Tác giả Chủ đề: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.  (Đã xem 4340 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« vào: 25/02/2010, 22:07:31 »
Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
                                                                                                                                                       Jack A.Yeager
                                                                                                                                           PGS - Đại học New Hampsphire, Mỹ

Sự hiện diện về chính trị của nước Pháp ở Việt Nam đi kèm theo sự du nhập, cả bằng con đường tự do và thiết chế, của tiếng Pháp, một trung giới không thể thiếu đối với các nhà văn Pháp ngữ. Trong bài viết “Tình hình của Pháp ở ba nước Đông Dương” Pierre Bandon đã tổng kết sự phổ biến tiếng Pháp ở Đông Dương thông qua các thiết chế tôn giáo và giáo dục, trong đó chỉ ra quá trình lịch sử lâu dài của những sự chuyển đổi quyền lực chính trị ở vùng này và những sự phân nhánh ngôn ngữ của chúng. Bandon dẫn lời Bùi Xuân Bào về vấn đề này như sau: “Nhờ tiếp xúc với tiếng Pháp, cấu trúc câu trở nên lôgich hơn, những sự cấu âm pha trộn vừa uyển chuyển vừa hợp lý hơn”.

Trong tiến trình tiếng Việt, những sự phát triển quan trọng nhất diễn ra vào cuối thế kỷ mười chín. Các viên quan thạo ba thứ tiếng được giao nhiệm vụ dịch các tài liệu chính thức. Theo Bandon cho hay, các viên quan đó đã cố rèn giũa các “công cụ” ngôn ngữ mới trong tiếng Việt để dịch cho có hiệu quả, các công cụ phái sinh từ tiếng Hán hoặc vay mượn từ tiếng Pháp. Vì vậy “... trong khuôn khổ ngôn ngữ và tư tưởng hệ được tạo nên bởi tiếng Pháp và tiếng Hán... tiếng Việt hiện đại đã phát triển. Sự tiến triển của văn học Pháp ngữ như vậy là đi kèm với sự tiến triển của tiếng Việt thay vì đối lập lại: tình hình mới đã được chú ý nhiều”. Năm 1912, các khoa thi đã có thêm phần tiếng Pháp và tiếng Việt, ngoài phần tiếng Hán vốn đã có từ xưa nay.

Việc truyền bá tiếng Pháp một cách có quy củ có thể thấy ngay khi mới bắt đầu áp đặt chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ, nơi các cơ quan hành chính thuộc địa và doanh nghiệp Pháp đang rất cần có các viên thông ngôn, thư ký, trợ lý. Nhân tố này gắn với việc một hệ thống trường Pháp-Việt dần dần được thành lập để đào tạo nguồn nhân công cần thiết và quảng bá việc dùng tiếng Pháp trên khắp vùng thuộc địa. Hệ thống đó không loại trừ ngôn ngữ và văn hoá bản xứ; ở cấp sơ học tiếng Việt được dùng như một trung gian giảng dạy. Sang các cấp tiếp theo tiếng Pháp được dùng ngày càng nhiều hơn.

Tiếng Pháp và tiếng Việt được sử dụng ngang bằng nhau trong lớp học, ít nhất là về mặt lý thuyết. Hệ thống này đã hỗ trợ cho việc đào tạo maitres locaux, các giáo viên người Việt dạy ở các trường bình thường của Việt Nam, những người có thể dạy được cả hai thứ tiếng. Việc xuất bản các sách giáo khoa, báo chí, ấn phẩm bằng tiếng Pháp do các nhà xuất bản ở Việt Nam tiến hành đã tăng thêm hiệu quả giáo dục. Thực tế, như Gail Paradise Kelly đã chỉ ra trong công trình nghiên cứu sâu sắc của bà về hệ thống trường Pháp-Việt thời kỳ giữa hai cuộc Thế chiến, phạm vi tiếng Pháp được dùng trong lớp học và được đưa vào chương trình giảng dạy thay đổi rất nhiều từ trường này sang trường khác. Nhìn chung, những sự khác nhau đó phản ánh và làm đậm thêm sự phân chia địa lý và giai cấp; tầng lớp khá giả về kinh tế ở thành thị cởi mở với tiếng Pháp - và có thái độ kỳ thị tiếng Việt - hơn lớp dân nghèo thôn quê.

Hệ thống trường Pháp-Việt thu nhận người học có chọn lọc, chỉ 10 phần trăm học sinh được nhận vào mỗi cấp, do đó tạo ra tầng lớp thượng lưu bản xứ mà người Pháp tìm kiếm để bổ sung vào các ngạch hành chính và dân sự cấp thấp. Ngược lại, các trường Pháp ở Việt Nam cho phép 90 phần trăm học sinh đã tốt nghiệp tiểu học được ghi tên vào trường lycée. Một tỷ lệ nhỏ học sinh trong các trường Pháp những năm giữa hai thế chiến là người Việt Nam.

Các hệ thống trường này được duy trì cho đến năm 1955 và đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và tăng cường hiện tượng song ngữ ở Đông Dương, mặc dù song ngữ chỉ giới hạn chủ yếu ở các viên chức dân sự và các nhân viên thương mại. Như Bandon chỉ ra, đây là một điều đáng chú ý, bởi vì tỷ lệ thấp của người Pháp so với người Việt Nam - năm 1936 ba mươi nghìn so với mười hai triệu. Vào thời ấy đã tính được là cứ mười người Việt Nam thì có một người song ngữ.

Hiện tượng song ngữ này được tạo nên chủ yếu bởi các trường Pháp-Việt, bởi việc đào tạo các giáo viên Việt Nam cho các trường đó và số lượng lớn ấn phẩm sách báo Pháp được in ra. Nhưng theo Bandon, tất cả các việc đó sẽ không có hiệu quả nếu như thiếu một đường lối chính trị thích hợp, mặc dù đã có hệ thống trường học đặc tuyển và riêng biệt, về phía Pháp và sự ưng thuận của một bộ phận dân chúng bản xứ. Các mục đích của hệ thống đó - khai thác kinh tế thuộc địa, phát triển nền hành chính thông qua việc nâng cao trình độ văn hoá của dân chúng, và đào tạo các nhân viên dân sự - minh hoạ cho sự thích hợp này. Đối với người Việt, giai cấp trung lưu có thể gửi con cái mình vào trường lycée để đổi lại lòng trung thành của họ, trong khi các giai cấp khác nhìn thấy các trường Pháp-Việt như một công cụ để leo lên trên bậc thang xã hội. Bandon kết luận:

Sự đoàn kết về mặt kinh tế và xã hội giữa chính quyền thuộc địa và giai cấp tư sản bản xứ đã bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của việc phổ biến tiếng Pháp ở Đông Dương. Điều hay là sự cố kết vững chắc đó đã giữ cho tình hình này được nguyên trạng cho đến năm 1950, ngay cả ở Bắc Việt Nam, dù đã có những biến động xảy ra bắt đầu từ 1945.

Việc người Việt nắm vững tiếng Pháp đã lát đường cho sự xuất hiện của văn học Pháp ngữ Việt Nam. Trong tám trang giới thiệu về phần Việt Nam trong bài Văn học viết bằng tiếng Pháp ở ngoài nước Pháp, Bùi Xuân Bào viết:

Các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của người Việt Nam, xét về số lượng và chất lượng, đã tạo nên một nền văn học có lý do tồn tại trong lòng cộng đồng dân tộc và có một địa vị xứng đáng trong lòng văn học thế giới. Là hiện thực Việt Nam, trong đó có sự nhập cuộc của số phận và tự do, sự chuyển động không thể đảo ngược của lịch sử và những nguyên cớ của hành động sáng tạo, văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp tiến triển trong bối cảnh của lịch sử Việt Nam.

Theo đó, ông chia lịch sử văn học Pháp ngữ ra bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn ứng với các sự kiện của lịch sử chính trị.

Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị, bắt đầu với việc đưa tiếng Pháp vào Việt Nam giữa thế kỷ XIX và kết thúc năm 1913, khi sáng tác văn học bằng tiếng Pháp của các tác giả người Việt Nam viết lần đầu tiên được công bố. Ông Bào ghi nhận rằng việc quan tâm học tiếng Pháp là nguyên nhân sâu xa của văn học Pháp ngữ Việt Nam; trước thời thuộc địa triều đình Huế và một số học giả đã quan tâm đặc biệt đến tiếng Pháp như một thứ tiếng ngoại giao và văn học. Năm 1862, chính quyền thuộc địa tuyên bố lấy tiếng Pháp làm trung gian ngôn ngữ cho hệ thống giáo dục mới, thúc đẩy sự chú ý đến cả tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Đối với một số người , tiếng Pháp thể hiện thứ văn học hiện đại, do đó nó thậm chí được coi trọng hơn bởi những người đề xướng cách tân các hình thức và cách diễn đạt văn học. Hai nhà văn được biết đến như những người Việt Nam đầu tiên tích cực dùng chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, cũng thuộc số những nhà văn Việt Nam đầu tiên dùng tiếng Pháp. Những tác phẩm đầu tiên bằng Pháp văn xuất hiện năm 1913: tập thơ Mes heures perdues (Những giờ khắc đã mất của tôi) của Nguyễn Văn Xiêm và tập Conte et légendes du pays d’Annam (Truyện cổ và truyền thuyết xứ An Nam) của Lê Văn Phát.

Tiếp đến là giai đoạn phát triển văn học trong bối cảnh thuộc địa kéo dài tới năm 1940, khi quân Nhật tràn vào. Phần lớn các nhà văn đều là song ngữ và coi sứ mệnh văn chương của mình là bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc. Tác phẩm độc đáo đủ mọi thể loại xuất hiện vào thời gian này. Các bài tiểu luận và phê bình bộc lộ sự uyên bác và chín muồi về trí tuệ đến mức, theo ông Bào, có thể đọ được về mặt “khoa học... độc đáo... với các học giả Pháp”. Phạm Quỳnh đăng các bài tiểu luận về văn học và văn hoá; Nguyễn Mạnh Tường và Trần Văn Tùng đi sâu vào suy tư của thế hệ này trong rất nhiều bài viết về phản ứng của họ khi ở Pháp và từ Pháp về. Loại văn học tự thuật và du ký xuất hiện, một trong những tiểu thuyết đầu tiên thuộc loại này là cuốn Le roman de Mademoiselle Lys (Truyện cô Huệ) của Nguyễn Phan Long in năm 1921. Cũng tác giả này theo bước Lê Văn Phát trong tập truyện cổ Cannibales par persuasion (Chuyện ăn thịt người ). Trương Đình Tri cộng tác với Albert de Teneuile viết cuốn tiểu thuyết Bà Đầm in năm 1930. Nguyễn Tiến Lãng thể hiện tài năng của mình trong các bài tiểu luận, biên niên và dịch thuật.

Trong những năm 1930, một số nhà thơ có tác phẩm xuất bản: Nguyễn Vỹ, Premières Poésies (Những bài thơ đầu tiên) và Bạch Nga; Nguyễn Văn Yêm, Chansons pour elle (Những bài ca dâng nàng); Phạm Văn Ký, Une Voix sur la voie (Giọng nói trên đường); và Pierre Đỗ Đình nổi tiếng, với bài thơ dài Le Grand Tranquille (Niềm thanh thản lớn, 1937) thể hiện cuộc vật lộn bên trong của một người Việt cải sang đạo Cơ đốc. Vi Huyền Đắc, người đã nổi tiếng với các vở kịch của mình, xuất bản tập Eternels regrets (Nỗi luyến tiếc khôn nguôi) năm 1938, tác phẩm đã mang lại cho ông Bằng Đại Danh Dự hạng nhất với lời khen tặng từ Ban giám khảo Cuộc thi mùa đông 1936-37 của Viện Hàn lâm Jeux Floraux de Nice. Những khác biệt về thế hệ và học vấn và những nỗ lực sáng tạo được bộc lộ trong các ấn phẩm tập thể của nhóm “Trách nhiệm” ở Huế và báo trước những sự xung đột công khai của giai đoạn này đối với giai đoạn sau.

Giai đoạn thứ ba từ 1940 đến 1945 được đánh dấu bởi biến động chính trị và xung đột vũ trang. Trong Thế chiến II, Việt Nam bị ách thống trị của đế quốc Nhật Bản thông qua các cấu trúc chính quyền của thực dân Pháp, tạo nên tình thế “một cổ hai tròng”. Sau chiến tranh, những người Cộng Sản lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà giai đoạn đầu kết thúc với sự đại bại của Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và với sự chia cắt đất nước. Thậm chí dù cho Việt Nam là quốc gia bị bao vây trong thời gian này, phần lớn các tác phẩm văn học viết ra cũng không phản ánh chủ đề nhạy cảm nhất đó.

Trong thời kỳ Pháp-Nhật chiếm đóng, hai chiến dịch tuyên truyền đã được phát động. Pháp muốn biến Việt Nam thành một bộ phận trong khối Liên Hiệp Pháp trong khi Nhật muốn tập hợp tất cả các nước vùng Viễn Đông dưới quyền lực của nó để đối lại với phương Tây. Các hoàn cảnh đó đã thúc đẩy chủ nghĩa quốc gia mới nẩy lên ở Việt Nam tìm cách quay về nguồn, không chỉ nhằm vào người Việt ở trong nước, mà đến cả những người Việt sống ở Pháp. Theo nguồn mạch này, các sách tiểu luận và biên khảo về văn hoá và lịch sử Việt Nam như La Civilisation annamite (Văn minh Annam) và Le Culte des immortelles en Annam (Tục thờ cúng tổ tiên ở Annam) của Nguyễn Văn Huyên, cả hai cuốn đều ra năm 1944, có tầm quan trọng hàng đầu. Do đó không có gì là ngạc nhiên khi các tập truyện cổ Việt Nam xuất hiện: Trịnh Thục Oanh cộng tác với Marguerite viết La Tortue d’or (Rùa vàng); Trần Văn Tùng, Le Coeur de diamant (Trái tim kim cương); và Phạm Duy Khiêm, Légendes des terres sereines (Truyền thuyết xứ sở thanh bình) và La Jeune Femme de Nam Xương (Thiếu phụ Nam Xương). Cuốn Légendes des terres sereines (1942) đã mang lại Giải thưởng Đông Dương cho tác giả của nó. Ông Khiêm cũng đã ghi lại quãng đời binh nghiệp của mình trong cuốn De Hanoi à La Courtine (Từ Hà Nội đến Cuốctin) về sau được xuất bản ở Pháp với nhan đề La Place de l’homme (Chỗ đứng của một con người ). Tài năng thơ ca của Trần Văn Tùng và Phạm Văn Ký được khẳng định trong các tập Muses de Paris (Suy tưởng Paris) và Fleur de jade (Hoa ngọc). Hoàng Xuân Nhị củng cố sự về nguồn bằng cách phóng tác ra tiếng Pháp hai tác phẩm cổ điển Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều.

Cuộc chiến tranh giành độc lập lần thứ nhất (1946-54) không ngăn cản việc công bố của văn học Pháp ngữ. Nguyễn Tiến Lãng khẳng định chủ nghĩa quốc gia riêng của mình trong cuốn tiểu thuyết Chúng tôi đã lựa chọn tình yêu in nhiều kỳ trên báo Pháp-á (1952), về sau tập hợp lại in thành sách nhan đề Les Chemins de la révolte (Những con đường nổi loạn). Phạm Văn Ký tiếp tục tiền lệ của các nhà văn đi trước trong tập truyền thuyết của mình L’Homme de nulle part (Người vô gia cư, 1946); cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Frères de sang (Anh em chung dòng máu) ra vào năm sau. Trần Văn Tùng tiếp tục viết về văn hoá Việt Nam trong khi nhà thơ Pierre Đỗ Đình quay sang phê bình văn học trong tuyển tập Les Plus Beaux Ecrits de L’Union Francaise et du Maghreb (Những tác phẩm xuất sắc của khối Liên hiệp Pháp và Maghreb). Bùi Xuân Bào cho rằng động lực ẩn sau văn học giai đoạn này là lòng yêu nước hừng hực, bất chấp thực tế chính trị ra sao, tình cảm này được diễn tả trong bài thơ Từ ngữ của Cung Giũ Nguyên đăng trên tờ Pháp-á năm 1948.
Sau năm 1954 Việt Nam bị chia làm hai miền. Việc kết thúc thời kỳ thuộc địa Pháp không làm suy yếu tầm quan trọng của tiếng Pháp, tuy nhiên bây giờ nó đứng ở vị trí thứ hai sau tiếng Việt với tư cách một phương tiện diễn đạt văn học và một “công cụ của sự tiến bộ”.

Ông Bào nhận định văn học giai đoạn thứ tư là “đi tìm kiếm tính dân tộc và tính phổ quát”. Hai nhà văn tiêu biểu nhất giai đoạn này là Phạm Duy Khiêm và Phạm Văn Ký. Cuốn tiểu thuyết của ông Khiêm, Nam et Sylvie (Nam và Sylvi, 1957) đã mang lại cho ông giải thưởng Louis Barthou của Viện hàn lâm Pháp. Các tiểu thuyết của ông Ký - Les Yeux courroucée (Đôi mắt nổi giận, 1958), Les Contemporains (Thời hiện đại, 1959) và cuốn được giải thưởng Perde la demeure (Mất chốn nương thân, 1961) - cho thấy sự phổ quát hoá của ông đối với cuộc xung đột Đông/Tây mà ông đã nêu ra lần đầu trong cuốn Frères de sang.

Mặc dù phần lớn văn học được viết trong các cuộc chiến tranh trước không trực tiếp phản ánh hiện thực chính trị, tình trạng xung đột ở Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu sắc trên các tác phẩm giai đoạn này và được thể hiện theo những cách khác nhau. Tiểu thuyết Les Reflets de nos jours (Nghĩ về thời chúng ta, 1955) của Nguyễn Hữu Châu thương xót tình yêu và lý tưởng đã bị mất. Lý Thu Hồ ghi lại những thay đổi trong xã hội Việt Nam do chiến tranh gây nên trong các cuốn Printemps inachevé (Mùa xuân dang dở, 1962) và Au milieu du carrefour (Giữa ngã ba đường, 1969). Trong tập tiểu luận Volonté d’existence (ý chí sinh tồn, 1954) Cung Giũ Nguyên xem xét quá khứ và tương lai của quan hệ Pháp-Việt. Trong các tiểu thuyết của ông, cuốn Le Domaine maudit (Khu đất bị nguyền rủa, 1961) thể hiện hậu quả của sự xung đột các hệ tư tưởng chính trị đối với cá nhân, trong khi cuốn Le Fils de la baleine (Đứa con của cá voi, 1956) mô tả đời sống truyền thống ở một làng chài nhỏ và nhu cầu cần có sự thay đổi xã hội. Vi Huyền Đắc phân tích các nguyên nhân xung đột trong vở kịch Genghis-Khan (1972). Võ Long Tê đi sâu vào sự huyền bí của tình yêu trong các tập thơ: Lumière dans la nuit (ánh sáng trong đêm, 1966), Festin de noces (Tiệc cưới, 1966) và Symphonie orientale (Bản giao hưởng phương Đông, 1971). Các bài tiểu luận và phê bình giai đoạn này hướng về chiều sâu văn hoá Việt Nam. Bùi Xuân Bào kết luận rằng sự phát triển của văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt phụ thuộc lẫn nhau bởi phần lớn các nhà văn sử dụng cả hai ngữ; bởi tiếng Pháp vẫn được dùng như một phương tiện diễn đạt; và bởi việc dùng tiếng Pháp không còn là một sự lựa chọn riêng biệt mà chỉ là một phương tiện để tìm kiếm và mở rộng độc giả.

Việc lựa chọn viết bằng tiếng Pháp đã mang lại hiệu quả gì? Serge Gavronsky đã xem xét những sự ngầm ẩn ngôn ngữ của các tác giả không phải người Pháp viết bằng tiếng Pháp. Dùng thí dụ châu Phi, ông nhận thấy tiếng Pháp trở thành cái máy lọc đối với các tác giả Phi châu trong khi đồng thời nó áp đặt một hệ thống nguyên tắc mỹ học lên các nhà văn: “Đó là định nghĩa về tiểu thuyết của Pháp mà ông ta [tác giả Phi châu] phải tuân theo; đó là cách lý giải định nghĩa bi kịch cổ điển của Pháp mà ông ta phải hoặc chấp nhận hoặc chối bỏ; đó là việc thực hành luật thơ Pháp mà ông ta phải làm theo”. Nói tóm lại, các tác giả này bị buộc phải lựa chọn sự biến dạng văn hoá mà tính mơ hồ của nó là điều hiển nhiên.

Như vậy, nói rằng tiếng Pháp đã được lựa chọn bởi vì nó có nhiều sức hấp dẫn thì quả là đã đơn giản hoá vấn đề. Không ai có thể bàn cãi một thực tế là số người nói tiếng Pháp nhiều hơn nói tiếng Việt, do đó tự khắc tạo ra lớp công chúng tiềm tàng đông hơn. Chắc đây là một sự cân nhắc, dù có ý thức hay không, về phía các nhà văn Việt Nam đã lựa chọn viết bằng tiếng Pháp. Nguyễn Trần Huân lý giải: “Tiếng Pháp... là một ngôn ngữ dễ hiểu [hơn tiếng Hán], trong sáng hơn và có quy mô quốc tế”. Ông cũng tin chắc Hồ Chí Minh đã chọn tiếng Pháp thay cho tiếng Việt hay tiếng Hán là để nhằm cho các bài viết của mình được đọc rộng rãi hơn. Léopold Sédar Senghor, cựu tổng thống Senegal, cũng cảm thấy điều tương tự; đối với ông tiếng Pháp là thứ ngôn ngữ quốc tế trong sáng, phong phú, chính xác và nhiều sắc thái. Điều này hàm ý cho rằng, dù là sai lầm đến đâu, ngôn ngữ của kẻ đi áp bức có ưu thế hơn hẳn về mặt văn hoá và thẩm mỹ. Rằng các ngôn ngữ bản xứ của các dân tộc bị thuộc địa hoá là không có tính “quốc tế”, không trong sáng, phong phú, chính xác, và giàu sắc thái ý nghĩa. Bất chấp điều hiển nhiên tuy là đáng ngờ đó, người Việt sẽ vẫn tạo được bước quyết định dựa chỉ trên cơ sở này, vẫn đưa ra được các hàm ẩn chính trị và xã hội của nó. ở đây cần phải tìm những nguyên nhân khác.

Uy tín của ngôn ngữ như một tài liệu chứng minh tầm quan trọng của văn hoá Pháp trong sự tiến triển của tư tưởng và văn hoá phương Tây có thể là một yếu tố tác động mạnh. Chắc chắn những người Việt có khả năng viết tiếng Pháp thông thạo là đã có học ở trường và đã đạt được trình độ mà hệ thống giáo dục quy định của Pháp quảng bá hoặc là về mặt trí tuệ đã bị chinh phục bởi cái mà Gavronsky gọi là “tác động quyền uy của văn hoá Pháp”. Theo hướng này, Kelly cho rằng hệ thống trường Pháp-Việt chính là một thứ công cụ điều hành về mặt chính trị-xã hội, bởi vì người Pháp quyết định chương trình giảng dạy nhằm tạo ra sự lệ thuộc về kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị. So với chương trình của các trường dành cho người Pháp, chương trình ở các trường Pháp-Việt giảm nhẹ hơn, thu hẹp hơn, đơn giản hơn. Sự đánh giá về văn hoá bản xứ qua các quan điểm của giáo viên và trong nội dung chương trình là một sự thách thức nền giáo dục cổ truyền Việt Nam bên trong đơn vị gia đình và đưa ra một thông điệp hết sức rõ ràng rằng nền văn hoá Việt không thích ứng được với hiện đại, công nghệ, tiến bộ. Những sự khác biệt về khu vực và giai cấp quy định phạm vi phản ứng của các sinh viên đối với các quan điểm đó. Phần lớn người Việt không chạy theo “sự tấn công vào truyền thống của họ vì cho nó là thô thiển, mục nát và thiếu sự thích ứng”. Tuy nhiên, tầng lớp tư sản thành thị, nơi xuất thân của các nhà lãnh đạo tương lai, thì đồng tình với việc đó. Còn con em tầng lớp trung lưu thành thị được đào tạo để vứt bỏ truyền thống và chấp nhận việc tách khỏi khung cảnh văn hoá Việt Nam, không chỉ ở các thứ tiếng chúng học mà còn ở các quan điểm về văn hoá và hệ quy chiếu đối với tri thức và quyền lực. Hệ quy chiếu trong chương trình là Pháp với ngôn ngữ và văn hoá của nó. Chương trình đào tạo lớp người cho tương lai chỉ dựa vào mô hình Pháp và công khai cho biết rằng không có mô hình nào khác... Hiện đại hoá, tri thức, văn hoá, khoa học - tất cả đều là từ ngoài đến, không phải của Việt Nam.

Việc người Việt coi trọng học vấn, tri thức chắc chắn đã tạo ra ý muốn học chương trình đã được giảm nhẹ của hệ thống trường Pháp-Việt. Nguyễn Phan Long đã truyền đạt lại ý muốn đó, nói lên cái tình trạng nước đôi văn hoá và sức hấp dẫn của những điều Pháp đưa lại qua đoạn văn sau trong cuốn Indochine la douce (Đông Dương ngọt ngào) của ông.

Người Pháp đọc một người Annam đã chọn cách thể hiện mình bằng thứ tiếng của Racine và Voltaire thường không hay biết rằng nhà văn đó không phải bao giờ cũng mới tốt nghiệp các trường đại học ở chính quốc, tự hào với những nét tinh tế vùng Địa Trung Hải, sung sướng viết được những câu văn cân đối. Không, đó thường chỉ đơn giản là một người “tự học”, một đầu óc bị ám ảnh bởi con quỷ của nó. Đó là một tâm hồn tuyệt đối cần được thổ lộ ra, và nếu nó chọn một thứ tiếng không phải là tiếng mẹ đẻ của nó, thì chao ôi đó là vì tận trong sâu thẳm những cảm hứng của mình nó cảm thấy gần gũi với những người nói thứ tiếng đó hơn với những người cùng chung dòng máu với mình. Nhưng dòng máu đó ràng buộc, níu kéo, ra lệnh cho nó. Bị giằng xé tứ bề, nó lâm vào cảnh nhục nhã không còn được gần gũi những cái lôi cuốn nó, cũng không thoát được những cái nó tin là có thể chạy trốn nhưng vẫn tiếp tục yêu mến. Giới phê bình đổ lên đầu nó, thậm chí thường khi những lời khen ngợi nó tiếp nhận được lại đi kèm với những lời khuyên răn đừng nên chạy theo cái không thể được. Nó nên từ bỏ hay nên tự bằng lòng với danh tiếng chỉ khoanh lại trong khu vực địa phương? Nhưng đây có phải là chuyện danh tiếng không? Không, đây là một chuyện hoàn toàn khác. Đây là một cú lao mình không thể kìm lại được, một cú lao mình giống như tình yêu vậy.

ý muốn tự biểu hiện bằng tiếng Pháp phản ánh một xu hướng chung tìm kiếm những hình thức hiện đại cách tân - như tiểu thuyết trong văn học - mà Việt Nam không có. Hướng tới tương lai, những người Việt Nam có học muốn cắt đứt với cái họ coi là di sản văn hoá vô dụng trong xã hội công nghiệp hiện đại. Điều nghịch lý là những tác phẩm viết bằng thứ ngôn ngữ khác lại không bị coi là xa lạ, không gây sợ hãi, vẫn được xem như di sản văn hoá cùng loại. Như chúng ta sẽ thấy, vào thế kỷ hai mươi giới thượng lưu văn hoá vẫn tiếp tục viết bằng tiếng Hán hơn là tiếng Việt. Vậy là trong giới trí thức, việc sáng tạo bằng một thứ tiếng khác là một chuyện hoàn toàn bình thường, giống như các nhà nho bắt chước thời cổ. Việc dùng tiếng Pháp hơn tiếng Hán chỉ là một biến thể của một đề tài quen thuộc từ xưa.

Một cách giải thích khác cho việc viết bằng Pháp văn liên quan nhiều hơn đến sự “bảo vệ và minh hoạ văn hoá Việt Nam” mà ông Bào đã sớm nêu lên. Người Việt là dân tộc bị thuộc địa hoá, là công dân hạng hai trong đất nước riêng của mình. Họ phải bị đương đầu với một nền văn minh khác mình, nền văn minh công nghiệp hoá, bị buộc phải chấp nhận nó. Cái mission civilisatrice (sứ mạng khai hoá văn minh) với tư cách một chính sách thuộc địa rốt cuộc đã gây nên cho người Việt cảm giác về địa vị hết sức thấp kém của mình, đó là điều không còn phải nghi ngờ; thêm nữa, người Pháp đến Việt Nam và đánh bại đội quân bản xứ hoàn toàn dễ dàng với các thứ vũ khí tối tân của họ. Xu hướng văn hoá Pháp-chống-Việt được thể hiện trong đường lối giáo dục thuộc địa như một bộ phận của những mục tiêu rộng lớn hơn của chủ nghĩa thực dân càng khẳng định ấn tượng ban đầu về sự ưu việt này. Các nhà văn Pháp ngữ Việt Nam, như vậy, đã lấy một trong các thứ “vũ khí” của kẻ đi áp bức - ngôn ngữ của chúng - làm công cụ tự vệ cho mình. Nhưng, như Nguyễn Tiến Lãng đã chỉ ra, việc này đi kèm với một cảm giác xáo trộn, một thế lưỡng phân thể hiện ngay trong địa vị của tiếng Pháp ở Việt Nam mà Thượng Vương-Riddick đã quan sát thấy: “Là biểu tượng của tình trạng nô lệ nhưng lại là công cụ cách mạng, tiếng Pháp vì vậy đã giữ một trạng thái nước đôi, nó cho thấy phần nào tấn kịch mà các nhà văn Pháp ngữ Việt Nam phải trải qua”.

Khi chữ quốc ngữ được dùng như một thứ vũ khí chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, việc dùng tiếng Pháp có thể xem như một công cụ chiến đấu với ưu thế Pháp từ bên trong, một công cụ giáo dục và thuyết phục người Pháp, ở thuộc địa cũng như chính quốc, về phẩm chất và nền tảng vững vàng của cả dân tộc và văn hoá Việt Nam. Trong phạm vi này, tiếng nói Pháp trở thành một phương tiện giải phóng. Và, mặc dù trong cuộc chiến đấu đó sự biến dạng văn hoá là điều không thể tránh khỏi, các tác giả Pháp ngữ này ở chừng mực nhất định đã tái tạo lại tiếng Pháp và cùng với nó là các quan niệm thẩm mỹ văn học.

Maurice Piron, khi xem xét vốn từ Francophone, đã phân loại những cấp độ từ vựng khác nhau được đưa vào tiếng Pháp khi nó được dùng ở ngoài Pháp: lớp từ cổ, lớp từ mới (sự tạo ra các cái biểu đạt/cái được biểu đạt mới hoặc chỉ cái được biểu đạt mới, và thêm vào hay mở rộng nghĩa), lớp “phương ngữ” (những hình thức sao chép từ khẩu ngữ bản địa sau khi đã biến đổi âm vị cho thích hợp), và lớp từ vay mượn (những hình thức từ các ngôn ngữ lân cận). Lấy thí dụ cái mà Pirron gọi là “từ mới”, khi một tác giả Việt Nam viết bằng tiếng Pháp, một hệ đo quy chiếu mới - có tính thuộc địa hay tính xứ lạ đối với độc giả Pháp, tính bản xứ hay tính quen thuộc đối với người Việt đọc văn học Pháp ngữ của nước mình - là thêm vào tiếng Pháp những yếu tố từ vựng, mở rộng các trường ngữ nghĩa liên tưởng. Việc chêm các từ Việt vào văn bản tiếng Pháp làm phong phú thêm văn bản đó cũng có hiệu quả bao trùm như vậy. Tương tự, các diễn ngôn Francophone mang nội dung chính trị sẽ được, như Gavronsky nêu lên trong khi phân tích tác phẩm của Aimé Césaire, xác định kép bởi cái được biểu đạt không Pháp (nghĩa của từ) - và cái biểu đạt Pháp (bản thân từ đó). Đồng thời, giới hạn thẩm mỹ được áp đặt ở đây còn mở rộng bao trùm các sáng tạo lai của hai nền văn hoá. Các bộ lọc ngôn ngữ và văn hoá tự thay đổi theo quá trình và sản phẩm của sự sáng tạo văn học.

Sau cùng, khi được hỏi thẳng vì sao một số người Việt Nam lại lựa chọn viết bằng tiếng Pháp, Nguyễn Trần Huân trả lời là các nhà văn đó muốn chứng tỏ họ là những người nhạy cảm, thông minh, duy lý, có năng khiếu - tóm lại, là người “văn minh”. Câu trả lời phù hợp với đối tượng mà loại văn học này hướng đến - các kiều dân, các nhà cai trị, người Pháp. Quả vậy, ở một chỗ khác ông Huân viết “Khát vọng của người Việt Nam tự thể hiện mình qua tiếng Pháp... trước hết là do ý muốn được mọi người hiểu, đặc biệt là người Pháp”. Bằng chứng trên văn bản của tư tưởng này có thể nhận thấy nhiều trong chính các tiểu thuyết.

Như có thể thấy, một trong những cuốn tiểu thuyết Pháp ngữ Việt Nam được công bố sớm nhất, cuốn Le Roman de Mademoiselle Lys (1921) của Nguyễn Phan Long, là một thí dụ cho thấy độc giả có khả năng là người Pháp nhiều hơn người Việt. Thực tế, cuốn tiểu thuyết này là một bản tóm tắt các phương pháp giảng giải nhằm làm sáng tỏ những điểm về văn hoá cho độc giả không phải người Việt, những điểm không cần phải giải thích nếu cuốn sách được viết dành cho công chúng độc giả Việt Nam.

Các từ Việt Nam đôi khi được định nghĩa ngay trong văn bản tiểu thuyết: “une assiette de đường phổi, cassonade en tablettes qui passe pour être fort appréciée” (tr.29); “le Đốc-phủ, délégué administratif de la circonscription” (tr.33); hoặc dưới hình thức đảo: “un grand tambour, le trống-chầu” (tr.47). Lời dịch cũng được đưa ra ở chú thích. Chẳng hạn một câu tục ngữ Việt Nam được dịch ra ngoài văn bản, đặt ở chú thích (tr.66). Các chú thích trong văn bản này cũng có chức năng là diễn giải, soi sáng hoặc đưa thêm thông tin. Sự thay thế từ vựng đôi khi cũng được dùng như phương tiện để chỉ nghĩa từ; bốn dòng sau câu “Buvez, Monsieur, cette coupe d’alcool” là câu “Le père vide le petit verre de chum-chum” (tr.53).

Thường văn cảnh trong cuốn tiểu thuyết của ông Long giúp độc giả xác định được nghĩa của cái từ Việt được dùng. Để diễn tả cảm giác do dự của mình trước việc lựa chọn món ăn trong bữa cơm, Hải - người kể chuyện trong vai một nhà báo, viết “les đũa [sic] hésitaient entre mes doigts” (tr.56), ở đây người ta có thể đoán ra từ đũa của tiếng Việt là chỉ một thứ dụng cụ bằng que dùng để ăn cơm. Nhắc lại chuyến thăm nhà bạn nhân ngày Tết, Hải viết “Notre auto marche à vive allure et nous dépose devant les cai nhàs, d’où nous ressortons presque aussitôt” (tr.36); khi được dùng theo cách này, dễ đoán ra nghĩa của cai nha là gì.

Những đoạn giảng giải văn hoá cũng có nhiều trong cuốn Le Roman de Mademoiselle Lys. ở một chỗ người kể chuyện viết “Le serpent polycéphale est un motif décoratif aussi commun dans l’architecture cambodgienne que le dragon dans l’architecture chinoise, d’où dérive la nôtre” (Con rắn nhiều đầu là một môtíp trang trí chung trong kiến trúc Campuchia cũng như con rồng trong kiến trúc Trung Hoa, từ đó truyền sang ta, tr.226-27). Trong đoạn này người kể chuyện đã tạo ra một sự gián cách giữa bản thân và độc giả bằng cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều, củng cố tri giác xem độc giả như là những người ngoài.

Hình thức nhật ký của tiểu thuyết này cho phép giảng giải các phong tục thông qua việc người kể chuyện ghi lại các cảm xúc, phản ứng, ký ức của mình: “Le Tet s’est bien passé. Trois jours durant, notamment pendant les deux premiers, notre maison a été envahie par une foule sans cesse renouvelée. J’ai été étourdie par le crépitement des pétards, les bavardages et les rires” (tr.32), (Tết đã trôi qua. Suốt ba ngày, nhất là trong hai ngày đầu, nhà tôi tràn ngập những đoàn người kéo đến chúc Tết. Tôi ngây ngất, choáng váng trong tiếng ồn ào chúc tụng, cười nói). Người kể chuyện tiếp tục ghi lại phong tục mừng Tết, việc người đến xông đất đầu tiên sẽ mang lại phúc (hay họa) cho cả một năm, v.v... Sau đó câu hỏi tu từ của Hải (người kể chuyện) soi sáng thêm các chi tiết văn hoá khác: “Qui se douterait que le blanc virginal et candide est révolutionnaire en ce pays... en matière de cartes de visite, et qu’il éffarouche les bourgeois timorés qui le prescrivent comme étant la couler du deuil?” (tr.36), (Ai có thể ngờ rằng cái màu trắng trinh bạch, ngây thơ ấy đã gây nên một cuộc cách mạng ở xứ này... về mặt danh thiếp và rằng nó đã làm choáng váng tầng lớp tư sản sợ sệt, những người xem nó như là màu tang tóc?).

Bằng chứng cho thấy độc giả được mong chờ của cuốn tiểu thuyết đặc biệt này là từ phương Tây lộ rõ qua những so sánh được dùng như những lời giải thích: “Phoebé, la belle Hang Nga” (tr.215), (Phoebe, nàng Hằng Nga); và “Baion, le Westminster de la grande métropole” (tr.243), (Baion, một thứ Westminster của đại chính quốc). Đặc biệt hơn, những sự so sánh khác gần gũi ngầm với văn hoá Pháp: “le capitaine Do Huu Vi, notre Guynemer” (tr.373), (đại uý Đỗ Hữu Vị, một Guynemer của chúng ta); và “l’astucieux Không Minh, le Richelieu de Luu Bi [une pièce de théâtre vietnamienne], profond politique et quelque peu magicien” (tr.44), (quân sư Khổng Minh, một Richelieu của Lưu Bị [trong một vở tuồng Việt Nam] là nhà chính trị sâu sắc và là người có pháp thuật).

Cuối cùng, ý đồ của Nguyễn Phan Long còn thể hiện ở lời đề tặng: “A M.Maurice Long [,] Député de la Drome [,] Gouverneur Général de l’Indochine [,] je dédie ce livre en témoignage de respectueuse sympathie et avec l’espoir que mon oeuvre modeste contribuera à lui faire mieux connaitre et aimer le peuple aux destinées duquel il préside” (tr.3), (Tôi dâng tặng cuốn sách này cho ngài M.Maurice Long, Nghị sĩ xứ Drome, Toàn quyền Đông Dương, với lòng kính trọng sâu sắc và hy vọng rằng tác phẩm nhỏ bé này của tôi sẽ giúp ngài hiểu biết và yêu mến hơn nữa đối với một dân tộc đã được giao phó vào tay ngài”.

Những kỹ thuật diễn giải về mặt từ vựng và văn hoá như thế này cũng thấy có trong các tiểu thuyết khác, điều đó chứng tỏ rằng các tiểu thuyết Pháp ngữ Việt nNam được viết ra để cho người Pháp đọc. Việc dịch nghĩa từ vựng ngay trong văn bản là phổ biến chung ở nhiều tác phẩm: “Dehors! Ra!” (tr.39); “Rentrez! Vô!” (tr.43); “la Police Secrète, la Trinh Sat” (tr.67) trong cuốn Les Chemins de la révolte của Nguyễn Tiến Lãng; “un certain vermicelle arrosé de bouillon... nommé cà-cuông” trong cuốn Bà Đầm của Trương Đình Tri và Albert de Teneuille; “Le choum-choum, alcool de riz” trong cuốn Frères de sang của Phạm Văn Ký; “la vieille notion du quân-tu” trong cuốn La Place d’un hommei của Phạm Duy Khiêm, một đoạn giải thích dài trong bức thư của nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất gửi cho một người Việt Nam; “[le] Temple Dôc-Cuoc, littéralement: Temple dédie au génie Unijambe” trong cuốn Vingt Ans của Nguyễn Đức Giang; và “Têt”, notre Jour de l’An” trong cuốn Nam et Sylvie của Phạm Duy Khiêm.

Những vốn từ tương tự cũng có trong các tiểu thuyết của Lý Thu Hồ: “J’ai du bon ‘chao’ aujourd’hui car il y a un arrivage d’écrevisses toutes fraiches” (Au milieu du carrefour); “le ‘gio bac’, ce vent froid” (Printemps inachevé). Các dấu ngoặc kép cũng thường được dùng để dịch từ vựng ngay lập tức từ Việt sang Pháp hay ngược lại: “Bach-Yên (Hirondelle Blanche)” trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Trần Văn Tung; “sa petite soeur Ngoc (jade)” trong cuốn En s’écartant des ancêtres của Trịnh Thục Oanh và Marguerite Triaire.

Cách dịch ở chú thích cũng là một cách chung để giảng giải từ ngữ mới. Xin kể ra hai trong rất nhiều thí dụ: “Les cây vong” trong cuốn Les Reflets de nos jours của Nguyễn Hữu Châu được dịch là “Arbre tropical” (một thứ cây nhiệt đới) ở chú thích; và từ “chị” được dịch là “grande soeur, amie” (tr.36, 185) trong cuốn Vingt Ans.

Trong các tiểu thuyết khác, như Le Roman de mademoiselle Lys, văn cảnh đôi khi giúp hiểu nghĩa từ. ở câu “le boulevard ombragé de Co-Ngu” (tr.114) trong cuốn Bach-Yên, từ “ombragé” đi với từ “boulevard” cho biết “Co-Ngu” là đường có trồng cây. Trong cuốn Les Chemins de la révolte người kể chuyện nêu ra nghĩa từ congai trong câu: [L’enfant] était accouru... avec la petite congai qui le gardait” (tr.15) bằng cách tạo văn cảnh một cô gái giữ một đứa trẻ. Trong cuốn Bach-Yên Trần Văn Tung đôi khi lấy ngay câu dịch tiếng Pháp thay cho từ ngữ và tên gọi tiếng Việt, thí dụ: “Lac de l’Epée Restituée” (tr.50) thay cho “Hồ Hoàn Kiếm”. Tương tự, Cung Giũ Nguyên dùng “Nouvel An” thay cho “Tết” (Le Fils de la baleine) và “fête de la mi-automne” thay cho “tết trung thu” (Le Domaine maudit).

Một số tác giả dùng chú thích để giúp độc giả hiểu rõ đặc điểm văn hóa. Chẳng hạn, chú thích trong cuốn Les Reflets de nos jours lý giải những sự ám chỉ đến một truyền thuyết nổi tiếng của Việt Nam trong câu “Ce n’est pas l’amour qui devient cristal au fond des rivières” (tr.169). Trong cuốn Bà Đầm (tr.26) đoạn chú thích mang tính phê phán đối với đạo Cao Đài, một tôn giáo có khuynh hướng chính trị chống lại chế độ thuộc địa, là một cách tác giả muốn giành thiện cảm của độc giả Pháp. Cũng trong cuốn tiểu thuyết này còn có hai đoạn chú thích dài về việc làm gạo.

Để giải thích về bài vị dùng trong việc thờ cúng tổ tiên, người kể chuyện trong cuốn Heou-Tâm của Hoàng Xuân Nhị đã đưa ra ở chú thích một thủ pháp mà lần đầu tiên thấy xuất hiện ở cuốn Le Roman de Mademoiselle Lys. Chú thích viết “Cet objet de culte en bois laqué est très répandu dans nos pays. Il a vaguement la forme humaine et représente le défunt dont il porte le nom” (tr.42), (Vật thờ bằng gỗ sơn này rất phổ biến ở nước ta. Nó hơi giống hình người và dùng thay cho người quá cố mà nó mang tên). Việc dùng ngôi thứ nhất số nhiều tách người kể chuyện với độc giả, đặc biệt khi nó được dùng theo cách này để giải thích và làm sáng tỏ những nét văn hoá chung mà độc giả là người đứng ngoài thấy xa lạ. Ngôi thứ nhất số nhiều gián cách như vậy thấy rõ trong nhiều tác phẩm: Frères de sang (tr.51), La Place d’un homme (tr.17), Vingt Ans (tr.18 và 81), Nam et Sylvie (tr.136 và 242).

Có rất nhiều thông tin về văn hoá trong các tiểu thuyết. Trong cuốn Bach-Yên “Les deux ‘Soeurs Tring’ [sic] qui avaient chassé les Chinois hors de notre Royaume” (tr.180) nhắc đến hai nữ anh hùng dân tộc Việt Nam. Các câu ngắn cũng thường nhằm mục đích này: “[Le] plus grand des poètes annamites, Nguyên Du” (tr.18) trong Vingt Ans. hoặc “car le rouge porte bonheur” (tr.73) trong Bà-Đầm. Cuốn Frères de sang đầy thông tin như vậy. Tương tự, người kể chuyện trong Les Yeux courroucés đưa ra các chỉ dẫn về lịch sử và văn hoá, như Lý Thu Hồ đã làm. Trong cuốn Printemps inachevé của bà, các sự kiện cơ bản của lịch sử Việt Nam hiện ra như một phần của câu chuyện: “Le Viêt-Nam a été... pendant très longtemps, assujetti à la puissante et immense Chine, malgré une résistance continuelle et active, qui a donné à l’histoire les grand noms de Ngô-Quyên, de Lê-Loi et des héroines comme les soeurs Trung” (tr.38), (Suốt một thời kỳ dài, Việt Nam bị nước Trung Hoa hùng mạnh và rộng lớn đô hộ, mặc dù liên tục có những cuộc nổi dậy kiên cường đưa lại cho lịch sử những tên tuổi như Ngô Quyền, Lê Lợi và những nữ anh hùng như hai bà Trưng).

Cuối cùng, trong Frères de sang có những câu liên hệ đến văn hoá phương Tây càng củng cố giả thiết độc giả ở đây không phải là người Việt Nam: “les souvenirs, la sympathie - ce fil d’Ariane qui les reliait” (tr.68) (những kỷ niệm, mối thiện cảm - đó là sợi dây Arian thắt chặt họ lại với nhau); hoặc “Père hésita... devant un dilemme cornélien” (tr.139-40) (Người cha do dự... trước tình thế Cornélian). Tương tự, trong En s’écartant des ancêtres có chỗ bầu trời được mô tả là “ciel de Provence” (tr.253) (bầu trời xứ Provence). Và giống như lời đề tặng của Nguyễn Phan Long, lời tựa do Nguyễn Trần Huân viết cho cuốn Au milieu du carrefour của Lý Thu Hồ kể tên nước Pháp, như thế là ngầm chỉ độc giả hàng đầu là ai: “Puisse ce livre témoigner, en France et ailleurs...” (tr.8) (Cuốn sách này có thể là một bằng chứng, ở Pháp và những nơi khác...).

Mấy thí dụ nêu trên, rút ra từ rất nhiều trường hợp, cho thấy một thực tế là độc giả ngầm ẩn của các tiểu thuyết này ít ra cũng không phải là người Việt. Việc diễn giải các đặc điểm văn hoá chính và dịch các từ vựng chứng tỏ độc giả ngầm ẩn là một người khác, một người đứng ngoài văn hoá Việt Nam. Sẽ không phải là vô lý khi cho rằng độc giả đứng ngoài đó là người phương Tây. Xét hoàn cảnh chính trị ở Việt Nam khi xuất hiện các tiểu thuyết đó, nền tảng giáo dục và địa vị xã hội của các tác giả, trình độ sử dụng tiếng Pháp của họ, hoàn toàn có thể kết luận rằng những tác phẩm đó được viết nhằm đến công chúng độc giả Pháp. Thật vậy, cả Phạm Văn Ký và Phạm Duy Khiêm đều nêu rõ họ viết bằng tiếng Pháp vì chính những lý do đó. ý muốn viết để giáo dục, gây ảnh hưởng và sau hết là thuyết phục giới độc giả đó cũng rất rõ ràng.
NGÂN XUYÊN dịch từ tiếng Anh
theo sách: Jack A.Yeager. The Vietnamese Novel in French.
A Literary Response to Colonialism.
Published by university Press of New England,
Hanover and London, 1987 (tr.43-60).
« Sửa lần cuối: 25/02/2010, 22:51:59 gửi bởi Giấy gói xôi »
 

Ngủ rồi NL

Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #1 vào: 25/02/2010, 22:12:29 »
Phần văn học Pháp ngữ còn gần như trắng tinh trong văn học sử Việt Nam, rất mong các bác đóng góp và chỉ dẫn về tài liệu.

Ngay quyển sách của Yeager tuy được làm công phu nhưng chưa thể gọi là đầy đủ được, chủ yếu vẫn là thông qua những người nghiên cứu trước đó, nhất là Nguyễn Trần Huân.
 

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #2 vào: 26/02/2010, 11:11:18 »
Search được bài này trên mạng nhưng không rõ tác giả, thấy có nhắc đến nhiều tên tuổi Viết bằng Tiếng Pháp như: Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Tiến Lãng, Cung Giũ Nguyên, Hoàng Xuân Hãn, Phạm Văn Ký, Trần Văn Tùng, Lê Tài Triển, Nguyễn Đức Bính, Đào Đăng Vỹ, Vũ Đình Dy (tác-giả Souvenirs de Prison), Đinh Xuân Tiếu...


Dòng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam: Kỷ-niệm tản-mạn

Các nhà nghiên-cứu văn-học nói chung ít khi, hay thường không nhắc đến dòng văn-học Pháp-ngữ bởi vì một số không công-nhận văn-phẩm tiếng ngoại-quốc lại nằm trong văn-học nước nhà. Nếu có nói đến như trong Nguồn gốc văn học Việt Nam của Lê văn Siêu thì chỉ để mà dè-bỉu

Vấn-đề ấy là: Không kể vào văn-học sử nước nhà những tác-phẩm viết bằng chữ ngoại-quốc tức như chữ Hán, chữ Pháp...xét ở nội-dung thì ta thấy có chữ ngoại-quốc và chữ ngoại-quốc...
Người Pháp bắt dân ta học chữ Pháp (để dễ cai-trị)...Chữ Hán không do người Tầu đem qua đây bắt dân ta học để làm lợi-khí thống-trị (như chữ Pháp). Mà từ trước, từ lâu lắm, chữ Hán đã do người Bách-việt ở Dương-Tử mang về theo...Không thể cho là "cá mè một lứa" những văn-phẩm bằng chữ Hán ấy và những văn-phẩm viết bằng chữ Pháp bây-giờ


Trong Tổng tập Văn học Việt Nam, thấy có cái nhìn rộng-rãi hơn, đưa thí-dụ để nhận dòng văn-học ngoại-ngữ trong nền văn-học nước nhà; nhưng ngay sau đó lại có những nhận-định rất xu-nịnh nên ý sau đã hại cho ý trước

Việc dùng tiếng Pháp hay tiếng Anh để viết văn là một hiện-tượng không hiếm trong thế giới thứ ba ngày nay. Ở các nước Ấn-độ, Árập, châu Phi v.v..có các dòng văn-học viết bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Anh, và ở các nước ấy, người ta vẫn coi các tác-phẩm văn-học ấy như là thuộc nền văn-học dân-tộc. Ở nước ta, các tác-giả viết văn Pháp  không nhiều lắm. Nổi bật lên hàng đầu các tác-giả này là Nguyễn Ái Quốc (tr.204-5)

Tìm kỹ thì thấy có Nguyễn Vỹ, nhà báo, nhà văn và nhà thơ tiền-chiến, lúc về già, viết một thiên hồi-ký, mà ông đã gọi là "chứng-dẫn một thời-đại, của một người đã bước trong lịch-trình hăng-say của Thế-hệ Văn-học Cận-kim". Nhan-đề rộng-rãi: Văn-thi-sĩ tiền-chiến. Sau phần đầu dầy hai phần ba sách, giới-thiệu một số văn-thi-sĩ tác-giả đã gặp, 35 vị, phần hai dành 55 trang nói về văn-học Phá ?chứng-dẫn một thời-đại,

Khảo-cứu về dòng văn-học quốc-ngữ cũng như Pháp-ngữ, thường phải ghi-nhận vai-trò tiền-phong của báo-chí. Nguyễn Vỹ nhắc đến các báo định-kỳ hoàn-toàn Pháp-ngữ hay có một phần đáng kể viết bằng Pháp-ngữ: La Patrie Annamite do Phạm lê Bổng làm chủ-nhiệm và Tôn-thất Bình, chủ bút, L'Annam nouveau của Nguyễn văn Vĩnh, chủ-nhiệm kiêm chủ-bút, Nam-phong của PhạmQuỳnh, Le people, Le Misogyne, Gazette de Huế của Bùi huy Tín, chủ-nhiệm và Nguyễn tiến Lãng, chủ-bút, La Revue Franco-Annamite, Bạch-nga Le Cygne của chính Nguyễn Vỹ và Trương Tửu, Essor "mà chủ bút là một thiếu-nữ mới thi đỗ Tú-tài nhưng rất giỏi Pháp-văn, là cô Tâm Kính", L'Avenir "của người Pháp", L'Effort Indochinois của Vũ đình Dy, Le Travail và En Avant, "hai cơ quan chiến đấu, hoàn toàn do đảng Cộng sản điều khiển". Lại kể thêm các nhật-báo : L'avenir du Tonkin, La Volonté Indochinoise, France-Indochine, L'Indé-pendance Tonkinoise, L'Ami du Peuple Indochinois. Xem bảng liệt-kê thì thấy có vẻ phong-phú, nhưng trên thực-tế, thì khác. Có những báo do nhà cầm quyền điều-khiển, quá thân Pháp nên không được giới đọc hưởng-ứng và t, L’Annam nouveau bị dân chúng coi như những cơ quan ninh bợ chính quyền, và không gây được một ảnh hưởng nào đáng kể. Những tờ báo ấy cũng nói đến Văn học, Khoa học, tra-cứu Lịch-sử, Văn-hóa, v.v... và in trên giấy tốt, chữ đẹp, giá bán rẻ, nhưng ít người mua. Các báo khác có khi cũng chỉ ra ngắn hạn, như Le Misogyne in bằng mực tím...gây một không-khí mới lạ, linh động, trẻ trung, hay trêu ghẹo, bao biếm (sic) các cô "Tiểu thư tân thời"... chỉ ra được mấy số, rồi không hiểu vì lẽ gì tự nhiên đó ?Tiểu thư Hay báo Le Cygne-Bạch-nga ra được sáu số, rồi vì một bài xã-thuyết chính trị chống chính sách thuộc địa, N.V. bị 6 tháng tù, 1000 quan tiền phạt, và tờ báo bị Tòa án bắt đóng cửa luôn.

Sau phần báo-chí tiếng Pháp, Nguyễn Vỹ nhắc đến một số văn-sĩ Việt viết tiếng Pháp. Ba người tiêu-biểu là Phạm duy Khiêm, thạc-sĩ văn-phạm, Nguyễn mạnh Tường, tiến-sĩ văn-chương và luật và Nguyễn tiến Lãng. Hai người trên gọi là "Les retournés de France" (giới ở Pháp về) còn người thứ ba, tú-tài nội-địa nhưng đã được tiếng là viết văn Pháp hay. Phạm duy Khiêm có tác-phẩm nổi tiếng Légendes des Terres Sereines Nguyên Vỹ viết tôi khuyên ông nên dịch ra Việt-ngữ, ông cũng từ-chối sau họ Phạm được cử làm đại-sứ Việt-Nam tại Phá “Les retournés de France”

Phạm duy Khiêm, con trai của Phạm duy Tốn (một nhà văn học lão thành ở Bắc Hà), đã hoàn toàn bị chi-phối bởi Văn-học Pháp, không còn mốt chút thông cảm nào với văn hóa dân-tộc Việt Nam...Theo nhận xét thô sơ của tôi (Nguyễn Vỹ) thì văn của Ông Thạc sĩ Phạm duy Khiêm quả thật là lối văn cổ điển tuyệt tác, "lối văn Hàn-lâm-viện" không chê vào đâu được, nhưng không cảm-động, không hấp dẫn không làm xao xuyến tâm hồn người đọc, bởi vì nó thiếu cái chất mà chính tác giả nó thiếu: là nhựa sống của dòng mác, ?lối văn

Nguyễn mạnh Tường viết Sourires et Larmes dune jeunesse, Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Ông làm giáo-sư trung-học rồi bất-mãn, ra hành-nghề luật-sư. Nguyễn tiến Lãng là bí-thư của toàn-quyền Robin rồi chuyển sang làm bí-thư cho Nam-phương Hoàng-hậu, "tiến mau lẹ trên đường hoạn-lộ". Bị Việt-minh bắt giữ, ông thoát được rồi sang Pháp, tiếp-tục viết hồi-ký, Nous avons choisi l'amour.

Nguyễn tiến Lãng viết quyển L'indochine la Douce, một quyển phóng sự hồi ký..(và) còn là tác giả một truyện ngắn Euridyce. (Cuốn) Tôi chọn tình yêu... không còn hương vị thơ mộng hồn nhiên như trong các tác phẩm của anh hồi Tiền chiến... Thành thực, tôi (Nguyễn Vỹ) rất tiếc. Trước sự kiện một thanh-niên Việt Nam rất thông minh có thiên tài, có học thức sâu rộng biến thành một người gần như "mất cội rễ",- déraciné -, chúng ta không thể nào đổ lỗi cho nước Pháp, hoặc người Pháp, bởi vì nước Việt Nam đã độc lập rồi, không có gì ngăn cản người trí thức Việt Nam...trở lại vị-trí của mình giữa cộng đồng quốc gia, ở giữa dân tộc, dù rằng mình đã tiêm nhiễm khá nhiều văn hóa Âu tâ viết

Một người cũng từ Pháp về được Nguyễn Vỹ cao giọng ngợi khen là Hoàng xuân Hãn, "học giả chân chính, theo đuổi một mục đích tốt đn,"

Hoàng xuân Hãn biết đem sở trường và thiện chí văn hóa của ông mà phụng sự thiết thực cho Văn học nước nhà. Ông tra cứu tài liệu để viết vài ba quyển sách có ích-lợi cho học vấn, cho sự bồi bổ giá trị tinh thần của dân tộc.

Nguyễn Vỹ kể tiếp các văn-sĩ khác, phần lớn bắt đầu viết ở các báo trước. Phạm văn Ký "viết thơ nhiều hơn là văn", cuốn thơ Une voix sur la voie có tính-cách thơ "huyền-bí"?

Chúng ta phải công nhận rằng trên địa-hạt Thi-văn Việt Nam, Phạm văn Kỷ là tiền phong và đại diện độc đáo của Thi-phái Siêu-thực (Surrealisme) ảnh hưởng của Pháp, giữa lúc Thi ca Việt ngữ mới bắt đầu thoát ra khỏi Thơ Đường-luật và áp dụng cú pháp Âu tây, mà người ta gọi là THƠ MỚI.


Trần văn Tùng, sinh-viên cao-đẳng luật-khoa Hà-nội, thường đăng bài trong L' Annam nouveau, sau sang Pháp "ở luôn bên đó, chuyên viết về Pháp-văi"

Một vài quyển của anh vừa mới xuất bản ở Paris dạo này chứng tỏ rằng nhà văn Việt Nam có chân tài ấy hiện giờ không còn thông cảm được nữa với các biến đổi rõ rệt và toàn diện của dân tộc Việt nam từ 20 năm nay.


Cung-giũ-Nguyên, (Nguyễn Vỹ hay viết là Cung giũ Nguyên), hồi tiến-chiến, "chủ-trương một tập-san văn-nghệ bằng Pháp-văn, nhan-đề là Les Cahiers de la Jeunesse", sau này viết cuốn sách cũng nổi tiếng , Les fils de la baleine.

Pháp-văn của ông rất thanh-thoát và gọn-gàng. Ông có một nét bút linh-động uyển chuyển, vô cùng hấp dẫn. Ông kể chuyện duyên dáng về đời sống chất phác, dịu hiền rất đáng mến của một gia đình thuyền chài ở một làng duyên hải Trung phần Việt Nam. Tôi (người viết Nguyễn Vỹ) chắc rằng đốc-giả Pháp đã thưởng thức lối văn rất thi vị nhẹ nhàng và thanh thú của chuyện (Người con của Cá Ông)

Nguyễn Vỹ cũng nhắc qua, mà không nói nhiều, về một số người viết trên các báo như Lê tài Triển, Nguyễn đức Bính, Đào đăng Vỹ trong La Patrie Annamite, Vũ đình Dy (tác-giả Souvenirs de Prison), Đinh xuân Tiếu trong L'Effort Indo-chinois, Lê Thăng trong L'Annam Nouveau...

Chúng tôi ghi chép và trích dẫn nhiều các lời phê-bình của Nguyễn Vỹ như là để cống-hiến một số tài-liệu. Đấy là những nhận xét chủ-quan, dựa vào trí nhớ của một nhà văn-thi-sĩ, có sống qua thời-đại đó. Những nhận-xét có phần chủ-quan, chỉ muốn thấy các văn-sĩ phải trở lại viết Việt-ngữ, và các tác-phẩm phải có mục-đích ích-lợi và phải có "cái nhựa sống của dòng má “cái nhựa Nam".

Công việc của Nguyễn Vỹ không có tích-cách khai-phá như việc làm của các nhà phê-bình Vũ ngọc Phan và Hoài Thanh. Hai vị này cũng viết về các văn-thi-sĩ cùng thời, rồi phân-loại và sắp-xếp. Công việc dĩ nhiên là khó vì chưa có ai làm; lại khó hơn vì thời-gian quá gần, các giá-trị chưa được rõ-rệt. Họ đặt những tiêu-chuẩn ta có thể không đồng ý, nhưng trong hệ-thống tiêu-chuẩn đó, họ cố-gắng công-bình và vô-tư. Nguyễn Vỹ, trái lại, kể-lể lại các kỷ-niệm tản-mạn với một số văn-sĩ mà họ Nguyễn đã gặp, không cần tìm-hiểu những người ông chưa biết: thành ra công-việc không có chiều rộng. Cái kinh-nghiệm cá-nhân mang nặng chủ-quan, lan-man ra nhiều chuyện sầm-xì không liên-hệ đến văn-học: thành ra thiếu chiều sâu. Lại còn bị ảnh-hưởng tình-hình chính-trị nặng về tinh-thần dân-tộc, chống lại Pháp. Họ Nguyễn gặp người viết Pháp-ngữ, hỏi tại sao không viết tiếng mình; rồi tiếc hùi-hụi. Gặp chuyện người ta viết hay, ông níu-kéo: "sao khôo: “sao không dịch ra"

Sẵn đây, tôi xin thân mến nhắn bạn làng văn cũ hối Tiền chiến hiện ở Paris, nhất là những anh Phạm văn Ký, Nguyễn tiến Lãng, Trần văn Tùng...tôi hy vọng các anh hăng hái trở về Văn học Việt Nam...mong mỏi được đọc những tác phẩm bằng Việt ngữ của các anh hơn là những tiểu thuyết viết bằng Pháp văn.
Rất tiếc, Phạm văn Ký cứ tiếp tục làm thơ Pháp văn mãi...
Tôi cũng không khỏi thắc mắc vì sao Cung-giũ-Nguyên không sản-xuất những tác phẩm bằng Việt văn?
(Nguyễn Vỹ)

15 năm sau, trong một bài viết văn-học-sử, Giáo-sư Bùi xuân Bảo, đã giải-thích điều mà Nguyễn Vỹ, vì quá tha-thiết với tinh-thần quốc-gia, nên cứ luẩn-quẩn thắc-mắc: ấy là trong khoảng 1954-1974, dòng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam có hai khuynh-hướng quốc-gia và vĩnh-cửu(double vocation nationaliste et universaliste)

Cái điểm rất hay của Nguyễn Vỹ là ông kể-lể kỷ-niệm cũ như một người đã rửa-tay-gác-kiếm nay thổ-lộ tâm-tình một cách rất chân-thật, nhớ đâu kể đó, không cần thêm-bớt, giữ-ý-giữ-tứ; họ Nguyễn đã vạch cho ta thấy nhiều hình-ảnh "vang-bóng-một-thời" khiến cho người sau hiểu và thông-cảm được cái không-khí chuyển-động của Văn-học các thập-niên 30 và 40. Các hình-ảnh có trong nhiều trang, lại được tác-giả đúc-kết và cô-đọng lại trong phần cuối tác-phẩm có tiêu-đề là Sinh-khí văn-nghệ tiền-chiến và Đời sống tinh thần và vật-chất của văn-thi-sĩ tiền-chiến. Không riêng gì người Hà-nội, mà nhiều người chúng ta, kể cả những người không-Hà-nội, cũng có thể rung-động cùng Nguyễn Vỹ khi nghe ông kênh-ảnh

Ôi, Hà-Nội! Hà-Nội tự do lãng mạn của ngày nào! Hà-Nội duyên dáng hiền hòa, Hà-Nội yêu quý của tôi ơi!...
Ấy là thời kỳ tự do lãng mạn, kỳ-thú nhất trong văn-học-sử Việt-Nam.

Résumé Souvenirs dun écrivain de lépoque 30-60: Les auteurs vietnamiens écrivant en français souvent débutaient leur carrières dans la presse et lauteur donna une longue liste de journaux et périodiques dans le temps. Trois auteurs connus étaient Nguyễn tiến Lãng, jeune bachelier de formation locale, ayant obtenu quelque notoriété avec l'æuvre Eurydice; Phạm duy Khiêm, Normalien, agrége de grammaire, qui a connu des succès avec Légendes des terres sereines et Nguyễn mạnh Tường qui a obtenu un double doctorat de lettres et de droit a 22 ans, et qui donna, parmi dautres, Pierres de France và Sourires et Larmes dune jeunesse ; les deux derniers, furent appelés "les retournés de France" . Trần văn Tùng partit pour la France, y resta et y écrivit tandis que Cung giũ Nguyên resta au pays et produisit régulièSouvenirs

Summary  Memories of an auteur of the period 30-60: Several authors writing in French started their career writing for periodicals and newspapers. A list of several French newspapers and periodicals was given. Three well known authors were Nguyễn tiến Lãng who as a young bachelor, had gained some notoriety with his first oeuvre Eurydice; Phạm duy Khiêm, agrégé in grammar, who got recognition with his Légendes des Terres Sereines; et Nguyễn mạnh Tường who obtained a double doctorate in literature and laws at the age of 22, event rare even for a French native. Tuong produisit among others, Pierre de France et Sourires et Larmes dune Jeunesse. Trân văn Tùng went to France, stayed and wrote at the metropole while Cung giũ Nguyên from Central Viet-nam, produced several titles on a regular basis.



Nguồn: http://74.125.153.132/search?q=cache:ToztnrxCV1YJ:www.truyen-thong.org/so13/4.html+%22Vi%E1%BB%87t+vi%E1%BA%BFt+ti%E1%BA%BFng+Ph%C3%A1p%22&cd=3&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #3 vào: 26/02/2010, 11:16:03 »
Thêm một bài nữa về trường hợp Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm:

Dòng văn-học Pháp-ngữ: Kỳ Đồng


Trường-hợp Kỳ-đồng trong dòng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam là một ngoại-lệ. Xếp ông vào đây vì ông là người Việt-Nam. Tác-phẩm có tính-cách sáng-tạo của ông vào năm 1898, Les amours d'un vieux peintre aux iles Marquises đã ra đời trước những tác-phẩm mà Nguyễn văn Bảo coi là đầu-tiên của ta, dùng để đánh dấu giai-đoạn trưởng-thành (plein développement) của nền văn-học Pháp-ngữ tại Việt-Nam: hai cuốn Contes et légendes của Lê văn Phát và Mes heures perdues của Nguyễn văn Xiêm vào năm 1913.

Tuy-nhiên Kỳ-đồng viết tại nơi lưu-đầy, quần-đảo Les Marquises thuộc Tahiti. Do đó, tác-phẩm của ông cũng được văn-học-sử miền này nhận là của mình. Theo Nguyễn khắc Ngữ thì tác-phẩm đã được giới-thiệu một phần trong Journal de la Société des Océanistes vào năm 1962.

Kỳ-đồng tên thật là Nguyễn văn Cầm, người gốc Thái-bình, sinh năm 1875, theo phong-trào Văn-thân Cần-vương khởi-nghĩa nên bị bắt năm 1887, lúc mới 12 tuổi và gửi đi Algérie. Theo học tại đó và đỗ tú-tài chương-trình Pháp vào năm 1896, được trở về Việt-Nam. Nhận hợp-tác với một bác-sĩ Pháp để lập đồn-điền ở miệt Yên-thế. Nơi đây, ông liên-lạc với Đề Thám mưu chuyện lâu dài. Việc không qua được mắt mật-thám Pháp nên lại bị bắt và đầy đi Tahiti rồi chuyển đến một quần-đảo phụ tên là Marquises. Ông làm điều-dưỡng-viên tại bệnh-viện địa-phương rồi mười ba năm sau, đổi về thủ-phủ Papeete làm việc trong nhà thuốc của quân-y-viện. Ông mất năm 1929, thọ 54 tuổi.

Nhận xét

Tại nơi lưu-đầy, năm 1901, Kỳ-đồng gặp họa-sĩ Gauguin đến Marquises để tìm hứng. Kỳ-đồng giúp ông ta trong những ngày đầu-tiên vùng đất xa-lạ, Hai người thành bạn thân. Lúc đó Gauguin có phương-tiện lại hào-phóng nên được phụ-nữ địa-phương yêu-mến, muốn sống chung với ông. Sau ông chọn một cô gái thọt nên có người chế-nhạo. Là bạn thân, Kỳ-đồng bèn dựa theo đó mà viết ra kịch trào-phúng kể chuyện nhà họa-sĩ già mất kính không trông rõ nên đã lấy cô vợ gù. Gauguin đọc bản thảo thì ông vui lắm , theo lời Kỳ-đồng kể lại.

Được đào-tạo tại ngoại-quốc và sáng-tạo trong hoàn-cảnh đó, Kỳ-đồng không giống các tác-giả Việt-Nam khác, không qua các thời-kỳ phát-triển sau Pétrus Ký và Paulus Của. Cũng không có vết-tích về Việt-Nam hay đặc-tính của người ngoại-quốc viết tiếng Pháp trong đầu thế-kỷ 20.

Trào-phúng của ông nằm trong hoàn-cảnh ngộ-nghĩnh,-chuyện anh mù sờ người nữ- cũng như là ngôn-ngữ lố-bịch, nhái Corneille để riễu Molière, đặc-biệt nghe nhà họa-sĩ lẩy Le Cid mà nghe thấy giọng Harpagon . Chúng tôi xin giới-thiệu hai cảnh ngắn.

Tu peux me caresser

Acte Premier, Scène III.- Paul, La Bossue sortant de sa cachette

La Bossue
à part
Oui, pour me faire aimer, s’il voit comme une taupe,
Je peux cacher mon dos à ses yeux de myope,
En laissant sur les reins mes longs cheveux flotter.
L’occasion est belle, il faut en profiter.

Haut à Paul
Bonjour Monsieur Permets qu’ avec sollicitude,
Je vienne soulager ta lourde solitude,
Et par un brin d’ amour sous ces bleus firmaments
Te faire de la vie oublier les tourments
Car rien qu’en te voyant, ta belle barbe grise,
Ton aspect doux et bon m ont tout à Ton aspect
Paul
O quel charmant pays, où tout le long du jour,
On vous parle de chants de danse et d’ amour!
Mais viens, qui que tu sois, ou mortelle ou déesse,
Puisque tu veux m’ aimer, viens que je te caresse
Viens par tes doux baisers, tes chauds enlacements,
Me faire de la vie oublier les tourments.
d’ une voix pleurnicharde
Car dans ma vieille France, où l’ existence est rude,
L’ homme a trop de soucis et la femme trop prude.

La Bossue
d'une voie câline
Je suis, noble étranger, toute à toi si tu veux.

Paul
la caressant
Qu’ils sont fermes, tes seins, qu’ ils sont doux tes cheveux!
En touchant ta peau fine, o ma belle mignonne,
Mon sang bout de désir et mon corps s’en frissonne.
(Il va prendre la Bossue dans ses bras)

La Bossue
Celle-ci craignant quil ne touche sa bosse, l'arrête et dit ce mensonge
Chut! Partout le devant tu peux me caresser,
Quant à mon derrière, il faudra le laisser;
Car toucher la partie opposée au visage
Dune femme est ici déD’une femme est

O rage! O désespoir!

Acte Premier, Scène VI- Paul

O rage! o désespoir! O vieillesse ennemie!
Nai-je donc tant véN’ai-je donc tant vécu que
Ne suis-je donc blanchi sous de nobles labeurs
Que pour commettre un jour de stupides erreurs!
Mes yeux qui m’ont rendu maỵtre dans la peinture
Trompent donc mes amours! Après cette aventure
De la Bossue, hélas! Le pays en émoi
Restera pour longtemps à se moquer de moi!
Alors, comment trouver de femmes assez folles
Qui, bravant du public les méchantes paroles,
Oseront bien venir égayer de leurs jeux
Du reste de mes vieux jours les instants ennuyeux!..
Quoi? Me faudra-t-il donc vivre comme un ermite
Moi qui suis, dEpicure, un disciple éméMoi
Pas de femmes, o ciel, ce sera trop souffrir!
Mon dieu! Pour mon repos, fais-moi bientôt mourir!
(Ce disant il pleure et se retire)

Viết theo Kỳ-Đồng, Nhà Cách-mạng và Nhà Thơ của Nguyễn khắc Ngữ, Tủ sách Nghiên-cứu Sử-Địa, 1990

Résumé Kỳ-đồng (1875-1929), un nationaliste exilé par les Français aux ỵles Marquises, y a rencontré le peintre Gauguin ; quand celui-ci maria une femme indigène boiteuse et fut la risée de plusieurs, Kỳ-đồng qui entretenait des relations très amicales avec le peintre, écrivit cette comédie. Il a montré à Gauguin qui l'a trouvée amusante

Le premier extrait présente une comédie de situation et de geste, tandis que dans le second extrait, l auteur fit la parodie du Cid et donne une comédie de situation

Summary  Kỳ-đồng (1875-1929), a Vietnamese nationalist exiled by the French to Island Marquises, met French well-known painter Gauguin who married a lame woman and became the laughing stock. Kỳ-đồng who had befriended with the painter, wrote that comedy and shown it to him; and he found it amusing.

The first extract presents a comedy of situation and of movement; in the second extract, the author make a parody of Le Cid.



Nguồn: http://74.125.153.132/search?q=cache:aoZTH1K9bIQJ:www.truyen-thong.org/so13/15.html+%22tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+h%E1%BB%A3p+K%E1%BB%B3+%C4%90%E1%BB%93ng%22&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi NL

Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #4 vào: 03/03/2010, 06:23:25 »
Quyển sách quan trọng đây:







Đặc biệt có phần phụ lục có tiểu sử 13 nhân vật



Trong này trích dẫn nhiều từ quyển "Introduction à la littérature vietnamienne"của Maurice Durand và Nguyễn Trần Huân, Éditions Gustave-Paul Maisonneuve et Larose, 1969, cũng có bản dịch tiếng Anh in năm 1985. Bác nào có thì trích thêm từ đó ra nhé.
 

Ngủ rồi thino

  • Chán cơm thèm cháo hành
  • Moderator
  • *****
  • Bài viết: 1,818
  • Thanked: 7 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #5 vào: 03/03/2010, 21:33:07 »
Thêm tài liệu về mảng này.

Những tác phẩm văn học viết bằng tiếng Pháp liên quan đến Đông Dương/ Trần Thu Dung và Hoàng Ngọc Hiến.

 

Ngủ rồi NL

Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #6 vào: 03/03/2010, 21:42:15 »
Hic, quyển này hơi tệ bác thino ạ.
 

Ngủ rồi thino

  • Chán cơm thèm cháo hành
  • Moderator
  • *****
  • Bài viết: 1,818
  • Thanked: 7 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #7 vào: 03/03/2010, 21:43:15 »
Hic, quyển này hơi tệ bác thino ạ.

Thiếu hơi nhiều thì phải.
 

Ngủ rồi NL

Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #8 vào: 03/03/2010, 21:45:51 »
Tôi nghe quảng cáo từ lâu rất háo hức chờ thì thấy thiếu kinh lên được. Mà cũng không hiểu vai trò của HNH là gì ở đây nữa.
 

Ngủ rồi Châu Hải Đường

  • Đông Hải Cù Sinh
  • ******
  • Bài viết: 1,630
  • Thanked: 7 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • 白蓮教
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #9 vào: 01/11/2010, 11:13:44 »
Thêm một bài nữa về trường hợp Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm:

Dòng văn-học Pháp-ngữ: Kỳ Đồng


Trường-hợp Kỳ-đồng trong dòng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam là một ngoại-lệ. Xếp ông vào đây vì ông là người Việt-Nam. Tác-phẩm có tính-cách sáng-tạo của ông vào năm 1898, Les amours d'un vieux peintre aux iles Marquises đã ra đời trước những tác-phẩm mà Nguyễn văn Bảo coi là đầu-tiên của ta, dùng để đánh dấu giai-đoạn trưởng-thành (plein développement) của nền văn-học Pháp-ngữ tại Việt-Nam: hai cuốn Contes et légendes của Lê văn Phát và Mes heures perdues của Nguyễn văn Xiêm vào năm 1913.

Tuy-nhiên Kỳ-đồng viết tại nơi lưu-đầy, quần-đảo Les Marquises thuộc Tahiti. Do đó, tác-phẩm của ông cũng được văn-học-sử miền này nhận là của mình. Theo Nguyễn khắc Ngữ thì tác-phẩm đã được giới-thiệu một phần trong Journal de la Société des Océanistes vào năm 1962.


Vở kịch của Kỳ Đồng có được giới thiệu (song ngữ) đây ạ:


Ngủ rồi Châu Hải Đường

  • Đông Hải Cù Sinh
  • ******
  • Bài viết: 1,630
  • Thanked: 7 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • 白蓮教
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #10 vào: 18/05/2011, 09:23:15 »
Một tác giả Pháp ngữ đương đại - Anna Moi - Thiên Nga


Các bác xem thêm:
http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=3308

Và đây là "Gạo Đen"



Một trang trong sách:


Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #11 vào: 01/07/2011, 13:10:46 »
Trang này hôm nay xem lại được rồi, toàn bộ số 13 viết về Dòng văn học Pháp ngữ
 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi yêu sách

  • *
  • Bài viết: 7
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #12 vào: 07/09/2011, 21:39:03 »
Một tác giả Pháp ngữ đương đại - Anna Moi - Thiên Nga


Vậy Kim Thúy - tác giả cuốn RU có được tính không ạ??? Mình đang đọc cuốn này :)

tham khảo:
http://www.vietthuc.org/2010/11/20/nguy%E1%BB%85n-xuan-hoang-d%E1%BB%8Dc-ru-c%E1%BB%A7a-kim-thuy/


http://www.cyberpresse.ca/arts/livres/200911/27/01-925704-ru-de-kim-thuy-a-fleur-de-peau.php
 
Vớ vẩn, thật đúng là vớ vẩn....

Ngủ rồi chuoi

Re: Văn học Pháp ngữ Việt Nam.
« Trả lời #13 vào: 30/01/2012, 15:43:06 »


In 12 broché 114 p. 
Éditions Nam KY à Hanoï en 1938

Vie de Phan Thanh Giang

Illustré de photos N&B (Cantho – Cholon – Saigon – Mytho – Vinhlong)

Et enrichi d’un bel envoi au Comte Jean de Beaumont