Tác giả Chủ đề: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa  (Đã xem 17399 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #75 vào: 11/12/2016, 06:32:17 »


KHÔNG NÊN ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT

BÌNH TĨNH MÀ XÉT, luận điệu sơ xuất của một diễn giả, dù phát biểu ở một diễn đàn nào không đáng để gây nên một dự luận, nhất là dư luận đó lại dụng chạm tới một vấn đề mà không một ai trong chúng ta không đồng ý là vấn đề đoàn kết dân tộc. Thật vậy, đại đa số những quan sát viên đều nhìn thấy trong hiện tượng có một dư luận chung quanh ý kiến “văn nghệ miền Nam không có quá khứ” một nguy cơ không nhỏ nếu cứ để nguyên cái đà bé-xé-ra-to.
            Trước hết, ta cần đặt câu hỏi: Diễn giả nhân danh một lực lượng nào, một trào lưu văn học nào, để lên án văn nghệ “miền Nam” hay chỉ phản chiếu trọn vẹn cá nhân bé nhỏ của ông ta so với đông đảo những người làm văn nghệ và những người Việt Nam nói chung? Nhìn vào cá nhân diễn giả và diễn đàn nơi ông ta đã nói, ai nấy đều công nhận rằng những ý kiến đưa ra chỉ tiêu biểu cho một người hay một nhóm nhỏ năm ba người bạn cùng cảnh. Không ai có thể cấm những cá nhân có những ý kiến, ngông sằng hay chính đáng. Đối với một diễn giả nếu những ý kiến đưa ra mà sai lệch các thính giả có quyền chất vấn tại trận và câu chuyện có thể chấm dứt khi bước ra khỏi diễn đàn. Còn báo chí, trong phạm vi thông tin và nghị luận, có quyền tường thuật và phê phán trong phạm vi thông tin những hoạt động văn hóa. Đem đặt thành vấn đề, nhất là trên mặt báo và không quy định rõ phạm vi một ý kiến về văn học tức là phạm một lỗi ghê gớm có thể gây nên những hậu quả chính trị tai hại chung.
            Tại sao một ý kiến cá nhân về văn học lại có thể trở thành một vấn đề dân tộc trọng đại được? Phải chăng cũng lại là những sơ xuất cá nhân? Có những cá nhân vô tình làm lớn chuyện hay thật tình vẫn tiềm tàng một mầm mống chia rẽ? Hay không còn tàng tích của chia rẽ nhưng có những cá nhân, vì nguyên nhân này hay lý do khác, đã mượn cơ hội để đặt lại một vấn đề quan thiết tới sự bền vững của dân tộc? Giải đáp được những câu hỏi đó sẽ vượt quá mực thước của một bài bình luận. Sau khi đã bày ra tầm quan hệ của câu chuyện và tha thiết mong mỏi các bạn, có làm văn nghệ hay không, hãy đứng lại trong vòng một cuộc tranh luận văn học, chúng tôi góp một vài ý kiến nhân câu chuyện đã được đề ra.
            Ở trên chúng tôi đã để hai chữ “miền Nam” giữa hai ngoặc kép vì chúng tôi không đồng ý với sự chia miền. Rất có thể một nhà biên khảo nào đó, nhân luận về một nền văn học, có quyền bày ra một sự phân chia cho tiện tập luận. Tuy nhiên sự phân chia cũng phải dựa vào những lý do chính đáng. Nhân một nhận xét đại quan về văn học trong phạm vi một bài diễn giảng, dùng đến việc chia miền và bị buộc tội chia rẽ xét ra cũng không oan. Hơn nữa, trong tình trạng nghèo nàn tác phẩm của chúng ta hiện nay, những người ít ỏi phụng sự văn học thật tình đã và đang làm một công việc duy nhất là làm giàu cho ngôn ngữ, chưa mấy ai nghĩ tới đào sâu và thuyết minh cho những sắc thái địa phương. Hoàn cảnh chính trị cắt xén lãnh thổ càng gây nên một tình trạng hòa trộn sâu xa. Mở bất kỳ một tờ báo nào hay một tạp chí, một cuốn sách, ta cũng thấy một sự thẩm thấu đặc sắc nó chứng tỏ hùng hồn rằng ngôn ngữ Việt Nam chỉ có một. Một độc giả tinh ranh và chủ tâm tìm tòi sẽ có thể nhận ra một tác giả sinh trưởng ở miền Bắc hay ở miền Nam và sẽ thấy yêu tiếng nói của chúng ta hơn bao nhiêu lần vì nhận thấy sự tế nhị trong sự hòa trộn vì thói quen. Có thể có những đầu óc địa phương vì quyền lợi, nhưng không ai có đủ sức để cưỡng lại với ngôn ngữ nó phát xuất từ dòng truyền thống đã bao đời. Muốn chia rẽ người ta có thể trốn sau một ngoại ngữ, nhưng đã dùng chung một tiếng nói và sử dụng tiếng nói chung đó, hiểu được nhau qua tiếng nói đó, thì đừng bày chuyện chia rẽ làm chi cho mệt.
            Và chúng ta không mong gì hơn trong một thời gian gần đây sẽ trông thấy những người Việt Nam ở khắp nơi họp nhau lại để hoàn thành một cuốn từ điển dùng làm tiêu chuẩn cho ngôn ngữ. Kết tinh được ngôn ngữ của chúng ta trong một cuốn từ điển tiêu chuẩn đầy đủ, do sự góp sức của đồng bào dù sinh trưởng ở Nam, ở Trung hay ở Bắc, chúng ta sẽ không bao giờ còn bị cái mặc cảm chia rẽ nữa. Địa phương có thể tạo nên cho mỗi người một vài thói quen nhưng hết thảy mọi người bắt buộc phải gặp nhau trong tiếng nói. Những tổ chức văn hóa dường như khá nhiều phương tiện, những cá nhân huynh hoang với những tham vọng đội-đá-vá-trời, những người Việt chân thành với tiếng Việt; chúng ta còn đợi gì không hè nhau xây một lâu đài thống nhất: một cuốn từ điển Việt Nam tiêu chuẩn. Đó là căn bản yêu thương mà chúng ta sẽ để lại cho con cháu mãi mãi về sau vậy.


SĨ MỘC



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #76 vào: 12/12/2016, 10:56:30 »


TRIỄN LÃM HỘI HỌA TRẦN QUANG HIẾU

KHI MỚI ĐẶT CHÂN vào phòng Triễn Lãm cảm tưởng đầu tiên đến với người thưởng ngoạn là thấy mình bị vây chặt bởi mầu sắc, những mầu sắc bừng bừng bốc hơi trong lòng khuôn khổ, toát khỏi mặt kính bay tràn ngập căn phòng. Mầu sắc của tuổi trẻ, của một tâm hồn say mê nghệ thuật. Người họa sĩ trẻ tuổi ấy đã say mê thật – hãy tin như thế – khi cầm bút vẽ trong tay, trước khuôn giấy trắng, trước những thỏi mầu ngon như mật, đã tạo nên một không khí, không khí của người làm nghệ thuật chưa đầy 30 tuổi. Tương đối, qua những phòng Triễn Lãm đã trưng bày từ đầu năm 1960, Phòng Triễn Lãm của Trần Quang Hiếu đã mang lại sắc thái tiến bộ tuy rằng sự tiến bộ này còn nằm trong lãnh vực tập luyện.
            Phòng Triễn Lãm gồm 66 họa phẩm, chia làm 4 đề tài:
                 1) Thần tượng
                 2) Đường dài ngựa hay
                 3) Những tà áo Việt Nam
                 4) Lênh đênh sông nước
            Trong bốn đề tài nói trên, họa sĩ đã áp dụng 3 phương pháp diễn tả với 4 kỹ thuật chuyên môn:
                 1) Thủ ấn họa (estampe)
                 2) Thái Thủy họa (aquarelle)
                 3) Tranh lụa (peinture sur soie)
                 4) Sơn dầu (peinture)
            Để có một ý niệm công bình về cái đẹp của Trần Quang Hiếu, chúng ta hãy đi vào từng đề tài của họa sĩ để tìm hiểu nghệ thuật qua bố cục, hình thể, mầu sắc rồi sẽ phân tích đến kỹ thuật thực hiện của từng loại tranh.
            Ở đề tài “Thần tượng”, với bút pháp quá mạnh bạo, họa sĩ Hiếu đã gây được ít nhiều rung động. Nhưng những rung động phút đầu ở loại tranh này mất dần khi người ta nhìn kỹ thấy rằng những kẽ hở của nghệ thuật qua bố cục, hình thể, mầu sắc. Có lẽ những kẽ hở đó, không hoàn toàn do sự bất tài của họa sĩ mà biết đâu chẳng do vội vàng và sự bồng bột của tuổi thanh niên? Hình thể khỏa thân chưa vững, bố cục không đặc biệt, tuy mầu sắc có xao động nhưng độ mầu (gamme) dùng chưa đúng làm cho bức tranh rối ren qua từng vệt sáng tối của những nét bút chấm phá, hơn nữa, chất da thịt đàn bà chưa đạt đến độ cuồng mê như khi nhìn những “thần tượng” của Modigliani, Matisse, Rouault v.v…
            Trong đề tài “Đường dài ngựa hay” họa sĩ Hiếu đã tỏ ra phong độ. Khả năng diễn tả ở loại tranh này, đã gây được rất nhiều cảm tình của những người thưởng ngoạn.
            Bút pháp cứng rắn, bố cục gọn gàng mầu sắc biến chuyển qua từng trạng thái ở mỗi tấm tranh. Ở đây mới có cái gì “thực” của họa sĩ Hiếu. Ông đã diễn tả bằng tất cả say mê, bằng nhiệt thành và bằng những rung động cuồng si nhất của tuổi trẻ qua hình ảnh những vó ngựa chạy dạt rừng sâu, với nét bút mạnh như tiếng sét và đôi khi chìm lắng âm u như tiếng gió lưng đèo. Họa sĩ Hiếu đã gửi hồn mình vào sức sống mãnh liệt của những phiến mầu rung rinh dưới vó ngựa. Có lẽ, đề tài này hợp với tâm hồn của họa sĩ, cho nên gần nửa phòng Triễn Lãm được thực hiện bằng loại tranh này.
            Với đề tài “Những tà áo Việt Nam” họa sĩ hình như lạc lõng giữa sự uyển chuyển, nhẹ nhàng của những tà áo chiều nay, không biết có phải vì ông xa quê hương mấy năm, mắt đã nhìn quen lối sống “trần truồng” của các thành phố Âu châu chăng, đến khi trở về bắt gặp lại những bóng hình quen thuộc không khỏi bỡ ngỡ phút giây đầu. Sự ra đi có những cái may và những cái thiệt. Ở những bức “Đường dài ngựa hay” họa sĩ vẽ thanh thoát bao nhiêu thì ở đây nét bút đã tỏ ra lúng túng, vụng về trong những tà áo Việt Nam. Sự lúng túng nằm rõ rệt trong tác phẩm số 54 với những hình nét gò bó ở thân hình bốn cô gái khẳng khiu như bốn thân cây mọc trơ vơ trên nền cỏ hoang dại.
            Vào đề tài “Lênh Đênh sông nước” họa sĩ Hiếu làm thơ nhiều hơn vẽ. Tất cả tác phẩm thuộc loại này đều từa tựa nhau. Những giòng sông trăng, những con thuyền, những khóm tre đều diễn tả mờ ảo qua hòa sắc xanh đen đi vào trắng đục và vàng nhòe để nói lên mơ mộng. Không có gì đặc biệt.
            Sau khi tìm hiểu nghệ thuật của họa sĩ Hiếu qua những đề tài bây giờ chúng ta hãy đi vào phần chuyên môn để phân tích kỹ thuật.
            Họa sĩ Hiếu đã áp dụng 4 kỹ thuật khác nhau trong một phòng Triễn Lãm. Họa sĩ Hiếu có một căn bản về kỹ thuật, dù rằng kỹ thuật đó đương được tôi luyện cho thêm phần vững chắc. Ở trong 4 loại: Thủ ấn họa, Thái Thủy họa, Tranh lụa, Sơn dầu, người ta thấy họa sĩ Hiếu tiến xa ở 2 loại: Thủ ấn họaThái Thủy họa. Ở loại tranh lụa họa sĩ đã cố tìm một kỹ thuật mới bằng cách ấp tranh ướt vào tường, để gây cho tranh lụa có cùng một tính chất với tranh sơn dầu, nhưng có lẽ, ông đã nhầm trong lúc đi tìm, vì ở trong lãnh vực Hội họa, mỗi loại tranh có một kỹ thuật riêng, hơn nữa, sở dĩ kỹ thuật của Hội họa được phân chia từ lâu và sự phân chia từng ngành này còn được, và còn phải tồn tại vì mỗi loại tranh mang một sắc thái riêng biệt. Tranh lụa là tranh lụa, người ta nhìn tranh lụa với kỹ thuật của tranh lụa chứ không thể nhầm được tranh lụa là tranh sơn dầu, hay tranh bột mầu được. Mỗi loại tranh chỉ quý và có giá trị khi nó mang được cá tính của từng nghệ sĩ và sắc thái đặc biệt của từng loại. Dù sao sự tìm tòi và cố gắng này cũng đáng khuyến khích vì trên những nẻo đường của nghệ thuật sự tìm tòi và khám phá bao giờ cũng khích lệ.
            Riêng về kỹ thuật loại Thủ ấn họa, họa sĩ Hiếu đã tìm thấy một phần nào linh hồn của những tấm mộc bản gà, lợn thuở xa xưa tuy kỹ thuật khắc và những hình thể đã được thời đại hóa. Họa sĩ Hiếu áp dụng kỹ thuật mộc bản thuần túy Việt Nam bằng cách chỉ khắc có bản đen tức là bản hình họa (dessin) ông in lên giấy bằng mực in, rồi ông vẽ mầu lên trên, chỉ khác là ông không dùng phẩm nguyên chất như tranh gà, lợn mà ông dùng mầu đã pha trộn đi vào hòa sắc Tây phương.
            Về kỹ thuật của Thái Thủy họa, họa sĩ Hiếu có nhiều khả năng. Ông đã biết lợi dụng triệt để những độ mầu cần thiết của kỹ thuật này mà vẫn giữ được sự trong trẻo rất cần thiết của loại Thái Thủy họa. Loại sơn dầu ông chỉ vẽ có một bức, vì thế khó có thể căn cứ vào đó mà phê bình e có điều khiếm khuyết.
            Nói chung, phòng Triễn Lãm của họa sĩ Trần Quang Hiếu tương đối có một giá trị về nghệ thuật, nhưng với bốn đề tài nhất định, đã làm cho phòng Triễn Lãm trở thành buồn nản, người thưởng ngoạn bị vướng mắt luôn luôn ở những sự vật tuy không giống hẳn nhau, nhưng con ngựa dù đứng, dù chạy, dù nhẩy, dù nằm nó vẫn chỉ là con ngựa. Còn một một điều đáng tiếc hơn cả là hầu hết các bức họa phẩm đều mang một tính chất phác họa tô mầu (esquisse) nhiều hơn là tác phẩm (oeuvre).


LÝ TỨ



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #77 vào: 15/12/2016, 07:32:27 »
Hiện Đại | Số 7  [tháng mười/1960 | 112 trang]
                                           VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI
MỤC LỤC
° VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI:
        NGUYỄN THỨC |  HỌA |  1
        HOÀNG ANH TUẤN |  ĐIỆN ẢNH |  12
        TRẦN A ĐÌNH |  NHẠC |  17
        THÁI KHƯƠNG |  SÂN KHẤU |  27
        R. M. ALBÉRÉS/SĨ MỘC dịch |  VĂN |  39
        NGUYÊN SA |  THƠ |  48
° SÁNG TÁC:
        SONG LINH |  NẮNG ĐỔI NGÔI |  54
        ĐINH HÙNG |  NHỮNG GIÒNG CHỮ LẠ (thơ) |  63
        TRẦN THY NHÃ CA |  BÀI THÁNG SÁU (thơ) |  64
        TẠ TỴ |  ĐÊM CUỐI VỞ KỊCH |  65
        VƯƠNG DƯ |  CƠN MƯA |  72
        HOÀNG ANH TUẤN |  LY NƯỚC LỌC (kịch) |  81
        NINH CHỮ |  CAO XA (thơ) |  93
        PHẠM NĂNG HÓA |  THAO THỨC (thơ) |  93
        TRẦN XUÂN KIÊM |  GÓC PHỐ (thơ) |  94
        NGUYỄN DUY DIỄN |  QUÁ KHÓA |  95
° NHÌN BẢY CHÂN TRỜI:
        HUYỀN PHỤNG |  “HỒ THÙY DƯƠNG” CỦA DOÃN QUỐC SỸ |  103
        TRẦN HẠNH |  “CHỒNG CON TÔI” CỦA DUY LAM |  105
        LÊ TRỌNG |  “L’AVENTURE EST FINIE POUR EUX” CỦA FRANÇOIS BRIGNEAU |  106
        LÝ TỨ |  “L’AVENIR DE L’HOMME” CỦA PIERRE TEILHARD DE CHARDIN |  108
        NGUYỄN VĂN TRUNG |  KHUÔN MẶT THỜI GIAN


 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #78 vào: 15/12/2016, 07:42:11 »


Khuôn mặt thời gian

ANH NGUYÊN SA,
            Khi tôi đọc xong mấy ý nghĩ của anh về tôi trong “khuôn mặt thời gian” số 6, cảm tưởng của tôi là chán ngán thất vọng và tôi muốn trách anh nói làm gì vô ích vì người ta chỉ cho là bạn công kênh, suy tôn lẫn nhau.
            Cảm tưởng đó, một lần nữa đưa tôi nghĩ tới bầu khí sinh hoạt Văn Hóa, báo chí hiện nay mà tôi gọi là bầu khí ngột ngạt của thứ chiến tranh lạnh. Nếu coi Văn hóa như một Gặp gỡ, Trao đổi, Đối thoại trong tinh thần tôn trọng người khác và yêu chuộng sự thật, thì phải thú nhận sự thiếu sót một bầu khí như thế trong sinh hoạt Văn hóa hiện nay.
            Ở bên kia biên giới, thế lực chính quyền mở những chiến địch “chụp mũ” không những nhằm làm nhơ bẩn mà còn nhằm tiêu diệt những người không theo mình. Nơi đây chính những đồng nghiệp, mở chiến dịch tiêu diệt nhau. Trong bầu khí như thế, khen ai chỉ là một biểu lộ của bè phái hay là thủ đoạn nằm trong chiến lược của một chiến dịch tấn công hay là phòng thủ.
            Ra khỏi bầu khí đó và trở về Đại Học với những sinh viên cũ của mình, tôi cảm thấy như về một nơi “trú ẩn” thanh bình đầy an ủi. Trước mặt tôi, có những cái nhìn phản ảnh những tâm hồn ngay thẳng lắng ngheđón nhận. Có thể chưa phải là chấp nhậnđồng ý. Nhưng đó không phải là điều can hệ trong việc giảng dạy. Nếu nói trước là để được nghe, nghĩa là được hiểu đúng như ý nói, thì làm sao không thất vọng trước tình cảnh lời nói bị từ chối ngay cả ước muốn tối thiểu đó? Tình cảm chán nản tôi nói ở trên là do việc ghi nhận sự thất bại của lời nói và ngược lại sự an ủi cũng do nguyện vọng được lắng nghe có thể đạt tới trong những lớp học của tôi.
            Sự gần gũi với những người hầu như cùng tuổi với mình đã làm cho tôi hiểu tại sao Thanh niên ngày nay chán nản hoài nghi khi nhìn thấy đàn anh sát phạt nhau núp dưới danh nghĩa này, danh nghĩa kia. Không tin cái hào nhoáng đạo đức bên ngoài họ đi tìm cái bên trong và nhận thấy tất cả chỉ là thủ đoạn, lừa bịp giả trá như họ đã bày tỏ ở bài “Thanh niên ngày nay nhận định về thời đại của mình” trong kỳ Đại Học Hè 60 vừa rồi.
            Anh gọi tôi là nhà Triết học; tôi ngại điều đó làm cho nhiều người khó chịu. Thực tôi không phải là nhà Triết học theo nghĩa một người đã sáng lập ra một chủ nghĩa gì – Nhưng tôi chỉ là người đang muốn tìm con đường mà đi, là người yêu đạo và mong hướng về chân lý theo cái nghĩa cũ kỹ của danh từ “philosophe” (philein: hướng về, sophiana: đạo) và trên con đường đi tìm “nhận định” được cái gì thì chân thành nói lên để trao đổi với những người cùng đi…
            Chúng ta sống ở cái thời ai cũng nói đến Đạo đức, Chân lý và tự cho mình có sứ mệnh tranh đấu bảo vệ Đạo đức, Chân lý.
            Nhưng Đạo đức thực hiện bằng Bạo động, Chân lý ngự trị trên những tử thi của chiến địa nhất định không phải là Chân lý, Đạo đức đích thực.
            Cho nên, tôi nghĩ rằng trong bầu khí chiến tranh lạnh này, nếu còn tin ở sứ mệnh của lời nói, thì sự tranh đấu sẽ chưa phải là Tranh đấu cho Chân lý, Đạo đức, nhưng là trước hết Tranh đấu tạo điều kiện cho việc hướng về Chân lý, Tranh đấu mở những con đường để ai nấy đều có thể tự do lựa chọn và thực hiện cuộc hành trình tư riêng của mình.


NGUYỄN VĂN TRUNG




 
The following users thanked this post: congchua1

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #79 vào: 15/12/2016, 11:26:08 »


VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Thế kỷ hiện đại là thế kỷ của những biến chuyển lớn. Thế giới ấy với những phương tiện giao thông siêu thanh, khoa học ấy với nguyên tử năng và những áp dụng ghê gớm của nó, kỹ nghệ ấy với lớp máy móc sản xuất dây chuyền đã đem lại cho khuôn mặt cuộc đời những vết đổi thay đậm nét.
            Nghệ thuật hiện đại nằm ở trong sự thay đổi ghê gớm của cuồng lưu thế kỷ này cũng đột nhiên mang hình bóng của gió lốc, lôi vũ. Đứng trước sự đổi thay này cũng như mọi cuộc đổi thay khác người văn nghệ thường có những phản ứng khác biệt. Có người nói rằng nghệ thuật bây giờ là sự hỗn loạn quái gở. Người khác lại nghĩ rằng sự thay đổi lớn của thế kỷ nghệ thuật này đã đem lại cho nghệ thuật sức sống của núi cao, đại dương với những kích thước không gian thời gian mà sự dài rộng đo bằng đơn vị sa mạc.
            Với chúng tôi những ý nghĩ khen, chê quá đáng thường biểu lộ những khuynh hướng bảo thủ hoặc cấp tiến thái quá. Cho nên việc làm cần thiết để có thể đưa ra được những phê phán định giá trị đúng mức trước hết phải là việc làm tìm hiểu những sắc thái độc đáo của nghệ thuật hiện đại. Đó là ý nghĩa của loạt bài này.

HIỆN ĐẠI

VĂN

Riêng trong văn chương những vấn đề hằng làm quan tâm những người sáng tác hết sức là phức tạp, phức tạp vì những khuynh hướng nhận xét và cảm xúc, vì những hoàn cảnh địa phương và cả những biên giới quốc gia hay ngôn ngữ. Thu gọn trong một bài biên khảo một cái nhìn bao quát từ Đông sang Tây, từ tả sang hữu, là một công việc quá êm đềm và chắc chắn sẽ thiếu sót. Bởi vậy chúng tôi chỉ chọn một nền văn chương mà chúng tôi coi là tiêu biểu nhất, văn chương Pháp của tiền bán thế kỷ XXè tiêu biểu vì tính cách đa dạng và phức tạp trái với văn chương Hoa Kỳ chỉ mang những màu sắc của một dòng tả chân. Đề ra những nét chính từ văn chương Pháp từ năm chục năm gần đây một cách gọn gàng và quá đầy đủ thiết tưởng phải kể tới nhà văn học giả R. M. Albérés và cuốn Bilan littératre du XXè siècle, trong loại sách “Tiểu luận” của nhà xuất bản Aubier-Montaigne để khỏi phải làm công việc cóp nhặt thiếu sót, chúng tôi trích và lược dịch một chương trong cuốn sách đã dẫn, dưới đề mục “Một nền văn chương gây vấn đề”. Trong chương sách này, tác giả đã cố ý quên khuynh hướng gọi chung là “Tiểu thuyết mới” với những Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute, vân vân. Sự thiếu sót này thật ra không quan hệ vì khuynh hướng mới này vụ vấn đề kỹ thuật và phương pháp nhiều hơn là nội dung.
SĨ MỘC


NGOẠI TRỪ LOẠI TÂM BÚT LÃNG MẠN, truyện xưa nay vẫn dành để kể một trường hợp đặc sắc khá gây được sự tò mò của người đọc, hoặc khi cần để dẫn giảng cho người đọc: một linh mục khắc khổ chợt bốc đồng vị một nhân vật dị kỳ (Notre-Dame de Paris), một chàng thanh niên xa vọng lục đục trong cuộc thử thách với những tham vọng của mình (Le Père Goriot), một người đàn bà có chồng trước sức chiêu dụ của tình yêu bất chính (từ La Princesse de Clèves tới La Duchesse bleue của Paul Bourget). Cũng có khi giá trị của tác phẩm nằm trong sự tế toái và sự dụng tâm của tác giả khi nghiên cứu nhân vật của mình hơn là trong đề tài của truyện (Bérénice, Dominique). Trong mọi trường hợp, hoặc khi vượt những ngăn rào của Richelieu để đem huyết thạch về cho Hoàng Hậu hay khi quyết định về thái độ của Emma trước tình nhân, vấn đề đặt ra trong truyện thường hết sức hạn chế. Khi bà Bovary đã chết đi, độc giả không còn một vấn đề gì để đặt ra nữa, hay có chăng chỉ là những nhận định thông thường về hậu quả tai hại của sự mơ mộng lãng mạn. Một khi Marcel Prévost đã phân tách tâm hồn và phẩm hạnh của những cô nàng tiết-trinh-một-nửa, vũ trụ ở chung quanh vẫn bình lặng, thông thường không khác…
            Trái lại, tác phẩm đặc biệt của thế kỷ XX đem mọi chuyện đặt thành vấn đề: ý nghĩa của cuộc đời này và những căn bản của thực tại. Thérèse Desqueyroux không phải là trường hợp một người đàn bà bỏ thuốc độc cho chồng mà là cả thế giới bao la của Thiên Sủng với những hình thái kỳ bí và những mâu thuẫn rõ rệt. Saint-Exupéry đem kể truyện một phi hành gia thất lạc trong sa mạc là để ghi rõ giá trị của con người và của phép lạ. Mô tả cuộc cách mạng Trung Hoa, Malraux đã đặt trong khuôn khổ “thân phận con người”. Le Soulier de satin không phải là câu chuyện một chiếc giầy mà Anatole France rất có thể viết nên một cách rất duyên dáng, cũng không phải là truyện một mối tình trắc trở, mà chính là một “thiên truyện” về Thượng Đế và Thiên Sủng, về sự cứu rỗi và về toàn thế giới, qua sự chết đi sống lại của những đại lục ở thế kỷ XVI. Một tin vặt về một sự ám sát trong quán vắng đã xui Camus đặt vấn đề cô độc siêu hình của con người. Khi mô tả những cách cục của một giáo sư trung học nửa nhu nhược nửa lang thang, Sartre đã tìm trong bộ Les Chemins de Liberté một quyết tâm về tính cách tự do, về sự nhập thế và tinh thần trách nhiệm của con người.
            Thượng đế, tự do, giá trị con người, tinh thần trách nhiệm, sự cô độc siêu hình, Thiên sủng, những điểm đó dường như không thể là những đề tài cho tiểu thuyết hay kịch bản. Tuy vậy sự thật đã rõ ràng: Đáng lẽ chỉ bày ra, như trong các tác phẩm loại văn chương nhân bản, một trường hợp đặc biệt được giải quyết đầy đủ khi tới hồi kết cục, những tác phẩm rực rỡ nhất, rõ ràng nhất, tiêu biểu nhất để có thể dùng làm chứng liệu cho khuynh hướng của thời đại, những tác phẩm đó chỉ kể lại một câu chuyện để gợi lên, ở trên hẳn câu chuyện, một vấn đề lớn, một vấn đề siêu hình.
            Nhiều người đã phản đối hình dung từ này, nhất là trước sự trạng do hình dung từ đó nêu ra. Vậy ra muốn “hiểu” những tác phẩm đó phải qua một kỳ thi thạc sĩ triết học hay phải giật được mảnh bằng tiến sĩ thần học hay sao?
            Không, chỉ cần theo dõi tới cái chết của Mouhette trong tác phẩm của Bernanos, một thiên truyện trong đó không có những danh từ chuyên môn không bao gồm một ngành khoa học nào cả, và người đọc sẽ tự hỏi, mà không một chút nào có vẻ trí thức dởm, rằng cô bé, trong tâm tư Bernanos hay trong tình thương của Thượng đế, sẽ bị đọa đầy hay được cứu vớt. Qua câu hỏi đó, tâm tư của người đọc sẽ thâm nhập trọn vẹn vấn đề đặt ra mà chẳng cần phải hiểu biết về thần học. Chỉ cần theo dõi Tchen và Kyo đi tìm trong hành động cách mạng lẽ sống và niềm giải thoát của họ là người đọc đã cảm thấy vấn đề giải thích sự sống và đi tìm lẽ sống đặt ra với con người ta như thế nào. Chỉ cần tưởng tượng niềm hy vọng dị thường và an ủi vô biên của người phi hành thất lạc trong sa mạc từ bao ngày, không có cái ăn và nước uống, khi anh ta chợt gặp một người khác, một con người sống, để dõi theo được với Saint-Exupéry sự thích nghĩa của phép lạ đối với con người ta. Và cả với Sartre, tuy tác giả này thường tỏ ra bí hiểm trong sự dẫn giải học thuyết của mình, qua nhân vật Mathieu Delarue ta cũng nhận ra vấn đề của một con người muốn sống cho ra sống nhưng luôn luôn lùi lại, lưỡng lự trước những trách nhiệm cần thiết, một vấn đề thật là quá gần cận và thông thường đối với mỗi người.
            Phải nhìn nhận rằng những người đọc như vậy được đưa dẫn vào địa hạt siêu hình giống như ông Jourdain trong kịch của Molière đã làm văn xuôi mà không biết. Tại sao ta không nhìn nhận như vậy? Ông Jourdain có lấy làm kinh ngạc thật, nhưng con ông ta hay cháu ông ta sau này đã làm được thứ văn xuôi thật hay dưới tên ký Voltaire vậy.
            Sự phản đối, rất khó chịu đối với những người trong cuộc và họ đã làm thinh không đáp, của dư luận những người muốn “hiểu” đã chứng tỏ rằng thứ dân chúng ít hiểu biết nhất cũng đã để mắt tới vấn đề. Loại văn chương cổ điển hầu hết đều giải thích cặn kẽ hết cho người đọc như ta đã nhận thấy. Loạt văn chương hiện thời từ chối sự giải thích đó và chỉ đưa tới trước mắt người đọc một vấn đề. Tác giả chỉ muốn khơi ở người đọc một vấn đề đó và không có tham vọng giải quyết. Tác giả không thể có tham vọng lạ lùng muốn giải quyết và giải thích khúc triết với độc giả về vận mệnh con người. Về ý nghĩa cuộc đời, về sự kỳ diệu của Thiên sủng. François Mauriac có viết trong cuốn La Pharisienne (tr. 270): “Vận mạng của mỗi người đều riêng biệt, có lẽ một trong những nét kỳ diệu của nền công lý từ bi mà chúng ta được thụ hưởng là sự thiếu vắng hẳn một luật lệ phổ quát để phán xét và trừng trị con người”. Quả vậy ta không thể “hiểu” rằng Mouchette hay Thérèse Desqueyroux bị trừng phạt hay được cứu rỗi, và người ta đã tỏ ra không hiểu Bernanos hay Mauriac “đã muốn nói cái gì”. Nhưng các tác giả có nói gì khác hơn là những điều mà họ đã nói ra trong sách: Họ nói rằng vì không phải là Thượng đế, họ có biết chi hơn, họ chỉ muốn rằng sự thắc mắc của họ được đặt ra với người đọc cũng như với họ vậy… Tiểu thuyết của Malraux cho ta cảm thấy một sự khao khát vô cùng và cần thiết phải cho số phận con người, nhưng đến những trang chót ta không tìm thấy một lời giải đáp trọn vẹn. Bởi vì chính tác giả cũng không thể biết hơn được, và bản tâm ông ta cũng chỉ muốn nhắc nhở với độc giả sự khao khát đó, niềm hy vọng đó mà thôi.
            Đi vào giới siêu hình đối với các tác giả hiện đại chỉ có nghĩa là làm sống dậy một cách linh động sâu sắc những vấn đề nan giải mà khắp mọi con người đang lấy làm băn khoăn. Đã đành rằng cũng có những sự giải đáp sẵn sàng: Thiên Chúa giáo, chủ nghĩa Mác, Thông thiên học v.v… Nhưng có một hiện tượng rõ rệt nhất là không có một nhà văn nào đã ngồi gọn trong một học thuyết và hết thảy, vì tôn trọng sự tự do của độc giả, đều đưa tới cho độc giả những vấn đề cơ bản mà không giải quyết theo quan điểm của mình. Họ không làm, chính bởi họ thành thực và tôn trọng sự tự do của mỗi người vì, như Mauriac đã nói, nhiệm vụ của họ không phải là “thay đổi những người chung quanh tùy theo nếp sống và ý thích của riêng mình”. Malraux rất có thể thêm ở sau cuốn La Condition Humaine vài đoạn giải quyết rất gọn về ý nghĩa cuộc đời, có làm như thế thì chín phần mười các độc giả của cuốn truyện ngày nay rất phổ thông đó cũng chẳng lấy làm phật lòng. Sau khi đã để cho Thérése Desqueyroux kéo dài một cuộc đời sôi nổi, tù hãm và đau đớn, Mauriac rất có thể tới những trang cuối dẫn cô ta tới trước một linh mục…
            Nhưng cả Mauriac lẫn Malraux đều không làm như vậy, đó là một điểm rất ý nghĩa: các tác giả muốn rằng những con người và những hoàn cảnh do họ tưởng tượng ra mãi mãi không thể giải thích được, vì họ cho rằng những vấn đề đặt ra đã vượt quá kích thước đời người, và một con người đứng riêng ra, dù người đó là nhà văn đã cấu tạo ra những cuộc đời giả tưởng ấy, cũng không thể giải quyết nổi.
            Nhưng, tuy không giải quyết được vấn đề, ta có thể cảm thấy được, cảm tới một mực độ có thể giải quyết được trong thâm tâm ta, giải quyết một cách mơ hồ như ta vẫn từng giải quyết mọi việc vậy, sự mơ hồ đó cứ có ý nghĩa đối với những vấn đề cơ bản như cõi vô cùng, như chuyện Thiên Sủng, vấn đề tiềm thức hay sự diễn biến của Lịch Sử.
            Bởi lẽ đó cho nên có những đầu óc sáng suốt nhưng hẹp hòi, chẳng hạn như Mauriac, Pierre Lasserre, Julien Benda, hay gần đây Marcel Aymé, đã chê trách thời đại này sống trên một nền văn chương lãng mạn của sự “cảm thấy”, theo họ lãng mạn có nghĩa là đem thay thế một tư tưởng trong sáng bằng một tư tưởng mơ hồ căn cứ trên cảm giác. Họ đâu có nhìn ra đối tượng của tư tưởng của văn chương, của sự mô tả, đã thay đổi hẳn.
            Việc quan sát những ham mê của con người như tình yêu, lòng ghen, tật keo kiệt, lòng cao vọng hay thói huynh hoang, cũng như sự nghiên cứu những vấn đề xã hội trong những khung khổ nhất định như công lý, những thói tục hay vấn đề ly hôn ngụ một đối tượng rõ rệt, một kỹ thuật tả cảnh hoàn mỹ và một nền văn chương “cổ điển”. Mối băn khoăn về địa vị và những triển vọng của con người trong vũ trụ, về giá trị của một kiếp người hay về lẽ sống của con người, sẽ còn dai dẳng mãi trừ ra toàn thể nhân loại sẽ quyết định một lần ngả theo về một lý thuyết rõ rệt. Mối băn khoăn đó ngụ một đối tượng không thể quy định rõ bởi vì nó vừa rộng vừa bao la như chính vũ trụ vậy. Hoặc giả muốn tìm hiểu những tương quan giữa con người và vũ trụ, vấn đề ngụ một kỹ thuật tìm tòi hơn là một sự xác định vô căn cứ, một sự cần thiết phải đặt câu hỏi hơn là mô tả để cho con người ta tin theo. Như vậy cần có một loại văn chương “lãng mạn” trong đó vấn đề chỉ được cảm thấy, nhưng mỗi cá nhân có thể ý niệm được một cách giải quyết riêng. Đó chính là điều mà Giraudoux đã nhìn rất đúng khi tách rời chủ nghĩa lãng mạn với định nghĩa mơ hồ, ủy mị và văn chương do những nhà văn tự coi như lãng mạn đã đề ra và đem lại một ý nghĩa thích đáng: “Thời kỳ lãng mạn của một quốc gia chính là thời kỳ mà mọi sự đều lui bước trước sự đòi hỏi và nỗi nhớ nhung của trái tim. Thời kỳ mà đáng lẽ phải phó cho các triết gia công việc xây dựng siêu hình học, các nhà sớ chú công việc phân tách giáo lý và các vị thẩm phán nhiệm vị phê phán những hành động, mỗi tâm tư con người đều nuôi tham vọng phải ứng đối với những trách nhiệm đó và tìm cách giải quyết và tự mình vượt khỏi những vấn đề đặt ra. Giải quyết hay là phải chết vì nó (…). Lãng mạn chủ nghĩa chính là phiếm thần luận của thời đại văn minh vậy. Lãng mạn chủ nghĩa đem đặt ngay trong tay mỗi người công dân một thần tượng và công dân đó trở thành vừa là tu sĩ vừa là tạo hóa. Đó là thời kỳ tật bệnh mà ngay thẳng trong tâm hồn và cũng là thời kỳ bất mãn và sáng suốt, thời kỳ độc nhất mà vai trò của văn gia đưa họ tới mức ý thức của thời đại”. Như vậy, đó không phải là một thứ văn chương hỗn loạn thuần cảm giác, mà chính là một thái độ văn chương vụ công việc biến những vấn đề lớn thành những cảm xúc tiếp nhận được nhờ sự sáng tác văn chương (công việc mà trong văn chương cổ điển dành cho những vấn đề vụn vặt) và sở dĩ có thái độ như vậy chỉ vì những vấn đề đó không thể có một sự giải đáp cho toàn thể và được toàn thể công nhận. Không giải quyết được do một nền văn chương đã hết tính cách độc đoán những vấn đề đó được dành cho, không phải cho sự phán xét cá nhân (đây là phần việc của tân giáo phái và của duy lý luận, chứ không phải của lãng mạn chủ nghĩa như Mauriac và Marcel Aymé mà sự sáng suốt không đạt được tới độ phân biệt như vậy đã gán lầm) mà cho thân phận của mỗi con người, thân phận vừa riêng lại vừa chung, bao gồm cả sự suy lý lẫn sự tin theo Thiên Sủng, hay Lịch Sử, hay Tiềm Thức. Thân phận đó độc nhất và không thể thay thế lý trí có thể ảnh hưởng được những Đức Tin truyền thống hay lịch sử cũng có thể góp phần vào đó.
            Xem như vậy sự thay đổi trong hình thái của nền văn chương hiện đại có liên quan mật thiết tới sự thay đổi trong mục đích của nền văn chương đó. Đáng lẽ chỉ mô tả một đối tượng có hạn định (lòng ham mê của con người, những cuộc phiêu lưu du ngoạn vấn đề xã hội) trong một thế giới hết sức là quân bình, nền văn chương hiện đại, nhân một tin vặt – cũng một loại với những đề tài thuộc loại văn chương cũ tuy được cảm xúc qua những âm vang mới lạ – đã gây được những rung cảm trước những vấn đề lớn mà nhân loại không giải quyết được.
            Nền văn chương mới vì vậy đã đứng trong một thế giới khác hẳn một thế giới mà trong đó mỗi hành động, mỗi câu chuyện, đáng lẽ chỉ gợi lên một mối thắc mắc rõ rệt trong một hoàn cảnh vững vàng đáng tin, đã đem ngay hoàn cảnh đó ra đặt thành vấn đề. Toàn thể hay chỉ một chi tiết nhỏ cùng có thể thành vấn đề lớn: vấn đề của sự sống và của lẽ sống. Camus đã xét định “ý nghĩa cuộc đời là câu hỏi thúc bách nhất”. Trái lại, với một nhãn quan bình dị hơn, chẳng hạn như ở trong tiểu thuyết cổ điển, đã có một ước lệ rằng những con người lịch sự quý phái có sẵn một đạo sống mà tiểu thuyết không thể thay đổi được, hoặc giả chỉ đem lại một sắc thái mới lạ mà thôi. Bây giờ mối tin tưởng đã tan biến và Bernanos đã phải thốt lên: “Anh còn mong tạo nên sự sống làm gì nữa nếu chính anh đã đánh mất ý nghĩa của sự sống?”
            Màu sắc của hai loại văn chương phân biệt rõ rệt như vậy: một bên cho rằng tác giả và người đọc đều là những người biết cách sống và hai bên chỉ trao đổi ít nhiều ý nghĩa về một điểm đặc sắc nào đó. Một bên phỏng định rằng giữa mọi người không có một chút gì giống nhau, ý nghĩa cuộc đời đều không ai biết và cũng ai từ trước đã có hội ý với ai. Hoàn toàn xa lạ với nhau, nhà văn và độc giả không có sẵn trong sự giao cảm một ước lệ chung, một thành kiến chung. Những tương quan gay go qua lời văn và câu chuyện gây giữa nhà văn và độc giả một cảm tưởng khó chịu nó chứng tỏ rằng giữa hai bên không hề có một sự đồng lõa tinh thần hay văn chương: tác giả chỉ tin rằng mình đưa ra được một câu chuyện đặc biệt và gai góc bên ngoài mọi ước lệ, và bắt người đọc phải suy nghĩ. Tác giả không trí thức dởm, chỉ trao câu chuyện vào tay người đọc một cách nguyên vẹn và để cho người đọc suy nghĩ và kết luận nếu người đọc có thể dám lao vào. Trước nạn dịch hạch lan tràn tại thành phố Oran, một nhân vật than trời, một người khác bỏ trốn, một người khác nữa trốn chặt ở trong nhà, và một nhân vật cuối cùng lo chạy chữa cho các bệnh nhơn mà không hy vọng gì chữa cho họ lành bệnh cả. Cuốn tiểu thuyết La Peste của Camus chỉ kể lại những thái độ đó mà thôi. Rút kết luận luân lý từ câu chuyện không phải là công việc của nhà văn. Nhưng câu chuyện vẫn đó, bắt người đọc phải đi tìm một kết luận, cho dù không bao giờ tìm thấy…



            Một loại văn chương đặt vấn đề cũng không bắt buộc phải là loại văn chương luận đề. Mặc dầu tài khéo, Sartre là người độc nhất bị rơi vào khuyết điểm này.
            Danh loại “tiểu thuyết luận đề” gợi ngay từ trước một ý chán nản. Người ta nghĩ ngay đến những lý luận của nhân vật lải nhải trong văn Dumas con, đến cuốn La Maternelle của Léon Frapié đến Un divorce hay Le Disciple của Paul Bourget và tới những phim của André Cayatte (đây cũng là một thí dụ về sự chậm chạp của điện ảnh đối với đà tiến triển của cảm xúc văn chương). Trên thật tế, tiểu thuyết luận đề thuộc về loại văn chương cổ truyền: nó hướng về những độc giả bình dị sống trong một thế giới vững vàng để bày cho họ thấy một điểm đáng phẫn nộ trong cái vũ trụ bình yên đó. Nó ức đoán rằng vũ trụ chúng ta đang sống là đáng sống, ngoại trừ một vài chi tiết rõ rệt: chẳng hạn như những luật lệ về ly hôn, theo Bourget, chế độ học đường, theo Prapié, tình trạng công lý, theo Cayatte. Sáng tác như vậy có nghĩa là tranh đấu cho một sự thay đổi về một điểm nhất định nào đó. Một cuốn tiểu thuyết luận đề thường thường đặt một vấn đề xã hội được quy định rõ để có thể giải quyết được do một luồng dư luận hay một ông bộ trưởng cương quyết. Trong toàn thể, loại văn chương đó ngày nay đã được thay thế bằng những thiên phóng sự hay điều tra. Một nhà báo bây giờ rất có thể lấy lại đề tài của những tiểu thuyết như Les Déracinés, Un divorce, La Maternelle hay Ton corps est à toi của Victor Margueritte và nêu lên những tít lớn: Mối ác bình về đám trẻ mồ côi hay Vụ nhơ nhuốc về những nhà chứa.
            Như vậy, những nét chính của tiểu thuyết luận đề đã biến sang lãnh vực báo chí, tạo nên một hình thức văn chương sắc bén hơn, mau lẹ hơn tuy có kém văn chương hay không có tham vọng văn chương hoặc tư tưởng. Báo chí ngày nay đã lấy lại, rất phải lẽ, những hình thái nhất thời và gây chiến của tiểu thuyết. Tuy nhiên, tiểu thuyết đôi khi vẫn giữ lại vai trò đó, chẳng hạn như Gilbert Cesbron nghiên cứu trong Les Saints vont en Enfer vấn đề các linh mục làm thợ và trong Chiens perdus sans collier vấn đề thanh niên lầm than. Nhưng làm như vậy, tác giả vẫn chỉ là một nhà báo dùng thể tiểu thuyết: ông ta vẫn đặt một vấn đề rõ rệt và có tính cách thời sự.
            Tuy nhiên, hình thái văn chương đặc sắc của thế kỷ XX mà ta vừa nhận xét tuy có giống loại văn chương luận đề ở điểm có vấn đề đặt ra nhưng lại hoàn toàn khác biệt: một bên vấn đề nhằm sự cải tạo xã hội và gây dư luận, một bên nêu vấn đề siêu hình và liên quan đến toàn diện thân phận con người. Đối với những vấn đề mà văn chương và điện ảnh luận đề nêu ra với Bourget, Barrés, Frapié, Cayatte, những đạo luật công bằng có thể giải quyết được; nhưng phương sách đó trở nên bất lực và không thích đáng nếu muốn giải quyết sự khao khát vô cùng của những nhân vật Malraux, vấn đề Thiên Sủng của Mauriac, hay sự cô độc siêu hình của Camus… Không một nền pháp lý nào có thể giải quyết vấn đề do Rodrigue và Prouhèze nêu ra trong vở Le Soulier de satin, cũng như những vấn đề mà vở Caligula của Camus ném ra trước mặt loài người và cả Thượng đế nữa!
            Đó là điểm dị biệt quan thiết giữa văn chương “gây vấn đề”. Loại thứ nhất chú trọng tới những vấn đề tuyệt đối nhân bản và xã hội, có thể do chính nhân loại sửa chữa được, loại thứ hai chăm chú tới âm vang siêu hình và tinh thần của mọi hành động và vận mạng của con người. Bởi vậy tuy cùng đặt ra những vấn đề, văn chương của năm chục năm gần đây khác biệt hẳn với nền văn chương toàn thịnh hồi 1900 vì tiếp theo với những vấn đề liên quan đến ý nghĩa sâu sắc của kiếp người.
            Do đó ta sẽ dễ dàng nhận thấy tại sao nền văn chương này đã đổi hẳn thể tài và bút pháp, tại sao nó tồn tại được trong một thế giới mà những thói quen đã trở nên vô giá trị, lời văn tả cảnh chải chuốc đã trở nên vô vị, những vấn đề có hạn định đã hết ý nghĩa, tình tiết trong câu chuyện không làm đẹp lòng mà chú trọng tới gây thắc mắc cho người đọc, và sau hết lý luận đã nhường chỗ cho sự lo âu. Một thế giới và sự phẳng lặng quân bình cá nhân của mỗi độc giả bị chối bỏ bằng cách đặt lại, cả nghìn lần từ khi nhân loại phát sinh, những vấn đề căn bản. Một thế giới mà trong đó văn chương không còn là một nguồn giải trí hay để thỏa sự tò mò mà là một vấn đề đặt ra không có lời giải đáp. Một thế giới mà những nhân vật bị vò xé bởi những nông nỗi khác hẳn với chúng ta, tóm lại một thế giới mà chẳng ai ngồi yên được. Nếu ta thử kiếm cách đem một mái lều tranh, một vụ ngoại tình sắp đặt thật khéo, một vấn đề xã hội có thể giải quyết nhờ thiện chí của dư luận, vào trong một tác phẩm như L’Annonce faite à Marie hay Les Noyers de l’Altenbourg… Ta sẽ có cảm tưởng không khác nào khi đem trộn lẫn trong tập tư tưởng của Pascal những nét bay múa trên bức họa đồ của xứ Ái tình, cảm tưởng rằng những “chuyện tẹp nhẹp” đó sẽ bị lôi cuốn đi trong cơn lốc phiêu lưu, định mạng và thiên sủng, một cơn lốc vội vã không có thì giờ ghé lại để vướng vít với những chuyện vặt, những phân tích lôi thôi.
            Sau hết những sự cải tiến những nhà tù và những học đường, việc phân tách bản ngã của người đàn bà ngoại tình, lối tả cảnh gây cảm kích về những vẻ đẹp riêng của tỉnh nhỏ đã trở nên tức cười trước mãnh lực và ánh chói ngời của những tác phẩm trụ cột trong nửa thế kỷ vừa qua đi, tất nhiên nền văn chương đó có nhằm một cái gì cao vợi có tánh cách tâm linh đó mới đẩy được những đề tài quen thuộc nhất, gần gũi nhất với các nhà văn xuống hàng những chuyện tầm phào.



            Muốn rũ bỏ nghệ thuật viết văn và kể chuyện khéo léo cũ, muốn chối bỏ những tình tiết và thời sự tính, muốn đưa ra một đặc điểm làm kinh ngạc mọi người, xa lạ hẳn với thế giới quen thuộc những thói quen dễ chịu và những thói tục xã giao nền văn chương mới phải đi vào những giá trị tột đỉnh. Vì cái thói khinh khỉnh, thô bạo, bất chấp dư luận coi thường mọi người mà chẳng biết chiều đãi theo lề thói phải là những đặc điểm của một Pascal hay một Saint-Jean de la Croix.
            Thật vậy, mục tiêu rõ rệt của những nhà văn có tiếng tăm, những nhà văn đã trở nên “cổ điển” đã rõ rằng họ không định ngừng lại ở những chuyện vặt mà chăm chú dõi theo những hình thái của vận mạng con người, những hình thái hoàn toàn tâm linh vậy.
            Tưởng cũng nên lưu ý tới danh từ này: xuất thân từ tư tưởng Thiên Chúa giáo, danh từ này đã bị vừa làm mờ nhạt đi vừa được tô sắc nét thêm. Mờ nhạt đi đến độ có thể sai lạc mất ý nghĩa, tô sắc nét thêm đến độ ta có thể lòm lẫn nếu đem áp dụng vào những nhà văn không đứng vào trong khuôn khổ một giáo lý Thiên Chúa nào. Tuy nhiên, nếu muốn tránh danh từ đó, không thể nào không phải dùng tới những danh từ triết học còn khó hiểu gấp bội để chỉ định một giá trị mà sự khám phá ra đã làm rạng danh cho nền văn chương do những tác giả hoặc không theo Thiên Chúa giáo hoặc vô thần.
            Một cuộc đời người có thể đem ra kể lại trên bình diện truyện ký trên bình diện xã hội, hay tất cả những tình tiết của khoa tâm lý học, hoặc thêm vào nữa, với sự khéo léo của lối văn tả chân. Balzac, Zola, Maupassant, Anatole, France, và gần chúng ta hơn, các đồ đệ của những nhà văn này đã chứng tỏ như vậy. Nhưng có một nhãn quan nào thuộc loại đó có thể biện minh cho tác phẩm một Malraux, một Saint Exupéry, một Cocteau, một Giono, một Sartre, một Camus, một Julien Gracq, một André Dhotel, nếu chúng không muốn kể ra những những nhà văn thấm nhuần Thiên Chúa giáo? Malraux, Sartre, Giono, Camus đều không muốn mô tả xã hội chung quanh hay đào sâu vào những ngõ ngách tâm lý của sự ham mê… Có ai định mở tác phẩm của họ ra bằng chiếc chìa khóa đó thật không khác gì một người say rượu vào nhầm ngõ cứ nghĩ tới đã muốn tức cười. Cũng không ai nghĩ rằng các tác giả đó viết văn khó nhọc và tài tình như Flaubert hay cố tình làm ra vẻ nghi hoặc, duyên dáng và hời hợt như Analole France.
            Những điều mà họ mô tả không đứng trong khuôn khổ xã hội hay phân tách tâm lý; không ai có thể cho rằng các nhân vật của họ đi tìm tình yêu, tìm những chiến thắng huynh hoang, cũng không tìm sự êm ấm tinh thần hay vật chất. Những gì đã tạo nên động lực và mục đích của họ không ở trong những phân loại xã hội và không do nhiệt tình thúc đẩy. Họ đi tìm cái mà Malraux mệnh danh là số phận, một ý nghĩa vô hạn của đời người.


R. M. ALBÉRÉS
SĨ MỘC dịch



 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #80 vào: 16/12/2016, 08:36:58 »


Những giòng chữ lạ

Em tự nghìn xưa chuyển bước về,
Thuyền trao sóng mắt dẫn trăng đi.
Những giòng chữ lạ buồn không nói,
Nét lửa bay dài giấc ngủ mê.

Em đến mong manh vóc ngọc chìm,
Tàn canh hồn nhập bóng trăng im.
Ta van từng đóa sao thùy lệ,
Nghe ý thơ sầu vút cánh chim.

Mười ngón tay dâng lửa nguyện cầu,
Hỡi ơi! Hồn chuyển kiếp về đâu?
Ta xin giữ trọn lòng trinh bạch,
Ngưỡng vọng Em như Nữ Chúa Sầu.

Em đến từ trong giấc hỗn mang,
Lời ca không mở cửa thiên đường.
Thời gian bốn phía nhòa gương mặt,
Ảo tưởng nghiêng vầng trán khói sương.

Em với ta chung một hạn kỳ,
Hóa thân vào nét chữ cuồng si.
Chiêm bao động gót giầy mê hoặc,
Trang giấy bay mùi tóc ái phi.

Nét chữ hoang sơ hiện nét người,
Ta ngừng hơi gọi: Diệu Huyền ơi!
Mấy phương tinh lạc xanh vần điệu,
Tuyết gợn làn da bóng nguyệt trôi.


                         ĐINH HÙNG



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #81 vào: 16/12/2016, 10:40:31 »


Bài tháng sáu

Với thân nhỏ chín muồi trăm tội lỗi
Tôi trở về mang tủi nhục trên vai
Giữa ngã ba đường tay hờ gối mỏi
Tôi cầu xin đời ban phép lạ tương lai

Người cũng vậy, lòng muôn nghìn dối trá
Vờ thương yêu, vờ đắm đuối, ân tình
Tôi cũng dại, tin lời, trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Thôi tình ái, hãy về theo ảo mộng
(Ta lỡ đi xa hết nửa đời rồi)
Người phụ rẫy, ngày điêu tàn đứng bóng
Đêm nghẹn ngào chan muối mặn trong môi

Tôi đã biết tội thân làm con gái
Đời không thương tất cả héo khô dần
Không hiểu về đâu để cầu sám hối
Tôi đốt lỡ lầm theo với tuổi thanh xuân

Tên người hay, đã trở về bóng tối
Tôi đã vô tri giữa tháng năm dài
Và một bận, có một người nhắc lại
Tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai


                         TRẦN THY NHÃ CA



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #82 vào: 16/12/2016, 20:53:33 »


Cao xa

Sầu cao ngút chín phương này
Níu hồn khăn trắng phút giây lịm dần
Gió sa vực mắt còn thâm
Cuộc đời sao mãi âm thầm buông xuôi
Ngó ra nào biết tương lai
Sông buồn nước chảy nối dài hờn oan
Thuyền đơn dọ mãi ngỡ ngàng
Hàng cây chứng giám bãi ngàn ru khơi
Mon men nẻo cũ tay vời
Cho nghìn sau tiếp tiếng cười hôm nay


                         NINH CHỮ



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #83 vào: 17/12/2016, 08:12:35 »


Thao thức

Đài điếu thuốc vừa rơi qua cửa sổ
Để lại trong sương một đốm lửa nhòe.
Chiếc bàn đen đầy rượu bia loang lổ
Bên ghế ngồi như dở một hơi thơ.

Lạnh sau lưng và trườn lên gáy xám
Bên thái dương gân cốt đã rung đều.
Bàn tay nóng ran theo về mưa đổ
Chiếc phím hồng nhà ai rót nhạc êm.

Con sò đói cuộn tròn như tiếng khóc
Đôi bàn chân buồn ngủ chết từ lâu.
Mà khóc mi chưa hề lan tiếng gió
Bước vào thu lòng còn ở kia đâu.


                         PHẠM NĂNG HÓA



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #84 vào: 17/12/2016, 13:38:03 »


Góc phố

Xin êm bước dưới hàng cây bóng cả
Buồn mùa thu làm rụng hết màu xanh
Theo hoàng hôn tôi đếm bước một mình
Trong góc phố gió lùa không qua tới
Lầu cao làm mắt nhìn thêm chới với
Bầy chim về gác trọ giữa lầu chuông
Nóc giáo đường xuyên thành những vết thương
Chẳng thương xót màu da trời ứa máu
Hồn đơn độc tôi tìm nơi ẩn náu
Nghe thời gian về một chút tàn phai
Trắng tượng trần phơi xác lá đầy vai
Lòng chợt thấy mùa thu đi vội vã
Người con gái cũng qua đường hối hả

Xin êm bước dưới hàng cây bóng cả
Với màu chiều trên đôi mắt sầu êm
Như chiều nay vừa mang nặng nỗi niềm
Tôi đi với mối buồn trông ngày tháng


                         TRẦN XUÂN KIÊM



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #85 vào: 17/12/2016, 21:07:30 »


“HỒ THÙY DƯƠNG”* CỦA DOÃN QUỐC SỸ

NHỮNG CHUYỆN NGẮN đã đăng báo góp lại in thành sách, đó là hiện tượng văn hóa của mùa hạ và mùa thu năm nay. Đọc một bài trên một tờ tạp chí, người đọc ít chú ý bằng khi đọc một cuốn sách trình bày đẹp do một nhà xuất bản có vài ba thành tích với văn học. Đọc một cuốn sách, ngoài cái việc thưởng thức những câu chuyện hay ho, người đọc còn muốn tìm đến một cái gì thuần nhất, mạch lạc, liên tục. Nhưng những chuyện ngắn viết cho nhiều tờ báo và đăng lần lượt nhiều ngày tháng năm, ít khi có được những tính chất thuần nhất, mạch lạc, liên tục của một cuốn sách viết một lúc với một đề tài duy nhất. Mặt khác sự trình diện của loại sách góp những bài đăng báo không mấy khi gây hào hứng, và người mua sách chỉ làm cái việc tích trữ tài liệu cũ hơn là tìm luồng gió mới trong văn học.
            Cầm những cuốn sách được xuất bản gần đây chúng ta hơi thất vọng vì đó. Hầu hết là sự góp nhặt những bài báo đã đăng rồi. Việc góp nhặt tuy hay và cần thiết, nhưng ít ra nó phải đi kèm với những tác phẩm mới, thì mới có thể xóa bỏ cái cảm tưởng nghèo nàn, cằn cỗi trong văn chương.
            Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa cho in thành sách những chuyện ngắn của ông, phần nhiều đã trình diện với độc giả trên nhiều tờ báo, cách đây cũng đã khá lâu. Tên sách là tên câu chuyện thứ nhất: Hồ Thùy Dương. Những chuyện ngắn thuộc loại cổ tích ngụ vài ý tượng trưng xa xôi mơ hồ. Điệu văn của Doãn Quốc Sỹ rất thích hợp cho loại chuyện này, buồn nhè nhẹ, êm ả, đều đều giọng ru con, âm thanh kéo dài ngân xa.
            Trong câu chuyện đầu, Hồ Thùy Dương, Doãn Quốc Sỹ lấy một câu chuyện cổ tích để diễn tả tranh chấp kinh hoàng muôn đời giữa Thiện và Ác. Ác nhập thể vào một đạo sĩ nguyên là một con sói tu luyện lâu năm thành tinh có tài biến hóa vô cùng, nhưng không bao giờ dứt bỏ được lòng độc, mà chỉ có thể dùng tài thiên biến vạn hóa để làm cho Tật Ác lan tràn thêm mãi trong nhân gian, xây mộng thành lập một Đế quốc của Tật Ác. Thiện thấm nhuần một vị vua, Hạc Miên Thánh đế, từ bỏ quyền uy ngai vàng để tu theo Chánh đạo, lấy Thiện Đức làm quy chuẩn cho hành động con người. Nhờ Thiện Đức rộng lớn của vị Thánh đế mà nhân gian tránh được cái nạn biến thành những đàn sói độc ác do phép mầu của Đạo sĩ Sói. Vì lòng dạ độc ác nên “chiếc đũa vạn năng” của lão đạo sĩ Sói không thể dùng được trong mộng ngự trị thế giới. “Chiếc đũa vạn năng” trong truyện, là những hiểu biết khoa học, những phương tiện kỹ thuật mạnh mẽ của nhân loại ngày nay, nhưng cũng như chiếc đũa đó, khoa học kỹ thuật không thể đem dùng để bành trướng “Tật Ác”, mà chỉ có thể đem dùng để lan tỏa “Thiện Đức”. Câu chuyện cổ tích của Doãn Quốc Sỹ hàm chứa một ý nghĩa tượng trưng hơi lộ liễu quá, dễ dàng quá, nên có vẻ là một câu chuyện răn đời, thiếu tư nhiên có phần gượng gạo. Tuy nhiên nó được một ưu điểm là rất lành mạnh, và nên cho thiếu nhi đọc làm một chuyện vui và luyện văn.
            Những câu chuyện giữa: Trạng đi sứ, Dạ Lý Lan phu nhân, Trái tim lửa, có thể được sắp hạng vào những loại truyện cổ tích hoang đường thuần túy Việt Nam, và có đủ tính của loại chuyện truyền khẩu được ghi lên văn tự. Đọc những câu chuyện này, người Việt Nam có cảm tưởng đã mang máng nghe kể một lần nào rồi, trong một đêm tháng chạp, bởi những cụ già hiền lành yêu cháu.
            Câu chuyện thứ năm “Cánh đồng xanh” mang một màu sắc lạ, như một bức tranh siêu thực, hay một khám phá khoa học thần bí đã làm chủ được chiều thứ tư của vũ trụ, chiều động, và có thể làm sống lại không gian, quá khứ trong một hiện tại vô cùng tận. Thực vậy “động hoa quỳnh” của câu chuyện là một nơi không có thời gian và không gian. Là một cuốn phim thế sự ngàn năm hiện ra trong khoảnh khắc. Ở đây tài kể chuyện của Doãn Quốc Sỹ có thể đã lên đến bậc khá. Câu chuyện cuối cùng, một câu chuyện dự đoán vận mệnh nhân loại, hơi gượng ép để đem những tư tưởng vào chuyện. Hai khối “thế giới được giác ngộ” và “thế giới tự do” thay thế cho hai khối cộng sản và tư bản ngày nay. Sự tranh chấp ở đây cũng khoác màu sắc sự tranh chấp đơn giản, song phương giữa Thiện và Ác, trên một bình diện nhân loại, hoàn vũ. Và tất nhiên sau nhiều gian nguy Thiện sẽ thắng Ác, với những phương tiện khoa học được ý thức đầy đủ hơn, và lịch sử nhân loại lại tiếp tục mãi trên con đường “theo tiếng gọi của Ý Thức Trường Cửu”.
            Tất cả tập truyện ngắn của Doãn Quốc Sỹ mang tên Hồ Thùy Dương muốn đặt một cái mốc trên con đường nhân loại “theo tiếng gọi của Ý Thức Trường Cửu”, tìm về một trật tự tốt đẹp, một hòa bình vĩnh viễn. Dọc chặng đường, cuộc tranh chấp khốc liệt giữa Thiện và Ác sẽ làm đẫm máu nhân loại, nhưng cuối cùng Thiện vẫn thắng Ác. Doãn Quốc Sỹ đã muốn dùng hình thức hoang đường thần kỳ để tự do nói ý nghĩ của ông. Khi đặt ra ngoài câu chuyện, những ý nghĩ đó chất phác như những giấc mơ hồn nhiên của trẻ con. Đặt vào trong câu chuyện, những ý nghĩ đó lộ liễu quá nên có vẻ là những ý đạo đức sáo trong cái câu chuyện ngụ ngôn con cừu con sói. Giảng đạo đức vốn rất hay và hữu ích nhưng đem đạo đức vào chuyện, dù là chuyện cổ tích, cần phải thận trọng rất nhiều, để tránh cái họa làm nhàm đạo đức. Nếu ở một vài chuyện, Doãn Quốc Sỹ đã tìm được một lối kể chuyện khá có duyên và tự nhiên, thì phần nhiều khi ông mang tham vọng viết chuyện tư tưởng dạy đời đã mất đi nhiều những ưu điểm tự nhiên, duyên dáng, để rơi vào lối dạy đời kênh kiệu làm cho người đọc khó chịu vì bắt gặp mục đích dạy đời ở mọi trang giấy. Trong một câu chuyện, làm sao cho tự câu chuyện nói được một ý nghĩ, một tư tưởng, mà không cần những giải thích giông dài của tác giả qua câu văn, hay lời nói của một nhân vật trong chuyện. Đó là một kỹ thuật viết truyện, nhất là loại truyện ngụ ngôn đạo đức. Doãn Quốc Sỹ đã không tránh được sự quyến rũ đọc diễn văn dạy đời qua miệng một nhân vật đại diện tác giả.
            Nhưng đặt vào tình trạng văn chương xứ sở, tập sách của Doãn Quốc Sỹ cũng đã làm được một việc góp mặt quý báu rất nên đọc lúc nhàn hạ để thưởng thức lời văn hoa mỹ một cách tế nhị và những ý nghĩ hay hay.


HUYỀN PHỤNG
______________________________
* Nguyễn Đình Vượng xuất bản.



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #86 vào: 18/12/2016, 14:28:28 »


“CHỒNG CON TÔI”* CỦA DUY LAM

DUY LAM LÀ MỘT NHÀ VĂN TRẺ, Phượng Giang là một nhà xuất bản già. Lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và sự chín chắn, kinh nghiệm với uy tín tuổi già cộng lại đã làm nên và giới thiệu với chúng ta một tuyển tập truyện ngắn: Chồng Con Tôi của Duy Lam.
            Tôi mang ý thức và niềm tin tưởng ấy để đọc tác phẩm này, thứ tự lần lượt suốt bốn chuyện: Chồng con tôi, Vực thẳm, Dĩ vãng, Ngập ngừng. Hầu hết không khí của tập truyện đều biểu tỏ một ham muốn đáng mến của tác giả: khám phá phần nội tâm dựng lên trong bối cảnh gia đình, như vậy, câu hỏi được đặt ra là những kiểu mẫu nhân vật của Duy Lam, xuất xứ những nhân vật của Duy Lam và bối cảnh, lề lối kiến trúc bối cảnh, của ông đã được thể hiện ra sao trong tác phẩm này?
            Ý nghĩ sẫm nhất, nổi bật trước tiên của người đọc văn Duy Lam là nhìn thấy trước mặt ông cả một thế giới tiểu thuyết của những nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn, thời tiền chiến. Và chính cái uy lực thế giới ấy đã chiếm đoạt ông, sai khiến ông. Nói một cách khác, Duy Lam đã bước trên lối đi vạch sẵn của những tác phẩm Phượng Giang, được nuôi sẵn bởi đó, mặc dù ông thuộc về lớp người bây giờ, nằm trong những sinh hoạt hiện đại, đối diện với những vấn đề lớn của thế kỷ này đương dựng lên trước mắt. Đọc Duy Lam, điều nhận xét trên không làm tôi ngạc nhiên tuy đau đớn. Đến bây giờ, trong một tác phẩm của một người trẻ tuổi đáng nhẽ phải biểu hiện sự mới mẻ hứa hẹn thì người ta vẫn tìm được trong tác phẩm này những đoạn văn chải chuốt lê thê, những sợi tóc chẻ tám sai lạc. Hơn thế nữa, ở Duy Lam, ông còn luôn luôn tỏ ra trong kỹ thuật là một người cố gắng thông minh, từng trải, cố gắng làm vẻ tân tiến ý nhị, cố gắng sử dụng lòng vị tha, rộng lượng. Sự ý nhị thông minh tân tiến vị tha rộng lượng cố gắng bầy tỏ này không cần thiết cho nghệ thuật, và bởi thế, sự thừa thãi đó đã làm cho văn chương của ông trở nên rườm rà cũ kỹ nặng nề chậm chạp.
            Như trên đã nói, Duy Lam đã bước trên lối đi vạch sẵn của Tự Lực Văn Đoàn, phải hiểu lối đi này là một lối đi mòn. Sự có mặt vinh hiển của nó trong quá khứ chỉ nằm lại ở đó như một dấu chấm cuối dòng của một trang sách đã lật qua, sang chương khác.
            Lời nói thành khẩn và trách nhiệm của tôi ở đây về Duy Lam là ông đã lầm lẫn khi xây dựng sự nghiệp của ông trên ý thức nối tiếp truyền thống Tự Lực – Cái đuôi dù dài, dù vẫy lên, dẫu sao, không thể to bằng đầu – câu thành ngữ Tây phương này đúng.
            Nói về một vài tập truyện ngắn của nhà Phượng Giang gần đây, một người bạn đã đùa với tôi một câu: Con đường Tự Lực Văn Đoàn nối dài. Ý tưởng này đã làm tôi nghĩ đến một vài con đường nối dài trong thành phố chúng ta đang sống đây và số phận những cây cối, nhà cửa, phố xá trong những phần “nối dài” của nó.
            Ưu điểm của văn Duy Lam, như trên đã nói, chúng ta nhìn thấy ở ông một ham muốn khám phá phần nội tâm của nhân vật, trên địa hạt này, đọc Duy Lam, rút ra từ một vài diễn tiến tương quan của tâm lý những nhân vật, nhiều khi chúng ta cũng gặp được những thảm kịch tuy nhỏ, nhưng sắc, mạnh. Điểm thành công duy nhất này của Duy Lam, rất có thể ông không biết và không tin.
            Tuy nhiên một tác giả khi đã có một ý muốn, một chiều hướng, một tham vọng tác giả ấy tất là sự hứa hẹn đáng kể cho tương lai và chúng ta vẫn có thể chờ đợi ở ông.
            Nói như vậy, với Duy Lam, tôi nghĩ, Chồng Con Tôi phải được coi là một tác phẩm thất bại, sự thất bại không đáng tiếc.


TRẦN HẠNH
_________________________
* Phượng Giang xuất bản.



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #87 vào: 22/12/2016, 10:59:27 »
Hiện Đại | Số 8  [tháng mười một/1960 | 112 trang]
                                       VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX
MỤC LỤC
° VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX:
        THUẦN PHONG |  NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU |  1
        BÀNG BÁ LÂN |  NGUYỄN KHUYẾN |  13
        NGUYỄN XUÂN HIẾU |  CHU MẠNH TRINH |  26
        TRẦN MỘNG CHU |  TRẦN TẾ XƯƠNG |  34
        NGUYỄN DUY DIỄN |  NGUYỄN CÔNG TRỨ |  43
        ĐINH HÙNG |  TÔN THỌ TƯỜNG, PHAN VĂN TRỊ |  45
° SÁNG TÁC:
        ĐINH HÙNG |  HỜN GIẬN (thơ) |  55
        TẠ TỴ |  CHIỀU KHÉP CỬA (thơ) |  56
        SONG LINH |  THÂN PHẬN |  58
        TẠ TỴ |  TIA CHỚP |  65
        VƯƠNG DƯ |  THÁNG BẢY TRÊN CAO |  73
        NGUYỄN THỨC|  CÂU CHUYỆN TRÊN MẶT GIẤY |  78
        TẠ QUANG KHÔI |  TRÊN CAO |  88
        THÙY SONG THANH |  BÀI HÁT BUỒN NGÓN TAY (thơ) |  97
        HOÀNG ANH TUẤN |  TRƯỚC TỬ THI (kịch) |  98
° NHÌN BẢY CHÂN TRỜI:
        HUYỀN PHỤNG |  XÉT MÌNH |  108
        KHIÊM ÁI |  TRIỂN LÃM NHIẾP ẢNH QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM CỘNG HÒA |  110
        LÊ TRỌNG |  Ý NGHĨ NHỎ VỀ NHỮNG PHÒNG TRANH THÁNG MƯỜI |  111
        NGUYÊN SA |  KHUÔN MẶT THỜI GIAN



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #88 vào: 22/12/2016, 11:34:42 »


Khuôn mặt thời gian

CƠN ÁC MỘNG DÀI hai ngày hai đêm đã thật sự, trọn vẹn tan biến và ánh sáng tươi mát lại soi chiếu lên những sinh hoạt quen thuộc của cuộc đời thường nhật.
            Những công cuộc thảo luận của những người văn nghệ lại trở về với cuốn sách cuối cùng mang tên Hồ Thùy Dương của Doãn Quốc Sỹ, những ý nghĩ sôi nổi chân thành của Nguyễn Văn Trung, tác phẩm thi ca mới nhất của Đinh Hùng, cuộc triễn lãm trong tương lai gần của tạ Tỵ.
            Cuộc triển lãm này với số lượng tác phẩm phong phú mà người hội họa ấy đã đưa tôi vào trong một đêm tiền triển lãm, làm sống lại trong tôi vô số ý nghĩ xa cũ. Tôi nghĩ đến niềm tin tưởng vui sướng và nỗi lo âu chạy dài đến vô tận xâm chiếm lòng người sáng tác mỗi khi đưa tác phẩm vào vùng ánh sáng chói lòa của đấu trường cuộc đời. Tôi nghĩ rằng nỗi lo âu ấy đã lớn rộng vô cùng với mỗi con người sáng tạo lại càng trở nên vô cùng lớn rộng riêng với người hội họa. Lớp ánh sáng chói lòa của đấu trường lớn cuộc đời chiếu vào tác phẩm mỗi người chúng ta đến từ bốn phía chân trời với người hội họa chỉ tập trung vào trong khuôn khổ cố định, vào bốn bức tường gian phòng triễn lãm. Người hội họa nhìn thấy tác phẩm mình nằm ở đấy, nhìn thấy người nhìn tác phẩm đứng ở đấy với những ý nghĩ xuất hiện trong mắt nhìn ngắm, trên trán suy tư, trong nụ cười vui sướng. Người hội họa nhìn thấy mình trong mỗi ánh mắt đường trán, nụ cười cấu tạo nên lớp ánh sáng ghê gớm mà tôi gọi là đấu trường lớn cuộc đời.
            Ý nghĩ xa cũ về sinh hoạt nghệ thuật tương lai này gợi đến ý nghĩ xa cũ khác. Tôi nghĩ đến những ngày còn sinh hoạt trong bán nguyệt san Gió Mới. Những ngày tháng ấy bây giờ tôi gọi là “đã bốn năm rồi”. Tôi nghĩ đến những tờ báo xuất hiện ồn ào rồi lại lẳng lặng đi và tờ báo nguyệt san kia khiêm tốn tồn tại trong thời gian. Và tôi nghĩ rằng sự tồn tại với những công việc làm bao phủ bởi sự lặng lẽ khiêm tốn của Đinh Từ Thức có giá trị một ngàn lần hơn sự ồn ào chợt đến chợt đi như lớp ánh sáng dịu hiền mà đều đặn của ngày tháng mùa xuân và sự vội vã của nắng quái buổi chiều.


NGUYÊN SA



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #89 vào: 22/12/2016, 12:28:58 »


VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX

Trên đất Nam kỳ, từ khi khói lửa trời tây thổi đến, một chế độ suy tàn nhường chỗ cho một chế độ mới ngự trị, xã hội đột nhiên biến đổi sắc thái, nếp sống cố hữu của con người cũng đổi thay, và dĩ nhiên con người buổi giao thời ấy thay đổi cả nếp nghĩ. Tuy vậy, về sự chuyển biến còn phôi thai, những đổi thay diễn ra quá đột ngột, cho nên mới cũ giao tranh, hướng đi của xã hội đã chia rẽ trước hai chiều gió cuốn.

TÔN THỌ TƯỜNG, PHAN VĂN TRỊ

CÙNG TRONG GIAI CẤP SĨ PHU, cùng là môn đồ nho học Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị đã không cùng chí hướng, mỗi người chủ trương một thái độ sống phân biệt: Tôn Thọ Tường ra giúp việc “Tân triều”, Phan Văn Trị không chịu ra giúp việc “Tân triều”. Hai hướng đi chứng tỏ hai phương châm xử thế, hai đường lối khác nhau trong đạo xuất xử của nho giả:
            Tôn Thọ Tường – Tiêu biểu lớp nhà nho tùy thời quyền biến. Tôn Thọ Tường không phải là thứ nho sĩ hương nguyện xu thời không ấp ủ chí nguyện gì; trái lại, ông cũng có một lý tưởng để phụng sự, có nhiều ước vọng để theo đuổi nhưng gặp thời biến loạn, trước một thế cục rối như bàn cờ, cái hướng tinh thần của ông để trải qua nhiều chặng đường khúc mắc. Nhìn vào thơ văn Tôn Thọ Tường với cặp mắt không thiên lệch, ta có thể chứng minh được rằng chí hướng Tôn Thọ Tường đã bao hàm những sắc thái sau đây, mà cũng là những trình tự tiến hóa của một hệ thống tư tưởng không câu nệ, thoát ra ngoài khuôn sáo:
            – Trong lúc quốc biến, ra cộng sự với “Tân triều” Tôn Thọ Tường và các “đồng chí” của ông trước hết phải không câu nệ chút nào, không cố chấp giữ gìn nho đạo quá nghiêm. Giữa lúc tinh thần nho học còn tồn tại chưa đến nỗi bạc nhược, giữa một thời đại mà đạo “quân thần” còn đè nặng lên vai kẻ sĩ, phái Tôn Thọ Tường quả đã phải có một quan niệm sống thực phóng túng, tuy họ cũng biết rằng hành động của họ trái với đạo thường. Tôn Thọ Tường chẳng đã tuyên bố, và cũng đã thú nhận:

                        Phải sao chịu vậy thôi thì chớ
                        Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng
.

            Biết vậy, nhưng họ vẫn nhận thấy việc đời “có khi biến, có khi thường” không nên khoanh tay tự trói buộc mãi trong một khuôn khổ sống vĩnh viễn chật hẹp. Họ là những kẻ “gặp gió thì phất cờ”, và cũng là những người “gặp thời thế, thế thời phải thế”. Họ phải hoạt động, dù là hoạt động giúp “Tân triều”; thế nước đã xoay chuyển họ không muốn có thái độ tiêu cực ngồi một chỗ nhìn cuộc tang thương mà than thở hoặc miễn cưỡng cố níu lại cái hiện tại đã tan hoang mà thương xót. Họ không muốn nhìn cảnh tan hoang:

                        Tai ngơ, mắt lấp buổi tan tành

            Họ muốn gắng sức làm một cái gì cho tương lai hơn:

                        Cũng là gắng gổ dám khoe khoang!

            Gia nhập trào lưu mới giúp người Pháp, họ phải trung thành với công việc mới, làm trọn bổn phận đối với chủ mới, cũng như người con gái “xuất giá phải tòng phu”, cũng như Tôn phu nhân về Thục thì phải ở trọn đạo với chồng:

                        Cật ngựa, thanh gươm vẹn chữ tòng

            Thà như vậy, dù người đương thời không hiểu, dù có lỗi với nước nhà, nhưng vẹn toàn phận sự mới, chẳng mang tiếng thiếu trách nhiệm với người:

                        Thà mất lòng anh, được bụng chồng.

            – Từ chỗ không câu nệ đó Tôn Thọ Tường đã thoát được khuôn sáo cũ và còn có ước vọng bay nhẩy xa hơn nữa. Vốn bản tính phóng đãng, lại đã nhiều phen thất bại trên đường sự nghiệp, cái sự nghiệp phò vua, giúp nước, quan niệm theo tinh thần đạo đức truyền thống của nhà nho, Tôn Thọ Tường đã hơn một lần chán chường với việc lập công danh theo đường lối cũ, và hơn một lần ông đã bất đắc chí. Giờ đây, thời cơ bỗng đến, Tôn Thọ Tường đạt được công danh, quyền vị dễ dàng, bằng một đường lối khác, may mắn hơn, khoáng đạt hơn chặng đường sự nghiệp xưa kia. Không cần chật vật nơi trường ốc, ông cũng chiếm được những địa vị càng ngày càng quan trọng. Từ một chức Tri phủ, ông được cử nhập vào sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình chuộc lại ba tỉnh phía đông Nam kỳ. Trước viễn tượng những vùng trời lồng lộng, xa lạ:

                        Mây khói một màu thuyền thoát thoát,
                        Biển trời muôn dặm núi ti ti


            Tôn Thọ Tường cảm thấy cái sự nghiệp công danh của những kẻ luẩn quẩn trong vòng hoạn lộ, ràng buộc với triều đình, quốc gia, cái sự nghiệp đó bé nhỏ quá, tầm thường quá, đối với cái trí bốn phương của mình:

                        Tên cỏ, cung dâu là chí trẻ,
                        Danh mà chi đó, lợi mà chi?


            Là dân của một nước từ mấy nghìn năm vẫn “bế quan, tỏa cảng” nay Tôn Thọ Tường là kẻ hãn hữu đang được nhìn xa, biết rộng ngoài giải biên thùy của quê hương, xứ sở, ông thấy cái con người vượt trùng dương đi xứ sang Pháp đó có một vẻ gì hào hùng, hiên ngang khác thường:

                        Múa gươm, quăng chén cất mình đi,
                        Bịn rịn đâu màng thói nữ nhi!


            Và cuộc Âu du cùng những cơ hội tiến thân khác sự tiếp xúc còn nóng hổi với luồng hơi thở kỳ diệu từ Tây phương thổi tới đã ảnh hưởng đến chí hướng Tôn Thọ Tường, khiến ông còn muốn làm được những việc khó hơn nữa, trọng đại hơn nữa. Nhận công việc mới, Tôn Thọ Tường cho rằng mình phải chống chọi với bao nhiêu nỗi trở ngại khó khăn, đương đầu với bao nhiêu giông bão, nhưng đó là từ ý ông muốn:

                        Bạc mênh mông biển, cầu toan bắc,
                        Xanh mịt mù trời, thước rắp đo
(1)
            Và:
                        Nước ngược chống lên thuyền một chiếc

            Ông nhận thấy trách nhiệm mình quá nặng nề:

                        Hai bên vai gánh ba giường nặng,
                        Trăm tạ chuông treo một sợi mành


            Vậy ở hoàn cảnh Tôn Thọ Tường, tự nhận lấy những việc làm hệ trọng như thế, ông có chí nguyện gì? Và những việc làm hệ trọng kia, của một người đã không trực tiếp phụng sự cho tổ quốc, đã không trọn nghĩa vua tôi không, việc làm đó có thể là những tác động gì? Có lẽ trong khi hợp tác với người ngoại bang, Tôn Thọ Tường đã có một ý thức quốc gia cấp tiến, và lòng ái quốc của ông không chỉ gói ở mấy chữ “trung quân, báo quốc” mà rộng mở thấm nhập với nhân quần, xã hội, cho nên ông cân nhắc, đắn đo để nhịp bước giao hòa với xã hội, một xã hội cần sinh tồn, tiến hóa. Có lẽ cộng sự với người Pháp, Tôn Thọ Tường cũng muốn sử dụng quyền vị của mình để làm được việc gì thực hữu ích cho đời: Khai hóa quần chúng? Kiến thiết xã hội? Đem đuốc văn minh hấp thụ được của ngoại quốc soi sáng cho người đồng bang? Hay cao vọng hơn nữa: mưu đồ hòa bình (một cách ôn hòa) cho dân tộc? Một người có tâm huyết như Tôn Thọ Tường, ở hoàn cảnh Tôn Thọ Tường, tất phải có những sở nguyện như vậy, ít ra còn để lại được công nghiệp gì cho non sông, không thẹn với đất nước:

                        Đá vàng chi để thẹn non sông?
            Và:
                        Bao quản thân này chịu dễ ngươi(2)

            Ý muốn ấy đã được bày tỏ:

                        Lái đã vững vàng cơn sóng lượng
                        Ổ toan ràng rịt buổi mưa sa
.(3)

            Nhưng Tôn Thọ Tường có chí nguyện đó không phải vì muốn được thêm danh lợi, mà chỉ vì muốn làm cho trọn cái thiên chức của con người sống giữa trời đất. Ông đã không muốn nghĩ đến bản thân mình, ông còn tham gì danh lợi? Ông chẳng đã nói:

                        Thân còn chẳng kể, kể gì danh?
                        . . . . . . . . . .
                        Kể gì danh phận lúc tan hoang?

            Hoặc:
                        Thân này đã gác ngoài vòng thoi.(4)

            Dù trót lỗi đạo “thần tử” Tôn Thọ Tường đã dám nhận chân một hướng đi rõ ràng. Ở vào một buổi giao thời cách đây gần một thế kỷ, đường lối hoạt động của ông đã vượt khỏi khuôn sáo lập công danh sự nghiệp của nhà nho bảo thủ. Đường lối ấy tuy xa địa hạt đạo lý thuần khiết nhưng nó có xu thế xã hội tiến hóa một phần nào, và nó đặt con người gần một thực tại, gần một cuộc sống biến chuyển hơn trước, rộng lớn hơn trước.
            Tuy nhiên thực hiện được chí nguyện của mình là chuyện khó, nên Tôn Thọ Tường đã phân vân tự hỏi, với một niềm cảm hoài thấm thía:

                        Chí muốn ngày nào cho đặng toại?

            Dù đã từng có những ước vọng cao xa “đo trời” và “bắc cầu qua biển”, nhưng chính vì cái “chí muốn chưa được toại” đó, vì nhiều kinh nghiệm thất bại khác cùng nhiều biến cố diễn ra trước mắt nên Tôn Thọ Tường hiểu rõ thời thế lắm. Tuy coi “tên cỏ cung dâu” là chí trẻ nhưng ông không ngông cuồng chút nào. Ông nhìn thẳng vào hiện tại, nhận chân sự thất bại của nước nhà và lo ngại cho tương lai:

                        Xăng văng(5) chậm tính thương đòi chỗ.
                        Khấp khởi riêng lo biết những ngày


            Ông nhìn vào giang sơn, biết giang sơn đến lúc đổi chủ. Trên đất nước đã hiện ra cái bóng dáng ngạo nghễ của văn minh cơ khí tới ngự trị:

                        Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo.
                        Mây tuôn đen kịt khói tầu bay


            Ông biết rằng lúc đó dân tộc Việt Nam chưa thể quật khởi chống lại kẻ đến chinh phục mình được.

                        Miệng cóp hàm rồng chưa dễ chọc,
                        Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay
(6)

            Vận nước, như một thế cờ gặp hồi bỉ, không còn phương sách thủ thắng:

                        Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ,
                        Xe ngựa nào toan gỡ nước cờ?


            Đã biết bao kẻ tài giỏi muốn ra tay cứu vớt tình thế, nhưng nào có được: Hàng ngũ văn thân, nghĩa quân Trương Định chẳng đã hiển nhiên trông thấy thất bại đó sao? Tôn Thọ Tường thức thời hơn những người ấy. Tôn Thọ Tường rất thực tế. Ông nghĩ rằng đã không lay chuyển được kẻ địch thì thà đừng phí sức quật cường, hãy dành lực lượng để đối phó với tương lai, còn dài và còn nhiều giai đoạn thử thách:

                        Hãy nhớ bôn chôn việc cửa nhà,
                        Sau này còn ngại nỗi đường xa


            Hiện thời, ông thấy cần phải nhìn rõ cuộc sống để cân nhắc lợi hại:

                        Ở đời chưa dễ quên đời đặng,
                        Tính thiệt so hơn mới gọi là


            Cho nên, Tôn Thọ Tường chủ trương rằng: muốn làm nên được việc lớn, trước hết phải biết chịu đựng nhẫn nhục:

                        Đã gọi là người ắt phải lo,
                        Từng hay chịu khó mới nên trò


            Quan niệm sống của Tôn Thọ Tường, tuy đã được bênh vực bởi những luận điệu thi vị và khéo léo như vậy, cũng không khỏi tránh được sự đả kích, cũng bằng thơ, của Phan Văn Trị là kẻ cương quyết nêu lên chủ trương: “Trung thần bất sự nhị quân”, quan niệm then chốt của Nho giáo. Theo quan niệm này, Phan Văn Trị đã nói hộ cho các “đồng chí” của ông những ý nguyện và tư tưởng đối lập từng điểm với chí hướng của Tôn Thọ Tường.
            Chịu ảnh hưởng của xử sĩ Võ Trường Toản là một tấm gương đạo lý sáng ở miền Nam, Phan Văn Trị rất trọng nho phong, sĩ khí, giữ vững đạo “Cương thường” không thay lòng đổi hướng, dù vật đổi sao dời. Ông không chịu quyền biến, không công nhận lẽ “chấp kinh phải biết tòng quyền”. Đường lối xử thế của ông chỉ có một:

                        Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.

            Người đàn bà biết trọng nghĩa tóc tơ, huống chi là đàn ông:

                        Hai vai tơ tóc bền trời đất,
                        Một gánh cương thường nặng núi sông
.

            Cho nên ông nghĩ:

                        Chưa trả thù nhà đền nợ nước
                        Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!


            Ông không muốn mang tiếng là “kẻ lỗi đạo hằng” như Tôn Thọ Tường, không chịu để vết nhơ nào hoen ố tấm lòng trong suốt như ngọc sáng của kẻ sĩ, vì ông nhận thấy:

                        Ngọc lành nhiều vết coi không lịch

            Cái di sản tinh thần đạo lý quý báu của tiền nhân, ông nguyện cố giữ vẹn toàn, và còn bồi đắp, trau dồi thêm mãi mãi:

                        Nong nả(7) dốc vun nền đạo nghĩa,
                        . . . . . . . . . . . .
                        Dõi theo người trước giữ năm hằng
.

            Con người nêu lên chủ trương trai không thờ hai chúa đã giữ vững tiết tháo ấy, đã noi theo một phương hướng hành đạo duy nhất, cũng lại chủ trương một đường lối duy nhất để đạt tới công danh, sự nghiệp. Mà công danh sự nghiệp của kẻ sĩ phu chỉ có thể là phò vua, giúp nước, để lại được tiếng thơm cùng non sông. Ấy là đường lối lý tạo danh lập nghiệp kế truyền được coi là đường lối tưởng, đã vạch sẵn từ bao nhiêu thế hệ nho sĩ, và trước Phan Văn Trị, đã bao nhiêu thế hệ nho sĩ bước vào đường lối ấy, nhẫn nại, trung thành. Nho đạo đã dạy: “Thân khá nên trọng”… Vậy kẻ sĩ, đã sinh ra với tấm hình hài ở trong trời đất, tất phải có danh phận gì trước núi sông; và đã biết yêu trọng thân mình, cũng phải nên quý trọng cái danh. Cho nên Phan Văn Trị đã khuyên Tôn Thọ Tường:

                        Thân có, ắt danh tua(8) phải có,
                        Khuyên người ái trọng cái thân danh
.

            Cái bả hư vinh không quyến rũ nổi Phan Văn Trị:

                        Mồi, thơm, cá quý câu không chạy

            Ta đã thấy Phan Văn Trị lui về ở ẩn dạy học, vui trong đạo thanh bần cùng vườn ruộng chính là vì ông quá yêu trọng thân danh, ông không muốn thân mình chịu khuất với người, danh mình nhờ người mới tỏ. Tuy chủ trương rằng người ta “có thân ắt phải có danh”, Phan Văn Trị vẫn tách mình ra khỏi cuộc sống hoạt động, vì ngoài đường lối lập công danh theo quan niệm chân chính cố hữu của nho giả, ông không cần tìm phương xử thế khác để ứng dụng tài trí mình, và cũng không đường lối nào khác có thể lay chuyển được chí hướng kẻ nho sĩ bảo thủ ấy đã dùng thái độ tiêu cực để đối phó với thời cục, nhất định lìa xa thực tế ẩn thân trong địa hạt lý tưởng.
            Trong địa hạt lý tưởng của mình, Phan Văn Trị là một chiến sĩ quốc gia hăng hái. Giữa lúc non sông suy vong không bề cứu chữa, cả một thực tại đỗ vỡ tan tành, trước đó một xã hội đang dần dần chuyển hướng, Phan Văn Trị vẫn muốn tin tưởng xoay chuyển lại được thời cơ. Dù biết đó là việc khó thực hiện, ông vẫn kiên quyết, bền lòng:

                        Lòng ta sắt đá, há lung lay?

            Ông trả lời Tôn Thọ Tường:

                        Hơn thua chưa quyết đó cùng đây!

            Đó chỉ là cái khí phách của kẻ sĩ, cái ngông của nhà nho, dù biết mình thất thế cũng vẫn muốn biểu lộ tinh thần bất khuất, không giảm mất chí khí:

                        Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ,
                        Hùm như thất thế dễ thua chồn?


            Tuy không chính thức hoạt động trực tiếp để bảo vệ đất nước, Phan Văn Trị cũng vẫn nuôi cái ý chí của một chiến sĩ, nhưng ông chỉ là một chiến sĩ ở tư tưởng:

                        Chờ khi tháy máy sẽ ra ta…
                        Tháy máy gặp thời ta sẽ động
.
            Và:
                        Muốn lên việc lớn chớ bôn chôn

            Ông tuyên bố: “sẽ động” và mưu đồ “việc lớn” mà lại vẫn đợi “gặp thời” chứ không tạo lấy thời cơ, tỏ rằng ông chỉ chủ trương thụ động và tranh đấu một cách tiêu cực. Dẫu sao, cái tính chất khẳng khái của nho sĩ vẫn muốn người ta nghĩ kiêu hùng, nghĩ cho đẹp đẽ, không cần hành động thiết thực. “Tri” cần hơn “hành”. Mà cái biết ở đây là cái biết lý tưởng quán thế, không phải cái biết thực tế, thức thời. Cho nên đối với Tôn Thọ Tường có ý chê ông không thức thời, không nhìn rõ cuộc sống, ông chê Tôn Thọ Tường thiển cận, không biết nhìn xa:

                        Đáy giếng trông trời trương mắt ếch,
                        Làm người như vậy cũng rằng là
            Vì lẽ:
                        Rằng là người trí cũng xa lo,
                        Nhuần nhã kinh luân mới phải trò


            Người trí, theo Phan Văn Trị, là người thấm nhuần được cái học chân chính qua sách thánh hiền, noi gương sáng của tiền nhân mà hành cái đạo sống, nghĩa là không tìm kinh nghiệm sống ngay trong cuộc sống trước mắt, mà phải hướng theo vết bánh xe đạo lý từ thiên cổ.



            Chí hướng đã đối lập nhau, tất nhiên tâm sự của hai phái sĩ phu cũng phải cùng nhau xung đột. Những điểm tình cảm trái ngược nhau, cũng như sự bất đồng tư tưởng, đã chia rẽ thêm hai lớp người đương thời không chịu nhịn nhau, và cũng không muốn thông cảm với nhau nữa. Lùi lại sau gần một thế kỷ, chúng ta ngày nay có thể hiểu và cảm một phần nào những uẩn khúc phức tạp trong tâm trạng những con người thời đó.
            Điều dễ nhận trước trong tâm sự Tôn Thọ Tường là niềm băn khoăn sợ người đương thời không hiểu việc làm của mình. Qua thơ ông, ta thấy hiện lên rõ ràng cái ý muốn tự bào chữa: Luôn luôn ông dẫn những điển tích, tìm những cảnh ngộ, những hành động của các nhân vật ngày xưa để ví với cảnh ngộ, việc làm của mình, và cũng để mượn bóng thay hình, nhờ người xưa để dễ dàng tỏ bày tâm trạng. Ông tự ví mình với Tôn phu nhân để nói rằng khi ra giúp việc “Tân triều”, lòng ông vẫn quyến luyến Nam triều, cũng như người gái Đông Ngô lìa Ngô về Hán theo chồng mà vẫn bịn rịn nhớ quê.

                        Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc

            Ông tự ví mình với Tư Thứ bắt buộc phải giúp việc Tào Tháo nhưng vẫn nặng lòng cùng Lưu Bị, cũng như ông, bất đắc dĩ phải cộng sự với người Pháp nhưng vẫn nặng lòng với tổ quốc, giang sơn:

                        Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
                        Bịn rịn thương vua biếng dở roi


            Ông lại tự ví mình với Thúy Kiều, tuy thân thế lênh đênh chìm nổi nhưng vẫn giữ vẹn hiếu, tình, vậy mà nỗi đau lòng ấy cũng chỉ có trời đất biết:

                        Chữ hiếu ít nhiều, trời đất biết,
                        Gánh tình nặng nhẹ, chị em chung


            Có trời đất biết: Ông không phải là kẻ “mãi quốc cầu vinh” lòng ông thanh sáng không sợ thẹn với non sông:

                        Lòng này dầu hỏi mà không hổ,
                        Lặng xét, thần soi(9) đã biết cho
.

            Vì người đương thời không hiểu ông nên ông có than thở thì cũng chỉ than thở với đất trời:

                        Giang san ba tỉnh vẫn còn đây,
                        Trời đất chi xui đến nỗi này?


            Ông nghĩ rằng dù không giữ trọn được nghĩa vua tôi, ông cũng không đáng trách. Vì:

                        Trời đã xui thế, thế khôn ngăn

            Có đáng trách thì cũng chỉ nên trách Hóa công:

                        Tấm lòng thiên cổ, thương mà trách,
                        Chẳng trách chi Kiều, trách hóa công
.

            Nếu Tôn Thọ Tường vừa giãi bày tâm sự vừa dụng ý trả lời phái đối lập thì Phan Văn Trị cũng vừa bộc lộ tâm tình vừa chủ tâm công kích Tôn Thọ Tường.
            Tất cả những lẽ mà Tôn Thọ Tường đưa ra để tự bào chữa, tất cả những tình cảm dù thiết tha, chân thành của Tôn Thọ Tường đều bị Phan Văn Trị hoặc mỉa mai bóng gió nhưng thấm thía sâu sắc, hoặc thẳng tay công kích, qua những lời thơ hoặc đượm giọng châm biếm cay chua, hoặc khinh miệt dè bỉu.
            Cho rằng Tôn Thọ Tường hành động phóng túng vì không đủ cái học đạo lý của thánh hiền, Phan Văn Trị mỉa mai xa xôi:

                        Xe Châu nào đợi kinh năm bộ,
                        Nếp Tống vừa đầy sách nửa pho


            Ông hoài nghi Tôn Thọ Tường, không tin rằng Tôn Thọ Tường đã có thực lòng luyến tiếc Nam triều. Họa lại bài “Tôn phu nhân quy Thục”, ông viết:

                        Cài trâm sửa áo vẹn câu Tòng,
                        Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông,
                        Ngút tỏa đồi Ngô un sắc trắng,
                        Duyên về đất Thục đượm màu hồng


            Qua mấy câu thơ đó, ông có ý bảo Tôn Thọ Tường gia nhập trào lưu mới trong lúc non nước suy tàn mà vẫn yên phận, vui với công danh, cũng như người gái cõi Giang Đông kia vui duyên mới.
            Có lúc ông tỏ lòng khinh miệt Tôn Thọ Tường rõ ràng, ông công kích thẳng Tôn Thọ Tường không giữ được lòng trong sạch:

                        Lung lay lòng sắt đã mang nhơ
                        Chẳng xét mình khéo nói vơ!


            Tôn Thọ Tường tự kiêu vì hiểu thời thế thì Phan Văn Trị tự kiêu vì giữ được lòng trung kiên, tự kiêu vì khác với những người dễ thay lòng đổi dạ: Ông tuyên bố không giống những người ấy:

                        Kẻ vạy(10) người ngay há một phường?

            Ông tự kiêu vì không mắc phải bả vinh hoa phú quý:

                        Mồi thơm cá quý câu không nhậy,
                        Chim yến chim cao bắn chẳng sa


            Lòng tự kiêu của Phan Văn Trị còn biểu lộ ở tất cả những luận điệu đối đáp trong thơ ông, những luận điệu lúc nào cũng có giọng tự tin và ngạo nghễ, đanh thép, hào hùng tự nhiên.
            Nếu Tôn Thọ Tường tỏ lòng thương tiếc cho những người không hiểu thời vận để lỡ việc uổng công thì Phan Văn Trị tỏ lòng thương chính Tôn Thọ Tường đã lỗi đạo làm dân:

                        Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc,
                        Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang!


            Niềm ưu ái của Phan Văn Trị đã nói được tấm lòng ái quốc chân chính và dũng cảm của ông; nó rung động khá sâu xa và mạnh mẽ trong tâm hồn những con người đồng điệu thời đó.



            Cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường đã đưa lên vũ đài tư tưởng hai lớp văn thân của đất Nam kỳ buổi giao thời. Về phương diện nhân văn, nó đã ghi được những biến cố xảy ra trong xã hội Việt Nam ở một giai đoạn lịch sử đặc biệt và thái độ tâm trạng của từng lớp sĩ phu, giữa lúc hai nền văn hóa Đông, Tây mới va chạm. Nó giúp chúng ta hiểu thêm lịch trình tiến triển của quốc gia qua tâm thuật con người, có trình bày được rõ hai quan niệm sống, định rõ được lập trường cùng quan điểm nhân sinh của văn nhân, thi sĩ. Về phương diện nghệ thuật, nó điển hình được con người của giai cấp sĩ phu lúc bấy giờ. Nó đã thoát được ảnh hưởng lãng mạn khuôn sáo mà đi sát với đời sống; nó sử dụng được ngôn từ một cách mạnh mẽ và có hiệu lực đấu tranh một phần nào, nên năng lực truyền cảm của nó đi thẳng tới lòng người, không theo những đường lối quanh co phức tạp.

ĐINH HÙNG
____________________________________________
(1) Bắc cầu qua biển, lấy thước đo trời là chuyện khó.
(2) Hổ ngươi, hổ thẹn.
(3) Do câu: “Cập thiên chi vị vũ, triệt bỉ tang khổ, tù mâu đủ hộ”, khi trời sắp mưa, chim xuống gốc cây tha đất bịt cửa tổ cho kín, mưa không ướt tới bên trong.
(4) Vòng danh lợi.
(5) Xăng văng (tiếng Nam kỳ): vội vàng hấp tấp.
(6) Thày lay: mua chuộc lấy những việc không phải của mình.
(7) Nong nả (tiếng Nam kỳ): hăng hái, sốt sáng.
(8) Tua (tiếng Nam kỳ): nên.
(9) Lặng xét: trời đất; Thần soi: quỷ thần.
(10) Vạy: không ngay thẳng, phản trắc.



 
The following users thanked this post: tnghia