Tác giả Chủ đề: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa  (Đã xem 16996 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #90 vào: 22/12/2016, 22:12:59 »


Hờn giận

Em đến hôm nào như hoa bay,
Tình không độc-dược mà đắng cay.
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt,
Mùi hương sát nhân từng ngón tay.

Em đến hôm nào như mây bay,
Gió mưa triền-miên từ nét mày.
Đường vào lòng nhau toàn sạn-đạo
Bước chân tha hương từ dấu giầy.

Anh rỏ đôi dòng nước mắt say,
Trao em, không ướt trọn lòng tay.
Chiều đi, vai thấm đầy sương núi,
Lệ cũng phai hương tự lúc này.

Anh tiễn em sang giấc mộng nào?
Giận lây tà áo cưới chiêm bao.
Lời nguyền không buộc vào mây sớm,
Em có nghe tình khóc dưới sao?

Em đến, trăng rằm xanh bóng mây,
Em đi, trăng hờn cong nét mày.
Chiều qua, má hồng còn thơ ngây,
Chiều nay, hàng mi sương xuống đầy.
Thương nhau, gói trọn hồn trong áo,
Mất nhau từ trong tà áo bay.

Mắt ngại nhìn nhau từng đêm dài,
Nhòa hương kỷ niệm, tóc thu phai.
Dòng sông bơ vơ tìm dĩ vãng
Thuyền trôi bâng khuâng về tương lai.

Anh hận bình minh, ngờ nắng hồng,
Hờn ghen bao nhiêu hoa mùa xuân.
Sánh vai nhưng không là vợ chồng,
Kề môi vẫn không là tình nhân.
Cười vỡ giấc mê đêm hợp cẩn,
Vò nhàu mái tóc đêm tân hôn.
Sính lễ không hòa đôi linh hồn,
Đính ước không chung lòng cô đơn.

Thầm trách vầng trăng không biết sầu,
Ngàn sao theo em bay về đâu?
Oán cả không gian, thù cả mộng,
Ghen cả trời xanh trong mắt nhau.

Em đến hôm nào, mưa trên vai,
Chiều thu, sương đượm nét mi dài.
Nụ cười rung cánh hoa hờn giận:
Trong mắt em còn bóng dáng ai?


                         ĐINH HÙNG



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #91 vào: 23/12/2016, 15:35:27 »


Chiều khép cửa

Tôi trở về khi mặt trời đỏ khé
hoàng hôn buồn tím ngắt rụng sau lưng
đường phố chênh vênh cửa khép khơi chừng
tóc hong xuống mầu chiều giăng nến điện
bước chập chững từng bàn chân tưởng niệm
bốn mươi rồi thương tiếc tuổi hai mươi
xám không gian tắt ngấm nửa môi cười
nhìn e ngại bóng mình len phố vắng
đêm chớp mắt ánh đèn rơi nằng nặng
gợn âm ba tê buốt nẻo đường dài
vàng lá cây phủ nhẹ ướt bờ vai
bao người đẹp chết rồi sau khuôn cửa

Chiều úp mặt nắng ngời thôi nhóm lửa
đốt hoa niên mong sưởi ấm bàn tay
tìm mùa xuân đánh mất lứa thơ ngây
ôm mặt khóc thuở đầu thai không nói
như một khối băng sơn chẳng hề chờ đợi
hơi thở người từ nửa kiếp hồng hoang
nhan sắc ơi trong thế giới ba ngàn
thời khuyết sử có về đây không nhỉ
tôi gọi lại ở góc lòng thế kỷ
tiếng chiều xưa mất hút với âm thanh
hàng ô vuông ủ kín cặp môi lành
đường sỏi đá trôi sâu vào ngõ hẹp

Tôi trở về gió cài then gác xép
giường chiếu mênh mông sầu khép đôi tay
đếm tuổi thời gian dưới bóng đèn gầy
soi cô độc nằm tròn trong đáy mắt
.


                         TẠ TỴ



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #92 vào: 24/12/2016, 11:32:06 »


Bài hát buồn ngón tay

Tôi nằm đây giữa vùng nước mắt
Chôn phí tuổi xuân vào trũng hoang bàn tay
Nghe thời gian rót miên man vào linh hồn địa cực
Tiếng vọng hoang vu lay giấc ngủ lưu đầy

Tôi cam tội như cây mùa thu đành trút lá
Khoảng cách tâm hồn nhiều nỗi đớn đau
Minh oan cuộc đời bằng roi vọt ưu tư đóa cười tiều tụy
Bước sầu đồi vực tìm dấu vết mai sau

Tôi cực chịu hình chưa nhận ai làm tri kỷ
Cuồng lưu tình yêu này chảy xiết vào những hố bi thương
Cuốn phăng theo những mảnh vỡ linh hồn
Xin anh đến nhúng đôi bàn tay rộng lượng
Và hôn nỗi-sầu-em-mùa-thu-vàng-bé-bỏng
Cho em tìm thấy em trong mắt anh
rừng rực đam mê
Cho linh hồn em thoát vào vô tận bầu trời ánh lồng lộng sao khuya

Ôi tuổi trẻ tôi buồn những quãng đời buồn chưa tới
Vỡ lòng tình yêu bằng mê khúc dại cuồng
Khổ đau chắt nhựa nuôi linh hồn em cổ thụ
Anh ơi anh ơi sao yêu em bằng tia mắt đầy gai

Giọt lệ hổ thân nhỏ lên giòng lịch sử
Tiếng chíp chiu tan vùi trong những lớp không gian xanh
Tôi trở về làm con chim rừng hoang theo bầy dã thú
Tiếng hót quyện sầu vào biển lá gió mưa đan


                         THÙY SONG THANH



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #93 vào: 25/12/2016, 16:12:35 »


XÉT MÌNH

CON NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ nhận lấy cái chết như một kết thúc tất nhiên và bất khả kháng. Trong chiều sâu của nội tâm con người một ý thức trường cửu, – có khi chỉ là một giấc mơ, một khát vọng vượt khỏi án quyết của sự chết – lúc nào cũng mãnh liệt và thúc đẩy con người khám phá một phương thức chiến thắng tử thần và đào thải. Nếu con người là một khối cơ thể thì theo các nhà bác học sau mỗi chu kỳ bảy năm tất cả mọi tế bào trong cơ thể đổi thay hoàn toàn, và những tế bào của con người bảy năm trước không dính dáng đến tế bào của bảy năm sau. Tuy nhiên con người vẫn là con người, dù cho thực phẩm tiêu thụ thay đổi, và cả những tế bào cơ thể thay đổi. Cái gì làm liên tục và nhất thể con người? Yếu tố huyền nhiệm ràng buộc mọi hoạt động mọi ý nghĩ, mọi cảm tưởng của từng giây phút trong một con người đã được các triết gia Hy Lạp đặt cho một tên tối nghĩa “psuchè”, trong tự vựng La tinh nó được gọi là “anima”, ở Ấn Độ, nó là một “âtman” khao khát hòa hợp vào một đại toàn “Brahman”; đối với những dân tộc trong ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cổ điển, nó là “hồn vía”. Tên tuổi nó thay đổi tùy địa phương, tùy ngôn ngữ, tùy thời đại, nhưng bao giờ nó cũng là Nó, nghĩa là Một, thực thể linh thiêng và khao khát trường cửu. Thực hiện trường cửu là một lý tưởng muôn đời của nhân loại. Không riêng mình Tần Thủy Hoàng đi tìm thuốc trường sinh, mà tất cả mọi người đi theo phương thế của mình đều đi tìm thuốc trường sinh. Mỗi trào lưu tư tưởng, mỗi tín ngưỡng đề nghị một lối luyện thuốc trường sinh. Nghệ thuật phản ảnh ý thức trường cửu đó. Hơn thế, nó có tham vọng mang lại một liều thuốc trường sinh riêng biệt của nó. Những tác phẩm tồn tại sau cái chết của tác giả, luôn luôn nói được suy tư của tác giả là một thách thức với sức hủy diệt đào thải của thời gian, và phần nào đã thắng cái chết để mang lại cho nghệ sĩ sự trường cửu.
            Mỗi người, mỗi thời đại cố gắng thực hiện ý thức trường cửu theo một phương thức riêng biệt của mình và nghệ thuật là tấm gương ghi lại những cố gắng đó đồng thời còn là nơi thí nghiệm hiệu lực của những phương thức cho một thời đại mới.
            Những tác phẩm nghệ thuật, và văn chương nói riêng, là những cái móc, những cái trụ cây số, những bảng hướng dẫn hoặc là những di tích của cuộc phiêu lưu đi tìm trường sinh. Nếu nghệ sĩ – và văn nhân, – không tin ở sự trường tồn của tác phẩm sau cái chết thể chất, nhân loại không bao giờ có những tác phẩm đang có ngày nay, những tác phẩm đã được cưu mang và sáng tác bằng bao nhiêu nỗ lực, bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu tâm huyết. Một Kim tự tháp, một Vạn lý trường thành, một Đế thiên cũng hàm chứa khát vọng trường cửu ngang hàng với một tượng Vệ nữ thành Milo, hay một tượng Phật vĩ đại ở Nara (Nhật). Phần nào qua tác phẩm giấc mơ của nghệ sĩ đã được thực hiện: cho đến ngày nay, hằng thiên niên kỷ, hằng thế kỷ sau, bao nhiêu triều đại chồng chất lên và đã bị quên lãng, những tác phẩm nghệ thuật vẫn “sống” một cuộc sống vĩnh viễn và độc lập. Tên tuổi tác giả còn có thể bị quên lãng, một tác phẩm dự vào đặc quyền sáng tạo sẽ tồn tại mãi bao giờ còn một con người trên mặt đất. Có những nghệ phẩm không có chất cứng chắc của đồng, đá, gạch vôi, mà vẫn không vì thế mà bị hủy diệt và quên lãng. Một đài kỷ niệm còn dễ dàng bị tàn phá và quên lãng hơn là một bài thơ một áng văn đã ghi sâu trong trí nhớ một dân tộc. Thế kỷ XIX đối với văn học Việt Nam cũng như quốc tế đã đánh dấu một thời giao động mãnh liệt. Sự giao động không giới hạn trong văn chương, mà bành trướng khắp mọi địa hạt sinh hoạt của con người. Nhưng nơi tầm văn chương, và nhờ văn chương, sự giao động có tính cách một hành vi được ý thức, một hành vi nhân sinh thuần túy hơn vì đó. Sau sự hỗn loạn của cách mạng Pháp ở Âu châu, cách mạng Tây Sơn và phục quốc của Nguyễn Ánh, văn nhân đã tìm lại bình tĩnh để gác lại hành động sang một bên mà đem tâm trí vào sáng tác văn phẩm. Những tên tuổi của Victor Hugo, Lamartine, Chateaubriand cũng vang lên trong sáng như một công chúa Ngọc Hân, một Nguyễn Du, một chú cháu nhà họ Cao. Kiều, tuồng Võ Tánh tự tiết, văn tế chiến sĩ trận vong là những nấc thang lên trời đòi thay trường cửu vào giai đoạn. Gần gũi chúng ta hơn, trong thời tiền chiến, một Hàn Mạc Tử, một Thế Lữ cũng không sao quên được giấc mơ trường sinh, tuy rằng thời đại đang hăng hái tranh đấu cho một lý tưởng cấp bách và giai đoạn. Sự đóng góp của những thế hệ trước vào công cuộc khám phá phương thức trường cửu như thế, vậy ngày nay trên địa hạt văn chương và nghệ thuật chúng ta đang có gì và sẽ có gì để đóng góp vào công trình xây Vạn lý trường thành ngăn đào thải và hủy diệt của thời gian?
            Tổ chức đời sống vật chất thuộc phận sự chính khách, chuyên gia; nhưng đời sống tinh thần đời sống tâm linh của con người, một khi tôn giáo thoái thác và thất bại trong công cuộc ban bố phương thuốc trường sinh, thuộc về đối tượng khám phá và sáng tạo của nghệ thuật. Những khuynh hướng mới trong nghệ thuật tuy chưa rõ rệt mà đã bắt đầu thành hình như thế, dưới một tầm nhìn rộng và dài.


HUYỀN PHỤNG



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #94 vào: 26/12/2016, 00:01:18 »


Ý NGHĨ NHỎ VỀ NHỮNG PHÒNG TRANH THÁNG MƯỜI

CŨNG NHƯ NHỮNG địa hạt thời sự khác như kinh tế, quân sự, xã hội tháng mười vừa qua, hầu hết các cuộc triễn lãm hội họa ở thủ đô đã nằm lại trong tính cách chung của tháng mười: kiểm điểm những thành tích hoạt động một năm qua.
            Giới thưởng ngoạn nghệ thuật hình nét thủ đô, từ công trường Lê Lợi, bước vào phòng tranh tòa đô sảnh, hay từ vườn hoa Tự Do rẽ sang phòng tranh hội quán Pháp, tất cả đều nhận thấy điều ấy và khi thưởng ngoạn cũng đều khởi từ tư cách ấy: tư cách điểm kiểm. Bài viết này cũng thế.
            Suốt một năm sinh hoạt, đều đặn cứ hai tuần lễ phòng tranh Tự Do mở một lần triễn lãm, chưa kể tới những hoạt động lẻ loi của một số những nghệ sĩ không tham dự sinh hoạt, chưa kể tới những đóng góp với tư cách khách quan của hội quán Pháp, tính cách bất thường của một số phòng tranh do tư nhân tổ chức, dăm cuộc triễn lãm đi qua của một số những họa sĩ nước bạn ghé thủ đô – mà gần đây nhất là phòng tranh Kazuo Kobayashi – Dù bằng một con mắt bi quan nhất, chúng ta vẫn phải ghi nhận sự phồn thịnh của nó, nhất là phần hoạt động.
            Những cuộc triễn lãm hội họa trong tháng mười vừa qua ở thủ đô, theo ý tôi, muốn nói lên điều ấy.
            Tại phòng tranh tòa đô sảnh, nơi dành cho giới họa sinh mỹ thuật, cảm xúc mạnh mẽ đập thẳng vào mọi giác quan khách thượng lãm là sự đông đảo mà nó đã bầy biện như một lời hứa hẹn, một lời hứa hẹn được lập lại nhiều lần bằng mọi cách để bắt buộc chúng ta phải nhận lãnh. Đó là điểm thành công hơn nhất của những người tổ chức. Diện tích rộng lớn của phòng tranh cộng thêm số lượng đông đảo những sắc thái chưa thành hình của mấy trăm bức tranh đã nói lên điều ấy.
            Đi từ những bài tập họa sinh với sự điều khiển đường nét chưa vững tới những vệt sơn dầu chưa biết đặt đúng chỗ, những rung cảm chưa biết ngó xuống mình của những người họa sĩ trẻ tuổi này, bỏ qua tất cả mọi vẻ non nớt ấu trĩ mà ý thức nghệ thuật của họ chưa đến tuổi phải vượt qua, chúng ta đã tìm thấy ở họ sự cố gắng hết sức mình để vươn tới những yếu tính nghệ thuật.
            Phòng triễn lãm này làm nhiệm vụ giới thiệu với chúng ta những cây măng đương lớn vào tương lai, giá trị nghệ thuật của nó cũng nằm lại ở đó.
            Bước sang phòng tranh đường Gia Long, tại đây gặp lại những tác phẩm một số họa sĩ đương thời sinh hoạt và sự quá quen thuộc của họ đã không cho chúng ta một cảm xúc nào hơn ngoài vẻ đông, vui của sinh hoạt. Đứng ở phòng tranh này, vẫn bằng con mắt kiểm điểm, điều nhận thấy là tính cách sáng tạo liên tục của nghệ thuật đòi hỏi phải phục hồi. Do đó chúng ta nghĩ tới những tài năng đương trưởng thành và trông cậy ở họ một ý thức mới mẻ về nghệ thuật do những thời gian sắp tới.


LÊ TRỌNG



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #95 vào: 29/12/2016, 07:28:56 »
Hiện Đại | Số 9  [tháng mười hai/1960 | 112 trang]
                          NHỮNG TRƯỜNG PHÁI TRONG VĂN HỌC PHÁP
MỤC LỤC
° NHỮNG TRƯỜNG PHÁI TRONG VĂN HỌC PHÁP:
        NGUYỄN DUY DIỄN |  CỔ ĐIỂN |  1
        NGUYỄN THỨC |  BÁCH KHOA |  11
        SĨ MỘC |  HIỆN THỰC |  19
        THÁI KHƯƠNG |  TƯỢNG TRƯNG |  31
        NGUYỄN XUÂN HIẾU |  LÃNG MẠN |  42
        HOÀNG HẢI THỦY |  SIÊU THỰC |  47
        TRỊNH VIẾT THÀNH |  HIỆN SINH |  52
° SÁNG TÁC
        ĐINH HÙNG |  VÀO THU (thơ) |  61
        DIÊN NGHỊ |  MÙA THU (thơ) |  61
        TRẦN THY NHÃ CA |  GỌI TÊN ANH (thơ) |  62
        TRẦN THY NHÃ CA |  NHÃ CA MÙA HẠ (thơ) |  63
        PHẠM NĂNG HÓA |  TRỞ BUỒN (thơ) |  64
        TẠ TỴ |  Ý NGHĨ |  65
        ANTOINE DE ST. EXUPERY/ TRẦN A ĐÌNH dịch |  BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG |  71
        HOÀNG ANH TUẤN |  NHỮNG NGƯỜI GIẢ DỐI (kịch) |  77
        VƯƠNG DƯ |  BUỔI TỐI THỨ BẢY |  85
        NGHIÊM HOÀI |  NGOÀI TẦM TAY |  93
        BIÊN THÙY |  ÂM HƯỞNG / SÔNG BUỒN (thơ) |  100
        BĂNG CƠ |  BÀI CỦA CHỊ KIM (thơ) |  101
        THÙY SONG THANH |  BÀI VIẾT BẰNG MỰC TÍM (thơ) |  102
        THÙY SONG THANH |  BÀI NĂM CHỮ (thơ) |  103
° NHÌN BẢY CHÂN TRỜI:
        LÝ TỨ |  TRIỄN LÃM NGHỆ THUẬT THẢM CỦA PHÁP |  105
        HUYỀN PHỤNG |  NHÌN RA NGOÀI |  106
        LÊ TRỌNG |  NHÌN SANG SÂN KHẤU NGOẠI QUỐC |  108
        LÊ NGHI |  PHIM CUỐI CÙNG CỦA COCTEAU |  110
        NGUYÊN SA |  KHUÔN MẶT THỜI GIAN



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #96 vào: 29/12/2016, 08:05:09 »


Khuôn mặt thời gian

NGƯỜI BẠN ĐI VÀO con đường điêu khắc ấy bảo tôi: “Tôi chưa làm được tác phẩm lớn. Tác phẩm ấy ở tận đầu đằng kia của con đường này. Phải chìm trong hỏa ngục nỗi buồn, tê buốt trong nguồn đau đớn của cuộc đời văn nghệ nhược tiểu này mới tạo dựng được tượng ấy. Nó không cần cao, to. Không cần làm bởi chất liệu quý. Nhưng từ vị trí nhỏ bé mà nó chiếm giữ ở một nơi bày biện nào lập tức phải được tỏa bốc niềm đau đớn của con người văn nghệ nhược tiểu đến chùm bủa chân trời”.
            Tôi im lặng kính trọng ý tưởng vần vũ, triệu chứng báo hiệu sự thành hình tác phẩm xanh tốt, đang cấu xé tâm hồn người bạn đến độ vết móng nứt rạn toát lộ trên khuôn mặt, ánh mắt, ngón tay, điếu thuốc. Tôi nghĩ đến những ngày tháng cũ ý nghĩ về điều kiện vật chất tinh thần bao quanh cuộc đời văn nghệ và nỗi chua xót ấy chiếm giữ tâm hồn tôi. Những ý nghĩ chẳng có gì mới lạ. Tôi biết rõ như thế. Những Tàn Đà, Phan Khôi đã viết đầy đủ, cuộc đời những Vũ Trọng Phụng, những Khái Hưng đã nói dư thừa về “cuộc đời nhà văn An Nam” về cuộc sống “mực mài nước mắt”, về những sự kiện chạy ăn từng bữa, tác phẩm không tìm được điều kiện vật chất tinh thần cần thiết để xuất hiện, phát triển. Những vòng đai thép bao vây chúng tôi, đè lên chúng tôi như bàn tay lớn và khuôn cổ nhỏ, tảng đá lớn và chút mầm teo đã làm thành bóng tối rộng, đầy bao phủ nhiều ngày tháng chua xót và không khí trở thành mật đắng, trăng sao, xe ngựa cuộc đời thành bối cảnh vụng về.
            Nỗi buồn đó bây giờ tôi nghĩ không đáng và không cần được đặt thành vấn đề. Trước mặt tôi vẫn hiển hiện những khuôn mặt, những bờ vai gầy ốm của những Tạ Quang Khôi những Thái Thủy những Hoàng Anh Tuấn những Nguyễn Thức. Nhưng nỗi buồn ấy không đáng và không cần đặt thành vấn đề. Nỗi buồn và niềm chua xót mênh mông ấy đột nhiên thành lượng nhỏ bên khối lớn của nỗi buồn cuộc đời con người nhược tiểu nói chung. Phải, niềm đau cuộc đời văn nghệ nhược tiểu chỉ là tảng đá nhỏ bé của trái núi niềm đau con người nhược tiểu. Những thạch bàn cấu tạo nên trái núi này chúng ta đều biết đấy: từ sự lo âu mưa lớn gió to đến chỗ kinh hãi bạo lực uy quyền, nhưng từ chiến cuộc này đến chiến cuộc khác xuất hiện trong những chu kỳ chẳng phải 10 năm mà chỉ bốn, năm năm. Tôi nghĩ đến thành phố Vạn Tượng nhỏ đỗ vỡ khi những người máy khổng lồ từ bốn phía đến trú ngụ cựa mình. Tôi nghĩ đến thiểu số trí thức trong thành phố ấy và những Vạn Tượng khác tiếp tay phung phá cuộc đời cơ cực của con người nhược tiểu. Lớp người trí thức số đỏ, nghiễm nhiên là trí thức vì sinh nhằm vùng đất mà số người thạc sĩ, tiến sĩ, cử nhân đếm trên ngón tay nghiễm nhiên chiếm giữa những công trường của những huyết lộ cuộc đời. Từ chỗ chiếm giữ đưa đến sự năm dài bất động thụ hưởng vị trí số đỏ. Rồi từ tinh thần thụ hưởng đến mặc cảm độc tôn, mầm mống của đố kỵ, bè phái và phản phúc. Hình ảnh thành phố Vạn Tượng điêu tàn và câu hỏi mười ngàn con voi với những người đàn bà bế con, những thiếu nữ mang những mảnh sà roong sặc sỡ, những người học trò nhỏ bé, những nông phu chất phác và tất cả cuộc đời đạm bạc đơn sơ của con người nhược tiểu chạy về đâu khi cả đến giữa rừng hoang cũng in nặng vết chân lên hoa cỏ của những người máy khổng lồ thực cộng.
            Tôi nghĩ đến Vạn Tượng ấy và những Vạn Tượng khác mà ngòi bút đột nhiên chua xót vô cùng.


NGUYÊN SA



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #97 vào: 29/12/2016, 16:43:31 »

NHỮNG TRƯỜNG PHÁI TRONG VĂN HỌC PHÁP

Văn chương Pháp chiếm một khoảng rộng đáng kể của không gian văn nghệ thế giới. Vercors đã mô tả kích thước của khoảng rộng ấy trong “Niềm im lặng của biển cả”: Nói đến nước Đức người ta nhớ đến Goethe, nói đến văn chương Anh tên của Shakespeare trở về với ta. Nói đến văn chương Ý ta nhớ đến Dante, nói đến Tây Ban Nha ta nhớ đến Cervantès. Nhưng nói đến văn chương Pháp thì tất cả Molière, Corneille, Racine, Rousseau, Voltaire, Lamartine, Victor Hugo… xuất hiện cùng một lượt trong óc ta.
            Gần đây thi sĩ Saint John Perse đã đem về cho khoảng đất rộng ấy bông hoa thứ mười và loài hoa hiếm mang tên Nobel.
            Chính vì thế trong cuộc hành trình lớn đi vào không gian vô tận của văn chương thế giới, chúng tôi đặt văn chương Pháp làm giai đoạn khởi đầu.

HIỆN ĐẠI

HIỆN SINH

MỘT SỐ NGƯỜI LO SỢ cho tương lai của con em đã đưa ra khá nhiều lý lẽ để liệt văn nghệ hiện sinh vào loại dâm bôn đồi bại. Dĩ nhiên không phải tất cả mọi người đều đồng ý với những lý lẽ đã được đưa ra để lên án văn nghệ hiện sinh. Nhưng có một điều chắc chắn là chính các bậc đạo đức cũng phải công nhận sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn nghệ hiện sinh nay – không cứ gì ở Việt Nam – đều được nhiều người theo dõi, chú ý và mang ra tranh luận hoặc để ca tụng hoặc để lên án. Nhiều người đã đón chào chủ nghĩa hiện sinh như một thái độ chống đối của con người thế kỷ. Cũng có người đạo đức quả quyết rằng sự trụy lạc của số thanh niên ngày nay là hậu quả của các tác phẩm có khuynh hướng hiện sinh. Thực ra, coi chủ nghĩa hiện sinh như một lối thoát của thế kỷ cũng như gán cho chủ nghĩa này tất cả mọi tội lỗi thời đại đều là thái độ vô lý. Chủ nghĩa hiện sinh có thực là thủ phạm hay nguyên nhân của những tội ác như một số người đã mạnh bạo gán cho nó không? Hay nó chỉ là một thái độ nếu không phải là một tâm trạng thời đại, một căn bệnh như thế kỷ XVIII đã có căn bệnh lãng mạn và thế kỷ này chính là căn bệnh con người muốn duyệt lại mọi giá trị nhân bản và biện minh cho sự có mặt của mình trên mặt đất, căn bệnh hiện sinh.
            Từ nhận định trên chúng ta nhận thấy tất cả mọi trào lưu tư tưởng đều là kết quả của một gặp gỡ giữa tinh thần và hoàn cảnh. Phản ứng của con người trước một hoàn cảnh đặc biệt sẽ khai sinh cho một trào lưu tư tưởng đặc biệt. Vậy hoàn cảnh nào và những phản ứng nào đã khai sinh ra chủ nghĩa hiện sinh? Những tác phẩm văn nghệ có khuynh hướng hiện sinh đã nói lên những hoàn cảnh và phản ứng ấy như thế nào?
            Ở đây, trong khuôn khổ một bài báo dĩ nhiên người viết không thể đề cập đến tất cả mọi khía cạnh của “trường phái” mà chỉ điểm qua một vài nét chính của các tác phẩm có khuynh hướng hiện sinh. Thực ra ở những trường phái khác nhà phê bình văn học có thể xếp loại tác phẩm này văn sĩ kia thuộc vào trường phái nào một cách dễ dàng. Với các tác phẩm có khuynh hướng hiện sinh, nhà phê bình không khỏi phân vân trong việc phân định vị trí từng tác phẩm từng nhà văn. Vì còn gì khác nhau hơn giữa những nhân vật của Gide, của Péguy, Bernanos, Malraux với những nhân vật Sartre của Camus nhưng cũng không phải vì thế mà người ta có thể quả quyết những lo âu về con người của Sartre, của Camus, Simone de Beauvoir, Gabriel Marcel hoàn toàn khác hẳn những xao xuyến của Péguy, Gide, Bernanos.
            Cũng vì vậy đề cập đến các nhà văn hiện sinh mà chỉ nói tới Sartre, Camus, Simone de Beauvoir thì thực là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nói tới những người đi trước và những người đến sau tuy rằng những nhà văn này không hẳn là những người theo phái hiện sinh.



            Con người của thế kỷ này khi bước chân vào đời và bắt đầu ý thức được vai trò của mình thì đã gặp một bối cảnh hỗn loạn, đen tối, điêu tàn. Những nền móng của xã hội Tây phương đã bắt đầu lung lay. Những tinh túy của văn minh Đông phương bị quên lãng. Ngay cả những mệnh lệnh của tôn giáo và những định luật khoa học cũng mất dần hào quang, không còn ghê gớm như những thế kỷ trước. Con người bắt đầu ngờ vực và hoang mang. Con người như muốn tìm hiểu lý do sự có mặt của mình trên trái đất. Phải, để mà làm gì, tất cả những nỗ lực, những cực nhọc ấy? Để mà làm gì, tất cả những trò hề, tất cả cuộc dạ vũ hóa trang trong bữa tiệc đầu người mà Jacques Prévert đã diễn tả trong “Paroles”?
            Tôn giáo và khoa học tuy bề ngoài mâu thuẫn mà thực sự đã bổ túc cho nhau để bóp nghẹt con người bằng những lối giải thích chật hẹp và khẳng định. Con người là một tiền đề đặt ra trước khi biện chứng luận hoàn tất. Con người là dù thế này hay thế kia thì cũng đã được minh định tỷ mỷ từ trước khi nó ra đời. Khi những thành trì tôn giáo và xã hội còn vững thì con người tạm thời có thể nhắm mắt nhận lấy số phận của mình, nhưng từ đó đến nay rất nhiều song sắt đã bị chặt đứt, rất nhiều bùa ngãi đã hết thiêng và rất nhiều cửa ngõ đã được mở ra. Con người thế kỷ đã biết nhìn về trước mặt mình mà không nhất thiết phải dùng đến lăng kính của Tôn giáo hay Phương pháp luận. Từ trước con người không nhìn từ bằng con mắt của mình, mà đã giao phó cho đức tin, có thể đức tin ở đây là tôn giáo, mà cũng có thể là khoa học. Đằng nào thì con người cũng không tự đảm nhận lấy trách nhiệm khám phá ý nghĩ cuộc đời của mình cho chính mình. Tất cả sứ mạng hướng đạo và soi lối đều được giao phó cho một quyền uy bên ngoài. Nhưng quyền uy ấy trong những thế kỷ gần đây, nhất là sau cuộc chiến tranh 1870, đã tỏ ra bất lực. Những hứa hẹn của tôn giáo và khoa học đều bó tay trước ý thức con người. Chán ghét những giải thích “may sẵn” con người đã phải tự khám phá ý nghĩa cuộc đời của mình và đảm nhận trách nhiệm thân phận làm người của chính mình.
            Thái độ phẫn nộ và chống đối của con người thực ra không phải là một hiện tượng của thế kỷ XX. Nó đã có ngay từ ngày có loài người. Nhưng đến nay con người không muốn chống đối một cách âm thầm với mặc cảm tội lỗi trong lòng mà muốn gào thét biểu lộ sự phẫn nộ của mình ở mọi lãnh vực. Với tôn giáo, Gide nhận thấy con người tự bó buộc từ chối cuộc sống và đã lên án trong “L’Immoraliste”: “Tất cả những gì làm cho người ta xa cách với sự sống là kẻ thù riêng của ta”. Ở đây chỉ là sự lặp lại dưới một hình thức có vẻ chân thành và tha thiết hơn lời tuyên bố kiêu căng của Nietzche: “Thiên Chúa đã chết”. Ngày xưa trong xã hội Tây phương mỗi lần một vị vua băng hà, dân chúng hô khẩu hiệu: “Le roiest mort, vive le roi”, có nghĩa là vua đã băng hà, vạn tuế tân vương. Ngày nay khi phái hiện sinh lập lại lời tuyên bố của Nietzche: Thiên Chúa đã chết cũng ngụ một ý ấy; Thiên Chúa đã chết, vạn tuế con người?
            Đối với khoa học và tất cả lối hiểu biết khô khan của trí thức, con người cũng không thể tha thứ được những lối giải thích và khảo sát đã xâm phạm và làm sai lạc ý nghĩa cuộc sống của con người. Gide cũng đã lên án khoa học trong “L’Immoraliste”: “Những học thức ấy trước đây là tất cả lẽ sống của tôi, bây giờ chỉ còn lại những tương quan ngẫu nhiên và hình thức đối với tôi. Tôi tự khám phá ra mình còn thế khác nữa, ôi, vui sướng, tôi hiện hữu ngoài những thứ ấy”. Và Suarès tiếp tục mỉa mai: “Tôi khao khát sống, mà không phải khao khát ba cái chân lý rưỡi của các người. Là ba hoặc hai chăng nữa thì cũng chỉ quan hệ đối với cái nghiệp lớn lao của các người là biết, với tất cả những sự kiêu sa đặc biệt của cái trò biết ấy”.
            Tuy nhiên con người chống đối không phải chỉ vì thích chống đối mà chính là đạp đổ cái gia sản đã nứt rạn để xây dựng một gia sản mới trên những căn bản giá trị mới. Vậy đâu là những căn bản ấy. Miguel de Unamuno cho chúng ta biết: “Và chân lý? Người ta cần phải sống chân lý, hay là tìm hiểu nó?” Chân lý không có tính cách một tiền đề cố định mà là một sự sáng tạo trong cuộc sống thực tại của con người trong một hoàn cảnh cụ thể. D. H. Lawrence người anh hùng đi tìm ý nghĩa cuộc đời giữa sa mạc Ả Rập cũng chỉ thấy có mỗi một chân lý mà thôi: “Đối với tôi, tôi chỉ biết rằng cuộc sống và chỉ có cuộc sống là chìa khóa của vũ trụ, và cá nhân sinh sống là chìa khóa của sự sống… Chỉ có sự sống đáng cho chúng ta quan tâm, và không phải những máy móc và những lý thuyết”. Tất cả trong giá trị siêu hình hay khoa học không bằng bản năng của con người bám víu vào sức sống mãnh liệt của cá nhân và nhân loại: “Tôn giáo lớn lao của tôi là tin tưởng rằng máu huyết và xương thịt của tôi khôn ngoan hơn trí thông minh… Hiểu biết nghĩa lý gì đối với tôi. Tất cả điều tôi ao ước là trả lời cho lời mời gọi của giòng máu trực tiếp, không qua trung gian của tinh thần, hay luân lý, hay cái gì cũng mặc” (D. H. Lawrence: Fantaisie de l’inconscient). Và trong trật tự hoàn vũ thì con người tìm cách hòa hợp và chọn lấy một đẳng cấp thích nghi. Trách nhiệm triết nhân khi đó là: “Triết nhân không tìm cách chỉ huy hay vâng phục, mà tìm cách giao cảm” (Bergson: L’intuition philosophique). Và giao cảm có nghĩa là đứng vào vị trí của mình trong trật tự hoàn vũ, làm trọn “vai trò của ta trong thiên nhiên” (A. Dbölin).
            Nhưng nguyện vọng của con người thì như vậy mà thực tế đâu có mềm dẻo như thạch cao trong tay kẻ nắn tượng? Do đó nảy sinh một cảm tướng phi lý, buồn nản lan rộng trong văn chương thời đại: “Sinh con người ra mà làm gì khi chúng ta chưa nhất định được con người dùng vào việc gì?… Như vậy chẳng khác nào bạn hỏi một người: “Cái áo choàng dùng để làm gì?” Và hắn trả lời cho bạn: “Để làm cái áo choàng”.
            Thế kỷ này đang đi đến giai đoạn đó: ý thức được vấn đề, những nguyện vọng, những trở ngại, nhưng không đủ khả năng và phương tiện giải quyết vấn đề, thỏa mãn những nguyện vọng, và vượt qua trở ngại.
            Cái tâm trạng thời đại phơi bày ra ngoài xã hội Tây phương, và được ghi nhận trong văn học đã làm màu nền để vẽ bức tranh hiện sinh. Camus, Gide, Gabriel Marcel phác họa những thí nghiệm từ cuộc sống và lịch sử bằng nét bút văn chương. Sartre cô đọng thành hệ thống, từ những gì còn mờ mịt, ẩn náu, rời rạc.
            Màu nền để họa bức tranh con người hiện sinh trong một bối cảnh phi lý, sẽ chưa đầy đủ nếu chúng ta không nhắc đến sự dối trá vĩ đại trong thế kỷ. Thế kỷ này đầy những danh từ lớn và những ý niệm đã mất hết thực chất của nó. Vai trò giả dối lớn lao vô cùng. Thế giới hôm nay cũng chìm ngập trong giả dối.
            Như thế con người sống giữa một thế giới thù nghịch, giữa những người đồng loại xa lạ. Xa lạ mà vẫn không tránh được, không từ chối được, vẫn phải chịu đựng, ngay trong chính bản thân mình. Vì trong mỗi người ai phân biệt được đâu là phần riêng tư và độc đáo của cá nhân đâu là phần đóng góp của tập thể. “Tôi muốn được một mình. Không có lối. Tôi muốn nói không có cái thằng tôi mà tôi biết. Một mình với một người lạ mặt nào đó mà tôi cảm thấy mơ hồ không thể tách rời được, và chính là tôi: đó là kẻ lạ mặt bất khả phân đôi với tôi vậy” (Pirandello: Un, Personne et cent mille).
            “Kẻ xa lạ” ấy sẽ là đề tài và tên một cuốn sách của Camus sau này, trong đó nhân vật cảm thấy, và hành động xa lạ với chính bản thân: từ con người mà có kẻ tưởng là chỉ có một, sẽ thoát ra một diễn viên hài kịch, để cho một phần thứ hai của con người thầm lặng và bở ngộ làm khán giả ngắm tấn bi hài kịch đau đớn của thân phận mình. Trong văn chương hiện sinh, kẻ xa lạ ấy – xa lạ với chính mình, xa lạ với tất cả đồng loại, xa lạ với thế giới và vũ trụ của mình – sẽ đóng một vai trò rất quan trọng, và được nhắc đến thường xuyên dưới đủ mọi hình thức. Chính cái cảm tưởng xa lạ ấy sẽ dẫn đến cảm tưởng phi lý. “Tôi đã hiểu rằng chúng ta mù và điếc, chúng ta từ đêm tối đến đây và sẽ trở về, đêm tối mà không nhận định được gì về định mệnh của mình” (Julien Green: Varouna). Thực tại thì như vậy và nguyện vọng của con người bao giờ cũng là khám phá ra được mối tơ vò, thiết lập một trật tự giữa vũ trụ và xã hội hỗn mang soi một ánh sáng vào đêm tối. “Cái phi lý chính là sự đối chiếu thực tại vô lý ấy, khát vọng tha thiết một ánh sáng mà lời mời gọi vang động đến đáy lòng mỗi người” (Albert Camus: Le Mythe de Sisyphe). Tham vọng con người là lấy mình làm kích thước vũ trụ nhưng thực tế mấy khi chiều người. Và thần linh cũng vắng bóng, mọi lời cầu khẩn đều vô hiệu: “Lậy chúa, tại sao chúa không cứu vớt chúng con, vì chúa có thể cơ mà? Sóng biển thuộc quyền chúa, gió bão thuộc quyền chúa. Hãy truyền cho chúng lặng xuống… Ngay lúc đó một làn sóng tạt vào hắn, và hắn ngã ngửa ra”. Vũ trụ này tuy có một giống sinh vật gọi là con người, nhưng hầu như thần linh không hề biết đến: “Nó nhận thấy rằng ván bài được dàn ra một cách bình thản dù nó có làm gì đi nữa, và những dự liệu của nó cũng không có gì đáng kể” (Julien Green: Varouna, leviathan).
            Thì ra những ý nghĩa con người gán cho sự vật, chỉ là những điều giả dối tất cả? Sự vật và vũ trụ không hề đếm xỉa đến con người, cầm như không bao giờ có con người trên mặt đất này. Và nhân loại có bị tận diệt thì trật tự hoàn vũ không hề sai lệch đi chút nào vì sự vắng mặt đó. Vị trí con người đã ngã từ chúa tể mà Thiên Chúa của Thánh kinh đã đặt để, xuống một hạt bụi cát nhỏ bé vô cùng, không hy vọng vươn lên. Sự đau đớn và đê nhục không phương thuốc chữa. Tôn giáo muốn con người phải thờ phụng một Thần linh, nhưng đền bù con người được làm chúa tể vạn vật. Đã đành con người được quyền trọn quyền tự do của mình, nhưng giữa hư không, không thể đặt chân vững chắc lên một nền tảng nào mà lấy đà nhảy lên chiều cao hay vượt chiều dài. Đó còn là nguyên nhân khác của cảm tưởng phi lý day dứt con người hôm nay.
            Trước những vấn đề ấy con người đã đi tìm tất cả mọi lời giải đáp từ mọi hình thức tôn giáo, hành động tích cực, nghệ thuật, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi cái cảm tưởng đau đớn đã đi sai lối, và con đường nào cũng dẫn ngõ cụt.
            Một thiểu số muốn bước theo cái đạo siêu nhân của Nietzche để quên khuấy tất cả những đau đớn của mình. “Con người sau khi chạy trốn thượng Đế, chạy trốn chính mình; Nó tìm đến những máy móc nhưng máy móc chỉ đem lại cho nó một ảo tưởng hủy diệt được thời gian và không gian; nó chạy trốn vào vực thẳm của suy tưởng thuần túy nhưng suy tưởng hủy sẽ diệt thế giới thực tế, nó chạy trốn vào những ảo tưởng và những giả tạo che giấu cho nó vài phút sự đê nhục của mình”. Giovanni Papini: Pane e vino. Thực vậy nghệ thuật thời đại đã thấm nhuần đau khổ của con người, không thể diễn tả được những nét tươi mát hồn nhiên, mà chỉ còn có thể nói được sự thất vọng, đê nhục, phẫn nộ, căm uất của con người trước cuộc đời. Những tác phẩm thời đại hầu hết là những giòng nước mắt khóc than cho số kiếp con người. Hay là những khẩu hiệu gào thét tranh đấu, nhưng tranh đấu cho một lý tưởng trống rỗng, giả dối, cho những danh từ lớn.
            Và kẻ chạy trốn vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm như một Lawrence, một Saint Exupery, hay một Malraux cũng chỉ gặp ở cuối chặng đường tất cả những đê nhục căm uất của mình mà thôi. Những ngày cuối cuộc đời của Lawrence, tình nguyện gia nhập thủy quân rồi không quân mà vẫn không tìm được bình yên tâm hồn thật đã tiêu biểu cho sự thất bại của cái đạo siêu nhân mà Nietzche rao giảng từ thế kỷ trước. Cái chết của Lawrence, hay cái chết của Camus, do tai nạn đường sá rất tầm thường và phi lý đã kết thúc thật xứng đáng tất cả một cuộc đời nỗ lực thoát khỏi những bức vách phi lý dựng sừng sững lên quanh con người.
            Và con người có thể chạy trốn chính bằng cách gia nhập vào một tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, hay lý tưởng. Kết quả cũng không hơn gì. Từ một Koestler, cho đến Gide hay một Sartre đều đã có lần mon men bắt tay vô sản, để rồi vội vã chạy trốn, vì nếu “sự lệ thuộc chính trị quân sự hay tôn giáo, thì nghĩa lý gì đối với tôi?” (Malraux: Espoir) Tất cả mọi sự chạy trốn thân phận con người đều tỏ ra vô ích. Nhận định này có tác dụng tăng thêm buồn nản và thất vọng, làm cho con người của Sartre nôn ọe, và Caligula của Camus thử thách tự do và uy của mình trên thân phận đồng loại.
            Con người bị dồn đến ngõ cụt và phải suy nghĩ về mình, cần phải có một nhận định và nhận định ấy là nhận định đầu tiên căn bản, thiết yếu, vì từ đó tất cả cuộc đời sẽ sinh ra, là nhận định sự hiện hữu của chính mình. Tuy nhiên nhận định đó không đến dễ dàng và tự nhiên, mà do một sự đối chiếu với sự vật, với kẻ khác: “nó cần tôi để hiện hữu và tôi cần có nó để không cảm thấy mình hiện hữu. Tôi sản xuất nguyên liệu sống, nguyên liệu mà tôi bán ra được, mà tôi không biết dùng làm gì: sự hiện hữu, sự hiện hữu của tôi” (J. P. Sartre: La Nausée). Kết quả tiêu cực do sự hiện diện của kẻ khác làm cho con người suy nghĩ về mình, tuy rằng kết quả tích cực là thu hút sự chú ý và làm cho con người quên hẳn nhận định về sự hiện hữu của mình. Nhưng nhận định được sự hiện hữu của mình, và tự do của mình, mà không thể thiết lập một tương quan giữa mình với kẻ khác, thì kẻ khác vẫn là xa lạ, là thù nghịch, là “địa ngục”. Đó là giai đoạn đầu, giai đoạn tiền chiến của tư tưởng hiện sinh. Kẻ khác chỉ đáng cho con người nôn mửa và dùng để thử tự do và uy lực của mình bằng những hành động vô trách nhiệm, vô thưởng vô phạt. Vì đó mà Roquentin trong “La Nausée” quyết định bắn chết sáu người bằng sáu viên đạn súng lục. Giết người, hay để cho mình bị giết đều không quan hệ mấy “Sự sống của hắn không có một giá trị nào hơn sự sống của tôi, không một sự sống nào có giá trị” (Sartre: Le Mur). Đây chỉ là một phản ảnh tất nhiên của thời đại: sinh mạng con người bị khinh miệt hơn con vật. Bao nhiêu phương pháp giết người tối tân được đem ra thí nghiệm một cách lạnh lùng và gần như hào hứng vui vẻ ở một vài dân tộc để rồi lan khắp thế giới. Khi mà một vũ khí có thể tàn sát trong nháy mắt hàng trăm ngàn người, thì ai dám bảo mạng người còn có giá trị? Họa chăng chỉ có một giá trị duy nhất: bạo lực, bạo lực vũ khí, và bạo lực tinh thần. Hiện hữu chỉ đem lại đau khổ, tội lỗi cho con người, thì giết người chẳng là một hành động nhân đạo lắm sao? Sự hủy diệt những giá trị tinh trong thời đại này đã được văn chương hiện hữu ghi nhận trung thành, và giúp chúng ta ý thức sự phi lý quá quắt của trật tự xã hội hôm nay. Văn chương đó, với tác dụng đó có một giá trị luân lý, nếu chúng ta thẳng thắn nhận lấy nhận xét chân thành và tìm phương bổ cứu.



            Sang giai đoạn hai, trào lưu hiện sinh thoát khỏi cái tôi nhỏ hẹp của cá nhân để đi tìm cái chúng tôi: một tương quan giữa cá nhân và kẻ khác, và nhân loại.
            Camus trong “La Peste”, “Les Justes” cố gắng đặt một vài tiêu chuẩn đức lý; con người có những tương quan tất yếu với “kẻ khác”. Như một bạn đồng hành, đồng cảnh ngộ, nên giúp đỡ và nương tựa nhau. Caligula, cuối vở kịch và cuộc đời đã tỉnh giấc và thú tội: “Ta đã không đi theo con đường phải đi, ta không đến đâu được cả. Tự do của ta không phải là tự do chân chính. Hélicon (một tùy tướng trung thành). Hélicon! Không có ai cả! Vẫn không có ai cả! Ôi, đêm nay sao nặng nề quá. Hélicon sẽ không đến được; chúng ta là thủ phạm muôn đời? Đêm nay nặng nề như đau khổ con người (Camus, Caligula).
            Con người có thể biết vị trí của mình giữa vũ trụ và xã hội và lịch sử. Từ ý thức về vị trí của mình đến ý thức trách nhiệm của mình con đường không xa. Những nhân vật của Camus trong “La Peste” và “Les Justes” đều là nhân vật thiện cảm, băn khoăn về hành động của mình, và thẳng thắn nhận lấy những trách nhiệm đời mình đối với nhân loại và dân tộc. Một bước tiến đã mở ngõ trong văn chương. Phải chăng nó ghi nhận hay tiên đoán một bước trên thực tại xã hội?
            Và J. P. Sartre trong vở kịch “Le Diable et le Bon dieu” (1951) đã đi đến một kết luận tương tự. Nhân vật chính: Goetz, sau lúc chỉ biết làm theo ý muốn của mình, một phần để thắng những thách đố của hoàn cảnh, cuộc đời, và kẻ khác, đã nhận thấy dầu sao cũng không thể từ chối những tương quan tất yếu và tự nhiên giữa mình và kẻ khác. Từ chối ý thức về những tương quan đó chỉ là sự lẩn trốn vô ích và tai hại mà thôi, không dẫn đến đâu cả, và không tạo nên gì cả. Goetz đã làm điều ác một cách cương quyết và khéo léo; rồi để thắng cuộc, đã làm điều thiện, đúng hơn chỉ làm điều mà hắn tưởng là điều thiện, nhìn dưới một quan điểm tôn giáo nào đó mà thôi cũng một cách cương quyết, khéo léo và lì lợm. Nhưng cuối cùng hắn không thể làm cho con người sung sướng hơn. Đau khổ và hạnh phúc của con người thuộc về sự sống và mật thiết với sự sống không thể nào tách rời nhau được.
            Kết quả của cuộc phiêu lưu trường kỳ của con người, sau khi qua bao nhiêu chặng đường cũng như kết quả cuộc phiêu lưu của Goetz, là nhận định về sự hiện hữu của mình, vũ trụ và nhân loại: “Không còn Thiên đàng, không còn địa ngục: chỉ có mặt đất. Và trên mặt đất, gắn liền vào mặt đất tất nhiên có con người”. Không cách nào thoát khỏi nhân loại. Vĩnh biệt thần thánh. Vĩnh biệt kiêu căng. Chỉ có con người mà thôi. Giữa con người với con người tuy có thể thù nghịch, nhưng ít ra đó là những đồng loại, những đồng bạn, có thể dàn xếp với nhau. Cuối cùng Goetz đã từ chối mộng thần thánh để làm người và tham dự vào đau khổ vui buồn của con người. Và giữa những con người thì Goetz đã chọn những kẻ nghèo hèn, đang chống lại các lãnh chúa phong kiến.
            Dù cho con người sinh ra đời với tất cả tội lỗi và đau khổ, thì không ai có thể thoát thân và chạy trốn lấy một mình. Tất cả đều liên đới chịu trách nhiệm về “người anh em” của mình. Tây phương, và nước Pháp đã chịu ảnh hưởng Thiên Chúa giáo hai mươi thế kỷ, không thể nào quên câu chuyện Abel và Cain, với lời hỏi tội của Thiên Chúa: “Mày đã làm gì cho em mày?” Phải chăng trào lưu hiện sinh ngày nay muốn nhận lấy trách nhiệm này. Và đó là giá trị nhân bản mà những tác phẩm văn nghệ hiện sinh muốn đem lại cho con người. “Nhân loại ngày nay ra đời đã là thủ phạm vậy tôi đã phải đòi hỏi phần tội lỗi của tôi trong những tội lỗi chung nếu tôi muốn có phần trong tình thương và đức hạnh của nhân loại. Tôi đã muốn tình yêu thương thuần túy: ngu ngốc; Yêu nhau nghĩa là cùng thù ghét một kẻ thù chung: vậy tôi phối hợp với căm thù của các bạn. Tôi ao ước điều thiện: khờ dại; trên mặt đất này và trong thời gian, Thiện và Ác bất khả phân: tôi nhận cái xấu để trở nên tốt”.
            Nhưng giá trị nhân bản của hiện sinh tuy có thể làm nền tảng cho một nền đức lý xã hội gượng ép, vẫn còn nhiều khuyết điểm và thiếu sót. Thực vậy Sartre đã công nhận vô tình như thế qua cửa miệng của nhân vật Goetz: “Tôi đã giết chết Thần linh, vì Nó đã làm cho tôi xa cách với con người và bây giờ cái chết ấy đã làm cho tôi cách biệt thêm lên, chắc thế. Tôi không thể chịu được cái Thây ma vĩ đại này làm nhiễm độc những thân hữu giữa tôi và nhân loại”. Nhưng không chịu được thì con người hiện sinh cũng không có cách nào để che đậy và an táng cho thây ma vĩ đại của Thần linh mà họ đã giết chết, đang làm nhiễm độc tâm hồn họ và tất cả những tiếp xử giữa con người.



            Trên đây nhìn sơ lược qua một vài tác phẩm văn nghệ có khuynh hướng hiện sinh chúng ta nhận thấy những “lý thuyết gia” và những đại diện xứng đáng nhất của trào lưu này hiện nay còn có thể biến chuyển trong tư tưởng. Chính Sartre cũng không muốn đem ra một hệ thống tư tưởng cứng nhắc, khô khan quá đáng, mà chỉ có ý cắm những cái mốc, những bản hướng dẫn. Vì đó là hiện sinh chưa phải là câu chuyện hoàn tất, mà là câu chuyện đang thành, đang làm. Nó không từ chối những biến chuyển nội tại tuy có thể chậm nhưng không thể tránh được. Bởi đó bao giờ chúng ta cũng có thể đón nhận tư tưởng hiện sinh một cách thiện cảm và rộng lượng, và chờ đợi một hướng đi lên cao đẹp, vượt qua những phản ứng thái quá hay bất cập của thời kỳ dậy thì tiền chiến.

TRỊNH VIẾT THÀNH



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #98 vào: 29/12/2016, 21:16:20 »


Vào thu

Giữa đêm lòng bỗng hoang vu,
Gối chăn nghe cũng tình cờ quan san.
Bước thu chừng sớm lìa ngàn,
Nhớ giây nguyệt lạnh, cung đàn thương hoa.
Em về rũ tóc mưa sa,
Năm canh chuốt ngón tỳ bà khói sương.
Rời tay nhịp phách đoạn trường,
Hồn đêm nay thấm mùi hương năm nào?
Sầu che nửa mặt chiêm bao,
Dòng mưa thu lệ chìm vào phấn son.
Nét mày cong vút núi non,
Mông mênh xiêm trắng linh hồn vào thu
.


                          ĐINH HÙNG



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #99 vào: 30/12/2016, 13:03:38 »


Mùa thu

Mùa thu tuyết bạc xuống đài,
Cây mòn mỏi đợi, quan tài tái tê.
Vần xoay bốn hướng gió về,
Đường nằm buốt lạnh, tường bia giá lòng.
Mưa giăng kín nghĩa địa buồn,
Se sầu che mặt, lầu tuôn lệ trời!
Nghe nàng tức úa làn môi,
Nghe trong giấc mộng, nụ cười biếng thêm,
Đêm thu cơn gió giật mình,
Chuông buông lạc lõng, thị thành mê man.
Mùa thu tâm sự võ vàng
Vu vơ hồn gọi tên nàng… trong đêm
.


                          DIÊN NGHỊ
                          Hoa Thị Đốn 60



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #100 vào: 30/12/2016, 14:25:20 »


Gọi tên anh

Làm một bài thơ nói đến anh
Khi buổi chiều rụng xuống
Con dơi nhỏ kêu than
bên trong những cánh cửa giáo đường vừa khép lại
Làm một bài thơ nói đến anh
Sau lưng nỗi nhớ nhung trước mắt niềm hối tiếc
Dấu chân một ngày không để lại mặt đồng hồ tiếng nói
Đồng cỏ say suốt mướt,

Làm một bài thơ nói đến anh
Có thể mang bằng lá cây, bầu trời, buổi mai buổi chiều sương cỏ
Một bài thơ nói đến anh.
Em thường gọi tình yêu bằng tiếng sóng để tự mình hóa thân vô chiếc vỏ ốc ghi thanh xong mang về thành phố đặt trên bàn.
Rồi bỏ quên không ngó lại.
Không bao giờ ngó lại.
Bài thơ nói đến anh, nói đến niềm hối tiếc,
Em đem triễn lãm trong linh hồn mỗi lần xót xa thương đời con gái.
Em sắp anh vào hàng ngũ tình nhân để gọi.
Người con trai ấy đi qua đời tôi và còn bao nhiêu nữa.
Những thế giới trở mình đòi cổ tích.

Làm một bài thơ nói đến anh,
nói đến lần cuối cùng.
Suốt cuộc đời con gái. Em gõ cửa dĩ vãng xin hình kỷ niệm cất vào đáy lòng rồi đứng đầu
Cuống họng vỡ tay buông rời khí giới
Đêm thẫn thờ úp mặt
khóc tương lai.
Bài thơ nói đến anh từng chữ
.


                          TRẦN THY NHÃ CA
                          1960



 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #101 vào: 30/12/2016, 14:38:06 »


Nhã Ca mùa hạ

Xin giao trả, này một cánh hoa trắng
Với nửa vòng tay với nửa đời người
Tôi trở về làm con gái hai mươi
Hai mươi tuổi cộng thêm ngày sắp tới

Nỗi buồn tan biến như buổi chiều
Mùa hạ đơn sơ một loài hoa rụng đỏ
Nhỏ xuống linh hồn từng giọt Tango Bleu
Ngày đi qua trong biển xám mây mù

Người yêu có giọng hát buồn tiếng khóc
Bài dạ khúc cắt đôi chiều thứ ba
Mà tình yêu trái tim không thức dậy
Tôi làm con gái gọi trăm lần Nhã Ca

Hai mươi tuổi, sắp hết thời con gái
Cành xanh xao với trái mùa thu
Tuổi trẻ bị bỏ quên không bao giờ ngó lại
Tôi cũng khuây dần những tình yêu đi qua


                          TRẦN THY NHÃ CA



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #102 vào: 30/12/2016, 22:08:35 »


Trở buồn

Hoàng hôn trở giấc vào mây
Âm hồn còn vắng đâu đây bước dài
Níu theo khăn trắng tương lai
Vành nghiêng nón mở chuỗi cười đi qua
Nửa mình mắt mỏi đường ta
Tủi thân rớm máu bụi nhòa chất tim
Trên cao đã chết phương tìm
Gối tay bừng tỉnh cúi nhìn vực sâu
Cầu xin chẳng biết về đâu
Ngàn xuân ôm mãi huyệt sầu trống hoang


                          PHẠM NĂNG HÓA



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #103 vào: 31/12/2016, 11:06:52 »


Âm hưởng

Khói thuốc không mờ được mắt em
cốc cà phê lắng đọng ưu phiền
tiếng ca nào hắt ra từ đáy đĩa
mái tóc buồn nào xõa xuống vai nghiêng

anh vẫn ngồi đây mỗi chiều như thế
2 cốc cà phê sao chỉ một mình anh
chiếc trước mặt không nhìn người đối diện
anh gọi thầm em anh gọi thầm luôn

điếu thuốc tàn run trên đôi môi
đã tắt từ lâu không tiếng cười
thân thể anh nhiều phần vữa nát
khuôn mặt nào ngơ ngác trong gương?

đường phố người đi sao không thấy em
sầu đọng trên vai sầu lắng xuống hồn
tiếng nói nào trong chiều xưa vang vọng
em nhớ gì không hay em đã quên?


                          BIÊN THÙY



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa
« Trả lời #104 vào: 31/12/2016, 11:21:00 »


Sông buồn

Nhìn lên mây xám rũ sầu
mình ta lặng lẽ cúi đầu về không
tiếng rên sỏi đá não nùng
sông buồn nước lặng dòng không bóng thuyền
hàng cây đứng rủ bờ nghiêng
hoàng hôn gục chết lên trên bến bờ
tóc thề rụng xuống thành thơ
20 tuổi biết tôn thờ gì đây
Tình yêu cần thiết hôm nay
sao ta lại thấy tháng ngày bơ vơ
tay ta người vẫn hững hờ
đưa ra nào có bao giờ ai nâng
cuộc đời nhiều nỗi bâng khuâng
đốt nhang cắm trước ảnh nằm ngâm thơ


                          BIÊN THÙY



 
The following users thanked this post: hoangnguyen, tnghia