Tác giả Chủ đề: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa  (Đã xem 7419 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #105 vào: 31/12/2016, 16:33:14 »


Bài của chị Kim

hôm ấy chị lên xe
sương đêm dầy đọng kín
hồn đau dài bịn rịn
chị chẳng nói năng gì

ngồi trong toa tầu lạnh
mắt chị ngấm men buồn
em đọc cả sầu thương
chẩy vầng trên tóc chị

nhớ xưa làm con gái
chiều nhìn mây bay đi
mũi kim ngừng suối vải
mẹ buồn rung cánh mi

bây giờ con tầu ấy
là chiều xưa mây bay
là chiều xưa nối lại
trong tiếng thầm hôm nay

mỗi lần thương nhớ chị
em đi về phía ga
đơn côi dồn chín mọng
ngút đầy lên mấy toa


                          BĂNG CƠ



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #106 vào: 31/12/2016, 17:06:45 »


Bài viết bằng mực tím

Bài thơ này mang nỗi buồn và ý nghĩ:
Mỗi linh hồn là một cánh hoa chịu đựng
Để còn nghe nhịp tim trần gian hấp hối
Lời cầu hồi sinh chảy trên giòng thở ưu tư biến đổi
Và còn nghe tiếng chân mình góa bụa trên đường đêm
Đôi mắt buồn trông đợi đóa trăng lên
Như một ngõ hoang đường độc đạo của niềm tin
Âm thanh nghẹn ngào như lòng tôi như hồn tôi trong giờ thú tội
Lớp người lớn lên đi lạc trong rừng tuổi
Tôi chỉ là con chim rừng hoang bay mãi bay hoài
Chỉ là một loài cỏ mùa thu chờ mùa xuân về nhỏ giọt sương mai
Đầy tình cờ cũng đầy tình yêu tha thiết
Bắt đầu bằng những âm thầm như giòng đêm âm thầm trôi mải miết
Bàn tay chưa thể hiện
Ý nghĩ chưa thành câu
Tích lũy niềm thương và đắm say làm vốn liếng mai sau
Mua lại hơi thở nghẹn dài đã đo chiều năm tháng
Thời gian thành chuỗi kinh cầu thiên thu thầm lặng
Nhân loại cưu mang mối truyền thống đau thương
Tôi còn mãi mãi tình yêu nghĩa là rung động có quê hương
Dù sự đợi chờ oan uổng
Mai tôi chết hình ảnh cuối khắc ghi vào tâm tưởng
Bầy hải âu bình thản ngó trùng dương
Rã mục hình hài thế kỷ hoang mang
Anh có nhận linh hồn tôi trẻ dại?
...


                          THÙY SONG THANH



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #107 vào: 31/12/2016, 19:15:23 »


Bài năm chữ

Nơi đâu chiều mưa bay
Nơi đây chiều mưa bay
Chân đàn lên phím ngõ
Nhạc sầu đầy lòng tay
Giọt sầu gieo trên vai
Em đi chiều mưa rơi
Hoa ven đường ngậm gió
Mím môi sầu đơn côi

Tuổi đời in đáy mắt
Đếm thời gian buông trôi
Nằm trong mồ kỷ niệm
Nghe mưa rơi ngoài đời
Triều buồn dâng bờ tim
Mưa sao cài tóc mun
Mây bay vào mắt xanh
Gió lấn xô nhịp bước
Trời côi cút làm thinh
Chiều nay mưa về đâu

Chiều nay đời xa nhau
Dỗ giấc nhớ trong lòng
Ru câu ca chờ mong
Thương ai mà gọi tên
Cuộc đời sao chóng quên
Lá hồn bay lả tả
Người về qua không quen
Da trời căng thênh thang
Chân trời dù đi hoang
Không ngoài biên cương mắt

Còn thấy nhau mơ màng
Còn khối tình chưa tan
Em về chiều mưa nghiêng
Hồn trổ một bông sầu
Tập vở còn trinh nguyên
Mực tươm trang bản thảo
Quyển sách dày chưa xem
Giọt chiều rơi êm êm
Ngày đi còn bịn rịn
Đêm ngoảnh mặt buông rèm


                          THÙY SONG THANH



 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #108 vào: 01/01/2017, 17:26:43 »


TRIỄN LÃM NGHỆ THUẬT THẢM CỦA PHÁP

NGHỀ DỆT TRANH TRÊN THẢM ở Pháp, tương đối còn xa lạ với quần chúng thưởng ngoạn ta, nhưng tầm quan trọng về nghệ thuật của nghề này đã trở thành quen biết với giới lưu tâm học hỏi về mỹ thuật, và phần lớn chúng ta, hoặc đã từng nghe thấy hoặc đã từng đọc thấy, những tên người như Lurçat, hoặc xa hơn nữa Hélène Détroyat và vai trò của họ đối với nghề dệt thảm của Pháp nói riêng hay Âu châu nói chung.
            Trong tháng vừa qua, tại Sàigòn, phòng tranh đường Tự Do, Sở Văn hoá Pháp đã làm một công việc hữu ích là giới thiệu với chúng ta một số các tấm thảm quan trọng, tiêu biểu cho nghề dệt thảm hiện đại của nước Pháp, ở một số tên tuổi danh họa: Lurçat, Dufu, Vertes, Picart-le-Doux, Lignon, Debiève, Jean Cocteau, Bernard Buffet v.v…
            Như chúng ta đã biết, nghệ thuật thảm là thứ nghệ thuật nghiêng sang phần trang trí và đòi hỏi sự điều sắc vững chãi. Bước vào phòng triễn lãm này, điều quyến rũ người xem trước tiên là sức sáng rực rỡ của mầu sắc phản chiếu nhau đó cũng là tính chất của thảm, không vụ quá nặng vào phần nội dung, không vụ quá nặng vào công việc kêu gọi những rung động lớn lao trong lòng người đối diện, nó chỉ là một công trình mỹ thuật được làm nên bằng sự tỷ mỷ, kinh nghiệm chuyên môn, và mang nhiệm vụ làm mát mẻ nhân loại bằng chính vẻ điều hòa mỹ thuật mà nó nắm giữ được. Đó là điều quan trọng phải hiểu biết khi đứng trong phòng triễn lãm này để đừng lầm nó với hội họa thuần túy.
            Điều ghi nhận của người thưởng ngoạn nghệ thuật này, là nghề dệt thảm ở Pháp hiện nay chưa vượt lên khỏi (hay chư xóa mờ nổi) thời hoàng kim của nó là thế kỷ thứ 15 ở Pháp. Phần lớn những tác phẩm của Jean Cocteau hay Lignon hay cả Debiève nữa cho chúng ta cảm tưởng những tấm thảm ấy chưa được dùng hết công phu tỷ mỷ để thực hiện. Mặc dù những tác phẩm này mang tính cách mới mẻ. Tuy nhiên, phòng tranh vẫn sáng lên bởi những tấm thảm của Lurçat, như mầu sắc bố trí ở “Poissons Chinois, L’aquariums, naissance du jour”, của Dufy với sự hòa hợp đường nét ở bức “Chevauchée” được họa lại, chẳng hạn thế.
            Và chỉ cần có vậy bước vào phòng triễn lãm này, chúng ta đã thu thập được sự sảng khoái đáng kể cho nhãn thức và mở thêm được đôi chút hiểu biết vế hình dáng của thứ nghệ thuật trưởng giả này, qua những đặc thái riêng về mầu sắc và đường nét của một số người tiêu biểu cho nước Pháp: nơi tiêu biểu cho nghề dệt thảm nói riêng và hội họa nói chung, ở phương tây.


LÝ TỨ



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #109 vào: 01/01/2017, 17:41:21 »


NHÌN RA NGOÀI

MỘT NGƯỜI BẠN nhờ tôi giới thiệu cho một tác phẩm để đọc trong tháng nay. Tôi lục tìm trong hầu hết các hiệu sách lớn nhỏ đô thành và không thấy một cuốn sách nào có thể trao tay cho bạn mình. Tháng trước có một cuốn sách khá đồ sộ so với những cuốn cùng từ một máy in tung ra đã làm cho tôi lưỡng lự nửa muốn cười nửa muốn khóc. Cuốn sách đã lột trần được sự thèm muốn xa hoa của một tâm hồn non nớt học ăn chơi rởm… không phải trong một thành phần xã hội (nếu được vậy thì cuốn sách đã xứng đáng là tác phẩm lớn trong tháng?) mà ở người viết ra nó. Một nguyên tắc căn bản và ấu trĩ của Phân tâm học và Bệnh lý học đã được Bác sĩ Freud diễn tả như sau: “Những giấc mơ ban đêm của chúng ta cũng như những giấc mơ ban ngày là sự thực hiện của dục vọng” (La vie et l’oeuvre de Sigmund Freud, Ernest Jung, trang 385). Trong cuốn sách mang tên Thử thách, tôi đã được nhìn những giấc mơ văn-tự hóa, và tất cả những giấc mơ đó thu gọn trong mấy tiếng: tiền, gái, hư danh… cụ thể hơn thì đó là những chiếc xe hơi (tác giả kể hiệu xe, và tả khá tỷ mỷ chẳng khác một anh mại bản xe hơi) nhà lầu, và những thân hình ưỡn ẹo…
            Thật đáng buồn, trong lúc bao nhiêu người băn khoăn về số kiếp của mình dân tộc mình, và nhân loại mình, thì có những “giấc mơ ban ngày” vẫn được ném ra chợ sách một cách trơ trẽn? Và tôi đề nghị với bạn mình nên đọc chuyện tàu, kiếm hiệp và sách ngoại quốc. Chuyện tàu và kiếm hiệp thì bạn tôi đã đọc hết từ ngày còn bé, sách ngoại quốc thì bạn tôi kém ngoại ngữ mà bản dịch tuy đã có những ban tu thư và dịch thuật nhưng vẫn chưa thấy gì; đành chịu.
            Và tôi nhớ đến một tên sách ngoại quốc. Câu chuyện cũng lấy một đô thị xa hoa làm bối cảnh. Những con người yếu đuối đi vào đô thị, như đi vào một lò luyện thép khủng vĩ và tàn nhẫn sẽ loại tất cả những chất thừa thãi ra bên ngoài. Một trăm phần quặng ném vào lò được bao nhiêu phần thép tốt? Một? Hai? Ba? Chắc gì?
            “Babylonia”, tên câu chuyện nhắc nhở đến một đô thị lớn muôn đời ở đó con người đã thờ tất cả mọi thần tượng từ một Bò vàng cho đến một Yaveh. Nhưng tất cả những thần đó đã hiện diện đồng thời, nhiều khi cùng trong một đền thờ, mà không bao giờ hòa hợp.
            Và “Babylonia” của Marcel Moussy (nhà xuất bản Seuil) là Ba Lê, nhưng cũng có thể là Luân Đôn, là Nữu Ước, là Tokyo, hay Sàigòn, hay Hồng Kông? Và người con gái trong truyện Monique Melingue ao ước trở nên minh tinh màn bạc trứ danh. Một hôm, sau khi đã suy tính rất kỹ lưỡng và khôn ngoan. Monique mạnh dạn bước vào một vũ quán dành cho hạng khách sang trọng, “trong vòng đua”, nói theo danh từ chuyên môn của giới mại bản quốc tế. Nàng không cần chọn lựa nhiều, người khách đầu tiên đến làm quen được nàng nhận lời dễ dãi. Đó là một chàng “jockey” nổi tiếng, chỉ đòi hỏi ở nàng một chuyện tầm thường… mỗi một đêm nay, là ưng thuận giới thiệu nàng với ông chủ của y, và bảo đảm sẽ được nâng đỡ. Ông chủ chung của chuồng ngựa, chàng “jockey”, và nàng giai nhân tức khắc điện thoại cho một tờ báo dưới quyền ông, và giao cho một nhà báo cái phận sự cao quý là lăng xê nàng minh tinh tài hoa… nhưng chỉ phải một tội là chưa bao giờ lên màn bạc? Từ vũ quán đến hình bìa một một tờ báo nghệ thuật con đường nhanh chóng làm sao? Kể cả giai đoạn trả nợ “cái quyền cọ dùi” (droit de cuissage) của các lãnh chúa phong kiến trung cổ, tất cả không quá tuần lễ.
            Cái phương pháp lên quan của giai nhân dễ đàng mà khó khăn thế đó? Và đó là lối “làm cuộc đời” của các thiếu nữ tân thời? Thật là “đàn ông quan tắt thì chầy, đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan”. Kể ra thời xưa thế còn chậm lắm, ngày nay nên nói “nửa giờ nên quan”?
            Chúng ta còn được chứng kiến một sự tối phi lý của cuộc đời, và nhất là cuộc đời đô thị: Moinque chưa bao giờ biết đến màn ảnh thế mà ngay sau khi quen biết “quan thầy”, đương nhiên nàng trở nên một minh tinh nổi tiếng như sóng cồn. Từ tờ báo nhà cho đến các nhà báo lạ lần lượt đăng hình nàng và kể tiểu sử của nàng. Tất nhiên tiểu sử đó được bịa đặt rất khéo và có phương pháp. Nhưng để cho chuyện bịa có đôi vẻ thực, nên “quan thầy” còn bỏ tiền cho nàng đóng một phim chiếu được mươi lăm phút gì đó, đủ để mọi việc cứ y như là thật vậy. Rồi các nhà sản xuất phim và các đạo diễn vội vã mời nàng đóng phim.
            Nàng cũng không quên cặp đôi với một hoàng tử A Rập hay Ấn Độ gì đó (không ai dám cam đoan là của thật hay của giả) để cho trọn tiểu sử của một minh tinh danh tiếng.
            Câu chuyện ngụ ý một châm biếm tế nhị và kín đáo. Không có đoạn nào tẻ nhạt hay trơ trẽn quá. Những tâm trạng của con người hiện lên ánh sáng tự nhiên và linh động: phần đông họ đi vào cuộc đời với một thái độ chán chường sẵn. Sự thành công của họ cũng không đủ làm cho họ quan tâm lắm. Họ để cho cuộc đời đưa đẩy đến đâu hay đó. Cả nghệ thuật tự quảng cáo cho mình cũng không phải là điều quan hệ gì, nhưng khi không biết làm gì hơn thì tạm thời quên khuấy với những công việc ấy. Không phải chính con người ưa tháo vát và hoạt động, nhưng chính là thời đại bắt buộc con người tháo vát và hành động đó thôi.
            Labiche và Montherlant đã lấy đề tài “vào hàn lâm viện” làm những kịch châm biếm cái giới trí thức xôi thịt; bây giờ đến lượt Moussy lấy đề tài “làm cuộc đời” làm một phóng sự tả chân và châm biếm cái thế giới kim tiền của một đô thị lớn. Chúng ta có thể đọc cuốn sách mà không cảm thấy bẩn óc vì những câu chuyện bẩn thỉu thì thầm bên tai. Giọng văn tươi mát và hiền lành pha chút tò mò thiện cảm.
            Thời đại của chúng ta không phải là thời đại chân lý hay đức hạnh, hay trí thức, mà chỉ là thời đại của xảo thuật. Xảo thuật sẽ làm cho một số người khoác áo chân lý, đức hạnh hay trí thức, một cách rất tự nhiên để tiếm vị; trong lúc những kẻ chân chính chịu số phận hẩm hiu. Bài học tuy chua cay nhưng hữu ích cho những ai muốn thành công trên đường đời hôm nay, và chỉ hôm nay mà thôi?


HUYỀN PHỤNG



« Sửa lần cuối: 01/01/2017, 21:52:44 gửi bởi nduytai »
 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #110 vào: 06/01/2017, 15:06:07 »


NHÌN SANG SÂN KHẤU NGOẠI QUỐC

FRANÇOISE SAGAN đã thành công trong văn chương. Những tiểu thuyết của bà thuộc loại sách bán chạy bậc nhất thế giới. Bà đã đi vào sự nghiệp văn chương rất sớm, đột ngột và thành công dễ dàng. Có lẽ do đó bà đã tưởng có thiên tài là đủ làm được mọi việc, kể cả cái việc soạn kịch từ trước vẫn thuộc quyền một số văn nhân chuyên môn trong địa hạt cấm ấy. Và bà soạn một vở kịch thật, lại là một vở kịch thành công được diễn vào tháng sáu vừa qua tại “Le theâtre de l’atelier” . Vở kịch mang tên “Chateau en Sùede”. Những tay soạn kịch lão thành xây dựng những vở kịch của họ theo những quy luật gắt gao. Trước khi viết đối thoại và chia vai trò cho từng nhân vật, họ thảo một sơ dồ đầy đủ với tất cả những chi tiết của từng màn từng cảnh.
            Đi xem vở kịch của Françoise Sagan ra người ta có cảm tưởng bà không để ý gì, không biết gì mấy vấn đề kịch trường, rồi bỗng một hôm thấy kẻ khác thành công trên địa hạt đó, tự hỏi “tại sao mình không làm được như thế nhỉ?”, và bà ngồi vào bàn viết hý hoáy tìm những câu đối thoại của các nhân vật chỉ hiện lên khi bút chấm mực. Thêm một câu thì những câu kế tiếp nối dài mãi ra theo ngẫu hợp. Bà không dùng những kỹ thuật thông thường của sân khấu, những cảnh bi đát hào hùng, hay những lối gợi sự tham dự của khán giả vào vai trò trên sân khấu. Các nhân vật đi vào sân khấu, nói hết những gì cần nói đi ra, những nhân vật khác đi vào, nói hết những gì phải nói, và đi ra một cách đơn giản. Một mánh khóe thông thường và trẻ con đến nỗi đã trở nên tự nhiên: nghe lóm ngoài cửa. Bà dùng đến mà không cần viện lý lẽ gì, một cách hết sức ngây thơ.
            Thế nhưng vở kịch đã thành công. Một phép lạ do thiên tài của nữ văn sĩ trẻ tuổi này chăng? Bà đã tạo được cái sống linh động và thực của nhân vật, một biệt tài của những tay cừ khôi trong làng soạn giả. Bà đã biệt lập những nhân vật của vở kịch ra ngoài cuộc đời để họ có cơ hội biểu lộ hết tình cảm và bản năng của họ. Một trận bão tuyết làm cho một gia đình quý tộc Thụy Điển tách rời khỏi mọi liên lạc với thế giới bên ngoài. Tất cả nằm trong một tòa lâu đài giữa đồng hoang. Trận mưa tuyết kéo dài từ bốn hay ba tháng nay. Gia đình Falsen, gồm hai anh em, làm chủ tòa lâu đài. Họ bất chấp tất cả mọi luật lệ hay phong tục.
            Bà chị, Agathe Falsen, một thiếu phụ ế chồng, chỉ biết tôn sùng quá khứ của gia đình giòng họ mình, thủa còn là những hiệp sĩ lừng danh trên chiến trường. Bà bắt mọi người trong lâu đài phục sức theo lối triều đường vua chúa ngày xưa. Ông em thì tự do, và thử tự do của mình lối khác. Có một đời vợ trước xinh đẹp (Orphélie), nhưng hắn vẫn không vừa ý, và phao đồn rằng vợ hắn chết, trong lúc thực sự hắn giam bà ta dưới phòng hầm của lâu đài để lấy một đời vợ thứ hai. Anh chàng song hôn này sống bên một bà chị dở tính, hai người vợ, ông anh rể (anh bà vợ hai), và các gia nhân. Cuộc sống bình thường trôi qua. Mọi người có vẻ xem tình trạng này là tình trạng tự nhiên.
            Một hôm có một người anh em họ đến viếng lâu đài. Cuộc sống trong lâu đài cũng không vì đó mà bị xáo trộn. Ông khách dần dà biết được sự thực. Gia chủ vẫn yên hàn nhưng khách lại tỏ ra xúc động mạnh.
            Vở kịch chấm dứt ở đó. Nó muốn nói gì? Bên ngoài luân lý chính thức được công bố và nhìn nhận của xã hội, vẫn có những kẻ sống ngoại lệ đạp lên luân lý? Và họ không bị trừng phạt, nếu khéo léo và mạnh thế? Hay là ngày nay cũng như vào một thời chiến quốc nhiễu nhương nào, giá trị luân lý không còn nữa và chỉ còn giá trị bạo lực?
            Vở kịch sắc sảo với những đối thoại bén nhọn, chớp nhoáng, tự nhiên và đúng vai trò, đúng tính tình nhân vật. Nhưng người ta tự hỏi nó muốn đem lên sâu khấu cái gì đây? Một sự thác loạn thành công? Một sự ca tụng bạo lực, hay chế diễu bạo lực? Không có sự phê phán nào do tác giả và lời nói của nhân vật. Người ta chứng kiến một màn kịch dở dang không có mở đầu và kết thúc. Đó là cảm tưởng khi đọc và xem xong vở kịch, cũng như khi đọc xong hầu hết các văn phẩm của Françoise Sagan.


LÊ TRỌNG



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #111 vào: 07/01/2017, 11:55:19 »


PHIM CUỐI CÙNG CỦA COCTEAU

Ở BA LÊ, vừa rồi, một biến cố điện ảnh đã được giới sinh hoạt trí thức và nghệ thuật đề cập tới: cuốn phim Le Testament d’Orphée (Di chúc của Orphée) do Jean Cocteau thực hiện đã được đem ra chiếu cùng với lời tuyên bố của ông: đây là tác phẩm điện ảnh cuối cùng của đời tôi và công trình cuối cùng này di tặng cho những nhà điện ảnh tương lai, nó là tôi, tất cả.
            Cũng như Paul Valéry đã từng phản đối những tiểu sử của người sáng tạo để đòi hỏi tiểu sử của chính tạo vật. Cuốn phim này của Cocteau đã trình bày với chúng ta “một Cocteau trong tác phẩm”, có nghĩa một Cocteau toàn diện. Và chính đây là điểm mà những người đến với tác phẩm điện ảnh cuối cùng của ông cần chú ý.
            Cocteau, như giới trí thức Pháp thường gọi, là một “Descartes của phái phản duy lý”. Ông quan niệm trí thức là một chướng ngại nguy hiểm nhất của những công trình nghệ thuật, vì nghệ thuật trên địa hạt chót đỉnh của nó là một thứ thoát ra lên khỏi tất cả mọi quy điều của thói quen ràng buộc, dù đó là quy điều trí thức – trí thức làm cho óc sáng tạo của nghệ thuật tê liệt – Bởi vậy, vẫn theo ông, nếu cần thiết sự chỉ dẫn, thà trông cậy vào bản năng, năng lực của chúng ta còn có thể tin được hơn là trông cậy vào trí thức (nếu người ta hỏi một bông hoa, nó sẽ trả lời: Tôi không tư duy, vậy tôi tồn tại – Cocteau).
            Do đó, ở “Le Testament d’Orphée”, cuốn phim này thể hiện điều mà tác giả gọi là một thứ “póesie cinéma tographique”, và trên địa hạt này lý trí không có mặt – giấc mơ có những lý lẽ của nó, mà lý trí với những lý lẽ ấy, lý trí không thẩm quyền xét đoán – vậy thì luận lý của cuốn phim này là một thứ luận lý hoàn toàn xây dựng trên sự phi lý – cũng như ở hai phim “Le Sang d’un Poète” (phim câm), và “Orphée” Cocteau đã nói về tác phẩm của ông: đây là một tài liệu hiện thực hóa những biến động siêu thực. Nói cách khác, những hình ảnh trong “Le Testament d’Orphée” là những hình ảnh cụ thể hóa một giấc mộng lớn.
            Cuốn phim này trình bày với chúng ta một nhân vật mê sảng tượng trưng một ý thức mê sảng, luôn luôn có mặt trong đời sống của chúng ta từ hai thế kỷ nay. Orphée mang ý nghĩa của sự mê sảng ấy. Chàng là một thi sĩ tuyệt diệu, nghĩa là một mẫu tượng kỳ cục xa lạ với tất cả nhân loại như y phục của của Orphée: quần chẽn cụt, áo săng đay cổ cuốn. Orphée bắt đầu cuộc lang thang từ dưới thời vua Louis XV.
            Và cuộc lang thang này còn đương tiếp tục đến ngày nay, giữa chúng ta, nhờ một phép lạ (hay một sự đày đọa phi lý) như nhân vật Faust nhờ phép ngọn lửa thần của một giáo sư mà đạn bắn không chết.
            Orphée sống qua mấy thế kỷ kinh khủng, đầy rẫy những bi thảm tan nát hốt hoảng xa lạ đối với chàng, ám ảnh chàng khôn nguôi.
            Trên con đường hiện đại, tác phẩm Cocteau dẫn chúng ta theo lối mê sảng Orphée tới gặp Minerve, và Cegest, những người gitane khóc lóc trước mồ hoang, những đứa trẻ đi theo Orphée để đòi chàng cho chúng những “tờ giấy” và chàng ném cho chúng nó những cái “lá” ấy như một thứ hoa nở vô lý. Còn nhiều nữa Orphée là một thứ bị chúng ta che dấu bằng những cuộc đua đòi ham hố bằng nhạc jazz, bằng bạo lực vân vân, nhưng cuối cùng, Orphée vẫn còn đó và chúng ta không thể làm mất chàng, chắc chắn thế.
            Với cuốn phim này, Jean Cocteau đã phải sáng tạo và điều khiển toàn bộ: viết chuyện phim, sáng tác các kiểu mặt nạ và y phục, chọn bối cảnh và đạo điễn. Phim “Le Testament d’Orphée” đã được dàn cảnh ở nhiều nơi, phần chính của nó đã được quay nhiều nhất ở vùng Beaux de Provenu, nơi mà trước đây sáu thế kỷ đã gợi hứng cho Dante viết Enfer. Về công việc sắp đặt phim, Cocteau đã luôn luôn sử dụng trong những hoạt cảnh liên tiếp của ông một trình độ thần diệu nhất của xảo thuật truquage (đánh lừa). Ngoài ra, ông còn xử dụng, một lối diễn tả rất hoang đường bằng cách những nhân vật thoạt hiện, thoạt biến khi là đàn ông, khi là đàn bà, có khi đối diện với ngay chính mình và xuất hiện trên màn ảnh bằng cách rơi xuống. Le Testament d’Orphée là một cuốn phim mầu nhưng ông vẫn xử dụng trong đó những cảnh sắc đen và trắng ở những pha đặc biệt. Để thực hiện được cuốn phim này Cocteau đã phải trông cậy vào sự cộng tác và đóng góp của những người bạn ông: nhà sản xuất phim Jean Thuillier và những diễn viên danh tiếng như: Jean Marais, Francois Périer, Yul Brunner, Nicole Courcel, Françoise Arnoul, Brigitte Bardot, Annette Vadim, Daniel Gélin, Francois Christophe.
            Tuy nhiên, về sự cộng tác của những tên tuổi này, Cocteau đã tuyên bố: “Những người trên có mặt trong tác phẩm này không phải vì họ có danh tiếng, ở đây không có những tài tử danh tiếng, mà chỉ có sự hiện diện cần thiết của mỗi người để lấp khoảng trống cho một tác phẩm thực hiện mình”.
            Trong cuốn phim này, chúng ta cũng còn cần thiết phải kể tới sự góp mặt đặc biệt của những Picasso, Lifar, Atnavour, Françoise Sagan… Ông dẫn Goethe: chính lúc tự thắt chặt bản thân là lúc người ta đạt tới được nhiều tâm hồn huynh đệ nhất.
            Với tất cả tài ba của một thi sĩ thấu hiểu mình, như trên đã nói, thực hiện tác phẩm này Cocteau đã muốn thực hiện thành tác phẩm cụ thể chính con người siêu thực của mình. Bởi vậy, ông đã phải xác định về Le Testament d’Orphée: “không hề có một cốt truyện hay một sự thực liên tục trong phim này, mà những tính cách xác thực của những địa điểm, khung cảnh, nhân vật, cử động ngôn ngữ, âm nhạc hay mầu sắc chỉ có gái trị là một tấm phông để chúng ta tìm ở đó một khuôn khổ cho sự trừu tượng. Do đó với cuốn phim này, tôi muốn xây dựng một lâu đài mà ở trong đó chúng ta phải tự tìm gặp lấy con ma mình tưởng tượng”.
            Dùng đối thoại và hình ảnh, lý luận và sự thuyết phục, bằng phẳng và bất ngờ, Cocteau đã cố gắng biểu tỏ tất cả năng lực điện ảnh ở ông một lần cuối cùng bằng cách huy động trong phim nhiều cách diễn tả hoàn toàn trái ngược. Cocteau đã can đảm để tiến tới một thứ thẩm mỹ táo bạo phi thường. Với thiên tài của ông Cocteau đã hoàn thành tác phẩm này bằng một tư cách hoàn toàn độc lập để từ chối tất cả những giáo điều, chính trị, luân lý hay mê tín đòi bảo trợ cho việc làm của ông.
            Cách đây hơn 10 năm, Cocteau cũng đã thực hiện một phim về Orphée nhưng đó là một phim đã kết thúc, ngày nay, cuốn phim cuối cùng của đời ông về Orphée lần này là cuốn phim bắt đầu; giữa những thời sự bất động, tiếng nói bắt đầu của một người ý thức được mình sắp chết cất lên là một lời thú tội chung cho tất cả mấy thế kỷ gần đây.
            Đề tặng “Le Testament d’Orphée” cho những người làm điện ảnh tương lai, tôi nghĩ rằng Cocteau đã làm công việc viết di chúc đề tặng cho những người sau ông ý thức được cái ý thức của ông, và tiếp tục công việc kiểm điểm mình mà ông đã bắt đầu.


LÊ NGHI



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #112 vào: 07/01/2017, 17:37:12 »
hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại

TỔNG MỤC LỤC TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI
(tháng 4-12/1960)


                              VỚI CÁC CHỦ ĐỀ

| Số 1  TRUY NIỆM NHỮNG NHÀ VĂN, NHÀ THƠ ĐÃ TỪ TRẦN
| Số 2  NHỮNG CÁNH CỬA MỞ VÀO VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
| Số 3  NHỮNG KHUÔN MẶT ĐÀN BÀ TRONG VĂN CHƯƠNG
| Số 4  SAIGON BAN ĐÊM
| Số 5  NHỮNG TÁC GIẢ ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG NOBEL VĂN CHƯƠNG
| Số 6  VAI TRÒ TẠP CHÍ TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
| Số 7  VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI
| Số 8  VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX
| Số 9  NHỮNG TRƯỜNG PHÁI TRONG VĂN HỌC PHÁP




                              VỚI CÁC TÁC GIẢ

00.  HIỆN ĐẠI ● NGUYÊN SA
MỞ CỬA |  1-6/số 1
TRÌNH BÀY HIỆN ĐẠI 2 |  1/số 2
TRÌNH BÀY HIỆN ĐẠI 4 |  1-2/số 4
KHUÔN MẶT THỜI GIAN |  bìa sau/số 4-9


01.  KHIÊM ÁI
TRIỂN LÃM NHIẾP ẢNH QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM CỘNG HÒA |  110/số 8


02.  TRẦN THY NHÃ CA
NGÀY THÁNG TRÔI ĐI / THANH XUÂN (thơ) |  39/số 1
BÀI NHÃ CA THỨ NHẤT (thơ) |  40/số 1
GHÉ MÔI SẦU (thơ) |  67/số 2
DỌC ĐƯỜNG (thơ) |  61/số 3
LỜI XIN (thơ) |  91/số 5
BÀI THÁNG SÁU (thơ) |  64/số 7
GỌI TÊN ANH (thơ) |  62/số 9
NHÃ CA MÙA HẠ (thơ) |  63/số 9


03.  TRẦN MỘNG CHU
TRẦN TẾ XƯƠNG |  34-42/số 8


04.  NINH CHỮ
CAO XA (thơ) |  93/số 7


05.  VŨ HOÀNG CHƯƠNG
MỘNG NGÀY XƯA (thơ) |  12/số 4


06.  BĂNG CƠ
BÀI CỦA CHỊ KIM (thơ) |  101/số 9


07.  NGUYỄN DUY DIỄN
VŨ TRỌNG PHỤNG, NHÀ VĂN TẢ CHÂN BẤT HỦ |  22-26/số 1
DUYÊN KIM CỔ (thơ) |  72/số 1
TÌNH YÊU TRONG THI CA VIỆT NAM |  3-11/số 2
MAI, MỘT NHÂN VẬT KHẢ ÁI CỦA KHÁI HƯNG |  15-20/số 3
LƯU LUYẾN (thơ) |  61/số 3
DƯỚI CHÂN SAIGON |  83-89/số 4
FRÉDÉRIC MISTRAL, THI SĨ CỦA ĐỒNG QUÊ NỘI CỎ |  31-38/số 5
MÀU THƯƠNG NHỚ (thơ) |  90/số 5
VAI TRÒ CỦA PHONG HÓA VÀ NGÀY NAY |  19-27/số 6
QUÁ KHÓA |  95-102/số 7
NGUYỄN CÔNG TRỨ |  43-44/số 8
CỔ ĐIỂN |  1-10/số 9


08.  NGỌC DŨNG
NHỮNG TIẾNG NÓI THẦM (thơ) |  66/số 2


09.  VƯƠNG DƯ
ĐƯỜNG VỀ CỦA ĐỜI NGƯỜI |  86-91/số 2
CƠN MƯA |  72-80/số 7
THÁNG BẢY TRÊN CAO |  73-77/số 8
BUỔI TỐI THỨ BẢY |  85-92/số 9


10.  TRƯỜNG DUY
MÂY TRẮNG |  58-64/số 4


11.  TRẦN A ĐÌNH
NHẠC |  17-26/số 7
ANTOINE DE ST. EXUPERY/ TRẦN A ĐÌNH dịch |  BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG |  71-76/số 9


12.  MẶC ĐỖ
CON MUỖI |  84-96/số 1
CON MẮT CÓ ĐUÔI |  49-56/số 2
LOLITA, ISEULT THỜI BÁC SĨ KINSEY |  1-6/số 3
“SẦU RIÊNG” |  65-71/số 4
ALBERT CAMUS VÀ ĐẠO SỐNG |  16-23/số 5
BỐN NGƯỜI KHÔNG NGỦ |  84-90/số 6


13.  MAI SỬ GIƯƠNG
Ý NGHĨ (thơ) |  47/số 3


14.  TRẦN HẠNH
Ý KIẾN VỀ TRUYỆN NGẮN “GÌN VÀNG GIỮ NGỌC” CỦA DOÃN QUỐC SỸ |  107/số 1
“CHỒNG CON TÔI” CỦA DUY LAM |  105/số 7


15.  NGUYỄN XUÂN HIẾU
VAI TRÒ NAM PHONG TẠP CHÍ |  8-30/số 6
CHU MẠNH TRINH |  26-33/số 8
LÃNG MẠN |  42-46/số 9


16.  ĐINH HÙNG
TÌM VỀ KỶ NIỆM |  27-31/số 1
Ý NIỆM SIÊU HÌNH HỌC TRONG VĂN HỌC |  34-39/số 2
ĐƠN SƠ (thơ) |  46-48/số 2
GẶP NHAU LẦN CUỐI (thơ) |  57/số 3
CHỚP BỂ MƯA NGUỒN (thơ) |  11/số 4
LỜI THỀ TRÊN GỐI (thơ) |  107/số 5
TÌNH SỬ (thơ) |  36-38/số 6
NHỮNG GIÒNG CHỮ LẠ (thơ) |  63/số 7
TÔN THỌ TƯỜNG, PHAN VĂN TRỊ |  45-54/số 8
HỜN GIẬN (thơ) |  55/số 8
VÀO THU (thơ) |  61/số 9


17.  HOA CÚC HUYỀN
ĐÊM SAO (thơ) |  48/số 3


18.  PHẠM NĂNG HÓA
THAO THỨC (thơ) |  93/số 7
TRỞ BUỒN (thơ) |  64/số 9


19.  NGHIÊM HOÀI
NGOÀI TẦM TAY |  93-99/số 9


20.  LỮ HỒ
HOA TRONG MỘT HỒN THƠ |  12-19/số 2


21.  HOÀI CỬU HƯƠNG
XA CÁCH |  100-106/số 5


22.  LƯU TRUNG KHẢO
TÌNH BẠN TRONG VĂN CHƯƠNG CỔ VIỆT NAM |  20-25/số 2
CÚC HOA |  25-27/số 3
BÀ HUYỆN THANH QUAN CÓ PHẢI LÀ THI SĨ HOÀI LÊ KHÔNG |  109-116/số 4
PEARL S. BUCK |  59-65/số 5
ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ | 2-7/số 6


23.  TRẦN XUÂN KIÊM
GÓC PHỐ (thơ) |  94/số 7


24.  LÊ XUÂN KHOA
HOÀNG ĐẠO, NHÀ VĂN CỦA THANH NIÊN |  7-11/số 1
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM |  26-29/số 2


25.  TẠ QUANG KHÔI
MƯA BAY |  74-83/số 5
TIẾNG KHÓC |  77-83/số 6
TRÊN CAO |  88-96/số 8


26.  VŨ DẠ KHÚC
THÚ TỘI (thơ) |  103-104/số 2


27.  THÁI KHƯƠNG
TÌM HIỂU LỊCH SỬ SÂN KHẤU |  96-108/số 4
SÂN KHẤU |  27-38/số 7
TƯỢNG TRƯNG |  31-41/số 9


28.  BÀNG BÁ LÂN
NGUYỄN KHUYẾN |  13-25/số 8


29.  THY LIÊN
ĐOẠN ĐƯỜNG THỨ NHẤT CỦA ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM |  108-109/số 1
TẬP THƠ THỨ HAI CỦA THẾ VIÊN |  107/số 2
NHÂN ĐI XEM CHIẾU THỬ “BẢY ĐIỀU GIÁO LỆNH” |  118-120/số 4


30.  TRẦN LINH
TIN THƠ |  127/số 4


31.  VIÊN LINH
BÀI PHƯỢNG LIÊN (thơ) |  102/số 2


32.  SONG LINH
THỨC GIẤC NỬA KHUYA |  70-79/số 3
MƯA VỀ CHIỀU |  38-46/số 4
LỐI ĐI |  96-106/số 6
NẮNG ĐỔI NGÔI |  54-62/số 7
THÂN PHẬN |  58-64/số 8


33.  VĨNH LỘC
ĐÀN CHIM SẺ TRONG THÀNH PHỐ |  57-63/số 2
CÁNH HỒNG |  55-63/số 6


34.  BÌNH NGUYÊN LỘC
QUÀ ĐÊM TRÊN RẠCH TÀU HŨ |  28-31/số 4
HO LAO MUÔN NĂM |  91-95/số 6


35.  SĨ MỘC
TÁI BẢN SÁCH |  105-106/số 2
ĐỌC “KÝ THÁC” CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC |  108/số 2
ANNA KARÉNINE, KẺ TÌNH NHÂN CÔ ĐỘC |  21-24/số 3
VĂN NGHỆ CÓ CỌC |  105-106/số 3
THẸN |  117/số 4
GIÁ TRỊ GIAI ĐOẠN TRONG VĂN CHƯƠNG |  110-111/số 5
KHÔNG NÊN ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT |  107/số 6
R. M. ALBÉRÉS/SĨ MỘC dịch |  VĂN |  39-47/số 7
HIỆN THỰC |  19-30/số 9


36.  THANH NAM
CỎ RỪNG |  41-46/số 1
BẾN ĐÒ |  96-103/số 3
ĐÊM BUỒN THÀNH PHỐ CŨ |  5-10/số 4
KẺ ĐỒNG LÕA |  93-99/số 5
XUỐNG ĐƯỜNG |  42-48/số 6


37.  TÔ KIỀU NGÂN
SẮC MÀU |  53-56/số 3


38.  LÊ NGHI
CUỘC TRIỂN LÃM BẢN SAO NHỮNG THỦY MẠC ĐÔNG TÂY |  109/số 2
PHIM CUỐI CÙNG CỦA COCTEAU |  110-112/số 9


39.  DIÊN NGHỊ
MÙA THU (thơ) |  61/số 9


40.  HOÀI NGỌC
“MÙA CỔ ĐIỂN” CỦA QUÁCH TẤN |  108-111/số 3


41.  NGUYỆN
ÚP MẶT (thơ) |  45/số 3


42.  QUỐC PHONG
GIAI ĐOẠN MỚI CỦA ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM CHƯA MỞ |  110-112/số 2


43.  THUẦN PHONG
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU |  1-12/số 8


44.  TƯỜNG PHONG
KÝ THÁC (thơ) |  46/số 3


45.  HUYỀN PHỤNG
ĐỌC “NHỮNG VÌ SAO LẠC” CỦA NHẬT TIẾN |  107/số 3
GRAHAM GREENE/HUYỀN PHỤNG dịch |  PHƯỢNG |  72-76/số 4
“HỒ THÙY DƯƠNG” CỦA DOÃN QUỐC SỸ |  103-104/số 7
XÉT MÌNH |  108-109/số 8
NHÌN RA NGOÀI |  106-107/số 9


46.  HUY QUANG
MỘT ĐÊM VUI |  47-53/số 4


47.  SAO TRÊN RỪNG
DỊU VỢI (thơ) |  46/số 3


48.  NGUYÊN SA
PHAN HUY VỊNH, PHÙ THỦY ÂM THANH |  32-38/số 1
ÁO LỤA HÀ ĐÔNG (thơ) |  71/số 1
MÂY BAY ĐI |  40/số 2
JOSÉE BUỒN |  40-44/số 3
HỊCH (thơ) |  3-4/số 4
BÓNG TỐI |  90-95/số 4
HENRI BERGSON |  2-7/số 5
BÂY GIỜ (thơ) |  91-92/số 5
THƠ |  48-53/số 7


49.  LÝ QUỐC SỈNH
NHAN SẮC OANH OANH |  7-14/số 3


50.  TRƯỜNG SƠN
FRANÇOIS MAURIAC, NHÀ LUÂN LÝ |  39-46/số 5


51.  DOÃN QUỐC SỸ
CON CHUỘT CHÙ |  80-87/số 3


52.  DUY THANH
NGƯỠNG CỬA |  63-70/số 1


53.  TƯỜNG NGY THANH
ĐẦU THAI (thơ) |  75/số 6


54.  THÙY SONG THANH
BÀI HÁT BUỒN NGÓN TAY (thơ) |  97/số 8
BÀI VIẾT BẰNG MỰC TÍM (thơ) |  102/số 9
BÀI NĂM CHỮ (thơ) |  103/số 9


55.  TRỊNH VIẾT THÀNH
TÌM HIỂU VỞ KỊCH LES JUSTES CỦA ALBERT CAMUS |  12-21/số 1
EMMA BOVARY, MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ |  31-39/số 3
ANDRÉ GIDE, NGƯỜI GIẢI PHÓNG |  8-15/số 5
HIỆN SINH |  52-60/số 9


56.  MAI THẢO
NHỮNG NGƯỜI Ở KHÁCH SẠN |  97-106/số 1
LUÂN |  92-101/số 2


57.  MẶC THU
CÁI GIƯỜNG |  49-52/số 3
CÔ BA |  54-57/số 4


58.  BIÊN THÙY
ÂM HƯỞNG / SÔNG BUỒN (thơ) |  100/số 9


59.  HOÀNG HẢI THỦY
ALBERTO MORAVIA/HOÀNG HẢI THỦY dịch |  NGƯỜI LÊN MẶT TRẬN |  75-83/số 1
SEAN O’FAOLAIN/HOÀNG HẢI THỦY dịch |  TRỐN |  77-85/số 2
3 NÀNG CONSTANCE CHATTERLEY |  28-30/số 3
WILLIAM FAULKNER |  47-58/số 5
SIÊU THỰC |  47-51/số 9


60.  THÁI THỦY
TIẾNG HÁT BUỔI CHIỀU MÙA XUÂN (thơ) |  47-48/số 1
ĐÊM TAO ĐÀN HỌP MẶT MÙA XUÂN |  110-111/số 1
CHƯA HẾT (thơ) |  65/số 2
CHUYỆN ĐAU THẦM (thơ) |  59-60/số 3
BUỒN PHỐ RỘNG (thơ) |  15/số 4
GOTTERDAMMERUNG (thơ) |  108-109/số 5
BÀI THƠ CHƯA CÓ ĐOẠN KẾT (thơ) |  40-41/số 6


61.  NGUYỄN THỨC
BAN ĐÊM THÀNH PHỐ |  17-27/số 4
RABINDRANATH TAGORE, MỘT ÁNH SÁNG |  24-30/số 5
TRI TÂN, THANH NGHỊ |  28-35/số 6
HỌA |  1-11/số 7
CÂU CHUYỆN TRÊN MẶT GIẤY |  78-87/số 8
BÁCH KHOA |  11-18/số 9


62.  LÊ TRỌNG
TÀI LIỆU QUÝ |  110/số 2
“L’AVENTURE EST FINIE POUR EUX” CỦA FRANÇOIS BRIGNEAU |  106-107/số 7
Ý NGHĨ NHỎ VỀ NHỮNG PHÒNG TRANH THÁNG MƯỜI |  111-112/số 8
NHÌN SANG SÂN KHẤU NGOẠI QUỐC |  108-109/số 9


63.  HOÀNG ANH TUẤN
THƯ PARIS |  59-62/số 1
CÒN LẠI (thơ) |  73-74/số 1
MẦU CHINH CHIẾN TRONG THƠ VIỆT |  30-33/số 2
MỘT NỬA (thơ) |  64/số 2
M. (thơ) |  58/số 3
CÁI TÁT |  62/số 3
NHỮNG MẮT TRONG ĐÊM (thơ) |  13-14/số 4
VŨ QUÁN |  77-82/số 4
ĐIỆU XƯA (thơ) |  66/số 5
MAI VÀ ANH |  84-89/số 5
BÀI CA DAO SAU NÀY (thơ) |  39/số 6
PHÍA NGOÀI (kịch)|  64-74/số 6
ĐIỆN ẢNH |  12-16/số 7
LY NƯỚC LỌC (kịch) |  81-92/số 7
TRƯỚC TỬ THI (kịch) |  98-107/số 8
NHỮNG NGƯỜI GIẢ DỐI (kịch) |  77-84/số 9


64.  THANH TÂM TUYỀN
BUỔI SÁNG CHỦ NHẬT |  68-76/số 2


65.  ĐIỆP DẠ TỨ
SOI GƯƠNG (thơ) |  76/số 6


66.  LÝ TỨ
PASTERNAK CHẾT RỒI |  104/số 3
“TÂN XUÂN TÙY BÚT” CỦA LÊ VĂN SIÊU VÀ NHỮNG BĂN KHOĂN VỀ CON NGƯỜI |  121-126/số 4
TRẢ LỜI MỘT ĐỒNG NGHIỆP HÀNG TUẦN |  112/số 5
TRIỄN LÃM HỘI HỌA TRẦN QUANG HIẾU |  108-110/số 6
“L’AVENIR DE L’HOMME” CỦA PIERRE TEILHARD DE CHARDIN |  108-109/số 6
TRIỄN LÃM NGHỆ THUẬT THẢM CỦA PHÁP |  105/số 9


67.  TẠ TỴ
NGÕ HẸP |  49-58/số 1
VẾT THƯƠNG |  88-95/số 3
PHỤ BẢN (tranh) |  16/số 4
MÀU SẮC SÈ-GOÒNG |  32-37/số 4
HÌNH ẢNH CUỐI CÙNG |  67-73/số 5
ĐÊM DÀI |  49-54/số 6
ĐÊM CUỐI VỞ KỊCH |  65-71/số 7
CHIỀU KHÉP CỬA (thơ) |  56-57/số 8
TIA CHỚP |  65-72/số 8
Ý NGHĨ |  65-70/số 9


68.  HOANG VU
MANG MANG (thơ) |  102/số 9



hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại   hiện đại  hiện đại   hiện đại   hiện đại

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #113 vào: 14/01/2017, 14:24:34 »

PHỤ LỤC I: THƯ MỤC THƠ TRONG TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI


01.  Ngày tháng trôi đi |  Trần Thy Nhã Ca |  39/số 1
02.  Thanh xuân |  Trần Thy Nhã Ca |  39/số 1
03.  Bài nhã ca thứ nhất |  Trần Thy Nhã Ca |  40/số 1
04.  Tiếng hát buổi chiều mùa xuân |  Thái Thủy |  47-48/số 1
05.  Áo lụa Hà Đông |  Nguyên Sa |  71/số 1
06.  Duyên kim cổ |  Nguyễn Duy Diễn |  72/số 1
07.  Còn lại |  Hoàng Anh Tuấn |  73-74/số 1
08.  Đơn sơ |  Đinh Hùng |  46-48/số 2
09.  Một nửa |  Hoàng Anh Tuấn |  64/số 2
10.  Chưa hết |  Thái Thủy |  65/số 2
11.  Những tiếng nói thầm |  Ngọc Dũng |  66/số 2
12.  Ghé môi sầu |  Trần Thy Nhã Ca |  67/số 2
13.  Mang mang |  Hoang Vu |  102/số 2
14.  Bài phượng liên |  Viên Linh |  102/số 2
15.  Thú tội |  Vũ Dạ Khúc |  103-104/số 2
16.  Úp mặt |  Nguyện |  45/số 3
17.  Dịu vợi |  Sao Trên Rừng |  46/số 3
18.  Ký thác |  Tường Phong |  46/số 3
19.  Ý nghĩ |  Mai Sử Giương |  47/số 3
20.  Đêm sao |  Hoa Cúc Huyền |  48/số 3
21.  Gặp nhau lần cuối |  Đinh Hùng |  57/số 3
22.  M. |  Hoàng Anh Tuấn |  58/số 3
23.  Chuyện đau thầm |  Thái Thủy |  59/số 3
24.  Lưu luyến |  Nguyễn Duy Diễn |  61/số 3
25.  Dọc đường |  Trần Thy Nhã Ca |  61/số 3
26.  Hịch |  Nguyên Sa |  3-4/số 4
27.  Chớp bể mưa nguồn |  Đinh Hùng |  11/số 4
28.  Mộng ngày xưa |  Vũ Hoàng Chương |  12/số 4
29.  Những mắt trong đêm |  Hoàng Anh Tuấn |  13/số 4
30.  Buồn phố rộng |  Thái Thủy |  15/số 4
31.  Điệu xưa |  Hoàng Anh Tuấn |  66/số 5
32.  Màu thương nhớ |  Nguyễn Duy Diễn |  90/số 5
33.  Lời xin |  Trần Thy Nhã Ca |  91/số 5
34.  Bây giờ |  Nguyên Sa |  91-92/số 5
35.  Lời thề trên gối |  Đinh Hùng |  107/số 5
36.  Gotterdammerung |  Thái Thủy |  108-109/số 5
37.  Tình sử |  Đinh Hùng |  36/số 6
38.  Bài ca dao sau này |  Hoàng Anh Tuấn |  39/số 6
39.  Bài thơ chưa có đoạn kết |  Thái Thủy |  40-41/số 6
40.  Đầu thai |  Tường Ngy Thanh |  75/số 6
41.  Soi gương |  Điệp Dạ Tứ |  76/số 6
42.  Những giòng chữ lạ |  Đinh Hùng |  63/số 7
43.  Bài tháng sáu |  Trần Thy Nhã Ca |  64/số 7
44.  Cao xa |  Ninh Chữ |  93/số 7
45.  Thao thức |  Phạm Năng Hóa |  93/số 7
46.  Góc phố |  Trần Xuân Kiêm |  94/số 7
47.  Hờn giận |  Đinh Hùng |  55/số 8
48.  Chiều khép cửa |  Tạ Tỵ |  56-57/số 8
49.  Bài hát buồn ngón tay |  Thùy Song Thanh |  97/số 8
50.  Vào thu |  Đinh Hùng |  61/số 9
51.  Mùa thu |  Diên Nghị |  61/số 9
52.  Gọi tên anh |  Trần Thy Nhã Ca |  62/số 9
53.  Nhã ca mùa hạ |  Trần Thy Nhã Ca |  63/số 9
54.  Trở buồn |  Phạm Năng Hóa |  64/số 9
55.  Âm hưởng |  Biên Thùy |  100/số 9
56.  Sông buồn |  Biên Thùy |  100/số 9
57.  Bài của chị Kim |  Băng Cơ |  101/số 9
58.  Bài viết bằng mực tím |  Thùy Song Thanh |  102/số 9
59.  Bài năm chữ |  Thùy Song Thanh |  103-104/số 9




PHỤ LỤC II: THƯ MỤC VĂN TRONG TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI


01.  Cỏ rừng |  Thanh Nam |  41-48/số 1
02.  Ngõ hẹp |  Tạ Tỵ |  49-58/số 1
03.  Thư Paris |  Hoàng Anh Tuấn |  59-62/số 1
04.  Ngưỡng cửa |  Duy Thanh |  63-70/số 1
05.  Người lên mặt trận |  Alberto Moravia/Hoàng Hải Thủy dịch |  75-83/số 1
06.  Con muỗi |  Mặc Đỗ |  84-96/số 1
07.  Những người ở khách sạn |  Mai Thảo |  97-106/số 1
08.  Mây bay đi |  Nguyên Sa |  40-45/số 2
09.  Con mắt có đuôi |  Mặc Đỗ |  49-56/số 2
10.  Đàn chim sẻ trong thành phố |  Vĩnh Lộc |  57-63/số 2
11.  Buổi sáng Chủ nhật |  Thanh Tâm Tuyền |  68-76/số 2
12.  Trốn |  Sean O’Faolain/Hoàng Hải Thủy dịch |  77-85/số 2
13.  Đường về của đời người |  Vương Dư |  86-91/số 2
14.  Luân |  Mai Thảo |  92-101/số 2
15.  Cái giường |  Mặc Thu |  49-52/số 3
16.  Sắc màu |  Tô Kiều Ngân |  53-56/số 3
17.  Cái tát |  Hoàng Anh Tuấn |  62-69/số 3
18.  Thức giấc nửa khuya |  Song Linh |  70-79/số 3
19.  Con chuột chù |  Doãn Quốc Sỹ |  80-87/số 3
20.  Vết thương |  Tạ Tỵ |  88-95/số 3
21.  Bến đò |  Thanh Nam |  96-103/số 3
22.  Đêm buồn thành phố cũ |  Thanh Nam |  5-10/số 4
23.  Quà đêm trên rạch tàu hũ |  Bình Nguyên Lộc |  28-31/số 4
24.  Màu sắc Sè-goòng |  Tạ Tỵ |  32-37/số 4
25.  Mưa về chiều |  Song Linh |  38-46/số 4
26.  Một đêm vui |  Huy Quang |  47-53/số 4
27.  Cô Ba |  Mặc Thu |  54-57/số 4
28.  Mây trắng |  Trường Duy |  58-64/số 4
29.  “Sầu riêng” |  Mặc Đỗ |  65-71/số 4
30.  Phượng |  Graham Greene/Huyền Phụng dịch |  72-76/số 4
31.  Vũ quán |  Hoàng Anh Tuấn |  77-82/số 4
32.  Dưới chân Saigon |  Nguyễn Duy Diễn |  83-89/số 4
33.  Bóng tối |  Nguyên sa |  90-95/số 4
34.  Hình ảnh cuối cùng |  Tạ Tỵ |  67-73/số 5
35.  Mưa bay |  Tạ Quang Khôi |  74-83/số 5
36.  Mai và anh |  Hoàng Anh Tuấn |  84-89/số 5
37.  Kẻ đồng lõa |  Thanh Nam |  93-99/số 5
38.  Xa cách |  Hoài Cửu Hương |  100-106/số 5
39.  Xuống đường |  Thanh Nam |  42-48/số 6
40.  Đêm dài |  Tạ Tỵ |  49-54/số 6
41.  Cánh hồng |  Vĩnh Lộc |  55-63/số 6
42.  Tiếng khóc |  Tạ Quang Khôi |  77-83/số 6
43.  Bốn người không ngủ |  Mặc Đỗ |  84-90/số 6
44.  Ho lao muôn năm |  Bình Nguyên Lộc |  91-95/số 6
45.  Lối đi |  Song Linh |  96-106/số 6
46.  Nắng đổi ngôi |  Song Linh |  54-62/số 7
47.  Đêm cuối vở kịch |  Tạ Tỵ |  65-71/số 7
48.  Cơn mưa |  Vương Dư |  72-80/số 7
49.  Quá khóa |  Nguyễn Duy Diễn |  95-102/số 7
50.  Thân phận |  Song Linh |  58-64/số 8
51.  Tia chớp |  Tạ Tỵ |  65-72/số 8
52.  Tháng bảy trên cao |  Vương Dư |  73-77/số 8
53.  Câu chuyện trên mặt giấy |  Nguyễn Thức |  78-87/số 8
54.  Trên cao |  Tạ Quang Khôi |  88-96/số 8
55.  Ý nghĩ |  Tạ Tỵ |  65-70/số 9
56.  Bước đường cùng |  Antoine de St. Exupery/ Trần A Đình dịch |  71-76/số 9
57.  Buổi tối thứ bảy |  Vương Dư |  85-92/số 9
58.  Ngoài tầm tay |  Nghiêm Hoài |  93-99/số 9




PHỤ LỤC III: THƯ MỤC KỊCH TRONG TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI


01.  Phía ngoài |  Hoàng Anh Tuấn |  64-74/số 6
02.  Ly nước lọc |  Hoàng Anh Tuấn |  81-92/số 7
03.  Trước tử thi |  Hoàng Anh Tuấn |  98-107/số 8
04.  Những người giả dối |  Hoàng Anh Tuấn |  77-84/số 9




PHỤ LỤC IV: THƯ MỤC KHẢO LUẬN TRONG TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI


01.  Hoàng Đạo, nhà văn của thanh niên |  Lê Xuân Khoa |  7-11/số 1
02.  Tìm hiểu vở kịch Les Justes của Albert Camus |  Trịnh Viết Thành |  12-21/số 1
03.  Vũ Trọng Phụng, nhà văn tả chân bất hủ |  Nguyễn Duy Diễn |  22-26/số 1
04.  Tìm về kỷ niệm |  Đinh Hùng |  27-31/số 1
05.  Phan Huy Vịnh, phù thủy âm thanh |  Nguyên Sa |  32-38/số 1
06.  Tình yêu trong thi ca Việt Nam |  Nguyễn Duy diễn |  3-11/số 2
07.  Hoa trong một hồn thơ |  Lữ Hồ |  12-19/số 2
08.  Tình bạn trong văn chương cổ Việt Nam |  Lưu Trung Khảo |  20-25/số 2
09.  Triết lý nhân sinh trong văn chương Việt Nam |  Lê Xuân Khoa |  26-29/số 2
10.  Mầu chinh chiến trong thơ Việt |  Hoàng Anh Tuấn |  30-33/số 2
11.  Ý niệm siêu hình học trong văn học |  Đinh Hùng |  34-39/số 2
12.  Lolita, Iseult thời bác sĩ Kinsey |  Mặc Đỗ |  1-6/số 3
13.  Nhan sắc Oanh Oanh |  Lý Quốc Sỉnh |  7-14/số 3
14.  Mai, một nhân vật khả ái của Khái Hưng |  Nguyễn Duy Diễn |  15-20/số 3
15.  Anna Karénine, kẻ tình nhân cô độc |  Sĩ Mộc |  21-24/số 3
16.  Cúc Hoa |  Lưu Trung Khảo |  25-27/số 3
17.  3 nàng Constance Chatterley |  Hoàng Hải Thủy |  28-30/số 3
18.  Emma Bovary, một người đàn bà |  Trịnh Viết Thành |  31-39/số 3
19.  Josée buồn |  Nguyên Sa |  40-44/số 3
20.  Ban đêm thành phố |  Nguyễn Thức |  17-27/số 4
21.  Tìm hiểu lịch sử sân khấu |  Thái Khương |  96-108/số 4
22.  Bà Huyện Thanh Quan có phải là thi sĩ hoài Lê không |  Lưu Trung Khảo |  109-116/số 4
23.  Henri Bergson |  Nguyên Sa |  2-7/số 5
24.  André Gide, người giải phóng |  Trịnh Viết Thành |  8-15/số 5
25.  Albert Camus và đạo sống |  Mặc Đỗ |  16-23/số 5
26.  Rabindranath Tagore, một ánh sáng |  Nguyễn Thức |  24-30/số 5
27.  Frédéric Mistral, thi sĩ của đồng quê nội cỏ |  Nguyễn Duy Diễn |  31-38/số 5
28.  François Mauriac, nhà luân lý |  Trường Sơn |  39-46/số 5
29.  William Faulkner |  Hoàng Hải Thủy |  47-58/số 5
30.  Pearl S. Buck |  Lưu Trung Khảo |  59-65/số 5
31.  Đông Dương tạp chí |  Lưu Trung Khảo |  2-7/số 6
32.  Vai trò Nam Phong tạp chí |  Nguyễn Xuân Hiếu |  8-18/số 6
33.  Vai trò của Phong Hóa và Ngày Nay |  Nguyễn Duy Diễn |  19-27/số 6
34.  Tri Tân, Thanh Nghị |  Nguyễn Thức |  28-35/số 6
35.  Họa |  Nguyễn Thức |  1-11/số 7
36.  Điện ảnh |  Hoàng Anh Tuấn |  12-16/số 7
37.  Nhạc |  Trần A Đình |  17-26/số 7
38.  Sân khấu |  Thái Khương |  27-38/số 7
39.  Văn |  R. M. Albérés/Sĩ Mộc dịch |  39-47/số 7
40.  Thơ |  Nguyên Sa |  48-53/số 7
41.  Nguyễn Đình Chiểu |  Thuần Phong |  1-12/số 8
42.  Nguyễn Khuyến |  Bàng Bá Lân |  13-25/số 8
43.  Chu Mạnh Trinh |  Nguyễn Xuân Hiếu |  26-33/số 8
44.  Trần Tế Xương |  Trần Mộng Chu |  34-42/số 8
45.  Nguyễn Công Trứ |  Nguyễn Duy Diễn |  43-44/số 8
46.  Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị |  Đinh Hùng |  45-54/số 8
47.  Cổ điển |  Nguyễn Duy Diễn |  1-10/số 9
48.  Bách khoa |  Nguyễn Thức |  11-18/số 9
49.  Hiện thực |  Sĩ Mộc |  19-30/số 9
50.  Tượng trưng |  Thái Khương |  31-41/số 9
51.  Lãng mạn |  Nguyễn Xuân Hiếu |  42-46/số 9
52.  Siêu thực |  Hoàng Hải Thủy |  47-51/số 9
53.  Hiện sinh |  Trịnh Viết Thành |  52-60/số 9




PHỤ LỤC V: THƯ MỤC PHÊ BÌNH TRONG TẠP CHÍ HIỆN ĐẠI


01.  Ý kiến về truyện ngắn “Gìn Vàng Giữ Ngọc” của Doãn Quốc Sỹ |  Trần Hạnh |  107/số 1
02.  Đoạn đường thứ nhất của điện ảnh Việt Nam |  Thy Liên |  108-109/số 1
03.  Đêm Tao Đàn họp mặt mùa Xuân |  Thái Thủy |  110/số 1
04.  Tái bản sách |  Sĩ Mộc |  105-106/số 2
05.  Tập thơ thứ hai của Thế Viên |  Thy Liên |  107/số 2
06.  Đọc “Ký Thác” của Bình Nguyên Lộc |  Sĩ Mộc |  108/số 2
07.  Cuộc triễn lãm bản sao những thủy mạc Đông Tây |  Lê Nghi |  109/số 2
08.  Tài liệu quý |  Lê Trọng |  110/số 2
09.  Giai đoạn mới của điện ảnh Việt Nam chưa mở |  Quốc Phong |  110/số 2
10.  Pasternak chết rồi |  Lý Tứ |  104/số 3
11.  Văn nghệ có cọc |  Sĩ Mộc |  105-106/số 3
12.  Đọc “Những Vì Sao Lạc” của Nhật Tiến |  Huyền Phụng |  107/số 3
13.  “Mùa Cổ Điển” của Quách Tấn |  Hoài Ngọc |  108/số 3
14.  Thẹn |  Sĩ Mộc |  117/số 4
15.  Nhân đi xem chiếu thử “Bảy Điều Giáo Lệnh” |  Thy Liên |  118-120/số 4
16.  “Tân Xuân Tùy Bút” của Lê Văn Siêu và những băn khoăn về con người |  Lý Tứ |  121-126/số 4
17.  Tin thơ |  Trần Linh |  127/số 4
18.  Giá trị giai đoạn trong văn chương |  Sĩ Mộc |  110-111/số 5
19.  Trả lời một đồng nghiệp hàng tuần |  Lý Tứ |  112/số 5
20.  Không nên đặt lại vấn đề đoàn kết |  Sĩ Mộc |  107/số 6
21.  Triễn lãm hội họa Trần Quang Hiếu |  Lý Tứ |  108/số 6
22.  “Hồ Thùy Dương” của Doãn Quốc Sỹ |  Huyền Phụng |  103-104/số 7
23.  “Chồng Con Tôi” của Duy Lam |  Trần Hạnh |  105/số 7
24.  “L’Aventure est finie pour eux” của François Brigneau |  Lê Trọng |  106-107/số 7
25.  “L’Avenir de l’homme” của Pierre Teilhard de Chardin |  Lý Tứ |  108/số 7
26.  Xét mình |  Huyền Phụng |  108-109/số 8
27.  Triễn lãm nhiếp ảnh quốc tế tại Việt Nam Cộng Hòa |  Khiêm Ái |  110/số 8
28.  Ý nghĩ nhỏ về những phòng tranh tháng Mười |  Lê Trọng |  111/số 8
29.  Triễn lãm nghệ thuật thảm của Pháp |  Lý Tứ |  105/số 9
30.  Nhìn ra ngoài |  Huyền Phụng |  106-107/số 9
31.  Nhìn sang sân khấu ngoại quốc |  Lê Trọng |  108-109/số 9
32.  Phim cuối cùng của Cocteau |  Lê Nghi |  110-112/số 9



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #114 vào: 21/01/2017, 19:19:50 »

–––––––––| Hành trình của Hiện Đại |––––––––––––––––––––

            Tháng 9 năm 1959, Sáng Tạo đình bản. Cái chết của Sáng Tạo đã tạo nên một khoảng trống khó lấp về văn học nghệ thuật bấy giờ. Nhà thơ Nguyên Sa đã nói về hậu quả do từ cái chết ấy trong bài Mở Cửa đăng ở trang đầu, số đầu của tạp chí Hiện Đại (tháng 4-1960):

            Văn nghệ trong những tháng ngày vừa qua nằm trong một tình trạng buồn. Cuộc sinh hoạt ấy như chợt chìm xuống một vũng sâu có bóng tối dầy và nặng. (…) Nỗi buồn ấy hiển hiện trước mắt. Tờ báo của cuộc đời văn nghệ 57, 58, 59 đi mất. Những người văn nghệ còn ở đấy nhưng buồn cũng đã ở đấy.

            Ông hỏi và tự trả lời:

            Có một tình trạng buồn ấy. Nhưng có phải ngọn lửa sáng tạo toàn diện phụt tắt? Có một nỗi chán chường, chua xót xâm chiếm mắt người. Nhưng có phải sự tàn lụi thật sự của mọi sinh hoạt văn nghệ đã bủa lưới bốn phía? Tôi trả lời: không phải.

            Và ông chứng minh bằng sự ra đời của tạp chí Hiện Đại.
            Hiện Đại là một tạp chí văn học, xuất bản hàng tháng. Chủ trương: Nguyên Sa. Bài vở: Thanh Nam. Trị sự: Phạm Thái Thủy. Tòa soạn: 16, Trương Công Định – Saigon. Số 1 được phát hành vào tháng 4-1960 và số cuối cùng là số 9 phát hành vào tháng 12-1960.
            Là một tạp chí văn học, tuy nhiên nó mang cái vóc dáng của một tờ báo không giống như các tạp chí văn học khác. Lời mở thay vì đề cập đến chủ trương, tôn chỉ và mục đích, người viết tức là thi sĩ Nguyên Sa lại “Mở Cửa” đề cập đến nỗi buồn sau khi tạp chí Sáng Tạo chết và biện giải về văn chương phòng trà, văn chương “trác táng”, để sau đó giải thích lý do tại sao Hiện Đại lại có mặt cũng như chủ trương “thực sự văn nghệ” của nó. Dĩ nhiên, ở bất cứ một tạp chí văn học nào, vẫn là những sáng tác thơ văn, vẫn biên khảo, phê bình, vẫn những trang cuối dành cho sinh hoạt văn học nghệ thuật. Hiện Đại vẫn không thoát ra khỏi những thông luật đó. Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ Hiện Đại hay dùng những từ rất kêu, khó hiểu, để thay vào những từ quen thuộc. Chẳng hạn “Nhìn Bảy Chân Trời” chỉ mục tin tức sinh hoạt văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, hay giới thiệu sách báo, triễn lãm tranh… Chẳng hạn bài viết ở trang bìa cuối, lại được dùng bốn từ: “Khuôn Mặt Thời Gian”. Có lẽ chỉ có nhà thơ Nguyên Sa hiểu, chứ những độc giả bình thường như tôi đến giờ phút này vẫn không thể hiểu “Nhìn Bảy Chân Trời” hoặc “Khuôn Mặt Thời Gian” là gì. Và tại sao ông lại dùng để chỉ những mục thường xuyên?
            Dù chỉ một năm hiện diện, nhưng Hiện Đại đã tạo một chỗ đứng trong giòng sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam. Những bài thơ được nhắc nhở nhiều của Nguyên Sa (Áo lụa Hà Đông), Đinh Hùng (Tình Sử, sau đổi thành “Đường vào Tình Sử”) hay Một nửa (Hoàng Anh Tuấn) đều bắt nguồn từ Hiện Đại.(1)
            Một điểm son cho Hiện Đại là mỗi số báo để thực hiện một chủ đề quy tụ những cây viết thời danh. Nó giúp ích người đọc mở rộng thêm kiến thức về văn học trong và ngoài nước.
                        Số 1: Những người không chết
                        Số 2: Những cánh cửa mở vào văn chương Việt Nam
                        Số 3: Những khuôn mặt đàn bà trong văn chương
                        Số 4: Saigon ban đêm
                        Số 5: Những tác giả được giải thưởng Nobel văn chương
                        Số 6: Vai trò tạp chí trong văn chương Việt Nam
                        Số 7: Vài nét về nghệ thuật hiện đại
                        Số 8: Văn học Việt Nam thế kỷ XIX
                        Số 9: Những trường phái trong văn học Pháp
            Để giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về những chủ đề mà Hiện Đại thực hiện, chúng tôi xin lựa đăng lại một vài trang giới thiệu:
            Trước hết là trang giới thiệu chủ đề: Những người không chết (Số 1):

            Con người thường xuyên đứng trong một vị trí không gian và thời gian. Nên cuộc sống toàn vẹn, đầy đủ, phong phú hơn cả bao giờ cũng là cuộc-sống-với-cuộc-đời-hiện-đại. Người sống thật sự nhất là người biết đau niềm đau của thời đại, biết vui chung với cuộc vui của thế hệ mình. Nó biết lo âu, hy vọng thật sự với đồng loại, với những con người cụ thể đang sinh sống ở bên phải bên trái, ở chung quanh nó.
            Nhưng sống với cuộc đời hiện đại không có nghĩa là cắt đứt hết mọi liên lạc với dĩ vãng, lịch sử. Ý thức sáng tỏ về dĩ vãng bao giờ cũng là cánh cửa mở vào hiện tại cũng như sinh hoạt hiện tại bao giờ cũng là nhịp cầu bắc đến tương lai.
            Cho nên những bài biên khảo của tập Hiện Đại đầu tiên hướng về một đề tài duy nhất: truy niệm những người nhà văn đã từ trần nhưng vẫn thường xuyên có mặt trong tâm hồn con người hiện đại.
            Số lượng “những người không chết” ấy ta đều biết rất đông đảo. Ở đây chúng tôi chỉ nói đến một vài. “Những người không chết” có mặt trong khuôn khổ tập văn này không đại diện cho những người vắng mặt kia. Cũng không phải vì họ chiếm giữ một vai trò quan trọng hơn những nhà văn, thơ khác của lịch sử. Mỗi người trong chúng tôi nói đến một nhà văn, thơ mà mình tưởng nghĩ đến nhiều nhất. Sự chọn lọc chỉ xây trên tình cảm chủ quan chân thật của mỗi người trong chúng tôi.

            Số 3 tháng sáu năm 1960: Chủ đề Những khuôn mặt đàn bà trong văn chương với lời giới thiệu rất Nguyên Sa:

            Đàn bà là mặt trời của thế giới văn chương. Nhận định này tất nhiên không đúng tuyệt đối như một công lý toán học nhưng nhất định biểu lộ được một phần sự thật. Một số đáng kể những tác phẩm lớn đã được hướng về đối tượng vĩnh cửu ấy. Những khuôn mặt đàn bà soi chiếu lên tác phẩm văn nghệ những vùng ánh sáng quả thật độc đáo. Có khi lòa chói, sôi nóng, cuồng nhiệt, giông bão. Có lúc thoải mái, tha thướt, dịu nhẹ, hiền hòa.
            Mặc Đỗ, Lý Quốc Sỉnh, Hoàng Hải Thủy, Trịnh Viết Thành, Sĩ Mộc ghi nhận những khuôn mặt cuồng nhiệt, giông bão, của những Lolita, Thôi Oanh Oanh, Chatterley, Bovary, Karénnine. Lưu Trung Khảo nhắc nhở đến Cúc Hoa hiền thục, đoan trang. Nguyễn Duy Diễn nhớ mớ tóc buồn của Mai và Nguyên Sa đôi mắt chán chường của Josée lúc nàng hai mươi nhăm tuổi.

            Số 4 tháng bảy năm 1960: Chủ đề Saigon ban đêm với lời giới thiệu:

            … Thủ đô của một thành phố bao giờ cũng hiện ra trong tâm tưởng những con người ngang dọc trên khắp các nẻo đường đất nước với hình ảnh của một viên ngọc quý. Nó chói sáng, nó có một hào quang, một sức điện hấp dẫn ghê gớm. Người trong cuộc đời quay cuồng trong không gian thành phố với những con đường lớn, nhỏ đan vào nhau, những ngôi nhà nhỏ, bé dựa vào nhau, những âm thanh, những sinh hoạt, đổi thay liên tục, cũng như người đứng nhìn thành phố ấy từ đồng ruộng, núi cao đều dành cho thành phố này những tình cảm thân yêu, sâu mạnh. Chính vì lý do đó mà tôi chọn “Sàigòn ban đêm” cho Hiện Đại 4.
            Những bài văn làm thành số báo này không phải là những bài phóng sự về ban đêm thành phố. Những người viết chỉ mượn Sàigòn ban đêm làm bối cảnh để diễn đạt những tình cảm chủ quan, những ý nghĩa riêng tư, những xúc động riêng biệt. Do đó bối cảnh không phải là thành phố cố định trong thời gian hiện tại. Có những nhắc nhở đến cuộc đời riêng tư xa cũ của mình trong cánh tay những đêm Sàigòn 53, 50… Có người nói về cuộc sống nhỏ bé của mình nằm trong cuộc sống rộng lớn, bát ngát của thành phố bây giờ.
            Hãy nhận lấy “Sàigòn ban đêm” với cặp mắt bao quát và soi thẳng.
            Hãy nhìn thẳng vào tâm tư của những người viết bằng cặp mắt bao quát thu gọn được cả những khoảng thời gian khác nhau.
            Hãy nhìn “Sàigòn ban đêm” bằng cặp mắt của tâm hồn.

Lý do tại sao Hiện Đại chết
            Với Sáng Tạo, chúng ta có thể phần nào lý do tờ báo lại chết,(2) nhưng với Hiện Đại, thật khó mà tin được. Hiện Đại không chửi bới hay làm đụng chạm ai. Hiện Đại không bị vây khốn từ tứ phía: Hết chánh quyền đến những nhóm mà Mai Thảo gọi là “bọn bảo thủ phản tiến hóa”.
            Nếu thật sự làm mất lòng thì có lẽ làm mất lòng những nhà thơ như Viên Linh, Sao Trên Rừng (tức Nguyễn Đức Sơn) mà chúng tôi sẽ đề cập sau.
            Vậy thì tại sao Hiện Đại lại chết, trong khi Hiện Đại số 9 đăng mẩu quảng cáo ở bìa trong báo hiệu một tương lai đầy lạc quan như thế này:

                        hiện đại xuân tân sửu
                        với sáng tác của hầu hết
                        các nhà văn thơ tên tuổi

                        PHÁT HÀNH NGÀY 5 THÁNG 2 – 1961
                        ● Kể từ số 12 tháng 3 – 1961, Hiện Đại sẽ phát hành ngày mồng 1 mỗi tháng


                        hiện đại số 12 tháng 3–1961
                        những mối tình lớn trong văn chương
                        PHÁT HÀNH NGÀY 1–3–1961


            Trong bài tiểu luận “Nguyên Sa: Nhà báo, nhà thơ” của Nguyễn Vy Khanh được post trên nhiều trang văn học trên net, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao:

            Tháng 4 năm 1960, Nguyên Sa đã nhận trợ cấp để ra báo Hiện Đại trong 9 tháng như chính ông đã kể: “Tôi đã là một nhà văn nhà nước. Năm 1960, tôi nhận tiền viện trợ trong chín tháng ra chín số báo. Sau đó trò chơi chấm dứt. Cùng một lúc với tôi, trong khoảng thời gian đó các tạp chí Sáng Tạo và Thế Kỷ Hai Mươi cũng tồn tại nhờ chất dưỡng khí hóa học đó”.

Hiện Đại và việc khám phá/giới thiệu những tài năng mới
            Theo Nguyên Sa, Sự hiện diện của tờ báo văn nghệ có thể bao hàm nhiều ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa phong phú nhất là sự dâng hiến một phần đất đai cho sự xuất hiện của những tài năng mới. (Hiện Đại số 1 trang 39)
            Để chứng tỏ về sự dâng hiến này, Hiện Đại số 1 dành cho Trần Thy Nhã Ca:

            Người con gái Huế xây ngôi nhà đầu tiên của thành phố tương lai ấy tên là Vân. Hãy nghe những bài nhã ca buồn và nhẹ khởi đầu.

            Sau số 1, thơ Trần Thy Nhã Ca hầu như xuất hiện thường xuyên trên Hiện Đại. Với 9 số, 7 số có thơ Trần Thy Nhã Ca!
            Hiện Đại số 2, Nguyên Sa tiếp tục giới thiệu thêm Hoang Vu, Viên Linh, Vũ Dạ Khúc.

            Phần đất dành cho một người của Hiện Đại 2 được gửi vào ba cánh tay: Hoang Vu, Viên Linh, Vũ Dạ Khúc. Bởi vì cánh tay ấy đều có những ngón buồn. Điệu buồn chung của những linh hồn nhỏ đổ vào nhau giống như những con đường heo hút chạy về một công trường sa mạc. Có phải nỗi buồn tập hợp trên mắt những người trẻ tuổi ấy phảng phất niềm đau của thế kỷ bây giờ? (N. S.)

            Rõ ràng là lối viết của một người thơ và triết đầy mình. Hai yếu tố ấy quyện lẫn vào nhau, đưa đẩy vào nhau khiến lời giới thiệu trở nên thật nồng nàn. Nhưng chắc có người sẽ không vui. Vì số 1 Hiện Đại phần đất dành cho một người trọn vẹn là Trần Thy Nhã Ca. Và số này chỉ dành cho ba cánh tay. Dĩ nhiên người và cánh tay thì khác nhau một trời một vực.
            Hiện Đại số 3 dành phần đất cho: Nguyện, Sao Trên Rừng, Tường Phong, Mai Sử Giương và Hoa Cúc Huyền.

            Chủ đích giới thiệu trong mỗi số báo một tài năng mới của chúng tôi bị phá đổ bởi số thơ đông đảo từ bốn phương gửi về. Không thể giới thiệu mỗi kỳ một thi tài được. Mặc Đỗ, Thanh Nam, Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn, đều nói lên như thế. Bởi vì sự chờ đợi sẽ trở nên đè nén, u uất với số đông. Do đó Hiện Đại trân trọng mời Nguyện, Sao Trên Rừng, Tường Phong, Mai Sử Giương và Hoa Cúc Huyền dựng xây trên mảnh đất bé hẹp này năm ngôi nhà nhỏ ấm. Và với người hoài nghi dò hỏi: sao nhiều tài năng thế? Tôi trả lời: có lẽ vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc thi sĩ. (N. S.)

            Lần giới thiệu này mang lại một người thơ được tiếng cao ngạo là Sao Trên Rừng (tức Nguyễn Đức Sơn), xem như tài năng mới, để bỏ vào trong một nhóm năm người thơ văn hỗn tạp, thì làm sao mà chàng lại không giận cho được.
            Bằng chứng?
            Kể từ số sau, không thấy bài nào của Viên Linh hay Sao Trên Rừng xuất hiện nữa.
            Trái lại, chúng ta thấy thơ Viên Linh bắt đầu xuất hiện nhiều trên Sáng Tạo (bộ mới), tục bản vào tháng 7-1960.
            Theo ý của chúng tôi, việc giới thiệu hỗn tạp, đông đảo tài năng mới này – dù là trân trọng đi nữa – là một việc làm không có tế nhị. Nó gây nhiều khó chịu cho người được giới thiệu. Nhất là người ấy là nhà thơ – hạng vẫn được xem là cao ngạo tự ái.

Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn: Hai “tài năng mới” của Hiện Đại
            Cần ghi chú ra đây: Hoang Vu là bút danh của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Mai Sử Giương là bút danh của nhà văn Nguyễn Nghiệp Nhượng. Sao trên Rừng là bút danh của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, Tường Phong là bút danh của Nguyễn Đình Niên. Bút danh này được giữ mãi không thay đổi.
            Với cách hành văn của một nhà thơ và ông thầy dạy triết, những lời giới thiệu của Nguyên Sa trên ba số Hiện Đại (số 1, 2 và 3) quả thật là nồng nàn. Nhưng sự thật không phải vậy. Có người không vui không nói ra. Có người ấm ức. Cũng có người hãnh diện.
            Người hãnh diện là Trần Thy Nhã Ca. Bởi cả phần đất giới thiệu tài năng mới của Hiện Đại dành hết cho Trần Thy Nhã Ca. Và thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện đều trên những số kế tiếp. Tuy nhiên có người mãi đến 50 năm sau, mới giải tỏa về cái huy chương “tài năng mới” một cách rõ ràng nhân cái chết của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Người ấy là Viên Linh:

            Năm 1959, trong một lúc sa xảy với nghề báo, tôi theo bạn lên dạy học tư ở Ban Mê Thuột. Rời Sài Gòn tạm một thời gian, sách vở đồ đạc nặng gửi lại nhà một đồng nghiệp, thình lình một hôm nhà giáo dạy cùng trường Bạch Ðằng đưa cho tôi xem tờ tạp chí Hiện Ðại. Trên cùng một trang báo có “bài Phượng Liên” của tôi đăng dưới bài “Mang Mang” của Hoang Vu. Tôi không gửi thơ cho Hiện Ðại, mà do người bạn nơi tôi để lại đồ đạc sách vở, đã lấy bài thơ tôi viết cho em Phượng Liên ở Huế, cũng là bạn chung, và là bạn thư từ với tôi, đưa cho nhà thơ Nguyên Sa. Như Võ Phiến nhớ đúng khi anh viết đã đọc thơ phiếm của Thần Ðăng (Ðinh Hùng) và thơ Viên Linh trên nhật báo Ngôn Luận (giai đoạn 1954-55).(3) Tới năm 1960 tôi đã có vài chục bài đăng trên các tạp chí Văn Nghệ, Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, nhưng Nguyên Sa viết như đây là những cây bút lần đầu xuất hiện, mặc dù anh có thòng một câu kiểu búa lớn: “Có phải nỗi buồn tập hợp trên mắt những người trẻ tuổi ấy phảng phất niềm đau của thế kỷ bây giờ?”(4)
            (Trích Viên Linh: Bài thơ đầu đời của Nguyễn Xuân Hoàng, NguoiViet online 24-9-2014)

            Qua lời trần tình của nhà thơ Viên Linh, chúng ta thấy ông đưa ra hai dữ kiện để chứng minh ông không phải là tài năng mới như Nguyên Sa giới thiệu:
            Thứ nhất là ông đã có thơ ở nhật báo Ngôn Luận (giai đoạn 1954, 1955).
            Thứ hai là ông có nhiều thơ trên Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ.
            Dữ kiện thứ nhất không thể chứng tỏ tài năng của Viên Linh, vì Ngôn Luận là nhật báo.
            Dữ kiện thứ hai, các bài đăng ở Sáng Tạo của Viên Linh được tìm thấy chỉ ở Sáng Tạo bộ mới (tục bản tháng 7-1960), Thế Kỷ Hai Mươi (xuất bản tháng 7-1960). Riêng Văn Nghệ chỉ có mặt vào năm 1961 trong khi đó, bài thơ “bài Phượng Liên” lại được đăng trên Hiện Đại số 2 tháng 5-1960.
            Chính nhà thơ Viên Linh cũng xác nhận về mốc thời gian của ba tạp chí mà ông đề cập, trong Nguyên Sa và tạp chí Hiện Đại. NguoiViet Online 01-4-2014:

            Hiện Ðại (Nguyên Sa Trần Bích Lan), 4-1960. Thế Kỷ Hai Mươi (Nguyễn Cao Hách & Nguyễn Khắc Hoạch), 7-1960. Sáng Tạo (Mai Thảo & Nguyễn Ðăng Quý), tục bản, 7-1960. Tạp chí Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong không được kể vào bài này vì số 1 ra đời chậm hai tháng: 2-1961.

            Riêng nhà thơ Sao Trên Rừng thì sự chia đất này làm ông “nhục nhã chưa từng thấy”. Ông phản ứng lại bằng tự quay roneo 200 bản tập thơ Những Bài Tình Đầu để chứng tỏ về sự có mặt của Sao Trên Rừng ngay từ năm 1958:

            Toàn thể 4 tập trong NHỮNG BÀI TÌNH ĐẦU đã chép tay 2 bản tháng 12/1958, một chôn ở bờ biển Nhatrang một đốt ở Saigon sau khi cố gắng kiệt lực và tuyệt vọng để in. Ngoài ra, hai năm sau, tháng 2/1962, nhờ còn bản thảo chính, để giải quyết phần nào ẩn ức, chịu đựng tất cả mọi đắng cay và nhục nhã chưa từng thấy, tác giả đã cho quay ronéo 200 cuốn một cách rất tạm bợ và dơ dáy, tạm bợ và dơ dáy như một ngôi nhà lá chiếu chăn mùng màn hôi hám ở Gò Vấp hay Ngã Ba, nơi tác giả đã từng vươn vai khỏe khoắn bước ra. Loạt viết tay và loạt quay ronéo đều ký tên tác giả từ buổi thiếu thời là SAO TRÊN RỪNG.
            (Trích Những bài tình đầu thi phẩm của Nguyễn Đức Sơn)

            Cần ghi nhận ra đây là sau số được giới thiệu, tất cả nhà thơ “tài năng mới” – trừ Trần Thy Nhã Ca, không thấy thơ họ xuất hiện trên Hiện Đại.
            Có lẽ gặp phản ứng không thuận lợi, nên kể từ số 4 trở đi, không còn thấy mục giới thiệu những tài năng mới xuất hiện trên Hiện Đại nữa.
            Theo ý kiến của chúng tôi, việc làm của nhà thơ Nguyên Sa không tế nhị chút nào. Ông không hiểu nỗi tự ái, cao ngạo của nhà thơ là to lớn như thế nào. Không thể gom một số người đông đảo để chia đất, để ví như những cánh tay trong khi ông lại dành nguyên cả thửa vườn thênh thang cho Trần Thy Nhã Ca.
            Mặt khác, đây cũng là một bài học sau này cho nhà thơ Viên Linh. Những tạp chí như Nghệ Thuật, Khởi Hành, Thời Tập, ông đã tránh được điều này, khi dành tất cả sự trân trọng cho những người mà ông giới thiệu. Ví dụ Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định, Cao Huy Khanh, Chóe…
            Ngay cả bản thân tôi, với đoản văn Mưa Đầu Mùa đăng trên Khởi Hành, thay vì Trần Hoài Thư, Khởi Hành lại in: Trần Mai Thi. Tôi không một lời than phiền. Dù vậy ông cũng đã tự động xin lỗi trong phần nhắn tin số tới.
            Để giúp quí bạn đọc có thể thưởng ngoạn, thẩm định và hiểu rõ tại sao hai nhà thơ Viên Linh và Nguyễn Đức Sơn lại bất mãn, chúng tôi đã sưu tập và đánh máy hết tất cả những bài thơ do Hiện Đại giới thiệu và đăng trong phần “trích thơ văn Hiện Đại”.

Hiện tượng sinh hoạt văn học miền Nam năm 1960
            Tôi còn nửa tiếng đồng hồ để viết. Tôi muốn chộp ngay ý nghĩ về một hiện tượng trong sinh hoạt văn nghệ của miền Nam vào năm 1960. Vâng, chỉ năm 1960. Đó là năm mà ba tờ báo văn học thuần túy ra đời. Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương ra đời vào tháng 4-1960. Sáng Tạo (Bộ mới) tục bản vào tháng 7-1960 và Thế Kỷ Hai Mươi ra đời cũng tháng 7-1960.
            Một câu hỏi: Có phải sự ra đời là một dấu hiệu tốt, một tín hiệu mừng cho nền văn học nghệ thuật miền Nam? Một tạp chí văn học ra đời đã là một kỳ công, còn ở đây ba tạp chí. Mà nội dung thì khó thu hút quần chúng. Bởi lẽ bài vở nặng ký, chỉ dành cho một thành phần nào đó.
            Tôi tự hỏi. Và trả lời bằng suy nghĩ. Nhưng trước khi suy nghĩ cần phải tìm hiểu.
            Thứ nhất, nếu là một tin mừng thì phải có độc giả đón nhận. Chẳng lẽ treo vòng hoa Good news ở cái cửa không bóng người hay trong nhà lèo tèo mấy người cầm ly chúc tụng. Tin mừng, tín hiệu tốt phải được kèm bởi những tập tạp chí ấy có mặt ở trong tủ sách, ngăn sách. Phải có nhiều người viết về chúng. Đằng này chẳng một ai. Nếu có chỉ là một hồi ức hời hợt, nhớ đâu viết đó.
            À, thêm một câu hỏi nữa, tại sao cả ba lại chết sớm. Sáng Tạo (bộ mới) chỉ có mặt được 7 số. Hiện Đại được 9 số. Thế Kỷ 20 được 6 số. Quá ít.
            Và đây là lý do tại sao chúng chết:
            Trong bài tiểu luận “Nguyên sa: Nhà báo, nhà thơ” của Nguyễn Vy Khanh được post trên nhiều trang văn học trên NET, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao:

            Tháng 4 năm 1960, Nguyên Sa đã nhận trợ cấp để ra báo Hiện Đại trong 9 tháng như chính ông đã kể: “Tôi đã là một nhà văn nhà nước. Năm 1960, tôi nhận tiền viện trợ trong chín tháng ra chín số báo. Sau đó trò chơi chấm dứt. Cùng một lúc với tôi, trong khoảng thời gian đó, các tạp chí Sáng Tạo và Thế Kỷ Hai Mươi cũng tồn tại nhờ chất dưỡng khí hoá học đó.”

            Thì ra thế.
            Có tiền mua tiên
            Không tiền bó tay.
            Còn Thư Quán Bản Thảo này?
            Sáng nay tôi lái xe đến nhà của một vợ chồng người Mỹ gốc Tàu để mua 6 thùng giấy với giá thật rẻ. Mỗi thùng 10 ream. Vị chi tôi có tất cả 60 ream giấy, đủ cho Thư Quán Bản Thảo kỳ này.
            Tôi đã post một loạt bài Tẩy trần, mục đích là muốn mình nhẹ tênh, rũ nợ, cớ sao tôi lại lặn lội mua giấy, để phải còng cả lưng thở hào hển vì mang chúng quá nặng? Trong khi cô chủ Tàu thương hại trước khi tôi từ giã, nói: Ông có điện thoại email chúng tôi chứ. Ông cần chúng tôi giúp ông thì cứ gọi. Chúng tôi đến ngay. Ông nên nhớ là ông ở một mình, không ai chăm sóc ông.
            Trời ơi, câu nói làm tôi muốn rơi lệ.
            Nhưng mà, lúc này – lúc mà tôi xem như cạn khô hy vọng, chán nản tột cùng. May mà còn những thùng giấy này. Chúng cứu tôi.
            Và đó cũng là lý do tại sao Thư Quán Bản Thảo lại sống đến năm thứ 15, không một trang quảng cáo, chỉ in để biếu tặng.
            Tại sao?
            Vì nó có hậu thuẫn của độc giả.


TRẦN HOÀI THƯ
2015
______________________________________
(1) Xin mời đọc ở phần: “Thơ văn Hiện Đại” với tất cả bài thơ của Nguyên Sa, Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn do chúng tôi sưu tầm và đánh máy lại từ bản gốc.
(2) Xin mời đọc Thư quán Bản thảo số đặc biệt về Sáng Tạo.
(3) Võ Phiến, Văn học miền Nam, tổng quan, Văn Nghệ 1986, tr. 180.
(4) Nguyên Sa, tạp chí Hiện Ðại số 2, 5-1960, tr. 102.



₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪

Cung chúc tân xuân  ₪ Xuân Đinh Dậu     Cung chúc tân xuân  ₪ Xuân Đinh Dậu     Cung chúc tân xuân  ₪ Xuân Đinh Dậu

₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪ ₪₪₪


« Sửa lần cuối: 21/01/2017, 19:26:02 gửi bởi nduytai »