Tác giả Chủ đề: Tạp chí Đại Học  (Đã xem 9932 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #75 vào: 12/02/2017, 07:19:56 »
LỜI GIỚI THIỆU

            Người ta có thể định nghĩa con người ở đời như một tự do luôn luôn bị đe dọa đồng thời cũng là một tự do luôn luôn có thể đe dọa. Bạo động gắn liền với thân phận làm người. Vấn đề chúng tôi muốn nêu lên trong số này là có thể chấm dứt được bạo động không, hay ít ra có thể giảm bớt được bạo động không?
            Từ xưa, những luân lý, tôn giáo, chủ nghĩa triết lý chính trị đã lần lượt trả lời câu hỏi đó. Bây giờ một người muốn nhận định lại vấn đề trên không thể không kiểm điểm lại những nỗ lực giải đáp từ trước.
            Trong bài Cạnh tranh sinh tồn, ông Trần Văn Toàn sẽ trình bày sự Cạnh tranh, nguồn gốc của bạo động giữa người với người, đã xảy ra làm sao và trong lãnh vực nào. Mỗi người đều coi sự hiện diện của mình không những chỉ ở trong thân xác, mà còn bao trùm cả đồ vật của cải, người khác. Sự cạnh tranh để tiêu diệt hoặc chiếm đoạt diễn ra trong toàn thể lãnh vực của sự hiện diện đó, hoặc một cách trực tiếp bạo động hoặc một cách gián tiếp bằng Pháp luật, chính quyền và đôi khi cả Tôn giáo nữa.
            Sau đó, ông Toàn tìm hiểu ý nghĩa của sự cạnh tranh. Ông lấy biện chứng Chủ-Nô của Hegel để mô tả những lý do và mục đích tranh đấu giữa người với người. Theo Hegel, lý do chính yếu của sự cạnh tranh là một ý chí muốn tiêu diệt đối phương để được nhìn nhận.
            Marx, môn đệ của Hegel không đồng ý về lối cắt nghĩa “duy tâm” đó. Người ta đánh nhau không phải chỉ để lấy oai, nhưng vì “miếng ăn”.
            Tác giả theo Marx đi vào lịch sử để chứng minh rằng qua các chế độ, vẫn có cạnh tranh và nguồn gốc của cạnh tranh là vấn đề cơm áo, hay nói bằng một danh từ cao hơn, là vấn đề kinh tế.
            Nhưng những kinh nghiệm lịch sử chứng minh Marx đúng hay Hegel đúng? Trong bài Bạo động và lịch sử, ông Nguyễn Văn Trung, sau khi rảo qua những giải pháp Tôn giáo, luân lý và pháp lý đã không thành công trong hy vọng chấm dứt bạo động, nhằm trả lời câu hỏi mà ông Toàn đã nêu lên để kết thúc sự suy nghĩ của ông trên phạm vi lý thuyết thuần túy.
            Ông Nguyễn Văn Trung trình bày lối nhìn đặc biệt của Marx về bạo động và cơ sở lý thuyết của quan điểm Mác-xít về vấn đề đó. Triết lý chính trị Mác-xít là một phê bình tính cách hình thức của Pháp lý và coi nguồn gốc bạo động ở những phóng thể kinh tế. Thực tế không phủ nhận quan điểm đó. Nhưng thực tế cũng chứng minh rằng bạo động không phải chỉ hoàn toàn do phóng thể kinh tế, do “miếng cơm manh áo”. Bạo động gắn liền với bản tính con người và bắt nguồn không những từ những nhu cầu kinh tế, mà cả từ những cái gì vượt kinh tế hay không dính líu gì tới kinh tế, như ý chí chiếm đoạt, muốn thống trị người khác. Ý chí thống trị đó càng có điều kiện thực hiện trong thực tại Quyền bính mà Nhà nước là hiện thân của Quyền bính đó. Nhất là Nhà nước lại là cơ quan độc nhất có thể bạo động một cách hợp pháp. Marx đã coi Nhà nước chỉ là một công cụ đàn áp của giai cấp thống trị và sẽ triệt tiêu khi chấm dứt được sự thống trị bóc lột. Nhưng lịch sử không biện chính lời tiên tri đó. Tất cả những bế tắc bây giờ đều ở tại quan điểm giản lược chính trị vào kinh tế của Marx và thuyết Triệt tiêu nhà nước của Lénin.
            Giai cấp không phải là cơ sở thiết yếu của nhà nước và những bạo động của Quyền bính không phải chỉ do thống trị kinh tế, nhưng cũng có thể do chính Quyền bính tự mang trong mình những khả năng đàn áp, bạo động. Chúng ta lại phải trở về với Hegel, và nhiệm vụ của một triết lý chính trị trong hoàn cảnh của một nước muốn vượt những khó khăn của chế độ là phải quan niệm lại vấn đề Nhà nước.
            Cái phần tích cực của Mác-xít là sự hợp lý hóa kinh tế, vì ở trong phạm vi tất yếu đó, không có tự do hỗn loạn. Nhưng nhược điểm và sai lầm là độc tài chính trị không còn được cả kinh nghiệm lịch sử lẫn lý thuyết biện chính.
            Chúng tôi nghĩ rằng Nhà nước là một thực tại tương đối tự lập và muốn tổ chức hợp lý nhà nước, cần phải nhìn nhà nước không những như một Quyền bính có thể bị những thế lực kinh tế lợi dụng, nhưng còn là một Quyền bính tự nó có thể tạo ra những lợi dụng.
            Những điểm đó chúng tôi mới nêu lên mà chưa đi sâu vào, vì chủ đích số này chỉ nhằm sửa soạn đặt vấn đề Nhà nước mà chúng tôi mong sẽ trở lại sau này.


***

            Nghĩ đến bạo động, không thể không nghĩ đến những khả năng tiêu diệt của những khí giới ngày nay. Chúng ta sống trong một thời đại mà những khí giới đó đảo lộn mọi suy nghĩ tính toán, đề phòng, vì nó bao hàm một sự mâu thuẫn nội tại: Tiêu diệt kẻ khác để tự tiêu diệt mình.
            Người ta không thể không muốn hòa bình, nhưng người ta cũng không thể không sửa soạn chiến tranh. Không thể không muốn hòa bình vì khí giới nguyên tử sẽ tiêu diệt cả kẻ thắng lẫn kẻ bại: nhưng cũng không thể không sửa soạn chiến tranh vì sửa soạn chiến tranh, thi đua võ trang là cách độc nhất để làm cho đối phương sợ không dám gây chiến.
            Đó là ý nghĩa của sự “Tấn công hòa bình”. Trong “Thế quân bình của sự khủng khiếp” đề nghị Hòa bình là giải giới đối phương, tranh thủ được dư luận và kể như là đã thắng trận. Nhưng nếu chỉ nói Hòa bình mà không sửa soạn chiến tranh, tăng cường lực lượng, tức là khuyến khích đối phương và sẽ bị thua trong sự cạnh tranh.
            Cả hai bên đều nói đến Hòa Bình và chống chiến tranh, nhưng không bên nào muốn nhìn thẳng vào mặt thực của chiến tranh và Hòa Bình. Chỉ nói Hòa Bình mà không có lực lượng là bộc lộ cái yếu của mình; nhưng không biết nói hòa bình, khi chiến tranh là phi lý, cũng như là một thua trận…
            Đó là tình hình chính trị của thời đại ta: Thời đại Cạnh tranh và thời đại bom nguyên tử. Không có chiến tranh thực sự, cũng không có hòa bình thực sự. Hay nói một cách khác, chúng ta có một Hòa Bình không phải là hòa bình, và một chiến tranh không phải là Chiến Tranh.
            Từ những nhận định đó, Lanza del Vasto, một hiền triết chủ trương bất bạo động, đồ đệ của Gandhi, tác giả cuốn “Trở về nguồn” (Pèlerinage aux sources), nhiều lần đưa hàng trăm đồ đệ của mình đến phản đối bằng im lặng và tuyệt thực trước những trung tâm nguyên tử của nước pháp, đã suy nghĩ về một “sự tan vỡ hợp lý” (la désintégration logique) nhân vụ nước Pháp thử quả bom nguyên tử đầu tiên ở Sahara mà chúng tôi xin trích đăng(1) như một tiếng kêu trong số đặc biệt suy gẫm về Bạo động.
            Trước viễn ảnh một tiêu diệt cả loài người bằng khí giới nguyên tử, Hòa Bình còn có thể là một hy vọng không? Nhìn vào những mưu mô, mánh khóe núp dưới những danh từ cao cả, nhìn vào bầu khí oán thù, căng thẳng của tình hình thế giới, phải thú nhận rằng Hy vọng kia thật là Mỏng manh và Bạo động không những không giảm đi mà càng ngày càng trở thành Thống trị có thể đưa Nhân loại đến một Diệt vong hoàn toàn.


ĐẠI-HỌC
__________________________________________________
(1) Trích Tạp chí Esprit tháng hai 1960.



 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #76 vào: 12/02/2017, 16:46:42 »
TUỒNG ẢO HÓA

Tuồng ảo hóa bầy ra đấy,
Cảnh phù du trông thấy mà đau
.
(Ôn Như)

            Bắt đầu triết học Đông phương, ở Ấn Độ hay ở Trung Quốc, chúng ta phải thích quan điểm cơ bản chung của hai nền tư tưởng cổ điển ấy, là giá định biến hóa về sự vật. Ở Ấn Độ, giá định ấy gọi là Maya có nghĩa căn bản là ảo hóa, là ma thuật, và ở Trung Quốc, giá định ấy gọi là Dịch biến hay Am đường, giá định ấy, người ta lập nên không phải bằng vào tưởng tượng, không căn cứ vào thực tế mà chỉ bằng vào tư duy đâu. Đấy không phải là một lý thuyết trừu tượng, đấy cũng chẳng phải là một sự thực hẳn, chẳng phải cố tình yếm thế hay lạc quan, đấy chỉ là một giá định như các giá định của khoa học thực nghiệm ngày nay, rút ở nơi “ngưỡng quan phu sát” về sự vật chung quanh mình màn hạn định.
            Kể từ khai thiên lập địa, các dân tộc trên mặt đất này đã cố gắng làm công việc tìm hiểu bộ máy của thế giới.
            Máy huyền vi mở đóng khôn lường! (Ôn Như) để cố lợi dụng vào cuộc sống còn. Và sau các sự cố gắng ấy, họ đã đề nghị ra nhiều biện pháp cho các “bí quyết” về thế giới. Ấn Độ, sau một thời gian, cũng đã sớm quay về nội tỉnh trầm tư và trả lời rằng thế giới này là một tuồng ảo hóa, biến chuyển không ngừng. Hiền triết Ấn Độ tự cổ đã nhận xét và tuyên bố:

                        Ngoại giới sự vật là một giòng trôi chảy,
                        Nội giới tư tưởng là một giòng trôi chảy khác
.

            Thật vậy, càng nhìn kỹ vào sự vật ở ngoại giới cũng như ở nội giới, chúng ta càng thấy ở đây cũng biến đổi không ngừng. Sự thật như thế, nhưng một khuynh hướng tự nhiên của tinh thần chúng ta lại cố tìm cái gì không trôi chảy, không thay đổi, bất biến, trường cửu, thường trụ. Hệ từ trong Kinh Dịch ở Trung Quốc thì bảo:
            Thực hiện cái tính còn mãi, ấy là cửa ngõ của Đạo-Nghĩa (Thành tính tồn tồn đạo nghĩa chi môn).
            Tức là lấy sự tìm tòi cái gì còn mãi, trường cửu làm mục tiêu của triết học, của đời người, của đạo học, của chân lý và nghĩa lý.
            Còn ở Ấn Độ thì tư tưởng triết học hay đạo học Yoga, cũng lấy mục tiêu thực hiện cái Tiểu Ngã (Atman) ở người ta đồng nhất với cái Đại Ngã (Brahman) ở vũ trụ, theo khẩu hiệu Tat tvam Asi và Brahmasmi, là cái thực tế Toàn Nhất bất di bất dịch, cái Bản thế là bản thể của vũ trụ.
            “Duy Nhất Bất động linh hơn là tư tưởng, cái Ấy Thần linh cũng không tới được trong sự tiến tới. Cái Ấy, về sự bền vững thì ở xa các vật chạy đuổi” – (Isha Upanisad) – sự bền vững và bất biến chúng ta tìm tòi vì nó đem lại cho ta sự bình tịnh cho tinh thần lo lắng sợ hãi, nhưng cái Ấy ta không tìm thấy, hay khó lòng đã thấy được. Sự thực chúng ta chỉ thấy tất cả đều không còn “thương hải biến vi tang điền” hay là:
                        “Trăm năm một cuộc bể dâu”.
            Các hiện tượng nhờ đó thế giới chứng tỏ sự thật tại của nó thì đều tạm thời, trôi qua, giả dối. Một màng ảo ảnh phủ che lên sự vật, giấu kín cái thực tại đích xác của sự vật, thực thể vô thủy vô chung đã tạo ra và duy trì vũ trụ.
            Tóm lại bất cứ ở chỗ nào chúng ta để ý quan sát, chúng ta đều thấy Thế giới hiện ra là một trường biến hóa dịch động, hay là thành, trụ, dị, diệt, cho nên các đạo sĩ Ấn Độ lánh vào thâm sơn cùng cốc hay ngồi ngắm dòng nước chảy trên bờ sông Hằng Hà hay Ấn Độ Hà, nhịn ăn và chay tĩnh trong lòng, trầm tư mặc tưởng về sự ảo hóa của sự vật, bất thường của cuộc đời, cố tìm đạt tới cái thực tại trường cửu bất biến ở đàng sau các trạng thái thay đổi không ngừng, cố nắm lấy cái thực thể tồn tại có cái khả năng ảo hóa hiện ra ở trong các trạng thái thiên hình vạn tượng.
            Theo triết giả cổ điển Shankara thì thế giới bên ngoài không có thật. Cái biểu tượng của chúng ta về nó chỉ là ảnh tượng kết quả của sự phóng xuất ra ngoài những quan niệm riêng của chúng ta. Đối tượng và chủ thể, cái “ta” với cái “không ta” chỉ là để thỏa mãn cho những phạm trù, những danh hiệu hữu hạn của tinh thần. Nếu giác quan lôi kéo tinh thần ra bên ngoài, thì dục vọng lại xui giục nó đi vào cuộc phiêu lưu, bỏ mồi bắt bóng của những khoái lạc lừa dối. Như thế chúng gây nên ở chúng ta cái khuynh hướng tò mò tìm hiểu và thỏa mãn, và luôn luôn, ta vấp phải cái bức tường ngăn trở bất khả xâm phạm là thời gian và không gian. Tạo vật nuôi cho những khát vọng nó không có thể thỏa mãn được. Nó thực là một tấn trò quỷ thuật, nó gợi cho chúng ta lòng ham sống yêu đời mặc dầu cuộc đời có đầy những đau khổ. Chúng ta vẫn sẵn sàng hy sinh cái cá nhân, cái bản ngã yêu quý cho những lý tưởng hão huyền. Thực là trái nghịch, mâu thuẫn sướng khổ trà trộn, vui buồn không rời nhau.

                        Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán
                        Giắt díu người lên cạn mà chơi
.

            Người ta sinh ra ở trong bể khổ khác nào như cá sống ở trong nước, mà lại cứ muốn cứu vớt lên bờ cạn.
            Đây là ảo hóa, đây là Maya, thực thực hư hư khôn lường. Tuồng ảo hóa Maya, giam cầm giác quan ta, hệ lụy tâm tình ta và che phủ không cho tinh thần thấy được cái chân lý càng ngày càng xa xăm khi chúng ta tưởng đang tiến tới gần rồi.
            Khi nào một tinh thần đã chịu huấn luyện theo những kỷ luật Âu Tây, thấy những quan niệm về sự vật của Đông phương trên đây, y bèn lấy làm lạ về sự phủ nhận khinh miệt những ảo ảnh liên lạc chúng ta với vũ trụ, vì y quen tin là một số ảo ảnh, nếu thực có ảo ảnh, vẫn được thừa nhận là có thật chắc chắn, đích xác.
            Nhưng không có lẽ các tư tưởng gia Đông phương lại là nạn nhân của những mộng tưởng vô lý khi họ cố theo đuổi về các lý bản thể. Có lẽ những tin tức chúng ta lượm được về thế giới bên ngoài đều là huyễn tưởng vì chúng đi đến ta sau khi đã bị làm sai lạc, thiên lệch thêm bớt. Vậy thì muốn biết sự vững chắc bền bỉ của một ngôi nhà chúng ta phải thử thách những nền móng của nó, ở đây trước hết chúng ta cũng phải phê phán ngay những nguyên lý của tư tưởng. Nếu nền móng tỏ ra mong manh ở chỗ nào thì chúng ta có quyền ngờ vực những kết luận không chắc chắn tự nền móng ấy xuất ra vậy.

ẢO HÓA MAYA HAY LÀ SẮC KHÔNG
                        Thuyết tương đối về thế giới
                        “Le monde existe, mais n’est pas réel” Thế giới có mà không thật.
                        (Lama Tsong Khapa)

            Người Ấn Độ nói rằng: Ví thử trong lúc tranh tối tranh sáng, anh đang đi chơi ở vùng quê anh nhìn thấy một khúc thừng nằm quấn ở đất và anh tưởng là một con rắn. Con rắn ấy không phải thực là một con rắn, nó chỉ là ảo ảnh của cái thừng trong mắt anh đó thôi. Nhưng nó cũng có một thực tại tương đối ở thế giới hiện tượng và ứng dụng thực tế. Anh cho là thật có một cách chủ quan, nó có thể làm cho lùi sợ, kinh hoảng kêu cứu, tim anh đập mạnh, và nếu anh có bệnh đau tim thì anh có thể chết được, vì nhìn khúc thừng tưởng là con rắn. Nhưng con rắn ấy vẫn chỉ là cái thừng vô tri vô giác. Anh chỉ cần, biết cái tính chất thật của nó, chỉ cần làm sao cái ảo ảnh, cái huyễn tượng chỉ có ở trong tinh thần anh mất đi thì tự nhiên con rắn kia sẽ biến khỏi trước mắt anh, con rắn mà trước sau không từng có bao giờ hết. Nhưng thực ra anh không có thể nào đồng thời, cùng một lúc vừa nhìn thấy rắn lẫn thừng. Sự nhìn thấy cái nọ bài trừ sự nhìn thấy cái kia. Và chỉ có cách xét cứu con rắn ấy mà anh có thể làm mất được hiện tượng con rắn để nhìn nhận ra cái thừng mà thôi.
            Và theo Shankara thì:
            “Maya (ảo hóa) trước hết là huyễn tưởng do đó mà cái Ta (với ý chí cùng tình tự của nó) tưởng là một cá thể. Vì cái tin tưởng ấy, tồn tại sau khi người ta đã hiểu bằng trí thức rằng cái Ta, bản ngã không có thể là cá nhân được, cá tính không có vẻ thật hay không thật, vì nếu cái tin tưởng vào nó mất đi, thì không làm gì còn cái ta cá nhân để có thể nhận định cá tính, không có thật nữa. Vậy nguyên lý cá nhân hóa cái ý thức của một cá nhân đã có vẻ nó như là một cá nhân và về cái thế giới này như một vật đối tượng của thực nghiệm của nó. Vậy mà sự cá nhân hóa ấy là cái gì không có thể có thật, như thế thì phải coi sự cá nhân hóa ấy, ngã chấp ấy như là nguyên lý ảo hóa của vũ trụ tính Maya, ảo hóa là nguyên lý của sự ngã chấp hay cá nhân hóa, sự vô thức không có bắt đầu, mà cái Ta cá nhân phải quan niệm như là làm điều kiện tích cực cho cái thực tại cá biệt cũng như cho cái vô thức chủ quan của nó. Trước mắt của cá nhân, có vô số cá nhân, cho nên Maya có thể được coi như thân thể của vô số cá tính không có bắt dầu.
            “Một đàng khác thì, người ta đã hiểu thế giới như là toàn thể hệ thống những kinh nghiệm của cái ta cá nhân. Những kinh nghiệm ấy ngoài cái ta ra chỉ là những sự phân chia sai biệt và những hình danh sắc tướng rỗng tuếch.
            “Vậy thì Maya có thể coi như vô số hình danh sắc tướng tự chúng không có thực mà tuy vậy người ta không có thể phủ nhận đi được. Cái quan niệm này về Maya chỉ có thể hiểu được qua cái quan niệm trên đây coi Maya như nguyên lý vũ trụ của sự ngã chấp huyễn ảo. Coi như vũ trụ tính thì người ta phải hiểu Maya tương quan với cái ngã vô cá tính tức là Phạn (là đại ngã) và tuy vậy người ta vẫn chỉ hiểu là không phải Đại ngã. Phạn thiện: Đại ngã tuy vậy không tất nhiên có quan hệ với Maya ảo hóa: người ta có thể hiểu Phạn, tuy không phải là cần thiết như là không phải Maya. Phải hiểu tạo vật như biểu hiệu trên đất của Maya. Ở một phương diện Brahman: Phạn Đại ngã trở nên thế giới mà không mất siêu tính của nó. Thế giới là một ảo ảnh tuyệt đối, vừa thật vừa hư, thật như Phạn, như nguyên nhân tồn tại ở kết quả, và hư như là khác với Phạn.”


***

            Ngoại giới sự vật hiện ra như một tuồng ảo hóa mà những điều kiện để khảo sát, khám phá tìm hiểu thì trà trộn lẫn lộn đến nỗi người ta khó lòng phân biệt được cái gì thuộc về sự vật hiện tượng với cái gì do năng lực đã xuất hiện vì những hiện tượng đã khích gởi.
            Chúng ta tham gia một cách mật thiết vào sự cấu tạo nên những tri giác đến nỗi phần lớn những ấy là sản phẩm của chính chúng ta. Chúng ta là những hóa công mà không biết đấy thôi. Và sự giải thích của tất cả sự vật thì nằm ở tại nơi chúng ta. Chúng ta khám phá thế giới ở trong bản thân chúng ta như là kết quả của sự cố gắng của ta mà chúng ta không biết. Chúng ta đã tô điểm thế giới một cách vô ý thức, chúng ta đã thay đổi cả thế giới đi. Nhưng cái mặt nạ của thế giới chúng ta tạo ra thì chúng ta tạo tùy theo với khả năng tài liệu của chúng ta có. Trong kho tàng của tinh thần chúng ta chỉ kiếm được có hạn nhưng trang sức để có thể tô điểm cho thế giới của ta. Chúng ta khó lòng vượt quá giới hạn của chúng ta được. Cho nên tất cả thế giới cũng như chúng ta đều bị thời gian, không gian và lý nhân quả cầm tù, giam hãm. Hẳn là chúng ta đã in vào hình ảnh của thế giới cái dấu hiệu xuất bản của chúng ta, nhưng dấu hiệu ấy có lẽ không thích hợp với quan điểm của Hóa công chủ tể.
            Những định luật mà chúng ta tưởng đã cướp được cái bí quyết của Tạo hóa thì sự thực là biểu thị của những phản ứng của chúng ta đối với các hiện tượng vây bọc chúng ta. Quả táo rơi không tất nhiên đã bộc lộ cái định luật hấp dẫn của Newton. Định luật ấy không thấy in ở chỗ nào trong sự vật, nhưng tinh thần của Newton đã khám phá ở trong những nếp kín đáo của tinh thần của ông. Định luật ấy đã phát minh ra như là một sự phản ứng kế tiếp cho nhiều sự quan sát đã gây lên ở tinh thần của Newton cái biểu thị thiên tài ấy.
            Hình như những vật ở ngoại giới cũng như những định luật đều là hoạt động của tinh thần chúng ta tạo ra cả. Bởi vậy cho nên không lấy gì làm lạ mà chúng ta nhìn thế giới tùy theo với nhu cầu thay đổi của cái hoạt động ấy vậy: khi thì chúng ta coi con rắn như cái thừng, khi thì coi cái thừng là con rắn. Sự thực tri thức nằm ở trong bản thân nhân loại. Nó kéo cái trí thức ấy ở chúng nó mà ra. Cái trí thức ấy nằm ngủ tại đây như cái nấm nằm trong cái hạt, trong cái nấm ấy ẩn tất cả khí lực cần thiết cho sự phát triển của một gốc cây da vĩ đại.
            Có những tâm hồn chất phác hồn nhiên được thần tiên yêu dấu, đã nghe được tiếng nói bí mật của tạo hóa. Tiếng nói của vạn vật đã nói gì như Duy Tân đã diễn tả. Sự thật những tâm hồn ấy đã nghe thấy tiếng nói ở trong đáy lòng của mình và báo cho biết Chân lý. Thánh kinh Cơ Đốc cũng viết:
                        Bénis soit les coeurs purs car ils voient Dieu.
                        Phúc thay tâm hồn thành khiết, vì chúng thấy được Thượng đế.
            Tuy nhiên, thực ra thì ngoại giới dựng trước mặt ta nhiều chướng ngại để chứng minh sự có thật của nó. Cái điều mà chúng ta áp dụng danh từ “vật thể” cho tất cả các đối tượng đủ tỏ rằng giữa chúng có một phẩm tính chung là thực tại hay tồn tại.
            Một vị giáo chủ ở Tây Tạng là Tsong Khapa đã có một lời tuyên bố rất đẹp này là: “Thế giới có, tồn tại, nhưng nó không thật. Le monre existe, mais il n’est pas réel” sự tồn tại chỉ đem lại cho sự vật một tính cách tương đối lệ thuộc, còn như thật tại ngụ ý nghĩa một sự tồn tại có tính cách tuyệt đối, thoát khỏi mọi lý nhân quả.
            Sự thiên sai vạn biệt của hiện tượng, tính cách đa nguyên của những ảo ảnh che phủ cái thuần tính trong trẻo của những quan niệm ví như những nếp sóng lăn tăn đủ khuấy rối những hình ảnh dưới nước vậy, sự tìm tòi cái Đồng Nhất tính trong cái Thiên sai và sự khám phá vũ trụ trong cái vô số vũ trụ cho chúng ta nắm được thật tại.
            Chúng ta phải nhất quyết trừ bỏ tất cả náo động giả trá lừa lọc và nhìn nhận rằng trong công việc của nhận thức, tinh thần và thế giới bên ngoài thông đồng giao dịch với nhau cũng theo đuổi một cứu cánh duy nhất.
            Đạo sĩ thi hào Tagore nói: “Luôn luôn hai và luôn luôn một”.
            Phải chăng đấy là tiếng hát của tình yêu? Cũng như thi hào Việt Nam Nguyễn Khắc Hiếu có hai câu thơ để cực tả tình yêu:
                        “Mình với ta tuy hai mà một,
                        Ta với mình dầu một mà hai.”
            Vì tình yêu cho chúng ta biết toàn diện hơn, biết thông cảm đồng nhất vậy.


NGUYỄN ĐĂNG THỤC



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #77 vào: 19/02/2017, 11:52:24 »
Đại học | Số 17 [tháng 9/1960 | 168 trang]
                                  NGƯỜI THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY

MỤC LỤC
ĐẠI-HỌC |  LỜI GIỚI THIỆU |  3
ĐỖ MINH VỌNG |  QUYỀN LỢI VÀ ĐỊA VỊ CỦA NGƯỜI CAO NIÊN XƯA VÀ NAY TRONG XÃ HỘI |  6
NGUYỄN QUANG QUÝNH |  MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI CỦA THỜI ĐẠI: CÁC ĐẢNG THIẾU NHI |  30
NGUYỄN HUY LỊCH |  NHỮNG THẮC MẮC VỀ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI THANH NIÊN |  49
CUNG GIŨ NGUYÊN |  HƯỚNG ĐẠO, MỘT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC NHÂN VỊ |  63
DONOGHUE |  VẤN ĐỀ THANH NIÊN TẠI MỸ CHÂU VÀ Á CHÂU, ĐẠI HỌC ĐƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ |  80
NGUYỄN ĐĂNG THỤC |  THANH NIÊN NGÀY NAY DƯỚI MẮT MỘT ĐÀN ANH LỚP TRƯỚC |  84
SV ĐẠI HỌC HÈ 60 |  THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI ĐẠI MÌNH |  92
NGUYỄN VĂN TRUNG |  NHẬN ĐỊNH TỔNG KẾT |  103
LÊ TÀI TRIỂN |  CÁ NHÂN ĐỨNG TRƯỚC PHÁP LUẬT |  116
TRƯƠNG VĂN CHÌNH |  NHÂN ĐỌC CUỐN “VIỆT NGỮ CHÁNH TẢ TỰ VỊ” CÓ CẦN THỐNG NHẤT LỐI ĐỌC, LỐI VIẾT TIẾNG VIỆT KHÔNG? |  135
LÊ TÀI TRIỂN |  NHÂN BÀN ĐẾN “NGUYÊN TẮC HỢP PHÁP” NGÓ QUA VỤ ÁN RẠCH HÀO |  149
________________________________________________________________________________

 
The following users thanked this post: dalanmai

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #78 vào: 19/02/2017, 12:02:41 »
LỜI GIỚI THIỆU

            Cũng như năm ngoái, chúng tôi đã tổ chức một Đại học Hè 60 lần thứ hai ở Đàlạt với đề tài Thảo luận “Tìm hiểu người Thanh niên Việt Nam ngày nay” từ 11-6 đến 27-6-1960.
            Như các bạn độc giả đã biết, Đại học Hè không phải là trại hè để nghỉ mát, cũng không phải là một lớp học hay huấn luyện, nhưng là một gặp gỡ hiểu ra nghĩa sâu của nó. Ngoài phố, trong chợ, người ta có thể gặp bao nhiêu người, nhưng đó mới chỉ là sự giao nhau giữa hai đồ vật như hai chiếc xe gặp nhau. Trong Trường học, nhất là trên Đại học, người Sinh viên và Giáo sư cũng không có hay rất ít tiếp xúc trong năm học; họ cũng chỉ là giao nhau mà thôi, chưa phải là gặp gỡ giữa hai tâm hồn. Sự gặp gỡ này nhằm mục đích khám phá tha nhân như một huyền nhiệm đầy phong phú với tất cả những nét riêng tư đặc biệt của họ. Đó là ý nghĩa và mục đích của Đại học Hè. Tạo ra mọi sự gặp gỡ giữa các tâm hồn. Sự gặp gỡ đó sẽ đưa đến trên phương diện tinh thần một sự gây tỉnh thức nơi những Sinh viên một vài vấn đề quan trọng liên hệ đến đời sống của họ trước bản thân, gia đình, dân tộc nhân loại trong hoàn cảnh hiện đại; trên phương diện giáo dục, gây cho Sinh viên có một thái độ tri thức rất cần thiết trong thời đại này, tức là một thái độ cởi mở, đối thoại, khoan dung tôn trọng và liêm chính, biết đi tới người khác để đón nhận, tìm hiểu, trao đổi với tấm lòng khiêm tốn và yêu chuộng chân lý, và sau cùng trên phương diện nhân loại, tạo một tình thân ái giữa Sinh viên với nhau, biết yêu đời và có ý thức tập thể. Vì Đại học Hè là một gặp gỡ nên mỗi người đều có trách nhiệm tạo ra sự gặp gỡ đó nghĩa là mỗi người trách nhiệm trong mọi sinh hoạt của Đại học Hè nhằm thực hiện sự gặp gỡ, khám phá tha nhân đó. Cho nên tinh thần Đại học Hè là TRÁCH NHIỆM và TRƯỞNG THÀNH. Không có một kỷ luật nào bó buộc người Sinh viên phải giữ cả: nhưng dĩ nhiên một Sinh viên đã nhận định được mục đích của sự có mặt của mình trong Đại học Hè, sẽ tự nhận lấy sự bó buộc của tập thể như một người Trưởng thành. Chính vì thế, mà chúng tôi gọi người Sinh viên Đại học Hè là Tham-dự-viên, nghĩa là trách nhiệm đời sống của Đại học Hè, không phải chỉ là một khán giả thụ động ghi nhận lãnh hội và không chịu trách nhiệm về sự thành công hay thất bại của người diễn viên trên sân khấu chẳng hạn. Trái lại, Tham-dự-viên nghĩa là Đại học Hè, hay hoặc dở đều tùy ở mỗi người tham dự, là diễn viên. Tham dự là tích cực góp ý kiến, xây dựng trong các buổi hội thảo, là tham gia các sinh hoạt văn nghệ, du ngoạn, thể thao nhằm mục đích gây một thân ái, siết chặt tình bạn, tạo điều kiện tâm lý cho những sự gặp gỡ trên phạm vi tinh thần, tri thức.
            Đó là một điểm mà năm ngoái chúng tôi chưa thực hiện được hoàn toàn nhất là về Ban Tổ chức. Theo đúng tinh thần Trách nhiệm và Trưởng thành, người Sinh viên sẽ phải đảm nhiệm cả việc Tổ chức lãnh đạo toàn bộ Đại học Hè, điều mà năm ngoái còn do ban Tổ chức, là Giáo sư nắm giữ. Năm nay, chúng tôi mong muốn và đã thực hiện đầy đủ tinh thần Trách nhiệm và Trưởng thành bằng cách thực hiện khẩu hiệu: Ban Tổ chức là phương tiện – Tham-dự-viên lãnh đạo…
            Đại học Hè năm nay so với năm ngoái đông gấp đôi. Năm ngoái có 80 năm nay 120… toàn thể là Sinh viên gồm đủ các ban ở hai trường Đại học Huế và Saigon. Xét về giới có 30 Nữ và 90 Nam.
            Trong hai tuần, các diễn giả và tham dự viên đã cùng nhau thảo luận chung quanh đề tài: “Tìm hiểu người Thanh niên Việt Nam ngày nay”. Tìm hiểu người Thanh niên nói chung, của mọi xứ sở, mọi thời đại và người thanh niên Việt Nam nói riêng với những đặc điểm của tuổi trẻ trong thời đại hiện tại.
            Nhưng muốn tìm hiểu người Thanh niên, có lẽ phải đứng trong vị trí của người Thanh niên mới hiểu được họ. Do đó chúng tôi đã chú trọng đến ý kiến của chính Thanh niên nhận định về mình và coi những ý kiến đó như là trụ cột của đề tài thảo luận năm nay. Bài “Người Thanh niên Việt Nam ngày nay nhận định về thời đại của mình” do toàn thể 120 Tham-dự-viên nghĩa là của những người từ 18 đến 25 tuổi góp ý kiến chung và xây dựng nên. Có lẽ những ý kiến đó còn thiếu sót, vội vã, nhưng dù sao đó cũng là tiếng nói chân thành của họ mà thiết tưởng những người yêu họ và lo lắng đến số phận họ sẽ sẵn sàng lắng nghe và ghi nhận. Chưa phải là đồng ý hay không, nhưng trước hết cần lắng nghe và tìm hiểu đã với một tấm lòng cởi mở, quảng đại và yêu chuộng sự thực.


ĐẠI-HỌC



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #79 vào: 19/02/2017, 20:24:52 »
QUYỀN LỢI VÀ ĐỊA VỊ CỦA NGƯỜI CAO NIÊN XƯA VÀ NAY TRONG XÃ HỘI

            Thưa các bạn,
            Trước hết tôi thấy cần có mấy lời phân trần về mục tiêu của tôi với đề tài của bài thuyết trình này.
            Tôi không đến cùng các bạn với tư cách một giảng viên có mục đích để nhận định.
            Nhà triết học không dám tự xưng là người có trí.
            Triết học gia chẳng qua là kẻ hâm mộ tri thức.
            Phần tôi đây cũng không dám tự giới thiệu với các bạn là một nhà triết học. Tôi chỉ nguyện là một kẻ học triết thôi. Tôi là kẻ hỏi vơ vẩn, hỏi lôi thôi, theo lối trẻ con nghịch ngợm theo lối người lẩn thẩn, có khi làm cho thính giả khó chịu như khi người ta bị ruồi trâu đốt.
            Không kiêng dè ai cả, không vì nể dư luận, tôi trộm phép đặt ra những câu hỏi về những vấn đề tưởng đã giải quyết rồi:
            – Thế nào là giá trị của tuổi già?

Đề tài
            Đề tài chung trong những buổi nói chuyện Đại học Hè này là: “Người thanh niên ngày nay” thế mà người lẩn thẩn kia lại tỏ ý muốn hỏi về người cao niên với địa vị quyền lợi của bọn người đó. Có lẽ các bạn tự nhiên đã có cảm tưởng rằng như thế là nghịch rồi, là kháng nghị với ban Tổ chức trại hè này; tỏ ra là một kẻ gàn, não hay phản bác, phản bác để phản bác.
            Thưa các bạn, mỗi khi: “Ông nói gà, bà nói vịt” như thế thật hỗn độn. Nhưng tôi xin cải chính với cử tọa rằng: Thanh niên với người cao niên không phải như: gà với vịt. Vì lý do hiển nhiên rõ rệt:
            Gà già cũng là gà, không kém gì gà con, chứ không bao giờ gà lại hóa ra vịt. Thế mà – Người cao niên vốn là thanh niên cũ, người trẻ tuổi hẳn là cụ già tương lai.
                        “La jeunesse et la vieillesse
                        La vie et la mort sont étrangement unies en nous
”.
            Nhà hiền triết thượng cổ Héraclite vạch ra điều đó: “Nơi con người, cái trẻ cái già, sự sống và sự chết đã có liên lạc nhau cách lạ lùng biết bao”.
            Vậy xin định rõ ý nghĩa đề tài của bài này như sau:
            Tuổi già kể là một trị xét theo phương diện những yêu sách của sự hành động và tôi xin đem đối chiếu hai tuổi già và trẻ, cũng là về mặt đó.
            Đây không phải là vấn đề lý thuyết suông, trái lại phù hợp với thực tế thường nhật.
            Ngày nào cũng xẩy ra những trường hợp để ta có dịp so sánh những giá trị đặc biệt thuộc về từng tuổi một.
            Thí dụ: – Một thanh niên mới mãn khóa, nhận việc trong một sở: trong đó có một số các viên chức chỉ muốn theo đường lối cũ, không chịu cải cách… còn thanh niên kia, vì có tinh thần phấn chấn, có óc sáng kiến, nên rất nhiều ý kiến về cách cải tạo… nhưng các cụ không nghe…
            – Một Linh mục mới thụ phong, có tính hiếu tân, ưa hoạt động, được bổ nhiệm làm Cha phó trong một họ đạo đặt dưới quyền một Cha già có tính bảo thủ… thành ra nhiều lúc hai người không đồng ý với nhau về phương pháp hành động trong khu của mình…
            – Trong một nước đang trải qua một cơn khủng hoảng hoặc về chính trị hoặc về kinh tế, có khi xẩy ra những cuộc xung đột giữa những lớp người trẻ già – là thường…
            – Hay là có khi sau một quãng thời gian chiến tranh một nước nào đã thua… Trong nước người có tuổi xét thấy nên đầu hàng còn người trẻ hơn lại chủ trương không nên… Hãy nhớ câu truyện Tướng De Gaulle phản đối lại với Thống chế Pétain từ năm 1940…
            – Sau cùng, xin dẫn chứng một trường hợp này rất có tính cách cụ thể:
            Ngày kia, một trang thanh niên đến thăm tôi, có hỏi ý kiến về về vấn đề này: đương lúc học hành, chưa hết khóa, sinh viên có thể lập gia đình được không?
            Tôi trả lời rằng: không nên vội làm lễ thành hôn. Và tôi căn cứ vào nhiều lý lẽ, hoặc lẽ chung, hoặc lẽ riêng, để chứng minh rằng: cứ thong thả thì hơn.
            Mỗi khi ta thấy người nào quen đến cùng ta, hỏi cho biết ý kiến ta về một vấn đề gì thực thiển khó nghĩ quá, khó giải quyết quá, tự nhiên ta có tư tưởng rằng:
            Chắc người đó còn dùng dằng chưa quyết, chính vì thế nên họ tỏ ý muốn nhờ ta chỉ bảo hộ.
            Có ngờ đâu anh ta, tuy theo lời nói, tỏ ra là còn phân vân, nhưng trong thâm tâm, lại đã quyết nghị rồi – mặc dầu chính mình vẫn chưa khởi thức điều đó cho rõ ràng. Thực ra, anh ta đã hướng về một giải pháp rồi…
            Trong cuốn “L’existentialisme est-il un humanisme?” ông Sartre đã phân tách tình-ý của người thích giáo. Một cách rất khéo và có lẽ các bạn cũng đã có lần chứng nghiệm điểm tâm lý đó cũng đã am hiểu ý nghĩa trong câu “Les jeux sont faits”… “Nước cờ đã định rồi” của Sartre.
            Phần tôi, sau khi đã tốn biết bao nhiêu lời hùng hồn, biện thuyết để khuyên anh bạn trẻ thì mấy hôm sau, tôi lại thấy cậu lui tới báo tin cậu sắp làm lễ cưới…
            Lẽ tất nhiên tôi không lấy thế làm ân hận, tôi không ngạc nhiên tý nào. Kỳ thực ra tôi đã đoán trước rằng: sở dĩ người ấy hỏi cho biết ý kiến, không phải họ định nhường lại cho ta quyền quyết nghị đâu, nhưng nhân được nghe ta phô diễn tư tưởng của ta, người thỉnh giáo lại có dịp để tự hiểu, tự ý thức lấy mình với lập trường riêng tư.
            Rút cục: ngày cử hành hôn lễ, tôi thân đến chủ sự để chúc phúc lành cho cậu thanh niên đã không theo ý tôi…
            Vậy không phải mục đích của tôi để bàn luận về vấn đề:
            – Sinh viên có nên lấy vợ sớm hay muộn
            – Tướng De Gaulle và Thống chế Pétain, vị ái quốc nào sai…
            Về những thí dụ trên, tôi xin thực hành phương pháp giản lược tương tự như hiện tượng luận.
            Ngõ hầu nhận định được thế nào là thái độ nội tâm của người trẻ, người già sắp sửa tra tay vào việc để hành động.

Tìm hiểu yếu tính và giá trị riêng của sự già
            Muốn nghiên cứu về yếu tính của sự già, dĩ nhiên là trước tiên ta đứng về phương diện thời gian khách quan.
            Tuổi tác là một trong những yếu tố khách quan để cấu thành một cảnh huống nào đó, một vị trí sẽ làm trụ sở cho con người tự do ăn ở cùng đi đứng trong hoàn cảnh đó.
            Vậy về vấn đề tuổi của một người là bao nhiêu, ta rất có thể xác định đúng như đếm.
            Trong viễn tượng đó, gọi là “Già cả Cao niên”, chỉ vì nhiều tuổi. Đó là cái già khách quan được ám chỉ trong câu:
                        “Cái già sồng xộc nó đi theo sau
            Hay là trong những câu văn như “Già lão”, “mình già thân lão”.
            Kèm theo với tuổi già, thường thường ta thấy có phần suy bại điêu linh, khi ít, khi nhiều, nhưng khi nào cũng có. Cho nên có câu nhắc tới:
                        “Cụ già đầu bạc răng long
                        “Lão ô bách tuế bất như phượng hoàng sơ sinh”.
            Thực ra, hai chữ Già Yếu đã quen đi theo nhau.
            Tuy vậy cũng phải công nhận rằng nhiều người đã tới tuổi già rồi, nhưng không đến nỗi là “già cấc, già cằn cỗi”. Có khi một số khá đông trong những lớp người đó vẫn đóng vai trò quan trọng và giữ được địa vị cao trong xã hội.


ĐỊA VỊ CỦA NGƯỜI CAO NIÊN TRONG XÃ HỘI
            Tại sao thế? Chỉ vì đặc tính của cảnh huống “trong cõi người ta” cốt ở chỗ nó có bề ngoài (điều đó đã rõ lắm rồi), mà lại có cả bề trong nữa. Nội giới và ngoại giới gặp nhau tại vị trí. Vị trí ví như chân trời nối liền lại hai thế giới. Vì thế phàm cảnh huống có tính cách đặc biệt theo bề ngoài, cũng hàm mang một ý nghĩa khác về phương diện nhân sinh.
            “Toute situation, en tant que vécue, éprouvée, revêt une qualification du point de vue humain de la valeur”.
            Phàm địa vị nào một khi nó hệ đến cuộc sống thực nghiệm của con người, đều mặc lấy một tính cách nào đó về phương diện giá trị tùy theo quan điểm về nhân sinh quan của người ta.
            Vì lẽ đó ta hiểu tại sao chữ già có hai nghĩa:
            – theo nghĩa đen chữ già chỉ tuổi cao.
            – nhưng về phương diện giá trị chữ già lại có nghĩa khác.
            Ta có thể quan niệm một thứ xã hội khác với xã hội nhân vị truyền thống. Nếu tôn chỉ trong xã hội đó đại khái là nên lấy năng suất làm quý, lẽ tất nhiên, lớp người già yếu tàn tật trong xã hội đó bị dư luận coi như lớp người vô ích, những ký thực trong xã hội.
            Nhưng trong xã hội có tính cách tôn chỉ nhân bản, thì không như thế; chữ già vốn để khiêu gợi những phản ứng khác hẳn. Có mối liên tưởng để nối chữ già với hai chữ kinh nghiệm và khả tính. Do đó nghĩ đến người già tự nhiên ta đã có ý tôn trọng rồi.
            Về sự liên tưởng đó những cách nói thông thường, những câu văn thông dụng đã minh chứng rõ ràng. Theo sách tự điển Việt Nam của Thanh Nghị, chữ già, nghĩa thứ nhất là “lâu năm”, nhưng nghĩa thứ hai: “có nhiều kinh nghiệm”, “khéo léo” như trong câu văn: “Già giặn” (kinh nghiệm chắc chắn). (Hai chữ “lão thành” cũng cùng một ý nghĩa như vậy). Cho nên có khi người ta được khen như sau: “Cách chơi cờ của ông ấy đã già lắm”.
            Nhưng vì trên đời đa số những kẻ khôn thường hay lợi dụng cái khôn của mình để mà sưu cầu tư lợi, làm cho người dại bị thiệt, thành ra có khi chữ già (nghĩa là giỏi) để chỉ những người gian tà. Thí dụ trong câu “cáo già” hay “bợm già” (người lừa đảo, trộm cắp có nhiều kinh nghiệm).
            Còn nghĩa thứ ba, chữ già là “quá độ thường”, “quá mực thường”, “hơn”; như trong câu “già đòn non lẽ”.

Kinh nghiệm của hạng lão nhân
            Từ xưa đến nay đám tiên sinh trong xã hội được kính trọng, là vì tư nhiên công luận đã gắn một giá trị vào chữ già. Giá trị đó là kinh nghiệm.
            Trong Kinh thánh của dân Do Thái và người theo Cơ Đốc giáo, xin trích mấy đoạn văn này:

            Eccles. VIII-9
            “Ne fais fi du discours des viveillards
            “Car eux-mêmes ont été à l’école de leurs parents, c’est d’eux que tu apprendras la prudence et l’art de répondre à point nommé”.

            Xin tạm dịch:
            “Những lời nói của người cao niên, người đừng coi thường, đừng khinh miệt làm chi.
            “Chính các cụ đã học hỏi nơi cha mẹ mình.
            “Vậy nơi các cụ, ngươi cũng sẽ học như vậy để ngươi biết ở khôn ngoan hầu có đủ tài trả lời cho đúng điệu”.
            (Ám chỉ đến khẩu truyền từ đời ông cha sang đến con cháu.)

            Eccles. XXV-3
            “Quelle belle chose que le jugement joint cheveux blancs et, pour les anciens, de connaitre le conseil! Quelle belle chose que la sagesse chez les viveillards et chez les grands du monde une pensée réfléchie! La couronne des viveillards, c’est une riche expérience”.

            “Quý hóa thay! Tài phán đoán của những kẻ tóc bạc, và tài khuyên bảo của đám tiên sinh.
            “Quý hóa thay đức khôn ngoan nơi lão nhân, và những tư tưởng thâm trầm nơi những kẻ có vị vọng trên đời.
            “Về kinh nghiệm mà đã phong phú lên, như thế mới là mão triều thiên của lão phu”.

            Vì một lẽ khác nữa nên người già được tôn trọng, được biệt đãi trong xã hội:
            Nhiều bậc già cả niên cao hãy còn đang trách nhận trong gia đình hoặc trong chính sự.
                        K. 675 “Cỗi xuân tuổi hạc càng cao
                        Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành

            Nói riêng về thân phụ sinh ra cô Kiều, trong chỗ bạn bè với nhau, ta cũng khó có thể đồng ý với ông Lê Văn Hòe mà phê bình các phản ứng của cụ.
            Xưa kia, khi còn tráng kiện, cụ ví như cây gánh vác nhiều cành, đã đành; nhưng đến lúc gặp phải nỗi khó khăn, không còn thấy cụ gánh vác gì cả. Một mình cô Kiều có công cứu vớt gia đình trong giờ hiểm nghèo, mà những lý lẽ của cô trình bày cùng cha đã chóng làm cho cụ ưng theo: Thôi, cứ để một mình con hy sinh…
                        “Phải lời ông cũng êm tai
            Người chỉ biết khóc thôi, khóc suông!
                        “Nhìn nhau giọt ngắn giọt dài ngổn ngang
            Dầu vậy chỉ vì công nghiệp tích trữ từ trước, đa số người già cũng đáng được đám hậu sinh đặc biệt tôn trọng – Và bó buộc hơn cả.
                        K. 604 “Làm con trước phải đền ơn sinh thành
            Hơn nữa, ví như có một người già nào đó công ít, tội nhiều không có tri thức, suốt đời đã làm sằng; nhưng, chỉ vì người ta già nua tuổi tác, nên người ta cũng đáng được lớp hậu sinh tôn trọng phần nào.
            Tại sao thế? – Vì sự sống, sự tồn tại – huống hồ sự sống lâu cũng là một giá trị…
            Sau cuộc cách mệnh Pháp năm 1789, hai người bạn gặp nhau. Trong mấy năm mưa dồn sóng vỗ, hai người xa cách nhau, nay đến lúc trùng phùng, một người hỏi thăm bạn mình rằng: “Trong mấy năm vừa qua, thì đã làm gì?” Người kia chỉ trả lời cộc lốc một câu: “J’ai vécu, đã sinh tồn”.
            Sống còn… như thế không phải là ít
            Sống cũng đã là một giá trị rồi!
            Hay nói đúng hơn là sự hiện hữu quý hóa hơn hết cả mọi giá trị, tuy rằng sự hiện hữu không thuộc về phạm vi của giá trị vì lý do không thể đánh giá cho sự hiện hữu, chỉ có những yếu tính mới có thể đem đối chiếu với nhau. Còn sự hiện hữu như là hệ số đính vào giá trị được thực hữu.
            Đành rằng không thể lầm lẫn sinh tồn với hiện hữu, nhưng vì đối với ta hiện hữu tức là bột phát để sống, thành ra đừng nói gì về cuộc đời người ta sống đã ra tốt xấu thế nào, không cần phải cân nhắc xem thân thế người ta đáng khen hay đáng chê. Chỉ vì người ta sống lâu, ai cũng lấy làm khâm phục: người già đã thắng thời gian. Hữu thể – Trước mặt các kẻ có khiếu để lấy thực tế thông thường làm ngạc nhiên (Tại sao có hữu thể, chứ không phải chỉ có hư vô) – Hữu thể để đánh dấu cho sự thắng lợi của chữ “hữu” trên chữ “vô”. Huống hồ hễ người nào đã tới tuổi già, ai cũng mừng, ai cũng ca tụng như tán dương công đức của vị anh hùng.
            Và phản ứng như vậy thật có lý. Trong xã hội mà người già được tôn trọng ấy đủ chứng trình độ sức lành mạnh về tinh thần trong xã hội đó được rất cao.
            “Hiếu sinh”, yêu đời là nhân đức.
            Nhưng đến đây, chắc có người nêu ra vấn nạn rằng:
            “Thà chết vinh, chứ không thà sống nhục,
            Sự sống không phải là một giá trị tuyệt đối”…
            Nói thế, thì thậm phải. Vả lại không phải chúng tôi chủ trương rằng có thể phân tách thật yếu tính với sự hiện hữu đâu.
            Thực thể vốn là một yếu tính được thực hữu. Và từ khi tôi có thật, tôi có bổn phận là phải lắng tai nghe tiếng gọi tôi hãy tiến lên để “Minh minh đức” – nghĩa là “Tận kỳ tính”.
            Nhưng, thiết nghĩ rằng cũng nên nhấn mạnh vào giá trị đặc biệt của riêng sự hiện hữu đó: Không có tôi, thì tôi nẩy nở ra làm sao được…
            Xin thí dụ như sau:
            Dù một tội nhân bị kết án xử tử, ta vẫn không được phép chửi. Và đến lúc chém đầu hắn, phàm người biết nghĩ đều cũng lấy làm cảm động huyền nhiệm thân phận làm người: có khi con người cùng một lúc đáng quý (vì phẩm giá làm người), và đáng chê (vì tội ác đã phạm). “Corruptio optimi pessima!” – Cái gì tốt nhất mà chẳng may đã hư đi, thì hóa nên tệ nhất.

Phê bình
            Nhưng bây giờ tôi xin định giới hạn cuộc thảo luận để mà lập luận một vấn đề rõ rệt này. Thế nào là chân giá trị của kinh nghiệm nơi những bậc lão nhân, trước những yêu sách của hành động.
            Ta có bổn phận thảo kính cha mẹ, tôn trọng kẻ già, điều đó đã đành. Nhưng đến lúc phải tra tay vào việc, đến lúc phải lo sao cho đời sống thực tiễn được cải lương, hoặc đời sống cá nhân, hoặc đời sống của đoàn thể xã hội; đến lúc tham dự vào cuộc sinh hoạt cộng đồng, có phải ta bao giờ cũng có bổn phận phải theo ý kiến người già? Thí dụ: sinh viên đó có nên hoãn lại cuộc hôn nhân chỉ vì lý do cha già khuyên bảo đừng vội đi kết bạn.
            Tôi xin vội trả lời rằng: Ý kiến của một người có tuổi bao giờ cũng có thể mang lại sự bảo đảm của kinh nghiệm và đức khôn ngoan cho nên hễ thanh niên không chịu xem xét và khảo sát cho cẩn thận như thế thật là phi lý bất cẩn, dại dột, sơ suất. Nhưng không phải bất cứ trường hợp nào ý kiến của người già cũng được thanh niên coi là khôn ngoan hơn.
            Tôi xin phép dẫn chứng một đoạn văn này của Péguy trích cuốn Clio trang 237:

            “On a fait un proverbe… qui est bien le plus sot de tous. (Et Dieu sait si communément un proverbe est sot.)
            On dit: Si jeunesse savait, si vieillesse pouvait.
            On dit ça pour faire croire que la vieillesse sait.
            C’est une politesse que l’on fait aux vieillards.
            Mais la vieillesse ne sait pas, parce qu’elle est historienne.
            Et c’est la jeunesse qui sait aussi, parce qu’elle qeut.
            Et la vieillesse ne sait pas, puisqu’elle ne peut pas”.

            Xin tạm dịch như sau:
            “Người ta đã tạo ra một tục ngữ.
            Tục ngữ đó hẳn là vô lý, lạt lẽo nhất đời
            (Vả chỉ có Trời mới biết cứ như thường tục ngữ lạt lẽo chừng nào.)
            Người ta bảo: Giả sử thanh niên được biết, giả sử cao niên đủ sức!
            Người ta bảo như vậy có ý làm ta tin rằng người cao niên biết.
            Như thế khác nào như kính cẩn lễ phép với hạng lão nhân.
            Kỳ thực ra cao niên không biết – vì lý do người cao niên đều là những sử gia.
            Chính thanh niên mới biết – vì lý do thanh niên hữu lực.
            Còn cao niên không biết – vì cao nên bất lực”.

            Thưa các bạn, đoạn văn này ban dịp để ta khâm phục trí tuệ minh mẫn và óc phê bình của ông Péguy. Ông không lãnh nhận ngay những ý kiến sẵn có và phổ thông. Ông có tinh thần phấn đấu cho xứng đáng một nhà trí thức chân chính. Ông đã hiểu thế nào là sứ mệnh của nhà tư tưởng – như Heidegger tiên sinh nhận định rằng:

            Il faut “Arracher l’être à l’étant
            Arracher l’être à l’apparence et à l’opinion”
            “Cần phải giật lấy bản thể đã ẩn náu nơi hữu thể,
            Giật lấy thực thể đã núp bóng hình tưởng,
            hoặc đã nép mình trong công luận”.

            Nghĩa là phải nghị luận, phân tích, đào sâu ngõ hầu qua hiện tượng mà đi tới nguyên thể.
            Vấn đề lập luận đây để so sánh thanh niên với cao niên. Bình diện để đứng mở cuộc đối chiếu đó là giá trị.
            Thế nào là giá trị của từng hai lớp một về khả năng trong cuộc hành động.
            Tri thức và kiến giải bên nào được đúng hơn? Thực lực để điều khiển hành động bên nào được chắc chắn hơn?
            Ông Péguy vạch ra điều này: không thể phân tách ra tri thức và sức hành động, là vì mối liên đới can hệ giữa cả hai hỗ tương với nhau. Thiếu sức hành động, tất nhiên tri thức lại kém. Trái với thành kiến của các kẻ đem ly khai lý thuyết với thực tiễn. Péguy – một môn đệ trung thành của Bergson – chủ trương rằng: Chính cuộc sống để đưa tới chân lý sống động. Hay là nói theo lối các nhà triết học hiện đại, ta có thể nói rằng: “C’est à partir deson projet fondamental que l’homme détermine la vérité de l’action” Chân lý thực tiễn của con người được nhận định ngay ở trong lãnh vực của dự phóng. Dự phóng của con người mới là xuất phát điểm của tư tưởng.
            Trong thiên Clio, Péguy lĩnh hội thuyết của Bergson mà phân biệt,
            Histoire: “sử ký” và Mémoire: “ký ức”.
            Sử ký và ký ức đây ta nên hiểu theo ý nghĩa mà Péguy có ý gán cho hai chữ đó. Nói sử ký đây có ý nói về một môn khoa học có tính cách khách quan – vô tư – Sử gia (nếu theo quan niệm đó) chỉ nhìn xem: như quan tướng ngày duyệt binh “L’historie s’occupe de l’évènement, mais n’est jamaisdedans”. Sử ký lưu ý đến những biến cố nhưng không bao giờ lưu lại tại trận. Còn ký ức là sức nhớ việc cũ của một kẻ vẫn còn đang tham gia vào cuộc sinh hoạt chung.
            Đến đâu ta mới có thể định rõ thế nào là nhược điểm trong tri thức thực tiễn của đám cao niên (nói chung); thế nào là sở trường của thanh niên.
            Nguyên tắc để đo lường, để cân nhắc những giá trị tri thức hệ đến hoạt động là như sau:
            Tôi càng nhiệt thành hăng hái lên mà tham dự vào cuộc sinh hoạt; tư cách của tôi càng ứng dụng vào phận sự phải phán đoán để điều khiển cuộc hành động.
            Sở đoản của lão nhân được hiện thân nơi công chức hay quân nhân về hưu. Dịch ra Pháp ngữ, hai chữ Hưu trí là “prendre sa retraite”, tức là “rút lui về ẩn dật”. Kể ra theo nghĩa đó, về hưu tức là đoạn tuyệt với đời.
            Tôi cũng biết rằng nhiều người về hưu, có khi là cố tình về hưu sớm, tất để bỏ việc cũ nhận việc mới. Nhưng hai chữ “hưu trí” cũng để tượng trưng cho một thái độ chung trước đời; thái độ của các kẻ không còn “ở trong cuộc nữa” nhưng chỉ đứng một bên để xem; và khi dự phóng căn bản (le projet fondamental) của những lớp người đó, không phải để lao mình vào cuộc sinh hoạt chung, nhưng để khách thể hóa quá khứ cũng như hiện tại. Còn về tương lai… Cụ Nguyễn Công Trứ nói:
            “Việc sau nghĩ lại chẳng thừa hơi”.
            Trong cuốn Etre et Avoir (Có tôi – Tôi có của…) G. Marcel nghiên cứu thái độ của con người giữa lúc suy nghĩ về cuộc đời của mình. Cuộc đời đó, họ ngắm nghía mãi như quan chiêm một cảnh nào đó – khác nào như cuộc đời đã khách thể hóa rồi trước cái nhìn của khán giả, – cùng đã trở nên như vật sở hữu bất động để họ chiếm cứ mãi mà hưởng thụ vui lấy mình vô ích…
            Vậy cứ lệ thường: người già không còn để sống với thực tế hiện tại, người già không còn để thông phần trong việc góp sức vào hiện đại. Nhưng người già để sống với những kỷ niệm đời xưa đem so sánh với những chuyện thời sự. Thái độ của các vị là thái độ của sứ giả, của chứng nhân, là một thái độ bàng quan. Đây là thái độ của một kẻ không có quan hệ, đứng một bên mà dòm. Người già không còn tham dự vào việc cũ, vì lý do rằng quá khứ là quá khứ. Việc đã qua, khi đã thuộc về lịch sử nay đã đưa tới một hình thức nhất định như hình tướng các cổ tích (Passé monumental) (Sartre).
            Lẽ tất nhiên người già cũng không tận tâm tham dự vào thời sự… Những người già thường hay nói: “De mon temps…” “Thời tôi ấy à…” – người ta làm như thế này như thế khác…
            Cách nói như vậy ngụ ý rằng:
            “Tôi là người của thuở xưa, chứ không phải là một người bây giờ”.
            Vậy, hình như Quá Khứ, ta có thể quan niệm được theo hai lối:
            1) Có khi Quá Khứ như đã đông lại (figé)…
            Đó hẳn là “Quá Khứ đã qua đi” (Passé passé), đã khách thể hóa rồi. Đó là Quá Khứ của Sử Ký (theo ý nghĩa của Péguy: Histoire et Inscription – Vả phải chăng chữ Ký, trong danh từ Sử Ký cũng có ý nghĩa là Inscription: ghi chép)…
            Vậy đến lúc học hỏi nơi những người già nào đã về hưu (tức là đoạn tuyệt với đời thực tế), lẽ tất nhiên, các vị chỉ biết ngoảnh đầu lại mà nhìn về Quá Khứ, hầu rút lấy trong đó những khuôn mẫu, những mô phạm nhất định (modèles, paradigmes) để ta cũng chỉ cần bắt chước, để ta áp dụng cách nô lệ máy móc, không cần phải phát minh những giải pháp mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới…
            2) Nhưng, ngoài “Quá khứ đã đi qua”, còn Quá Khứ vẫn còn hiện diện (passé présent). Chính đó là Quá Khứ của Ký ức (theo Péguy) (Histoire et Mémoire – Tưởng rằng hai chữ Lịch Sử cũng cân đối với chữ Histoire theo hai nghĩa đó).
            Nếu người già khuyên người trẻ là người của Ký ức (hay Lịch Sử) chứ không phải là người của Sử Ký, người già đó tự nhiên đã biết rút kinh nghiệm trong cuộc lịch duyệt của mình; nhưng Kinh nghiệm đó chỉ để cộng tác với nhiều yếu tố khác, để góp phần với hết thảy những sức hoạt động của hiện tại. Người già mà tôi ám chỉ đấy không có thành kiến rằng những biến cố của lịch sử luôn luôn được tái diễn in như nhau, nhưng trái lại người già đó thấu đáo ý nghĩa đặc biệt hàm chứa trong một hoàn cảnh mới mẻ – mặc dầu hoàn cảnh đó cũng giống như mấy hoàn cảnh khác thuộc về dĩ vãng. Châm ngôn của người già đó là chính câu của Nietzche (Gai savoir XII-II-83).

                        “Féconder le passé en engendrant l’avenir
                        Que ce soit pour moi le présent
”.

            Làm cho Quá Khứ đủ năng lực sinh sản tương lai, chớ gì đối với tôi như thế mới là Hiện tại.
            Cách phân biệt như vậy rất có thể giúp ta nhận định được thế nào là thái độ linh động của nhà tư tưởng.
            Thí dụ trong phạm vi của triết sử.
            Đối với những hạng người gọi là Hủ nho, những đệ tử thụ động của thánh Tôma hay là các nhà kinh viện, phải chăng quá khứ là “quá khứ đã qua đi”. Học cho biết người xưa quan niệm như thế nào (“Tử viết”… “Aristote les ait”) còn chính mình nghĩ thế nào không biết…
            Đệ tử chỉ cần sưu tầm tư tưởng của người xưa khác nào như trẻ con chơi cò chết. Mà thực ra tư tưởng của họ cũng chết… triết cổ không đưa họ đến chỗ tự suy tư. Còn trái lại, nếu ta vẫn hiểu thế nào là sự hiện diện của quá khứ, thì học, tức là – Thông cảm với cổ nhân – để mặc lời chép trong sách. Khêu gợi những phản ứng chính tông nơi lòng ta – theo đà sống của một luồng tư tưởng không ngừng, tiếp tục công việc do tiên sinh khởi xướng để chính mình còn tiến lên… Lúc bấy giờ tư tưởng mới có thể liên tục với ý thức chân thực về mình, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, tùy theo trình độ ý thức của mình về thân phận làm người…

Người cao niên lỗi thời
            Trong thiên Clio, Péguy chủ trương rằng:
           
            “Vieillir, ce n’est pas avoir changé d’âge,
            c’est changer d’âge
            ou plutôt, c’est avoir trop persévéré dans le même âge
”.

            Già đi, không phải vì đã đổi khác về tuổi tác nhưng già đi ắt là đổi tuổi mình (tức là tuổi thật) thay tuổi khác (tức là tuổi xưa) hay là nói cho đúng hơn, là vì nấn ná lưu lại với cùng một tuổi như độ trước.
            Péguy còn nói:

            “Le vieillissemsnt est précisément une opération
            par laquelle on s’enfonce graduellement
            par laquelle le même être s’enfonce graduellement
            dans le même point de perspective
            dan une considération de plus en plus reculée du même âge
”.

            Nghĩa là:
            Sự già đi đúng như thể là một quá trình
            của một kẻ lần chìm xuống (trong), cùng một quan điểm thuộc về cùng một tuổi thuở xưa.
            Thành ra,
            Vieilleir c’est précisément devenir d’un autre temps, d’une autre génération.
            Già đi hẳn là hóa nên một kẻ thuộc về một thời đại khác, một thế hệ khác.
            Còn trái lại, đừng có già đi – theo lối những người tóc bạc mà trí vẫn sáng suốt, tâm hồn vẫn trẻ trung, – con người lúc nào cũng để ứng đối với cảnh ngộ mà đảm nhận phận sự của mình trong hiện tại theo tiếng gọi của vị lai – chứ không dám hồi tưởng và luyến tiếc vô ích… (opération de retour et de regret).
            Nếu Péguy không sai khi phân biệt:
            – thời gian của sử gia.
            – thời gian của các kẻ nhớ để mà sống động.
            Nếu ta có thể lĩnh hội học thuyết của Heidegger phân biệt:
            – quá khứ đã qua (dĩ vãng) “Passé passé’
            – quá khứ còn đang hiện diện “Passé présent”
            Ta cũng có thể phân biệt hai thứ người già và hai thứ kinh nghiệm. Và phân biệt như vậy rất mực là bổ ích cho ta đến lúc cân nhắc điều hơn lẽ thiệt trong lời khuyên nhủ của người già.
            Có những “hưu lão” – những kẻ không tận tình với cuộc sống sinh hoạt hiện tại. Lại có những kẻ lúc nào cũng vươn mình tới tương lai để chấp nhận hiện tại với hết cả những khả năng sống động đã tích trữ từ trước. Người hiện hữu trong lịch sử vẫn mang trong mình dòng máu quật cường của tiền nhân để lại, như vậy cũng có kinh nghiệm son sẽ vẫn chỉ đủ năng lực để sao lại những bài cũ, để lặp đi lặp lại cùng một câu, để tái bản chứ không đủ sức mà phát minh – nhưng chỉ nguyên có đủ tài để chế tạo đúng như kiểu có sẵn (Hãy nhờ G. Marcel phân biệt hai động tự: Créer – Produire).
            Không phải bất cứ lời khuyên của cụ già nào cũng có giá trị đối với những yêu sách của cuộc hành động. Nghĩa là đứng về phương diện giá trị của tuổi già (la valeur viveillesse), số tuổi không cần bằng tính cách. Có lời chép rằng “La valeur n’attend pas le nombre des années” (Phẩm giá không chờ số tuổi). Nhưng ta hãy coi chừng, có khi ta cũng có thể nói rằng: “La valeur n’atteint pas le nombre des annéer” (Phẩm giá đuổi không kịp số tuổi).
            Trong hài kịch của Molière (Misanthrope 1-2) ta thấy một công tử sắp đọc cho các bạn nghe bài thơ mới soạn. Anh ta khoe khoang rằng: “Au reste vous saurez que je n’ai demeuré qu’un quart d’heure à le faire”. (Vả lại, ông còn phải biết: soạn ra bài thơ này, tôi mất có mười lăm phút). Nhưng người “yếm thế” kia trả lời rằng: “Voyon, Monsieur, le temps ne fait rien à l’affaire”. (Thưa ông, xin ông hãy xét cho: vấn đề thời giờ nào có hệ gì đến vấn đề này). Bài của ông, nó có hay, hoặc là nó không hay, là chuyện khác với chuyện ông tốn thì giờ nhiều ít!
            Vấn đề giá trị trong lời khuyên của một người già cũng như vấn đề giá trị của bài thơ. Lẽ tất nhiên người khuyên bao giờ cũng căn cứ vào kinh nghiệm của mình. Nhưng không phải chỉ vì người ta sống lâu năm nên kinh nghiệm đã có thể đưa tới những hậu quả tốt đẹp đâu. Kết quả tốt xấu là tùy theo tư cách và tinh thần và tình ý người ta. Kinh nghiệm của người thông minh khác, của người ngu khác; có khi người ta càng già càng khôn, và có khi càng già càng ngu, có khi tinh thần vốn dĩ là phấn chấn, và có khi vì không ưa hoạt động nữa nên người hưu lão chỉ biết quay lại về một quá khứ chết không thể sống lại được nữa.
            Kinh thánh có lời chép rằng: “Đương lúc còn trẻ mà người không tích trữ gì cả. Đến lúc già cả, người có trí làm sao được” (Ecclsi. XXV-3).
            Hãy nhớ truyện của Nguyễn Công Trứ.
            Sau khi đã được thọ gần tám mươi tuổi, thỉnh thoảng xem ý cụ không thèm muốn để tâm vào việc đời nữa. Cụ cho rằng mình đã sạch nợ tang bồng.
            Đàng khác, mỗi khi đưa mắt nhìn về quá khứ, cụ cảm thấy rằng: “Chuyện cũ trải qua đà chán mắt” và trong lúc đó, cụ chỉ mong cho được giải trí bằng cách hành lạc.
            Nhưng lúc khác, phải chăng cụ đã giật mình mà trấn tịnh lại, mà tái nhập vào thực thể của thời gian toàn diện lo cho tương lai nước nhà.
            Cương quyết giữ trung thành với dòng dõi (quá khứ) thành ra cụ đứng vững để đối phó với tình thế (hiện tại).
            Năm Tự Đức nguyên niên 1858 khi nghe quân Pháp bắn phá cửa Đà Nẵng, cụ khẳng khái và hăm hở dâng sớ xin vua ra cầm binh chống giữ.
            Ông Péguy đề nghị tiếng Pháp nên phân biệt.
            Les vieillards (Lão gia, lão ông) et les vieux (các cụ). Thiết nghĩ rằng Nguyễn Công Trứ nên liệt vào hàng thứ hai…
            Là vì trong tuổi già, người ta đã bảo toàn được những giá trị tinh thần mà công luận cho rằng đó là đặc tính của tuổi trẻ. Cũng như không thiếu gì những người già cả vẫn có nhân đức của thanh niên. Vậy có khi người trẻ tuổi có khí khái ông già. Như thế mới gọi là: Thiếu niên lão thành, ngang vai với những bậc lão thành, lịch duyệt.
            Trong Kinh thánh có câu: (Sapo IV-8)
            “La vieillesse honorable n’est pas celle que donnent delong jours,
            elle ne se mesure pas au nombre des années,
            c’est cheveux blancs pour l’homme que l’intelligence
            c’est un âge avancé qu’une vie sans tache…”

            “Tuổi già đáng tôn trọng không phải là tuổi già
            của những kẻ được sống những ngày lâu dài
            cũng không được đánh giá tùy theo tuổi tác.
            Trí tuệ thông minh đối với con người như thể tóc bạc
            Một thân thế không tỳ ố bằng tuổi già vậy”.

            Một đoạn sau, người chính trực mà chết sớm được khen là vì:

            “13 – Devenu parfait en peu de temp, il a fourni une longue carrière”.
            “Sau một thời gian ngắn ngủi đã đắc đạo rồi, khác nào như đã sống lâu vậy”.

            Thật vậy.

            Prov. XVI-31:
            “Cheveux blanc, couronne d’honneur
            Sur les chemins de la justice on l trouve”.
            “Tóc bạc là mão triều thiên vinh hiển
            Miễn là thấy ở trong đường công bình”.

            Đến đây, có lẽ các bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên mà rằng: Lạ thật! chính diễn giả này đã già rồi, ít nhất là tương đối già. Thế nhưng diễn giả dường như có ý phản đối lại với những phái người già! Nhưng tôi đâu có phản đối lại. Tôi chủ trương rằng cái bổn phận phải tôn trọng người già có tính cách tuyệt đối. Còn về lời khuyên bảo của người già, tôi cũng chủ trương rằng, bao giờ cũng nên lấy làm quý. Nhưng tôi chỉ tìm hiểu thế nào là tiêu chuẩn để đánh giá lời khuyên nhủ, và tôi phân biệt hai kinh nghiệm: kinh nghiệm sống động và kinh nghiệm không sống động. Hơn nữa tôi đã nhấn mạnh vào điều này: Giá trị đặc biệt của người già không phải là để phái người già độc chiếm. Cũng như vậy: giá trị đặc biệt của tuổi trẻ cũng không phải để duy thanh niên độc chiếm. Hơn nữa, tôi xin giới thiệu với các bạn rằng: Là kẻ tự do, có khả năng để tự phê bình để phản tỉnh mà xem xét mình theo lối phân tâm học và tâm lý học v.v… tôi cũng có quyền để phủ nhận những xu hướng đặc biệt thuộc về tuổi già, để tự ý chọn lấy những giá trị khác tùy ý tôi muốn.
            Anh kia đến hỏi ý kiến của tôi về việc hôn nhân của chàng. Thoạt nghe tôi nói, chưa kịp cân nhắc lẽ phải trái những lời tôi nói, anh đã trộm nghĩ rằng: Cha già rồi, cha không thể hiểu tôi được. Tôi có già đâu, nhưng tôi không trẻ, nếu tôi đạt tới trình độ tự ý thức lấy mình cho đầy đủ.
            Ý thức tự do không có tuổi nào cả.
            Ý thức để thoát khỏi lãnh vực của thời gian và lẽ thật cũng có giá trị tuyệt đối, tuy rằng những phương pháp đem áp dụng vào cuộc nghiên cứu tương đối với tính tình và thái độ căn bản của người suy tầm chân lý.
            J. P. Sartre sẽ bảo: Thanh niên kia “tự khi nhi ngụy tín”, hắn tự dối lấy mình khi cố tình mà tin sai rằng: người già chẳng qua là người già. Khác nào như cỗi xuân chẳng qua là gốc cây. Thanh niên kia ngụy tín là vì không chịu công nhận quyền tự do nơi bản thân của tôi.
            Chính vì những lẽ đó thanh niên càng bị ràng buộc với bổn phận, bao giờ cũng rất nên quan tâm đến lời già khuyên bảo.
            Nhưng không phải vì thế mà ta bó buộc phải lĩnh hội ý kiến của bất cứ người già nào.
            Thiết nghĩ rằng những điều đã nói trên về tuổi già cũng có thể đem áp dụng vào câu truyện những người trẻ. Cũng như không thiếu những người già hay phô trương tuổi già của mình và yêu cầu cho được kính trọng và có khi khư khư lấy địa vị của mình trong xã hội – chỉ vỉ họ đã chồng chất lại những tuổi đầu cho khá nhiều. Vậy một đôi khi ta cũng thấy: thanh niên khoe khoang chỉ vì còn ít tuổi.
            Hai thứ người quên rằng: Từ khi thanh niên và cao niên coi như những giá trị hệ đến sự hành động, thanh niên và cao niên bó buộc phải trình diện với quan tòa là óc phê bình của người khôn ngoan (người tự do), để họ cân nhắc, để họ phán đoán, để họ đánh giá. Tòa thẩm phán của người khôn ngoan không phải chỉ để đếm số tuổi đầu, nhưng để xét xem tính cách có cân xứng với những nhu cầu toàn diện của hành động. “Une vleur s’apprécie en elle-même, abstraction faite des circonstaces étrangères à son essence même”. Đến lúc phải đo lường một giá trị – hoặc một yếu tính hoặc một giá trị hệ đến cuộc hành động, cần thiết hơn cả chỉ phải chú ý đến chính giá trị đó – không phải nêu lên vấn đề cá nhân hay những vấn đề nào chỉ có tính cách phụ thuộc, tùy thể. Cũng như Platon có ý khuyên những kẻ yêu chuộng chân lý rằng không cần hỏi: Đấy là câu của ai nói nhỉ?
            Vậy tôn trọng những người già là một chuyện, còn theo ý kiến của người già đó lại là chuyện khác.
            Tôn trọng người già là một bổn phận tuyệt đối.
            Lấy kinh nghiệm người già làm quý thì có điều kiện.
            Kinh nghiệm được đo lường “en elle-même” tùy theo kinh nghiệm là như thế nào.


« Sửa lần cuối: 19/02/2017, 20:30:45 gửi bởi nduytai »
 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #80 vào: 19/02/2017, 20:36:58 »

Giá trị của thanh niên
            Nói về thanh niên là một giá trị, trước hết ta nghĩ đến cuộc vị lai của họ như phần dự trữ đã chứa được bao nhiêu truyện không thể dự đoán được, bao nhiêu biến cố không ngờ.
            Luận Ngữ IX-22: Đức Khổng Tử nói: “Hậu sinh khả úy”. Những kẻ sinh sau mình là hạng đáng sợ.
            (Legge: A Youth is to be regarded with respect). Biết đâu tương lai (của họ) lại không bằng hiện tại của mình. Nhưng đến chừng họ bốn mươi, năm mươi mà mình chẳng nghe biết danh tiếng của họ, thì chừng ấy chẳng còn đủ lẽ sợ họ nữa rồi.
            “Les jeunes en sursis” vẫn chưa có thể đoán xét cho thanh niên. Phải chờ xem mai sau họ vận động như thế nào. Hiện giờ họ được hưởng lấy sự triển hạn mà tòa thẩm phán của lịch sử bó buộc phải ban cho họ. Đang khi chờ đợi xem lớp hậu sinh mai sau sẽ làm những kỳ công gì, lớp tiền sinh đặt mọi hy vọng vào thanh niên, vì thế mới nở trên miệng mọi người có tuổi những lời ca tụng thanh niên, những lời tỏ lòng quý mến…
            Thanh niên – là nền tảng quốc gia, là hy vọng của thế giới.


***

            Nhưng không phải tuổi trẻ để cưu mang một vị lai đẹp đẽ mà thôi. Trong lịch sử ta thấy có nhiều trường hợp đặc biệt ban dịp cho thế hệ thanh niên được đóng một vai trò quan trọng ngay từ lúc con trẻ. Gần đây, tại Việt Nam, sau đảo chính Nhật, đám sinh viên như đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng truyền bá tôn chỉ độc lập và báo thức cả một dân tộc đứng dậy mà mạnh bước vào con đường mới.
            Còn bên Cao Ly vừa rồi, ai lại không biết thế nào là công nghiệp lịch sử của thanh niên về cách mệnh năm 1960.
            Nhưng ta cũng nhận thấy rằng: sở dĩ thanh niên lại có thể thực hành được những công việc vĩ đại, không phải chỉ vì thanh niên còn ít tuổi mà thôi.
            Nguyên nhân tại sao thanh niên đã có công danh chỉ vì tinh thần của họ. Và tinh thần đó có khi cũng là tinh thần của người trưởng thành hăng hái, bồng bột, nhiệt thành với mọi việc.
            Chân giá trị của thanh thiếu niên là thiếu niên tính của họ. Giá trị đó không được chứng thực trong giấy khai sinh hay giấy kiểm tra đâu. Nhưng giá trị đó là đặc tính thuộc về chỉ hướng trong tính chất.
            Định nghĩa thiếu niên tính như vậy ắt là đi đến chỗ hệ luận rằng: Thiếu niên tính không phải chỉ nguyên là của thiếu niên, tuy rằng ta thường hay gặp tính tình đó nơi thiếu niên hơn cả. Nhưng còn bao nhiêu người già cũng được ca tụng vì tâm hồn trẻ trung.
            Tuổi trẻ là tuổi hoạt động, trông tìm và khám phá:

                        “Chí làm trai nam bắc đông tây
                        Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
”.
                        (Nguyễn Công Trứ)

            Thanh niên cần tiêu thụ nguồn sinh lực dồi dào. Họ cần chỗ khoảng khoát (đứng giữa trời đất).

                        “Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc”.
                        (Nguyễn Công Trứ, Chí làm trai)

            Tinh thần hoạt động không ngừng dạt dào sức sống, họ cần mục tiêu hoạt động hợp với sở thích. Như thế hẳn là những giá trị quý hóa.
            “C’est à partir de projets fondamentaux audacieux que peuvent être concues des idées neuves”.
            Chỉ có những dự phóng căn bổn táo bạo (“chỉ những toan xẻ núi lấp sông”), mới là xuất phát điểm cho những tư tưởng mới, có tính cách sáng kiến và phát minh.
            Hai chữ dự phóng đây nên hiểu theo nghĩa rộng: Tình ý và thái độ của một kẻ vươn mình tới tương lai.
            Nhưng cũng có một điều kiện khuyết bất khả: Thanh niên cần phải THAM DỰ vào cuộc sinh hoạt cụ thể chứ không sống với ảo mộng, hoặc rời khỏi cuộc sinh hoạt chung.

Thanh niên hãy coi chừng!
            Có khi tuổi tác theo vật chất (tức là tuổi của thân thể) (l’âge physique), không cân đối với tuổi tác theo tinh thần (tức là tuổi của tâm hồn) (l’âge spirituel, l’âge mental).
            Đã lâu đời, Hésiode tiên sinh có lời nhắc đến những trẻ con tóc điểm hoa râm. Thanh niên ngày nay có lối chải đầu lối “grisonnant” tóc lốm đốm bạc (enfants aux cheveux gris). Đàng khác, có khi vì lý lẽ vẫn chưa mang những trách nhiệm gì trong xã hội, thành ra thanh niên vơ vẩn, chưa nhập thể, bấp bênh như thuyền không neo… J. P. Sartre có ý ám chỉ đến những sinh viên con nhà trưởng giả chưa có dịp để đối phó với việc đời, với những khó khăn đi sau với thân phận làm người, thì tác giả tặng lớp thanh niên những danh từ như: “Essence en mouvement, âge truqué, fétiche” (Situations I, p. 27). Ông nói: yếu tính đang biến chuyển, đó là thanh niên, tuổi đã làm giả, linh vật kia mà!
            Chỗ khác ông quả quyết: Tuổi bất chính thực tột bực. “La jeunesse: par excellence l’âge de l’inauthentique” “C’est un âge artificiel, qu’on a fit et qui se fait”. Sartre đề nghị nên phân biệt “les jeunes gens” (ám chỉ đến một số những thanh niên: làm công tử) và “les jeunes hommes” (người trẻ).
            “Thanh niên đang sống đại yếm thế trừu tượng đó: Chỉ vì họ không mang trách nhiệm gì cả, vì tự nhiên không chịu trách nhiệm về việc gì cả, thành ra họ có tính khinh suất ghê gớm; họ tỏ ra là những kẻ nhẹ dạ, bồng bột đương lúc họ cũng công kích và gây sự. Dầu là đã nhập vào những đảng chính trị quá khích mặc lòng nhưng họ cũng chưa tham gia thực sự.”
            “Les jeunes gens vivent à plein ce grand ennui abstrait. Leur légèreté sinistre, leur aggressive futilité vient de ce qu’ils n’ont point de charges et sont par nature irresponsables; rien ne peut les engager, pas même leur adhésion aux partis extrémistes…” (Sartre, Situations I, p. 29)
            “La Jeunesse âge malheureux et coupable…
            Les “Jeunes” se groupent et se congratulent,
            …le jeune homme se croit des droits parce qu’il est jeune, comme le contribuable parce qu’il paie ses impôts ou le père de famille parce qu’il a des enfants.”
            “Tuổi khốn nạn và có tội. Thanh niên hay tập hợp để mà tán nịnh lẫn nhau, hỗ tương xưng tụng, chúc tụng lẫn nhau”. “Nous, les jeunes”. “Chúng tôi đây, những kẻ chưa đầy ba chục tuổi đầu”, trái với đám “les croulants”, “những kẻ đổ sập”. Thanh niên chủ trương mình có những quyền lợi nào đó, căn cứ vào một sự kiện độc nhất này: mình là kẻ trẻ tuổi – khác nào như công dân cùng tin rằng: từ khi mình có nộp thuế cho chính phủ, mình cũng có những quyền lợi theo với địa vị của kẻ nộp thuế – khác nào như gia chủ, chỉ vì xét rằng mình đã có con thì cũng tin tưởng mình có quyền lợi theo với hoàn cảnh đó.”
            Cũng như người già nếu tự cao tự đại chỉ vì lý do mình đạt tới tuổi già, thì tự dối lấy mình, lạm quyền và mắc phải tội ngụy tín (mauvise foi).
            Vậy thanh niên cũng không tránh được một cái lỗi tương tự như tội kia nếu tự đồng hóa mình với tuổi trẻ của mình và cố tình lại quên rằng: Giá trị của thanh niên không phải ở chỗ mình trẻ, nhưng còn phải có tinh thần nam nhi, và hơn nữa không phải giá trị đó là giá trị độc nhất; tinh thần nam nhi cần phải có lý trí của kẻ tự do điều khiển và chi phối.
            Mấy trường hợp một số:

Thanh niên “tự khi nhi ngụy tín”
            Có khi thanh niên chơi bời lêu lổng, không chịu giữ quy tắc hoặc lễ tiết nhưng tha hồ phóng đãng. Gặp có người khiển trách, họ tưởng mình có thể chữa mình bằng những lời như: “đó là lỗi của tuổi trẻ… chỉ vì bồng bột nên cũng phải chiều theo”… Và có khi đã dấn thân vào trường chính trị, họ cũng cố tình mà khiêu khích: dường như họ cho rằng, như thế mới phải, mới hợp thích với tính cách và vinh dự của tuổi trẻ. Như thế chẳng qua là “tự khi nhi ngụy tín” (mauvaise foi). Và nguồn gốc của tội tự dối mình đó là chỉ vì con người quá yêu mình, yêu mình để mà hưởng vui lấy mình. Lẽ tất nhiên ai cũng có lòng tự ái, nhưng tự yêu mình phải cho (hợp) đạo, tự yêu mình theo lý chân thật. Mình là vật gì đó, nhưng mình cũng là quyền tự do. Hai khía cạnh đó cần phải cho dung hòa, như thế mới gọi là chân lý toàn diện. Tự đồng hóa mình với tự do thôi, say mê với quyền tự do bất hữu hạn, như thế là sai, là tự khi. Tự đồng hóa mình với phần bản tính thuộc về chế độ tất nhiên luận, như thế cũng là sai, cũng là tự khi. Con người thực tế vốn là tự do, nhưng tự do đó ở trong vị trí để con người đứng giữa trời đất mà gây ra thông cảm với vạn hữu trong vũ trụ. Và điều kiện để con người lại có thể thống nhất được những yếu tố đã cấu thành bản thân, con người cần phải hướng về thực tế cởi mở tâm hồn để đón nhận thực thể. “Projet inlassablement maintenu d’ouverture à l’être dans son intégralité”.

KẾT LUẬN.– Ta muốn nên người phải hâm mộ Chân lý toàn diện:
            “Laisser l’étant paraitre ce qu’il est comme il est” Để mặc hữu thể được xuất hiện với diện mục, với chân tướng của nó theo tư cách thực của nó.
            Xu hướng của đa số người già để đoạn tuyệt với đời đã đành. Chí làm trai là nhiệt tâm yêu nước thương nòi, hăng hái lên, đảm nhận vai trò quan trọng để xây dựng.
            Nhưng người già người trẻ cũng là kẻ biết nghĩ. Người bị ràng buộc với đặc tính của mình, nhưng bao giờ cũng phải tự chủ lấy mình, tự trị lấy mình, cho cân xứng với phẩm giá của kẻ tự do.
            Bổn phận thiêng liêng của mọi thứ người hoặc trẻ hoặc già là phải làm thế nào để chinh phục chính mình hầu trở nên được một kẻ tự do.
            Hãy cai trị tuổi trẻ hoặc tuổi già của mình.
            Đừng để tuổi trẻ lôi cuốn, đừng để tuổi già cầm hãm lại.
            Chân lý phiến diện không phải là chân lý nữa, nhưng chân lý toàn diện mới có thể gọi là chân lý.
            Một giá trị nào nếu đã tuyệt đối hóa, thì không phải là một giá trị chân thật nữa. Vậy đừng có tán dương giá trị đặc thù của thanh niên hoặc của cao niên, nhưng hãy để cả hai bổ khuyết cho nhau.
            Các lớp xã hội cộng tác với nhau, đoàn thể xã hội mới mạnh.
            Trong tạp chí Bách Khoa 82, Cô Liêu viết bài nhan đề “Thanh niên bên nước Anh”. Bài đó có những câu này:
            “Ngày nay thanh niên được trau dồi kiến thức và văn hóa mới khác hẳn những phương tiện dạy dỗ, những quan niệm về đời sống đã đào luyện cha anh họ.
            “Bởi vậy rất khó có một sự thông cảm giữa hai thế hệ trẻ già. Xã hội người lớn không có liên lạc mật thiết với thanh niên đã căn cứ vào vô tuyến truyền hình, điện ảnh, báo chí, để tạo ra một hình ảnh cứng ngắc và vụng về về thanh niên. Thanh niên không được người ta hiểu mình nên đã lảng tránh người lớn để tự tạo một lối sống riêng. Tình trạng ấy không khỏi làm cho phụ huynh và thầy học phải bận tâm.
            “Như thế, khác nào như thanh niên và cao niên đã thành hai thế giới không liên lạc với nhau không thông cảm với nhau, thật đáng tiếc! và không có lợi cho ai cả. Dù muốn dù không, chỉ có một đất chở tất cả, một trời che tất cả. Thanh niên với cao niên ly khai với nhau khác nào như không chịu đội trời, không chịu đạp đất như nhau, như thế thật vô lý. Đừng có nói: “Chúng tôi đây”, “nous les jeunes”. “Chúng nó kia”, “eux les vieux”. Nhưng từ sự ly khai giữa hai thứ người phải đi tới sự thông cảm của câu: “Chúng ta đây, trẻ già tất cả, toàn những người để cùng nhau mà đối phó với một cuộc thử thách, để cùng nhau mà chấp nhận lịch sử để sống đời sống chân thật.”


ĐỖ MINH VỌNG




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #81 vào: 26/02/2017, 14:32:09 »
MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI CỦA THỜI ĐẠI: CÁC ĐẢNG THIẾU NHI

            Từ cuộc thế chiến lần thứ hai một phong trào rất rõ rệt đã bộc phát và bành trướng trong giới thiếu nhi từ Âu sang Á: đó là phong trào các đảng thiếu nhi(1) với những hoạt động phần lớn có tính cách phản xã hội.
            Các đảng thiếu nhi này là một hình thái mới nhất và đặc biệt nhất của nạn thiếu nhi phạm pháp trên thế giới ngày nay kể cả thế giới tự do lẫn thế giới cộng sản.
            Địa hạt lý tưởng để nẩy nở của các đảng thiếu nhi là các Đô thị lớn của các quốc gia.
            Tại Nữu Ước có các đảng “teenagers”,(2) tại Luân Đôn có bọn Teddy-boys, tại Ba Lê có các đảng Blousons Noirs, tại Đông Kinh có các đảng Taizo-Zoku.
            Trong thế giới cộng sản thì bọn Hooligans hoành hành tại Mạc Tư Khoa và Varsovie (Ba Lan).
            Ngày nay các hoạt động của các đảng thiếu nhi đã được người ta theo dõi chú ý tới nhiều hơn là những hành động phạm pháp riêng rẽ có tính cách cá nhân vì hiện tượng xã hội này đã là mối lo của cơ quan hữu trách tại nhiều nước.
            Các đảng thiếu nhi không những đã gia tăng về số lượng mà lại có những hành động phản xã hội (đập phá, đâm chém…) mỗi ngày một thêm trầm trọng.
            Tại Nữu Ước từ tháng giêng đến tháng 8 năm 1957 sở Cảnh sát đã theo dõi được 110 đảng của những thiếu nhi tuổi từ 14 đến 17 và trong số này 22 trẻ đã bị giết trong những cuộc xung đột giữa các đảng thù địch;(3) nhiều trẻ trong bọn này thuộc các gia đình khá giả. Tại Pháp, thành phố Ba Lê có chừng từ bảy đến tám chục đảng thiếu nhi.
            Tại Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, tháng giêng năm 1957 một bọn trẻ từ 15 đến 20 tuổi, đông chừng 25.000 đứa đã vô cớ chiếm giữ cả đại lộ chính của thành phố rồi vào đập phá cửa hàng và đánh bị thương tới ngót một trăm cảnh binh.
            Tại Việt Nam gần đây, qua các báo chí người ta thấy các đảng thiếu nhi đã bắt đầu xuất hiện và hoành hành.
            Theo sự điều tra của một tờ nhật báo(4) thì tại Thủ đô Saigon có tới 9 hay 10 đảng thiếu niên thường tổ chức những sự bạo hành ngoài đường phố.
            Mới tháng trước Tòa án Sơ thẩm đại hình Saigon vừa xử một vụ án du đảng trong đó nạn nhân là một học sinh đã bị thiệt mạng trên sông Phú Nhuận.
            Nguyên do chỉ vì một sự xung đột giữa hai đảng du đảng.
            Những vụ học sinh “cao bồi” đánh nhau đâm nhau không mấy ngày là không xẩy ra và đã được báo chí nói tới nhiều.
            Những hành động phản xã hội này của bọn trẻ có khi là những hành động cá nhân riêng rẽ nhưng trong đa số trường hợp thường là những hoạt động của cả bọn, của cả nhóm, nghĩa là các đảng thiếu nhi có tổ chức.
            Cái khuynh hướng của thiếu nhi ngày nay ghét sự cô đơn, ưa thích nhập bọn, nhập đảng để hoạt động là một hiện tượng mới mẻ mà nhiều nhà xã hội học đã để ý nhận xét.(5)
            Trước sự bành trướng của các đảng thiếu nhi tại hầu hết các nước trên thế giới, một học giả người Pháp Ô. Georges Hahn đã tự hỏi có phải đó là một căn bệnh của thiếu niên ngày nay không?(6)
            Để tìm hiểu căn bệnh đó – nếu đúng là một căn bệnh – trước hết chúng ta hãy xét cách tổ chức và sinh hoạt của các đảng thiếu nhi. Đó là đối tượng của phần thứ nhất bài này.
            Trong phần thứ hai chúng tôi sẽ trình bày những giải pháp cho vấn đề thiếu nhi lập đảng tại các nước ngoài và tại nước nhà.
            Sau hết trong đoạn kết chúng ta sẽ cùng xét những yếu tố tâm lý xã hội đã là những nguyên nhân sâu xa của nạn thiếu nhi du đảng.

I.– Tổ chức và sinh hoạt của các đảng thiếu nhi
            a) Cách tổ chức
            Các thiếu nhi thích lập bè lập đảng thường nhập bọn với những trẻ khác cùng xóm, cùng tính tình trong những dịp gặp nhau nơi lề đường góc phố hoặc trong những khi trốn học đi chơi.
            Tình bạn hữu trong những trẻ cùng đảng thường rất khắng khít: chúng thường ăn chung thức ăn, mặc chung quần áo, có những nhu yếu giống nhau, có những vấn đề, những thắc mắc giống nhau cần giải quyết.
            Đứa trẻ khi nhập đảng đã hòa mình vào cả bọn. Cá nhân đứa trẻ không còn là điều đáng kể.
            Tinh thần đoàn kết, nghĩa hợp quần thường rất mạnh trong các đảng thiếu nhi nhất là khi cần bảo vệ đảng chống lại một sức mạnh bên ngoài có thể làm cho đảng bị tan rã, ví dụ như trong một cuộc xung đột với một đảng đối địch hay với các nhân viên công lực.
            Đảng nào cũng có một đảng trưởng chỉ huy và có những quy tắc riêng mà cả bọn phải tôn trọng.
            Những nơi tụ họp hàng ngày của đảng viên thường là hè đường, góc phố, một căn nhà trống hay một khoảng đất hoang.
            Những đảng thiếu nhi tại Nữu Ước thường có từ 3 đến 40 trẻ, tuổi từ 13 đến 19, đa số thuộc loại trẻ từ 15 đến 17 tuổi.
            Một đảng có thể được tổ chức theo chiều dọc hay theo chiều ngang hoặc theo cả hai cách.
            Theo chiều dọc một đảng được chia ra làm nhiều Chi, theo loại tuổi nhỏ hay lớn (senior, junior).
            Tổ chức theo chiều ngang, một đảng gồm có nhiều phân bộ, coi như những chi nhánh, hoạt động với những khu vực khác nhau, khi cần thi hành một kế hoạch lớn hay cần phô trương lực lượng đối với một đảng khác thì các phân bộ mới được tập hợp tại một nơi nhất định.
            Khi có động nghĩa là khi bị lộ hình tích vì những hoạt động phi pháp, khi nhiều đảng viên bị bắt, lúc đó đảng thường rút lui vào bóng tối, gọi là “rút xuống hầm” (go underground) và đổi tên để tránh sự theo dõi của cảnh sát.
            b) Những đặc tính của các đảng thiếu nhi
            Mỗi đảng có một bộ mặt khác nhau vì thành phần có thể khác nhau và vì cá tính của những phần tử trong đảng khác nhau.
            Tuy nhiên nhờ ở sự nhận xét và kinh nghiệm của các cán bộ xã hội có nhiệm vụ theo dõi sự sinh hoạt của các đảng thiếu nhi, người ta đã biết được một số những đặc tính mà các đảng thiếu nhi thường có.
            Các đảng thiếu nhi thường tự chuyên môn hóa về một loại hoạt động, và như vậy đã tự xếp loại, thí dụ có những đảng chuyên gây bạo động ngoài đường phố, ưa đập phá, có những đảng chuyên ăn trộm xe hơi, có những đảng chuyên ăn trộm thực phẩm (những đảng thiếu nhi này phát sinh từ thời kỳ chiến tranh khi thực phẩm khan hiếm và các thiếu nhi thường thiếu ăn).
            Các đảng thiếu nhi thường khi còn biểu lộ cá tính của một dân tộc; ví dụ: tính ưa đập phá không mục đích, đập phá cho thích tay là một đặc tính của những đảng thiếu nhi tại Thụy Điển.
            Có khi vì quá hâm mộ một tài tử (điện ảnh hay âm nhạc) mà bọn trẻ đập phá bàn ghế nơi hội họp (thường là một quán rượu hay một rạp hát).
            Những hành động phá phách của các đảng thiếu nhi thường khi gây rất nhiều tổn hại, tuy nhiên đó còn là những tổn hại vật chất.
            Các đảng thiếu nhi đôi khi còn có những hành động nguy hiểm cho xã hội và có tính cách trầm trọng hơn như những hành động đánh người, giết người.
            Những hành động của các đảng thiếu nhi dễ biến thành những hành động giết người khi cả bọn cần tìm một vật hy sinh hoặc khi có một cuộc khai chiến giữa hai đảng thù nghịch.
            Khi muốn thử thách hay thực hiện sự đoàn kết chặt chẽ của nhân viên trong đảng, cả bọn tìm một vật hy sinh ở ngoài đảng để làm mục phiêu, làm nạn nhân. Cả bọn trút tất cả hờn giận, căm thù lên đầu nạn nhân này mà không cần tìm hiểu tại sao. Nạn nhân thường là một kẻ vô tội nhưng đã không may, vô hình chung, tượng trưng cho cái gì mà cả bọn đương thù ghét sẵn. Ví dụ dưới chế độ Đức quốc xã, những đảng thiếu nhi Đức thường chọn các trẻ Do Thái làm vật hy sinh.
            Những sự xung đột giữa các đảng thiếu nhi trong đa số các trường hợp đều do ở sự ghen tuông hay ở sự tranh giành ảnh hưởng, muốn diệt đảng đối nghịch để gây thêm uy thế. Lý do mà bọn trẻ này thường dựa vào để giải thích hành động hung bạo của chúng là một sự bảo tồn “danh dự” một danh dự hiểu theo cái nghĩa của chúng. Nhiều tên đảng trưởng tuy còn non nhưng đã có óc độc tài, không dung thứ một kẻ khác, đã tự coi ngang hàng với y trong chức đảng trưởng một đảng thiếu nhi khác.
            Đối với những kẻ côn đồ lớn tuổi, những hành động sát nhân của chúng bao giờ cũng có những lý do rõ ràng, những động lực dễ hiểu như giết người vì tham lam, vì thù hằn…
            Trái lại đối với bọn thiếu nhi người ta thường thấy có những hành vi tàn bạo, sát nhân vô ý nghĩa ví dụ có những trẻ giết người chỉ cốt để tỏ cho những trẻ khác trong bọn biết rằng mình có can đảm làm được một việc ghê gớm như vậy. Chẳng hạn như trường hợp của tên Hervé, một thiếu niên 17 tuổi can tội giết một cảnh sát viên, hiện bị giam tại một trại giáo hóa ở Pháp.(7)
            Theo chính lời đương sự thuật lại thì việc xẩy ra như sau: hôm đó y cùng hai đồng đảng ăn trộm một chiếc xe hơi. Cảnh sát không hay biết và bọn y không bị theo dõi. Tuy nhiên khi gặp một cảnh sát viên ở đường tên Hervé liền chĩa súng bắn liền, mục đích chỉ muốn tỏ cho hai đồng đảng cùng đi với y và vẫn khâm phục y, biết rằng y đã có thể làm được một việc sát nhân như vậy.
            Đôi khi lại có đứa giết người một cách vô ý nghĩa, một cách điên rồ hơn nữa – và việc này đã xẩy ra theo lời thú nhận của một thiếu nhi khác, tên Hubert tại một trại giáo hóa ở Pháp – đó là giết người để đánh đố, để đánh cuộc với nhau. Theo lời đương sự một hôm y đã đánh cuộc với đồng đảng là y sẽ giết người nào y gặp trước nhất tại một ngã tư đường, và y đã thực hiện đúng như vậy.
            Các nhà xã hội học và phạm tội học đều nhìn nhận có sự khác biệt giữa những thiếu nhi phạm pháp và những can phạm người lớn, trong các nguyên nhân gây ra tội phạm.
            Nhiều khi người ta chỉ có thể hiểu được những nguyên nhân tội phạm của một thiếu nhi khi biết những chi tiết về thời thơ ấu của đứa trẻ. Vì vậy ngày nay trong việc xử phạt cũng như trong việc giáo hóa đứa trẻ phạm tội, người ta chú trọng rất nhiều đến việc điều tra xã hội về cuộc đời của đứa trẻ trước khi phạm pháp, trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội.(8)
            c) Thành phần của các đảng thiếu nhi
            Mỗi đảng thiếu nhi có một thành phần khác nhau. Tuy nhiên nhờ ở sự nhận xét trong cách tổ chức và sinh hoạt của các đảng, nhờ ở khoa tâm lý phân tích học (psychanalyse), người ta có thể biết được những hạng trẻ nào dễ bị lôi cuốn vào các đảng thiếu nhi hơn cả, để lưu tâm phòng ngừa trong việc giáo dục con trẻ.
            Theo các cuộc điều tra các nước ngoài và nhất là cuộc điều tra mới đây tại Pháp của Bác sĩ Parrot và một nhà tâm lý học, là bà Monique Gueneau,(9) tại 7 trung tâm quan sát và trại giáo huấn vị thành niên phạm pháp (gồm 1800 con trai và 1200 con gái) thì những trẻ trong thành phần các đảng thiếu nhi thuộc 6 loại sau đây:
            1.– Thứ nhất là hạng thiếu niên chán ghét công việc làm; đi làm đã đổi chủ năm sáu lần, không nơi nào vừa ý vì chê công ít, chê chủ xấu tính, chê công việc không thích hợp. Hạng này lập bè lập đảng để được tự do làm theo ý mình không bị kiềm chế.
            2.– Thứ hai là những trẻ muốn đi tìm những cảm tưởng của một đời sống ngoài khuôn khổ, cùng với những trẻ đồng tình đồng cảnh với mình, mục đích để tìm thấy những trẻ này hình ảnh của chính mình.
            Hạng trẻ này thường là những thiếu niên tính ươn hèn, muốn dựa vào người khác. Chúng là những đứa con bị gia đình bỏ lửng, chúng đã không tìm thấy ở cha, mẹ ở gia đình một sự tin cậy, một sự vững chắc cần thiết. Hạng thiếu niên này lại có nhiều mặc cảm sợ sự ganh đua với kẻ khác vì vậy mà xa lánh những sân vận động, những nơi luyện tập thể thao.
            3.– Thứ đến những trẻ hỗn sược, vì bản tính hay vì được nuông chiều, hay cãi lại cha mẹ. Cha mẹ khuyên răn thì phát khùng hờn giận, bỏ đi. Hạng này thích lập đảng vì thường thấy trong bọn còn có những trẻ khác cũng hỗn sược, cũng vì hờn giận cha mẹ mà tới đó. Hạng trẻ này thường thuộc các gia đình khá giả. Vì những điệu bộ lố lăng, những cử chỉ chướng tai gai mắt mà bị cha mẹ mắng mỏ rồi thành giận hờn mà bỏ nhà nhập đảng. Chúng vào đảng vì thấy nhiều trẻ khác đồng tình đồng cảnh với mình. Chúng tự thấy nhẹ bớt tội lỗi đối với cha mẹ, thấy trách nhiệm được san sẻ vì không phải một mình mình mà nhiều trẻ khác cũng hành động như mình.
            Cũng thuộc hạng bất mãn với cha mẹ còn có những trẻ sống trong các gia đình nghèo khổ, gặp những người cha mẹ không xứng đáng, rượu chè, cờ bạc, bỏ mặc con cái không trông nom, chỉ đánh mắng cả ngày. Đứa trẻ lớn lên khinh nghét cha, mẹ, căm thù xã hội. Vì thiếu tình thương yêu trong gia đình, chúng muốn tìm thấy ở các trẻ khác trong bọn một tình thương mà chúng cần có. Sống một mình trong gia đình đứa trẻ giống như cái cây muốn nẩy nở mà cứ bị cắt xén. Nhập đảng đứa trẻ như tìm thấy nghĩa sống. Đó là một lối thoát cho những trẻ này nhưng một lối thoát đáng thương.
            Những trẻ này hay ưa bạo động ưa đập phá để biểu lộ sự căm hờn của mình đối với xã hội. Những trẻ này thường có những hành vi hung bạo, nguy hiểm cho xã hội. Chúng chống đối lại tất cả những cái gì tượng trưng cho quyền hành và xã hội.
            4.– Hạng thứ tư là những trẻ cô đơn, mồ côi cha mẹ hay bị cha mẹ bỏ không nuôi dưỡng. Chúng như những cái cây thiếu nước tưới, thiếu ánh sáng mặt trời. Vì không ai đoái hoài đến, vì lẻ loi nên thấy đảng thiếu nhi nào là chúng nhập bọn ngay.
            5.– Sau nữa là những trẻ, chịu ảnh hưởng quá nhiều của phim ảnh, của các tiểu thuyết kiếm hiệp hoang đường, luôn luôn sống với trí tưởng tượng. Đối với hạng trẻ này cuộc đời trong đảng sẽ đem lại nhiều hứng thú vì chúng cho là sẽ được sống một cuộc đời phiêu lưu trong một thế giới huyền ảo. Chúng tự coi mình như những nhân vật trong truyện. Hạng trẻ này hay bị những đứa khôn ngoan hơn trong đảng lợi dụng và khi cần sẽ kích thích, cho làm điều phi pháp để hứng chịu lấy tội cho cả bọn.
            6.– Sau hết là những trẻ bản tính yếu hèn nhưng nhập bọn vì a-dua như những con cừu non theo đàn. Hạng này hay bị lợi dụng nhất. Đảng thiếu nhi nào cũng có những hạng trẻ này để làm bia đỡ đạn. Vì ngu dại không hiểu cách tổ chức nên biết rất ít về các sinh hoạt của đảng, khi bị bắt không biết gì mà cung khai. Những trẻ này bản tính yếu hèn nhưng lại hay có nhiều tính xấu. Nhập đảng, được tự do hành động theo thú tính nên hạng trẻ này nhiều khi lại dễ trở thành những trẻ phạm tội thực thụ.
            Sau khi đã biết qua cách tổ chức và sinh hoạt của các đảng thiếu nhi, ta hãy tìm biết những biện pháp mà nhà cầm quyền các nước đã thi hành để đối phó với phong trào các đảng thiếu nhi.

II.– Những giải pháp cho vấn đề thiếu nhi nhập đảng
            Các đảng thiếu nhi chỉ là một hình thái của nạn thiếu nhi phạm pháp.
            Vì vậy những biện pháp tổng quát, để giải quyết vấn đề thiếu nhi phạm pháp nói chung có thể đem áp dụng ở đây. Những biện pháp này chúng tôi đã có dịp trình bày cặn kẽ trong buổi nói chuyện về vấn đề thiếu nhi phạm pháp tại Học viện Quốc gia Hành chánh ngày 4-3-1960.(10) Chúng tôi chỉ xin tóm tắt sơ qua. Những biện pháp phòng ngừa gồm có hai loại: những biện pháp gián tiếp và những biện pháp trực tiếp. Những biện pháp gián tiếp là cải thiện đời sống của cả một tầng lớp xã hội như bài trừ các nhà ổ chuột nơi bùn lầy nước đọng (một trong những nguyên nhân chính của nạn thiếu nhi lập đảng là nạn nhà ở chật hẹp thiếu vệ sinh. Phải sống chui rúc, sống chung đụng trong những căn nhà ổ chuột, chật hẹp tối tăm, đứa trẻ không muốn ở nhà suốt ngày lang thang ngoài đường, lấy vỉa hè nơi đầu đường xó chợ làm sân chơi, làm nơi tụ họp với các trẻ khác đồng cảnh rồi lập bè lập đảng làm điều phi pháp) – nâng cao mức sinh hoạt, làm giảm nạn thất nghiệp, cất thêm trường học, tổ chức thật nhiều nơi giải trí lành mạnh cho thiếu niên (chính những thiếu niên tuổi 16, 17 không công ăn việc làm, không biết làm gì, không biết đi đâu vì thiếu công việc thiếu nơi giải trí lành mạnh, thường là những tên lính mới để tăng cường đạo quân du đảng).
            Những biện pháp trực tiếp là những biện pháp cảnh sát, những biện pháp giáo dục cha mẹ, giáo hóa và hướng dẫn những thiếu nhi lầm đường.
            Biện pháp hướng dẫn những thiếu nhi lầm lỗi về con đường chính đạo là biện pháp hiện nay được phần lớn các nước áp dụng để giải quyết vấn đề các đảng thiếu nhi.
            a) Tại Mỹ quốc
            Từ năm 1950 Sở Thanh niên Nữu Ước đã thi hành một chương trình hoạt động đặc biệt gọi là Street Club project mà chúng tôi tạm dịch là “Chương trình câu lạc bộ ngoài đường phố”,(11) mục đích của chương trình này là ngăn chặn những hoạt động phản xã hội của các đảng thiếu nhi và tìm cách giải quyết vấn đề thiếu nhi lập đảng tại thành phố này.
            Để thực hiện chương trình này, Sở Thanh niên Nữu Ước dùng những cán bộ xã hội chuyên biệt (social workers). Những cán bộ này đã được huấn luyện kỹ lưỡng nên rất thành thạo về cách tổ chức và sinh hoạt của các đảng thiếu nhi.
            Hiện nay Sở Thanh niên Nữu Ước có trên 60 cán bộ xã hội để phụ trách việc liên lạc với các đảng thiếu nhi,(12) mỗi nhân viên theo dõi sự sinh hoạt của một đảng.
            Công việc của các cán bộ này được chia ra làm 3 giai đoạn:
            a) tìm biết cách tổ chức và sinh hoạt của đảng mình theo dõi.
            b) bắt liên lạc với một vài phần tử trong đảng.
            c) gây cảm tình để được nhìn nhận rồi hướng dẫn những thiếu niên lầm lỗi này về con đường ngay.
            Công việc của người cán bộ xã hội thường rất khó khăn vì bọn trẻ thường nghi kỵ, không muốn có người ngoài bọn can dự vào tổ chức của chúng dù là biết rõ thiện ý của người này.
            Buổi đầu khi gặp bọn trẻ tại một tiệm café hay một quán rượu, nơi mà chúng thường lui tới, người cán bộ lân la hỏi chuyện rồi ngỏ ý giúp đỡ như tìm việc làm, tổ chức đánh bóng rổ, tổ chức đá banh cho bọn trẻ, khi đã gây được thiện cảm, người cán bộ nói rõ nhiệm vụ của mình là giúp đỡ chúng quay về con đường lương thiện.
            Thường sau một thời gian hoạt động người cán bộ xã hội nhận thấy một sự nứt rạn trong tổ chức của đảng thiếu nhi: bọn trẻ chia làm hai phe. Một phe nghe người cán bộ chịu từ bỏ những hoạt động phi pháp. Một phe vẫn có ý muốn tiếp tục các hoạt động này.
            Tới lúc đó người cán bộ sẽ phải trình thượng cấp để quyết định có nên tiếp tục giúp đỡ phe thứ hai hay chỉ giúp đỡ những trẻ có thiện chí.
            Một điểm cần lưu ý là người cán bộ xã hội tuy theo dõi cách sinh hoạt và đi sâu vào tổ chức của đảng thiếu nhi nhưng luôn luôn nói rõ cho cả bọn biết rằng không bao giờ tán thành hay dung thứ một hành vi phản xã hội hay phi pháp.
            Nhờ ở sự hoạt động của các cán bộ xã hội này mà thành phố Nữu Ước đã tránh được nhiều cuộc xung đột giữa các đảng thiếu nhi đối địch, do những cuộc hòa giải giữa hai bên mà người cán bộ đứng ra tổ chức. Trọng tài thường là một nhân vật có uy tín trong khu phố, một vị thẩm phán hay một vị luật sư.
            Nhờ ở phương pháp làm việc khéo léo và tận tâm của các cán bộ xã hội, nhờ ở sự cộng tác chặt chẽ của Sở Cảnh sát, của các gia đình, của học đường và của các cơ quan xã hội công, tư, Sở Thanh niên Nữu Ước nếu chưa chặn đứng được hẳn các hành động phản xã hội của các đảng thiếu nhi thì cũng đã làm giảm bớt được rất nhiều tính cách trầm trọng của nạn thiếu nhi phạm pháp dưới hình thái này.
            Tại một vài thành phố khác ở Mỹ quốc mà phong trào du đảng cũng mạnh chẳng hạn như thành phố Los Angelés thuộc tiểu bang Californie, người ta còn thi hành những biện pháp khác như ban hành những đạo luật cấm thiếu niên tụ họp ngoài đường phố hay đứng đường từng bọn 2, 3 người mà không có duyên cớ (antiloitering laws), hoặc những đạo luật cấm hẳn thiếu niên không được ra đường quá giờ giới nghiêm; ví dụ như quá 11 giờ đêm (curfew law).(13)
            Theo bảng thống kê của Sở Cảnh sát thì nhờ có những đạo luật này mà những hành động côn đồ của thiếu niên tại thành phố Los Angelés đã giảm sút.
            b) Tại Pháp
            Tại Pháp người ta cũng áp dụng những biện pháp tương tự như tại Mỹ để giải quyết vấn đề thiếu nhi phạm pháp dưới hình thái các đảng thiếu nhi.
            Thành phố Ba Lê với dân số non 4 triệu có tới bảy tám chục đảng thiếu nhi có những hoạt động phản xã hội.
            Ngoài những biện pháp thông thường, người ta thấy có tổ chức “Equipe d’amittié” (E-kíp bạn hữu) là đáng chú ý hơn cả. Tổ chức này là một cơ quan tư lập, bắt đầu hoạt động từ 1948, có mục đích hướng dẫn những trẻ lầm lỗi về con đường chính đạo. Những cán bộ của tổ chức này đều là những nhân viên tình nguyện (phần lớn là các tu sĩ). Họ tìm cách kết bạn với những trẻ trong các đảng thiếu nhi, sống chung với chúng một ít lâu, tìm hiểu chúng và cố gắng tìm cách làm cho chúng từ bỏ những hành vi phản xã hội, dẫn chúng trở về với đời sống bình thường lương thiện, với gia đình với xã hội.
            Sự hoạt động của tổ chức này đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp trong công cuộc cứu vớt những trẻ tội lỗi.
            c) Tại Nga Sô
            Tại Nga Sô phong trào du đảng trong giới thiếu nhi cũng bành trướng mạnh. Đó là những bọn hooligans.
            Mới đây tờ Politika ngày 5-11-1959 xuất bản tại Belgrade, thủ đô Nam Tư trong mục “lá thư Mạc Tư Khoa” đã cho ta biết vài tin tức về hiện tình nạn thiếu nhi phạm pháp sau bức màn sắt và những biện pháp mà chánh quyền cộng sản đã áp dụng.
            Theo bài báo này(14) thì hiện nay chánh quyền Nga Sô đang lo thi hành những biện pháp thích nghi để đối phó với sự bành trướng của các đảng thiếu nhi tại thủ đô Mạc Tư Khoa.
            Hai biện pháp mà tờ báo này đề cập đến là việc nới rộng thẩm quyền các “Tòa án xã hội” và việc lập các “ban tuần tiễu nhân dân”.
            Các Tòa án xã hội tại Nga Sô là những Tòa án do dân chúng lập ra tại các xí nghiệp hay các khu nhà ở.
            Mỗi xí nghiệp trên 100 thợ làm, mỗi khu nhà ở trên 100 người đều có một Tòa án xã hội. Cơ quan này có nhiệm vụ xét xử những vụ vi phạm luật pháp liên quan đến sự sản xuất (nếu là xí nghiệp) hay đến trách vụ của những người ở chung một khu nhà ở.
            Vì bọn hooligans hoành hành, có những hành vi lố lăng phản xã hội, nên vấn đề nới rộng thẩm quyền của các Tòa án xã hội mới được đặt ra mục đích để trừng trị “những hành vi tuy không có tính cách nguy hại cho quyền lợi công cộng nhưng trái với những quy tắc về tác phong” mục đích bảo vệ đời sống cộng sản.
            Những hành phạt mà Tòa án xã hội có thể áp dụng là ngoài việc cảnh cáo hay khiển trách, lại có thể bắt bị can công khai xin lỗi và bồi thường sự thiệt hại đã gây ra hoặc thi hành một công tác ích lợi cho cả xóm ví dụ như sửa sang một sân chơi cho trẻ hay trồng một số cây bên lề đường v.v…
            Để ứng phó với những hành động phản xã hội, có tính cách côn đồ hơn của các đảng thiếu nhi, chánh quyền Nga Sô lại giao một phần nhiệm vụ duy trì trật tự cho các tổ chức của nhân dân. Vì vậy các “ban tuần tiễu nhân dân”, gồm toàn những người tình nguyện, đã được tổ chức tại tất cả các xí nghiệp, các công trường xây cất, các học đường và các nông trại sản xuất (kolkhozes). Các ban tuần tiễu nhân dân này sẽ phối hợp công tác với các lính tuần cảnh của nhà nước để giữ trật tự tại các đường phố, sân vận động, công viên và các nơi công cộng khác.
            Nếu đem so sánh những biện pháp áp dụng một đằng tại các quốc gia trong thế giới tự do và một đằng tại một nước cộng sản ta nhận thấy ngay một sự khác biệt: trong khi các quốc gia tự do giải quyết vấn đề bằng những biện pháp có tính cách xã hội là đặt trọng tâm vào việc hoán cải và hướng dẫn những thiếu nhi tội lỗi về con đường chính đạo thì bên kia bức màn sắt người ta chỉ chú trọng đến những biện pháp cảnh sát và trừng trị. Sự khác biệt này đủ chứng tỏ chủ trương tôn trọng nhân vị của các nước tự do đối với thiếu nhi và chính sách hà khắc của các quốc gia cộng sản.
            d) Tại Việt Nam Cộng Hòa
            Gần đây để giải quyết nạn thiếu niên du đảng tại Thủ đô Saigon, nhà cầm quyền đã cho tổ chức một khóa học tập bắt buộc trong 3 tuần lễ mệnh danh là khóa “hướng thiện thanh niên lạc nẻo” với mục đích giác ngộ các thiếu niên du đảng để họ từ bỏ những tính hư nết xấu. Trong lễ mãn khóa các thiếu niên đã thề sẽ trở về con đường ngay.
            Biện pháp giáo hóa cấp tốc này cũng thuộc vào loại những biện pháp xã hội nhằm mục đích hoán cải thiếu nhi lầm lỗi. Nó có ưu điểm là một biện pháp giản dị, dễ thi hành, ít tốn kém vì không đòi hỏi sự cộng tác của những nhân viên chuyên môn thành thạo về khoa tâm lý thiếu nhi để hướng dẫn. Tuy nhiên nó có khuyết điểm lớn sau đây: vì việc giáo hóa được tổ chức một cách đồng loạt, ồ ạt, cho hàng trăm trẻ một lúc, không lưu ý tìm hiểu từng trường hợp cá nhân một để giải quyết thắc mắc, để nâng đỡ, nên ta có thể e ngại rằng công cuộc giác ngộ chưa có bề sâu.
            Những giải pháp dễ dãi bao giờ cũng là những giải pháp ít hiệu nghiệm.
            Chúng tôi thiết tưởng đã đến lúc cần giải quyết vấn đề một cách sâu xa, kỹ lưỡng hơn và áp dụng không phải một biện pháp và nhiều biện pháp khác nhau, cùng một lúc.

Vài đề nghị
            1.– Có người cho rằng chỉ cần lập nhiều sân vận động để cho thanh niên có chỗ chơi thể thao hay luyện tập thân thể là giải quyết được nạn du đảng, nạn “cow-boy”.
            Theo ý chúng tôi, cổ võ phong trào thể dục và thể thao để thu hút thanh thiếu niên là một điều rất hay nhưng chưa đủ.
            Trong thế hệ hiện tại thiếu niên nước nhà cần luyện đức tính, luyện tinh thần nhiều hơn là luyện bắp thịt. Họ cần sự hướng dẫn tinh thần để khỏi đi lạc đường nhiều hơn là cần những phương tiện vật chất. Họ cần một mẫu người thiếu niên lý tưởng để bắt chước, để noi theo. Nói tóm lại họ cần trau dồi tác phong đạo đức hơn hết.
            Cách đây ngót 20 năm dưới thời Pháp thuộc, phong trào thể thao Ducouroy đã được phát động mạnh nhưng chỉ đào tạo được những thiếu niên có những bắp thịt lớn, nhưng đầu óc rỗng tuếch, vô lý tưởng.
            Ngày nay phong trào học nhu đạo đã chẳng rất phổ cập trong giới thiếu niên ư?
            Nhưng phần lớn những thiếu niên hâm mộ môn võ có những truyền thống cao quý đó, chỉ chú trọng đến phần luyện sức mà lãng quên phần quan trọng hơn là luyện tính theo tinh thần võ sĩ đạo. Vì vậy mới thấy nẩy ra những chuyện đáng tiếc võ sĩ đi đánh người hay những học sinh học nhu đạo để đi đánh nhau.
            Ta có thể nói được rằng sở dĩ thiếu niên ngày nay dễ bị phong trào du đảng lôi cuốn vì thiếu căn bản đạo đức thiếu hướng dẫn tinh thần, thiếu lý tưởng để noi theo.
            Vì thiếu căn bản đạo đức, thiếu trí hướng nên các thiếu niên đó đã như những chiếc thuyền không lái bị cuốn theo giòng nước, không biết tìm đâu ra ý nghĩa của sự sống.
            Trước tình trạng này, thiết tưởng nên cổ võ, khuyến khích, nâng đỡ phong trào hướng đạo bằng đủ mọi cách, đề cao tinh thần hướng đạo, nêu cao tác phong đạo đức của người hướng đạo sinh để tạo lấy trong giới thiếu niên một sự say mê ham thích trở thành người hướng đạo, hiện thân của người thanh niên khuôn mẫu dưới mọi thời đại.
            Một phong trào hướng đạo mạnh mẽ, khéo léo cổ võ sẽ là một phương thuốc hiệu nghiệm để trị căn bệnh thiếu lý tưởng của những thiếu niên du đảng và đồng thời trị luôn cả chính nạn du đảng.
            2.– Nhận xét thứ hai của chúng tôi là phần lớn những trẻ du đảng, lập bè lập đảng rồi làm điều phi pháp, lúc ban đầu chỉ là những học sinh trốn học đi chơi.(15)
            Chúng trốn học vì lười biếng cũng có, nhưng chúng trốn học vì chương trình học không làm cho chúng ưa thích cũng có. Nhiều thiếu nhi vào trạc tuổi 15, 16 có thể ham học hơn và có khả năng hơn nếu thay vì học chữ, chúng được học nghề.
            Phần lớn các bậc phụ huynh vẫn còn óc trọng từ chương, cứ bắt con em học chữ, dù đứa trẻ học rất kém, mà không sớm cho học nghề.
            Những học sinh hay đánh nhau, ngỗ ngược hay trốn học đi chơi đều là những học sinh học kém (nếu học giỏi, chúng đã ưa thích học).
            Các bậc cha mẹ cần lưu ý xem xét việc học của con mình. Nếu thấy đứa trẻ học kém hay lêu lỏng thì nên tìm nghề cho chúng học, trước khi chúng trở thành du đảng. Những trẻ du đảng thường dựa tiếng đi học nhưng kỳ thực là đi chơi hoặc tụ họp bè đảng, nhiều khi cha mẹ không hay biết. Nếu biết mà sớm tìm nghề cho chúng học thì vừa không uổng phí thì giờ, uổng phí tiền bạc vừa làm cho đứa trẻ, nếu học được một nghề hợp với khả năng, sớm trở thành một công dân hữu ích cho xã hội.
            Ngày nay theo gương các nước tân tiến chúng ta nên có một quan niệm mới, coi trọng các nghề bằng chân tay.
            Một yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa sự phạm pháp của thiếu nhi là một nghề. Có nghề là đứa trẻ ít hư hỏng.
            Tại các nước Âu châu, như các nước Áo, Tây Đức, hay Pháp một đứa trẻ 14, 15 tuổi nếu học kém hay không có ý định học cao nữa thì liền được tập nghề ngay. Đó là một biện pháp rất hay để bài trừ nạn thiếu nhi du đảng, chúng ta nên theo. Vì vậy tại các nước nhờ việc mở nhiều trường hướng nghiệp dạy nghề hoặc những trường kỹ nghệ thực hành là một điều rất thiết thực và cần thiết.
            3.– Sự quan trọng của việc gia đình giáo dục. Như ở phần trên chúng tôi đã nói, trong đa số các trường hợp đứa trẻ nhập đảng vì thiếu tình yêu thương trong gia đình, tiếu sự tin cậy nơi cha mẹ.
            Vì vậy các bậc làm cha mẹ nên hiểu trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái, không nên để cho chúng thiếu cái tình yêu thương đó.
            Không ai biết tính con bằng cha mẹ. Trong việc giáo dục thiếu nhi không có cơ quan nào có thể thay thế hẳn được cha mẹ.
            Học đường cũng như xã hội chỉ giữ được những vai trò phụ.
            Gia đình giáo dục bao giờ cũng vẫn là nền tảng, là căn bản của việc đào luyện đức tính cho đứa thiếu nhi. Vì vậy gia đình giữ một vai trò bậc nhất trong việc gìn giữ cho đứa trẻ khỏi sa ngã, khỏi trở thành hư hỏng. Các bậc cha mẹ nên lưu tâm đến điểm này để nhận định rõ trách nhiệm của mình: cần luôn luôn theo dõi sự học hành của con cái và đích thân trông nom đứa trẻ, kiểm soát hành vi hạnh kiểm ngõ hầu kịp thời sửa chữa những lầm lỗi. Nhiều vị cha mẹ lắm tiền của, thường có quan niệm sai lầm là con học kém hay trốn học đi chơi cũng không cho là điều đáng quan tâm và quan niệm rằng chỉ cần quăng tiền ra thuê thầy dạy tư là xong, cần chi phải đích thân săn sóc. Đó là một quan niệm rất sai lầm.


***

            Trên đây chúng tôi đã nêu rõ sự quan trọng của việc gia đình giáo dục và định rõ trách nhiệm của gia đình.
            Tuy nhiên chúng ta thử hỏi có phải chỉ có một mình các bậc cha mẹ phải chịu trách nhiệm khi con hư hỏng không?
            Xét rộng ra và nếu ta chịu khó suy nghĩ ta sẽ thấy tất cả chúng ta, chúng tôi muốn nói: tất cả xã hội, tất cả thời đại mà chúng ta đang sống đều có một phần trách nhiệm về sự sa ngã, sự lạc lõng của một số thiếu niên ngày nay.
            Những đứa trẻ du đảng, những thiếu nhi phạm pháp kia phải chăng chỉ là những nạn nhân của thời đại?
            Những yếu tố tâm lý xã hội dưới đây sẽ giúp ta trả lời câu hỏi này.
            a) Sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã là một yếu tố bất lợi cho việc gia đình giáo dục con trẻ.
            Trong xã hội mới người phụ nữ đã bỏ vai trò nội trợ để hoạt động ngoài xã hội, đi làm kiếm thêm tiền góp phần vào việc nuôi gia đình.
            Người phụ nữ đã tự lập hơn xưa, đã cạnh tranh với nam giới trong các hoạt động ngoài xã hội. Sự kính phục xưa kia của người phụ nữ đối với chồng cũng giảm sút vì thấy mình có đủ khả năng để bằng chồng, thấy mình cũng có thể kiếm ra tiền như chồng. Ở trường hợp có thể đi làm để kiếm tiền thì ít khi người phụ nữ chịu hy sinh ở nhà để trông nom việc nội trợ săn sóc con cái.
            Sau một ngày làm việc buổi chiều người phụ nữ trở về nhà với dáng điệu mệt mỏi dĩ nhiên kém niềm nở để tiếp đón chồng con.
            Trong khi đó người chồng cũng sau một ngày làm việc mệt nhọc hy vọng chờ đón ở người vợ một nụ cười một sự niềm nở thì lại thấy một kẻ cũng mệt mỏi như mình, cũng mong muốn được nghỉ ngơi như mình.
            Người chồng vì bận rộn công việc của nghề nghiệp thường để vợ lo giải quyết việc nhà, việc con cái. Nay người vợ cũng đi làm như chồng, sẽ không ai có thì giờ hay tâm trí để giải quyết các việc trong nhà. Kết quả là việc giáo dục con cái nhiều khi bị chểnh mãng nếu không hẳn là bị lãng quên: đứa trẻ trốn học đi chơi hay ngao du với những phường du đảng cha mẹ không hay biết, khi hay biết thì thường là quá muộn.
            Ở đây chúng tôi không có ý tưởng chống lại việc người phụ nữ đi làm để kiếm thêm tiền. Trong thực tế sự kiện này nhiều khi là một sự cần thiết cho sự sinh hoạt của gia đình. Hơn nữa khuynh hướng chung của các xã hội tân tiến ngày nay là tiến đến tình trạng đó. Chẳng ai lại điên rồ đến mức muốn giữ lại bánh xe tiến hóa. Chúng tôi chỉ muốn gióng một tiếng chuông, phơi bày một trạng thái để chúng ta cùng lưu tâm suy nghĩ ngõ hầu tránh được phần nào ảnh hưởng bất lợi của sự kiện này đối với sự giáo dục con trẻ trong gia đình.
            b) Sự sụp đổ của những giá trị cổ truyền, của những truyền thống tốt đẹp đã là một yếu tố bất lợi thứ hai cho việc luyện đức tính của thiếu nhi.
            Xưa kia hiền nhân coi khinh tiền bạc, danh vọng, coi trọng đức độ. Chỉ có đức độ mới là chân giá trị, mới là những kho tàng cần truyền cho con cháu.
            Quan niệm cao quý này ngày nay nhiều khi đã bị coi là một triết lý “gàn”.
            Ngày nay người ta đã sống với những giá trị vật chất nhiều hơn là với những giá trị tinh thần: thang giá trị trong xã hội đã bị đảo ngược.
            Trong xã hội hiện tại người ta đã quá say mê. Quay cuồng đảo điên với cuộc sống quá vật chất của thế giới ngày nay mà tất cả các giá trị đều lấy một mức đo chung là tiền. Từ một phương tiện, tiền bạc đã trở thành một mục đích của đời sống và đối với nhiều kẻ, nó được coi như một cứu cánh của cuộc đời.
            Óc vụ lợi được thấy đầy dẫy trong xã hội. Những nghề vẫn được coi là cao quý cũng bị “thương mại hóa”. Những đức hy sinh cao cả hay những hành vi vô vị lợi rất hiếm. Ngược lại người ta chỉ thấy đầy dẫy những hành vi thiếu đạo đức như chiếm địa vị bằng những lối tắt hèn kém, kiếm tiền bằng những phương pháp bất chính, thiếu lương tâm nếu không hẳn là phi pháp. Làm như vậy có khác gì nói nhỏ với giới thiếu niên, với thế hệ mới lớn lên rằng: Tiền bạc, địa vị, danh vọng ngày nay không về tay những người hiền, những người đạo đức chân thật mà về tay những kẻ tinh ranh quỷ quyệt, lắm mưu nhiều kế.
            Ở đây chúng tôi không dám “vơ đũa cả nắm”. Ở thời đại nào trong xã hội có những gương xấu bên cạnh những tấm gương sáng. Nhưng điều cần nói là trong thời đại ngày nay những gương xấu đã quá nhiều.
            Cái xã hội người lớn ngày nay đã làm cho thiếu nhi thất vọng vì đã không treo gương sáng, đã không để lại những truyền thống tốt đẹp cho họ.
            Tới đây chúng tôi liên tưởng đến một câu nói hằn học nhưng đầy ý nghĩa của một thanh niên, một tài tử chớp bóng mà một thời kỳ đã được coi như tiêu biểu cho thế hệ thiếu niên mới, tôi muốn nói đến James Dean.
            James Dean trong cuốn phim “thiếu nhi nổi loạn”, muốn biện minh cho những hành động phản xã hội của mình đã nói: “Làm sao thiếu nhi có thể hành động tốt được khi mà trong xã hội đầy dẫy những gương xấu”.
            Câu nói đó tuy là một lời gỡ tội nhưng nó đượm biết bao sự thực, nó đã phản ảnh cho tâm trạng của nhiều thiếu niên vì khinh ghét xã hội người lớn vì mất hết tin tưởng vào ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời, vì chán nản, vì căm hờn trước những bất công xã hội mà nhập các đảng du đảng, để sống bừa bãi, sống không biết có ngày mai, sống vô kỷ luật, vô lý tưởng, ngoài lề xã hội.
            Những trẻ đó đáng thương hơn là đáng giận, đáng cứu vớt hơn là đáng trừng trị họ chỉ là những nạn nhân của thời đại.


NGUYỄN QUANG QUÝNH
________________________________________
(1) Danh từ “đảng” ở đây được dùng để chỉ các tổ chức thiếu nhi mà trong tiếng Pháp hay tiếng Anh người ta gọi là gangs (gangs d’adolescents, teenage gangs…)
(2) Chữ teenager trong tiếng Anh chỉ những trẻ từ 13 đến 19 tuổi.
(3) Xin đọc: Philippe Parrot et Monique Gueneau – “Les gangs d’adolescents” – Privat éditeur – 1959 p. 1.
(4) Xin đọc bài “Trẻ em tội lỗi tại Vietnam” của Phan Nghi đăng trong báo Ngôn Luận ngày 8-4-1960.
(5) Xin đọc Grant. S. Mac Clellan – “Juvenile delinquency”. The H. W. Wilson Company. New York. 1956 p. 30.
(6) “Existe-t-il un mal de la jeunesse?”
(7) Les gangs d’adolescent op. cit. p. 170.
(8) Xin đọc bài “Tòa án thiếu nhi” của tác giả trong tập san Nghiên Cứu Hành Chánh tháng 3 năm 1960, trang 74.
(9) Les gangs d’adolescents – op. cit.
(10) Xin đọc bài: “Vấn đề thiếu nhi phạm pháp” các nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa” đăng trong tập san Nghiên Cứu Hành Chánh – tháng 2 năm 1960 – trang 115.
(11) Sở Thanh niên Nữu Ước (New York Youth City Board) là một công sở được thiết lập năm 1947, có mục đích phòng ngừa và kiểm soát các sự phạm pháp của thiếu nhi. Sở này, là một cơ quan trực thuộc Tòa Thị chính Nữu Ước. Về phương diện tài chánh, các chương trình hoạt động của Sở này do các ngân khoản vừa của thành phố Nữu Ước lẫn Tiểu bang Nữu Ước, đài thọ.
(12) Xin đọc: “Teenage gangs”. New York City Youth Board. 1957. P. 10.
(13) Xin đọc Juvenile violence in California, by the Citizens’ advisory committee 1958. p. 49.
(14) Xin đọc: “Articles et documents” du 8 Dec 1959 publié par la Documentation française p. 7.
(15) Theo một cuộc điều tra của “Viện nghiên cứu về thiếu nhi” tại thành phố Chicago (Hoa Kỳ) thì 65% những trẻ có chân trong các đảng thiếu nhi (gangs) đều là những trẻ trốn học.



 
The following users thanked this post: dalanmai, tnghia

Ngủ rồi tieudao15

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #82 vào: 26/02/2017, 23:12:22 »
:-)
 
The following users thanked this post: nduytai
"Thư Trung Hữu Nữ Nhan Như Ngọc - 书中自有颜如玉"

Ngủ rồi thucxaoke

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #83 vào: 26/02/2017, 23:18:05 »
 Bác chủ tâm huyết ,Xin cám ơn.
 
The following users thanked this post: nduytai

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #84 vào: 05/03/2017, 14:15:34 »
NHỮNG THẮC MẮC VỀ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI THANH NIÊN

GIỚI HẠN CỦA BÀI NÀY
            Thưa quý vị, đề tài buổi nói chuyện này là: Những thắc mắc về tín ngưỡng của thanh niên ngày nay. Vấn đề thật là phức tạp, thứ nhất vì hoàn cảnh của thính giả cũng như của diễn giả: Quý vị đến nghe thuộc về nhiều tín ngưỡng, và ngay diễn giả cũng theo một tín ngưỡng. Do đó diễn giả không thể chỉ đứng theo duy quan điểm của Đạo mình để bàn về đề tài, mà cũng phải thận trọng cả những yếu tố liên can tới các tín ngưỡng khác, điều này không phải là dễ, tất sẽ có nhiều sự sơ xuất ở nơi chúng tôi… Vấn đề lại còn phức tạp vì những thắc mắc tìm ra không phải là hiển nhiên, rõ rệt: Có những thắc mắc ta nhận định được rõ ràng; nhưng còn nhiều thắc mắc khác âm ỷ trong tiềm thức, khó mà diễn thành lời lẽ khúc chiết… Ấy là không nói đến những thắc mắc thuộc riêng phạm vi của một tôn giáo, liên hệ đến giáo lý của tín ngưỡng đó…
            Vì vậy, để buổi nói chuyện này có thể khởi mào một cuộc trao đổi hữu ích giữa quý vị, tôi xin phép vạch rõ giới hạn của bài thuyết trình:
            – Đây không phải là một thiên khảo tầm về Đạo lý của các tôn giáo hiện hữu bên Việt Nam – mà là một cố gắng để nhận định một vài nét chính trong số rất nhiều thắc mắc thanh niên ngày nay thường gặp phải trong cương vực tôn giáo, trong phạm vi tín ngưỡng.
            – Lẽ tất nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng nhấn mạnh vào những nét đại cương những thái độ thanh niên thường có, để tìm một vài nguyên do giải thích cơn khủng hoảng về tín ngưỡng. Trong công việc này, chúng tôi đã được một số thanh niên cho biết ý kiến: chúng tôi xin cảm ơn các bạn đó, tuy không cùng tín ngưỡng, song đã tin cẩn cho biết phản ứng… Ngoài ra, đôi khi chúng tôi sẽ mạn phép nhắc đến một vài ví dụ, một vài thái độ của thanh niên đối với Thiên Chúa giáo mà chúng tôi biết rõ hơn. Mong quý vị thông cảm.
            Đầu năm nay, trong một hội nghị các chuyên viên bàn về ảnh hưởng của những tôn giáo chính trong đời sống Đông và Tây phương, do UNESCO tổ chức tại Manila, và gồm đại biểu Phật giáo, Thần Đạo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Thệ Phản, Công giáo… các buổi thảo luận đã được thực hiện trong bầu không khí rất thân mật, dù các vị đại diện chẳng những là chuyên viên, mà lại còn là tín đồ nhiệt thành của những tôn giáo nói trên. Âu cũng vì mỗi người đều có lập trường rõ rệt, nhưng cũng lại biết kính trọng quan điểm tha nhân, thái độ thành thật ấy chính là một cơ hội quý báu để đàm thoại ngõ hầu hiểu biết nhau hơn. Đó cũng là ước vọng của chúng tôi: nếu nhân dịp, quý vị lại góp thêm phần ý kiến cho sự nhận thức của bài này đầy đủ hơn, thiết tưởng mục đích của diễn giả đã được đạt tới.

THẮC MẮC VÀ KHỦNG HOẢNG
            Vậy thế nào là THẮC MẮC?
            Theo Việt Nam tự điển, đó là “cái tính hay hạch lạc, bẻ bắt”. Nghĩa là thắc mắc có thể được coi như một điều làm người ta nghĩ ngợi, không được hài lòng, chưa được thỏa mãn, hãy còn hậm hực, và cần diễn ra bằng câu hỏi, bằng vấn nạn… Ngày nay, danh từ “thắc mắc” có nghĩa rộng hơn và không buộc phải hàm mầu sắc khiêu khích như trên đây.
            Thắc mắc thường xẩy ra trong trường hợp ta gọi là KHỦNG HOẢNG. Nhưng khủng hoảng là gì? Vẫn theo Việt Nam tự điển, khủng hoảng là “sợ hãi, hoảng hốt” là “tình trạng nguy cấp”… Vậy theo lối hiểu biết, thông thường, đó là một trạng thái đáng lo ngại, vì không bình thường vì có sự lục đục. Khủng hoảng là một hoàn cảnh bất ưng làm cho con người sợ hãi hốt hoảng. Nói đến CƠN KHỦNG HOẢNG là nói đến một biến cố mà nhà hữu trách lấy làm phiền: chẳng hạn kinh tế khủng hoảng, chính trị khủng hoảng, sinh viên khủng hoảng. Nói một cách nôm na hơn đó là một sự “giở chứng”, một lối “ỏe họe”. Thường sự, khi thanh niên qua giai đoạn đó, bật phụ huynh rất ái ngại…
            Tại sao vậy? Tại sao mấy danh từ đó lại được định nghĩa với một mầu sắc bi quan như thế? Tại sao người mình lại hầu như không muốn đả động tới những trạng thái đó?
            Trong một thiên khảo luận khá sâu sắc của một học giả Trung Hoa, ông Phan Chi hoàng,(1) sau khi bàn về ảnh hưởng quan trọng của Tam giáo, tác giả lại cũng trình bày một vài đặc tính trường tồn bất biến của tâm hồn Đông phương. Mấy nhận xét của ông Hoàng có lẽ có thể giúp ta suy nghĩ về câu hỏi vừa nêu trên đây.
            Người Đông phương chúng ta thường nuôi một sở thích: ấy là ưa chuộng TRẬT TỰ và lẽ TRUNG HÒA… trong vũ trụ cũng như trong cuộc đời. Do đó, sinh sống của con người chỉ đáng kể khi nào ví được như cảnh trời quang mây tạnh, vạn sự ổn an, và nếu có nhắc nhở đến vũ, phong, thì chẳng phải là giông tố, mà là luồng gió nhẹ nhẹ, phảng phất hiu hiu… Quan niệm đó có thể nhận thấy trong một vài cương vực:
            GIA ĐÌNH chẳng hạn, thường được ý thức như một tổ chức điều hòa, lý tưởng, với cảnh ấm cúng, đề huề, trên kính dưới nhường, gọi dạ bảo vâng, cha mẹ đặt đâu con xin ngồi đó. Còn những khó khăn, trở ngại những giai đoạn bi đát trong nếp sống thường ngày, tất cả những cái oằn oại, tất cả những cơn sốt với cái tuổi dậy thì của con người… hầu như không đáng chú ý, không cần kể tới. Mọi người trong nhà sẽ đồng tình im hơi lặng tiếng, cố che đậy để cứu vãn cái bề ngoài đẹp đẽ, đáng hoan nghênh, cảm phục…(2)
            Trong phạm vi TRI THỨC cũng tương tự. Chúng ta, do tập quán các cụ để lại, thường ưa ghi giữ tư tưởng, lời văn hay, ý niệm chải chuốt của sĩ phu, – nhưng có lẽ vì thế mà lại quên, hay ít ra không chú trọng tới con đường suy luận mà nhà tư tưởng kia đã phải qua trước khi đạt tới kết luận diễn ra trong câu văn gấm vóc… Do đó, khi đến lượt mình trình bầy, khán giả hầu như có cảm tưởng là những tư tưởng ấy đượm tính cách tiên nghiệm. Phải chăng vì thế mà ngày nay vẫn có người lầm tưởng rằng học hỏi, suy nghĩ chỉ là một cố gắng thu nhặt, chồng chất, ôm đồm cho rõ nhiều ý kiến của tha nhân, không có gì là công trình riêng tư, với phản ứng sinh tồn của ngay chính bản thân: con tằm ăn dâu đã lại chỉ nhả ra… dâu!(3) Phải hẳn vì vậy mà một số sách vở ngày nay xuất bản vẫn còn thiếu cái phần nhân đạo, chỉ là một cách biểu diễn những thu lượm của ký ức hơn là một cố gắng thiết tha để nhận định cái thực tại thâm trầm của sự đời?
            Nhìn sang cương vực NGHỆ THUẬT xưa, ta phải công nhận Tam giáo trong bao thế kỷ đã giúp tâm hồn dễ thấm nhiễm tính cách THẨM MỸ, quan niệm nghệ thuật như sự cảm thông với vũ trụ qua những hình thức bất biến của vẻ đẹp… Thành ra, khi tạo bài thơ, khi phác bức họa nghệ sĩ cố tìm trong thiên nhiên những cảnh trí vô hạn định, có diễn ra cũng chẳng cần diễn đúng với thực tế, vì chủ ý là ngắm nhìn cái Đẹp lý tưởng, cái Đẹp thoát khỏi mọi lục đục, lầm than của nhịp sống. Nhiều áng thơ, nhiều bức họa đã nên những tác phẩm tuyệt diệu, nhưng ở nơi một số nghệ sĩ, cảm hứng đã nhường chỗ cho phương pháp: chẳng hạn khi cầm bút vẽ, phải theo những kiểu mẫu đã định sẵn…(4)
            Phải chăng khuynh hướng mà ông Hoàng gọi là THẨM MỸ (esthétisme), mà ta thấy xuất hiện trong nhiều lãnh vực lại là lý do giải thích thái độ dè dặt của người Đông phương trước những thắc mắc, trước những khủng hoảng trong đời sống gia đình, trong phạm vi tri thức, mỹ thuật hoặc tôn giáo? Vì muốn tìm kiếm sự trường tồn của bản thể hơn là viễn tượng thúc tiến của Lịch sử, chăm chú ngắm nhìn vẻ đẹp êm đềm và lý tưởng của trật tự vũ trụ và xã hội hơn là cảnh tượng rối reng, xung đột do tội lỗi gây nên, người Đông phương ta có lẽ không nhận thấy rõ rằng KHÔNG CÓ LO ÂU, THẮC MẮC THÌ CHẲNG THỂ CÓ THANH BÌNH CHÂN CHÍNH; cũng như KHÔNG CÓ ĐẤU TRANH THÌ KHÔNG THỂ CÓ TIẾN BỘ… Phải chăng vì ngày xưa nhấn mạnh vào Trật tự và lẽ Trung hòa, nên chú trọng tới cứu cánh hơn là tới khoảng đường còn phải đi trước khi đến nơi đến chốn?(5)
            Vì rằng từ cái quyết định đến cái thực hiện, dù sao cũng có một khoảng cách, một lộ trình; từ khởi điểm cho đến cùng đích còn cả một quãng thời gian tiến bước, con người không thể bỏ lửng đi được. Đó là thời gian lữ hành, chiến đấu… đó là thời gian con người có thể thắc mắc, gặp cơn khủng hoảng…
            Ngày xưa cổ nhân có lẽ ít chú trọng tới. Ngày nay, quan niệm về thắc mắc, khủng hoảng đã có phần thay đổi, một phần lớn nhờ ở những kết quả của tâm lý học và sự tiến bộ của ngành giáo dục. Ngày nay ta dùng chữ “khủng hoảng” rất tự nhiên, và hiểu theo nghĩa kiểm soát, cân nhắc những yếu tố có vẻ mâu thuẫn, đối lập… Đối với thanh niên ta, đó là một sự kiện cố hữu trong đời người, một sự kiện không cần phải dấu giếm, che đậy, trái lại cần được bàn tới một cách thẳng thắn, đàng hoàng, trước khi xác định lập trường cách quyết liệt.
            Vì có động chạm, có ngạc nhiên, có thắc mắc mới có suy nghĩ tìm tòi, ý thức. Nhờ đó mà con người thoát khỏi trạng thái lung mung mịt mờ: truy tầm tức là cố gắng đi xa hơn, đi sâu hơn, cho đến khi tìm thấy… Vậy ta có thể bàn đến thắc mắc của thanh niên trong cương vực tín ngưỡng.

THẮC MẮC TRÊN HAI BÌNH DIỆN
            Những thắc mắc của thanh niên về tín ngưỡng có thể nhận thấy trên hai bình diện: bình diện cá nhân và bình diện tập thể.
            Tuổi thơ ấu là tuổi đón lĩnh, thấm nhuần, là tuổi phục tòng lời cha mẹ khuyên, điều bề trên dạy, trong mọi phương diện: giáo dục học vấn, tôn giáo… Đây là tuổi trẻ dễ bảo, siêng năng tụng kinh, cầu nguyện, đi chùa, đi nhà thờ…
            Nhưng tôi đến tuổi thanh niên: khuynh hướng bắt đầu phát triển, bản lĩnh trở nên rõ rệt hơn, tuy chưa đạt tới thế quân bình. Khi đó thanh niên muốn kiểm điểm giá trị của những thu lượm hồi thơ ấu, họ đòi đặt lại vấn đề, lại muốn giải pháp do chính mình tìm ra. Đó là tuổi phê bình, tuổi bắt đầu chỉ trích, muốn gạt bỏ những áp bức, chịu lụy.
            Thanh niên dần dần nhận thấy một vài mâu thuẫn ở nơi bề trên, do đó mà họ có thể thiếu tin tưởng. Trước quen coi bậc phụ huynh hay nhà tu hành như gương mẫu, nay bỗng tìm ra là các vị cũng có giới hạn, đôi khi nói một đàng nhưng lại làm một nẻo.(6) Thanh niên vì thế thất vọng chán nản và mất tín nhiệm ngay đối với cả niềm tin tưởng đạo đức…
            Ngoài ra, tuổi đó cũng là tuổi thanh niên để ý đến khía cạnh Biệt tính.(7) Sự thay đổi nơi con người, sự khám phá một vài thực tại sinh lý gây nên một cuộc đảo lộn trong tâm hồn thanh niên, nhất là về phía con trai. Từ trước đến nay, những thực tại đó không có chỗ trong cái thế giới linh thiêng đạo đức mà người thanh niên quen sống: hoặc vì bề trên im ắng, triệt để không đả động tới, hoặc nếu có nhắc đến, thì lại dùng lối ám chỉ quá kín đáo, mập mờ, thanh niên không thể hiểu nổi.(8) Do đó, cơn khủng hoảng liên can đến vấn đề biệt tính có thể làm cho thanh niên dấu kín cả một phần của đời họ với bậc phụ mẫu, không dám bầy tỏ, hoặc nếu có bàn thì lại chỉ bàn với bạn bè. Dần dần họ in trí là cương vực đó không hề liên can gì tới phạm vi tôn giáo. Nếu bề trên khi ấy không can thiệp một cách tế nhị bởi những khuyên nhủ khôn ngoan, đàng hoàng, ngõ hầu giải thích những thắc mắc, hoang mang, e rằng cơn khủng hoảng lại thêm phần trầm trọng. Tại sao? Thưa, tại vì thanh niên sẽ tưởng rằng muốn trung thành với tôn giáo thì phải phủ nhận mọi thực tại của biệt tính, và họ cho là như vậy thì quá viễn vông và nghĩ rằng tôn giáo không thiết thực, tôn giáo trừu tượng, xa xôi…(9)
            Một mặt khác, vì là tuổi phê bình, lại được học hành, thanh niên có dịp làm quen với những phương pháp khoa học thường dùng để phát minh, với đường lối biện luận để kiểm soát, minh chứng. Thành ra cái thế giới hữu hình qua các môn vạn vật, hóa học, vật lý… càng ngày càng trở nên hiển nhiên rõ rệt trong tâm trí thanh niên. Trong khi đó họ lại chẳng nhận ra tương quan mật thiết giữa những thực tại đó và thức tại tôn giáo, và sự lưỡng lự mỗi ngày một tăng: thử hỏi một công thức hóa học, một phương trình toán pháp có gì là giống với dụ ngôn của Chúa Ki-tô hay lời khuyên của đức Phật? Âu cũng vì trong thâm tâm người thanh niên đã có một sự CHÊNH LỆCH giữa trình độ trí thức và trình độ giáo lý. Những điều họ biết về tôn giáo quá sơ sài, không đủ để giúp họ giải quyết những thắc mắc do chuyên khoa nêu lên. Vì thế mà có sự dè dặt, lãnh đạm đối với tín ngưỡng, nếu không phải là ác cảm…(10)
            Thêm vào đó, tuổi thanh niên dù sao cũng còn là tuổi rụt rè, nhút nhát, vì người thanh niên cảm thấy mình bất lực để đương đầu với sức mạnh của vũ trụ đang bao vây họ. Họ mơ ước làm chúa tể nguồn lực đó, và họ nghĩ việc đó chỉ thành công nếu họ biết cách đắc thắng nghĩa là nếu họ sử dụng được kỹ thuật để chinh phục vũ trụ. Càng gần những phương tiện hoạt động trần thế, thanh niên càng dễ xa thế giới thiêng liêng mà họ cho là vô hiệu nghiệm…
            Cơn khủng hoảng vừa phát ra đây bắt đầu vào tuổi niên thiếu nó có thể kéo dài trong nhiều năm, nó cố hữu với hoàn cảnh con người trong giai đoạn đó, thường thường ai cũng phải qua một thời, vì nó liên hệ đến nhịp tiến bộ của tâm lý và sự phát triển của trí khôn. Nhưng còn một khủng hoảng nữa, một sự kiện do cuộc đảo lộn về văn hóa cũng như về xã hội của cả một dân tộc.
            Thật vậy, nước Việt Nam trong mấy chục năm gần đây đã biến chuyển rất nhanh trong mọi phạm vi: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Do đó, chẳng những lối sinh sống thay hình đổi dạng, mà ngay cả về tư tưởng cũng như có sự thoát ly khỏi khung cảnh cổ truyền. Chiến tranh, di cư, sau bao năm loạn ly, lo hãi, bây giờ tương đối sống trong một khu vực thuộc khối tự do, lại được hưởng những dễ dãi của văn minh tối tân Âu Mỹ, thanh niên đa số đã coi gia tài tinh thần cha ông để lại như đổ vỡ, họ khước từ những giá trị đạo đức mà họ cho là lỗi thời đối với thế hệ mới. Luân lý Khổng giáo, Phật giáo, Công giáo, dưới con mắt một phần đông chẳng còn nghĩa lý gì. Lòng kính cẩn đới với tổ tiên, sự lưu luyến đối với gia đình ngày nay đã giảm nhiều.
            Nhưng có bỏ mà không có thay. Sự biến đổi quá nhanh chóng, bậc hữu trách có lẽ chưa kịp ứng biến. Thành ra dù sao thanh niên cũng vẫn còn hoang mang. Vì tuy tưởng mình đã giải phóng, nhưng thật ra họ chưa hẳn thật là tự do, vì chưa tìm ra thế quân bình, vẫn còn lệch lạc, từ bất cập lao sang thái hóa. Mà thế hệ đàn anh cũng chẳng giúp được mấy, và hai bên chưa hiểu rõ nhau, nên chưa tin cậy nhau… Thử hỏi thái độ người đứng tuổi đối với thanh niên bắt chước James Dean chẳng hạn là thế nào? Ta có cố tìm hiểu nguyên do sâu xa của thái độ đó chăng, hay ta chỉ dè môi khinh bỉ, lên tiếng trách móc, than rằng luân lý ngày nay suy đồi, tệ bại? Ta có nghĩ rằng dưới cái bề ngoài cầu kỳ, nhiều khi lố bịch của gã thanh nên xì xồ tiếng Anh hoặc líu lô tiếng Pháp, đầu tóc rũ rượi, đi đứng lảo đảo… có lẽ còn ẩn một tâm hồn đau đớn đang sống trong trạng thái lo lắng, thê thảm?…
            Ngay trong cương vực triết lý, một số đông thanh niên cũng chẳng tìm được lối thoát, khi mà triết học đáng lẽ là cơ hội để nhận định sáng suốt ý nghĩa cuộc đời, và khuyến khích con người chịu khó suy tư – thì lại chỉ là một phương pháp “nhồi sọ” để khi thi cử thì đáp “trúng tủ” đủ điểm đỗ đạt… Vì sử dụng danh từ quá đáng, con người hầu như bí tắc, chẳng còn thời giờ lắng nghe kinh nghiệm bản thân, giải quyết những thắc mắc thiết thực…(11)
            Thành ra cả về phương diện cá nhân lẫn về phương diện tập thể, thanh niên thường có thái độ khước từ kho tàng thiêng liêng, cổ kính, đòi tự mình kiểm điểm để tự mình quyết định.
            Tuy nhiên, ta cũng phải để ý đến điều này: Sự phủ nhận đây chưa tất có nghĩa là xóa hẳn được vũ trụ thiêng liêng và tôn giáo. Trái lại, trạng thái vừa phân tích trên đây sinh ra nơi thanh niên một sự bất mãn sâu xa hơn, nó đưa con người cảm thấy phải đặt vấn đề nó làm nẩy sự áy náy lo lắng về tín ngưỡng…

MỘT VÀI Ý THỨC CỦA NIỀM LO ÂU
            Cái lo lắng của những thanh niên đó phát diễn như thế nào?
            Trước hết đối với KHOA HỌC. Sau một thời gian say mê với tiến bộ khoa học đến nỗi coi như chỉ có phương pháp thực nghiệm mới xác đáng nhất, thanh niên càng hiểu rõ đối tượng khoa học là gì(12) lại càng nhận thấy cương vực và giới hạn của nó. Dần dần họ ý thức được là khoa học không thể giải đáp hết mọi vấn đề, hết mọi thắc mắc…(13)
            Trong khi khoa học ào ào tiến triển, thì cuộc đời thâm trầm của tôi dù sao vẫn chưa được hoàn toàn thỏa mãn. Đành rằng vệ tinh nhân tạo, hỏa tiễn được từ Nga, từ Mỹ tung lên không trung; đành rằng kính viễn vọng đặt trên núi Palomar cho mắt nhà bác học chiêm ngưỡng những khối tinh vân xa cách trái đất hàng hai tỷ quan niên, thử hỏi những khám phá vĩ đại ấy, dù tăng thêm hãnh diện rất chính đáng cho phẩm giá con người, song có giải quyết được những lo âu, xao xuyến, những khát vọng của lương tâm tôi chăng? Trong khi trí óc tôi khảo tầm vũ trụ, thì hoàn cảnh riêng tư của tôi thế nào? Mà tôi là ai đang khi tôi lý luận, tra cứu sự vật ngoài tôi? Và tôi trở nên gì ngay lúc tầm mắt tôi bay lướt trên toàn thể không gian, chinh phục muôn loài? Tại sao tôi lại là tôi, giống người cạnh tôi và cũng rất khác? Đâu là mục đích đời tôi trong cái hoàn cảnh cụ thể, lịch sử của nó? Những câu hỏi đó, khoa học không trả lời…
            Sự đó làm cho thanh niên hiểu rằng có những phạm vi không lệ thuộc khoa học. Thanh niên lại càng nhận thấy rõ điều này khi có kinh nghiệm. Tình yêu hoặc tình bằng hữu, với sự thông hiệp mật thiết giữa hai nhân vị; hoặc khi họ tĩnh tâm suy tưởng về ý nghĩa của ngay chính đời họ, về thân phận con người. Dần dần họ ý thức nơi tâm khảm một vài khát khao âm thầm: khao khát tuyệt đối, ước mong hướng về những giá trị vĩnh cửu, linh thiêng… và họ cảm thấy nơi lòng một khả năng cởi mở để tiếp đón vô biên.
            Ngoài ra một kinh nghiệm khác có thể làm cho thanh niên thoáng nhận thấy một khía cạnh mới – tuy thật ra là vạn cổ – của sự đời: Ấy là khi họ đứng trước cái chết của người thân yêu. Người thân dã mất, đó là một sự kiện, chối cãi sao được điều đó! Nếu vậy người thân cũng chỉ như một tử thi trong số bao vàn tử thi khác… Tuy nhiên, người thân vẫn chưa hết chết. Người chết vẫn còn lưởng vưởng trong thế giới người sống, ta vẫn còn chú ý tới họ! Người chết vẫn còn hiện diện trong lòng ai yêu thương họ, trong những lời người ta nhắc đến họ. Ai mà không thể sống với vô hình, ai chẳng còn biết sự trung thành là gì thì có thể đuổi kẻ vắng mặt, chống lại sự hiện diện của họ, chối từ tiếp đón họ… Nhưng người chết lại chẳng muốn chết, họ vẫn ở cạnh ta, quanh quẩn gần ta. Thành ra luôn luôn ta phải đẩy họ cho khuất đi. Hoặc ta thuận lòng để họ hiện hữu và yêu thương họ… Kinh nghiệm làm cho thanh niên linh cảm là sau khi chết đi, con người không hoàn toàn biến mất.
            Lại còn một hình thức của nỗi lo âu, ta thấy diễn ra trong thái độ của thanh niên đối với thiện ác. Biết bao nhiêu người ăn ở lương thiện, tận tụy trong nhiệm vụ, trung thành trong lời thề hứa, tránh mọi việc ám muội, phản đối những mánh khóe gian giảo, không nuôi lòng thù ghét, nhịn nhục, cao thượng… vậy mà sao họ lại chỉ gặp thất bại, hiểu lầm, luôn luôn thiệt thòi, đau khổ, trong khi kẻ bất lương thì sung sướng, được thỏa mãn trong mọi lãnh vực, không hề lo lắng, chẳng kiêng nể gì ai. Chẳng có lẽ cứ như thế đời đời kiếp kiếp, chắc phải có sự thưởng phạt công bình, và nếu có đau khổ tuy nhiên tình trạng đó hẳn sẽ có lúc thay đổi…
            Tóm lại, kinh nghiệm về thất bại, về đau khổ, về sự chết… có thể tiêu diệt hẳn niềm hy vọng nhân bản, căn cứ trên những lý do trần thế, và đưa tới hai thai độ: hoặc là thái độ tuyệt vọng, hoặc là vạch đường cho một thứ hy vọng khác, có lẽ rất lờ mờ, không căn cứ vững chắc, lại khó nuôi dưỡng vì nó chẳng dựa trên nền móng hữu hình hữu lý. Tuy nhiên, cái niềm hy vọng tiềm tàng đó, lòng người ta có thể cảm thấy trong tâm khảm, và tuy chưa có gì là rõ rệt, song cũng cố bảo vệ nó, cố đào sâu để nhận định cho có thể tường tỏ, bởi một ý muốn thắng cõi âm u…
            Nỗi lo âu về tín ngưỡng lại càng mạnh khi con người nghiệm thấy cái phi lý của cuộc đời không hy vọng, làm cho mình vô cùng buồn thảm, chán ngán không chừng… Xã hội, với tiến bộ kỹ thuật, với bao cải cách tối tân, với mức sống rất cao… cũng không thỏa mãn hết những khát mong hạnh phúc ở nơi thanh niên. Nếu trên đường Lê Lợi có những thanh niên phóng xe Vespa, ăn chơi thành thạo, để tóc “hoa râm” tuy nhiên chính những chàng trai trẻ đó lại thấy cần phải có nét mặt rầu rĩ, chán chường. Là vì họ chán đời ngay trong nếp sống đầy đủ tiện nghi. Ngay đến chúng ta cũng không thể không nhận thấy là thế giới càng mạnh thì lại càng bấp bênh: những thảm trạng xẩy ra tại Agadir, tại Chili… làm cho thanh niên thoáng lo vì trần gian thật là mảnh khảnh…
            Một số cảm thấy phải tin: tin ở một cái gì siêu việt. Không phải tin một vị thần do con người tạo ra để tôn thờ;(14) cũng không phải tin ở ngay chính mình, vì kinh nghiệm đã cho thấy giới hạn của con người. Nhưng tin ở một sự bảo đảm ngoài cái thế giới trần tục bấp bênh. Con người thấy cần tin ở sự đắc thắng quyết liệt của điều Thiện, của Công bình.
            Họ cũng thấy rõ hơn ý nghĩa của sự khẩn cầu. Kinh nghiệm trong các tôn giáo cho thấy rằng sự cầu nguyện làm triển nở một năng lực thông hiệp nơi con người đối với những giá trị thiêng liêng nó làm cho ta tìm thấy cái thâm trầm thuần túy của những thực tại tinh thần. Theo Alexis Carrel,(15) sự kiện đó có thể giải thích: Khi ta có một dụng cụ giúp giác quan phát triển khả năng, thì cùng một chập ta cũng nhận thấy rõ hơn những đối tượng thuộc về loại đó: như kính hiển vi, chẳng hạn, làm con mắt trông thấy rõ rệt những đối tượng của thị giác: con vi trùng… Dụng cụ khi ấy đã bành trướng năng khiếu nơi ta. Vậy con người khi nguyện cầu, cũng như có một khí cụ làm tăng cường khiếu linh thiêng (sens du sacré), giúp họ tiếp đón thực tại siêu linh có thể giải thoát họ khỏi tà ác mà họ muốn tránh, nhưng lại không thể một mình thắng nổi.(16)
            Sau hết, một sự kiện khác có thể làm người thanh niên suy nghĩ. Ấy là đến tuổi họ thấy trong lòng tiềm tàng những kích tình – có thể hướng về điều thiện cũng như về điều ác – họ thấy những lực lượng đó có thể đưa họ mưu mô việc ác dù lòng vẫn mong muốn điều lành… Nơi nội tâm, họ chứng kiến một cuộc xung đột, và cùng chập họ lo lắng, lo rằng cả cuộc đời mình sẽ có thể xuống dốc. Không nhiều thì ít, họ ý thức được phần nào khái niệm tội lỗi, khái niệm hình phạt. Đó cũng là một hình thức của thắc mắc tôn giáo…

PHẢN ỨNG TRƯỚC NHỮNG LO LẮNG ĐÓ
            Thưa quý vị, chúng tôi vừa phác qua cơn khủng hoảng của thanh niên, với những thắc mắc lo âu liên can đến tín ngưỡng. Ta thấy họ từ chối giá trị cổ truyền, tuy nhiên họ vẫn chưa được hài lòng vì không có gì khác đáp cho đầy đủ mong ước sâu xa của tâm hồn. Do đó mà thanh niên vẫn còn băn khoăn, áy náy. Nỗi băn khoăn đó, chúng tôi tưởng đã nói lên được phần nào. Nhưng dĩ nhiên không phải là ai cũng chấp thuận hiện trạng đó như nhau. Vì thế mà ở nơi thanh niên có vài phản ứng dị biệt:
            – Một số khá đông tìm cách bóp nghẹt những hoang mang của cõi lòng, nhiều khi họ đã thành công. Họ nhất định không chấp nhận giá trị thiêng liêng, chỉ công nhận cương vực thực nghiệm của khoa học, hoặc chỉ theo lập trường duy lý. Họ quên rằng những giá trị này, tuy rất chính đáng trong phạm vi của khoa học, song vẫn không đủ tư cách để giải đáp hết mọi nhu cầu của tâm hồn con người.(17)
            – Chính vì thấy sự thiếu sót đó mà một số thanh niên khác vẫn còn lo lắng, thắc mắc về tín ngưỡng, dù họ sống trong những miền mà chủ nghĩa duy vật, vô thần hiện rất thịnh vượng.(18) Cơn khủng hoảng đó thật ra chẳng có gì là dễ chịu cả, nó sinh nhiều hậu quả mệt mỏi hoang mang nơi tâm hồn người trong cuộc, nó không phải là một “mốt” thiên hạ a-dua…
            Để thắng cơn khủng hoảng đó, thanh niên đã phải rất nhiều KIÊN NHẪN. Cuộc truy tầm này liên hệ đến phần âm u nhất của con người nên chỉ khi nào chính bản thân tôi sau khi tìm kiếm, suy xét, cân nhắc quyết định một cách tự do, sáng suốt, thì cuộc chuyển hướng mới đáng kể. Nếu họ theo một tín ngưỡng, ấy là vì họ đã chấp thuận: “Car il ne sera pas mis en chaise pour dire un rôle perscrit: il n’est engagé à aucune cause que parse qu’il l’approuve”.(19)
            Ngoài ra thanh niên cũng cần phải THÀNH THẬT. Vì đi tìm đây là đi tìm sự thật với tất cả tâm hồn. Không phải vì vụ lợi mà theo; không phải vì nhà vua sùng đạo tôi cũng nhập đạo để mong được cấp trên chiếu cố, thăng trật. Người thanh niên thắc mắc về tín ngưỡng thường sống thẳng thắn trung thành với tiếng nói của lương tâm, kính trọng luân lý, công bình, họ theo lời khuyên của Khổng Tử: “Thành chi vi quí”,(20) họ quyết tâm đi tìm cho đến khi thấy và sống cho hợp với quan niệm lữ khách đó: “Mọi sự hiện tỏ với ai biết đợi chờ, miễn là người có can đảm đừng chối từ trong đêm cái người đã thoáng thấy trong ánh sáng”…(21)
            Lẽ tất nhiên trong cuộc hành trình, thanh niên cũng gặp phải khó khăn: Có người muốn giải quyết ngay tức khắc mọi áy náy, họ nóng lòng sốt ruột mà vì thế hấp tấp tạo ra một giải pháp sơ sài, thiển cận, họ tìm một liều thuốc rẻ tiền, một thứ tín ngưỡng ấu trĩ, mù quáng và quên lời thánh Thomas dặn rằng “con người chỉ tin khi thấy là đáng tin”… Ngược lại, có người rất chóng nản, vì ngại sự cố gắng, vì sợ chiến đấu để tự thắng mình để thắng mọi thử thách. Mà vì thiếu nghị lực nên họ đâm ra chơi bời rượu chè để quên thắc mắc lo âu, để làm tê liệt những đòi hỏi của lương tâm. Và dần dần họ hết năng khiếu thông hiệp với những giá trị tinh thần, trở nên nô lệ của nhục dục…
            Những thanh niên này đã quên rằng điều cần ấy là biết lên đường, biết tìm biết kiếm, biết từ biệt nơi quê cha đất tổ để dấn mình vào những miền vắng vẻ, lặng lẽ, xa lạ, nhưng lại có thể mang đến cho tâm hồn niềm vui sướng của thanh bình. Muốn vậy, thanh niên chỉ cần lắng tai nghe lời tường thuật của các bạn đồng hành từ trước tới nay đã biết quên mình để tha thiết gần Đấng mà lòng họ khát khao.
            Để kết thúc bài này, tôi xin trích một vài câu thơ của văn hào Longfellow, mong rằng lòng thanh niên cũng sẽ là nơi ấp ủ của bài ca vạn cổ…

                        “Tôi bắn lên không một mũi tên
                        Nó bay đi tôi đâu biết được?
                        Ai theo nổi tầm bay của mũi tên?!


                        “Tôi hát vang trời một bài ca
                        Nó biến đi đâu tôi biết được
                        Ai theo nổi dư âm của nhạc ca!


                        “Lâu năm về sau trong lòng cậy
                        Mũi tên còn nguyên tôi tìm thấy
                        Và bài ca cũng toàn vẹn tôi thấy
                        Nằm gọn trong lòng người bạn thân
.”(22)


NGUYỄN HUY LỊCH
__________________________
(1) F. Houang: Ame chinoise et Christianisme (Paris 1957) ch. 1, trang 40-46. Bản dịch Việt ngữ của Phan Khoang và Hoàng Minh Tuynh trong tạp chí Bách Khoa số 52, trang 43-46.
(2) Trong viễn tượng này, người ta như đứng xếp hàng để chụp hình, mười ngón tay xòe ra cho rõ đủ, để tỏ là không ai tàn tật, không ai què quặt cả về thể xác cũng như về tinh thần…
(3) Khuynh hướng ngày nay khác hẳn, văn nhân đều cố gắng suy tư: “Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút” (Hàn Mặc Tử). Văn hào Ch. Péguy cũng cùng lập trường: “Un mot n’est pas le même dans un écrivain et dans un autre. L’un se l’arrache du ventre, l’autre le tire de la poche de son pardessus”.
(4) Vẽ nước thì phải vẽ núi (Sơn thủy); vẽ cây chuối thì phải vẽ voi (Tiêu tượng); cây liễu cần đi đôi với con ngựa (Liễu mã), cành trúc không thể không có chim sẻ (Trúc tước) v.v…
(5) F. Houang op. cit.
(6) Chẳng hạn khi bậc tu hành không giữ đúng tinh thần của tôn giáo họ theo, ra vẻ “quan liêu”, hách dịch, dựa vào chức vụ phần đạo để lấn cả vào phần đời, gây ảnh hưởng chính trị, luồn cúi để kiếm tiền (xem Thừa tự của Khái Hưng). Có bậc tu hành thiếu sự tế nhị đối với đạo hữu, quên cả luật xã giao thông thường. Có vị thì sính khoe khoang học lực, ưa phô trương bằng cấp, muốn dư luận chú ý đến tài năng thi sĩ, văn sĩ hơn là tới sứ mệnh “tu sĩ”…
(7) Xin đọc Thông Cảm, nguyệt san của Sinh viên Công giáo Sàigòn, 1958 số 4, bài “Tìm hiểu Biệt tính” của Thanh Tuyền.
(8) Ngay những sách Vạn vật học trình độ Tú tài toàn phần cũng chỉ bàn về sự truyền chủng nơi bông hoa, nơi con amib…
(9) Thanh niên trong trường hợp này vừa tự ty mặc cảm – vì không dám đàng hoàng bàn hỏi – vừa có một phần hãnh diện – vì cho là mình đã khám phá được những bí mật của sự sống…
(10) Có khi thanh niên vì không đáp nổi những vấn nạn liên can đến tôn giáo họ theo, đâm ra hậm hực và quay về dùng chính những chất vấn đó để đay nghiến tín ngưỡng của mình…
(11) Thật ra, một số thanh niên có thắc mắc khi suy tưởng triết lý. Họ chịu ảnh hưởng của những tác giả Âu tây như Camus, Sartre, Merleau-Ponty, và họ cũng ý thức cái nỗi khó khăn con người cảm thấy khi suy về sự đời. Họ cũng có những nhận xét chán nản như khi Oreste nói với Jupiter trong kịch phẩm Les Mouches, họ cũng cùng ý kiến với những tác phẩm đầy thiên kiến đối với vấn đề Thượng đế.
      Ông Duy Ân đã đưa ra một vài nhận xét về vấn đề trong Thông Cảm 1960 số 45, trang 18-23.
(12) Theo Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, Viện trưởng Viện Pasteur Việt Nam, khoa học có mục tiêu nhận xét thực tại khách quan, hữu hình, để khám phá những mối tương quan tiềm tàng trong vũ trụ, trong vạn vật, để diễn ra thành định luật, hoặc trình bày thành lý thuyết (Thông Cảm 1958 số 2, trang 7-8).
(13) Giáo sư Dondeyne đưa một ví dụ để cho ta thấy giới hạn của khoa học: Anh chàng kia nạp khẩu súng, nhằm bắn chết tươi một người. Đối với nhà sinh học, hành động giết người chỉ là một mớ phản ứng thuộc về vật lý và hóa học. Hành động nổ súng là cử chỉ của gân ngón tay co vào, giãn ra, hậu quả là một số năng lực đã bị tiêu phí trong cử chỉ đó. Hành trình viên đạn, ta có thể tính theo lượng năng lực do chất nổ giải phóng. Cái chết của nạn nhân chỉ là sự đảo lộn do viên đạn gây ra trong cơ cấu nguyên sinh chất… Nhưng cử chỉ bắn giết, đâu có phải chỉ có thế! Nó còn có một ý nghĩa, còn diễn tả một giá trị. Bóp cò nổ súng có thể là một hành vi anh hùng hoặc là một cử chỉ dã man… Giá trị của lý do, khoa học không có nhiệm vụ bàn tới. Sự kiện toàn diện đã bị khoa học giản lược hạn chế trong một phạm vi nhất định…
(14) Vì như vậy tức là rơi vào thái độ “thoát phản” (aliénation) mà chủ nghĩa của Marx tố cáo.
(15) A. Carrel La Prière (Paris 1944).
(16) Khi nói về linh thiêng (sacré) ta nên phân biệt mực độ (mỹ thuật, luân lý, tôn giáo)… Con người sở dĩ để ý đến giá trị linh thiêng là vì nơi tâm hồn họ có năng khiếu tiềm tàng để đón nhận những giá trị đó.
(17) Tại sao từ khoa học, có người chuyển sang thuyết duy vật? Tại vì hai bên có một khuynh hướng tương tự. Khoa học dùng phương pháp phân tích để giản lược, để thu cái phức tạp về đơn giản; Duy vật triết học cũng dùng phương pháp đó, giải thích thượng tầng bằng hạ tầng cơ sở. Do đó dễ làm cho người ta từ khoa học chuyển sang duy vật mà không ngờ là đã vượt ra ngoài lãnh vực của khoa học.
(18) Như sinh viên sống bên Tiệp Khắc, bên Hung Gia Lợi, theo hai tạp chí cộng sản Tvorba và Tarsaldami Szemle. Xem Informat. Cathol. Intern. 1960 số 118 và 121.
(19) Montaigne Essais I, 26.
(20) Trung Dung XXV.
(21) Coventry Patmore.
(22) Longfellow: The arrow and the song.



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #85 vào: 12/03/2017, 22:03:40 »
HƯỚNG ĐẠO, MỘT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC NHÂN VỊ

            Trong khoảng năm mươi năm nay, nhờ thiên tài của một người lẻ loi, nhờ sự tiếp sức của một thiểu số thiện chí, đã xuất hiện trên thế giới, một lối sống cho thanh thiếu niên, khác hẳn những lối sống của các thế hệ thanh niên trước, đó là lý tưởng Hướng Đạo. Nếu cái mẫu đời rất giản dị mà Baden Powell bày ra cho thanh niên Anh quốc đã lan truyền nhanh chóng khắp nơi, đến nỗi hiện nay trên tám triệu người ham sống lý tưởng ấy, và vô số người khác đã chịu phần ảnh hưởng tốt đẹp của lý tưởng, nếu tổ chức trước kia nhắm mục phiêu lợi ích cho một quốc gia đã biến thành một tổ chức quốc tế vượt lên trên những biên giới của chính trị, tôn giáo, chủng tộc, nếu một phong trào thanh niên đã tồn tại với tất cả nguyên tắc và tập tục, sau hai trận đại chiến, sau biết bao chính biến, sau hưng thịnh và suy tàn của biết bao học thuyết và chủ nghĩa cải tạo nhân sinh, trong khi nhiều tổ chức tương tự, vì chú trọng đến nhất thời đã bị tiêu tan, thì hiện tượng lạ lùng ấy cũng đáng được những nhà giáo dục, nhà xã hội học, những người có trọng trách về vận mệnh các dân tộc lưu ý, cứu xét để nhận định giá trị và duyên cớ thành công.
            Trình bày nơi đây vài nét chính của Hướng Đạo, một phương pháp giáo dục nhân vị, chúng tôi cố gắng tránh thiên kiến của người có chân trong phong trào, mà ước ao trình bày một cách khách quan, cốt kêu gọi sự hiểu biết thêm với cảm tình.
            Trước hết cần đặt phong trào Hướng Đạo trong vị trí lịch sử của nó, giữa biết bao sự tìm tòi, thí nghiệm khác về giáo dục và huấn luyện thanh niên.
            Người nghiên cứu lịch sử giáo dục xuyên qua các thời đại, có thể nhận thấy nhân loại không ngớt lo đến việc sửa soạn những thế hệ son trẻ, không ngớt tìm ra những phương pháp để đạt đến mục phiêu cho có hiệu quả. Người sẽ thấy mục phiêu khác biệt sinh ra những phương pháp khác biệt. Và sự thay đổi và tiến hóa của thành phần các cộng đồng đặt lại vấn đề mục đích giáo dục và phương pháp thích ứng. Mục phiêu của những xã hội thường có tánh cách thật tế; giáo dục hay huấn luyện đám trẻ dùng mọi lối để cho đám trẻ trở thành hữu ích cho xã hội. Trẻ, giáo dục trẻ, hoàn toàn lệ thuộc xã hội, một xã hội đóng kín với phạm vi nhỏ hẹp của một bộ lạc hay một chủng tộc. Tùy theo giai đoạn, xã hội ung đúc những người đạo đức, những người có tài kinh bang tế thế, những chiến sĩ, những đảng viên hay những kỹ sư. Nhân loại phải đi một bước dài, về tinh thần cũng như về vật chất, mới đạt được trình độ gọi là “văn minh”, mà đặc điểm là sự vượt khỏi những ràng buộc thấp kém, thiết thực, tìm thấy những trang sức ích kỷ không dính líu đến đói khát, đến sự tồn tại của một giống nòi hay thịnh vượng của một đoàn thể. Văn chương, nghệ thuật, xét theo một quan điểm, có thể xem là bao nhiêu sa xí phẩm; mà giáo dục cũng có thể quan niệm như là sa xí phẩm vậy, nhất là khi giáo dục không chỉ huấn luyện cá thể mà xây dựng nhân vị. Chuyển mục phiêu giáo dục từ quyền lợi của một cộng đồng đến giá trị tuyệt đối của một nhân vị đã là một tiến bộ quan trọng, đòi hỏi không những đời sống vật chất dễ dàng mà còn sự hiểu biết rộng rãi, một nhận định mới về con người, một sự hy sinh quyền lợi công tư, sự từ bỏ một số mặc cảm, hay nói một cách khác tiến bộ đã đạt được vì nhân loại đã hiểu được tình thương, không phải thương cho mình, mà thương vì kẻ đáng thương.
            Người ta đã gọi thế kỷ hai mươi “thế kỷ của trẻ con”. Ở các nước tân tiến, sự hy sinh đối với trẻ vô bờ bến. Chúng tôi không dám nói tại hầu hết các nước được như thế. Vẫn biết những cha mẹ nước nào cũng muốn cho con nên, thương yêu con và tận tâm với con cả, nhưng trong thật tế, thiện chí và tình thương yêu mất giá trị khi trẻ được thương yêu như một vật dụng, như một vốn làm ăn, như một công cụ trang sức cho gia đình, khi trẻ gặp thứ thương yêu vụng về, thứ thương yêu trá hình, không giúp gì cho hạnh phúc bản thân của trẻ cả.
            Sự suy nghĩ và sưu tầm của nhiều triết gia và nhà giáo dục đã đưa đến sự nhìn nhận nhân vị của đứa trẻ; giá trị của trẻ không chỉ vì trẻ là tương lai của đất nước hay nhân loại; trẻ đáng kính vì hiện sinh của nó như bất cứ một người nào, bất luận giống nòi hay màu da, cũng đáng kính vì cá tính duy nhất của người ấy. Sự phát minh của những nhà tâm lý học (Piéron, Claparède, Wallon, Piaget) đã nhắc lại trẻ không phải là một người trưởng thành với vóc nhỏ, trẻ không phải đủ khả năng hiểu biết, ý niệm hay chăm chú như một người lớn; trẻ có lối sống riêng; hành động và tư duy của trẻ theo nền nếp và luận lý khác biệt. Ấu thời, thiếu thời có lý do của mỗi tuổi và cần phải sửa đổi chương trình, phương pháp tùy theo sự biến đổi tâm lý của trẻ, chớ không thể ấn định giáo dục theo quan niệm của người trưởng thành. Do đó, mấy mươi năm nay nhiều phương pháp mới đã đem áp dụng cho học đường (phương pháp hoạt động của Decroly, Montessori hay Freibet), lối dùng công việc bằng tay của Kerchensteiner ở Đức, dùng nghệ thuật của Bakulé, phương pháp cá nhân của cô Parkhurst và Washburne ở Mỹ và Anh, những lớp trau dồi tự giác như trường Odenwald ở Bỉ, trường Roches ở Pháp, trường Bilthoven ở Hòa Lan; biết bao phương pháp đã bày ra lối học tập thể, dùng máy in ở học đường, dùng bích báo v.v… chứng tỏ sự tìm kiếm không ngừng của những nhà giáo dục, để sửa chữa sai lầm của lối giáo dục thời xưa quên thật trạng và nhu cầu của tuổi trẻ.
            Bao nhiêu cải cách ấy tập trung nơi giáo dục học đường. Nhưng đồng thời, ngoài học đường, cũng đã có sự lo âu về giáo dục thanh niên. Những xu hướng, ước mong của thanh niên thế kỷ 20 không còn phải như những xu hướng ước mong của thế kỷ trước và do đó mới có những phong trào thanh niên.
            Vào khoảng 1895, ở Đức quốc, một phong trào thanh niên đã khởi xướng như là một lối phản kháng đối với tình trạng suy vong tinh thần. Đức mới là một nước nông nghiệp đã thành một nước đại kỹ nghệ, và trong khoảng bảy tám mươi năm, dân số đã tăng gấp ba. Đám kỹ nghệ gia, công chức, kỹ sư thay thế thế hệ triết gia, thi nhân, nhạc sĩ. Một thanh niên Đức (Kurt Turmer) đã than phiền: “Chúng tôi trở nên hùng mạnh và giàu có, nhưng chúng tôi đã mất linh hồn”. Phong trào thanh niên Đức chủ trương trở về cảnh thiên nhiên, đời sống giản dị, vui sướng, tự do, trở về tập truyền và tôn giáo. Năm 1897, tại Bá Linh, Karl Fisher lập những đoàn thanh niên (Wandervogel) gồm một phần lớn học sinh trung học. Họ tránh đời sống thành thị, xa lánh an thích trưởng giả, tìm lại cảnh sống thôn quê, thủ tục lễ nghi, bài ca điệu múa. Năm 1913, phong trào thanh niên Đức (Jugendbwegung) tẩy chay lễ kỷ niệm đệ bách chu niên trận Leipzig, lễ ca tụng sự đánh bại Nã Phá Luân, lễ mà theo lời một người dân Đức, “người ta chỉ làm ồn ào ái quốc, ca tụng cái gì hay đẹp ở Đức, uống rất nhiều rượu và bia, và đọc rất nhiều diễn văn”. Thanh niên tổ chức một cuộc họp bạn tại một đồi núi, và các đoàn thể liên kết thành một phong trào thanh niên tự do. Nhưng sự phản ứng lành mạnh của thanh niên Đức mấy mươi năm sau đã bị gót giày của quốc xã dẫm nát.
            Ở Anh quốc, một nước giàu có và sung sướng, văn minh thành thị và xã hội kỹ nghệ cũng đã làm cho hư hỏng dân tộc. Sự phản ứng cũng xuất hiện. Trong bao nhiêu sự cố gắng, công cuộc của Baden Powell đã đem lại kết quả quá sự mong ước của người khởi xướng. Bắt đầu với một cuộc thí nghiệm ở Brownsea Island, năm 1907 với hai mươi thanh niên, phong trào Hướng Đạo của Baden Powell không ngớt phát triển và bành trướng khắp các nước tự do trên thế giới, quy tụ dưới lý tưởng, nguyên tắc và phương pháp chung, trên tám triệu thanh niên nam nữ đủ tôn giáo và chủng tộc. Trái với những phong trào thanh niên, với những tổ chức huấn luyện, theo đuổi mục phiêu nhất thời, rồi chết theo những chế độ, tan rã theo những chính thể, phong trào Hướng Đạo đã vượt lên biết bao thử thách của chính biến, tồn tại sau hai trận đại chiến và vẫn còn chứng tỏ ích lợi và giá trị.
            Tại sao Hướng Đạo được kết quả trong nhiều tổ chức khi nhiều tổ chức khác thất bại, hoặc không có ảnh hưởng sâu rộng như thế? Tại sao Hướng Đạo đã trở thành một hiện tượng của thế kỷ hai mươi? Tại sao y phục Hướng Đạo, vài hoạt động Hướng Đạo, lối tổ chức Hướng Đạo đã được nhiều đoàn thể bắt chước vay mượn?
            Kết quả ấy nhờ nơi giá trị vững chắc của phương pháp, hợp với thật trạng tâm lý của thiếu thời, nhờ nơi mục phiêu chính đáng, nhờ nơi bất vị lợi của tổ chức. Hướng Đạo không chỉ là một phương pháp giáo dục, mà trở thành một phong trào thanh thiếu niên, một hệ thống tổ chức sống động, một tình huynh đệ quốc tế, một lý tưởng sinh sống.
            Hướng Đạo không phải là một học thuyết, một triết lý, Hướng Đạo cũng không phải là một đảng phái; Hướng Đạo có những đặc điểm phải theo đúng tất cả; giá trị không chỉ nơi một vài hình thức dễ trông thấy mà nơi tất cả chương trình hoạt động, nơi sự tiến triển nhiều mặt của cá nhân, nơi đời sống lý thú của đoàn thể.
            Những sự phê phán sai lầm về Hướng Đạo, sự khinh thường Hướng Đạo (xem Hướng Đạo đồng nghĩa với trẻ con, hay khờ khạo) do sự nhận xét vội vã, hay vì đặt mục phiêu khác hẳn mục phiêu của Hướng Đạo. Người ta nhìn nhận Hướng Đạo là một lối giải trí lành mạnh, và so sánh với những cách dùng nhàn rỗi của đa số thanh niên, cho Hướng Đạo có phần khá hơn. Nhưng Hướng Đạo nếu chỉ là một lối giải trí lành mạnh, thì còn có những trò vui khác cũng lành mạnh mà hấp dẫn hơn nhiều. Người ta khen Hướng Đạo là một tổ chức cứu tế xã hội, hay khen y phục và cờ xí Hướng Đạo có thể làm những hàng rào danh dự đẹp đẽ và ăn ảnh. Nhưng biết bao tổ chức xã hội hiệu quả hơn nữa, và y phục đẹp đẽ đến đâu cũng khó chống lại với những làn sóng mới của thời trang. Người ta ca ngợi phần tháo vát của Hướng Đạo, nhưng kỹ thuật của một Hướng Đạo sinh không bằng tài nghệ một công nhân tập sự. Còn có thể cho Hướng Đạo không thức thời trong một xã hội chỉ nghĩ đến con số, tốc độ, hiệu lực, khi lời nói của xã hội toàn những câu khiêu khích, căm hờn, phẫn nộ. Còn có thể cho Hướng Đạo là một trò chơi của tiểu tư sản, một tổ chức phụng sự chủ nghĩa đế quốc. Những sự khen chê sai lầm, đại để như thế, chính những người trong phong trào cũng có thể có; chỉ vì quá chủ quan lại xem Hướng Đạo như một tôn giáo hay thay thế cho tôn giáo được, hoặc mê theo khung cảnh lãng mạn của Hướng Đạo mà sống một đời giả tạo, xa lánh những vấn đề thiết thực của đời sống cá nhân, gia đình hay xã hội.
            Có người nghe nói đến Hướng Đạo mỉm cười từ trên Hy Mã Lạp Sơn của họ mà phán: Chỉ là một trò chơi. Lời ấy gần sự thật nếu sửa lại: Hướng Đạo là tất cả một trò chơi, và dùng chữ trò chơi đồng nghĩa với trò chơi khi ta nói: “Đời là một trò chơi”.
            Hướng Đạo là một phương pháp giáo dục bổ túc cho học đường, cho gia đình, cho tôn giáo. Hướng Đạo hiến cho thanh niên cách dùng khôn ngoan thì giờ nhàn rỗi, xây dựng tánh khí, nhân phẩm, đặt cho thanh thiếu niên vào trách nhiệm của mình đối với cảnh vực.
            Chúng ta hãy lần lượt xét đến những đặc điểm của Hướng Đạo, yếu tố thành công của phương pháp.
            Trước hết, trong việc kết nạp đoàn viên, phong trào áp dụng một nguyên tắc căn bản là tự ý gia nhập, nguyên tắc làm cho Hướng Đạo khác hẳn nhiều đoàn thể, và cho nhận thấy quan niệm của Hướng Đạo đối với nhân vị. Nói đến nhân vị là nói đến tự do quyết định của người. Nhân vị tỏ rõ giá trị mình nơi sự nhận định tự do quyết định và sự đảm đương trách nhiệm mình cho xứng đáng với tự do ấy. Hướng Đạo đặt sự tín nhiệm nơi đứa trẻ, không những trông cậy và hy vọng nơi phần trong sạch cao đẹp của trẻ, mà còn đề cao danh dự của trẻ. Thái độ ấy ngược hẳn với bao nhiêu lối giáo dục và huấn luyện khinh thường trẻ và bắt buộc trẻ vào những khuôn mẫu có khi không hợp với thực trạng sinh tâm lý của trẻ, quá khả năng hay không kêu gọi được sự hợp tác chân thành của trẻ. Luật lệ, nghiêm phép dùng trong Hướng Đạo không phải là những cùm xích, những sự đe dọa, những trừng trị, không có hình thức bắt buộc của ngoại cảnh. Trẻ Hướng Đạo tự tìm một luật lệ, tình nguyện sống theo luật lệ, không chịu sự miễn cưỡng ràng buộc nào đó một uy lực tinh thần hay vật chất nào. Trẻ tìm được hứng thú, trẻ lấy làm kiêu hãnh khi gia nhập phong trào, khi lấy danh dự mình mà hứa… “Tôi lấy danh dự tôi, hứa sẽ cố gắng hết sức để…”
            Lời hứa Hướng Đạo không phải là một hình thức dễ dãi; lễ hứa đem đến cho trẻ một ý niệm về sự quan trọng của lời nói. Đáp lại sự tín nhiệm của các trưởng, trẻ phải hành động thế nào để cho danh dự của trẻ khỏi phải bị khi dễ. Nhưng lời hứa của Hướng Đạo sinh không đòi hỏi điều gì quá siêu việt. “Tôi lấy danh dự tôi, hứa sẽ cố gắng hết sức để làm tròn bổn phận đối với tôn giáo tôi, để phụng thờ tổ quốc, giúp ích mọi người và tuân theo luật Hướng Đạo”. Trẻ không thể làm những công trình vĩ đại hay trở nên tức khắc và mãi mãi một người thánh thiện. Trẻ chỉ hứa cố gắng hết sức, và người ta chỉ trông vào sự cố gắng hết sức ấy. Giản dị, thiết thực, hợp với tài lực của trẻ, sự đòi hỏi ấy giúp cho trẻ rất nhiều. Những bước đường của trẻ là những sự cố gắng hợp với tuổi, hợp với giai đoạn. Đối với một trẻ bảy, tám tuổi cố gắng phụng thờ tổ quốc có thể là rất tầm thường, chỉ là sự nghiêm chỉnh trong khi chào quốc kỳ, nhưng khi Hướng Đạo sinh đã trưởng thành, sự cố gắng có thể là việc trọng đại hơn như hy sinh tánh mạng trong lúc nước nhà lâm nguy.
            Luật Hướng Đạo với mười điều, được trình bày theo lối đề cao một Hướng Đạo sinh lý tưởng. Không có một sự cấm đoán, không có một sự trừng phạt. Nếu trẻ phạm luật, trẻ không đợi ai nhắc cũng có thể biết mình chưa phải, hay không phải là Hướng Đạo sinh. Và trẻ, mặc dù được nâng đỡ, được xây dựng nhiều lần nhờ tình huynh đệ của trưởng, nếu trẻ không thể theo luật, trẻ ra khỏi đoàn, hoàn toàn tự do như khi bước chân vào.
            Trọng tự do của trẻ xem như một nhân vị, là một đặc điểm của phương pháp Hướng Đạo. Những cái vui thường thấy trong các đoàn Hướng Đạo, sự chịu khó tận tâm nhẫn nại, hy sinh chân thành của Hướng Đạo sinh có giá trị đặc biệt là chẳng ai buộc, mà chính tự ý mình muốn. Tinh thần tự giác, nhận định về trách nhiệm được trau dồi, không nhờ những bài giảng dạy mà nhờ công việc thường xuyên. Trẻ “sống” trong một khí hậu giúp ích cho việc khôn lớn của mình.
            Một đặc điểm khác cho thấy rõ Hướng Đạo nhìn nhận và xây dựng nhân vị là: giáo dục từng trẻ một. Khác hẳn với những phong trào hay đoàn thể chú trọng số đông, Hướng đạo không có tham vọng quy tụ rất nhiều trẻ. Hướng Đạo mở cửa đón tiếp tất cả, nhưng giáo dục Hướng Đạo không nhằm mục phiêu huấn luyện một lần hằng nghìn hằng triệu thanh thiếu niên, vì lẽ không đủ cán bộ và cán bộ không đủ thì giờ và tài sức để trông nom một lần nhiều trẻ được. Hướng Đạo muốn giúp trẻ suốt thời gian trẻ sửa soạn trở nên người. Hạn chế số trẻ trong một đội, trong một đoàn, là đặt phương tiện thích ứng cho sự giúp đỡ ấy có hiệu quả.
            Có nhiều đoàn thể hay phong trào thanh niên chỉ biết tâm lý quần chúng mà không cần biết tâm lý cá nhân nói gì đến sự hiểu biết từng trẻ một. Tại học đường ngày nay, nhiều nhà giáo cũng quên hay không có cách nghĩ đến bổn phận ấy. Học trò hay thanh niên ở đôi nơi, chỉ là một số ký danh, một tên trong sổ bộ, nhưng cán bộ giáo dục hay thanh niên lắm khi không biết số ấy, tên ấy là của ai. Hướng Đạo xây dựng từng đứa trẻ một, và bắt đầu từ đứa trẻ thật, mà người dìu dắt không những biết tên họ, tuổi tác, lý lịch gia đình, lý lịch học đường mà phải biết rõ luôn, thiếu thốn cũng như xu hướng và tài năng của trẻ. Hướng Đạo theo dõi tiến bộ của từng trẻ, không lo ngại về kết quả chung cuối năm. Chương trình hoạt động được phân phối hợp lý cho người yếu kém cũng theo kịp mà người tài giỏi cũng khỏi phải chán. Trong tổ chức Hướng Đạo, kết quả của một đoàn không đáng kể, nhất là kết quả trình bày nơi hình thức bên ngoài, điều quan trọng và là mối lo âu của trưởng là sự tiến thủ của đoàn sinh về mọi phương diện.
            Hạn số người được huấn luyện, tìm hiểu và dắt dìu từng trẻ một, Hướng Đạo phải hiến khung cảnh và hoạt động thích chợp từng tuổi một. Chính trong quyển “Scouting for boys” Baden Powell đã nói:
            “Nguyên tắc chính của sự cố gắng chúng ta là hiểu biết ý của đứa trẻ để khuyên nó lo sự giáo dục của nó hơn là chờ kẻ khác dạy dỗ nó. Nguyên tắc ấy hợp với nguyên tắc của những nhà giáo dục hiện thời. Giáo dục Hướng Đạo tuần tự như tiến và thích hợp với tâm lý biến chuyển của đứa trẻ đang khôn lớn”.
            Ai cũng biết trong phong trào Hướng Đạo có ba ngành nối tiếp và bổ túc cho nhau nhưng hoạt động riêng biệt:
            Ngành Ấu, gồm những trẻ từ 7 đến 11 tuổi, gọi là sói, họp thành bầy hay ấu đoàn; mỗi bầy có nhiều nhất sáu đàn và mỗi đàn sáu trẻ.
            Ngành Thiếu, gồm những trẻ từ 11 đến 17, 18 tuổi, gọi là thiếu sinh, họp thành thiếu đoàn; mỗi thiếu đoàn có nhiều nhất là bốn đội; và số trẻ tối đa mỗi đội là tám em.
            Ngành Tráng, gồm những thanh niên từ 17, 18 đến 25 tuổi, gọi là tráng sinh, họp thành tráng đoàn; mỗi tráng đoàn gồm có bốn hay sáu toán, mỗi toán có từ năm đến mười tráng sinh.
            Baden Powell đã sáng lập ngành Thiếu trước tiên, vì đã chú ý đến tuổi khó dạy và dễ hư hỏng hơn hết. Năm 1916 mới có ngành Ấu, và ngành Tráng bắt đầu từ 1918.
            Như nhiều nhà tâm lý học cho biết, từ 7 đến 12 tuổi, trẻ sống một đời có quân bình, không khó khăn lắm. Về phương diện thể xác, trẻ bắt đầu chóng lớn khi 6, 7 tuổi, nhưng từ 8 đến12 thì sức lớn tăng không bao lăm, cho đến 12 tuổi trở lên, mới chóng lớn trở lại, và sự chóng lớn nầy đi đôi với những sự phiền phức của thiếu thời.
            Tuổi sói thuộc vào đoạn chót của ấu thời. Tuổi nầy không còn bâng khuâng muốn hiểu biết về cảm giác, và đã bắt đầu nhìn ngoại cảnh, đời các sự vật, biết sắp các sự vật ấy có thứ tự và hợp lý. Đứa trẻ nhỏ hơn (4, 5 tuổi) thường ưa hỏi Tại làm sao? Và khi được nghe trả lời, dù là trả lời một cách độc đoán, trẻ cũng đã thỏa mãn. Tuổi sói không còn hỏi “tại làm sao?” nữa. Trẻ tự tìm ra lời giải, miễn là vấn đề không phải trừu tượng. Nhưng tuổi ấy cũng là tuổi bịa đặt, nói láo, độc ác, ích kỷ, giả dối. Baden Powell dùng những trò chơi, với khung cảnh tưởng tượng. Rừng của Mowgli (theo sách của Rudyard Kipling(1) để thỏa mãn và hướng dẫn những xu hướng của tuổi. Bầy là một gia đình sung sướng và cảnh Rừng di dưỡng những điều quý báu của tuổi ấy là tính hồn nhiên và tâm hồn thơ mộng).
            Ngành Thiếu trông nom những trẻ thuộc tuổi khó khăn, tuổi dậy thì, với tâm lý rất phức tạp. Theo P. Mendousse,(2) thiếu sinh trải qua những lúc quá hoạt động đến mệt nhọc; có thể cười say sưa, vui sướng vì một điều thật hay tưởng tượng; nhưng cũng dễ buồn rầu và khóc vô cớ. Thiếu sinh ích kỷ, tự đắc, lấy làm vẻ vang vì bộ mặt, muốn khoe mình, có tính kháng cự, thích lời khen tặng, chăm chú về những chuyện có dính líu đến danh dự, không kiên nhẫn khi gặp điều trái ý, không kính nể ai. Nhưng cũng dễ chán nản, nghi ngờ mình, tự tạo những chuyện buồn bông lông mà giữ kín, nếu không chép vào nhật ký hay thốt ra trong lời cầu nguyện. Thiếu sinh yêu người, thích việc nghĩa, có thể hy sinh một cách kín đáo, nhưng có thể ích kỷ vô cùng và khinh miệt quyền lợi kẻ khác. Thiếu sinh đi từ lòng sốt sắng, một ý muốn đạo lý đến muốn thỏa mãn những sự thèm khát đê tiện, trốn sự ràng buộc của xã hội, khoe khoang về sa ngã và trụy lạc. Thiếu sinh khi thì thích hiu quạnh, ham cảnh thiên nhiên, nhút nhát chỗ đông người, khi thì cần bạn hữu đến nỗi không thể giải trí hay suy nghĩ một mình được. Thiếu sinh khâm phục anh hùng và những ý tưởng cao kỳ, và cũng bắt chước những lề lối tầm thường của thời thượng. Ban đầu thì đánh đổ tất cả hình thức có lế lối sau lại trở nên bảo thủ, nhưng không bao giờ chịu được thái độ trung dung.
            Từ tuổi 11, 12, tâm lý đã trở thành phức tạp. Sự hiểu biết đi đôi với sự lớn dần của thể xác. Trẻ bắt đầu suy nghĩ và biết phán đoán. Soát lại những điều của kẻ khác định, trẻ bắt đầu chống lại và đã làm phiền cha mẹ hay thầy giáo vì không vâng lời dễ dàng nữa. Phương pháp dùng ở Ấu đoàn, hình ảnh gia đình sung sướng của các sói (không bao giờ nghe mình mà chỉ vâng lời sói già), không hợp với thiếu sinh nữa. Giáo dục phải là gián tiếp, và phải tự trẻ tiếp nhận mới được. Hướng Đạo cho trẻ luật để sống theo đó và để làm tiêu chuẩn phán đoán, cho gương mẫu trước mắt, là những trưởng, và một khung cảnh, một xã hội mà trong đó nhân vị trẻ được đề cao, trách nhiệm và địa vị của trẻ được định rõ; trẻ sống như người lớn, và thí nghiệm được những điều trẻ đã thâu thập hay tìm kiếm.
            Lên đến 17, 18 tuổi, nhân cách của trẻ cần được tỏ rõ hơn nữa. Thanh niên vào giai đoạn nầy, không hợp với hoàn cảnh tưởng tượng hay một xã hội giả tạo của đội, của đoàn. Tráng sinh được sửa soạn để sống trong xã hội thật, xã hội của người lớn. Công việc của tráng sinh là không hạn chế trong công việc cần nhiều gan dạ và kỹ thuật; vấn đề của tráng sinh nghiên cứu và học hỏi cũng là vấn đề quan trọng cho đời người; ái tình, hôn nhân, nghề nghiệp, văn hóa, chính trị, tôn giáo, sự hiểu biết của tráng sinh cần được giúp đỡ, để cho tráng sinh có thể đi đến một sự quyết định, một giải đáp, – không phải thử quyết định và giải đáp “máy móc”, có sẵn mà của riêng tráng sinh. Tráng sinh khi bước vào đời có vốn liếng vững chắc để tự lái thuyền mình, vì đã sửa soạn tất cả yếu tố để thành công theo nghĩa Hướng Đạo, là đạt đến hạnh phúc.
            Ba giai đoạn Hướng Đạo có những hoạt động và lề lối huấn luyện khác nhau, để thích ứng với tâm lý và nhu cầu đặc biệt của mỗi tuổi, nhưng tinh thần vẫn là một.
            Một đặc điểm khác của phương pháp Hướng Đạo là dùng trẻ để dạy trẻ. Điều ấy cũng do tài nhận xét của vị sáng lập và biết khai thác nhận xét ấy. Chúng ta biết trẻ thường kết nhau lại thành bè, lũ, phe, đám (gang) làm thành những xã hội cỏn con riêng biệt, có luật lệ, có tập tục, tiếng lóng, ngôn ngữ riêng, những xã hội mà người lớn không xâm nhập được. Những trẻ sống trong một đám như thế có những bí danh, như đoàn viên một hội kín, triệt để tuân theo mệnh lệnh của kẻ cầm đầu có tinh thần đoàn kết và kỷ luật. Chỉ tiếc mục phiêu và những hoạt động của những đám ấy có thể đưa chúng đến chỗ hư hỏng (như trong thật tế, nước nào cũng có kinh nghiệm bi đát). Baden Powell đã lợi dụng lối kết hợp ấy, và đã để cho trẻ con huấn luyện trẻ con, lập ra phép hàng đội tự trị, để thỏa mãn xu hướng tự nhiên của trẻ. Những bí danh, tiếng lóng, lối chào bí mật cũng được đặt ra cho trẻ. Mục đích đã được thay đổi; trò chơi, hoạt động hướng đến ích lợi cho trẻ, về thể xác, thực hành, tri giác, đạo đức.
            Cũng theo một đường lối khai thác và hướng thiện những khuynh hướng tự nhiên của trẻ, Baden Powell, lại lập nên hệ thống đẳng cấp và huy hiệu, để trẻ ham thích mãi, tiến bộ mà không biết. Óc thích làm lãnh tụ, thích khoe tài, ham đeo “lon”, huy chương – hình thức chứng tỏ tài năng đặc biệt khiến trẻ phải trải qua nhiều thử thách để trở nên một hướng đạo sinh hạng nhì, hạng nhất, hướng đạo hiệp sĩ, hoặc được quyền gắn trên đồng phục những huy hiệu chuyên môn, như các bạn khác, hay phân biệt mình đối với anh em chung quanh. Nhờ đó, mà việc huấn luyện – và giáo dục – của trẻ cứ tiếp diễn mãi, vì huy hiệu thì vô số, mà tính khoe khoang và hiếu danh của trẻ (của người lớn cũng vậy) không bờ bến, nhờ đó, trẻ có dịp thử thách tài năng, chí khí mình. Hệ thống huy hiệu của Hướng Đạo, có ích lợi không phải nhỏ, là dạy cho trẻ tháo vát, sửa soạn cho trẻ tìm nghề nghiệp thích hợp với năng khiếu của mình. Phương sách ấy lại đem lại quân bình cho việc xây dựng trẻ, khuyến khích khéo tay để sửa chữa bệnh trí thức, đánh đổ thành kiến về nghề trọng và nghề hèn, và cũng khuyến khích sự trau dồi kiến thức và văn hóa để sửa chữa cái quê kịch của những người tôn thờ sức mạnh và tài năng của bắp thịt.
            Theo đó, Hướng Đạo là một phương pháp huấn luyện trẻ về nhiều phương diện, đào tạo những con người quân bình và hòa điệu, nhận định giá trị của mọi điều. Nếu xét bên ngoài, có thể cho Hướng Đạo đưa thanh niên đến đời sống giả tạo, trở về cảnh sống lãng mạn của rừng rú, núi non. Nhưng chính Hướng Đạo đưa thanh niên vào khung cảnh thật, và ngăn cản một phần nào ảnh hưởng, thứ ảnh hưởng tai hại của văn minh vật chất và máy móc. Không từ chối ích lợi của những phát minh của khoa học và kỹ thuật, Hướng Đạo chỉ lo ngại (như Alexis Carrel đã nói trong L’homme, cet inconnu), lo ngại máy móc và tiện nghi vật chất làm yếu nhược con người, giảm bớt sức tranh đấu của con người, vì giảm bớt những cơ hội thử thách và cố gắng về thể xác như về tâm trí. Đời sống ở trại, trong cảnh thiên nhiên, giúp cho trẻ biết sức khỏe thật của mình thế nào; vì sức khỏe nhờ nơi những nhà cửa kín đáo, nhờ thuốc men, và sinh tố hằng ngày, là thứ sức khỏe giả tạo; vì sức khỏe thật thấy rõ khi người phải dầm sương dải nắng, đảm đương được những cố gắng tự nhiên. Sức mạnh để khoa trương lực sĩ không đáng quý trong đời sống hằng ngày bằng tài kháng cự với mệt nhọc, với thời tiết, với lao công.
            Sống ngoài trời là một mục đích quan trọng trong chương trình Hướng Đạo. Không những đem cho trẻ sức khỏe tự nhiên và bền bỉ, mà còn rèn đức tánh khí trẻ, trải qua những thử thách gặp trong khi cắm trại, khi phá đường, thám du. Can đảm, kiên nhẫn, tháo vát là bao nhiêu điều hay mà trẻ quen sống đời tiện nghi của thành thị không còn biết đến. Ích lợi về trí tuệ cũng không phải nhỏ. Thoát hẳn lối học sách vở, xa biết bao cảnh thật, trẻ ham thích quan sát thiên nhiên, hiểu biết nhịp sống của những sinh vật, quen với tinh tú cũng như phân biệt bông hoa khoáng chất. Cảnh lạ lùng của thiên nhiên, thêm với cái đẹp của thiên nhiên, trau dồi được những mỹ cảm, và hướng thanh niên đến sự tôn kính Thượng Đế.
            Phong trào Hướng Đạo còn có đặc điểm duy linh, ấy là dùng tôn giáo làm căn bản cần thiết cho giáo dục. Hướng Đạo sinh phải là người có tôn giáo, hay có thiện chí thành tâm tìm cho mình một tôn giáo. Điểm quan trọng ấy, phân biệt Hướng Đạo với những phong trào thanh niên vô thần hay duy vật, và có thể cắt nghĩa một phần nào nguyên do ác cảm của những phong trào nầy đối với Hướng Đạo (chúng tôi muốn nói Hướng Đạo theo như Baden Powell đã vạch ra từ 1907, mà những nguyên tắc căn bản đã được ghi trong những sách chính(3) Hướng Đạo xuyên qua sự giảng dạy của trại huấn luyện quốc tế Gilwell, Hướng Đạo mà đường lối đã được Hội nghị Hướng Đạo quốc tế nhìn nhận, gìn giữ và bảo vệ). Baden Powell đã nhận thấy, trước biết bao nhiêu người ảnh hưởng tai hại của thuyết vô thần và vô tôn giáo, đối với tuổi trẻ và chủ trương tôn giáo cần thiết cho hạnh phúc. Để tránh vực vô thần. Baden Powell khuyên hai điều, đọc Thánh kinh, và đọc trong sách huyền diệu của Thiên Nhiên. Shakespeare có nói đến những bài giảng nơi những tảng đá, lời nói nơi cây cối, sách vở nơi những giòng nước và Thượng Đế trong mọi sự. Sự hiểu biết và chiêm ngắm thiên nhiên đưa người đến thái độ khiêm tốn và tôn kính, và xu hướng người về cái Đẹp, mà thiên nhiên không ngớt hiến cho người có mắt của tâm hồn, khiến người cảm thấy động cơ của mọi điều tươi đẹp trên thế gian, là tình thương yêu.
            Xét những đặc điểm của Hướng Đạo, chúng ta phải nhìn nhận giáo dục ấy rất cân bình và đầy đủ. Tinh thần, trí giác, thể xác, thực hành có phần quan trọng tương xứng trong những hoạt động. Hướng Đạo chú trọng đến sự phát huy tất cả tài năng của trẻ, lập một trật tự về giá trị, cốt hiến cho trẻ những phương tiện để tìm hạnh phúc trong sạch và đầy đủ. Nên nhớ Baden Powell không bày ra học thuyết. Baden Powell không phải một triết gia; điều đó cũng là một sự khôn khéo vừa là một sự chứng minh. Việc huấn luyện trẻ không chỉ là một mớ bài vở và lý thuyết mà đời sống của người không thể nào giam cầm hay bóp méo trong một hệ thống tư tưởng. Những nhân vị quá khác biệt, và cần phải khác biệt, và không thể ung đúc theo một khuôn mẫu nhất định; mà giáo dục phải bắt đầu từ nơi thật tế phức tạp của từng người một. Điều quan hệ, và là một mục phiêu quan trọng là giúp cho trẻ có tánh khí, cho trẻ trở nên , cho trẻ có đời sống riêng biệt, với tự do quyết định và can đảm lãnh trách nhiệm làm người của mình. Hướng Đạo không chủ trương đào tạo một đám trẻ đi bước đều, với hoạt động, ý nghĩ cũng “một… hai” theo một nhịp bắt buộc, hùn cái thiếu thốn và bất lực của mình để trông mong có những đức tính và sức mạnh chung. Hướng Đạo muốn mỗi trẻ thành một nhân vị đầy đủ, hay nói một cách thông thường, thành một người, mà giá trị không lệ thuộc y phục, chức vị, không lệ thuộc cảnh vực hay cảnh ngộ, hay nói theo danh từ xưa, Hướng Đạo muốn cho mỗi trẻ đủ sức để có cái “chí thất phu” mà không ai đoạt được.
            Lý tưởng nêu lên cho người thanh niên Hướng Đạo nhắc nhở, dưới hình thức mới, chí hướng của người hiệp sĩ hay người quân tử của thời hưng thịnh và đạo đức của những xã hội Đông Tây. Lý tưởng đã nêu trong luật Hướng Đạo, mà tùy theo tuổi, thanh niên sẽ đạt đến với tài sức của mình. Lý tưởng không thể thay thế tôn giáo, mà được sáng tỏ nhờ tôn giáo hay tìm sức mạnh nhờ tôn giáo. Thanh niên tự ý đón tiếp hình ảnh con người lý tưởng, con người thành công, con người sung sướng.
            Người ấy có danh dự, được người tín nhiệm; người ấy thành thật, có lời nói chắc chắn. Người ấy trung hậu đối với kẻ trên người dưới; được sống trong một cộng đồng, người ấy sẽ làm tròn bổn phận của vai tuồng mình, trung thành với xứ sở cũng như trung thành với bạn bè, với người chung quanh, trong gia đình hay trong nghề nghiệp. Bổn phận của người là giúp đỡ kẻ khác. Như thế đối với bậc quân tử thời xưa, tứ hải giai huynh đệ, Hướng Đạo xem những người khác như là bạn hữu, bất luận giai cấp, giàu nghèo, chủng tộc hay tín ngưỡng, như thể bậc hiệp sĩ đời xưa, người Hướng Đạo sẽ nhã nhặn và lễ độ. Người nhận thấy cảm tình đối với mọi sinh vật khác. Người biết vâng lời, tuân theo kỷ luật cần thiết cho cộng đồng. Người bình tĩnh và vui vẻ trong những lúc khó khăn, nhớ đến câu thơ của Kipling:
                        “Nếu con có thể giữ được bình tĩnh
                        Khi mọi người chung quanh rối loạn tâm thần,
                        Con mới thật là Người, con ạ
.”
            Người lý tưởng biết cần kiệm, biết dùng tiền bạc, và sẽ không trở thành gánh nặng cho bất cứ ai, vì như thế thì không còn giúp kẻ khác được nữa. Sau cùng, người Hướng Đạo lý tưởng là người trong sạch, từ tư tưởng đến việc làm, nêu gương sáng cho người chung quanh.
            Trình bày Hướng Đạo là một phương pháp xây dựng nhân vị, giúp thanh niên trở nên người, với mục phiêu là thành công trên đời, có thể đưa đến sự ngộ nhận và kêu gọi sự chỉ trích, vì nếu chỉ có vậy, thì Hướng Đạo phụ họa với bao nhiêu chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, xa hẳn sự cần thiết, và ràng buộc của một thời đại cần sức mạnh, cần tranh đấu. Thưa không! Hướng Đạo trong giai đoạn tổ chức nào cũng đặt đến vấn đề giúp ích và cộng đồng. Chính Baden Powell cũng đã định nghĩa Hướng Đạo một cách mới mẻ và có lẽ khó hiểu là một trường công dân nhờ kỹ thuật sống ngoài trời. Châm ngôn của sói là “gắng sức”, châm ngôn của thiếu sinh là “sắp sẵn” và của tráng sinh là “giúp ích”. Trong lời hứa, trong luật bổn phận của thanh niên đối với người chung quanh, đối với tổ quốc, đối với xã hội thường được nhắc đến.
            Nhưng về giúp ích, Hướng Đạo có quan niệm riêng. Đối với Hướng Đạo, sự giúp ích, hy sinh không chỉ là những bài học thuộc lòng, không chỉ là lời nói suông, mà tỏ rõ trong những hoạt động hằng ngày, quan trọng tùy theo tuổi, tùy theo trường hợp. Làm một điều vui cho kẻ khác, làm một việc thiện hằng ngày, tham gia công việc kiến thiết xứ sở, bảo vệ xứ sở, chứng tỏ thiệt hành lý tưởng.
            Hướng Đạo quan niệm sự giúp ích, hy sinh phải được sửa soạn chu đáo. Trong giai đoạn giáo dục, trong khoảng từ 7 đến 25 tuổi, Hướng Đạo sinh tiếp tục việc sửa soạn của mình, song song với việc thực hành ý chí giúp ích. Hướng Đạo phải biết giúp ích, đủ sức để giúp ích. Những hoạt động Hướng Đạo, mà đôi người xem thường hay lầm tưởng đó là mục phiêu, như thắt gút, truyền tin, cứu thương, nhận xét, là những cách sửa soạn. Hướng Đạo quen sống với thiên nhiên, tiếp xúc với thật tế, chắc hẳn phải biết “suy nghĩ bằng tay”(4) mà không say sưa với những ý muốn giúp ích. Thiện chí đâu có đủ. Thiện chí mà thiếu tài năng còn có thể đưa đến kết quả tai hại. Con gấu của La Fontaine cũng nhiều thiện chí lắm, nhưng sự giúp ích của gấu chỉ làm cho bọn mình vỡ mặt!
            Thêm nữa, sự giúp ích chỉ có giá trị khi thực hiện ngoài bổn phận, khi không phải vì lợi, vì danh hay vì áp lực nào mà có mà chỉ vì tình thương yêu. Hy sinh không phải là dùng tiền của hay sức khỏe của kẻ khác để đem cho. Hy sinh là cho mình, hiến một điều gì của mình, thì giờ, sức khỏe hay tiền của của mình mà thôi. Quan niệm về tình yêu thương, về hy sinh (không phải thương hại hay hy sinh bắt buộc) chỉ có “nhân vị” đầy đủ mới cảm thấy cần thiết. Đó là dây nối liền và ràng buộc tinh thần giữa nhân vị với những người khác, giữa nhân vị với Thượng Đế. Đó là một thái độ cá nhân, tự do, đứng ngoài sự chi phối của cảnh vực, của xã hội.
            Hướng Đạo đi từ nguyên tắc tự do gia nhập, xây dựng ý niệm cộng đồng và đến chí tự nguyện phụng sự. Hướng Đạo sinh hoạt động trong một đội, một đoàn. Ích kỷ thường tình của cá nhân đã được sửa chữa nhờ những hoạt động chung, ích lợi cho đoàn thể. Lần lần tinh thần thân hữu, giúp ích, không còn xem như là một sự miễn cưỡng, bó buộc mà chỉ là một tập quán trang nhã lịch sự, một lối sống tự nhiên của người thừa hạnh phúc.


***

            Chúng tôi vừa lược bày vài đặc điểm của Hướng Đạo, một phương pháp giáo dục nhân vị. Chúng tôi không nói rằng đó là phương pháp duy nhất, phương pháp hay hơn hết cả, chúng tôi cũng không nói phương pháp ấy thay thế cho giáo dục cần thiết của gia đình, của học đường. Hướng Đạo chỉ là một phương pháp bổ túc dùng thì giờ nhàn rỗi của trẻ. Chúng tôi không quên rằng người ta có thế phát minh ra những phương pháp đặc biệt, tối tân hơn và hiệu quả hơn nữa. Chúng tôi cũng biết, nhu cầu và mục phiêu khác có thể đòi hỏi những lối khác để huấn luyện hay xử dụng thanh niên.
            Nhưng chúng tôi cảm nghĩ rằng, trong khi chờ đợi một phương pháp tinh xảo hơn, và nếu mục phiêu của giáo dục không chỉ là đào tạo những công cụ nhất thời, nếu giáo dục chú trọng đến nhân vị, và lo xây dựng hạnh phúc của thanh niên, nếu chúng ta đồng ý rằng muốn có xã hội vững chắc phải có những công dân vững chắc, muốn bảo vệ tự do và dân chủ cần có những người đã có ý thức dân chủ và tự do, nếu chúng ta đồng ý muốn đề cao giá trị tinh thần phải có những người tin tưởng và hằng sống theo những giá trị ấy, nếu vậy, thì phong trào Hướng Đạo không phải là vô ích hay dư thừa. Trong khi khắp nơi có những lời ta thán về thanh niên vô lý tưởng, vô giáo dục, tưởng cũng nên nhắc đến để bớt bi quan và được công bình, đám thanh niên đã tìm được con đường hay đẹp.
            Hướng đạo trong một hình thức giản dị, bao hàm nhiều giá trị, những giá trị mà các chế độ độc tài, tả hay hữu cũng như những chế độ phát-xít, không hề dung nạp. Theo lối cấm đoán những phong trào Hướng Đạo ở nhiều nước, theo tình hình của Hướng Đạo trên thế giới hiện nay, có thể nói mà không sai hẳn, sự hiện diện hay sự đàn áp phong trào Hướng Đạo tại một nước là tiêu chuẩn để xét nước ấy thật dân chủ hay không. Vì phong trào Hướng Đạo đào tạo những người có tánh khí, ham chuộng tự do, có tinh thần giúp ích, nhưng không có khả năng làm cừu trong đám cừu; vì phong trào Hướng Đạo lo xây dựng tương lai vững chắc, theo đuổi một công cuộc kiên nhẫn lâu dài, và không thể biến thành một tổ chức huấn luyện chớp nhoáng với mục phiêu thiển cận; vì phong trào Hướng Đạo đề cao nhân vị, đặt nền tảng giáo dục trong khung khổ tôn giáo, tổ quốc, vì phong trào Hướng Đạo khuyến khích đám thượng lưu không thể bình đẳng hóa quần chúng bằng cách cào bằng hay khinh thường những giá trị (không phải giá trị dựa trên giai cấp xã hội, mà dựa nơi đức hạnh, tài năng). Hướng Đạo gieo sự thương yêu, hiểu biết, giữa các giai cấp, giữa các giống nòi, và không thể tiếp chuyển những ý niệm sai lầm về giai cấp đấu tranh hay bài ngoại và tiêu diệt dị chủng.
            Dưới hình thức giản dị, với những lề lối, mà người ta có thể khinh dễ hay chê cười, Hướng Đạo trong vòng năm mươi năm đã bành trướng khắp thế giới tự do, gieo ảnh hưởng lớn lao trong đời sống của thanh niên. Danh từ “Hướng Đạo” đã trở thành một danh từ khả ái, đáng tin. Tình huynh đệ giữa Hướng Đạo các nước là một kết quả đẹp đẽ, là một sự cố gắng rõ rệt để thực hiện hòa bình giữa người thiện chí.
            Nhìn lại ở xứ ta, trải qua bao nhiêu khó khăn, suốt ba mươi năm nay, Hướng Đạo Việt Nam(5) cũng đã phát triển vững chắc, tiếp tục công việc sửa soạn những công dân ngày mai. Trong khi, dư luận lo ngại và than trách trào lưu thanh niên hư hỏng, vô kỷ luật, vô giáo dục, vô lý tưởng, chúng ta có thể tự an ủi một phần nào khi nhớ đến đám thanh niên đã tìm được con đường sáng, một con đường tu luyện và giúp ích, một cách vui vẻ, hăng hái, và bất vị lợi. Thầy Khổng có dạy: “Thà thắp một ngọn nến hơn là ngồi rũa trong bóng tối”. Dù ngọn nến của Hướng Đạo không được sáng lắm và cũng có thể bị gió mạnh thổi tắt đi, thanh niên Hướng Đạo, khi sắp sẵn để trở nên những công dân tốt, khi sửa soạn tài năng đức hạnh để hiến thân cho đời, đã tỏ rõ, bây giờ và nơi đây, quyết định thái độ và lý tưởng của mình, và có thể làm cho những ai lưu tâm đến vấn đề giáo dục và thanh niên tin tưởng và hy vọng một phần nào nơi những ngày mai tươi sáng của đất nước.


CUNG GIŨ NGUYÊN
___________________________________________________
(1) Rudyard Kipling, The jungle Books.
(2) Pierre Mendousse, L’âme de l’adolescent, Alcan, 1930.
(3) Scouting for boys, 1908, – Wolf Cub’s Handbook, 1916, – Aids to scoutmastership, 1919, – Rovering to success, 1922.
(4) Penser avec les main, Denis de Rougemont.
(5) Địa chỉ Hội Hướng Đạo Việt Nam: 18, Đường Bùi Chu, Saigon.



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #86 vào: 19/03/2017, 08:56:52 »
THANH NIÊN VIỆT NAM NGÀY NAY NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI ĐẠI MÌNH
SINH VIÊN ĐẠI HỌC HÈ 60

            Hôm nay chúng tôi sung sướng được bày tỏ ý kiến của người thanh niên Việt Nam trước thời đại mình với mục đích nói lên lòng thiết tha với quốc gia, với tiền đồ dân tộc. Chính vì nước nhà với bốn ngàn năm lịch sử uy hùng mà chúng tôi đang hưởng thụ ngày nay, nên chúng tôi có bổn phận phải nối gót để đền ơn các vị anh hùng tiền bối bằng cách góp phần tích cực vào quốc sự.
            Chúng tôi mạo muội nêu những nhận định và nguyện ước của chúng tôi lên đây, giải bày những thắc mắc của người thanh niên, những lo âu của chúng tôi trước thời đại của mình mong được cảm thông và giúp đỡ.


***

            Chúng tôi xin đi vào ngay nhận định của chúng tôi về thời đại mình, thời đại trong đó người thanh niên chúng tôi sống với những thắc mắc, băn khoăn về bản thân và xứ sở cùng lịch sử. Bắt đầu chúng tôi xin tìm xem thanh niên chúng tôi trong xã hội Việt Nam ngày nay như thế nào? Thanh niên đối với vấn đề chính trị, xã hội như thế nào? Chúng tôi được đào tạo phát triển trong hoàn cảnh nào?
            Chúng tôi thấy rằng, phần đông thanh niên có ý thức quốc gia, thắc mắc lo âu về tiền đồ dân tộc sống trên đất nước mình nhưng lại cảm thấy bơ vơ cô quạnh, lý do là vì hoàn cảnh đặc biệt chưa cho phép chúng tôi, những thanh niên được tham gia quốc sự một cách tích cực, nên các ý kiến, nguyện vọng của chúng tôi ít khi được thu nhận thông đạt.
            Một cái gì mơ hồ thường làm cho chúng tôi khó khăn khi muốn phát biểu ý tưởng liên hệ đến quốc gia dân tộc mà chúng tôi thiết tha yêu mến. Phần khác, một số thanh niên chúng tôi buồn nản bực mình vì không có việc làm hợp với khả năng, Người “trên” chỉ bảo việc gì thì chúng tôi phải làm việc ấy, không có ý kiến trao đổi gì cả.
            Một tệ hại xã hội có phần trầm trọng làm cho đa số thanh niên chúng tôi chua xót; đó là cảnh chiếm chức trọng quyền cao theo con đường tắt, điều đó xã hội dung túng thì khác nào bảo nhỏ cho thanh niên chúng tôi rằng không cần phải có tài đức lắm chỉ cần một ít “khôn và ngoan”. Vì lẽ đó thanh niên chúng tôi ít thích gần gũi với chính trị, có người lại sợ chính trị nữa là khác. Sợ và xa lánh vì những bó buộc của bộ mặt chính trị, nên thanh niên chúng tôi không ý thức được nhiệm vụ mình trước thời cuộc. Hễ nói đến việc nhà việc nước, một số trong chúng tôi vô ý thức gán trách nhiệm đó cho những người trong chính quyền mà không biết chính mình là những thanh niên có phận sự đối với nước nhà và chính mình sẽ là những bị cáo đầu tiên trước tòa phán xét lịch sử quốc gia.
            Vì sự tham gia thụ động nên thanh niên quên rằng “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” nhiều lúc chúng tôi sống như một người xa lạ, ngoài cuộc trên đất nước mình.
            Bây giờ chúng tôi xin cùng đi vào khu vực gia đình và học đường để tìm xem người thanh niên chúng tôi được đào tạo như thế nào?
            Xã hội Việt Nam trong buổi giao thời đã có rất nhiều xáo trộn, khủng hoảng. Từ khi văn hóa, văn minh tây phương du nhập vào Việt Nam đến nay, chiến trường của hai nền văn hóa tranh nhau đầu tiên là gia đình và thảm trạng là thiếu thông cảm, hiểu biết giữa hai xã hội già trẻ. Hai phe xung đột đầu tiên là cha mẹ, thuộc lớp người thế hệ cũ và con cái, thanh niên thời đại mới với những tư tưởng, hành vi tự do phóng túng. Các cuộc xung đột hình thức có khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là nơi gặp gỡ đột ngột của hai nền văn hóa văn minh nghịch nhau Âu và Á.
            Các bậc phụ huynh một phần lớn không hiểu được con em, một số không sáng suốt làm cho bao nhiêu gia đình khác rơi vào cảnh lục đục, thiếu tình thương, thiếu niềm thông cảm, mà vai James Dean trong truyện A l’est d’Eden là một bằng chứng hùng hồn.
            Người cao niên giàu kinh nghiệm thâm trầm ít khi quay nhìn lại lớp người đang tới tức là nhìn lại bọn thanh niên chúng tôi. Chúng tôi trông chờ họ chỉ dẫn và cảm thông, nhưng phần lớn người cao niên, đàn anh thản nhiên ngồi trông như một khách bàng quan, có khi lại tựa vào chỗ đứng của mình để mỉm cười mỉa mai chúng tôi là khác. Trong tình cảnh đó thanh niên chúng tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Đành rằng vẫn có một số người đặt tin tưởng vào thanh niên tìm cách nâng đỡ khuyến khích chúng tôi trên đường cầu hưng xứ sở, nhưng số ấy lại quá ít. Lại nữa người đi trước, các bậc đàn anh, vì không thông cảm với nguyện vọng của chúng tôi nên chỉ muốn hướng chúng tôi vào lối mòn cỏ đã rêu phong mà bao thế hệ đã đi qua…
            Ở học đường chúng tôi được đào tạo về trí dục nhiều hơn đức và thể dục. Tuy có rất nhiều biện pháp cải tiến nhưng chương trình, tình trạng học đường vẫn còn chưa được chỉnh đốn lắm. Ngoài chương trình học có phần nặng nề, đáng lẽ thanh niên chúng tôi được trau dồi kiến thức mới, văn hóa mới, khác hẳn những phương tiện dạy dỗ đã đào luyện các bậc phụ huynh chúng tôi, thì trái lại chúng tôi vẫn phải học vẹt, học từ chương cốt để thi đỗ mà không cần bề sâu, cứu cánh vẫn là mảnh bằng. Đó là một lỗ hổng khá lớn do thành kiến trong khoa cử của xã hội Việt Nam tạo nên.
                        “Một việc văn chương thôi cũng nhảm
                        Trăm năm thân thế có ra gì?

            Nền giáo dục phát triển mạnh nhưng số cán bộ tài đức hiếm hoi, không phát triển kịp đà cho nên thanh niên chúng tôi phải chịu lấy nhiều thiệt thòi trong việc rèn luyện trí tuệ, đức tính. Chúng tôi muốn nói đến một số giáo sư không xứng đáng vì họ chỉ là những người thợ không lành nghề, thiếu đạo đức, thiếu ý thức phục vụ, thiếu lương tâm nhà nghề. Họ đi giảng bài chỉ cốt được nhiều tiền, làm giàu còn sống chết mặc ai.
            Nền giáo dục thiên về trí dục hơn đức dục ấy lại đi vào lý thuyết hơn là thực tiễn. Các nhà sách các nhà xuất bản, các soạn giả lợi dụng sự phát triển của nền học vấn để thành những tay buôn bán văn tự mà các bậc đàn anh ít khi để ý tới hay chỉ phàn nàn qua loa.
            Một khuyết điểm trầm trọng hơn hiện đang hoành hành trên đất nước thân yêu đó là gia đình và học đường thờ ơ không liên lạc với nhau. Cha mẹ và Giáo sư thường chia công việc cho nhau chứ không hợp tác trong công việc giáo dục. Phụ huynh cho rằng học đường lo dạy dỗ còn họ lo nuôi nấng vì đó con em dễ bị lôi vào đường chơi bời lêu lổng, các giáo sư nhiều khi vì quá trẻ tuổi, nông nỗi, không ý thức đầy đủ trách nhiệm mình, không chịu khó học hỏi thêm, thiếu thái độ trí thức, nhất là thiếu hiểu biết căn bản về nguyên tắc sư phạm, kiến thức tối thiểu về xã hội học, tâm lý học nên không thực hiện trọn vẹn trách vụ mình trong việc giáo dục. Đó là hoàn cảnh mà lớp thanh niên chúng tôi đã trải qua…
            Ra khỏi học đường chúng tôi còn bơ vơ không biết đi một hướng nào cho thích hợp, vì xã hội thiếu người hướng dẫn, một số chúng tôi băn khoăn do dự không biết chọn ban chọn ngành – điều mà các nước khác trên thế giới có thể giải quyết dễ dàng nhờ trung tâm hướng học và hướng nghiệp.
            Ở học đường cũng như trong cuộc đời, bạn hữu đóng một vai trò quan trọng cho nên chúng tôi cần xét qua thái độ người thanh niên ngày nay đối với bạn hữu như thế nào?
            Sống-là-ở-đời-với-kẻ-khác chứ không thể đứng riêng rẽ mà sống được. Nhưng trong cuộc giao hảo tiếp xúc với tha nhân, thái độ của con người có thể rất nhiều bộ mặt: Thanh niên chúng tôi đối với kẻ khác có thể có tương quan thân hữu bắt đầu từ cái nhìn thiện cảm, hay có thể có cái nhìn bạo động dẫn đến hằn thù oán ghét… Chúng tôi nhận thấy thời đại này những đôi bạn thân để dìu dắt nhau trên đường đời rất hiếm hoi. Theo với đà vật chất, với cuộc sống khuynh đảo một số thanh niên chúng tôi kết bạn vì những mục đích hèn kém tồi tệ, làm bạn vì có lợi, vì người kia có thế lực, hơn là tìm cảm thông giữa hai tâm hồn, phần đông kết bạn để đi chơi, chớp bóng, cà-phê ăn uống v.v… một số thanh niên coi bạn mình như là phương tiện để đạt đến mục đích vị lợi riêng cho mình. Trong tình cảnh này chúng tôi muốn nói đến sự tự lừa dối trong tình bạn. Ý nghĩa của hai chữ bằng hữu sút kém rất nhiều. Giá trị bị thuyên giảm rất lớn. Chúng tôi khó tìm được những đôi bạn thân yêu nhau vì lý tưởng vì mục đích chung vì cần lao công tác. Kết quả đó là của nền giáo dục thiên về trí dục hơn đức dục, là khuyết điểm của gia đình của các bậc đàn anh đi trước không biết hướng dẫn, khuyến khích. Tóm lại vì thiếu chân thành, thiếu tình yêu đích thực, nên chúng tôi chưa có bao nhiêu bạn đúng nghĩa của bạn. Phần lớn thanh niên chúng tôi vì thiếu kinh nghiệm nên không biết rằng trong tình bạn phải để phần tình yêu mến nhiều hơn là phê bình chỉ trích, quyền lợi và so đo suy tính.
            Bằng hữu đã thế, vấn đề tình yêu, hôn nhân đối với chúng tôi như thế nào trong thời đại?
            Chúng tôi thấy rằng bao nhiêu thảm trạng đã xẩy ra và có lẽ đang tiếp diễn trong giờ phút này trên khắp nơi mà giá trị truyền thống tốt đẹp đã bị chà đạp… lý do là vì nền giáo dục không biết hướng dẫn, cha mẹ trong gia đình không sáng suốt để nhận đà tiến triển tâm lý của thanh niên, nên chúng tôi số đông không được hun đúc một quan niệm đầy đủ về tình ái, về hôn nhân. Ảnh hưởng của cha mẹ và một số đàn anh, một số thanh niên chúng tôi đặt nhẹ vấn đề yêu đương và đời sống chung, không được hướng dẫn, thiếu kinh nghiệm non nớt trên nẻo đời, chúng tôi tưởng lầm “Hôn nhân là giai đoạn thuyền tình cập bến, mà không ngờ Hôn nhân là mở đầu cho chuyến ra khơi của hai người mà bão tố đã ngấm ngầm đe dọa và thử thách”.
            Thiếu quan niệm đứng đắn, chịu ảnh hưởng của văn minh Âu Tây, song hành với cuộc sống xô bồ của vật chất cơ giới; một số lớn thanh niên chúng tôi chạy theo vẻ đẹp thể xác, nét hào nhoáng bên ngoài xem nó như là một cứu cánh duy nhất của hạnh phúc lứa đôi. Phần lớn không chịu phản tỉnh để suy xét mà nhận rằng sắc đẹp, nét hào nhoáng bên ngoài chỉ là phương tiện để gây thiện cảm, chỉ là chiếc cầu để đưa hai bạn trẻ đến gặp nhau bên bờ thông cảm mà thôi. Tuy thế thanh niên chúng tôi chịu ảnh hưởng của xã hội phần lớn đuổi theo vẻ đẹp hụp lặn trong những phút giây hiện tại; rồi sắc đẹp đó do thời gian tạo nên tất cũng phải theo thời gian mà tàn tạ. Chính đó là nguyên nhân đã quyết định sự tan rã của bao nhiêu gia đình trẻ. Thanh niên chúng tôi theo thời mới chỉ lo làm đẹp bên ngoài trang trí tô điểm nét mặt, đường tóc, nếp áo… mà không hề nghĩ đến việc tạo cho mình một tâm hồn đẹp, một con người đẹp mà thời gian và những tác nhân bó tay. Đó là vì đâu phải chăng là vì xã hội dung túng và vô tình khuyến khích khi một số đàn anh cũng chạy theo cái bề ngoài.
            Thanh niên chúng tôi nhiều khi tưởng mình yêu người nhưng thực ra chỉ yêu lấy mình một cách ích kỷ, yêu người vì họ làm cho mình hãnh diện vì họ làm cho mình vui (đi với cô đó bảnh lắm, đi với anh này vui đấy). Cho nên sự tự lừa dối vô thức trong tình yêu cũng đem lại bao nhiêu đau thương cho thanh niên chúng tôi.
            Tóm lại đa số chúng tôi chưa trưởng thành về mặt tình cảm và chưa ý thức được vị trí mình; lỗi đó, từ đâu nếu không do ở giáo dục gia đình và thành kiến xã hội. Nào là môn đăng hộ đối, phi cao đẳng bất thành phu phụ, phi triệu phú bất thành phu phụ của một số gia đình, một số thanh niên chúng tôi.
            Vấn đề hôn nhân đã đến chỗ bi thiết như thế đối với đa số thanh niên chúng tôi, rồi vấn đề thiêng liêng cũng mắc vào nhiều chỗ xấu xa. Chúng tôi muốn nói đến sự tự lừa dối của thanh niên chúng tôi và của một số người lớn trong tôn giáo.
            Thời đại mới với những phát minh, những tiến bộ của khoa học đã lôi cuốn số đông thanh niên nông nỗi vào đường duy khoa học (Scientisme). Coi khoa học như là một tri thức, một phương pháp độc tôn để giải quyết mọi vấn đề kể cả vấn đề nhân tính, làm sụp đổ bao nhiêu giá trị thiêng liêng, xúc phạm đến con người. Ảnh hưởng đó lan đến thanh niên Việt Nam gây nên một lớp người ương ương, không duy tâm, không duy vật cũng chẳng duy linh; chính một phần trong chúng tôi thắc mắc tự hỏi không biết mình tin cái gì, có đức tin không? Một phần trong chúng tôi cho rằng sống ở đời thì phải theo một đạo với người ta và chúng tôi có thể theo bất cứ đạo nào và không tin tưởng gì cho lắm như muôn ngàn người đã đi qua trước họ.
            Một số thanh niên chúng tôi đi vào tôn giáo này hay tôn giáo khác chỉ vì “phải theo người mình yêu” phải tòng phu, hay tòng phụ, một nam thanh niên yêu một thanh nữ người công giáo thì dĩ nhiên là phải “tòng phụ” phải rửa tội đi nhà thờ mới được người yêu và rồi từ ăn chay hay niệm Phật đến đi nhà thờ cầu nguyện đều một độ sốt sắng ngoan ngoãn như nhau không hề thắc mắc. Xã hội và các bậc đàn anh lại còn dung túng nhiều tệ hại nữa chẳng hạn một số trong chúng tôi thiếu tin tưởng, hay mất tin tưởng đã tự lừa dối mình khi đến chùa hay nhà thờ, một cách vô ý thức biến chùa, nhà thờ thành nơi hẹn hò với người ước mơ.
            Tôn giáo thiêng liêng bị người ta lợi dụng đủ mặt làm cho mất bớt ý nghĩa và làm cho bao nhiêu người phải vô tình tội lỗi trước tòa án chân lý. Một số người kể cả cao niên đàn anh theo đạo giữ đạo ăn chay một cách vu vơ, hoặc lý do này lý do khác như vì sinh kế, hay vì muốn giữ một địa vị chính trị… Đến chùa đến nhà thờ chỉ là phương tiện để thực hiện những mục tiêu đó.
            Tất một lời, tôn giáo đã bị người ta thực hiện sai từ khởi điểm và một số lớn thanh niên chúng tôi giữa buổi giao thời đầy khủng hoảng xáo động làm mất đức tin đích thực này nên đã đưa đến những kết quả không đẹp như thế.
            Ảnh hưởng thời đại, xã hội đã tạo cho người thanh niên chúng tôi tinh thần và đạo đức tin tưởng như thế cho nên khi đặt mình bên cạnh thanh niên ngoại quốc một số thanh niên chúng tôi có mặc cảm tự ty thấy mình thua kém họ quá xa: điều này dễ hiểu vì thanh niên chúng tôi sống nhưng ít có trách nhiệm về cuộc sống hoạt động của mình, vì hoàn cảnh chính trị xã hội kinh tế ràng buộc và chi phối nhiều thanh niên chúng tôi, âu đó cũng là kết quả tất nhiên của thân phận nước nhà mà các bậc đàn anh đã để lại di sản quá nghèo nàn so với các nước bạn.
            Hoàn cảnh xã hội, thời đại đã làm cho chúng tôi thành những thanh niên chưa được hoàn toàn, kém cỏi, việc cải tiến thanh niên chúng tôi thấy bất lực nếu không được cảm thông và giúp đỡ của bậc đàn anh.
            Và bây giờ chúng tôi xin trở về với chính mình để xem chúng tôi đã làm được gì cho chúng tôi và cho đất nước.
            Sống trong buổi giao thời, trong hoàn cảnh chính trị và kinh tế của cận kim lịch sử, trong ảnh hưởng của chiến tranh của xung đột các nền văn hóa như đã phác qua ở trên, thanh niên chúng tôi ý thức ngay được chỗ đứng vị trí mình trong thời cuộc. Một số đông đã đứng ra để lãnh đạo các phong trào xã hội mong đưa dân tộc đến chỗ cường thịnh. Nhưng tiếc thay lòng hăng hái nhiệt thành của chúng tôi chỉ bùng cháy lúc ban đầu thật lớn rồi phụt tắt ngay hoặc vì gió mạnh hoặc vì không được hun đúc, nâng đỡ. Tâm tình thắc mắc của chúng tôi khác với tâm tình của người cao niên, khó được thông cảm thành ra chúng tôi không đủ thì giờ hay môi trường để hun đúc chí khí, để đạt đến lý tưởng; chúng tôi đành buông xuôi mặc cho thời cuộc lôi cuốn.
            Chúng tôi thú nhận rằng phần đông thanh niên lười suy nghĩ, phản tỉnh nên nhiều lúc đến chỗ cực đoan không chịu cởi mở dung hòa thành ra tự đưa mình vào thế giới cô đơn của tư duy. Chúng tôi buông mình một cách vô tình và những phút giây hiện tại hụp lặn trong những phút vui rộn ràng để rồi sau đó trở về với nỗi chán chường ưu sầu… Phần đông chúng tôi không nghĩ đến việc phát triển nhân vị nhân cách, đạo đức, giữa xã hội nguyện ước không thành, chúng tôi một phần lớn sống tự lừa dối mình mà không biết.
            Đạo đức cá nhân suy đồi vì giá trị truyền thống suy kém; lại ảnh hưởng của giáo dục, xã hội trong kim tiền, danh vọng, thế lực làm cho thanh niên chúng tôi yếu chí khí và một số đã bị lôi cuốn… Đau đớn cho một số thanh niên có chí khí chúng tôi, khi chọn lấy một thái độ trước thời đại thì lại cảm thấy nặng nề, khó thở vì mọi người chung quanh mình sống khác. Do đó chúng tôi thành ra “lạc loài năm bảy đứa bị cha ông ruồng bỏ giống nòi khinh” cũng vì thế thanh niên chúng tôi ít có người có lập trường, có ý thức về quốc gia, về hướng đi của đời mình vì thiếu môi trường truyền cảm hay thông ý. Mỗi thanh niên chúng tôi cô đơn trong ý tưởng trầm lặng của mình vì ít có dịp để trao đổi tỏ bày như hôm nay. Một phần vì thấy khó nói – một phần sợ không được cảm thông bị chê cười chế diễu. Do đó có thể đi đến hai thái độ: buông xuôi, chán ngán hay trở về với cảnh cô tịch của tâm hồn, bơ vơ trên đường thông cảm.
            Nỗi khổ thanh niên chúng tôi đối với thân phận trước thời đại là thiếu thông cảm với các bậc đàn anh. Có một thái độ không biểu lộ được vì hoàn cảnh bảo như thế rồi không được làm khác. Ý tưởng mới lạ, có thể cho là điên rồ, lập dị nếu không bị kết tội là phản động những phán đoán hồ đồ vu vơ đó càng làm cho chúng tôi cô đơn và tự nhiên bị cô lập hóa.
            Cô lập, cô đơn trong tư tưởng mình nên chúng tôi không tìm được bạn đồng hành trên đường chí hướng do đó thanh niên chúng tôi cảm thấy xao xuyến lo âu và thiếu một hướng đi. Những ước vọng không được thông đạt tới cùng hay khuyến khích nên thất vọng với thời đại, thanh niên chúng tôi nếu hèn yếu tinh thần sẽ rơi vào trụy lạc… nẻo đường bùn lấm mà một số người bất lực trước thời đại mình đã dấn thân vào xem như là lối thoát ra ngoài băn khoăn thắc mắc…
            Sống trong thời đại này với bao nhiêu biến cố dồn dập ý thức thanh niên trở nên bén nhọn tinh vi hơn nhưng thử hỏi chúng tôi đã làm gì cho đất nước? Và thử hỏi chúng tôi có đủ phương tiện môi trường để đạt nguyện vọng thiết tha của chúng tôi không? Chúng tôi nhận định, thấy rằng nguyện vọng chưa được thực hiện là bao! Vì vấn đề thông cảm giữa hai lớp người già trẻ vì hoàn cảnh chính trị, xã hội kinh tế mà chúng tôi thiếu một ít tự do về tư tưởng để hoạt động, luôn luôn chúng tôi cảm thấy mình bị ràng buộc mà không biết đó là một mặc cảm hay vì sự thật như thế?
            Tuy nhiên thời đại chúng tôi ngoài những khuyết điểm về xã hội, chính trị, tinh thần giáo dục đạo lý do hoàn cảnh lịch sử đưa tới chúng tôi thấy thời hiện đại là một thời tươi sáng.
            Văn minh khoa học đã giải phóng con người thoát khỏi vòng lẩn quẩn của những nếp sống thấp kém đưa con người đến đời sống mới phục hưng giá trị cao quý của con người khoa học giúp rất nhiều cho chúng ta về phương tiện tinh thần cũng như vật chất.
            Về vật chất khoa học giúp phương tiện giao thông, máy móc đỡ cho sức người, xe hơi, máy cày, máy nước v.v…
            Về tinh thần nhờ văn minh cơ giới con người có thể gặp nhau dễ dàng trao đổi cảm thông, chúng ta có thể gặp người ở xa muôn ngàn dặm nhờ vô tuyến truyền hình, nghe tiếng nói họ và đi đến quan niệm rộng lớn hơn về con người. Một cuộc xâm lăng, một cuộc xâm chiếm, bạo động muốn chà đạp lên “con người” là cớ liên can đến chúng ta vì con người cùng chung bản tính cùng những niềm vui nỗi buồn đau khổ chua xót như nhau.
            Ta không thể bi quan như một số nhà mô phạm chỉ nhìn vào một số thái độ sống để kết án văn minh cơ giới đã làm hại tinh thần đành rằng ảnh hưởng xấu của nó không phải ít.
            Có người đã nhận định thời đại chúng tôi rằng “có lẽ chúng ta đang trở về với tiền sử”. Nhận xét này có phần nông cạn vì chỉ nhìn bề ngoài. Chẳng hạn có một số người ăn mặc khác thường, theo kiểu tiền sử là giai đoạn sơ khai con người bó buộc phải sống man rợ ăn lông ở lỗ – còn cái bên ngoài tiền sử của một số thanh niên thời đại không có tính cách tiền sử mà đó chỉ là một thái độ biểu lộ trước cuộc đời theo nhận định của họ.
            Trong thời đại tiến bộ này thanh niên chúng tôi muốn ý thức được nhiệm vụ mình muốn biết lợi dụng thời cuộc để cải tiến chính bản thân và cải tiến xã hội. Chúng tôi muốn hòa mình vào giòng biến chuyển để chèo lái con thuyền lịch sử chúng tôi không hề có ý tưởng bạo động, phá phách để rồi không biết về đâu. Vì chính những khuyết điểm đặc biệt của thời đại chứng tỏ rằng chúng tôi đang tiến bước và thanh niên chúng tôi muốn trách nhiệm một phần lớn bước tiến đó. Chúng tôi vẫn luôn nhớ rằng “muốn chỉ huy trước hết phải biết vâng lời”.
            Chúng tôi, thanh niên muốn tỏ cho các bậc cao niên biết là chúng tôi cần thông cảm với các vị để tiến bước, chúng tôi muốn kêu gọi và tin ở kho tàng kinh nghiệm mà vô tình hay hữu ý các bậc đàn anh đã bỏ quên vào quá khứ. Đành rằng hiện tại số người đàn anh nhìn lại chúng tôi rất ít nhưng chúng tôi không vì đó mà quên ơn các vị đó, chúng tôi chỉ xin thêm niềm cảm thông. Thời đại này với chúng tôi là một thời đại may mắn vì đã đem lại cơ hội cho chúng tôi hoạt động, để ra tay lái thuyền của chúng tôi.
            Chúng tôi tin tưởng rằng càng ngày chúng tôi càng được gần gũi cảm thông với các bậc đàn anh hơn, để nguyện vọng chúng tôi được thông đạt.
            Kính thưa các bậc đàn anh, cao niên,
            Chúng tôi họp nhau đây với ý muốn thiết tha là bày tỏ nhận định vị trí mình trước thời đại và nói lên cảm nghĩ thắc mắc lo âu của chúng tôi trên đường cầu hưng dân tộc.
            Chúng tôi thiết tha mong ước một cảm thông đích thực và hoàn toàn. Thông cảm với tâm tưởng chúng tôi, những thanh niên đầy nhiệt tâm thiện chí, khát vọng tự do tư tưởng và phát biểu. Phát biểu để cảm thông và cùng góp phần vào việc xây dựng xứ sở.
            Chúng tôi ước mong những người thừa hành, cán bộ chính trị xã hội được lựa chọn kỹ càng, có như thế chúng tôi thanh niên có ý thức quốc gia mới được đảm bảo và có thể không ngần ngại khi tỏ bày ý kiến mình với hy vọng giúp ích nước nhà một cách tích cực. Chúng tôi tin tưởng rằng càng ngày số cán bộ xã hội càng được huấn luyện đầy đủ đức tài lương tâm để nhân dân nói chung và thanh niên chúng tôi nói riêng được bình an tự do và thanh bình thực sự hơn.
            Chúng tôi ước ao các vị đàn anh, các bậc cao niên hãy tìm cách liên lạc trao đổi với chúng tôi để cùng xây dựng xứ sở. Không nên vô tình để chúng tôi bơ vơ trên đường lịch sử, vì trách nhiệm đó không riêng gì chúng tôi mà chính là ở các vị đàn anh, các bậc cao niên đang để mặc chúng tôi trước thời đại hoặc chỉ tìm để chỉ trích mà không khuyến khích an ủi. Đành rằng thanh niên chúng tôi bồng bột nông nỗi nhưng nhiệt thành và chính các vị đàn anh trách niệm những kết quả của bồng bột nông nỗi chúng tôi, các vị không nên thờ ơ với trách nhiệm đó.
            Thanh niên chúng tôi cần thiết tha mong muốn được nâng đỡ để phát huy sáng kiến có ích cho nước nhà, xin các bậc đàn anh hướng dẫn và chỉ bảo để giúp chúng tôi tiến trên đường ích lợi quốc gia.
            Xin cho chúng tôi tham gia một cách tích cực vào việc nước nhà, đừng để cho chúng tôi thất vọng, nhìn trước ngó sau không thấy các bậc đàn anh âu yếm nâng đỡ cảm thông mà chỉ thấy những người phê bình, chỉ trích.
            Xin các bậc đàn anh hãy dang tay ra chỉ đường về tương lai cho chúng tôi thấy rõ những gì hứa hẹn để kích thích cho bước tiến lên của thanh niên chúng tôi.
            Tiền đồ dân tộc các bậc đàn anh vẫn bảo là trông cậy vào thanh niên nhưng chúng tôi có được phương tiện đầy đủ mới nối tiếp được công trình xây dựng của các bậc tiền bối.
            Nguyện vọng, ý nghĩ chúng tôi những thanh niên thắc mắc âu lo trước thời đại nếu không được thông cảm và giúp đỡ, hướng dẫn thì chúng tôi đành bó tay cho đàn em sắp tới trách móc và buông xuôi chịu tội trước tòa án lịch sử.
            Vì vậy nguyện vọng chúng tôi hôm nay là xin một cảm thông của bậc đàn anh sáng suốt khi chúng tôi ý thức trách nhiệm mình đối với đất nước và thế hệ mai hậu.
            Chúng tôi một lần nữa xin thông cảm và thông đạt.


TOÀN THỂ SINH VIÊN ĐẠI HỌC HÈ 60



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #87 vào: 26/03/2017, 14:55:16 »
NHÂN ĐỌC CUỐN “VIỆT NGỮ CHÁNH TẢ TỰ VỊ” CÓ CẦN THỐNG NHẤT LỐI ĐỌC, LỐI VIẾT TIẾNG VIỆT KHÔNG?

            1.– Năm 1951, ông Lê Ngọc Trụ đã cho xuất bản cuốn Chánh-tả Việt-ngữ,(1) viết về âm thinh Việt Nam, nghiên cứu những tiếng biến thể, và có mục đích căn cứ vào từ nguyên để sửa lại nhiều tiếng đọc sai, và vì đọc sai nên cũng viết sai.
            Chánh-tả Việt-ngữ chỉ là phần “lý thuyết”. Lý thuyết đã vững, Lê quân mới đem “thực hành”, và công trình trong gần mười năm sưu tầm để áp dụng lý thuyết trình bày trong Chánh-tả Việt-ngữ, là cuốn Việt-ngữ chánh-tả tự-vị.(2)
            Việt-ngữ chánh-tả tự-vị chưa phải là một bộ từ vị đầy đủ: ta không thể đòi hỏi ở một người làm trọn vẹn một công việc mà đáng lẽ ra phải cả một tập đoàn phụ trách. Còn nhiều tiếng chưa định chánh tả, tỷ dụ: “sinh xôi”, “một giấc ngủ”, v.v…; tại sao xôi viết có x, và giấc viết có gi?(3)
            Mặc dầu vậy, Việt-ngữ chánh-tả tự-vị cũng là cuốn sách rất có giá trị, mà người Việt Nam nào đã lưu tâm đến tiếng nước mình, tất không thể bỏ qua được.
            Cuốn Việt-ngữ chánh-tả tự-vị sẽ giúp chúng ta, và bắt buộc chúng ta phải tự sửa chữa lấy những sai lầm về phát âm và chánh tả. Đã biết rằng dây (dây buộc) < duy 維, phải viết có d, và giây (giây phút) < thì 時, phải viết có gi, ta không còn quên chánh tả được nữa. Không những thế, ta còn phải phát âm dâygiây khác nhau, cho đúng với chánh tả nữa.
            Việt-ngữ chánh-tả tự-vị còn cho ta thấy tổ tiên ta làm giàu cho ngôn ngữ khéo léo như thế nào. Như cùng một chữ 正, âm Hán Việt là chính, nhưng tùy theo nghĩa mà chuyển sang tiếng Nôm thành: giêng (tháng giêng = chính nguyệt), chiếng (tứ chiếng = tứ chính), hay đứng (đứng đắn = đoan chính). Mượn tiếng nước ngoài mà biến đổi tinh xảo như vậy, ít có dân tộc nào bằng.
            Quyển Việt-ngữ chánh-tả tự-vị phát hành đúng lúc người Việt Nam, dù quê quán ở Bắc hay sinh trưởng ở Nam, đều mong mỏi thống nhất ngôn ngữ. Đã cần thiết lại hợp thời, cuốn từ vị chánh tả của Lê Ngọc Trụ chắc chắn là được đồng bào hoan nghênh.
            Bạn tôi ông Nguyễn Hiến Lê, trong hai số báo Bách Khoa, đã phê bình Việt-ngữ chánh-tả tự-vị thật là đầy đủ,(4) tôi tưởng nói nữa cũng thừa, mà có giới thiệu ông Lê Ngọc Trụ với độc giả Đại-Học, cũng lại là một việc thừa nốt. Tôi chỉ muốn, nhân lúc phát hành cuốn Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, thảo luận vấn đề: Có cần thống nhất lối đọc, lối viết tiếng Việt không?

            2.– Vấn đề này, không phải rằng bây giờ chúng tôi mới đặt ra. Đã có nhiều người nghĩ tới, và Hội nghị thống nhất ngôn ngữ toàn quốc (bộ Quốc gia giáo dục triệu tập tháng 9 năm 1956) cũng đã quan tâm đến.
            Có cần thống nhất lối nói lối viết tiếng Việt không? Có hai chủ trương, hai phái. Phái thì cho là cần, phái lại cho là không cần.
            Tiêu biểu cho phái thứ nhất là tác giả Chánh-tả Việt-ngữViệt-ngữ chánh-tả tự-vị.
            Trong tiếng Việt, không kể mấy giọng địa phương rải rác, so sánh các vùng nói, người ta nghiệm thấy:
            – Giọng Nghệ Tĩnh nói rõ các âm khởi đầu, nhưng không phân biệt giọng hỏi, ngã, hoặc ngã, nặng;
            – Giọng Bắc phát âm rõ ràng hỏi, ngã, và các vận cuối, nhưng thường đọc lẫn các âm khởi đầu như x, s; ch, tr; gi, d, r…;
            – Giọng Nam lầm lẫn gi với d hoặc v, các vận cuối, và cũng không nói phân biệt được hai giọng hỏi, ngã.
            Nhận ra mấy sự lầm lẫn kể trên là đã biết có một giọng nói đúng hơn, giọng nói chánh thức, làm mực thước trong sự nói và viết. Nó sẽ tiêu biểu cho lối chánh tả chánh thức được ghi vào tự điển của viện Hàn Lâm, ai cũng phải tuân theo. (Lê Ngọc Trụ, Chánh-tả Việt-ngữ, sơ bản 1.19)
            Đã nói đến phát âm sai, nói đến một giọng nói chánh thức dùng làm mực thước, thì tất nhiên Lê Ngọc Trụ chủ trương cần phải sửa lại lối nói và lối viết cho đúng với giọng nói chánh thức, tức là chủ trương thống nhất lối nói và viết. Chẳng thế thì sao Lê quân lại tận tụy trong mấy chục năm trời để soạn hai cuốn sách nói trên.
            Nhưng, có người lại chủ trương trái lại: sửa giọng sẽ mất tự nhiên. Như ông Nguyễn Đình Hòa đã viết:

            “Một nhà ngữ học khảo sát Việt ngữ thấy rằng nếu một tiếng có một vần tận cùng bằng một tử âm đó chỉ có thể là một tắc âm /p, t, hay k/ hay một tỵ âm /m, n, hay ng/ thôi.(5) Nếu xét đến sự tương dị giữa tiếng Bắc và tiếng Nam thì có thể nói “người Bắc Việt dùng cả /t/ lẫn /k/, trong khi người Nam Việt chỉ có một tử âm /–k/ thôi (át đọc như ác) chứ không thể nói rằng “tiếng Nam nghèo tử âm cuối” hay người Nam đọc sai –t–c “hay” người Bắc đọc sai tử âm đầu ch–tr.” Ta cần nhấn mạnh một hiện tượng là các thứ tiếng nói đều luôn luôn thay đổi: không phải chỉ âm thanh thay đổi mà cả cú pháp hay văn pháp cũng thay đổi nữa. Ta hãy lấy một thí dụ rõ rệt lúc nước ta mới tiếp xúc với người Thái tây, tiếng Việt có lẽ phân biệt âm /c/ và âm /ç/. Vì thế nên các giáo sĩ Gia-tô đặt ra lối viết tiếng ta bằng mẫu tự La-tinh đã dùng ch để ghi âm /c/ và tr để ghi âm /ç/. (Âm /ç/ khác âm /c/ ở chỗ chóp lưỡi cong về đàng sau.)
            “Đến nay thì tiếng Bắc Việt lại không phân biệt hai âm đó nữa, và những chữ bắt đầu ch hay tr đều đọc như nhau. Học sinh có đọc uốn lưỡi những chữ viết bằng tr là chỉ tại các giáo sư nhất định bắt học trò đọc theo cách viết đó mà thôi. Làm như thế không tự nhiên vì một trò em người Hà Nội chẳng hạn, khi nói chuyện không phân biệt /c o w/ trong k e n/ǝ w/ con trâu và /c ǝ ʍ/ trong /c ǝ ʍ c é w/ châu chấu.”(6) (Đại-Học số 10, tr. 66-67)

            Chúng tôi dẫn lời hai ông Lê Ngọc Trụ và Nguyễn Đình Hòa, và muốn cho được rõ ràng hơn, chúng tôi lấy một tỷ dụ là tiếng dùng để gọi con vật, mà giả thiết rằng tất cả người Bắc phát âm châu, và người Nam phát âm là trâu. Theo chủ trương Lê Ngọc Trụ thì trong hai âm ấy phải có một âm coi là chánh thức. Âm chánh thức là trâu (đọc uốn lưỡi và viết bằng tr), thì người nào đọc và viết châu phải biết mà sửa lại. Trái lại, nếu âm chính thức là châu (đọc không uốn lưỡi và viết bằng ch) thì người nào đọc và viết trâu cũng phải biết mà sửa chữa. Tóm lại, đã là người Việt Nam, thì dù ở Bắc hay Nam, đều phải đọc và viết theo một lối, theo giọng chánh thức: hoặc là trâu thì cùng đọc và viết trâu cả; hoặc là châu thì cũng đọc và viết châu cả; đừng có người thì đọc và viết trâu, mà người thì đọc và viết châu. Cùng phải đọc và viết theo một lối tức là thống nhất lối đọc lối viết.
            Nhưng, âm nào là đúng để coi là chánh thức? Đấy là công việc của nhà ngữ học tìm ra giọng chánh thức.
            Còn theo ông Nguyễn Đình Hòa, người nào phát âm trâu thì cứ nói trâu, mà ai đã phát âm châu thì cứ nói châu, không cần sửa chữa, bắt bẻ. Sửa chữa là “không tự nhiên”. Vậy, theo họ Nguyễn, cùng một tiếng ai phát âm thế nào cũng được, không có giọng gọi là chánh thức. Đã không thừa nhận một giọng chánh thức thì thống nhất lối đọc, và có lẽ cả lối viết, không thành vấn đề. (Chúng tôi nói “có lẽ cả lối viết”, vì không biết ông Nguyễn Đình Hòa có chủ trương rằng viết thế nào cũng được không? Miễn là viết đúng với âm phát ra. Như phát âm là châu, thì cứ viết châu, không cần phải viết trâu.)
            Hai chủ trương trên, theo chủ trương nào là phải?

            3.– Trong bài nhan đề Ngữ học là gì? đăng trên báo Đại-Học số 10 (trên kia, chúng tôi đã trích đoạn cuối), ông Nguyễn Đình Hòa có viết rằng: Ngôn ngữ là “ước hiệu” người cùng một đoàn thể dân tộc dùng để “hợp tác với nhau”: “giúp đỡ nhau trong nhiều công việc và có thể trao đổi với nhau mọi hiểu biết”.
            Đã vậy, mà cùng một tiếng, mỗi người phát âm một khác, thì hợp tác thế nào được với nhau, không những không hợp tác được với nhau, mà còn có thể sinh ra xung đột nhau.
            Nhân nghe đồng bào Nam có người phát âm vay (vay mượn) là giai hay dai, tôi đã tưởng tượng ra một cảnh gia đình, vợ người Nam, chồng người Bắc; chồng hỏi vợ: “Tiền đâu cả rồi?” mà vợ trả lời: “Tiền cho dai cả rồi.” (Chính ra muốn nói “Tiền cho vay cả rồi”). Chồng chưa quen giọng Nam, không biết rằng tiếng vay trong Nam thường phát âm nghe như dai, mà cũng không biết rằng tiếng trai (con trai) trong Nam phát âm đúng là trai chứ không phát âm sai là dai như ngoài Bắc, nên đã hiểu câu vợ trả lời mình là “Tiền cho trai cả rồi”.
            Câu chuyện trên là chúng tôi đặt ra, nhưng dưới đây là việc có thực, một bạn Bắc kể lại cho nghe. Bạn tôi có một ông bác hàn nho, bà bác dâu thì cứ đau hoài; cụ ông quanh năm sắc thuốc cho cụ bà, và cụ có làm một bài thơ tự tình, câu cuối là “Sắc thuốc, tro bay, cũng bạc đầu”. Bạn tôi nghe ông bác ngâm, lúc đầu hiểu là “Sắc thuốc cho bay, cũng bạc đầu”. Vì cụ phát âm sai nên tro đọc là cho. Bạn tôi tưởng “cho bay” nghĩa là cho bà bác dâu, ngờ rằng không phải ý đó, hỏi lại thì mới vỡ ra là “tro bay”. (Người Bắc phát âm do, nhưng viết thì thường viết tro, chứ ít người viết gio, gio < tro. Giá ông cụ không viết ra thì đã nói “Sắc thuốc, do bay…” Nhưng vì viết ra giấy, nên đã viết “tro bay” mà lúc đọc, lại đọc “cho bay”.)

            4.– Ông Nguyễn Đình Hòa là nhà ngữ học thuộc phái “miêu tả”, chủ trương “khảo sát ngôn ngữ theo khoa học”; và ngữ học miêu tả cùng phương pháp khoa học, ông hiểu như sau:

            Đã là một nhà khoa học xã hội thì nhà Ngữ học không được đặt ra những phép tắc quy định rằng người ta phải nói cách nầy, phải dùng cách đặt câu kia, hay là phải đọc chữ nầy cách nọ mới đúng. Nhà ngữ học chỉ quan sát xem người ta nói thế nào, dùng cách đặt câu nào, và đọc cách nào, rồi thì mô tả đúng những điều mình quan sát thôi. (Đại-Học số 10, tr. 66)

            Như vậy, ông Nguyễn Đình Hòa gọi là “mô tả (…) một cách khoa học (nghĩa là khách quan, chứ không phải chủ quan hay thiên vị)”.
            Chúng tôi không đồng ý với ông Nguyễn, nhất là ở hiện trạng nền học thuật và hoàn cảnh chính trị nước nhà.
            Một nhà ngữ học người ngoại quốc (người Mỹ, người Pháp, người Ét-ki-mô, v.v…) nghiên cứu Việt ngữ, có thể tự cho là thỏa mãn, tự cho là đã sành sõi lắm, khi ông ta ghi trong những điều quan sát rằng: “Cùng một con vật, người Việt Nam ở Bắc gọi là châu, người ở Nam gọi là trâu”. (Đấy là ông ta căn cứ vào âm phát ra chứ không căn cứ vào chữ viết.) Hay là nếu ông ta đã có một trình độ hiểu Việt ngữ khá cao, ông ta có thể ghi rằng “Cùng một tiếng mà người Bắc Việt phát âm châu, người Nam Việt phát âm trâu”.
            Chúng ta không cần đòi hỏi hơn nữa ở một người ngoại quốc, nhưng đối với một nhà ngữ học Việt Nam nghiên cứu tiếng Việt Nam, giữ một thái độ “khách quan” như vậy, có được không?
            Nhất định là không! Một nhà ngữ học Việt Nam nghiên cứu quốc ngữ mà có thái độ “khách quan” như trên, e rằng quá thờ ơ với ngôn ngữ của mình, hay là không chịu dùng hết phương pháp khoa học – khoa học theo chúng tôi quan niệm – để nghiên cứu quốc ngữ.
            Muốn xứng đáng là nhà ngữ học Việt Nam, thì đứng trước “hiện tượng ngôn ngữ” nói trên, nhà ngữ học của ta còn phải truy nguyên, tìm xem nói châu đúng, hay nói trâu mới đúng. Đấy là công việc ông Lê Ngọc Trụ đã làm và còn đang tiếp tục, và ông mới chỉ làm trong giới hạn những tiếng gốc chữ Hán.

            5.– Trâu (hay châu) không phải là tiếng gốc ở chữ Hán, vậy ta không thể dùng phương pháp Lê Ngọc Trụ mà định đoạt được phải phát âm tr hay ch. Nhưng ta có thể căn cứ vào chữ Nôm mà tìm nguyên lai được, để định rằng trâu mới là âm đúng.
            Hiện giờ người Nam nói trâu, người Bắc nói châu, thì tổ tiên ta viết 𤛠 ngưu bên chữ lâu, chữ 牛 ngưu cho nghĩa mà chữ 婁 lâu cho âm. Vậy thì chắc chắn rằng cho đến đời Trần (khi bắt đầu dùng chữ Nôm), trâu hay châu phát âm là lâu. Nhưng tại sao lâu phải biến ra trâu chứ không biến ra châu được, chúng tôi xin mượn lời nhà văn quá cố Phan Khôi:

            “Trong chữ Nôm có chữ 𡗶 là một chữ đặc biệt, hội ý chứ không hài thanh như rất nhiều chữ khác. Cái chữ ấy ngày nay ở Trung, Nam đọc là trời mà ở Bắc có đọc là giời, nhưng quyết hẳn ngày xưa không đọc như thế đâu, mà đọc là lời. Cái chứng chắc chắn là: các sách bên đạo từ xưa truyền lại, đều chép là “Đức Chúa Lời” cả, mà Đức Chúa Lời ấy tức là Đức Chúa Trời hay Giời ngày nay. (Theo sách bên đạo rất xưa, chữ lời ấy còn viết blời nữa, nhưng đây chưa nói đến.)
            “Một cái chứng chắc chắn nữa là: chữ lời, lời nói chữ Nôm viết là 𠳒. Tại sao viết như vậy? Ta có thể đoán rằng vì lời đối với đấtlời là lời nói, hai chữ cùng một âm, cho nên chỉ dùng khẩu bàng làm dấu cho chữ lời thứ hai là đủ. Có người bảo rằng không hẳn như thế, vì chữ lời là lời nói ấy người Bắc vẫn nói là nhời. Nhưng đó không phải là cái lý cứng đủ viện lấy, nó có thể do âm lời biến chuyển ra, cho nên trong chữ Nôm chỉ có lời (𠳒) mà không có chữ nhời, cũng như âm nhớn do âm lớn biến chuyển, âm nhạt do âm lạt biến chuyển, cho nên trong chữ Nôm chỉ có chữ 𡘯 hài thanh với lận (吝), chữ 辣 mượn chính chữ lạt, không có chữ nhớn, chữ nhạt.
            “Đưa ra chỉ một chữ trời, nói đời xưa đọc là lời, dù chứng cứ dồi dào đến đâu cũng còn e là mồ côi không đủ tin. Tôi phải đưa ra thêm nhiều chữ khác nữa.
            “Giống như viết trờilời, trong sách đạo xưa còn viết trả nợ là lả nợ, con trai là con lai, mặt trăng là mặt lăng, trái đất là lái đất, tro bụi là lo bụi, trở lại đạo là lở lại đạo, lời trối của kẻ chết là lời lối của kẻ chết. Bảy chữ ấy miền Bắc có chuyển sang gi hết sáu chữ: giả nợ, con giai, mặt giăng, gio bụi, giở lại, lời giối, cũng như lời chuyển sang giời; chỉ có chữ lái miền Bắc không dùng thì không có chuyển. Bây giờ xét đến chữ Nôm viết bảy chữ ấy thế nào: trả viết 呂 mượn chữ , trai viết 𤳆 hài thanh bằng lai; trăng viết 𦝄 hài thanh bằng lăng; trái viết 𣛤 hài thanh bằng lai; tro viết 炉 mượn chữ ; trở viết 呂 vẫn mượn chữ ; trối viết 𡂳 hài thanh bằng lỗi. Có thể hài thanh bằng cách khác mà không dùng, có thể mượn ba chữ Hán sẵn trai, trái, trở (斎, 債, 阻) mà không mượn, cố viết cách nào cho tỏ ra được là phụ âm l mới nghe, thế còn gì nữa mà chẳng tin chữ Nôm là viết đúng tiếng nói của người Việt Nam thời cổ.” (Việt-ngữ Nghiên-cứu, tr. 34-35)

            Đoạn văn trên đủ cho ta tin rằng lâu 𤛠 đã biến thành trâu chứ không biến ra châu. Chứng cứ nữa là tại Quảng Bình, Quảng Trị, có nơi phát âm ra tru, và có nơi phát âm ra tlu;(7) miền biển ngoài Bắc có nơi phát âm tâu. Ở đây, tr đều phát âm như t, trái lại, ch không phát âm trại ra t.(8)
            Lâu biến ra trâu vào thời nào thì chưa thể biết được, nhưng có điều chắc chắn là biến trước ngày Nguyễn Hoàng đem quân vào đóng Thuận Hóa.
            Căn cứ vào lịch sử, ta có thể nói rằng về đời Nguyễn Hoàng, trừ mấy giọng địa phương rải rác, phạm vi không đáng kể, còn thì người Việt Nam nói cùng theo một giọng. Sau này, tiếng nói có biến trại, người Đàng Trong phát sai một số âm, người Đàng Ngoài cũng phát sai một số âm khác, nguyên do chánh là điều kiện phong thổ, sinh lý và cả tâm lý nữa.(9) Người Bắc mà đọc trâu trại ra châu, là vì cái “tật” mà Phan Văn Hùm gọi là lười tự nhiên, làm cho ta đổi vần “khó” ra vần “dễ”, lâu đời thành quen, không sửa chữa nữa, rồi thì không biết sai mà sửa chữa.(9)
            Vậy, ta có thể kết luận: giọng chánh thức là trâu, tức là nói trâu đúng hơn là châu. Người Bắc tuy nói châu, nhưng khi viết thì người hơi có học một chút đều viết trâu, cũng như nói: dời, dăng, dai, dả, do, dở, nhời, nhớn, v.v… mà viết: trời, trăng, trai, trả, tro, trở, lời, lớn, chứ ít khi viết: giời, giăng, giai, giả, gio, giở, nhời, nhớn, và không viết: dời, dăng, giai, dả, do, dở. Như thế thì họ cũng nhận rằng có một lối viết chánh thức, có chánh tả; mà đã nhận chánh tả thì tất nhiên có giọng nói chánh thức. Nhận có giọng nói chánh thức, mà vẫn phát âm trại, chỉ là tại thói “lười tự nhiên”, và có lẽ cũng vì chưa quan niệm thấy cái lợi thực tế phải nói theo giọng chánh thức.

            6.– Đã nhận có một giọng nói chánh thức, đã tìm ra giọng nói chánh thức ấy, ta có cần thống nhất lối nói lối viết theo giọng nói chánh thức không? Muốn cho ngôn ngữ đạt được mục đích của nó, là công cụ để người cùng giống hiểu nhau và hợp tác với nhau (có hiểu nhau mới hợp tác được), thì việc đó là điều cần thiết, mà đã nói thống nhất lối nói thì ai nói sai phải sửa lại cho đúng.
            Giá sống dưới thời ngoại bang đô hộ, Nam Bắc gần như đoạn tuyệt liên lạc; đi học, đi thi, làm việc công, nhất nhất đều dùng ngoại ngữ; nói thạo ngoại ngữ là biểu hiệu của “trí thức”, thì có thể có nhiều người cho công việc như công việc của Lê Ngọc Trụ làm là điều vô ích. Song, ngày nay, tình trạng cũ không còn nữa, tiếng Việt đã thay thế ngoại ngữ ở mọi ngành sinh hoạt của dân tộc, thì công lao của Lê quân đối với quốc ngữ phải đặt vào hàng đầu.
            Vả lại, định một giọng chánh thức và thống nhất lối đọc lối viết là việc cần phải làm, thì việc ấy lại càng cần hơn nữa trong giai đoạn lịch sử hiện tại và về tương lai.
            Hiện giờ, một triệu người Bắc sống chung với đồng bào Nam. Một mai thống nhất lãnh thổ, liên lạc Nam Bắc còn mật thiết hơn nữa: 20 triệu người Việt sẽ hàng ngày tiếp xúc với nhau. Muốn cho họ hiểu nhau để thương yêu nhau, hợp tác với nhau, xiết chặt thành một khối duy nhất, trước hết phải thống nhất ngôn ngữ, mà việc đầu tiên là thống nhất lối phát âm. Thống nhất lối phát âm, chẳng phải là người Nam bắt người Bắc, hay người Bắc bắt người Nam theo giọng nói riêng của một miền, mà chỉ là cùng phải phát âm theo một giọng chánh thức, chung cho cả giống nòi mà thôi.
            Thống nhất lối phát âm, đó là công việc của nhà ngữ học và nhà giáo dục: nhà ngữ học tìm ra giọng nói chánh thức, và các vị giáo sư cấp tiểu học trở lên bắt trẻ em phát âm cho đúng.(10)
            Bảo rằng phân biệt cách nói đúng với cách nói sai, và sửa chữa cách nói sai, là không khoa học, chúng tôi e rằng người ta đã hiểu lầm thế nào là khoa học. Nhà khoa học, và nhất là nhà khoa học Việt Nam, có thể có thái độ “thuần khoa học” (la science pour la science) không?(11) hay là phải đem khoa học mà phụng sự nhân quần xã hội? Nước Việt Nam cần có một nền thống nhất thực sự, thống nhất toàn diện, thì nhà ngữ học (“nhà khoa học xã hội”) phải đem tài năng của mình góp công vào nền thống nhất ấy, không thể lấy danh nghĩa khoa học làm cản trở công cuộc thống nhất mà cả hai mươi triệu dân Việt đang thiết tha mong đợi.

            7.– Hai ông Lê Ngọc Trụ và Nguyễn Đình Hòa có chủ trương trái ngược nhau, có phải là vì chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa khác nhau không?
            Chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, nên ông Lê ngọc Trụ chú trọng đến phát âm, và nhận ra cách phát âm đúng và cách phát âm sai, rồi chủ trương phát âm sai thì phải sửa lại:
            (…) Trước nhất, phải học phát âm cho đúng. (Chánh-tả Việt-ngữ, tái bản, tr. 13)(12)
            (…) Vậy điều kiện tất yếu là phải nói cho đúng giọng, rán nói cho đúng giọng, nơi trường, trong gia đình, ngoài đời, luôn luôn thực hành, nói quen, nghe quen: nói đúng thì viết đúng. (Chánh-tả Việt-ngữ, tái bản, tr. 23)
            Chịu ảnh hưởng văn hóa “ăng-lô xắc-xông”, nên ông Nguyễn Đình Hòa cho rằng sự phân biệt cách nói đúng với cách nói sai “không phải là một vấn đề căn bản”.(13)
            Sở dĩ chúng tôi ngờ rằng hai chủ trương khác nhau là do ảnh hưởng của hai nền văn hóa khác nhau, là căn cứ vào điều nhận xét của một học giả Pháp, ông Albert Dauzat: Trái với tiếng Anh, tiếng Pháp phát âm thật rành rẽ. Ấy là vì bản tính người Pháp muốn cho người đối thoại hiểu mình, cho người ta khỏi mất công vô ích để chú ý vào lời mình nói. Muốn vậy, phải tự mình chịu khó nói cho rõ ràng.
            La netteté de l’articulation français s’oppose au relâchement de l’articulation en anglais. Le Français dont la sociabilité est proverbiale dans le monde, veut être compris: pour être compris, et aussi pour éviter la fatgue inutile à l’interlocuteur, il faut se donner la peine de parler distinctement.(14)
            Điều nhà học giả Pháp nhận xét có được khách quan không? Ai đã học qua cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh, đều rõ. Chúng tôi không nói mà cũng không nghe hiểu tiếng Anh, nhưng nhiều bạn học Anh ngữ cho hay rằng người nói tiếng Anh thường “nuốt” âm (syllabe).
            Dù người Anh có phát âm không được rành mạch như người Pháp, họ lại rất lo lắng về thống nhất cách đọc và cũng muốn có một giọng chánh thức cho tiếng của họ. (Không biết tại Mỹ quốc có nghĩ đến thống nhất cách đọc không?) Giọng chánh thức ấy là giọng nói ở đài bá-âm B.B.C. ở Luân Đôn. Một bạn cho tôi biết điều này, còn thêm rằng tất cả các đài bá-âm của các nước trong Liên Hiệp Anh đều ký hiệp đồng với đài B.B.C. Luân Đôn để cùng theo một giọng, nên những nhân viên truyền âm đều qua một thời kỳ tập sự ở đài Luân Đôn. Không những thế, chính phủ Anh muốn thực hiện thống nhất cách đọc ngay từ các lớp đồng ấu, nên giáo viên Anh tốt nghiệp rồi, còn phải theo học một năm về môn phát âm đã, rồi mới đi nhận chức.

            8.– Không riêng gì người Anh lo lắng thống nhất ngôn ngữ (và chúng ta cũng nghĩ đến vấn đề ấy), chúng tôi dám chắc hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chủ trương như vậy. Dân tộc Pháp đã thành tựu được thống nhất cách nói: giọng chánh thức của họ là giọng nói ở khu gọi là Ile-de-France. Người Trung Hoa cũng lấy giọng Bắc Kinh làm giọng chánh thức cho dạy ở các trường học.
            Nhưng, dù chưa thống nhất được lối đọc, thì người Trung Hoa và người Anh cũng đã thống nhất được lối viết, họ đã điển chế được chánh tả. Cùng một tiếng, mỗi miền có đọc khác nhau, nhưng phải viết cùng một lối. Cho nên, dù nói mà không hiểu nhau, thì viết ra còn có thể hiểu được nhau.
            Chúng ta đã chưa điển chế được lối đọc, lại cũng chưa điển chế được cả lối viết. Ví thử muốn dùng phương pháp gọi là khoa học cho đến triệt để, mà đọc sao viết vậy: đọc châu thì viết châu không cần phải viết trâu; đọc dai thì viết dai không cần phải viết vay (Nam) hay giai, trai (Bắc), thì khi nói chúng ta đã không hiểu nhau, rồi ra viết cũng không hiểu nhau nốt.
            Nhưng, nói giọng chánh thức, nói thống nhất lối đọc lối viết, ta phải hiểu là giọng chánh thức của MỘT ngôn ngữ, thống nhất lối đọc lối viết của MỘT ngôn ngữ. Cho nên chủ trương của hai ông Lê Ngọc Trụ và Nguyễn Đình Hòa còn khác nhau ở điểm này nữa:
            Ông Lê Ngọc Trụ viết rằng:
            “Bị điều kiện địa dư và khí hậu, tiếng Việt ngày nay có nhiều giọng: giọng Bắc, giọng Trung, giọng Nam… mà chúng ta ai cũng biết, chớ tiếng Việt chỉ có một mà thôi”. (Chánh-tả Việt-ngữ, tái bản, tr. 19)
            Trái lại, ông Nguyễn Đình Hòa nói “tiếng Bắc Việt” và “tiếng Nam”. Nếu hiểu tiếngngôn ngữ, thì có hai ngôn ngữ. Đã có hai ngôn ngữ, thì nói làm gì đến thống nhất, vì thống nhất thế nào được. Có ai lại nghĩ thống nhất Anh ngữ với Pháp ngữ bao giờ? Có người Anh, người Pháp nào chủ trương thống nhất hai ngôn ngữ là hai tộc ngữ của họ, càng không có người Anh, người Pháp nào nghĩ đến thống nhất hai lãnh thổ Anh và Pháp làm một!

            9.– Dù có ai chê chúng tôi là “giữ vững cái óc thủ cựu”, chúng tôi xin cam chịu. Chúng tôi xin nhất định theo chủ trương cần phải điển chế lối đọc lối viết tiếng Việt, điển chế giọng nói chánh thức và chánh tả Việt Nam. Như vậy, không những chúng ta phụng sự ngôn ngữ mà thôi, chúng ta còn phụng sự tương lai của dân tộc.
            Thật tiếc rằng Hội nghị thống nhất ngôn ngữ toàn quốc do bộ Quốc gia giáo dục triệu tập năm 1956, từ ngày bế mạc (2-10), không còn hoạt động gì nữa. Công việc thống nhất lối đọc lối viết, bắt đầu, rồi bỏ dở.
            Viện Đại học Huế, từ mấy năm nay, đã có công rất nhiều với quốc ngữ, vậy chúng tôi mong rằng Viện gánh vác lấy công việc này. Viện có thể lập ra một Ban ngôn ngữ mà công việc đầu tiên là điển chế lối đọc lối viết. Công việc làm xong, sẽ đệ lên chính quyền duyệt y để thông dụng trong toàn quốc. Biết đâu rằng Ban ngôn ngữ của Viện Đại học Huế, chẳng là Viện ngữ học tương lai của Việt Nam.
            Môn ngữ học của ta còn mới mẻ. Chuyên về ngữ âm, trong số người mình, chúng tôi mới thấy có các ông Đào Trọng Đủ, Lê Văn Lý, Nguyễn Bạt Tụy và Lê Ngọc Trụ. Nay ông Lê Ngọc Trụ lại để tâm nghiên cứu về từ nguyên, thì thật là công của ông đối với khoa học ngôn ngữ của ta chẳng phải là nhỏ. Chúng tôi mong rằng ông sẽ mở đường cho nhiều người khác noi theo mà khai phá thêm cho mỗi ngày một rộng.(15)
            Tuy ông Lê Ngọc Trụ dùng danh từ chánh tả đặt tên hai cuốn sách của ông, nhưng một nhà ngữ học như ông không lạ gì rằng chữ viết là phụ, tiếng nói là chính. Vậy qua chánh tả, ông nghĩ đến ngôn ngữ.(16) Sửa chánh tả, là ông bảo vệ ngôn ngữ. Cứ xem công phu Lê quân tận tụy trong mấy chục năm để soạn hai cuốn chánh tả, đủ thấy ông yêu quốc ngữ đến mực nào. Mà ngôn ngữ là gì? Đã có người viết rằng không có gì tượng trưng cho một dân tộc, không có gì bảo vệ cho một dân tộc bằng ngôn ngữ. Tập hợp với nhau là nhờ ở ngôn ngữ, mà nhận ra nhau là người cùng giống cùng nòi, cũng là vì ngôn ngữ. Vậy thì ngôn ngữ là dây mạnh nhất, liên lạc người cùng một đoàn thể. Bản năng duy trì ngôn ngữ, chính là bản năng sinh tồn của một dân tộc.
            Vậy thì Lê quân không phải chỉ vì yêu tiếng Việt mà nghiên cứu tiếng Việt, chính vì ông yêu tổ quốc Việt mà ông tận tụy với tiếng Việt. Đo được mực ông yêu tiếng Việt thì ta lường biết được ông yêu tổ quốc Việt đến chừng nào.
            Và phải có lòng yêu nước như ông, mới có gan cặm cụi mà soạn bộ Việt-ngữ chánh-tả tự-vị.


Vũng Tàu, 6-1960
TRƯƠNG VĂN CHÌNH
_____________________________________________________
(1) Nam Việt, Sài Gòn. Sách chia hai tập, vừa tái bản gồm cả thành một, Trường Thi, Sài Gòn, 1960.
(2) Thanh Tân, Sài Gòn, 1959-1960.
(3) Có phải: xôi < tư 孳, và giấc < giác 覺 ? Hán ngữ có tư sinh = nảy nở rất nhiều, và có lẽ tư sinh > sinh xôi. – Giác tuy rằng có nghĩa là tỉnh, ngủ dậy, và thụy giác chính ra nghĩa là ngủ tỉnh dậy, nhưng Hán ngữ thường dùng thụy-giác theo nghĩa là ngủ.
(4) Bách Khoa, Sài Gòn, số 79 và 80, 1960. – Tôi muốn đề nghị cùng tác giả, khi nào tái bản Việt-ngữ chánh-tả tự-vị nên thêm một bảng mục lục những tiếng có ghi trong từ vị, xếp theo vần a b c…, và biên trang tương đương.
      Tôi cũng muốn “chất vấn” Lê quân về hai điểm (không quan trọng và không liên quan gì đến nội dung Việt-ngữ chánh-tả tự-vị):
      a) Đã định nghĩa: “Nguyên âm, phụ âm kết hợp với nhau, hiệp với thinh thành một tiếng có nghĩa, gọi là từ” (tr. 1), thì sao không nói “từ nguyên”, “từ vị” (từ, dấu huyền), mà còn nói “tự nguyên”, “tự vị” (tự, dấu nặng)?
      b) Đã định nghĩa: “Tiếng Hán Việt là chữ Hán đọc theo giọng Việt” (tr. xi), sao còn nói đến “những tiếng Hán Việt đã Việt hóa”? (tr. iv) Có lẽ Lê Ngọc Trụ muốn phân biệt tiếng Hán Việt ghép với tiếng Hán Việt khác thành từ ngữ hoàn toàn Hán Việt, và tiếng Hán Việt ghép với tiếng Nôm thành từ ngữ nửa Nôm nửa Hán Việt. Cho nên, như tiếng thất 七 mà nói “ông cụ thất” hay “cúng thất” thì Lê quân coi thất là tiếng Hán Việt đã Việt hóa, và xếp là tiếng Nôm; còn nói “thất bảo”, “thất tình”, thì thất xếp là tiếng Hán Việt (xem Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, tr. 478). Phân biệt như vậy, e rằng không hợp lý. Cùng một tiếng thất, sao lại coi vừa là tiếng Hán Việt, vừa là tiếng Nôm?
      Chúng tôi tưởng rằng cứ chữ Hán mà đọc ra âm Việt, thì chữ ấy đã Việt hóa, đã thành tiếng Hán Việt. Vì thế mà những tiếng gốc ở chữ Hán, ta có thể viết ra Hán tự được, thì chúng tôi coi là Hán Việt, còn tiếng nào không viết ra Hán tự được thì là tiếng Nôm. Tỷ dụ: duy, thì, thất có thể viết ra 維 時 七 là Hán Việt, mà dây (< duy), giây (< thì) tuy rằng gốc ở chữ Hán, nhưng không viết ra Hán tự được, là Nôm.
(5) Còn tắc âm ch và trị âm nh nữa. (Trương Văn Chình)
(6) Có lẽ thợ in xếp lầm và xếp thiếu những dấu ghi âm quốc tế trong đoạn văn trên. (Trương Văn Chình)
(7) H. Maspéro, Etudes sur la phonétique historique de la langue annamite. – Les initiales. BEFEO 1912, tr. 2.
(8) Như “con trâu trắng ngoài bụi tre”, họ phát âm, nghe ra “con tâu tắng ngoài bụi te”.
(9) Chánh-tả Việt-ngữ, tái bản, tr. 22-23. – Lê Ngọc Trụ nhận xét về “giọng Nam trại xa giọng Bắc”. Chúng tôi tưởng phải nói “giọng Nam trại xa giọng chính thức”. Những điều Lê quân nhận xét cũng đúng cho giọng Bắc trại xa giọng chánh thức.
(10) Trong cuốn Học tiếng Nam (Imprimerie du Mirador, Huế, 1938), ông Trần Cảnh Hào, nguyên kiểm thảo trường Quy Nhơn, đã ngõ ý mong rằng “trong mỗi hạt, từ trường thành thị đến trường thôn quê, các thầy giáo với các học trò gắng biết các lỗi trong hạt của mình và gắng sửa kỹ càng các lỗi đó”. Và ông kết luận: “Làm như vậy, chắc một ngày kia, quốc âm ta sẽ có thể thống nhất, và quốc dân ta viết quốc văn sẽ cũng ít sai”.
(11) Chúng tôi nhận thấy người Âu (Anh, Pháp…) dù có thái độ “thuần khoa học” khi họ nghiên cứu một ngoại ngữ, nhưng nghiên cứu chính tiếng của họ, thì họ cũng luôn luôn tìm cách điển chế ngôn ngữ, từ cách viết đến cách phát âm.
(12) Đọc câu trên, chúng tôi nhớ tới câu “Bien parler, c’est d’abord bien prononcer”. (Muốn nói đúng thì trước hết phải phát âm đúng) của A. Dauzat, Le génie de la langue française, tr. 12.
(13) Đại-Học số 10, tr. 57.
(14) Le génie de la langue française, tr. 12, Payot, Paris, 1954.
      Trong một cuốn sách khác, A. Dauzat cũng viết: “(…) les Anglo-Américains, si médiocres phonéticiens (…)” (La philosophie du langage, tr. 178. Flammarion, Paris, 1932).
(15) Đại đa số tiếng ta gốc ở Hán ngữ, song cũng còn có nhiều tiếng mượn của ngôn ngữ Thái, Miên, Chàm. Ta cũng đừng quên tiếng Mường, có lẽ là tiếng gốc của ta. (Theo H. Maspero thì tiếng Mường và tiếng Việt thuộc cùng một ngữ tộc.) Về điểm này, ông Bửu Cầm trong bài Nguồn gốc chữ Nôm (Văn hóa nguyệt san, Sài Gòn, số 50, 1960), có viết:
      “Có người cho rằng, về thời đại thượng cổ, dân tộc Việt Nam đã có một thứ văn tự riêng mà người Mường ở Thanh Hóa hiện nay còn dùng. (…) Người Việt Nam và người Mường nguyên là một chủng tộc, nhưng sau khi có cuộc tiếp xúc với người phương Bắc, những người Việt ở đồng bằng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, còn những người Việt bất hợp tác với dị tộc, rút vào rừng núi, tức là người Mường bây giờ, thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và giữ được phong tục, ngôn ngữ, văn tự cũ.”
(16) Lê Ngọc Trụ đã viết: “(…) Vấn đề chánh tả là vấn đề tự-nguyên-học”. (Chánh-tả Việt-ngữ, tái bản, tr. 23)



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #88 vào: 02/04/2017, 10:43:46 »
Đại học | Số 18 [tháng 11/1960 |  trang]
                                              TRÀO LƯU HIỆN SINH

MỤC LỤC
[đang sưu tầm]

______________________________________________________________________________

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #89 vào: 02/04/2017, 10:44:34 »
[chờ bổ sung]