nhiều lư hương bằng đất nung chín hoặc bằng đồng đỏ tìm thấy ở Việt Nam hoặc ở Tàu có mang hình núi lớn với những thiên động. Những lư hương ấy có từ lúc người ta khởi sự nhập cảng vào Trung Hoa các thứ gỗ thơm của Việt Nam hay của Ba Tư. Trái núi lớn được xem như là một thiên đàng của Đạo giáo trong đó có những chỗ ngụ của thần tiên. Chắc hẳn là những nhà nghệ thuật đã muốn cho những lò hương đó có một lối trang trí tượng trưng nhắc nhở đến phong vị cực lạc chốn thiên đàng mà mùi hương sẽ gây nên.
            Có hai ý tưởng khác nhau, – cả hai đều gốc ở Tây phương, – dường như bị môn đệ Đạo giáo lầm lẫn ở đây: đó là ý tưởng về trái núi lớn và ý tưởng về thiên động. Muốn tìm một giải thích về điểm đó, thì chúng ta phải rời xa vấn đề của chúng ta chốc lát và đặt mình vào thuở Alexandre le Grand tại xứ Hy Lạp. Chính đó có một núi lớn mà trong cổ đại, được xem là nơi cư trú của thần tiên: núi Olympe.
            Nhưng ngay ở thời Alexandre le Grand, người Hy Lạp đã không còn tin rằng thần tiên – nếu có – ở trên đỉnh núi Olympe, vì không ai trông thấy vết tích thần tiên bao giờ. Bởi thế phải tìm ở nơi khác chỗ thê túc của các vị thần tiên phiêu phỏng đó. Nhưng vì các vị thần tiên liên kết với các hiện tượng vũ trụ, nên họ phải ở một nơi nào cao hơn núi Olympe nữa kia, mà chắc hẳn về phương Đông, nơi mà mỗi buổi sáng khối tinh cầu thiêng liêng xuất hiện.
            Thế mà ở phương Đông có một trái núi to hơn tất cả núi khác, và chưa có con người nào vượt qua đỉnh núi đó được: đó là Hy Mã Lạp Sơn. Phải chăng người Hy Lạp đã hay biết ít nhiều về trái núi đó? Cũng có thể lắm. Dù sao, khi Alxandre đến Taxila, trong vùng Punjab (Ấn Độ), thì từ chỗ ông cắm trại, ông đã có thể trông thấy đỉnh núi Kashmi trắng phau, và người ta có thể ngạc nhiên nếu kẻ môn đệ của Aristatelès lúc bấy giờ không có tham vọng đặt tên mình cho việc phát minh vĩ đại nhất mà một con người có thể làm: chỗ cư trú của thần tiên. Phải chăng Đạo giáo đã thâu nạp cái ý tưởng ấy về trái núi lớn, nơi cư trú của thần tiên?
            Quan niệm về cái động siêu nhiên cũng gốc ở Tây phương và nếu quan niệm ấy đã lan tràn ở miền Tây Trung Hoa và Việt Nam vào thời buổi có cuộc xâm lăng của dân tộc miền Hắc Hải, đó chắc hẳn không phải là một điều ngẫu hợp. Thật thế, cái động đã đóng vai trò quan trọng trong quan niệm bình dân, từ ngàn xưa, ở Tây phương, nơi mà quan niệm ấy được dính liền với ý tưởng về nguồn gốc đời sống. Sự sùng bái hang động được gieo rắc nhất là trong các dân tộc theo thuyết thần bí thường thấy ở Cận Đông, và ở miền Đông Địa Trung Hải. Trong các tôn giáo ấy, có những tôn giáo như đạo thờ thần mặt Trời Miskra của người Ba Tư, trong đó quan niệm cái động chiếm phần quan trọng nhất.
            Vị thần đó đã phát sinh trong một cái động và người ta thờ cúng thần ấy trong những hang tối. Đó là một tôn giáo đã hứa hẹn cho tín đồ một đời sống vĩnh cửu trong cảnh cực lạc. Vì sự sùng bái thần Miskra dành cho người, nó đã gieo rắc khắp vùng thế giới mà người lính thuê Ba Tư được biết lúc bấy giờ. Người ta sẽ ngạc nhiên nếu trong số người xâm lăng từ Hắc Hải đến, lại không có những lính thuê Ba Tư là giống thờ thần Miskra. Thế thì, nếu trong những phần mộ đầu tiên của Tàu thuộc kiểu “động trời” đã được phát lộ một cách bất kỳ vừa mới mấy mươi năm nay, phần nhiều là những khí giới không tồn có ở Tây Trung Hoa, đó không phải là sự ngẫu nhiên. Đó là hiển nhiên những phần mộ của những quân nhân.
            Riêng về Trung Hoa và Việt Nam, không phải là dân chúng đã ồ ạt theo tôn giáo thần bí Miskra. Chỉ vì một số thủ lãnh phong kiến đã theo tôn giáo ấy, nên bọn thần dân phải miễn cưỡng làm theo thế thôi. Mặt khác, những quan niệm tôn giáo mới đó đã dần dần tiêm nhiễm vào Đạo giáo, chẳng khác gì đạo Miskra đã tiêm nhiễm vào Thiên Chúa giáo trong khoảng thế kỷ III và IV sau CN. Ta cũng nên nhớ rằng những thế kỷ đầu của kỷ nguyên là thời thịnh nhất của tình trạng hỗn hợp, trong đó sự lẫn lộn thần thánh các tôn giáo khác nhau được xem hầu như là một điều hay.
            Mặc dầu, về mặt văn hóa có những sự kiện song hành giữa Tàu và Việt Nam, ta không nên kết luận rằng luôn luôn và tất nhiên, vai anh là vai đã cung cấp. Đôi khi, nó đã đóng vai trung gian và – như tôi sẽ chứng minh sau này – đôi khi chính Việt Nam đã đóng vai trung gian đó giữa Cận Đông và Trung Hoa. Khi nói đến quan niệm tôn giáo thì thường những ảnh hưởng đều bắt nguồn ở Cận Đông và Đông ngạn Địa Trung Hải. Chúng ta có những bằng chứng của sự kiện đó trong sự kiểm điểm nội dung của những phần mộ thuộc kiểu “động trời”, mà chúng ta sẽ nói tiếp trong những bài sau.
            Trong khi trình bày những sự kiện về cổ học, chúng ta không thể cố trì mãi trong những giới hạn địa lý. Phải nhận định các vấn đề trong một viễn ảnh bao quát và tư tưởng bằng những danh từ rộng lớn của đại dương và đại lục. Nếu biết phối hợp sự gắng sức của chúng ta, chúng ta có thể hy vọng đi sâu và thám hiểm được khoảng bên trong của trí óc con người.

VĂN MINH ỐC EO
            Bây giờ ta hãy sang giai đoạn thứ ba của văn minh Việt Nam, là văn minh Ốc Eo. Chắc hẳn là chính trong kỹ nghệ của văn minh này mà ta phải tìm những nguyên mẫu của biết bao nhiêu cổ vật đã tìm thấy trong các ngôi mộ kiểu động trời.
            Ốc Eo ở vào vùng Tranbassac, không xa Saigon, xưa kia là một thị trấn mà tàn tích đã tìm được vào lúc chấm dứt trận thế giới chiến tranh vừa rồi. Thành phố xưa chắc hẳn đã có một tính cách tạp hợp và đã gồm có hai giống dân cư chính là người Ấn Độ và người Ấn-Scythes. Một tổ chức cộng đồng dường như đã được thiết lập ở đây vào thế kỷ I hay II của kỷ nguyên. Nó đã bị hủy diệt vào khoảng 500 sau CN. Thành phố rộng 240 mẫu tây chắc hẳn được thành lập nhờ sự mở con đường hàng hải tại vùng Á châu chịu ảnh hưởng gió mùa, vào đầu kỷ nguyên. Con đường này đi từ vịnh Ba Tư đến Ấn Độ và từ đó tiếp tục đến bán đảo Đông Dương.
            Trong số những dân cư Ốc Eo, theo ông Malleret, không những đã có dân Ấn Độ và dân Ấn-Scythes, mà còn có những người làm thợ đã từ xa hơn đến và quen thuộc với nghệ thuật vùng Đông La Hy. Thành phố đã có những liên lạc thương mãi trực tiếp hay gián tiếp với vùng Cận Đông và có lẽ ngay cả với đế quốc La Mã. Thật thế, công việc quật phát ở Ốc Eo đã phát lộ ra, ngoài những món khác, những hàng ngàn hột để xâu chuỗi của La Mã hay giả đồ La Mã, hai cái mề-đay vàng La Mã, mà một trong số đó đã được tạo trong đời vua Antonin, ông vua mộ đạo (Antonin le Pieux), còn cái kia vào đời vua Marc-Aurèle, đã trị vì trong thế kỷ II của kỷ nguyên. Người ta đã tìm thấy hàng trăm viên ngọc chạm trổ mà một số đã được làm tại Cận Đông. Theo sử ký của Trung Hoa thì có những triệu chứng cho ta tin rằng chung quanh Saigon có những thị trấn khác như Ốc Eo còn chờ đợi cuộc quật phát của nhà khảo cổ.
            Không kể có thể nguy hại về sức khỏe và cả sinh mạng nữa, ông Malleret và một vài cộng tác viên người Việt Nam đã ở nhiều tháng tại Ốc Eo sau trận chiến tranh, để thực hiện những cuộc quật phát có phương pháp. Chính nhờ công khó đó, và chúng tôi xin tỏ lòng cảm phục ở đây, mà chúng ta ngày nay biết được một trong những cuộc phát lộ đáng chú ý nhất ở Việt Nam, mà tính cách quan trọng còn vượt khỏi biên giới của vùng Đông Nam Á nữa. Những ai quan tâm đến những kết quả những cuộc quật phát mà tôi vừa nói đó có thể tìm thấy những chi tiết đầy đủ trong những bản phúc trình do ông Malleret mới xuất bản ở Paris.
            Trước khi chấm dứt, chúng tôi lại xin kể một sự kiện thuộc về Khảo cổ học ít ai hay biết và đáng được nêu lên về nền văn minh Ốc Eo. Cách đây đã nhiều năm, một nhà sưu tập cổ vật người Pháp có mua được một tượng đồng tìm thấy ở Trà Vinh, phía Nam Saigon. Cái tượng ấy đã đem tặng cho Bào tàng viện Guimet ở Paris. Cho đến năm ngoái, cái tượng đó đã được trình bày trong gian phòng Khmer với nhan đề: “Người múa nhảy khỏa thân Khmer, thế kỷ X”.
            Thế nhưng mới đây, giáo sư Charles Picard ở Paris nhận thấy rằng thật ra đó là một công trình nghệ thuật Hy Lạp về thế kỷ I của kỷ nguyên và đã xuất cảng đến xứ này vào thuở đó. Còn bức tượng tôi đưa ra xem đây được nhận là vị thần Hy Lạp Poseidon (tức là thần Neptune của người La Mã), thần phù hộ cho người thủy thủ. Trong tay mặt, ông nắm cái chĩa ba mà mọi người đều biết.


***

            Bây giờ ta hãy tóm tắt những điều nhận xét của chúng ta.
            Như ta đã thấy, nền văn minh Việt Nam mang cái đặc tính tân kỳ của nó nhưng đã phát triển vì những ảnh hưởng khác nhau. Không có ý rút lại tối thiểu cái phần đóng góp của Trung Hoa, chúng ta cần nhắc lại rằng nhiều điểm tương đồng về mặt văn hóa giữa Việt Nam và nước Bắc-cận có khi có thể giải thích là vì cả hai dân tộc đã cùng múc vào một nguồn chung, mà nguồn ấy phải tìm thấy ở nơi xa, tại Ấn Độ và vùng Đông La Hy. Những cuộc chuyển di dân Tocharéens hay Hắc Hải và con đường hàng hải của vùng Á châu có gió mùa đã đóng một vai trò trong đó. Đôi khi cái trào lưu truyền hóa đã chảy từ Bắc xuống Nam, nhưng cũng lắm lần nó đã chảy từ Nam lên Bắc.
            Chính trong hoàn cảnh đó mà tại đất Việt Nam một cái di sản quốc gia vĩ đại đã được tạo thành. Để làm cho người ta được biết nó hơn, quý giá nó hơn, để làm cho rạng rỡ thêm khoa khảo cổ, một viên ngọc quý trong vòng các môn khoa học của loài người, thì còn nhiều công việc phải làm. Con đường phải noi theo đã được vạch ra nhờ sự tìm kiếm nhẫn nại và có nhiều kết quả đã thực hiện nơi đây từ hơn năm mươi năm dưới sự bảo trợ của những vị thần thủ hộ chiếm cứ hai vùng phân cực của chúng ta: Đông phương và Tây phương.


O.R.T. JANSÉ
CAO HỮU HOÀNH dịch
________________________________________
Bài này là diễn văn của giáo sư Olov Jansé đọc tại Giảng đường Viện Đại học Huế vào kỳ đầu năm năm 1959. Ông Jansé gốc người Thụy Điển, là một nhà khảo cổ học trứ danh trên hoàn cầu. Khi còn trẻ tuổi ông đã du học ở Pháp, sau khi tốt nghiệp Viện Đại học Paris, ông được văn bằng tiến sĩ tại Viện Đại học Upsala, rồi được tiếp tục bổ nhậm phó quản lý của Viện Bảo tàng St. Germain, giáo sư tại Học viện Louvre và giáo sư tại l’école Pratique des Hautes Etudes của Viện Đại học Paris. Năm 1934, ông được Viện Đại học Harvard và Học viện Viễn Đông Bác Cổ viện trợ, đứng đầu một phái đoàn khảo cổ sang Việt Nam, ở lại 5 năm để điều tra các cổ tích và đào nhiều nơi cổ mộ. Trong thời gian đó, ông đã phát kiến nhiều cổ vật rất có giá trị, và đã xuất bản một bộ sách để tường thuật những thành tựu rực rỡ của ông. Năm 1939, ông từ biệt Việt Nam sang Phi Luật Tân, rồi từ năm 1943, giữ chức giáo sư khảo cổ học tại Viện Đại học Harvard và làm cố vấn cho Quốc vụ Viện Mỹ quốc. Năm ngoái, ông nhận lời mời của Viện Đại học Saigon và Viện Khảo cổ sang viếng Việt Nam và giảng học nửa năm tại Viện Đại học Saigon.



« Sửa lần cuối: 01/01/2017, 22:33:58 gửi bởi nduytai »
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #63 vào: 08/01/2017, 13:21:29 »
ĐẠI-HỌC
NĂM THỨ BA  |  VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ

Số 13 tháng 1 năm 1960  |  XÂY DỰNG NỀN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Số 14 tháng 3 năm 1960  |  ALBERT CAMUS
Số 15 tháng 5 năm 1960  |  TRỞ VỀ NGUỒN * TƯ TƯỞNG ĐÔNG PHƯƠNG
Số 16 tháng 7 năm 1960  |  BẠO ĐỘNG VÀ NHÂN BẢN
Số 17 tháng 9 năm 1960  |  NGƯỜI THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY
Số 18 tháng 11 năm 1960  |  TRÀO LƯU HIỆN SINH



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #64 vào: 08/01/2017, 13:28:59 »
ĐẠI-HỌC
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ
_______________________________________________________

ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

            Với số này, Tạp chí Đại-Học bước vào năm thứ ba. Nhân dịp kỷ niệm đệ nhị chu niên, chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn độc giả vấn đề xây dựng nền Đại học Quốc gia. Từ ngày chúng ta lấy lại chủ quyền trên đất nước, chúng ta trách nhiệm xây dựng Quốc gia trong mọi ngành. Nhưng cũng phải nhận rằng trong nhiều ngành chúng ta mới chỉ tiếp tục đảm nhiệm những công cuộc đã bắt đầu từ trước, và tìm cách vá víu, sửa chữa theo những thay đổi và đòi hỏi của hoàn cảnh mới. Nhận xét đó áp dụng cho cả ngành giáo dục. Chúng tôi thiết nghĩ rằng muốn xây dựng hiệu nghiệm nền Đại học, cần phải “đặt lại”, suy nghĩ vấn đề từ nền tảng, chứ không thể bằng lòng với cái đang có được sửa chữa, vá víu vụn vặt. Sở dĩ những cuộc tranh luận như về chuyên ngữ, tuyển mộ giáo sư, tổ chức nhà trường, tương lai sinh viên không đi đến đâu, không ai chịu ai, là vì người ta không đặt những vấn đề nền tảng trước khi đi vào tổ chức. Cứ thảo luận về tổ chức mà không trình bày cơ sở lý thuyết, làm cho vấn đề tối tăm thêm và đành lòng ở trong tình trạng hỗn độn, mâu thuẫn, trái lại, trình bày cơ sở lý thuyết trước, rồi thảo luận tổ chức sau, vấn đề sẽ sáng tỏ và tổ chức mới hiệu nghiệm.
            Chúng tôi cho rằng, muốn xây dựng nền Đại học Quốc gia Việt Nam trước hết chúng ta cần phải giải quyết vấn đề đường lối. Thế nào là một nền Đại học Quốc gia? Nó đảm nhiệm một vai trò gì? Trong giai đoạn phôi thai hiện nay, phải quan niệm thế nào những bước đầu xây dựng?
            Chúng tôi cũng nhận định rằng đó là một vấn đề quan trọng, liên hệ rất nhiều đến tương lai của đất nước, cho nên không thể có một giải pháp tức khắc được. Nói rõ hơn, không phải chỉ một buổi họp, hay một hội nghị vài hôm là có thể “thanh toán xong vấn đề” cải tổ được “nền Đại học” nói riêng cũng như “vấn đề học chính” nói chung.
            Do đó, cần phải gây thảo luận trong tinh thần trách nhiệm và xây dựng ích lợi chung trong dư luận và nhất là cần phải đi tới chỗ thành lập một Ủy ban nghiên cứu cải cách thường xuyên có nhiệm vụ tìm hiểu thực tại đồng thời đề nghị một kế hoạch cải tổ. Hơn nữa dù có chương trình đi nữa cũng không phải là đem áp dụng triệt để và một cách vội vã. Trái lại cải cách phải được thí nghiệm trước; nếu thực sự đem lại những kết quả mong muốn; lúc đó mới có thể áp dụng cho toàn quốc được.
            Như thế, đã hẳn là chúng tôi cũng không muốn “thanh toán xong vấn đề”, nhưng chỉ nhằm gây dư luận, đưa ra vài ý kiến để mở rộng đường thảo luận.
            Với ý định khiêm tốn đó, trong số này, chúng tôi mới chỉ góp nhặt những ý kiến của một vài người hiện đang có trách nhiệm trong Đại học, và sau cùng đưa ra một phác họa về một quan điểm xây dựng theo như chúng tôi nghĩ. Chúng ta mong rằng tất cả những ý kiến đó chỉ là khởi điểm một cuộc thảo luận sâu rộng và đứng đắn sau này, mà chúng tôi hy vọng sẽ được hân hạnh đóng góp một phần nhỏ vào đó.


ĐẠI-HỌC



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #65 vào: 15/01/2017, 06:41:09 »
Đại học | Số 13 [tháng 1/1960 | 152 trang]
                                    XÂY DỰNG NỀN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

MỤC LỤC
ĐẠI-HỌC |  ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN ĐẠI HỌC QUỐC GIA |  3
ĐẠI-HỌC |  VÀI Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI HỌC |  6
ĐẠI-HỌC |  Ý KIẾN CỦA TẠP CHÍ ĐẠI HỌC |  34
NGUYỄN VĂN TRUNG |  TÀI LIỆU |  43
LÊ TÀI TRIỂN |  BẢN TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN DƯỚI DIỆN MỤC PHÁP LÝ |  84
NGUYỄN VĂN TRUNG |  CÁI NHÌN HAY ĐÁM CƯỚI VỚI CUỘC ĐỜI |  92
OLOV JANSÉ |  NGUỒN GỐC VĂN MINH VIỆT NAM (tiếp theo) |  116
TRẦN KINH HÒA |  AN NAM CHÍ LƯỢC |  127
ĐẠI-HỌC |  ĐỜI SỐNG VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ |  147
__________________________________________________________________

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #66 vào: 15/01/2017, 06:48:11 »
CÁI NHÌN HAY ĐÁM CƯỚI VỚI CUỘC ĐỜI

            Tôi muốn ví cái việc ta bước vào đời như một đám cưới của hai người, vì tôi nghĩ rằng chỉ chữ Đám cưới mới diễn đạt được phần nào mối liên hệ mật thiết gắn bó ta với cuộc đời và người khác. Không thể quan niệm cuộc sống, nếu không phải là sống với…, sống bên… Sống là sống-ở-đời-với-người-khác. Các nhà hiện-tượng-luận ngày nay thường để một dấu ngang nối tiếp cả câu định nghĩa để nhấn mạnh vào tính cách thiết yếu ở đời và với người khác của con người.(1)
            Cái nhìn chính là linh hồn của đám cưới đó. Qua cái nhìn, ta ý thức được tha nhân, sự vật và do đó ta biết được ta sống giữa sự vật và với người khác.
            Nhưng như trong trăm nghìn đám cưới giữa hai người, tình thắm thiết buổi tân hôn dần dần cũng lắng xuống với thời gian, đôi khi chỉ còn là một thói quen, sự gặp gỡ giữa ta với cuộc đời, khi đã trở thành một sự kiện thường xuyên, cũng mất dần vẻ kinh ngạc, bỡ ngỡ, vồ vập lúc ban đầu. Chúng ta đều đã là những đứa trẻ giật áo mẹ, nắm tay bố để tra hỏi một cách nhiệt thành vội vã về cảnh đời xuất hiện trước mặt: cái gì đấy hở mẹ! sao lại thế nhỉ?... Trước cái nhìn bỡ ngỡ, đầy thắc mắc của đứa trẻ, mọi sự đều có vẻ lạ lùng, mới mẻ, nó có thể nhìn mãi những chiếc ôtô chạy qua nhà hay ngắm không chán mắt con mèo lẩn quẩn trong gầm giường. Mỗi lần nghe thấy tiếng động cơ, lại háo hức chạy ra xem, như thể là lần đầu tiên được nhìn thấy ôtô vậy…
            Tuổi trẻ qua đi – Tất cả những cái ôtô, con mèo, sự vật chung quanh đều thường quá rồi, nhìn làm gì mãi. Chỉ cần trông thoáng qua, cũng biết đó là con mèo, cái ôtô và cũng chẳng muốn nhìn nữa, vì còn nhìn làm gì một khi đã biết rõ đó chỉ là cái ôtô với tất cả những hình ảnh đã quá quen thuộc. Người lớn không ai mất giờ và còn bị coi là ngớ ngẩn (chính mình cũng đồng ý như thế) nếu ngồi hàng giờ chơi với con mèo, hay đang đi đường dừng lại chăm chú ngắm cột đèn, bóng điện như trẻ nhỏ.
            Sự chung sống lâu ngày trở thành một thói quen, và thói quen coi thường, đôi khi còn đưa đến những đụng chạm làm khó chịu.
            Nhưng như Hôn nhân ràng buộc suốt đời hai người, ta cũng không bao giờ hủy được giá thú đám cưới giữa ta với cuộc đời.
            Vậy dù muốn hay không, còn thích hay không thích, cũng vẫn phải chung sống. Nhưng chính vì không thể không chung sống, mà sự bó buộc chung sống trở nên một thứ địa ngục. Địa ngục không phải chỉ tại ghét nhau, nhưng ở chỗ không thể không nhìn thấy nhau để mà phải ghét nhau. Nhưng cái nhìn có thể đưa đến hạnh phúc hay địa ngục. Vậy ý nghĩa cái nhìn nhìn trong Đám cưới giữa ta với cuộc đời là gì?

NHÌN VÀ THẤY
            Trước hết phải phân biệt Nhìn và Thấy. Thấy là trông thoáng qua mà không để ý tới. Tôi thấy chiếc xe ôtô vừa chạy qua, tôi thấy cái nhà trước mặt.
            Trong cái thấy ta lãnh hội sự vật một cách thụ động, nó như “đập vào mắt người ta” làm sao mà không thấy dù không muốn thấy. Vì tôi đi ngoài đường gặp chiếc xe, nên dù tôi không muốn thấy thì cũng đã thấy mất rồi. Nhưng bởi vì thấy mà không cố ý và chú ý thấy nên sự vật cũng chỉ lướt qua trong trí ta như thể cái bóng của chiếc xe thoáng in trên mặt đường rồi biến mất.
            Trái lại, Nhìn là cố ý và chú ý thấy. Cố ý là biết và muốn thấy và vì muốn thấy nên chú ý nhìn. Ví dụ: chúng ta hãy để ý quan sát một người đang bước vội vã trong đám đông ở hội chợ, mắt liếc nhìn tứ phía. Chắc chắn người đó muốn tìm ai rồi. Người đó len lỏi trong đám đông, đi qua những gian hàng những trò vui chơi vui nhộn mọi người đứng xúm lại để nhìn thưởng thức, mà chỉ trông thoáng qua không thèm để ý tới. Trong lúc ấy tất cả những cái đó không có nghĩa lý gì vì không liên quan tới điều người đó đang tìm. Một lúc sau, giả thử trông thấy người muốn tìm, người đó đứng lại, và mọi sự chú ý đều đổ vào người đã tìm thấy.
            Như thế, nhìn là ngắm nhìn, vì trong cái nhìn, ta đã tập trung tư tưởng giác quan toàn thân vào vật ta nhìn và hình như quên mọi sự khác. Ta đã đánh dấu ngoặc, tạm gác lại cuộc đời bên ngoài, hình như chúng không có, mà chỉ còn vật ta nhìn là có hay hiện hữu thôi “chỉ còn ta với mình”.
            Nhưng tại sao có cái nhìn, tại sao cố ý và chú ý thấy? Vì vật ta nhìn xuất hiện như một vật đáng nhìn. Cái đáng nhìn là một vẻ đẹp, một giá trị hay là cái đặc biệt, độc nhất, là-lạ. Trong đám đông, tôi thấy ai cũng như ai; nhưng nếu có một người ăn mặc khác thường, làm cho tôi phải chú ý, tôi nhìn ngắm người đó. Lữ khách dừng chân trước một phong cảnh hữu tình, khán giả mộ thể thao trong một trận đấu sôi nổi, người si tình trước bóng giai nhân đều nhìn. Tùy theo mức độ của vẻ đẹp, giá trị hay sự ích lợi mà cái nhìn biến thiên từ cái nhìn chăm chú mải miết đến cái nhìn say sưa, mê man. Đặc biệt trong cái nhìn say sưa. Người nhìn vừa tạm gác cuộc đời bên ngoài vừa như hòa tan vào vật, người mình nhìn. Như thế, nhìn cũng là một suy tôn một cách thăng cấp (promotion) cho vật, người mình nhìn; chỉ có cái đó, người đó… là đáng kể. Cái nhìn say sưa làm nổi bật lên người, vật được nhìn đồng thời đẩy lùi mọi sự khác xuống thành tấm phông chỉ còn như một thứ trang điểm nhằm mục đích gia tăng vẻ đặc biệt, quý giá đáng nhìn của nhân, vật tài tử.
            Đã hẳn nhìn là suy tôn, thăng cấp vì điều mình nhìn đáng nhìn, tuy nhiên cũng phải nhận rằng sở dĩ có được cái nhìn suy tôn là vì người nhìn như đã hướng về vẻ đẹp, giá trị. Con người là một ý hướng về Chân, Thiện, Mỹ. Không bao giờ ta có thể yêu, nếu lòng ta như không sẵn sàng… chờ đợi… để yêu; cũng như không bao giờ ta tìm thấy nếu ta không muốn đi tìm. Do đó con người thiết yếu hướng về cuộc đời và cái nhìn là trung gian, bà mối cho đám cưới giữa ta với cuộc đời, nghĩa là thực hiện ý tưởng kết hợp của ta với những giá trị nơi cuộc đời và tha nhân. Đám cưới đưa đến hạnh phúc cũng như cái nhìn là một hưởng thụ.
            Nhưng trở về đời sống hàng ngày, mấy khi ta có được cái nhìn làm cho ta sung sướng, hạnh phúc. Có thể có người cả đời không bao giờ biết đến nó. Phần lớn ngày tháng của cuộc đời ta chỉ thấy thôi hay có nhìn, thì cũng chỉ là cái nhìn chăm chú. Đấy là chưa kể những cái thấy, cái nhìn quấy rầy ta, làm cho ta bận tâm và đôi khi khổ cực.
            Tại sao vậy?

I. NHÌN VÀ VẬT GIỚI
            Con người sống ở đời trước hết là sống giữa cảnh thiên nhiên và bên những đồ dùng hàng ngày. Ta gọi là nhiên giới vì cảnh vật thiên nhiên chưa bị bàn tay người can thiệp biến đổi; và vật giới để chỉ thị thế giới thiên nhiên đã bị biến đổi thành dụng cụ đồ dùng. Đồ dùng cũng gọi là sự vật văn hóa (objet culturel) vì những vật dụng được cấu tạo thế nào là tùy theo trình độ văn hóa, nghĩa là trình độ nhận thức và kỹ thuật về sự vật của mỗi thời đại, mỗi nền văn minh.
            Tất cả những đồ vật phối hợp với cảnh vật thiên nhiên chung quanh chúng ta tạo thành một khung khổ quen thuộc. Đây là sông núi, đất nước vùng tôi, đây là thành phố, khu xóm tôi ở, và đây là nhà tôi với trăm nghìn đồ đạc quen thuộc: cái bàn viết kê ở chỗ này, bức tranh tàu treo ở chỗ kia, cái máy chữ để ở đây. Mọi sự đối với tôi đều rất quen thuộc vì tôi trông thấy hàng ngày và không biết là bao nhiêu lần rồi. Cho nên chỉ cần trông thoáng qua, tôi cũng dễ dàng nhận ngay được đây là cái cây trước nhà, con đường tắt ra phố, thùng giấy vụn ở xó nhà… Sự quen thuộc đến nỗi đôi khi tôi không cần trông nữa mà cũng có thể biết chúng ở đâu, như thế nào.
            Vậy đã hẳn chúng không còn có gì làm cho tôi phải bỡ ngỡ ngạc nhiên để trố mắt nhìn chăm chú như thể lần đầu tiên mới thấy. Đây là cái bàn. Đây là cái chổi… Rồi đàng xa kia, chiếc cầu hàng ngày tôi qua lại… Biết rõ quá! Thật là hiển nhiên chả còn gì đáng nhìn nữa.
            Sở dĩ như vậy, là vì khi tôi trông thấy cái bàn, hay bất cứ vật gì quen thuộc, tôi đều có một biểu tượng (représentation) đầy đủ về nó. Đó là cái bàn ở chỗ ấy, có hình thù kích thước như thế, sơn màu này… với tất cả chi tiết đặc điểm của nó. Tôi còn có thể biết rõ cả lịch sử của nó. Tôi đã mua nó ở đâu và xem người ta đóng nó thế nào… Rồi sau cùng, dĩ nhiên là cái bàn đó để viết.
            Do đó sự hiểu biết của tôi về cái bàn thật là đầy đủ, hoàn tất; không còn gì phải biết thêm nữa. Chính vì thế mà tôi không cần để ý đến nó nữa, tôi chỉ thoáng trông là biết nó ngay; cho nên với tất cả những đồ đạc quen thuộc trong khung cảnh đời sống hàng ngày của tôi, tôi chỉ thấy, mà không nhìn.
            Đám cưới giữa tôi và cuộc đời đã quá lâu rồi; chúng tôi đã quen biết nhau nhiều lắm, không còn gì đáng chú ý để nhìn ngắm nhau nữa.
            Cuộc sống hàng ngày của mỗi người thường là thế cả. Thế giới chung quanh chỉ là còn những đồ dùng hữu ích để ta xử dụng. Nhưng cũng phải nhận rằng nếu cuộc đời chỉ là một thói quen giao thiệp cũ kỹ, chúng ta sẽ ít hứng thú sống. Đời sống đôi khi đòi hỏi cái mới lạ; Cần phải nhìn lại cuộc đời, khám phá lại bộ mặt mới mẻ của nó như thể lần đầu tiên ta gặp, hay khi mới cưới.
            Ta không thể ngờ được rằng chính cảm tưởng ta cho rằng đã hiểu trọn vẹn hoàn tất về sự vật lại che đậy không còn cho ta nhìn thấy sự vật nữa. Muốn nhìn lại cuộc đời, phải thoát khỏi óc nô lệ vào thói quen thực tiễn, phải tạm gác lại những ý nghĩa thông thường ta đã gán cho sự vật: cái bàn chỉ để viết, quả táo chỉ để ăn.
            Lúc đó sự vật sẽ xuất hiện trước cái nhìn đã rũ sạch mọi thiên kiến như một vật mới mẻ đầy huyền bí, mà chưa bao giờ ta thấy. Sở dĩ ta lãnh đạm, coi thường sự vật chung quanh ta là vì ta đã chỉ có một thái độ trước sự vật là thái độ vị lợi, và do đó chỉ nhìn thấy khía cạnh hữu ích của sự vật, đồ dùng – Cái cây phải là cái cây ở trước nhà, bên cạnh bể nước, che bóng râm cho cái sân, hòn sỏi dĩ nhiên là hòn sỏi để lát những con đường viền vườn hoa; cái nhà phải là nhà để ở v.v… Nhưng đã rõ chỉ là một quan điểm của ta về sự vật. Tự đó, cái cây không thiết yếu phải ở bên cạnh cái bể, để che bóng râm, hòn sỏi không phải để rải vườn hoa, và cái nhà bó buộc để ở.
            Cái nhà trước mắt một họa sĩ, hòn sỏi trước ống kính của nhà địa chất học và cái cây trước mắt nhà thực vật học có thể mặc những ý nghĩa khác.
            Do đó, cái nhìn thông thường của đời sống thực tế hàng ngày rất thiển cận, chật hẹp vì chỉ biết nhìn cái công dụng của sự vật, hơn nữa công dụng tự mình gán cho nó. Đàng khác cái nhìn thông thường cũng có vẻ độc tài vì đã bắt sự vật hoàn toàn lệ thuộc vào người và chỉ mặc một ý nghĩa nhất định.
            Nghệ thuật đến phá vỡ cái nhìn vị lợi, gán cho sự vật một ý nghĩa khác, hay xa hơn nữa, trả lại cho nó cái vẻ nguyên thủy sơ khai trước khi nhận cưới với con người.
            Nghệ sĩ chính là người biết bỡ ngỡ, ngạc nhiên trước những sự thuộc không đáng nhìn như thế lần đầu tiên được trông thấy nó. Họa sĩ, thi sĩ, nhà triết học, đôi khi có những giây phút đặc ân của cuộc sống được nhìn ngắm sự vật mặc khải trong cái vẻ kinh dị, huyền bí, đặc biệt chưa từng thấy của nó.
            “Cái nhà kia, nếu tôi chăm chú nhìn nó mà đừng có một ý kiến nào sẽ hiện lên với một cái vẻ vĩnh cửu và như thoát ra một cái gì kinh hoàng”.
            “La maison, si je la considère attentivement et sans ucune pensée a l’air d’éternité et il émane d’elle une sorte de stupeur” Merleau Ponty. Trong tập nhật ký của mình, văn hào hiện đại Julien Green có thuật lại cái nhìn đã làm sống lại những sự vật quen thuộc một khi ta biết khoát những công lệ của tập quán.
            “Bao giờ ta cũng lạ khi ta nhìn chăm chú và lâu dài những đồ vật mà ta trông thấy hàng ngày và không cần để ý tới nữa. Bỗng nhiên mắt tôi dừng lại ở cái sọt giấy và lạ chưa bây giờ nó mới như . Tôi đã không để ý đến cái vẻ mềm mại những chiếc lạc mà một vài chiếc được ánh sáng rọi vào đặc biệt, trở thành những màu vàng óng như mật ong và ba cái vòng đai cột cái sọt lấp lánh như ngà voi. Phút chốc tôi chỉ còn thấy có nó trong phòng và do đó nó trở thành một cái gì quan trọng vô cùng… Một cách âm thầm lặng lẽ, từ hai mươi năm nay, cái sọt vẫn chờ đợi giây phút được tôi bất chợt chăm chú nhìn ngắm nó như lúc này…”(2)
            Sartre là một văn sĩ triết lý đã có những cái nhìn rất đặc biệt và sâu xa về sự vật. Thí dụ anh chàng Roquentin trong cuốn la Nausée đã chăm chú nhìn cái rễ cây ở một công viên, chàng không muốn để ý đến những ý nghĩa thông thường người ta vẫn gán cho cái rễ, như cái rễ là cái vòi để hút nước, chất bổ nuôi cây: không; cái công dụng của nó không cắt nghĩa được gì cả. Cái rễ kia, với màu sắc này, như đứng lù lù ra đấy, vượt khỏi mọi lời cắt nghĩa – nó thật là thừa. Đó là sự khám phá tính cách vô thường của sự vật mà Sartre gọi là: “la facticité de l’être”.
            Trong hội họa và thi ca, tôi thấy tác phẩm của Cézanne và Francis Ponge biểu lộ rất rõ rệt những phần tách ở trên về cái nhìn. Người ta thường phê bình tranh của Cézanne không hợp với những biểu tượng của tri giác thông thường, không sát thực?
            Nhưng đó chính lại là dụng ý của Cézanne. Thế nào là vẽ thực, vẽ sai? Căn cứ vào tiêu chuẩn gì để phê bình? Nếu vẽ thực là biết mô phỏng đúng sự vật thì chẳng qua đó chỉ là căn cứ vào tri giác thông thường. Nhưng như trên đã nói, tri giác thông thường chỉ là một lối nhìn, một quan điểm về sự vật, mà không bao quát muôn ngàn lối nhìn, quan điểm khác; vậy không có quan điểm nào phản ảnh toàn thể sự thực và do đó không có tiêu chuẩn nào là tiêu chuẩn của sự thực cả.
            Nếu vẽ chỉ là bắt chước thực tại như ta thường thấy, thì vẽ làm gì như Th. Rousseau đã kêu lên: anh vẽ cây sồi này làm gì vì nó đang ở trước mặt anh. Pascal cũng phàn nàn: “Hội họa thật là hão huyền biết bao, vì nó làm cho người ta thán phục cái giống sự vật mà không cảm phục chính sự vật ấy”.
            Do đó Cézanne đã không muốn vẽ theo sự thực thông thường vì chép lại sự thực là làm một việc vô ích; nhưng cũng không muốn vẽ theo phái ấn tượng nghĩa là cốt ghi lại tất cả những cảm giác khi ta nhìn một vật gì. Ví dụ: vẽ một cái chợ, phải vẽ thế nào để gợi lên nơi người đọc những âm thanh ồn ào của chợ. Đó là một cảm xúc thông thường có khi ta vào chợ. Cézanne muốn vẽ sự vật như tự nó có một bản ngã riêng biệt trước khi trở thành đồ dùng quen thuộc hữu ích của con người. Thế giới của Cézanne là một thế giới trước khi có sự tiếp xúc gặp gỡ giữa người và sự vật, một thế giới còn xa lạ, kinh dị, kỳ quặc trước cái nhìn bỡ ngỡ của con người, vì sự vật chưa mặc những ý nghĩa người gán cho hay chưa bị đặt vào những tương quan với những đồ vật khác để tạo thành một khung cảnh quen thuộc nghĩa lý cho con người.
            Chúng ta sống trong một khung cảnh những đồ đạc quen thuộc do ta tạo nên, đó là những đồ dùng, nhà cửa, phố xá, thành thị và thường thường bao giờ ta cũng chỉ nhìn những sự vật đó qua những ý nghĩa sẵn có và do đó ta cứ tưởng rằng tất nhiên chúng phải có như ta tưởng và không thể thay đổi gì được. Cái bút chì dùng để viết, chứ còn để làm gì khác nữa?
            Tranh của Cézanne đóng dấu ngoặc những thói quen đó và bày tỏ cái vẻ phi-nhân (non humain) của sự vật trước khi con người đến. Do đó những nhân vật của Cézanne có một vẻ kinh dị như là do một giống người ở một thế giới khác nhìn thấy. Những khuôn mặt không biểu lộ gì, im lặng và bí mật như những trái cây, phong cảnh thiếu gió, nước hồ Annecy ngưng đọng, những đồ vật như cứng đặc, ngượng ngịu; lạ lùng… Đó là một thế giới xa lạ hầu như còn hoang dại, thiếu hẳn sự quen thuộc, thân mật của những tương giao thường nhật. Merleau Ponty trong bài giới thiệu Cézanne đã ghi cảm tưởng của khán giả, đi nhìn tranh của những người khác sau khi đã ngắm tranh của Cézanne cũng tựa cảm tưởng của những người đưa tang sau đám tang được nói chuyện lại thấy nhẹ hẳn người như vừa thoát khỏi một cái gì nặng nề, lặng lẽ.(3) Hay cũng như ta đang đi trong một nơi hoang vu, vắng vẻ, xa lạ trở lại khung cảnh quen thuộc, ta cảm thấy hân hoan mừng rỡ “À cảnh nhà đây rồi”…
            Cũng vì muốn nhìn sự vật một cách chăm chú đầy bỡ ngỡ ngạc nhiên như trước mình, chưa ai nhìn thấy bao giờ, mà người nghệ sĩ thường bị coi là gàn, loạn trí điên rồ. Điên vì nhìn khác đời. Nhưng nếu mỗi lối nhìn chỉ biểu lộ một quan điểm, chưa chắc người nhìn khác đời đã hẳn là điên, hay mù quáng mà chính người thường mới là mù quáng.
            Nghệ sĩ dạy ta nhìn những cái ta không biết nhìn vì đã chỉ bằng lòng với cái ý nghĩa thông thường ta gán cho sự vật.
            Những quả táo tầm thường kia mà ta chỉ biết công dụng của nó là để ăn như thể tạo hóa đã dựng nên nó chỉ nhằm một mục đích đó đã mặc những giá trị hội họa mới trước cái nhìn của Cézanne.(4) Rồi những giá trị đó cũng sẽ trở thành quen thuộc cho đến ngày một thiên tài khác lại biết nhìn những quả táo như nhân loại chưa bao giờ nhìn thấy để khám phá ra những ý nghĩa, giá trị mới khác của sự vật phong phú vô tận.
            Trong thi ca, nhà thơ Francis Ponge cũng có một ý định tương tự. Ông muốn nhìn sự vật như thể nó có thế nào thì xuất hiện lên như thế, không phải theo những ý nghĩ, hình ảnh con người gán cho, Nhà thơ cũng như đứa trẻ ngây thơ ngắm vườn hoa, giả đò ra về, rồi lại chạy tới nấp ở một chỗ để nhìn xem hoa lá thế nào khi mình vắng mặt, như thể nó biết xuất hiện khác khi có người nhìn ngắm nó.
            Ta có thể gọi thơ của Ponge cũng như tranh của Cézanne là cái nhìn chứ không phải một cảm xúc vì nghệ sĩ không có ý định rung cảm trước sự vật để ghi lại bằng màu sắc, ngôn ngữ những hình ảnh, tình tự xuất hiện lúc đó. Trước sự vật, nghệ sĩ tự xóa để đi vào chính sự vật, nhìn chăm chú sự vật mặc khải trong cái vẻ đặc biệt của nó khi đã gạt đi mọi tương quan, ý nghĩa thông thường.
            Tập “Le Parti pris des choses” xuất bản năm 1942 bày tỏ chủ ý đứng về phía sự vật mà nhìn của tác giả. Viết đến hòn sỏi, vỏ trai, ốc, rải rắc trên bãi biển, Ponge nói nếu ta biết quên những hình ảnh quen thuộc ràng buộc những sự vật đó vào những ý nghĩa vị lợi của ta, hay vào những tương quan so sánh chúng với sự vật khác, chúng sẽ xuất hiện như những vật xa lạ, như những “đền đài đồ sộ” “énorme monument”. Vỏ ốc đối với con ốc biết đâu chẳng là một tòa nhà to lớn! Sở dĩ chúng ta coi nó bé nhỏ vì đã so sánh nó với những vật khác.
            Nói về nước, Ponge viết “nó lúc nào cũng như đổ vỡ, từ chối mọi khuôn khổ, chỉ muốn nằm bẹp xuống đất như cái xác chết”. Nước không còn là hình ảnh quen thuộc là một khối hợp nhất vì bao giờ nó cũng được chứa đựng. Dưới con mắt của Ponge, nó xuất hiện như một cái gì luôn luôn đang đổ vỡ tan rã, tung tóe khắp nơi.(5)
            Ngay cả về người, Ponge cũng muốn nhìn như sự vật mà ta không còn thể nhận ra là người với những hình ảnh quen thuộc. Ponge tả một huấn luyện viên thể dục đang trình diễn nhào lộn như con khỉ, nhảy nhót, hay như con sâu tròn trùng trục, vì anh ta mập mạp, cốt để không còn phân biệt đầu với mình. Khi nhìn một người, điều ta để ý nhìn trước hết là cái đầu như là một bộ phận quan trọng nhất (vì thế mới gọi là đầu), tách rời khỏi thân bằng một cái cổ… Ponge không gọi là đầu, mặt vì những chữ đó gợi lên những hình ảnh quá quen thuộc (vui, cười, khóc, buồn, nhăn nhó v.v…) hay những tương quan so sánh cũ kỹ (đầu ở trên, chân ở dưới) nhìn người mập mạp như một con sâu, tức là xóa bỏ cao thấp và tính cách quan trọng của cái đầu. Thực ra nếu nhìn chăm chú cái mặt người, sau khi đã tạm gác mọi hình ảnh, kỷ niệm quen thuộc, ta không khỏi kinh ngạc về hình thù kỳ dị của nó gồm những mô gò hay những lỗ hổng sâu thẳm…
            Như thế, cái nhìn của tri giác thông thường chật hẹp vì đã chỉ thấy ở sự vật cái ý nghĩa hữu ích của nó. Và do đó, cảm tưởng của tri giác thông thường vẫn cho mình nắm được sự thực là sai nhầm. Thế nào là lãnh hội được thực tại trong khi cái nhìn của mình chỉ lãnh hội được một phần thực tại. Nói cách khác, nhìn là theo một quan điểm nào đó và bởi vì phải nhìn theo quan điểm, nên cũng chỉ lãnh hội được một vài khía cạnh của thực tại. Do đó, sự vật bao giờ cũng chỉ xuất hiện theo chiều cạnh. Đó là một phân tách quan trọng mà phong trào hiện tượng luận ngày nay đã thu lượm được. Theo Husserl(6) không bao giờ ta lãnh hội được toàn diện sự vật nghĩa là nhìn bao quát sự vật trong mọi quan điểm cùng một lúc, vì bản tính của sự vật là luôn luôn xuất hiện theo chiều, nghĩa là thoát khỏi tham vọng chiếm đoạt của ta. Sự vật vượt những cái nhìn về sự vật.(7) Ví dụ: ta nhìn một bao thuốc lá để trên bàn. Ta phải đứng ở một vị trí nhất định để nhìn, đồng thời ta cũng chỉ nhìn thấy chiều mặt của bao thuốc lá. Nếu ta đổi chỗ, ta lại thấy chiều khác của sự vật. Cứ như thế mãi mãi. Sự vật ẩn hiện như vừa có mặt vừa vắng mặt(8) trong một vận chuyển vô hạn. Do đó ta có thể coi sự vật là một nhãn giới cái nhìn vươn tới mà không bao giờ đạt tới được hay là một thực tại vô cùng phong phú không bao giờ khám phá hết được. Trăm nghìn lối nhìn khác nhau, thì sự vật cũng mặc khải qua trăm nghìn khuôn mặt khác nhau tuy vẫn cùng một sự vật.
            Một quan niệm như trên về sự vật chống lại hoàn toàn thái độ độc đoán của cái nhìn thông thường đồng thời chứng minh nó là hẹp hòi, khép kín vì đã che lấp muôn ngàn vẻ mặt khác của thực tại. Thực tại luôn luôn sẽ là một bí nhiệm để khám phá mãi, luôn luôn vẫn còn là mới lạ có thể làm cho ta bỡ ngỡ kinh ngạc như thể lần đầu tiên được nhìn ngắm nó miễn là ta biết nhìn nó một cách chăm chú và vô tư.




 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #67 vào: 15/01/2017, 14:32:10 »

II. CÁI NHÌN VỚI THA NHÂN
            Đám cưới thứ hai của ta là với người khác. Trên đã nói sống là thiết yếu ở đời và với người khác. Nhưng cũng như với sự vật. Chung sống với người khác đã biến thành một nếp sống cũ kỹ. Những người ta gặp hàng ngày và không biết bao lần trở nên quen thuộc quá, không còn gì đáng nhìn nữa. Đây là ông Giám đốc, bà Hiệu trưởng… kia là bác cảnh binh, cô bán hàng… tôi chỉ cần trông thoáng qua là nhận được họ, để rồi cũng lại quên ngay đi.
            Hàng ngày đến trường tôi đi qua hàng của cô bán hàng ở góc phố đó… và trông thấy bác cảnh binh đứng chỉ đường ở ngã tư cạnh trường. Rồi vào trường thỉnh thoảng trông thấy ông Giám đốc hay bà Hiệu trưởng đi ngang qua lớp. Còn có những người chúng ta không quen thuộc, nhưng vì họ cũng chẳng có gì đặc biệt, nên tôi không để ý đến. Hàng ngày tôi gặp những người xa lạ và những người quen thuộc cũng như gặp cái ôtô, chiếc xe chạy ngang qua mặt. Đó là một sự giao nhau giữa hai sự vật, không phải là một gặp gỡ hiểu theo nghĩa một thông cảm giữa hai tâm hồn.
            Tất cả những người trên rơi vào cái thế giới “người ta” vô ngã và xa xôi. Tôi gọi những người ấy là “họ”, và đối với họ tôi chỉ thấy mà không nhìn vì họ quá thường, không có gì đáng cho tôi cố ý và chú ý nhìn. Tôi thấy họ đi qua và biết như thế thôi, không để ý làm gì.
            Sở dĩ tôi đã không “nhìn” họ, vì tôi đã chỉ coi họ là những “nhân vật” nghĩa là họ giữ một chức vụ, một vai trò nào đó trong đoàn thể xã hội.
            Ông ấy là Giám đốc, bác kia là Cảnh binh, và khi nhìn một người chỉ như một chức vụ, tức cũng coi người đó chỉ là một dụng cụ hữu ích.
            Ông Giám đốc để điều khiển công việc của nha, sở, bác Cảnh binh để giữ trật tự, cô bán hàng để bán hàng v.v… Sự coi người chỉ như một phương tiện cũng làm cho việc giao thiệp giữa người với người hoàn toàn có ý nghĩa cầu lợi. Khi tôi cần xin giấy tờ gì, tôi chạy đến ông Giám đốc, hay cần mua gì, chạy ra cửa hàng ở góc phố. Xong việc là hết, không còn liên lạc gì nữa và cũng không cần để ý tới như khi cần dùng cái dao thì đi tìm dùng xong rồi cất vào một chỗ. Hơn nữa sự giao thiệp cũng còn có tính cách máy móc. Tôi đến mua hàng. Tôi chỉ nhìn người bán như một cử động lấy hàng trao cho tôi và người bán cũng chỉ nhìn tôi như một cử động giơ tay ra nhận hàng và trả tiền. Sự giao thiệp thu gọn vẻn vẹn vào hai cử chỉ máy móc. Ngày nay người ta có thể thay thế người bán hàng bằng máy thực, vừa tiết kiệm giản dị vừa nhanh chóng và hoàn toàn hơn người. Trong những thành phố lớn, người ta thường đặt các máy bán các nước giải khát, kẹo, tự dộng nơi đông người qua lại. Nhiều nhà ga lớn có máy tự động cân hàng, bán vé thu tiền cũng như những cửa hàng lớn bên Mỹ đều có đặt những máy bán hàng mà người ta gọi là tự dùng lấy (self service).
            Nếu con người cũng như cái máy chỉ còn là những cử động máy móc lặp đi lặp lại suốt ngày như vậy ta cần gì phải “nhìn” vì không còn gì đáng nhìn nữa. Trông thoáng qua là đủ rồi. Thành ra những người chúng ta gặp hàng ngày rất gần ta mà thực sự rất xa ta. Gần là vì ở bên cạnh, sát vai nhau như hai đồ vật xếp cạnh nhau tuy rất xa nhau vì không có liên lạc gì. Gần về khoảng cách không gian, nhưng xa về tương giao nhân loại.
            Nhưng sự chung sống mà thiếu sự gần gũi trong tâm hồn rất dễ trở thành chung đụng, va chạm, vì đã coi nhau như dụng cụ, phương tiện nghĩa là ai cũng đứng ở quan điểm tư lợi mà nhìn người khác: ông Cảnh binh có ích vì ông bảo vệ quyền lợi tôi, ông Giám đốc có ích vì ông lo liệu mọi giấy tờ cho tôi dễ dàng mà tôi thì không thấy có ích gì cho ông Cảnh binh…
            Dĩ nhiên trước hết người là một vật hữu ích. Nhưng không phải chỉ là thế. Trong một đoàn thể, nếu ai cũng chỉ nghĩ đến mình, không có tương giao đích thực thì sự chung sống không sao tránh được cạnh tranh, xung đột.
            Tôi đang đi trên hè phố, một người lạ đi ngược lại phía tôi; mải nhìn các cửa hàng đâm xô vào tôi. Tôi tức giận, nhìn trừng trừng người đó, vẻ mặt hằn học: “Đi với đứng thế! Mắt để đâu mà đâm vào “người ta” như vậy”. Người bị nhìn có thể nhận lỗi và chịu lấy cái nhìn hằn học đó, hoặc cũng có thể tức giận vì bị nhìn, nhìn lại: “Người ta” nhỡ một tý đã sao!” Một cuộc cãi lộn xảy ra và có thể đưa đến ẩu đả. Lúc đó, tôi và người lạ kia không nhìn nhau trên bình diện “Tôi – Anh” thân mật. Nhưng trên bình diện “nó – nó” trong thế giới “Người ta”.
            Cả hai người đều tự xưng là “người ta”, vì đối với người bị nhìn lúc đó, tôi chỉ là “người ta” và người bị nhìn đối với tôi cũng chỉ là “người ta” ở ngôi thứ ba, xa lạ.
            Đã hẳn trong trường hợp trên, cái nhìn cũng là chú ý và cố ý thấy, nhưng không phải nhằm thông cảm, tương giao, trái lại nhằm chiếm đoạt, chế ngự? Hay tình cảnh của người bị nhìn là làm sao?

BỊ NHÌN
            Tôi và một bạn học rất ham đánh bóng bàn. Trong trường có một bàn ping-poong để ở phòng hội các giáo sư, dĩ nhiên là chúng tôi không được phép vào chơi rồi. Nhưng chúng tôi cứ liều. Muốn cho khỏi bị ông giám thị bắt gặp, chúng tôi bố trí cẩn thận như đóng kín cửa lại để khỏi động, có thể làm cho ông giám thị biết. Nhưng trong khi mải chơi, chúng tôi không còn để ý ông giám thị có thể đi qua nữa, và chẳng may ông giám thị lại đi qua thật. Ông mở cửa bắt gặp quả tang chúng tôi lỗi. Chúng tôi bị nhìn. Trước cái nhìn của ông giám thị, không hiểu sao chúng tôi đứng đờ người ra, chết đứng như cây gỗ không còn cựa quậy, cử động gì được. Chúng tôi “mất hết tinh thần” cái nhìn đã đóng chặt chúng tôi vào một chỗ, đã biến chúng tôi, người bị nhìn thành một vật chết, vì lúc đó tôi thấy mọi dự định tôi có thể làm đều bị tan vỡ. Chính những dự định xác định, tôi là vật tự do, vì tự do là gì nếu không phải là có thể dự định. Trước cái nhìn của người khác, tôi ở đây trong phòng này, cũng chỉ còn như cái ghế, cái bàn này, trơ trơ ra đấy, bất động và bất lực. Cái nhìn của ông giám thị không những tiêu diệt mọi khả thể hoạt động (mes possibilés d’action) xác định tôi là một người tự do không phải là vật, mà còn phá vỡ cả vũ trụ của tôi: Tôi là một dự định (un projet).(9) Và tôi thực hiện dự định đó bằng cách lợi dụng những phương tiện do các đồ vật chung quanh cống hiến cho. Tôi muốn chơi bóng bàn và tôi bố trí: Bốn bức tường, những cánh cửa có nghĩa là để che dấu tôi khỏi bị ông giám thị bắt gặp; cả những viên gạch lát hành lang, cái cầu thang cũng có nhiệm vụ báo hiệu ông giám thị đến cho tôi kịp đối phó khi nghe tiếng giày lộp cộp của ông.
            Cái nhìn của ông giám thị phá vỡ thế giới đồ vật đó. Bốn bức tường những chiếc cửa cũng như hành lang không còn liên lạc với tôi; hơn nữa còn trở nên xa lạ, thù địch với tôi vì chúng mặc một ý nghĩa khác. Lúc bấy giờ chúng lại được xếp đặt thành một vũ trụ của ông giám thị, vì cái cửa chính là để ông mở để nhìn thấy tôi, cái hành lang để đưa ông đi tới… do đó, cái nhìn của người khác vừa giản lược tôi vào một sự vật (unechose) vừa phá vỡ cả khung cảnh sống của tôi, khung cảnh giúp tôi thực hiện những dự định của tôi là một vật tự do. Sartre nói: Cái nhìn của tha nhân đánh cắp cuộc đời tôi? “le regard d;autrui m;a volé le monde”.
            Bây giờ giả sử đó chỉ là một báo động lầm, vì người mở cửa không phải là ông giám thị, nhưng là một người bạn học. Chúng tôi “hú vía” vui sướng! Tuy nhiên lúc mở cửa, mọi sự cũng vẫn xảy ra hệt như có ông giám thị đến thực, nghĩa là trong chốc lát, chúng tôi cũng ngừng lại như bị tê liệt…
            Chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm bị nhìn: như khi một mình phải đi trước công chúng mà ta biết rằng mọi người đang chú ý nhìn mình. Tự nhiên chúng ta thấy mình như không còn tự chủ, mất bản ngã, ngượng nghịu chân tay không biết để đâu, mắt không biết nhìn cái gì, cảnh vật chung quanh cũng như tan biến cả, ta bàng hoàng đi như một người không hồn, như một xác chết.
            Qua cái nhìn đó, tôi nhận ra rằng người khác không thể là tôi, đồng thời cũng nhận ra mình là gì. Nói một cách triết lý, tha nhân là kẻ nhìn tôi: Qua cái nhìn, tôi ý thức được tha nhân đồng thời thực hiện sự tự giác. Tôi chỉ ý thức được tôi nhờ người khác bằng cái nhìn của họ. Nhưng cũng trước cái nhìn đó, tôi ý thức được tôi là một vật cho người khác (être-pour-autrui). Tôi bị nhìn, nghĩa là tôi bị giản lược thành một sự vật cho người khác. Lúc đó, tôi cảm thấy mình bị bóc lột, bất lực, trơ trọi, có thể bị xâm phạm dễ dàng, như bị phơi ra những chỗ nguy hiểm…
            Trước cái nhìn của người khác, tôi và vũ trụ của tôi sụp đổ hay như chuyển sang tay người ta. Tôi trở thành lệ thuộc một tự do không phải cái tự do của tôi, đồng thời cái tự do cũng là điều kiện cho tôi ý thức được tôi là một tự do bị mất.
            Cũng như biện chứng Chủ Nô của Hegel. Người chủ nhìn nô lệ: mày chỉ là nô lệ của tao. Người nô lệ ý thức được mình lệ thuộc vào người khác là ông chủ cũng như cái bàn, cái xe là đồ dùng của ông ta. Nhưng người nô lệ ý thức được mình là tự do khi đã mất nó, qua cái nhìn chiếm đoạt, và chế ngự của người chủ.
            Cái nhìn của người khác làm cho tôi ý thức được cuộc đời tôi nhưng là một cuộc đời đặt nền tảng không phải trong tôi, nhưng nơi người khác, ở ngoài tôi. Tôi sống, là sống theo ý nghĩa cái nhìn người khác muốn gán cho như thể tôi không có một bản ngã riêng biệt hoặc có mà không đáng kể vì nền tảng cuộc đời tôi là ở người khác. Đó là nguồn gốc những tình cảm như xấu hổ, hãnh diện, khoe khoang.
            Tôi đang chơi bóng bàn; ông giám thị bắt gặp, nhìn tôi, tôi thấy xấu hổ vì bị bắt gặp đang lỗi. Qua tình cảm xấu hổ, tôi khám phá ra một khía cạnh con người tôi. Nhưng tôi chỉ ý thức được tôi là có tội và lấy làm xấu hổ vì có người khác nhìn tôi. Tôi xấu hổ về tôi trước cái nhìn người khác. Tôi xấu hổ như thế nào là do tôi xuất hiện trước cái nhìn người khác như thế ấy. Do đó xấu hổ là một sự công nhận. Tôi công nhận tôi là điều mà người khác nhìn tôi, không phải là tôi như tôi nghĩ, nhưng là tôi theo cái nhìn người khác. Không có hình phạt nào nặng hơn là đem một nạn nhân diễn phố cho công chúng nhìn; Vì đó là một cách làm cho xấu hổ đến cực điểm: Trước cái nhìn của công chúng, phạm nhân chỉ còn là cái tội mình phạm.
            Nguồn gốc tình cảm lo sợ cũng là tha nhân. Sở dĩ tôi sợ là vì tôi sợ người khác nhìn thấy. Tình cảm lo sợ bao hàm rằng tôi xuất hiện như một tự do có thể luôn luôn bị đe dọa, xâm phạm và có thể bị chiếm đoạt, giản lược vào một sự vật trước cái nhìn của người khác.
            Tôi lo sợ vì nền tảng sự hiện hữu của tôi ở nơi người khác, nên không có gì chắc chắn đảm bảo an toàn cho tôi cả. Tôi là một vật luôn luôn bị đe dọa, và có thể bị xâm chiếm.
            Về tình cảm hãnh diện, khoe khoang cũng thế. Tôi muốn trở thành thế này thế kia như người khác muốn nhìn tôi. Và tôi hãnh diện bằng lòng khi tôi đã thực hiện đước ý định đó nghĩa là xuất hiện trước cái nhìn của công chúng như ý của công chúng muốn. Vậy ý nghĩa sự khoe khoang hãnh diện cũng vẫn là sự công nhận người khác là nền tảng cuộc đời tôi như ý nghĩa của xấu hổ. Tôi sống vì người khác, và cho người khác. André Gide có nói: “Một phần lớn hành động của người ta, ngay cả những hành động không phải vì quyền lợi cũng đều được ấn định do cái nhìn của người khác, do thói khoe khoang hay thời trang (mode) của thời đại”. Trong ý nghĩa đó, chúng ta hiểu được sức mạnh của dư luận chi phối điều khiển đời sống xã hội như thế nào. Người ta phải sống theo dư luận, chỉ vì sợ bị nhìn. Dư luận chính là cái nhìn của tha nhân. Đã hẳn tôi là một tự do, một dự định. Nhưng tôi không thể định làm gì mà lại không kể đến dư luận, vì tôi sợ cái nhìn soi mói của người đời. “Coi chừng đừng để cho người ta nhìn thấy”; lúc nào tôi cũng có cảm tưởng như đang đi, có ai nhìn đàng sau, lúc nào tôi cũng thấy sự hiện diện của tha nhân qua cái nhìn theo dõi của họ. Do đó, tôi phải để ý từng cử chỉ, lời nói của tôi. Tôi phải biết tổ chức mọi hành động của tôi cho hợp với những quy ước xã hội; nếu không tôi sẽ bị nhìn, nghĩa là sẽ bị phán đoán và kết án.
            Có thể nói cuộc đời mỗi người như là một việc đóng kịch phải giữ một vai trò nào đó để người khác nhìn mình theo vai trò mình đóng. Và khi tôi đóng khéo vai trò đó, tôi lấy làm sung sướng yên tâm như thể sống theo một hình ảnh, một nếp sống do người ngoài gán cho có bảo đảm chắc chắn và tránh được mọi lo lắng phiền phức hơn là sống theo ý mình muốn. Tôi không phải là tôi nhưng tôi là một vai trò như người khác nhìn tôi. Và dĩ nhiên tôi phải lựa chọn những cử chỉ, lời nói, dáng điệu hợp với vai trò đó.
            Nếu tôi là Bộ trưởng, Giám đốc tôi phải làm ra vẻ đạo mạo, uy nghi, nghiêm chỉnh. Nếu tôi là cô bán hàng, tôi phải làm bộ tươi vui, niềm nở, khéo léo nhanh nhẹn dù trong lòng có “ngổn ngang trăm mối” về chuyện gia đình chồng con…
            Tất cả chỉ là nghi lễ, đóng kịch trước mắt người khác để khỏi bị nhìn. Dư luận không thể chấp nhận ông Bộ trưởng mà lại ăn mặc lôi thôi như cao bồi hay cô bán hàng ngồi mơ màng hoặc hách dịch làm cao với khách hàng. Phép lịch sự đòi hỏi anh, dù không muốn nghe tôi nói, cũng phải làm ra vẻ chăm chú nghe, mắt nhìn tôi không chớp, hai tai mở rộng, nhưng thực ra anh bận tâm đến việc làm ra vẻ chăm chú nghe đến nỗi quên hẳn việc nghe; cũng như người lính bồng súng chào, mắt phải nhìn thẳng mà thực sự không nhìn gì cả, vì nhiệm vụ lúc đó không phải là nhìn cái gì, nhưng là nhìn thẳng trước mặt thế thôi.
            Cái nhìn của người khác bày tỏ sự lệ thuộc thiết yếu của tôi vào người khác. Lúc nào tôi cũng đóng kịch nghĩa là không bao giờ tôi sống với con người đích thực riêng tư của tôi. Nhưng là sống theo cách thế tôi không phải là tôi, hay tôi là cái không phải tôi. Do đó, hình như tôi luôn luôn vắng mặt với chính tôi theo kiểu nói của Paul Valéry: “Je suis cette divine absence à moi-même”.
            Cái nhìn tha nhân đặt một vấn đề siêu hình nan giải. Qua tình cảnh bị nhìn, tôi ý thức được tha nhân là nền tảng cuộc đời tôi đồng thời tôi vẫn là kẻ xa lạ với tha nhân. Tôi thiết yếu phải sống với tha nhân mà vẫn cô đơn. Con người như phải có nhau, ở bên nhau mới sống nổi, đồng thời cũng không thể thông cảm gì được với nhau.
            Tôi phải sống theo cái nhìn của người khác, nghĩa là đóng những vai trò đã được dư luận quy định. Và giáo dục, đôi khi chẳng qua cũng chỉ dạy cho con người biết đóng kịch, biết đeo những mặt nạ để xuất hiện cho hợp với cái nhìn của người khác và biết đóng khéo, diễn kịch khéo sẽ được coi là người lịch sự tế nhị. Ta hãy xem các bà mẹ dạy con: Đứa trẻ nào cũng tham ăn. Khách đến chơi mà mang cho nó quà. Đứa bé chạy tới, mắt nhìn chăm chú vào gói quà. Mẹ lườm “đừng hỗn” con nó sợ. Sau đó mẹ dạy con: Từ nay, không được làm thế, hễ ai cho gì phải nói con không dám, dù có muốn ăn mặc lòng.
            Như thế, con người sống với nhau hình như bao giờ cũng chỉ là giả vờ sống thôi: Hoặc là con người suốt đời cố gắng theo đuổi xây dựng cho mình một địa vị, một chức tước, một sự nghiệp, một danh vọng vì cho rằng mình chỉ được tôn trọng kính nể trước cái nhìn của người khác khi mình có chức tước, địa vị, danh vọng là những giá trị đã được người khác công nhận. Như thế cái giá trị, danh dự cuộc đời không phải là do tôi mà là do người khác ban cho. Chính vì thế mà tôi không dám thay đổi chức tước địa vị cũ, vì tất cả danh dự, giá trị cuộc đời tôi là ở chức tước, địa vị. Cho nên tôi đã đóng kịch với người khác vì một danh dự mà người khác đã công nhận cho tôi.
            Nhưng bởi vì chung sống với người khác chỉ là một giả vờ sống: Tôi phải làm ra vẻ giáo sư với anh, anh phải làm bộ học sinh với tôi, để trước dư luận, chúng ta khỏi bị nhìn, cho nên cũng không thể có thông cảm đích thực, vì hễ lúc nào tôi phớt cái nhìn của dư luận, để sống theo ý mình, tôi sẽ bị nhìn, nghĩa là bị người ngoài nhìn tôi khác tôi nhìn tôi và do đó, số phận của một cuộc đời muốn chân thành với chính mình là sẽ không bao giờ được người ngoài hiểu theo ý định của mình.
            Tình cảnh của người bị nhìn thật là bi đát. Nếu tôi thừa nhận số phận bị nhìn nghĩa là tổ chức cuộc đời tôi theo cái nhìn của người khác của xã hội, để khỏi bị nhìn, bị kết án, tôi được yên ổn và hãnh diện, nhưng tôi lại mất bản ngã và bằng lòng một đời sống không thực (Inauthentique) theo kiểu nói của Heidegger, trong cái thế giới người ta (das Man) nghĩa là đặt nền tảng, ý nghĩa cuộc đời tôi trong tay người khác.
            Nếu tôi từ chối đóng vai trò, nghĩa là không sợ bị nhìn, tôi cứu vãn được bản ngã riêng tư, làm nền tảng cho cuộc đời của tôi, nhưng tiếc thay, nó cũng chỉ còn là một bản ngã cô độc, một cuộc đời trơ trọi trước những cái nhìn soi mói, đố kỵ của người khác.
            Nếu bây giờ, thay vì cúi mặt xuống, không đếm xỉa đến cái nhìn của người khác để trở về sống với lòng mình, để chịu cảnh cô đơn, tôi lại ngước mắt lên và nhìn lại người nhìn tôi, cái nhìn của tôi cũng sẽ biến người khác thành sự vật, vì cái nhìn đó cũng bao hàm ý chí chế ngự người nhìn tôi. Cái nhìn vẫn không phải phương tiện thông cảm đưa đến kết hợp, nhưng là gây chia rẽ, tranh chấp một sống một chết.
            Đó cũng là cái nhìn bạo động vì nhằm mục đích chiếm đoạt tiêu diệt người khác.
            Trong tình cảnh đó, đám cưới giữa ta với người khác trở thành cực hình. Cực hình không phải ở chỗ ta ghét người khác, nhưng tại chỗ không thể không sống với nhau để ghét nhau vì ta không tránh được sự hiện diện của người khác.
            Nhưng bởi vì không có thông cảm, nên người nọ giữ miếng với người kia, rình nhìn soi mói người khác. “Địa ngục là người khác” hay địa ngục chính là cái nhìn soi mói. Trong bầu không khí đó, không thể có tình yêu đích thực, vì người được yêu chỉ là người bị nhìn hay cái nhìn của người yêu chỉ là một dự định chiếm đoạt muốn “có” người yêu như một vật sở hữu. Như thế, tình yêu không phải là xây dựng người yêu nhưng là một dự định cho mình trong đó người được yêu chỉ là phương tiện, dụng cụ. Nhưng người được yêu nghĩa là bị nhìn cũng lập một dự định chiếm đoạt người yêu mình như một sự vật khi yêu lại người đó.
            Tình yêu thất bại vì rõ ràng khi yêu ai thực ra chỉ là muốn được yêu nghĩa là muốn “có” tình yêu của người khác. Tôi làm hết cách để chiếm đoạt tình yêu của người khác, và khi tôi đã chiếm đoạt được người yêu, tôi thất vọng vì người yêu tôi thực sự cũng chỉ muốn được tôi yêu nghĩa là muốn chiếm tình yêu của tôi. Tình yêu thất bại vì ai cũng chỉ nghĩ đến mình.
            Trong viễn tượng đó tha nhân là cái gì như cứu cánh cuộc đời tôi phải hướng tới, đồng thời cũng như cái gì không bao giờ lãnh hội được. Tha nhân ẩn trốn khi tôi tìm và chiếm đoạt tôi khi tôi trốn ẩn. Trong cái nhìn chiếm đoạt tôi muốn “có” người khác không phải như “có” một đồ vật, nhưng “có” như một tự do. Đó là một điều mâu thuẫn đưa đến thất bại. Cái nhìn chiếm đoạt không thể không giản lược vật tự do vào một sự vật; mà khi con người tự do chỉ còn là một sự vật, cái nhìn chiếm đoạt mất hết ý nghĩa, vì cái nhìn chiếm đoạt công nhận tự do người khác như mục tiêu của sự chiếm đoạt đồng thời chỉ thực hiện được sự chiếm đoạt đó bằng cách tiêu diệt tự do là mục tiêu của sự chiếm đoạt. Cho nên tha nhân là cái gì không bao giờ lãnh hội được với tư cách tha nhân, nghĩa là những cái tôi tự do khác như tôi, tuy luôn luôn tha nhân thiết yếu ở bên cạnh tôi như nền tảng sự hiện hữu của tôi.

CÁI NHÌN THÔNG CẢM
            Sở dĩ cái nhìn chiếm đoạt thất bại, là vì ý hướng của cái nhìn đó là sự chiếm đoạt người khác, cho nên cái nhìn chiếm đoạt cũng gây cạnh tranh, xung đột. Muốn đi tới tha nhân và lãnh hội tha nhân như một tự do, phải có cái nhìn thiện cảm, cái nhìn hiến dâng.
            Đây là một người lạ tôi gặp ngoài phố. Hai người chúng tôi xô vào nhau vì tôi mải nhìn những cửa hàng. Thay vì dừng lại, nhìn trừng trừng vào mặt tôi với một vẻ hằn học, người đó mỉm cười nhìn một cách tha thứ và nói với tôi “Không hệ gì ạ”. Tôi cũng nhìn lại với một vẻ thầm cám ơn: “Thành thực xin lỗi tôi vô ý quá, làm phiền ông”. Lúc đó một cái gì thân thiện tự nhiên đến nối liền hai người và chúng tôi từ biệt nhau mỗi người giữ một ấn tượng êm đẹp về một sự đụng chạm vô ý đó.
            Giả thử ít bữa, sau, tình cờ tôi gặp lại người đó trong một tiệm ăn hay trong một buổi tiếp tân… Tôi đến làm quen ngay hỏi thăm vồn vã: Bây giờ ông làm gì và ngày trước học ở đâu, nhà ông phố nào, ông có xe đi không v.v… Qua những câu hỏi xã giao lịch sự đó, tôi hiểu biết hơn người đó. Nhưng sự hiểu biết đó vẫn còn hời hợt phiến diện lắm; tôi mới biết người tôi vừa quen như là một nhân vật nào đó thôi, ví dụ ông ấy là công chức hay nhà buôn.
            Sau đó thỉnh thoảng chúng tôi lại hẹn gặp nhau lại hoặc mời nhau đến nhà chơi… Trong những lúc nói chuyện, bên cạnh chén nước, điếu thuốc chúng tôi dần dần tìm hiểu nhau, đi từ những vị trí xã hội vào cuộc đời bên trong, riêng tư của mỗi người (hoàn cảnh gia đình, những lo lắng, đau khổ, hoài bảo, hy vọng v.v…) Chúng tôi đi sâu vào lòng nhau. Bây giờ người xa lạ kia không còn phải là ông X, “người ấy”, ở ngôi thứ ba, người mà tôi nói đến, nhưng là bạn, anh chị (toi)(10) ở ngôi thứ hai. Tôi nhìn người đó một cách thân mật, đầy thiện cảm và gọi: “Anh”, trong cái đặc biệt của người đó, không phải chỉ là công chức hay nhà buôn. Dĩ nhiên người bạn tôi cũng là những cái đó: một địa vị, một chức tước, một tính tình, một cá tính… Nhưng bên trong tất cả những cái đó, người bạn tôi còn có một cái gì đặc biệt, độc nhất đáng quý không thể thay thế được và cũng không giống ai trước cái nhìn thân mật của tôi. Từ đây một tình bạn đã thành hình trong hai người chúng tôi. Do đó chỉ khi nào có thân mật, sự giao thiệp giữa người với người mới được gọi là “gặp gỡ” vì gặp gỡ không phải là giao nhau như hai đồ vật giao nhau, nhưng là đi từ “người ấy” lui ở ngôi thứ ba, đến “Anh” Toi, ở ngôi thứ hai nghĩa là một thông cảm trực tiếp giữa hai tâm hồn trong cái phần sâu xa và độc nhất của mỗi người.
            Ở trên thiện cảm, là tình yêu. Tình yêu cũng phát xuất từ một cái nhìn thiện cảm. Đôi khi đó là một sự làm quen dần dần và lâu dài. Nhưng phần lớn, nhất là nơi những người trẻ, tình yêu thường bùng nổ với tất cả sức mãnh liệt của nó ngay từ cái nhìn đầu tiên. Do một tình cờ may mắn nào đó, tự nhiên hai cái nhìn bắt gặp nhau như thế đã có một hẹn ước nào từ trước hay do duyên số dun dủi… mà không làm sao cắt nghĩa được. Sự thể nó là thế! Ta đã trông thấy bao nhiêu người khác, nhưng lần này không biết tại sao, ta dừng lại ở người đó, và người đó trở thành kẻ được chọn trong muôn ngàn. Cái nhìn tình tứ đầu tiên đó đã ràng buộc gắn bó hai người, đưa họ đi tìm cơ hội để có thể giữ cho nhau những cái nhìn trìu mến trước khi tạo được dịp thuận tiện để hẹn hò, nói chuyện với nhau.
            Có thể xảy ra một trường hợp đặc biệt như sau: Hai người đã bắt gặp nhau trong một cái nhìn trìu mến ở một nơi nào đó như ở nhà thờ, hay rạp chiếu bóng, trong chợ, lúc tan sở v.v… Tình cờ họ nhìn nhau và tự nhiên cảm mến nhau. Nhưng bởi vì hoàn cảnh xã hội, địa vị, chức tước, tôn giáo, luân lý, phong tục, không cho phép họ có thể gặp nhau mặt đối mặt… nên họ không dám vì sợ bị nhìn. Thành ra họ chỉ mong những giờ phút nhất định trong tuần, như hai người cùng đi lễ giờ đó, hay cùng đi chớp bóng hôm đó… để có thể trao cho nhau những cái nhìn thân mật một cách kín đáo, vụng trộm. Cứ như thế, tuy họ chưa hề gặp nhau và nói với nhau câu nào, nhưng hình như họ đã gần nhau lắm. Họ trao đổi cho nhau những cái nhìn trìu mến, mong đợi băn khoăn hay cái nhìn oán trách, giận dỗi… Đó là một đối thoại chỉ bằng những cái nhìn. Ta vẫn thường nói: “Đọc trong khóe mắt” những tình cảm của người khác, nghĩa là muốn biết ai giận, ghét, yêu, trách ta, chi cần đọc cái nhìn của họ, vì có một tiếng nói của cái nhìn. Hai người không thể gặp nhau nói chuyện được, nhưng họ vẫn có thể nhìn nhau để trao đổi tâm tình. Nêu lên trường hợp đặc biệt đó cốt để nhấn mạnh tính cách quan trọng của cái nhìn trong tương giao yêu đương. Thực sự ngay cả trong trường hợp có lời nói, cái nhìn cũng vẫn là cách biểu lộ tình yêu không thể thay thế được; lời nói yêu đương mà thiếu cái nhìn yêu đương, như vừa nói vừa quay mặt đi chẳng hạn, thì lời nói đó còn nghĩa lý gì? Hơn nữa, trước mặt nhau, lời nói cũng thừa, vì họ chỉ nhìn nhau là đủ rồi. Cái nhìn là cách thế biểu lộ cái không thể biểu lộ bằng ngôn ngữ được. Trở lại trường hợp đặc biệt vừa nêu lên, giả sử một ngày kia hoàn cảnh thay đổi, như một người phải đi chỗ khác, hay giờ giấc của buổi lễ, buổi chiếu bóng, giờ tan sở v.v… thay đổi, thế là họ không còn được dịp nhìn nhau nữa. Mối tình thầm kín kia có thể vẫn còn, nhưng bây giờ chỉ còn như là một kỷ niệm vừa đẹp vừa buồn về một người thân yêu vừa rất gần gũi mà cũng vừa rất xa lạ…
            Hoặc là họ có thể gặp nhau để dần dần thực hiện tình yêu bằng sự kết hợp giữa hai người. Họ có cái nhìn hiến dâng. Trong cái nhìn hiến dâng, người nhìn như tự xóa để chỉ nghĩ đến người mình nhìn, để tự hiến cho người mình yêu. Nhìn hiến dâng là một suy tôn, một thăng cấp người yêu. Đó cũng là cái nhìn mời gọi. Người mời gọi như sẵn sàng chờ đợi để tiếp nhận, chào đón người thân yêu. Trong không khí hân hoan tưng bừng lúc tiếp đón, người được tiếp đón như được suy tôn vì ai cũng nghĩ đến người được tiếp đón và chính sự tiếp đón cũng thay đổi khung cảnh đều đặn đời sống hàng ngày.
            Do đó, cái nhìn hiến dâng không bao hàm ý chí chiếm đoạt vị kỷ vì nó công nhận người yêu là độc nhất, chỉ mình anh (hay em) đáng kể. Mọi sự khác chỉ có nghĩa khi có anh (hay em). Những lời nói đó tuy đã được nhắc đi nhắc lại trăm nghìn lần từ khi có loài người, nhưng chúng vẫn mới mẻ như là lần đầu tiên với một người bắt đầu đi vào cuộc đời yêu đương.
            Cũng như người mẹ nhìn con và coi nó là độc nhất, đặc biệt như thể trên đời chỉ có mình nó là đáng kể. Khi khách đến, bà sung sướng khoe đứa con của mình ăn nói khôn thế nào có nhiều trò chơi, cử chỉ ngộ nghĩnh làm sao. Bà nhìn đứa con như một phép lạ, mà không biết rằng đối với người ngoài, nó cũng tầm thường như trăm nghìn đứa trẻ khác mà thôi.
            Nhưng có hệ gì điều đó. Ai chả yêu. Tình yêu ở khắp nơi, trong mọi lúc. Nhưng chỉ tình yêu của tôi đây đáng kể, chỉ anh (hay em) đây mới là tình yêu đối với tôi.
            Cho nên tình yêu đích thực bao giờ cũng có cái nhìn hiến dâng, nghĩa là bao hàm sự quên mình hy sinh và đôi khi cả cái chết cho người mình yêu.
            Một người liều chết xông vào đám cháy để cứu một người đang bị nạn. Đó là một cử chỉ hy sinh, và Hy sinh là gì, nếu không phải là tự xóa để quả quyết giá trị hiện hữu của người mình hy sinh cho. Mọi cử chỉ hy sinh đều bao hàm ý chỉ bảo vệ, suy tôn tha nhân. Như thế, hy sinh khác với anh hùng. Người anh hùng cô đơn, vì trong cử chỉ anh hùng, người anh hùng chỉ tìm thấy mình, trái lại trong cử chỉ hy sinh, người hy sinh tìm thấy tha nhân. Sở dĩ hy sinh là vì yêu. Cho nên tình yêu đích thực gắn liền với hy sinh và cái chết. Yêu là chết đi để sống lại đích thực trong người khác. Cái phải chết là con người ích kỷ, chật hẹp trong ta, để không còn những cái tôi cô lập khép kín nhưng là những cái tôi hòa trong cái ta cộng đồng. Trong kho chuyện Đông phương, người ta có thuật một chuyện hai người đã yêu nhau. Một hôm chàng đến gõ cửa nhà nàng để tỏ tình. Trong nhà có tiếng vọng ra hỏi ai đấy?
            Tôi đây.
            Cửa không mở.
            Lại có tiếng hỏi: Ai đấy?
            Tôi đấy mà? Cửa vẫn đóng.
            Khi hỏi đến lần thứ ba, chàng trả lời:
            Chính em đây!
            Và lần này, cửa mới mở đón tiếp chàng vào nhà.


***

            Nhưng một tình yêu đích thực chưa hẳn là một tình yêu lâu bền khi ta chưa yêu con người trong mọi khía cạnh của nó. Nếu ta chỉ nhìn người yêu như một vật lý tưởng, nghĩa là mọi sự đều tốt đẹp, ta chưa nhìn đúng được cái chân tướng của người mình yêu. Cũng như đứa trẻ có lúc đáng yêu, có lúc đáng ghét khi nó nghịch ngợm, hỗn láo quấy rầy… Con người cũng vậy, không thể tránh được sai nhầm, yếu đuối, mang tật nọ, nết xấu kia. Do đó tình yêu không thể lâu bền được, nếu ta không biết yêu con người trong cả những khía cạnh tiêu cực của nó.
            Nói thế, không có ý bảo ta phải yêu cái xấu như thể cái xấu, tự nó cũng là điều tốt, và đáng yêu; hay ta phải thông cảm trong tội lỗi, đồng lõa với tội lỗi. Cái xấu bao giờ cũng vẫn là xấu. Ta không chấp nhận tội, vì tội là tốt, nhưng chấp nhận sự yếu đuối của con người do đó mà phạm tội, và thông cảm với người có tội trong sự yếu đuối đó.
            Như thế qua tội lỗi, ta cũng khám phá được tha nhân như đồng loại cùng ở trong một thân phận, một cảnh ngộ và lúc đó ta có một cái nhìn khoan dung trước người có lỗi. Cái nhìn khoan dung như có ý nói: “Anh là người có lỗi, nhưng tôi hiểu anh yếu đuối”. Cái nhìn khoan dung cũng đưa đến cái nhìn tha thứ: “Tôi không kết án anh, nhưng đừng lỗi nữa”. Cái nhìn tha thứ có một sức mạnh lay động lạ lùng vì nó là sự bột phát thuần túy của tình yêu quảng đại. Ta tha thứ vì ta yêu, thế thôi. Nhưng chính vì thế mà cái nhìn tha thứ có thể làm cho người tội lỗi có cái nhìn van nài phải hối cải và sự hối cải đó đôi khi đạt tới một mức thánh thiện tuyệt cao.
            Chuyện xưa có kể vua Trang Vương nước Sở một hôm đãi tiệc các quan. Trời đã tối đang lúc rượu say, đèn nến tắt cả. Trong lúc ấy có một ông quan thừa cơ kéo áo cung nữ. Người cung nữ nắm lấy giật đứt cái dải mũ rồi tâu vua: “Có kẻ kéo áo ghẹo thiếp. Thiếp giật được dải mũ. Xin cho thắp đèn để tìm ra kẻ đó”. Vua bèn gạt đi mà nói: “Thôi chấp làm gì. Mời người ta uống rượu đến say sưa quên cả lễ phép, lại nỡ nào vì câu chuyện đàn bà làm nhục người ta”. Rồi lập tức ra lệnh: “Ai uống với quả nhân hôm nay mà không say đến giật đứt dải mũ là chưa được vui”. Các quan theo lệnh, đều giật đứt dải mũ cả, nên suốt buổi tiệc mọi người hân hoan vui vẻ.
            Hai năm sau, nước Sở đánh nhau với nước Tần. Đánh luôn năm trận mà trận nào cũng thấy một võ quan liều chết xung phong rất hăng làm cho quân địch phải lui, Trang Vương lấy làm lạ, cho đòi hỏi: “Quả nhân đãi nhà ngươi cũng như mọi người, cớ sao nhà ngươi lại hết lòng giúp quả nhân khác người như vậy?” Viên quan thưa lại: “Thần rắp tâm muốn đem tính mệnh để dâng hiến cho nhà vua từ lâu, mãi đến nay mới gặp dịp báo đền ơn cũ. Thần là Tương Hùng, chính là người bị giật đứt dải mũ mà nhà vua không nỡ làm tội đấy”.(11)
            Trong sách Phúc âm cũng có kể sự tích cô Madeleine là người tội lỗi, bị những người đại diện cho dư luận đem đến cho đức Giêsu xét xử và kết án. Ngài không trả lời chỉ im lặng, cúi xuống đất viết… Rồi ngài ngửng đầu lên, nhìn tra hỏi vào mặt bọn người kia mà nói: “Ai trong các ông chưa bao giờ phạm tội, hãy cầm đá ném chết người đàn bà này”. Rồi ngài lại cúi xuống viết trên đất… Trong lúc đó, bọn quan viên lần lượt rút lui, kể từ người già nhất. Một lúc sau, ngài ngẩng lên thấy họ đi đâu cả, chỉ còn mình cô Madelene đứng đấy. Ngài nhìn với một vẻ tha thứ khoan dung và nói: “Không ai kết án cô cả sao? Tôi cũng không kết án. Hãy về bằng an, nhưng đừng phạm tội nữa”.
            Trong sách Phúc âm cũng kể tiếp khi đức Giêsu bị treo trên thập giá, mọi người thân hữu, đồ đệ đều sợ trốn lẩn hết, chỉ có Madeleine, cô gái tội lỗi đã được tha thứ ngồi khóc dưới chân thập giá.
            Có cái vui của sự lành mạnh, thánh thiện, đoàn tụ, hòa hợp. Nhưng hình như chúng không sâu xa thấm thía và quý giá bằng cái vui của đoàn tụ, hòa hợp, lành mạnh, sau đau ốm, chia ly xung đột. Không gì vui sướng hơn khi gia đình có người đi xa lâu ngày trở về, hay có một người ốm nặng vừa khỏi. Cũng như không còn gì cảm động hơn khi tìm được một mối tình đã mất, hay trước những giọt lệ của lòng ân hận.
            Như thế, tội không phải là điều xấu tuyệt đối, vì chính nhờ tội lỗi mà có tình yêu, quảng đại, tha thứ. Trong ý nghĩa đó, có thể nói tội-sinh-phúc như kinh Exultet ca ngợi cái tội sinh phúc “Felix culpa” trong ngày vọng lễ Phục Sinh của Thiên Chúa giáo. Chính vì tội lỗi mà nhân loại nhận được đấng Cứu Thế và làm hòa với Thiên Chúa sau một thời gian phân ly, thù nghịch.


***

            Nếu tình yêu là yếu tính của Đám cưới giữa ta với tha nhân thì cái nhìn là cách thế biểu lộ thể hiện tình yêu đó. Cho nên hạnh phúc hay đau khổ đều ở cái nhìn cả. Địa ngục là cái nhìn soi mói, cái nhìn chiếm đoạt, và địa đàng là cái nhìn hiến dâng và tha thứ. Cái nhìn hiến dâng thăng cấp cho người yêu và cái nhìn tha thứ phục hồi sự thăng cấp đó.

NGUYỄN VĂN TRUNG
__________________________________________________
(1) Dasein ist in-der-Welt-Sein être au-monde-avec-antrui.
(2) Journal Julien Green. N.R.F. 1855 p. 51.
(3) Le doute de Cézanne, Merleau Ponty. Sens et non-sens, p. 30-31.
(4) Gusdorf. Traité de Métaphysique, p. 22
(5) Situation I, J. P. Sartre.
(6) Idées directrices pour une phénoménologie, Edmund Husserl bản dịch Pháp văn Paul Ricœur, p. 131,132…
(7) Husserl gọi là siêu-việt-tính của sự vật (la transcendance des choses).
(8) Kiểu nói của Merleau Ponty (la dialectique de présence-absence) trong Phénoménologie de la perception.
(9) Định nghĩa của J.P. Sartre. Trong phần phân tách về thái độ bị nhìn này; tôi đã chịu ảnh hưởng một vài ý tưởng đặc biệt của tác giả l’Être et le Néant trong chương phân tách về cái nhìn như một cách đặt và giải quyết vấn đề hiện hữu của tha nhân. Công trình phân tách này là một trong những đóng góp sâu xa nhất của Sartre về vấn đề triết lý đó. Xem l’Être et le Néant, chương l’Existence d’autrui, trang 276-503.
(10) Trong tiếng Việt, không dịch được chữ “Toi”, xem bài: Tôi, Anh trong Nhận Định II của tác giả.
(11) Thuật theo Cổ học tinh hoa trang 65.



 
The following users thanked this post: tnghia