Tác giả Chủ đề: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa  (Đã xem 5902 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #30 vào: 17/11/2016, 23:53:23 »

BA CÁNH TAY

PHẦN ĐẤT DÀNH CHO một người của Hiện Đại 2 được gửi vào ba cánh tay: Hoang Vu, Viên Linh, Vũ Dạ Khúc. Bởi vì cánh tay ấy đều có những ngón buồn. Điệu buồn chung của những linh hồn nhỏ đổ vào nhau giống như những con đường heo hút chạy về một công trường sa mạc. Có phải nỗi buồn tập hợp trên mắt những người trẻ tuổi ấy phảng phất niềm đau của thế kỷ bây giờ?
NGUYÊN SA




Mang mang

từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường
mùa sương phố núi mù sương
nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
chuyện linh hồn với bản thân
bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao
đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa
bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi.


                           HOANG VU




Bài phượng liên

anh đi hồn tiếc thương nhiều
ngọn soan thưa lấp bóng chiều cuối sân
nẻo sầu đôi dạ phân vân
nửa thân yên ngựa nửa thân tay mình
có hoài tuổi dại không em
trời không dáng đỏ thu phiền không gian
mắt em đầy mộng điêu tàn
yên nghe ván ấy xuôi tràng gian xa
thôi cồn với tháp bao la
ngựa đi bước nhỏ mây là cửa ô
mai quen với dạ bơ thờ
đã nghe lãng đãng sương mờ nhớ nhau
thôi còn giấc ngủ đêm thâu
một hành lang rộng vây sầu phượng liên


                           VIÊN LINH




Thú tội

Sao đêm xanh, sao đêm xanh huyền hoặc
Rừng đêm sâu trầm xõa tóc ngây cười
Rừng đêm nào vô dáng dấp xinh tươi
Cho ho ra những lời đen xấu số
Trăng đêm mù không bao giờ run sợ
Giữa nửa đêm nằm xác chết lên hơi
Đập niềm đau nâng nát ngực tơi bời
Hơi thở khó như những lời thú tội
Người con gái chưa bao giờ biết hối
Xiết bàn tay đầy móng nhọn sơn son
Mặt hoa kia say rượu chết chưa tròn
Những nhát búa lạc chiều tay quằn quại
Bước em đi không bao giờ gọi lại
Sau đó mình lên Cravatte mầu đen
Đên lại ho, đêm chất sác bên đèn
Lưng ngõ hẻm không tên chìm cuối phố
Em đừng lại bóp mềm tay hơi thở
Vì người yêu đâm loạn xạ người yêu
Em đâm anh tay móng đỏ yêu kiều
Để buồn gọi tên mình hoang dồ dại
Để anh là loài sơn dương giống cái
Tay song song quằn quại xuống trầm đêm
Đừng lại em dù tiếng nói em mềm
Cho thổ máu buồn ho lên nát mặt
Mưa rét mướt thư mùa thu cát nát
Ảnh hình em chạy trốn giữa tay anh
Chân đi hoang sầu đến chẵn tay mình
Không đánh thức ngây thơ chìm giấc ngủ
Người đối thoại không bao giờ tha thứ
Em khôn ngoan đi rửa tội giáo đường
Sáng mùa xuân em vui bước chân chim
Cho khói thuốc đốt người yêu tóc xõa
Thời gian buồn cửa linh hồn xa lạ…
Gọi âm thầm khuya lánh nẻo bờ sông
Nhìn vào em xa lạ chất thành chồng
Làm thơ sống ngã dài từ hạnh phúc
Em đi ngay nhạc buồn anh chọn lọc
Chân xoay ngang vướng víu cửa tình yêu
Đừng gõ cửa anh trời gió lên diều
Vì khi đó cửa nhà anh khép kín
Anh nhìn tay em: trần truồng bịn rịn
Và nhạc buồn Nocturne vỡ mùa thu
Em đi ngang hiện diện mặt hiền từ
Trầm đêm lạnh vòng tay tha thứ hết
Anh hết ho và không bao giờ chết
Hồn bay cao nghe đứng dựng thương em
Cho phép em về – chân ráng cho êm
Môi hấp hối chờ trán em kỳ thú.


                           VŨ DẠ KHÚC



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #31 vào: 17/11/2016, 23:55:30 »

TÁI BẢN SÁCH

TRONG KHI TỔNG SỐ SÁCH XUẤT BẢN hằng năm ở ta so sánh không bằng tổng số hằng tháng ở ngoại quốc kể cả các quốc gia mà dân số không cao hơn ta bao nhiêu, có thêm một cuốn sách bày bán đã là một điều đáng quý rồi. Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng về lượng và không nhìn rõ vào căn bệnh nghèo nàn sách vở hiện thời cũng là một sự sơ xuất đáng quan tâm. Sự kiện gần đây có mấy nhà thơ đem tái bản tác phẩm đã xuất bản từ thời tiền chiến là một triệu chứng đáng buồn trong văn chương cũng như trong ngành xuất bản.
            Tái bản những tác phẩm đã xuất bản là một công việc rất thường ở đâu người ta cũng đều làm cả. Nếu nhu cầu trên thị trường đòi hỏi, nhà xuất bản nào cũng phải nghĩ tới tái bản những sách đã bán hết cho kỳ ấn hành trước. Tái bản sách có lợi cho nhà xuất bản vì cung cấp được thêm số sách cần thiết cho độc giả. Tái bản sách có lợi cho các tác giả vì được nhận thêm một số tiền bản quyền mới. Tái bản sách có lợi cho sinh hoạt văn hóa chung vì tư tưởng chứa trong sách có dịp phổ biến rộng hơn nữa. Những điều lợi đó, ở đâu người ta cũng đều nhận thấy và không ai đặt việc tái bản thành một vấn đề. Nhất là ở các nước dân số đông, tái bản sách dưới một hình thức phổ thông bán rẻ tiền (chẳng hạn những loại sách bỏ túi bìa láng) là một việc mà hết thảy mọi người đều hoan nghênh, trước hết là các tác giả.
            Ở ta, thuở nay các nhà xuất bản vẫn thỉnh thoảng cho tái bản một số sách. Mỗi kỳ tựu trường, những sách giáo khoa có giá trị, thiết dụng cho học sinh, đều được tái bản. Những tác phẩm văn chương của Tự Lực Văn Đoàn và một số nhà xuất bản khác thời tiền chiến cũng đã được tái bản nhiều lần. Trong số đó gồm nhiều tác phẩm của những nhà văn đã quá cố. Tình trạng này không khiến cho ai thắc mắc và không thể coi là có phương hại cho tiền đồ văn chương và xuất bản ở ta. Trường hợp mấy tập thơ cũ vừa in lại hoàn toàn khác hẳn vì nhiều lẽ.
            Vấn đề được đặt ra trước hết vì hiện tình nghèo nàn của ngành xuất bản. Nhìn vào bản thống kê chính thức nhân cuộc triễn lãm sách mới đây, ta nhận thấy rõ rệt sự xuống dốc của hoạt động xuất bản. Để ra ngoài những sách thuộc loại khảo cứu và giáo khoa, những con số thống kê bày rõ sự kém cỏi về những loại sách có tính cách thuần túy văn chương, 1954 có tới 120 cuốn tiểu thuyết được xuất bản sang năm 1959 con số tụt xuống còn có 52 cuốn. Chẳng cần phải chứng minh ai cũng nhìn nhận rằng tiền đồ văn hóa của một nước căn cứ ở những sách vở in ra với tính cách nhân chứng, chẳng hạn những sáng tác phẩm chứa đựng những tư tưởng, tình cảm của thời đại. Thiếu những sáng tác phẩm trên thị trường văn hóa, người đứng ngoài quan sát có thể hiểu rằng nền văn hóa của ta đang ngủ say. Ngủ say vì thiếu năng lực tác động trước cuộc diễn hành của lịch sử, ngủ say vì thờ ơ trước cuộc sinh hoạt của số đông, ngủ say cũng có thể vì không có hoàn cảnh để phát huy, phổ biến những nung nấu trong tim óc những người sáng tạo. Giữa tình trạng ngủ say đó, đem tung vào thị trường một số ấn phẩm vào loại “bổn cũ soạn lại” tức là chứng minh hùng hồn tình trạng nghèo nàn của mình.
            Nhìn vào cương vị của những tác giả có can đảm giữa tình trạng hiện thời mà đặt nhiều tha thiết vào việc khai sinh lại cho đứa con lớn càng đáng buồn biết bao! Tha thiết, vì mấy cuốn thơ mới tái bản chứng tỏ sự cố ý “làm mới lại” một tác phẩm cũ. Về nội dung, có những bài, những câu thơ được gọt sửa lại. Đã đành rằng tác giả có quyền tu chỉnh lại tác phẩm của mình nhân mỗi ấn bản. Nhưng những người yêu văn chương cũng có quyền trông đợi ở các tác giả nhiều sáng tác phẩm mới mẻ xuất bản liên tiếp sau tác phẩm cũ. Đằng đẵng hằng chục năm có lẽ không có được một tác phẩm mới nào chứng minh sự tiến triển theo thời gian và tuổi tác của tài năng đã hứa hẹn do tác phẩm cũ, thức giả không thể dừng không nghĩ rằng tác giả đã cùn đến độ chỉ sao tẩm lại được những tác phẩm cũ mà thôi. Sự ngộ nhận, nếu có, càng không thể tránh khi thấy tác giả đặt quá nhiều chi chút vào việc trình bày hình thức của tác phẩm tái sinh. Trên địa hạt văn chương, nghệ thuật, có một định lệ bất di bất dịch: không tiến tức là bắt đầu thoái bộ. Không ai có thể ý niệm nổi tình trạng một nhà văn ngồi ỳ ra đó mà cứ nhận rằng mình vẫn sống, và mình có tiến. Chỉ có tác phẩm là đo được mức tiến hay thoái của con đường nghệ thuật.
            Cũng như Nguyên Sa đã nhận định trong Hiện Đại trước, chúng tôi không tin rằng có tình trạng ngủ say trong nền văn hóa hiện thời bởi lẽ những người phụng sự văn nghệ đang ngủ say. Có nhiều lý do ngoài ý muốn của họ khiến cho quang cảnh thị trường văn hóa hiện giờ tẻ nhạt. Ai nấy, những người sáng tạo cũng như những người thưởng thức, đều mong rằng mai ngày sẽ có một cuộc sinh hoạt văn nghệ rầm rộ. Trong sự mong ước đó, một phần rất lớn hướng về những nhà văn, nhà thơ đã có thành tích, hiện giờ ngủ say, nhưng có lẽ sẵn sàng tung ra ánh sáng những châu ngọc âm thầm mài rũa. Chỉ có những tác phẩm mới đó mới chứng tỏ rằng được sự ngộ nhận hôm nay chỉ là ngộ nhận. Không có những tác phẩm mới và xứng đáng, các tác giả cũ sẽ phụ sự chờ mong của số đông, nhất là của những người trẻ tuổi đang hy vọng bước lên con đường hào quang rực rỡ tác phẩm.


SĨ MỘC



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #32 vào: 17/11/2016, 23:56:56 »

ĐỌC “KÝ THÁC”* CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC

Ở BÌNH NGUYÊN LỘC có một đức tính mà nhiều người – độc giả cũng như bạn cùng nghề – thường nhắc tới: Bình Nguyên Lộc rất đáng yêu. Đọc văn của ông người ta không bị đẩy tới những cuộc va chạm năng nề. Va chạm vì những hoàn cảnh bày ra trong truyện cũng như vì những tâm lý, tư tưởng do ngòi bút của tác giả. Đọc văn Bình Nguyên Lộc người ta có thể lây chuyện buồn, người ta có thể nực cười vì một vài nhân vật, người ta có thể tiếc thương cái gì đã mất… Nhưng không bao giờ người ta phát giận, giận đời hay giận tác giả.
            Đến “Ký thác” cái nết đáng yêu lại càng bộc lộ. Quả thật “Ký thác” đáng yêu ngay từ ngoài bìa. Tôi không nói tới nét vẽ của họa sĩ, tôi muốn nói đến cái tình ý của Bình Nguyên Lộc, khi chọn tựa sách cũng như khi nhờ họa sĩ phô diễn chủ tâm của mình chứa đựng trong mười sáu tân truyện. Bao nhiêu tâm sự để ngỏ trên hai bàn tay, làm sao chúng ta không dễ dàng đón nhận sự gửi gấm đó được.
            Chúng ta hãy bước vào cái thế giới dào dạt của Bình Nguyên Lộc. Qua “Ký thác” những ngọn sóng trong tâm tư của tác giả nguyên do không ngoài ý yêu đời, yêu vô điều kiện, cho nên buồn khi thấy cái đẹp qua đi hay thấy cái xấu cũng nằm ngang hàng cái đẹp. Đối với Bình Nguyên Lộc, Thiện hay Ác cũng chỉ là những yếu tố của cuộc đời trước mắt mà ông yêu không trả giá. Yêu “y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua tộ nước rộng hũ đường để làm cầu cho bạn đi sau vào đến nơi có chất ngọt”.(1) Bình Nguyên Lộc không bận với những vấn đề, hãy cứ tin đi đã, đắng cay biết đâu không chỉ vì không biết tìm ra chất ngọt.
            Bởi tác giả muốn nằm gọn giữa cuộc đời đáng yêu, ranh giới suy tư của Bình Nguyên Lộc lấy chính cuộc đời làm căn cứ. Một thế giới như của Thành với hòn non bộ và những cây tùng chỉ có thể là một hiện tượng của mặc cảm thất bại.(2) Điều đó chưa hẳn là đúng. Đi sâu thêm chút nữa vào siêu hình, những bịn rịn của Bình Nguyên Lộc với cuộc đời đáng yêu đã khiến ông mất thăng bằng. Đó là điểm đáng chê. Nếu chỉ nhìn cái thế giới ở hai bên bờ sông Hằng, từ ngọn suối xa cho tới cửa biển, qua một vài ảo thuật của thày Mười Sáng và để cho một câu nói tầm thường của Vinh đánh đổ cả một lâu đài nhận thức, thật là một sự quá tạo bạo vậy.(3)
            Tuy nhiên nếu trách Bình Nguyên Lộc xâm lăng thế giới siêu hình, người khác có thể trách Bình Nguyên Lộc tại sao không làm cho họ nổi giận, vì quả thật có những độc giả đi tìm sự nổi giận, để mà yêu những tác giả bị đời liệt vào loại đáng ghét. Cuộc cải vã như vậy sẽ kéo dài và chúng ta sẽ thụ bao nhiêu sự “ký thác” của Bình Nguyên Lộc. Ông đã yêu, yêu ham, yêu say, yêu vô điều kiện, và muốn chúng ta cũng thấm cái triết lý tin yêu đó. Tại sao ta không thể cũng yêu như Á Lìn(4) yêu miếng cơm cho đến chết?


SĨ MỘC
________________________________________________
* Bến Nghé xuất bản.
(1) Rừng Mắm, tr. 31.
(2) Kẻ chiến bại, tr. 150.
(3) Nắng chiều, tr. 191.
(4) Tôi đồng ý với Bình Nguyên Lộc không nhận chữ f. Nhưng tại sao Bình Nguyên Lộc lại viết Lìl? Quên mất hồn ma cũ rồi sao? (Đọc “Ăn cơm chưa” và “Hồn ma cũ”).


« Sửa lần cuối: 18/11/2016, 06:07:45 gửi bởi nduytai »
 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #33 vào: 18/11/2016, 05:26:14 »
Hiện Đại | Số 3  [tháng sáu/1960 | 112 trang]
                              NHỮNG KHUÔN MẶT ĐÀN BÀ TRONG VĂN CHƯƠNG
MỤC LỤC
° NHỮNG KHUÔN MẶT ĐÀN BÀ TRONG VĂN CHƯƠNG:
        MẶC ĐỖ |  LOLITA, ISEULT THỜI BÁC SĨ KINSEY |  1
        LÝ QUỐC SỈNH |  NHAN SẮC OANH OANH |  7
        NGUYỄN DUY DIỄN |  MAI, MỘT NHÂN VẬT KHẢ ÁI CỦA KHÁI HƯNG |  15
        SĨ MỘC |  ANNA KARÉNINE, KẺ TÌNH NHÂN CÔ ĐỘC |  21
        LƯU TRUNG KHẢO |  CÚC HOA |  25
        HOÀNG HẢI THỦY |  3 NÀNG CONSTANCE CHATTERLEY |  28
        TRỊNH VIẾT THÀNH |  EMMA BOVARY, MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ |  31
        NGUYÊN SA |  JOSÉE BUỒN |  40
° NĂM CÁNH TAY:
        NGUYỆN |  ÚP MẶT (thơ) |  45
        SAO TRÊN RỪNG |  DỊU VỢI (thơ) |  46
        TƯỜNG PHONG |  KÝ THÁC (thơ) |  46
        MAI SỬ GIƯƠNG |  Ý NGHĨ (thơ) |  47
        HOA CÚC HUYỀN |  ĐÊM SAO (thơ) |  48
° SÁNG TÁC:
        MẶC THU |  CÁI GIƯỜNG |  49
        TÔ KIỀU NGÂN |  SẮC MÀU |  53
        ĐINH HÙNG |  GẶP NHAU LẦN CUỐI (thơ) |  57
        HOÀNG ANH TUẤN |  M. (thơ) |  58
        THÁI THỦY |  CHUYỆN ĐAU THẦM (thơ) |  59
        NGUYỄN DUY DIỄN |  LƯU LUYẾN (thơ) |  61
        TRẦN THY NHÃ CA |  DỌC ĐƯỜNG (thơ) |  61
        HOÀNG ANH TUẤN |  CÁI TÁT |  62
        SONG LINH |  THỨC GIẤC NỬA KHUYA |  70
        DOÃN QUỐC SỸ |  CON CHUỘT CHÙ |  80
        TẠ TỴ |  VẾT THƯƠNG |  88
        THANH NAM |  BẾN ĐÒ |  96
° NHÌN BẢY CHÂN TRỜI:
        LÝ TỨ |  PASTERNAK CHẾT RỒI |  104
        SĨ MỘC |  VĂN NGHỆ CÓ CỌC |  105
        HUYỀN PHỤNG |  ĐỌC “NHỮNG VÌ SAO LẠC” CỦA NHẬT TIẾN |  107
        HOÀI NGỌC |  “MÙA CỔ ĐIỂN” CỦA QUÁCH TẤN |  108



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #34 vào: 18/11/2016, 05:37:33 »

Khuôn mặt thời gian

“HÃY GHI NHẬN trong khuôn khổ trang bìa sau mang tên “khuôn mặt thời gian” những sinh hoạt, sự kiện nào tạo được ở nơi anh sự chú ý, thích thú xúc động lớn, nhỏ trong khoảng thời gian một tháng”. Anh em tòa soạn Hiện Đại bảo tôi như thế. Tôi nhận lấy trách nhiệm đè nén này với niềm hoang mang sa mạc. Lịch sử trong những giờ phút của thế kỷ này, đi bằng những bước chân khổng lồ. Làm thế nào chạy đuổi được bằng những bước chân mang kích thước 15x24 của trang bìa? “Hãy để ở đấy những nhận định chủ quan nhỏ bé của một con người chiếm đóng một vị trí cố định trong cuộc đời văn nghệ rộng lớn”. Ý nghĩ và niềm an ủi này là hành lý đưa tôi khởi đầu vào cuộc hành trình lớn dẫn đến những đường nét của “khuôn mặt thời gian”.
            Tháng sáu ấy đã vụt qua với những ngón chân của người đàn bà bạc tình trốn chạy. Nó để lại ấn tượng gì? Vết chân nó ở đâu? Trong chuyến khởi đầu vội vã niềm xúc động giông bão chỉ vẽ ra trong mắt tâm hồn tôi những nét mờ nhạt. Tôi nghĩ đến không khí xôn xao ở chung quanh mà tôi gọi là “không khí văn nghệ tháng sáu”. Có những tờ tạp chí, tuần báo văn nghệ chuẩn bị ra đời. Một người bạn tin yêu thông tri cho tôi sự bừng dậy ấy nói với tôi một lời khen tặng: “Hiện Đại đã chiếm giữ vai trò quan trọng của sự sinh hoạt văn nghệ đột nhiên tưng bừng đó. Nó đã làm nhiệm vụ của ngọn roi kích thích. Nhiều tờ báo đặt Hiện Đại làm đối tượng để vươn tới, vượt lên”. Tôi ghi nhận sự sinh hoạt đột nhiên lớn mạnh của cuộc đời văn nghệ hiện tại. Tôi không biết chiếc đũa thần mầu nhiệm nào đã thổi vào mạch máu văn nghệ sức điện bén nhậy, sinh khí trong ấy nhưng tôi cho rằng nếu Hiện Đại có dự phần vào việc phát động không khí vui ấy thì phần nó tham dự cũng chỉ vô cùng nhỏ bé! Tất cả ý nghĩ hiện tại của tôi về những tờ báo đang chuẩn bị hoặc đã xuất hiện ấy là niềm ao ước thành khẩn: Hãy chuẩn bị cho thật ráo riết, hãy xuất hiện cho thật sáng chói, hãy xuất hiện cho thật đông đảo. Thiếu sự làm việc say mạnh, sự sáng chói bừng bừng, sự họp mặt vô số của những tờ báo khác. Hiện Đại có thể rơi vào chỗ hoen rỉ, ươn lười, tự mãn, rơi vào tình trạng mà cổ nhân gọi là “múa gậy vườn hoang”. Và tôi gọi là “mặc cảm độc chiếm văn đàn”, “mặc cảm tạp chí văn nghệ duy nhất”.
            Nói về không khí văn nghệ lập tức tôi sống trong sự xúc động của một người nhấp ly rượu mạnh. Cảm hứng đột nhiên đến.
            Vô số sự kiện văn nghệ khác đột nhiên xuất hiện. Chẳng hạn như bản thảo Buồn Ga Nhỏ của Thanh Nam mà tôi đã say mê đêm hôm qua. Tôi nghĩ đến một tác giả Pháp đã viết: Một tác phẩm chỉ đáng được viết ra nếu nó có tác dụng chuyển đổi đến được tận đáy sâu người viết và người đọc. Buồn Ga Nhỏ đã gây nơi tôi tác dụng ấy. Cặp mắt nhìn vào cuộc đời với những ánh sáng kinh thành, những âm thanh lớn, những sinh hoạt vội của thế kỷ tốc độ sẽ không nhìn thấy khuôn mặt thực sự nhất của cuộc đời. Cặp mắt nhìn vào cuộc đời qua những đèn hoa đại lộ, nhịp xe là cặp mắt nhìn xuống mặt biển từ không trung cao. Chỉ thấy một mặt biển với những nếp răn bất động. Không thể thấy được sự chuyển đổi muôn màu của từng lớp sóng nhỏ, bọt trắng đẩy xô nhau, những sợi cát vàng trong nắng. Phải đi vào đấy, vào những đèo cao, lũng sâu, cánh đồng sa mạc, bến đò sông vắng, người đàn bà cô đơn, cánh tay gầy bé nhỏ. Phải đi vào những ga nhỏ bé nhất với những nỗi buồn nhỏ bé của chúng mới nhìn thấy được những nét đều đặn mà sống động nhất, âm ỷ mà lớn mạnh nhất của cuộc đời. Đấy là ý nghĩ mà Buồn Ga Nhỏ đã ném vào tôi. Với những ý nghĩ ấy tôi sẽ viết tựa tác phẩm này trong những đêm sắp tới.


NGUYÊN SA



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #35 vào: 18/11/2016, 06:01:52 »

NHỮNG KHUÔN MẶT ĐÀN BÀ TRONG VĂN CHƯƠNG

Đàn bà là mặt trời của thế giới văn chương. Nhận định này tất nhiên không đúng tuyệt đối như một công lý toán học nhưng nhất định biểu lộ được một phần sự thật. Một số đáng kể những tác phẩm lớn đã được hướng về đối tượng vĩnh cửu ấy. Những khuôn mặt đàn bà soi chiếu lên tác phẩm văn nghệ những vùng ánh sáng quả thật độc đáo. Có khi lòa chói, sôi nóng, cuồng nhiệt, giông bão. Có lúc thoải mái, tha thướt, dịu nhẹ, hiền hòa.
            Mặc Đỗ, Lý Quốc Sỉnh, Hoàng Hải Thủy, Trịnh Viết Thành, Sĩ Mộc ghi nhận những khuôn mặt cuồng nhiệt, giông bão, của những Lolita, Thôi Oanh Oanh, Chatterley, Bovary, Karénnine. Lưu Trung Khảo nhắc nhở đến Cúc Hoa hiền thục, đoan trang. Nguyễn Duy Diễn nhớ mớ tóc buồn của Mai và Nguyên Sa đôi mắt chán chường của Josée lúc nàng hai mươi nhăm tuổi.
HIỆN ĐẠI

CÚC HOA

CÚC HOA là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết văn vần rất được phổ thông trong giới bình dân Việt Nam: Phạm Công Cúc Hoa. Khác với những nhân vật tiểu thuyết có một đời sống tâm lý sâu sắc trong kho tiểu thuyết văn nôm cổ – Phượng Hoa, Giáng Kiều, Thúy Kiều – Cúc Hoa sống một cuộc sống bình dị như hầu hết phụ nữ Việt Nam.
            Nàng là ái nữ độc nhất của một ông quan Tri phủ hồi hưu. Được cha mẹ cho theo đòi nghiên bút ở trường thầy Quỷ Cốc, nàng đã áp đảo toàn thể sĩ tử trong trường. Thấy Phạm Công nghèo khó và có chí, nàng động lòng thương xót và thường chu cấp cho chàng. Không bao lâu tình thương đổi ra tình yêu. Cúc Hoa vì nhớ người yêu nhan sắc tiều tụy hình dung khô héo rồi lâm bệnh. Ông bà Tri phủ sau khi đã rõ căn bệnh của con, cho mời Phạm Công tới để gả con cho chàng. Sính lễ không đủ, Cúc Hoa lén lấy của riêng đưa cho Phạm Công để chu toàn hôn lễ. Về nhà chồng, nàng đã làm trọn bổn phận của người vợ thảo, dâu hiền (Phạm Công còn có mẹ già). Mẹ chồng chết, nàng lo toan tang ma cho mẹ chồng đầy đủ. Gặp kỳ thi, Phạm Công lên đường dự thí. Nhà nghèo, còn được sáu đồng tiền, vợ chồng chia nhau mỗi người một nửa. Cho đến:
                        Có một cái áo lụa sa.
                        Bỏ vào, quăng lại đến ba bốn lần
.
            Cuối cùng:
                        Cúc Hoa bèn cắt làm hai,
                        Phạm Công lấy nửa, bi ai thêm phiền
.
            Khoa ấy, Phạm Công đỗ Trạng nguyên. Nhà vua thấy chàng trẻ tuổi tài cao muốn kén chàng làm phò mã. Nghĩ đến người vợ còn đang hoài thai ở nhà Phạm Công từ chối. Chàng bị đày sang đất Hung Nô. Vua Hung Nô mở khoa thi. Phạm Công ứng thí và lần này chàng cũng đậu Trạng nguyên. Vua Hung Nô toan gả công chúa cho. Ông Trạng nguyên họ Phạm lại từ chối. Bị bẽ mặt:
                        Hung Nô nồi trận lôi đình,
                        Dạy đem quan Trạng hành hình cho ta
.
            Mặc dù bị chặt tay, khoét mắt, đục răng, Phạm Công vẫn không biến tiết đổi lòng. Nỗi oan thấu tới thiên đình. Ngọc hoàng Thượng đế sai linh tướng đem thiên dược xuống chữa cho chàng được lành như cũ. Trên đường về, qua nước Ban Châu, gặp kỳ thi, Phạm Công lại vào ứng thí và cũng như hai lần trước, chàng đậu Trạng nguyên, rồi được nhà vua ngỏ ý kén làm phò mã. Cũng như hai lần trước, chàng cương quyết chối từ. Nhà vua nổi giận toan làm tội, nhưng công chúa cảm phục vì lòng chính trực và chung thủy của chàng đã xin với vua cha xá tội cho. Phạm Công được ban mũ áo cho về vinh quy bái tổ.
            Vợ chồng tái hợp với nhau được ít lâu thì Cúc Hoa qua đời, để lại cho chồng hai đứa con thơ: Tiến Lực (trai) và Nghi Xuân (gái). Trong khi đó biên thùy rung chuyển vì giặc Sầm Hưng. Nhà vua đòi Phạm Công về triều mang quân tiễu loạn. Phạm Công, vai mang hòm cốt Cúc Hoa, tay bồng Nghi Xuân, Tiến Lực, mà ra trận. Sầm Hưng thấy cảnh đó phải động lòng, tự tay chặt đầu mình(1) dâng cho Phạm Công rồi bãi binh.
            Cúc Hoa tuy đã qua đời, nhưng nàng vẫn hiện hồn về trông nom săn sóc cho chồng con. Thấy chồng gà trống nuôi con. Cúc Hoa báo mộng khuyên chồng nên kiếm một người vợ kế – Tào Thị – để trông nom nhà cửa. Được ba năm, nhân đất Cao Bằng có loạn, nhà vua lại cử Phạm Công đi trấn giữ. Tào Thị ở nhà lộng hành hành hạ Nghi Xuân, Tiến Lực đủ điều:
                        Bắt con đốn củi, hái rau,
                        Chăn gà, chăn vịt, ốm đau chau mày
.
            Nghi Xuân, Tiến Lực chịu không nổi bỏ nhà ra đi. Cúc Hoa hiện lên ôm hai con mà khóc. Nàng lấy giấy phủ mặt, cắn máu ngón tay viết cho chồng một bức tâm thư, rồi buộc vào giải áo của con. Từ đó, Nghi Xuân, Tiến Lực, lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu, xin ăn lần hồi để tìm đến Cao Bằng, nơi Phạm Công đóng bản doanh. Một ngày kia, hai đứa trẻ đến đúng bản doanh của Phạm Công để xin ăn. Phạm Công vẫn chưa biết là con mình sai lính mang cơm cho hai đứa trẻ. Trước khi ăn, Nghi Xuân và Tiến Lực bưng bát cơm lên đầu mà khấn mẹ:
                        Mẹ ơi! Mẹ hỡi! Cúc Hoa!
                        Khôn thiêng về hưởng cơm hòa cùng con
.
            Thấy sự lạ, Phạm Công bèn hỏi quê quán và cha mẹ của chúng. Nghi Xuân, Tiến Lực kể lể nguồn cơn và đệ trình lên Phạm Công bức thư của Cúc Hoa. Chừng đó, ông mới hay, hai đứa trẻ ăn mày đó chính là con ruột của ông. Sứ mệnh đã hoàn tất, Phạm Công trở về quyết tâm đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm Cúc Hoa. Công chúa Xuân Dung, cảm cái nghĩa “tao khang chi thê” của chàng, tình nguyện ngồi canh thi thể và chiếu kính cho chàng. Qua bao gian nan nguy hiểm ở chốn âm cung: gặp quỷ sứ, gặp yêu tinh, gặp mãng xà, Phạm Công tìm thấy vợ. Diêm chúa thấy tình của chàng bền chặt như vậy, cho Cúc Hoa sống lại với chàng. Xuân Dung công chúa sau cũng trở thành thứ thất của Phạm Công. Nước nhà yên hưởng thái bình, nhà vua nhường ngôi cho Phạm Công rồi xuất gia đầu Phật.
            Phản khoa học, mê tín, dị đoan giả tạo là những hình dung từ mà con người sống ở hiện bán thế kỷ XX này có thể dùng để phê bình cuốn tiểu thuyết văn vần bình dân này. Lời phê bình đó không phải là không hữu lý nếu chúng ta xét tỉ mỉ đến những động tác của cuốn truyện. Bị khoét mắt, chặt tay, đục hai hàm răng mà Phạm Công lại được tái sinh với đầy đủ tứ chi và ngũ quan. Sầm Hưng tự chặt đầu đưa cho Phạm Công mang về lập công rồi mọc đầu khác dẫn quân trở về. Cúc Hoa đã chết vậy mà còn hiện hồn lên báo mộng khuyên Phạm Công kết hôn với Tào Thị. Rồi khi hai con bị Tào Thị đuổi đi, Cúc Hoa lại hiển linh để bắt chấy cho con, viết thư gửi cho chồng bài tội Tào Thị. Phạm Công đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm vợ, khiến Diêm chúa, cảm động vì lòng chung thủy của ông Trạng họ Phạm, cho phép Cúc Hoa tái sinh. Tuy nhiên, nếu đứng về mặt tâm lý mà xét, thì truyện Phạm Công Cúc Hoa đáng coi là một tác phẩm điển hình. Thực vậy, Phạm Công mới mười ba tuổi đã phải lo chôn cất người cha xấu số cho được toàn vẹn. Rồi lại lo việc hành khất mà nuôi mẹ già. Một thiếu niên mới mười ba tuổi mà đã chu toàn được chữ hiếu như thế thực là một tấm gương sáng cho người đời. Đến khi lập gia đình rồi, chàng lại giữ được lòng trung thành với vợ. Thói thường một số người là “giàu đổi bạn, sang đổi vợ” nhưng Phạm Công không phải là hạng người đó. Dù được đề nghị làm phò mã tới ba phen, chàng vẫn cương quyết từ chối vì nghĩ tới người vợ tao khang ở nhà. Chàng không hề lo sợ vì những sự đe đọa, cùng những hình phạt sẽ xẩy đến cho mình. Ngay cả đến lúc bị vua Hung Nô gia hình, chàng cũng chỉ nghĩ tới vợ mà than rằng:
                        Cúc Hoa em hỡi có hay?
            Vợ mất, chàng mang hài cốt vợ theo mình trong khi tòng chinh, khiến cho tướng giặc cũng phải cảm động chặt đầu tặng chàng mà bãi binh. Lấy vợ kế theo lời báo mộng của vợ, nhưng trong ba năm trường chàng không hề chung chăn gối. Làm tròn sứ mệnh, chàng xuống cả cõi âm để tìm người bạn trăm năm. Tình chàng thắm thiết và bền chặt đến nỗi làm cho người cõi âm cũng phải động lòng.
            Nếu chúng ta cảm động vì mối tình của Phạm Công đối với vợ chừng nào thì chúng ta còn cảm động hơn nữa vì mối tình của Cúc Hoa đối với chồng. Thực thế, tình yêu sơ khởi của Cúc Hoa không bợn một chút dâm tà. Đó là thứ tình yêu trong sạch hoàn toàn trong vòng lễ giáo. Ở đây, ái tình đã không phân biệt địa vị và giai cấp trong xã hội. Thân danh là một ái nữ con quan Tri phủ, nàng đã vui lòng kết duyên với một chú hành khất nghèo nàn. Khi lấy chồng, nàng lo gánh vác giang sơn nhà chồng. Nàng không hề tự phụ về gia thế và dòng dõi mà khinh chồng và mẹ chồng. Trái lại, đối với mẹ chồng và chồng, nàng luôn luôn tỏ vẻ kính mến và phục tòng. Mẹ chồng chết, nàng lo tang ma chu tất. Con người hiếu nghĩa đủ đường đó không may lại vắn số. Tuy lìa trần song hồn thiêng của nàng vẫn lẩn quất ở cõi dương gian để săn sóc cho chồng cho con. Thương chồng vắng vẻ vất vả vì cảnh gà trống nuôi con, nàng khuyên chồng cưới vợ lẽ. Chu đáo và vị tha đến thế là cùng. Đến khi Tào Thị ức hiếp và hành hạ con nàng, nàng cũng chỉ biết viết thư kể lể cho chồng. Sau này Phạm Công rõ chuyện toan giết Tào Thị thì chính Cúc Hoa đứng ra xin tha tội cho Tào Thị. Con người tiết liệt lại có một mối tình chung thủy với chồng như vậy nếu người viết sách có cho sống lại thêm ba mươi năm để yên hưởng phú quý với chồng thiết tưởng cũng là một phần thưởng xứng đáng.
            Cổ nhân Việt Nam cũng như Trung Hoa đều quan niệm “văn dĩ tái đạo”, văn chương phải dùng làm phương tiện truyền bá đạo lý. Bởi thế cho nên nếu muốn tìm một đời sống tâm lý sôi nổi ở Cúc Hoa như ở Kiều, ở Giáng Kiều v.v… chúng ta sẽ thất vọng. Con người này không phải là tín đồ của cá nhân chủ nghĩa. Người sống cho gia đình nhà chồng, cho chồng, cho con. Cúc Hoa cũng như bao nhiêu người phụ nữ Việt Nam khác chỉ tìm thấy hạnh phúc trong sự hy sinh ấy. Với cái nếp sống tinh thần và tình cảm ấy, làm sao mà đào tạo cho những nhân vật ấy một đời sống tâm lý sôi nổi như các nhân vật phụ nữ trong các áng văn chương Tây phương. Cho nên, nói tới người phụ nữ Việt Nam là phải nói tới sự nhẫn nhục, tinh thần chịu đựng và đức hy sinh. Nàng Cúc Hoa trong truyện Phạm Công Cúc Hoa đã thể hiện trọn vẹn những đức tính ấy.


LƯU TRUNG KHẢO
________________________________________
(1) Sầm Hưng có yêu thuật, chặt đầu này mọc đầu khác.



 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #36 vào: 18/11/2016, 08:34:36 »

NĂM CÁNH TAY

CHỦ ĐÍCH GIỚI THIỆU trong mỗi số báo một tài năng mới của chúng tôi bị phá đổ bởi số thơ đông đảo từ bốn phương gửi về. Không thể giới thiệu mỗi kỳ một thi tài được. Mặc Đỗ, Thanh Nam, Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn, đều nói lên như thế. Bởi vì sự chờ đợi sẽ trở nên đè nén, u uất với số đông. Do đó Hiện Đại trân trọng mời Nguyện, Sao Trên Rừng, Tường Phong, Mai Sử Giương và Hoa Cúc Huyền dựng xây trên mảnh đất bé hẹp này năm ngôi nhà nhỏ ấm. Và với người hoài nghi dò hỏi: sao nhiều tài năng thế? Tôi trả lời: có lẽ vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc thi sĩ.
NGUYÊN SA




Úp mặt

tôi úp mặt
vào quyển Dân luật khái luận
suốt một năm
im lặng
khi ngửng lên
vài người đàn bà đã bỏ đi
vì không thể chờ đợi
vì tưởng tôi đã chết

tôi tiếp tục úp mặt
một năm, hai năm
có thể đến bẩy năm
vào quyển Dân luật khái luận
không biết rồi
bao nhiêu người chán quá sẽ bỏ đi
bao nhiêu bụi bám đầy cánh tay
bao nhiêu tế bào hai mươi sẽ dần tàn rữa
và tự hỏi bao nhiêu lần
tôi có còn là tôi?


                    NGUYỆN




Dịu vợi

trong sương khói chiều nay tôi bắt gặp
cả mùa thu vàng rụng xuống đôi vai
và tôi đi không để lại dấu hài
trên thi thể những mối sầu đã chết
trời xa trời xa biết là quên hết
rừng nơi đây từng buổi sớm âm u
rừng nơi đây khi ngày lắng sa mù
tôi bước nhẹ một mình qua bản vắng
trong gió hiu hiu nước hồ im lắng
tôi lạnh hồn nghe động tiếng chơi vơi
kìa núi xa xanh chừng để đáp lời
nâng tiếng gió chiều bay đi xa tắp
hồn tôi nữa sầu bay đi xa tắp

trong sương khói chiều nay tôi đã gặp
cả mùa thu vàng rụng xuống tương lai
và tôi nương sầu dịu vợi trên vai
như thoáng ai theo tiếng gió lê dài
trên những nẻo đường hoang đầy lá chết


                    SAO TRÊN RỪNG




Ký thác

Anh làm thơ cho anh cho em cho tất cả bạn anh bạn em
Những người bạn yêu đời như yêu em
Yêu thất bại thành công như yêu mùa xuân rượu ngọt
Yêu cả kẻ thù căm hờn nhìn nhau nghi kỵ lạnh lùng

Anh không làm thơ cho những kẻ không có tài toan tính chuyện làm thi sĩ
Lựa vần chắp chữ không xong chi thì đóng vai ngự sử thi đàn
Khai tên họ cùng ngày tập thơ anh vừa ráo mực nhà in
Anh không làm thơ cho những thanh niên van xin tình yêu của nhau
– Vì tình yêu vẫn hằng tự do
Cho nhau nhiều hơn trói buộc –

Anh không làm thơ cho những nề nếp quen thuộc
Cho những cụ đồ hàng nghìn thế kỷ tóc trắng bạc phau
Anh không làm thơ cho những ông giáo già khệnh khạng đem bình thơ anh trong giảng đường đại học mai sau
Hình thức cùng nội dung
Bởi vì hình thức chỉ là những dòng chữ công thức lăng loàn mặt giấy
Bởi vì nội dung chỉ là một chữ “yêu” vỏn vẹn viết hoa

Anh làm thơ
Để mai sau em đem về Thượng đế
Hoàn lại cho Người
Thơ anh cùng tim anh


                    TƯỜNG PHONG




Ý nghĩ

Tôi kể một mẩu chuyện nhỏ của một người làm thơ thương một con đĩ câu chuyện thật nhạt nhẽo hoang đường vô lý
Hắn ôm người đàn bà, đèn hoa kỳ bóng xanh vặn nhỏ, gác chân lên mầu trắng gục đầu giữa trũng bóng đen
Hắn nghe một câu chuyện tình rồi hai câu chuyện tình, thân thể người đàn bà trắng nõn lạnh lùng và giọng nói hờ hững xa xăm
Hắn đòi hôn và hôn rất lâu rất thương đôi má núng đồng tiền hắn bảo là giống y như người cũ
Tóc đen dài hắn lùa tay cho cảm rưng rưng mắt nhắm lại nghe đêm buồn buồn rụng
Như thế như thế thời gian qua đi, tay hắn vẫn vòng ôm hắn nói say mê trong khoảng trũng bóng đen để rồi âm thanh ngấm vào nệm ấm:
“giá em không là em anh không là anh chúng mình biết nhau từ buổi thượng đế bảo đầu thai mình đã thành vợ thành chồng và yêu nhau yêu nhau yêu nhau
“giá anh là anh em là em chúng mình sẽ đem nhau đi chân em ríu rít em dựa đầu vào vai anh công viên đại lộ chuyển mình hồn anh say sóng chúng mình yêu nhau yêu nhau yêu nhau”
Các người thừa hiểu cuối cùng ra sao
Tôi van lậy các người đừng kết tội tôi đừng kết tội người đàn bà đừng kết tội chàng thi sĩ
Và cũng đừng kết tội các người
Hãy góp cho tôi mỗi một quả tim mỗi một chút tin chỉ xin bằng hạt cát
Tương lai


                    MAI SỬ GIƯƠNG




Đêm sao

Buồn không em một đêm thời thái cổ
Mái tóc thơ cài tinh tú long lanh
Tháng năm qua sao lãng chuyện học hành
Mơ thời gian đừng đi qua dĩ vãng
Ước cuộc đời là những đêm sao sáng
Để có hoài Bắc đẩu gối chênh vênh
Ngân hà xa u uất mãi chuyện tình
Khách viễn hành đêm nay xin dừng lại
Quán trọ nghèo nhưng tình dâng thoải mái
Quên làm sao phút ngần ngại đầu tiên
Đôi bàn tay đan chặt giữ niềm tin
Hương tóc rối hay hoa đêm hàm tiếu
Áo trắng lả lơi bay vào huyền diệu
Gặp một lần còn vạn thủa mê say
Lạc vào mắt em: thăm thẳm đêm dài
Quên chuyến hành trình ngay mai dang dở
Thoảng âm vang những bờ xa sóng vỗ
Mắt em buồn xao xuyến cả trời sao


                    HOA CÚC HUYỀN



 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #37 vào: 18/11/2016, 21:50:04 »


Gặp nhau lần cuối

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,
Giở tập thư xưa đọc trước đèn.
Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,
Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Gần nhau, còn lạ nét môi cười,
Em đến như người bạn cũ thôi.
Trận gió năm nào chưa ngớt thổi,
Mà nghe hồn gió lạc xa khơi.

Em hãy ngồi im – khuya đã lâu,
Phút giây tâm niệm tưởng như sầu.
Ngón tay não nuột tàn nhung bướm,
Gỡ cánh hoa phai lả mái đầu.

Đèn nhỏ, sương pha lạnh mặt người,
Lạnh vương từ sợi tóc buông lơi.
Lìa vai kỷ niệm bay mùi phấn,
Nép mặt hờn nghiêng lá hổ ngươi.

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh màu áo nhớ thương xưa.
Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa.

Từng nhớ, từng thương, từng chụm đầu,
Từng chung dòng lệ thấm vai nhau,
Mà trong mắt liếc ngờ non ải,
Nhịp thở ân tình cũng biển dâu.

Sương xuống nhiều thêm, thôi biệt ly!
Nhìn em lần cuối, tiễn em về.
Mưa buồn nỡ để đường thu lạnh?
– Đây áo quàng vai, em hãy che.


                           ĐINH HÙNG


 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #38 vào: 18/11/2016, 22:14:35 »


M.

Trời mưa ướt cả lòng đêm và ướt cả tình anh yêu em
Anh ngồi đây nghe mặt trời lên giây đàn
Anh ngồi đây nghe giọng hát đu bay
Anh ngồi đây nhìn em nhỏ đi và lấp lánh
Chưa bao giờ muốn hôn lên vai em như đêm nay

Anh vẫn ngồi đây
Anh còn ngồi đây cho đến lúc em đi
Cho đến lúc tắt đèn
Nguội tanh linh hồn và nửa tách cà phê
Anh sẽ bảo anh: em đi rồi sao mắt em còn chít mãi khăn tang?
Áo vàng còn là mầu cúi đầu nhìn xuống
Tóc đen còn là vòm trời đêm bé nhỏ của những vì sao hay khóc trong thơ anh
Anh trả lại cho những tiếng vỗ tay: giọng ca, nụ cười em đi vay, đi mượn
Anh dành lại cho anh con đường mặc áo trời mưa
và em

Anh bảo anh: rồi đến giã từ nhau trên ke một nhà ga tỉnh nhỏ
Nhìn nhau như soi gương
Em đi rồi
Anh gọi gió mưa ngày xưa cho ướt hết linh hồn và tình anh yêu em
Em đi vào trời mưa như đi vào bài thơ
Anh biết từ nay anh có em để đếm những tiếng giầy lên xuống cầu thang
Ðể yêu em hơn chiếc áo vàng em mặc và bài thơ anh đang làm
Ðể anh tìm thấy vết gió đi ngang ở những chỗ em nhìn lơi lả
Ðể lúc em cười anh bắt được linh hồn từng cánh cửa trên những tầng lầu rất cao
Sao anh buồn như có khói trong tim
Sao anh buồn như làm xong bài thơ nói đến em
Em nhìn anh mắt không còn là mắt nữa
Là bàn tay mà mỗi ngón tay là một tiếng thở dài

Anh gọi gió mưa mười phương phủ khắp Sàigòn để chúng mình chia ánh đèn
Cho hai mái tóc góp nhau vào học bài trên trang giấy trắng
Trên con đường dắt về đâu như về xóm đạo
Ai đọc kinh cầu nguyện cho đừng bao giờ anh phải yêu người khác ngoài em
Anh gọi em trở lại
Anh gọi em trở lại
Ánh đèn gục xuống trên mái nhà lợp bằng trời mưa
Anh gọi em trở lại
Anh còn muốn hôn lên vai em.


                           HOÀNG ANH TUẤN


« Sửa lần cuối: 18/11/2016, 22:15:29 gửi bởi nduytai »
 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #39 vào: 19/11/2016, 07:18:25 »

Chuyện đau thầm

Tôi chót sinh mang hình hài Thượng Đế
luôn thầm mong chối từ số phận con người
mơ làm tảng băng thạch nghiêng mình
nghe đàn hải cẩu đùa đêm khuya
mơ làm cành cây mùa thu
không biết vì đâu trụi lá

Kẻ vô can ra trước pháp đình chịu tội
làm sao cúi đầu không chống đối không van xin
khi vòng xích vô hình quấn tròn quanh tay
khi tương lai nhìn bóng đêm bốn phía
chúng ta bước vào cuộc đời mắt dưng hờn oán
tâm hồn mong manh và cô đơn kêu là tuyệt vọng
bàn tay tử tù cào tường xi măng xà lim
khi ý thức sáng bừng đèn treo hành lang nhà ngục
thấy chúng mình mỗi đứa một phòng giam
ta gọi tên nhau chia niềm đau số phận
tiếng gọi âm vang đầy hồn
không một hồi thanh trả lại
ngoài lời hứa đứa cai tù không quyền hạn không xót thương

Em nên nới lỏng vòng tay
dù em có ghì tôi nghẹt thở
như trăn rừng ghì mồi ngon nai nhỏ
chúng mình vẫn xa vời như hai vì sao
khoảng-cách-đều-tâm-hồn không bao giờ đổi
sẽ không bao giờ đổi
hàng cột đèn luôn song song và gục đầu
không bao giờ được nhìn nhau
bằng con mắt dù yêu thương dù giận dữ

Sao chúng mình không quên những-gì-đã-mất
sao đời không hiền lành như tranh tĩnh vật
sao mặt trời không soi sáng nửa đêm
cho chúng mình khỏi quờ quạng tìm nhau
(trước khi bước vào hố thẳm)
cho chúng mình nhìn tỏ mặt nhau một lần
và yêu nhau tha thiết một lần


                            THÁI THỦY



 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #40 vào: 19/11/2016, 08:28:07 »

Lưu luyến

Gió thơm… thơm nắng tơ,
Lụa trải óng cầm ca,
Chân vướng màn nguyệt lộng,
Đời đậm tứ… la đà…

Đường mòn khơi ý xưa,
Gà gáy: đậu Hồn trưa,
Nhịp nghiêng tan bước vắng,
Xanh ngả rụng loang bờ.

Giớ thơm… thơm nắng tơ,
Lụa trải óng cầm ca,
Chân vướng màn nguyệt rộng,
Đời đậm tứ… la đà…

Xưa gầy không đón đưa,
Nương bước đụng Hồn trưa,
Đời lành đâu gõ nhịp?
Lòng trũng nhớ… reo mưa…!


                           NGUYỄN DUY DIỄN


 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #41 vào: 19/11/2016, 08:30:46 »

Dọc đường

Ngày đi nắng muộn phai rồi
Buồn sao vẫn một môi cười tủi thân
Lá rừng động gió phân vân
Trời sa thấp đã mang gần bóng anh
Khép mi mộng vỡ tan tành
Sầu gieo nặng một vai mình quạnh hiu
Xe đi hút lũng than đèo
Đời xưa cũng lụn như chiều thoáng qua
Nửa tầm hạnh phúc còn xa
Thôi, anh nhìn lại bao giờ cho nguôi!


                           TRẦN THY NHÃ CA


 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #42 vào: 19/11/2016, 11:49:29 »

PASTERNAK CHẾT RỒI!

PASTERNAK chết rồi!
            Quả thật, nói đến cái chết thì không cần phải nôm na mách qué nào hơn là bảo rằng chết. Pasternak chết rồi, chết thật. Hãng thông tấn Tass đã công nhận. Vậy Pasternak đã chết. Tôi ở xa xôi, tuy yêu cái văn tài của Pasternak, nhưng không thể làm cách nào hơn là đi tắt cánh đồng – như kiểu hơn một trăm người Nga đi đưa xác Pasternak ở Peredelkino hay các ông bà Việt Nam ngồi xe đến đón đợi đám tang ở các nghĩa trang xa vậy – để hu hu khóc và hận thay cho Pasternak đã chết đi mà không được cái vinh hạnh trông thấy cuốn Bác sĩ Jivago của mình ra đời ở Việt Nam, mặc dầu bao nhiêu giấy mực, huyết hãn và những tờ giấy bạc đã tiêu tan vì cuốn sách béo bở đó.
            Các độc giả của tôi tất chưa quên vụ án sôi nổi chung quanh cuốn tiểu thuyết của Pasternak sau khi ông được giải thưởng Nobel về văn chương. Có đến mấy bài báo lớn bênh vực hai nhà dịch văn có tài thần tốc đuổi kịp thời gian và in ra một bản dịch rất gọn của cuốn tiểu thuyết làm nổi danh cho nhiều người kia. Rồi lại có một bản thông cáo rất dài rất sát pháp lý của một tổ chức khác đã có tài giao thiệp và nắm chắc trong tay một tờ giấy phép đàng hoàng của nhà xuất bản Ý giữ quyền copyright về cuốn sách đó ở vùng tự do. Trong văn chương làm gì có chuyện tranh thương, thành ra độc giả trước sự sốt sắng như vậy của các nhà xuất bản và dịch văn rất lấy làm hỉ hả và mong đợi. Hỉ hả vì tin chắc rằng ở nước ta, trong khi tòa án đã xử thắng những người không công nhận quyền copyright như vụ SACEM – Đại Nam, mà có người sốt sắng lo xa đã điều đình để lấy bản quyền đàng hoàng, tất bản Việt văn của cuốn tiểu thuyết động trời kia phải ghê gớm lắm, hay ít nhất cũng phải hơn cái bản dịch rất gọn của hai nhà dịch văn siêu-âm-thanh kia.
            Độc giả đã chờ, độc giả đã khéo an ủi mình rằng bản dịch đàng hoàng tất phải lâu vì lẽ không gọn. Nhưng chờ mãi, chờ đến lúc phải hết hi vọng mà than rằng: Pasternak chết rồi! Pasternak chết rồi, liệu cuốn Bác sĩ Jivago có nguội luôn không? Độc giả ở Việt Nam vốn xa xôi với văn nghệ quốc tế rất có thể để cho tác phẩm của nhà văn đó cùng nguội đi với xác chết của ông. Ngặt một nỗi là có những người quá sốt sắng với công việc văn chương đã đem hâm cho sôi lên. Sôi lên rồi để nguội! Pasternak chết rồi! Than ôi! âu cũng là một bài học cho chúng ta.


LÝ TỨ


 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #43 vào: 19/11/2016, 11:58:15 »

VĂN NGHỆ CÓ CỌC

NGƯỜI TA NHẬN THẤY có một sự trù mật khác thường giữa xã hội những người lấy việc phụng sự mọi ngành nghệ thuật làm lẽ sống chính. Đó là một triệu chứng đáng mừng. Mừng vì có sự đông vui luật đào thải tự nhiên sẽ tác động được trong những kích thước rộng rãi. Sự gạn lọc do đó sẽ đề ra nhiều tài năng mới. Hơn nữa, có đông bạn đồng hành những tài năng cũ sẽ không tự mãn trên chiếc chiếu của mình và hăng hái đi xa mãi không biết mỏi.
            Trong khi chờ đợi điều mong ước hôm nay trở thành sự kiện thực tế, ta thử quan sát sự đông vui trước mắt. Sự hứa hẹn quả thực có xứng với lòng mong ước hay không?
            Ta hãy tạm hạn định cuộc quan sát trong hai khu vực văn thơ và họa, tương đối hiện phồn thịnh hơn hết. Nói đến phồn thịnh kể trước nhất là thơ. Chưa bao giờ ta thấy thơ xuất hiện nhiều trên mặt báo chí như hiện nay. Điều kiện khách quan giúp cho sự nảy nở của thơ phải kể những mục “hội thơ” mở trên những tuần báo và tạp chí chuyên môn và cả trên một số nhật báo nữa; đồng thời, số lượng những ấn phẩm có định kỳ cũng giúp cho các tác giả có nhiều dịp đăng thơ. Căn cứ vào trình độ những thơ được đăng toàn bài hay được trích từng đoạn dài, ta thấy hầu hết là những sản phẩm của thời kỳ tập tành do những tác giả trẻ tuổi. Thường thường đáp lại tiếng gọi của nghệ thuật, những xúc động đầu tiên đều thể hiện trên giấy bằng thể văn vần. Trước kia – hay ở những phương trời khác – những tiếng nói non nớt vẫn được đem trao đổi giữa một số nhỏ người thân, hay người yêu. Sẵn có điều kiện khách quan dễ dãi, người ta đánh bạo đem chất chính cùng dư luận đông đảo. Đó là một sự thường tình. Thời gian sẽ làm một cuộc gạn lọc lớn vậy. Tuy nhiên, điều kiện khách quan dễ dãi cũng đem lại một mối nguy cho chính những người đang tập làm thơ. Được năm ba bài thơ đăng trên báo, có những tác giả vội quên những mực thước gắt gao của công cuộc phụng sự nghệ thuật và hấp tấp thu góp những bước chập chững thành tập đem in. Vội bằng lòng với chính mình như vậy tức là đang tay hạn chế tầm hoạt động nghệ thuật của mình ở một trình độ nhỏ nhoi.
            Trên bình diện văn hay họa cũng vậy, những điều kiện khách quan quá dễ dãi cũng đưa tới một tình trạng nhìn nhận sự tập tành như một công việc đã hoàn thiện. Về văn, có thể có những ông bà chủ báo sẵn sàng đặt giá cho những bài văn hợp thị hiếu và có những tác giả sẵn sàng không đặt một giá nào cho những trang mình viết ra. Đó là những trường hợp ngoại lệ. Phê phán trình độ văn chương chung qua những trường hợp ngoại lệ là một sự bất công. Về họa, tình trạng đáng ngại hơn vì thành thật mà nói rất ít người mua tranh vì thị hiếu. Tương đối các họa sĩ đứng trước những điều kiện khách quan gay go hơn, và có lợi hơn cho công cuộc phụng sự nghệ thuật. Tuy vậy, nguy cơ không hẳn không có. Những cuộc triễn lãm liên tiếp được tổ chức cho ta cảm tưởng có một tâm lý chung chỉ vụ có một mục đích: đa đa ích thiện, càng nhiều càng tốt, càng tỏ ra có hoạt động. Tình trạng này có thể xảy ra, và còn dám tồn tại, vì một lẽ dễ hiểu: ở ta chưa có một thẩm quyền nào khả dĩ đáng kể về phương diện thẩm mỹ. Những người đứng ra tổ chức triễn lãm, nếu thành thực ngó mình trong gương mà tự hỏi, hoàn toàn không đủ khả năng để cân nhắc tài năng, giá trị. Hoặc giả, họ chờ đợi những lời phê bình, sau triễn lãm, của một vài ngòi bút ngoại quốc ở đây, và yên tâm rằng đã làm phải. Khốn nỗi, không ai có đôi chút suy xét không nhận thấy tính cách xu thời của những ngòi bút đó, tội vạ gì mà họ gây ác cảm, hay là họ coi thường cả dư luận bổn xứ nữa, miễn là có khen những hoạt động nói chung.
            Quang cảnh trù mật mà đáng lo ngại đó, những điều kiện khách quan quá dễ dãi đó, được khuyến khích do một số người mà ta tạm gọi là văn nghệ có cọc. Hình ảnh lấy ở vế câu đối danh tiếng tả cái cảnh những con ốc bám ở cọc cầu ao mà nhìn ra mênh mông trời nước, trong cái ao hoẻn, ở bên này lũy tre mà tức cảnh sinh tình tất nhiên phải nặng lòng với văn nghệ lắm! Bởi thế cho nên, trong khi mải miết ôm chắc lấy cọc, ốc ta cũng lo làm công việc sáng tạo và hoàn thành những tác phẩm. Có sáng tạo, và có cả tác phẩm nữa, tới giai đoạn cần lưu danh thiên cổ.
            Bình thường ra, ở đây cũng như ở khắp nơi, một người văn nghệ, sau khi đem hết chân thành để phụng sự nghệ thuật, đều nhọc công đi tìm cánh cửa chính để bước vào đời. Cánh cửa chính thực ra ở ngay tầm tay hết thảy mọi người, cái khó ở chỗ dám tiến thẳng, mặc dầu những hào quang chói lòa. Hào quang của con ốc không phải là không thể có nếu ốc dám lao mình xuống ao và thành tâm tìm hiểu thân phận đau thương của con ốc trong ao tù. Trái lại, ốc ta vẫn khư khư với cái cọc, kiêu hãnh vì cái cọc, để mà nói chuyện trời mây. Bởi thiếu thành thật cho nên sợ ánh sáng, phải len lỏi qua những kẻ ngách, đột nhập thế giới hào quang nhờ uy tín của kẻ khác. Những nghệ sĩ thường biết thương con ốc cả, và dễ rộng lượng cho con ốc len lách. Nhưng len lách qua rồi, con ốc sẽ đem cái bình sinh của ốc ra làm kích thước và mưu đồ xây dựng văn nghệ. Bảo rằng làm văn nghệ khổ, ốc sẽ ôm chặt lấy cầu ao và cãi: làm văn nghệ sướng lắm chứ. Bảo rằng điều kiện khách quan quá gay go đối với những người văn nghệ yêu con đường của mình, ốc sẽ cười xà và, hạ thấp giọng, khẽ nói: hãy làm một khúc quanh đi, như ốc. Rồi ốc sẽ nhìn vào sinh hoạt văn nghệ chung và phê phán: thiếu đề tài, bận trác táng, nhiều óc tự vệ… Qua con mắt có hạn định của ốc, đề tài không thể là nông nỗi chật hẹp của vũng hoẻn trước mắt ốc. Lao mình xuống ngay vũng hoẻn đó mà tìm hiểu thân phận ốc thì ốc lại cho là tự hủy hoại, là trác táng. Còn bảo nhiều óc tự vệ thì nguyên do không ngoài sự có mặt của những thứ như ốc vậy.
            Với một tầm nhận định không quá lũy tre xanh, lấy một quan niệm nông cạn cho rằng hoạt động văn nghệ cần một đường lối phục vụ “thiết thực”, loại văn nghệ có cọc không mong gì hơn có nhiều ốc cùng bám quanh mấy cái cọc cầu ao, trong khi những chân trời rộng mở cho mọi ngành nghệ thuật trên thế giới họ không cần biết đến. Những đắc thế của loại văn nghệ ốc nguy hại ở chỗ khiến cho nhiều bạn trẻ bỡ ngỡ tự hạn định ở chỗ vội vàng kiếm một chiếu ngồi. Nhưng không ai quên rằng, đối với những người phụng sự văn nghệ chân chính, mấy con ốc giỏi lắm chỉ đủ làm một bữa đánh chén trông trăng.


SĨ MỘC


 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #44 vào: 19/11/2016, 17:43:52 »

ĐỌC “NHỮNG VÌ SAO LẠC”* CỦA NHẬT TIẾN

HỒI NÀY HIẾM CÓ những sáng tác phẩm của những cây bút trẻ không mắc những bệnh dịch tai hại những khuôn sáo thời đại: nhầy nhụa, nhơ nhớp, bịnh hoạn, chán chường, “buồn nôn”… Các tòa soạn không ngày nào ngớt nhận được những bao thư của những bạn trẻ yêu văn nghệ với một lá thư bày tỏ sự tha thiết với sáng tác kèm theo vài ba bài thơ, nhiều nhất là thơ. Những người có trách nhiệm ở các tòa soạn nếu chỉ đọc những lá thư rất giàu nhiệt thành đó sẽ có một ý niệm hết sức lạc quan về tiền đồ văn nghệ. Nhưng xét tới những tác phẩm gửi kèm họ sẽ vội thất vọng.
            Bao lâu nay người ta chờ đợi một luồng sinh khí mới trong văn chương. Người ta ước ao, thèm thuồng được nghe tiếng nói trong trẻo, hồn nhiên, thiết tha hay đắng cay của những tâm hồn kẻ đang yêu, yêu đúng với cái nhịp mà không ai có thể tìm được khi quá tuổi hai mươi. Thèm thuồng vô ích vì những nhà văn, nhà thơ trẻ tuổi đã không trẻ tuổi chút nào. Một nạn dịch bắt chước lỏm lan tràn rộng rãi và được nhen nhóm thêm do một vài ông cụ nhà văn hết thời nhưng không hết tham vọng cá nhân. Những tư tưởng đang tác động sâu xa trong văn nghệ giới quốc tế, mà chính người tự coi như lão thành đó chưa chắc đã nghiền ngẫm xuôi, đều được đem ra reo rắc cho các đồ đệ trẻ, dưới hình thức truyền khẩu. Cái học vội, học tắt đem truyền thụ một cách còn vội còn tắt hơn nữa và kết quả gây nên tình trạng mà hơn mười năm trước đây E. Mounier, khi bàn về triết thuyết hiện sinh, đã mệnh danh là một thứ “escroquerie d’étiquette”. Chỉ cần đả động tới một vài khuôn sáo mòn là đủ đúng mốt thời đại và được bề trên xưng tụng và ghi tên trong chiến tuyến những giường cột tương lai của văn nghệ nước nhà! Mở cửa để dẫn dắt nhau vào một trường học nguy nga tráng lệ là một việc; còn mở cửa để đẩy những bạn trẻ xuống lặn ngụp dưới một vũng ao tù và có giỏi ngoi tới đâu đi nữa cũng sẽ không thể quá đầu ông chủ ao lại là một chuyện khác hẳn.
            Trong một tình trạng lạc lõng và đầu cơ như vậy, được đọc cuốn Những vì sao lạc có thể coi như là một hạnh phúc. Hạnh phúc, chỉ vì nhà văn trẻ Nhật Tiến, trong cuốn chuyện dài thứ hai này, không mắc cái bệnh dịch thời đại, hay thản hoặc chỉ lây đôi chút thôi, chẳng hạn những đoạn lý luận về thân phận những kẻ bơ vơ chen lẫn giữa những đoạn cần thiết cho câu chuyện kể. Giữ được bản chất của mình ở giữa cuộc hỗn mang ngày nay phải kể là một đức tính nhiều hứa hẹn.
            Nhật Tiến còn đáng khen hơn nữa ở chỗ đi vào một khía cạnh thời đại – nông nỗi những cuộc đời tan vỡ vì hoàn cảnh hậu chiến – mà không rơi vào những khuôn sáo mòn. Suốt 165 trang truyện không một lần nào tác giả lộ diện trương một tấm bảng tư tưởng mượn. Cậu bé Khánh kể câu chuyện đời mình với một giọng chân thành, với một niềm yêu đời chưa hề sứt mẻ mặc dầu bao phen đắng cay. Nếu dùng một khuôn sáo đang thời, ta có thể nói Những vì sao lạc là một văn phẩm được rất nhiều tính chất “đi lên”.
            Bởi Nhật Tiến là một cây bút trẻ, tưởng cũng cần nêu lên một điểm thiếu sót về phương diện kỹ thuật. Nhật Tiến đứng quá gọn trong ranh giới những truyền thống các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn. Dáng điệu của Những vì sao lạc đẩy người đọc lùi trở lại với những cảm tưởng khi ngày xưa đọc Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, chẳng hạn. Cố viết cho được giống như những nhà văn tiền bối, thật ra không phải là một đức tính của một cây bút trẻ vậy.


HUYỀN PHỤNG
________________________
* Phượng Giang xuất bản.