Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 29766 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #390 vào: 15/10/2018, 20:12:22 »
BÁCH KHOA |  SỐ 68  [1-11-1959 |  112 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Lê Linh |  Vấn đề sử dụng đất đai tại Việt Nam |  3-6
Hoàng Minh Tuynh |  Dư luận Đệ tam thế giới đối với viện trợ |  7-13
Bách-Khoa |  Công bình |  13
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Bài học của lịch sử |  14
Phan Khoang |  Những biến chuyển đầu tiên trong Xã hội Việt Nam khi tiếp xúc với văn minh Âu-Tây [II] |  15-19
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 66 |  19
Nguyễn Hùng Cường |  Sự phân loại sách và các hệ thống thư viện trên thế giới |  20-22
Đoàn Thêm |  Chúng ta theo lễ nào? |  23-27
Cô Liêu |  Lunik III |  28-30
Bách-Khoa |  “Nhưng địa cầu thật vẫn tự chuyển!” |  30
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung & Nguiễn ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [XVI] |  31-34
Nguyễn Huy Khánh |  Luận nhân vật đời Tam Quốc [III] |  35-40
Nguyễn Phúc |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  41-42
Lê Văn Trương |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  43
Võ Phiến |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  44-48
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 67 |  48
Nguiễn Ngu Í |  Tóm tắt ý kiến và ghi những vấn đề cùng câu hỏi được nêu lên trong ba kỳ phỏng vấn trước |  48-50
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 64 và 67 |  50
Châu Hải Kỳ |  Bạn đọc viết: Bàn về vấn đề đính chính tài liệu văn học |  51-53
Quảng cáo |  54
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim tại Pháp” [V] |  55-57
Quảng cáo |  58
Phạm Thanh |  Về bài Điểm sách của Ông Nguyên Phủ: Lá thư trả lời của Ông Phạm Thanh |  59-60
Quảng cáo |  61-62
Vũ Anh Tuấn (dịch) |  Nơi thôn dã (truyện) \ Alberto Moravia |  63-72
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Đường thi dịch giải: Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài \ Lý Bạch |  73
Mặc Thu |  Cơn giông (truyện) |  74-79
Xuân Hiến |  Đổi thay (thơ) |  80-81
Phan Du |  Ngôi sao xa |  82-100
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  101
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  102
Quảng cáo |  103-112


SAIGON |  1959




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #391 vào: 15/10/2018, 21:47:11 »


Nguyễn Phúc trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sinh 10-4-1933 ở Đồng Hải, Quảng Ninh (Quảng Bình).
            Viết các báo “Mùa Lúa Mới”, “Văn Nghệ Tiền Phong”, “Bách Khoa”.
            Hiện ở Huế, đang dạy ở vài trường trung học.
            Đã viết truyện dài “Đôi Lứa”. Đã xuất bản tập tiểu thuyết ngắn “Đêm không hết” (1959).


○ ○ ○

         Anh Ngu Í,
         Được thư anh lâu, nhưng hai điểm anh hỏi thực khó trả lời. Trước mục đích tìm hiểu, khai thác để tiến đến một chọn lọc của anh cũng như của tờ báo, tôi đâm ra thận trọng và càng lúng túng khi thấy mình từ trước đến giờ chưa đặt vấn đề cân nhắc giữa những truyện ngắn đã đọc, tuy đã có ý thức rút tỉa một vài đặc điểm về nội dung cũng như kỹ thuật để làm “của riêng”.
         Hồi tôi còn đi học, nghĩa là cách đây chẳng bao lâu tôi đã đọc một số truyện ngắn ngoại ngữ (không đọc nhiều) nhưng với mục đích học thêm sinh ngữ hơn là tìm kiếm cái hay chứa đựng trong tác phẩm. Song, đôi khi tôi cũng thấy khoái mà bây giờ tôi khó phân tích được cái khoái ấy đưa lại do cái thâm thúy của câu chuyện, hoặc vì cái tỉ mỉ tự nhiên đến độ như thiệt của những cảnh, tình mở ra trước mắt do những cây bút thần tình hay là do một niềm phấn khởi vì đã hiểu nổi một vài cái uyển chuyển tế nhị của ngoại ngữ mà tôi đang theo đuổi.
         Rồi những ngày gần đây, nghĩa là sau chiến tranh, tôi về Huế tiếp xúc với nhiều tác phẩm của những nhà văn có danh tiếng trên thế giới, tôi như người thiếu ăn lâu ngày, nay được đứng trước một mâm cỗ. Tôi thấy phần nhiều truyện nào cũng hay cả, nhà văn nào cũng có biệt tài (không xét về nội dung theo một nhãn quan nào, vì cái này kể ra phức tạp lắm). Từ bút pháp, từ những khía cảm nghĩ nho nhỏ cho đến quan sát, theo tôi, cũng đều đáng bực thày của những nhà văn trong nước mà hồi trước tôi đã xem như bực thày rồi. Tôi băn khoăn không biết làm thế nào đọc cho được nhiều, thâu thái cho kịp. Và cố nhiên trong tình trạng thiếu sự hướng dẫn đó, cộng với lòng tự ti mặc cảm, tôi đọc đại, đọc bừa bãi; quyển nào mới cầm lên đã có ý tưởng “đầu hàng không điều kiện” rồi. Họa chăng, lâu lâu mới gặp một quyển kém làm riêng tôi thấy phấn khởi sáng tác và tin tưởng vào tương lai của một vài nhà văn hiện nay của ta đôi chút, cái phần mà các tác phẩm ngoại quốc thường gợi cho tôi cái ý “vĩ đại”, “thần thánh”, “như thiệt” thì trong các tác phẩm Việt ít có lắm.
         Bởi thế trong một thời gian ngắn sau khi viết xong một truyện ngắn nào đó, tôi không dám đọc bất cứ một quyển nào trừ những quyển sẵn đã có tiếng nằm trong chương trình trau dồi lối viết như một vài quyển của Tolstoi, J. Steinbeck, Vicki Baume v.v… vì sợ gây một ấn tượng quá kém về mình rồi nản chí không muốn viết lách nữa. Có lẽ vì mặc cảm nên gần đây tôi không ham đọc một số truyện Việt, đó cũng là một nhận thức quá sai lầm.
         Còn như những tác phẩm của các nhà văn ta thời tiền chiến thì thuở ấy tôi còn nhỏ nên ngày nay mỗi khi nhắc đến tôi chỉ loáng thoáng thấy hay, chứ không biết cụ thể ở điểm nào; ngay như tập Sợi tóc của Thạch Lam, truyện dài Bướm trắng của Nhất Linh mà trước kia tôi rất thích, nay xem lại chỉ cho tôi cái cảm giác trễ tràng, chậm chạp, thiếu sắc bén. Thực ra chỉ có tập “Vang bóng một thời” và nhất là một số tùy bút của Nguyễn Tuân là tôi còn giữ trọn vẹn lòng kính cẩn mà thôi. Những nhà văn của ta hiện nay, tôi phục anh Bình Nguyên Lộc trong vài truyện vì anh đã nói lên được một số tâm tình, rung cảm của những người Việt miền Nam mà các nhà văn trong Nam như Hồ Biểu Chánh, bà Tùng Long v.v… chưa có ai đã nói lên được bằng anh… Còn đem chuyện anh so với một số truyện ngoại quốc, thì quả tình tôi chưa nghĩ đến bao giờ.
         Ngoài ra, một số truyện ngắn khác rải rác trong các tạp chí đứng đắn cũng làm tôi say mê về kỹ thuật và nội dung, như Chữ tình, Mụ đế quốc của Võ Phiến. Tuy vậy, cũng có một số truyện ngắn nếu ý và kỹ thuật phong phú thì phần nhiều tôi thấy có cái gì tủn mủn, biệt lập, xa vời, hoặc nếu tác giả cố gắng, đi vào tỉ mỉ thì cũng chỉ thoáng qua vì không ngưng đọng ở đấy một thái độ, một suy tính có liên hệ với những tác động xã hội và tâm lý quần chúng xung quanh.
         Gần đây, trong các truyện ngắn ngoại quốc, tôi thích nhất những truyện ngắn của Jack London như truyện “L’inévitable blanc” trong “Contes des mers du sud (South sea tales)”, truyện “An odyssey of the north”, truyện “A piece of Steak”.
         Truyện ngắn “Mưa lúc rạng đông” của Constantin Paoustovski (truyện ngắn quốc tế do Bửu Kế và Cẩm Tâm dịch)(1) truyền cảm mạnh mặc dầu câu chuyện không có gì rõ ràng cả. Khung cảnh và tâm tình nhân vật đều mờ mờ như màn mưa bụi lúc rạng đông.
         Truyện “The old man and the sea” của Ernest Hemingway không dài không ngắn đã làm cho tôi say mê và ngạc nhiên, tôi cho đó là một bản anh hùng ca. Nhưng có cái lạ là sau này mỗi lần đọc lại, tôi có cảm tường như tác giả đang đùa với người đọc trong một câu chuyện nói quanh, một lối nói lẩn thẩn tuy duyên dáng, tự nhiên, tôi hơi băn khoăn… nhưng dầu sao với “The old man and the sea” tôi cũng vẫn nghĩ rằng nó là một bản “anh hùng ca”. Cái gì chứa đựng trong đó không thể ở một tay bút tầm thường thể hiện được. Về kỹ thuật, mỗi lần nói đến tôi chỉ có lắc đầu chịu thua.
         Chừng nầy ý kiến, thành thực tỏ bày, không biết có giúp anh được gì không.
         Thân ái.


NGUYỄN PHÚC

____________________________________________
(1) Hương Bình xuất bản, Huế, 1955. Truyện này, Vũ Minh Thiều cũng có dịch, nhưng nhan là “Mưa trong bình minh”, đăng tập san “Nhân Loại” do Đông Hồ chủ trương, số 16, ngày 9-11-1953 và các số 17, 18.


BÁCH KHOA |  SỐ 68

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #392 vào: 16/10/2018, 21:59:24 »


Lê Văn Trương trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1907 ở làng Đồng Nhân (Hànội) – 1927, làm công chức sở bưu điện, rồi hai khẩn đồn điền, thầu khoán, buôn bò, buôn ngọc, thuốc phiện tại Cao Miên.
            1931-1932: bước vào làng văn, với tác phẩm đầu tiên: “Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên, Đế Thích”. Tiểu thuyết thường đăng ở: “Tiểu thuyết thứ bẩy”, “Phổ Thông bán nguyệt san”, “Những tác phẩm hay” của nhà Tân Dân.
            Chủ trương: “Ích Hữu” đổi mới (1938), cổ động “Triết lý người hùng” và “Việt Nam hồn” (1945). Viết báo bút hiệu: Cô Lý.
            Tiểu thuyết đã viết: 247 quyển.
            Hiện viết giúp cho một số nhật báo ở Thủ đô.


○ ○ ○

         Anh Ngu Í,
         Anh hỏi tôi truyện ngắn nào hay nhất, hoặc thích nhất và vì sao?
         Đã đành rằng sự thành tâm của anh đối với văn nghệ, sự đứng đắn của “Bách-Khoa” buộc tôi không thể dùng những trang giấy quí báu để khoe cái hiểu biết của mình hoặc nắm cơ hội để đề cao những bạn hữu bằng lối này hay lối khác, và bài xích kẻ thù bằng kiểu nọ kiểu kia. Không, tôi không dám. Sự tin tưởng ở ý kiến tôi đã buộc tôi vào một món nợ thiêng đối với anh và bạn đọc của “Bách-Khoa”, tôi phải nói thật.
         …
         Anh hỏi về cái thích của tôi. Xin trả lời anh là tôi thích văn của Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân.
         Còn truyện ngắn, thì tôi cho hay nhất là Samandji(1) của Nguyễn Công Hoan. Nó dí dỏm và đột ngột, giản dị mà không tầm thường, ròng ròng đầy một chất muối của sự sống.
         Tôi lại phải thưa với anh tôi không được đọc những anh em mới đây. Chắc hẳn trong đó có nhiều thiên tài mà tôi có thể thích, nhiều mầm non đầy hi vọng mà tôi có thể mến. Chỉ tiếc chưa được biết nên không thể phê bình.
         …
         Còn về văn chương Pháp – để chỉ nói một nước ngoài mà chúng ta biết rõ hơn các nước khác – thì tôi nhận thấy rằng mỗi năm, trên rừng văn chợ báo, ý hẳn cũng có lắm tay kiện tướng như ở nước ta, thiếu gì tác phẩm, thế mà thời gian chọn lọc, sa thải đi, có còn bao nhiêu đâu.
         Thế mới biết người đọc cũng sành và khó tính lắm. Tôi chắc rồi đây dăm chục năm nữa, riêng tác phẩm của ta rồi cũng chẳng còn mấy. Giá chúng ta lúc đó mà còn sống để biết mặt định, lim, sến, táo, là những tác phẩm nào thì thú biết mấy, phải không anh nhỉ?


LÊ VĂN TRƯƠNG

_______________________________________
(1) Nguyễn Công Hoan viết tất cả 3 truyện về anh lính Tây đen Samandji, trước đều đăng ở “Tiểu thuyết thứ bẩy”, sau lần lượt đăng lại trong 3 quyển truyện ngắn: Kép Tư Bền (1935), Hai thằng khốn nạn (Phổ Thông bán nguyệt san số 5, 1-4-1937) và Đào kép mới (Phổ Thông bán nguyệt san số 13, 1-12-1937). Chẳng rõ tác giả “Sợ sống” thích truyện Samandji nào, hay thích cả ba? (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)


BÁCH KHOA |  SỐ 68

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #393 vào: 17/10/2018, 23:28:49 »


Võ Phiến trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1925 ở Phù Mỹ (Bình Định).
            Bắt đầu viết hồi năm 1955 trên báo “Mùa Lúa Mới” rồi từ đó, viết cho “Văn Nghệ Tiền Phong”, “Sáng Tạo”, và nhất là cho “Bách-Khoa” (Sàigòn).
            Nhà văn miền Trung này chuyên về phân tích tâm lý những nhân vật miền Nam-Ngãi-Bình-Phú mà đời sống tâm tư bị dồn ép, chịu thiệt thòi, nhất là trong thời “mười năm khói lửa” lê thê…
            Đã xuất bản: – “Chữ tình” (1956), “Người tù” (1957), “Mưa đêm cuối năm” (1958).


○ ○ ○

I.– Câu hỏi của anh làm tôi bối rối. Mặc dù lịch sử truyện ngắn trong văn học ta chẳng lấy gì làm dài, nhưng bao quát tất cả để chọn lấy một truyện thôi cũng quá khó khăn. Khó vì sợ phạm những sai lầm không tha thứ được do mình đọc thiếu sót, vì có những truyện cùng hay cả, mỗi bên bay một cách khác nhau, không biết làm sao định được ngôi thứ, vì có những truyện có lẽ rất hay nhưng đọc đã lâu rồi bây giờ cảm tưởng gợi lại chỉ còn lờ mờ, lại có những truyện khác mới đọc xong, rung động còn mới mẻ rõ ràng khiến cho sự phán đoán dễ sai lầm. Vả lại trong khoảng thời gian mười năm chiến tranh tôi không theo dõi được sách báo xuất bản “trong thành”, có thể bỏ sót nhiều tác phẩm quan trọng.
         Nếu anh cho phép chỉ kể lại một vài kỷ niệm hứng thú về việc đọc truyện ngắn trong thời gian gần đây mà không phân định thứ hạng gì thì tôi xin nói ngay nỗi sung sướng say mê của tôi khi theo dõi truyện Dòng sông định mệnh(1) của Doãn Quốc Sỹ đăng từng kỳ suốt bốn tháng trên Sáng Tạo hồi đầu năm ngoái. Tôi chỉ nói cái hứng thú chủ quan của mình chứ không dám phê bình là truyện ngắn hay nhất, vì những người đắn đo thận trọng hơn có thể bình tĩnh tìm thấy những chỗ dài dòng vô ích, thấy trong cách kết cấu câu chuyện có những chỗ thiếu chặt chẽ chẳng hạn. Nhưng đối với tôi thì ngoài cái đó không làm giảm bớt cảm tưởng thích thú.
         Cũng trong năm ngoái tôi đã được đọc một số truyện như Bắn vịt trời(2) của Nhất Linh, Xa gần(3) của Tường Hùng viết rất khéo.

II.– Về Nhất Linh thì thú thật rằng tôi vẫn có thành kiến cho cái lối viết những đoạn văn mẫu, những tác phẩm mẫu cho muôn đời của nhà văn ấy là một chủ trương rất… dễ ghét! Trong lúc chúng ta bị bao nhiêu băn khoăn thắc mắc dày vò, vừa trải qua bao nhiêu hoảng hốt hoang mang và chung sống giữa tình trạng đe dọa bấp bênh, thì thái độ của những kẻ điềm nhiên ngồi làm văn chương để lại nghìn thu như nhóm “Văn hóa Ngày nay” thực xa lạ. Tôi nghĩ viết cũng là để bày tỏ một thái độ tham gia vào cuộc sống, chứ không nên lấy làm một cớ để trốn lánh sinh hoạt, quay lưng lại tất cả những gì đang làm bận tâm lớp người đương thời. Nhưng dù không tán thành đường lối của Nhất Linh, tôi phục nhà văn ấy viết truyện rất tài tình. Tâm lý các nhân vật đều được phân tích sâu sắc, nhân vật rất sống, linh động. Ở nhiều truyện khác thì Nhất Linh chú ý đến những nét tâm lý ngộ nghĩnh. Giọng viết đùa đùa ấy trước kia không thấy có ở Nhất Linh, gần đây xuất lộ ra như là thái độ một người lớn tuổi, rút lui ra ngoài cuộc sống xô bồ, mỉm một nụ cười hiền lành độ lượng nhìn theo những cảnh hoạt động lố bịch mà mình không còn đủ nhiệt tình để tham gia nữa. Cái nhìn của ông thực sắc sảo, nhưng thái độ khoan từ giễu cợt lãnh đạm của ông không khích động mạnh mẽ những kẻ đọc mình. Trong Bắn vịt trời, vẫn cái giọng đùa đùa đó, vẫn những nét ngộ nghĩnh ở các nhân vật. Nhưng còn có những chỗ tác giả nghiêm chỉnh hơn và phân tích một cảm giác, dựng bên một khung cảnh linh động lạ thường (cảnh tre bóng nắng trong sân nhà bác Thiên, những giờ Hải lơ mơ nằm say) làm cho người đọc dù chưa biết qua say thuốc phiện là thế nào cũng có cảm tưởng gặp một cảnh thực đến nỗi tưởng như quen thuộc.
         Cái hay của Tường Hùng trong Xa gần cũng ở chỗ phân tích tâm lý rất tinh tế. Về phương diện này, những truyện mới đây của Nhất Linh và Tường Hùng đã đánh dấu một tiến bộ trong văn học ta. Ở cái thời kỳ trước, tôi chưa được đọc một tác giả nào khéo đi sâu vào tâm lý của nhân vật tỉ mỉ và tinh vi đến bậc đó.
         Nhưng lúc này ngồi đọc truyện của các nhà văn ấy, tôi chịu “rằng hay thì thực là hay”, mà vẫn tự thấy như mình là dân hàng phố đang sinh hoạt bỗng ngừng lại để ngắm mợ ấm Hải đi qua. Mợ ấm Hải “tưởng như vừa ở trên trời rơi xuống, mới ở cảnh tiên nào hiện ra”.(4)
         Bởi đẹp và xa lạ như vậy nên mợ ấm đi qua dân phố ngừng công việc để ngắm. Mình cũng ngắm cũng thấy đẹp thực, cũng trầm trồ da mợ trắng như trứng gà bóc, nhưng lấy làm tiếc rằng rồi mợ sẽ đi khuất vào sau lũy tre cao nhà cụ Án, đời của mợ không dính líu gì đến đời sống dân phố.
         Trái lại đọc Doãn Quốc Sỹ, người ta thấy tác giả gần với mình, đang cùng sống một thời đại với mình. Người đọc gặp một tâm hồn hăm hở thiết tha. Trong Dòng sông định mệnh, nhiều lúc giữa câu truyện Doãn Quốc Sỹ như ngừng lại để kể lể và suy tưởng dài dòng, gặp một cảnh đẹp tác giả không ngần ngại thi vị hóa thêm cảnh đó, nói về một nhân vật tác giả lý tưởng hóa nhân vật đó, làm cho cảnh mất tự nhiên, cho tâm lý sai lạc đi, có chỗ gặp nhiều câu dài như muốn cho được du dương nhịp nhàng, mà có chỗ lại nhảy sang hàng từng câu ngắn hổn hển; thực là bất thường! Vậy mà những khuyết điểm kỹ thuật đó đều đáng yêu cả. Cho hay người ta chỉ muốn tìm gặp trong tác phẩm văn chương một tâm hồn khi gặp tâm hồn bầu bạn thì không ai còn muốn xét nét những lễ nghi hình thức cần cho sự xã giao nữa. Riêng tôi, tôi thích ở Doãn Quốc Sỹ cái giọng văn nhân hậu, thích con người chắc đã từng trải qua những hoàn cảnh oái oăm trong giai đoạn ác liệt này mà vẫn giữa được nguyên nguồn tình cảm phong phú luôn luôn bị ám ảnh bởi những viễn tượng đen tối đang đè nặng trên số phận của dân tộc và thế giới, luôn luôn lo lắng thắc mắc mà vẫn sẵn sàng rung động say mê trước cảnh đẹp thiên nhiên trước một bản đàn hay một bức tranh đẹp.
         Tôi càng thích Doãn Quốc Sỹ một phần vì đã được đọc tác phẩm của nhà văn đó đăng trên tap chí Sáng Tạo. Thực vậy, trên Sáng Tạo có nhiều truyện ngắn của các tác giả khác, kỹ thuật viết thực già, thực khéo, trình bày thực tinh vi những tâm trạng kỳ quặc. Tôi chắc rằng những truyện ấy rất có giá trị, nhưng tiếc trong tâm hồn mình chưa có gì theo kịp những kỳ quặc đó nên khi đọc thiếu sự thông cảm. Trong lúc ấy gặp Dòng sông định mệnh, (cũng như Hương Nhân loại) liền có cái mừng rỡ đột nhiên như giữa xứ lạ gặp người cùng làng. Giọng văn, nhân vật, cảnh trí trong tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho tôi cái cảm tưởng được gần gũi với nếp sống cũ của dân tộc, mặc dù Doãn Quốc Sỹ thỉnh thoảng thích nói chuyện nước ngoài, một độc giả trung lưu trong xã hội ta phải lấy làm mừng rỡ khi giữa đám thanh niên nghệ sĩ ngày nay bị những xúc động sâu xa vì thời cuộc làm biến đổi sắc diện trông đến dị kỳ bỡ ngỡ, giữa đám nghệ sĩ ấy họ vẫn còn có thể nhận ra một nét mặt quen thuộc.
         Đối với các nhà văn trong “Văn hóa Ngày nay” Doãn Quốc Sỹ tránh khỏi cái bình thản đến nguội lạnh dửng dưng trước hiện trạng xã hội; đối với nhiều nghệ sĩ khác trong “Sáng Tạo”, Doãn Quốc Sỹ lại không vượt tới trước nhập thành một thế hệ riêng biệt cô độc, đứt lìa với dĩ vãng.
         Nói như vậy thì chỉ là nói về Doãn Quốc Sỹ mà bỏ quên mất Dòng sông định mệnh. Nhưng kể ra bắt chú ý riêng đến một cái truyện thôi thì có… ép tôi quá, phải không anh Ngu Í? Một cái truyện nó có hay là ở chỗ nó giới thiệu được một tâm hồn, một con người. Vả lại nói về một truyện ngoại quốc chẳng hạn thì tôi có thể chú ý nhiều đến phần kỹ thuật, chứ bàn về một tác phẩm văn nghệ của nước mình, vào thời đại mình đang sống thì dễ nói lạc ra ngoài đề quá.

III.– Về câu hỏi này tôi cũng xin phép anh tránh một cách trả lời quyết đoán. Anh đã bắt đầu bằng hai chữ “theo anh” để cho tôi tha hồ tự do theo sự nhận định chủ quan. Nhưng dù chủ quan đến bao nhiêu tôi cũng e ngại trước sự sa đọa của các tiếng “quốc tế” và “tự cổ chí kim”. Vậy tôi chỉ xin nhắc lại một đôi kỷ niệm thích thú về một số ít truyện ngắn ngoại quốc đã được đọc qua chứ không dám có một phán đoán tổng quát.
         Trước hết tôi xin đề tên Stefan Zweig mà không biết lựa chọn truyện nào, vì trong những truyện “ngắn lê thê” của văn hào, tôi thích nhiều cái quá, thích ngang nhau: truyện Amo cũng như truyện Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà, truyện Người lái sách cũng như truyện Bức thư người lạ hay Ngõ hẻm dưới trăng
         Của Somerset Maugham. Tôi thích truyện Up at the villa(5) và truyện Vertu.(6)
         Truyện Mưa lúc rạng đông của Constantin Paoustovski(7) cũng là một truyện tuyệt diệu.

IV.– Điều tôi tự lấy làm lạ là có thể thích cả hai lối viết truyện trái nghịch nhau. Stefan Zweig và Somerset Maugham ở những truyện vừa kể đã nghiên cứu một cách sáng suốt, tỉ mỉ, ngoài tâm lý thực là u ẩn dị kỳ, rồi dựng truyện chu đáo, có nhiều tình tiết, quan sát nhân vật rất tinh tế, mô tả kỹ lưỡng tùng ánh mắt, từng chút cử động của nhân vật. Hai văn hào đó đã thấu hiểu sâu xa tâm hồn của nhân vật mình và có một lối diễn tả, phân tích rất sâu sắc.
         Trái lại Mưa lúc rạng đông thản nhiên thở ra sự uể oải, chán nản không biết từ đâu. Ở đây tác giả không trình bày cặn kẽ minh bạch tâm trạng đó. Có lẽ đó cũng không phải chỉ là tâm trạng của các nhân vật trong truyện, mà là của cả tác giả. Sự uể oải như thấm vào khắp truyện. Nếu ví truyện như một cơ thể thì sự uể oải thấm vào từng sớ thịt đường gân. Truyện không thuật, không tả lại, không khách quan phân tích một tâm trạng. Nó thể hiện tâm trạng đó bằng cả cái cốt cách riêng của nó. Toàn bộ câu truyện như có một sự sống riêng để cho ai tiếp xúc với nó thì tự nhiên được truyền lại cái tâm trạng mà tác giả đã ký thác nơi đó. Tác động của nó như tác động của một bài thơ vậy. Tôi còn nhớ trong tập Hương xa do Đời Nay xuất bản trước chiến tranh có một truyện dịch rất hay của một tác giả Nhật Bản, hình như là truyện Vườn mẫu đơn,(8) cũng cho người đọc một cảm tưởng tương tự.
         S. Zweig và S. Maugham thì chọn những trường hợp độc đáo đến kinh ngạc. Còn Mưa lúc rạng đông lại không cần gì đến những chi tiết kỳ dị để làm ngạc nhiên, để tác động mạnh, không cần hô phong hoán vũ, những tình cảm trong đó bàng bạc, vướng vít khắp nơi, ở một lóe nắng, một bụi cỏ, ở tiếng nói cười rải rác trong truyện gần như vô tình.
         Hai cách viết đều đưa đến kết quả mỹ mãn, đều thể hiện được sự thực sâu xa trong tâm hồn con người, tôi khó nói truyện nào hay hơn cả.
         Anh muốn một sự chọn lựa, một câu trả lời dứt khoát, tôi không thỏa mãn được ý ấy. Tôi tưởng tượng nếu ai cũng như mình, tư tiện thay đổi câu hỏi của anh, thì kết quả sẽ thành ra một cuộc nói chuyện phiếm không vừa ý anh tí nào! Xin lỗi anh.


VÕ PHIẾN

____________________________________
(1) “Tạp chí Sáng Tạo” các số 18 (tháng 3), 19 (tháng 4), 20 (tháng 5), và 21 (tháng 6 năm 1958). Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do ấn hành: 1959. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Nhưng mà tôi lại nhớ một, hai câu thơ này già trên ba thế kỉ: “Giá trị nào có đợi chi tháng chồng năm chất”, “Mới thử một đường gươm mà đã tả là tay thừa bản lĩnh”.
(3) “Văn hóa Ngày nay” tập I, ngày 17 tháng 6 năm 1958.
(4) Bắn vịt trời (Nhất Linh).
(5) Bản Việt văn của Trần Thiếu Sinh dịch là “Một đêm trăng” (Phổ Thông 1952).
(6) “Đức hạnh”. Bản tiếng Pháp, trong tập Amours Singulières (Arthème Fayard, Paris 1955).
(7) Bản tiếng Việt, trong tập truyện ngắn quốc tế, do Bửu Kế và Cẩm Tâm dịch (Hương Bình, Huế 1955). Vũ Minh Thiều cũng có dịch, nhan “Mưa trong bình minh”, đăng trong tập san “Nhân Loại” do Đông Hồ chủ trương, số 16 (9-11-1953) và các số 17-18.
(8) Vườn mẫu đơn của Nagai Kafu (1897…) do Vũ Minh Thiều dịch, trước đăng trong giai phẩm “Hương xa”, do Đời Nay xuất bản, Hànội 1943, sau đăng lại trong tập san “Nhân Loại”, do Đông Hồ chủ trương số Tết Giáp Ngọ (1954).


BÁCH KHOA |  SỐ 68

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #394 vào: 18/10/2018, 22:58:55 »


Về bài Điểm sách của Ông Nguyên Phủ: Lá thư trả lời của Ông Phạm Thanh

L.T.S.– Trong mục Điểm sách trên Bách-Khoa số 67 ra ngày 15-10-59 ông Nguyên Phủ với lập trường của một người văn nghệ, thiết tha đến trách nhiệm chung, đã lên án gay gắt cuốn “Thi nhân Việt Nam hiện đại” của ông Phạm Thanh. Mới đây chúng tôi lại nhận được một bài trả lời tự thanh minh của tác giả “Thi nhân Việt Nam hiện đại”. Tôn trọng quyền trả lời, chúng tôi cho đăng sau đây nguyên văn bài của ông Phạm Thanh để bạn đọc rộng đường phê phán.

¤ ¤ ¤

TỪ KHI tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại được phát hành tới nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ giáo của các bậc trí giả có tâm với văn nghệ nước nhà, bằng thư riêng cũng như những bài đăng trên báo, khen có chê có. Tất cả mọi sự chỉ giáo tôi đều thành tâm ghi nhận dù đó là những lời ngợi khen khuyến khích (Báo Gió Nam, Phụ Nữ Diễn đàn, Đại Chúng) hay những lời chỉ trích chê bai (Tự Do).
         Đọc tập sách của tôi, mỗi vị đã nhìn qua một lăng trụ khác nhau, nên ý kiến các vị nhiều khi rất trái ngược, nhưng tôi cũng đều hân hoan thu nhận ngõ hầu sau này có dịp tôi sẽ sửa chữa lại tập sách của tôi theo những lời chỉ giáo xác đáng.
         Trong Bách-Khoa số 67 vừa qua, tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại của tôi lại được hân hạnh Ông Nguyên Phủ đọc tới và đặc biệt phê bình.
         Tôi xin thành thực cảm ơn Ông Nguyên Phủ, cũng như tôi đã thành thực cảm ơn các bậc trí giả khác đã lưu ý tới cuốn sách còn nhiều thiếu sót của tôi, và tôi xin ghi nhận tất cả những ý kiến của Ông Nguyên Phủ tuy Ông Nguyên Phủ đã đọc sách của tôi qua một ống kính riêng của Ông.
         Lẽ ra cũng như đối với các bài phê bình trên các báo khác, tôi vui vẻ nhận mọi sự chỉ trích dù đúng hay sai, nhưng ở đây, tôi xin mạn phép độc giả để trần tình đôi lời, vì e bạn đọc qua bài phê bình của Ông Nguyên Phủ sẽ hiểu lầm tôi.
         Trước hết tôi xin nói tại sao tôi soạn tập sách này. Do là có một số bạn yêu thơ, muốn có thơ của nhiều nhà thơ nhưng không thể có đủ các thi phẩm của các vị này, nên ao ước có một tập thi tuyển. Soạn tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại, tôi không ngoài mục đích làm một tập thi tuyển gồm nhiều các nhà thơ mới và cũ để các bạn yêu thơ tra cứu. Cũng vì lẽ đó nên tôi không hề phê bình một tác giả nào hay một thi phẩm nào.
         Tôi cũng biết trước trong sự lựa chọn của tôi có sự lầm lẫn, nên khi soạn tập sách này tôi đã nhờ một số các văn hữu lựa chọn giúp và cho tôi tài liệu về các thi nhân. Tuy vậy khi sách in xong, với sự chỉ bảo của nhiều văn hữu, tôi cũng thấy hãy còn nhiều điều lầm lẫn, nên tôi đã yêu cầu nhà sách in một bản đính chính kèm vào tập sách. Có lẽ vì một sự không may, nên tập sách Ông Nguyên Phủ đã không có bản đính chính đó. Riêng về thi sĩ Quách Thoại, những tài liệu tôi đã lấy trong tập Lược sử Văn nghệ Việt Nam của Thế Phong, và tài liệu đăng trong báo Sinh Lực. Thật tình tôi không hề có ý xâm phạm tới hương hồn của thi sĩ, nhất là làm tổn thương tới danh dự của nhà thơ đã khuất.
         Về các nhà thơ có tên trong tập sách, tôi cũng bàn kỹ với các văn hữu trước khi đặt vào tập sách, nhất là những nhà thơ chưa có tên tuổi lắm.
         Có lẽ quan niệm về thơ mỗi người mỗi khác cho nên một số các thi nhân mà tôi lựa chọn không được sự đồng ý của một đôi nhà phê bình, nhưng tôi thiết nghĩ, đây chỉ là một cách khuyến khích các bạn yêu thơ sáng tác. Riêng về mấy thi nhân mà những giòng thơ đã được Ông Nguyên Phủ đọc kỹ và trích trong bài phê bình, tôi xin để các thi sĩ đó tự trả lời nếu các vị đó xét cần.
         Về ảnh các nhà thơ, tôi xin nhận hoàn toàn lỗi về phần tôi. Chính tôi đã đi xin ảnh các nhà thơ, nhưng nhiều vị quá khiêm nhường không muốn đưa, khiến tôi đã tự ý bóc lấy những ảnh của họ đang dán trong album hoặc đang lồng trong khung mang về đem in. Thực tình không ai có ý muốn trương ảnh của mình. Buộc tội họ như vậy thực là tội nghiệp.
         Còn về bài diễn thuyết của thi sĩ Vũ Đức Trinh, tôi chỉ có ý cho đăng vì quan niệm về thi sĩ và thi phẩm của tác giả. Nếu Ông Nguyên Phủ buộc tôi có dã tâm dùng bài đó làm một tấm mộc che đỡ cho những sự thiếu sót của Tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại, tôi không dám trách, nhưng riêng về phần tôi, thực tâm tôi không bao giờ có ý ấy. Còn về những ý kiến của thi sĩ Vũ Đức Trinh, tôi chắc rằng bạn đọc đã tự phê phán lấy, và nay có lời phê bình của Ông Nguyên Phủ họ sẽ so sánh sự phê bình của Ông với sự phê phán của họ.
         Sau hết về vấn đề tài chính, Ông Nguyên Phủ bảo tôi là một con buôn đi thu thập các thi phẩm để kiếm lời. Tôi xin nói rõ là tôi không soạn Tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại vì lợi, và chính ra Tập Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại cũng không mang lại một mối lợi nào cho tôi về phương tiện tài chính. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ cầu mong soạn nên một tập thi tuyển để có ích phần nào cho các bạn yêu thơ.
         Trước khi ngừng bút, tôi xin một lần nữa cám ơn Ông Nguyên Phủ đã lưu ý tới tập sách thiếu sót của tôi, mặc dầu Ông đã lưu ý qua một lăng trụ đặc biệt của Ông, và tôi xin ghi nhận tất cả những điều Ông đã nêu ra.


PHẠM THANH


BÁCH KHOA |  SỐ 68

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #395 vào: 19/10/2018, 22:28:05 »


                       Đổi thay

          MƯỜI mấy năm xưa tôi với Anh
          Sát vai kể lể chuyện tâm tình
          Ta cười đen bạc trò dâu bể
          Câu truyện phù hoa chốn thị thành
                                  ¤
          Gác vắng chung nhau một chén trà
          Chia từng mẩu thuốc lắng đêm qua
          Đôi hồn trai trẻ chung hơi thở
          Thế giới tâm tình hai chúng ta
                                  ¤
          Anh có nghe chăng tiếng gió xưa
          Lá đêm hiên vắng rụng như mưa
          Đèn mờ vàng vọt bên đường lạnh
          Buồn dọi qua song ta ngẩn ngơ
                                  ¤
          Thuở ấy chúng mình sao mến nhau
          Vàng thoi bạc nén chẳng ai cầu
          Áo thô guốc mộc tình trai ngát
          Mới vắng nhau mà đã thấy lâu
                                  ¤
          Hai đứa cùng chung một mái trường
          Thư đi, thư lại nhớ cùng thương
          Mây xưa trắng quá, trời xanh quá
          Ôi một thời trai ngan ngát hương!
                                  ¤
          Tháng ngày như nước thoáng trôi nhanh
          Tình hết đơn sơ mộng hết lành
          Lắm lúc mưa nồng và nắng gắt
          Bàng hoàng tôi hát một mầu xanh
                                  ¤
          Người khác ngày xưa cảnh đổi dời
          Mái hiên không đón lá đêm rơi
          Tôi run run sợ: Đau, Buồn, Giận
          Ích kỷ, Căn hờn xâm chiếm tôi
                                  ¤
          Gió bụi Kinh thành rộn tiếng xe
          Gặp Anh giữa lúc bóng chiều về
          Tháng năm đổi khác con người trước
          Gác cũ hiên xưa nhớ não nề
                                  ¤
          Anh nói Anh cười tôi ngẩn ngơ
          Mầu xanh đã chết tự bao giờ?
          Hình Anh tựa cánh hoa khô héo
          Chợt thấy trong lòng quyển vở xưa
                                  ¤
          Đốt trọn tâm tư qua khói thuốc
          Thời xưa thức dậy nhớ khôn nguôi
          … Nằm nghe dĩ vãng đi nhè nhẹ
          Gác cũ, hiên xưa trận lá rơi…


                                             XUÂN HIẾN



BÁCH KHOA |  SỐ 68

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #396 vào: 20/10/2018, 22:57:33 »
BÁCH KHOA |  SỐ 69  [15-11-1959 |  108 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Lê Linh |  Vấn đề sử dụng đất đai tại Việt Nam [II] |  3-8
Bách-Khoa |  Cương quyết |  8
Hoàng Minh Tuynh |  Tinh thần tôn giáo tại Liên bang Xô Viết |  9-16
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Im lặng |  17
Nguyễn Văn Hầu |  |  18-22
Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê |  Bàn về vấn đề Phân từ loại Việt ngữ trong cuốn “Le parler Vietnamien” |  23-26
Nguyễn Toại |  Bàn về mấy bản đồ xưa in trong quyển “Việt Sử Tân Biên” |  27-32
Nguyễn Trinh Dzoanh |  Để tìm hiểu Khoa học hiện đại |  33-37
Bách-Khoa |  “Thần minh tựa kẻ thắng trận, Caton tựa kẻ thua trận” |  37
Nguyễn Huy Khánh |  Luận nhân vật đời Tam Quốc [IV] |  38-41
Nguyên Phủ |  Điểm sách: Trăng treo đầu súng của Tường Linh |  42-47
Phạm Tăng |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa \ Nguiễn Ngu Í thuật |  48-50
Doãn Quốc Sỹ |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  51
Bà Ái Lan |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  52
Thiên Giang |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  53-54
Lê Văn Siêu |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  55
Nguyễn Hiến Lê |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  56-58
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 68 |  58
Quảng cáo |  59-60
Nguyễn Hiến Lê |  Con vịt (tùy bút) |  61-64
Bách-Khoa |  “Hãy chịu lấy pháp luật do người đặt ra!” |  64
Đông Xuyên (dịch) |  Quá Đỗ Phủ cựu trạch (thơ) \ Ung Đào |  65
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim tại Pháp” [VI] |  66-69
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung |  Đìu hiu (thơ) |  70
Chu Minh Thụy |  Song hành (truyện) |  71-76
Đoàn Thêm |  Tiếng vọng bên kia (thơ) |  77-79
Kiều Yiêu (dịch) |  Dịch Liêu trai: Hằng nương \ Bồ Tùng Linh |  80-83
Quảng cáo |  84-86
Nguyễn Văn Xuân |  Cây đa đồn cũ |  87-95
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  96
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  95, 97
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 68 |  97
Quảng cáo |  98-108


SAIGON |  1959




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #397 vào: 20/10/2018, 23:31:47 »


Phạm Tăng trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1925 tại vùng biên giới Bắc Trung-Việt (Bảng Sơn-Ninh Bình).
            Vẽ, làm thơ, viết bài phê bình hội họa. Đã cho xuất bản một tập thơ.
            Cộng tác với báo “Tự Do”, tạp chí “Bách-Khoa”, v.v…


○ ○ ○

         Phú Thọ trường đua.
         Nhà anh ở đối diện với trường đua.
                  “Bốn năm ròng khép cửa,
                  Ngày vắng, không tiếng cười.
                  Đêm về, quên đốt lửa
…”(1)
         Tôi đến phá rầy anh vào một ngày chủ nhật. Phá rầy không cho anh tự do vẽ nốt cái tranh hí họa cho một tờ báo hằng ngày, phá rầy sự tịnh mịch của căn phòng nhỏ thường chỉ có bóng gầy của anh làm bạn với chiếc bóng chưa phai màu có người lặng thinh ghé đọc “những trang sách của cuộc đời” ai.
         ― Anh đã làm một điều trái ngược, là ngày nghỉ ngơi, anh lại chạy đi phỏng với vấn, thì tôi cũng trả lời lộn ngược cho anh.
         ― Nghĩa là sao?
         Anh vừa pha cà phê vừa tủm tỉm:
         ― Nghĩa là tôi trả lời anh từ dưới lên trên, tức là đi từ quốc tế lộn về quốc gia vậy.
         ― Anh trả thù tôi cách ấy à? Cũng chẳng sao. Lâu ngày đổi món, thỉnh thoảng xáo trộn tôn ti trật tự vậy, cũng hay hay. Thế thì truyện nước người, anh cho truyện nào hay nhất?
         ― Truyện hay nhất nước người à? Là chuyện hai “người tu hành” cùng uống cà phê đen ngoại quốc với đường trắng nước nhà.
         Biết nhà họa còn đẩy đưa, tôi đành quên mình là người đi phỏng vấn để làm tròn bổn phận của người khách vậy.
         Cà phê vô, lời ra.
         ― Một truyện của Lâm Ngữ Đường. Đúng ra, do Lâm Ngữ Đường viết lại. Tôi được một người thân đọc trong tập “Những truyện ngắn hay của Trung Hoa”, viết bằng tiếng Anh, và dịch cho tôi nghe. Nhan là: “Pho tượng ngọc thạch”.(2)
         Tôi buộc mồm ngắt lời anh:
         ― Dường như trước, anh có theo ban Kiến trúc.
         ― Có, tôi theo ban Hội họa, song trước đó cũng làm quen với ban Kiến trúc ít lâu. Nhưng sao anh lại hỏi tôi điều này?
         ― Là vì tên cái truyện anh vừa mới nói. Tôi đoán càn, may mà trúng. Câu chuyện có gì lạ không anh?
         ― Biết sao là lạ biết sao không? Để tôi kể sơ, rồi anh tự trả lời.
         “Hai người yêu nhau, đắm say và tha thiết. Chẳng có gì lạ. Nhưng chàng và nàng lại bà con với nhau, bà con rất gần, nên “yêu nhau thì quá nặng, mà lấy nhau thì không đặng”.
         ― Họ định lấy nhau à? Thế thì cũng lạ.
         ― Thế à? Yêu nhau, rồi lấy nhau…
         ― Rồi làm khổ nhau…
         ― Thì thường quá đi thôi, có gì là lạ.
         ― Nhưng anh quên rằng họ là bà con, mà bà con chú bác thì phải, vì phong tục Trung Hoa cho phép bà con cô cậu, bạn dì lấy nhau, còn bà con chú bác thì…
         ― Cũng có lý. Phong tục đứng dậy cản, cha mẹ, bà con đứng dậy ngăn. Mặc. Họ đứng lên, chống lại tục cổ, chống lại người thân và họ chung sống với nhau.
         ― Rồi họ xa nhau!
         ― Đúng. Xa nhau mãi mãi.
         ― Nghĩa là nàng đi, đi mãi, đi không về nhà?
         ― Nàng chết.
         ― Thế là hết chuyện.
         ― Chưa. Chàng, sau cơn đau khổ chết người, đem hết tâm trí nhớ lại người nàng, tạc hình người-rất-thương vào ngọc thạch. Và nàng như tái sinh trong đá quí vô tri.
         Anh thôi nói, nâng chén cà phê đặc. Tôi nhìn quanh phòng. Chỉ thấy, “sách vở lung tung loạn xạ”. Tôi nhìn lên tường. Chỉ bắt gặp chiếc bóng chưa phai màu có người lặng thinh ghé đọc “những trang sách của cuộc đời” ai.
         Anh để ý cử chỉ tôi hỏi: “Anh tìm gì?”
         ― Một cái gì quí.
         ― Nhà tôi đâu có cái gì quí!
         Nhưng tôi quí trọng cái đơn chiếc của anh, nên không làm xong phận sự người đi phỏng vấn, giã từ anh, để trả anh lại với căn phòng nhỏ, từ lâu chỉ in bóng mình anh và chỉ treo ảnh một người.



         Tòa soạn Bách-Khoa. Bên kia đường, sân vận động Phan Đình Phùng vừa lốp bốp những tiếng súng giả bắn tập, thì anh đến. Tôi đón anh với một câu Kiều, đổi đi một chữ tình:
         ― Nợ nần chưa trả cho ai
         Anh cười nhè nhẹ.
         ― Thì anh cứ đòi đi.
         ― Anh cho biết vì sao anh cho truyện “Pho tượng ngọc thạch” do Lâm Ngữ Đường viết lại là hay nhất.
         Anh hơi ngạc nhiên: “Tôi nhớ không có nói với anh là hay nhất”.
         ― Thế thì thích nhất vậy.
         ― “Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên…”(3) thì tôi có thể trả lời anh ngay. Nhưng vì sao tôi thích nhất, thì thật là khó nói.
         ― Khó nói chớ nào phải không nói được!
         “Tôi thích truyện này vì nó đưa ra một thanh-nam, một thanh-nữ dám đạp những trở ngại của tập tục xưa, dám cắt những ràng buộc do những người thân tạo lấy, để mà cùng nhau chia xẻ những đắng cay, nhiều đắng cay và một ít ngọt bùi của cuộc đời. Họ dám làm. Họ đã dám.
         ― “Biết. Muốn. Dám. Im”. Tôi nói nhỏ.
         ― Anh nói gì?
         ― Tôi nhớ lại mấy động từ mà người Ai Cập xưa khắc ở tượng các con sư nhơn trầm ngâm giữa biển cát. Còn gì nữa không, anh?
         ― Còn. Tình của người sống đối với người-không-về-nữa nó nồng nàn, nó chân thật, nó siêu thoát đến đỗi nó kết tinh thành một công trình nghệ thuật, mà sự tồn tại của nghệ phẩm này có lẽ không mỏng manh như một kiếp người.
         Bỗng anh đột ngột hỏi: “Thế anh nghe tôi kể sơ qua, có thấy thích truyện ấy không?”
         ― Có chớ.
         ― Đến phiên tôi phỏng vấn lại anh? Tại sao?
         ― Tại vì chàng không chết theo nàng.



         Lần thứ ba, tôi chẳng buông tha anh. Vì có sau, mà chưa có trước. Anh chưa cho biết ý kiến anh về truyện nước nhà.
         ― Tôi thích truyện “Ba con cáo” của Bình Nguyên Lộc một bức tranh xã hội đương thời, mà màu sắc, âm thanh, ánh sáng sơ sơ và bóng tối đặc dày. Một thằng lưu manh, một ả giang hồ, một con cáo, vì đâu mà con cáo-chồn nằm trong nồi cháo, rồi thằng cáo lưu manh nằm trong khám chật, rồi ả giang hồ phản bội nghẹn ngào với xấp giấy bạc vô tri, thề sẽ làm lại cuộc đời. Nhưng mà cuộc đời nó đã thế đó, thì làm lại, dễ gì!
         ― Nhưng mà anh còn thích truyện nào nữa không?
         ― Các truyện của Võ Phiến đăng ở Bách-Khoa.
         ― Như truyện nào? Anh kể cho một truyện.
         ― À, chuyện một cô gái Bình Định có chồng bị chánh quyền bắt đi an trí, ghét cay chua một cán bộ thô lỗ nhưng mà dai dẳng, rồi lấy hắn, rồi lén trốn ở lại ngày tập kết, rồi lại được một anh cán bộ chính quyền quốc gia tầm thường lại bền bỉ đeo đuổi, lấy anh này, để cho một chàng biết rõ tâm sự cô nàng qua tập nhật ký bỏ quên, tha thiết yêu nàng, phải lẳng lặng vào chùa… nhìn khói hương mơ màng trước tượng Phật từ bi…
         ― Tên nàng là Dung. Mà tên truyện cũng là Dung.
         ― Đúng rồi. Tôi thích chung các truyện Võ Phiến vì nó có một cái duyên ngầm, cái lê thê đặc biệt, cái sâu sắc thâm trầm, các nhân vật đáng thương mà cũng đáng tội. Võ Phiến làm tôi nhớ lại một Nguyễn Tuân, nhưng tôi đọc Võ Phiến, thấy thú hơn, vì Võ Phiến hé cho ta nỗi lòng của thời đại chúng mình, từ 1945 đến nay.
         ― Anh còn nói gì nữa không?
         ― Dường như là hết rồi. À, mà còn. Còn một truyện ngắn tôi thích, đăng ở báo “Tự Do”, số Tân niên năm rồi, năm Mậu Tuất. Của Lý Thắng. Tên truyện là “Miếng bít-tết”. Câu chuyện chẳng có gì. Một ông nhà giàu Việt nuôi một con chó Tây. Đã chó Tây, lại ở nhà giàu, nên được nuôi bằng thịt bò, bằng bít-tết. Có cậu sinh viên ở gần thấy bạn mình – một anh quá ư nghèo – cần có ăn vài tháng để kịp kì thi, bèn nảy ra một ý: rình khều miếng thịt ngon kia, thế vào một gói… đồ dư của người. Chó bắt mùi thấy… cứt cũng ngon, còn người bạn nghèo kia nhờ tẩm bổ đồ ăn vốn là của chó ngoại quốc kia mà công thành danh toại.
         ― Thành ra mọi người đều vừa lòng.
         ― Ai cũng vừa lòng, cũng thích thú. Người sinh viên có lòng tốt, người bạn quá nghèo mà cần học, con chó được đổi món ăn… Anh thấy chớ, vừa tân kì, vừa khôi hài, mà lại vừa chửi đời một cách quá chua cay! Phật bảo đời là bể khổ, quả không sai!


NGUIỄN NGU Í thuật

________________________________________
(1) Trong bài thơ “Căn phòng tưởng tượng” của Phạm Tăng, đăng báo “Tự Do”, số Xuân Kỉ Hợi. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Nhan chữ Anh là: “The Jade Gaddess” trong tập “Famous Chinese short stories” (Những truyện ngắn hay của Trung Hoa) do Lin Yuiang (Lâm Ngữ Đường) kể lại, xuất bản lần đầu ở New-York, 1948.
(3) Xuân Diệu – Thơ thơ.


BÁCH KHOA |  SỐ 69