Tác giả Chủ đề: Tạp chí Đại Học  (Đã xem 16612 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #165 vào: 17/12/2017, 18:40:26 »
ĐẠI-HỌC
NĂM THỨ BẢY |  VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ

Số 37 tháng 2 năm 1964 |   [NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG]
Số 38 tháng 4 năm 1964 |   VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG
Số 39 tháng 6 năm 1964 |   CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VĂN HÓA
Số 40 tháng 8 năm 1964 |   [THẤT THỦ KINH ĐÔ TÂN TRUYỆN]



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #166 vào: 17/12/2017, 19:04:27 »
ĐẠI-HỌC
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ
______________________________________________________

MẤY NHẬN XÉT VỀ SỰ PHỦ NHẬN THA NHÂN

            Ta với tha nhân có cái duyên lạ. Một đàng tha nhân giúp cho ta thành người và thiếu tha nhân ta cũng thấy thân mình bị thiếu cái gì (Đại-Học số 29, tr. 702-717). Đàng khác tha nhân có thể nhào nặn bản thân ta, làm cho ta không còn làm chủ ta nữa (Đại-Học số 35-36, tr 573-595). Do đó, phải chăng ta cần phải phủ nhận tha nhân mới thu hồi bản thân? Sự khiếm diện của tha nhân có ý nghĩa gì đối với ta không?

* * *

            Người ta không thể sống trong một thế giới xa lạ. Nhân giới cũng như vật giới cần phải thành chỗ quen thuộc, nơi người ta thấy có an ninh thấy đời mình được bảo đảm. Liên lạc đem lại nhiều bảo đảm và ấm cúng nhất trong nhân giới là liên lạc thân tình, vì nó căn cứ vào sự nhìn nhận nhau và tín cẩn nhau trong tình thân đồng đẳng. Có liên lạc khác không xây dựng trong tinh thần đồng đằng, cũng không căn cứ vào lòng tín cẩn, vào sự nhìn nhận nhau, nhưng vào tỷ lệ vũ lực. Đó là liên lạc thống trị. Liên lạc này tuy là bất bình đẳng, nhưng cũng làm cho người ta đối với nhau không còn phải xa lạ nữa. Kẻ thống trị tuy không thân tình với người bị trị, nhưng có quyền kiểm soát được người bị trị vì thế người này không phải là xa lạ nữa. Ngược lại, người bị trị nhận mệnh lệnh của kẻ thống trị nên cũng không coi kẻ thống trị như người xa lạ. Ông chủ và nô lệ cũng như người trên và kẻ dưới, không xa lạ gì đối với nhau.
            Trong trường hợp trên đây, sự khiếm diện – kể cả cái chết – của tha nhân làm cho đời người như bị cắt cụt. Mất người thân tình cũng là mất người tri kỷ và đồng thời phải xóa bỏ cái dự định của mình với người ấy và về người ấy. Những kẻ sống sót bao giờ cũng bị bơ vơ và phải tổ chức lại đời sống. Ông chủ mất nô lệ, người trên mất kẻ dưới, thì cũng như mất “chân tay”: không thể thực hiện được những dự định mà mình quen nhờ người khác làm thay. Ngược lại, những ai chỉ biết có tuân lệnh người chủ, thì khi mất chủ cũng chưa biết phải tự lập như thế nào.
            Nếu sự hiện hữu của tha nhân đem lại cho ta an ninh và bảo đảm, thì sự khiếm diện của tha nhân đối với ta là một sự mất mát, một sự thiệt thòi.


* * *

            Nhưng trong trường hợp tha nhân không phải là thân tình, cũng không ở dưới quyền của ta lúc đó sự hiện diện của tha nhân là một yếu tố xa lạ, một tình trạng bất ổn, và hình như không có một giá trị tích cực nào cả, và chỉ có sự khiếm diện của tha nhân hay sự phủ nhận tha nhân mới có ý nghĩa. Chúng tôi không muốn nói đến sự người ta tìm cách tiêu diệt tính cách xa lạ của tha nhân, hoặc để đi tới thân tình (ví dụ: người thanh niên thử gọi người thiếu nữ không quen biết bằng “em” để thanh toán sự xa lạ), hoặc để tới tương quan thống trị (thử sức để xem ai làm chủ ai). Nhưng có ý nói đến trường hợp những hành động trên đây không thành công, và tha nhân vẫn là cái chướng ngại vật xa lạ. Machiavelli viết: “Người ta làm hại nhau, hoặc là vì sợ hoặc là vì ghét” (Le prince, VII). Vì sợ, vì ghét nên phải phủ nhận tha nhân: tha nhân cần phải khuất mặt đi, hoặc khuất mặt tại một địa điểm, hoặc khuất mặt ở cõi đời. Có thể người ta mới sống trong một thế giới quen thuộc được.
            Nếu tha nhân chướng mắt, người ta phủ nhận đi. Nhưng tha nhân chướng mắt như thế nào?
            Trường hợp thứ nhất: nếu tha nhân làm chủ những tài nguyên người ta muốn chiếm, nếu tha nhân có thể tranh dành những cái mà người ta muốn hưởng, thì lúc đó tha nhân là chướng mắt. Không cần phải nói đây là thái độ vô nhân đạo: phủ nhận tha nhân để chiếm đoạt của cải. Các dân tộc gặp nhau cũng hay đi vào thái độ đó: trong thời đại dã man, người ta giết hết dân bại trận để chiếm đoạt gia súc và tài sản. Văn minh hơn một chút thì người ta đuổi kẻ yếu thế đi cho khuất mặt: thực dân đuổi dân bản xứ để chiếm đất đai phì nhiêu, thực dân mạnh lại đuổi thực dân yếu để chiếm đoạt lại thuộc địa. Sau thế chiến II người Nga và Ba Lan cũng trục xuất độ mười triệu người Đức ở Đông Phổ, Pomerania, Silesia v.v… Trong đời sống cá nhân cũng thế: có những tên cướp đánh chết người để giật vài trăm bạc, có những người giết cha mẹ, giết anh giết em để độc chiếm gia tài. Có người thanh toán cộng sự để độc chiếm tiền bạc hay là danh dự…
            Với thái độ phủ nhận tha nhân, hình như tất cả các thứ bạo động các thứ dối trá vu khống, đều mặc một giá trị tích cực. Thiên hạ có thể lấy làm hãnh diện, coi đó là khôn.
            Tha nhân còn chướng mắt ở một trường hợp khác: khi tha nhân là chứng nhân đã thấy người ta không “quân tử”. Ai cũng muốn có một bộ mặt quân tử để lấy tiếng với đời, vì thế ai cũng muốn che đậy cái bộ mặt không quân tử của mình. Người chứng nhân trên đây chướng mắt là vì sự hiện diện người đó là bằng chứng rằng người ta không quân tử. Muốn giữ được bộ mặt quân tử, cần phải phủ nhận chứng nhân. Kẻ làm điều tội ác thường cũng muốn thanh toán những ai đã chứng kiến hay đoán ra tội ác của mình. Vẫn biết người ta cần người tri kỷ để nhìn nhận giá trị của mình để nâng đỡ khuyến khích mình. Nhưng khi người “tri kỷ” lại không phải là thân tình, cũng không ở trong quyền kiểm soát của mình, khi người ấy hiểu biết những tính xấu, những mưu mô không lương thiện, những hành động đáng khiển trách của mình, thì thật là người ấy chướng mắt. Chướng mắt nhất là khi người “tri kỷ” ấy nói lên cái xấu, hay tố giác cái xấu của mình. Có thanh toán, có cách xa, thì mình mới giữ được bộ mặt vô tội. Trong trường hợp này có phủ nhận tha nhân cũng đi đôi với thái độ không thành thực với chính mình. Nhưng người đi theo lối đó có cần chi đạo đức, họ chỉ cần cái bộ mặt vô tội, quân tử, anh hùng với đời thôi.
            Thiên hạ đôi khi không hiểu vì sao có những người làm ơn mà lại bị hại. Machiavelli viết: “Làm cho thiên hạ mến thì dễ bị hại hơn là làm cho thiên hạ sợ” (Le prince, XVII). Không phải vì ông chủ trương những cái trái nhân đạo. Nhưng ông nhận xét tình đời là thế. Không những vì việc hại kẻ làm cho thiên hạ sợ có phần nguy hiểm hơn là việc hại người làm cho thiên hạ mến. Nhưng chưa hết. Đối với những người chỉ muốn vênh váo với đời, thì những kẻ làm ân huệ, những ân nhân của họ, thay vì được biết ơn lại, chỉ là một cái chướng mắt. Dù có ý tốt hay có bụng xấu, người ân nhân vẫn là bằng chứng rằng ta không tự mình mà được như thế, rằng ta phải nhờ vào người khác, và vì thế không có lý do gì để tự đắc về giá trị, về địa vị ta nhờ ân huệ mà có. Ân nhân cũng chướng mắt gần như chứng nhân của tội ác. Do đó muốn tăng giá trị mình, phải phủ nhận ân nhân. Dĩ nhiên ở đây không xét đến nhân nghĩa. Người ta thường có cảm giác rằng đánh được ai thì mình hơn người ấy. Người bị đánh thường vẫn có vẻ là có tội thực.
            Người có tội là một thứ chướng mắt đối với xã hội. Không nhất định đây phải là tội đối với luân lý. Tội ở đây hiểu là những gì làm trái phong tục, trái với quan niệm chung. Vì sao chướng mắt? Vì chống lại luật chung là tương đối hóa luật đó. Cái đã tương đối thì không còn giá trị đòi hỏi mọi người theo. Do đó, nhân danh dư luận chung, quan niệm chung, nhân danh tôn giáo, chính kiến chung, người ta phủ nhận những ai tư tưởng khác. Có thể bầu khí công cộng mới là quen thuộc. Khi có những hành động trái với phép chung, người ta “phạt” người có tội, như thể sự phủ nhận người có tội đó làm cho phép chung vững hơn. Có lẽ đấy là lý do vì sao người ta muốn duy trì án tử hình. Vì thực ra đối với người có tội, cái chết không làm cho người đó tốt hơn. Còn việc dùng cái chết của người này để làm cho người khác sợ mà theo phép chung, thì vẫn là một việc có một giá trị khả nghi đối với luân lý. Cho rằng xã hội phải tự vệ thì cũng chưa ổn, vì xã hội phải giúp đỡ cho cá nhân thành người hơn, giết đi là trốn tránh nhiệm vụ giáo hóa.
            Vì ý thức nhiệm vụ “giáo hóa” ấy nên ngày nay ít khi người ta giết chết những người khác tư tưởng, nhưng người ta tìm cách thay đổi ý kiến cho họ. Có thể lấy lý thuyết mà thuyết phục, không đủ lý thì ân huệ sẽ làm cho cảm phục, mà nếu không thành công thì có thể dùng lời đe dọa hay là dùng tới bạo động. Có nhiều khi tất cả đều không có hiệu lực. Và nếu phải làm cho người khác ý kiến khiếm diện hẳn ở cõi đời, xã hội thường cũng muốn người đó tự thú rằng mình có lỗi, rằng quan niệm chung là đúng, và mình chết như thế là đáng tội… Xã hội cần khuất phục cá nhân, và nếu không thể dùng những phương pháp trên đây để có một tờ tự thú, người ta có thể dùng phương pháp “tẩy não” để phủ nhận hẳn con người cũ. Dù sao những người có lối sống độc lập khác thường vẫn là chướng mắt đối với xã hội, nhất là đi ngược lại thói quen chung. Cái chết của Sokrates cũng ở trong trường hợp đó.
            Theo thói thường ai nấy đều dễ dàng lên án tội người khác, ai cũng nhận rằng người có tội là chướng mắt. Nhưng nếu chính mình là người có tội thì, như đã nói, chứng nhân đã thấy tội ấy sẽ là người chướng mắt. Nhưng chưa hết. Người ta có thể phủ nhận lầm lỗi của mình bằng cách đổ tội cho người khác, nhất là khi người khác lại yếu thế không có cách tự vệ. Do đó những người yếu thế bị hy sinh như phương tiện cho người khác lên mặt vô tội. Trong Đông Chu Liệt Quốc có kể truyện Huế Đốc xui giục quân lính giết Tống Tương Công, rồi mặc đồ tang chế đến khóc hai ba lần và nổi trống hội quân thần lại, rồi bắt vài ba tên quân đem ra chém để che mặt thế gian. Cái “chính trị” đó thời nào cũng có người biết áp dụng: trong những cuộc phiêu lưu về chính trị, nếu thành công thì là do cấp trên lãnh đạo, nếu thất bại thì là do “hạ cấp làm liều”.


* * *

            Mấy trường hợp trên đây cho ta thấy rằng thái độ người ta đối với nhau không “trung lập” giữa sự nhìn nhận và sự phủ nhận. Sự hiện diện của tha nhân đòi người ta phải có “lập trường”. Nếu tha nhân không thành quen thuộc (thân tình hay là dưới quyền của mình), ít là tới một mức tối thiểu, để đời người không thấy bị đe dọa, thì người ta phủ nhận tha nhân. Kỹ thuật và pháp luật đã thực hiện được nhiều lối nhìn nhận con người. Tuy nhiên người ta cũng đã sáng chế ra nhiều cách phủ nhận con người một cách có tổ chức (chỉ cần nghĩ đến các thứ nhà tù, các thứ mật vụ…). Có thể là những kẻ có cách phủ nhận tha nhân cũng thực hiện được đôi chút an ninh cho đời mình. Nhưng vẫn không chắc. Và càng không chắc, người ta lại càng dễ tiếp tục theo lối đó. Còn đối với người bị phủ nhận, dưới mọi hình thức (bóc lột kinh tế, tù đầy…), thì không hiểu hai chữ “xã hội” có nghĩa gì. Không gì chướng đối với lương tâm bằng cái cảnh con người áp bức nhau, mà người bị bóc lột bị hành hạ, bị đem đi giết, không phản kháng như con vật, mà chỉ nhẫn nhục chịu đựng. Không phải người ấy thất bại, nhưng là nhân loại chưa thành công trong việc xây dựng một thế giới huynh đệ (tứ hải giai huynh đệ), vì chưa thắng được bạo động ở trong mỗi người, phải chăng chúng ta còn ở trong tiền sử của nhân loại?

TRẦN VĂN TOÀN



 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #167 vào: 24/12/2017, 22:11:31 »
Đại học | Số 37 [tháng 02/1964 | 172 trang]
                                 [NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG]

MỤC LỤC
TRẦN VĂN TOÀN |  MẤY NHẬN XÉT VỀ SỰ PHỦ NHẬN THA NHÂN |  3
NGUYỄN HỮU LÀNH |  CHÁNH QUYỀN MẠNH, ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ THẾ KỶ XX |  9
TRẦN VĂN TOÀN |  HUYỀN THOẠI VÀ BẠO ĐỘNG |  33
ĐỖ LONG VÂN |  NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG |  52
LÊ VĂN HẢO |  MỘT SỐ TỤC CỔ CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC HỘI MÙA |  79
NGUYỄN VĂN DƯƠNG |  PHƯƠNG PHÁP VÀ VÍ DỤ VỀ VIỆC ĐỊNH THỜI ĐẠI MỘT TÁC PHẨM CỔ |  90
P. ĐỖ ĐÌNH |  ĐẠO LÃO TRANG NỐI TIẾP |  118
NGUYỄN PHƯƠNG |  VIỆC CHÉP SỬ |  120
BỬU KẾ |  LỄ TẾ GIAO |  143
NGUYỄN HẢI |  SỰ TRUYỀN “SÓNG T” (ÂM THANH) TRONG CÁC ĐẠI DƯƠNG |  156
ĐẠI-HỌC |  MỤC LỤC ĐẠI HỌC TỪ SỐ 31 ĐẾN SỐ 36 |  168
_________________________________________________________________

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #168 vào: 24/12/2017, 22:35:10 »
HUYỀN THOẠI VÀ BẠO ĐỘNG

Nhân đọc cuốn “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, thực chất và huyền thoại”
của ông Nguyễn Văn Trung (Nam Sơn 1963)

            Nhân dịp phân tích và phê bình chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, ông Trung có nêu lên hai vấn đề vượt quá khuôn khổ nhỏ hẹp của chế độ thực dân: huyền thoại và bạo động. Ông Trung không phải là không biết rõ tầm quan trọng của hai vấn đề nòng cốt trong nhân sinh quan. Ông đã có công tham khảo nhiều tài liệu (mà ông kê khai ở cuối sách) để có thể thấy rõ sự việc. Ông còn để ra nhiều thì giờ để phân tích, suy nghĩ và tìm hiểu trong một cái nhìn nhất quán. Thường thường những người có hệ thống hay có thái độ khép kín. Nhưng ông Trung tuyên bố “chỉ mong gây được những thắc mắc, làm khởi điểm cho những cuộc bàn cãi, tìm kiếm sâu rộng và đầy đủ hơn” (trang 111). Thái độ cởi mở của ông Trung là một lời nói mời độc giả “đi đường” với ông để cùng nói chuyện. Vậy trước khi nói chuyện với ông Trung, thiết tưởng cũng nên lược qua nội dung cuốn sách, để xem ông “Khơi mào câu chuyện” như thế nào.

* * *

            Sách chia làm bốn chương:
            Chương I – Thực chất của chế độ thực dân;
            Chương II – Những huyền thoại của chủ nghĩa thực dân;
            Chương III – Chỗ yếu, chỗ mạnh của những phong trào cách mạng Việt Nam;
            Chương IV – Những mâu thuẫn giữa thực chất và huyền thoại.
            Độc giả có thể thắc mắc về cái mục lục trên đây. Vì theo đúng đầu đề cuốn sách thì chương I, chương II và chương IV đi với nhau một cách rất có lý sự có mạch lạc. Còn chương III hình như dư thừa, hay ít ra cũng đứng không đúng chỗ: nếu không bỏ nó đi thì cũng nên cho nó vào phần phụ lục về cuối sách. Không phải ông Trung không biết như thế: ông cho rằng “vì những huyền thoại được tạo ra do những chống đối của người bản xứ, nên phải tìm hiểu xem thực dân đã phê phán và đánh giá thế nào những phong trào cách mạng Việt Nam” (trang VI). Vì thế có thể hạ chương III thành một phần trong đoạn II của chương II. Nhưng như thế cũng không được, vì không những sẽ mất cân đối giữa các chương, mà hơn nữa vì khi viết chương III, tác giả hình như không phải chỉ có ý cho độc giả hiểu thực dân đã tạo huyền thoại trong những hoàn cảnh nào, mà còn muốn nói lên một quan niệm về sự thăng tiến của xã hội, một cái nhìn có tính cách một triết học về lịch sử.
            Do đó chúng tôi sẽ nói đến chương III trong phần kết.


* * *

Nội dung cuốn sách
            Trong chương I (trang 15-79) ông Trung đưa nhiều tài liệu để minh chứng rằng ý định căn bản của thực dân là khai thác của cải để làm giàu, và muốn thế phải dùng bạo động để xâm lăng cũng như để duy trì những cái đã xâm lăng được. Ông cho đó là một chính sách hẳn hoi chứ không phải là do các biến cố địa phương ngẫu nhiên tạo ra. Chính sách thực dân có tác dụng là tha hóa con người, làm cho con người thực dân cũng như con người bị thực dân ra khác hẳn bản chất người. Hai bên không gặp nhau trong tương quan nhân đạo: “Người thực dân chỉ biết mình và không biết người” (trang 54), coi người khác như không phải là người; ngược lại bên kia biến thành nô lệ, sa đọa xuống, và càng sa đọa thì lại càng như biện chính cho thái độ tàn ác của thực dân. Về điểm này ông Trung thành công, và chắc không có ai bất đồng ý kiến với ông.


* * *

            Trong chương II (trang 81-181), tác giả giải nghĩa thế nào là huyền thoại rồi mới nói đến ba huyền thoại chính của thực dân.
            Hành động, hay nói một cách tổng quát, đời người không phải là cái vô nghĩa, ý nghĩa đó có thể nói lên để tự mình ý thức, để trao đổi và thông đồng với người khác, nhưng cũng có thể để mê hoặc hay lừa dối người khác (ông Trung dùng chữ huyễn-diệu: Chữ này theo Đào Duy Anh có nghĩa là Khoe-khoang, chứ không có nghĩa là đánh lừa như chữ huyễn-hoặc). Huyền thoại phải dựa trên một cái có thực, nhưng lại xuyên tạc sự thực bằng cách lấy cái tùy làm cái chính. Huyền thoại của người cổ sơ là một thái độ sống, một nghi lễ. Chính vì ngôn ngữ có khả năng đánh lừa cho nên quần chúng ít học rất khó tạo ra huyền thoại, còn những người giầu giữ độc quyền ăn nói thì dễ tạo ra huyền thoại, nhưng quần chúng lại dễ bị lừa. Huyền thoại căn cứ trên sự đầu hàng của lý trí. Vì thế khi người ta ý thức được huyền thoại thì không còn tin ở huyền thoại nữa. Lý trí và chân lý thắng được huyền thoại. Nhưng, ông Trung tự hỏi biết đâu cái mà ta cho là chân lý không phải là huyền thoại? Đây là một vấn đề rất quan trọng trong Triết học. Nhưng ở đây chúng ta chỉ cần tạm nhận huyền thoại là “một lời nói lý tưởng được thực hiện vừa đủ để có thể che dấu một mục đích khác mà thực sự người tạo ra huyền thoại muốn chủ trương” (trang 143).
            Sau đó đến phần nói về những huyền thoại của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam.

Kỳ thị chủng tộc
            Tác giả chủ trương sự kỳ thị chủng tộc là huyền thoại lớn gắn liền với dự phóng thực dân nó là chung cho tất cả các nước thực dân Âu châu. Huyền thoại này đánh dấu giai đoạn người ta chỉ ý thức về mình, chứ chưa ý thức về người khác, chỉ phê phán và tính toán theo quan điểm của mình, chứ chưa biết nhìn theo quan điểm người khác. Huyền thoại này biện chính – trước mặt thực dân – cho hành động bạo động. Cái mà tác giả gọi là giai đoạn chuyển tiếp (với Lyautey, Lanessan) tuy là lúc thực dân dùng mánh khóe để khỏi phải dùng võ lực, nhưng vẫn còn ở dưới huyền thoại kỳ thị chủng tộc. Trong giai đoạn này thực dân nghĩ đến việc lợi dụng tôn giáo, công giáo hay phật giáo.
            Khi bị bó buộc phải nhìn theo quan điểm người bị trị – có thể là do các phong trào chống Pháp – thực dân cần phải bày ra huyền thoại khác để che đậy thực chất bóc lột. Đây là thời Albert Sarraut, Pierre Pasquier v.v… Có hai huyền thoại chính có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng những chi tiết mâu thuẫn ấy chỉ là do hoàn cảnh.

Huyền thoại Khai hóa
            Người Pháp văn minh hơn người An Nam lại có tinh thần vị tha có quan niệm nhân bản, chuộng công bình và ham những giá trị phổ biến; còn người An Nam thì kém về mọi mặt. Vậy người Pháp đến bảo hộ là theo một sứ mệnh, là vì tình liên đới nhân loại. Nhưng chưa hết, người Pháp còn có nghĩa vụ khai hóa cho người An Nam. Sự bảo hộ chỉ có lợi cho người An Nam mà thôi: có người Pháp đến, trong nước mới có an ninh, có trật tự, có cứu tế xã hội, có pháp luật, có học chính; có người Pháp thì đất đai mới được khai phá và lao động mới được nâng đỡ. Vẫn biết trong buổi đầu đã có bạo động, nhưng như thế không được, phải lấy ân huệ, lấy tình mà xử với nhau, như Aldert Sarraut nói: “Tôi cai trị các ông bằng ái tình của tôi” (trang 139).
            Huyền thoại đó không phải là không ăn rễ trong thực tại, vì quả thực người Pháp có mở trường, có khai hóa. Nhưng nếu khai hóa nhiều, thì một đàng người An Nam sẽ ý thức lên và sẽ có cách đánh đổ người Pháp, đàng khác muốn khai hóa thực thì phải phủ nhận chế độ thực dân bóc lột, do đó cần phải nhận định bước tiến bằng một huyền thoại khác.

Pháp-Việt đề huề
            Huyền thoại này có một lý do ngược lại huyền thoại khai hóa. Bây giờ thực dân không nói người An Nam kém nữa. Pierre Pasquier viết cuốn L’Annam d’autrefois ca tụng văn hóa cũ của người An Nam. Thực dân chủ trương người An Nam đã có văn hóa, đã có truyền thống dân tộc lâu đời. Truyền thống ấy cũng giống như truyền thống văn minh Roma, cũng giống như truyền thống của Pháp. Do đó, đồng khí tương cầu, người Pháp và người An Nam cũng chung một truyền thống, nên tự nhiên dễ thân thiện với nhau để cùng nhau xây dựng sự nghiệp chung.
            Ông Trung nhận định rằng trong thực tế, người pháp lấy danh nghĩa là bảo vệ truyền thống, để duy trì những yếu tố chậm tiến. Như thế là liên kết với phong kiến để chống cách mạng: người Pháp biết không thể trực trị được nên phải dùng lớp phong kiến để trị dân.
            Đến đây đã rõ người pháp dùng chiêu bài văn hóa để che dấu tương quan thống trị. Ông Trung cho rằng những huyền thoại về văn hóa trên đây đã chấm dứt với mặt trận bình dân (1936) vì chúng không còn lừa bịp được ai nữa. Thiết tưởng ông Trung quá lạc quan. Vì nếu trông vào tình trạng nước nhà hiện nay, ai dám chắc rằng những huyền thoại văn hóa kia đã chấm dứt.


* * *

            Chúng tôi chuyển sang chương IV: Những mâu thuẫn giữa thực chất và huyền thoại.
            Tác giả chủ trương rằng chế độ thực dân đã tạo ra đủ các điều kiện để tự hủy. Chế độ ấy đã tạo ra những mâu thuẫn làm cho nó phải đổ. Độc giả có thể liên tưởng đến K. Marx khi ông tiên đoán chế độ tư bản sắp sụp đổ vì nó đã tạo ra những mâu thuẫn nội tại. Marx có vẻ thua ông Trung, vì chế độ tư bản chưa sớm sụp đổ như Marx tiên đoán, còn chế độ thực dân thì đã thất bại như ông Trung đã… nhận xét thấy. Có lẽ Marx chưa tính đến yếu tố ý thức; ông không tính rằng khi các nhà tư bản đọc sách của ông, họ cũng không ngu gì mà không hiểu những lời đe dọa của ông là nghiêm trọng, và họ có thể phản ứng thích hợp. Tuy nhiên những phân tích của Marx về những mâu thuẫn trong chế độ tư bản đều rất rõ ràng và lý sự. Còn về những chứng minh của ông Trung về những mâu thuẫn làm cho chế độ thực dân thất bại, thì chúng tôi thú thật là chưa thấy rõ ràng như những phân tích của Marx, và cũng chưa rõ ràng như những phân tích của ông Trung trong các chương trước.
            Đại khái thực dân mắc vào cái mâu thuẫn sau đây: nếu để lộ thực chất bóc lột thì nguy hiểm, mà nếu theo chính sách rộng rãi của huyền thoại thì cũng nguy hiểm, vì người Việt sẽ biết cách chống trả người Pháp một cách hữu hiệu. Hai cái mâu thuẫn khác: mâu thuẫn giữa thực dân với nhau và mâu thuẫn giữa thực dân với mẫu quốc, có thể là trầm trọng, nhưng chưa thấy tác giả nói một cách rõ ràng chúng làm cho chế độ sụp đổ thế nào. Theo tác giả thái độ của thực dân đối với vua quan cũng bị khó: để cho vua quan có quyền thì nguy hiểm, mà tiêu diệt quyền bính của vua quan mình lại không thể cai trị trực tiếp được, vì dân không chấp nhận. Nhưng thực ra không phải là cái khó khăn nan giải: vì thực dân dùng vua quan làm bù nhìn để cai trị dân. Những cái khó khăn trên đây cũng như những khó khăn về việc cai trị thôn xã chưa phải là những mối đe dọa đối với chế độ thực dân.
            Nhưng nói cho cùng, nếu chế độ thực dân đã đổ thì chưa chắc đó phải là tại mấy cái mâu thuẫn trên đây: thực dân đã lấy thực hành để giải quyết. Nếu nó đổ thì chắc chắn là do sự tranh đấu bằng võ khí của các phong trào và đảng phái. Tất cả đều có chung nhau một chỗ mạnh, như ông Trung đã nhận định, đó là truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất. Chính vì thế mà nếu có đặt chương III ra sau chương IV cũng không phải là hoàn toàn có lý.


* * *

            Sau khi đã tóm tắt nội dung câu chuyện của ông Trung và trước khi đàm đạo với ông, cũng nên nhận định rằng sách của ông chứa rất nhiều tài liệu lịch sử (những đoạn trích dẫn dài có thể xếp vào hơn 50 trang) mà độc giả khó tìm thấy trong một cuốn sách khác. Câu chuyện ông Trung trình bày cũng thành một hệ thống có mạch lạc chứ không như lối chép sử biên niên. Tuy nhiên có một vài chỗ sơ ý, tuy không hại đến nội dung, nhưng giá cẩn thận tránh được thì vẫn hay. Ví dụ về tên người, ông Trung dùng theo nhiều kiểu: MácMarx, Lê-NinLénine, Phan Chu Trinh và Phan Châu Trinh, bonsevitBôn-sơ-vít. Ngoài ra ở chú thích số 1 trang 234, cuốn sách của Marx viết năm 1843 chứ không phải năm 1989.

* * *

Huyền thoại và bạo động
            Trước khi kết thúc cuốn sách, ông Trung tự hỏi: “Phải chăng lịch sử từ xưa đến nay vẫn chỉ là bạo động? Bạo động có phải là một động lực của đà tiến lịch sử và do đó là một sự xấu cần thiết? Nhân loại có thể thoát khỏi được bạo động hay bạo động gắn liền với thân phận tự nhiên của con người ở đời?” (trang 310). Về điểm này tác giả chưa đưa ra một câu trả lời. Câu hỏi thứ hai (trang 311-312): “Nhân loại vẫn sống bằng huyền thoại” (trang 311), đó là điều chắc chắn, và vì “không bao giờ ta thực sự được sống trong tình trạng chân lý” (trang 311) nên vấn đề không phải là “làm sao thoát được huyền thoại, nhưng làm sao tiêu diệt những huyền thoại phản động, đả phá những huyền thoại bảo thủ, hư ngụy và hướng tới những huyền thoại cách mạng tiến bộ” (trang 312). Tác giả đặt vấn đề dưới hình thức câu hỏi, nhưng độc giả có lý do để hiểu rằng đó là một câu quyết.
            Hai vấn đề này quan trọng lắm. Những ai tha thiết với lý thuyết nhân bản, nhân đạo, những ai để ý đến đạo làm người, đều phải thắc mắc về hai điểm đó. Một trong những người đã đặt vấn đề này là K. Marx. Câu trả lời của Marx rất rõ ràng: lịch sử loài người cho đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp, nhưng nói cho đúng ra thì nó là lịch sử loài người lúc chưa thành người thực, đó chỉ là tiền sử mà thôi. Vấn đề thứ hai thì Marx gọi là vấn đề ý thức hệ (Idéologie, ông Trung gọi là hệ tư tưởng). Marx chủ trương chỉ có ý thức cộng sản mới là đúng, còn các hệ thống tư tưởng về trước chỉ là những ý thức hệ, phản chiếu tư tưởng của một lớp người thống trị. Nói thế khác, bao giờ hết bạo động giữa người với người, bao giờ giữa người với người không còn tương quan thống trị nữa, thì bấy giờ mới hết các ý thức hệ. Bạo động và ý thức hệ, hay bạo động và huyền thoại, không những gắn với liền đời người, mà còn gắn liền với nhau. Chúng tôi không muốn nó dài hơn về hai đề tài đã bàn đến trước đây hai năm.(1)
            Để nói chuyện, góp ý kiến với ông Trung, thiết tưởng không nên đưa ra một hệ thống khép kín để nói một mình bên cạnh hệ thống của ông. Do đó chúng tôi sẽ chỉ góp một vài ý kiến về một vài điểm trong sách tác giả mà thôi.


* * *

            Dự định thực dân thống nhất các thứ bạo động và các thứ huyền thoại vào một mối.
            Đây là quan điểm đặc sắc của ông Trung, làm cho người ta có thể hiểu chế độ thực dân như là một toàn thể, một hiện tượng có thống nhất.
            Tuy nhiên sự thống nhất hành động tự ý trong đời người vẫn là việc khó. Những ai bàn tới đạo đức học đều có thể nhận thấy rằng các hành động trong đời người rất khó thống nhất vào một mối. Vẫn biết các hành động thường được thống nhất lại theo từng dự định, theo từng giá trị. Nhưng người ta có thể có nhiều dự định mâu thuẫn nhau, có thể theo đuổi những giá trị ngược nhau. Khó mà xác định ra một dự định toàn diện cho cả đời người, khó mà tìm cho ra một giá trị thống nhất được các giá trị khác. Nhưng chưa hết. Ngay trong phạm vi một dự định, một giá trị, hành động cũng chưa dễ thống nhất vì phương tiện thực hiện vẫn có thể khác nhau. Sự thống nhất hành động trong một người không phải là dễ. Nhiều khi người ta không làm điều mình cho là hay, và cứ làm điều mình cho là không hay. Không những là vì trong con người có những lực lượng mình chưa kiểm soát được, mà hơn nữa, nhiều khi dự định của mình thiếu điểm tựa khách quan trong vật giới và nhân giới.
            Sự thống nhất hành động của một nhóm người đoàn kết và đồng tâm nhất trí làm một việc chung lại khó hơn nữa. Không cần phải nói đến một nước; chỉ cần nói đến gia đình cũng đủ thấy như thế. Mỗi người có thể hành động riêng rẽ, mà các hoàn cảnh bên ngoài cũng làm thay đổi điểm tựa của hành động. Có thể có những cái không định làm, nhưng rồi hoàn cảnh đưa đẩy một cách ngẫu nhiên ngoài dự định, người ta làm, và sau đó có thể chấp nhận vì thấy nó hợp với dự định căn bản của mình. Vì thế cho rằng hành động thực dân là do một dự định căn bản thống nhất các chi tiết, chứ không là do “sáng kiến địa phương”, thì có lẽ hơi duy tâm, vì quên rằng dự định chỉ là khả hữu khi người ta nhận thấy thực tế có thể cho phép nó thực hiện. Mà cho rằng chỉ là do sáng kiến địa phương thì lại càng không sao hiểu được thực dân như là một hiện tượng có thống nhất.
            Nhưng vì sao hiện tượng thực dân lại có thống nhất?
            Ông Trung giải thích bằng “dự phóng thực dân”.
            Lối giải thích ấy không phải là không dùng được, nhưng nó có thể gặp mấy cái khó khăn trên kia. Nếu lấy “dự phóng”, lấy chủ ý mà giải thích lại gặp cái khó như thế, thì – theo phương pháp “biện chứng” – ta có thể lấy cái “không chủ ý” mà giải thích. Biết đâu lại không giải thích được một phần, và biết đâu sau đó lại không đi tới một tổng hợp cao hơn? Do đó có thử lấy cái “không chủ ý” mà giải thích thiết tưởng nếu không đúng hẳn thì cũng không đến nỗi vô ích lắm.
            Sở dĩ Marx giải thích rằng chế độ tư bản đi đến chỗ cùng tột phải tự hủy, sở dĩ Marx giải thích một cách có lý sự mạch lạc được, thì là vì đã coi hiện tượng ấy như một hiện tượng của sự vật tự nhiên, tuân theo những luật tự nhiên. Vẫn biết con người là giống có ý thức, có tự do nên lịch sử xã hội loài người không phải là hiện tượng tự nhiên. Nhưng nếu con người sa đọa thành sự vật, đến nỗi tuân theo đòi hỏi của sự vật, thì lúc đó Marx có đủ lý do để viết lịch sử xã hội loài người như mô tả một hiện tượng tự nhiên theo những định luật tất yếu. Vì con người đã đánh mất bản thân, đã vong thân, nên lịch sử loài người có thể thống nhất như một hiện tượng tự nhiên.
            Áp dụng vào vấn đề đang bàn, chúng ta có thể coi chế độ thực dân không phải là do một chủ ý, một dự phóng thực dân, nhưng là một giai đoạn tiến triển của cuộc vong thân của con người, trong đó con người không làm chủ, nhưng là vật liệu cho một hiện tượng tự nhiên nhào nặn.
            Con người muốn chiếm hữu thiên nhiên để nới rộng phạm vi hoạt động của mình. Sự chiếm hữu thiên nhiên chỉ là một phương tiện, và mục đích là sống với người khác một cách nhân đạo. Khi người ta quên mục đích nhân đạo và cho rằng sự làm giàu là mục đích thì khi đó đánh mất bản thân để biến thành dụng cụ làm giàu: mọi người chỉ là dụng cụ để phụng sự thần Tài.
            Sự làm giàu biến thành một bộ máy vô danh điều khiển hết mọi người: người Âu châu phải đi thực dân vì bộ máy kinh tế đòi như thế, người này không đi thực dân thì phải có người khác đi. Các thứ bạo động và huyền thoại trong khi thực dân cũng phải có, vì bộ máy thực dân đòi như thế. Nếu người này không làm thì rồi phải có người khác làm. Ở trong một tình trạng vong thân như thế, sự quyết định của cá nhân chỉ có một phạm vi rất nhỏ. Có thể có người không muốn theo đòi hỏi của bộ máy, nhưng bao lâu còn để bộ máy vong thân ấy thì rốt cuộc mọi hành động đều kế tiếp nhau đi vào khuôn phép.
            Sự thực dân nói cho đúng, vẫn nằm trong một khuôn khổ bóc lột của người tư bản đối với người vô sản. Người tư bản đã vong thân mà thành ra phương tiện để phụng sự của cải. Con người đã vong thân đối với của cải thì cũng mất liên lạc nhân đạo với người khác. Tư bản và vô sản đều vong thân cả, vì cả hai thành nô lệ đồng tiền. Có điều là những cuộc đấu tranh của giai cấp thợ thuyền ở Âu châu, đáng lẽ làm cho hai bên có cơ hội nhìn nhận nhau là người, để tới một tương quan nhân đạo hơn và phổ biến hơn, thì trong thực tế lại khác. Bộ máy bóc lột kinh tế tự mình nó không đứng được nếu không có những người đủ điều kiện để bị bóc lột. Khi tư bản phải tăng lương cho vô sản, khi vô sản đòi hỏi về kinh tế nhiều, thì vô sản (ở Âu châu) không còn đủ điều kiện để bị bóc lột nữa. Giữa tư bản và vô sản đã có sự nhìn nhận tối thiểu. Nhưng tư bản chưa chết sớm. Lý do là vì còn có nhiều dân tộc kém mở mang, và do đó có đủ điều kiện để bị bóc lột. Bộ máy bóc lột kinh tế hướng mũi dùi về phía các xứ kém mở mang. Lần này không phải chỉ có một số chủ nhân ông tư bản phụng sự bộ máy đó, mà cả lớp công nhân đã được họ chia của cải cho. Bây giờ không phải chỉ có người tư bản và người vô sản, nhưng có những nước tư bản và những nước vô sản. Chính vì thế mà Lênin chủ trương đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản.
            Sự đổi hướng của bộ máy bóc lột kinh tế có một hiệu quả là giết chết tinh thần quốc tế trong lòng giai cấp thợ thuyền Âu châu. Cho dù các đảng xã hội Âu châu đôi khi còn giữ danh nghĩa quốc tế (ví dụ đảng xã hội Pháp, S.F.I.O., Section Française de l’Internationale Ouvrière) thì trong thực tế người thợ Pháp không còn thấy mình liên đới với người thợ ở các xứ thuộc địa như Algérie, Việt Nam v.v… Nếu người thợ ở mẫu quốc biết rằng tăng lương cho dân thuộc địa là làm hạ lương của mình, thì sao họ có thể về một phe với dân thuộc địa được? Giai cấp thợ thuyền Âu châu trở thành giai cấp chủ ông đối với dân thuộc địa. Trong cuốn L’Etre et le Néant (trang 486-495), Sartre đã phân tích ý thức giai cấp một cách xác đáng: phải cùng cảnh ngộ bị áp bức và phải cùng chống lại một “ông chủ” thì mới có ý thức giai cấp. Có lẽ cũng vì lý do ấy mà những người theo xã-nghĩa Á châu trước đây mươi năm ở Rangoon đã không muốn sát cánh với đệ nhị quốc tế ở Âu châu.
            Lớp người làm chủ thuộc địa thường là rất ô hợp: trí thức có, tư bản có, thợ thuyền có, quân nhân có, lại có cả những hạng phiêu lưu và những phần tử tù tội. Nếu họ sống với nhau ở mẫu quốc thì khó mà đoàn kết họ lại một mối: ai nấy có lợi riêng, có sở thích riêng. Nhưng ở thuộc địa, có thể nói là họ nhất trí, hành động theo một khuôn khổ để bóc lột cho có hiệu quả. Tại ai nấy đều cùng có dự phóng thực dân chăng? Có thể lắm. Nhưng cũng có thể nói họ là vật liệu cho một bộ máy vô danh nhào nặn.
            Chủ vong thân thì nô lệ cũng vong thân. Con người thuộc địa bị coi là hèn kém, và ý thức mình là hèn kém: mặc cảm là người An Nam (complexe d’Annamite) – theo kiểu nói của chúng tôi – mà nhiều người còn mang cho đến rày đủ tỏ rằng chế độ thực dân đã làm cho con người vong thân đến đâu.(2) Liên quan thực dân không phải là tác động một chiều. Do đó nếu người Pháp sau này còn trở lại bảo hộ, thì không phải như tướng De Gaulle nói: “Chúng ta sẽ trở lại Đông Dương vì chúng ta mạnh hơn” (trang 300), nhưng là vì ở xứ ta chưa diệt tận gốc cái thói quen nô lệ.


* * *

            Biết mình hay là biết người?
            Ông Trung cho rằng huyền thoại kỳ thị chủng tộc thuộc về giai đoạn thực dân chỉ biết có mình mà không biết đến người khác, còn các huyền thoại khác như khai hóa hay Pháp Việt đề huề thuộc về giai đoạn thực dân biết đến người khác.
            Thiết tưởng cũng nên bàn rộng về điểm này.
            Trước hết, để tới sự nhìn nhận con người da trắng là cao đẳng với nhau cả thì người Âu châu cũng đã phải đánh đấm nhau không biết bao nhiêu thế kỷ. Không làm chủ được nhau thì phải nhìn nhận nhau. Nhưng không phải vì thế mà có thể nói thái độ thực dân đi xâm lăng là coi người bản xứ như con vật nghĩa là không phải là “tha nhân”.
            Vẫn biết có những lúc con người coi nhau như ác thú cần phải trừ khử đi để khỏi bị đe dọa và để chiếm đoạt của cải, như khi người ta đuổi ong đi để lấy mật hay khi trẻ con đuổi chim đi để lấy trứng. Nhiều khi trong chiến tranh người ta trừ khử nhau như ác thú. Cũng có lúc sau khi chiến tranh người ta giết hết dân bại trận để chiếm đoạt của cải.
            Ý định thực dân cũng có khi đi vào hướng đó, như khi người da trắng tiêu diệt người da đỏ để chiếm đoạt đất chứ không muốn có một tương quan gì, dù là tương quan thống trị. Nhưng ý định thực dân ở bên ta nhằm thiết lập tương quan chủ nô, vì người Pháp không muốn di dân sang chỗ khí hậu không tốt như ở Việt Nam.
            Liên lạc thống trị là liên lạc chính trị, nhưng liên lạc chính trị sẽ chỉ là một danh từ rỗng nếu nó không được thực hiện trong sự bóc lột kinh tế. Đó là điểm tác giả đã ý thức được rõ ràng. Do đó liên lạc thống trị cũng chấm dứt với sự bóc lột kinh tế. Chủ bắt nô lệ làm việc cho mình.
            Người nô lệ không phải là thú vật. Đối với thú vật người ta không thấy có gì đáng lo ngại lắm: nếu không thể nuôi cho thuần phục được thì giết đi ăn thịt, nếu nuôi cho thuần thục được thì không phải lo gì nữa. Đối với nô lệ thì khác, dù chủ ông có coi như con vật đã vì sợ đòn hay vì ân huệ mà thuần thục, thì cũng vẫn không sao an tâm được: vì nô lệ vẫn là người khác, lúc nào cũng vẫn có thể phản kháng. Bạo độngân huệ không có thể khuất phục được tự do của con người: con người có thể vô ơn cũng như không sợ bạo động. Do đó cần phải dùng ý thức hệ để làm cho nô lệ an phận thủ thường. Người Ấn Độ dùng tôn giáo để chứng minh hệ thống giai cấp là bất di bất dịch. Có triết gia thì chủ trương có những người là nô lệ vì bản tính như thế. Môn phái Stoa (phái khắc kỷ) cho rằng tương quan thống trị không làm cho con người tự do và tự chủ ít hay nhiều và sự tự do thiết thực là làm chủ được bản thân chứ không phải là làm chủ người khác. Còn nhiều nữa. Và riêng ở Việt Nam thì ông Trung đã “vạch mặt” ra được hai huyền thoại: Khai hóaPháp Việt đề huề.
            Chúng tôi dè dặt không dám dùng chữ “huyền thoại”. Vì chữ đó đã được dùng theo những nghĩa rất khác nhau. Có người hiểu huyền thoại là điều dối trá để mê hoặc người khác. Có người lại cho huyền thoại là một lối quan niệm sự vật mà không dùng tới ý niệm phân minh rõ ràng. Huyền thoại theo kiểu này là một lối sống, một lễ nghi, chứ không phải là một hệ thống ý niệm, nó giàu về hình ảnh tượng trưng và gợi cảm hơn là gợi trí. Khi chưa có ý niệm phân minh để quan niệm thì hiểu bằng huyền thoại. Cũng có vấn đề khó hiểu, không dùng ý niệm phân minh mà nói lên được, thì người ta dùng hình ảnh tương trưng, dùng huyền thoại mà hiểu. Ví dụ về buổi đầu của trời đất, về thân phận con người, về ái tình v.v…, Platon là triết gia đã ý thức về lý trí, nhưng vẫn dùng nhiều huyền thoại. Không ai coi lối huyền thoại này là dối trá cả. Nhưng ông Trung hiểu chữ huyền thoại theo nhóm người thứ nhất. Hiểu như thế là hiểu theo nhóm duy lý, chứ không theo như những nhà khảo cứu về huyền thoại ngày nay.
            Nhưng đó chỉ là vấn đề danh từ. Nếu chúng tôi không lầm thì chữ “huyễn diệu” của ông Trung có nghĩa giống như chữ “mystifier” trong tiếng Pháp.
            Chúng tôi thiết tưởng: gọi những chiêu bài khai hóaPháp Việt đề huề là những huyền thoại theo lối giải thích của ông Trung, thì có thể coi là thỏa mãn. Nhưng có lẽ hơi cầu kỳ. Vì tác giả phải tốn nhiều công phu để giải thích cơ cấu của huyền thoại. Đàng khác nếu ý thức được huyền thoại là không tin ở huyền thoại nữa, thì khó mà nói rằng thực dân tạo ra huyền thoại. Bày ra một câu nói dối không phải là tạo ra huyền thoại, nhưng là chủ tâm đánh lừa (có thể gọi là imposture).
            Về điểm này thiết tưởng có thể trình bày đơn sơ hơn. Ví dụ có thể phân tích khả năng nói dối của ngôn ngữ.(3) Thân phận “tại thể” (être-incarné) của con người làm cho các cử chỉ khách quan đều có tính cách “bất cập”; cử chỉ hay hành động cụ thể không sao thực hiện được hết cái dự định được nói lên. Do đó lời nói và việc làm không ăn khít được với nhau. Hai chiêu bài trên đây không phải là không có điểm tựa ở thực tế. Nhưng ngôn ngữ nói dối ở chỗ không nói lên cái liên quan thống trị, và ở chỗ cái thực hành không sao sánh được với cái lý tưởng ở chiêu bài. Vẫn biết người Pháp nói “khai hóa” nhưng chỉ khai hóa rất ít, và vì thế là nói dối. Nếu hỏi phải làm đến mức nào mới gọi là khai hóa, thì thật là khó trả lời. Nhưng nếu việc làm có thể khít được với lời tuyên bố “khai hóa” thì về điểm đó việc làm đã gỡ cho lời nói cái tội nói dối. Nhưng thực dân vẫn còn nói dối ở chỗ không nói lên cái liên quan thống trị. Có lẽ vấn đề ở đây chỉ là nói dối, là đánh lạc hướng tư tưởng, chứ không có gì huyền diệu bí ẩn lắm.
            Đàng khác, thân phận “tại thể” làm cho hành động con người có tính cách nước đôi (ambigu): một cử chỉ khách quan có thể là chỗ hiện thân của những ý định khác nhau. Cùng làm một việc chung, cùng chấp nhận một việc chung, người ta có thể tùy theo chiến thuật mà thực hiện những dự định ngược nhau. Ví dụ (xem trang 291): cùng một việc bắt học tiếng Pháp mà bỏ tiếng Việt, thực dân nhắm mục đích làm mất tinh thần quốc gia, nhưng ta có thể coi là phương tiện cứu quốc; cùng một việc cổ động cho tiếng Việt, thực dân có chủ đích hạn chế số người ăn học, nhưng ta lại có thể coi là phương tiện để phổ biến cái học. Vì lý do đó chúng tôi chưa hiểu trong cuốn sách sắp xuất bản, ông Trung sẽ phê phán thế nào về Phạm Quỳnh. Làm một việc do Pháp đề nghị và nâng đỡ, nói lên những câu trong chương trình “khai hóa” của “Pháp”, là theo Pháp hay chống Pháp? Tìm cho ra dự định sâu thẳm của con người là một việc khó, ít ai dám làm, trừ K. Marx và S. Freud là hai người dám cho rằng mình “đi guốc trong bụng” thiên hạ.
            Liên lạc thống trị dù sao cũng là giai đoạn “biết người” rồi.


* * *

            Ông Trung chủ trương “nhân loại vẫn sống bằng huyền thoại” (trang 311). Nhưng không thấy ông phân biệt rõ, thành ra rất khó hiểu ông muốn nói gì. Ông có ý nói: nhân loại vẫn sống bằng những lời dối trá mê hoặc, hay có ý nói: trong đời người vẫn có những cái không dùng ý niệm phân minh mà hiểu được, và phải dùng đến những hình ảnh tượng trưng để quan niệm? Nếu hiểu theo lối thứ hai thì đó chưa phải là một câu phủ nhận chân lý. Nếu hiểu theo lối thứ nhất thì cần phải xem câu “nhân loại vẫn sống bằng huyền thoại” là chân lý hay chỉ là một huyền thoại! Vả chăng, nói về huyền thoại được tức là đã thoát ra ngoài huyền thoại rồi kia mà! Nếu không thoát được ra ngoài huyền thoại (trang 312) thì cũng khó mà phân biệt đâu là huyền thoại phản động đâu là huyền thoại tiến bộ. Lấy gì làm tiêu chuẩn để phân biệt cái phản động với cái tiến bộ? Tiêu chuẩn đó phải chăng lại là một huyền thoại to hơn nữa?
            Hay là ông Trung có ý nói đến những huyền thoại, như: “nhà lãnh tụ anh minh sáng suốt”, “đảng không bao giờ sai lầm”, “khoa học giải quyết được mọi vấn đề”? Nhưng người ta không phải chỉ sống bằng mấy huyền thoại ấy. Vả chăng, không thoát được ra ngoài huyền thoại, thì sao có thể nói về huyền thoại.
            Tiếc rằng về điểm này ông Trung nói ít quá. Chúng tôi sợ càng nói nhiều thì lại càng hiểu sai tư tưởng ông Trung.


* * *

Cách mạng xã hội
            Trong chương III, ông Trung tóm tắt lịch sử các phong trào cách mạng Việt Nam và phê phán đâu là chỗ mạnh, đâu là chỗ yếu. Ý định ấy có vẻ táo bạo, vì, như ông Trung cũng nhận, ta rất thiếu tài liệu, lại có khuynh hướng thần thánh hóa các nhà cách mạng (vẫn huyền thoại!) Nhưng ông Trung căn cứ vào tài liệu của sở mật thám Pháp để trình bày những nhận định của Pháp về các đảng phái và lãnh tụ. Những người am hiểu các đảng phái, vì đã hoạt động bên trong, có thể có những điểm bất đồng ý kiến với ông Trung. Nhưng dù sao quan điểm của ông Trung cũng có thể đứng được.
            Ông chia lịch sử đó ra làm ba giai đoạn.
            Giai đoạn thứ nhất: quân chủ phong kiến. Chống Pháp để lập lại chế độ cũ.
            Giai đoạn thứ hai, ông Trung gọi là giai đoạn phản đế bài phong có tính cách hình thức. Ông kể ra đây tất cả phong trào văn hóa như Đông du, Đông kinh nghĩa thục, tất cả các đảng phái chính trị từ năm 1904 trở đi, trừ đảng Cộng sản. Không thấy ông giải thích vì sao gọi cả là phản đế bài phong có tính cách hình thức. Độc giả có thể thắc mắc về nhiều đảng phái. Ví dụ Việt Nam quốc dân đảng, nếu nói theo chủ nghĩa Tam Dân và có tổ chức hoàn hảo hơn các đảng về trước (trang 211) thì độc giả vẫn chưa hiểu nó “hình thức” ở chỗ nào. Nhưng ông Trung vội kết luận (trang 213) là các đảng ở giai đoạn này ưa hoạt động, nhưng thiếu lý thuyết gia lãnh đạo chính trị, lại thiếu phân tích về tình hình thế giới để biết ai là bạn ai là thù. Một nhược điểm khác là ít để ý đến việc giáo dục chính trị đảng viên, và thường tựa vào thiểu số dân thành thị: trí thức, công chức, thương gia, tư sản. Do đó người Pháp không sợ các đảng này cho lắm. Có thể là ông Trung quên một vài đảng khác và nhận định về các đảng không hợp ý nhiều người. Nhưng cần phải nhắc lại rằng đây là quan điểm của sở mật thám Pháp.
            Giai đoạn thứ ba dành cho đảng Cộng sản. Ông gọi là giai đoạn phản đế phản phong có nội dung thực sự. Độc giả vẫn không hiểu vì sao gọi như vậy. Có điều là ông dành cho một đảng này hơn 40 trang (216-258), trong khi tất cả các phong trào và đảng phái chống Pháp chỉ được bàn tới trong khoảng 24 trang (192-216). Theo ông, người Pháp chỉ ngại có đảng Cộng sản thôi, vì đảng ấy có chủ nghĩa, có đường lối đấu tranh rõ rệt, căn cứ vào sự phân tích tình hình thế giới. Đảng ấy không những nhằm cách mạng dân tộc, giải phóng quốc gia, nhưng còn nhằm một cách mạng xã hội, để giải phóng đa số nhân dân. Ông Trung tỏ ra rất am tường chủ nghĩa của đảng này: ông dành nhiều trang nói về lý thuyết Lênin và về các chặng hoạt động của đảng này. Tuy nhiên ông rất cẩn thận, và nói ông chỉ nhận xét chứ không phê phán đúng hay sai (trang 219, chú thích 1). Tóm lại thực dân lo ngại về đảng cộng sản vì những điểm sau đây:
            1) Cộng sản là phong trào quốc tế nhằm tiêu diệt chế độ tư bản là gốc chế độ thực dân (trang 230).
            2) Cộng sản đặt vấn đề giai cấp lãnh đạo: cách mạng do giai cấp nông dân và công nhân (chữ công dân ở trang 231 có thể hiểu là citoyens trong tiếng Pháp) lãnh đạo. Họ vừa bị áp bức nhất vừa đông đảo nhất.
            3) Cộng sản có lý thuyết làm cách mạng.
            Để kết thúc ông có phàn nàn rằng “người Pháp đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam có may mắn được lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và tạo điều kiện cho họ lớn mạnh trưởng thành trong kháng chiến bằng cách ngăn chận mọi đường lối khác” (trang 253).
            Về phần này chúng tôi không phê bình gì cả vì thiếu nhiều tài liệu. Chúng tôi chỉ muốn góp ý kiến về cuộc cách mạng giải phóng xã hội.


* * *

            Trang 252 có câu: “công cuộc giải phóng dân tộc, dành lại độc lập chính trị thực sự sẽ chẳng giải quyết được gì nếu nó không kèm theo một cuộc cách mạng xã hội”. Có thể có những người không nghĩ được như thế hay là không muốn tin như thế, nhưng cái đó tùy ở mức độ người ta ý thức về tha nhân cao hay thấp.
            Ông cha chúng ta thường nhắc đến câu “tứ hải giai huynh đệ”. Tuy nhiên lịch sử nhân loại đầy dẫy những biến cố có thể phi bác câu đó một cách cụ thể. Anh em trong nhà nhiều khi đến chỗ bất hòa với nhau vì gia tài, vì chính kiến. Rồi ra đến người ở ngoài gia đình, thường thường ta cũng không đối đãi như người trong gia đình. Ra đến đời sống xã hội thì ý thức tha nhân của người ta ở những mức độ rất khác nhau. Có những người chỉ biết đến người làng mình. Có những người chỉ biết đến địa phương của mình mà không biết đến người cùng một nước. Hiện nay rất nhiều người chỉ mới có ý thức quốc gia, chứ chưa có ý thức nhân loại; và nếu có ý thức nhân loại, thì ý thức ấy thường chỉ là một tư tưởng đẹp, có vẻ cấp tiến, nhưng bất lực, thiếu nội dung. Vậy thì câu nói trên đây là lý tưởng hay là huyền thoại hiểu theo nghĩa là câu nói dối? Thực ra lý tưởng nào cũng thế, khi chưa thực hiện nó vẫn là một thứ nói dối, một thứ huyền thoại. Chỉ có hành động mới có thể quét sạch các thứ nói dối, các thứ huyền thoại.
            Ông Trung có nhận định rằng đảng Cộng sản biết lợi dụng và gieo rắc chia rẽ trong lòng địch. Thiết tưởng cái kế ly gián ấy tự cổ chí kim không chính trị gia nào mà không biết. Người Pháp cũng không ngu gì mà không biết “chia để trị”. Họ chia nước ta thành Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Rồi từ đó họ dung dưỡng óc địa phương trong mỗi “kỳ”. Dĩ nhiên khi người An Nam mắc bệnh cận thị, không nhìn xa hơn cái “kỳ” của mình thì nước An Nam chỉ còn là một danh từ không có nội dung. Không còn người Việt Nam thì cũng không có nước Việt Nam nữa. Cái khẩu hiệu Nam-kỳ-quốc trước đây gần 20 năm không phải chỉ là một âm mưu của người Pháp, nó còn là bằng chứng hùng hồn về sự sa đọa của ý thức quốc gia của một số người đã thành vật liệu cho thực dân nhào nặn.
            Chưa hết. Ngoài óc địa phương trên đây, người Pháp còn gây ra nhiều chia rẽ khác: nâng đỡ về vật chất một tôn giáo để gây xích mích với tôn giáo khác, nâng đỡ một đoàn thể chỉ biết có quyền lợi riêng chứ không biết đến quyền lợi quốc gia.
            Công cuộc chia rẽ ấy làm cho người Việt Nam bị vong thân, bị mất bản chất Việt Nam, không còn thấy mình là người Việt Nam nữa. Có thế, một thiểu số thực dân mới có thể cai trị hơn 20 triệu người. Nếu người Pháp còn trở lại “bảo hộ” thì là vì chúng ta chưa thoát ra ngoài cảnh vong thân, chưa giải thực. Người nghiện thuốc phiện là người bị đầu độc, nhưng thiếu thuốc phiện thì lại không chịu được. Người bị thực dân cũng bị đầu độc, bị vong thân, cho nên nếu chưa giải thực, nếu chưa tìm lại được bản chất, thì cũng thế: thiếu những ông chủ thực dân cai trị và bảo hộ, thiếu bầu không khí, thiếu tổ chức Pháp, họ không chịu được.
            Đâu là tình liên đới nhân loại, đâu là lòng ham mộ những giá trị phổ biến mà người Pháp tuyên bố truyền bá, khi họ làm cho ý thức tha nhân của dân thuộc địa sa đọa xuống thành ý thức nô lệ chỉ biết có chủ? Cách làm ăn dối trá ấy không có chi huyền bí cả.
            Nói cho cùng thì ý thức về tha nhân chỉ mở rộng, người ta chỉ nhìn nhận nhau, sau khi đã chạm trán với nhau. Giữa các cá nhân với nhau, hay giữa những đoàn thể với nhau vẫn có những cuộc thử sức. Ai không có sức thì không được nhìn nhận (xem J. Lacroix Personne et Amour, trang 14-18). Chúng tôi đã bàn nhiều lần trong Đại-Học về biện chứng ông chủ và nô lệ.
            Chỉ cần nói qua từ thời cách mạng Pháp 1789. Đó là lúc người ta, sau khi đã thử sức nhau lâu đời, đã đi đến chỗ nhìn nhận nhau là bình đẳng. Ai nấy đều hoan hỷ, người ta tuyên bố bình đẳng, người ta viết chữ bình đẳng trên giấy tờ, tưởng rằng sự bình đẳng về chính trị có thể giải quyết mọi xích mích giữa người với người.
            Nhưng vài chục năm qua đi, người ta thấy rằng sự bình đẳng về chính trị chỉ là một hình thức rỗng: ai giầu mới có thể làm chính trị để lợi dụng công quyền, để làm giầu thêm; tuy mọi người bình đẳng trước pháp luật không ai có quyền nô dịch kẻ khác, nhưng trong thực tế thì những ai nghèo và không có địa vị vẫn phải hoàn toàn theo ý muốn của người giầu, vẫn là nô lệ người giầu. Do đó người ta ý thức được rằng sự bình đẳng xã hội (bình đẳng về kinh tế) chính là nội dung của sự bình đẳng chính trị. Không có bình đẳng xã hội thì bình đẳng chính trị chỉ là một câu nói dối.
            Người Âu châu với nhau đã tới mức ý thức đó. Cũng phải nói rằng các đảng xã hội đã tranh đấu đòi hỏi phải có cuộc cách mạng xã hội.
            Ở những nước thuộc địa cũ, thiết tưởng cũng có hai chặng đường tranh đấu. Cuộc giải phóng dân tộc thiết lập được sự bình đẳng chính trị giữa thuộc địa và xứ thực dân. Đáng lý ra thì sau đó sẽ đòi bình đẳng kinh tế với xứ thực dân mới hợp với đà tiến của nhân loại. Nhưng xem chừng ở nhiều nước thuộc địa cũ người ta cho là đủ rồi. Phải chăng là vì cuộc giải phóng dân tộc đem lại độc lập đã giải quyết mọi vấn đề? Về điểm này có hai câu trả lời.
            Giai cấp giầu có thể coi là hết vấn đề, vì chủ cũ không còn, họ đương nhiên lên giai cấp chủ, để làm chủ xã tắc bằng chính trị và kinh tế. Do đó họ không muốn thay đổi gì nữa, vì thực ra vừa không cần vừa có hại hơn là có lợi. Nếu giai cấp này lãnh đạo chiến tranh chống thực dân, thì trong trường hợp khó khăn họ có thể kết cấu với thực dân miễn là duy trì được địa vị, còn trong trường hợp thắng được thực dân họ sẽ làm chủ và sẽ không thích nói đến cách mạng xã hội.
            Đối với giai cấp nghèo thì độc lập chính trị chỉ là truyện thay chủ, thay người cai trị mà thôi. Không bao giờ họ tin ở huyền thoại rằng “người mình cai trị nhau vẫn hơn là để cho Tây cai trị”. Cho nên họ phải đi vào con đường của giai cấp công nhân Âu châu thế ký 19, để đòi bình đẳng xã hội. Đó là hướng tiến của nhân loại. Hướng đó là sự thực hiện câu “tứ hải giai huynh đệ”. Không thể có tình huynh đệ khi còn có sự bóc lột về kinh tế.
            Vấn đề then chốt cần phải bàn đến là vấn đề lãnh đạo. Ai sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng đòi bình đẳng xã hội?
            Như dã nói, giai cấp tư bản, giai cấp giầu không thấy cách mạng xã hội có lợi ích gì cho họ. Tự nhiên họ sẽ cản trở, hay nếu không. Họ sẽ có đủ khôn ngoan để tránh đổ vỡ cho họ. Trừ khi có một lý tưởng nhân đạo hay một tôn giáo… Nhưng phỏng những yếu tố ấy thuyết phục nổi họ không?
            Giai cấp nghèo cần có cách mạng xã hội. Nhưng người ta không làm cách mạng chỉ vì nghèo, nhưng là vì ý thức rằng cái nghèo ấy là cái nghèo “không đáng tội”, và vì thấy mình cùng với người bên cạnh bị người khác bóc lột. Lênin nhận rằng giai cấp công nhân tự mình không thể đi tới xã-nghĩa được. Lý tưởng xã-nghĩa phải do lớp trí thức đưa vào giai cấp vô sản. Marx gọi là “triết lý thành hôn với giai cấp vô sản”. Vô sản là sức mạnh, triết lý là đầu óc để hướng dẫn cách mạng.
            Nhưng giai cấp trí thức tiểu tư sản có thể lãnh đạo không? Trí thức có thể vượt quá các điều kiện giai cấp để thấy hướng đi của lịch sử. Do đó có thể có quả tim ở bên trái, có tinh thần tả khuynh muốn công bình xã hội. Nhưng mức sống của họ tùy thuộc vào giai cấp giầu: họ dễ bị giai cấp giầu mua chuộc. Cho nên ít khi họ sát cánh với người nghèo. Cảm tình của họ đối với người nghèo thường chỉ là cảm tình suông. Đôi khi họ ra vẻ tranh đấu cho người nghèo, nhưng chính người nghèo cũng khó tin họ vô tư lợi. Người nghèo nghi họ lắm mưu. Tranh đấu cho địa vị, cho túi tiền riêng, chứ không tranh đấu cho xã-nghĩa.
            Bao giờ hai lực lượng xã-nghĩa này không bị chia rẽ, bao giờ ý thức về tha nhân (sự biết người) nới rộng, thiết tưởng bấy giờ mới có thể có bình đẳng xã hội, bấy giờ Văn hóa và cần lao mới hết mâu thuẫn nhau.
            Nhưng đây là giới hạn của ngôn từ. Chúng ta dùng ngôn từ mà đặt câu hỏi, nhưng trả lời là việc của hành động.


TRẦN VĂN TOÀN

_______________________________________
(1) Vong thân, ý niệm căn bản trong nhân sinh quan của MarxÝ thức Cộng sản trong Đại-Học số 25, 1962, trang 5-32 và 57-75.
(2) Xem bài Ý thức nô lệ, Đại-Học số 27, 1963, trang 349-366.
(3) Xem Nhận xét về sự vong thân của con người trong lời nói, Đại-Học số 30, 1962, trang 867-875.



 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #169 vào: 31/12/2017, 21:20:51 »
NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

Mới nghe cũng nghĩ rằng là thực
Sau ngẫm mà xem một tiếng bòm
– Hồ Xuân Hương

1
            Tỷ dụ là Hồ Xuân Hương có và tất cả cái tác phẩm năm cha và ba mẹ(1) người ta gán cho nàng đều của nàng thì, để bắt đầu, người ta có thể nói rằng mọi vật trong thơ nàng đều chẩy nước. Quả mít chín cây cũng chẩy như những núi đá. Nước có thể nhiều. Khi thì nước tăn-teo như sắp cạn. Ngần ấy nước tuy nhiên đều là nước ở trong ra. Có một giòng thông chẩy giữa trong và ngoài của mọi vật. Lượng của nước tùy sự thông nhau ấy. Sự thông nhau càng lớn, nước càng to, cái vui của thi sĩ càng nhiều. Và giữa một vùng nước lộn trời thì cái vui ấy, tới cùng độ, được gọi là cực lạc:

                        Một vũng tang thương nước lộn trời.
                        Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
                        Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi.
                        Nào nào cực lạc là đâu tá?
                        Cực lạc là đây chín rõ mười!


            Nước cực lạc ấy của nguồn ân và bể ái chứa chan, là nước rất nhiệm mầu. Khôn tát cạn và cũng như ái và ân nó ở trong lòng mọi vật trào ra. Hạnh phúc nó cho là của những tấm lòng son đầy và mở, khi, giữa ngoài và trong, ly gián không còn nữa, tất cả chiều sâu dào dạt lộ ra ngoài. Lẽ dĩ nhiên không phải nước nào cũng cho hạnh phúc. Có nước nhiệm mầu thì có nước mỉa mai. Nó rơi lõm bõm. Nó vỗ tông tông. Ấy là nước hang nghĩa là nước rỗng của những hòn đá rỗng. Khi thì nước chết. Trông nó như vẽ. Và nó trắng xóa và nó phẳng lặng tờ. Mặt phẳng kín ấy, tẻ nhạt và có màu trắng bạc như vôi, là của một thế giới nghèo lòng đã như khóa trái. Nhưng nước nào thì nước và cả sự thiếu nước nữa cũng nhắc đến một chiều sâu. Và tất cả xẩy ra như trong Hồ Xuân Hương mọi vật đều giữ một nguồn nước ẩn. Như tấm lòng son của cái bánh trôi là một kết tinh thể của đào nguyên.


* * *

            Một tầng nước, một tầng thịt và một tấm lòng son ở cuối. Thơ Hồ Xuân Hương mời người ta vào một thực thể địa tầng luận. Càng vào sâu thì thực thể càng đặc, càng chắc và càng nặng. Và tấm lòng son ấy chỉ là thực thể ở mật độ tuyệt đối. Một khối nhỏ. Nhưng son của nó chẳng bao giờ thôi. Ở giữa lòng thực thể nó là cái nguồn không thể nào vơi của thực thể. Và nó có thì cái bánh trôi, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, mới vẫn còn là cái bánh trôi. Hay nói một cách khó nghe hơn thì căn bản của mọi vật ở lòng của chúng.

* * *

            Mà đã có lòng thì chúng có vỏ. Sự phân biệt ấy có lạ gì! Thói thường coi vỏ là thứ bỏ đi và người ta vẫn nghĩ rằng chỉ những cái ở trong mới thật đáng kể. Chẳng hạn một tâm hồn đẹp có thể chuộc lại cả một đời khốn nạn, và người ta có thể làm như mọi người, xu thời, yên phận và gật đầu nhận tất cả những tàn bạo, những áp bức, những oan khổ của đời, miễn là ở trong người ta vẫn khác đời và, như người ta nói, mình lại biết mình là được. Có một cái lòng để sống như thế thật sướng biết mấy! Ấy là cách sống có lề có lối, có gói và két ở băng của những người biết sống, một thì có gái để chơi, một thì vẫn giữ vợ ở nhà để trọng, để quý, để chiều và truyền cho đời sau gia tài và cái nòi biết sống của mình. Nhưng tiếc thay Hồ Xuân Hương không biết sống như thế! Lẽ dĩ nhiên thơ nàng cũng có sự đối nhau giữa ngoài và trong. Cái ở ngoài, có tay ai khác nặn thường không thực. Ấy là thể và phần của tất cả những xuyên tạc. Sau những xuyên tạc ấy tuy nhiên, Hồ Xuân Hương tin là vẫn có, trường tồn, một cái nhân nguyên ủy. Nhưng mộng của nàng là làm thế nào cho cái nhân ấy được giải phóng. Thơ nàng không phải là thơ của những cuộc đời đã tháo lui vào thế giới ở trong. Nàng không ca ngợi nội tâm, như người ta đã ca ngợi chữ trinh còn lại của Thúy Kiều, là cái két tự để dành của những tâm hồn chọn lọc. Mà nói đến nội tâm, trong thơ nàng, như một sự sống cũng không thể. Cái ở trong còn ở trong thì sống chỉ là sống tù, sống mượn, sống giả. Và Hồ Xuân Hương đòi người ta sống theo lòng mình nghĩa là sống tự do, sống mở và sống cho cũng như, để có cái biết thực trong thâm tình của mọi vật, nàng đòi người ta xé vỏ chúng. Thơ nàng không ngừng tố giác những xuyên tạc của ngoại thể và đạo lý của nàng không là cái đạo lý khôn ngoan của những người mượn cái tốt ở trong để minh oan cho cái xấu ở ngoài. Mà nàng cũng không so cái tốt ở ngoài và cái xấu ở trong để, một lần nữa, như tất cả mọi người, nguyền rủa những đồ rẻ cùi nhưng đẹp mã. Xấu và tốt, những thứ loại của cái đạo lý xã hội, đã mất nghĩa. Chỉ có một cái xấu. Là cái họa của những đời không thực, khi, trong và ngoài gián đoạn, người ta, chẳng biết lòng mình đâu và chỗ nào là lòng mọi vật. Đành sống điêu trên một thế giới xa nguồn.


2
            Cái bánh trôi thì trái lại vẫn giữ tấm lòng son của nó. Mà nó không dấu, mà nó vẫn khoe, và thế nghĩa là, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, nó và lòng của nó vẫn là một. Hạnh phúc của nó là không có bí mật và được lội và nổichìm trong nước ngọt và nhiều. Chìm và nổi lẽ dĩ nhiên chỉ là những kiểu nói trái. Và ai cũng biết rằng cuộc trầm luân ấy của cái bánh trôi là một cuộc tắm mình giữa một giòng cực lạc mà ngay nó lại là nguồn.
            Có một Hồ Xuân Hương trèo thì cũng có một Hồ Xuân Hương bơi. Nhưng trèo là đi ngược chiều đất nổi sóng mà bơi là để mình xuôi theo một giòng lành. Ấy là một chuyến thủy du nhiệm mầu. Lâng lâng êm ái và rất nhẹ nhàng, không cần một cố gắng nào, tự nhiên người ta thấy mình ở giữa vùng cực lạc. Cực lạc không tìm thì cũng gặp. Tại nó chỉ là cực lạc của lòng mình. Mình lại trùng với mình. Nhưng mình trùng với mình ở giữa lòng thế giới. Tại thế giới đầy và giầu nên lòng người ta giầu và đầy. Và ngược lại thế giới đến người ta nhiều như chim đến vườn đào là tại như vườn đào lòng người ta nhiều và mở. Lòng người ta là ái thì lòng thế giới là ân. Người ta đã ngọt ngào thả mình xuống thì ngọt ngào thế giới đón và chở và mang. Thế giới và người ta là một cũng như bơi là sống một lòng với nước. Cái bánh trôi và nước quanh nó đồng tâm, và tấm lòng son ấy là cái nguồn chung của tất cả. Tất cả đều thông nhau, tất cả đều chung một chất, và thịt cái bánh trôi, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, vẫn không ngớt nở làm thịt hoa. Nó nở trắngtròn.
            Tròn là sung mãn. Là thuận, là thuần và gọi vuốt ve cũng như mầu trắng ấy người ta biết của một xác thịt tự do nghĩa là ngọt và dẻo và rất nõn nà. Nhưng tròn cũng có nghĩa là chu toàn nữa. Thực thể tròn là thực thể không tan trong thực thể. Như cái bánh trôi chìm trong nước nhưng vẫn giữ tấm lòng son và, chan hòa ở giữa lòng thế giới, người ta lại gặp lòng người ta thực hiện. Cái nguồn cực lạc, vẫn trào ra nhưng không thể cạn, cũng là cái nhân của một sự trường tồn. Vừa là lưu thủy nó vừa là kết tinh. Nó xòe khắp mênh mông và cả mênh mông lại trở về nó tụ hội. Nghĩa là có nó làm trung tâm, mênh mông là một mênh mông tròn. Hình tròn ấy không vẽ một giới hạn, nhưng, giữa mênh mông và trung tâm của nó, nó là cái nhịp ba-động – không ngừng chuyển trong ra ngoài và, cùng một lúc, ngược lại, chuyển ngoài vào trong – của cái phận tròn của cái bánh trôi ngay ở tấm lòng son của nó đã gặp cả mênh mông và, giữa mênh mông, vẫn giữ nguyên tấm lòng son của nó. Như một thống-nhất-điểm.
            Ấy là một điểm mênh mông. Nhưng mênh mông không là chỗ người ta thất lạc nữa. Có mênh mông có mặt trong một điểm. Mọi quãng cách đều mất. Cuộc đời không tìm mà gặp. Thì sống là biết, biết là ái ân, tự do và thực thể tương kết, người và vật đồng tâm mà vẫn giữ lòng riêng. Người ta vẫn là người ta, thế giới vẫn là thế giới, và cực lạc, như một cuộc tương biến giữa trung-tâm-điểm và mênh-mông, giữ nguyên sự kín đáo ấy ngay trong sự chan hòa. Như tấm lòng son của cái bánh trôi, vừa là đá đang hóa nước vừa là nước đang hóa đá, là nơi tất cả, thả mình trong một cái nguồn chung, lại tự thu tròn một sự sung mãn riêng. Tất cả đều thuận nhau, tại tất cả đều cùng một gốc. Và có gốc thì tất cả đều thực. Tròn là tròn, trắng là trắng, son là son. Ấy là những chữ sáng và đầy và mịn và sâu. Và chúng cũng thuận nhau như những gì chúng gọi tên để gọi tên cho đúng trong một ngôn ngữ nhịp nhàng. Không những chúng vẽ ra những thể rất ngọt ngào mà sự ngọt ngào chúng cho người ta thấy còn là của một chất. Ngôn ngữ lên từ lòng thế giới, ở chỗ người ta và thế giới trùng nhau, để dẫn người ta vào thâm tình của thế giới. Hay nói đúng hơn thì tất cả thâm tình của thế giới đã sáng trên mặt chữ. Và trên mặt cuộc đời.


* * *

            Hạnh phúc ấy tuy nhiên trong Hồ Xuân Hương chẳng mấy lần được gặp. Mà nó ở giai đoạn nào trong thơ nàng? Không ai biết? Nhưng có lẽ người ta đã biết rằng nó là cái nàng vẫn tin là có và vẫn chờ. Nàng chờ nó ở sự xuất hiện của cái lòng của mọi vật. Nhưng mọi vật chỉ cho người ta thấy cái vỏ của chúng. Lòng thế giới đóng, nguồn nước ẩn, và thơ Hồ Xuân Hương chạy theo dấu của một đào nguyên đã lánh trần. Như nước của cái giếng thanh tân lẫn cuối một ngõ xa thăm thẳm.


3
            A! Cái giếng thanh tân mà Hồ Xuân Hương gọi là một cái giếng lạ lùng! Nàng vừa mong được thấy nó vừa ngạc nhiên trước một khám phá không ngờ. Ấy là sự không ngờ của những lần gặp đầu tiên. Và lẽ dĩ nhiên sự không ngờ ấy chỉ có một nửa. Không ngờ thì làm sao khám phá? Ít nhất thì Hồ Xuân Hương cũng đã ngờ rằng tất cả thế giới không có mặt ở cái trật tự ngoại tại của nó và có ngờ nghĩa là có đã sống cái trật tự ấy như sự thiếu một cái gì căn bản thì nàng mới tìm cách đi vào trong để khám phá rằng cái trật tự ấy chỉ là một cái vỏ và, sau nó, có sự ngọt ngào của một giếng mới, người ta đang chờ mà người ta không biết là người ta đang chờ, vẫn đang chờ người ta.
            Giếng thì đẹp. Và nước trong. Nhưng nước trong giếng là nước đã vào khuôn. Cái giòng thông của nó không thông tuyệt đối. Mà người ta cũng chỉ là kẻ đứng trên bờ. Để ngó, để thèm. Thấy giếng thanh tân ai là chẳng? Nhưng lẻn trong sự thèm ấy có một phần e ngại:

                        Đố ai dám thả nạ rống rồng?

Hóa ra sự cám dỗ của nước cũng là một thách đố. Như cái thú thung thăng lội giữa giòng là một thú cấm. Nước của cái giếng ấy không phải là nước chẩy giữa đường, đại lượng và ai cũng có thể đi vào. Nó của riêng và, như một tư hữu, người qua đường không có quyền xâm phạm. Mà chẳng ai có quyền. Nước thanh tân đâu có để người dùng. Chủ nhân nó cũng chỉ là người có trách nhiệm giữ nó thanh tân. Sự thanh của nó là của nước thiêng cũng như nó là nước thiêng của lòng đất. Vượt cái ngõ sâu thăm thẳm dẫn đến giòng nước ấy vừa là vượt một tầng ly gián vừa là vượt một vòng giới nghiêm. Ấy là một sự gây hấn, một cuộc tấn công, một cử chỉ xâm đoạt. Khám phá của Hồ Xuân Hương có tất cả những tính cách của bạo động. Và nàng cũng khám phá rằng có bạo động thì người ta mới khám phá thấy được lòng mọi vật. Khám phá nghĩa như là khám phá. Lòng mọi vật đang bị tù. Nó chờ được giải phóng. Và ở giữa nó và người ta vẫn chặn một cái vỏ xù xì.
            Cái vỏ ấy có thể, như cái cửa ngõ chặn đường tới giếng chẳng hạn, là một trật tự do xã hội xếp đặt. Nhưng xã hội chỉ xếp đặt – và ấy là sự thiếu căn bản của tất cả những trật tự – một cái vỏ vốn có của mọi vật làm sẵn như để giữ mình. Mà để nói thật thì cái vỏ ấy ở đâu lại Hồ Xuân Hương cũng chẳng để ý. Quan trọng là nó có. Nó chặt đôi thực thể. Một nửa thì nó cấm ở ngoài. Và nó cầm ở trong một nửa. Trong là đề lao thì ngoài là ngục thất. Cuộc sống ở đằng nào cũng bị nhốt. Ngoài, quân tử dùng dằng đi chẳng rứt thì trong, một lạch đào nguyên suối chửa thông. Hai cảnh ngộ nhưng của cùng một sự bế tắc. Cái lòng của mọi vật đã khóa lại thì kẻ qua đường cũng quẩn lối về. Sự dùng dằng của người quân tử là của một tự do đã mắc cạm. Ấy là cái cạm của ngoại thể. Như người “thiếu nữ ngủ ngày”, là cái máy dử người ta vào thế bí. Cách lõa trang của nàng cám đỗ người ta lại. Nhưng người ta lại thì nàng lại trốn vào một giấc ngủ thờ ơ. Vừa thờ ơ cảnh vừa cám dỗ. Cũng như thơ nàng, trong thơ Hồ Xuân Hương, cảnh thường lưỡng-ý. Ý của cảnh ngược nhau như ý nào cũng chỉ có nửa chừng nghĩa là chưa có đã có cái ý khác chặn đường để, kết luận, người ta chẳng biết ý nào là thực. Nói một đằng cảnh chằng một nẻo. Vừa gọi người ta nó vừa đào tẩu. Sự ỡm ờ ấy làm cái điêu trác của ngoại thể. Nửa nạc nửa mỡ, nửa hở nửa kín, ngoại thể lừa người ta và người ta lạc trong một trò hú tim không thể giải quyết. Hay nói đúng hơn thì chỉ có một cách giải quyết cho cảnh úp mở ấy. Là sự tỉnh giấc của cái nguồn đang ngủ. Nhưng cái nguồn vẫn ngủ và người quân tử, không biết đâu mà lần, đi thì cũng dở, ở không xong. Những mâu thuẫn của ngoại thể chuyền tay nhau giữ hắn và giằng co. Hắn gỡ ra không nổi. Như một người sờ mít nhựa ra tay.
            Cảnh nhầy nhụa ấy là một cảnh sa lầy nữa. Vẫn một cái họa của cuộc đời bị tống ra ngoài vỏ! Ngoài là chỗ tự do, chỉ tựu thành khi cùng lòng mọi vật tương kết như còn chửa biết mình. Nó không dám tự xưng. Và nếu ngoại thể còn làm nó sa lầy thì cũng tại nó còn sa lầy ngay trong nó. Nhựa ra tay người ta tại người ta vẫn dùng dằng chưa quyết. Lẽ dĩ nhiên nhựa ở lòng quả mít ra. Của lòng mít và của lòng đất (nghĩa là của lòng thế giới như trong Hồ Xuân Hương lòng của vật nào cũng là trung tâm của tất cả). Nhưng nước lòng ấy không trong và thoải mái. Mà đâu nó còn thật là nước? Nó là nhựa nghĩa là một thứ nước thiếu thật thà, nhầy nhụa và phản trắc đã lỡ mó vào là trở tay không kịp nữa. Như chính tay người ta đang chẩy nhựa. Không cứng như đá trong một thể nhất định nhựa cũng không lỏng như nước sẵn sàng mượn nghìn thể khác nhau nghĩa là, như một tự do tuyệt đối ở thể nào cũng thuận và có sức chứa chan hòa có thể cưới được cả mênh mông. Nó là một chất nhựa thành chất, nửa muốn chan hòa, nửa muốn keo lại, và dở dang như chính người quân tử, chẳng biết mình muốn gì, tự giam vào những cử chỉ thậm thụt, khả nghi và gian lậu. Thì làm sao hắn giải phóng được gì? Khi ngay hắn còn chưa thể tự giải phóng! Và cảnh nhựa ra tay làm chứng cho một sự khó ở trong mọi vật cũng như ở lòng người. Nửa như muốn, nửa như không, người ta mân mó, ngó ngoáy, châm chọc. Những cử chỉ thậm thụt ấy như tìm cách đánh thức cái nguồn đang ngủ. Và đôi khi cái nguồn ấy cũng tự nhiên chợt tỉnh giấc. Quả mít chẩy nhựa. Ong non ngứa nọc, Dê con buồn sừng. Như cả một chiều sâu ngọ nguậy đang cố sức ngoi ra ngoài. Nhưng sức không đủ, vỏ không chịu vỡ và người ta chỉ có những thể nhỡ nhàng. Của cỏ gà lún phún, của siêu hương lấp ló, của nước mó lam nham. Những tĩnh tự vô phúc ấy chỉ nhắc lại, một lần nữa, sự vô phúc của vẫn một cảnh úp mở và ỡm ờ.
            Ấy cũng là sự vô phúc của cảm giác. Không những cảm giác, như một cái biết qua ngũ quan, nhốt người ta vào những mâu thuẫn của ngoại thể mà ngoại thể, như một cái vỏ xù xì và nhầy nhụa, chỉ cho người ta những cảm giác khốn nạn nhất. Mà thật thế. Sướng gì khi sờ thì thấy lún phún, nhòm thì thấy lấp ló, thì thấy lam nham. Ngần ấy cảm giác nhưng vẫn chỉ một cái biết ngoài da ấy là một cái họa. Nhưng sự sung mãn của một vùng nước chan hòa vẫn chờ người ta ở giữa lòng thực thể. Và cái lòng ấy vẫn chờ được giải phóng. Hóa ra sự ỡm ờ của mọi vật chỉ là một cách gọi bạo động! Cũng như bạo động là cách độc nhất để phá sự ỡm ờ của mọi vật và bắt chúng tự xưng. Con ốc nhồi chờ được bóc yếm. Quả mít chín chờ được cắm cọc. Tất cả đều chờ người ta xé vỏ chúng. Vừa là một giải phóng tri thức vừa là một cưỡng dâm.



4
            Nhưng không phải ngẫu nhiên mà trong Hồ Xuân Hương người ta gặp những thể bạo động ấy của nhục tình trong cuộc tuy-tầm cái biết thực. Thiên đường cái biết thực, như một sự chan hòa trong lòng thực thể, có khác gì cực lạc của nhục tình, khi lòng thực thể chan hòa những người yêu? Ấy chỉ là những kiểu khác nhau của thực thể để đạt tới lòng mình. Nhưng để thành công chúng đòi làm nổ tung lên những gì đang chặt đôi thực thể. Và trong Hồ Xuân Hương có một cái thú của sự công phá. Núi của nàng đâm toạc chân mây và nàng dang tayxoạc cẳng, như tự vỡ xác, để ôm chầm lấy thế giới. Xoạc và toạc là những chữ nổ và xé. Ấy là những chữ, như cắm cọc và bóc yếm nặng nghĩa của nhục tình. Nhưng có lẽ người ta đã biết rằng Hồ Xuân Hương không săn trong nhục tình những mồi ngon cho ngũ giác cũng như nghệ thuật tả cảnh của nàng, như người ta sẽ thấy, không tả nhưng để phá cảnh. Cảnh càng ngoạn mục thì nàng càng ngó mắt nhòm. Hẳn cái nhòm ấy không dễ thưởng lãm. Nhòm là một cái nhìn soi móc và tọc mạch như, sốt ruột trước những gì trông thấy được, Hồ Xuân Hương muốn đâm thủng cái vỏ vui mắt ấy để, lột truồng mọi vật, trả lại cảnh thực tính của nó. Không phải ngẫu nhiên mà cái cảnh cực lạc độc nhất trong thơ nàng là một vũng tang thương! Có tang thương nghĩa là trời có long, đất có lở, thế giới có vỡ vỏ thì lòng thế giới mới ồ ra làm cho nước lộn trời. Sự sụp đổ của những trật tự trong những cuộc đổi đời, là ngần ấy dịp may cho thực thể trở thành. Và Hồ Xuân Hương ghét những trật tự như nàng ghét những gì người ta gọi là ngoạn mục. Lòng người thi sĩ ấy tưng bừng reo như dào dạt nguồn thơ đúng lúc, thế giới chỉ còn là một vùng nước thuần nhất và mênh mông, nàng không có gì để ngắm và tả nữa cho đẹp mắt người đời. Mộng của nàng là một ngày hồng thủy và tất cả những công phá thơ nàng náo nứt gọi là để cướp lại một sự êm ái không bờ. Nghĩa là nàng không gọi chúng để làm đau xác thịt. Thú bạo động trong thơ nàng không là thú ác dâm. Nhưng của một sức mạnh tưng bừng thủ tiêu tất cả những giới hạn. Cũng như khi sức mạnh ấy chưa thức dậy thì chỉ có một sự thụ động vừa giữ người quân tử dùng dằng vừa đóng cửa đào nguyên, từ giờ, sức mạnh ấy, vừa ở lòng mọi vật vọt ra vừa ở ngoài xông vào, cũng chỉ có một. Ấy là sức mạnh của cả thực thể đang vùng lên để tự thực hiện. Núi chợt cao vút và theo cùng một nhịp, người ta thấy Hồ Xuân Hương ráng sức trèo.


5
            Trèo là một bước đi chinh phục. Sự dùng đằng xưa đã hết. Người ta mở cuộc tấn công và, ôm lấy núi, nhất quyết vật quả núi cao để cướp cho kỳ được cái lòng đất núi đang giữ. Nhưng một đằng khác thì có núi là tại lòng đất đã nổi sóng. Và sự quật khởi ấy làm thông trồi. Thông là sự vọt lên. Và liễu mềm, liễu rũ, liễu tuôn như một sự trào ra và người ta không ngạc nhiên thấy, trên những giòng lá xanh của liễu, có sương chẩy đầm đìa. Như cả lòng đất, trước những nỗ lực để giải phóng nó, cũng nỗ lực vùng lên tiếp ứng. Và Hồ Xuân Hương, để tiếp ứng cho sự vùng lên ấy, lại càng nỗ lực trèo. Càng trèo thì, lạ thay! Núi lại càng cao. Núi này trèo chưa hết thì đã thấy núi khác đứng chờ. Hay nói đúng hơn thì vẫn một núi ấy. Khi người ta tưởng nó sắp thua thì nó đã chạy thoát và đứng trước mặt người ta trêu ngươi và diễu cợt để, cứ thế mãi, một đèo, một đèo, lại một đèo, không bao giờ người ta bắt được nó. Trò hú tim lại tiếp tục. Ai trèo thì cứ tha hồ trèo. Và có trèo đến mỏi gối, chồn chân, vẫn muốn trèo. Sự thỏa mãn không thể có. Cái thèm vẫn không hết. Vẫn không hết khát vẫn không gặp được nguồn cực lạc và, khoe sức là vẫn muốn trèo, Hồ Xuân Hương chỉ thú nhận một thất bại không cùng. Thoạt tiên thì người ta nghĩ rằng lòng đất vùng lên để trả lời sự tấn công của người ta. Nhưng sự vùng lên ấy đã chết đứng. Thông là gỗ. Núi là đá. Tất cả xẩy ra như lòng đất đã mất và cái gì chờ người ta không phải là sự sung mãn trong thực thể nhưng là sự chóng mặt trước chân không. Như càng trèo thì người ta càng thiếu chỗ đứng và không những người ta mất lòng đất mà cả mặt đất và tất cả những gì người ta vẫn dựa vào để sống cũng cứ mất dần dưới gót chân người ta và rốt cuộc, sau khi đã vượt tất cả, hết chỗ bám, người ta thấy mình lửng giữa trời ở cuối một cảnh cheo leo.
            Ấy là một cảnh đá tạc. Tạc cũng như đẽo là bạo động. Người ta đã lấy những khí giới bén để chém vào cảnh. Nhưng sự phá cảnh ấy chỉ tạc cảnh nghĩa là đổi cảnh ra những thể cứng, đặc và cằn. Cảnh đâm trơ ra như đã bị vạc mất vỏ. Nhưng cái lòng còn lại của nó chỉ là một mặt đá già không có tuổi. Thì còn đào nguyên nào nữa để chan hòa? Sự xuất hiện của cảnh đá tạc trong Hồ Xuân Hương có nghĩa là bạo động đã thua. Nhưng thua thì thua, cố níu lấy con! Hồ Xuân Hương chưa thỏa. Nàng chưa tuyệt vọng. Nàng vẫn muốn trèo. Và trên đèo Ba Dội, thông và liễu và nhiều màu khác nữa, át sự đe dọa của đá, làm người ta tưởng thế giới vẫn dồi dào. Nhưng đá vẫn có và, dưới cảnh sặc sỡ, thế giới đã cứng lại. Thì sặc sỡ thế là điêu. Ai tuy nhiên sẽ bảo rằng thế là lần thứ nhất với Hồ Xuân Hương người ta thấy trong và ngoài chửi nhau! Mùi mít dầy chửi cái vỏ xù xì của mít. Thì ngược lại giờ tảng đá xấu xí làm thất ước cả một vùng sắc khoe tươi. Vẫn một mâu thuẫn ấy! Nhưng thế giới Hồ Xuân Hương đã bị đảo lộn trong căn bản. Xưa nó tại nội thì giờ nó tại ngoại. Hình như tất cả chiều sâu của nó đã bị trục xuất lên mặt. Nhưng lên mặt rồi thì còn gì là chiều sâu nữa? Và người ta có một thế giới ngoài thì sặc sỡ nhưng trong đã cạn rồi. Hóa ra Hồ Xuân Hương ép được lòng thế giới xuất hiện để lại mất nó ngay. Nó đã hóa ra ngoại thể. Sự xuất hiện ấy của nó là một sa đọa. Và thế giới tại ngoại của Hồ Xuân Hương không là thế giới trong nguyên tính của nó mà một thế giới lại càng giả tạo, tại đã mất gốc trong thực thể, lại càng vô phúc, tại nó giam người ta trong cái họa của cảm giác, lại càng tuyệt vọng, tại không còn nguồn cực lạc nào ước hẹn nữa trên đời. Kết luận là bạo động không trả cho Hồ Xuân Hương sự sung mãn nàng chờ. Nó làm cho thế giới thêm đốn. Xưa thì nguồn ẩn. Giờ thì nguồn tuyệt tăm. Cuộc sống thực như không thể nào có. Và đi tìm; cuộc sống thực trong thâm tình của thế giới Hồ Xuân Hương khám phá rằng thế giới chỉ có để từ chối người ta. Sự ly gián giữa thế giới và người ta trở nên tuyệt đối. Người ta và thế giới trở nên đối nghịch nhau. Không đối nghịch nhau sao được khi người ta đã chọn bạo động để cướp lòng thế giới? Lòng thế giới có cướp được chăng nữa thì, xuất hiện trong cảnh đối nghịch ấy, xa trước mặt người ta, nó cũng không còn là cái lòng để người ta sống đẹp và chan hòa. Nó đã hóa ra ngoại thể. Và thế giới trở nên sặc sỡ để nghèo đi, ngay trong khi, gây cảnh đối nghịch nhau giữa người ta và thế giới, bạo động của người ta làm thế giới cứng lại. Thế giới đã hóa đá. Thì lòng đá ở đâu? Nó đã bị lột truồng. Nhưng nó lại càng kín. Và nó nhốt người ta ra ngoài, cheo leo, trên một vực thẳm.
            Vực không chỉ ở ngoài. Trong còn một vực nữa. Ấy là những khi đá nứtbầy ra một lỗ hỏm hòm hom. Những cái hang ấy dẫn người ta vào trong đá. Cái người ta vào tuy nhiên chỉ là một vùng vô ngạn tối om om. Ai biết đâu lòng đá chẳng ở giữa cái đêm mênh mông ấy! Và để tới trung tâm nhiệm mầu của nó, có lẽ người ta phải tin ở đêm và, như một con thuyền vô trạo, thả mình cho đêm lôi đi khắp mênh mông. Có lẽ phải thất lạc trong mênh mông, người ta mới có thể gặp lòng đêm để, thu mênh mông vào một điểm, ở lòng đêm lại gặp lòng mình. Nhưng Hồ Xuân Hương không đi theo những cám dỗ của đêm. Ấy chỉ là đêm của đá. Và đá là thế giới khi người ta và thế giới đối nghịch nhau. Thì làm sao trong đêm của đá Hồ Xuân Hương có thể thả mình xuống chan hòa? Mà không thể chan hòa là vẫn bị tù trong cái biết khốn nạn của cảm giác. Người ta lại sờ, lại mó, lại nhòm. Sự mở lòng của đá, trước cái nhòm soi móc ấy, chỉ là một sự hớ hênh. Và cái lòng của đá người ta chỉ biết trong một cái nhòm là một cái lòng có cũng như không có. Nó không còn là nơi của cực lạc. Và người ta hiểu tại sao chưa vào trong đá Hồ Xuân Hương đã nhạo là trong đá chẳng có gì. Cái lỗ hỏm hòm hom ấy mới thấy đã kêu to là nó rỗng. Như cảnh tối om om nó dẫn người ta vào. Hóa ra bạo động làm thế giới hóa đá giờ cũng làm Hồ Xuân Hương, giữa lòng đá, chỉ thấy có chân không. Cái nguồn cực lạc thật đã mất tích. Và có giọt nước hữu tình nào rơi thì, trên một mặt nước tù và lạnh như đã hóa khoáng, nó cũng chỉ rơi lõm bõm. Như gió vỗ phập phòm trong những hốc đá. Những chữ tượng thanh ấy cũng như những chữ khác tương tự, lẽ dĩ nhiên Hồ Xuân Hương không chỉ dùng tại chúng khó có vần và lạ, nhưng để lấy chúng nhại cái chân không đang dọa nàng. Nàng nhại bóng tối, nàng chế chiều sâu, nàng cười lòng đá. Lòng đá bị nhạo báng. Nghĩa là nó hết thiêng. Và người ta khám phá rằng những bí mật của nó toàn là ảo tưởng. Nó chẳng dấu một nguồn nước nhiệm mầu nào và, ngoài đêm, người ta chỉ gặp một khoảng trống vô cùng. Thế là mộng đào nguyên vỡ và tiếng Hồ Xuân Hương cười diễu cợt, xé tan giấc mộng ấy, lôi người ta về sự nông cạn của cuộc sống thường ngày. Quanh người ta, những vách đá lại trơ toen toẻn, lại mó lam nham, lại sờ rậm rạp. Như để nhắc người ta rằng trong đá người ta vẫn ở ngoài đá. Sự ly gián giữa ngoài và trong không thể vượt. Và Hồ Xuân Hương đành chịu cầm cố ở ngoài. Nhưng nàng đã hết ảo tưởng. Và những mặt đá trụi của nàng vừa tố giác, trong sự khéo tạc cứng và khôi hài của nó, cái điêu trác của ngoại thể vừa làm chứng cho một thế giới đã toi nguồn.
            Tuy nhiên người ta có thể nghe rằng đã trụi thì đá là một chất thật thà. Ấy là cái thật thà của sự trơ ra đó. Và đá như chỉ tự xưng để khỏi phải trả lời. Khi nó trụi là khi nó kín. Khi nó đầy là khi nó đặc. Sự đặc ấy là nghịch họa của sự sung mãn. Vừa đặc đá vừa rỗng. Nó đặc tại nó không ngừng từ chối người ta. Nó rỗng tại người ta không thấy gì trong nó. Tất cả xẩy ra như nó không có gì. Nhưng nó có. Và tịch mịch và trêu ngươi, nó tóm tắt, trong sự có mặt câm của nó cái bí mật của sự có mặt của thế giới. Hơn một lần người ta thấy Hồ Xuân Hương tra vấn đá! Mộng của nàng là giải quyết cái bí mật của đá trong một ngày nước lộn trời. Nhưng nước nào có thể làm đá chẩy đến những chân trời xa nhất để, trời và đá làm một, thạch liên thiên trong một vùng nước chan hòa đá lại về quê hương cũ của mình? A!

                        Thiên thạch nguyên lai bản thậm huyền
                        Nhất triều vân vũ thạch liên thiên
(2)

            Người ta kể rằng trong con người của những câu thơ ấy Hồ Xuân Hương đã thấy một tâm hồn tri kỷ. Giờ thì người ta hiểu tại sao. Nhưng thế giới đã cạn, đào nguyên đã mất, thì có đâm toạc chân mây cũng không làm sa một giọt nước! Và cái nhịp vùng lên ấy rốt cuộc, chỉ để rớt lại, đá mấy hòn trơ ra như tang chứng của một sa đọa không thể vãn hồi. Nó không còn là đá ở lòng đất lên nữa. Người ta bảo nó ở cái khoảng trống ở trên trời xuống. Ấy là một cách khác để nói rằng nó ở chân không ra. Và thế giới chỉ là một câu hỏi đặc và không có trả lời.
            Mà trả lời gì một tảng đá vô tri giác? Người ta không thể nào hiểu nó. Nó là sự có mặt rất bướng đầu. Nhưng sự có mặt ấy ở chân không ra chỉ là một chút chân không sa đọa, một sự có mặt không có thực, một hiện thể không có nguyên nhân và tuy rất bướng, rất đặc, rất lầm lỳ, cũng không có hơn là một ảo ảnh. Cho nên đi tìm nguồn, tìm gốc, tìm rễ của nó người ta chỉ gặp những khoảng trống lớn. Hay nói tóm lại thì sự có mặt cũng chỉ có như một vực thẳm. Và vực kia là vực của chân không. Cheo leo giữa hai vực ấy – tuy cả hai chỉ là một – con người trên thế giới là một kẻ sẽ đi qua. Nhưng ảo ảnh của thế giới sẽ còn mãi. Tại thế giới là đá và đá, cũng như thể tròn của cái bánh trôi chỉ là sự sung mãn của một chất, là một chất chỉ là thể. Nghĩa là làm gì nó người ta cũng chỉ có những thể. Càng làm thì thể càng khéo tạc. Mà càng khéo tạc thì thể càng điêu trác. A! Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc! Ai thì ai không cần biết. Chỉ biết rằng những thể của đá là của ai khác đẽo chứ không của đá tự nhiên thành. Và những tác động của người ta, lấy thể này hay thể khác, không thể nào chuyển được lòng thế giới và làm đá không còn là đá. Thể chỉ là trò chơi mà đá nếu là ảo ảnh thì cũng là sự trường tồn. Lẽ dĩ nhiên đá sẵn sàng nhận tất cả những thể người ta khéo tạc cho nó. Nhưng thể lại càng tỏ rằng giữa đá và những thể người ta tạc cho nó không có một tương quan nào thiết yếu. Thể nào cũng điệu như thể nào. Cái khéo của thể ghẹo đá, nhưng đá thản nhiên ghẹo cái khéo ấy và tất cả những công cốc của người.



6
            Cho nên chữ khéo trong Hồ Xuân Hương thường có một nghĩa mỉa mai. Nó tố giác một sự bày đặt không có căn bản nào trong mọi vật. Khi mọi vật có lòng thì cái vỏ chúng xù xì. Nó không khéo, không có ai đẽo, không có ai tạc. Sự cục mịch của nó, một đàng có thể gọi là điêu trác, một đằng khác, cũng giống như một sự thật thà. Nó thô và chất phác. Và thoạt trông người ta biết rằng ở sau nó có một cái lòng đầy. Mà thật thế. Nó chỉ là sự đông lại của một chất ở trong mọi vật tiết ra. Vừa giam lòng mọi vật nó vừa làm chứng rằng mọi vật có lòng. Nhưng cái lòng ấy mất trong bạo động thì người ta có độc những thể khéo tạc. Ấy là những thể tuyệt đối giả tạo. Và nghèo và nguệch ngoạc và xương xẩu. Như tất cả thế giới từ trong ra ngoài đã chết cứng. Thì trên thế giới ấy sự sống cũng chỉ là một sự sống vờ. Của cỏ gà và của rêu nham nhở. Ngay cả thông nữa mới ở lòng đất vọt ra đã lắt lẻo như không có rễ. Và tất cả đều sộc sệchchênh vênhlộn phèo.(3) Lẽ dĩ nhiên không phải Hồ Xuân Hương thấy chúng như thế. Nhưng nàng vặn cổ mọi vật, sô lệch chúng, làm chúng mất quân bình như để bắt chúng phải bỏ cái chỗ thường ngày của chúng để tự xưng. Khổ là chúng không có gì để xưng nữa. Và Hồ Xuân Hương đi phá cảnh chỉ làm cho cảnh bị sái. Mà bị sái là không có căn bản nào trong thực thể. Nhưng thể của cảnh chỉ là những thể không đâu. Không cái nguồn chung nào làm chúng thuận nhau. Thì cái cảnh thường, khi người ta tưởng là thuận, cũng là một cảnh vốn đã sái rồi. Nhưng có làm sái cảnh thì người ta mới biết là cảnh vốn sái. Hóa ra làm sái cảnh cũng là một cách khác để tả cảnh. Cảnh nào cũng là cảnh của sự tương nghịch thì làm sái cảnh, thơ Hồ Xuân Hương chỉ nhại những thể của cảnh như một nghịch-họa và, như một nghịch-họa nó nhại ngay chính nó.
            Và thế là cái thời đã hết của thơ như một ngôn ngữ đầy. Thế giới khi ấy yên nghỉ trong sung mãn và thơ Hồ Xuân Hương, dạy từ lòng tin ở sự sung mãn ấy là sự sung mãn ấy nên lời. Người làm thơ nói thay lời mọi vật. Và những chữ của nàng đều giản dị và tầm thường, nhưng chữ nào cũng đậm, tại trong chữ nào cũng vẫn một chiều sâu nồng nàn. Nhưng chiều sâu ấy mất thì những chữ cũng như thiếu mật độ. Chữ trắng như không đủ trắng nữa. Và để nói cho thực trắng, để trắng không chỉ là một màu mà còn là một chất, người ta có một cách là thêm chữ. Oái oăm thay của từ chương là, càng ngờ ngôn ngữ không nói thực thì, để nói thực, người ta càng nói nhiều và, lấy ngôn ngữ để thực hiện mọi vật, rốt cuộc, người ta chỉ gây một ngôn ngữ quá đáng. Nhưng vừa tỏ ý muốn thực hiện mọi vật ngôn ngữ quá đáng của Hồ Xuân Hương vừa làm chứng rằng sự thực hiện ấy đã thất bại. Càng làm như thực, người ta càng sảo tác và càng thêm chữ thì ngôn ngữ lại càng nói ngọng và làm mọi vật càng nguệch ngoạc và thêm thơ. Trắng xóa chẳng hạn trắng hơn là trắng, nhưng màu trắng ấy như chát lên trên và trâng tráo, và những chữ thêm vào những tĩnh tự tả màu của Hồ Xuân Hương chỉ làm cho màu thêm lòe loẹt, sặc sỡ, nhố nhăng. Ấy không là những màu có sâu trong chất nở ra nhưng là những màu bôi xấu. Và Hồ Xuân Hương bôi xấu mọi vật cũng như nàng vẽ chúng nguyệch ngoạc để tố giác một thế giới chỉ có mặt ngoài. Hình thể sai lệch, đường nét gẫy khúc, âm thanh xô xát, màu sắc chửi nhau. Ở chỗ nào người ta cũng chỉ gặp một sự tương nghịch. Thì dù những chữ như đỏ lòm, chín mõm mòm có làm người ta tưởng thế giới đang thối nghĩa là có một sự sống ở trong thì sự sống thối ấy cũng chỉ làm người ta nực cười. Cũng như xanh om không là xanh thẫm nhưng cái rỗng nực cười của màu xanh. Và của chữ xanh. Những chữ của Hồ Xuân Hương, trong sự quá đáng của chúng, tự thú là những chữ rỗng, và ngay khi, trong những câu như:

                        Gió thổi cành thông rung lắc cắc
                        Sóng dồn mặt nước vỗ tông tông


người ta thấy chúng tượng thanh như để bắt chước cho thật đúng những sự chúng tả thì chúng cũng chỉ nhại những sự vật ấy và những công cốc của chúng để thành một ngôn ngữ thực. Những tượng thanh ấy chỉ là những nghịch thanh! Và cái ngôn ngữ người ta tưởng là thực không thực hơn là cái ngôn ngữ ấy ái uông của những người nói ngọng. Ấy chỉ là hai kiểu nói ngọng khác nhau. Ngôn ngữ thực không có. Và thơ như một nghệ thuật ngôn ngữ chỉ là một chuyện không đâu. Mà càng ý thức được sự không đâu của nó thì thơ càng cầu kỳ. Cái khó của đường luật không đủ. Hồ Xuân Hương còn thêm vào cái khó của những vần oái oăm, của những chữ vặn méo và những câu lưỡng ý. Ngần ấy cái khó tuy nhiên không dựa trên một lý do tự nhiên nào, chỉ là ngần ấy cái khéo. Thì ngược lại ngần ấy cái khéo lại tố giác rằng thơ chỉ là một trò chơi. Và kinh nghiệm thơ Hồ Xuân Hương rốt cuộc chỉ để lại cái chân không của những thể tinh sảo.
            Người ta bảo nàng tài! Nhưng cái tài khi người ta và thế giới thuận nhau là làm sao dấu được cái tài đi. Cho tất cả những gì người ta nói đều có vẻ tự nhiên. Ấy là hạnh phúc của từ chương cổ điển. Nhưng khi trong Hồ Xuân Hương người ta chỉ thấy tài thôi thì nàng là người đầu tiên cười tài nàng là hão. Mà có gì nàng không cười đâu? Nàng cười cái hão của tất cả. Của đêm rỗng, của ngày không có ruột và của thơ. Thơ nàng lấy cả cái chết làm trò cười. Thì hẳn tiếng cười ấy không chỉ để mua vui người thiên hạ. Nó là tất cả gì còn lại cho một người đã một lần chọn không bao giờ khóc nữa. Và khi nàng khuyên người vợ góa rằng nín đi kẻo thẹn với non sông thì không nói, ai cũng biết là nàng đã khuyên mình. Sông thì bạc. Non thì trơ. Nghĩa là thế giới nhạo cái sầu của người ta. Thì ai khóc làm gì cho tốn nước mắt! Khóc là để tỏ lòng. Nhưng không có ai nhận thì những giọt nước mắt ấy chẳng nham nhở lắm sao? Tỏ lòng, khi thế giới và người ta đối nghịch nhau chỉ làm cho lòng sa đọa. Và người ta hiểu tại sao trong Hồ Xuân Hương tất cả những gì ở trong mọc ra như thông, như rêu, như cỏ, như nước của đá đều có một vẻ đốn mạt và khả nghi. Cũng như thế người thi sĩ ấy coi rẻ nước mắt. Thành ra không thể khóc mà cũng không thể nhịn nghĩa không thể nén sầu trong mình, Hồ Xuân Hương chỉ có một cách là, coi cái sầu ấy như không có để trong một tiếng cười diễu cợt trả lời một thế giới đã hết ân tình. Lẽ dĩ nhiên có khi sầu tự nhiên dậy. Nhưng ngay khi ấy, ngay khi

                        Mõ thảm không khua mà cũng cốc
                        Trống sầu chẳng đánh cũng kêu om


nghĩa là mọi vật cũng như sầu theo người thì cái sầu ấy, nàng cũng không thể không cười!

                        Mới nghe cũng nghĩ rằng là thực
                        Sau ngẫm mà xem một tiếng bòm


ấy là hai câu thơ để tóm tắt kinh nghiệm và thế giới của nàng. Kinh nghiệm của một tình yêu đời bị tẽn tò. Thế giới của những vật rỗng. Như mõ, như trống, như chuông và chúng oang oang như đều kêu lên rằng tất cả đều hão. Nhưng nếu cái sầu của người ta trước cái hão của tất cả cũng hão nữa thì còn gì? Sẽ đến một thời Hồ Xuân Hương nhận cái hão ấy để, không chờ gì ở thế giới nữa, xây một đạo lý giống như sự thản nhiên. Nhưng giờ thơ nàng ở một giai đoạn tố giác. Nàng công kích. Nàng nhạo báng. Nàng thóa mạ. Như nàng không muốn để một ảo tưởng nào cám dỗ nữa. Và nhất là ảo tưởng rằng sau đời này còn có một đời sau! Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Xuân Hương vừa thích viếng những cảnh chùa vừa lấy chúng để diễu. Nàng không có cái tín ngưỡng của những thầy tu nhưng, một đằng khác, như những thầy tu, nàng cũng ở trên con đường tuyệt thế. Nàng nhạo trong cảnh chùa một tôn giáo nàng cho là ảo tưởng, nhưng trong cảnh chùa, nàng tự nhắc mình là ảo tưởng có ở khắp trên đời. Con người ấy đã lồng đi tìm thâm tình của thế giới để giờ tìm hết cách giết trong thế giới tất cả những gì nghe như một thâm tình. A! có làm rỗng thế giới thì người ta mới khỏi bị thế giới cám dỗ! Thất bại của Hồ Xuân Hương đã trở nên một cố gắng để thực hiện thất bại. Và nghệ thuật nghịch họa của nàng, giờ, để tóm tắt người ta có thể nói là nó có hơn một tầng nghĩa.
            1) Qua cái nghệ thuật ấy, thoạt tiên tất cả những cảnh đều bị sái. Và như thế thì nó không là một nghệ thuật để ca ngợi cái mặt ngoài của cảnh. Nó có một chủ ý phá. Hay nói một cách khác thì nó là một bạo động.
            2) Nhưng bạo động mà chỉ làm sái cảnh thôi, nghĩa là giữa cảnh chết đứng trong những thể tương nghịch thì nó cũng tự thú nhận là một bạo động không có ngày mai. Những đồ tuyến nguệch ngoạc của nó tố giác cảnh là đã chết khô và cứng. Cứng tại trong bạo động cảnh và người ta đã trở nên đối nghịch nhau. Và khô tại đã mất lòng, cảnh chỉ còn là một cái vỏ cằn cỗi. Lòng của cảnh có xuất hiện thì, trong sự đối nghịch nhau giữa cảnh và người, sự xuất hiện ấy cũng chỉ cho cái mặt ngoài của cảnh thêm những màu sặc sỡ và sự nham nhở của cỏ, của nước, của rêu.
            3) Tất cả xẩy ra như lòng của cảnh không có. Và nghệ thuật của Hồ Xuân Hương, chủ ngoại và dựng trên sự tương nghịch, là một cách nhại những thể đã chết cứng của một thế giới không có lòng. Hay nói đúng hơn thì không thể để lòng thế giới ẩn mà cũng không thể để nó xuất hiện mà không làm nó sa đọa, Hồ Xuân Hương, để tránh hai cái họa ấy, đã tương nghịch hóa thế giới trong những thể chết cứng, để thủ tiêu lòng thế giới đến cùng cũng như những tiếng gọi của nó và cả giấc mộng đào nguyên giờ chỉ còn là một ảo mộng. Không phải ngẫu nhiên mà nàng đã chọn những thể nghiêm khắc của đường luật để phá cảnh. Như nàng muốn sự phá cảnh ấy chỉ là một trò cười… Người ta thấy nàng nói quá thì người ta tưởng nàng cố nói cho thật đúng. Nhưng thật ra thì sự nói quá của nàng chỉ để nói ngọng và làm ngôn ngữ trơ ra vỏ và xương. Và qua ngôn ngữ ấy, thế giới cũng trơ ra xương và vỏ. Hóa ra ngần ấy câu nguệch ngoạc, nham nhở và sặc sỡ của nàng là ngần ấy cách để diệt dục! Và ngay cả cái phần người ta gọi là tục trong thơ nàng…


* * *

            Nửa tục nửa thanh, tất cả trong Hồ Xuân Hương, qua một ngôn ngữ lưỡng ý, đều có một thể nước đôi. Xưa tuy nhiên sự nước đôi ấy có một nghĩa khác. Vừa trông như một quả mít chẳng hạn cái vật ấy vừa trông như một người thục nữ khiêu dâm. Trông như thế nào tuy nhiên thì nó cũng hứa là ở trong nó vẫn đầy. Sự nước đôi của nó chỉ có ngoài mặt. Và cả đôi nước đều gọi người ta vượt những mâu thuẫn của mặt ngoài ấy để mở cái ngọt ngào ở trong. Ấy là nơi tất cả những mâu thuẫn đều được giải quyết. Thì những mâu thuẫn ấy đâu là những mâu thuẫn nữa! Nghĩa là khi mọi vật có lòng thì những gì người ta tưởng mâu thuẫn nhau thực ra trợ lực nhau. Cái mặt tục của mọi vật và của ngôn ngữ không chửi cái mặt thanh của chúng. Nó làm cái mặt thanh ấy thêm đậm và sâu và càng rõ nghĩa và giầu. Và ngược lại và cả hai đều nói lên một nguyện vọng sống đầy. Mà Hồ Xuân Hương đã thành thực chờ nhục tình thực hiện. Hay nói đúng hơn thì cực lạc thực hiện trong nhục tình nàng cũng chờ được thực hiện trong tương quan với tất cả mọi vật. Thì có gì lạ nếu mọi vật trong thơ nàng cũng như mọi cử chỉ đều có một nghĩa nhục tình. Người ta bảo thơ nàng tục. “Tục” tuy nhiên có một nghĩa lương thiện quá. Ai giữa những người lương thiện đã chẳng có lần cao hứng nói tục chơi? Họ nói tục để tự giải tỏa. Và nói tục cho sướng rồi thì họ lại tiếp tục cái việc chính đáng là duy trì cái trật tự xã hội và xây dựng gia tài. Nhưng Hồ Xuân Hương nói tục thường xuyên. Nàng để tất cả tài ba ra để nói tục. Thì làm sao sự nói tục ấy có thể lương thiện như chữ tục có thể làm người ta tưởng lầm? Nếu người ta không thẹn chữ thì tôi sẽ nói rằng thơ Hồ Xuân Hương dâm. Nhưng dâm-tính ấy không diễn tả một xu hướng nào có sẵn trong cơ thể nàng. Nó thiết lập một quan điểm sống. Và dĩ nhiên trong quan niệm ấy tự do nhục tình là một yêu sách cốt yếu. Lạ rằng thơ Hồ Xuân Hương tuy thế vẫn được truyền tụng! Hình như xưa người ta không cho thế là trái đạo lý. Có lẽ tại người ta xưa không đặt đạo lý ở chỗ tôi tưởng. Nhưng cuộc đời này đã làm người ta méo óc! Ở chỗ nào người ta cũng thấy có tội. Mà tội gì ở nhục tình? Chỉ những thời đại suy vong khi trên thì đầy túi, dưới thì đói khổ, trật tự xã hội không còn chính đáng và tất cả xẩy ra như, ngoài kẻ thống trị, không ai có quyền sống nữa thì người ta mới thấy, trong một ngôn ngữ đã trở nên vô liêm sỉ, những kẻ làm đĩ miệng đứng lên đổ cho nhục tình cái tội làm đốn mạt cuộc đời. Hay lưu manh hơn, giả danh khoa học, kết án những lời ca nhục tình là triệu chứng của một tâm hồn mang bệnh. Thơ Hồ Xuân Hương không bệnh. Nó cũng không lành mạnh như người ta có thể nghĩ ngược lại. Lành mạnh là con người thượng lưu trí thức ăn to và nói tục, ngoài cái tài chuyên nghiệp lại có tài chửi đổng để hết giải quyết sinh lý lại uống rượu, làm thơ, chơi đàn, đánh bạc, thể thao và lúc nào cũng sống rất tự nhiên. Cái tự nhiên ấy có một tên khác đẹp hơn. Là đặc quyền. Và như tất cả những đặc quyền, nó đòi sự duy trì của cái trật tự xã hội đã cho phép nó có. Cho nên người ta không thể nhịn cười khi thấy những chính quyền đương thời thi nhau nghi ngờ trí thức. Trí thức vốn ngoan. Có đốt thì đốt Hồ Xuân Hương trước đã. Trật tự nào nàng cũng cho là không có lý và gọi phá. Như nàng nghĩ rằng cực lạc chỉ thực hiện được trong bạo động. Và bạo động đã bắt đầu ngay khi, vặn méo mọi vật, nàng bắt chúng đeo một cái mặt nhục tình chúng vốn không có.

* * *




 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #170 vào: 01/01/2018, 10:40:26 »

            Nhục tình và bạo động trong Hồ Xuân Hương đi liền nhau. Cho nên sự thất bại của bạo động cũng đổi nhục tình ra một kinh nghiệm điêu trác. Và Hồ Xuân Hương đành nhận rằng ngay nhục tình cũng không thể cho nàng sự sung mãn nàng đòi. Nó chỉ để lại cảm giác của một sự thiếu lớn và, như thi sĩ nói trong một ngôn ngữ nước đôi, cọc nhổ đi rồi lỗ để không. Ấy là một cái lỗ nông toen toẻn nhưng không thể nào đầy. Và người ta càng chen chân xọc thì người ta càng tưng hửng như người ta bước hụt. Có một người con gái trên cây đu đang ngửa ngửa lòng như mời mọc, nhưng người ta vừa đu lại thì nàng lại đu đi và ngọc của đôi chân song song duỗi thẳng nhắc người ta rằng thế giới đã hóa đá. Như thế giới chỉ gợi tình để nhạo cái tình của người ta. Cái người ta tưởng là một âm đạo thật ra cứng như một hốc đó. Nhưng hốc đá ấy, trông như một âm đạo, còn thực là một hốc đá không? Vẫn sự lưỡng cách ấy của mọi vật và của ngôn ngữ! Nhưng hai mặt của chúng giờ chửi nhau. Mặt thanh làm mặt tục đâm ra giả tạo. Và ngược lại và không có chiều sâu nào để giải quyết những mâu thuẫn của chúng thì cũng không thể có mặt nào là thực. Thực là cái chân không ở dưới và sự tưng hửng của người ta trước những vật lai căng vừa trông như thế này lại vừa trông như thế khác, nhưng không thực là gì cả và trong lưỡng cách của chúng chỉ có thể tự định nghĩa như một sự thiếu nhân đôi. Thanh không ra thanh. Tục không ra tục. Hay nói đúng hơn thì giờ tục có một nghĩa phản-nhục-tình. Nhục tình có mặt trong những vật ấy như một sự không có thể. Như trong nhân vật của những thầy tu, những ông quan hoạn, những người ái nam.
            Ấy là thế giới nhân vật Hồ Xuân Hương thường lấy để diễu. Nàng không diễu họ tuy nhiên, như người ta tưởng, tại họ không như tất cả mọi người. Con người theo bản năng có gì đáng tự hào đâu! Nó không tròn. Nó không thẳng. Sự lom khom của nó là một sự nửa chừng. Thì nó có khác gì họ? Và họ cũng như tất cả mọi người. Hơn ai hết Hồ Xuân Hương biết rằng tất cả mọi người, cũng như mọi vật trong một thế giới đã mất nguồn, dưới một cái tên nghe tưởng rất xứng đáng, thật ra cũng đều như họ là thế giới đồ dơ danh. Nghĩa là đều thiếu thực chất, thiếu thực tính, và không thể thực định nghĩa. Hay nói đúng hơn thì người ta chỉ có thể định nghĩa họ một cách tiêu cực như một cái gì chẳng phải ngô mà chẳng phải ta. Người ta không thể gọi họ là gì cho đúng. Họ “chỉ trông như”. Nhưng trông như thế nào thì trong sự trông như ấy cũng có điều làm họ không thể là cái họ trông như:

                        Tựa khách nhưng mà không có bím
                        Giống như nhưng lại hãy còn râu


Họ là những nhân vật thiếu. Nhưng sự thiếu của cái âm đạo đá là ở cảnh tự tương nghịch của một thể lưỡng cách. Của thế giới nhân vật ấy thì, giờ, sự lưỡng cách chỉ còn là một sự nhỡ nhàng. Như thế giới mâu thuẫn của ngoại thể đã đổi dấu. Những thể méo, lai căng và xung đột nhau, nhường chỗ cho sự nhẵn nhụi chẳng hạn, của những cái đầu không có tóc. Tóc cũng như lá làm chứng cho một năng lực ẩn. Thì không có tóc nghĩa là đã chết ở trong rồi. Nhẵn nhụi và khô cạn, những nhân vật ấy của Hồ Xuân Hương là những nhân vật lạnh, nhạt nhẽo và thờ ơ. Họ có sự trừu tượng của cái chết. Thể của họ không có thể. Và đặc tính của họ không có tính. Sự nhẵn nhụi của họ dẫn người ta vào cảnh mênh mông của một cơn ác mộng trắng, không thấy đâu là giới hạn, không lấy gì làm cứ điểm nhưng cứ vào là thất lạc và, như thi sĩ nói:

                        Nào ai biết được bông hay củi
                        Nọ kẻ phân ra cuối với đầu
.

            Chỗ nào của họ cũng như chỗ nào. Họ là những tượng thân của sự vắng mặt cũng như cảnh đá cheo leo ấy là chân không đặc lại để lúc nào cũng muốn xụp xuống chân không. Sự phiếm định trong họ là của những thể khuyết tâm mà vừa nhạo Hồ Xuân Hương vừa lấy để nhạo tri giác của người ta. Nàng nhạo ngôn ngữ là bất lực, những ý niệm sẵn có là giả tạo, cái lẽ thường là thiếu thốn. Và khi nàng chơi chữ cũng thế. Người ta khen nàng khéo dùng những thành ngữ. Hẳn không tại, như người ta nói nàng có ý làm thơ bình dân! Nhưng tại những thành ngữ với một nghĩa đen và một nghĩa thường, là những chữ càng dễ chơi. Nghĩa là càng dễ dùng sái nghĩa, xa cái nghĩa người ta đợi và một nghĩa nước đôi. Tất cả là để đánh lạc cái lẽ thường, làm nó mất những tọa độ của nó và tự thấy là nó sai. Mà làm sao không thấy là nó sai được? Cái ngôn ngữ của nó không ngừng tự phản bội. Và qua cái ngôn ngữ ấy là cả thế giới bị hóa ra nơi của tất cả những lường đảo. Nhưng đối lại những lường đảo ấy, giờ, có thể có một cái biết thực nào không? Không những thơ Hồ Xuân Hương tố giác tất cả cái biết sẵn có là sai mà thơ nàng, như người ta đã thấy, trong nghệ thuật chủ ngoại của nó, là cố gắng để tiêu diệt cái ảo tưởng rằng, cái biết sai ấy còn có dấu một cái gì khác ở đằng sau. Có thì nó cũng ở ngoài tầm người ta. Người ta có vào trong thế giới thì thế giới vẫn để người ta ra ngoài. Và thế giới có lòng đi chăng nữa thì cái lòng ấy có cũng không. Tất cả xẩy ra như giả tạo là cơ cấu của đời, thế giới chỉ là vỏ và nó rỗng. Nhưng thế thì tất cả ở đâu ra? Hư tính của tất cả cũng đổi tất cả ra một bí mật tuyệt đối và như thi sĩ nói:

                        Không có nhưng mà có mới ngoan

            Tương quan nhân quả của cái lẽ thường không có nữa. Và người ta vào cái thời gian của sự đột nhiên. A! Những ngày đã hết của những quả mít chín cây! Mít chín lẽ dĩ nhiên trong một thời gian có liên tục như nhịp của nhựa từ lòng đất trào lên, súc tích và hóa chất dần dần. Sự đột nhiên trái lại là của một thời gian đã sụp đổ. Không phải là những quãng cách giữa sau và trước đã được xóa bỏ trong cực lạc của một cuộc sống trực nhiên, như cảnh chan hòa của cái bánh trôi chẳng hạn để chỉ còn lại một hiện tại bát ngát và vô cùng. Thời gian sụp đổ của Hồ Xuân Hương là một thời gian đứt khúc. Không có quá khứ, không có tương lai, nghĩa là không có một liên tục sống nào giữa sau và trước, nhưng một chuỗi hiện tại gián đoạn và nhì nhằng chắp nối nhau. Mọi vật đều như tự dưng trồi lên:

                        Duyên thiên chửa thấy nhô đầu mọc
                        Phận liễu sao đà nẩy nét ngang
.

            Hai câu thơ ấy tuy nhiên không chỉ kể chuyện một người con gái chửa hoang. Không chồng mà chửa thì có gì lạ? Lạ ở chỗ đứa con nàng mang trong bụng là một đứa con của điêu trắc. Nghĩa là của chân không. Hóa ra chân không cũng sinh, cũng nở, cũng mọc, cũng gây sự sống. Nhưng sự sống ấy, ở chân không ra, có gì là thực? Ngay chữ “nẩy” thôi cũng đủ cho người ta thấy, trong sự sống ấy, tất cả tính cách máy móc của một di động tĩnh vật. Như sự sống ấy là một sự sống giả tạo. Cỏ vẫn rậm rạp. Nước vẫn lam nham. Rêu vẫn lún phún. Nhưng ấy chỉ là những sản phẩm của đá, những chất nham nhở rỉ ra từ những đồ vật chết, nghĩa là những quái thai. Và người ta hiểu tại sao trong Hồ Xuân Hương chúng đều có một cái gì ương và dở và gở và rất khả nghi. Những di tích sinh lý ấy là những nghịch họa của sinh lý. Sự nhỡ nhàng của chúng như điệu múa chết đứng, trên một mặt đất cằn, của ba trạc thế cây hình uốn éo, vừa ghẹo vừa thách đố người ta vừa tố giác một thế giới đã hóa khoáng. Cái nguồn sống đã mất. Thế giới rỗng. Nghĩa là nó đặc. Và người ta chỉ là những kẻ đứng ngoài, sống ngẩn ngơ và lạc, trước một thế giới không làm cho người ta. Thì làm sao người ta hiểu?


* * *

                        Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?
                        Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
.

            Cán cân tạo hóa đã gẫy, thế giới mất quân bình, và tất cả những gì xẩy ra như không theo một quy luật nào cả. Sự thiếu quy luật ấy tuy nhiên không có nghĩa là tự do. Nó chỉ là cách xuất hiện, như ảnh tượng của cái túi càn khôn cho người ta thấy, của một thế giới đóng. Cho nên những thể nhố nhăng của thế giới ấy, trong sự thiếu quy luật của chúng, chỉ là những thể cứng và nhỡ nhàng của cái chết. Và chúng nhại một tự do thực không thể có cũng như, ở đằng khác những nhịp đứt khúc, giật giọng, trục trặc nhưng tẻ đều một điệu của đời. Cá thì đầu ngơ ngác, chim thì cổ gật gù và người ta cũng quỳ hai gối xuống gật lom xom. Như chày máy, như con cò mấp máy suốt đêm thâu, như máy móc là đặc tính của tất cả những cử chỉ. Khom khom cật, ngửa ngửa lòng, nâng nâng nhấc, thích thích mau là ngần ấy từ ngữ để bắt chước, ngay trong cách láy âm thanh của chúng, những nhịp máy móc ấy của một cuộc sống không có hồn. Cái nguồn sống đã mất. Thì cuộc sống thực không thể có. Những cảnh của Hồ Xuân Hương, ngay trong sự sặc sỡ giả tạo của chúng, đều là những cảnh buồn và rất vắng. Và giữa những cảnh bỏ hoang ấy, đôi khi, người ta gặp những bà vãi lần tràng, hết đếm lại đeo, sống nghìn năm theo một tác động đã mất nghĩa. Hóa ra gian của sự đột nhiên cũng là thời-thời gian của sự nhai lại. Thế giới loạn thể của Hồ Xuân Hương rốt cuộc, chạy theo độc một chiều. Và sự thiếu quy luật của nó lại giam người ta vào những nhịp cứng và máy móc nhất, hai mặt ấy tuy nhiên không mâu thuẫn nhau. Ấy là hai mặt của cùng một cuộc sống xa nguồn. Một mặt thì tất cả đều như vô lý và đứt quãng. Và mặt khác, cái túi càn khôn cứ khép lại, người ta sống như những tử tù của một định mệnh(4) càng ngày càng cưỡng bách. Một định mệnh người ta chịu, nhưng người ta không hiểu, và đến chết, không thể làm thế nào thoát khỏi. Và những thầy tu cũng như tất cả mọi người:

                        Thuyền từ cũng muốn sang Tây Trúc
                        Trái gió cho nên phải lộn lèo
.

            Ấy không chỉ là những câu thơ để diễu như người ta nói, một xã hội tôn giáo suy vong và thối nát. Nếu thế thì chẳng tiếc lắm sao! Tiếc Hồ Xuân Hương không sống ở xứ Lào để người ta mời nàng ra lành mạnh hóa xã hội, chấn hưng đạo đức và được thể làm tiền. Nhưng Hồ Xuân Hương không nghĩ đến tiền và đạo đức. Qua những thầy tu nàng diễu là cả cái giải thoát siêu hình của tôn giáo đã bị nàng từ chối và coi là điêu trác. Cực lạc nếu có thì, theo nàng, nó không thể có ngoài cõi tục. Và người ta biết rằng nàng đặt nó ở chỗ tục nhất của cõi tục ấy là ở lòng thế giới. Nhưng lòng thế giới không có thì, như những thầy tu nàng cũng không chờ gì nữa ở đời này. Mà nàng cũng không chờ gì nữa ở đời sau. Nhất là ở một đời sau người ta tính lấy những “bồ phúc đức” để mua. Và sỗ sàng nàng hỏi ông thầy tu:

                        Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ?

            Chừng mấy bồ thì được giải thoát? Nhưng người ta hiểu tại sao sự kế toán ấy không thể cám dỗ được một người vẫn tin rằng cực lạc là được thả mình xuôi một giòng nước đại lượng và dạt dào. Hơn nữa có ai ngồi đếm những bồ phúc đức ấy cho người ta đâu! Thế giới vẫn trơ mặt đá. Và ngoài đá Hồ Xuân Hương chỉ thấy có chân không. Sự tuyệt vọng của nàng là của người duy vật. Huyền bí cũng như thiện và ác trong thơ nàng không có. Mà nàng cũng không có oán trách ai. Oán trách gì những đồ vô tri giác! Con người duy vật trong ấy vật thể chỉ thấy một chút chân không đọng lại và trong vật lý chỉ thấy một sự vô lý không cùng. Lý của vật không phải lý của người. Những quy luật của nó, nếu có, cũng chỉ là những quy luật mù. Người ta chỉ có việc chịu. Tất cả những gì ở trong tay người ta xuyên tạc một lần nữa cái mặt ngoài của thế giới vốn đã là một xuyên tạc rồi. Nghĩa là người ta có toàn quyền gây thêm những thể nhố nhăng cứng và chết. Và thế người ta gọi là sáng tác. Ai ngờ đâu đi tìm thiên đường của thực thể Hồ Xuân Hương lại lâm vào cái họa của một tự do múa rối! Cái tự do ấy đâu có đổi được gì! Và tất cả những gì xẩy ra vẫn xẩy ra một cách trêu người như người ta không có. Con người có nghĩa gì đâu trước cái nhịp muôn đời của thế giới! Cái chợ người sẽ hết. Nhưng cái chợ Trời vẫn tiếp tục.

                        Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng
                        Ban chiều mây họp, tối trăng chơi


            Thế giới chỉ có một sự thật là sự vô nhân đạo của nó. Và như con ong châm phải đầu sư, người ta là những kẻ bé cái lầm, chạy theo cực lạc ở chỗ nó không có. Thì sao người ta không tưng hửng, không tẽn tò, không “hố”? Không những cái lẽ thường của người ta thất thế mà làm gì thì những tác động của người ta cũng cứ bị tráo nghĩa giữa đường. Từ thất bại này sang thất bại khác, người ta là trò chơi của một định mệnh oái oăm. Lấy chồng thì chồng chết, theo trai thì trai bỏ, đưa khách qua sông thì khách phụ. Con người của Hồ Xuân Hương, đi thì nhỡ bước,(5) lập kế thì sa cơ, có làm gì chăng nữa thì cũng chỉ để thua. Nhưng ngay khi đã chịu thua, chịu thiệt, chịu “hố”, người ta, đón định mệnh, chọn trước cái phần đê tiện nhất của đời cho thì, ngay khi ấy tưởng là đã yên thân, người ta vẫn chưa yên. Như trong một cái hố nào của đời cũng sẵn có một cái hố sâu hơn nữa chờ người ta và như thi sĩ nói:

                        Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
                        Cầm bằng làm mướn, mướn không công


            Kết luận là không có chỗ nào trên đời, dù là một chỗ tủi nhục, có thể bảo là làm cho người ta và người ta có thể ở. Người ta còn chờ gì ở thế giới thì người ta còn mắc lừa. Và tuyệt vọng là tất cả những gì còn lại.



7
            Thế giới tuy nhiên vẫn cám dỗ. Cảnh trông như vẫn ưa người. Nhưng giờ tiếng gọi của cảnh chỉ làm cho Hồ Xuân Hương ngạc nhiên và nghi ngại.

                        Xanh om cổ thụ tròn xoe tán
                        Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ
.

            Sự sặc sỡ ấy có thể mua được lòng người khác. Nhưng trong thơ nàng thì sặc sỡ cũng có nghĩa là điêu. Và nhất là những màu xanh và trắng ấy thì ai cũng biết rằng, trong những câu

                        Có phải duyên nhau thì thắm lại
                        Đừng xanh như lá, bạc như vôi


nàng đã mượn chúng để tả sự thờ ơ. Ở đây chúng không có nghĩa gì khác. Và cái hình tròn xoe tán ấy cũng thế. Như mặt nước phẳng lặng tờ, nó là một trừu tượng kỷ hà và vừa tô điểm cho cảnh nó vừa làm chứng rằng cảnh đã chết. Ấy là một cảnh sơn hà vẽ như của sân khấu. Người ta đã kẻ, đã gọt, đã tô màu cảnh theo thước thợ. Sự vui mắt của nó là của những sảo thể. Cho nên cảnh vui mắt ấy cũng là một cảnh tiêu sơn. Như trong sự sặc sỡ của nó, Hồ Xuân Hương thấy một cái nghèo căn bản. Thì làm sao nàng có thể để nó cám dỗ?

                        Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ?
                        Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ
.

            Cảnh ưa người. Sự mới lạ sao! Tất cả kinh nghiệm của nàng cho Hồ Xuân Hương biết rằng ấy là một sự không thể có thực. Nàng ngạc nhiên. Vừa tỏ ý ngạc nhiên tán-thán-tự của nàng vừa sốt ruột xua đuổi một mối tình lường đảo. Và thế là đoạn tuyệt giữa cảnh và người. Lẽ dĩ nhiên người ta không thể không thấy mất, thấy tiếc, thấy ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ là cái sầu của một người, ngay trong sự ưa người của cảnh đa cảm là có thiếu một cái gì. Nhưng ngay cái sầu ấy người ta biết rằng Hồ Xuân Hương cũng từ chối là điêu trác. Kiêu ngạo cuối cùng của con người ấy là không có ngay đến sự an ủi của một lời than thở nhịp nhàng! Nàng đã thật hết chỗ tựa. Nhưng tình cảnh ấy nàng nhận. Nàng nhận tuyệt vọng. Thì tiếng cười nhạo báng nàng cũng không cần đến nữa. Còn gì để nhạo nữa đâu! Lần đầu tiên trong Hồ Xuân Hương cảnh hết sai lệch để có cái tĩnh của kỷ hà.(6) Ấy là sự bắt đầu của thản nhiên. Hy vọng đã hết và tất cả những ảo tưởng đã bị tố giác. Trơ ra trên đèo cung là một mặt đất cằn.
            Thì nước có thể chẩy. Ấy chỉ là một giòng tăn teo như sắp cạn. Mà nó cũng không nói gì cho Hồ Xuân Hương nữa. Nó đã hết nhiệm mầu. Cho nên giếng tuy đầy mà cỏ vẫn đìu hiu. Như nước không còn là nước sống. Có nước thì có nhưng cảnh vẫn hắt heo. Một con đường thiên thẹo, một nhịp cầu tre khẳng một quán tranh xơ xác và thế giới chẳng khác gì một cỗ xương khô. Ấy là thế giới của một người đã từ chối tất cả những cám dỗ ngoài mặt của thế giới để, không chờ gì ở thế giới nữa, nhận sống đến cùng cái nghèo căn bản của thế giới. Và thế giới để người ta đứng tréo như sắp đổ giữa một con đường cằn và sai lệch, cheo leo trên một cái vực tuyệt vời. Không còn gì cho người ta nữa! Không còn gì ngoài cái vực ấy, không còn gì ngoài một miếng đất trơ xương và, ở giữa, ba ngạc thế cây hình uốn éo, như một lời mỉa mai cuối cùng. Như một giòng nước hóa đá. Tất cả đều nhắc người ta rằng, người ta đang ở trong xứ của cái chết và tất cả trên thế giới vô phúc này, đều dẫn đến chân không. Nhưng khi đã thắng những thương tiếc hão, người ta nhận cái chân không của tất cả, thì ngần ấy lý do để người ta tuyệt vọng cũng là ngần ấy cớ để người ta vui. Và người ta có thể thành thực ca rằng thú vui quên cả niềm lo cũ… Quên thì quên! Quên sao được sự quên ấy. Và nếu cái vui của Hồ Xuân Hương giờ không còn là cái vui giả tạo của nhạo báng thì nó cũng không là cái vui của con người tự nhiên. Ấy là cái vui cằn của tuyệt vọng. Một cái vui cướp lại trên nghìn nỗi lo xưa. Như của những người khổ tu thuở trước chọn sa mạc để sống, lấy sọ người làm bát ăn và, đập xương khô gõ nhịp, mặc cái diều ai nó lộn lèo. Khác là họ đã ngoảnh mặt đi trước những cái thú của đời, mà họ cho là ảo tưởng, để chuộc lấy một thiên đường sau cái chết… Và hy vọng ấy làm sa mạc của họ lên hoa. Nhưng Hồ Xuân Hương không tin là có một đời sau. Nàng chỉ có cái đời này và, trong đời này, nàng chỉ thấy sa mạc, thì cái vui của nàng, dựng trên tuyệt vọng và sa mạc của đời, cũng đắng mùi vô đạo. Nó giống sự thản nhiên, ngoài cửa Lục, của núi Thầy Tiêu:

                        Đồn rằng núi Lục có thầy Tiêu
                        Ngồi nhịn đêm thanh lắng muỗi kêu
                        Cửa trống phó cho thằng nhện đóng
                        Đèn tàn để mặc cái dơi kêu
.

            Ấy là cảnh của một người hóa đá. Như cứ nhìn mãi một mặt đá vô tình, người ta cũng thấy mình thong thả trở thành đá theo. Và còn lại trên núi Thầy Tiêu một cảnh đá không có người. Có ai để nhìn nó nữa đâu? Người ta đồn rằng nó có như nó thuộc một thế giới nào khác. Như những người ở một thế giới khác, một ngày nào, sẽ đồn rằng có một thế giới xưa của người. Con người chỉ là một sự thoáng qua. Mà nước mà non thì không có tuổi. Núi thầy Tiêu, trong cảnh hoang của nó là một tiền ảnh của thế giới, khi ngọn đèn cuối cùng chợt tắt, thế giới lại được trả cho đêm của thời gian và tiếng bể hát muôn đời. Ai khi ấy còn nhớ là con người có?
            Như thế có phải là tiếng chót của kinh nghiệm Hồ Xuân Hương? Ngoảnh lại con đường đã qua thì theo nàng người ta đã từ một nguyện vọng cực lạc đến sự chấp thuận một cuộc sống trụi và nghèo, từ những vật ở trong sung mãn đến những cảnh gầy trơ xương, từ cái vui của một hy vọng giầu đến cái vui cằn của tuyệt vọng. Thơ nàng bắt đầu trong trực giác rằng lòng thế giới giữ một nguồn nước ẩn. Và nàng gọi người ta giải phóng cái nguồn ấy để sống có thể là sống thực trong chan hòa. Nhưng bạo động đổi sự giải phóng ấy ra một cuộc chinh phục. Và đáng lẽ chan hòa nó lại càng tăng ly gián. Nó ép lòng thế giới xuất hiện. Nhưng xuất hiện trong ly gián là để người ta sờ, người ta mó, người ta nhòm. Thì sự xuất hiện ấy chỉ là một sa đọa. Và cái nhòm soi móc, cưỡng bách, xâm đoạt của người ta đáng lẽ cho người ta lòng thế giới, lại làm thế giới trở nên sặc sỡ, nham nhở và khôi hài. Như người ta muốn cướp lòng thế giới thì thế giới nhăn mặt lại và tự bôi hề để nhạo lại người ta. Hẳn lỗi không ở thế giới. Mà cũng không phải thế giới muốn cho người ta một bài học lễ độ. Nhưng lòng thế giới đã hóa ra ngoại thể. Và cái gì còn lại của thế giới là những cảnh đá tạc. Ấy là những cảnh đá chết cứng của một thế giới đã hết nguồn. Nhưng sự cứng lại của cảnh còn của một tình trạng nữa. Là sự đối nghịch nhau giữa cảnh và người mà, trong bạo động, người ta đã tự cấu tạo. Hay nói một cách khác thì chọn bạo động để mở lòng của cảnh người ta cũng đã chọn làm cho cảnh mất lòng. Vừa làm cho lòng của cảnh sa đọa bạo động vừa làm cho cảnh hóa đá! Và tất cả xẩy ra như thất bại của Hồ Xuân Hương đã nằm sẵn trong cơ cấu của bạo động. Như vừa tấn công thế giới vừa làm thế giới cứng lại bạo động chỉ là thể gay nhất của một mâu thuẫn sẵn có trong nguyện vọng cực lạc của nàng. Là nàng muốn giữ nguyên sự kín đáo ngay trong cảnh chan hòa. Cho đến nỗi vừa muốn chan hòa vừa muốn giữ nguyên sự kín đáo. Hồ Xuân Hương, đã vào tới mênh mông lại còn e mình thất lạc, như nàng quên rằng để biết cái mênh mông của lòng thế giới người ta phải biết quên lòng mình, ở giữa lòng thế giới lại thấy mình ở ngoài thế giới, giữa đêm và những mặt đá sỗ sàng. Nhưng sự sỗ sàng ấy người ta biết cũng của một tâm hồn e lệ. Con người đa tình ấy coi rẻ những thổ lộ của lòng. Lời than thở của nàng là một lời diễu cợt. Và ái ân là một cách để nàng thực hiện tự do. Như cái bánh trôi bẩy nổi ba chìm với nước non mà tấm lòng son vẫn giữ. Hạnh phúc của nó là thực hiện được cùng một lúc, một cặp yêu sách ngược lại nhau, trong sự giải quyết của cái mâu thuẫn giữa chúng. Một mâu thuẫn người ta thấy, trái lại, ngưng đọng suốt kinh nghiệm Hồ Xuân Hương. Khi thế giới đầy thì lòng nó kín, khi lòng nó xuất hiện thì nó nghèo đi và nham nhở, khi nó gọi người ta thì người ta dùng dằng khi người ta xông đến thì nó hóa đá và người ta hiểu tại sao trước sự mở lòng của đá Hồ Xuân Hương chỉ thấy một sứ hớ hênh. Sự hớ hênh ấy cũng như những vật úp mở, những đồ lai căng, những cử chỉ nửa chừng, những chữ nửa thanh nửa tục và rêu và liễu và cỏ – và sự đối nhau giữa thông và liễu nữa – là ngần ấy thể của cái mâu thuẫn căn bản trong thế giới Hồ Xuân Hương giữa một giấc mộng nước và sức kết tinh mà sự hóa đá chỉ là một nghịch họa.(7) Cũng như của mâu thuẫn ấy, sự xung đột trong bạo động, giữa Hồ Xuân Hương và thế giới, là giai đoạn gay nhất.
            Những sự xung đột ấy lẽ dĩ nhiên cũng không thể đi tới cùng. Chẳng hạn tới chỗ xung đột có thể làm nổ tung lên tất cả. Nổ làm sao được? Khi vừa phá cảnh bạo động vừa làm cảnh cứng lại. Mà cảnh đã cứng lại thì cái khuôn nghiêm khắc của đường luật lại làm cảnh cứng hơn nữa. Hóa ra phá cảnh Hồ Xuân Hương phá trong luật. Luật bị sô lệch. Nhưng sự phá cảnh theo luật ấy, người ta biết, cũng không phá gì hơn một nghịch họa. Nó chỉ làm chứng cho cái tài của Hồ Xuân Hương. Ấy là cái tài làm méo những bề mặt. Và người ta vẫn không thoát khỏi cái mặt ngoài của thế giới. Thì lòng thế giới có cũng như không. Hay nói đúng hơn thì người ta có thể nhắc lại rằng không thể để lòng thế giới ẩn mà cũng không thể làm nó xuất hiện mà không làm nó sa đọa, Hồ Xuân Hương chỉ còn một cách là làm như nó không có. Nghĩa là làm cho thế giới cứng lại để, sự phá cảnh của nàng đổi ra một tài nhạo báng, nàng có thể nhạo rằng thế giới không có lòng. Như thế thì tất cả những trật tự của thế giới đều không có căn bản như nhau. Thì phá những trật tự làm gì? Những con người của trật tự quy cái tài nhạo báng của Hồ Xuân Hương cũng phải. Cái tài ấy là một thể của thất bại. Nó từ chối và lên án tất cả những tác động của người ta để làm một thế giới thực hơn. Và qua cái tài ấy thì cuộc xung đột giữa Hồ Xuân Hương và thế giới, chưa bắt đầu, người ta đã biết là một xung đột vờ. Một đằng thì nó làm thế giới cứng lại để chỉ cho người ta chân không của những thể và một đằng thì tất cả những thể của thế giới người ta đều làm sái để nhạo rằng thế giới chỉ có những thể là chân không. Ấy là những thể của một cuộc xung đột trong ấy những địch thủ xô sát nhau thì không những tìm hết cách để ghẹo nhau. Và tất cả thơ Hồ Xuân Hương chạy trong một tiếng cười. Nàng cười tất cả là chân không. Nhưng cười như thế có khác gì những người trí thức không đủ sức sống đến cùng tư tưởng của mình, nửa đường lại tháo lui, trở mặt cười tất cả những tư tưởng là hão? Và như thế thì tiếng cười của Hồ Xuân Hương một đằng có thể gọi là sáng suốt thì một đằng khác cũng là một tiếng cười ngụy tín. Nhưng còn cười, còn nhạo, còn diễu thì vẫn còn tha thiết những gì mình diễu, mình nhạo, mình cười. Xung đột còn tiếp tục.
            Cho đến khi, người ta không tha thiết gì nữa, sự xung đột chỉ còn là một sự thờ ơ, cho đến khi sư tương nghịch nó gây nên trong những thể chỉ còn là sự nhỡ nhàng của một thế giới rỗng, cho đến khi tuyệt vọng ở thế giới, người ta nhận sống rỗng và ly gián, không chờ cũng không nhạo gì nữa, để trong sự thản nhiên của người ta trước tất cả, người ta trả lại tất cả sự thản nhiên của nó cho thế giới. Thì:

                        Bên trời phấp phới sương gieo lá
                        Sườn bể quanh co sóng vỗ rều
.

Tất cả những ngọn đèn đã tắt. Và bắt đầu cái đêm thứ nhất của thế giới Hồ Xuân Hương. Không phải cái đêm tối om om trong lòng đá, không phải cái đêm trắng mắt, nghe tiếng gà eo óc, oán hận trông ra khắp mọi chòm, nhưng cái đêm lành của thế giới lần đầu tiên không có người. Thế giới hết méo mó. Sự thản nhiên của nó giờ giống một sự dịu dàng. Tất cả lại trở nên thuần và dễ dãi. Và sườn núi quanh co ấy cũng nhịp nhàng như tiếng sóng vỗ. Như trên cảnh chợ Trời ngày và đêm vẫn chuyển đều:

                        Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
                        Ban chiều mây họp, tối trăng chơi
.

Sự tương hòa lại có mặt trên thế giới. Hơn thế nữa, bầy hàng hoa quả từ mùa sẵn, thế giới lại dồi dào. Như khi người ta không chờ gì ở thế giới nữa thì lòng thế giới lại mở. Người ta làm như người ta không có mặt nữa trên đời. Thì sự vắng mặt ấy là nơi thế giới tụ hội, thế giới lại đầy và tất cả những gì xẩy ra, xưa như ghẹo người ta, lại xẩy ra nhịp nhàng. Hóa ra khi người ta từ bỏ cuộc đời thì cuộc đời lại đến. Như chọn sự thản nhiên của đá người ta cũng biến đá của thế giới ra cho người ta và thế giới thuận nhau. Mà thật thế. Thản nhiên là để mặc cho thế giới lôi đi, lôi đi vào đêm, lôi đi vào cái chết, lôi đi vào đâu thì Hồ Xuân Hương cũng thuận. Nàng có thể thuận tất cả tại, không chờ gì ở thế giới nữa, nàng như một kẻ đã chết rồi. Sự tuyệt vọng ấy, nói cho cùng, có khác gì tình yêu? Qua nó thế giới có nghèo đến mấy cũng là một thế giới thuần nhất, đại lượng, dồi dào. Và ái ân giữa thế giới và người ta lại bắt đầu. Hóa ra cái tình của thế giới, người ta không đoạt nổi, lại đến cho sự vô tình của người ta. Như có để thế giới giữ tấm lòng son của nó thì lòng thế giới mới dào dạt. Hay nói đúng hơn thì lòng thế giới có thực không người ta cũng không biết. Người ta đã trả cho thế giới sự kín đáo của nó và nhận sống ở ngoài, thì tất cả xẩy ra như ở ngoài thế giới người ta ở giữa lòng thế giới; người ta vẫn là người ta; thế giới vẫn là thế giới; nhưng người ta đã thản nhiên thả mình xuống thế giới như người ta không có, thì êm ái, lâng lâng, theo một nhịp tang thương sự kín đáo tuyệt đối ấy cũng là sự tuyệt đối chan hòa, và, như thi sĩ nói:

                        Nào nào cực lạc là đâu tá,
                        Cực lạc là đây chín rõ mười
.



8
            Lẽ dĩ nhiên rất có thể tôi lầm. Về Hồ Xuân Hương người ta có biết gì đâu mà có thể kết luận một cách chắc chắn. Những yếu tố càng ít thì vị trí và nghĩa của mỗi yếu tố càng khó định và sự tổ hợp của chúng càng có thể có nhiều kiểu khác nhau. Cho nên những trang này không có giá trị gì hơn là một giả thuyết. Coi chúng là một bài phê bình thì quá. Phê bình thực là giảng văn. Nhưng trước khi giảng, trước khi tìm những lý do của tác phẩm trong tiểu sử của tác giả và, qua tiểu sử ấy, trong những hoàn cảnh cụ thể (sinh lý, văn học, chính trị, xã hội, kinh tế) tác giả đã sống để trong tác phẩm, trả lời, giải quyết vượt qua thì người ta phải biết cái tác phẩm người ta định giảng nó thế nào, nghĩa là, theo một giả thuyết mới của phê bình, trước hết “phải trả cho tác phẩm sự mạch lạc của nó”. Lẽ dĩ nhiên sự mạch lạc ấy không của một hệ thống tư tưởng, như cái danh từ sai lạc là “phê bình triết lý” làm nhiều người tưởng lầm, nhưng của một thế giới riêng – với những chất, những thể, những đồ, những vật, những nhân vật đặc biệt của nó – mà qua tác phẩm, tác giả đã dàn cảnh cho mình theo những nguyên liệu của đời cho và dự ý của mình. Cho nên công việc không phải là tóm tắt tác phẩm trong một số ý niệm sẵn có như lãng mạn, khắc kỷ, duy vật, hưởng lạc v.v… nhưng là định những tương quan đặc biệt giữa những nguyên liệu cụ thể tác giả đã lấy để dàn cảnh cái thế giới của mình, nghĩa là đổi sự tương cận giữa những yếu tố cấu tạo thế giới ấy ra một sự tương kết. Tìm lối tương kết nhau của những yếu tố ấy – và tư tưởng của tác giả, nếu có, cũng chỉ là một trong những yếu tố khác – là việc của người muốn đọc đến cùng. Và về Hồ Xuân Hương tôi cũng không có tham vọng gì hơn là đề nghị một cách đọc. Hay để dùng một danh từ khó nghe, người ta có thể coi thế là giải văn, giải là mở, là gỡ, là tháo. Người ta giở tác phẩm ra để định xem những yếu tố nào đã cấu tạo nó. Những yếu tố được dùng nhiều nhất là những yếu tố chính. Ấy là những thường tố của tác phẩm. Và công việc là lấy những thường tố ấy, tìm chỗ ăn khớp nhau giữa chúng và xếp chúng lại. Xếp chúng lại rồi, nghĩa là sau khi đã duy nhất chúng, người ta có cái người ta gọi là cơ cấu của tác phẩm.
            Sự định cơ cấu ấy, như trên đã nói chỉ là một giai đoạn của phê bình. Nó ở giữa việc định bản (établissement des textes) và giảng văn. Cái hay của nó là bắt người ta trở lại tác phẩm tra vấn tác phẩm đến cùng, tìm nghĩa của tác phẩm ngay trong chính tác phẩm. Ở đây không phải chỗ để trình bầy tại sao, sau những thất bại, những giả thuyết, những khám phá nào, sự định cơ cấu đã trở nên cái phần cám dỗ nhất của phê bình. Quan trọng là người ta đừng quên rằng định xong cơ cấu của một tác phẩm, người ta vẫn chưa giảng được gì. Tác phẩm chỉ là một phần của cái đời người đã sản xuất nó. Và cái nghĩa sống, cái nghĩa thực, cái nghĩa cuối cùng của nó, người ta chỉ có thể biết khi đã đặt nó trong thống bộ của đời người ấy nghĩa là khi người ta đã biết nó trả lời, giải quyết, vượt qua những hoàn cảnh cụ thể nào. Cho nên cái nghĩa của tác phẩm người ta đọc qua cơ cấu của nó như mối duy nhất cơ cấu ấy chỉ là cái nghĩa thứ nhất của tác phẩm. Tỷ dụ tôi đã xếp cơ cấu thơ Hồ Xuân Hương quanh trực giác của một nguồn nước ẩn. Và trong trực giác ấy tôi lại thấy một mâu thuẫn, nguyên ủy giữa một dự ước chan hòa và một dự ước khác nữa là giữ nguyên sự kín đáo. Ấy là hai mặt của một dự ước cực lạc ấy là dự ước nguyên ủy của nàng. Nhưng sao nàng lại quan niệm cực lạc như thế là một chuyện khác. Xưa người ta lấy cái người ta gọi là cá tính của tác giả để giải thích tác phẩm. Giờ thì người ta bảo rằng tác giả có một dự ước nguyên ủy. Nhưng thế chẳng giải thích gì hơn và người ta quên rằng dự ước nguyên ủy, những mâu thuẫn cũng như, những biến thể của nó chỉ có thể hiểu qua cái thực tại đã cho phép nó có và vừa diễn tả nó vừa vượt qua. Tác phẩm không tự nhiên thành trong đầu tác giả. Nó thực hiện một kinh nghiệm sống. Và như tất cả những kinh nghiệm, cơ cấu của nó là nơi của một cuộc tương biến giữa ngoại lực và tự do. Cho nên giảng một tác phẩm không phải là quy nó ra một phản ảnh của cái thực tại trong ấy nó ra đời mà cũng không phải là để kết luận rằng nó thế nào là tại tác giả đã nhất nhất muốn nó thế. Khoa học chỉ bắt đầu khi trong những thành công cũng như trong những thất bại của một kinh nghiệm sáng tác người ta biết đâu là phần của người và đâu là phần của ngoại lực. Và như thế thì định cơ cấu một tác phẩm, theo một danh từ mới, mới là một “tiền phê bình”.(8)
            Chữ cơ cấu thường có một nghĩa tĩnh. Nó cho người ta cảm tưởng rằng tác phẩm chỉ là thực hiện trong thời gian của một dự ước lúc nào cũng là một. Hẳn cũng có những tác phẩm như thế và những tác phẩm mà sự nghiệp không ngừng đào sâu, mở rộng làm giàu thêm một thế giới mà cơ cấu như đã định sẵn ngay từ đầu. Nhưng thường thì người ta đổi cũng như tất đều đổi quanh người ta. Và những sự chuyển hướng ấy, nếu người ta chỉ có thể hiểu chúng từ cái dự ước nguyên ủy mà chúng là những biến thể, thì chúng cũng đối cái thế giới của tác giả và đôi khi đảo lộn nó trong căn bản. Nghĩa là cơ cấu của thế giới ấy là một cơ cấu động, và xếp lại một tác phẩm không chỉ là xếp trên một mặt phẳng mà còn là xếp theo một trục thời gian nữa.
            Ấy là điều tôi đã làm với Hồ Xuân Hương. Nhưng niên lịch của tác phẩm nàng ai biết? Người ta có thể xếp lại cái thứ tự tôi đề nghị. Nhưng cái trật tự ấy, người ta cũng không thể hiểu nó một cách chặt chẽ như tôi đã trình bày. Ai cũng biết rằng trong thực tế, từ giai đoạn này đến giai đoạn khác của một kinh nghiệm, không bao giờ có những giới hạn rõ rệt. Ở giai đoạn sau có thể còn sót lại những đề tài của giai đoạn trước. Và ở giai đoạn trước có thể đã bắt đầu những kinh nghiệm sửa soạn những giai đoạn sau. Cũng như có khi những gì, để tiện việc trình bầy, người ta xếp như là nối tiếp theo nhau, lại xẩy ra cùng một lúc. Nhưng dù sao thì cách xếp giai đoạn của tôi, như đã nói, không là cách độc nhất có thể có. Chẳng hạn có thể coi cảnh cực lạc trong Hồ Xuân Hương như một đặc ân của tuổi trẻ và, sau đó, thơ nàng chuyển theo trục của một sự cạn dần. Hay bắt đầu trong một thế giới cạn, Hồ Xuân Hương đã cá ước ở một nguồn nước ẩn để, trong bạo động, giải phóng cái nguồn ấy và trả lại sung mãn cho cuộc đời. Thế nghe cũng xuôi tai. Nhưng để chứng minh được thì có lẽ khó. Ai tuy nhiên dám nói trước là không thể chứng minh? Và có lẽ giả thuyết ấy cho Hồ Xuân Hương một bộ mặt cám dỗ và giống thời đại này, thời đại, như một thi sĩ nói, của

                        Người nữ sinh viên già
                        Ôn ngư lôi và phóng pháo


hơn là một sự thản nhiên thực ra chỉ là một sự phục tòng. Thì dù phục tòng ấy là của một người đã đổi mình và cái chết làm một người cũng không thể chối rằng chết như thế dễ hơn là sống. Nhưng tôi đọc Hồ Xuân Hương đâu có để tô điểm hay xử án nàng? Xếp lại thơ nàng tôi chỉ xếp theo cái kiểu tôi cho là dễ và dễ hiểu nhất. Nhưng tìm hiểu một người làm thơ cũng là tìm những lý do của một tình yêu. Mà có lẽ người ta chỉ có cái tình yêu người ta có. Cho nên tuy có tất cả những lý do để chọn giữa nhiều giả thuyết cái giả thuyết tôi đã chọn, tôi cũng không có ảo tưởng rằng tất cả những gì tôi viết về Hồ Xuân Hương là đúng. Thừa can đảm thì có lẽ tôi đã viết lại. Nhưng lễ độ của người viết là không bao giờ muốn có lý đến cùng. Muốn có lý thì người ta dùng súng! Mà viết có nghĩa gì đâu? Là mượn một lời nói khó nghe để người ta giận mà đi tìm cái biết thực. Nếu cái biết thực lẽ dĩ nhiên còn có nghĩa gì trong một thế giới của bạo động của oán thù, của đói và rét và có nghìn đao-phủ-thủ sẵn sàng biết trước hộ người ta.



9
            Mà về Hồ Xuân Hương có thể có cái biết thực nào không? Những tác phẩm gán cho nàng người ta không chắc là của nàng. Và có người còn ngỡ là nàng không có thực. Nhưng Hồ Xuân Hương không có thì cũng có một truyền thuyết Hồ Xuân Hương…

* * *

            Chẳng hạn người ta bảo Hồ Xuân Hương lãng mạn. Thì cũng không hẳn là sai. Sai là khi người ta tưởng lãng mạn là làm thơ tự tình, có một ngôn ngữ và một quan niệm sống phóng túng. Không. Xu hướng lãng mạn của Hồ Xuân Hương bắt đầu trong ý thức rằng có một sự sai lệch giữa cái biết thường của người ta và thực tính của mọi vật. Nhưng thực tính ấy thế nào thì nàng cũng không biết. Sao người ta có thể bảo là nàng tả chân? Nàng đâu có tả. Mà có tả thì cũng để người ta thấy trong cái người ta gọi là “chân” cái chân không và sự sai lệch của nó. Ngôn ngữ nàng là một ngôn ngữ phản-tả-chân, nghệ thuật chủ ngoại của nàng là một nghệ thuật tố ngoại, và thơ nàng thường là những nghịch họa để nhạo đời. Nàng nhạo vua, nhạo chúa, nhạo ông quan võ, nhạo người quân tử và gì nữa? Tôn giáo, lễ nghi và cả đến cái chết nàng cũng không chừa. Tất cả những gì xã hội cho là thiêng và trọng, nàng đều lấy ra để cười. Và có người đã vội kêu rằng nàng làm thơ cách mạng. Nếu thế thì thượng lưu trí thức ở xứ này toàn là những người siêu cách mạng cả sao! Nhưng chữ cách mạng, như tất cả những chữ yêu khác của thời đại như: biện chứng, mặc cảm tự do v.v… là một chữ đã mắc bệnh nghĩa là ai cũng lấy dùng nhưng chỉ để dùng sái nghĩa. Hình như người ta quên rằng làm cách mạng là lấy trật tự xã hội này thay trật tự xã hội khác. Mà cảnh cực lạc của Hồ Xuân Hương không có tính cách xã hội. Nó là một giải thoát cá nhân. Và nó đòi hỏi một sự chan hòa không để một trật tự nào sống sót thì tính cách phản cách mạng của nó đã rõ. Hơn nữa để nói đến cùng thì còn gì phản cách mạng hơn là một yêu sách tự do nhục tình? Sự thật đáng buồn là tất cả những cuộc cách mạng, đến buổi thoái trào nghĩa là khi những nguyện vọng thuở đầu đã vỡ đều lên án tự do nhất là tự do nhục tình và mượn đạo đức để minh oan cho những yêu sách của nó càng ngày càng xa những có thể của thực tại và không thuận lòng người. Nhưng đạo đức thì Hồ Xuân Hương không thể nào hiểu nổi. Và người ta lại càng lầm khi người ta tưởng tiếng cười nhạo báng của nàng là của một tâm hồn đẹp, trước cảnh đạo đức suy vong của thời đại mình đã trở nên chán đời. Không. Hồ Xuân Hương không là một tâm hồn đẹp, như đời vẫn có thừa, có chán thì cũng chỉ biết chán người ta chứ chẳng bao giờ biết chán mình! Nàng thì trái lại là người đầu tiên nàng chán, và sự yếm thế của nàng, xây từ kinh nghiệm rằng cuộc sống thực không thể có trên thế giới, chỉ là mặt trái của một tình tha thiết yêu đời. Ai đã nói rằng con người ấy yêu đời đến nỗi gặp cái gì cũng thấy vui mắt, cũng sướng cũng cười, cũng múa, cũng nhẩy? Nhưng yêu đời Hồ Xuân Hương đời ở đời nhiều hơn những cái thú ấy của cảm giác, và ngôn ngữ quá đáng của nàng vừa như cố làm sống những cảm giác ấy, vừa cho người ta thấy rằng không thể đổi cảm giác ra một nguồn sống thực. Và người ta hiểu trong thơ nàng cái nghĩa nặng của nhục tình. Của cái phần người ta gọi là tục. Vừa là một cách vặn méo mọi vật nghĩa là một khí giới để phá cái oai ngoài mặt của thế giới cái tục ấy vừa cụ thể hóa một tương quan đặc biệt nàng muốn thiết lập giữa thế giới và nàng. Nàng không làm thơ tục để giải tỏa trên ngôn ngữ, như người ta tưởng, một tính đa dâm không được thỏa mãn. Mà cũng không để, nhân một lời nói được đôi, khoe tài chơi chữ. A! Cái tài của Hồ Xuân Hương ai mà không ca ngợi! Như nó có thể chuộc lại được cái tục của nàng. Hay nói đúng hơn thì người ta đã tha thứ cái tục ấy như một phần của cái tài làm thơ. Làm thơ tục như thế chỉ là một tiểu sảo kỹ thuật và tất cả những người lương thiện đều có thể vỗ tay vào. Nhưng họ càng vỗ tay thì cái tục ấy lại càng mất nghĩa. Cho nên người ta càng thán phục tài Hồ Xuân Hương thì tôi lại càng nghi ngờ. Hơn nữa sự thán phục ấy, dựng trên một quan niệm kế toán về nghệ thuật nó định giá trị của một tác phẩm theo tổng số những cái khó người làm thơ phải giải quyết, là một sự hiểu lầm. Hiểu lầm nghệ thuật và cả Hồ Xuân Hương nữa. Cái đẹp của nghệ thuật có đếm được đâu! Mà nếu thơ Hồ Xuân Hương chỉ có cái phần đếm được ấy thì nó cũng chẳng quý gì hơn một đồ chơi đắt tiền. Cái phần đếm được ấy là cái người ta thường lấy để khen nàng là tài. Và cái tài ấy có lẽ là cái phần đáng bỏ đi nhất trong thơ nàng, nếu nàng không là người đầu tiên diễu nó và nếu người ta không biết rằng nó là tất cả những gì còn lại cho nàng để tố giác một thế giới đã hết ân tình. Cho đến khi ân tình ấy, không cần nữa, nàng cũng quên đi, và quên cả tố giác, nàng cũng quên cả cái tài của mình để, trong một cái nhìn lơ đãng, làm thế giới và, qua thế giới, ngôn ngữ lại trở nên thái bình. Thành ra người ta có thể nói rằng, tài thì tài, Hồ Xuân Hương vẫn đáng yêu. Mà còn gì đáng yêu hơn khi trong một người thục nữ, người ta gặp một thân thể tự do, một tâm hồn mênh mông như không có và sự vô tình ấy để cho nụ cười ưng thuận cái gì cũng giống như sự dịu dàng của mỉa mai. Ưng thuận? Tiếc sao! Tiếc sao! Hạnh phúc ấy không có trong cuộc đời nô lệ.

* * *

            Mà nó có thể có không khi bạo động và sự từ chối đối thoại càng ngày càng gây thêm thảm khổ và khơi to cái hố của oán thù?

ĐỖ LONG VÂN

_______________________________________________
(1) Sự kiện ấy tuy nhiên chẳng có gì đáng ngại. Người ta có thể quan niệm, như dân một xứ nào của đại văn hào A-Căn-Đình, J. L. Borgès, đã tưởng tượng, rằng tất cả những tác phẩm trên đời đều của cùng một tác giả. Và như thế thì lấy những sách thật khác nhau, như Đạo Đức kinh và Hamlet chẳng hạn, để nghiên cứu tác giả chung của chúng là một chuyện không thật là trái lý.
(2) Theo ông Thuần Phong (Hồ Xuân Hương thi tập, trang 6, Đoàn Văn xuất bản, Sài Gòn 1958) thì hai câu ấy của anh em ông Phủ Vĩnh Tường làm, theo cái đề “Thạch liên thiên” Hồ Xuân Hương ra, khi họ đến cầu hôn. Lẽ dĩ nhiên ấy chỉ là một tục truyền. Nhưng tất cả xẩy ra như người ta chỉ có những tục truyền giống người ta.
(3) Sộc sệch cũng như Lắt lẻo tả một sự mất gốc. Và chênh vênhcheo leo là những gì nhô ra trên một nền chân không. Người ta hiểu rằng trong khoảng không có gì ấy tất cả đều lộn lèo và bấp bênh nghĩa là không ngừng nhỡ bước.
(4) Ảnh tượng của cái diều một đằng thì lộn lèo theo những di động loạn xạ, một đằng vẫn bị tù trong giới hạn của một quãng dây cũng chỉ có cái nghĩa ấy.
(5) Sự nhỡ bước ấy cần được hiểu theo nghĩa cụ thể của một sự bước hụt. Người ta đi và thấy “đất” chợt thiếu dưới chân mình. Ấy là một thứ “đất” lòng như không có và người ta lộn lèo theo một cuộc sống bấp bênh như lúc nào cũng có thể nhào xuống một khoảng trống lớn. Vẫn cuộc đời không có căn bản ấy! Và chân không là chỗ đến của tất cả những tác động người.
(6) Những kỷ hà ấy cũng như những mầu sặc sỡ của chúng thực ra cũng có thể hiểu như sự bắt đầu của một đạo lý nhân bản trong ấy con người có toàn quyền bắt thiên nhiên vào trong những thể của mình sáng tác. Nhưng tất cả thơ Hồ Xuân Hương từ chối cách giải thích ấy. Và nếu có thì cái cám đỗ nhân bản trong thơ nàng cũng chỉ có như một cám dỗ không có ngày mai. Nàng không ca ngợi sức sáng tác của con người mà tố giác sảo tính của những cảnh người ta là của thiên nhiên. Thiên nhiên không có. Chỉ có nghệ thuật nghĩa là những thể không có thực. Và theo nghĩa ấy thì con “Tạo khéo trêu người” của nàng không thể hiểu như một Thượng đế có quyền cho thực thể mà chỉ là một nghệ sĩ là một nhân vật tác quái giống như cái mà Thiên Chúa giáo gọi là “le Malin”.
(7) Vẫn những sự kiện ấy. Nhưng ở mỗi tầng của sự tìm hiểu chúng có một nghĩa khác.
(8) Ấy là một danh từ của Roland Barthes cũng như một số ý tưởng trong này.



 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #171 vào: 07/01/2018, 22:15:41 »
Đại học | Số 38 [tháng 04/1964 | 154 trang]
                           VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG

MỤC LỤC
ĐẠI-HỌC |  ĐẶT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG |  171
NGUYỄN HỮU LÀNH |  VẤN ĐỀ THỢ THUYỀN |  175
TRẦN VĂN TOÀN |  K. MARX VÀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG LAO ĐỘNG |  185
NGUYỄN HỮU LÀNH |  TỰ DO VÀ UY QUYỀN TRONG TƯ TƯỞNG J. J. ROUSSEAU |  205
BỬU KẾ |  LỄ TẾ GIAO (tiếp theo) |  218
THÁI VĂN KIỂM |  Y PHỤC CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC THỜI ĐẠI |  230
NGUYỄN PHƯƠNG |  TIỀN SỬ VÀ LỊCH SỬ LẠC VIỆT |  255
VÕ XUÂN HÂN |  GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ |  291
_________________________________________________________________

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #172 vào: 07/01/2018, 22:28:48 »
ĐẶT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG

            Thiếu lao động, xã hội không thể sống. Nhưng cá nhân không lao động thì chưa chắc đã chết đói. Vần đề lao động, tuy là vấn đề xã hội then chốt, nhưng ít ai đặt ra, mà có đặt thì cũng ít khi cho chỉnh.

* * *

            Đã từ lâu lắm, mực sống sung túc cũng như vị trí lãnh đạo trong xã hội thường do những người không lao động chân tay nắm giữ: lao động không phải là đường lối thăng tiến của con người.
            Sức mạnh là một lối thăng tiến. Mạnh được yếu thua, lẽ tự nhiên trong loài động vật là thế. Cá nhân này bắt chẹt cá nhân kia, đoàn thể hay dân tộc này lấn át đoàn thể hay dân tộc khác, nếu không phải vì sức mạnh riêng của mình thì cũng vì cái oai võ của những người thủ hạ hay vì cái số đông những người cùng một phe. Xét trong thực hành, hình như thiên hạ coi nhân nghĩa chẳng qua chỉ là những quy ước trái lẽ tự nhiên, nhằm cản đường tiến của sức mạnh. Dĩ nhiên những chữ nghĩa vẫn ở đầu môi mọi người. Ai có sức mạnh thì thoát ra ngoài lao động. Lao động là thân phận nô bộc của kẻ yếu, chứ chưa phải là danh dự của con người.
            Có nhiều lối thăng tiến khác nữa. Trong xã hội Hy Lạp xưa, có một số người không làm cũng có ăn. Họ có thì giờ rỗi để suy tư, để đàm đạo với nhau về văn chương, về việc trời việc đất, để mưu mô tính toán về việc lãnh đạo xã tắc, nghĩa là phát triển đời sống tinh thần và làm chính trị. Người ta nhận thức rằng con người là zoon politikon (animal politique, social), rằng con người hơn con vật vì có tinh thần, homo sapiens. Ý thức của con người nhiều khi chỉ là phản ảnh của vị trí mình đang chiếm trong xã hội mà thôi. Làm chính trị và đi học là hai lối thăng tiến không cần đến dũng cảm của nhà võ. Mà vẫn làm cho con người có thể thoát khỏi lao động. Lao động vẫn được coi là nền của xã hội, không phải vì người ta cho nó là có giá, nhưng là vì lao động là chỗ người ta đạp lên trên, để đưa thân mình lên cao hơn.
            Cả văn lẫn võ, hai bên đều đinh ninh rằng chọc trời quấy nước là ở mình, rằng mình đóng vai trò chủ động trong lịch sử, và dĩ nhiên địa vị lãnh đạo cũng phải là phần riêng mình. Lịch sử viết lên, không cốt ghi lấy sự thực về con người, nhưng là để ghi lấy những cái có lợi cho mình, nhất là khi người ta ghi lấy lịch sử của chính mình. Cái ý thức về mình đó rất có ích: không ai có thể làm được cái gì to tát, nếu cứ đinh ninh rằng mình vô giá trị. Nhưng, có triết gia đã viết một câu chí lý: những tư tưởng đánh dấu một thời đại chỉ là những quan niệm của giai cấp thắng thế trong thời đại đó.
            Thiếu lao động, xã hội không thể sống; nhưng cá nhân không lao động thì chưa chắc đã chết đói. Nếu những cá nhân không lao động chân tay, chẳng những không chết đói, mà còn thắng thế trong xã hội, thì làm thế nào ý thức được cái ích lợi – chứ đừng nói đến cái giá trị – của lao động chân tay.


* * *

            Tuy nhiên không phải vì thế mà không ai nói đến lao động.
            Vấn đề của người ngồi trên là giữ chỗ, giữ sao cho người ở dưới không lên được và giữ sao cho người ngồi ngang khỏi ngồi mất chỗ mình. Óc thông minh của con người đã được khéo léo sử dụng để tìm ra những ngôn từ và hành động có thể duy trì địa vị một cách hữu hiệu. Sách Đông Chu Liệt Quốc đã ghi lấy nhiều thành tích về mặt đó của cái “nhân linh ư vạn vật”. Cũng không thiếu gì người có ăn học dùng tôn giáo, triết học hay võ lực để biện chính cho sự bất bình đẳng. Đến nỗi người ta cho đó là tự nhiên!
            Nhưng có cho đó là tự nhiên thì cũng chưa hết vần đề. Người lao động sẽ cố gắng nếu ý thức được khả năng của mình. Nhưng cố gắng ở đây là để cho mình hay con cái mình thoát ra ngoài thân phận lao động. Như đã nói, chữ nghĩa là một phương tiện thăng tiến. Lối thăng tiến này lại có phần lương thiện vì nó căn cứ vào nỗ lực và khả năng của mình. Vì thế người lao động không tiếc tiền mua chữ nghĩa, mua bằng cấp cho con cái. Có cầu thì cũng có cung, do đó nảy ra cái nghề bán chữ có quảng cáo linh đình. Người ta ca tụng và khuyến khích lòng hiếu học, nhưng lại lo ngại cái nạn “trí thức thất nghiệp”. Mà lo ngại là phải. Vì nếu mọi người đều có học, và nếu mọi người có học đều muốn bỏ lao động chân tay để đòi địa vị lãnh đạo quan liêu, thì xã hội thiếu lao động sẽ không sống được. Trừ khi người ta biết thay đổi quan niệm về lao động. Đáng lẽ phải đặt vấn đề thất nghiệp chung.
            Thiết tưởng dù sao đặt vấn đề trí thức thất nghiệp, tức là chưa ý thức về vấn đề lao động.
            Người ta có thể thấy thân phận lao động là khổ cực, và số người lao động lại đông. Cho nên có thể dùng lực lượng ấy để tiến thân. Thiếu gì những người tiếng là đại diện cho phái cần lao, cho phái lao động, tiếng là vận động và tranh đấu cho những người bị áp bức đó, và đôi khi lấy tiếng là xin tiền cho những người nghèo đó, nhưng thực tình là để chiếm địa vị và tài sản cho mình. Ai còn lạ gì cái thói đời như thế? Cũng như trong bàn tiệc của người Pháp, ai nấy nâng cốc rượu uống lấy sức cho họ: “À votre santé!” Lời nói không mất tiền mua là thế.
            Có những người giàu lòng nhân đạo, muốn làm cho thân phận lao động đỡ khắt khe. Nhưng vì chưa nhìn thấy rõ vấn đề, hay vì không thấy rõ có thể thay đổi thân phận lao động, cho nên hoạt động bác ái của họ chỉ có tính cách tư nhân mà thôi. Không phải như thế là vô giá trị, nhưng dù sao kết quả cũng hạn hẹp và đôi khi có cái nguy là đi vào thái độ “cha chú”.


* * *

            Vấn đề lao động không phải là kêu gọi lòng từ bi, bác ái, để xin bố thí giúp đỡ cho người lao động. Càng không phải là chiêu bài để những người không lao động dùng mà tiến thân.
            Vấn đề cũng không phải là giải phóng mọi người cho khỏi lao động, vì thiếu lao động, xã hội không thể sống được. Vẫn biết với nền văn minh kỹ thuật, cách thức làm việc có thể thay đổi, và người ta sẽ đỡ phải dùng quá nhiều sức người. Nhưng không thể giải phóng mọi người để khỏi phải làm việc.
            Vấn đề lao động là giải phóng thân phận lao động.
            Người lao động Âu châu đã vất vả đi theo con đường ấy. Lao động đã thành con đường tiến thân. Lao động bảo đảm cho con người một đời sống xứng đáng và là danh dự của con người. Trong tình trạng đó, người ta không xấu hổ vì mình làm việc, nhưng chỉ thẹn khi mình không làm việc.
            Vấn đề lao động là vấn đề giải phóng thân phận lao động. Thiết tưởng có đặt vấn đề theo lối đó thì các thứ tư tưởng hay, các thứ triết lý đẹp đẽ về lao động mới khỏi là vô nghĩa.


ĐẠI-HỌC



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #173 vào: 15/01/2018, 00:59:43 »
VẤN ĐỀ THỢ THUYỀN

            Vấn đề thợ thuyền được đặt ra ở bất cứ xã hội nào vì trong xã hội nào cũng có những người sử dụng cần lao của kẻ khác và cũng có người làm việc cho kẻ khác. Đó là vấn đề tổ chức các tương quan giữa chủ và thợ. Như vậy vấn đề đó có khía cạnh pháp lý, xã hội cũng như tâm lý.
            Vấn đề thợ thuyền được coi như cực kỳ quan trọng trong những nước đã tiến tới một nền văn minh kỹ nghệ với sự hiện diện của một giai cấp thợ thuyền, một giai cấp công nhân luôn luôn bất mãn, phản đối địa vị của mình trong tổ chức xã hội.
            Về phương diện này, vấn đề thợ thuyền chỉ là một khía cạnh đặc biệt của vấn đề giai cấp. Nó dựa trên những đặc tính căn bản của giai cấp thợ thuyền nhất là sự tự ty mặc cảm của giai cấp đó, một mặc cảm xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng về vai trò sản xuất và tình trạng bất an trong cuộc sống.
            Người thợ ở trong tình trạng bất bình về vai trò sản xuất vì họ chỉ là những kẻ thừa hành với một vai trò tiêu cực trước giới chủ nhân có uy quyền và lúc nào cũng dành lấy mọi sáng kiến. Họ trở nên hoàn toàn lệ thuộc giới chủ nhân và sự lệ thuộc này đưa đến sự phân biệt thường xuyên giữa hai hạng người trong xã hội.
            Cuộc sống của người thợ là một cuộc sống bất an. Họ chỉ sống qua ngày nhờ vào đồng lương của mình, nhờ vào kết quả của cần lao. Nếu vì một lý do nào đó, họ không thể làm việc được thì không có phương tiện nào khác để sinh sống. Tình trạng bất an này gây cho giới thợ thuyền một sự lo sợ ở ngày mai và đưa người thợ đến chỗ lệ thuộc người chủ vì chính người chủ là nguồn sống của người thợ và của gia đình người đó.
            Khía cạnh tâm lý này đi liền với khía cạnh pháp lý và xã hội và phải được đặc biệt chú ý trong mọi cố gắng để đi tìm giải pháp cho vấn đề thợ thuyền.
            Nhưng nếu vấn đề thợ thuyền dựa trên những đặc tính của các tương quan giữa chủ và thợ, những tương quan mà người ta vẫn thấy dưới bất cứ thời đại nào, thì tại sao vấn đề đó chỉ mới được đặt ra trong giai đoạn gần đây? Vấn đề đó không những đã được đặt ra mà cũng đã tiến triển rất nhiều.


* * *

I. Tại sao vấn đề thợ thuyền đã được đặt ra?
            Sở dĩ vấn đề đó được đặt ra vì trong gần hai thế kỷ này, có nhiều yếu tố đã làm biến đổi tình trạng thợ thuyền, yếu tố pháp lý, kinh tế và tâm lý.
            1.– Vấn đề thợ thuyền trước hết phát sinh từ một tình trạng pháp luật bắt nguồn từ cuộc cách mạng 1789 tại Pháp.
            Cho đến cuối thế kỷ 18, tại Pháp cũng như tại các nước Âu châu, người ta còn đứng trước một tổ chức kinh tế cổ truyền, sản phẩm của chế độ phong kiến thời Trung cổ.
            Hình thức chính yếu của hoạt động kinh tế trong thời kỳ này là các nghiệp hội (corporations). Đó là những đoàn thể được tổ chức theo đẳng cấp; người thợ cả, người thợ bạn, người thợ tập nghề. Muốn vào nghề nào trước hết phải làm thợ tập nghề, rồi làm thợ bạn để cuối cùng trở nên thợ cả. Nghiệp hội được hưởng một độc quyền. Không ai có thể hành nghề mà không được sự chấp thuận của nghiệp hội. Các tương quan cần lao một phần lớn được nghiệp hội quy định chặt chẽ.
            Trong một xã hội được tổ chức thành những tập thể nhỏ với những quyền hành rộng rãi như vậy con người hoàn toàn tùy thuộc vào đoàn thể mà mình chỉ là một phần tử.
            Cuộc cách mạng 1789 mà ảnh hưởng lan rộng khắp Âu châu, đã biến đổi sâu xa tình trạng đó. Cuộc cách mạng đề cao quyền tự do thiên nhiên của con người nhất là trong lãnh vực cần lao: mỗi người phải được tự do hành xử một nghề hoặc cho mình (tự do thương mại và kỹ nghệ) hoặc cho người khác (tự do lao động). Do đó, mọi sự quy định làm ngăn trở những quyền tự do đều bị hủy bỏ. Đạo luật Le Chapelier ngày 14 và 17 tháng 6 năm 1791 bãi bỏ cái nghiệp hội, đạo luật Allarde ngày 2 và 17 tháng 3 năm 1791 xác nhận quyền tự do thương mại và kỹ nghệ.
            Nhưng một khi đã hủy diệt hoàn toàn các tương quan lao động lỗi thời người ta đã ra một học thuyết pháp lý mới về các tương quan giữa chủ và thợ, một học thuyết hoàn toàn chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc pháp lý đương thời nhất mà nguyên tắc tự do ý chí (principe de l’autonomie de la colonté). Theo nguyên tắc này, cá nhân chỉ có thể bị thúc buộc bởi ý chí của mình được phát biểu một cách trực tiếp vì đã tự ký kết những khế ước hoặc gián tiếp trong trường hợp luật pháp đã đặt ra các nghĩa vụ. Tư nhân được tự do quy định bằng khế ước các tương quan pháp lý giữa họ. Chánh quyền chỉ can thiệp để bảo vệ trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục.
            Tương quan giữa chủ và thợ được đặt trong khuôn khổ đó. Khế ước được coi là một phương tiện căn bản để tổ chức các mối tương quan đó. Chủ và thợ được coi là bình đẳng để ký kết các khế ước. Đã đành rằng khế ước sẽ tạo nên một tương quan lệ thuộc giữa hai người, nhưng điều này không được coi là bất thường một khi tương quan lệ thuộc đó phát sinh từ một ý chí tự do. Sở dĩ như vậy vì người ta tin tưởng rằng khi các cá nhân được tự do thương thuyết không vấp một trở ngại nào, thì sự quyết định của họ sẽ phản chiếu được sự công bằng.
            Nhưng với thời gian, người ta nhận thấy sự ly khai giữa pháp luật và thực tại, giữa bình đẳng pháp lý giữa chủ và thợ và bất bình đẳng thực tế giữa các đương sự kết ước. Sự đối lập giữa pháp luật và thực tại đó đã gây ra phản ứng của giới thợ thuyền đang ở trong một địa vị thấp kém, phản ứng chống lại một tình trạng pháp luật cách xa thực tại và bất lợi cho họ.
            2.– Song song với cuộc cách mạng chính trị và pháp lý một cuộc cách mạng kinh tế đã xảy ra vào cuối thế kỷ 18. Nền kinh tế bước từ giai đoạn công nghệ sang giai đoạn kỹ nghệ.
            Những sự biến chuyển đó không có tính cách đột ngột như những sự biến chuyển trong lãnh vực chính trị và pháp lý mà trái lại cần một thời gian khá lâu dài mới thực hiện được. Nhưng trong thế kỷ 18, có một số yếu tố đã khiến cho sự biến chuyển ấy được xảy ra một cách nhanh chóng. Người ta có cảm tưởng đứng trước một cuộc cách mạng.
            Với cuộc “cách mạng kỹ nghệ”, hệ thống tư bản kỹ nghệ và cạnh tranh đã ra đời.
            Trong hệ thống kinh tế đó, quyền điều khiển xí nghiệp thuộc về người sở hữu chủ các dụng cụ sản xuất. Thật vậy trong thời tiền tư bản, nhà tiểu công nghiệp là sở hữu chủ các phương tiện sản xuất. Nhưng phương tiện đó không tốn nhiều tiền lắm. Nhà tiểu công nghệ có thể trông vào nó để sống một cuộc đời tự do, phóng khoáng. Vẫn biết nhiều khi họ phải làm việc vất vả, nhưng vì làm việc cho mình nên không có những nỗi uất ức. Khi nền kinh tế tư bản phát triển, tư bản tích lũy ở trong tay một thiểu số chủ nhân, những người này sẵn tiền nên có thể sắm những máy móc tối tân, đắt tiền. Thành thử có một giai cấp mới xuất hiện: đó là giai cấp chủ, gồm những người giàu có không cần phải tự mình làm việc mà chỉ đóng vai điều khiển.
            Mặt khác hệ thống tư bản cạnh tranh đã đưa tới sự tập trung xí nghiệp. Trong giai đoạn đầu tiên của thời kỳ tư bản, nền kinh tế dựa vào sự hoạt động của rất nhiều xí nghiệp nhỏ biệt lập, không xí nghiệp nào giữ một địa vị quan trọng đến nỗi áp đảo hẳn các xí nghiệp cạnh tranh với mình. Nhưng với thời gian, sự phát triển chung của các nước, sự bành trướng của quốc tế mậu dịch, cùng chánh sách kinh tế tự do đã khiến cho cuộc cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trở nên cực kỳ gay go. Sự cạnh tranh đó đã đưa tới chỗ tập trung xí nghiệp. Người ta nhận thấy khuynh hướng chung là các tiểu và trung xí nghiệp dần dần bị gạt khỏi thị trường để nhường chỗ cho các xí nghiệp giàu mạnh. Những xí nghiệp này lại liên kết với nhau hợp thành những xí nghiệp khổng lồ để gây thêm lực lượng trong cuộc tranh đấu đến sinh tồn. Nhưng rồi họ lại nhận thấy rằng sự cạnh tranh không có lợi mà trái lại nếu họ biết liên kết nhau, họ có thể chi phối thị trường và bắt chẹt người tiêu thụ. Chế độ tư bản dần dần biến thể, đi từ hệ thống cạnh tranh đến hệ thống độc quyền.
            Sự tập trung xí nghiệp đã dẫn tới sự tập trung thợ thuyền trong các xí nghiệp khổng lồ, trong các vùng kỹ nghệ. Trước số thợ thuyền đông đảo đó, những điều kiện làm việc không còn là một vấn đề thảo luận giữa hai cá nhân. Người chủ bắt buộc phải ấn định những điều kiện lao công và lương bổng chung cho tất cả người thợ được dùng trong xí nghiệp. Và những người thợ trong một xí nghiệp bắt buộc phải tuân theo những quy tắc chung đó. Sự tập trung thợ thuyền đã tạo nên một tình trạng liên đới giữa họ. Vì cùng chung những điều kiện làm việc, những điều kiện sinh sống, cùng chung những mối tương quan với giới chủ nên tình liên đới này càng ngày càng chặt chẽ, lan rộng từ phạm vi xí nghiệp, tới phạm vi một ngành kỹ nghệ, một vùng, một xứ để đạt tới phạm vi quốc tế.
            Sự phân cách giữa chủ và thợ càng ngày càng rõ rệt. Trước giới chủ nhân giàu mạnh, người thợ càng ngày càng có ít hy vọng nắm lấy quyền điều khiển xí nghiệp trong đó họ làm việc.
            Như vậy cuộc cách mạng chính trị và pháp lý và cuộc cách mạng kinh tế đã đưa đến những kết quả trái ngược. Một mặt sự tự do đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế và do đó cải thiện được các điều kiện vật chất của sự sinh hoạt. Mặt khác những sự biến chuyển kinh tế đã tạo nên một sự mâu thuẫn giữa chủ nghĩa cá nhân pháp lý (individualisme juridique) và tính cách cộng đồng càng ngày càng rõ rệt của các tương quan cần lao, một sự mâu thuẫn giữa bình đẳng pháp lý và bất bình đẳng trong thực tế.
            Thợ thuyền được giải thoát khỏi những sự ràng buộc của những luật lệ thời xưa nhưng cùng một lúc lại mất tất cả những sự bảo vệ của luật lệ đó. Ngày trước các xí nghiệp hội bảo đảm cho đoàn viên của mình một độc quyền đối với một lãnh vực nhất định. Ngày nay, sự bảo vệ đó không còn nữa, do đó trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ, người thợ phải chịu lầm than, bị chủ nhân bóc lột triệt để. Chánh quyền lại từ chối can thiệp để bảo vệ thợ thuyền lấy cớ rằng sự can thiệp đó sẽ vi phạm đến các nguyên tắc tự do. Và cũng lấy lý do là để bảo vệ tự do, chánh quyền cấm đoán mọi sự liên hiệp của thợ thuyền, mọi hành động cộng đồng của giới đó và coi đó là vi phạm đến trật tự an ninh.
            3.– Dưới ảnh hưởng của các yếu tố pháp lý và kinh tế, vấn đề thợ thuyền đã được đặt ra.
            Nhưng muốn cho vấn đề đó được đặt ra một cách thực sự trước dư luận và chánh quyền để có thể đi đến một giải pháp cần có sự góp phần của một yếu tố tâm lý. Phải làm thế nào cho dư luận cũng như chánh quyền ý thức được tình trạng pháp lý và kinh tế của người thợ. Ý thức này chỉ có thể có nếu hiểu biết được tình trạng mới của thợ thuyền, một tình trạng xuất phát từ những biến chuyển nói trên.

II. Vấn đề thợ thuyền đã tiến triển như thế nào?
            Vấn đề thợ thuyền đã được đặt ra và đã tiến triển rất nhiều, tiến triển qua ba giai đoạn chính yếu mà người ta có thể nhận thấy gần như tại hầu hết các quốc gia tân tiến. Trước hết là giai đoạn ý thức được vấn đề. Giai đoạn thứ hai là một giai đoạn tranh đấu, phong trào thợ thuyền tranh đấu để bắt giới tư bản phải công nhận sự hiện diện của mình. Sau cùng là giai đoạn tổ chức trong đó người ta cố gắng tìm một giải pháp thích hợp cho vấn đề.
            1.– Giai đoạn ý thức vấn đề thợ thuyền: Giai đoạn này khởi đầu từ khi có những cuộc điều tra về tình trạng thợ thuyền.
            Tại Pháp bác sĩ Villermé năm 1840 đã trình bày dư luận tình trạng khốn khổ của thợ thuyền, sự bóc lột tàn nhẫn của giới chủ nhân nhất là đối với đàn bà và con trẻ. Điều kiện làm việc không những phản vệ sinh mà còn tàn ác. Lương bổng chỉ đủ sống qua ngày…
            Tại Anh, những cuộc điều tra tương tự cũng đã được thực hiện vào những năm cuối cùng của thế kỷ 18.
            Những cuộc điều tra nói trên đã lưu ý dư luận về những hậu quả tai hại của những sự biến đổi pháp lý và kinh tế của thời kỳ trước. Nó đã gây ra một phong trào phản ứng trong dư luận, chỉ trích chế độ kinh tế tự do và những sự lạm dụng của nó.
            Người ta thấy xuất hiện chủ nghĩa tân-nghiệp-hội (néo-corporatisme) chủ trương áp dụng trở lại phương thức tổ chức của nghiệp hội. Người ta cũng thấy xuất hiện những chủ nghĩa đầu tiên của phong trào xã hội: Robert Owen, Stuart Mill tại Anh, Saint-Simon, Fourier, Louis Blanc tại Pháp, Rodbertus, Lassalle và cùng Karl Marx tại Đức.
            Nhưng điều quan trọng nhất là chính giai cấp thợ thuyền đã ý thức được tình trạng của họ. Ý thức đó càng ngày càng mạnh mẽ với sự phổ thông giáo dục, sự phát triển của báo chí và của phong trào nghiệp đoàn.
            2.– Giai đoạn đấu tranh: Sau khi đã ý thức được tình trạng của mình thợ thuyền bước vào con đường tranh đấu. Họ tranh đấu để cho mọi người công nhận những tổ hợp của thợ thuyền và những hoạt động của các tổ hợp đó.
            Vấn đề tương quan lực lượng được đặt ra. Hoạt động của thợ thuyền bị cản trở bởi một chủ nghĩa chính trị và kinh tế thời đó, chủ nghĩa tự do. Theo chủ nghĩa đó, tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội phải đặt căn bản trên sự tự do giao thiệp giữa con người. Mọi sự can thiệp của đoàn thể cũng như mọi hành động có tính cách cộng đồng của thợ thuyền bị coi là vi phạm đến tự do cá nhân. Chủ nghĩa đó nhấn mạnh đến lợi ích của sự điều hành tự do của các định luật kinh tế. Hệ thống tổ chức cần lo có lợi nhất chỉ có thể là hệ thống dựa trên định luật cung cầu. Vi phạm đến hệ thống cung cầu tức là vi phạm đến trật tự kinh tế. Đó là một hành vi phản động phải bị trừng trị.
            Tất cả hành động của thợ thuyền là làm thế nào để thay đổi quan niệm đó, một quan niệm đã ảnh hưởng sâu xa vào tư tưởng cũng như hành động của nhà cầm quyền. Trong một thời gian rất lâu thợ thuyền đã tranh đấu bằng bạo lực. Tuy nhiên, tại các nước sự tiến triển không cùng theo một đường như nhau.
            Tại Anh, cuộc cách mạng kỹ nghệ đã xảy ra trước nhất và vì vậy vấn đề thợ thuyền đã được đặt ra sớm nhất. Hoạt động của thợ thuyền đã được sự ủng hộ của dư luận và của một số nghị sĩ vào đầu thế kỷ 19. Một đạo luật năm 1825 công nhận tính cách hợp pháp của các cuộc đình công, các sự liên kết của thợ thuyền mặc dù lúc đó tổ chức thợ thuyền còn ở trong giai đoạn phôi thai.
            Hoạt động của thợ thuyền lúc đầu chỉ nhằm lãnh vực chính trị đòi hỏi những sự cải cách trong lãnh vực này. Tuy nhiên họ bị thất bại. Do đó vào giữa thế kỷ 19, người ta nhận thấy một sự chuyển hướng của phong trào thợ thuyền Anh. Trong giai đoạn này các nghiệp đoàn chỉ tập họp các thợ thuyền chuyên môn, cố gắng chống lại sự cạnh tranh của những người đứng ngoài đoàn thể của họ. Khuynh hướng bảo thủ của họ gần giống như khuynh hướng của các nghiệp hội thời trước. Và vì phong trào đó không gây ra một sự chống đối nào trong dư luận nên nhà lập pháp đã ban hành nhiều đạo luật quy định một quy chế nghiệp đoàn rất là rộng rãi, công nhận cho các nghiệp đoàn một quyền thương thuyết cộng đồng. Mầm nụ của một chế độ lao động mới đã có ngay từ đó.
            Như vậy, tại Anh, luật pháp đã đi trước thực tại. Các quy tắc tổ chức nghiệp đoàn cũng như phong trào thợ thuyền đã có trước sự bành trướng của một phong trào thợ thuyền mạnh.
            Tại Pháp, sự tiến triển lại trái ngược hẳn. Luật pháp bao giờ cũng đến sau thực tế.
            Trong tiền bán thế kỷ 19, giữa khoảng 1830 và 1840, hoạt động của các phong trào thợ thuyền đều nhằm lãnh vực kinh tế. Các phong trào đó đã gặp thất bại và bị chánh quyền đàn áp.
            Sau đó, phong trào thợ thuyền mới hướng về hoạt động chính trị. Các lãnh tụ nghiệp đoàn nghĩ rằng chỉ có những sự cải cách chính trị mới giúp họ đạt được những nguyện vọng về phương diện kinh tế. Do đó họ đã tham dự và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng 1848. Hoạt động chính trị đã thành công, trái hẳn với các nghiệp đoàn Anh.
            Phong trào thợ thuyền đã dành được quyền liên kết và sau đó quyền thành lập nghiệp đoàn trước khi có những đạo luật thừa nhận những quyền đó,
            Sự tranh đấu bằng bạo lực đã chấm dứt vào cuối thế kỷ 19 và kể từ đó người ta bước sang một giai đoạn mới: Giai đoạn tổ chức.
            3.– Giai đoạn tổ chức: Người ta tìm cách tổ chức các tương quan giữa chủ và thợ, tìm giải pháp cho một vấn đề mà người ta không thể nào phủ nhận sự hiện hữu cũng như những đặc tính của nó.
            Những giải pháp đó thay đổi từ nước này sang nước khác tùy theo các điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội. Nó cũng thay đổi theo đà tiến triển của sự bang giao quốc tế. Sự bành trướng của các tổ chức quốc tế mà sự hoạt động lan rộng sang phạm vi xã hội, chẳng hạn như Tổ chức Lao động Quốc tế thành lập năm 1919, đã ảnh hưởng đến vấn đề thợ thuyền.
            Một trong những giải pháp cực đoan là để cho chủ và thợ được tự do tổ chức các tương quan giữa họ theo những định luật kinh tế nhất là định luật cung cầu.
            Đối lập với giải pháp trên, người ta có thể nghĩ rằng không thể nào tìm được một giải pháp cho vấn đề thợ thuyền nếu không có một sự đảo lộn trật tự pháp lý và kinh tế. Tự ty mặc cảm của người thợ, căn bản của vấn đề, chỉ có thể bị trừ diệt với sự thiết lập một xã hội Cộng sản trong đó không còn có giới chủ nhân. Người thợ khi đó, chỉ làm việc cho mình, nắm lấy quyền điều khiển công việc sản xuất và nhờ ở hệ thống kinh tế hoạch định sẽ được bảo đảm an ninh ở ngày mai. Vấn đề thợ thuyền được giải quyết bằng sự tiêu diệt vấn đề đó.
            Giữa hai giải pháp cực đoan đó, có nhiều giải pháp khác.
            Có giải pháp chủ trương giao phó cho chủ nhân công việc giải quyết vấn đề thợ thuyền. Chủ nhân phải cố gắng cải thiện tình trạng thợ thuyền bởi những sáng kiến mà họ đơn phương đề ra không cần có sự tham dự của giới này. Giải pháp này bắt nguồn từ tư tưởng của Le Play theo đó chủ phải đối đãi nhân từ đối với thợ như người cha đối với con (paternalisme social).
            Có giải pháp đòi hỏi sự can thiệp của chánh quyền. Chánh quyền đề ra những biện pháp mà chủ cũng như thợ phải tuân theo. Giải pháp này chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội quốc gia tại Đức, chủ nghĩa liên đới của Léon Bourgeois tại Pháp, chủ nghĩa xã hội Gia-tô và nhất là các bản Thông điệp Rerum novarum của Giáo Hoàng Léon XIII (1891) và Quadragesimo anno của Pie XI (1931). Và gần đây, tại Anh, các công cuộc nghiên cứu của J. M. Keynes và vấn đề toàn dụng (plein emploi) và của Beveridge về vấn đề an ninh xã hội cũng đã cổ xúy mọi sự can thiệp tích cực của chánh quyền vào lãnh vực thợ thuyền.
            Cuối cùng có một giải pháp thường được áp dụng tại các nước dân chủ tự do, nó nhằm thực hiện một thế quân bình giữa các đoàn thể chủ và đoàn thể thợ. Các nghiệp đoàn nhất là nghiệp đoàn thợ được công nhận một vai trò quan trọng trong sự tổ chức vấn đề thợ thuyền. Với một lực lượng càng ngày càng mạnh, nó làm giảm bớt được uy quyền của giới chủ nhân và hơn nữa do ở sức mạnh đó, nó xác nhận phẩm cách của người thợ và làm giảm bớt tự ty mặc cảm của giới này. Trong thực tế, tại các nước đã theo giải pháp vừa nói trên, người ta nhận thấy một sự hợp tác giữa nghiệp đoàn chủ và nghiệp đoàn thợ và cùng một lúc người ta cũng nhận thấy có sự can thiệp của chánh quyền trong trường hợp có sự khiếm khuyết tổ chức của hai giới chủ và thợ.
            Những nhận xét nói trên giải thích được địa vị của thợ thuyền trong các nước tân tiến ngày nay.
            Phong trào đó có một vai trò càng ngày càng quan trọng trong nhiều lãnh vực. Nó ảnh hưởng đến tổ chức chính trị vì giới thợ thuyền chiếm một tỷ lệ quan trọng về số cử tri. Nó liên hệ chặt chẽ đến cơ cấu kinh tế vì với sự tham dự của giới thợ thuyền vào việc quản trị xí nghiệp nền tư bản đã thay đổi nhiều. Nó cũng chi phối các tương quan xã hội vì giới thợ thuyền là một giai cấp quan trọng bên cạnh các giai cấp khác.
            Về các khía cạnh đó vấn đề thợ thuyền ảnh hưởng sâu xa đến đời sống trong nước. Nó lan rộng đến lãnh vực quốc tế vì, một mặt, những hậu quả của các giải pháp cho vấn đề thợ thuyền có ảnh hưởng đến sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia và mặt khác vì tình liên đới của thợ thuyền trên thế giới. Đặc tính quốc tế này đã được chính thức công nhận với sự thành lập tổ chức Quốc tế Lao động trong đó các đại diện chủ, thợ và chánh quyền hợp tác với nhau để giải quyết những vấn đề liên quan đến thợ thuyền.
            Vấn đề thợ thuyền, như vậy, đã vượt khỏi phạm vi kỹ thuật pháp lý và cả phạm vi xã hội của một xí nghiệp hay một ngành kỹ nghệ để liên hệ đến chánh sách chung của quốc gia và quốc tế.


NGUYỄN HỮU LÀNH



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #174 vào: 21/01/2018, 18:11:18 »
Đại học | Số 39 [tháng 06/1964 | 134 trang]
                                    CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VĂN HÓA

MỤC LỤC
ĐẠI-HỌC |  VẤN ĐỀ VĂN HÓA DÂN TỘC |  321
LÊ VĂN HẢO |  MỘT SỐ TỤC CỔ CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC HỘI MÙA (tiếp theo) |  323
TRẦN VĂN TOÀN |  MỘT VẤN ĐỀ VĂN HÓA: TÔN GIÁO TRONG DÂN GIAN |  336
NGUYỄN PHƯƠNG |  TIỀN SỬ VÀ LỊCH SỬ LẠC VIỆT (tiếp theo) |  346
BERGSON |  HAI NGUỒN MẠCH CỦA ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO |  372
GIẢN CHI & NGUYỄN HIẾN LÊ |  THÁI CỰC LUẬN |  388
VÕ XUÂN HÂN |  MỘT ĐỐI LỰC TRONG NỀN TƯ BẢN MỸ |  403
_________________________________________________________________

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #175 vào: 21/01/2018, 18:26:48 »
VẤN ĐỀ VĂN HÓA DÂN TỘC

            Cho đến ngày nay vẫn còn thấy có những học giả nói truyện Đông Tây một cách rất là tổng quát, nếu không phải là mập mờ. Có một lối trình bày cố làm cho người mình tự cao tự đại một cách quá dễ dàng. Lối trình bày ấy hình như có khuynh hướng trở thành một “truyền thống dân tộc”. Nên chi chúng ta vẫn còn nghe nói rằng Đông Tây khác nhau vì một bên trực giác một bên suy luận, một bên duy vật một bên duy linh, một bên thực tiễn một bên tư tưởng cao siêu v.v…
            Thiên hạ nói nhiều về một nền “quốc học”, về dân tộc tính. Nhưng ít ai chịu khó tìm hiểu. Vẫn biết tư tưởng Ấn Độ và Trung Hoa đã nhào nặn văn hóa Việt Nam. Nhưng chẳng lẽ nước ta, xét về mặt văn hóa, chỉ là một tỉnh của Trung Hoa hay của Ấn Độ thôi ư? Ấy là chưa nói đến ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương. Chẳng lẽ ngoài những đề tài về Trung Hoa và Ấn Độ, chúng ta không còn gì để nói về văn hóa Việt Nam nữa ư?
            Không phải khảo cứu tư tưởng Trung Hoa, Ấn Độ hay Tây phương là làm một việc dư thừa. Vẫn biết trong những nền văn hóa đó đã có rất nhiều học giả viết sách luận bàn, và học giả xứ ta cũng phải chật vật mới khỏi lặp lại quan niệm người khác. Nhưng văn hóa không thể đóng khung vào một dân tộc. Cho nên công việc khảo cứu trên đây rất quan hệ, vì nó giúp cho dân ta có thái độ cởi mở để đón nhận các giá trị văn hóa phổ biến của nhân loại.
            Tuy nhiên vẫn còn chưa hết vấn đề. Chẳng lẽ văn hóa Việt Nam không có gì đặc sắc ư? Muốn trả lời rằng có hay không, tất nhiên phải biết mình có những gì đã.
            Về điểm này có lẽ người ngoại quốc, nhất là người Pháp, đã đi trước chúng ta. Họ đã sưu tầm và ghi lấy phong tục và tôn giáo của người mình. Họ đã khảo cứu về văn học và ngôn ngữ của chúng ta. Các thành quả của Trường Viễn Đông Bác Cổ không phải là không đáng kể. Học giả xứ ta, nếu tha thiết với văn hóa dân tộc, thiết tưởng không thể không biết đến những thành quả đó.
            Nhưng chẳng lẽ học giả xứ ta chỉ còn có việc dịch những tài liệu ấy ra tiếng ta thôi ư? Không! Còn nhiều phong tục địa phương, còn nhiều hình thức tôn giáo trong dân gian vẫn chưa được quan sát và nghiên cứu. Nhiều ca dao, dân ca vẫn còn tản mát khắp nơi. Ngôn ngữ địa phương với cách phát âm và với ngữ vựng đặc biệt vẫn còn cần có những học giả ghi lấy. Nếu không ghi lấy, thì e rằng một mai các yếu tố văn hóa đó sẽ mai một đi. Và rồi chúng ta sẽ mất những tài liệu để hiểu lịch sử dân tộc cũng như “dân tộc tính”.
            Có thể có người cho rằng không nên ghi lấy những hình thức thoái hóa, những phong tục mê tín, những cái có tính cách “nhà quê”. Đó là những phán đoán định giá, ai nấy đều có thể tự do lựa chọn. Nhưng không phải khảo cứu về các yếu tố ấy cũng có nghĩa là tuyên truyền cho chúng, là quyết rằng chúng là hay, là tiến bộ cả.
            Vẫn biết những yếu tố ấy chưa phải là một triết lý – hiểu theo nghĩa chuyên môn – nhưng dù sao trước khi hồi tỉnh để suy nghĩ, thì đời người không phải là hoàn toàn vô lý sự, vô nghĩa lý. Nếp sống hồn nhiên đã có phương hướng. Do đó có thể suy tư về các hình thức của đời sống hồn nhiên, như: phong tục tôn giáo trong dân gian, dân ca và ca dao, để nhận ra cái nhân sinh quan đang sống động trong dân gian, tuy người dân chưa nói lên cái nhân sinh quan ấy bằng những hệ thống chặt chẽ và những ngôn từ trừu tượng.
            Có lẽ như thế cũng không phải là khảo cổ thuần túy: Vì biết đâu cái nhân sinh quan ấy lại không còn ảnh hưởng ít nhiều đến lối tư tưởng và sinh hoạt của người Việt Nam ngày nay? Biết đâu nó không làm cho ta hiểu nhiều hơn về tính tình và phản ứng của người Việt Nam ngày nay?
            Thiết tưởng cũng nên đặt vấn đề ra như một giả thiết, một phương hướng tìm tòi. Các câu trả lời, dù là tạm thời, về dân tộc tính sẽ căn cứ vào cố gắng sưu tầm của các học giả.


ĐẠI-HỌC



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #176 vào: 21/01/2018, 21:57:31 »
MỘT VẤN ĐỀ VĂN HÓA: TÔN GIÁO TRONG DÂN GIAN

            Tôn giáo là một hiện tượng rất khó diễn tả trong một định nghĩa. Nó có nhiều thứ, mỗi thứ lại có nhiều hình dạng.
            Trong cuốn Tự điển về các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo (Das Fischer Lexikon. Die Nichtchristlichen Religionen, Frankfurt-Hamburg, 1957, trang 12), giáo sư H. von Glasenapp (Tubingen) có đề nghị một câu định nghĩa khá tổng quát, để có thể bao trùm được tất cả các tôn giáo. Chúng tôi xin tạm dịch thế này: “Tôn giáo là lòng tin tưởng vào các mãnh lực siêu nhiên, các mãnh lực này có thể hữu ngã hay vô ngã. Đứng trước các mãnh lực ấy, con người thấy mình tùy thuộc, rồi hoặc muốn đưa các mãnh lực ấy về phe mình, hoặc muốn nâng mình lên tới đó. Lòng tin tưởng này xuất hiện trong tư tưởng, trong cảm nghiệm, trong ý muốn và trong việc làm”.
            Phần thứ nhất của định nghĩa nói đến quan niệm của người ta về đối tượng của tôn giáo. Tuy đã khá lỏng lẻo, khá tổng quát, nhưng chưa chắc mọi người đã có thể đồng ý, nhất là những ai đã có kinh nghiệm sâu xa về huyền nhiệm tôn giáo. Ý niệm khô cứng, làm sao có thể diễn tả được kinh nghiệm linh động trong tôn giáo? Ngôn từ chật hẹp, làm sao có thể nói lên được các vẻ phong phú của phạm vi huyền nhiệm trong đời người?
            Phần sau nói đến thái độ của con người trong tôn giáo. Thiết tưởng trừ chữ “tin tưởng” ra, mọi người có thể đồng ý rằng tôn giáo là thái độ của con người trước kinh nghiệm về mãnh lực siêu nhiên, và thái độ tôn giáo bao trùm cả tư tưởng lẫn hành động của con người.(*)
            Thế nghĩa là tôn giáo không phải chỉ là một hệ thống tư tưởng, một mớ từ ngữ, chuyển từ đời này qua đời khác. Hiểu lý thuyết, thuộc kinh sách của một tôn giáo, chưa chắc đã hiểu tôn giáo ấy, lại càng chưa chắc là đã theo tôn giáo ấy. Thiếu gì người vì địa vị, vì danh lợi, đã ra vẻ hiểu lý thuyết, thuộc kinh sách của một tôn giáo, và khi cần, cũng tuyên bố lai rai rằng mình có nhiều thiện cảm với tôn giáo ấy, ấy là nếu không đi xa hơn nữa, đến chỗ xin nhập đạo.
            Tôn giáo cũng không phải chỉ là một bộ lễ nghi, một hệ thống phong tục được duy trì trong một xã hội. Ghi chép, hiểu hay là theo những lễ nghi, phong tục ấy có thể đã theo tôn giáo, nhưng cũng có thể là không. Cũng không thiếu gì người vì danh lợi, vì địa vị mà “hành đạo” như thế một cách công cộng cho thế giới ngắm trông. Đời sống tôn giáo là một sự nhập cuộc, một sự dấn thân toàn diện và sâu xa chứ không phải chỉ là mấy hình thức bì phu chi ngoại mà thiên hạ có thể mắt thấy tai nghe rõ ràng. Cũng như trong liên hệ giữa người với người, những cử chỉ thân mật những lời nói đường mật có thể nói lên mối tình thân ái, nhưng cũng có thể che đậy một dụng ý phản trắc, một mưu mô đểu giả.
            Tuy nhiên chúng ta không thể quan niệm một tôn giáo không chút thực hiện ở bình diện thực hành và bình diện lý thuyết. Quan niệm “đạo tại tâm” mà không thực hành trong đời sống là quan niệm thiếu sót, nếu không phải là sai lầm. Quan niệm rằng chỉ cần giữ một vài chi tiết thực hành đã là đắc đạo, đó cũng là quan niệm thiếu sót như trên. Vì thế tôn giáo không thể không định hình cho đời người, tôn giáo không thể không ảnh hưởng tới đường lối suy tưởng, cách thức hành động, lý tưởng đạo đức, cách thức tổ chức xã hội. Có những hình thức xã hội chịu ảnh hưởng tôn giáo, có những đoàn thể do tôn giáo thiết lập (xem G. Mensching, Sociologie religieuse, Ed. Payot).
            Nếu tư tưởng, cách thức hành động, lối tổ chức xã hội đều là những yếu tố văn hóa, thì tôn giáo có thể định hình cho văn hóa. Nếu tôn giáo định hình cho tư tưởng, cho luân lý, cho tổ chức xã hội, cũng như cho nghệ thuật (ví dụ như đặt đề tài) thiết tưởng tìm hiểu tôn giáo của một dân tộc cũng là một phương pháp cần thiết để hiểu văn hóa của dân tộc ấy.
            Vậy để hiểu văn hóa Việt Nam, chúng tôi nghĩ cũng cần phải hiểu các tôn giáo của người Việt.
            Đối với những tôn giáo có tổ chức hẳn hoi, thì công việc không đến nỗi khó lắm.
            Nhưng đối với những hình thức tôn giáo không có tổ chức thống nhất về lý thuyết, nhưng lại phổ biến trong dân gian, thì công việc phải làm còn rất nhiều.
            Đã có những người ngoại quốc như cố L. Cadière (Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens) và giáo sư M. Durand (Technique et Panthéon des médiums Vietnamiens, Paris 1959) khảo cứu khá tỉ mỉ. Công việc của học giả xứ ta không phải chỉ còn là dịch các tài liệu đó ra tiếng Việt mà thôi.
            Hiện nay trong dân gian còn nhiều hình thức tôn giáo chưa được quan sát và ghi biên. Kèm theo đó còn có các thứ văn chầu chư vị (thường viết bằng chữ Nôm và đôi khi bằng chữ Hán) cũng cần được sưu tầm.
            Công việc sưu tầm hiện nay không dễ dàng lắm, nhưng không phải là không làm được, nếu các học giả chia nhau công tác.
            Sau đó có thể làm công việc tổng hợp, đặt các yếu tố ấy trong một toàn thể. Lúc bấy giờ mới thấy rằng từ các cử chỉ nhỏ nhặt trong lễ nghi, mầu sắc khăn chầu áo ngự, cho đến những chi tiết trên bàn thờ cái gì cũng có một ý nghĩa.
            Theo giáo sư Durand thì văn chầu là một tài liệu tốt nhất để hiểu về các vị được dân gian phụng thờ. Giáo sư có cho in 24 bản văn chầu trong sách dẫn trên. Nhưng không phải chỉ có thế. Riêng chúng tôi được biết thêm gần 40 bài văn chầu nữa, ấy là chưa kể đến vô số bài văn chầu khác thuộc các đền thờ đức thánh Trần.
            Vẫn biết là chưa đến lúc tổng hợp, nhưng thiết tưởng có thể nêu ra một số vấn đề chung quanh các bản văn chầu chư vị.
            Có thể căn cứ vào các bản văn chầu ở từng địa phương để biết những vị nào được thờ phụng ở những địa phương nào. Ví dụ ta có thể nhận thấy rằng ngoài Bắc không có thờ đức Thiên-y-a-na (Sách của giáo sư Durand cũng không có văn chầu vị đó).
            Ngoài ra có thể xem người Việt quan niệm thế nào là một vị cần phải thờ. Phải chăng đó là một vị có phép thần thông, làm được những điều phi thường để phạt những ai không nhìn nhận và để độ trì cho các đệ tử? Phải chăng các vị đó không có tính cách lịch sử, mà chỉ được nhận ra qua các hiện tượng trong thiên nhiên?
            Hiện nay ngoài trường hợp đức thánh Trần ra, chúng tôi chưa được thấy văn chầu một nhân vật lịch sử nào (Trong văn chầu thường nhắc đến những nơi ở Việt Nam mà chư vị hay ngao du, nhưng vẫn chưa có chứng cớ các vị là những nhân vật lịch sử). Tuy nhiên chúng tôi cũng xin nói đến một sự kiện đáng lưu ý: trong điện Hòn Chén (Huệ Nam), tại Huế ngoài các vị thông thường như Thiên-y-a-na, Vân Hương thánh mẫu, nhị vị tôn ông, nhị vị đức bà, ngũ vị thánh bà, các cô, các cậu v.v… chúng tôi còn thấy ở trên gác về phía tả, một bức tranh có chữ đề: “Âm dương huynh đệ thất thánh nghĩa hội. Đồng Khánh hoàng đế ngự chế – Đồng Khánh chi bửu”, trong đó ngoài sáu vị ở tam phủ ra còn có vua Đồng Khánh là vị thứ bảy. Phải chăng một người, một nhân vật lịch sử cũng có thể thành một vị linh thiêng như các vị ở ngoài lịch sử, thuộc tôn giáo tự nhiên? Biết đâu câu trả lời lại không giúp ta hiểu thêm về nhiều hiện tượng tôn giáo mới có ở nước ta.
            Chúng tôi cũng nhận thấy hình như trong các bản văn chầu ấy người ta chỉ xin chư vị ban tài ban lộc trong kiếp này, trong đời này mà thôi, chứ không nói đến một kiếp sau hay đời sau. Chắc điểm này không có lý do.
            Trên đây chúng tôi chỉ đặt vấn đề, chứ không có tham vọng giải quyết gì cả trước khi thu thập được khá đủ tài liệu. Dù sao công việc nghiên cứu phải là do một số khá đông học giả trong đó không thể không có những nhà xã hội học, dân tộc học và sử gia.


PHỤ LỤC
            Chúng tôi xin trích đăng sau đây một bài văn chầu khâm sai công chúa. Bài này trích từ sách dẫn trên của giáo sư Durand, trang 242-244. Chúng tôi sánh bài này với bản chữ Nôm (viết tắt là Dn) cũng trong sách đó (trang 296-298) và với hai bản khác mà chúng tôi được thấy ở Huế, là bản của cụ Ưng Lê (viết tắt là L) và bản ở Nam Hoằng am (viết tắt là X). Những câu, những chữ sai biệt sẽ in chữ đậm và có chú thích ở cuối trang để ghi lấy chỗ khác nhau trong các bản khác.
            Có lẽ công việc thực ra không quan hệ gì. Nhưng thiết tưởng những điểm dị biệt đôi khi cũng có ý nghĩa. Có những chỗ khác chữ, nhưng không khác ý là bao. Có chỗ dị biệt về các tên riêng làm cho ta có thể ngờ rằng vị đó không phải là một nhân vật lịch sử, do đó các tên riêng (địa danh) có thể dùng lẫn nhau được.

        KHÂM SAI CÔNG CHÚA VĂN(1)
1      Cõi(2) nam thiên(3) nữ trung Nghiêu, Thuấn
        Đất Sơn-nam(4) có đấng trâm anh(5)
        Quí hương An-thái xã danh
        Có tiên thần(6) nữ giáng sinh dõi(7) truyền
5      Đều thời chịu(8) sắc hoàng thiên
        Ứng đồng ảnh bóng khắp miền gần xa
        Ra tay sát quỉ(9) trừ tà
        Chiêu tài tiếp lộc gần xa(10) cho đồng
        Khâm sai đệ tử tùy tùng
10    Chiêu dung(11) công chúa ngự(12) đồng cứu dân
        Đã ơn(13) lại trong nghĩa dưỡng
        Nương uy trời(14) độ lượng bao dong
        Mặt hoa mày liễu má hồng
        Gồm no(15) tứ đức tam tùng vẻ vang
15    Mày ngài mắt phượng môi son(16)
        Lưng ong má phấn lại càng thêm(17) tươi
        Miệng bà cười trăm hoa đua nở
        Thực là(18) tài tiên nữ Bồng lai
        Vào tâu ra(19) giọng khoan thay(20)
20    Đã(21) trong hiển ứng lại ngoài anh linh(22)
        Cửa điện đình bà thường(23) chầu chực
        Các bộ nàng lưỡng dục(24) dâng hoa
        Chầu thôi bà trở ra về(25)
        Khi chơi Thiên-bản khi về Đồi ngang(26)
25    Miếu giữa đường là nơi(27) cây thị
        Lập(28) một đền thanh quí nghiêm trang
        Công giờn(29) phượng múa nhà vàng(30)
        Thị tùng bộ nữ sắp(31) hàng đôi bên
        Trên thượng thiên linh tiêu kỳ kế(32)
30    Về thủy(33) cung lục trí thần thông
        Kiêm tri(34) tam phủ công đồng
        Thánh ban xem sóc(35) đền rồng gần xa
        Số sách đà chép ghi(36) sau trước
        Lại sử sang gương lược trầu(37) cau
35    Phủ-giầy khuya sớm gần chầu(38)
        Quyền bà ra giọng vào tâu thông hành(39)
        Cửa điện đình tiện nghi hành sự(40)
        Chưởng phủ quyền tiên nữ anh(41) linh
        Hoặc thiên đình hay chơi(42) thủy phủ
40    Nghe đồng tôi kích cổ tam thông(43)
        Tốc lai giáng hạ đền trung(44)
        Hoặc chơi nam, bắc, tây, đông chốn nào(45)
        Hoặc(46) thiên tào còn đương(47) tra sổ
        Hay chầu bà đổi(48) sổ cho ai
45    Hay (49) chơi cảnh Bồng lai
        Phản(50) về An-thái là nơi quê nhà
        Hay bà ra kinh đô(51) thành thị
        Hay bà về trần quế mễ châu(52)
        Hay(53) chơi năm cửa nhà lầu
50    Phản ra phường(54) phố Cầu châu, Cầu giền(55)
        Khi lên điện(56) Cầu đông, cầu giáp
        Phản ra về Hàng bạc, Hàng ngang(57)
        Hàng Buồm, Phố kiến, Hàng sơn
        Hàng mây, Phố mới, Hàng đường, Đồng Xuân
55    Dạo chơi khắp hết xa gần
        Hàng Đồng, Hàng thiếc, Hàng cân, Hàng tàu
        Chợ huyện, Chùa tháp, Đình ngang
        Cấm chỉ đền Cờn các vạn dưới sông
        Có phen bà ngự thuyền rồng
60    Trải qua Trúc-bạch lại rong Tây-Hồ
        Năm ba tiên nữ chèo đua
        Lên chùa Tứ-tống về chùa Bích-lưu
        Vực Kim ngưu qua đền Yên-thái
        Cảnh hội đồng có giải Tô giang(58)
65   Tiên-tích, Quán sứ từng(59) sang
        Sai(60) các bộ nàng chầu chực dâng hoa
        Phủ giầy bà lại phản về(61)
        Ứng trong(62) bản điện sớm khuya độ(63) đồng
        Có phen bà vào đền công(64)
70    Dạo(65) khắp phủ tía hồng mọi nơi
        Khi lên điện(66) Đồi ngang, Phố cát
        Nhởn nhơ tìm bóng mát cây cao
        Nghệ An bà đã thường vào(67)
        Bà lại chơi chốn Lạng, Cao(68) Chiêm-thành
75    Có phen bà vào tỉnh Thanh
        Sòng Sơn, Ba-giội tập tành ca chơi
        Khi vãng lai bán hàng chào khách
        Bởi ai mà ngang lệch ra tay
        Dù ai bùa thuốc tìm

80    Ai mà biết phép thánh rầy truyền tha
        Lòng thành kính hương hoa thay thủy(69)
        Độ cho đồng trí tuệ linh(70) thông(71)
        Đa tài đa lộc đa công(72)
84    Phù hộ đệ tử tăng long(73) thọ trường.


TRẦN VĂN TOÀN

__________________________________
(*) Chữ “tin tưởng” có thể gây ra hiểu lầm: người ta có thể nghĩ rằng tin là bắt lý trí hoặc phải từ chức hoặc chọn thái độ lười biếng ỷ lại, không chịu tìm biết sự vật. Thiết tưởng cần phải phân biệt ra hai trường hợp. Thứ nhất là trường hợp các chân lý khoa học, khách quan, về sự kiện. Tôi chưa trông thấy châu Mỹ, chưa trông thấy tướng De Gaulle, tôi nhận có châu Mỹ, có tướng De Gaulle, vỉ tôi tin những người viết sách biết báo. Tuy nói rằng tin, nhưng nội dung của cái “tin” ấy vẫn có thể được chứng nghiệm. Sự “tin” trong trường hợp này dễ thành thái độ lười biếng, ỷ lại, nếu sự chứng nghiệm bị gạt bỏ. Cũng như người học khoa học mà không bao giờ nghĩ đến việc thí nghiệm để kiểm chứng. Cái “tin” không thể gạt bỏ cái “biết”, cái chứng nghiệm. Về phạm vi các sự kiện khách quan, các chân lý khoa học, không thể chỉ tựa lên lòng tin được. Do đó phạm vi khoa học, khách quan, chúng tôi kể là phạm vi của cái “biết”. Còn sự “tin”, chúng tôi hiểu là một liên lạc giữa người với người hay với thần linh: nó có nghĩa như là “tín cẩn”. Đó là trường hợp thứ hai, về những chân lý không ở phạm vi khách quan. Tôi có thể quan sát các cử chỉ khách quan của người đối diện, nhưng không có phương tiện khách quan để biết người ấy có thiện cảm hay ác cảm với tôi, sẽ trung thành với tôi hay không. Bộ điệu hiền lành và lời tuyên bố trịnh trọng về thiện chí của họ không minh chứng gì hết: chúng có thể che giấu một ác ý, một thủ đoạn. Nếu tôi tin, tức là tôi dám nhập cuộc, dám dấn thân, dám liều thân để mở đường cảm thông. Tắt một điều: cái biết căn cứ vào sự kiện khách quan và lý luận rõ ràng, cái tin căn cứ vào thái độ chấp nhận người khác, tín cẩn vào người ấy về những điều vượt ra ngoài phạm vi khách quan (như tâm tình, ý định, ý nghĩa v.v…) Chúng tôi mong sẽ có dịp bàn rộng hơn.
(1) L: Văn chầu bà đệ tử tiên chúa. X: Đệ tử tiên chúa văn
(2) L: Chốn
(3) L X: trung
(4) L X: Nam sơn
(5) L: anh linh
(6) L X: bà tiên
(7) L: Còn. X: chốn
(8) L X: Vâng lời thụ
(9) Chữ quỉ không có trong Dn.
(10) L X: Ban tài ban lộc hương hoa
(11) L: Lên ngôi. X: Xem ngôi
(12) L X: ứng
(13) L X: Đã nghĩa thân
(14) L X: Khắp trong triều
(15) L: Chu toàn
(16) L: mắt phượng rõ ràng. X: tóc phượng ngang ngang
(17) L X: yểu điệu xem càng tốt tươi
(18) L: Đã nên
(19) L: một
(20) L X Dn: thai
(21) L: Thêm
(22) L X: nghĩa dưỡng lại ngoài uy linh
(23) L X: Chốn thiên đình sớm khuya
(24) L: chiêu tịch. X: triều tịch
(25) L: Phủ an khuya sớm thướt tha. X: Phủ an khuya sớm đi về
(26) L: Đèo ngang chốn ấy khi ra khi vào. X: Khi chơi trong phủ khi về đồi Ngang
(27) L: giữa đường lạ sao. X: Bệnh giữa đường là trong
(28) L X: Hiện
(29) L: Lần quỳ. X: Lân giờn
(30) L: chầu sang
(31) X: Bộ tùng thị nữ bản
(32) L: Trên thiên đình tài nên đáng kể. X: Lên thiên đài dò(?) năng(?) kỳ kế.
(33) L X: Thay cứu
(34) L: coi
(35) L: cho coi cá. X: cho xem sóc
(36) L: lớn đà ghi biên. X: sang đà ghi biên
(37) L: phù
(38) L X: Hôm mai khuya sớm chầu hầu
(39) L: Quyền bà đặc biệt vào tâu thiên đình
(40) L: Chốn thiên cung tiện hành mọi sự. X: Chốn đế đình tiện nghi hành sự
(41) L X: uy
(42) L: Coi thiên đình thay bà thủy phủ. X: Hoặc thiên đình hay thủy phủ
(43) L: dâng hương
(44) L: Mời bà chứng giám lễ thường. X: Xin bà giáng hạ điện trung. Trong bản Dn, nên đọc là điện thay vì đền
(45) L: Độ trì đệ tử mọi đường mọi hay
(46) L: Trên. X: Lên
(47) L: một tay
(48) L: Bà đương còn đổi. X: Hay bà còn cải
(49) L X:
(50) L X: Khi
(51) L: dạo chơi qua. X: chơi kinh đô
(52) L: Rồi lại về Thanh Nghệ Quí-châu. X: Ấy là nơi Thanh quế mễ châu
(53) L X:
(54) L: Dạo qua hàng. X: Hay chơi hàng
(55) L: vồng
(56) L: Bà lại chơi. X: Hay bà chơi
(57) L: Chơi qua miền chùa Tháp đền ngang. X: Hay bà chơi chùa Thám đền ngang
(58) Các câu 53-64 không có trong các bản L và X.
(59) L X: Thiên-tích bà đã ngự
(60) L: Coi. X: Cả
(61) L: Chơi rồi bà lại thướt tha. X: Phán rồi bà lại ngự ra
(62) L: Giáng về. X: Giáng lai
(63) L: ngự qua các. X: sớm khuya độ
(64) L X: Có phen bà ngự đền rồng
(65) L X: Chơi
(66) L: Bà qua chơi. X: Lại dạo chơi
(67) L: Bà chơi các động Bích-đào. X: Nghệ An bà đã từng vào
(68) L: Vượt sang chơi cả Ải-lao. X: Bà lại chơi khắp Cao Lao
(69) Từ câu 75 đến 81, có nhiều thay đổi:
Bản L:  Vui thay nước biếc non xanh
            Cảnh tiên vui thú một mình ngao du
            Tiếng linh thiêng bà phù dương thế
            Không kính thành bà sẽ cho hay
            Mặc cho phù thủy thuốc thày
            Biết bà cầu đến phép hay bệnh lành
            Kính dâng lễ lòng thành hương thủy
Bản X: Có phen bà vào tỉnh Thanh
            Đồi ngang chốn ấy hết tình ngao du
            Chốn vãng lai bạn hàng chào thăm(?)
            Phải duyên do gặp gỡ nào hay
            Điểm đi phù thủy tìm thày
            Đồng tôi ân(?) phân xưa nay nhớ chầu
            Phép nhiệm mầu nén hương tịnh thủy
(70) L X: lục trí thần
(71) Sau câu 82 bản L và X còn thêm 4 câu:
            Dù (hay) bà chầu chực ngai rồng
            Văn chầu bà giáng (Tốc lai giáng hạ) điện trung chẳng (chớ) chầy
            Phép Bà (linh) hay cỡi mây nương gió
            Phó (Nhượng) cho đồng phúc thọ tam đa (ngữ phúc tam tai)
(72) L X: nhân
(73) L X: Thịnh nam thị (thịnh) nữ thiên xuân



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #177 vào: 28/01/2018, 18:24:52 »
Đại học | Số 40 [tháng 08/1964 | 202 trang]
                                           [THẤT THỦ KINH ĐÔ TÂN TRUYỆN]

MỤC LỤC
NGUYỄN NAM CHÂU |  TRIẾT LÝ TÌNH YÊU TRONG TƯ TƯỞNG CỦA MAURICE NÉDONCELLE (tiếp theo) |  453
BERGSON |  HAI NGUỒN MẠCH CỦA ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO (tiếp theo) |  469
GIẢN CHI & NGUYỄN HIẾN LÊ |  KHÍ LUẬN |  504
LÊ VĂN HẢO |  MỘT SỐ TỤC CỔ CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC HỘI MÙA (tiếp theo) |  514
BỬU KẾ |  ĐÁM TANG VUA GIA LONG |  543
TRẦN VĂN TOÀN |  MẤY TÀI LIỆU VỀ TÔN GIÁO TRONG DÂN GIAN |  571
NGUYỄN PHƯƠNG |  THẤT THỦ KINH ĐÔ TÂN TRUYỆN |  584
_________________________________________________________________

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #178 vào: 28/01/2018, 18:59:32 »
THẤT THỦ KINH ĐÔ TÂN TRUYỆN

            VÈ THẤT THỦ KINH ĐÔ rất được lưu truyền tại cố đô Huế. Nhiều học giả đã cố gắng sưu tầm nhưng thường được từng đoạn. Đầu năm nay, Viện Hán học Huế tái phát công cuộc sưu tầm các tài liệu cổ và đã đạt được vài kết quả đáng chú ý, trong bó có bài Vè Thất thủ Kinh đô mà chúng tôi cho đăng lên đây. Đây là một thiên dã sử có giá trị, nên chúng tôi mong được các bậc cao minh bổ khuyết hoặc chỉ giáo. Nhất là có lẽ vì tam sao thất bản nên nhiều điểm còn khả nghi: chúng tôi tôn trọng bản văn đã được ghi lấy nên chưa dám giải thích. Theo chỗ chúng tôi được biết, ban Nghiên cứu Sử của Viện Đại học Huế cũng có mấy bản, chúng tôi sẽ cố gắng so sánh hai bản trong một dịp khác.
L. T. S.


Năm Mùi thì khí bất an
Hiệu Trời ra khắp, he(1) vàng cán(2) xanh.
Ngó vô Nam-Việt nước mình,
Cái việc Triều-đình, khuy-khuyết thậm đa.
Phần thời Tây qua lại nước nhà,
Phần thời Ngọc-hoàng xuống rước vua ta về Trời.
Thánh-hoàng di chúc trị ngôi,
Người mà vô tử, Người mà dụng tôn.
Chữ rằng vô tử dụng tôn,
Lấy câu miêu-duệ, tử tôn miêu truyền.
Người đà di chúc đã yên,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . (3)
Phán cùng văn võ một lời,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . (4)
Nay ta chánh trị Ngôi trời,
Xem trong Thiên hạ việc đời đã lâu.
Lấy câu nhơn nghĩa ngày sau,
Đông tây nam bắc nơi đâu cũng an hòa.
Ai mà đáng tội trời tha,
Ai mà đáng miễn, vậy mà cũng dung.
Phán cùng văn võ Triều trung,
Tuần nầy ta quyết, cỡi rồng về quê.
Thánh-mẫu khác thể cành lê,(5)
Tang-bồng trái . . . .(6) trăm bề cậy trông;
Nay ta ý thác tại Đền-rồng,
Phán cùng văn võ . . . . . . . . . . . . . . . .(7)
Ngày sau lá rụng cành rơi,
Cứ lấy câu lễ lệ, theo đời mà phân.
Đạo quân thần há dễ vong ân,
Hoàng-thiên hữu nhãn mười phần xét soi.
Ngài đà di chúc đã rồi.
Đằng vân giá võ về Trời một khi.
Bách quan họp mặt đơn trì,
Hai hàng nước mắt phân ly ròng ròng.
Làm quan tả hữu đột xung,
Nam từ bắc trấn, đều dập mật ra.(8)
Ta hồ Thánh-đế ai bi,
Quân thần phụ tử, vậy thì hiếu trung
Bách quan bái mạng Bệ-rồng,
Sanh an tử thuận để lo trong nước nhà.
Bách quan đều cũng lui ra,
Họp mặt chương tòa, phụng sắc ký phong.
Bách quan văn võ hội đồng,
Soạn-sành ngôi giá, đặng hòng rước ngôi.
Sắm sanh ghi để lại rồi,
Bách quan văn võ, vậy thời tường tri.
Người vô thế diện đơn trì,
Văn danh(9) Thiên hạ, đồn thì đều hay.
Trị vì mới đặng ba ngày,
Xâm lăng(10) đục khoét, mới hay sự tình.
Lập đồn bố trận bày binh,
Mới hay sự tình, toái xác(11) phòng thân.
Bách quan văn võ đình thần,
Ai ai đều cũng phân vân việc đời.
Khó thay bẻ nạng chống trời,
Khó ra đặng đó, sợ thời tội hung.
Đáo để ông Phan Đình Phùng,
Nói lời nhơn nghĩa, thủy chung mắc nàn.
Đình thần văn võ bách quan,
Ai ai đều cũng cho toàn thân danh.
Mặc lòng hai gã(12) quyền hành,
Muốn cho ai bại ai thành thời cho.
Triều-đình nói nhỏ nói to,
Lai hàng(13) giữ một chữ phò mà thôi.
Tưởng 3 ngang, 1 xổ, hẳn rồi,(14)
Ai thêm chữ bạch nói lên chữ Hoàng.
Tưởng là một xổ ba ngang
Nên nói chữ Hoàng là việc Thiên-cơ.
Đông-các cẩn-mật đến giờ,
Thượng mã phi đệ, tiêm thơ thông hành.
Rộn ràng khác thể rồng đoanh,
Rõ ràng mới biết, trạch(15) danh trí(16) tài.
Chữ rằng Nguyệt đứng bên vai(17)
Trạch danh trí tài, thay vì trị ngôi.
Lập cân(18) thôi đã hẳn rồi,
Triều-đình văn võ, vậy mà định an.
Căn duyên cơ nghiệp cho toàn,
Mặc lòng hai gã, sửa trong nước nhà.
Thánh-hoàng Người đã băng giờ.
Những tham(19) với cách, vậy mà tứ tung.
Bốn bề Thiên hạ hãi hùng,
Văn danh Thiên hạ, vậy cùng đều ghê.
Bốn bề Thiên hạ đều ghê,
Quyền hào hai gã, giữ một bề lợi danh.
Xem trong nhà nước chẳng lành,
Rộn ràng binh mã cứ xưng danh tướng thần.
Thánh-hoàng giá võ đằng vân,
Các quan đình thần, lo việc tống chung,
Tôn triều khi ấy dự đồng,
Tư ra các tỉnh, vậy cùng trị tang.
Tư ra Phủ, huyện tổng làng,
Tú-tài, Bá-hộ, trị tang trăm ngày.
Lễ-bộ lại giữ sách rày,
Văn công lễ lệ,(20) cấm nay thiệt nhiều
Cấm trong xanh, tím, đỏ, điều,
Hoàng, hồng, lam sắc, các điều cấm đi.
Hội trào bạch-giáp, bạch-y,
Ai phi lễ lệ, vậy thì tội hung.
Tư ra các tỉnh cấm đồng,
Tiêu, thiều, nhạc, vũ, vậy thì cấm đi.
Tế Thần, tế Thánh một khi,
Quan, hôn, tang, tế, vậy thì vắng tanh.
Bây giờ tang chế sự thành,
Mặc lòng thiên hạ tiếp nghinh hằng hà.
Trang nghi đủ thứ bày ra,
Lâu đài các cửa, vậy mà nghiêm trang.
Cung môn Cần-chánh tiền đường,
Tả vu, Hữu vu, Đông các, ngó qua Nhật-thành.
Văn-minh, Võ-hiển lầu xanh,
Cao minh, Càn thành, ngó đến Cung-môn.
Địa-đồ khéo dịch khéo dồn,
Thái-hòa, Dực-thị,(21) Ngọ-môn chín lầu.
Ngọ-môn năm cửa chín lầu,
Trụ cờ tam cấp, Phu-văn-lâu ngoại thành.
Lâu đài các cửa chung quanh,
Hỡi(22) còn Nội-thành Tả hữu Miếu cũng xinh,
Phụng-thiên, Gia-thọ, Tường-ninh,
Khâm-thiên, Thượng-thắng, Hòa-bình, Kiều gia.
Tang nghi đủ thứ bày ra,
Hỡi(22) còn một nỗi, quân gia chầu-hầu.
Nội-cung Thái-giám đứng đầu,
Cẩm-y, Loan-giá, đứng chầu ở ngai.
Kỉnh-tất(23) Hộ-vệ(24) đứng ngoài,
Thượng-trà,(25) Võ-bị, liệt bài nghiêm trang.
Hòa-thanh, Túc-vệ, Ngô-trường,
Chầu hầu Thánh-đế, nghiêm trang nhưng là.
Tang nghi đủ thứ bày ra,
Tế thông Kim-đính, vậy mà Trường-long.
Chầu hầu thủy bộ ròng ròng,
Giàn thuyền cấm-hải, song song hai hàng,
Đủ mặt văn võ bá quan,
Tang nghi thiết lập, trị tang hết lòng.
Đạo đời phải ở hết lòng,
Bộ Lễ khâm-giám, đồng công chọn ngày.
Nguyệt-tiên, Thiên-đức(26) đã hay:
Hai mươi tháng tám, đặng ngày tống chung.
Sự hoàn, tưởng là nhà nước đã an,
Mới hay Tây lại, trong Hàn(27) một khi.
Tỉnh-quan tả sớ tức thì,
Thượng mã phi đệ tâu quì thông tin.
Các quan chẳng dám điềm-nhiên,
Tựu tại trướng tiền, khi ấy tâu qua.
Tàu qua chín chiếc Sơn-chà(28)
Y như mật sớ, tâu qua Cửu-trùng.
Thánh-hoàng phán trước Triều trung:
“Tây-phiên Sứ-sự,(29) lễ dùng vật chi?”
Các quan tâu trước đơn-trì:
“Hoàng-ngưu, kê-noãn,(30) vậy thì tiếp nghinh,
Tây-phiên dụng thực vật sinh”
Tâu lên Thánh-đế, phân minh rõ ràng.
Thánh-hoàng phán trước ngai vàng,
Đình thần quì tấu, rõ ràng đục trong.
Mới hay ngôn ngữ bất đồng
Nước thời khác nước, cứ nhìn ròng mà thôi.
Kể từ năm Ngọ kể lui.
Mặc sa hoàng đá(31) dễ quyền mặc sa.
Tiền triều trước có giao hòa:
Tây-phiên chiếm hãm chốn Gia-định thành.
Hãm rồi nó lại sử sanh,
Hãm Gia-định thành, nhà nước suy vi.
Thánh-hoàng phán trước đơn-trì,
Khuyên Triều hỷ lạc, vậy thì hân hoan,
Để mà mai táng sự hoàn,
Dĩ kim khử cổ(32) dẹp loàn mới xong.
Bên văn đã có quan Tham,
Bên võ dự đồng hai gã Lê, Lâm.
Việc nầy tuy lỡ mà lầm
Bá quan văn võ phải cầm quân binh.
Tây-phiên Sứ sự nước mình
Soạn thành lễ vật, tiếp nghinh hằng hà.
Đêm rằm tàu đậu Sơn-chà,
Bước qua mười sáu, tàu ra Hải thành.
Xem qua Trời đã bình minh,
Nó xin ghé cửa, quan mình không cho.
Tây-phiên dùng chước mưu đồ,
Trước xin thọ chế, sau phò Nam-Vương,
Trước là thọ chế Nam-Vương,
Sau là thương tiếc cái đường quốc-gia.
Quan Tiểu(33) khi ấy truyền ra,
Võng cán cờ lọng vậy mà thông tin.
Nội chư đồng lũy đều nhìn,
Tam-tài nó kéo thông tin phải phòng,
Cho người đệ bức thơ phong
Tâu cùng Thánh-chúa, với cùng bách quan.
Tây-phiên đã lại Thuận-an,
Hỏa thuyền chín chiếc, tợ ngàn thiên binh.
Sớ qua văn võ triều đình,
Nguyền xin hiệp chiến, giao chinh thi tài.
Làm chi rày vãng mai lai,
Bày ra yến ẩm, tổn hoài của vua.
Quan Tiểu phân binh hai toán hai tua,
Tiền đạo đóng từ trên chùa(34) mà đến Hoàng-Cung.
Tả hữu lũy, đã có đạo trung
Hỡi(35) còn đạo hậu, đóng trong đồn đài.
Người truyền súng vác cờ đai,
Quan Tiểu khi ấy, liệt bài can qua,
Đề binh liệt tướng can qua
Quan Tiểu trở lại đồn Hà(36) một khi.
 . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . .(37)
Truyền quân cơm nước, vậy thì nghỉ ngơi.
“Tau(38) tưởng là nói mà chơi,
Không hay nó ở ngoài vời bắn vô”.
Thiên binh vạn mã hải hồ(39)
Đều nghe tiếng súng, bắn vô rộn ràng.
Đò dọc cho đến đò ngang,
Đều nghe tiếng súng, kiếm đàng lánh thương.(40)
Hai bên phố xá xóm phường,
Đều nghe tiếng súng, kiếm đường chạy ra.
Phe ni bỏ cửa, bỏ nhà,
Dắt con cùng vợ, chạy ra tức thì.
Dắt con cùng vợ chạy đi,
Kẻ qua Vĩnh-trị,(41) người thì lên dinh.(42)
Lao xao thiên hạ vô tình,
Phen ni mới biết, thất kinh nhưng là.
Tưng-bừng kẻ khóc người la,
Phen ni mới biết, vậy mà giặc Tây.
Đánh đêm mười sáu nửa ngày,
Từ trưa đến tối, súng rày lặng tanh.
Lên dinh quan Tướng chiêu binh
Bước qua mười sáu giao chinh đì-đùng
Quân mình tả đột hữu xung
Quan sai ra bắn, bắn không thấy gì.
Khói lên hình tợ long phi,
Bắn ra ngoài biển, xong gì không hay.
Nó bắn, kẻ rơi chân người lại rơi tay,
Lổ đầu lủng ruột, khổ rày quân ta.
Sớ lên tấu cấp Chương-tòa,
Tâu cùng Thánh-đế vậy thì bách quan.
Xin binh hậu tiếp đôi ngàn,
Lựa người võ cử, am nhàn(43) mà đi.
Thánh-hoàng hạ bút một khi,
Chiếu phê quan Tướng, ra đi Hải-thành.
Những là Giáo-dưỡng Anh-danh,(44)
Võ-cử, tùy-phái, hậu hành rất đông.
Cũng nguyền tả đột, hữu xung,
Nhất sanh nhất tử, phò công với thầy.
Phen ni quyết đánh cùng Tây,
Thuận-an thất-thủ Trời rày hai ta.
Đương khi giờ tý canh ba
Ngài truyền mở cửa Đông-Ba tức thì.
Nửa đêm giờ Tý kéo đi,
Người đến Phố lở,(45) người thì trở lui.
Sớ vô tấu cấp tức thì,
Quan Tướng cảm bệnh, người hồi Bổn-cung
Lịnh tiễn nạp lại đơn-đình.
Bá quan văn võ làm thinh nhưng là.
Cớ chi ai bắt tội ra,
Những tham(46) với cách giao tra bộ Hình.
Việc Triều mà ở không minh,
Cưỡng ngôn nghịch lý, niết tình mà thôi.
Bước qua đêm mười bảy tối trời,
Gió bay mây tụ, quân thời ngủ ngon.
Canh năm trống điểm lầu son,
Truyền quân cơm nước, gạo còn đương vo.
Gió tây thổi xuống vo vo,
Ngó ra ngoài biển, sóng to bằng nhà.
Ước chừng làm lộ phong ba,
Vái Trời phò-hộ nước nhà một khi.
Quân quan lao-khổ làm ri,(47)
Ngày thời giải nắng, đêm thì dầm sương.
Quân quan lao khổ trăm đường,
Vái Trời phò hộ Thánh-vương Nam-triều.
Ai ngờ nó đã sa nơi,(48)
Ngó chừng cửa lấp(49) lét vào bắn vô.
Quan mình cho nó lên khô,
Nó lên phân toán, nó hô bắn liền.
Nó bắn phát thẳng phát xiên
Nội trong quân lính, thác liền một khi.
Một trăm lính Quảng Trà-mi,
Cũng đều thác hết, còn gì người đâu.
Người chạy lổ óc, lổ đầu,
Nằm sấp nằm ngửa, khổ câu đoạn tình.
Giờ mão nó đã giao chinh
Hai bên thiên-hạ thất kinh nhưng là.
Tưng bừng kẻ khóc người la
Vang trời chuyển đất, coi ra bịt bùng.
Súng Tây nó bắn đì đùng,
Kho tàng trúc(50) hết, khốn cùng chạy tan.
Quân quan khi ấy băng ngàn,
Trời đà phò-hộ, cho đoàn lâu-la.
Quan Tiểu trở lại đồn Hà,
Kêu Trời ba tiếng Trời mà thấu không?
Nam-triều cái cửa Hải-phòng
Tây-phiên chiếm-hãm, khổ trong đạo trời.
Hai hàng nước mắt tuôn rơi,
Ai xui Tây-tặc hại người trung-lương.
Bởi xa(51) khốn chống khốn đương,
Muốn đem binh hậu, khốn đường mở vây.
Quan Tiểu nước mắt sa ngay,
Truyền quân khí giới: “Bây(52) rày kéo đi!”
Tây qua đình-trú một khi,
Để đăng phóng hỏa vậy thì kéo sau.
Lên Triều thọ tội khấu đầu
Trước cùng Hoàng-thượng, với sau Triều-đình.
Lẫy lừng cờ đủ chiêu binh,
Truyền quân lộ trình, nhật dạ kéo đi.
Sớ vô tâu gấp đơn trì.
Tâu cùng Thánh-đế, với thì bách quan.
Tây-phiên đã lấy Thuận-an.
Quân thời nó giết mà quan chẳng chừa.
Bốn bề đạn bắn như mưa,
Oai thương(53) cường hãm, chẳng chừa chi ai.
Quan Hữu(54) mất tại đồn dài,
Quan Lâm ra ngoài, tử vận một khi.
Quân thời chết hết ly-bì,
Triều-đình văn võ mưu chi quân nhờ.
Triều-đình nghe nói ngẩn ngơ,
Thận-an thất thủ, bây giờ khốn trông.
Thiên-hạ ai cũng đau lòng,
Khốn thay binh mã mắc vòng gian nan.
Hai bên thiên-hạ kêu vang,
Bỗng đâu binh quan Tiểu băng ngàn kéo lên.
Người vô thọ tội trong đền,
Trước đức Hoàng-thượng, lương duyên(55) sự tình.
Cúi đầu trăm lạy Triều-đình,
Tôi xin thọ tội, nạp mình Thánh-vương.
Cúi đầu trăm lạy công-đường:
“Vì xa khốn chống, khốn đương tài dùng.
Đò ngang cầu dọc cũng không,
Oai thương đã đoạt anh hùng tài danh.
Tội tôi chịu tội đã đành,
Trăm lạy Triều-đình, nhất thứ miễn dung.
Tôi xin thọ tội Cửu-trùng,
Nội chư đồn lũy, cố công bổ bồi.
Ngày thời đổ cát cùng vôi,
Đêm thời đổ đất bổ bồi cho Vua.
Khí giới tôi đã phải sửa sang,
Nội trong thất nguyệt, đáng ngang Tây tà”.
Bưa vừa(56) sắc hạ phê ra
Sai ông Trần-Thúc(57) xuống hòa cho xong.
Ban cho một chiếc thuyền bồng,
Thủy-sư một chục, vậy cùng ra đi.
Quan Trấn về Bộ một khi,
Kêu: “Ơi Bà lớn! Bà thì nghe không?
Tôi nay vâng lệnh Cửu-trùng,
Bước xuống thuyền-bồng hòa hiệp với Tây”.
Bà liền nước mắt chảy ngay:
“Giặc Tây mới đánh ông đi can gì?”
– “Bà đừng nói việc thiên thông,
Tôi xuống thuyền bồng lính thủy mười tên.
Cơm Vua nợ nước phải đền,
Dầu mà giặc đánh phải ra liều mình.
Làm tôi lánh chốn giao chinh
Nằm trong Triều-đình mà nói nổi ai.(58)
Bà mầy coi trong ngó ngoài,
Trầu phong thuốc điếu, vào đai sẵn sàng.
Linh dược bổ lấy vài thang,
Để khi nhiệt hàn, lấy nó trị phong.
Những là Liên-tử Ô-long
Phải đem đi dọi(59) để phòng hộ thân.
Phòng khi quan khách xa gần,
Lấy câu hỷ lạc, oai ân nhưng là”.
Quan Trần(60) khi ấy truyền ra,
Truyền quân soạn sửa vậy mà cho xong.
Giờ Thìn bước xuống thuyền bồng,
Bước qua giờ tỵ chèo dong giữa vời.
Truyền quân cơm nước nghỉ ngơi,
Qua đầu giờ ngọ, tách vời Thảo-long.
Hai hàng nước mắt ròng ròng,
Ngó xuống Hải-phòng(61) đồn nát lũy tan.
Nam-triều cái cửa Thuận-an,
Để mất chỗ tàu đoạn việc thông thương.
Đông tây nam bắc bốn phương,
Công sưu thuế lệ, tải thường về đây.
Thuận-an cảnh thú vui vầy,
Trời đà phò hộ, về Tây hỡi Trời!
Nguyện cùng Thiên địa một lời
Tôi xin nhảy xuống tức thời suối ba.
Tội gì y-ước giao hòa,
Trung-thần đã có, người xa kẻ gần.
Tội gì y-ước giao lân
Tây-phiên phản-tặc, giết thần hại binh.
Bây giờ tình lại đoạn tình,
Tôi xin liều mình, chín suối Diêm-vương.
Mặc lòng Thiên-hạ lo lường,
Tây-phiên phản tặc, nó thương chi mình!
Nó đà lấy nước hại binh,
Cơ chi nghe mình không lấy Thuận-an.
Giờ Thìn có sớ băng ngàn,
Tâu cùng Thánh-đế, bách quan Triều-đình.
Sớ vô tâu với Triều-đình:
“Quan Trần tử ái liều mình một khi”.
Thánh-hoàng phán trước đơn trì:
“Nhà Ngươi tử ái, mình thì thứ dung”.
Thánh-hoàng phán trước ngai vàng:
Ngài phê quan Quận,(62) xuống Thuận-an giao hòa.
Quan Quận đặt gối tâu vua:
Vâng lịnh Thánh-đế, giao hòa với Tây.
Lên dinh xuống cửa nửa ngày,
Soạn-sành lễ vật, thẳng ngay giao hòa.
Tây-phiên hỏi việc giàng ca:(63)
“Ngày xưa ai đánh, nay hòa làm chi?”
Quan Quận thưa lại làm ri:(64)
“Thưa cùng Đại-Pháp, với thì bách-quan:
Bởi vì đồn nát lũy tan,
Vì chưng ông Tiểu, lấy gan chống Trời.
Ngài qua buôn bán mà chơi,
Công phu ngày trước, nợ đời còn mang;
Ít ai ở đặng như Tiên-hoàng,
Lấy câu thương mãi cho toàn thỉ chung.
Nước thời chẳng có anh hùng,
Không người lương thiện, thỉ chung không hòa”.
Quan một cho đến quan ba,
Nghe lời quan Quận ha ha nực cười.
Dịch-nàng(65) lại với xu-đăng:(66)
“Can chi quan Quận đón ngăn nước nhà.
Nam-Việt mà có Tây qua,
Vì lời Tiên-đế giao hòa thông thương.
Bởi vì các gã tranh cường,
Phải ra cự chiến, oai thương phen nầy”.
Quan Quận nghe nói buồn thay:
Thưa cùng các gã, tôi rày lui chân.
Bởi ngu si không rõ tiếng đàn
Giả như(67) gió thổi không sờn tai trâu.
Lui về đặt gối quì tâu,
Tâu cùng Thánh-đế mấy câu rõ ràng.
Mấy lời Tây-tặc Phiên-bang,
Rằng nghe họ nói, lưỡng nan nước nhà.
Đủ mặt văn võ chư nha,
Lập lường mưu kế, đáo tòa Thánh-môn.
Thưa Cha giám mục phần hồn,
Mời về cửa Thuận, giao ngôn hết lời,
Giáo với lương cũng con Trời,
Làm chi đáo để, khổ thời quân quan.
Thánh-hoàng nước mắt chứa chan,
Vái cùng Thượng-giới Ngọc-hoàng cao xa.
Nghe trong cái việc nước nhà,
Cửa Thuận-an Tây lấy khổ mà muôn dân.
Càn khôn chân bước dò lần,
Nói cùng Giám mục, tương phân lẽ nào.
Nói cùng quan Quận trong trào,
Bá quan đáo đến, lầu cao Thánh-đường,
Đục trong các gã sửa đương,
Lỡ lời hơn thiệt phải nương theo lời.
Thuận-an cảnh thú ăn chơi,
Nay mà thất thủ, thời Trời khiến suy.
Qua đò Kẻ-vạn một khi,
Dò lần chân bước vậy thì đến nơi.
Đức Cha chân bước miệng cười,
“Các quan hà sự, đến chơi việc gì?
Hà do cần kíp việc gì?
Các quan nói thiệt, vậy thì tôi nghe”.
Chẳng qua một nỗi Trời đề,
Xem đám mây cơ hội, đem dè đứt chân.(68)
Xưa kia một chớ hai đừng
Không nghe mà đánh quan quân tiêu tàn.
Nay mà thất thủ Thuận-an,
Quan quân tiêu tàn, khốn nỗi thông thương.
Vì chưng các gã tranh cường,
Không nghe thuở trước Tiên-vương giao hòa.
Thuở xưa cũng có Tây qua,
Người thời tôn tử, giao ca trọn đời.
Chẳng qua Tiên-đế về trời,
Tây qua thọ chế, sao thời không cho?
Khốn dò ruột ốc quanh co,
Cũng vì ông Tiểu không cho mà rầy.
Chừ ra cớ sự đời nay,
Oa oa lưỡng khẩu, nói Tây không rồi.
Đức Cha nghe nói liền cười,
Cười rồi lại nghĩ, mấy lời các quan:
“Các con bổn đạo nghe troàn,(69)
Tam tài xà lúc,(70) Thuận-an Tây thuyền.
Việc nầy Cha nói mới yên,
Cha nói Tây thuyền, nói với Lang-sa.
Vội mừng liền hỏi: “A! a!
Tai nghe quan Quận có hòa làm răng?”(71)
“Thưa Cha cho rõ Cha hay
Tà tâm bất chánh thêm hay nực cười”.
Áp xanh(72) rượu chát liền mời,
Hội đồng luận sự, nghĩ thời làm sao?
Tôi qua giảng đạo Nam-trào
Lập bàn thờ Chúa, thiết triều vương nay.
Chừ ra cớ sự làm vầy,
Bây giờ chẳng nói đạo, Tây một lòng.
Thuận-an Nam-Việt hải phòng,
Nay mà thất thủ, trong lòng xót xa.
Lòng tôi không phải tây tà,
Bên nào tôi cũng nói ra công bình.
Xuống đây không phải vị tình,
Trước thời Đại-Pháp, sau mình Lang-sa.
Đình chùa miếu vũ người ta,
Mình giao chinh chiến, vậy mà tan hoang.
Bốn bề phường xóm quân quan,
Hết đường khốn chạy, lâm oan phen nầy.
Nay ta phải xét lời ngay,
Tôi không phải nói, vậy mà xuống đây.
Lâm thương(73) nó chạy đến mình,
Tôi truyền nhà phúc tận tình cháo cơm,
Những người Bình-định, Quảng-nam,
Thừa-thiên, Quảng-trị cháo cơm rộn ràng.
Thắng thời vinh hiển các quan,
Bại thời quân lính tồi tàn tấm thân.
Thảm thương phận lính phận dân,
Xung tên lướt đạn, mười phần khổ thay!
Xưa kia mưu kế ai bày,
Họ sai ông Quận, xuống đây giao hòa.
Vâng lời thọ pháp nghe cha,
Ngày sau nghịch mạng, vậy mà lại hay.
Vội vàng đều cũng bắt tay:
“Xin cùng các Tướng tôi nay sang tòa.
Quan Tướng đánh, quan Quận hòa,
Bưa vưa(74) các Cố, đức Cha có lòng.
Các ngài đáo đến bộ phòng,
Nói cùng quan Quận: Việc trong nước nhà,
Nam-Việt mà có Tây qua,
Cũng vì Tiên-đế giao hòa thông thương.
Tây qua Khách lại cũng thường,
Bởi vì thuở trước đôi đường giao lân.
Quan Tiểu cãi lại Triều-đình,
Đánh Tây giết đạo, đạo dân Nam-trào(75)
Đánh Tây giết đạo làm sao?
Đạo dân Nam-trào, sanh hạ tại đây.
Mặc lòng thiên-hạ với Tây(76)
Có tài thời đánh, đạo rày làm chi(77)
Quan Quận thưa lại làm ri:(78)
Thưa cùng các Cố, vậy thì đức Cha,
Tôi nay trăm việc muốn hòa,
Không ưng sử tụng mà ra hội nầy.
Triều-đình cũng có giận Tây,
Và đi giết đạo, đạo hay sở-sàm.(79)
Tây-phiên đáo đến An-nam,
Cũng vì bên đạo, sở-sàm Tây qua.
Quan Tướng(80) khi ấy truyền ra,
Dưỡng dân lục huyện, đông đà rất đông.
Tài gia bá hộ có lòng,
Truyền sai lương gạo, đặng hòng phát ra.
Đến ngày thịt vịt thịt gà,
Thịt bò thịt lợn, tài gia hết lòng.
Sửa sang binh mã gần xong,
Chẳng chầy thời kíp, có công báo cừu.
“Tôi(81) nay ưng dụng chữ tài,
Không mạnh thời phải cơ mưu dụng tình”.
Các Cố nghe nói thất kinh,
Đức Cha nghe nói, rùng mình hỡi ôi:
“Tôi thưa Quan lớn một lời,
Ngài phải làm phúc vậy thời xuống tay.
Đạo tôi cam khổ lâu ngày,
Một lần phân tháp(82) khổ thay nhưng là.
Đàn ông cho chí đàn bà.
Rạch mặt đề chữ(83) khổ đà nhiều phen.
Than rằng của trọng người hèn,
Bạc kia trăm lượng(84) làm quen chút tình.
Xin Ngài dẹp tướng bãi binh,
Chúng tôi trở lại đơn-đình nhà chung”.
Gần ngày hiệp chiến giao công
Quan Quận nói cùng quan Tôn:(85)
“Mình đà hư lũy nát đồn,
Thuận-an thất thủ chớ bôn báo cừu
Chi bằng lấy chữ hòa hưu,
Sửa sang binh mã báo cừu với Tây.
Sá chi người đạo ở đây,
Mình mà khởi tử, Tây rày kéo tan.
Giao hòa lo việc Tiên-hoàng,
Sanh thuận tử an, cho thoan sự đời.(86)
Gia-tô nó cũng con Trời,
Nó qua trú ngụ, ở nơi nước mình.
Ngọn rau tấc đất sơ sinh,
Binh lương thuế lệ thời mình không tha.
Mình chừ giận kẻ tây tà,
Mà đi giết đạo, đạo mà kêu oan.
Sống thời mang tội Tiên-hoàng,
Thác về Thập-điện, mang nàn Diêm-vương
Chi bằng lấy chữ thủ thường,
Mình làm Tể-tướng, phải thương sự tình.
Cơ chi nó dễ nó khinh,
Cũng liều sinh sát, thời mình chẳng dung.
Sợ mình, nó đã có công,
Bạc kia trăm lượng, lo trong với mình.
Xin ngài dẹp tướng bãi binh,
Truyền ra các xã, dân tình làm ăn”.
Quan Tướng khi ấy than rằng:
“Can chi quan Quận, nỉ năn hết lời.
Làm tôi thời hưởng lộc Trời,
Mình mà dựa tiếng,(87) vậy thời nó khinh.
Một mai thấu đến Triều-đình,
Mình mà dựa tiếng, khinh mình bằng nay,
Nó đà cố hại mình đây,
Nên nó khuyến dụ: một bầy lâu-la,
Hồng-mao, mò-hóng,(88) Chà-và,
Đến triều Nam-Việt, lâu-la báo đời”.
Quan Quận khi ấy mở lời:
“Nói cùng quan Tướng: sự đời phân ra.
Ngài ơi, đừng nghĩ gần xa,
Bạc là phần thổ,(89) phúc là ngày sau.
Nó đà chịu chữ thọ đầu,
Dung đi một thứ, ngày sau sợ mình.
Sá chi người đạo giao chinh,
Xin Ngài dẹp tướng, bãi binh hội triều”.
Các quan khi ấy hội triều,
Gẫm trong nhà nước, lắm điều phân vân,
Bá quan văn võ đình thần,
Ai ai đều cũng phân vân đoạn tình.
Hai chàng(90) đoạt thủ quyền binh,
Không sợ phép nước, không kiêng oai Trời.
Làm tôi mà lỗi đạo tôi,
Văn danh thiên-hạ đồn thời bốn phương.
Tà thần y rách chữ dương(91)
Tâm xà khẩu Phật, lập trường nội phân.
Đại-tướng(92) là kẻ trung-thần
Lấy câu hỉ-nộ ái-ân nhưng là.
Bưa vừa sắc hạ phê ra,
Ngài phê quan Tướng, chức mà Thượng binh,
Ngài mà lãnh chức Thượng binh,
Vua quan những việc, lẽ thường bày ra.
Nội-thành lục-bộ, chư nha,
Chư dinh chư nha, ai mà đều kinh.
Quan viên suất-đội triều-đình,
Roi đòn nó đánh, nát tình vân-vi.
Hai chàng ngọc-diệp kim-chi(93)
Với quan Phò-Mã,(94) vậy thì đồng tâm.
Lập lường mưu kế mà lo,
Cũng đều đứng Phiến, tâu vô sự tình.
Đưa vô tại chốn Lầu xanh,
Thánh-hoàng(95) ngự thấy, sự tình phán ra:
Mưu người bảo thủ thật thà,
Cứ uy niêm yết, giao qua mật phòng.
Có quan Tể-tướng(96) triều-trung,
Dỡ ra xem thấy, nội công chiến ngoài.
Cũng đều đứng phiến liệt bày,
Lập trường mưu kế, huy tai(97) hai người.(98)
Quan Tướng(99) nửa giận nửa cười,
Nửa thời tức giận, cười tươi cười mừng,
Đêm khuya bán dạ băn khoăn,
Ơn trong Thiên địa, quỉ thần cho hay.
Không thời mắc phải nạn nầy,
Cũng vì các gã biểu bày sự sinh.
Bước qua ngày rạng bình minh,
Người vào chầu điện, sự bình(100) lui ra.
Quan Tướng về bộ nhưng là,
Kêu: “Ơi quan Quận! bày mà đục trong.
Mới hay Thiên-tử trở lòng,
Kim-chi ngọc-diệp nội công chiến ngoài.
Cũng đều đứng phiến liệt bài,
Nội triều lớn nhỏ, một ngài với tôi,
Cơ mưu nó lập đã rồi,
Ơn trong Thiên địa, vậy thời chưa cho.
Kim-chi ngọc-diệp không lo,(101)
Tôi khen quan Phò, gan đã to gan.
Cái chức Phò-Mã mấy ngàn,
Dám vin oai sấm, rắp rem hại mình.(102)
Quan Quận nghe nói thất kinh
Nói cùng quan Tướng, sự tình âm hao:
“Nay ta phải lấy phép Trào,
Cho người tầm nã, bắt vào về đây.
Hơn thua cho hẳn lời nầy,
Kẻo mà oan ức, nhục rày mình ta”.
Quan Tướng khi ấy truyền ra:
“Như lời Quan lớn tôi mà đành tâm.
Cho người đi tróc đi tìm,
Bắt hai gã về cầm tại ngục môn.
Cũng Bà(103) khôn đã quá khôn,
Cơ mưu nghe lậu, qua lo với Tây.
Có đâu bối-rối phen nầy,
Nói đạo không cứ(104) nói Tây phản lòng.
Rồi nầy e gỡ không xong,
Vào Triều thọ tội với cùng bá quan.
Thương thời danh tiết vẹn toàn,
Ví dầu bắt tội, cho thoan(105) sự đời.
Hai chàng tích hận mà thôi,
Phê cho hai gã, vậy thời truy tra.
Hỡi còn phụ tử cùng bà,
Phần thần phi lễ, tội đà rất to.
Cha con khi ấy đày vô,
Đày tam thiên lý, chẳng cho phần hồi.
Dang tay bẻ lá tuyệt chồi,
Lập lường mưu kế, tịch bôi(106) Hiệp-hòa.
Người đà cố hại hai ta,
Cứ câu tình lý, vậy mà chẳng dung.
Bên văn đã có quan Tham,
Bên võ dự đồng, quan Chưởng Thần cơ,
Việc nầy phải dụng binh cơ,
Thời ta chiêu mộ để nhờ muôn dân.
Việc nầy phải dấu trong Triều,
Chớ cho mưu lậu, khó phân nhưng là.
Quan Tướng khi ấy truyền ra,
Truyền quân võng giá, về nhà tĩnh thân.(107)
Thưa: “Ơi Thân-phụ võ thần!
Làm nên võ Tướng, nhờ ân phước nhà.
Thánh-hoàng Ngài đã băng xa,
Việc tôi cứ xử, vậy mà cho miêng.(108)
Bởi ai tranh vị tranh quyền,
Nó toan giao xốt,(109) xích xiềng hại tôi.
Thưa cùng Thân-phụ một lời,
Dưỡng hổ di hoạn, vậy thời chẳng dung.
Chữ rằng: Thiên-hạ vô Bái-công,
Thưa cùng Thân-phụ, vậy mà giao chinh.
Trong thời sở cậy Triều-đình,
Ngoài thời cha phải thân chinh một đường”.
Cậu Hai nghe nói xung gan,
Nguyền xin chiêu mộ, một ngàn dân phiêu.
Người thời ngụ đất Nguyệt-biều,
Kim-long An-cựu, người phiêu kẻ tàn.
Người thời ngụ đất Vân-giang,
Bao-vinh, Phố-lở một đoàn dân phiêu.
Vô gia chịu chữ phiêu bần,
Công danh ai muốn, băng chừng mà đi.
Quan Cụ(110) mới nói một khi:
Nói cùng Quan Tướng, vậy thì hơn thua.
Thiên-hạ có một ông Vua,
Giả như trong chùa có một Sãi sư.
Mình mà sanh sự làm hư,
Triều-đình không thuận, khổ chừ mà thôi.
Bắt câu rối đạo Phật Trời
Thất trung Thiên-tử, truy thời Tam ty”.(111)
Đành lòng phụ tử một khi,
Lẫy lừng binh-mã, hồi qui nhưng là.
Quan Quận khi ấy truyền ra
Lấy câu thúc ước vậy mà Triều trung.
Thượng trên hạ dưới dự đồng,
Cũng đều niêm ký, cho xong nhưng là.
Đã đành Lục bộ chư nha,
Quan Trần Tể-tướng,(112) vậy mà nghịch ngôn:
“Nội trào quan Quận quan Tôn,
Lại thêm quan Tiểu dĩ ngôn xứng tài.
Bá quan văn võ hàng lai,
Mưu nầy mưu nọ, ba Ngài sử xanh.
Khi xưa ai đấu ai tranh,
Đốn cây bỏ cội lá cành héo gion.
Hại người bắt tội vợ con,
Ngục hình cầm hãm, tội còn chưa tha.
Bây giờ tôi giữ phận già,
Mặc lòng văn võ chư nha nội Trào.
Ngày trước qua ngụ Nam-trào.
Tài năng thí trúng, lược thao trong Triều.
Nên chi Thánh-đế ngài yêu,
Cho làm Tể-tướng, nội triều bách quan.
Chẳng hay Tiên-đế băng ngàn
Triều-đình nhiều chuyện phải toan phận già.
Ngoài trời thấy những lâu-la,
Lại thêm trong nhà, sanh sự hại nhau.
Xưng tài ỷ kế chước mầu,
Thuận-an thất thủ, một câu lai hàng.
Thôi thôi mặc dạ bá quan,
Tôi đây phủ phận quan tàn mà thôi”.
Ba ông nổi trận bồi hồi
Lập lường mưu kế, tịch bôi(113) một lần.
Lập lường mưu kế mà phân,
Bề trong binh mã, ngoài dân dự phòng.
Tiết đông mưa gió lạnh lùng,
Quan Hầu(114) lấy lính tuyển phong tiên hành.
Nửa đêm bán dạ ba canh,
Quan Hầu ra thành, binh mã đáo gia.
Đến nơi đèn đuốc rạng lòa,
Kêu: “Ơi quan lão! Ngài ra thọ đầu!”
Than rằng ngày lộn đêm thâu,
Quan Trần xuống lầu, mắc phải huy đao!
Rộn ràng không biết người nào,
Vợ con khóc lóc, lao xao kêu trời.
Ông ơi! Ông hỡi! Ông hời!
Mở miệng kêu Trời, khốn thở khốn than.
Khi không mắc phải tai oan,
Vô tùng tra cứu, có tang sờ sờ.
Sự tình đã rối như tơ,
Tang hình đến đó, xin nhờ hai ông.
Cậu Hai(115) bẩm với hai ông:
Cha tôi Tể-tướng nội trào,
Ngài ơi cứu nghĩ làm sao nhưng là.
Nửa đêm giờ tý canh ba,
Ngỡ là trộm cướp, lâu la canh chầy.
Tôi tưởng là đạo với Tây,
Thấy quan nhiều kẻ,(116) đến vây đoạt đồ.
Họ hỏi: “Quan lớn đi mô?”
Kêu ra phụng Dụ, họ vô kịp giờ.
Nào hay mắc phải binh cơ,
Sự tình làm rứa xin nhờ hai ông”.
Quan Thừa(117) nghe nói hãi hùng:
“Tôi phân với cậu, thủy chung sự tình.
Về bẩm quan Thượng bộ Hình,
Tôi xin sám cá(118) đến dinh thăm ngài.
Một là bắt kẻ đoạt tài,
Hai ông oán hận, chi ai mắc nàn.
Xin cậu chớ khóc đừng than,
Cậu về mai táng, sự hoàn lại hay.
Ai mà tay lại chém tay,
Tội trời họa đất, có ngày sa cơ.
Ngày xưa cao ruộng, nay chịu thấp bờ,
Người đời ai muốn, sanh cơ cực mình.
Cực lòng cậu đáo đến dinh
Ruột rà phụ tử khổ tình kêu ca.
Hiếu trung phải giữ phận hòa,
Anh hùng mắc nạn, mới ra anh hùng.
Mấy đời dứa nịnh mang gông,
Gian tà nịnh sử, anh hùng mắc tai.
Cậu Hai thở vắn than dài,
Cậu con quan lớn, như chú hai tôi ở nhà”.
Quan Tướng khi ấy truyền ra,
Lực môn khuôn đạo, vậy thời tuần canh.
Đề-đốc binh mã hộ thành,
Lục môn nội ngoại, đêm canh ngày phòng.
Bao nhiêu các cửa niêm phong,
Nội-chùy giao lại, nạp cùng tại cung.
Tư ra các vệ các dinh,
Đương khi giờ tý, lặng tanh như là.
Đương khi giờ tý canh ba,
Ngài truyền mở cửa, vậy mà Chánh tây.
Cắt cho Tùy-phái mười thầy
Võ-sanh hai vệ, bằng nay lên rừng.
Nội trào lớn nhỏ cũng ưng,
Tuy cây trên rừng, cốt cách trầm hương.
Tiên-hoàng ngày trước cũng thương
Nuôi(119) làm dưỡng tử, văn chương rỡ ràng.
Triều-đình văn võ bá quan,
Ai ai đều cũng rõ ràng tâm ưng.
Nửa đêm lên núi băng rừng,
Quan Tiểu khi ấy lẫy lừng can qua.
Đường đi những suối với hà,
Điếm phòng ngủ hết vậy mà vắng tanh.
Đến nơi kêu cửa mở thành
Võng điều vô võng, đứng quanh hãi hùng.
“Hu hồn hu vía cho ông,
Ông chớ hãi hùng, đừng sợ đừng kinh”.
Đủ mặt văn võ Triều-đình,
Xin mời Ngài về tức vị, Thái-bình nước Nam.
Nội trào văn tứ võ tam,
Thượng-thơ ngũ-trụ, sỡ sằm đã xong.
Mở lời xin dám trình Ông:
“Xin Ông loan giá đặng hòng hồi qui”.
Bộ hành băng bụi băng tre,
Qua đò Phường-đúc trống thời tan canh.
Ra về vừa đến kinh thành,
Mưa sầu gió lệ chung quanh lạnh lùng.
Xem trong hiệu lịnh cùng không,
Cả quân chiêu mộ băng đồng chạy tan.
Vô thành thấy văn võ bá quan,
Lại thêm binh mã, rộn ràng tiếp nghinh.
Đủ mặt văn võ Triều-đình,
Ai ai đều cũng có tình vọng trông.
Ngai vàng kiệu giá bịt bùng,
Đều đem niêm ký tại cung Tịch-điền.
Soạn sành bút chỉ với nghiên,
Đình thần đứng ý cho liền cáo tôn.
Tan canh súng nổ hãy còn,
Trong thành thiên-hạ hãi hồn kêu ca.
Đàn ông nói với đàn bà,
“Cửa thành đóng lại, biết ra đàng nào?”
Người buôn kẻ bán lao xao
Không biết việc gì, thiệt sợ rất hung.
Giờ thìn đã thấu trong cung,
Ngài Hoàng mới nói, với cùng đệ gia:
“Vị ngôi giao lại chương tòa,
Ngai vàng bệ bạc, gởi mà bá quan.
Bề nào danh tiết chẳng toàn,
Rưng rưng nước mắt hai hàng láng lai.
Phen ni xa bệ xa ngai,
Xa chốn Điện-đài, vắng vẻ lầu hoa.
Triều-đình văn võ chư nha,
Đều nghe hai gã, vậy mà hại tôi”.
Hầu vợ nước mắt tuôn rơi,
Rưng rưng lệ ứa vậy thời chứa chan.
Thị-vệ vâng lịnh bá-quan,
Vào Triều tâu với bà Hoàng Thái-Cung.(120)
Bá quan văn võ Triều trung,
Đặt bàn khấn nguyện, vái cùng Hoàng thiên.
Đồng tâm văn võ phỉ nguyền,
Vái cùng Thượng giới Hoàng thiên nhưng là.
Nay xin đổi vị Hiệp-hòa,
Tôn đức Kiến-phước, nước nhà thung dung.
Thánh mẫu nước mắt ròng ròng,
Mới hay văn võ triều trung cầm quyền.
Phần thời nhà nước chẳng yên,
Văn võ cầm quyền, thay vị trị ngôi.
Thưa qua văn võ một lời:
“Xin đừng bắt tội, vậy thời làm chi,
Cho người lên phủ một khi,
Xin đừng bắt tội, vậy thì cũng oan”.
Thị-vệ vâng lịnh bá quan,
Phải nghe hai gã, tam ban liệt hình.
Thị-vệ vâng lịnh Triều-đình,
Tâu cùng Thánh-đế, thượng trình lui ra.
Rộn-ràng hầu vợ Hoàng-gia,
Ra khỏi cửa nội, khóc la vang trời.
Mặt trời đã xế về tây,
Rộn-ràng binh mã, phủ vây bịt bùng.
Giờ thìn nghe lịnh Triều trung,
Bao nhiêu hầu vợ vậy cùng cho lui.
Hầu vợ nước mắt láng lai,
Con thời với vợ, cho lui phủ đường.
Tam ban triều điểm cụ tương,
Ra chốn Phủ đường, thân lại sát thân.
Đông tây nam bắc xa gần,
Trẻ già con nít, thương thân Hiệp-hòa.
Liệt bày vũ nhạc sanh ca,
Triều-đình văn võ, chư nha ứng hầu.
Chúc rằng vạn thọ một câu,
Nhất nhân hữu khánh, đứng đầu nước Nam.
Dụ đề văn tứ võ tam,
Thượng-thư ngũ trụ, chức hàm gia thăng.
Quan thời tiền thưởng chức thăng,
Tụ ngũ chí cửu, chức rằng gia ân.
Đông tây nam bắc xa gần,
Công sưu thuế lệ, chuẩn phân nhưng là.
Bao nhiêu tù ngục cũng tha,
Công tư tội lệ, vậy mà cũng dung.
Thánh-hoàng phán trước Triều trung:
“Tây phiên chiếm hãm, tính thì làm sao?
Y như ngày trước Tiền-trào,
Giao hòa với nó, tốn hao bạc vàng.
Hại mình nhiều đoạn gian nan,
Mình mà thất thủ, lai hàng khốn âu.
Tây phiên lòng hiểm dạ sâu,
Lập lường lấy nước, cống hầu chi ai.
Tiền-trào lúc trước hàng lai,
Nay mình cống thuế, dụng tài quân phiên.
Nó qua quân lính quân phiền,
Tốn vàng hao bạc, mới yên nước nhà.
Tiền-trào trước có phê ra,
Chớ dùng kẻ giáo,(121) nước nhà không xong.
Ở đời mình lại thứ dung
Đến nay oán hận, thông cùng Lang-sa.
Đời ông cho đến đời bà
Nó qua trú ngụ, đất ta nước mình.
Ngọn rau tấc đất sở sinh,
Ăn no mặc ấm, của mình thung dung.
Nay chừ tích hận Triều trung,
Nên chi Tây biết, anh hùng đích danh.
Tây phiên còn ở Tây thành,
Can chi Tây biết, đích danh bốn người.
Nội trào nó chẳng hỏi ai,
Đích danh bốn người, văn võ bốn ông.
Ông Đề Ngô khí-khái anh hùng
Đã từng hiệp chiến, giao công Bắc kỳ.
Đề Soạn võ nghệ sảo tri,
Can do ở tại Bắc kỳ mà vô.
Quan Tiểu ở lại kinh-đô,
Tài năng nhan độn, xà đồ rất thông.
Ông Tướng khí khái anh hùng,
Đồ gian phi lệ, giết cùng chẳng tha.
Hãy còn lo việc nước nhà,
Chẳng thấy thời kíp nó đà giao chinh.
Một là bên giáo(122) thông đồng,
Hai là có kẻ Triều trung tư tình.
Tư ra các Vệ các Dinh,
Lựa người Võ-cử, luyện binh thi tài.
Văn võ thơ sách sớ lai,
Võ xem việc ngoài văn giữ việc trong.
Quan Tiểu vâng lịnh Cửu-trùng
Lựa người dinh vệ, tập tành Phước-thương.(123)
Mưa thời gánh cát đổ đường,
Nắng thời tập súng Phước-thương cho thành.
Đào hồ đắp lũy chung quanh,
Xà đồ thập tự, kinh thành rất đông.
Bá quan văn võ triều trung,
Đều khen quan Tiểu, vậy cùng đa mưu.
Đóng đồn đặt súng báo cừu,
Mới hay quan Quận dụng mưu tư tình.
Sửa sắm binh mã giao chinh,
Quan Quận lại kể sự tình đục trong.
Đã từng hiệp chiến hải phòng
Đồn tan lũy nát, chẳng xong bề gì.
Quan quân thất thủ một khi,
Kẻ thời chết nước, người thời chết khô.
Gạo tiền đổ xuống biển hồ,
Đông tây nam bắc mô mô cũng sầu.
Tròng ngao,(124) thuyền lái, thuyền câu,
Thuyền-ốc, ghe bầu, khốn nỗi thông thương.
Trong Triều mắc phải tai ương,
Đã bỏ mà chạy lập lường giao công.
Nước ta quan lớn anh hùng,
Bá quan văn võ, đều không ai tầy.
Ngài có ngọc-vẹt(125) cầm tay,
Đạn vàng nó bắn ba ngày không noa.
Tài năng văn võ lược thao,
Chí khí anh hào, nham độn rất thông.
Bốn bề cự chiến giao công
Tây-phiên nó nói anh hùng nước Nam.
Tài năng vô độn ra nham,
Khi thạnh chẳng gặp, suy làm chẳng hay.
Tức mình tự biệt cùng Tây,
Thánh-hoàng bắt tội, mộ rày rạch ba.(126)
Tiền-trào trước có giao hòa,
Tôn miếu xã tắc, quốc gia vẹn toàn.
Bởi người cự chiến Phiên bang,
Đồn tan lũy nát, bạc vàng hư hao.
Huống chi tá lý nội trào,
Tài năng cự chiến binh đao cho rầy.
Giáp thân nhị nguyệt bằng nay,
Quan Tiểu bẩm Bộ, xin rày hồi hương.
Vào Triều tâu với Thánh-vương:
“Tôi xin tĩnh thám mẫu đường(127) tại gia,
Đặng câu trung hiếu nghĩa hòa,
Làm nên danh vọng, ruột rà sở sanh”.
Tâu qua văn võ Triều-đình,
Xin về nhất nguyệt, thượng trình lai đô.
Tháng ba quan Tiểu trở vô,
Tháng tư Tây kéo, hải hồ thiên binh,
Bưa vừa lịnh chỉ đơn đình,
Hiểu dụ quan Tiểu, lai kinh hội Trào.
Hỏi người cớ sự làm sao,
Cho về nhất nguyệt, lẽ nào không ra.
Ví dầu bối rối việc nhà,
Lai thơ trình thuyết chư nha xem tường.
Thánh-hoàng cũng rộng cũng thương,
Cho về tĩnh thám mẫu đường tại gia.
Lai thơ quan Tiểu trở ra,
Tâu cùng Thánh-đế, chư nha hội đường.
Khốn thay thúc ngựa dời cương,
Đi thời đặng đó sợ thương mẹ già.
Sợ thay một lũ Lâu-la,
Muốn về cự chiến, sợ mà đón can.
Giận thay một lũ Phiên-man,
Nội Triều có kẻ nịnh gian biểu bày.
Tâu lên Thánh-đế đặng hay,
Nịnh gian biểu bày, Mồ-hóng, Xiêm-la.
Quan Quận khi ấy nói ra,
Tâu lên Thánh-đế vậy mà khi quân.
Ngươi đà nghịch lý khi quân,
Đày vô Bình-thuận, để tuần Ai-lao.
Chớ cho lai vãng nội trào
Cưỡng ngôn nghịch lý, phản phao đến mình.
Quan Tiểu mắc phải vây binh,
Người trung mắc nạn, lý hình nịnh gian.
Năm Mùi thất thủ Thuận-an,
Tây qua đóng lũ đóng đoàn đã lâu.
Trước thời chịu chữ thọ đầu,
Nó xin làm lầu, bến thủy một dinh.
Rồi nó đáo đến Đơn-đình,
Xin đất ở chốn Trần-bình(128) thông thương.
Trước xin cống thuế Nam-vương,
Chốn nào giặc dã, chịu đường cự khôi.
Thánh-hoàng chỉ phán một lời:
“Nó xin mặc nó, mình thời không cho.
Lập lường mưu kế đóng đô,
Mình người Nam-Việt, dễ phò lâu-la”.
Quan Quận đặt gối tâu qua:
“Tâu cùng Thánh-đế chư nha Triều-đình.
Sá chi chỗ đất Trấn-bình,
Ta cho nó ở, kết tình mà chơi.
Ăn lộc nước giả nợ đời,
Tôn lăng xã tắc, vậy thời của ta.
Tiền Triều trước có giao hòa,
Tôn lăng xã tắc, quốc gia vẹn toàn.
Cơ chi cự chiến Phiên bang,
Hao vàng tốn bạc, mới an nước nhà.
Thưa cùng văn võ chư nha,
Trấn-bình Trường-định giao hòa với Tây”.
Quan Tướng lại nói lằm vầy:
“Tôn lăng xã tắc, phen nầy e hư.
Ngài không vâng lệnh Thánh-từ,
Tôn miếu xã tắc e hư phen nầy.
Tiền-trào khôi phục dùng Tây(129)
Kinh thành Nam-Việt nổi bầy lâu-la.
Hồng-mao, Hồ-hóng, Chà-và,
Thủ tài bất chánh nó qua hãm đồn.
Ở đời mình dại nó khôn,
Nó qua hãm đồn, như cá vào khu.
Ở ngoài chịu chữ thọ đầu,
Vô trong niết sử, khổ âu nhiều ngày.
Ở đời một rủi một may,
Một chung một thủy, khó thay khốn dò.
Ăn cơm không nhớ đời xưa,
Tôn miếu xã tắc mới lo phen nầy.
Tiền-trào trước phục dùng Tây,
Chừ mình mà đặng lầu nầy đài kia.
Nó qua rồi nó lại về,
Nó không lập cảnh, lập quê ở đời.
Cho nó trú ngụ mà chơi,
Thành đô Nam-Việt mấy đời về Tây”.
Giáp-thân tứ nguyệt bằng nay,
Vừa đức Kiến-Phước trần rày thượng thiên.(130)
Bá quan văn võ phân phiền,
Gẫm trong nhà nước, không yên bề gì.
Hội Triều tôn đức Hàm-Nghi,
Ngài lên trị vì, Thiên-hạ cầu an.
Giận thay một lũ Tây phiên,
Đến Triều Nam-Việt, ỷ quyền mà thôi.
Quan Tướng khi ấy mở lời,
Nói cùng Quan Quận, mấy lời thật hơn.
“Hai ta cao chức lớn quyền,
Ngài ơi! Phải nghĩ, thiệt hơn sự tình!
Tây phiên đáo đến Đơn-đình,
Nội Triều lớn nhỏ, một mình sửa đương.
Trong Triều mắc phải tai ương,
Hai ta xử trí, dễ nhường cho ai!
Phen ni ta phải thi tài,
Lựa người dinh vệ, trong ngoài cự khôi”.
Quan Quận khi ấy mở lời:
“Nói cùng quan Tướng, vậy thời phải suy.
 Người là ngọc-diệp kim-chi
Tôi là bách tánh, lo gì phận tôi.
Chừ ra đấu chiến cự khôi,
Đồn tan lũy nát, vậy thời hư hao.
Lánh nơi cửa kín thành cao
Súng Tây ra đến, chỗ nào cũng tan.
Năm Mùi thất-thủ Thuận-an
Bao nhiêu tiền bạc, bỏ tràn biển đông.
Chừ ra cự chiến Triều Trung,
Hai bên thiên-hạ, vậy cùng than van.
Chừ ra cự chiến Phiên bang,
Đá liều thân đá, cân vàng vàng hao.
Có tài ra chốn binh đao,
Miễn an nhà nước, lẽ nào dám can”.
Quan Tướng khi ấy phân sang:
“Nói cùng quan Quận, rõ ràng đục trong.
Hai ta Tể-tướng triều-trung,
Ra tài đánh bắc, dẹp đông vi thần.
Ăn cơm dễ nại tấm thân
Trời sanh phụ tử quân thần làm chi?
Tây phiên chiếm hãm thành trì,
Bạc vàng cống thuế, lấy gì lưu lai.
Phen ni ta quyết ra tài,
Ai đi thúc thủ, hàng lai cho đành!
Chớ cho thiên-hạ bia danh,
Hai ta tọa hưởng kỳ thành sao xong!”





 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Đại Học
« Trả lời #179 vào: 28/01/2018, 22:27:32 »

Quan gia binh mã dự phòng,
Tây qua Tây dẹp, tại trong Chương tòa.
Triều-đình văn võ chư nha,
Chư công Hoàng-tử đều qua bên lầu.
Bá quan văn võ quì tâu:
Nay qua bên lầu, thương thuyết chuyện chi?
Triều-đình văn võ đều đi,
Chư công Hoàng-tử, vậy thì đều sang.
Đến nơi cung quán Tây-nam,
Rượu bày yến ẩm tọa bàn nhất bôi,
Thốn tình nhất tiệc nhất bôi.
Hỷ hà Nam-Việt, tình vui giao hòa,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(131)
Vàng hai vạn lượng, bạc mà muôn thoi.
Vàng thoi bạc nén đã rồi,
Tiền đồng đóng vỉ,(132) cậy thời vạn quan.
Có đành nhà nước mới an,
Ba ngày thời phải, đem sang nhưng là.
Đủ mặt văn võ chư nha,
Can chi quan Tướng, không qua Triều-đình.
Hãy toan lập mưu trị binh,
Bước qua hâm bốn, đáo đình bắt chơi.
Bây giờ mãn tiệc hạ hồi,
Trăm quan văn võ, vậy thời hồi qui,
Các quan trở lại đơn-trì,
Văn thời về bộ, võ thời về dinh.
Quan Quận đáo đến gia đình,
Nói cùng quan Tướng, sự tình mấy câu.
Bá quan văn võ sang lầu,
Tây-phiên nó nói, mấy câu rõ ràng:
“Tiền đồng cậy hai vạn quan,
Còn bạc với vàng, vô số kỳ đa.
Đành lòng thời phải đem qua,
Không thời hâm bốn, đáo gia bắt người.
Bây giờ vắng vẻ không ai,
Tôi nói với Ngài, nỏ để làm chi”.
Quan Tướng mới nói một khi:
“Giận thay phiên tặc, gan thì căm gan!
Quan gia binh lính sẵn sàng,
Tiên hành phá chiến, Tây sang hại mình!
Tư ra các vệ các dinh,
Trợ công khôi phục Trấn-bình nước ta.
Tư ra các vệ, các nhà,
Tôn miếu xã tắc, ông cha lưu truyền.
Nay mình thúc thủ Tây phiên,
Ông cha lưu truyền nỏ(133) để làm chi.
Thuận-an nó đã lấy đi
Tuyên, Cao, Thái, Lạng, vậy thì có Tây.
Kinh thành cơ nghiệp mình đây,
Nay mình thất thủ phen nầy không yên.
Khốn quân mặt trước Long thuyền,
Võ sanh xuất nhập côn quyền sảo tri.(134)
Trong thành có lính cẩm-y
Ngô, Trường hai vệ, võ thì rất hay.
Võ thời hai vệ bằng nay
Sanh sơ võ nghệ đóng rày đồn trung.
Đông-ba Hộ-vệ tuyển-phong,
Kẻ-trài, Trường-định, Long-trường giàn ra.
Cửa-hậu đến cửa An-hòa,
Bảo thời lên vệ vậy mà chia hai.
Cửa Hữu Hô-vệ Hổ-oai,
Chánh-tây Hùng-duệ, Pháo-đài Thần cơ.
Phấn Nghĩa hai vệ bây giờ,
Thượng-tứ hai vệ ngựa chờ quân sai.
Voi thời một thớt hai nài,
Cũng đều đứng xếp trong ngoài hai ông.
Thủy sư thời có bên sông,
Đêm ngày luyện tập cũng như bên nầy.
Hạ tuần ngữ nguyệt cập kỳ,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(135)
Quân Tướng khi ấy truyền ra,
Truyền cho chư vệ chư nha,
Ngục hình cầm cố vậy mà đều dung.
Chặt xiềng rồi lại mở gông,
Tiền ban bạc thưởng, vậy mà ăn chơi.
Quân tù khi ấy mở lời,
Gẫm lại sự đời mình lại thung dung.
Mấy lâu luống chịu mang gông,
Nay mà ra khỏi, chim lồng đặng bay.
Ăn chơi mới đặng ba ngày,
Gươm trường mã tấu, cầm tay giữ mình.
Ở tù nay đặng chữ binh,
Có vàng muôn lượng chuộc mình không ra.
Quan Tướng phân nói nhưng là,
Anh hùng hào kiệt mà ra phận tù.
Thương người lý sự văn nhu,
Sa cơ phải chịu phận tù một khi.
Thương người hào kiệt ăn chơi,
Sa cơ phải chịu, vậy mà tai ba.
Nên chi chịu tội nước nhà,
Tội mà đáng chết dung tha một lần.
Tôi nay mướn lịnh Thiên-ân
Cho ra khỏi tù chịu chữ thân chinh.
Quân tù lớn nhỏ cũng đành,
Xin đi tiền đạo, đến thành cự khôi.
Quan Tướng bài liệt đã rồi,
Về thưa Thân-phụ, vậy thời đặng hay.
Thưa cha một rủi một may,
Hò hòa mặc họ, con nay không hòa.
Triều-đình văn võ chư nha,
Đều ưng bụng hòa với nó mà thôi.
Sự tình y-ước đã rồi,
Đòi vàng đòi bạc vậy thời đem qua.
Giận thay một lũ Lâu-la,
Đã đòi vàng bạc, đến nhà hại tôi.
Thưa cùng Thân-phụ một lời,
Nhất sanh nhất tử con thời giao công.
Tây phiên khí khái anh hùng,
Giận thay có kẻ, Triều trung biểu bày.
Thưa cùng Thân-phụ đặng hay,
Tôi đã coi ngày, đêm tối hâm hai,
Đề binh khiển Tướng an bài,
Hâm ba nguyệt kỵ, hâm hai lấy giờ.
Cha già đầu bạc như tơ,
Má dùi răng rụng chưa nhờ đặng chi.
Phen ni phục đặng thành trì,
Ấn vàng chữ đỏ, vậy thì sắc phong”.
Quan Cụ mới tỏ đục trong,
Nghe lời quan Tướng dòng dòng lệ sa:
“Tôi rày yếu thẻ già tha,(136)
Xin đi một đạo vậy mà với binh.
Phen nầy mà chẳng giao chinh,
Đến lúc thái-bình cự chiến làm chi.
Đã đành phụ tử một khi,
Lẫy lừng binh mã, hồi qui Bộ-đường.
Quân gia binh mã chật đường,
Đèn-lồng đèn-gió, trên đường Hậu-bô.
Thiên binh vạn mã hải hồ,
Tôn miếu xã tắc kinh đô của mình.
Vái cùng Thiên địa chư binh,
Nguyện xin khôi phục Trấn-bình nước ta.
Nội trong lục bộ chư nha,
Một mình quan Tướng với mà Võ-ban.
Quân gia binh mã sẵn sàng,
Phen ni quyết đánh, cho tan Tây thành.(137)
Quân tù nó cũng lấy danh,
Xin đi tiền đạo, đến thành giao chinh.
Canh hai cơm nước soạn sành,
Hai bên Thiên-hạ lặng tanh như tờ.
Canh ba bố liệt binh cơ,
Canh tư lấy giờ phát lịnh giao chinh.
Súng Tây nó bắn đì đùng,
Hai bên thiên-hạ, vậy cùng than van.
Hai bên thiên-hạ rộn ràng,
Tối trời mù mịt thấy đường mà đi.
Thiên-hạ than khóc ly bì,
Người thời dắt mẹ người thời bồng con.
Của tiền như nước như non,
Miễn Trời để sống mình bòn còn ra.(138)
Thương thay những loại vịt gà,
Thương thay những vật vậy mà lao xao.
Người chun bụi, kẻ lội ao,
Người nói dưới cống, lao đao trận nầy.
Lánh sao cho khỏi đạn Tây,
Mẹ con dắt chạy trời rày còn khuya.
Lao xao như cá trong đìa,
Lánh sao cho khỏi đạn ria nhằm mình.
Vái cùng Thiên địa chư linh,
Nguyền xin khôi phục Trấn-bình đặng an.
Giàu thời chôn bạc chôn vàng,
Người chôn nồi trách, kẻ toan chôn tiền.
Ngày sau nhà nước đặng yên,
Ta về ta lấy lưu truyền hộ thân.
Mình sang còn cực tấm thân,
Cảm thương thầy bói chân lần tay trơ.
Canh hai trời tối mịt mờ,
Canh tư trăng mọc trăng lờ bởi mây.
Canh năm vắng vẻ súng Tây,
Thượng mã phi báo mình nay hơn rồi.
Không hay nó đánh địa-lôi,
Kéo lên Trường-định, mình thời chết đi.
Thuốc đạn mình hết một khi.
Thưa cùng quan Quận, người thì đặng hay.
Quan Quận tức giận lắm thay,
Bao nhiêu thuốc đạn, tau(139) thời biết mô.
Bay lên trên cửa Hậu-bô,
Hỏi cùng quan Tướng, ngài vô ngài tìm.
Tau chừ thất lạc như chim,
Thắng thời tau ở, bại tìm đi xa.
Quan Tướng khi ấy truyền ra,
Truyền quân võng giá, vậy mà chấp thương.
Quân gia binh mã chật đường,
Vào Triều tâu với Thánh vương nhưng là.
Đến nơi đặt gối tâu qua,
Tâu cùng Thánh-đế vậy mà trước sau:
“Giặc nầy thế đánh còn lâu,
Xin phò kim-thượng(140) khỏi lầu một khi.
Lánh mình ra khỏi thành trì,
Kẻo mà đạn bắn, vậy thì như tên.
Bốn bề đạn bắn như tên,
Ngài ngự tại điện tọa tịch sao an?”
Thánh-hoàng nước mắt chứa chan,
Vái cùng Thượng-đế, Ngọc-hoàng cao xanh.
Nguyền xin khôi phục Trấn-bình,
Đặng cho Thiên-hạ nước mình thung dung.
Trị vì mới đặng hai đông,(141)
Ai ngờ Đế-vị mắc vòng lâm nguy.
Nay mà mắc phải tai nguy,
Sự tình nông nỗi tại vì giặc Tây.
Thánh-hoàng mới phán bằng nay:
“Gươm vàng ấn sách, đệ rày hộ thân.
Gẫm trong nhà nước phân vân,
Hiển vinh chưa gặp lãnh phần gian nan.
Loan-y hầu quạt hầu tàn.
Kỉnh-tất, Loan-giá, ngai vàng giàn ra.
Võ-bị, Thị-vệ, Thượng-trà,
Ngô, Trường hai vệ phò mà tam cung.
Quan-gia binh mã ròng ròng,
Quan Hậu, quan Hữu vậy cùng phò đi.
Kéo lên cửa Hữu một khi,
Súng Tây nó bắn vậy thì kêu vang.
Lao xao người khóc kẻ than,
Gà kêu chó sủa, rộn ràng như ong.
Thánh-hoàng nước mắt ròng ròng:
“Ai ngờ đế-vị, mắc vòng lâm nguy!”
Qua đò Kẻ Vạn một khi,
Quan Quận ai nấy, đến thì đứng trông.
Băng chừng vừa đến Nhà Chung,
Bưa vừa quan Quận, đem lòng ta tây:
Khiến phò Thánh-đế vào đây,
Đặng ta đình trú, qua ngày giao chinh.
Quan Hữu nghe nói rùng mình,
Gươm vàng liền rút, hãi hùng tà gian,
Tay rút gươm miệng lại truyền:
“Cẩm-y(142) bây cứ, băng miền phò đi!”
Lánh thân ra khỏi thành trì,
Vô Nhà chung giáo, lánh mình ẩn thân.
Quan Hậu quan Tả phân vân,
Bá quan văn võ, đình thần không ai!
Phò lên Thiên-mụ bằng mai,(143)
Ngó về cung điện, lâu đài suy vi.
Nay mà mắc phải lâm nguy
Sự tình nong nổi, cùng vì giặc Tây.
Thánh-hoàng mới phán bằng nay:
“Làm cho lao-lý, dạ nầy không yên!”
Quan Hữu quì trước bệ tiền,
Tâu lên Thánh-đế: “Miễn yên nhưng là!”
Bây giờ lườn(144) súng đã xa,
Kiếm nơi đình trú, đặng mà liệu toan.
Giờ thìn giặc đánh đã an,
Bước sang giờ tỵ, Tây sang treo cờ.
Thiên-hạ ai cũng ngất-ngơ,
Giao chinh bốn giờ, nhà nước suy vi.
Đốt từ Chợ mới một khi,
Hai bên Thiên-hạ, vậy thì phân vân.
Lấy kinh-đô lại đốt lần,
Đốt trại Long-võ, đốt lần Tuyển phong.
Thiên-hạ ai cũng đau lòng,
Cửa nhà nó đốt, nó mong hại mình.
Đốt từ bộ Lại, bộ Binh
Phố phường ai nấy lo mình chạy tan.
Bao nhiêu của cải bạc vàng,
Nửa thời nó lấy, nửa tàn ra tro.
Hâm ba giặc đánh rất to
Khen cho các đò, đặng của phò công,
Người kêu kẻ gọi, dưới tròng(145) bôn ba.
Đức ông cho đến đức bà,
Phố phường quan khách, đều là thoát thân.
Gẫm trong gia đạo phân vân,
Kinh-thành thất thủ đem thân về làng.
Đi qua một chuyến đò ngang,
Tiền đồng vàng bạc, lụa hàng cả cây.(146)
Ai ai lo sợ súng Tây,
Kêu bùng một tiếng, đạn bay tột trời.
Bà con ai nấy chơi vơi,
Kinh-thành thất thủ, lo dời về quê.
Hai hàng nước mắt dầm dề,
Cửa nhà cũng bỏ, ra về tay không.
Giàu thời vàng bạc tiền đồng
Sô sa gấm nhiễu vậy cùng bỏ đi.
Trời cho Tây thạnh mình suy,
Quân quan chạy trước, mình thì chạy sau.
Người nghèo cho đến kẻ giầu,
Phố phường quan khách, chạy sau hằng hà.
Người thời ra cửa Đông-ba,
Kẻ lên An-hòa, người lại Chánh-tây.
Cửa Hữu đốt cháy vang dầy,
Nhà-đồ, Thượng-tứ, voi đóng phá vây.
Trên thành cứ việc xuống giây,(147)
Sa tay tề xuống, oan rày hỡi oan!
Trách lòng quan Tướng không troàn,(148)
Hai bên Thiên-hạ, chết oan rất nhiều.
Súng mình nó bắn phiêu-phiêu,
Súng Tây nó bắn, chết nhiều người ta.
Bao nhiêu của cải cửa nhà,
Dắt con cùng vợ chạy ra khỏi thành.
Đàn bà bỏ cửi bỏ canh,
Bỏ luôn, bỏ bán trong thành mà ra.
Ra thành tìm mẹ, tìm cha,
Tìm con tìm vợ, khóc la tìm chồng.
Súng Tây nó bắn tứ tung,
Trong thành thiên-hạ hãi hùng như chim.
Thợ may mất kéo mất kim,
Thợ rèn mất búa, mất kềm khốn toan.
Thợ mộc mất đục mất chàng,
Thợ khắc đồ cũng mất, khốn toan lẽ gì.
Thợ cưa cũng mất cưa đi,
Thợ giép cũng chạy, vậy thì mô-mô.
Thợ dù thời cũng mất đồ,
Mất kim mất chỉ, lấy mô mà mần.(149)
Thợ kim-hoàn mất đá, mất cân,
Có vàng khốn thử, phân vân sự đời.
Thợ xa-cừ mất bướm mất giơi,
Thợ sáo cũng mất, sự đời khốn toan.
Thợ bạc mất cái tâm hàn,(150)
Mất lò, mất bệ, khốn toan lẽ gì.
Thợ đúc nghề nghiệp bỏ đi,
Bao nhiêu lôi đặng, khuôn chì mà thôi.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(151)
Cảm thương thợ Bồi, mất tượng Tây-long.
Thợ nề mất phụng mất rồng,
Mất bay mất búa, chưởi chùng(152) thằng Tây.
Thợ xây thành mất nhợ mất dây,
Thẳng bằng khốn nhắm, vì Tây nhưng là.
Thợ giày mất kéo, mất kim,
Mất đinh, mất chỉ, nghĩ đã thất nhơn.
Hãy còn một nỗi thợ sơn,
Mất son mất phấn, giận hờn thằng Tây.
Thợ lọng mất nhợ mất giây,
Mất tua, mất giải, thấy Tây chủi chùng.
Thợ nhuộm mất mái(153) mất thùng,
Khuôn rập cũng mất, khổ trong đạo đời.
Thợ thêu mất bướm mất giơi,
Hàng đồ bát-bửu, nghĩ đà thảm thương.
Hãy còn một nỗi thợ đồng,
Lại thêm thợ mã, ra đường kêu ca.
Thợ ngọc lại với thợ ngà,
Lại thêm một nỗi, kêu ca mất đồ.
Thợ đá tìm Quảng mà vô,
Bao nhiêu kềm búa, bỏ hồ Cầu-kho.
Lại-bái(154) bỏ bệ, bỏ lò,
Bỏ kềm bỏ búa, nằm co một nhà.
Thợ tiện mất sợi giây da,
Thợ chiêng thợ trống, khóc la vang Trời,
Hãy còn một nỗi thợ tơi,
Mất mây, mất lá, kêu Trời lao xao.
Lại thêm một cụ thợ bao,
Mất bố mất xếp, nhảy hào thảm thương.
Hãy còn một nỗi thợ hương:
Mạt cưa cũng bỏ, ra đường chạy ngay.
Cảm thương mấy cụ thợ xay,
Bỏ cưa, bỏ mác, khổ thay nhiều bề.
Phường-tích(155) trở lại nhà quê
Bỏ nồi, bỏ trách ra về thẳng ro.
Lại thêm ba cụ(156) thợ đò,
Cưa mác cũng bỏ, nằm co dưới hào,
Súng Tây nó bắn lao xao,
Sa xuống dưới hào, e chết mà thôi.
Cảm thương mấy cụ thổi vôi,
Hàu hến cũng bỏ, Trời ơi hỡi Trời!
Đạn trúng ống bệ bể rồi,
Choàng hai ống thụt, lần về nhà quê.
Hai hàng nước mắt dầm dề,
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(157)
Thảm thương thợ gối nhiều bề,
Đột rong, đội cỏ, chạy kề sau lưng.
Cảm thương thợ kẹo băng chừng,
Bỏ đường bỏ quá, chạy sau rộn ràng.
Các cô buôn bạc buôn vàng,
Tay bưng hòm-đục(158) băng ngàn chạy theo.
Thảm thương mụ bán thịt heo,
Bỏ đao, bỏ thớt, tay đèo cái cân.
Mấy mụ bán gạo phân vân,
Bao nhiêu thúng mủng, sàn dần bỏ ngay.
Cảm thương mụ bán bánh tày,
Đầu đội thúng bánh, chạy rày kêu con.
. . . . . . . . . . . . .
Lần lần vừa đến Trường thi,(159)
Vừa gặp Kim-thượng, với thì tam cung.
“Tôi xin chịu tội Cửu trùng,
Xin ngài cứu nghĩ, với cùng cho minh,
Cúi đầu xin lạy Triều-đình,
Tôi xin liều mình nạp mạng Thánh-vương.
Cúi đầu xin lạy Thánh-vương,
Tội tôi đáng chết, tan xương bên đầu”.
Sự tình phân hết trước sau,
Tôi xin nạp mình, từ biệt chốn ni.
Tây phiên chiếm đoạt thành-trì,
Thẹn thuồng với giáo, hổ thì với Tây!
Thất cơ chịu chữ lạc-loài,
Trở lại cung điện, Giáo, Tây nó cười”.
Thánh-đế ngự chỉ phán lời,
“Trung-thần nghĩa-khí, vậy thời dung đi”.
Thánh-hoàng tha tội một khi,
Bưa vừa Thân-phụ, vậy thì chạy ra.
Ơn Trời con đặng gặp cha,
Tưởng là mắc phải lâu-la trở lòng!
Cha con phân nói đục trong,
Băng miền tách dặm, Sơn phòng lánh thân.
Miễn là phò đặng Thánh-vương,
Trung-thần nghĩa khí thế thường lưu danh.
Tây phiên nó đã hãm thành,
Phò theo chân chúa, mới thành trung danh.
Chú nào con vợ chưa thành,
Cho về sở định sở sanh việc nhà.
Chú nào còn mẹ còn cha,
Cho về phụng dưỡng, vậy mà đành đi.
Tôi nay Thân-phụ tại thì,
Lòng ôm chữ hiếu, dạ ghi chữ tòng.
Phò vua lấy một chữ trung,
Trời cao biển rộng, non bồng phải đi.
Giã từ tại chốn Trường thi,
Băng miền tách dặm, ra đi sơn phòng.
Quan Tướng nước mắt ròng ròng,
Bao nhiêu cung điện vậy cùng mặc ai.
Thánh-hoàng nước mắt láng lai,
Ra đi mà bỏ, điện đài kinh đô!
Dặn cùng quan Tướng Hữu Hồ,(160)
Đến nơi Văn xá, ghé vô Ngoại từ.
Chẳng qua Nam-Việt mình hư,
Ghé vô Ngoại từ, cáo quá Tổ tiên.
Cớ chi nhà nước đặng yên,
Thường năm quí tế Tổ tiên lâu dài.
Quản bao nước đục trăng lờ,
Băng miền tách dặm ra đi sơn phòng.
Băng miền tách dặm sơn phòng,
Còn lo cái việc Triều trung hư rồi.
Sơn phòng phút đã đến nơi,
Thượng cầm hạ thú, ai ai cống thường.
Bốn bề thiên-hạ thảm thương:
Ai ngờ Đế vị Quân vương mắc nàn!
Quan Tướng khi ấy tâu sang:
“Vái cùng Thượng-đế, rõ ràng đặng hay:
Bề nào chẳng được ở đây,
Thời ta đình trú, coi ngay(161) xuất hành”.
Trung thần đáo đến rừng xanh,
Cơ chi lòng nịnh, bỏ thành mà đi.
Nay mà mắc phải tai nguy,
Quân thần phụ tử, lên thì rừng cao.
Sự tình kể chẳng xiết bao,
Đường đi lên Mọi qua Lào còn xa.
Đến nơi bẻ lá che tòa,
Đá xây thế đế cho qua giận phiền.
Giận nầy cũng tại Tây phiên,
Quân thần phụ tử băng miền ra đi.
Tâu qua Thánh-đế một khi.
Tam cung thị nữ, vậy thì cho lui.
Đường đi lên núi thẳng dùi,(162)
Khúc cong khúc vạy tới lui khốn dò.
Đá thời viên nhỏ viên to,
Bốn bề khe suối, hủng-hô rộn ràng.
Núi non không xóm không làng,
Chim kêu vượn hú rộn ràng lắm thay.
Ra đi không kể tháng ngày,
Hổ lang đón nẻo khổ thay đàn bà.
Thánh-thượng nước mắt nhỏ sa,
Phân cùng Lão-bà, Thánh-mẫu tam cung:
“Tôi nay xa cách đền Rồng,
Bà về tướng phụng tại cung đền đài.
Phụng thờ Tiên đế hôm mai,
Tôi đà đành phận lạc loài rừng xanh.
Đời xưa cũng có bỏ thành
Vì chưng Tạ-tặc,(163) lưu danh đến giờ.
Chẳng qua Nam-Việt mình hư
Nên bà xa cháu Mẫu-từ xa con.
Cơ chi ở đặng lầu son,
Trị vì Thiên-hạ, tiếng còn lưu danh.
Bà thời trở lại kinh thành,
Dầu ai truy vấn xưng danh nơi nào.(164)
Băng chừng lên đến non cao,
Bắt quân Mường, Mọi qua Lào dụ Xiêm.
Bề nào tôi cũng chưa tròn,
Tây phiên phản tặc, nhất tâm hại rồi”.
Phân qua nói lại chưa rồi,
Tam cung Thị-nữ nước mắt nhỏ sa.
Thánh-mẫu nước mắt nhỏ sa,
Nhất sanh nhất tử, mẹ mà theo con.
Dẫu mà lặn suối trèo non,
Lên đèo xuống hố, mẹ con dắt dìu.
Lâm cơ chịu chữ quạnh hiu,
Trở về cung điện, buồn thiu hỡi buồn!
Thánh-hoàng nước mắt nhỏ tuôn:
“Bà ơi! Bà hỡi! bà buồn làm chi!
Xin Bà trở lại thành trì,
Thiên sơn vạn thủy làm chi nhọc lòng.
Tôi phê quan Hậu phò lấy Tam cung
Bá quan văn võ, hội đồng phò đi.
Đều phò theo đức Hàm-Nghi,
Quan Tướng Đề-Soạn với thì Đề-Ngô.
Ngũ trụ quan Tướng Hữu-Hồ,(165)
Người làm Thị-vệ thuở mô đến giờ.
Chẳng qua Nam-Việt mình hư,
Quân thần phụ tử, nay chừng rừng xanh.
Bây giờ than thở rừng xanh
Bao giờ phục đặng kinh thành Nam đô.
Phen ni kẻ Hán người Hồ,
Thâm sơn cùng cốc bề mô nhờ Trời.
Quan Tướng khi ấy mở lời:
“Nói cùng Dinh vệ, vậy thời đặng hay.
Ra đi không kể tháng ngày,
Lên rừng xuống động khổ thay nhưng là.
Chú nào thương mẹ nhớ cha,
Thương con nhớ vợ vậy mà cho lui.
Ra đi trong dạ sụt sùi,
Lên non xuống động tới lui khó lòng.
Có đi thời nói cho xong,
Đi thời bạc lượng tiền đồng Ngài ban.
Phen ni bỏ họ bỏ làng,
Bỏ con bỏ vợ băng ngàn phò Vua.
Mấy đời mà sãi bỏ chùa,
Mình mà giúp nước phò vua hết lòng.
Giã từ y-ước đã xong,
Băng miền tách dặm sơn trung nhưng là.
Đình lưu tại chốn rừng già,
Mọi, Lào các mán chạy ra đùng đùng.
Sơn lâm cùng cốc lạ lùng
Mấy người dương-thế sơn trung làm gì.
Ông Huyện, ông Tổng quì tâu:
Tâu cùng dương-thế, nói cùng Mọi hay.
“Tau nói các Mán bay hay:
Quốc vương thủy thổ, xưa nay nước mình.
Gia-Long trước có phục tình,
Viện Tây khôi phục, Kinh-thành Nam đô.
Mênh mông thế giới bể-hồ,
Nợ cho con trả đời mô cho rồi.
Chẳng qua Tiên-đế về trời,
Xem trong niềm nghĩa vậy thời kéo sang.
Trước thời nó lấy Thuận-an,
Oai thương nó giết, quân quan chẳng còn.
Tức mình đóng lũy làm đồn
Nó phá tan nát chẳng còn chút chi.
Kinh thành nó đã lấy đi,
Phải phò Ấu-chúa, vậy thì lên đây.
Ra đi chẳng kể đêm ngày,
Kiếm nơi đình trú, luận bày mưu cơ.
Cậy cùng các Mán Cà lơ,
Làm nhà ở trú bây giờ cho mau.
Ầm ầm các Mán kêu nhau,
Làm nhà cư trú cho mau tức thì.
Thánh-hoàng phán hỏi một khi,
“Quốc-vương thủy thổ, đây thì xứ chi?”
Ông Huyện ông Tổng tâu quì!
“Địa đầu Mai-lãnh, thiệt thì xứ nay.
Tâu lên cho rõ cho hay:
Phần đất Hà-tịnh, trong nầy sơn trung”.
Sơn lâm cùng cốc lạ lùng
Mọi xin vô phép tâu trong một lời:
“Hay là săn bắn ăn chơi
Quả thiệt Vua trời đem ấn ra so.
Rõ ràng cho biết căn do,
Tuy là Lào Mọi, có phò Nam-vương.
– “Đã đủ các mán Mọi Mường,
Tau cho khai khán, rõ ràng quốc gia.
Công bây cống thuế nước nhà,
Chiếu bằng làm lệ, khóa mà đến nay.
Chừ Tau đem ấn ra đây,
Tau cho khai khán, rõ ràng đục trong”.
Các mán khi ấy đành lòng:
“Thà cho hẳn sự cái vòng gian ngay”.
– “Bằng Bộ Ấn Phủ có đây,
Xem qua nhắm lại, ấn rày Quốc-gia”.
Lấy ai chánh giám Quốc-gia,
Vua thời thất lạc, vậy mà lên đây.
Ra đi không kể đêm ngày,
Lên non xuống động khổ thay nhưng là.
Hai hàng nước mắt nhỏ sa,
Nam-Triều xã tắc thôi đà về Tây.
Quân thần phụ tử lên đây,
Long an Bảo-Định, phen nầy sanh sơ.
Phụng-tiên Hữu-miếu ai thờ?
Hiền-lương, Trung-nghĩa, bây giờ quạnh hiu.
Làm chi cây lá ngã xiêu,
Văn-thánh, Võ-thánh buồn thiu đã rồi.
Miệng kêu ba tiếng: Trời ơi!
Bao nhiêu cung điện, vậy thời cũng xa.
Công-thần lịch-đại ông bà,
Hương tàn bàn lạnh nghĩ đà thảm thương.
Trung thần trọn đạo phò vương,
Quan Hữu lâm bệnh, giữa đường khốn toan.
Đêm ngày thuốc thuốc thang thang,
Quan hình sát sắc, khốn toan khổ lòng.
Bộ người e ngó không xong,
Người qua không khỏi, phiền lòng bá quan.
Chiêm bao giấc điệp mơ màng,
Vong hồn Hồ-Hiển thở than mấy lời.
Tay ngoắt miệng kêu: “Quan Tướng!
Xin Ngài ở lại, đặng phò Đế-vương.
Lâm câu bán lộ giữa đường,
Bất trung Thiên tử Thánh vương phen nầy.
Phò vua từ thuở đến nay,
Chừ tôi lâm bệnh khổ thay nhưng là.
Quản chi con vợ cửa nhà,
Lòng trung phò chúa cho qua trận nầy.
Nói cùng quan Tướng ngài hay,
Tôi e số hệ đổi thay phận già”.
Rùng mình nằm xuống ngã ra,
Chuồi tay xuống ngực thôi đà lạnh tanh.
– “Vong hồn Hồ-Hiển đêm thanh
Đương khi bán lộ, bỏ đành lúc nguy.
Lúc nguy người bỏ sao đành,
Ai phò Ấu-chúa một mình khổ tôi”.
Người đà an phận người rồi,
Truyền quân mai táng sự hoàn cho anh.
Bề nào hồn gã thăng thiên,
Trung thần trọn đạo lời nguyền chúa tôi.
Thưa qua mai táng đã rồi,
Gởi cho các Mán vậy thời ở đây.
“Tau dặn các Mán bây hay:
Ngày rằm mồng một, nhớ ngày khói hương.
Trung-thần trọn đạo phò vương,
Lâm câu bán lộ, giữa đường không ai.
Ngày sau con cháu chi người,
Băng miền đáo khán, bắt khai rõ ràng.
Thiệt người thân thích bổn hương,
Hỏi người khai khán sở đương cốt hài.
Mấy lời nghe hết vào tai,
Y như các tiết không sai thẻ đề.
Hai hàng nước mắt dầm dề,
Ra đi không biết đi về khi mô.
Thảm thương quan Tướng Hữu Hồ.
Đời nào đặng thấy kinh-đô xóm làng!
Băng miền nước đục khốn sang
Truyền cho các mán dọn đường người đi.
Bốn bề vượn hú sầu bi,
Đêm thời nghe tiếng chim qui kêu sầu.
Dạc chừng(166) đất nước Cửu-châu,(167)
Lão bà(168) cảm bệnh đau đầu ủ ê.
“Mẹ ơi! Mẹ hỡi! không hề nói chi.
Chừ thời Mẹ muốn nói chi?
Ăn cơm hay cháo, mẹ thì nói ra!
Vái cùng Thiên địa ông bà,
Vái Trời phò hộ, cho qua trận nầy.
Kẻo mà bối rối lắm thay,
Phần thời mẹ yếu, sợ Tây hậu-đoàn”.
Hai bên tấn thới lưỡng nan,
Đặng trung mất hiếu, khốn toan nửa chừng.
Truyền ra “Đội-Cháu, Đội-Sừng!
Coi phong mà lễ sau lưng cho Bà.
Họa may cảm nhẹ mà qua,
Hổ-đầu kim-đính lấy thoa tức thì!
Mấy lời dặn lại tôi đi,
Đội-Sừng là cháu, kêu thì bằng Cô.
Phen ni mẹ Hán con Hồ,
Lâm sơn cùng cốc bề mô không toàn.
Hai bên tấn thối lưỡng nan,
Vái cùng Thiên địa băng ngàn qua Xiêm.
Sai phần bớt chứng lại thêm,
Cơm cháo không nạp đã sáu đêm ngày.
Nghiêng tai Bà cụ mở lời,
Đội-Sừng là cháu kêu: “Ơi Đội-Sừng!
Lâm câu bán lộ nửa chừng,
Xin mi cấp táng, mi đừng bàn vông.
Bao nhiêu tiền bạc bông vòng,
Giao mi phụng thủ, nội trong đài nầy.
Chừ còn một mặt mi đây,
Thành-đô khôi phục, nhớ ngày quảy đơm.
Dầu mà dĩa muối bát cơm
Gởi cùng Thúc-phụ, quảy đơm nhớ ngày.
Chừ còn một mặt mi đây,
Thằng Hai thằng Cả, khốn bề nơi nao.
Thằng Hai thằng Cả bị vây,
Sanh ra quốc biến có tay trở lòng.
Ông Cao Đăng Đệ(169) Triều trung
Ông Đinh Hoàng-tử(170) trở lòng lúc nguy.
Gian tà Trời để làm chi,
Sanh ra phản tặc, ngu si khác loài.
Ăn cơm ai? Mặc áo ai?
Đem lòng phản chúa, ra tài hận quân!
Hai hàng nước mắt rưng rưng,
Đêm khuya Bà cháu, giữa chừng thở than.
Bao nhiêu thuốc tán thuốc hoàn,
Đổ vô cứ ở nằm ngang yết hầu.
Cơm cháo không nạp đã lâu,
Kêu Bà ba tiếng, gật đầu biết chi.
Tứ chi lãnh khuyết một khi
Hai con ngươi đứng suy vi khốn cầm.
Ở nhà thời cao-ly sâm,
Ai ngờ thất lạc sơn lâm làm vầy.
Xin táng mộ cô lại đây,
Dắt dìu bà Tướng họa may gặp người.
Sơn lâm cùng cốc non đoài,
Nguồn cao nước độc, hôm mai dắt dìu.
Dắt dìu bà Tướng phen ni
Bà phát bệnh thủng chân tay nặng nề.
. . . . . . . . . . . . . . .
Bước qua thu tiết hồn về điện ba.
“Ơi chú! Ơi chồng! tôi thất lạc đi xa,
Trước sau nhờ chú, không qua đã rồi!
Tuy còn cô cháu mẹ tôi,
Con cô cháu cậu một đời sinh ra.
Bề nào thế cũng không qua,
Bà nhạc chết trước dân mà chết sau.
Trời dày, suối hiểm, non sâu,
Lâu này thâm nhiễm bệnh âu đàn bà.
Kể từ thất thủ chạy ra,
Chồng nam vợ bắc, ông gia nơi nào?”(171)
Thánh-hoàng không biết làm sao:
“Quân gia đã đến Mọi Lào hay chưa?
Không biết ai chết ai lo,
Oai thương thế ấy ai chừa chi ai.
Ông Cao Đăng Đệ(172) Triều trung,
Ông Đinh Hoàng-tử, trở lòng lúc nguy.
Gian tà trời để làm chi?
Sanh ra phản tặc ngu si khác loài.
Ăn cơm ai mặc áo ai,
Đem lòng phản Chúa, ra tài hận quân.
Nó ra phản Chúa nửa chừng,
Vái cùng Thiên địa mi đừng trách tau.
Làm quan giúp nước phò Trào,
Trở lòng phản Chúa trời nào để bây.
Tôi nhìn các gã mình đây,
Cái quân bất nghĩa, phân thây treo ngành.
Giận quân bất thiện chẳng lành,
Bắt mà mổ bụng treo ngành phơi khô.
Tôi dặn quan Tướng Đề Ngô,
Điểm quân mình lại, kéo vô cậy Mường”.(173)
Kéo vô mà cậy các Mường
Cậy quan giao ước giúp đường lâm nguy.
Nam triều trời đã khiến suy
Nên chi Ấu-chúa lạc thì non cao.
Truyền cho các Mán, Mọi, Lào,
Cho bây ngó ấn Nam trào bây tin.
Rưng rưng nước mắt đều nhìn:
“Thôi rồi Ấu-chúa, quan quân khổ rồi!”
Quan quân Ấu-chúa khổ rồi,
Mọi, Lào cũng chẳng con thời không cha.
Lấy ai chánh-giám quốc-gia?
Vua đà thất lạc, nay đà thảm thương.
Sơn lâm cùng cốc xa đường,
Lại thêm nước độc, Hiệp-dương(174) chết rồi.
Nguồn cao nước độc lắm thay!
Lại thêm Bà lớn nằm rày không yên.
Ra đi ai nấy cũng phiền,
Cơm ăn miệng đắng, không yên trong mình.
Thương thân thời phải nghĩ tình,
Ngó qua Túc-vệ, Cai-bình Giạ-lê.
Ra đi biết khi mô về,
Cai-bình một xứ, một quê với mình.
Kẻo mà quan Hiệp không ai,
Thương lấy thân người khác thể thân ta.
Người làng như thể người nhà,
Đừng làm sấp ngửa vậy mà không nên.
Cai-bình đứng dậy thưa lên:
“Ông già tôi làm răng thời người làm rứa.
Hai bên cũng có ông bà
Nay đà thảm thương bà Tướng nhưng là.
Cơm cháo không nạp đã ba đêm ngày,
“Cho tôi một miếng nước rày!”
Miệng thời kêu nước chân tay lạnh rồi.
Quan Tướng khi ấy: “Ai ôi!
Phò vua trọn đạo, khổ vợ tôi trăm đường!
Phò vua cho đặng chữ trung,
Thảm thương nỗi vợ tấm thân suy tàn.
Nhờ chú Đội-Thược sửa đương.
Kẻo vợ tôi lâm bệnh giữa đường
Tôi xin nhờ chú, sửa đương vuông tròn.
Chú là cái phận tôi con,
Sửa đương vuông tròn, nghĩa chú không quên.
Bề nào chú cũng làm nên,
Tôi không nói láo hai bên ông bà”.
Đội-Thược đứng dậy thưa qua:
“Chừ phải liệm bà hai cái nệm bông”.
Hai hàng nước mắt ròng ròng:
“Làm nên Tể-tướng vợ chồng lâm nguy!
Rùng mình không biết chuyện chi,
Tôi e phản tặc, nó thì kéo lên.
Rộn ràng nó tưởng mình quên,
E nó bôi mặt kéo lên hại mình”.
Đội-Thược phân lại sự tình,
Táng an hài cốt mộ bà đã yên.
Ban mai hâm bảy bình-minh,
Nó lên thình lình bất thiện vô tri
Thừa cơ nhi nhập, lúc suy nước nhà.
Vái cùng Thiên địa ông bà,
Nhờ Mọi dẫn lộ mau mà qua Xiêm.
Ra đi không kể ngày đêm,
Mau mau kíp đến đất Xiêm lánh mình.
Vái cùng Thiên địa chư linh,
Quỉ thần xứ sở, thương tình phận tôi.
Ngưỡng mặt mà vái cùng trời,
Nhất sanh nhất tử, đạo vua tôi nhưng là”.
Thành đô quan Quận giao hòa,
Lựa lời hơn thiệt nói mà với Tây.
Tây phiên gẫm giận lắm thay,
Đem lòng cự chiến đến đây làm gì.
May mà Nam-Việt thời suy
Nếu mà Tây bại phen ni chẳng còn.
Người mà lạc nước lạc non,
Bao nhiêu nhà cửa chẳng còn ở đâu.
Tây phiên thúc thủ thọ đầu
Nam-Việt. . . . mình âu chẳng lành.
Tây phiên trở lại tây thành,
Ở đây xấu tiếng đồn danh đã rồi.
Không cho đâm nhánh nở chồi
Bá đao lóc thịt thả trôi giang hà.
Quan Quận khi ấy nói ra,
Nói cùng Đại Pháp chư nha Phiên-triều.
Ân thâm nghĩa trọng cù lao,
Bá quan đáo đến, Nam triều yến diên.
Nam-triều lại với Tây phiên,
Có lời y-ước phỉ nguyền hòa giao.
Tây phiên đáo đến Nam-trào,
Tôi nay ăn ở không xao chút tình.
Nay mà sinh sự sự sinh,
Cũng vì ông Tiểu lấy binh làm cường.
Đành cho Thiên-hạ bại tan,
Lâu đài miếu vũ chẳng an bề gì.
Đành chi Thiên-hạ bại suy,
Người thời chết mẹ kẻ thì chết cha.
Người thời không cửa không nhà,
Không con không vợ khổ mà sanh sơ.
Ông bà không chốn phụng thờ,
Vô phương sanh lý, Trời ơi hỡi Trời!
Ngài qua Nam-Việt mà chơi,
Chư-hầu 18 nước, thiếu chi sum vầy!
Soạn sành tiệc yến bằng nay,
Thưa cùng Đại Pháp bắt tay giao hòa.
Quan một cho đến quan ba
Quan năm quan sáu, vậy mà không nghe.
Để quan các tỉnh trở về,
Sự bằng y-ước ra bề đục trong.
Tin thời tin, dạ còn phòng
Sợ Nam-triều Tể-tướng. . . . phục binh.
Quan Quận trở về gia-đình
Để triệu các tỉnh, lai kinh lo lường.
Đông tây nam bắc bốn phương,
Triệu quan các Tỉnh, sửa đương nước nhà.
Có quan Tổng-Thống Đông-hà,(175)
Cống hồ cống sứ, lấy mà tỉnh Đông.
Ngày nay Tây thạnh triều trung,
Phải về y-ước, hội đồng hòa giao.
Bao nhiêu thuế lệ thấp cao
Đông tây nam bắc chốn nào cho hay.
Soạn sành tiệc yến bằng nay,
Thưa cùng Đại Pháp bắt tay giao hòa.
Quan một cho đến quan ba,
Quan năm quan sáu giao hòa đã xong.
Bá quan văn võ hội đồng,
Sai ra sơn phòng triệu đức Hàm-Nghi.
Rùng rùng binh mã đều đi,
Đến đầu Mai-lãnh, Ngài ngự qua Lào.
Bốn bề khe suối rừng cao,
Ngài ngự qua Lào có Mọi đưa sang.
Mấy lời nghe dặn rõ ràng,
Có quan Hậu-đoàn, thời cũng đành đưa.
Mấy lời đã dặn ngày xưa,
Có quan chốn ấy đành đưa khó lòng.
Việc nầy e cũng không xong,
Hồi Triều thưa lại đục trong rõ ràng.
Quân vào đến hỏi Mọi Mường,
Nó lại khai khán tỏ tường căn do.
Căn do nó nói rõ ràng,
Nên quân phải nhắm nẻo đường trở lui.
Ba phen thẳng thẳng dùi dùi,
Người thời ưng đến, kẻ ưng lui về thành.
Bốn bề khe suối cây xanh,
Chim kêu vượn hú trên ngành ho hen.
Bưa vừa gặp quan Cụ băng miền,
Thưa qua quan Cụ rõ ràng,
Tại đây Thương-bạc có quan hội đồng.
Có quan Tổng Thống Hà-đông,
Quân ra Sơn phòng triệu đức Hàm-Nghi.
Rùng rùng binh mã đến đi,
Đến địa đầu Mai-lãnh ngài ngự qua Lào.
Bốn bề khe suối rừng cao,
Ngài ngự qua Lào quân phải lui đây.
Giờ mà đã gặp Ngài đây,
Xin Ngài trở lại lui thời với quân.
Hai hàng nước mắt rưng rưng,
Bảy mươi chưa khỏi trong tuần gian nguy.
Nay ta trở lại thành trì,
Bề nào họ tra hỏi, Vua đi đường nào.
Ta lui Thương-bạc tại trào,
Họ có tra vấn bề nào nói ngay.
Đều mừng quan Cụ về đây,
Việc có Đại Pháp với Tây hội đồng.
Có quan Tổng Thống Hà-đông,
Hiệp nghị hội đồng thương thuyết với Tây
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . tức vị trị ngôi.
Hiệp nghị khi ấy đã rồi,
Lựa trong Hoàng điệt với thời Hoàng huynh.
Trăm quan văn võ Triều-đình,
Coi ngày tức vị thái bình đã xong.
Quan Nguyễn Hữu Độ khi ấy trở lòng,
Nói cùng quan Quận đục trong rõ ràng.
Ơn trong Thiên địa Thánh-hoàng,
Không thời phải mắc nịnh gian hiểu bày.
Quan Quận lại vỗ bàn tay,
Hà do quan Nguyễn nói ai rày nịnh gian.
Tôi mà có dạ nịnh gian,
Trời phạt hạ ngục suối vàng đã lâu.
Cơ chi sanh sự chước màu,
Lấy xưa mà giận Trời đâu để đời.
Tâm xà khẩu Phật nực cười,
Người thời sanh sự người thời không công.
Người làm Tể Tướng triều trung,
Mà người sanh sử lão Vung(176) Thanh-bình.
Người đã sanh sự, sự sanh,
Lão Vung Thanh-bình đáo xứ hại tôi.
Nó ra vừa đã đến nơi,
Tưởng tình sự đệ kêu thời vào Dinh.
Nó ra nó chịu trói mình,
Nó lại khai khán rõ ràng đục trong.
Hai người y-ước dự đồng,
Bá quan văn võ đều cùng vô tri.
Nó nói: “Tôi ra đây Quan lớn sai đi,
Lại với quan Tướng, cả thời hai ông.
Hai người y-ước dự đồng,
Sai tôi ra tại tỉnh Đông tức thì.
Đến nơi khiến hại người đi,
Về thành cho chức người thì lại ban.
Lão nói: lão đương lúc cơ hàn,
Lão tham tài chức, cố toan thầy trò.
Lão ra đây nửa sợ nửa lo,
Chi bằng việc thiệt thầy trò nói ra.
Triều-đình văn võ chư gia,
Đều nhớ quan lão vậy mà phương phi.
Con người làm đặng chức chi,
Ngó người thuần hậu phương phi râu dài.
Chẳng biết quan Cụ là ai,
Ông già quan Tướng vậy thời làm sao.
Con người chức trọng quyền cao,
Sửa đương việc nước trong trào chánh minh.
Đường quan chức tước Triều-đình,
Tôi là quan cụ thân sinh dưỡng bào.
Lòng trung phò chúa bên Lào,
Ở đây sinh tử bề nào quản chi.
Sinh ra gặp lúc gian nguy,
Vua còn thất lạc huống gì phận tôi.
Thưa cùng Đại Pháp một lời,
Tôi không làm dữ, tiếng thời tôi mang.
Chữ rằng nhật cửu dị đoan,(177)
Ông nầy ông nói như quan cựu trào.
Đình thần phải nghĩ làm sao,
Ông quan cựu trào mà nói đa ngôn.
Hùm qua dấu vút hãy còn,
Bắt cha nó lại sau con phải về.
Hai hàng nước mắt dầm dề,
Bao giờ khôi phục con về với cha.
Thưa cùng Đại Pháp chư gia,
Tỏ chuyện quan Quận vậy mà đục trong.
Ngài là tể tướng triều trung,
Mà ngài sanh sự lão Vung Thanh-bình.
Ngài mà sanh sự sự sanh,
Lão Vung Thanh-bình đáo xứ hại tôi.
Nó ra vừa đã đến nơi,
Nó mê tâm say rượu, nó thời ngẩn ngơ.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

(Đến đây hình như người chép đã tỏ ra lúng túng, không nhớ đoạn chót.)

VIỆN HÁN-HỌC sao lục

____________________________________________
(1) He: hiện tượng lóe ra trên nền trời còn gọi là “rán”.
(2) Cán: hiện tượng lên như cái chổi (có thể nói là sao chổi).
(3) Chỗ này sót một câu bát.
(4) Chỗ này sót một câu bát(?)
(5) Khác thể: giống như. Cành lê: ý nói già cả.
(6) Có thể sót chữ “quả” (trái quả = nợ đời).
(7) Chỗ này có thể sót nửa câu bát.
(8) Dập mật: ý nói hãi kinh.
(9) Văn danh: nghe tiếng tăm.
(10) Xâm lăng: quân xâm lược.
(11) Toái xác: tan tác.
(12) Hai gã: Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.
(13) Lai hàng: chắc là chịu thua Thuyết và Tường.
(14) 3 ngang 1 xổ: chữ Vương (đây trỏ Dục Đức).
(15) Trạch: chọn.
(16) Trí: đặt.
(17) Nguyệt đứng bên vai:? Chúng tôi chưa rõ nghĩa.
(18) Lập cân:? Chúng tôi chưa rõ nghĩa.
(19) Tham: báo cáo tội lỗi với nhà vua.
(20) Văn công lễ lệ: theo sách nghi lễ của Châu Văn Công.
(21) Dực thị: có lẽ “Duyệt thị”, nhà hát của vua.
(22) Hỡi: hãy (hãy còn: lại còn).
(23) Kỉnh tất: tên của một toán lính chuyên khiêng kiệu.
(24) Hộ vệ: tên của toán lính chuyên đi giữ gìn quanh vua.
(25) Thượng trà: lính hầu lo về trà nước.
(26) Nguyệt tiên, Thiên đức: tên của hai vị sao tốt.
(27) Hàn: Đà Nẵng.
(28) Sơn chà: tên một bán đảo ở Đà Nẵng.
(29) Tây phiên sứ sự: tiếp đãi sứ Tây phiên
(30) Hoàng ngưu, kê noãn: bò và trứng gà.
(31) Mặc sa hoàng đá: có lẽ là đảo Hoàng sa.
(32) Dĩ kim khử cổ: chỉ kể hiện tại, bỏ qua chuyện xưa đi không nói đến nữa.
(33) Tiểu phủ sứ: Ông Ích Khiêm (chính chữ Tiệu).
(34) Thiên-mụ tự?
(35) Hỡi: hãy (hãy còn: lại còn).
(36) Đồn đóng ở Hà (Hà trung) một địa điểm phía đông kinh thành.
(37) Có lẽ thiếu một câu lục.
(38) Tau: tao.
(39) Hải hồ: ý nói nhiều vô kể.
(40) Thương: tên một loại súng cổ: oai thương, điểu thương (có thể hiểu là tránh cho khỏi bị thương).
(41) Làng Vĩnh trị, phía bắc Thuận-An.
(42) Dinh: thành phố.
(43) Am nhàn: am tường và nhàn thục (quen thuộc).
(44) Giáo dưỡng anh danh: con quan, nhưng học nghề văn không được, nên theo nghề học võ trong một trường do chinh phủ lập.
(45) Tên xưa của Bao-Vinh.
(46) Xem chú thích số 19.
(47) Làm ri: thế nầy.
(48) Sa nơi: (Chúng tôi không rõ nghĩa).
(49) Xem chú thích số 45.
(50) Trúc: đổ.
(51) Bởi xa: vì xa cách?
(52) Bây: chúng bay.
(53) Xem chú thích 40.
(54) Quan Hữu: Hữu quân đô thống (Lê Tuấn?)
(55) Lương duyên: cơ duyên? căn duyên?
(56) Bưa vừa: vừa khi đó.
(57) Trần Thúc Nhẫn.
(58) Nói nổi ai: mà nói ai nghe cho?
(59) Đi dọi: đi theo mình.
(60) Trần Thúc Nhẫn.
(61) Hay là Hải-thành để phòng thủ.
(62) Tức là Nguyễn Văn Tường.
(63) Giàng ca: lắm điều, dông dài.
(64) Làm ri: thế nầy rằng.
(65) Dịch-nàng: Lieutenant, trung úy.
(66) Xu-đăng: Adjudant, thượng sĩ.
(67) Giả như: ví như.
(68) Đám mây đứt chân thì mất mưa.
(69) Troàn: truyền (hãy nghe ta truyền).
(70) Xà lúc: chaloupe, tàu nhỏ.
(71) Làm răng: làm sao.
(72) Áp xanh: rượu Absinthe.
(73) Lâm thương: bị thương.
(74) Bưa vưa: thế rồi.
(75) Nhưng kẻ đạo cũng là dân Nam triều.
(76) Ai đánh với Tây mặc họ.
(77) Chứ kẻ đạo đánh làm chi.
(78) Làm ri: thế nầy, rằng.
(79) Sở-sàm: sử sanh, xúi giục.
(80) Tôn Thất Thuyết.
(81) Tôn Thất Thuyết.
(82) Phân tháp: tan hợp(?) chia ra rồi ghép lại.
(83) Nguyên trước kẻ đi đạo bị chính quyền rạch mặt thích chữ.
(84) Giám mục biếu ông Tướng.
(85) Tôn Thất Thuyết.
(86) Cho thoan: cho xong.
(87) Dựa thế các cha, cố.
(88) Mò-hóng: ngoại nhân da đen, đánh khinh.
(89) Phần thổ: đất bụi.
(90) Hai chàng: Thuyết và Tường.
(91) Y rách ráp với chữ dương là tên ông Tường.
(92) Tôn Thất Thuyết.
(93) Có lẽ là Hường-Phò và Hường-Sâm.
(94) Ông Nguyễn Hữu Độ (?)
(95) Vua Hiệp Hòa…
(96) Trần Tiễn Thành.
(97) Huy tai: cố hại.
(98) Thuyết và Tường.
(99) Ông Thuyết.
(100) Sự bình: có lẽ là “bất bình” (?)
(101) Không lo sợ gì về cánh Hoàng-thân.
(102) Hại mình: hại chúng ta.
(103) Cũng Bà: có lẽ là vợ của Phò mã Nguyễn Hữu Độ.
(104) Không cứ: không nghe không tin.
(105) Cho thoan: Xem chú thích 86.
(106) Tịch bôi: bỏ tên trong sổ.
(107) Tĩnh thân: thăm cha mẹ.
(108) Miêng: minh, rõ.
(109) Giao xốt: tồn nghi.
(110) Quan Cụ: Thân sinh Tôn Thất Thuyết.
(111) Tam ty: Tam-pháp-Ty, tòa án tối cao ngày xưa.
(112) Trần Tiễn Thành.
(113) Xem chú thích 106.
(114) Quan Hầu: Hầu Chuyên.
(115) Cậu Hai: con ông Trần Tiễn Thành.
(116) của cải – Tiền kẻ: tiền của.
(117) Quan Thừa: quan Phủ Thừa (?)
(118) Sám cá: sắm sửa (?)
(119) Nuôi Giản Tôn nghi hoàng đế (?)
(120) Từ-Dũ Hoàng Thái hậu.
(121) Kẻ giáo: người theo đạo Gia-tô.
(122) Xem chú thích 121.
(123) Phước-thương: tên một loại súng (có lẽ là Phúc thương).
(124) Tròng ngao: tên một loại thuyền cỡ trung bình.
(125) Ngọc vẹt: tương truyền là một loại ngọc quí tránh được đao thương súng đạn. Người có ngọc vẹt chỉ kỵ đạn vàng.
(126) Rạch ba: tồn nghi.
(127) Tĩnh thám mẫu đường: thăm mẹ để dò ý kiến.
(128) Trấn-bình: nay gọi là Mang-cá.
(129) Trước khi vua Gia Long đã nhờ Pháp mà phục quốc.
(130) Mồng 6 tháng tư năm Giáp thân (1884) vua Kiến-Phước bị đầu độc chết.
(131) Có lẽ thiếu một câu lục.
(132) Đóng thành từng chồng nhiều bó.
(133) Nỏ: chẳng.
(134) Sảo tri: biết một cách sơ lược.
(135) Có lẽ thiếu một câu bát.
(136) Chưa rõ nghĩa.
(137) Tây thành: Trấn-bình (Mang-cá).
(138) Mình kiếm ăn còn được.
(139) Tau: tao.
(140) Kim-thượng: vua Hàm Nghi.
(141) Hai đông: có thể là hai trăng.
(142) Đội Cẩm-y phò vua.
(143) Có lẽ là “ban mai”.
(144) Lườn: lằn.
(145) Tròng: chiếc đò cỡ trung bình.
(146) để trả tiền qua đò.
(147) Ròng dây đem xuống.
(148) Troàn: truyền.
(149) Lấy mô mà mần: lấy gì mà làm nghề.
(150) Tâm hàn: mũi hàn.
(151) Chỗ này thiếu một câu lục.
(152) Chưởi chùng: sợ mà chửi lén.
(153) Mái: vò lớn.
(154) Lại-bái: thợ rèn chuyên nghề mà bây giờ là thợ nguội.
(155) Thợ đồ gốm ở làng Phước-tích, huyện Phong-điền.
(156) Ba cụ: các bác.
(157) Chỗ này thiếu một câu bát.
(158) Hòm-đục: một loại thùng nhỏ.
(159) Lúc bấy giờ ở trên Văn-Thánh, cùng Quốc-Tử-Giám, nghĩa là từ Nhà Chung đi lên nữa về phía núi.
(160) Ngũ trụ Hữu quân Hồ Hiển.
(161) Ngày.
(162) Khúc dễ đi, có khúc khó đi.
(163) Tạ Ôn Đình trong sử Tàu (?)
(164) Cũng đừng tiết lộ.
(165) Hồ-Hiển, ngũ trụ hữu-quân.
(166) Dạc chừng: đoán chừng.
(167) Cửu-châu: chưa rõ nơi nào, chắc là ở biên giới Việt Lào.
(168) Thân-mẫu ông Thuyết.
(169) Điều nầy chắc không đúng.
(170) Chưa rõ ông nào, có lẽ là Đinh Đạo.
(171) Đây là lời bà Tôn Thất Thuyết.
(172) Xem chú thích 169.
(173) Đây trở lên là lời vua Hàm Nghi.
(174) Tên một vị hiệp lãnh thị vệ.
(175) Phải chăng là Hoàng Cao Khải tổng đốc Hà Đông? Hoặc là ông Nguyễn Hữu Độ?
(176) Đội Vung coi đội Thanh-bình (hát bội) rất giỏi nghề trèo tường khoét vách.
(177) Để lâu sinh chuyện.