Tác giả Chủ đề: Bộ sưu tập của hoangnguyen  (Đã xem 100761 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #840 vào: 31/10/2015, 21:24:02 »



Bộ bách khoa tự điển 8q về triết học PG của Hữu bộ ( sarvastivada)
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #841 vào: 01/11/2015, 12:21:42 »


Bộ này cũng được xem như bộ tự điển bách khoa của Duy thức Pháp tướng tông

Lịch sử PG Ấn Độ thời kì đầu sau khi Phật nhập niết bàn là cả 1 quá trình tranh cãi về giáo nghĩa, chủ yếu là giữa triết lý "Có" và "Không", Hữu bộ chủ trương Có, Trung Quán chủ trương Không.

Nói Có cũng đúng, mà Không cũng chẳng sai, vì mọi vật đều do điều kiện mà hình thành, chúng ko có tự tính, nên ko tồn tại lâu dài, công vào với thuyết sát na, mọi thứ đều bị hủy diệt ngay tức khắc nên Trung quán nói Không. Nhưng thời gian không có thực, nếu xét trong khoảnh khắc hiện tại với liên tục tính, thì nó vẫn Có, ko thể phủ nhận cái ngã tạm mà tôi đang có, nhưng nó ko phải là chân ngã, cái ngã bất biến và trường tồn, ko thay đổi như 1 linh hồn bất diệt.

Nếu xét về từ nguyên anattà thì ko thể dịch là vô ngã mà phải dịch là phi ngã ( not-self, non-self). Như vậy vẫn có cái ngã tạm nhưng ko có cái ngã trường tồn bất biến như khái niệm linh hồn của các tôn giáo độc thần.

Duy thức tông chủ trương vạn pháp do Tâm, có vẻ như là Duy Tâm nhưng xét cho cùng khi đối tượng nhận thức ko còn thì cái Tâm (chấp ngã) đó cũng biến mất. Trong Duy thức tông chỉ có 2 nhánh phụ của Trần Na và Pháp Xứng ( Dinnaga & Dharmakirti) chủ trương cái Tâm vẫn còn khi đối tượng nhận thức biến mất.  Vì thế ko thể cho rằng toàn bộ Duy thức tông là Duy Tâm mà chỉ có 2 chi nhánh này được xem là Duy Tâm với chủ trương nhận thức độc lập với đối tượng.

Những tranh luận này xem ra vô bổ cho tiến trình tu tập giải thoát, tuy nhiên PG đã được hình thành và phát triển như thế nên ko thể ko nghiên cứu về tiến trình, lịch sử , bản chất và nội dung triết lý, ko thể mù mờ trong các quan điểm, rồi nghi nghi ngờ ngờ. Hơn nữa giải thoát ko phải chỉ cho cá nhân mà còn phải giúp người khác nên việc nghiên cứu chính là cho mục đích vị tha này. Bản thân a còn mù mờ, mù quáng thì a còn giúp gì cho ai? Phật nói 1 đằng a hiểu 1 nẻo thì a cũng toi khi thực hành chứ đừng nói đến chuyện cứu người khác 1 cách viễn vông.

Tôi thấy có những sự so sánh giữa PG với các nhà triết học hiện sinh như J.P Sartre, Kierkegaard, Heidegger...và những sự so sánh này có thể làm rối loạn thêm cho người nghiên cứu PG. Chẳng hạn họ đem so sánh 2 khái niệm being-in-itself ( hiện hữu tự nó bên trong), being-or-itself (hiện hữu cho tự nó) được xem như bản thể nhị nguyên mà Sartre đã nêu trong tiểu thuyết Buồn nôn (la Nausea) và q Hữu thể và hư không ( being and nothingness) với khái niệm vô ngã , Emptiness ( Không) của PG đại thừa, tôi thấy có điều gì đó ko ổn vì 2 nền tảng khác nhau ko thể đem so sánh với nhau ( not apple to apple) ( A comparative Analysis of Mahayana Buddhism, J.P Sartre's Existentialism and Depth Psychology của Sarah Gokhale). Nó sẽ làm rối tung nhận thức của người đọc và sẽ làm xa rời mục đích nghiên cứu PG.

Trước khi tìm hiểu so sánh với triết học phương Tây lấy ngã thể là nền tảng, người ta nên cần phải hiểu rõ khái niệm phi ngã trong PG.

Do vậy, Câu xá luận, Đại Tỳ bà sa luận, Du Già sư địa luận cùng với 7 bộ triết lý A tỳ Đàm của Theravada ( Thượng tọa bộ) và 7 bộ của Sarvastivada (Hữu bộ) cần phải đọc và nghiên cứu 1 cách thấu đáo. Tuy nhiên chúng cũng có nhiều điểm tương đồng, trùng lắp nên việc nghiên cứu ko phải là ko khả thi.

Trong topic này, tôi ko muốn chỉ chụp ảnh ko mà muốn giới thiệu đôi dòng về cái mà tôi đang đọc, đang nghiên cứu, đơn giản vậy thôi



« Sửa lần cuối: 01/11/2015, 14:42:36 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong, trininhc

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #842 vào: 03/11/2015, 17:05:15 »


Bộ Câu xá luận tôi đóng thành 4q từ ebook in ra. ( bản tiếng Anh dịch từ bản tiếng Pháp của Leo M. Pruden 1991)

Ðọc luận Câu Xá ( Abhidharma Kosa Bhasyam)  sẽ phần nào cho thấy sự tranh luận sôi nổi về giáo lý giữa các bộ phái suốt một thời gian dài trên 400 năm sau kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai tại  Vaishali (Tỳ-xá-ly). Và cũng  có thể nói môn tâm lý học Phật giáo cũng đã được bộ luận này trình bày tương đối đầy đủ.

Có rất nhiều vấn đề được đề cập trong luận này như Giới, Căn, Thể, Nghiệp, Tùy miên, Thánh Hiền, Trí, Định và Phá ngã chấp, tuy nhiên tôi muốn đề cập đến 1 sự sáng tạo của Hữu Bộ (sarvastivada) với khái niệm Vô biểu sắc hay vô biểu nghiệp (avijñapti-rūpam)

Không hài lòng với việc phân loại thực tại thành các uẩn, xứ và giới, các bộ phái sau khi Phật nhập Niết bàn  ngày càng thấy nhu cầu thảo ra một danh sách tổng thể các pháp, và việc này đã đưa đến một liệt kê khá cụ thể theo họ cho các mục tiêu thiền quán về những thành tố của vũ trụ được coi là có ảnh hưởng đến việc tu tập giải thoát.

Trong bô luận này , Hữu bộ (Sarvastivada) đưa ra một pháp rất độc đáo, là vô biểu sắc  hay còn gọi là vô biểu nghiệp- nghiệp/sắc ko biểu lộ ra bên ngoài. Thuật ngữ này chỉ các dấu vết tiềm ẩn in hằn trong cấu trúc thân chúng ta, được gây ra bởi các hành vi như phạm tội sát sanh, tuân thủ giới luật, thực hành thiền định (dhyāna) . Chúng biến đổi một người thành một loại nhân cách khác, và tiếp tục phát triển cho tới khi quả báo thưởng / phạt xảy đến.

Tạo Nghiệp theo Thượng tọa bộ (Theravada) là 1 hành vi thuộc dạng tư tâm sở. Hơn nữa, một hành động được xem là nghiệp chỉ khi nào nó có sự tham gia sắp xếp của tâm nhưng Hữu bộ lại đưa nó vào dạng sắc pháp – đó là một hành vi thiện hay ác mà 1 người chịu trách nhiệm cũng có thể dẫn đến sự thay đổi không biểu lộ ra và không thấy được trong cấu trúc vật chất của một người, ví dụ như khi y dàn xếp sao cho một người nào đó bị giết chết mà không cần tham gia vào việc sát nhân, kể cả bằng lời nói hay hành động. Điều này tương đối khó hiểu vì Sắc (rūpa), là phần vật chất hay vật lý của vạn vật, là những gì còn lại của người và vật khi đã loại trừ các đặc tính tinh thần và đạo đức.

Mà nếu là sắc pháp thì nó phải biến hoại làm sao gây ra cái quả trong tương lai? theo Tỳ-bà-sa, nó là đơn vị nhỏ nhất ( cực vi)  của sắc pháp thì không thể biến hoại được nữa. Hơn nữa, nó quá nhỏ nên không thể gây trở ngại cho sắc khác được. Như vậy, Hữu bộ cho rằng vô biểu là thật có  (real) và là cực vi do tứ đại (mahabhuta) tạo thành.

Tại sao Hữu bộ lại đưa ra khái niệm vô biểu sắc? vì nếu quy nó là 1 dạng thuộc tâm lý thì nó ko thể tồn tại lâu dài để tác quả trong tương lai. Dòng tâm thức biến động liên tục ko ngừng, và 1 lúc ko thể có 2 tâm sở cùng xuất hiện. Đây là 1 cơ chế duy trì nghiệp mà Hữu bộ đã sáng tạo ra.

Tóm lại vô biểu sắc/ vô biểu nghiệp trong Câu-xá luận là giúp biết rõ ràng hơn cơ chế duy trì và tạo ra cái quả của nghiệp, từ đó, có ý thức về hành vi của mình để tránh khổ đau cho hiện tại và tương lai. Có nghĩa là một khi đã tạo nghiệp thì dù có trốn lên trời hay xuống biển sâu hay vào hang núi thì cũng ko thể thoát khi nó đã hội đủ duyên để trổ quả.
« Sửa lần cuối: 04/11/2015, 09:45:27 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #843 vào: 04/11/2015, 13:10:06 »


Triết lý Trung Tâm của PG e-book  (2009)

Có ba giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển của triết lý Phật giáo:

I. Giai đoạn 1: Thực tại luận (realistic) và Đa nguyên luận (pluralistic) hình thành nên các bộ phái Tiểu thừa Phật giáo (Hīnayāna), gồm Thượng toạ bộ (Theravāda) và Tỳ-bà-sa bộ (Vaibhāṣika) tức Thuyết Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda). Đây có thể gọi là hệ thống A-tỳ-đạt-ma (Ābhidharmika). Kinh lượng bộ (Sautrāntika) là biến cải một phần của Thực tại luận mang tính giáo điều nầy.

2. Giai đoạn 2: Hệ thống Trung quán luận của Long Thụ (Nāgārjuna) và Thánh Thiên (Ārya Deva), chủ trương Tánh không luận (śūnyatā-vāda).

3. Giai đoạn 3: Quan niệm luận (Duy tâm luận)–Hệ thống Du-già hành tông (Yogācāra) của Vô Trước (Asaṅga) và Thế Thân (Vasubandhu), sau nầy là Duy thức luận (Vijñānavāda) của Trần-na (Dignāga) và Pháp Xứng (Dharmakīrti)

Về siêu hình học (metaphysics), có một cuộc cách mạng từ Đa nguyên luận cực đoan sang Tuyệt đối luận (advaya-vāda; e: radical absolutism). Sự thay đổi là từ tính đa dạng của các thực thể cơ bản riêng biệt (dharmāḥ:các pháp/pháp tướng) sang bản chất đồng nhất hàm tàng trong các pháp ấy (dharmatā: pháp tánh)

Về nhận thức luận (epistemological), cuộc cách mạng từ chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) và chủ nghĩa giáo điều (s: dṛṣṭi-vāda; dogmatism) sang biện chứng pháp phê phán (dialectical criticism), tức Tánh không luận (śūnyatā) hay Trung đạo (madhyamā pratipad).

Về Đạo đức học, cuộc cách mạng từ lý tưởng giải thoát tự kỷ cá nhân sang giải thoát cho toàn thể chúng sinh. Không chỉ giải thoát khỏi khổ đau và luân hồi sinh tử (kleśāvaraṇa-nivṛṭtih), mà còn giúp cho chúng sinh chứng ngộ Phật tánh viên mãn.

Về mặt tôn giáo, cuộc cách mạng là chuyển đổi từ Thực chứng luận (Vô thần; positivism) sang Phiếm thần tuyệt đối luận (absolutistic pantheism).

Sự phát triển tư tưởng Phật giáo chỉ ra rằng  hệ thống triết học Trung quán như là sự phê phán liên tục tư tưởng của A-tỳ-đạt-ma (abhidharma), vốn xuất phát từ sự phủ nhận Hữu ngã luận (ātmavāda) của hệ thống giáo lý Bà-la-môn.  Hệ thống này vừa phê phán học thuyết Hữu ngã (ātma) lẫn Vô ngã (anātma). Một quan điểm tương tự ở Tây phương là của Kant trong nền triết học hiện đại. Tác phẩm Phê bình lý tính thuần túy (Critique) của ông chính là phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm (Empiricism), vốn là phê phán quan điểm Duy lý chủ nghĩa (Rationalism) về phương diện nguồn gốc và phạm vi kiến thức. Duy tâm luận của Du-già hành tông có thể được chấp nhận từ tư tưởng tánh không (śūnyatā) của Trung quán, giống như Duy tâm luận của Hegel là được vay mượn từ tác phẩm Phê bình lý tính thuần túy (Critique) của Kant vậy, do vì cách lý giải của nó về tác dụng của Lý tính (Reason).

Về vấn đề Ngã, thì phủ nhận thực thể, linh hồn, và tất cả mọi quan hệ là đặc điểm phương pháp của trường phái Hume. Hume thừa nhận hai nguyên lý triết học; ‘tất cả mọi giác tri cá biệt của chúng ta đêu là tồn tại cá biệt, và tâm lý chưa bao giờ nhận thức được mối liên quan thực sự trong  tồn tại cá biệt. Nhận thức của chúng ta có biết sự vật vốn có sự tồn tại hoặc là đơn thuần hoặc cá biệt chăng? Hoặc là tâm lý chúng ta có thể nhận thức điều gì đó chân thực nối tiếp trong chúng chăng? Sẽ không còn có vấn nạn trong trường hợp nầy.’  Nhưng có một khác biệt rất quan trọng không nên bỏ qua. Hume giải thích ý niệm về thực thể, về quan hệ nhân quả, v.v... thông qua hoạt dụng của kinh nghiệm tính về liên tưởng và tập quán. Phật giáo nhận thức rõ rằng, giống như Kant, thực tế là những ý niệm nầy đều là tiên nghiệm (a priori) và không phải là kinh nghiệm nguyên thuỷ...


N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #844 vào: 05/11/2015, 10:07:43 »


A Tỳ Đàm - Học thuyết ẩn giấu đằng sau nụ cười của đức Phật ( ebook của Rob Moult)

Đây là 1 q sách khá lý thú do một kĩ sư thiết kế người Canada soạn, ông đã đồ hình hóa toàn bộ những yếu tố phân tích Tâm và thế giới theo quan điểm PG. Một q sách dành cho những ai ko thích văn vẻ dài dòng mà chỉ thích làm việc với sơ đồ hoặc biểu đồ. Tác giả đã vẽ thiết kế các yếu tố của Vi diệu pháp theo truyền thống Thượng Tọa Bộ (Theravada). Có tất cả 7q luận theo truyền thống này, vì 1 công trình luận tạng của Thượng tọa bộ rất đồ sộ nên cần có 1 bản tóm tắt và chú giải, q này là 1 trong những quyển thuộc loại  tóm tắt đó. Trong các trường Phật học ở trình độ cử nhân trở xuống thì những quyển thuộc loại tóm tắt này là giáo trình của 1 môn học gọi là Vi Diêu Pháp, ở những trình độ cao hơn thì học viên bắt buộc phải nghiên cứu 7 q tang luận của Thượng Tọa bộ cũng như của Hữu bộ ( Sarvastivada) cũng có 7 q

Kinh và Luật phục vụ mục đích rõ rang về thông điệp giải thoát và đề ra phương pháp tu luyện cá nhân, thì Tạng Vi Diệu Pháp trình bày một hệ thống lý luận mang tính kỹ thuật  và trưù tượng cuả học thuyết. Bộ Luận của Theravada bao gồm 7 quyển: Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani), Bộ Phân Tích (Phân Biệt - Vibhanga), Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết - Dhatukatha), Bộ Nhân Chế Định (Nhân Thi Thuyết - Puggalapannati), Bộ Ngữ Tông (Kathavattu), Bộ Song Đối (Song Luận - Yamaka) và Bộ Vị Trí (Phát Thú - Patthana).

7 bộ luận của Hữu bộ (Sarvastida) có phần khác biệt gồm: Phát trí luận (Jnanaprashthana), Tập dị môn túc luận ( Abhidharma samghiti-paryaya-pada ), Đệ nhị túc luận ( Prakaranapada), Thức thân túc luận ( Vijnanakaya), Giới thân túc luận (Dhatukaya), Pháp uẩn luận ( Dharmaskandha) và Thi thiết luận ( Prajnapatisastra)

Mục đích cuả Tạng Vi Diệu Pháp nhằm thấu hiểu bản chất cuả hiện thực, hiện thực ý thức , thế giới đươc mang lại trong kinh nghiệm hay là nghiên cứu bản chất cuả kinh nghiệm trên cơ sở phân tích Tâm. Nó được xem như môn "Tâm lý học" nghiên cứu về tâm và những trạng thái tinh thần tương ứng ( tâm sở) vì vậy, nó có hai khía cạnh - tâm lý học thuần túy là sự nghiên cứu chung về hiện tượng tinh thần, và tâm lý trị liệu (ứng dung) là áp dụng sự nghiên cứu hiện tượng tinh thần vào vấn đề bệnh và trị bệnh, rối loạn tâm thần. Vai trò của Tâm rất quan trọng trong PG, có thể nói PG là nghệ thuật điều khiển Tâm để thoát khổ.

Một trong những phương pháp của Vi Diệu Pháp là định nghĩa để truyền đạt kết quả về những vấn đề mang tính chuyên môn, cho nên môn học này hơi khô khan. Phương pháp quy nạp cũng là một phương pháp được dùng trong Vi Diệu Pháp, trọng tâm của quá trình quy nạp ở Vi Diệu Pháp đặt trọng tâm ở bên trong, được gọi là sự tự xem xét nội quan, hay sử dụng thuật ngữ truyền thống, thiền quán.

Có hai cách nghiên cứu Vi Diệu Pháp : (1) qua phân tích, (2) qua sự tổng hợp hay mối quan hệ.

Cấu trúc căn bản của hai phương pháp này được nói đến trong q Dhammasangani (Phân Loại Các Nhân Tố - bộ Pháp Tụ) và q Patthana (Các Mối Quan Hệ Nhân Quả - bộ Vị Trí). Ðây là hai q quan trọng nhất trong Vi Diệu Pháp. Chính do phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp hay quan hệ mà Vi Diệu Pháp đi tới chỗ hiểu biết căn bản về Vô ngã và tính Không.

Phân tích là mổ xẻ một tổng thể (pháp) thành những phần cấu thành. Cách này không những có thể áp dụng với cái ngã thành năm uẩn, như đã thấy trong  phân tích kinh nghiệm bản thân, mà còn với đối tượng bên ngoài thành những phần cấu trúc tạo thành. Mục đích việc mổ xẻ một tập hợp hiển nhiên là nhổ bật cái gốc luyến chấp vào hiện tượng bên trong và bên ngoài. Nếu cái ngã thực ra chỉ là một tập hợp của những thành tố, thì niềm tin vào khái niệm cái "ta" sẽ yếu đi.

Tóm lại, mục tiêu phân tích và tổng hợp trong Vi diệu pháp là nhằm đả phá cái quan điểm chấp ngã là của con người, mong đợi cái ngã trường tồn và bất biến, độc lập với  ngoại cảnh. Nó ko hề  đả phá sự tồn tại của 1 cái Ngã. Ngã thể vẫn tồn tại, cái ý chí quyết tâm đi đến giải thoát là bằng chứng cho sự tồn tại của cái ngã đó, sự lang thang trong tam giới với thời gian vô hạn định cũng minh chứng cho sự tồn tại của 1 cái "Ngã tạm". Giáo lý "phi ngã" của Phật cần phải được hiểu 1 cách đúng đắn nếu ko muốn rơi vào 1 tình trạng mất phương hướng trong tu tập...





N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #845 vào: 06/11/2015, 10:05:27 »


Lịch sử triết học Phật giáo Những sự liên tục và Gián đoạn của Kalupahana ( 2006) ebook

Phương pháp lịch sử thường được áp dụng trong nghiên cứu Phật giáo, vì PG ko nằm im lìm bất động mà phát triển qua một chiều dài lịch sử hơn 2500 năm với những học thuyết đặc trưng và khác biệt qua từng thời kì tuy nhiên lịch sử triết học Phật giáo ở Ấn Độ được nghiên cứu không nhiều và thường thì nó được phân chia theo 3 giai đoạn mang tính thời gian: thời kì nguyên thủy , thời kì bộ phái với chủ nghĩa duy lí và thời kì Đại thừa với chủ nghĩa thần bí

Tuy nhiên, trong tác phẩm này tác giả Kalupahana đã ko đi theo mô hình về thời gian mà ông trình bày triết học Phật giáo theo xu hướng chủ đề mang tính tiêu biểu đi từ những yếu tố nền tảng của PG như đau khổ (dukkha) , duyên khởi ( Paticcasamuppda), nhân tính (humanity), nhận thức, đối tượng nhận thức (object)  đến những giai đoạn triết lý đặc thù như tuyệt đối luận (Absolutism), Triết lý A tỳ đàm ( Abhidhamma), Bát nhã Kim cang ( Vajracchedika), căn bản Trung quán luận ( Mulamadhyamakakarika), Triết lý Đại thừa như Pháp Hoa ( Saddharmapundarika sutra), Lăng Già (Lankavatara sutra), Tánh Không (Emptiness), Thành Duy thức luận (Vijnaptimatratasiddhi), Logic của Trần Na (Dignaga), một số thuật ngữ như bản thể hay bản tính (S: parakṛti), tự tánh (S: Svabhāva), tự thể (S: àtman, svabhāva, bhāva – svabhāva, àtman - bhāva ), tự tướng (S: svātman, svalaksana) được đề cập.

Một tác phẩm nên đọc để có 1 cái nhìn tổng hợp về triết lý PG qua từng chủ đề
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #846 vào: 08/11/2015, 16:34:44 »






Tự điển Hindi English và English Hindi nhà XB Varnasi ( Ấn Độ) 1960, tái bản 11 lần. Chủ cũ của bộ sách này là tỳ kheo Thích Huyền Vi mua tại Ấn Độ năm 1962 , ngài Huyền Vi có 1 công trình luận án TS nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của ngài Xá Lợi Phất- vị cao đồ trí tuệ bậc nhất của Phật, tương truyền rằng Đề Bà Đạt Đa người luôn muốn ám hại Phật thì rất sợ ngài Xá lợi Phất, sợ hơn cả Phật, q này tôi cũng có và hình như nó cũng được rao bán trên mạng sachxua.net này ( A crictical study of the life and works of Sariputta Thera in tại Vạn Hạnh SG 1972 )

Tiếng Hindi là một trong nhiều ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ, được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngôn ngữ chính thức, nó sử dụng dạng chữ Devanāgarī (chữ viết miền đô thị), ngoài tiếng Hindi, tiếng Pali ( Nam Phạn) và Sanskrit (Bắc phạn) cũng sử dụng dạng chữ này. Giống như các loại từ điển khác, chữ đầu tiên của trang luôn là chữ A


Tôi lại có duyên mua được bộ này để học tiếng Sanskrit ( Bắc Phạn) bằng dạng chữ Devanagari. Nghiên cứu PG thì ko thể tránh khỏi học 3 loại ngôn ngữ: Pali (Nam Phạn) dành cho học kinh, luật và luận tạng (7q) nguyên thủy; Sanskrit ( Bắc phạn) và Hán cổ để nghiên cứu  kinh, luật và luận tạng của PG thời kì bộ phái cũng như PG Đại thừa, chưa kể học tiếng Tây Tạng vì một số kinh điển PG bộ phái và Đại thừa ko còn bản gốc mà chỉ còn bản dịch từ Tiếng Tây Tạng và Hán cổ.

Mặc dù chương trình đào tạo của các trường đại học ở vùng Á Châu và phương Tây là bằng tiếng Anh, nhưng các giáo sư đã thấy rằng Anh ngữ ko lột tả hết được ý nghĩa của nguyên bản nên toàn ghi chú thêm 3 loại thứ tiếng tôi vừa nêu trên. Bản in các loại tiếng Pali và Sanskrit này rất dễ sai chính tả gây phiền phức cho học viên, ko biết đâu mà lần, mà tra tự điển, mò mẫm khổ sở vô cùng. Do vậy, việc học 3 loại ngôn ngữ trên ở mức cơ sở, căn bản là tối cần thiết, nếu ko thì đọc giáo trình sẽ ko hiểu gì cả, kiến thức sẽ mù mờ và thực tập chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.


 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi Dongnat

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #847 vào: 08/11/2015, 23:16:47 »
Thầy Thích Hoàng Nguyên có chân tu nên gặp nhiều may mắn.
e-mail: dongnat09@yahoo.com.vn
 

Ngủ rồi hanam2990

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #848 vào: 09/11/2015, 00:00:47 »
Dù chả bao h đọc tới những cuốn phật giáo vì nghe cao siêu quá nhưng vẫn em vẫn thích thầy chia sẻ những kiến thức về những cuốn sách kia, bình luận của thầy về sách vở rất hay. Cám ơn thầy, mong thầy thi thoảng tiếp tục việc này trên sachxua khi rảnh rỗi :)
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #849 vào: 09/11/2015, 13:15:02 »
@ Ngài Dongnat: Lâu lắm rồi mới thấy ngài LS thăm quán hàng xén của tớ, với 1 lô sách cực kì khô khan, có thể nói chẳng ai thích và ít ai quan tâm, nhưng với tớ đó là cả một niềm vui, là công cụ để học tập với mục đích đi tìm kiếm 1 cái gì đó mang tính giải thoát.

Và cũng ko hiểu tại sao tớ lại gặp nhiều may mắn? hình như là ai tìm cũng sẽ thấy, ai gõ cũng sẽ được mở, hoặc ai thực hành Pháp thì sẽ được Pháp bảo hộ.

Tớ ko "Thích" này mà cũng chẳng "Thích" kia chỉ muốn được là 01 con người bình thường lang thang tìm kiếm 1 sự tự do tuyệt đối và vô điều kiện, ko bị ràng buộc bởi bất cứ cái gì và hy vọng rằng sẽ ko trở lại cõi này sau cuộc hành trình về nơi "ko thấy" sắp tới mà bất kì ai cũng phải trải qua :)

@ Bạn hanam2990: Hãy gieo duyên với PG, tôi đã thực hiện điều này từ khi còn là 1 sinh viên 30 năm trước. Tôi vẫn thường hay lang thang mua sách cũ, ko hiểu vì sao mà tôi lại thích mua sách PG, dù đọc ko hiểu, cũng cố đọc rồi để đó và cho đến những năm gần đây  tôi mới có dịp đọc lại và hiểu nó,  hình như tôi có duyên với PG từ lâu lắm rồi? ko biết từ bao giờ

Khi chưa biết 1 điều gì người ta thường cho rằng nó khó nó cao siêu như khi biết rồi thì nó rất đơn giản. PG chỉ yêu cầu tránh làm việc ác, cố gắng làm việc thiện, xem xét tâm mình từng giây phút, đừng để nó vọng động rồi nghĩ và làm những điều sai, đơn giản chỉ có thế.

Tâm  như là 1 quyển sách mà tôi cho rằng mình phải đọc hàng ngày. Nếu bạn "đọc" Tâm từng giây phút một bạn sẽ thấy nó vô cùng biến động và thay đổi và nếu đọc quen bạn sẽ hiểu và sẽ thấy cảm thấy thích thú khi kiểm soát đựợc nó. Một cái tâm vắng lặng sẽ thoát khỏi tham sân si, sẽ thấy hạnh phúc ngay ở thế gian này

Những q sách tôi đọc và nêu ra ở phần trên là với mục đích nghiên cứu sâu xa, một con đường mà tôi đã chon cho một sự tìm hiểu tiến trình hình thành và phát sinh những chủ đề những học thuyết của PG, nếu có thời gian, đam mê và có điều kiện thì cũng nên chon con đường này nhưng nó ko phải là sự bắt buộc, hãy tập trung đọc q sách của Tâm bạn, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc khi bạn hiểu được chính mình. Lịch sử PG đã chỉ ra rằng, ko cần phải chọn con đường nghiên cứu sâu xa để đạt đến giải thoát, vấn đề giải thoát thực ra nằm ở chỗ thực hành nhiều hơn là nghiên cứu lí thuyết, chỉ cần học môn thiền quán Vipassana (Tứ niệm xứ, Đại niệm xứ) và theo đó thực hành là đủ, đó là con đường duy nhất, con đường quán Tâm, đọc q sách Tâm, con đường này sẽ đưa con người đến giải thoát trọn vẹn, ko còn con đường nào khác, mà nếu theo các con đường khác thì sẽ đi đến giải thoát 1 cách ko trọn vẹn, có nghĩa là vẫn quanh quẩn nơi tam giới, và khổ ải vẫn chờ đón họ trong tương lai sau khi họ hưởng hết phước báu họ tạo ra.

Có rất nhiều con đường theo các quan điểm và học thuyết PG khác nhau nhưng chính Phật đã khẳng định trong kinh tang Pali rằng con đường thiền quán Vipassana là con đường duy nhất. Vì Tâm rất quan trọng trong PG, nó làm chủ các Pháp:

 Tâm làm chủ, tạo tác.
 Nếu nói hay hành động,
 Với tâm niệm bất tịnh,
 Khổ não liền theo sau,
 Như xe theo bò vậy.

 Tâm làm chủ, tạo tác.
 Nếu nói hay hành động,
 Với tâm niệm thanh tịnh,
 An lạc liền theo sau,
 Như bóng chẳng rời hình

Cám ơn bạn đã quan tâm đến topic của tôi và hy vọng bạn sẽ cố gắng gieo duyên với PG ( đọc sách thiền quán Tứ niệm xứ, đọc Tâm ...), hạnh phúc sẽ đến khi bạn chon mình 1 con đường đúng đắn và phù hợp. Những cái cao siêu và nhức đầu dành cho các học giả nghiên cứu lí thuyết, và điều đó, tôi khẳng định ko hề đảm bảo cho bất cứ 1 điều gì sau khi chết.
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #850 vào: 20/11/2015, 11:20:24 »


Tự điển những Biểu tượng của Giấc mơ

Giấc mơ đã được vài triết gia phương Tây như Hippocrates , Plato , Aristotle đề cập nhưng mãi cho đến thế kỷ thứ 19, mới bắt đầu có những nghiên cứu chuyên sâu vào lãnh vực này với một nhân vật nổi tiếng Sigmund Freud (1856-1939). Freud đã đưa ra một kỹ thuật tâm lý có thể giải thích những giấc mơ, từ đó hiểu được những khát vọng thầm kín trong sâu thẳm trong tâm thức của con người.

Những nhà nghiên cứu cổ đại trước Aristotle cho rằng giấc mơ là một thông điệp của thánh thần, tuy nhiên Aristotle cho rằng giấc mơ không phải là món quà thần thánh mà là một chuyển hóa những cảm xúc nhẹ nhàng thành những cảm xúc mạnh trong lúc ngủ.

Lịch sử của đức Phật đã được bắt đầu từ một giấc mơ “con voi trắng sáu ngà” nổi tiếng của Hoàng hậu Maya. Nó được ghi lại trong các kinh sách như Phổ Diệu Kinh (Lalitvistara), Phật Bản Hạnh Tập Kinh (Abiniskramanasutra), Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita), Đại Sự (Mahavastu) và đặc biệt là trong bộ Nhân Duyên Truyện (Nidana Katha) được xem như là bộ tiểu sử chính thức về cuộc đời Đức Phật theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Sthavira Buddhism)

Đông y thì cho rằng giấc mơ là một biểu hiện bịnh lý do hỏa vượng gây ra.

Thực tế thì giấc mơ cũng có khi là 1 điềm báo, cũng có khi là một sự biểu hiện của bịnh lí và cũng có khi phản ánh những khát vọng bị dồn nén của con người, thông qua nó người ta có thể hiểu rõ mình hơn.

Quyển tự diển này giải thích những biểu hiện của giấc mơ theo quan điểm của những nhà Tâm lý chiều sâu phương Tây, thỉnh thoảng tra cứu cũng thấy thú vị
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #851 vào: 23/11/2015, 10:27:31 »


Phật giáo dấn thân- Những phong trào giải phóng PG tại châu Á

Có 2 vấn đề cần suy nghĩ ở đây:

Thứ nhất Ko có khái niệm Phật giáo dấn thân mà chỉ có khái niệm Phật tử dấn thân, hay con người dấn thân. Mà khái niệm này cũng chẳng xa lạ gì, nó đã hình thành và phát triển mãnh liệt ở Phật giáo đời Trần, Cư trần lạc đạo phú đã thể hiện một triết lý sống kết hợp đạo với đời:

居 塵 樂 道 ( 竹 林 安 子 第 一 祖 陳 仁 宗 )

居 塵 樂 道 且 隨 緣
饑 則 飧 兮 困則 眠
家 中 有 宝 休寻 覓
对 鏡 無 心 莫問 禪

Ở  đời  vui đạo, hãy tuỳ duyên,
Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.
   
Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung, tuy tu nhưng các vị vẫn thể hiện tinh thần nhập thế với lòng yêu nước nồng nàn. Vua Trần Thái Tông là người ngộ được Thiền Tông, khi giặc Nguyên Mông xâm lăng, vua chỉ huy cầm quân đánh giặc, đất nước thái bình vua mới ngôi yên tu thiền.

Như vậy chỉ có con người theo PG dấn thân chứ ko phải là PG dấn thân.

Thứ 2 thường thi Người ta không nhìn đạo Phật như là đạo Phật mà lại nhìn đạo Phật như là tôn giáo dấn thân hay không dấn thân, như là 1 thứ triết lý nào đó tương tự  như 1 loại triết lý thực nghiệm, một thứ “positivism” gần gần như August Comte, một thứ “empirisme” hay “ phenomenism”  gần như David Hume, một thứ “ pragmatisme” gần như William James hay  1 thứ tương tự như triết lý hiện sinh của J.P Sartres…, tất cả sự so sánh như thế ko làm người ta hiểu và nhìn đúng về đạo Phật .

Thế nào là nhìn đạo Phật như là đạo Phật? đạo Phật như thế nào thì mình nhìn như thế, kinh Phật thường mở đầu “ Như thị ngã văn” có nghĩa “ tôi nghe như vầy”, đó là lời đức Phật đề nghị ông Ưu Ba Ly ( Upali) và A nan ( Ananda) phải mở đầu các kinh bằng 4 chữ ấy ( cf Trí độ luận).

Thấy và thấy đúng, đó là ý nghĩa giản dị và phức tạp của đạo Phật, thấy và thấy đúng đó là con đường của tất cả mọi con đường. Đạo Phật đề nghị chúng ta thấy, thấy sự vật như là sự vật, thấy sự vật đúng với sự thật, kinh luận Pali gọi sự thấy ấy là kết quả  từ sự thực hành thiền quán vipassāna. 

Đạo Phật bắt đầu bằng “chánh kiến”, là sự thấy (dassana) mọi sự đúng như sự thật, kể cả bên ngoài sự vật hiện tượng lẫn bên trong nội tâm của con người, và “ tứ diệu đế” giải thích sự thấy như thật ấy. Còn rất nhiều người vẫn chưa thấy, chưa cảm nhận được đời là bể khổ, mọi thứ đều bị điều kiện hóa, ko có gì free trong cuôc đời này, tiền hết tình tan…và cũng ko ai mấy mặn nồng đi tìm cho mình 1 con đường thoát khổ bằng việc nhận thức rõ ràng nguyên nhân gây khổ, hình như từ bỏ dục lạc của trần gian là 1 cái gì quá khó đối với con người.

Trong Bát chánh đạo, con đường tu tập để thoát khổ thì  “ chánh kiến” được đặt lên hàng đầu, vì từ thấy đúng sẽ dẫn đến tư duy đúng ( chánh tư duy) và 1 loạt cái đúng như là hệ quả đi theo nó  chánh- (ngữ, nghiệp, mạng, tinh tấn, niệm, định).

PG đề nghị thấy đúng chứ ko đề nghị con người thấy sai, thấy điên đảo, thấy do thành kiến, do chủ quan, thấy lêch lạc và bóp méo sự thật. Thấy đúng đồng nghĩa với giác ngộ, giác ngộ bản chất của cuộc đời, bàn chất của tình yêu, bàn chất của con người.

Q sách chỉ mang tính thông tin về những hoạt động, những phong trào đấu tranh PG của cư sĩ và tâng ni tại một số nước châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Tích Lan, Nhật Bản…
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #852 vào: 26/11/2015, 15:55:58 »


Phật Quang đại tự điển bộ 7q bản tiếng Hoa in tại Đài Loan 1993

Bộ này cũng tương tự như bộ Huệ Quang, ngoài 2 bộ này tôi còn có bộ bách khoa tự điển PG (tiếng Anh) của Robert E. Buswell, bộ của Edward Irons (tiếng Anh), bách khoa PG minh họa bằng hình ảnh của Ian Harris ( tiếng Anh), bộ tự điển bách khoa thực dụng ( tiếng Hoa) in tại Hong Kong, tuy nhiên tôi vẫn còn thiếu 1 bộ in tại Sri lanka ( tiếng Anh) được cho rằng là hay nhất trong  các bộ tự điển bách khoa Phật giáo ( mới phát hành đến tập tám).

Tất cả dùng để tra cứu và so sánh đối chiếu.
« Sửa lần cuối: 26/11/2015, 15:58:26 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #853 vào: 02/12/2015, 16:47:26 »


Tôi đặt mua q này trên diễn đàn ( từ bác Nhiên Lê) vì tôi rất thích đọc sách tử vi của tác giả Vu Thiên Nguyễn Đắc Lộc, ông chỉ viết 2q về Tử vi, q đầu tiên gồm 2 tập tựa là " Tử vi dưới mắt khoa học" ( 4 chương / 370 trang XB năm 1973) và q này là q bổ túc cho q đầu tiên. Năm 1957 ông đã là 1 trung tá của chế độ cũ.

Trong quyển này, tác giả đã mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm bổ xung và làm sáng tỏ thêm cho nghiên cứu trước đó về khái niệm nền tảng Âm Dương và Ngũ hành. Ông dùng kiến thức vật lý để chứng minh cho việc kết luận vũ trụ khi phân tích đến cùng chỉ là vật chất di chuyển theo qui luật nhất định, nhiệt năng cũng ko khác với cơ năng và cũng chỉ là 1 dạng vật chất. Năng lượng tạo ra lực, lực khiến 1 vật hay 1 hệ thống vật chất đang ở thế quân bình này sang 1 thế quân bình khác hoặc biến dạng và biến thể.

Và ông cũng đi tìm mối tương quan giữa ba động của vũ trụ với số phận của con người,thông qua khái niệm ngũ hành nạp âm và Ngũ hành với thời gian. Chứng minh cơ sở lí luận của các sao an trên lá số tử vi theo năm tháng ngày giờ, nói cách khác ông dùng kiến thức Vật lý để chứng minh cho khoa tử vi, giải thích cơ chế an sao phục vụ cho việc giải đoán

Thực ra dưới góc độ vật lý, nghiên cứu tử vi chẳng qua là nghiên cứu ảnh hưởng của vũ trụ đến con người ngay thời điểm con người sinh ra đó là ánh sáng, nhiệt năng, sóng từ điện và trọng lượng.

Dưới góc độ triết lý tôn giáo thì số mệnh chỉ là tên gọi khác của nghiệp lực, chính nghiệp lực chi phối con người và tạo ra số mệnh. Con người khó có thể cải tạo số mệnh nhưng có thể dụng Tâm để dung thông với số phận giảm bớt cảm giác đau khổ tâm lý trước nghịch cảnh. Người tu vẫn chịu sự chi phối của số mệnh, tuy nhiên cảm nhận của họ sẽ khác với người ko tu, khi giác ngộ thì người tu sẽ vượt lên trên được số phận của chính mình, ko còn bị ràng buộc bởi nó.

Người tu cũng có thể cải số bằng việc tuân thủ nghiêm ngặt giới luật, khổ công tu luyện, gia tăng công việc tạo phúc như ng ta thường nói " Đức năng thắng số".

Nghiên cứu bất cứ cái gì cũng nên đi sâu vào cơ chế, tìm hiểu nguồn gốc, cơ sở lí luận, ko nên chỉ tin vào những kết luận chưa được chứng minh bởi người khác, tránh thói quen học vẹt nhưng chẳng hiểu tại sao?

Nghề chơi cũng lắm công phu thì nghề học cũng thế, thậm chí còn công phu hơn, học, học nữa, học mãi, học máu :)


N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: Bacsinhaque

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bộ sưu tập của hoangnguyen
« Trả lời #854 vào: 10/12/2015, 08:55:45 »



金匮要略方论

“Kim quỹ yếu lược phương luận” là một trong 4 bộ sách kinh điển hàng đầu của y học cổ truyền Trung Hoa ( Nội, Nạn, Thương , Kim), cũng là cuốn sách đầu tiên viết về chẩn trị tạp bệnh theo lý luận biện chứng của y học cổ truyền.

Sách nói về tạp bệnh nội khoa gồm cả phụ khoa lẫn ngoại khoa. Hiện nay còn lưu lại 3 phần chính gồm 25 chương. Chương đầu mang tên “Bệnh tạng phủ kinh lạc trước sau” có tính chất tổng luận, viết về nguyên nhân cơ chế bệnh sinh, dự phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh …. Do viết theo hình thức vấn đáp, nêu các nguyên tắc nên chương này có tính  chất cương lĩnh cho toàn cuốn sách. Từ chương thứ hai “Bệnh kính thấp yết” đến chương mười bảy “Bệnh nôn oẹ hạ lợi” thuộc bệnh nội khoa. Chương mười tám “Bệnh sang ung tràng ung phù nề” thuộc bệnh ngoại khoa. Chương mười chín “Bệnh phu quyết thủ chỉ tý thũng chuyển cân âm hồ sán ưu trùng” viết về một số hợp bệnh. Chương hai mươi đến chương hai mươi hai chuyên về sản phụ khoa. Ba chương cuối viết về cấm kỵ, chú ý khi dùng thuốc và ăn uống cùng một số nghiệm phương.

Nguyên nhân gây bịnh theo Trương Trọng Cảnh được diễn giải lại theo cơ chế bởi Bác sĩ kiêm Đông Y sĩ Nguyễn Văn Ba như sau:

1. Kinh lạc thọ tà rồi chuyển vô tạng phủ bên trong thông qua tấu lí, bịnh theo hệ giao cảm vô tạng phủ
2. Bế tắc ở hệ giao cảm nên khí huyết không lưu thông được ở phần biểu (cần xoa bóp), tấu lý ( cần dùng thuốc)
3. Tai nạn hay do con người gây ra như sắc dục quá độ, mạng môn suy, bị thương do tai nạn trùng thú cắn.

Nếu người ta cẩn thận dưỡng thân tức dưỡng sức khỏe trong người thì bất luận ngoại tà gì không phạm kinh lạc thì cũng không thể truyền tới tạng phủ mà nếu bị lưu truyền từ kinh lạc đến tạng phủ thì dùng thuốc mà trị, tà còn đang bên ngoài, tay chân mới cảm thấy nặng nề, thì phải trị ngay bằng án ma, châm cứu, hãn, hạ, thổ…. Hoặc dán cao thì tà không nhập sâu vào tấu lí được, nếu cửu khiếu không bị bế tắc thì tà không thể nhập sâu được, đừng chữa trị sai gây bịnh thêm nặng, tấu lí là chỗ khí huyết tân dịch làm chủ, tân thuộc dương trắng như nước bọt hay nước trong bao tử, dịch là nước máu (huyết thanh). Tấu lí là chỗ trị bịnh rất quan trọng trong con người.

Tuy nhiên nguyên nhân sâu sa vẫn là do thói quen ko tốt trong quá khứ, tập nhiễm lâu đời ảnh hưởng đến con người hiện tại, Phật giáo gọi là nghiệp của quá khứ (past kamma), cơ chế giải thích nguyên nhân bịnh theo PG vẫn là nghiệp lực. Phật giáo ko phủ nhận cơ chế gây bịnh theo YH hiện đại hay YH cổ truyền, nhưng vẫn chú trọng đến nguyên nhân bên trong là Noxious trio ( tam độc) do nghiệp lực quá khứ, bình tâm được thì tà khí bất khả xâm phạm ko thể gây bịnh hoặc vạn bịnh sẽ bị tiêu trừ. Đây cũng chính là cơ chế giải thích tại sao thực hành thiền định có thể chữa được bịnh tật theo PG.

Có nghĩa là dưỡng thân vẫn chưa đủ, cần phải dưỡng Tâm thì tác dung phòng bịnh mới có hiệu quả triệt để. Cho nên Trọng Cảnh y thánh đã ghi ở điều đầu tiên trong sách Kim Quỉ này là

上工治未病

Thầy thuốc giỏi là trị lúc chưa bịnh ( thượng công trị vị bịnh), ngăn ngừa khi chưa có bịnh mà phải ngăn ngừa từ gốc rễ, đợi bịnh rồi nhất là bịnh vào giai đoạn cuối thì trị cái gì nữa, có trị được đi chăng nữa thì cũng vô vàn khó khăn. Có nhiều con đường để đi thì ta nên chon con đường ngắn nhất, hiệu quả và dễ dàng nhất.


« Sửa lần cuối: 10/12/2015, 10:18:32 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thaicong, hanam2990, Hiệp gà, Bacsinhaque