Tác giả Chủ đề: Các bài dịch thuật về Phật giáo  (Đã xem 3950 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi hoangnguyen

Các bài dịch thuật về Phật giáo
« vào: 22/08/2012, 13:54:15 »
Tôi xin phép được mở 1 topic dịch thuật các bài viết về Phật giáo ( từ tiếng Anh, Hán hoặc Pali......), các bác quan tâm đến chủ đề mang tính tôn giáo này, xin hưởng ứng, truyền bá pháp thì công đức sẽ vô lượng :h

1. Đạo Phật và ảnh hưởng của nó trên thế giới

( Buddhism and its influence on the world by Ms. Ratana Leong Kum Toh), bài được đăng trong tạp chí Tiếng nói của Đạo Phật ( Voice of Budhism Vol. 10 No.2 June 1973) in tại Kualumpur Malaysia.

Tín ngưỡng Phật giáo được dựa trên sự tự do tinh thần và niềm tin của mỗi cá nhân. Đạo Phật đã hợp nhất một cách hoàn toàn trách nhiệm của chính con người và nhận thức của nó vào tính vô thường của các pháp tồn tại. Đã có nhiều sự thay đổi có hiệu lực cho đến tận hôm nay kể từ khi đức Phật lần đầu tiên nêu lên sự thực hành  pháp “Trung đạo” cách đây hơn 2500 năm. Sự ảnh hưởng của nó đã vượt xa khỏi bán đảo Ấn Độ, mang lại sức sống mới cho nhiều con người thuộc nhiều chủng tộc khác nhau trên các vùng đất khác nhau của thế giới.

Đạo Phật đã ảnh hưởng đến trí tuệ của con người. Và có lẽ hấp dẫn và lôi cuốn nhất cho tư duy của con người ngày nay là quan điểm tự do chất vấn của lí trí. “ Đừng tin vào niềm tin mù quáng, đơn thuần dựa vào thánh điển hoặc những tập tục mang tính truyền thống” như Phật đã nói. Và rồi, ngài lại tiếp tục thốt lên những lời sau : “Cũng như người có trí thử vàng bằng cách đốt lên, cắt ra, mài trên đá thử, cũng như vậy, các người chỉ nên chấp nhận lời nói của Ta sau khi xem xét kỹ, chứ không phải vì lý do kính nể và sùng bái cá nhân”. Phật đã ủng hộ các vị đệ tử tự tìm kiếm chân lý , ko nên đơn thuần chỉ dựa vào lời thuyết phục của các vị thầy có quyền lực.

Lời dạy của Ngài nhắc nhở con người hãy bền chí dựa vào nỗ lực của chính mình và cho rằng ko một ai có thể giúp con người thoát khỏi hậu quả từ những hành động sai lầm của chính nó, tự con người làm cho mình trở nên xấu xa hay trong sạch. Trong sạch hay nhơ bẩn đều bắt nguồn từ chính con người. Ko một ai khác có thể cứu rỗi con người ngoài chính nó. Và như thế, lời dạy của Ngài đã nói lên rằng con người phải tự chịu trách nhiệm cho các hành vi thiện ác. Thông qua sự tự tin và tinh tấn sẽ giúp con người trở nên mạnh mẽ và cứng rắn. Một lý thuyết như thế sẽ ảnh hưởng đến chính tâm thức con người và sẽ giúp cho nó được phát triển mạnh mẽ.

Lời dạy của đức Phật đã ảnh hưởng rất lớn đến con người trong thời kì của Ngài. Một sự minh chứng là lời nói của Ngài đã hóa giải được sự xung đột trầm trọng và mang đến sự hòa hợp giữa hai bộ tộc Sakysa và Koliyans  thời kì đó.

Trong các bài giảng về Thánh đế (Bát chánh đạo), đã có một hệ thống lý luận và phương pháp thực hành thống nhất. Và rất nhiều người xấu đã trở nên trong sạch bằng cách thực hiện lời dạy của đấng Thế Tôn.

“Này các tỳ kheo, hãy mở rộng lòng từ bi vì lợi ích và hạnh phúc của con người, mà đi truyền bá giáo lý Thánh đế tuyệt vời này, dạy cho họ sống 1 đời sống thiêng liêng, hoàn thiện và trong sạch”. Chính vì lời nói thúc đẩy này mà các tu sĩ nam nữ Phật giáo đã truyền giáo lý của đức Phật trên khắp thế giới một cách ko mệt mỏi.

Asoka đại đế đã chinh phục miền Trung và Nam Ấn Độ, và trên con đường chinh phục đó đã gieo rắc cảnh đau khổ, máu chảy đầu rơi cho con người. Một ngày nọ, ông ta đã giác ngộ Phật pháp sau khi nghe một tỳ kheo trẻ mới vào đường tu tụng bài kinh:

“Tinh cần là đường sanh,
Buông lung là ngõ tử,
Tinh cần là bất tử,
Buông lung như thây ma!”

(Heedfulness is the path to the deathless,
heedlessness is the path to death.
The heedful do not die;
the heedless are like unto the dead)

Những câu kinh này đã ảnh hưởng rất nhiều đến độ Asoka quyết tâm từ bỏ chiến tranh, xây dựng nhiều chùa chiền tu viện Phật giáo, bệnh viện cho con người và thú vật, đường xá, giếng nước và trường học ngay cả việc ban hành việc cấm sát sinh, mổ xẻ những con thú. Phật giáo đã ảnh hưởng đến việc chấm dứt việc chiến tranh gây ra bởi Asoka. Cũng chính trong giai đoạn đó nhiều đoàn truyền giáo được cử ra khắp thế giới để rao giảng giáo lý của đức Phật.

Càng ngày, từ nơi xuất phát là Ấn Độ, Phật giáo được lan truyền càng xa và rộng, nó có mặt tại hầu hết các quốc gia thuộc vùng Đông Nam châu Á bao gồm Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Tây tạng, Nepal, Tích Lan Miến Điện , Vietnam và Indonesia. Mặc dù, Phật giáo ko được thực hành cùng một phương cách chung nhất tại các quốc gia nêu trên bởi vì các vùng khác nhau sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với bản địa và tư tưởng tôn giáo nhưng vẫn có sự ảnh hưởng lớn và giống nhau về yếu tố giáo lí cơ bản.

Cho đến hôm nay, sự ảnh hưởng của Phật giáo đã tương ứng về sự phát triển của khoa học cho quan điểm đời sống và sự hiện hữu. Niềm tin Phật giáo đã đi song hành với các nhà vật lý học của thế kí 20 về các vấn đề bản chất của nguyên tử và vũ trụ. Quan điểm Phật giáo cũng giống như những quan điểm sinh học hiện đại đều cho rằng mọi thứ đều biến đổi, đều vô thường.

Phật giáo cũng ảnh hưởng đến các nhà khám phá về vũ trụ, đã tìm ra đời sống trên các hành tinh khác. Lý thuyết tương đối của Eistein, khả năng có đời sống ở các thế giới khác, thuyết tiến hóa, sự kiện hóa sinh tạo ra đời sống, được chấp nhận một cách đồng thời với sự tìm kiếm về sự thật, như là kết quả của sự thức tỉnh của bậc giác ngộ.

Phật giáo ảnh hưởng đến thế giới thông qua các công việc mang tính phục vụ (service) và các hiệp hội mang tính từ thiện, nó ảnh hưởng cả đến công việc hàng ngày của con người làm sự tử tế, lịch sự và chân thật trong hành động.

Chúng ta phải xem Phật giáo như là một lực lượng cách mạng vĩ đại của đời sống bởi sức mạnh trong các ý tưởng của nó xuất phát từ lòng từ bi và bất bạo động. Phật giáo ảnh hưởng đến cá nhân thông qua việc học tập, thực thi và phát triển đời sống đạo đức mà chính điều này đã mang đến điều tốt và niềm hạnh phúc cho con người. Phật giáo ảnh hưởng đến thế giới bằng sự tước bỏ những ảo tưởng về sự ích kỉ. Asoka và Mathatma Ghandhi đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực thi dân chủ và tự do tinh thần mà những điều này đã được nêu ra bởi đức Phật.

Sự hiểu biết và thực hành phật giáo trong đời sống XH và chính trị sẽ đưa con người đến sự tiến bộ và hòa bình.

Bát chánh đạo đã mô tả rõ ràng về về con đường “Trung Đạo”. Sự điều độ và lòng từ bi vô biên đã tạo nên một ảnh hưởng rất lớn đến đầu óc của con người thời nay cũng như trong thời kì của đức Phật:

Chánh kiến - Right View

Giúp con người thoát khỏi thành kiến, mê tín và ảo tưởng trong sự nhận thức sự vật theo đúng bản chất của đời sống.

Chánh tư duy- Right Thought

Giúp con người xa lánh những điều ác hướng tâm con người đến những điều đúng đắn

Chánh ngữ- Right Speech


Ảnh hưởng đến toàn bộ việc biểu lộ tính cách của con người thông qua lời nói, giúp con người suy nghĩ thận trọng trước khi nói.

Chánh nghiệp- Right Action

Tạo ra một thế giới tình thương bằng cách hạn chế giết chóc, trộm đạo tà dâm và lường gạt, như thế sẽ hướng con người đến lòng từ thiện, chân thật, phục vụ và ân cần.

Chánh mệnh - Right Livehood

Có một ảnh hưởng tích cực đến xã hội trong việc sử dụng các phương tiện sinh nhai chân chính nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng. Buôn bán vũ khí, mổ xẻ súc vật, buôn bán các chất gây nghiện, chất độc được xem là các phương tiện sinh sống phi đạo đức.

Chánh tinh tấn/ Chánh niệm -Right Effort/ Right Mindfullness


Ảnh hưởng toàn bộ đến cơ chế tâm thức con người, giúp con người luôn sống trong trạng thái tỉnh thức thường trực, hạn chế những hành động sai lầm và bất thiện.

Chánh định – Right concentration

Trạng thái tập trung sẽ giúp sự ổn định của tinh thần. Sự ổn định tinh thần sẽ hạn chế những hành vi bất thiện.

Khi hầu hết các nhà trí thức tin rằng trí tuệ và hoạt động tinh thần là lực lượng chi phối các hiện tượng cũng như các biến cố trong đời sống con người thì họ cũng đã đi đến một chân lí vĩnh cửu mà đức Phật đã tuyên bố : “ Tâm dẫn đầu các pháp, thống trị và là cái bóng của mọi hành động”.

Khoa học nỗ lực khám phá ra bản chất của mọi hiện tượng XH, nhưng Phật giáo còn đi xa hơn- nó cũng phát hiện nhưng cùng với động tác cải thiện làm cho XH được tốt hơn.

Đạo Phật bằng đã thăm dò vào bên trong tâm thức một cách trực tiếp để tìm hiểu vũ trụ thông qua đó, phát hiện ra những điều mà khoa học chưa từng khám phá, có thể thấy nó ko dựa vào một công cụ khoa học nào mà chỉ sử dụng trí tuệ siêu tuyệt đơn thuần. Chẳng phải đức Phật đã từng tuyên bố : “ Này các con, bên trong thân thể con người, với trí óc và nhận thức, ta tuyên bố trong đó là cả thế giới, sự phát sinh và những phương pháp để đình chỉ thế giới”. Sự tìm hiểu sâu sắc thế giới chung quanh ko thể sử dụng các công năng bên ngoài mà chính là bằng các năng lực ở bên trong

Đề cập đến đạo Phật, Einstein đã phát biểu: “  Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu cầu hiện đại của khoa học thì đó là Phật Giáo”. Bertrand Russell cũng đã nói : “ Những quan niệm triết học là một sản phẩm của 2 yếu tố : sự thừa hưởng từ tôn giáo và các quan điểm đạo đức, còn yếu tố kia được gọi là triết lý khoa học. Nó chủ trương về mặt phương pháp và theo đuổi mục đích cho đến cùng, nó có thể được xem là chủ nghĩa duy lý. Trong nó là sự tìm kiếm những câu trả lời cho các câu hỏi vai trò của tâm thức và vấn đề liên quan? Điều nào trong đó quan trọng nhiều hơn? Nó dẫn đến nơi mà khoa học ko thể dẫn đắt do bởi hạn chế công cụ vật chất. Sự chinh phục nó phải bằng trí tuệ”

Như thế, đạo Phật – một tôn giáo mang tính khoa học cao đã ảnh hưởng đến thế giới ở mọi mức độ.

hn dịch (22/08/2012)
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #1 vào: 23/08/2012, 09:04:41 »
2. Tứ xà nhị thử ( trích từ kinh Đại tập)

Nguyên văn

四蛇二鼠

《大集云》:昔 有 一 人,避 二 醉 象(生死),緣 籐(命根)入 井(無常),有 黑 白 二 鼠(日月),囓 籐 將 斷,傍 有 四 蛇 慾 螫(四大),下 有 三 龍,吐 火 張 爪 拒 之(三毒)。其 人 仰 望 二 象,已 臨 井 上,憂 惱 無 托,忽 有 蜂 過,遺 蜜 滴 入 口(五慾),是 人 唼 蜜,全 亡 危 懼。


Phiên âm

Tứ xà nhị thử

Đại tập vân : “Tích hữu nhất nhân, tị nhị túy tượng (sinh tử), duyên đằng (mệnh căn) nhập tỉnh (vô thường), hữu hắc bạch nhị thử (nhật nguyệt), khiết đằng tương đoạn, bàng hữu tứ xà dục thích (tứ đại), hạ hữu tam long, thổ hỏa trương trảo cự chi (tam độc). Kỳ nhân ngưỡng vọng nhị tượng, dĩ lâm tỉnh thượng, ưu não vô thác, hốt hữu phong quá, di mật trích nhập khẩu (ngũ dục), thị nhân xiệp mật, tòan vong nguy cụ.”

Dịch nghĩa

Bốn con rắn và 2 con chuột


Kinh Đại tập nói: “Xưa có một người vì tránh hai con voi say (dụ cho sinh tử), leo dây ( dụ cho sinh mạng) xuống giếng (dụ cho vô thường), có hai con chuột đen trắng (nhật nguyệt: chỉ đêm ngày), cắn sợi dây leo sắp đứt, bên cạnh có bốn con rắn muốn chích nọc độc (tứ đại- Địa Hỏa Thủy Phong), dưới có ba con rồng phun lửa giương móng bủa vây (dụ cho tam độc- Tham sân si). Người đó ngước lên nhìn thấy hai con voi đã đến bên miệng giếng, lo buồn không biết cậy nhờ vào đâu, bỗng có con ong bay ngang, nhỏ một giọt mật vào miệng (ngũ dục), anh ta đớp mật ong, hòan tòan quên hết lo sợ hiểm nguy”.

Ý nghĩa

Phật ví tam giới như lò lửa, đầy nguy hiểm ngũ dục như mật ngọt, làm say đắm lòng người, dẫu biết là nguy nhưng con người cũng khó tránh. Kinh nói: “Đứa bé vì ham mật ngọt trên lưỡi dao mà bị đứt lưỡi”.

Cũng vậy, người đam mê ngũ dục, dẫu có biết rằng kiếp luân hồi muôn trùng đau khổ, mà cũng không biết tìm đường thóat ra, như chúng sanh vui chơi trong nhà lửa tam giới đang cháy hừng hực vậy. Thật buồn thay.

Chú thích

Kinh Đại tập hội chánh pháp – Arya Sanghatasutra Dharma Paryaya, bao gồm cả kinh Đại Tập và những kinh ngắn, kinh này rất khó hiểu do nhiều đức Phật thuyết ở nhiều thế giới khác nhau, kinh đã được dịch ra 11 thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha....dịch từ các bản Hán, Tây Tạng và Sanskrist.

Bản chữ Hán này do Ngài Đàm Vô Sấm đời Bắc Lương dịch từ bản tiếng Sankrist
« Sửa lần cuối: 24/08/2012, 07:46:41 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #2 vào: 23/08/2012, 15:55:47 »
3. Bốn điều kiện hạnh phúc The Four sources of hapiness - by T.H. Perera
(Được đăng trong tạp chí Tiếng nói của Đạo Phật ( Voice of Budhism Vol. 10 No.2 June 1973) in tại Kualumpur Malaysia)

Thực chất đây là bài giảng về kinh Pháp Cú 204

Bài này tác giả trích dẫn kinh điển và từ ngữ Pali rất nhiều, có đôi chỗ sử dụng tiếng Anh ko tương ưng với ngôn ngữ Pali kèm theo, gặp những trường hợp như vậy, tiếng Pali sẽ được căn cứ để dịch. Chẳng hạn như:

- Yathā-bhūta-ñāna-dassana phải được hiểu là đức Phật đã vận dụng trí tuệ chứng ngộ chân lý như thật, với tiếng Anh tương ứng -the knowledge and vision according to reality, nhưng trong bài tác giả đã dịch the knowledge of things.....

- Có những đoạn ghi rất vắn tắt, ko ghi xuất xứ kinh Pali, hoặc ghi số thứ tự kinh ko đúng để người đọc có thể hiểu một cách hệ thống và dễ dàng tra cứu, như đoạn đầu tác giả nhập đề ngay bằng 1 đoạn kinh Pali ko ghi rõ xuất xứ. Trong trường hợp này người dịch đã tự thêm vào cho đoạn văn được hoàn chỉnh.

- Có những đoạn, tác giả chỉ nêu tên kinh Pali nhưng ko dẫn chứng, người dịch đã ghi thêm đoạn kinh Pali để minh họa.


-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phần dịch

Bài Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesana Sutta) trong Trung Bộ Kinh ( majjhima-nikāya) ghi lại rằng sau khi chứng ngộ, Đức Phật do dự không muốn truyền dạy cho con người chân lý mà Ngài mới vừa đạt được:

“Pháp này do ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí tuệ mới chứng nghiệm được. ( Kinh Trung bộ 26).

Nhưng với sự thỉnh cầu của chư thiên và lòng từ bi, Ngài đã tìm cách để trình bày chân lý sâu sắc này cho những con người thời đó,  đã chọn phương pháp tiếp tục dẫn dắt đi từ cái biết đến cái chưa biết, từ thấp đến cao. Với những con người bình thường, ngài nói về hạnh bố thí (dana), về giới luật (sila) và hạnh phúc cõi thiên đường (sagga). Với người có trí hơn, ngài nói về sự nguy hiểm, về tội lỗi phát sinh từ những khoái lạc của cảm xúc (karmadinava), về lợi ích của sự xuất gia ( nekkhama). Đối với bậc thượng trí, ngài giảng giải những câu truyện ngụ ngôn mang tính ẩn dụ nói về Tứ thánh đế- Bốn chân lý về sự thật- nền tảng cho sự tồn tại của giáo lý Phật giáo.

Cần ghi nhận ở đây rằng, chỉ có giác ngộ về Bốn chân lý sự thật – Khổ, Tập, Diệt Đạo thì con người mới có thể thoát khỏi gánh nặng của của sự đau khổ đã mang trong nhiều năm tháng của cuộc đời, trong biển khổ của sinh tử luân hồi ( samsara).

Sự nguy hiểm và cái hại của ham mê khoái lạc đã được chỉ ra trong câu chuyện của vua Pasenadi Kosala- vốn là kẻ rất tham ăn. Do ăn quá nhiều làm sức khỏe của nhà vua trở nên suy yếu. Vốn là 1 tín đồ sùng bái đức Phật, nhà vua đã nghe theo lời khuyên của đức Phật, dần dàn giảm bớt khẩu phần ăn quá độ, và sau đó sức khỏe đã được cải thiện. Liên quan đến việc này đức Phật đã thuyết một bài kệ ngắn- nói đến 4 yếu tố mang lại hạnh phúc được ghi lại trong kinh Pháp cú 204 như sau:

Arogyaparama labha
santutthiparamam dhanam
vissasaparama nati
nibbanam paramam sukham ( Dhammapada 204)

Lợi ích nhất là ko bịnh
Giàu nhất là biết đủ
Thân thuộc nhất là tin cậy
Tối thượng là Niết bàn (Pháp Cú 204)


Sau đây chúng ta sẽ thảo lần lượt 4 điều mang lại hạnh phúc cho con người

1. Arogya parama labha- Lợi ích nhất là ko bịnh ( Thân & Tâm)

Tiếng Pali labha có thể được dịch là “ lợi ích” hay “ sự đạt được”. Khát vọng của thế giới là sở hữu nhiều vật chất để hưởng thụ lạc thú của trần gian. Khát vọng này bắt nguồn từ ảo tưởng về sự tồn tại của một cái “ngã”. Cái “ngã” khát vọng và mong có được, mong sở hữu, mong nắm giữ. Chính sự khát ái ích kỉ này, một khi xuất hiện sẽ tạo ra sự đau khổ cho những ai đang đứng cùng trên con đường tham ái đó và nó sẽ tạo ra một môi trường thù địch lẫn nhau giữa những con người đang tranh giành nhau trên con đường đó. Chính điều này gây ra sự nguy hiểm, điều bất thiện sẽ nằm trong một tâm thức luôn thèm khát.

Để giải quyết những vấn đề khó khăn của cuộc đời, đức Phật đã vận dụng trí tuệ chứng ngộ chân lý như thật Yathā-bhūta-ñāna-dassana- 'the knowledge and vision according to reality’  (Yathā-bhūta:   Nghĩa đen là “như thật là”. Thực tại hiện hữu. ). Trong khi chấp nhận sự hiện hữu của khoái lạc làm thích thú các giác quan, ngài thấy rằng nó thay đổi liên tục và ko hoàn hảo, ko gắn kết lâu dài với một thực thể được gọi là “ngã” hay “linh hồn”, nói cách khác chúng chỉ là những cảm xúc thoáng qua kích động tạm bợ đến những cảm giác của con người và cũng ko có người hưởng thụ nó, ko có cái ngã thực sự nào tồn tại. Con người ko thể kéo dài khoái lạc một cách liên tục cho dù rất mong muốn là như vậy, chính điều này đã gây ra đau khổ ( dukkha). Từ Pali dukkha có nghĩa rộng hơn từ suffer- khổ của triết học phương Tây. Một cách tiếp diễn, chủ thể cảm giác bị đánh lừa bằng đối tượng cảm giác, diều này xảy ra từ đời sống này sang một đời sống khác. Đây chính là mạng lưới tìm kiếm khoái lạc diễn ra hàng ngày trong tâm thức con người.

Một hành động tốt đẹp khác mà đức Phật thường lập đi lập lại nhiều trong các bài thuyết giảng của mình là  “ Hãy thực hành lý Trung Đạo”. Thử phân tích từ Pali arogya – sức khỏe theo ý nghĩa Trung Đạo. Phật nhấn mạnh rằng trong khi duy trì sức khỏe thể chất thì con người cũng phải thanh lọc những điều bất thiện trong tư tưởng, tinh thần có một mối tương quan chặt chẽ với thân xác , Trung đạo cũng có nghĩa có 1 sự cân bằng giữa thể chất và tâm lý. Mặt khác, việc từ bỏ những điều bất thiện là một nhiệm vụ cao cả cần phải đạt được bởi con người. Từ bỏ, do vậy, là điều tất yếu đầu tiên để nhận thức về chân lý Tứ Thánh đế. Như đức Phật đã nói : “ có 2 niềm hạnh phúc, hạnh phúc do thụ hưởng và hạnh phúc do từ bỏ” nhưng trong hai loại này thì cao thượng hơn vẫn là hạnh phúc của sự từ bỏ.

Tóm lại câu đầu tiên của kệ 24 được khẳng định từ kệ 198 kinh Pháp Cú

"Vui thay, chúng ta sống,
Không bệnh giữa ốm đau !
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau".

Không ốm đau bao gồm cả hai ý nghĩa khỏe mạnh về thân xác lẫn tinh thần, như đã phân tích ở phần trên.


2. Santutthi Paramam Dhanam- Giàu nhất là biết đủ


Tri túc là giàu có, tuy nhiên với bản chất con người thì luôn mong muốn càng giàu càng tốt, và càng thu vào càng thấy thiếu.
Tri túc điều chỉnh sự tham vọng của con người. Người hạnh phúc là người ko có tham vọng nhiều, làm được bao nhiêu thì sống bấy nhiêu và ko có nợ nần tiền gì với người khác. Người biết đủ sẽ ko bao giờ phải bồn chồn lo lắng. Người đó sẽ ngủ một giấc ngủ êm ái và luôn thức dậy với  nụ cười trên khuôn mặt và với 1 đầu óc luôn tỉnh táo và cảnh giác sẽ vượt qua khó khăn trở ngại một cách dễ dàng. Ngược lại, một con người luôn thức đêm để toan tính cho chuyện ngày mai, luôn bị thiêu đốt bởi những ước vọng tương lai, lao tâm khổ trí cho việc toan tính đó. Đức Phật đã chỉ rõ vấn đề này trong bộ kinh Gò Mối- Vammika sutta ( Trung bộ 23), ( Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại hợp thành. Cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói. Cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng. 

Tri túc cũng được đề cập trong bộ kinh Điềm lành ( Mangala Sutta) thuộc Tiểu bộ kinh

Santutthī ca kataññutā,…….
Etam mangalam uttamam.
Tri túc và tri ân,……
Là điềm lành tối thượng.

Trong bài kinh về lòng nhân ái ( Karaniya Metta sutta) tri túc là một trong những yếu tố chủ yếu để đạt đến trạng thái thân tâm an lạc.
Tri túc cũng xuất phát từ Chánh mạng- Samma-ajiva, một trong tám con đường dẫn đến giác ngộ. Đó cũng chính là lí do tại sao đức Phật lại nói rằng tri túc là giàu nhất.

3.Vissasa parama nati – thân thuộc nhất là tin cậy

Từ Pali vissasa có thể được dịch là tin cậy. Con người theo luật tự nhiên là sống tập thể, sống trong một xã hội đông người. Con người bị lôi kéo bởi thân bằng quyến thuộc, cha mẹ luôn là những người thân duy nhất mà con người tin tưởng, kinh Điềm lành cũng nói lên sự cần thiết để trông nom cha mẹ.
Mātāpitu upatthānam,
Etam mangalam uttamam   

Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Là điềm lành tối thượng.

Cha mẹ yêu thương lo lắng cho con cái cũng làm tăng lên độ tin cậy giữa cha mẹ và con cái. Trong kinh Từ Bi (Metta Sutta) - mata yata niyam puttam ayusa ekaputtamanurakkhe (giống như người mẹ bảo vệ đứa con một của mình dù cho phải hại đến mạng sống)
Sự tin cậy cha mẹ được nâng lên 1 bước, con cái coi cha mẹ chính là Phạm thiên- Brahmati mata pitaro.

Sự tin cậy ko chỉ dành riêng cho thân bằng quyến thuộc mà còn áp dụng cho bạn bè. Khi nói về bạn bè, đức Phật cũng cẩn thận chia bạn bè thành hai loại: bạn chân tình và không thân. Người bạn chân tình luôn tận dụng mọi cơ hội để dẫn dắt người bạn của mình học và hành theo chánh pháp, quy y Tam bảo giúp bạn trên con đường giải thoát khỏi mọi đau khổ. Người bạn ko tốt thường dẫn bạn bè mình đến chỗ nguy hại, và đau khổ sẽ là một điều ko thể tránh khỏi

Do vậy, chính sự tin cậy lẫn nhau mang con người đến niềm hạnh phúc, sống trong trạng thái nghi ngờ luôn trong trạng thái đề phòng lẫn nhau sẽ dẫn con người tới đau khổ.


4. Nibbanam paramam sukham- Tối thượng nhất là Niết bàn


Niết bàn là niềm hạnh phúc nhất. Cần hiểu rằng Phật pháp ko nhấn mạnh đến chủ thể hành động, ai gặt hái được thành quả của hành động mà chỉ nói đến hành động tốt hay xấu tùy theo giá trị của nội dung của tư tưởng tạo ra hành động đó. Thưởng phạt là hệ quả tương ứng với hành động. Chính hành động tạo ra con người, súc vật, ngạ quỷ hay thiên thần.

Ý muốn hay tư tưởng được tiếp sức bởi lòng tham ái- một năng lực có sức mạnh nhất. Tại một thời điểm quyết định của quá trình tư tưởng ( javana) , hành động tác ý sẽ xảy ra ( Kamma) hoặc công khai hoặc thầm kín. Sau khi chết, tại giai đoạn thân trung ấm chính cái thức ( tư tưởng tham ái) sẽ nhập thai mẹ để tạo thành một sinh vật mới..

Giáo lý Phật giáo đã đưa ra 3 phương pháp nhằm trung hòa cái tư tưởng tham ái dẫn tới hành động, đó là Giới (sila), Định (samadhi) và Tuệ (panna). Thực hành thiền quán Vipassana sẽ đạt được thánh quả A la hán chấm dứt dòng sinh tử luân hồi. Tất cả điều này được điều khiển bởi Trí tuệ, vị A la hán đạt được  sự chấm dứt sinh tử và thể nghiệm Niết bàn.

Tóm lại 4 điều mang đến hạnh phúc cho con người là:

-   Sự khỏe mạnh thân tâm
-   Biết đủ (tri túc)
-   Có được sự tin cậy lẫn nhau trong môi trường XH
-   Đặt mục tiêu tối thượng chứng Niết bàn

23/08/2012

« Sửa lần cuối: 24/08/2012, 07:56:28 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #3 vào: 27/08/2012, 09:44:19 »
4. Suffering: The Five Aggregates- Chấp vào Ngũ uẩn là đau khổ by Ven Dr. Wapola Rahula  ( Nguyên văn tiếng Anh được đăng trong tạp chí Tiếng nói của Đạo Phật ( Voice of Budhism Vol. 10 No.2 June 1973) in tại Kualumpur Malaysia)

Giới thiệu

Đau khổ hình như đi theo con người như hình với bóng, theo con người ngay từ lúc mới chào đời cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Con người loay hoay mãi để tìm cách thoát khỏi nó nhưng buồn thay giống như con nhện bị mắc vào lưới, vùng vẫy mãi nó cũng ko thể thoát ra.

Phật giáo với sự phân tích về ngũ uẩn- 5 nhóm cấu thành nên con người là nguồn gốc gây ra đau khổ. Bài viết của đại đức tiến sĩ Walpola Rahula đăng trong tạp chí Tiếng nói của đạo Phật đã trình bày ngắn gọn và súc tích đề tài này, đây là 1 bài viết rất hay, tác giả dẫn chứng từ ngữ chuyên môn Phật học tiếng Pali rất nhiều, đôi lúc lại sử dụng danh từ triết học phương Tây nhưng mang một nội dung Phật học, chẳng hạn như từ being- hữu thể, nhưng khác với nghĩa mà triết gia Heiddeger sử dụng trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian, ở đây chỉ ám chỉ cái ngã của con người theo triết lý Phật giáo.

Ngũ uẩn là học thuyết nền tảng của PG, khổ cũng do chấp vào nó, mà thoát khổ cũng phải dựa vào nó, nên tôi dịch ra đây cho các bạn nào quan tâm tham khảo.

Ðại đức W. Rahula, người Tích lan được đào tạo theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy tại Phật học viện Pirivena, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ về lịch sử đạo Phật tại đó. Sau đó qua Calcutta, cộng tác với các giáo sư Ðại thừa và bắt đầu học chữ Hán và chữ Tây Tạng. Cuối cùng Ðại đức đến Pháp -Ðại học đường Sorbonne để nghiên cứu về Ngài Asanga (Vô Trước). Các bài viết của đại đức mang tính chuyên môn và học thuật rất cao, cũng gây khó khăn ít nhiều cho người học Phật ko chuyên môn.


------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cái được gọi là “ngã/ hữu thể (being)” hoặc là “cá nhân” hay là “Tôi”, theo triết lý Phật giáo chỉ là sự kết hợp giữa những yếu tố vật lý và những nặng lực tinh thần thay đổi thường xuyên được chia thành 5 nhóm hay ngũ uẩn (pancakkhandha). Đức Phật đã nói : “ Tóm lại chấp vào ngũ uẩn là đau khổ” , tại chỗ khác, ngài đã định nghĩa một cách rõ ràng đau khổ chính là ngũ uẩn : “ Này các tỳ kheo, khổ là gì? Có thể nói đó là ngũ uẩn thủ. Và như vậy, có thể hiểu một cách rõ ràng là khổ và ngũ uẩn ko phải là 2 thứ khác nhau, chính bản thân ngũ uẩn là đau khổ, điều này sẽ được hiểu rõ ràng hơn khi phân tích một số khái niệm của ngũ uẩn cấu thành nên cái gọi là “hữu thể con người”.

Uẩn đầu tiên là sắc uẩn ( Rupakkhanda). Từ sắc bao gồm 4 yếu tố truyền thống cơ bản theo triết học Ấn Độ -Địa, Hỏa, Thủy, Phong (cattari mahabhutani) và sắc mạng căn (upadaya-rupa), nhãn căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt căn, thân căn, công với ngoại cảnh - cảnh sắc,  âm thanh, mùi,  vị,  xúc chạm….., và luôn cả đối tượng nhận thức của tâm ( pháp xứ- dharmayatana). Như vậy, toàn bộ lĩnh vực của khái niệm sắc bao gồm cả bên trong tâm lẫn thế giới bên ngoài.

Uẩn thứ nhì là thọ uẩn ( Vedanakkhanda)- tập hợp các cảm thọ. Trong nhóm này bao gồm những cảm giác vui, buồn, trung tính, Những cảm giác này có 6 loại: những cảm giác phát sinh khi mắt xúc tiếp với những hình sắc, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân thể với những vật cứng mềm, và ý thức hay tư tưởng, ý nghĩ. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm linh của ta đều bao hàm trong uẩn này.

Từ ngữ Ý (manas) trong triết học Phật giáo có lẽ phù hợp khi sử dụng ở đây. Cần hiểu rằng nó ko phải là tinh thần theo ý nghĩa đối lập với vật chất, Phật giáo ko bao giờ tách rời giữa tinh thần và vật chất ,  giữa “tâm” với “sắc”, vì cả hai đều dính líu tương quan, ko giống như nhiều hệ thống triết học và tôn giáo khác. Thức chỉ là khả năng hay là 1 cơ quan giống như mắt hay tai, nó cũng có thể được kiểm soát và phát triển như các cơ quan khác và đức Phật thường hay nói về giá trị của việc kiểm soát để đưa nó vào khuôn phép. Sự khác biệt giữa mắt và thức ở chỗ  cái đầu tiên thấy màu sắc và những vật hữu hình còn cái sau thì “thấy” những ý tưởng, những đối tượng tinh thần. Chúng ta kinh nghiệm nhiều lĩnh vực của thế giới với những giác quan khác nhau, ko thể nghe màu sắc mà chỉ có thể thấy chúng. Như thế, với 5 giác quan chúng ta chỉ cảm nhận được một phần chứ ko phải là toàn thế giới.Còn những ý nghĩ, tư tưởng thì sao? chúng cũng là 1 phần của thế giới nhưng ko thể cảm nhận bằng các giác quan, chúng ko thể được hiểu bằng mắt, tai,mũi, lưỡi hay thân, chúng chỉ được hiểu bằng 1 khả năng khác đó là ý thức. Bây giờ, có thể thấy ý nghĩ và tư tưởng thì ko độc lập với thế giới kinh nghiệm bởi 5 giác quan. Thực vậy, chúng lệ thuộc hay duyên với nhau. Người mù lúc mới sinh ko thể có những khái niệm về màu sắc. Ý nghĩ và tư tưởng- một phần của thế giới, như thế cũng được sản sinh một cách có điều kiện bởi những kinh nghiệm vật chất, nó cũng được xem như là cơ quan như mắt và tai.

Uẩn thứ 3 là tưởng uẩn (sannakkhanda)- tập hợp các tri giác, giống thọ uẩn, tưởng uẩn cũng có 6 loại quan hệ với 6 khả năng bên trong và tương ứng với 6 đối tượng ngoại cảnh. Giống như thọ uẩn, chúng được sản sinh thông qua sự tiếp xúc của 6 khả năng với thế giới bên ngoài. Chính tưởng này nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh

Tưởng uẩn, sự tập hợp của các tri giác, được thường nhơn phô diễn ra thành "Tôi cảm nhận hoặc Tôi nhận thấy".

Uẩn thứ 4 là hành uẩn (samkharakkhanda)- tập hợp các tâm hành. Nhóm này gồm những hành động mang tính tác ý, sử dụng sức mạnh của ý chí gồm cả xấu lẫn tốt. Cái được gọi là nghiệp thì phát sinh bởi nhóm này, định nghĩa về nghiệp của đức Phật như sau: “ này các tỳ kheo, ý muốn tạo ra nghiệp quả, với ý chí một người sẽ hành động thông qua thân, khẩu và ý”. Ý muốn cấu tạo nên các tâm sở (cetana), chức năng của nó là tác động trực tiếp đến tâm thức tạo ra hành động tương ứng với 3 tính chất tốt, xấu và trung tính. Giống như thọ và tưởng uẩn, hành uẩn hành gồm sáu loại liên hệ đến sáu giác quan và các đối tượng tương ứng thuộc vật lý, tâm lý. Cảm giác và tri giác (thọ, tưởng) không phải là những hoạt động cố ý nên không phát sinh nghiệp quả. Chỉ những hoạt động do ý chí thúc đẩy như tác ý (manasikàra), dục (chanda), thắng giải (adhimokkha), tín (saddhà), định (samàdhi), tuệ (pannà), tinh tấn (viriya), tham (ràga), sân (patigha), vô minh (avijjà), kiêu mạn (màna), thân kiến (sakkàyaditthi) v.v.. mới có thể phát sinh nghiệp quả. Có tất cả 52 tâm sở (hoạt động tâm ý) như thế, tạo nên hành uẩn.

Uẩn thứ 5 là thức uẩn ( Vinnanakkhanda)- tập hợp các sự hiểu biết. Thức là một phản ứng có căn bản là một trong sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), và đối tượng là một trong sáu hiện tượng bên ngoài  tương ứng (hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc giác và sự vật thuộc tâm giới). Chẳng hạn, nhãn thức (cakkhavinnàna) có con mắt làm căn bản cho nó và một hình sắc thấy được làm đối tượng.thức (manovinnàna) có ý (manas) làm căn bản và một sự vật thuộc tâm giới, nghĩa là một ý niệm hay tư tưởng (pháp), làm đối tượng. Như thế thức liên quan với những quan năng khác và cũng như thọ, tưởng, hành, thức gồm sáu loại tương quan với sáu căn và sáu cảnh.

Cần hiểu một cách rõ ràng thức không nhận ra một đối tượng. Ðây chỉ là một thứ biết sự hiện diện của đối tượng. Khi mắt xúc tiếp với một màu sắc, màu xanh chẳng hạn, nhãn thức liền phát sinh nhưng chỉ là sự ý thức về hiện diện một màu sắc, chứ không nhận ra đấy là màu xanh. Ở giai đoạn này chưa có nhận thức. Chính tri giác (tưởng uẩn thứ ba) nhận ra màu xanh. Danh từ "nhãn thức" là một từ ngữ triết học ám chỉ cùng một ý như chữ thấy thông thường. Thấy không có nghĩa nhận biết. Các loại thức khác (nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức…..) cũng thế.

Ở đây, cần nhắc lại rằng theo triết học Phật giáo không có một linh hồn trường cửu bất biến nào có thể được xem là "ngã" hay "linh hồn", hay "cái tôi" đối lập với sự vật, và thức (vinnàna) không nên xem là "tâm" đối lập với vật thể. Ðiểm này cần được nhấn mạnh đặc biệt, vì từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn có một quan niệm sai lầm rằng ý thức là một thứ ngã hay linh hồn tương tục lập thành một bản thể trường tồn.

Một đệ tử Phật tên Sàti cho rằng đức Ðạo sư đã dạy chính cái thức này luân chuyển khắp các cõi. Phật hỏi ông ta hiểu thức là gì. Câu trả lời của Sàti rất cổ điển: "Ðấy là cái gì diễn đạt, cảm giác và kinh nghiệm kết quả của những hành động thiện ác chỗ này chỗ kia."
Phật đã quở : "Này kẻ ngu kia, ngươi đã nghe ta giảng kiểu này cho ai vậy? Há ta đã không nhiều lần giải thích rằng do các duyên, thức sinh khởi, không có các duyên thì không có thức sinh khởi hay sao?" Và Ngài tiếp tục giảng giải chi tiết: "Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện do đấy nó phát sinh: do duyên con mắt và sắc mà thức sinh thì gọi là nhãn thức, do duyên tai và tiếng mà thức sinh thì gọi là nhĩ thức, do duyên mũi và mùi mà thức sinh thì gọi là tỷ thức, do duyên lưỏi và vị mà thức sinh thì gọi là thiệt thức, do duyên thân và xúc mà thức sinh thì gọi là thân thức, do duyên ý và pháp (tư tưởng, ý nghĩ) mà thức sinh thì gọi là ý thức.
 Phật làm sáng tỏ thêm bằng một ví dụ: Một ngọn lửa được gọi tên tùy theo nhiên liệu. Lửa được đốt bằng củi gọi là lửa củi; đốt bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế được gọi tên tùy theo điều kiện phát sinh ra nó.

Căn cứ điểm này, Buddhaghosa (Phật Âm), một luận sư lỗi lạc đã giải thích: "... một ngọn lửa cháy bằng củi chỉ cháy khi có củi, và sẽ tắt khi hết củi, bởi vì khi ấy điều kiện hay duyên đã thay đổi (củi đã thành tro). Ngọn lửa không quay sang cháy bằng tro và trở thành một ngọn lửa tro vân vân. Cũng thế cái thức sinh do duyên con mắt và sắc, chỉ sinh làm nhãn thức khi có các điều kiện mắt, hình dáng, ánh sáng và sự chú ý; nó sẽ chấm dứt khi các điều kiện ấy không còn, vì khi ấy điều kiện đã thay đổi. Thức ấy không quay sang lỗ tai ... và trở thành nhĩ thức ……

Phật tuyên bố rõ ràng rằng thức tùy thuộc vào bốn uẩn kia là sắc, thọ, tưởng, hành (vật thể, cảm giác, tri giác và ý chí), không thể tồn tại biệt lập với những điều kiện này. Ngài dạy:

"Thức có thể tồn tại với sắc làm phương tiện (rùpupàyan), sắc làm đối tượng (rùpàrammanam), sắc làm nơi nương tựa (rùpapatittham), và tìm lạc thú trong ấy (sắc) nó có thể lớn thêm, tăng trưởng, phát triển. Thức có thể tồn tại với thọ làm phương tiện, hay tưởng làm phương tiện, hay hành làm phương tiện, hành làm đối tượng, hành làm nơi nương tựa, và tìm lạc thú trong ấy, nó có thể tăng trưởng, lớn lên, phát triển. Nếu ai bảo rằng  họ có thể chỉ rõ sự xuất hiện, sự ra đi, biến mất, sự sinh, tăng trưởng, phát triển của thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành, thì đấy là nói một điều không thực có."
Một cách ngắn gọn, đấy là Ngũ uẩn. Cái mà ta gọi là một "linh hồn" hay "cá thể" hay "tôi", chỉ là một tên gọi cho tiện hay một nhãn hiệu để đặt cho sự nhóm họp của năm uẩn ấy. Tất cả chúng đều vô thường, tất cả đều hằng biến. "Bất cứ gì vô thường đều là dukkha." Ðây là ý nghĩa chân chính của lời Phật dạy: "Tóm lại, Ngũ uẩn trói buộc là khổ." Chúng không còn là một, ở vào hai thời điểm tiếp nhau. Ở đây A không bằng A. Chúng luôn luôn ở trong một dòng sinh và diệt từng giây phút.

"Hỡi các Bà la môn, giống như một dòng thác núi chảy mau và trôi xa, cuốn theo tất cả; không lúc nào, phút giây nào nó ngừng chảy, nó cứ tiếp tục chảy trôi. Hỡi các Bà la môn, đời người cũng như giòng thác núi kia." Như Phật dạy Ratthapàla: "Thế gian là dòng chảy tương tục, là vô thường."

Một sự vật biến mất, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của vật kế tiếp trong một chuỗi dài nhân và quả. Không có gì là bản thể bất biến ở trong chúng. Không có một cái gì ở đằng sau chúng mà có thể gọi là một cái ngã trường cửu (àtman), cá thể; không gì có thể được gọi là "tôi" thực sự. Ai cũng sẽ đồng ý rằng không yếu tố nào, sắc hay thọ hay tưởng, hay một hoạt động tâm linh nào thuộc hành uẩn, hay thức, không một yếu tố nào trong số ấy có thể thực gọi là "tôi". Nhưng khi năm uẩn vật lý và tâm lý này vốn tương quan với nhau, cùng hoạt động phối hợp như một bộ máy vật lý - tâm lý, thì khi ấy ta có một ý tưởng về "tôi". Nhưng đây chỉ là một ý tưởng sai lầm, một tạo tác của tâm thức thuộc về hành uẩn  như đã nói, hoạt động ấy là một tưởng về thân gọi là thân kiến (Sakkàyaditthi).
Năm uẩn ấy họp lại, mà ta quen gọi là một "cá thể" chính là dukkha (Samkhàra-dukkha). Không có cá thể hay "tôi" nào khác đằng sau năm uẩn ấy để chịu khổ. Như Buddhaghosa đã nói: "Chỉ có đau khổ, nhưng không có người khổ đau".

 Có nghiệp, nhưng không có con người tạo nghiệp. Không có một người đẩy xe bất động đằng sau sự chuyển động. Chỉ có sự chuyển động. Không đúng khi nói rằng sự sống đang chuyển dịch, mà sự sống chính là chuyển dịch. Sự sống và chuyển dịch không phải là hai. Nói cách khác, không có người tư tưởng ở đằng sau tư tưởng. Chính tư tưởng là người tư tưởng. Nếu tách bỏ tư tưởng ra, ta sẽ không tìm thấy đâu là người tư tưởng. Ở đây ta không khỏi nhận xét: quan điểm Phật giáo đối lập hoàn toàn với Cogito ergo sum của Descartes:  "Tôi suy nghĩ, tức là tôi hiện hữu."

27/08/2012
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #4 vào: 14/09/2012, 09:37:48 »
Nguyên văn

蛇頭尾共爭在前喻 (百喻經)
譬 如 有 蛇。尾 語 頭 言: 我 應 在 前。頭 語 尾 言:“我 恒 在 前, 何 以 卒 爾?”頭 果 在 前, 其 尾 纏 樹, 不 能 得 去, 放 尾 在 前, 即 墮 火 坑, 燒 爛 而 死。


Phiên âm

Xà đầu vỹ cộng tranh tại tiền dụ

Thí như hữu xà, vỹ ngứ đầu ngôn: “ngã ưng tại tiền”. Đầu ngứ vỹ ngôn: “ngã hằng tại tiền, hà dĩ tốt nhĩ?” Đầu quả tại tiền, kỳ vỹ triền thụ, bất năng đắc khứ, phóng vỹ tại tiền, tức đọa hỏa khanh, thiêu lạn nhi tử. (Kinh Bách Dụ - 54)

Dịch

Ðầu Rắn Và Đuôi Rắn Tranh Cãi

Ví như có con rắn, đuôi nói với đầu rằng: “Hôm nay để ta đi trước.” Ðầu rắn trả lời: Thường thường ta đi trước, tại sao nay ngươi đòi đi ngược như vậy?

Ðầu rắn chuyển mình đi trước, đuôi rắn bèn quấn chặt vào thân cây không nhả, đầu rắn đi không được, đành phải nhường cho đuôi rắn đi trước mình. (Đuôi không mắt) chạy lủi vào hầm lửa, bị thiêu chết rụi.

Ý nghĩa

Cuộc đời ai cũng muốn tranh phần ưu thế, lợi thế về mình, tranh giành quyền lực trong cộng đồng.

- Triết lý Phật giáo cho rằng số phận hiện tại của anh là do nghiệp lực từ những đời quá khứ, có thể anh giỏi nhưng a ko có cái "nhân" để trở thành nhân vật số 1 thì anh cũng phải chấp nhận vị trí số 2. Hàn Tín, Trương Lương, Khổng Minh, Quản Trọng.....ko phải là ko có khả năng làm vua nhưng lại ko có cái "nhân" hay cái số làm vua thì cũng ko thể làm được. Nếu a chấp nhận sự thật này thì anh cứ an phận, và sẽ được sống 1 cách bình an, nhưng nếu a ko cam lòng, mà cứ vẫy vùng thì sẽ gánh 1 số phận là chết thảm ( như Hàn Tín bị chém ngang lưng), có được cái gì đâu? chỉ chuốc khổ vào thân. Khổng Minh 5 lần, 7 lượt muốn thay đổi cục diện chính trị thời Tam Quốc, nhưng kết cục là lao tâm khổ trí, chết sớm chỉ mới ở lứa tuổi ngoài 50

- Như vậy, vấn đề là phải hiểu ra cái vị trí và thế đứng của mình, hiểu rõ bản chất của sự kiện, của tình huống mà mình muốn thay đổi, đuôi là phần sau có cái chức năng của nó, đầu là phần trước đang nắm thể chủ đạo, nó có "mắt", nên nó có ưu thế, cho dù đôi mắt nó có mờ, có đui thì nó vẫn là đang ở thế thượng phong, điều đó là ko thể thay đổi. Vậy thì tranh làm gì? đấu làm chi? khi điều kiện chín muồi thì tự nó sẽ thay đổi theo quy luật của lịch sử, tác đông ko đúng thời điểm sẽ gánh lấy thất bại mà thôi.

Đoạn kinh này cũng ko có gì là mới mẻ, có thể mọi người đều biết nhưng lại ko thể vận dụng cho điều kiện sống của chính mình, cái học nhất là học Phật luôn đòi hỏi cái hành như hình với bóng, bất khả phân ly. Đấu tranh ko đúng thời sẽ mang họa cho cả mình và những người có liên quan.

Tóm lại là hãy thay đổi những gì có thể thay đổi được, và chấp nhận khi ko thể làm gì khác được. Điều này nghe có vẻ bi quan, nhưng đó là sự thật và ko phải lúc nào người ta cũng có thể thay đổi cái sự thật nghiệt ngã này.

14/09/2012
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi bach_lang

  • **
  • Bài viết: 86
  • Đánh giá: +0/-0
  • Vân cẩu
Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #5 vào: 21/12/2013, 22:45:06 »
Tác giả: Thanissaro
Nguồn tiếng Anh: Befriending the Suttas - Tips on Reading the Pali Discourses

Làm bạn với kinh Pali-Phần 1


Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
    Tương ưng bộ kinh


Kinh điển Pali bao gồm hàng ngàn bộ kinh, và đang được phổ biến rộng rãi trên mạng. Đứng trước kho tàng đồ sộ đó, tự nhiên bạn sẽ bối rối: Tại sao tôi nên đọc những kinh này? Đọc kinh nào bây giờ? Đọc như thế nào?

Không có một câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi đó. Nhưng ở đây có một điều chắc chắn : câu trả lời phù hợp nhất cho bạn, là câu trả lời của chính bạn. Mặc dù như thế, ở đây, tôi xin  khuyên bạn vài lời khi bắt đầu cuộc hành trình tìm hiểu kinh điển. Đó là những điều tôi thấy bổ ích trong những năm tu tập và tìm hiểu kinh. Có lẽ, bạn cũng sẽ tìm được một vài điều bổ ích.

Tại sao tôi nên đọc kinh Pali?

Bởi vì kinh Pali là nguồn gốc mọi giáo pháp của Phật giáo Nguyên Thủy

Nếu bạn cảm thấy có hứng thú tìm hiểu những lời dạy của Phật giáo Nguyên Thủy, thì tam tạng Pali (bao gồm kinh tạng ) là tư liệu gồm những lời khuyên và hỗ trợ có thẩm quyền nhất. Bạn không cần lo lắng là liệu có phải chính Đức Phật lịch sử nói câu kinh đó hay không (Dù sao cũng không ai có thể chứng minh điều đó…). Nhưng hãy nhớ rằng, những lời dạy này đã được thực hành – và có hiệu quả rõ ràng- bởi vô số Phật tử trong suốt 2600 năm qua. Nếu muốn biết thực sự liệu những bài giảng này có hiệu quả thật không, vậy thì bạn hãy học kinh, thực hành và chứng thực.

Bởi vì kinh tạng thể hiện toàn bộ giáo pháp

Những bài giảng trong kinh, khi xem một cách tổng thể, sẽ cho bạn thấy một bản đồ hướng dẫn hoàn chỉnh đường đi từ điểm bắt đầu là mức độ tâm linh hiện tại của bạn đến mục đích cuối cùng là giải thoát hoàn toàn. Cho dù mức độ tâm linh của bạn là như thế nào- người vô thần, nhà huyền học, cư sĩ, hay tăng lữ, hay đơn thuần chỉ là một người ngoài cuộc muốn xem “Phật giáo có gì hay”... trong kinh chắc chắn sẽ có những điều giúp bạn tiến thêm một bước trên con đường đến hạnh phúc. Càng đọc nhiều kinh, bạn càng không cần phải tìm hiểu tư tưởng từ các truyền thống tâm linh- tôn giáo khác. Bởi vì, kinh Pali đã bao gồm hầu hết những gì bạn cần biết.

Bởi vì kinh tạng thể hiện sự toàn diện nhất quán của giáo pháp

Những bài giảng trong kinh Pali rất nhất quán, nhất quán ở một điều – đó là vị giải thoát (1). Nhưng đôi khi, bạn có thể gặp một số kinh dường như trái ngược với hiểu biết về Chánh pháp của bạn. Đừng lo lắng, khi suy ngẫm cẩn thận về chướng ngại đó, những mâu thuẫn  sẽ tự tan rã, mở ra một chân trời hiểu biết mới.

Ví dụ như, bạn kết luận rằng nên thực hành từ bỏ mọi tham muốn sau khi đọc Kinh về dục(2) .Nhưng khi đọc một kinh Bà-La-Môn (3), bạn lại được dạy rằng, sự tham muốn tự chính nó là một nhân tố cần thiết trên con đường tu học. Chỉ sau khi quán chiếu bạn mới có thể  hiểu Đức Phật dạy rằng có nhiều loại tham muốn, và có một số đáng để tham muốn – sự giải thoát khỏi tất cả mọi tham muốn. Và khi đó, sự hiểu biết của bạn sẽ tiến thêm một bước mới và mâu thuẫn giữa 2 kinh sẽ không còn.

Theo thời gian, bạn sẽ nhận ra rằng những “mâu thuẫn” như thế không phải là sự không thống nhất của kinh điển mà là gợi ý rằng, kinh mà đang đọc đã đưa bạn đến ranh giới sự nhận biết của chính bạn. Việc bước qua ranh giới đó tùy thuộc vào bạn.

Bởi vì kinh cung cấp rất nhiều lời khuyên thực tế

Trong kinh điển, bạn sẽ tìm thấy một kho tàng lời dạy thực tế áp dụng cho cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn như: làm thế nào để mọi người trong nhà hòa thuận với nhau [DN 31], làm thế nào để giữ gìn của cải [AN 4.255], cái gì nên nói và cái gì không nên nói [AN 10.69], khi đau khổ nên làm thế nào [AN 5.49] và thậm chí, khi sắp chết nên làm như thế nào [SN 22.1] và còn rất nhiều, rất nhiều... Tóm lại, cho dù hoàn cảnh của bạn như thế nào, cho dù bạn có tự gọi mình là Phật tử hay không, trong kinh Pali luôn có rất nhiều lời khuyên thực tế cho việc tìm kiếm hạnh phúc cho bạn. Và tất nhiên, ở đây còn có rất nhiều hướng dẫn về thiền định.

Bởi vì kinh củng cố niềm tin của bạn vào Chánh Pháp.

Khi đọc kinh, đôi lúc bạn sẽ gặp những điều đã biết là đúng từ kinh nghiệm của riêng bạn. Có lẽ, bạn đã quá hiểu nguy hiểm của chứng nghiện rượu [DN 31], hoặc, bạn đã cảm nhận niềm vui tao nhã khởi lên khi tâm tập trung[AN 5,28]. Nhìn lại kinh nghiệm của bản thân dưới ánh sáng của kinh -ngay cả trong những điều nhỏ nhặt thường ngày – sẽ khiến cho bạn dễ chấp nhận những kinh nghiệm thâm sâu mà Đức Phật mô tả là không quá xa vời, rằng một số bài giảng trừu tượng và khó hiểu, có thể, thực tế không quá lạ lẫm. Điều xác nhận này (kinh nghiệm của bạn so với kinh) có thể truyền cảm hứng cho thiền định và đưa niềm tin và sự hiểu biết của bạn đến một chân trời mới.
Bởi vì kinh hỗ trợ và động viên thực hành thiền định

Khi đọc về kinh nghiệm thiền định của người khác trong kinh, bạn sẽ có nhận biết về những gì bạn đã đạt được trong khi thực hành, và những gì cần phải được thực hiện. Sự hiểu biết này sẽ đưa đến động lực mạnh mẽ khiến bạn toàn tâm thực hành giáo lý.

Bởi vì, đơn giản: đọc kinh là điều tốt.

Toàn bộ lời dạy trong kinh đều mang tính bổ ích, và tất cả những lời dạy đó đều giúp bạn tu tập những phẩm chất đáng quý như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, chánh niệm, v.v.... Khi đọc một bài kinh, bạn đã bỏ vào kho tâm trí những bổ ích. Khi suy ngẫm về những điều độc hại và rác rưởi mà các phương tiện truyền thông vẫn thường đổ vô tội vạ vào chúng ta mọi lúc, một chút tu tập Chánh Pháp hằng ngày có thể trở thành một hòn đảo cho tâm trí lành mạnh của bạn trong một vùng biển đầy bão tố. Hãy chăm sóc tốt của tâm trí của bạn - đọc một bài kinh và hãy thực hành nó bằng tất cả tâm trí.

Chú thích
(1) Ud 51 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt2.htm#chuong5
(2)http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt4.htm
(3)Ba-La-Mon (S.v,271) http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-51.htm
« Sửa lần cuối: 22/12/2013, 10:55:27 gửi bởi bach_lang »
Dã hỏa thiêu bất tận- Xuân phong xuy hựu sinh
 

Ngủ rồi bach_lang

  • **
  • Bài viết: 86
  • Đánh giá: +0/-0
  • Vân cẩu
Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #6 vào: 22/12/2013, 10:57:01 »
Tác giả: Thanissaro
Nguồn tiếng Anh: Befriending the Suttas - Tips on Reading the Pali Discourses

Làm bạn với kinh Pali-Phần 2

Nên đọc kinh nào?
Trả lời: hãy đọc bất cứ kinh nào bạn thích.

Để hình dung, hãy tưởng tượng Giáo Pháp như một viên ngọc nhiều mặt, mỗi bài kinh cho bạn nhìn thoáng qua một hai mặt của viên ngọc đó. Chẳng hạn, giáo lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo; Bố thí và Trì Giới, chánh niệm trong hơi thở [MN 118]và chánh niệm về cái chết [AN 6.19], sống theo giáo pháp khi là một cư sĩ [DN 31], hay như một vị tăng [DN 2].v.v.... Không một bài kinh nào có thể bao gồm hết thảy giáo pháp, mỗi bài đều dựa trên những bài khác để tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh của giáo lý do Đức Phật giảng dạy. Càng đọc nhiều kinh, bức tranh của viên ngọc quý này càng hiện rõ hơn trong tâm trí bạn.

Khi bắt đầu, bạn nên học hỏi , suy ngẫm, và thực hành năm giới và 5 đối tượng quán hàng ngày (1). Hơn nữa, nên ghi nhớ kỹ lời dạy của Đức Phật dành cho La Hầu La [MN 61] về trách nhiệm của chúng ta với mỗi một hành động có chủ ý. Từ đó, dần dần bạn có lần theo từng bước chân Phật, hoặc nắm vững hệ thống giáo lý bao gồm bố thí, giới hạnh,luân hồi, nguy hiểm của dục,xả ly và Tứ Diệu Đế.

Nếu bạn muốn có một nền tảng vững chắc về các vấn đề cơ bản của giáo lý của Đức Phật, ba bài kinh sau được xem là cần thiết: Kinh Như Lai thuyết-Phẩm Chuyển Pháp Luân-Tương ưng bộ kinh (2), Kinh Năm vị - Phẩm Tham Luyến-Tương ưng bộ kinh (3), và Kinh Bị Bốc Cháy –Phẩm Vô Thường-Tương ưng bộ kinh (4). Những bài kinh này là ba cây đại thụ trong Tạng Kinh (Sutta Pitaka). Chúng định rõ những khái niệm căn bản của giáo lý mà vẫn thường xuất hiện dưới nhiều biến thể khác nhau trong trong tạng kinh như: Tứ Diệu Đế, bản chất của khổ, Bát Chánh Đạo, Trung Đạo, pháp luân, anatta (vô ngã) và phân tích "tự ngã" thành năm uẩn, cách từ bỏ sự gắn bó vào khoái cảm nhục dục, và vũ trụ quan Phật giáo. Bởi vì tất cả mọi kinh khác đều liên hệ đến những khái niệm cơ bản này, chúng cung cấp một nền tảng vững chắc để tiếp tục thâm nhập sâu hơn vào kinh điển.

Hơn nữa, ba bài kinh này là minh chứng cho năng khả năng giảng dạy của Đức Phật như một thầy giáo: tổ chức bài giảng của mình rõ ràng, hợp lý, dễ nhớ bằng cách tạo ra những danh sách các khái niệm quan trọng (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, ngũ uẩn, v.v...), khuyến khích người nghe tham gia đối thoại tích cực để giúp họ tự nhận ra tà kiến, giảng bài bằng cách sử dụng hình ảnh so sánh và ngụ ngôn phù hợp với người nghe , quan trọng nhất, Đức Phật luôn thấu hiểu căn cơ của thính giả và chọn phương tiện để thuyết pháp hiệu quả đến mức người nghe có thể tự nhận biết thành quả mà Ngài giảng. Việc hiểu rằng Đức Phật là một giáo viên xuất sắc càng khuyến khích chúng ta đi sâu vào nghiên cứu Tam Tạng,với lòng tin là giáo huấn của Ngài sẽ không dẫn chúng ta lạc lối.

Một số kinh điển khác cho việc bắt đầu học Phật:

- Khuddaka Nikaya (Tiểu Bộ kinh) cung cấp một kho tàng phong phú các bài kinh quan trọng được thể hiện dưới dạng thơ hay câu văn ngắn. Chẳng hạn như Dhammapada (Kinh Pháp Cú), Sutta Nipata(Kinh Tập – Tiểu Bộ kinh), Therigatha (Trưởng lão ni kệ - Tiểu Bộ kinh), và Theragatha(Trưởng lão tăng kệ - Tiểu Bộ kinh).

- Đối với các chỉ dẫn cơ bản của Đức Phật về thiền định hơi thở, xem Kinh Nhập tức Xuất tức niệm (MN 118), về hướng dẫn thực hành chánh niệm, xem kinh Đại niệm xứ(Kinh Trường Bộ -DN 22).

- Để tìm hiểu làm thế nào để rèn luyện tâm từ bi, xem Kinh Từ bi.

- Trong Kinh Devadaha(5) ngài Xá Lợi Phất giải thích làm thế nào để giới thiệu giáo lý của Đức Phật cho những người thông minh và ham học hỏi- những người như bản thân bạn.

- Làm thế nào để biết con đường tâm linh nào đáng thực hành theo, con đường nào không đáng theo? Kinh Kalama sẽ làm sáng tỏ vấn đề muôn thuở đó.

- Trong Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt(DN 31) Phật thuyết một bản "hướng dẫn chi tiết" làm cách nào cư sĩ có thể sống một cuộc đời hạnh phúc và đầy đủ.

Khi bạn tìm thấy một bài kinh bạn quan tâm, hãy tìm bài kinh khác tương tự. Từ đó, hãy đọc tùy ý, hãy cho vào kho tàng tâm trí của bạn bất kỳ viên đá quý nào bạn thích dọc chuyến hành trình.

Ghi chú
(1) AN 5.57 Kinh Sự kiện cần phải quan sát- Tăng chi bộ kinh
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm
Thế Tôn lời dạy tỏ tường
Năm điều quán tưởng phải thường xét ra:
Ta đây phải có sự già
Thế nào tránh thoát lúc qua canh tàn
Ta đây bịnh hoạn phải mang
Thế nào tránh thoát đặng an mạnh lành
Ta đây sự chết sẵn dành
Thế nào tránh khỏi tử sanh đến kỳ
Ta đây phải chịu phân ly
Nhân vật quý mến ta đi biệt mà
Ta đi với nghiệp của ta
Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình
Theo ta như bóng theo hình
Nhân nào quả nấy phân minh kết thành
(2) S.v,420 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-56a.htm
(3) S.iii,66 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22c.htm
(4) S.iv,19 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35a.htm
(5) S.iii,5 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22a.htm
Dã hỏa thiêu bất tận- Xuân phong xuy hựu sinh
 

Ngủ rồi bach_lang

  • **
  • Bài viết: 86
  • Đánh giá: +0/-0
  • Vân cẩu
Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #7 vào: 23/12/2013, 10:05:03 »

Nên đọc kinh như thế nào?


Để học kinh hiệu quả, bạn nên xem xét một số nguyên tắc chung trước khi thực sự bắt đầu đọc.Một khi đã bắt đầu đọc, bạn nên có sẵn một số câu hỏi.

Một số nguyên tắc chung

Không có bản dịch "hoàn hảo".
Đừng quên rằng các kinh điển Pali đã được ghi lại bằng tiếng Pali, chứ không phải bằng tiếng Anh, tiếng Việt hay tiếng Hán. Chưa từng một lần Phật dùng những từ ngữ như "đau khổ" hay "giác ngộ", Ngài dùng những từ như dukkha hay nibbana. Hãy nhớ, rằng tất cả các bản dịch tiếng Anh, tiếng Việt hay tiếng Hán đều đã được chọn lọc và nghiên cứu bởi một người phiên dịch – điều không thể tránh khỏi là bản dịch sẽ chịu sự ảnh hưởng của văn hóa tại thời điểm đó, của kinh nghiệm và sự thấu hiểu kinh điển của người dịch(1). Bản dịch tiếng Anh của những bài kinh trong khoảng cuối thế kỷ 19 và 20 đối với chúng ta ngày nay có vẻ nặng về và khó hiểu, nhưng chắc chắn một trăm năm sau kể từ lúc dịch, các bản dịch bây giờ cũng sẽ trở nên nặng nề và khó hiểu như vậy. Dịch thuật, cũng như việc cố gắng vẽ một hình cầu như Trái đất vào một bản đồ mặt phẳng , là một nghệ thuật không hoàn hảo.

Vì vậy, chúng ta không nên cố chấp vào văn tự trong bất cứ bản dịch nào, cho dù đó là một từ hay một bài kinh. Chẳng hạn, một khi từ dukkha được người dịch chuyển ngữ là "đau khổ" hay từ Nibbana là “giải thoát”, không có nghĩa rằng bạn nên chấp nhận những từ chuyển ngữ đó như là chân lý tuyệt đối. Hãy hiểu nghĩa chúng theo cách áp dụng những định nghĩa đó vào cuộc sống của bạn, và theo hiệu lực của chúng đối với cuộc đời bạn. Bên cạnh đó, hãy tìm hiểu những bản dịch khác. Hãy để sự hiểu biết của bạn được tự do và trưởng thành, và tu tập thái độ cởi mở trong việc xem xét các bản dịch khác. Có lẽ, theo thời gian, sở thích riêng của bạn sẽ thay đổi (ví dụ, bạn có thể thích cách chuyển ngữ dukkha và nibbana thành "phiền não" và "sự dập tắt của phiền não" hơn). Hãy nhớ rằng bất kỳ bản dịch nào là cũng chỉ là phương tiện tạm thời cho việc tu tập cho đến lúc bạn chứng đắc được những gì mà chúng mô tả.

Nếu bạn thật sự nghiêm túc hiểu rõ kinh muốn nói gì, bạn sẽ phải bỏ công học một ít tiếng Pali. Nhưng có cách tốt hơn nữa: đọc nhiều bản dịch khác nhau và thực hành chúng, cho đến khi bạn đạt được những gì Phật giảng trong kinh. Lịch sử chứng minh sự thật hiển nhiên là bạn không cần phải biết tiếng Pali để giác ngộ.

Không một bài kinh nào bao gồm toàn bộ giáo lý.


Để học kinh có hiệu quả tốt nhất, hãy tìm hiểu nhiều bài kinh khác nhau chứ không nên đọc chỉ một “tuyển chọn” nào đó. Chẳng hạn như, giáo lý về chánh niệm, tuy rất quan trọng, nhưng cũng chỉ là một mảnh nhỏ của toàn bộ Giáo Pháp. Nguyên tắc chính ở đây là: bất cứ khi nào bạn nghĩ rằng bạn đã hiểu được toàn bộ giáo pháp có những gì, hãy xem đó là dấu hiệu cho việc cần phải đào sâu nghiên cứu kinh tạng hơn nữa.

Đừng lo lắng về việc những từ này thực sự là do Phật giảng hay không.

Không có cách nào để chứng minh thực sự một kinh nào đó là do chính Đức Phật thuyết giảng. Nhưng, chỉ cần đọc, cố gắng áp dụng giáo pháp vào thực tiễn, và hãy chờ xem điều gì sẽ xảy ra. (2)

Nếu bạn thích một kinh nào đó, hãy đọc nó lần nữa.

Đôi khi bạn tìm thấy một bài kinh khiến bạn hoan hỷ ngay lần đầu tiên đọc. Hãy tin vào cảm giác này và, đọc lại vài lần nữa. Cảm giác này nghĩa là bài kinh có bài học quan trọng nào đó cho bạn và cơ duyên của bạn đã chín muồi để tu tập bài kinh đó. Ngay cả khi nhiều lần đọc lại, có lẽ sau một vài năm tháng, bạn sẽ nhận ra ở bài kinh quen thuộc đó một điều nào đó mà bạn bỏ lỡ.

Nếu bạn không thích một bài kinh, đọc nó một lần nữa.

Đôi khi bạn gặp một bài kinh chỉ khiến bạn cảm thấy khó chịu. Đừng lờ cảm giác này đi, nó cũng có nghĩa là bài kinh có một điều quan trọng nào đó dạy cho bạn nhưng, khác với lần trước, lần này ba la mật của bạn chưa chín muồi để hiểu bài kinh đó. Hãy đánh dấu bài kinh đó và,tạm thời đặt nó qua một bên. Sau vài tuần, vài tháng, hay đôi lúc, vài năm sau, hãy thử thâm nhập bài kinh một lần nữa. Có lẽ, lúc đó, khi cơ duyên đã đủ, bài kinh sẽ mang đến cho bạn những kinh nghiệm quý báu.

Nếu bạn cảm thấy bài kinh nhàm chán, khó hiểu, không giúp gì cho bạn, hãy đặt nó sang một bên.

Tùy thuộc vào nhu cầu, căn cơ và trình độ thiền định, bạn có thể thấy một bài kinh nào đó tối nghĩa hoặc hoàn toàn tẻ nhạt và nhàm chán. Bây giờ, hãy đặt kinh đó sang một bên cho và thử một kinh khác. Hãy tiếp tục, chăm chỉ tìm đọc cho đến khi nào bạn tìm được một bài kinh nào đó mà bạn cảm thấy bài kinh đó dường như hoàn toàn chỉ dành cho bạn.

Một bài kinh phù hợp với bạn là một bài kinh thôi thúc bạn dừng đọc
Toàn bộ ý nghĩa việc đọc kinh là việc khuyến khích bạn tu tập chánh kiến, chánh mạng , và chánh định. Vì vậy, khi đang đọc, nếu cảm thấy sự thôi thúc đặt quyển sách xuống, tìm một nơi yên tĩnh, ngồi xuống và nhắm mắt lại, sự thôi thúc bạn tập thiền, hãy tập thiền ! Bạn có thể đọc lại kinh vào một lúc sau, kinh vẫn ở đó khi bạn trở lại.

Đọc toàn bộ kinh lớn tiếng

Điều này có một số lợi ích: nó khuyến khích bạn đọc từng từ một trong các bài kinh, rèn luyện bạn sử dụng chánh ngữ, tập cho bạn làm quen với việc nghe pháp.

Nghe giáo pháp ở các cấp độ khác nhau

Nhiều bài kinh giảng ý Phật nhiều cấp độ khác nhau cùng một lúc, hãy tập thói quen chiêm nghiệm chúng. Ví dụ như, khi Đức Phật giải thích cho một đệ tử những điểm tốt của chánh ngữ, hãy chú ý xem cách mà Đức Phật sử dụng chánh ngữ [MN 58]. Hãy xem xem liệu Đức Phật có "thực hành những gì người dạy" không? Bạn có thực hành những lời dạy đó không?

Đừng bỏ qua các lần lặp lại.

Nhiều bài kinh có chứa các đoạn lặp đi lặp lại. Hãy đọc như khi bạn nghe một bài nhạc: khi hát, hoặc nghe hát, không ai bỏ qua đoạn điệp khúc, tương tự như vậy, khi bạn đọc một bài kinh, đừng bỏ qua các điệp khúc. Cũng như trong âm nhạc, các điệp khúc trong bài kinh thường bao gồm những biến thể bất ngờ và quan trọng mà bạn sẽ không muốn bỏ lỡ.

Thảo luận kinh với một hai người bạn.

Bằng cách chia sẻ những quan sát và kinh nghiệm tu tập với một người bạn, cả hai có thể giúp nhau hiểu sâu bài kinh hơn. Hãy xem xét việc thành lập một nhóm tu học kinh (có thể không cần chính thức hóa). Nếu bạn có thắc mắc về kinh khiến bạn không an tâm , hãy hỏi một vị thầy có kinh nghiệm và đáng tin cậy để được hướng dẫn. Tham khảo vấn những vị trưởng lão, thường thì những quan điểm độc đáo về giáo lý của họ có thể giúp bạn giải đáp thắc mắc và tránh được nhầm lẫn.

Tìm hiểu một ít tiếng Pali

Một khi bạn đã đọc vài kinh hoặc vài bản dịch khác nhau của cùng một bài kinh, bạn có thể cảm thấy bối rối bởi việc chọn từ nào đó. Ví dụ, tại sao bản dịch này sử dụng từ " Nền tảng của Chánh Niệm ", trong khi đó bản dịch khác sử dụng “Tứ niệm xứ” cho từ satipatthana? Thực sự, nghĩa của các cụm từ này là gì? Việc tra từ điển Pali từ satipatthana (và các thành phần của nó) có thể giúp bạn hiểu thêm về từ này, một hiểu biết ở mức cao hơn về từ này có thể giúp bạn đọc kinh hiệu quả hơn rất nhiều.

Đọc những gì người khác nói về các bài kinh.

Luôn luôn hữu ích khi đọc những lời bình luận - cả từ lúc xưa và bây giờ - giảng về các bài kinh. Một số người thấy các bài Luận tạng(Abhidhamma Pitaka), đặc biệt là của ngài Buddhaghosa – rất dễ hiểu và hữu ích. (3).Một số người thích những nhà bình luận đương thời hơn(4). Nhiều tài liệu và tiểu luận nổi bật đã được viết bởi những tác giả như các ngài Bodhi, Khantipalo, Ñanamoli, Narada, Nyanaponika, Soma, và Thanissaro(5). Ngoài ra hãy đọc các tác phẩm của những bậc thầy trong truyền thống ẩn tu trong rừng Thái Lan, những quan điểm mới mẻ và độc đáo về các bài kinh của họ được dựa trên kinh nghiệm thiền định rất sâu.

Hãy để thời gian cho kinh thấm vào bạn.
Bất cứ thông điệp hữu ích nào mà bạn tìm thấy trong kinh, bất cứ niềm vui nào còn lại sau khi đọc, hãy nuôi dưỡng chúng, để chúng phát triển trong quá trình thực hành thiền định và trong cuộc sống của bạn. Theo thời gian, các ý tưởng, ấn tượng, và thái độ được mô tả trong bài kinh sẽ dần dần thấm vào tâm thức của bạn, làm mới lại cách bạn nhìn thế giới. Có thể một ngày bình thường, bình thường như mọi ngày khác, giữa lúc bạn lo toan bề bộn cuộc sống, chợt một lời dạy nào đó của Phật mà bạn đã đọc lâu về trước bỗng hiện lên trong tâm trí bạn, mang theo một bài pháp vô cùng hữu dụng và thiết thực cho đúng thời điểm này.

Để thúc đẩy quá trình kinh “thấm” vào, hãy để vào tâm trí bạn nhiều kinh khác nhau. Đừng để việc đọc kinh bị các hoạt động khác phiền nhiễu . Đừng đọc quá nhiều bài kinh cùng một lúc. Hãy khiến cho việc đọc kinh thành một trải nghiệm đặc biệt và thiêng liêng. Đó nên là một trải nghiệm đầy hoan hỷ. Nếu trải nghiệm đó trở nên khô khan và khó chịu, đặt mọi kinh điển sang một bên và sau vài ngày, vài tuần hay vài tháng, hãy cố đọc lại một lần nữa. Tu tập theo kinh đòi hỏi nhiều hơn là chỉ đơn giản là đọc một hai lần và tự nhủ "Bây giờ tôi đã đọc xong kinh Tứ Niệm Xứ. Tiếp theo nên đọc cái nào?" Sau khi bạn đọc xong một bài kinh, hãy dành thời gian thực hành thiền niệm hơi thở để tạo nhân duyên cho bài kinh đó thâm nhập vào tâm thức và con người bạn.

Ghi chú
Ghi chú của dịch giả
(1) bằng việc sử dụng từ ngữ, cách đặt câu, đặt vần, v.v….
(2) Như phần 1, giáo pháp đã được thực hành trong 2600 năm bởi vô số Phật tử (và rất nhiều người đạt giải thoát)
Những câu không phù hợp với điều kiện Việt Nam
(3) )Một vài trong số này là có sẵn trong bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pali Text Society và Hội Xuất bản Phật giáo- Buddhist Publication Society.
(4) chẳng hạn như những người viết trong Wheel Publications của Hội Xuất bản Phật giáo.
(5) Bạn cũng có thể thích thú khi đọc những lời giới thiệu và ghi chú tuyệt vời của Tỳ khưu Bodhi: The Middle Length Discourses of the Buddha (Boston: Wisdom Publications, 1995) and Maurice Walshe's The Long Discourses of the Buddha (Boston: Wisdom Publications, 1987)
« Sửa lần cuối: 23/12/2013, 10:06:39 gửi bởi bach_lang »
Dã hỏa thiêu bất tận- Xuân phong xuy hựu sinh
 

Ngủ rồi bach_lang

  • **
  • Bài viết: 86
  • Đánh giá: +0/-0
  • Vân cẩu
Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #8 vào: 23/12/2013, 10:07:56 »
Những câu hỏi nên nhớ khi đọc kinh

Khi đọc kinh, hãy nhớ rằng bạn đang nghe lời giảng của Đức Phật khi Ngài đang dạy người khác. Không giống các giáo chủ ngoại đạo cùng thời luôn bám chặt vào một học thuyết cố định khi trả lời mọi câu hỏi [AN 10,93], Đức Phật tùy theo căn cơ- nhu cầu của người nghe mà thuyết pháp. Do đó, hiểu được hoàn cảnh thuyết kinh rất quan trọng, ví dụ, việc nhận biết bạn với người được Phật giảng lúc đó có điểm chung nào sẽ gợi ý cho bạn về cách áp dụng lời dạy của Phật vào cuộc sống của chính bạn.

Khi đọc, việc để tâm một số câu hỏi sau đây có thể giúp ích bạn, 1)-giúp hiểu bối cảnh của bài kinh và 2)- chọn được mức độ phù hợp với căn cơ bản thân (kinh có nhiều mức độ hiểu khác nhau tùy vào căn cơ) . Mục đích những câu hỏi này không phải là khiến cho bạn trở thành một học giả Phật giáo, chúng chỉ đơn giản giúp kinh điển trở nên sống động và tiếp cận hơn với bạn.

Phật giảng kinh này ở đâu?

Đoạn mở đầu (thường bắt đầu bằng "Như vậy tôi nghe ...") giới thiệu bối cảnh cho bài kinh. Nó diễn ra trong một ngôi làng, trong một tu viện , hay trong rừng? Lúc đó đang là mùa nào ( mùa xuân- mùa mưa- mùa nóng)? Việc gì đang diễn ra? Việc mường tượng những chi tiết này nhắc nhở bạn rằng bài kinh này tả lại sự kiện có thật từng xảy ra với những người thật, như bạn và tôi.

Nhân duyên thuyết kinh là gì?

Một bài kinh có thể ít đề cập đến nhân duyên thuyết kinh [AN 7,6], trong khi kinh khác có thể được kể lại đầy đủ nhân duyên,  đôi khi như một câu chuyện nhỏ [MV 10.2.3-20]. Những câu chuyện đó góp gì cho bài kinh?

Ai khiến Phật thuyết kinh?

Đức Phật chủ động thuyết giảng [AN 10,69], hay một người nào đó đến hỏi [DN 2]? Nếu là trường hợp sau, liệu người hỏi có thái độ hay gợi ý ngầm nào? Một người nào đó đến với ý định đánh bại Phật trong tranh luận [MN 58]? Những suy tư này khiến bạn nhận rõ hơn về mục đích của kinh, và khả năng tiếp thu của người nghe pháp lúc đó. Từ đó bạn có thể suy ra thái độ bạn nên có khi tìm hiểu kinh.

Ai thuyết pháp?

Là Phật [SN 15,3], hay một trong những môn đệ của Người [SN 22,85], hoặc cả hai [SN 22,1]? Là nhà sư [SN 35,191] hoặc cư sĩ [AN 6,16]? Trình độ của tâm linh của người giảng như thế nào ( Tư đà hoàn [AN 6,16], hay A la hán [Thig 5,4])? Biết được những điều này có thể giúp bạn hiểu thêm về bối cảnh của kinh. Nhiều bài kinh có rất ít chi tiết tả về những người nghe kinh, trong những trường hợp như vậy hãy tham khảo những bài giảng kinh, luận, hay tham vấn một học giả Phật giáo hoặc một người tu hành.

Ai là đối tượng trực tiếp của kinh?

Phật giảng dạy một vị tăng [SN 35,85], ni [AN 4,159], hay một cư sĩ [AN 7,49]? Một nhóm người mà trong đó chỉ có vài người tin tưởng[SN 35,197] ?Một đám đông [MN 118] hay một cá nhân [AN 4,184]? Hoặc là những người ngoại đạo [MN 57]? Trình độ tâm linh của họ như thế nào? Nếu người nghe pháp là những vị Tư đà hoàn đang cố gắng chứng quả A La Hán, Phật sẽ giảng thâm sâu hơn so với cho những những người vừa nhập môn [AN 3,65]. Những câu hỏi này có thể giúp bạn ước định bài kinh này thích hợp với bạn đến mức nào.

Cách thuyết kinh như thế nào?

Đó là một buổi thuyết pháp trang trọng [SN 56,11], hay một buổi vấn đáp[Sn 5,6], một buổi kể chuyện[AN 3,15], hoặc đơn giản là những câu đầy cảm hứng [Thig 1,11] ? Nội dung chính yếu của bài pháp nằm trong nội dung của kinh [SN 12,2] hay bài pháp bao gồm cả cách Phật giao tiếp với người nghe pháp [MN 57]? Sự đa dạng về phong cách giảng dạy mà Đức Phật và các đệ tử của Ngài sử dụng cho thấy rằng không có phương pháp cố định để giảng Pháp, phương pháp được sử dụng phụ thuộc vào hoàn cảnh và căn cơ của thính giả.

Điểm chính yếu mà kinh muốn nói là gì?

Kinh nằm ở đâu trong giáo pháp Tam vô lậu học? Tập trung chủ yếu vào giữ giới [MN 61], Định [AN 5,28], hay Tuệ [MN 140]? Lời dạy của Phật có thống nhất với những bài kinh khác (ví dụ, Sn 2,14 và DN 31)? Vị trí của bài kinh này trong nhận biết của bạn về giáo pháp là như thế nào? Liệu kinh có phù hợp với hiểu biết trước đây của bạn về giáo pháp, hoặc khiến bạn phải suy tư kiểm chứng lại những nhận định, quan điểm của bản thân.

Kinh kết thúc như thế nào?

Người nghe giác ngộ ngay sau khi nghe [ SN 35,28], hoặc phải mất một thời gian ngắn sau khi nghe [MN 57]? Liệu có ai trở thành Phật tử, được minh chứng bằng câu " Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn ! Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn ! … " [AN 4,111] Đôi khi hành động thổi tắt một ngọn nến là đủ để cho một ai đó giác ngộ [Thig 5,10], đôi khi ngay cả chính Đức Phật không thể giúp người khác vượt qua nghiệp xấu mà họ đã tạo [DN 2]. Các kết quả khác nhau trong kinh minh họa cho sức mạnh và sự phức tạp của luật nhân quả.

Bài kinh mang đến cho tôi những gì?
Đây là câu hỏi quan trọng nhất , vì nó thách thức bạn sống theo kinh, thách thức bạn biến bài kinh thành một phần của bạn. Xét cho cùng, tâm bạn là thứ được chuyển đổi, chứ không phải trí thông minh. Hãy tự hỏi: Liệu tôi có giống nhân vật nào, trong hoàn cảnh tương tự như trong kinh? Câu hỏi hay lời dạy này có thích hợp với tôi hiện giờ không? Những tôi có thể học gì từ bài kinh? Bài kinh này khiến tôi nghi ngờ về khả năng giác ngộ của mình hay giúp tôi tự tin hơn và cũng cố niềm tin vào chánh pháp?

23/12/2013
Dã hỏa thiêu bất tận- Xuân phong xuy hựu sinh
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #9 vào: 23/12/2013, 12:45:06 »
Tôi cũng ko hiểu vì sao tôi rất có thiện cảm với kinh điển Pali  (Tipitaka) khi nghiên cứu Phật giáo, nhưng có lẽ vì tính giản dị, thực tế và thống nhất của nó làm cho người đọc cảm thấy dễ dàng để hiểu và thực hành đồng thời mang lại một hiệu quả thiết thực trong đời sống hàng ngày.

- Nó giản dị vì được dựa trên những ngôn ngữ thông thường của đời sống hàng ngày chứ ko phải là những từ ngữ triết lý hoặc thần học cao siêu,

- Nó thực tế vì có nguồn gốc xuất phát từ những nhu cầu hàng ngày của đời sống con người, mà nếu ứng dụng sẽ mang lại 1 hiệu quả đích thực.

- Tính thống nhất của nó có thể thấy rõ nhất từ việc cho rằng Tâm làm chủ các Pháp, thế giới của Tâm và vũ trụ có 1 sự tương đồng. Từ những sự chứng ngộ về về các tầng thiền mà người ta có thể hiểu được các cảnh giới của vũ trụ:

 + Những cảm giác bình thường có đặc tính dính mắc của con người được mô tả như cõi dục giới. Con người sống và đam mê dục trong trần gian này.

 + Người tu tập đạt được 4 tầng thiền  ( sơ, nhị, tam, tứ ) sẽ cảm nhận và sống trong cõi trời sắc giới, các cõi của những vị Phạm thiên

 + Nếu đạt được Thức vô biên, Không vô biên, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì người tu tập sẽ thể nghiệm đươc cõi trời Vô sắc.

Đức Phật đã trải nghiệm được các tầng Thiền kể trên với 2 vị thầy đầu tiên- Alara Kalama và Uddaka, nhưng ngài đã ko cảm thấy hài lòng vì cho rằng cảnh giới đó cũng ko phải là cảnh giới giải thoát hoàn toàn và tự ngài tu tập tiếp để tiến tới cảnh giới Diệt thọ tưởng.

+ Ở cảnh giới Diệt Thọ tưởng ngài đã chứng đắc Niết Bàn thoát khỏi cảnh luân hồi sinh tử.

Tóm lại từ các cảnh giới của Tâm người ta có thể hiểu được vì sao Phật giáo lại hình thành nên Vũ trụ quan của mình. Nhân sinh quan và Vũ trụ quan của Phật giáo là thống nhất. ( từ bài viết của Dr. Quang Xing- Buddhist Cosmology, giáo trình cao học Phật giáo tại IBC Thailand)

Do vậy tôi hoàn toàn thống nhất với í kiến của tác giả và các bài dịch mà bác bach_lang up lên.


N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thoton

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #10 vào: 07/06/2016, 16:47:38 »
Tôi muốn dịch bản luận văn MA Phật học cho những ai muốn tham khảo, vì nó khá dài- khoảng 30k từ 152 trang, nên nó sẽ được dịch từ từ.






Phần tóm lược (Abstract)

Mục đích của luận văn là muốn trình bày một quan điểm toàn diện về học thuyết vô ngã và sự vận hành của nó trong suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo Ấn Độ từ thời kì tiền Phật giáo đến Phật giáo Đại thừa tại Ấn Độ.

Bài nghiên cứu sẽ cung cấp đầy đủ kiến thức về sự hình thành và phát triển của học thuyết vô ngã trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và làm thế nào để hiểu chính xác khái niệm này. Nó cũng cung cấp lí do phát sinh ra luận điểm cái ngã Bổ đặc già la (Pudgala) được xem như đối nghịch với khái niệm vô ngã của Phật giáo nguyên thủy. Người viết sẽ đưa ra 1 cách giải thích mới về học thuyết vô ngã bằng cách sử dụng cụm từ “ Ngã tạm”

Sự so sánh học thuyết vô ngã với các quan điểm triết học khác tại Ấn Độ vào thời dó cũng như Triết học và Tâm lý học bề sâu của phương Tây nhằm làm sáng tỏ vấn đề cũng sẽ được trình bày trong bản luận văn này

Sau cùng, người viết sẽ đưa ra quan điểm riêng về ngã và vô ngã, làm thế nào để vận dụng nó vào thực tế vì tách rời sự thực hành thì mọi giáo lý Phật giáo sẽ trở nên vô nghĩa và vô dụng.

Việc thực hành giáo lý vô ngã sẽ giúp cho con người thoát khỏi đau khổ, nó sẽ dẫn đến việc mở mang trí tuệ và sự đạt đến giải thoát cho hành giả.

Sự phát triển học thuyết vô ngã là con đường giúp cho con người sống không dính mắc vào vật chất, bởi vì cuộc sống này là bấp bênh, ko có gì là chắc chắn. Chúng ta không thể kiểm soát cuộc sống, do vậy cần phải có 1 cách sống khôn ngoan và đừng quá dính mắc vào thân thể vật chất. Con người cần phải hiểu một cách rõ ràng rằng bản thân nó chịu sự qui định, ràng buộc của qui luật sinh, lão, bịnh, tử. Con người không phải là chủ nhân ông của cái được gọi là linh hồn của nó. Điều này giúp cho con người từ bỏ thế giới vật chất dẫn họ đến một đời sống cẩn thận và lưu ý hơn về thân phận mong manh của nó. Sự ca tụng hay chê bai bởi người khác không còn là điều quan trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống của họ nữa.

Quán tưởng về vô ngã và các hình thức đau buồn khác như già yếu và bịnh tật sẽ là bước đầu tiên trong sự tìm kiếm cái bất tử, sự thiền định về vô ngã này sẽ dẫn con người đến một thực tại chân thật

Lời cảm tạ

Bản luận văn này được đệ trình tại trường Đại học Phật giáo Quốc tế IBC Thailand như một phần thực hiện của các yêu cầu cho văn bằng Thạc sĩ Phật học. Trước hết tôi muốn bày tỏ sự cám ơn chân thành và sâu sắc đến Hòa Thượng giáo sư Tiến sĩ Wei Wu- người sáng lập trường IBC  đã tạo cơ hội cho những người bận rộn trong công việc làm như tôi học Phật học với chương trình online

Tôi cũng bày tỏ sự cám ơn đến GS Tiến sĩ Kapila Abhayawansa, người hướng dẫn luận văn về sự chỉ bảo và chia sẻ kiến thức Phật giáo một cách tận tình

Nhân cơ hội này, tôi cũng xin cám ơn tới Ông Arkady Fayngor, Ông Jim Quinn- Kiểm soát viên tập đoàn Stickley Furniture US, xếp trực tiếp của tôi, cho việc hiệu chỉnh hình thức, văn phong  và cấu trúc bản luận văn này.

Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến cha mẹ quá cố của tôi, các anh chị em, các bạn đạo đã khuyến khích, giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu Phật học. Sau cùng, tôi muốn xin lỗi không thể nêu hết các tên các vị đã giúp tôi bằng nhiều phương cách khác nhau để tôi có điều kiện học Phật.


Nguyễn Quý Hoàng           , 2016

Mục lục

Tóm tắt   ii
Lời cám ơn   iii
Các chữ viết tắt   v

CHƯƠNG I Phần Mở đầu   1

1.1 Bối cảnh và tầm quan trọng của vấn đề   1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu   3
1.3 Các vấn đề cần giải quyết   4
1.4 Giới hạn đề tài   4
1.5 Các nghiên cứu trước đây   5
1.6 Phương pháp nghiên cứu   14
1.7 Lợi ích của đề tài   15

 CHƯƠNG II Ngã thể theo Triết học Ấn Độ   17

2.1 Lược khảo Triết học Ấn Độ   17
2.2 Quan niệm cái Tôi, Ngã thể , Linh hồn, Nhân thể (Pudgala)  theo Triết Ấn và các truyền thống khác   24
  2.2.1 Cách dịch từ “Ngã thể” (attà)   24
  2.2.2 Cái tôi , Ngã (attā), Linh hồn, Nhân thể (Pudgala)   26
2.3 Ngã thể (attā)  trong Triết Ấn   32
  2.3.1 Ngã thể (ātman) theo Áo Nghĩa thư (Upaniṣads)   32
  2.3.2 Ngã thể theo Chí Tôn Ca (Bhagavad Gītā)   35
  2.3.3 Quan niệm Ngã thể theo truyền thống Vệ Đà (Vedā) và Áo Nghĩa thư (Upaniṣads)   36
  2.3.4 Quan niệm Ngã thể không theo truyền thống Vệ Đà (Vedā) và Áo Nghĩa thư (Upaniṣads)   50
2.4 Nhận xét Ngã thể theo Triết học Ấn Độ   54

CHƯƠNG III Học thuyết Vô ngã (anattà) theo Phật giáo Nguyên thủy   57

3.1 Vô ngã (No-self) hay Phi ngã (Not-self)   57
3.2 Mục đích của Phi ngã (Not-self) trong Phật giáo   59
  3.2.1 Phi ngã (Attà) và Đau khổ Dukkha   59
  3.2.2  Mục đích của Phi ngã    61
3.3 Ý nghĩa của việc chối bỏ Ngã thể trong Phật giáo   64
3.4 Phi Ngã (anattà) với các giáo lý liên quan   67
  3.4.1 Phi Ngã với Nghiệp (Kamma) & Tái sinh    67
  3.4.2 Phi Ngã (anattà) với Niết bàn (Nibbāna)   71
  3.4.3 Phi Ngã (anattà) với thuyết Duyên khởi (Paticca samuppāda)   73
  3.4.4 Phi Ngã với Ngũ uẩn (Pañca-khandhā)   77
  3.4.5 Phi Ngã với thuyết Thường Hằng (Eternalism) và Đoạn diệt (Nihilism)   84

3.5 Học thuyết Phi Ngã và những rắc rối của nó   86
  3.5.1 Vấn đề kí ức   86
  3.5.2 Vấn đề tác nhân hành động   88
  3.5.3 Vấn đề ý chí tự do ( Free Will)   89
  3.5.4 Vấn đề Nhận thức   90
3.6 Nhận xét về học thuyết Phi Ngã của Phật giáo Nguyên Thủy   91

CHƯƠNG IV Học thuyết Nhân thể (Pudgala) của Độc tử bộ Vātsīputrīyas trong thời kì Phật giáo Bộ phái (Nikāya Buddhism)   95

4.1    Lược khảo thời kì Phật giáo Bộ phái   95
  4.1.1 Các bộ phái thuộc Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika)   96
  4.1.2 Các bộ phái thuộc về Trưởng lão bộ ( Sthaviravāda)    97
4.2    Độc tử bộ (Vātsīputrīyas)    98
4.3    Khái niệm nhân thể (Pudgala)    99
  4.3.1 Định nghĩa Pudgala   99
  4.3.2 Đặc điểm của Pudgala   101
  4.3.3 Pudgala và khái niệm Thần ngã (Puruṣa) hay Tự ngã (Ātman)   102
  4.3.4 Chức năng Pudgala   103
  4.3.5 Pudgala  trong kinh tạng Pāli    104
4.4 Những quan điểm ủng hộ cho Pudgala   107
4.5 Những quan điểm chống lại  Pudgala   108
4.6 Nhận xét về khái niệm Nhân thể (Pudgala)   111

CHƯƠNG V Giáo lý Phi ngã  Not-self (Anattà) theo Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna)   115

5.1 Tánh không (sùnyatà) theo hệ tư tưởng Bát Nhã (Paññā)- Ngã Pháp câu Không (人 法 鉤 空) (sarva-dharma- sùnyatà)   117
5.2 Tánh không (sùnyatà) với Duyên khởi (pratìtyasamutpàda) (緣起性空) theo Trung Quán Madhyamaka (中觀)   121
5.3 Tánh không (sùnyatà) theo Duy thức Yogācāra (瑜伽)- Chủ thể Đối tượng Không   126
5.4 Tánh không (sùnyatà) trong Như lai tạng (tathāgatagarbha 如 來 藏)   128
5.5 Chân Không Diệu Hữu (眞空妙有)   129
5.6 Nhận xét về Phi Ngã (Tánh Không) theo Phật giáo Đại thừa   130

CHƯƠNG VI Kết luận   133

6.1 Sự thay đổi về học thuyết Phi Ngã trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ   133
6.2 Cái Ngã tạm   135
6.3 Phi ngã (Anattā) trong thực hành Phật giáo   138
6.4 Kết luận   140

Thư mục tham khảo   144
Tài liệu gốc   144
Tài liệu thứ cấp   146
Tham khảo trên trang mạng   149

« Sửa lần cuối: 08/06/2016, 15:24:39 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: thoton, dalanmai

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #11 vào: 08/06/2016, 15:21:45 »
CHƯƠNG I   
Phần giới thiệu


1.1 Bối cảnh và tầm quan trọng của vấn đề

Tôi là ai? Tôi ở đâu trước khi được sinh ra và sẽ đi về đâu sau khi rời bỏ thế giới này? Ngã thể là của tôi chăng? Tôi có thể kiểm soát nó không? Các câu trả lời cho những câu hỏi này là điểm trung tâm, là điều cốt lõi cho bất kì các tôn giáo nào. Phật giáo đã có những quan điểm rõ ràng về những vấn đề này, đức Phật đã nói: “ Tất cà các Pháp đều Vô ngã”.(1)   Vấn đề Vô ngã cũng rất được lưu tâm trong Ấn giáo và các tôn giáo khác vì nó là đặc điểm quan trọng nhất của đời sống con người. Tỳ kheo Buddhadāsa đã viết: “ Giáo lý Vô ngã là giáo lý nền tảng của Phật giáo…Nó độc đáo và làm tách biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác.” (2)    Giáo lý này xuất hiện lần đầu tiên trong bài giảng thứ hai của đức Phật có tên gọi là kinh Vô ngã tướng (Anattālakkhaṇa Sutta).

Trong lý thuyết cũng như thực hành, giáo lý Vô ngã đã dính dáng đến rất nhiều những khó khăn, chẳng hạn như làm sao hiểu được tính liên tục được duy trì của ngã thể từ cái chết đến tái sinh, nếu vô ngã thì cái gì di chuyển trong vòng luân hồi, làm sao con người có thể truy xuất kí ức của mình? Làm sao giải thích cái ý chí tự do của con người.

___________________________________
1. Narada Thera, The Dhammapada, p. 279
2. Buddhadāsa Bhikkhu, The Problems of God, Kamma and Anattā,  p.163



Hơn nữa, nếu không có các ngã thể, việc tu tập lòng từ bi sẽ đổ vỡ. Thiền định về lòng từ khuyến bảo chúng ta quán tưởng trên công thức ‘nguyện hết thảy chúng sanh đều hạnh phúc’. Làm sao người ta có thể thương yêu một khối kết nối các yếu tố phi  ngã và không thực thể? (3)  Xem ra, những phủ định này rất hợp lí và rất khó bắt bẻ.

Những vấn đề này đã dẫn đến sự hình thành quan niệm về Pudgala / Bố-đặc-già-la (nhân, ngã, con người, cái tôi) chống lại học thuyết Vô ngã truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy vì bất kì sự xác nhận cái ngã nào cũng được xem như là phản đạo trong Phật giáo.

Học thuyết về Pudgala được xem như là một quan điểm nổi bật trong lịch sử bộ phái Phật giáo tại Ấn Độ, nó góp phần làm sáng tỏ một số giáo lý trong Phật giáo chẳng hạn như Vô ngã, Tái sinh, Nghiệp báo, tuy nhiên, dù thế nào đi nữa nó được liệt vào nhóm siêu hình vì tính chất không thể giải thích, không thể bàn cãi trong tự thân khái niệm của chính nó.

Trong luận văn này, sự hình thành và phát triển giáo lý Vô ngã của Phật giáo Ấn Độ sẽ được nghiên cứu và khảo sát kĩ lưỡng. Tất cả các vấn đề liên quan như Ngã thể trong Phật giáo thực ra là gì? Có tồn tại một cái Ngã hay không? Vô ngã có phải là không có Ngã hay không?... sẽ được được giải thích một cách rõ ràng và thỏa đáng.

______________________________________
3. Edward Conze, Buddhist Thought in India, p.127


Dựa vào sự phân tích kĩ lưỡng về ngã thể, khái niệm “ Một cái ngã tạm thời” sẽ được nêu lên bởi người viết với mục đích giải thích rõ ràng hơn cho học thuyết vô ngã. Đây không phải là một khám phá mới mà chỉ là một cách giải thích mới cho một vấn đề cũ gây ra biết bao tranh cãi trong thời kì Phật giáo Bộ phái tại Ấn Độ.

1.2 Mục đích của luận văn

Giáo lý Vô ngã là học thuyết trung tâm của Phật giáo, nên nó cần được xem xét và khảo sát kĩ lưỡng về ý nghĩa, về bản chất và mối liên quan của nó với những giáo lý khác trong Phật giáo. Ngoài ra, người viết luận văn này cũng muốn so sánh nó với các quan điểm triết học khác về ngã thể trong và ngay cả trước thời kì Phật giáo ra đời,  theo dõi sự vận động, thay đổi và phát triển của nó trong suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo Ấn Độ và điều tra những nguyên nhân gây ra một học thuyết Pudgala đối kháng, được xem như là phản Đạo của Độc tử bộ đối với Phật giáo Nguyên thủy.

Do đó, mục đích chính của luận văn là trình bày một quan điểm tổng hợp và toàn diện về giáo lý Vô ngã xem xét sự vận động, thay đổi và phát triển của nó trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ, từ thời kì tiền Phật giáo, thời kì PG nguyên thủy, PG bộ phái cho đến PG Đại thừa và đưa ra cách giải thích khác về giáo lý Ngã trong Phật giáo mà dựa vào đó, người tu tập Phật giáo sẽ không rơi vào một môi trường mang tính chất đánh đố gây hoang mang và khó khăn trong việc thực hành giáo lý này.

Thêm vào đó, để làm sáng tỏ vấn đề , người viết cũng sẽ so sánh thuyết Ngã thể của Phật giáo với các quan điểm về Ngã của triết học, Tâm lý học bề sâu của phương Tây, Thiên Chúa giáo, Ấn giáo.

1.3 Các vấn đề cần giải quyết

Các vấn đề sau đây cần được giải quyết:

(1)   Định nghĩa Ngã thể trong một số nền văn hóa
(2)   Ngã thể theo Triết học Ấn Độ
(3)   Nghĩa của Vô ngã theo (anattà)’ theo Phật giáo Nguyên thủy
(4)   Tại sao Phật giáo nguyên thủy  phủ định ngã ‘Self (attā) 
(5)   Sự phát triển của học thuyết Vô ngã (anattà) trong thời kì Phật giáo Bộ phái (Nikāya), và Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna) 
(6)   Quan điểm về Bổ đặc già la ( Pudgala) trong thời kì PG Bộ phái ( Độc tử bộ)
(7)   Ý tưởng “Ngã tạm” được đề nghị  bởi người viết
(8 )   Thực hành Pháp Vô ngã (anattā) trong đời sống hàng ngày

1.4 Giới hạn đề tài

Luận văn này chỉ giới hạn trong việc đề cập đến giáo lý Vô ngã của lịch sử Phật giáo Ấn Độ, không nói đến các truyền thống Phật giáo khác ngoài Ấn Độ như Trung Hoa và các nước châu Á khác.

Và như vậy, các tài liệu tham khảo cho luận văn này cũng chỉ chọn những tác phẩm, bài viết, những phần liên quan đến Phật giáo Ấn Độ mà thôi.

1.5 Các nghiên cứu trước đây

Có rất nhiều bài viết tách rời hay riêng biệt về Ngã thể, về Vô ngã về Bổ đặc già la, nhưng người viết chỉ chọn 7 công trình tiêu biểu mà chúng ít nhiều có liên quan đến đề tài nghiên cứu này  để khảo sát.

Ngoài những công trình đề cập ở trên ra, sự phủ định về Ngã cũng được tìm thấy trong luận phẩm những điểm dị biệt -Points of Controversy (Kathāvatthu), trong chương 9 của A tỳ Đạt ma Câu xá luận của ngài Thế Thân - Abhidharma Kosa Bhasyam by Vasubandhu, chúng cũng được dùng để trích dẫn bởi người viết.

(1) Tác phẩm Giáo lý Vô ngã của tỳ kheo Buddhadàsa

Tác phẩm này là công trình nghiên cứu đối chiếu về Ngã và Vô Ngã giữa Phật giáo, Ấn Độ giáo và triết học phương Tây. Tác giả- một vị sư theo trường phái Theravāda bảo thủ đã cố gắng giải thích giáo lý vô ngã dựa vào các quan điểm truyền thống của Phật giáo sơ kì. Mục đích của ông là muốn khảo sát các mô hình về Ngã thể thông dụng trong thời kì đức Phật còn tại thế. So sánh chủ yếu của ông trong tác phẩm này là so sánh cái Ngã của Phật giáo với 6 vị đạo sư nổi tiếng trong thời kì đó. Ngoài ra, Ông đã đối chiếu những gì đức Phật dạy về Ngã với các quan điểm của Kỳ Na giáo, triết học Vệ Đàn đà (Vedānta), một số mô hình của triết học phương Đông cũng như phương Tây.

Mục đích chính của tác phẩm là muốn giải thích vấn đề về Ngã cho những người mới nhập môn học Phật, nó không trình bày sự tiến triển của giáo lý Vô ngã trong chiều dài của lịch sử PG Ấn Độ. Tác giả quyển sách này cho rằng: “ Giải thích giáo lý Vô Ngã là một công việc khó khăn bởi vì về bản chất của nó là nói đến vấn đề cốt tủy trung tâm của Phật giáo.”  (4)

(2) Tác phẩm Lý thuyết Vô ngã và những rắc rối về mặt triết học tư tưởng của Joerg Tuske

Trong tác phẩm này, tác giả đã giới thiệu học thuyết Vô ngã và liệt kê một số vấn đề phi logic từ học thuyết này. Ông cũng đề cập đến một số rắc rối về mặt tư tưởng được nêu bởi các triết gia phương Tây, đặc biệt là vấn đề tự do ý chí. Ông cũng đã phân tích và so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của triết học phương Tây với học thuyết Vô ngã.

____________________________________
4. Bikkhu Buddhadàsa, The Buddha’s Doctrine of Anattà, Phần giới thiệu

Một tác phẩm nổi tiếng của Phật giáo nguyên thủy- Kinh Na Tiên Tỳ Kheo (Milindapañha) đã được ông trích dẫn, ngũ uẩn (skandhas) không tồn tại trên bình diện chân đế ( chân lý tối hậu-thực tại rốt ráo) nhưng chỉ đơn thuần được sử dụng như là những qui ước trong giao tiếp của XH con người. Tuy nhiên ông tranh luận rằng điều đó không rõ ràng vì không ai giải thích mối liên hệ giữa ngôn ngữ chân đế và ngôn ngữ qui ước. Vì vậy, không thể kết luận rằng tỳ kheo Na Tiên bác bỏ khái niệm về chủ thể không tồn tại ở chân lý tối hậu, có nghĩa là không có một sự phủ nhận ngã thể mà chỉ đơn thuần là nêu lên sự tồn tại của ngã thể khác với sự tồn tại của 5 thành phần (ngũ uẩn) tạo ra nó.

(3)Tác phẩm Những kinh điển của các nhà Tự ngã bộ trong thời kì Phật giáo Bộ phái của tỳ kheo Thích Thiện Châu

Tác giả tác phẩm này đã cố gắng trình bày một cái nhìn tổng quát về các bộ phái thuộc Tự ngã bộ và nghiên cứu sự hình thành, nôi dung học thuyết và giới luật tự viện của các nhà Tự ngã bộ dựa vào 4 tác phẩm hiện còn của các bộ phái này : Tam Pháp độ luận (三  法  度 論), Tứ A Hàm Mộ sao giải (四阿鋡暮抄解); Tam Di Để Bộ Luận (三彌底部論) và Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận (律二十二明了論).

Tác giả đã chứng minh rằng quan điểm về Ngã ( Pudgala) vẫn phù hợp với học thuyết Trung Đạo không rơi vào 2 cực đoan của đức Phật: Thường hằng và Đoạn diệt. Do vậy, nó không mâu thuẫn với học thuyết Vô ngã được dạy bởi đức Phật. Tác giả đã nhận xét rằng: “ Tự ngã bộ là khía cạnh đặc sắc và lâu bền của một phần quan trọng trong Phật giáo Bộ phái. Trong hơn 10 thập kỉ, nó được rao giảng và được bảo vệ bởi những bộ phái thuộc Tự Ngã bộ với số lượng đông đảo các tín đồ nhưng lại bị chỉ trích kịch liệt bởi các bộ phái Phật giáo khác.” (5)

Tác phẩm này được xem như là một nghiên cứu toàn diện và chi tiết về lịch sử cũng như các tác phẩm của bộ phái Tự Ngã trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Tuy nhiên nó chỉ là một phần của sự tiến triển học thuyết Vô Ngã tại Ấn Độ mà thôi.


___________________________________
5. Bhikshu Thich Thien Chau, The Literature of the Personalists of early Buddhism, p.ix (preface)
« Sửa lần cuối: 09/06/2016, 13:10:19 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: Ha Doan

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #12 vào: 09/06/2016, 16:12:28 »
(4) Tác phẩm Ngã và Vô ngã trong thời kì Phật giáo Nguyên Thủy bởi Joaquín Pérez Remon

Tác phẩm này là sự phân tích về bản chất và mục đích nghiên cứu của nó là muốn cung cấp một sự giải thích về giáo lý Vô ngã trong kinh tạng Pāli. Tác giả đã mô tả các quan điểm Phật giáo giống như những quan điểm về thần học, ông cho rằng mục tiêu của hệ thống giáo dục đạo đức  Phật giáo là nhằm mang đến sự cứu rỗi cho con người.

Tác giả, sau khi phân tích ngũ uẩn (aggregates) đã thấy rằng không phải là cái Ngã trong tuyên bố về giáo lý Vô ngã. Tuy nhiên, đức Phật chưa bao giờ tuyên bố là không có Ngã. Sự hiểu này đã làm cho quan điểm của tác giả gần sát với quan điểm về Ngã thể trong truyền thống Áo Nghĩa thư (Upaniṣadic tradition). Tác phẩm này sẽ rất được quan tâm với những ai thích thú với triết học Ấn Độ.

Ngoài ra, tác giả cũng đã xây dựng tác phẩm của mình bằng cách sử dụng những giả thuyết, rằng giáo lý Vô ngã không mang một giá trị tuyệt đối và những tác phẩm Phật giáo ban đầu không bác bỏ sự tồn tại một cái ngã mà tái xác nhận nó như là một thực tại. Ông đưa ra một sự phân biệt về cái Ngã đạo đức và cái ngã siêu hình:

“ Khi chúng ta phân biệt giữa một cái Ngã đạo đức và cái Ngã siêu hình ( tiện thể, sự phân biệt này không có nghĩa là cần thiết có một sự phân chia và tách rời những thực thể, mà chỉ là nêu lên hay chỉ ra những khía cạnh khác nhau của chúng), chưa kể, chúng ta có thể chứng minh rằng học thuyết vô ngã được giảng dạy trong kinh tạng Nikāya không có giá trị tuyệt đối, nghĩa là nó không phủ nhận tính thực tại của Ngã thể trong một phương thức tuyệt đối nhưng giới hạn chính nó trong sự phủ nhận cá thể liên quan đến những yếu tố kinh nghiệm như là động cơ cho sự chối bỏ và rồi tổng hợp cả 2 lý thuyết về ngã sẽ trở nên khả thi, ngay cả là cần thiết .”   (6)

Ông thừa nhận rằng giả thuyết ông đưa ra có mâu thuẫn với những giáo lý của đức Phật đã được cân nhắc chấp nhận. Trong sự tìm kiếm những văn bản hỗ trợ cho giả thuyết của mình, ông đã chọn những từ ngữ chuyên môn được lặp lại nhiều lần, những quan điểm về cả Ngã và Vô ngã trong kinh điển. Nhưng  thật không may, sự chuyển dịch những từ ngữ này sang từ ngữ riêng của ông chẳng hạn như: Ngã tồn tại, thực thể siêu hình, Vô ngã tuyệt đối, Ngã đạo đức…  (7), sự sáng tạo ra những ý nghĩa mới cho những từ Phật học đã được sử dụng lâu đời đã gây ra sự khó hiểu cho độc giả. Những từ ngữ mới này, đôi lúc là vô hại nhưng lại gây ra sự hiểu sai với những chủ đề triết học Phật giáo đang được nói đến và những từ ngữ chuyên môn  đã được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, tác phẩm này cần được nghiên cứu kĩ lưỡng cho những ai quan tâm tới giáo lý nguyên thủy chỉ trong giai đoạn đầu của lịch sử Phật giáo Ấn Độ.

(5) Tác phẩm Hữu Ngã bộ phái Phật giáo bởi Leonard Priestley

Trong quyển này, tác giả đã cố gắng xây dựng lại một hệ tư tưởng đã bị biến mất dựa vào những chứng cứ rời rạc và mơ hồ trong một chừng mực nào đó. Tác giả duy trì quan điểm chứng cứ là chứng cứ và nó chắc chắn phù hợp để tìm hiểu mức độ hợp lí trong đó ( ít nhất cũng có thể đoán được) trên cơ sở của nó nhưng nó không thể được khẳng định nếu chúng ta không cố gắng tìm hiểu. Ông chủ trương: “ Nếu chúng ta cố gắng để xác định những gì đức Phật muốn nói thì ít nhất chúng ta cần phải hiểu đầy đủ những giải thích truyền thống Phật giáo theo sự mô tả của các kinh điển ban đầu.”   (8)

Tác giả xác nhận rằng các nhà tự ngã bộ thực sự không bác bỏ học thuyết Vô ngã. Họ chỉ giải thích nó theo cách hiểu của riêng họ những gì đức Phật muốn nói và đưa ra sự giải thích những kinh điển ban đầu một cách hoàn toàn khác biệt với Trưởng lão bộ (Therāvada), Hữu Bộ (Sarvāstivāda ) và Kinh lương bộ (Sautrāntika)

Tác phẩm này, do đó, giúp điều nghiên quan điểm về Ngã khác với cách giải thích truyền thống. Giới hạn của nó là chỉ đề cập đến quan điểm về Ngã của Hữu ngã bô phái, một mảng nhỏ trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ.

(6) Ngã/Vô Ngã trong Phật giáo và hàm ý của nó trong truyền thống trí tuệ bởi Nancy Reigle

Trong bài viết này, tác giả đã cố gắng chứng minh rằng đức Phật khi nói về giáo lý Vô ngã chỉ phủ nhận ngã thể trên bình diện kinh nghiệm gắn liền với ngũ uẩn(skandhas), nhưng không hề phủ nhận cái bản ngã của vũ trụ (Universal self).   (9)

Tác giả đề cập đến 2 loại ngã: một là cái ngã vũ trụ ( ngã đích thực), hai là cái ngã kinh nghiệm. Cái ngã vũ trụ là thần ngã được đề cập trong Áo Nghĩa Thư (Upanisads), thường tồn và bất biến. Cái ngã kinh nghiệm là cái ngã cá thể tâm-vật lý được cấu tạo bởi ngũ uẩn, cái mà người ta vẫn gọi với danh xưng con người hàng ngày trong đời sống.

Trong kinh tạng Nikāya, đã lập đi lập lại sự phủ nhận một cái ngã cá thể, một hợp thể của Ngũ uẩn:

“ Này Susima? Sắc ( hình tướng) thì thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Thế tôn”
“Cái gì vô thường là những gì đau khổ hay hạnh phúc?”
“Đau khổ, thưa Thế tôn”
“ Cái gì vô thường là khổ gánh chịu sự thay đổi thì có phù hợp để nói rằng ‘Đấy là cái của tôi, đấy chính là tôi, đấy là cái Ngã của tôi’?
 “Không, thưa Thế tôn ”
“ Vậy nó là những gì đau khổ hay hạnh phúc?”
“Đau khổ, thưa Thế tôn”
 “ Tương tự với thọ (cảm giác), tưởng, hành, thức là thường hằng hay vô thường?. . . .”
“Vô thường, thưa Thế tôn”   (10)

Tác giả bài viết này đồng ý với quan điểm của đức Phật đã lập đi lập lại nhiều lần một cách rõ ràng là không có một cái Ngã cá thể, đó chỉ là một hợp thể của ngũ uẩn, nhưng đức Phật chưa bao giờ phủ nhận một cách trực tiếp cái Ngã vũ trụ thường hằng  (Brāhman) trong truyền thống Áo Nghĩa Thư (Upaniṣad).

Ngoài ra, tác giả đã kết luận rằng đức Phật đã nói thông qua quán tưởng về Vô ngã, hành giả sẽ đạt đến Đại ngã (paramātman), bằng cách từ bỏ tiểu ngã cá nhân thì con người sẽ thể nhập Đại ngã.

Người viết luận văn này cho rằng lập luận như vậy thì chưa logic vì Ātman and Brāhman có cùng một bản chất, một khi cái này bị phủ nhận thì đương nhiên cái kia cũng phải bị phủ nhận như là hệ quả.

(7) Tác phẩm Sự mâu thuẫn của học thuyết Vô ngã bởi Hugh Nichoson

Tác giả bài viết này ủng hộ sự phủ nhận cái ngã cá thể được hiểu là một sự kết hợp giữa các yếu tố tâm vật lý, ít nhất trong các bộ phái Phật giáo như là một điều kiện tiên quyết cho sự giải thoát. Cần ghi nhận rằng cái ngã mà Phật giáo phủ nhận không liên quan đến khái niệm một cái ngã tuyệt đối, trừu tượng trong hệ thống triết học Phi nhị nguyên Vệ Đàn đà.  (11)

Ngoài ra, bằng cách liên kết học thuyết Vô ngã với Nghiệp báo, tác giả bài viết đã thừa nhận rằng Phật giáo Nguyên thủy đã đối mặt với rắc rối trong việc xác nhận một thực thể di chuyển trong vòng luân hồi, và khẳng định đã có một sự không tương thích giữa  luật nhân quả, tái sinh và vô ngã. Ông cũng tranh luận rằng học thuyết vô ngã là một loại lý thuyết thần học và không thể được giải thích một cách rõ ràng. Ý tưởng này hầu như giống với ý tưởng siêu hình của khái niệm cá thể (Pudgala) của những nhà Hữu ngã bộ (Pudgalavādins) mà nó đã đề cập trong chương IV của bàn luận văn này.

Qua khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của các nghiên cứu trước đây, người viết luận văn này đã chưa thấy có một sự xem xét toàn diện học thuyết Vô ngã  từ giai đoạn tiền Phật giáo đến Phật giáo Đại thừa tại Ấn Độ. Bảy công trình trên cũng như các tác phẩm khác chỉ đề cập đến Ngã, Vô ngã, Cá thể một cách riêng biệt và không có một sự tổng hợp để trình bày đề tài dưới cái nhìn lịch sử.

Khác biệt với các công trình nghiên cứu vừa kể, luận văn này sẽ trình bày học thuyết Vô ngã và sự tiến hóa, phát triển của nó trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Có thể nói đây là một nghiên cứu đầu tiên về đề tài mà trước đó chưa ai thực hiện.

______________________________________________

  6. Joaquin Pérez-Remon, self and non-self in Early Buddhism, p.302
  7. Joaquin Pérez-Remon, Ibid, Pp 7-11
  8. Leonard C.D.C. Priestly, Pudgalavāda Buddhism,  Pp 1-9
  9. Nancy Reigle, Ātman/Anātman in Buddhism and Its Implication for the Wisdom Tradition, p.1
10.  Bikkhu Bodhi, SN II.12 ,  p.616
11.Huge Nicholson, The Spirit of Contradiction in the Buddhist Doctrine of Not-Self, Pp 37-38


N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #13 vào: 10/06/2016, 15:56:33 »
1.6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này không phải là một nghiên cứu thực nghiệm và mục đích của nó cũng không nhằm tìm hiểu xem các Phật tử thực sự đã tin vào giáo lý Vô ngã như thế nào mà nó là một sự khảo sát qua nghiên cứu tài liệu. Mục đích sử dụng tài liệu khoa học và phương pháp nghiên cứu phù hợp để hiểu được bản chất chính xác của vấn đề. Từ ‘hiểu’ ở đây có nghĩa là gì? Trong ngôn ngữ thường dùng của nghiên cứu khoa học, thì từ ‘hiểu’ không ngoài ý nghĩa ‘ quen thuộc, biết rõ vấn đề ( đối tượng nghiên cứu) và có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra sau đó’  (12). Tuy nhiên, trong luận văn này, một luận văn mang tính tôn giáo thì theo người viết thì ‘hiểu’ có nghĩa là ‘biết rõ vấn đề và có thể áp dụng nó vào thực tiễn.’

Do đó, các phương pháp nghiên cứu mà người viết sử dụng ở đây sẽ là phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh. Ngoài ra, những bài so sánh và bình luận những điểm giáo lý được chọn, một số cách tiếp cận của các học giả hiện đại đối với vấn đề cũng được đề cập như là phương pháp tham khảo để làm sáng tỏ vấn đề.

Kế hoạch nghiên cứu được chia thành 5 giai đoạn như sau:

(1)   Tập hợp dữ liệu thông tin từ kinh tạng Pàli, luận tạng, và các bản chú thích và sớ giải cho luận tạng , tài liệu thứ cấp- các bình luận vể vấn đề của các học giả Phật giáo nổi tiếng .
(2)   Phân tích xử lí và hệ thống hóa dữ liệu thu thập được nhằm đưa ra một bức tranh tổng hợp về Vô ngã với các ý nghĩa của nó.
(3)    Kiến tạo mục lục cho luận văn
(4)   Đưa ra những vấn đề cần thảo luận trong phần thân bài của tiểu luận
(5)   Kết luận và trình bày phương pháp vận dụng giáo lý vô ngã trong thực tế đời sống.

1.7 Lợi ích mang lại từ nghiên cứu

Sau khi thực hiện bản luân văn nghiên cứu, các lợi ích và kết quả thâu được sẽ như sau:

-   Có một sự hiểu biết rõ ràng và toàn diện về khái niệm Ngã thể trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ từ giai đoạn tiền Phật giáo đến Phật giáo Đại thừa
-   Nắm vững được học thuyết Vô ngã trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ
-   Tiếp cận và nắm vững học thuyết Cá thể (Pudgala) của Độc tử bộ và vai trò của nó trong thời kì Phật giáo Bộ phái
-   Hiểu được cách thực hành giáo lí Vô ngã trong đời sống hàng ngày
-   Tiếp cận được cách giải thích mới về giáo lý Vô ngã thông qua khái niệm ‘ Ngã tạm’ đưa ra bởi người viết

CHƯƠNG II
Ngã thể trong Triết học Ấn Độ

Cả Phật giáo và Ấn Độ giáo đều bắt nguồn từ văn hóa sông Hằng vùng Bắc Ấn tuy nhiên Ấn giáo đã xuất hiện trước Phật giáo cả hơn một thiên niên kỉ và là nền tảng cho sự khai sinh của Phật giáo. Cả hai tôn giáo đều có nhiều điểm chung. Không thể phủ nhận là Phật giáo đã bắt nguồn từ Ấn giáo.

Do vậy, học thuyết Vô ngã sẽ không thể được hiểu một cách sâu sắc nếu tách rời với triết học Ấn Độ cũng như Ấn giáo, đặc biệt là trong thời kì bắt đầu của Phật giáo.

2.1 Lược sử triết học Ấn Độ

Xã hội Ấn Độ là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất của Ấn Độ. Nó xuất hiện vào khoảng 3,000 năm trước công nguyên. Nền văn minh được biết thời kì đó là nền văn minh thung lũng Indus phát triển cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Nó trải dài từ phía Đông thung lũng sông Hằng đến phía Đông Nam băng ngang qua vùng Gujarat. Nền văn minh đã phát triển một hệ thống chữ viết nhưng không may đã không thể giải mã được

Trong giai đoạn từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 13 trước công nguyên, nền văn minh Indus đã bị sụp đổ bởi sự xâm chiếm của tộc người Aryan từ phía tây bắc.  Khi tộc Aryans đến Ấn Độ, họ đã nhanh chóng hủy diệt nền văn minh Indus. Khu vực nền văn minh thung lũng sông Indus đã bị thua một cách nhanh chóng bởi sức mạnh quân sự của tộc Aryan. Sau đó người Aryans đã thống trị nền văn minh này.   (13) Họ đã giới thiệu một tôn giáo với hình ảnh của một nhà tu khổ hạnh trần truồng hoặc chỉ khoác lên mình những bộ y phục bằng những loại vải thô sơ nhất, sống một đời sống khắc khổ và thực tập thiền định.

Giai đoạn sớm nhất của thời kì Vệ Đà được gọi là giai đoạn tiền Vệ Đà, sau đó nó chuyển sang giai đoạn hậu Vệ Đà khi tư tưởng Ấn Độ đã trở nên phức tạp và thực tiễn hơn: “Người Aryan sử dụng ngôn ngữ Sanskrit để gọi giai đoạn này là Vệ Đà trên  những bản văn xưa nhất hiện còn, như vậy Vệ Đà là giai đoạn cổ xưa nhất trong tâm trí của họ.”   (14)

Các vấn đề chính được quan tâm trong thời kì tiền Vệ Đà là vấn đề bản chất của thế giới và làm thế nào để con người có thể hợp nhất với đấng Sáng tạo hoặc Phạm thiên. Đến thời kì hậu Vệ Đà, tư tưởng con người đã trở nên phức tạp hơn với các câu hỏi liên quan đến Ngã thể và vòng luân hồi. Giai đoạn này kéo dài đến thời kì Sáu vị đạo sư dị giáo.

Một cách tổng quát, tư tưởng Ấn Độ được quan tâm với một số vấn đề triết học như bản chất của thế giới (vũ trụ học), bản chất của thực tại (siêu hình học), logic, bản chất của tri thức (nhận thức luận), luân hồi, bí mật của cái chết và bất tử, bản chất của đấng sáng tạo nếu ngài thực hiện hữu và mối quan hệ giữa con người và đấng sáng tạo.

Các học thuyết của 6 vị Đạo sư dị giáo đương thời với đức Phật thì rất quan trọng đối với sự phát triển tư tưởng Phật giáo thời bấy giờ. Trong kinh tạng Pāli đã xuất hiện rất nhiều đoạn văn đề cập đến giáo lý của 6 đạo sư dị giáo. Trong 3 loại tà kiến của họ- vô hành kiến, vô nhân kiến, đoạn diệt kiến được xem tà kiến gián tiếp về ngã thể bị loại bỏ bởi Phật giáo

Nhà triết học Ấn Độ - S. Radhakrishnan đã nói về tư tưởng Ấn Độ trong thời kì đầu như sau:

“ Những cố gắng triết học để xác định bản chất của thực tại có lẽ bắt đầu hoặc với tư tưởng về ngã thể hoặc về đối tượng của nhận thức. Ở Ấn Độ, mối quan tâm triết học là về Ngã thể nơi mà nhãn thức được phóng chiếu ra bên ngoài, với những sự kiện mang tính phù du luôn thu hút tâm trí con người.”   (15)

Triết học Ấn Độ đã phát triển trong một thời gian quá dài. Do đó, thật là khó cho các sử gia xác định cụ thể từng giai đoạn phát triển của 1 nền triết học đặc thù này. Tiến sĩ Radhakrishnan đã đề nghị chia nền triết học Ấn Độ thành 4 giai đoạn:

(1)    Giai đoạn Vệ Đà (1500 B.C. to 600 B.C.)
(2)    Giai đoạn Sử thi (600 B.C. to 200 A.D.)
(3)    Giai đoạn  Kinh điển (200 A.D. to 1700 A.D.)
(4)    Giai đoạn  Giải thích kinh điển bởi các học giả ( Từ giai đoạn kinh điển đến Thế kỉ 17th  )   (16)

___________________________________________________

12.  Walker, Marshall, The Nature of Scientific Thought,  p.1
13.  Fundamental of Buddhism (http://www.buddhanet.net/fundbud2.htm)
14.  A.K. Warder,  Indian Buddhism,  p.18
15. Radhakrishnan, S, Indian Philosophy Vol 1, p.22

« Sửa lần cuối: 10/06/2016, 16:15:06 gửi bởi hoangnguyen »
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Các bài dịch thuật về Phật giáo
« Trả lời #14 vào: 01/11/2016, 08:23:39 »
*** Dịch tiếp bản luận văn MA in Buddhist Studies, mà tôi đã trình tại Đại học PG Quốc tế Thái Lan (IBC), đã vừa được hội đồng chấp thuận sau 4 tháng xem xét, GS TS Kapila chủ nhiệm hội đồng xét duyệt LV nhận xét rằng nhìn chung đây là 1 luận văn tốt, chứa đựng nhiều thông tin giá trị ( a good thesis which contains valuable informations about the factors relating to the topic).

Luận văn đã chỉ  ra những sai lầm  trong việc hiểu sai về giáo lí vô ngã (anatta) hiên nay của những người theo hoặc nghiên cứu PG, tuy nhiên, thật là khó để sửa đổi những nhận thức cũ sai lầm đã ăn sâu vào tâm thức của con người qua bao thế hệ. Nhưng PG là tôn giáo của sự thật, và cái đúng hay sự thật phải được tôn trọng cho dù nó đi ngược lại với truyền thống suy tư lâu đời.
_______________________________________________________________________________

Giai đoạn Vệ Đà thuộc giai đoạn ban đầu của nền văn minh thế giới bao phủ sự hình thành và phát triển của văn hóa và văn minh Aryan. Các tác phẩm của thời kì này là 4 bộ Vệ Đà có tên gọi là Ṛg (thi tụng) , Yajur (tế tự) , Sāma (Ca vịnh) và Atharva (Nhương tai- cầu tránh tai ương). Mỗi bộ Vệ Đà được chia thành 3 phần được biết là Chân ngôn (Mantras), Phạm thư (Brāhmaṇas ) và Áo nghĩa thư (Upaniṣads). Áo nghĩa thư và Sâm Lâm thư (āraṇyakas) là phần kết luận của Phạm thư thảo luận về các vấn đề triết học : “ Các nhà tư tưởng Vệ Đà đã sử dụng quan điểm hiện thực để diễn tả quan điểm của họ.”   (17)

Giai đoạn Sử thi là giai đoạn phát triển ban đầu của Áo nghĩa thư và 6 trường phái triết học Ấn giáo  (18). Mối quan tâm của giai đoạn này là làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Giai đoạn 6 trường phái triết học Ấn giáo đã đặt nền tảng cho sự phát triển các hệ thống triết học tại Ấn Độ. Ngoài những lý thuyết triết học khác thường, áng văn chương phi hệ thống và phi kĩ thuật cũng đã thấy xuất hiện trong thời kì này. Đại sử thi phẩm lừng danh Ramayana và Mahabharata cũng được sáng tác trong thời kì này. Thời kì này là thời kì quan trọng vì nó là chứng nhân cho sự xuất hiện của Phật giáo.

Giai đoạn Kinh điển là giai đoạn phát triển việc soạn thảo, giải thích kinh điển bởi các học giả nổi tiếng. Chính các học giả này đã làm công việc truyền tải các kho tàng triết học trong các tác phẩm đồ sộ kinh điển cổ xưa. Ngài Bạt Đa La Diễn Na (Bādarāyaṇa), một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của Ấn Độ đã viết kinh Phạm Thiên (Brāhma), kinh Phệ Đàn Đà (Vedānta). Những kinh điển được viết ra trong giai đoạn này đạ đặt nền tảng cho các hệ thống triết học khác nhau tại Ấn Độ. Sáu trường phái triết học dựa vào các kinh điển này là Thắng luận (Vaiśeṣika), Chính lý (Nyāya), Số luận (Sāṃkhya), Du già (Yoga), Tiền Di Man Tát (Pūrva Mīmāṃsā) và Phệ Đàn Đa (Vedānta), còn được gọi là Hậu Di Man Tát (Uttara- Mīmāṃsā).

Giai đoạn giải thích kinh điển trùng với giai đoạn kinh điển. Sự giải thích về giai đoạn kinh điển đã đặt áp lực với các học giả có kiến thức rộng lớn. Do vậy, họ đã viết những bình luận lên các áng văn cổ xưa đặc biệt là các kinh điển. Một số học giả viết bình luận kinh  Phạm Thiên (Brāhma-Sūtra) theo cách giải thích của riêng họ.  (19)

Triết học Ấn Độ bắt nguồn từ thời kì Vệ Đà vào khoảng thiên niên kỉ thứ 2 trước Công nguyên.  Những vấn đề về triết học, tôn giáo của đời sống được đặt ra như chân lý, thực tại, đấng sáng tạo, đầu thai…đã được đề cập trong 3 thánh điển chính: Vệ Đà (Vedās), Áo nghĩa thư (Upaniṣad) và Chí tôn ca (Bhagavad Gītā)

Vệ Đà là những tác phẩm đầu tiên trong lịch sử tư tưởng của con người. Quyển đầu tiên- thi tụng Vệ Đà (Rig-Vedā) là một loạt những thánh ca hiến dâng cho nhiều loại Phạm thiên và là một sự giải thích về nguồn gốc và bản chất của thực tại. Quyển thứ nhì tế tự Vệ đà (Yajur)  gồm những bài cầu nguyện và những công thức tế lễ chủ yếu được dùng bởi những tu sĩ. Quyển thứ 3 - Ca vịnh Vệ Đà (Sāma) bao gồm một loạt những giai điệu và thánh ca và quyển cuối cùng - Nhương tai Vệ Đà (Atharva) là tuyển tập gồm những chân ngôn và các công thức được xem như là những mô thức để áp dụng trong đời sống hàng ngày.

Có hai quan điểm về nguồn gốc của các kinh điển Vệ Đà, một là do thiên khải, do thần linh mách bảo cho loài người, hai là bộ sưu tập ghi chép tất cả những câu ca dao, vinh phú , những tập tục lễ nghi, thần thoại tôn giáo, bài thánh ca không rõ tác giả của lịch sử Ấn Độ thời kì đầu.

Jawaharlal Nehru cũng ủng hộ cho nguồn gốc thứ 2, ông viết: “ Nhiều người xem kinh Veda là thiên khải. Điều này, theo tôi là điều không may vì như vậy chúng ta sẽ bỏ mất ý nghĩa thực sự của chúng, sự mở mang của tư tưởng con người ở những giai đoạn sớm nhất của tư duy.”  (20)

Áo nghĩa thư (The Upaniṣads) cũng là những văn bản cổ xưa nhất ở Ấn Độ được soạn bằng Bắc Phạn Sankskrit vào khoảng giữa những năm 700 và 300 trước công nguyên. Mặc dù có hơn 200 tác phẩm Áo nghĩa thư (Upaniṣads) nhưng chỉ có 14 bản được xem là quan trọng nhất là Śrī Īśopaniṣad, Keno, Kaṭho, Praśna, Muṇḍaka, Māṇḍūkya, Taittiriya, Aitareya, Chāndogyo, Bṛhadāraṇyako, Śvetāśvatara, Kauṣītaki, Mahānārāyaṇa và the Maitri.

Từ Upaniṣads bắt nguồn từ động từ Phạn ngữ Sanskrit ‘sad’ có nghĩa là ngồi và 2 giới từ ‘upa’ ( dưới) và ‘ni’ ( ở). Như thế nó có nghĩa là ngồi nghe giảng dưới chân thầy.   (21)

Thực chất,  Áo nghĩa thư là những sự bình chú tôn giáo triết học cho các nghi lễ thiết yếu và ý nghĩa triết lý hay thần học của các kinh điển Vệ Đà,  đề cập đến những vấn đề triết học, thiền định, bản chất của thượng đế…

Văn học Veda được chia thành bốn phần: Saṃhita, Brāhmāṇa, Araṇyaka, Upaniṣad. Hai phần đầu chú trọng các nghi thức tế tự, mệnh danh là karma-kanda – “nghiệp kiền-độ” hay nghiệp đạo. Hai phần sau luận thuyết về Brahman và ātman, chú trọng phần tri thức, mệnh danh là jñāna-kanda – “trí kiền-độ” hay trí đạo.

Triết gia Schopenhauer viết: “ Trên thế giới, không có một nghiên cứu nào mang lại lợi ích và tồn tại lâu dài như việc nghiên cứu Áo Nghĩa thư, nó đã an ủi cuộc đời tôi và nó sẽ tiếp tục an ủi khi tôi chết.”  (22)

Chí tôn ca (Bhagavad-Gītā)- thánh thư của Ấn giáo viết bằng tiếng Bắc Phạn Sanskrit là một phần của bộ sử thi dài nhất Mahābhārata. Các học giả Ấn Độ tin rằng Chí tôn ca xuất hiện ở thế kỉ thử hoặc thứ 4 trước CN. Nội dung của nó bao gồm một sử tổng hợp quan điểm về Đại ngã Brāhman, về vấn đề sùng tín hữu thần, lí tưởng giải thoát thông qua Tuệ giác, Sùng tín, nghiệp, Du già vương đạo (Rāja  Yoga) và triết học Số luận (Sāṃkhya).

Chí tôn ca cũng là văn bản cốt tủy bắt nguồn từ các kinh điển Vệ Đà và Áo nghĩa thư, nó là một quyển kinh điển phổ quát được áp dụng cho mọi người, mọi tánh khí, mọi thời kì. Là một quyển sách với những tư tưởng hùng vĩ, cao thượng, một quyển sách hướng dẫn cho việc thực hành Du già, Sùng tín, Phệ Đàn Đa. Quyển sách này đã ảnh hưởng lớn đế các tư tưởng gia vĩ đại của thế giới trong nhiều năm qua.  (23)

(còn tiếp)

_________________________________________

  (17) Radhakrishnan S, The Hindi View of life, p.45
  (18) Darśanas means Six orthodox (āstika) schools namely Nyāya, Vaiśeṣika, Sāṃkhya, yoga, Pūrva Mīmāṃsā, and Vedānta
  (19)  Indian Philosophy Simplified, (http://indianphilosophy.50webs.com/HisIndPh.htm)
  (20) Nehru, Jawaharlal , The Discovery of Indian, p.79
  (21) Bibek Debroy & Dipavali Debroy, The Upaniṣads, p.3
  (22) Durant, Will, The Story of Civilization I, p.410
  (23) Bhagavad Gita summary (http://www.eaglespace.com/spirit/geetaenglish.php)


N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
 
The following users thanked this post: Trangha, hanoimaiyeu, tnghia