Tác giả Chủ đề: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa  (Đã xem 10128 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« vào: 24/02/2010, 08:10:44 »
Tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương, Chủ bút: Thanh Nam, Tổng thư ký: Thái Thủy. Hiện Đại sống được 9 số từ tháng 4-60 đến 12-60.
« Sửa lần cuối: 24/02/2010, 08:49:10 gửi bởi Giấy gói xôi »
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #1 vào: 24/02/2010, 23:24:08 »
Số 1 ra tháng 4/1960



 
The following users thanked this post: congchua1

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #2 vào: 24/02/2010, 23:25:31 »
Số 2 - tháng 5/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #3 vào: 24/02/2010, 23:26:27 »
Số 3 - tháng 6/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #4 vào: 24/02/2010, 23:27:03 »
Số 4 - tháng 7/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #5 vào: 24/02/2010, 23:27:51 »
Số 5: chưa sưu tầm được
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #6 vào: 24/02/2010, 23:28:33 »
Số 6 - tháng 9/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #7 vào: 24/02/2010, 23:29:34 »
Số 7 - tháng 10/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #8 vào: 24/02/2010, 23:30:25 »
Số 8 - tháng 11/1960



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #9 vào: 24/02/2010, 23:31:24 »
Số 4 - tháng 12/1960



 

Ngủ rồi mic27

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #10 vào: 28/07/2010, 10:43:01 »
Số 5 - tháng 8/1960





 
Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa... !

Ngủ rồi huyvespa

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #12 vào: 05/11/2016, 09:28:01 »
hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại


MỞ CỬA

VĂN NGHỆ trong những tháng ngày vừa qua nằm trong một tình trạng buồn. Cuộc sinh hoạt ấy như chợt chìm xuống một vũng sâu có bóng tối dầy và nặng. Sự kiện văn nghệ lớn rộng, sống động hơn cả cuộc sống ăn-ngủ-thở biến đi, tan đi. Như biển chợt cạn. Như núi ngã mình nằm xuống đồng ruộng bùn lầy. Hoa lá xanh tốt tàn héo, chim vụt bay.
            Nỗi buồn ấy hiển hiện trước mắt. Tờ báo của cuộc đời văn nghệ 57, 58, 59 đi mất. Những người văn nghệ còn ở đấy nhưng buồn cũng đã ở đấy. Ở trên mắt trên môi, trên đường nét khuôn mặt, trong cử động chân tay. Ở giữa bọt trắng cốc bia, trong những cuộc vui ban đêm, trong những công việc mưu sinh tạp nhạp. Người ngồi trước cốc bia, người chạy trong cuộc vui ban đêm, người lao mình vào cuộc mưu sinh đều buồn. Bọt bia, đàn đêm, việc mưu sinh thắt lại thành một vòng vây trùng điệp, tụ lại thành một không khí chết chóc, dựng lên thành một trường thành im lặng sừng sững, nặng những buồn chán chua xót.



            Có một tình trạng buồn ấy. Nhưng có phải ngọn lửa sáng tạo toàn diện phụt tắt? Có một nỗi chán chường, chua xót xâm chiếm mắt người. Nhưng có phải sự tàn lụi thật sự của mọi sinh hoạt văn nghệ đã bủa lưới bốn phía? Tôi trả lời: không phải.
            Đứng ở ngoài, người ta sẽ có những phán đoán dễ dãi. Một người bạn không viết văn nói với tôi bằng hoài nghi: Văn nghệ thời nay là lửa rơm, cháy đấy, tắt đấy. Bây giờ là “cạn” hết rồi. Tôi không nghĩ như thế. Ở những người may mắn làm được một bài thơ hay, viết được một truyện ngắn đọc được thì ngọn lửa sáng tạo vụt cháy, vụt tắt. Nhưng ở những người mà mức sáng tạo đang ở lúc mạnh nhất, phong phú nhất, không thể giải thích đơn giản như thế được. Có suối và sông. Có con nước nhỏ và nguồn nước lớn. Suối nhỏ có thể cạn. Sông lớn có mùa nước xuống nước lên, nhưng chỉ có thể khô cạn lúc biển cạn, lúc đổi đời, lúc con người nằm xuống.
            Nhìn thẳng vào cuộc sống văn nghệ bằng con mắt nghề nghiệp tôi vẫn thấy cuộc sống rộng lớn hơn cuộc sống ăn-ngủ-thở vẫn còn ở đấy. Lửa vẫn cháy. Ở đáy sâu từng thạch động. Ở cuối bãi một cánh đồng xa mà chung quanh là sương mù. Nhưng chắc chắn lửa vẫn cháy, ngọc vẫn sáng, cuộc sáng tạo toàn diện vẫn tiếp diễn thầm lặng nhưng liên tục. Mặc Đỗ sắp sửa in cuốn tiểu thuyết thứ ba. Mỗi năm một quyển. Duy Thanh, người của hội họa, cũng làm xong một truyện dài (mà một cánh tay của đứa con tinh thần ấy có mặt ở Hiện Đại số 1). Doãn Quốc Sỹ vẫn đều đặn viết, đăng, in. Và còn phải nói đến những cánh tay trẻ viết không mệt mỏi vẫn sinh hoạt thầm lặng ở bốn phía Saigon. Những con sông nhỏ bé ấy đang vươn tay vạch trong những lớp đất sỏi cứng mà đổ về cửa biển.
            Phong độ sáng tạo của những người văn nghệ ở quanh đây chưa khô cạn, chưa bao giờ và không bao giờ. Chiếc lá già này rụng xuống thì năm mười búp nụ sẽ nẩy lộc chung quanh.
            Thế tại sao không khí trở nên tẻ nhạt. Tình trạng u buồn ấy, tại sao?
            Có người bảo tôi văn nghệ của ta có thể có tài nhưng họ mải mê trác táng. Họ ngừng cả sáng tạo để mà trác táng. Họ cho rằng phải bừa bãi, phóng túng, trụy lạc mới là nghệ sĩ. Rồi lửa của những trận cười đêm đốt cháy cánh thiêu thân. Có thật như thế không? Mặc cảm văn nghệ ấy có hiện hữu thật sự không?
            Tôi không được sống trong không khí văn nghệ của thời tiền chiến. Một bạn văn già đã mô tả cho tôi cuộc sống ấy. Rút tỉa ở những lời kể chuyện những kết luận tôi ức đoán rằng có thể đã có một lúc một số người đã quan niệm một cách công thức về cuộc đời văn nghệ. Họ cân bằng một phương trình có hai vế: văn nghệ và trác táng.
            Những người cân bằng phương trình như thế, quả thật tôi không còn gặp ở quanh tôi. Có người đánh bạc. Có người lái xe hơi nhanh ban đêm. Có người uống rượu nhiều. Có người ngồi lâu ở những nơi âm nhạc. Nhưng có phải họ đang tập “vai kịch văn nghệ” không? Không có nhân vật kịch ấy ở cuộc đời này. Ở mỗi hành động, cử chỉ phóng túng tôi thường không nhìn thấy vẻ kịch cỡm giả tạo. Chỉ có sự lo nghĩ bi đát. Chỉ có nỗi xao xuyến mạnh như gió lốc tạo thành những khoảng rỗng trong lòng. Ở những khoảng rỗng ấy, tôi tin rằng những cỏ rác bị cuốn bay đi để lại một khu đất phong quan làm nền cho tác phẩm lớn. Chứng cớ hiển hiện là khi gặp gỡ nhau ở những địa điểm du hý, người văn nghệ thường dửng dưng trong cuộc vui. Họ còn thường khi nói với nhau về văn nghệ. Tôi nghĩ đến địa điểm gặp gỡ hiện tại của văn nghệ: nhà hàng Pagode. Ở đấy chúng tôi đã bàn nhau về sự vắng mặt của tờ báo của Mai Thảo và khoảng trống nó để lại. Có khi câu chuyện hướng về cái chết của Camus, cuộc Âu du của Vũ Hoàng Chương, tiểu thuyết mới của nhóm Butor ở Pháp. Cũng được nói lên cả bản án những nhà văn thuộc nhóm Nhân Văn, căn bệnh đau dạ dầy của Đinh Hùng. Tuần trước, ở gian nhà ngoài của một phòng trà: Quốc Phong, Thanh Nam, Mai Thảo, Cung Trầm Tưởng, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, và tôi đã ngồi từ lúc ngôi nhà có nhạc ấy mở cửa đến lúc đóng cửa mà nói với nhau về tiểu thuyết, về ngành phê bình văn học ở nước ta.
            Cho nên, tôi nhắc lại: Sự có mặt của người văn nghệ đôi lúc ở những nơi có cuộc vui không phản ảnh quan niệm xa cũ: văn nghệ = trác táng. Sự có mặt ấy chỉ phản ảnh niềm lo nghĩ. Sự có mặt ấy là dấu hiệu của sự có mặt tương lai của tác phẩm.



            Như thế, không khí buồn của cuộc đời văn nghệ đến từ chỗ văn nghệ thiếu những cứ điểm sinh hoạt. Thiếu những tờ báo thật sự văn nghệ. Tờ báo không phải là tác phẩm. Người văn nghệ không phải nhờ tờ báo mới sáng tạo được. Có khi khuôn khổ nhỏ hẹp của báo chương chỉ làm cho họ viết được những bài văn nhỏ bé vụn vặt. Tác phẩm sẽ thiếu kích thước lớn rộng, khổng lồ. Đồng ý. Nhưng thiếu những tờ báo như thế, không khí ấy sẽ thiếu đi. Và cảm tưởng bi đát, chua xót sẽ xâm chiếm tất cả. Ngọc quý vẫn giữ nguyên chất ngọc dù trong bóng tối, dưới biển sâu. Nhưng ánh nắng sẽ làm cho ngọc ấy sáng lên, tươi lên, vui lên. Những tờ báo thật sự văn nghệ thường đóng giữ được vai trò của ánh sáng đưa viên ngọc tác phẩm về với cuộc đời. Nó là tấm thảm để bày biện tác phẩm trong cuộc sống. Nó là bãi biển cho những con sông đổ về, là quê hương cho những người giang hồ trở về ca hát. Đúng thế, mỗi khi sáng tạo một tác phẩm lớn người văn nghệ trở thành một gã giang hồ đi vào xứ cô đơn rộng lớn. Mỗi khi người sáng tạo sống với chính mình. Nó tranh thủ với thời gian, như Mặc Đỗ nói. Nó bị đẩy vào chỗ cô độc siêu hình như tôi có dịp bày tỏ.(1) Nhưng tác phẩm xong xuôi hoàn thành cần phải có tờ báo mà sinh hoạt. Cần phải có tờ báo mà soi gương tác phẩm. Tờ báo là không khí cho tác phẩm. Tất nhiên tác phẩm ở lại với lịch sử, và báo chương tàn lụi đi. Nhưng thiếu những tờ báo văn nghệ tác phẩm phải tạm thời sống trong không khí buồn.
            Và không khí buồn bây giờ là ở chỗ thiếu sót ấy. Vì thế Hiện Đại mở cửa.



            Bên cạnh những tình cảm nhận định thôi thúc khích động, cũng có những tình cảm e ngại. Thoạt đầu, tôi thấy không có gì đáng e ngại cả. Một tờ báo văn nghệ chỉ có lợi cho sự sáng tạo, cho nghệ thuật, văn hóa. Không có lý do gì đáng e ngại hết. Tôi nghĩ đến ích lợi của một vài tờ báo với cá nhân tôi. Nhờ có sự thúc dục không khí vui của những tờ báo ấy mà sự sáng tác của tôi trở nên đều đặn. Tôi đã viết được một cái gì nhờ sự hiện hữu của những báo chương ấy. Cũng như không có Phong Hóa, Ngày Nay thì Tự Lực Văn Đoàn không gây được cái không khí sáng tác phong phú như đã có. Không có Nam Phong thì Phạm Quỳnh sẽ bé nhỏ đi nhiều. Cho nên không cần phải e ngại gì hết. Bắt tay vào việc, đó là điều quan hệ.
            Nhưng chướng-ngại-vật-e-ngại dần dần được dựng lên. Bạn bè hỏi han: Tại sao lại làm báo? Có nhằm mục đích chính trị nào không? Có định lợi dụng văn nghệ làm bực thang, làm phương tiện hay không? Những câu hỏi hoài nghi ấy lúc đầu mang sắc thái của những lưỡi dao nhọn đâm vào tim vào óc. Có lúc tôi nghĩ rằng đó là những lời nói phản ảnh lòng đố kỵ. Thật sự, có người bị đầy ải thường xuyên trong tình cảm đố kỵ. Nhưng nhiều bạn bè đã nhìn tôi bằng cặp mắt tình yêu mà hỏi han như thế. Cặp mắt đã nói cho tôi biết rằng những người văn nghệ đã bị lừa gạt nhiều. Niềm thất vọng họ mang trên mắt, trên môi, trong mỗi lời văn, nét bút. Cuộc sống đã biến ý thức trong sáng thành những ý thức chua xót. Và những câu hỏi thân yêu dưới mắt tôi đột nhiên hàm xúc ý nghĩa của những lời dặn dò, khuyên nhủ. Những câu hỏi hoài nghi chứa đựng lời dặn lên đường: có chắc làm được một tờ báo thực sự văn nghệ không? Có chắc phụng sự cho văn hóa được không? Chắc hãy làm.
            Tôi đã trả lời những lời nói đúc kết bởi kinh nghiệm ấy bằng sự im lặng biết ơn.
            Tôi không nói gì bởi vì muốn rằng Hiện Đại sẽ tự nó trả lời.
            Nó đang bắt đầu trả lời.
            Và bài báo đầu tiên này mang nặng ý nghĩa một lời hứa.


NGUYÊN SA
______________________________________
(1) Quan điểm văn học và triết học. – N.S



hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại  hiện đại   hiện đại   hiện đại
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #13 vào: 05/11/2016, 09:37:53 »
Hiện Đại | Số 1  [tháng tư/1960 | 112 trang]
                                        TRUY NIỆM NHỮNG NHÀ VĂN, NHÀ THƠ ĐÃ TỪ TRẦN
MỤC LỤC
        NGUYÊN SA |  MỞ CỬA |  1
° NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHẾT:
        LÊ XUÂN KHOA |  HOÀNG ĐẠO, NHÀ VĂN CỦA THANH NIÊN |  7
        TRỊNH VIẾT THÀNH |  TÌM HIỂU VỞ KỊCH LES JUSTES CỦA ALBERT CAMUS |  12
        NGUYỄN DUY DIỄN |  VŨ TRỌNG PHỤNG, NHÀ VĂN TẢ CHÂN BẤT HỦ |  22
        ĐINH HÙNG |  TÌM VỀ KỶ NIỆM |  27
        NGUYÊN SA |  PHAN HUY VỊNH, PHÙ THỦY ÂM THANH |  32
° SÁNG TÁC:
        TRẦN THY NHÃ CA |  NGÀY THÁNG TRÔI ĐI / THANH XUÂN (thơ)|  39
        TRẦN THY NHÃ CA |  BÀI NHÃ CA THỨ NHẤT (thơ) |  40
        THANH NAM |  CỎ RỪNG |  41
        THÁI THỦY |  TIẾNG HÁT BUỔI CHIỀU MÙA XUÂN (thơ) |  47
        TẠ TỴ |  NGÕ HẸP |  49
        HOÀNG ANH TUẤN |  THƯ PARIS |  59
        DUY THANH |  NGƯỠNG CỬA |  63
        NGUYÊN SA |  ÁO LỤA HÀ ĐÔNG (thơ) |  71
        NGUYỄN DUY DIỄN |  DUYÊN KIM CỔ (thơ) |  72
        HOÀNG ANH TUẤN |  CÒN LẠI (thơ) |  73
        ALBERTO MORAVIA/HOÀNG HẢI THỦY dịch |  NGƯỜI LÊN MẶT TRẬN |  75
        MẶC ĐỖ |  CON MUỖI |  84
        MAI THẢO |  NHỮNG NGƯỜI Ở KHÁCH SẠN |  97
° NHÌN BẢY CHÂN TRỜI:
        TRẦN HẠNH |  Ý KIẾN VỀ TRUYỆN NGẮN “GÌN VÀNG GIỮ NGỌC” CỦA DOÃN QUỐC SỸ |  107
        THY LIÊN |  ĐOẠN ĐƯỜNG THỨ NHẤT CỦA ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM |  108
        THÁI THỦY |  ĐÊM TAO ĐÀN HỌP MẶT MÙA XUÂN |  110


« Sửa lần cuối: 17/11/2016, 15:28:18 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #14 vào: 05/11/2016, 10:08:49 »

NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHẾT

Con người thường xuyên đứng trong một vị trí không gian và thời gian. Nên cuộc sống toàn vẹn, đầy đủ, phong phú hơn cả bao giờ cũng là cuộc-sống-với-cuộc-đời-hiện-đại. Người sống thật sự nhất là người biết đau niềm đau của thời đại, biết vui chung với cuộc vui của thế hệ mình. Nó biết lo âu, hy vọng thật sự với đồng loại, với những con người cụ thể đang sinh sống ở bên phải bên trái, ở chung quanh nó.
            Nhưng sống với cuộc đời hiện đại không có nghĩa là cắt đứt hết mọi liên lạc với dĩ vãng, lịch sử. Ý thức sáng tỏ về dĩ vãng bao giờ cũng là cánh cửa mở vào hiện tại cũng như sinh hoạt hiện tại bao giờ cũng là nhịp cầu bắc đến tương lai.
            Cho nên những bài biên khảo của tập Hiện Đại đầu tiên hướng về một đề tài duy nhất: truy niệm những người nhà văn đã từ trần nhưng vẫn thường xuyên có mặt trong tâm hồn con người hiện đại.
            Số lượng “những người không chết” ấy ta đều biết rất đông đảo. Ở đây chúng tôi chỉ nói đến một vài. “Những người không chết” có mặt trong khuôn khổ tập văn này không đại diện cho những người vắng mặt kia. Cũng không phải vì họ chiếm giữ một vai trò quan trọng hơn những nhà văn, thơ khác của lịch sử. Mỗi người trong chúng tôi nói đến một nhà văn, thơ mà mình tưởng nghĩ đến nhiều nhất. Sự chọn lọc chỉ xây trên tình cảm chủ quan chân thật của mỗi người trong chúng tôi.

HIỆN ĐẠI

TÌM VỀ KỶ NIỆM

KHOẢNG HAI CHỤC NĂM NAY, cuộc sống văn nghệ của chúng ta còn chen lẫn bao nhiêu vang bóng của cái Chết! Tuy mỗi ngày chúng ta vẫn có thêm những người bạn mới, nhưng nhìn chung quanh, mỗi ngày cũng lại thấy mất dần đi một vài khuôn mặt quen thuộc. Có những người lặng lẽ đến với cuộc sống để rồi lại bình thản ra đi, không trống không kèn, không cả một lời ai điếu tiễn chân: Chúng ta chỉ bắt gặp linh hồn họ trong địa hạt giao cảm, hầu như không hề sánh bước cùng họ trên đường đời.
            Nhưng nếu thời gian có hồi ảnh và nếu không gian có vọng thanh, thì hình bóng của họ tất đã ghi sâu vào trong ký ức vũ trụ. Cuộc đời vẫn trôi đi không ngừng. Những người đã ra đi sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng chúng ta không muốn vô tình. Trong lúc cuộc đời rộn rịp kéo nhau qua khắp mọi ngả đường, chúng ta muốn ngồi lại phút giây, trầm mặc nhìn về quá khứ gợi nhớ lại ít nhiều kỷ niệm, để lại thấy gần gũi thêm một vài hình bóng của những người bạn văn nghệ đã một sớm một chiều cách biệt chúng ta.
            Đó là những người không còn sống trong cuộc đời thực tại, nhưng vĩnh viễn sống trong thế giới của Linh Hồn, sống trường cửu trong cõi Không Hư vô cùng tận, và sống vĩnh viễn trong lòng chúng ta.
            Đó là những người đã chính thức lìa bỏ cõi trần để lặng lẽ để nhập vào cõi “âm huyền mờ mịt” – nói theo Nguyễn Du, tác giả “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”. Những người đó hoặc mới qua đời năm ngoái, năm kia, hoặc đã khuất bóng từ lâu – cách đây mươi mười lăm năm, hoặc nhiều hơn nữa – nhưng tôi không muốn gọi họ là “những người đã chết”, mà trái lại, tôi nghĩ rằng: Chính khi lìa trần mới là lúc họ tìm thấy cuộc sống bất diệt. Tôi vẫn mặc nhiên coi họ là “những người không bao giờ chết”.
            Khi còn sống trong cuộc đời thực tại có thể thân thế họ chìm nổi bất trắc, có thể họ chỉ dạo qua cuộc đời phồn tạp như một người khách lạ, nhưng bây giờ, họ đã nằm yên dưới lòng đất, thể xác họ đã dần dần tiêu tan, sự cách biệt hầu như không còn nữa, linh hồn họ, bình thản hơn và thanh tuyền hơn, hình như cũng gần chúng ta hơn.
            Những văn nghệ sĩ đã khuất bóng – “những người không bao giờ chết” đó – mỗi người giờ đây chỉ còn là một ý niệm, mỗi tên tuổi đọc lên chỉ còn là một vọng âm, mỗi gương mặt nhớ lại chỉ còn là một màu khói hương phảng phất. Nhưng hương khói kia bởi vì huyền ảo cho nên không bao giờ phai; vọng âm kia, bởi vì vô ảnh vô hình cho nên không bao giờ tiêu tán; và ý niệm kia, bởi vì chỉ là một Ý Niệm, cho nên không hề bị hủy diệt.
            Ai đã nói: “Danh vọng là vầng thái dương của người chết?” Nhưng đây là “những người không bao giờ chết”. Vậy thì nhớ hay quên chúng ta cũng chẳng đem lại được cho họ danh vọng nhiều hay ít, và ở bên này hay bên kia thế giới, mỗi người cũng có riêng một vầng thái dương đời đời phát tiết ra ánh sáng. Chúng ta nhớ tới họ, nghĩa là chúng ta chỉ đốt lên một nén hương, khơi lên một ngọn lửa nhỏ bé đủ làm ấm lại một khoảnh khắc giao tình.
            “Những người không bao giờ chết” đó, có người an nhiên ra đi theo Số Mệnh; cũng có người kháng cự đến tận cùng với Số Mệnh; lại cũng có người bất ngờ bị Số Mệnh chợt tới đẩy xô đi, không kịp ngạc nhiên, không kịp gửi lại cho cuộc đời cả đến một khóe mắt, một nụ cười, hay một tiếng thở dài luyến tiếc.
            Và cũng có những người đứng tuổi rồi mới lìa trần. Nhưng lại có người yểu mệnh vội vàng giã từ cuộc sống ngay giữa tuổi thanh xuân. Tuy nhiên, dù “ra đi” trước hay sau, vội vàng hay thong thả, bình dị hay sóng gió, tất cả giờ đây cũng đều tận nhập vào cơn Mộng Lớn như nhau, tất cả đều đã trút bỏ được mọi phiền não nhân thế, để cùng bước tới địa hạt “vạn cảnh giai không”. Cũng như nhau, tất cả chỉ còn gặp gỡ chúng ta trên đường lối truyền cảm thuần khiết.
            Cuộc sống xã hội hôm nay vắng bóng họ. Nhưng họ đã và sẽ có mặt mãi mãi trong cuộc sống tinh thần chung của dân tộc, trong cả cuộc sống văn nghệ riêng của mỗi người. Phải chăng hiện tại này ít nhiều cũng đã làm bằng những hình bóng của dĩ vãng?
            Chưa tính xa hơn nữa, hãy kể trong khoảng hai chục năm gần đây, cuộc sống của chúng ta quả thực đã bao lần chen lẫn cùng bóng dáng Cái Chết. Đã bao nhiêu người đi mất, đã bao nhiêu cuộc đời dần dần chìm vào thiên cổ, đã bao nhiêu tên tuổi chỉ còn là những tiếng vọng giữa thinh không? Bao nhiêu khóe mắt, nụ cười của những người bạn chúng ta, bao nhiêu tâm tình, ý nguyện của người văn nghệ sĩ quen thuộc giờ đây chỉ còn là những kỷ niệm!
            Chúng ta không khỏi xót xa khi nhắc tới những người bạn đã khuất bóng. Nhưng khi nghĩ rằng họ là “những người không bao giờ chết”, chúng ta cũng thấy đôi chút dịu lòng. Mối sầu mênh mang nghìn thủa của người mất lẫn người còn hầu như cũng được phần nào an ủi.
            Dẫu sao, tôi vẫn thường bâng khuâng đặt một giả thuyết – một giả thuyết nhưng chính là một hoài vọng – một hoài vọng bao giờ cũng chỉ là hoài vọng ngậm ngùi, bởi vì sở nguyện của lòng người dù thành khẩn, thiết tha đến mấy cũng không thể nào thắng nổi số mệnh vô tình:
            Nếu từ hai mươi năm nay Thiên Cổ không sớm cướp của chúng ta đi một số bạn bè, thân hoặc sơ hoặc nếu hàng ngũ văn nghệ vẫn còn đủ mặt văn tinh (dù là một văn tinh mới mọc) nền trời văn nghệ xứ này sẽ còn rực rỡ sáng đẹp thêm chừng nào, và cuộc Hội Ngộ hôm nay của chúng ta sẽ còn đông vui, hào hứng bao nhiêu? Cuộc sinh hoạt tinh thần của đất nước này, đời sống anh hoa của dân tộc này sẽ còn giàu thêm bao nhiêu thanh sắc nếu chúng ta không sớm mất những người bạn văn nghệ đáng lẽ chưa nên đi mất? Mái nhà thanh khí của chúng ta sẽ còn ấm cúng thêm biết chừng nào? Kho tàng văn học nước nhà sẽ phong phú thêm bao nhiêu, nếu cho tới hôm nay hàng ngũ văn nghệ của chúng ta vẫn còn đủ những: Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Nguyễn Nhược Pháp, J. Leiba, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Phạm Hầu, Phạm Tú, Thâm Tâm, Vũ Trọng Can, Nguyễn Đức Chính, Khái Hưng, Trần Tiêu, Thạch Lam, Đặng Thế Phong, Trần Bình Lộc, Lê Trọng Quỹ,(1) Lương Đức Thiệp, Nguyễn Dân Giám, Tô Ngọc Vân, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Kim Hà,(2) Nhượng Tống, Quỳnh Dao,(3) Phan Phong Linh, Quách Thoại… Hãy chỉ xin kể tới những tên tuổi mà nhiều người từng quen thuộc, và riêng tôi đã có dịp ít nhiều quen biết. Bản danh sách tất nhiên còn thiếu sót, nhưng thực tình, tôi cũng chẳng mong có một bản danh sách “đầy đủ” hơn. Những tên tuổi vừa kể, tuy chúng ta đang gọi họ là “những người không bao giờ chết”, nhưng thực sự, tôi vẫn muốn họ đừng vội đi vào cõi Bất Diệt, để cuộc đời hôm nay còn nghe thấy tiếng nói ấm nóng của họ rung động nhiều lần nữa, để cho những người sống ở cõi đời này được giàu thêm một chút tình cảm, một chút tin yêu, một chút hy vọng…
            Nếu… ước vọng hão huyền của tôi không chỉ là ảo vọng, chắc chắn lịch sử văn học của chúng ta sẽ có nhiều hiện tượng bất ngờ kỳ thú.
            Nhưng, từ hai chục năm trời nay, những người đã ra đi vẫn không bao giờ trở lại. Những Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Nguyễn Nhược Pháp, J. Leiba… những Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Phạm Hầu, Phạm Tú… những Thâm Tâm, Vũ Trọng Can, Nguyễn Đức Chính, Khái Hưng, Trần Tiêu, Thạch Lam… những Tô Ngọc Vân, Nam Cao, Phan Phong Linh, Quách Thoại v.v… đã chính thức nhập vào thế giới cùa “những người không bao giờ chết” nghĩa là ít nhất đã phải một lần chết thực, theo cái nghĩa thê lương sầu thảm nhất của sự chết.
            Chúng ta, những người đang sống hôm nay, những người chưa từng đặt bước vào Cõi Chết, và cũng chưa đi tới chặng đường tận cùng của cuộc sống, chúng ta sẽ cách biệt với họ biết chừng nào, nếu không còn lại đây một chút phản hồn trên vài trang sách cũ, một chút vang bóng trên vài nét bút xưa, một thoáng nghi dung qua ít nhiều kỷ niệm.
            Đối với những người bạn văn nghệ đã khuất bóng, thân hoặc sơ, tôi đều cảm thấy một mối giao tình thắm thiết. Những linh hồn ở bên kia trần lụy hình như bao giờ cũng sẵn sàng dành cho chúng ta những cảm tình tri ngộ trân trọng và quý báu hơn cả những người bạn thâm giao ở cõi trần gian.
            Bởi vậy ở đây, tôi chưa muốn nhắc tới những kỷ niệm riêng tây. Thay thế đôi lời tưởng niệm chung, đây là một bài thơ tôi xin chép lại, để chân thành gửi tặng tất cả những Linh Hồn Bạn đã quá cố:


                        HOÀI NIỆM
                                                Gửi Người Bạn ở bên kia trần lụy

                        Chiều mùa đông
                        Đốt ngọn lửa hồng,
                        Ta đọc tập thơ sầu, cười với bóng,
                        Khói thuốc xanh bay về hư không.
                        Trăng lên đầu phố vắng,
                        Ồ bóng ta say!
                        Bóng với ta cùng im lặng,
                        Cốc rượu ngọt uống cay nồng.

                        Bạn là người bạn chung tình,
                        Gần nhau không hẹn,
                        Lòng giữ nguyên hương hoa bình minh.
                        Bên đèn tâm sự,
                        Bạn với tôi như đôi hồn viễn xứ,
                        Đôi bóng phù du,
                        Không dưng mà thương nhớ,
                        Không đâu mà ngẩn ngơ.
                        Rủ bướm chim theo vào giấc ngủ,
                        Thả sầu trên con thuyền mây đưa.

                        Trời giăng sao tỏ,
                        Đêm mùa thu,
                        Cửa phòng tôi bỏ ngõ,
                        Giấc mộng tôi hững hờ.
                        Ta biết giăng buồn ngày ta còn nhỏ,
                        Ai biết ta buồn vì lòng ngây thơ?
                        Nhìn cuộc đời,
                        Tin rằng hạnh ngộ,
                        Bạn yêu giăng và tôi yêu gió,
                        Nụ cười đơn sơ.

                        Bạn với tôi xưa,
                        Đứng bên hồ,
                        Nằm chung mộng,
                        Ân ái cùng Thơ,
                        Đêm hoa, cành nguyệt,
                        Gió giăng xao động ngoài màn.
                        Bạn hát bài ca phóng đãng,
                        Cười lên trăng xanh, tôi dạo đàn.
                        Xuân đến giấc mơ đầy thiếu nữ,
                        Ta nằm ta ngủ,
                        Lệ đa tình chứa chan.
                        Ôi thời gian! thời gian tình tự!
                        Mặc nỗi lòng người bi hoan.

                        Mộng cung tần
                        Xoay nghiêng mắt gối.
                        Ai cười? ai nói? ai xênh ca?
                        Lênh đênh nước biển trăng nhòa,
                        Những vì sao lạ đã sa xuống gần.
                        Trời buồn dáng điệu giai nhân,
                        Trái đất xoay vần – đứng lặng mà nghe:
                        Rạt rào sóng nhạc pha lê,
                        Đêm tàn, núi đổ… Ra đi một mình!
                        Ra đi! Ra đi! Đời ngủ cả,
                        Vào cuộc luân chuyển ân cần của các hành tinh.
                        Ôi những trời sao mùa hạ!

                        Về đâu? Về đâu? Những mảnh sao sa?
                        Về đâu nữa cả bóng hai ta
                        Lạc vào tục phố
                        Nhịp bước giang hồ ca?
                        Ánh hoa đêm hay tàn đèn rụng
                        Trong những ca lâu đầy huyễn ảnh với đàn bà?

                        Lòng đã đi qua
                        Biết bao quán trọ là nhà,
                        Ta tiếc thương gì quê hương đã mất?
                        Giang sơn đây
                        Trong buổi chiều tà
                        Gọi hồn ta về cười ngây ngất,
                        Rung sắc hồng pha,
                        Xây Đô Kỳ Nghệ Thuật.
                        Ôi những phố trường sầu đi mất về đâu?

                        Ngày tàn, gió thổi,
                        Tôi mất Tình yêu,
                        Tôi mất người yêu.
                        Bên sông hoa rụng từng chiều,
                        Lòng tôi không nói,
                        Thương vì trái đất cô liêu.

                        Tôi nói làm chi?
                        Anh nhớ làm chi?
                        Lòng tôi đây và lòng anh đó
                        Nghe câu truyện sầu dài sao chẳng điên mê?
                        Một buổi anh về,
                        Trúc gầy liễu rũ.
                        Ôi câu truyện huyền vi
                        Trong lòng nấm mộ,
                        Tôi muốn nghe,
                        Và anh muốn nghe!
                        Ôi những bước u hồn về ảo phố!
                        Anh đã đi,
                        Và tôi sẽ đi!


ĐINH HÙNG
______________________________________________
(1) Kịch sĩ quen thuộc hồi tiền chiến (Đã xuất bản tập thơ “Thực và Mộng”, chung với Lương Đức Thiệp).
(2) Tác giả tiểu thuyết “Cái Nhà Gạch” (Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn 1939-1940) và tiểu thuyết “Tiếng Còi Nhà Máy” (Tân Việt xuất bản).
(3) Thi sĩ tiền chiến, tác giả “Tơ Trăng”, mất tích từ hồi khởi đầu chiến tranh 1946.