Tác giả Chủ đề: Quần đảo GULAG  (Đã xem 7741 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi quan mac co

Quần đảo GULAG
« vào: 26/10/2011, 22:24:00 »
Thiên truyện "Quần đảo GULAG" (bản tiếng Nga) gồm 3 tập: tập 1 ra mắt độc giả vào ngày 28-12-1973 do nhà xuất bản YMCA-PRESS in tại Paris, năm 1974 tập 2 được xuất bản và tập 3 - vào năm 1975.


(Bản in lần đầu YMCA-PRESS 1973)

Năm 1980, tác phẩm được nhà xuất bản Vermont in lại trong bộ "Tác phẩm Solzhenitsyn" gồm 20 tập. Đến năm 1989, "Quần đảo GULAG" mới được cho phép in tại Nga, Nxb "Thế giới mới" Moscow đã in lại tác phẩm này theo bản 1980 của Vermont và cho đến năm 2006 đã được tái bản 10 lần tại Nga. Trong bản in năm 2006 do Nxb "U-Factoria" chủ trương, lần đầu tiên danh sách 227 tên (đã được tác giả nhắc đến trong phần Lời tựa) những người đã hỗ trợ tác giả về tài liệu được liệt kê, thực tế con số này lên đến 257.

Bản rút gọn của tác phẩm "Quần đảo GULAG" ra mắt vào cuối năm 2009. Từ nguyên bản dài 3 tập, bản rút gọn chỉ gồm 1 tập và do vợ nhà văn quá cố, bà Natalia Solzhenitsyna hoàn tất, thực hiện tâm nguyện của chồng là để dân Nga - đặc biệt là giới trẻ - tiếp cận nhiều hơn về những hiện thực lịch sử. Bởi lẽ, ngay từ khi hồi hương, Solzhenitsyn đã nhận thấy nước Nga còn biết quá ít về những trang sử thương đau của quá khứ mà ông đã trải qua. Chính ông đã bắt tay vào việc khởi thảo một bản rút gọn của GULAG và vào những năm tháng cuối đời, Solzhenitsyn đã đề nghị vợ tiếp tục công việc của mình. Cuối cùng, một cuốn sách chỉ dày bằng một phần năm tiểu thuyết gốc, nhưng vẫn giữ đầy đủ 64 chương và theo lời bà Natalia, "tinh thần của từng dòng chữ" trong tác phẩm của chồng bà vẫn được đảm bảo.



Trước khi sách ra mắt công chúng, bà Natalia Solzhenitsyna đã giới thiệu sách cho Vladimir Putin và vị thủ tướng đã đề xuất việc đưa sách vào chương trình môn Văn năm cuối của hệ phổ thông 11 năm ở Nga.

Một trong những mục đích chính của bản rút gọn là để giới học sinh nắm bắt được hơn những thực tế lịch sử được nhắc tới trong tác phẩm gốc mà vì một số lý do - trong đó có sự đồ sộ của cuốn sách -, không nhiều người có điều kiện đọc hết.

Ngay sau khi ra mắt công chúng vào tháng 12-1973, Quần đảo GULAG đã được cấp tốc dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản tiếng Anh (tập 1) do Thomas Whitney thực hiện và được nhà Harper & Row, New York xuất bản vào tháng 4-1974.


(Bản tiếng Anh in lần đầu 1974)

Tại Việt Nam, bản dịch "Quần đảo ngục tù" do Ngọc Tú - Ngọc Thứ Lang thực hiện từ bản tiếng Anh, Cơ sở Trí Dũng xuất bản vào tháng 10-1974 được in làm 2 quyển nhưng thực chất chỉ là tập 1 của tác phẩm. Như vậy, dịch giả chỉ có khoảng từ 3 đến 4 tháng dịch tốc hành để kịp ra mắt độc giả một bestseller có tính thời sự nóng hổi (nếu lâu thêm ít nữa là coi như khỏi có luôn! :)).

Với sức ép về thời gian như vậy, phải ghi nhận sự nỗ lực của người dịch trong việc chuyển tải nội dung ra tiếng Việt; mặc dù không tránh khỏi việc lược bớt một số chỗ và ngoài ra còn một số chỗ dịch không đúng tinh thần nguyên bản. Sở dĩ bản tiếng Anh được chuyển ngữ công phu, đầy đủ và bám sát nguyên bản là vì Thomas Whitney là một nhà ngoại giao từng làm việc tại sứ quán Mỹ ở Moscow và có bằng thạc sĩ về lịch sử Nga.
« Sửa lần cuối: 14/12/2012, 09:30:45 gửi bởi quan mac co »
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi NL

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #1 vào: 26/10/2011, 23:05:17 »
Góp thêm với bác quan phiên bản lịch sử gulag nhưng là dòng non-fiction này:

http://www.amazon.com/Gulag-History-Anne-Applebaum/dp/0767900561

Cuốn sách "Gulag: A History" của Anne Applebaum được giải Pulitzer năm 2004, cho người ta thấy lịch sử gulag bắt đầu từ rất sớm, sớm hơn nhiều người nghĩ.
 

Ngủ rồi quan mac co

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #2 vào: 27/10/2011, 11:18:54 »
Cuốn sách "Gulag: A History" của Anne Applebaum được giải Pulitzer năm 2004, cho người ta thấy lịch sử gulag bắt đầu từ rất sớm, sớm hơn nhiều người nghĩ.
Lịch sử GULAG bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Mười (1917) cũng dễ hiểu, sau khi nắm chính quyền cần phải thực thi "chuyên chính", phải cho những kẻ phe đối lập đi học tập cải tạo, phải trấn áp thế lực phản cách mạng...

Nhưng thôi, bàn chuyện dịch thuật thôi! :d

Dịch thuật quả thật là một công việc rất nhiêu khê, đặc biệt đối với những tay tài tử (amateur)! Khi dịch là phải làm việc liên tục, miệt mài mới tạo nên "mạch" dịch, chứ còn lúc nào rảnh mới nhảy cóc vào thì nội việc "tạo hứng khởi" đã chiếm gần hết thời gian rảnh rồi, còn làm ăn gì nữa! Ấy là chưa kể còn phải chú giải, mà riêng chuyện chú giải túm gọn chừng 3-4 dòng đã làm ta mất thời gian để đọc hết mươi mười lăm trang tài liệu...

Nhiều khi chỉ một câu dịch nghe chưa sướng cũng làm mất của ta cả tuần trăn trở. Xin nêu ví dụ một câu trong Chương 1 của "Quần đảo GULAG":

Có lẽ khó mà mô tả được một vụ khám xét bằng văn chương bác học; tuy nhiên, trong kho tàng ngôn ngữ dân gian có một câu vô cùng ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa là "Tìm cho… tòi ra thì thôi!".

Nguyên bản tiếng Nga là: "Интеллигентным языком это долго всe описывать, а народ говорит об обыске так: ищут, чего не клали." (dịch từng chữ là "tìm cái mà không đặt vào").

Bản tiếng Anh dịch chính xác nhưng cũng không "thoát" ý được: It would take a long time to describe all this in educated speech, but there's a folk saying about the search which covers the subject: They are looking for something which was never put there.

Hàm ý của thành ngữ dân gian là "không có thì tìm sao cho bằng có tang vật", phải mất 3-4 hôm tôi mới nghĩ ra "tìm cho... tòi ra thì thôi!".

Nói chung là vô vàn chuyện nhiêu khê, nhưng giờ phải đi ăn cơm cái đã! :d
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi KhuongBaUoc

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #3 vào: 27/10/2011, 12:14:12 »

Hàm ý của thành ngữ dân gian là "không có thì tìm sao cho bằng có tang vật", phải mất 3-4 hôm tôi mới nghĩ ra "tìm cho... tòi ra thì thôi!".

Nói chung là vô vàn chuyện nhiêu khê, nhưng giờ phải đi ăn cơm cái đã! :d

Có nghĩa là anh Quán đang dịch lại bộ này ạ?
Tín ngưỡng cao nhất, là cách thức con người cư xử với nhau.
Đọc sách xưa - xây thời mới.
 

Ngủ rồi quan mac co

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #4 vào: 27/10/2011, 14:44:37 »
Có nghĩa là anh Quán đang dịch lại bộ này ạ?
Hehe, cũng định thử sức chút đỉnh! :) Cả tuần rồi mà chửa xong Chương 1, lúc nào rảnh mới lôi ra làm tí nên không liền mạch được, kiểu như đang hứng thì cúp điện, đến lúc loay hoay thắp được cây nến lên rồi thì lại tụt hết cả hứng! ^:)^ Chắc phải đợi đến khi về hưu quá.

Đăng tạm chút ít để anh em xem thử.

QUẦN ĐẢO GULAG
thời kì 1918-1956
Thực nghiệm nghiên cứu văn học


                    Tưởng niệm
                    những người không có cơ hội sống sót để thuật lại câu
                    chuyện này. Ắt hẳn, họ sẽ tha thứ cho tôi những điều
                    tôi chưa thể thấy hết, chưa thể nhớ hết, chưa thể
                    đoán ra hết được.


          Đã nhiều năm nay tôi còn ngần ngại chưa muốn cho in quyển sách đã hoàn
          thành này; vì lẽ, trách nhiệm đối với người đang sống còn nặng nề hơn đối với
          người đã khuất. Nhưng giờ đây, khi bản thảo đã lọt vào tay an ninh, tôi chẳng
          còn biết làm gì hơn là cho xuất bản ngay.
[1]
          Alexander Solzhenitsyn
          tháng 9 năm 1973

Năm 1949, tình cờ một mẩu tin trên tạp chí "Thiên nhiên" của Viện hàn lâm khoa học lọt vào mắt bọn tôi. Bản tin với dòng chữ nhỏ li ti cho biết trong lúc khai quật để khảo cổ vùng sông Kolyma người ta đã phát hiện một lớp băng nằm dưới mặt đất, nguyên là một nhánh sông cổ đông lạnh mà trong đó một số sinh vật tiền sử cỡ vài chục ngàn năm tuổi vẫn còn nguyên vẹn. Theo lời của phóng viên khoa học, cá hay thằn lằn tiền sử còn tươi nguyên, đến mức những người có mặt lúc bấy giờ hăm hở phá vỡ lớp băng, đào lên và khoan khoái đớp ngay tại chỗ!

Dù rằng độc giả của tập san này chẳng phải là nhiều, song chắc chắn một điều, không ít trong số họ phải kinh ngạc đến sững sờ là cá đông lạnh lại có thể giữ tươi nguyên lâu đến thế! Tuy nhiên mấy ai thấu hiểu được ý nghĩa đích thực của mẩu tin sơ hở nói trên!

Bọn tôi, trái lại, hiểu ngay tức khắc. Bọn tôi còn hình dung ra toàn bộ cảnh tượng, rõ ràng đến từng chi tiết nhỏ: đám người ở đó đã vội vã hăm hở đào lớp băng ra sao, đã sổ toẹt vào mục tiêu cao cả của khảo cổ với lại chả nghiên cứu, thúc cùi chỏ tranh giành nhau những sinh vật tiền sử, mà xé ngay ra rồi cho lên đống lửa nướng và ngấu nghiến!

Bọn tôi hiểu vì chính bọn tôi đã ở trong đám đào băng có-mặt-tại-hiện-trường, cư dân của bộ lạc Zek[2] hùng mạnh, những thằng người duy nhất trên thế gian này dám đớp cả cá tiền sử một cách khoan khoái như vậy!

Còn Kolyma cũng chẳng lạ gì, đó là hòn đảo lớn nhất, nổi tiếng là miền đất cực kì khắc nghiệt trong cái hệ thống kì vĩ có tên gọi Quần đảo GULAG[3]. Xét về mặt địa lí thì GULAG bao gồm nhiều nhóm đảo rải rác khắp nơi, nhưng về mặt tâm lí thì đây lại là một khối đại lục gắn chặt, một vùng đất vô hình bí hiểm, đất sống của dân Zek.

Quần đảo này nằm đan xen trong lãnh thổ như những ô đậm nhạt trên một bàn cờ, chia đất nước ra thành những đô thị và lơ lửng khắp các con đường. Ấy vậy mà tuyệt đại đa số dân chúng đều mù tịt, nhiều người thì chỉ được nghe nói lờ mờ. Duy chỉ bọn đã từng có thời cư ngụ bên trong mới biết rõ sự thực, nhưng hầu như tất cả đều câm nín, không dám hé răng về những chuyện bên trong GULAG.

Do một bước ngoặt tình cờ của lịch sử, một phần sự thực, dù chỉ một phần vô cùng nhỏ nhoi, được hé ra ánh sáng. Những bàn tay trước đây vừa tra chiếc còng số 8 vào cổ tay bọn tôi bây giờ lại chìa ra hoà giải: "Thôi đào bới quá khứ mà làm gì! Cứ nheo mắt về quá khứ mãi là mất đi một mắt ấy!". Tuy nhiên, vế sau của câu thành ngữ lại là: "Nhưng ai mà quên đi quá khứ là mù luôn cả hai mắt!".

Mấy chục năm trôi qua, vết lở lói của quá khứ đã thành vết sẹo, và sau chừng ấy năm, những hòn đảo đã sụp đổ tan tành và bị nhấn chìm trong lớp sóng lãng quên của biển Bắc cực. Biết đâu chừng một ngày nào đó thế hệ sau lại chẳng khai quật được một hòn đảo, tìm ra được vết tích của GULAG cùng với mớ xương tàn của một thằng Zek còn nguyên vẹn trong lớp băng như một con thằn lằn tiền sử?

Tôi đâu dám liều lĩnh viết lại lịch sử Quần đảo GULAG, vì có được ghé mắt đọc một tài liệu nào về nó đâu! Liệu rằng sau này còn ai có cơ hội để đọc những tài liệu này nữa? Vì những người không muốn nhớ đến nó nữa đã có quá đủ thời gian và sẽ còn thừa thời gian để tiêu huỷ bằng sạch hết tài liệu!

Sau 11 năm ròng trong GULAG, tôi tuyệt nhiên không cảm thấy nhục nhã hay oán hờn nguyền rủa, trái lại còn có phần yêu mến cái thế giới quái đản ấy, mà giờ đây trải qua một bước ngoặt may mắn đã trở thành một nguồn đáng tin cậy cho những câu chuyện, thư từ tài liệu sau này, nhờ đó may ra tôi có thể mang về phần nào chứng tích thịt xương của chính con thằn lằn tiền sử may mắn còn sống sót đến tận hôm nay.

Quyển sách này không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng, nội dung bên trong chỉ toàn người thật việc thật. Tên người, địa danh đều được gọi đúng bằng tên thật. Nếu có viết tắt là do bắt buộc, cũng như nếu có bị bỏ sót là do người viết không làm sao nhớ hết nổi. Và như thế, đây là quyển sách về người thực việc thực.

Xin nói rõ, một cá nhân thì chẳng thể nào hoàn thành nổi quyển sách này. Ngoài những gì mắt thấy tai nghe và một mớ kỉ niệm khắc cốt ghi tâm sau khi ra trại, tôi còn nhận được sự giúp đỡ về mặt tài liệu của 227 nhân chứng qua nhiều thư từ, hồi kí.

Tôi thấy không cần thiết phải bày tỏ lời tri ân với những người bạn đó, vì bản thân thiên truyện này đã là một tưởng niệm của tập thể chúng tôi đối với những con người đau khổ tột cùng và đã bỏ xác trong trại. Tuy nhiên, vẫn phải kể tới những người trong hoàn cảnh khó khăn đã giúp tôi sưu tầm, tra cứu nhiều tài liệu để làm sáng tỏ vấn đề trong cả núi sách vở ở thư viện, huống hồ có nhiều cuốn đã bị cấm lưu hành hoặc bị tiêu huỷ từ lâu và nhiều khi để tìm được một bản còn sót lại đòi hỏi sự kiên trì đặc biệt. Đáng nói hơn là những người đã dám cất giữ bản thảo quyển sách này trong những giờ phút đen tối nhất và sau đó còn sao chép ra làm nhiều bản nữa. Tên tuổi những người đó cho đến thời điểm này tôi vẫn chưa dám tiết lộ.

Lẽ ra người hiệu đính bản thảo Quần đảo GULAG này phải là ông bạn cựu tù đảo Solovetsky, Dmitri Petrovich Vitkovsky, tác giả tập hồi kí "Nửa đời tù ngục". Quả thực nửa đời tù ngục đã khiến ông bị mắc chứng tê liệt đến câm luôn. Chỉ mới đọc vài chương đầu thôi ông đã có thể đoan chắc rằng toàn bộ sự thật sẽ có người kể lại bằng hết.

Theo tôi thì còn lâu xứ sở chúng ta mới được thấy ánh sáng tự do, và việc chuyền tay nhau đọc cuốn sách này cũng là một việc vô cùng nguy hiểm; vì thế, tôi xin thay mặt những người đã bỏ xác trong trại, nghiêng mình tri ân những bạn đọc tương lai.

Năm 1958, khi khởi sự viết quyển sách này, tôi còn chưa biết tới một tiểu thuyết hay hồi kí nào viết về các trại cải tạo. Đến năm 1967, khi đang viết sách, tôi mới có dịp đọc "Những mẩu chuyện Kolyma" của Varlam Shalamov và những hồi kí của Dmitri Vitkovsky, Ginzburg, Admova-Sliozberg mà sau này tôi sử dụng như những cứ liệu văn học. Đó là những truyện tù mà dân từng ở trại phải biết hết, trước khi được phổ biến rộng rãi sau này.

Cũng phải nêu tên một số nhân vật đã cung cấp nhiều tài liệu vô giá cho cuốn tiểu thuyết này - mặc dù họ chẳng hề mong muốn chút nào - cũng như họ đã góp phần lưu giữ nhiều sự kiện, số liệu quan trọng, chắt chiu như chính hơi thở của họ vậy. Đó là quý ngài ủy viên Cheka[4] M.I. Latsis (Sudrabs), N.V. Krylenko - người nhiều năm giữ chức công tố viên nhà nước, trước khi trao quyền cho đàn em A.Ya. Vyshinsky và các vị luật gia đồng bọn, mà nổi bật nhất trong đám đó là ngài thẩm phán I.L. Averbakh.

Tài liệu để viết quyển sách này còn do một nhóm 36 nhà văn Sô-viết cung cấp, trong đó đứng đầu là Maxim Gorky. Họ là đồng tác giả một quyển sách ô nhục về Kênh đào Bạch Hải[5], mà lần đầu tiên trong lịch sử văn học Nga có một tác phẩm đề cao công trình lao động nô lệ của bọn tù cải tạo.


Chú thích của ND:

[1] Đoạn này chỉ in trong lần xuất bản đầu tiên.

[2] Zek: tiếng lóng để chỉ tù nhân, tương tự "phạm" trong tiếng Việt (từ tiếng Nga Zaklyuchenyi - ЗаКлюченный, viết tắt là ZK, đánh vần là zê-ka và đọc nối thành zêk).

[3] GULAG: viết tắt của Tổng Cục quản lí các trại lao động cải tạo (tiếng Nga: Главное Управление исправительно-трудовых Лагерей - ГУЛаг).

[4] Cheka: viết tắt của Ủy ban đặc nhiệm, tên đầy đủ là Ủy ban đặc nhiệm chống phản cách mạng và phá hoại (tiếng Nga: Чрезвыча́йная Коми́ссия - ЧК, phát âm là Chê-ka) do Lenin thành lập tháng 12-1917, người đứng đầu là Dzerzhinsky - tiền thân của GPU (Cục chính trị quốc gia) và NKVD (Bộ dân ủy nội vụ); nhân viên Cheka gọi là Chekist.

[5] Tên đầy đủ trước năm 1961 là Kênh đào Bạch Hải-Baltic mang tên Stalin, là kênh đào có chiều dài tổng cộng 227km, nối Bạch Hải và hồ Onego (hồ lớn thứ nhì Châu Âu) và có cửa ra ở biển Baltic. Được xây dựng từ năm 1931 đến năm 1933 với thời gian nhanh kỉ lục bằng sức lao động của đám Zek ở GULAG. Được coi là niềm tự hào của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1929-1933), nhưng lại không được nêu tên trong "Các công trình vĩ đại của Chủ nghĩa Cộng sản".
« Sửa lần cuối: 25/01/2012, 10:13:22 gửi bởi quan mac co »
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi Mua về để đấy

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #5 vào: 27/10/2011, 14:50:19 »
@ bác Quán! Hay đấy bác ơi! Làm quả giải thưởng dịch thuật sách xưa cho vui bác nhỉ? Phần thưởng tượng trưng thôi! Ai thích thì góp vào trao giải cho vui. Không thì em Tài trợ (Một chút chút):d
Ai ủng hộ thì ta bàn tiếp!
 

Ngủ rồi NL

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #6 vào: 27/10/2011, 14:53:23 »
hí hí hay ta mở một "góc dịch thuật" cho mọi người hí hoáy, nhất là những cuốn nào đã hết hạn bản quyền nhỉ :p
 

Ngủ rồi joankim

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #7 vào: 27/10/2011, 14:56:18 »
hí hí hay ta mở một "góc dịch thuật" cho mọi người hí hoáy, nhất là những cuốn nào đã hết hạn bản quyền nhỉ :p

Ý hay đấy bác, chắc cho vào gần chỗ đọc sách và sáng tác luôn nhỉ.
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi Mua về để đấy

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #8 vào: 27/10/2011, 14:58:42 »
hí hí hay ta mở một "góc dịch thuật" cho mọi người hí hoáy, nhất là những cuốn nào đã hết hạn bản quyền nhỉ :p
Hay! Nên quá!
Nhưng mà giờ mình lười ghê! Hôm trước, than thở với thằng bạn. Nó văng mỗi câu mà phải nghĩ mãi: "Không bắt đầu thì làm sao có kết thúc!" Thằng trích được câu "HAY".
« Sửa lần cuối: 27/10/2011, 15:02:08 gửi bởi muavededay »
 

Ngủ rồi quan mac co

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #9 vào: 27/10/2011, 15:09:32 »
@ bác Quán! Hay đấy bác ơi! Làm quả giải thưởng dịch thuật sách xưa cho vui bác nhỉ? Phần thưởng tượng trưng thôi! Ai thích thì góp vào trao giải cho vui. Không thì em Tài trợ (Một chút chút):d
Ai ủng hộ thì ta bàn tiếp!
Cái này làm để gọi là "tự sướng"! :d Mời tiếp tục

PHẦN I
CÔNG NGHỆ NGỤC TÙ


               Trong thời kì chuyên chính vô sản và bị các thế lực thù địch xung quanh
               phá hoại, có đôi lúc chúng ta lại bày tỏ sự mềm mỏng không cần thiết, lòng
               trắc ẩn không cần thiết.

               Trích phát biểu của công tố viên Krylenko tại phiên toà xét xử vụ "Đảng Công nghiệp"[6]

CHƯƠNG 1 - BẮT GIAM

Làm cách nào để lọt vào Quần đảo bí ẩn này? Tiếng động cơ máy bay, tiếng còi tàu thuỷ, tiếng xình xịch của bánh sắt tàu hoả đến đây vẫn vang lên hàng giờ, thế mà tuyệt nhiên không có một biển báo hay bảng hiệu nào ghi rõ tên gọi và địa chỉ nơi này. Và những nhân viên quầy vé hay đại lí du lịch Sovtourist và Intourist[7] ắt hẳn sẽ trợn tròn mắt lên nhìn bạn như người ngoài hành tinh, nếu chẳng may bạn hỏi mua một tấm vé để đến đó. Vì lẽ họ hoàn toàn mù tịt, chưa từng một lần trong đời nghe nhắc đến Quần đảo ngục tù nói chung, cũng như một trong hằng hà sa số các hòn đảo nói riêng.

Những ai đến để cai quản GULAG, chắc chắn phải bằng con đường tốt nghiệp lò đào tạo của Bộ Nội vụ.

Những ai đến để trông coi an ninh của GULAG, chắc chắc phải được điều động từ Ban chỉ huy quân sự.

Còn những ai đến đây để bỏ lại nắm xương tàn, như chúng tôi và bạn, thưa độc giả thân mến, phương cách chắc chắn và duy nhất chỉ có thể là bị-bắt-giam!

Bị bắt!! Đời bạn coi như sụp đổ hoàn toàn? Một cú sét giáng thẳng vào người bạn? Chấn động tinh thần vô phương cứu chữa, mấy ai chịu đựng nổi mà không bị mất trí?

Có bao nhiêu con người tồn tại trên cõi đời thì cũng có chừng ấy trung tâm vũ trụ. Mỗi chúng ta là một trung tâm vũ trụ và thế giới bỗng nhiên sụp đổ dưới chân bạn khi nghe người ta dõng dạc tuyên bố "Anh đã bị bắt!"

Anh đã bị bắt! Chẳng lẽ còn gì có thể đứng vững trong cơn địa chấn ấy?

Với một bộ não nhiều nếp nhăn nhưng không được bẩm sinh có khả năng làm chủ những biến động của thế giới, thì người thạo đời nhất cũng như người chất phác nhất trong chúng ta, vào cái thời khắc định mệnh ấy, kinh nghiệm của cuộc sống cũng chẳng mách bảo làm điều gì khôn ngoan hơn ngoài câu hỏi:

- Tôi ư?? Vì tội gì cơ?? - câu hỏi được lặp đi lặp lại hàng triệu triệu lần xưa nay nhưng chẳng bao giờ có câu trả lời.

Bị bắt - đó là sự hất, quăng, ném, nhanh chóng và bất thần, từ trạng thái này sang một trạng thái khác.

Trong suốt quãng đường đời dài dặc và ngoằn ngoèo của mình, chúng ta đã may mắn chưa từng, hoặc chẳng may đã từng đi qua vô số các bức tường rào - làm bằng gỗ mục, đắp bằng đất sét, xây bằng gạch, đúc bằng bê tông hoặc bằng gang. Chúng ta vô tư chẳng hề thắc mắc đằng sau nó là gì, cũng như chúng ta không hề có ý định tò mò nhòm vào hay suy đoán. Đấy, cái thế giới của GULAG là ở ngay đằng sau bức tường rào ấy đấy, sát bên ta, chỉ cách chừng hai mét. Và chúng ta cũng chẳng mấy khi để ý đến những cánh cửa hay cánh cổng trổ từ bức tường rào đó, được nguỵ trang khéo léo và lúc nào cũng đóng chặt. Tất cả những cánh cổng ấy đều được dành cho chúng ta! Một cánh cổng định mệnh vụt hé thật nhanh, rồi bốn cánh tay đàn ông trắng trẻo không quen lao động, nhưng rất thạo việc chộp cổ, xiết chặt tay chân ta, nắm đầu, nắm tai, nắm cổ áo chúng ta mà lôi xềnh xệch vào như lôi một bao hàng, và rồi cánh cổng sau lưng ta, cánh cổng của cuộc sống quá khứ, đóng sập lại vĩnh viễn.

Thế là tiêu đời. Anh đã bị bắt!

Bạn còn biết làm gì hơn, ngoài việc rên rỉ như một chú cừu non:

- Tôi ư?? Vì tội gì cơ??

Bản chất của sự bắt người là thế! Một tia chớp chói lòa, tiếp theo là tiếng sấm động trời đẩy bật hiện tại vào quá khứ, để rồi cái không thể nào ngờ tới đột nhiên biến thành thực tế phũ phàng.

Và thế là hết. Bạn hoàn toàn mất phương hướng suốt cả giờ, thậm chí cả một ngày đầu tiên.

Trong đầu óc tuyệt vọng quay cuồng của bạn chợt lóe lên một tia hi vọng hão huyền: "Nhầm lẫn gì chăng! Thế nào họ chẳng xét lại... rồi thả mình ra!".

Và giờ đây những hình ảnh tiêu biểu, thậm chí mang tính văn học, về vụ bắt bớ dường như không còn đọng lại trong đầu óc rối bời của bạn nữa, mà hằn sâu trong kí ức của người thân gia đình hay hàng xóm láng giềng.

Thoạt đầu là tiếng chuông cửa đinh tai lúc nửa khuya hay tiếng đập cửa ầm ầm thô lỗ. Tiếp theo là bước chân xồng xộc của những đôi bốt chẳng bao giờ thèm chùi vào tấm thảm chùi chân của mấy ông an ninh cú vọ không biết ngủ đêm là gì. Theo sau thế nào chẳng có ông đại diện phường xã rụt rè gọi là làm nhân chứng. (Chức năng của đại diện địa phương để làm gì? Nạn nhân thì chả đời nào dám quan tâm, còn an ninh thì cũng chẳng buồn nhớ; chỉ biết là có quy định như vậy và họ phải đi theo cho có lệ để ngồi ru rú suốt đêm đợi sáng mai kí tên vào biên bản. Vả lại nửa đêm mà bị dựng dậy khỏi chăn ấm nệm êm để đi làm chứng bắt người thì quả là một cực hình, chưa kể lâu lâu còn phải hỗ trợ an ninh đi bắt chính những người quen biết hay hàng xóm láng giềng của mình!).

Trong một vụ bắt bớ điển hình thế nào chẳng có những bàn tay run rẩy của người thân, hối hả trao cho người bị bắt: nào là vài bộ quần áo lót, nào là mẩu xà phòng, một ít thức ăn; nào ai biết được cái gì là cần thiết, cái gì được cho phép, phải ăn mặc thế nào cho thích hợp; còn mấy ông an ninh sẽ xua tay và giục rối rít: "Không cần đem theo gì đâu! Trong đó ăn uống đàng hoàng, sưởi ấm đầy đủ!". (Tất nhiên toàn là dối trá, còn dọa nạt hối thúc cốt để khủng bố tinh thần).

Trong một vụ bắt bớ điển hình, phần tiếp theo sau khi nạn nhân bị lôi cổ đi rồi là một màn lục soát nhà cửa đồ đạc trong nhiều giờ liền của những bàn tay xa lạ và thô bạo. Cần đập là đập tan, cần xé là xé toạc, lục lọi moi móc từng chân tường kẽ vách, bao nhiêu đồ đạc trong ngăn bàn ngăn tủ đều được lôi ra, quẳng bừa xuống sàn nhà để lần mò, để giũ ra từng món, để xé nát ra xét bên trong; rồi chất đống trên sàn nhà; rồi những đôi bốt sẽ giẫm đạp lên không thương tiếc. Một khi an ninh đã lục soát thì làm gì có chuyện kiêng dè nể nang! Như vụ bắt kĩ sư hoả xa Inoshin, đứa con nhỏ mới chết vừa liệm xong, quan tài đã đóng chặt để ở góc phòng. Mấy ông an ninh nhân danh pháp luật buộc phải mở hòm, nhấc xác đứa bé ra để lục lọi khám xét bên trong. Còn nói gì bệnh nhân bị xô khỏi giường bệnh, vết thương đang băng bó cũng phải xé ra xem có giấu gì bên trong.

               Năm 1937, khi khám xét viện nghiên cứu của tiến sĩ Kazakov[8], tất cả các bình đựng
               chất kháng sinh Lysate do ông phát minh ra đều bị an ninh đập tan tành, mặc cho
               những bệnh nhân đã được chữa khỏi cũng như đang được chữa trị van xin họ đừng phá
               hủy loại thần dược này. (Theo hồ sơ chính thức thì lysate được liệt vào loại chất
               độc - vậy tại sao an ninh không giữ lại để làm tang chứng?)
[Chú thích của tác giả]

Một khi an ninh đã khám xét thì không thể bảo là hồ đồ, ngu dốt được! Vụ khám nhà của chuyên gia sưu tầm cổ vật danh tiếng Chetverukin đã tịch thu được "cơ man nào là chỉ dụ của Sa hoàng"! Ấy là chỉ dụ ngừng chiến với Napoleon, chỉ dụ thành lập Hội Thánh và cả chiếu chỉ kêu gọi thần dân thành tâm cầu nguyện để thoát nạn dịch tả lan tràn năm 1830. Vostrikov, học giả về Tây Tạng đứng đầu nước Nga, cũng bị bắt và bị tịch thu những cổ bản Tây Tạng chép tay (phải mất đúng 30 năm sau đám môn đệ của ông mới năn nỉ, xin xỏ KGB trả lại những văn bản vô giá ấy!). Trong vụ bắt giam Nevsky, nhà Đông phương học lỗi lạc, an ninh đã tịch thu số cổ bản chép tay về văn tự Tangut[9] (trớ trêu thay, 25 năm sau, ông lại được truy tặng giải thưởng Lênin về công trình san định cổ ngữ này khi đã mồ yên mả đẹp!). Karger thì bị tịch thu toàn bộ thư tịch về sắc dân Ostyak vùng Yenisei; chỉ vì công trình soạn thảo chữ viết và mẫu tự cho dân tộc thiểu số này của ông bị cấm mà cho đến tận bây giờ dân Ostyak vẫn đành phải chịu cảnh không có chữ viết. Có lẽ khó mà mô tả được một vụ khám xét bằng văn chương bác học; tuy nhiên, trong kho tàng ngôn ngữ dân gian có một câu vô cùng ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa là "Tìm cho… tòi ra thì thôi!".

Tìm ra thứ gì khả nghi, đương nhiên là họ tịch thu và chở đi; đôi khi họ còn bắt chính nạn nhân vác tang vật về sở! Như trường hợp Nina Aleksandrovna Palchinskaya phải tự tay vác bao tải tài liệu thư từ của ông chồng quá cố, một nhà hoạt động xã hội không mệt mỏi, kĩ sư vĩ đại của nước Nga, vào họng cổng đen ngòm của cơ quan an ninh để rồi không bao giờ trở lại.

Với thân nhân của người bị bắt thì sau đó là bắt đầu chuỗi ngày khốn khổ khốn nạn của cuộc sống yên lành bị phá nát. Bỏ hết công ăn việc làm để đi dò hỏi tin tức, để tiếp tế thăm nuôi. Song đến ô cửa nào cũng nghe rặt một giọng gắt gỏng như chó sủa ma: "Không có tên đó!", "Làm gì có ai tên như vậy!". Mà đã thấm tháp gì, ở Leningrad vào những ngày đen tối ấy, để được nghe quát vào mặt câu trả lời trên còn phải mất 5 ngày trời rồng rắn xếp hàng! Rồi có khi sáu tháng, một năm sau người bị bắt tự báo tin cho người thân, hoặc giả được nghe thông báo: "Đương sự không được phép trao đổi thư từ!". Thế có nghĩa là xong đời. "Không được phép trao đổi thư từ!" - hầu như đồng nghĩa với "bị bòm rồi!".

               "Chúng ta đang sống trong một thời đại đáng nguyền rủa mà mạng sống con người
               chẳng có chút giá trị gì, có những người mất tích hàng bao nhiêu năm trời mà cha mẹ
               vợ con không hề được hay biết chuyện gì đã xảy ra". Nguyên văn lời Lênin trong bài
               điếu văn đồng chí Babushkin vào năm 1910. Đúng thế, nhưng phải thừa nhận rằng ít
               nhất Babushkin còn biết lí do vì sao chết, vì vận chuyển vũ khí cho cách mạng thì bị
               bắt và bị xử bắn. Còn sau này biết bao nhiêu con người tù tội, chết mất xác... mà có biết
               mình phạm tội gì?
[Chú thích của tác giả]

Toàn cảnh một vụ bắt bớ đại khái là như thế!

Đương nhiên, đa phần những vụ bắt người vào ban đêm thường được an ninh áp dụng nhiều hơn là do bắt đêm có những lợi thế quan trọng. Nửa đêm mà nghe tiếng đập cửa ầm ầm thì người trong nhà ắt hẳn phải cứng hết cả người lên vì sợ. Bị lôi cổ dậy khỏi chăn êm nệm ấm, người bị bắt đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê thì còn suy tính được gì nữa! Đi bắt đêm an ninh còn có ưu thế "lấy thịt đè người": một đám người súng ống lăm lăm bất thần xông vào để tóm một đứa đang mớ ngủ đến quần dài còn chưa kịp xỏ thì chắc ăn như bắp! Lại còn khỏi phải lo đối phó với đám đông hiếu kì bu lại xem, chẳng may can thiệp bừa vào thời điểm bắt bớ lục soát lại đâm rách việc! Phương pháp bắt kín, bắt gọn, bắt từ từ không vội vã, hôm nay căn hộ này, ngày mai căn hộ khác phát huy tối đa hiệu quả của lực lượng an ninh, và cơ số cư dân thành phố bị tống vào tù có khi còn nhiều hơn cả quân số của lực lượng an ninh cộng lại.

Ngoài ra, tính ưu việt của bắt đêm còn ở chỗ chẳng ai ở chung cư bên cạnh hay ngoài phố biết được đã giải về đồn bao nhiêu người; cùng lắm chỉ gây hoảng cho mấy căn hộ kế bên chứ ở xa thì hề hấn gì! Và êm ru như chưa từng có gì xảy ra! Cũng một con đường tráng nhựa mà đêm đêm các ông an ninh quạ đen cứ việc bắt giải người, còn ban ngày thì đám thanh thiếu niên cứ giăng hàng, cờ quạt biểu ngữ mà hát vang những bài đồng ca.

Trên cương vị kẻ đi bắt người với mỗi một nhiệm vụ thuần túy là bắt bớ, lặp đi lặp lại đến phát ngán thì đám an ninh phải thông thạo nghiệp vụ bắt người hơn ai hết. Bọn họ có hẳn một lí thuyết lớn, chứ đừng ngây thơ nghĩ rằng cứ bắt là bắt khơi khơi. Khoa học bắt người là một bộ môn quan trọng của khóa hình sự đại cương và được hỗ trợ bằng lí thuyết xã hội căn bản. Những vụ bắt người đều được phân loại theo những dấu hiệu khác nhau: bắt đêm hay bắt ngày; bắt tại nhà, bắt tại công sở hay bắt dọc đường; bắt lần đầu hay bắt đi bắt lại; bắt riêng lẻ hay bắt tập thể. Bắt người còn phân biệt theo cấp độ bất ngờ cần thiết, theo mức độ chống đối dự liệu (đó là trên nguyên tắc, thực tế trong hàng chục triệu trường hợp, vấn đề dự phòng chống đối cũng như hành vi chống đối chưa từng xảy ra). Bắt người còn phân biệt theo mức độ khám xét hiện trường; cần thiết phải lập bảng kê khai tang vật tịch thu hay không, niêm phong hiện trường hay không; bắt chồng trước vợ sau rồi con cái tống vào cô nhi viện; hoặc mời cả nhà đi nghỉ mát một lượt, kể cả ông già bà cả cũng cho vào trại tuốt.

               Có hẳn một môn học "Khoa học khám xét" (tôi có dịp đọc một tài liệu giảng dạy
               cho sinh viên hàm thụ Luật khoa Alma-Ata). Trong đó đề cao thành tích của các
               đồng chí an ninh khi thi hành công vụ, không ngần ngại rỡ 2 tấn phân, 6 khối củi tạ,
               2 đống rơm, hốt sạch tuyết trên ruộng rau đã thu hoạch, gỡ từng viên gạch lò sưởi,
               đào bới hầm phân, lục soát nhà xí, bới tung chuồng gà chuồng chó chuồng chim, rạch
               nệm giường, lột băng bột quấn trên người, thậm chí gỡ cả răng giả bằng kim loại để
               tìm vi phim trong đó... Các học viên còn được lưu ý đặc biệt, bắt đầu khám xét là
               phải lục soát người trước tiên, sau cùng cũng phải lục soát người (đề phòng trường
               hợp thủ tiêu tang vật); một địa điểm đã xét rồi phải bất thần quay lại để tái xét vào
               giờ khác trong ngày, và phải làm lại từ đầu như chưa hề xét bao giờ.
[Chú thích của tác giả]

Chỉ mỗi việc bắt người mà cũng thiên hình vạn trạng! Như vào năm 1926, cô nàng người Hungary, Irma Mendel, được Komintern[10] tặng hai tấm vé mời xem nhạc kịch ghế hàng đầu ở nhà hát Bolshoi. Điều tra viên Klegel khi ấy đang theo đuổi người đẹp nên được nàng mời đi coi hát chung. Hai người ngồi xem đến khi vãn hát coi bộ cực kì tình tứ, và sau đó chàng mời nàng thẳng về... Lubyanka[11]. Như vào một buổi đẹp trời tháng 6 năm 1927 trên cầu Kuznetsky, người đẹp với đôi bím tóc màu hạt dẻ óng ánh Anna Skripnikova vừa mua vài thước hàng xanh để may áo váy thì được một phong lưu công tử mời lên cỗ xe song mã đi chơi phố. Dĩ nhiên là chẳng phải chuyến du ngoạn tình ái gì sất! Cứ trông bộ mặt nhăn như bị của tay xà ích là đoán ra ngay hắn vừa bị trưng dụng để làm công quả, chứ Cơ quan thì đời nào chịu chi tiền cho một cuốc xe. Quả nhiên, xe chạy một lúc là rẽ vào đại lộ Lubyanka rồi đánh thẳng vào cổng sắt đen xì của khám lớn. Hăm hai mùa xuân sau, tức là năm 1949, ông trung tá Boris Burkovsky, diện bộ lễ phục hải quân trắng toát, nước hoa xức thơm lừng, tay mang ổ bánh kem hảo hạng đến thăm người yêu; nào ngờ người được thưởng thức bánh kem chẳng phải là người đẹp mà lại chính là ngài trung tá trong xà lim của mình, sau khi lưỡi dao của an ninh xắt vụn ổ bánh ra để khám xét. Những vụ chặn bắt người giữa thanh thiên bạch nhật, bắt trên đường đi, bắt khơi khơi giữa đám đông ở xứ sở chúng ta, an ninh cũng không xem nhẹ. Tuy nhiên, mọi việc đều diễn ra gọn gàng trót lọt và lấy làm lạ một điều là chính nạn nhân dường như lại cộng tác với nhân viên an ninh; họ xử sự một cách lịch sự đúng mực, như thể để người chung quanh khỏi phải chứng kiến cảnh một người đang bị mời vào cõi chết!

Có phải ai cũng được bắt tại nhà hay tại nơi làm việc đâu; được bắt ở nhà là còn được nghe tiếng gõ cửa rồi thấy mặt ông quản lí chung cư hay bác đưa thư thò vô! Trường hợp muốn vồ một tay sừng sỏ thì tốt nhất phải cô lập nạn nhân, không để gia đình, đồng nghiệp, đồng chí, đồng hội hay biết, để nạn nhân không kịp trở tay thủ tiêu, che giấu, hoặc chuyển tang vật hay tài liệu. Còn đối với các đồng chí cộm cán trong đảng hay trong quân đội thì sẽ có một vụ sắp xếp cho đương sự lên chức thuyên chuyển đến nhiệm sở mới - đi tàu hỏa có toa riêng hạng nhất đàng hoàng - rồi giữa đường sẽ có người mời đi! Trường hợp có đồng chí lâu nay thấy chiến dịch bắt bớ rầm rộ, thiên hạ bị mời đi quá chừng mà chưa tới lượt mình đâm rụt rè, e ngại; cả tuần nay thấy ngột ngạt, khó thở vì ánh mắt thượng cấp nhìn mình nghe chừng thiếu thiện cảm rõ rệt. Giữa lúc đó, đồng chí được triệu lên đảng ủy địa phương để tuyên dương thành tích, kèm theo là tấm giấy phép cho đi nghỉ dưỡng ở nhà nghỉ Sochi. Vui mừng để đâu cho hết và lúc bấy giờ đồng chí chợt thấy bao nhiêu nghi ngờ, lo ngại ít lâu nay hoàn toàn vô căn cứ. Thế là hớn hở cảm ơn, về nhà loay hoay sửa soạn va li. Còn có hai giờ nữa là tàu lăn bánh mà mụ vợ cứ chậm rề rề, bèn la lối, giục cuống giục quýt lên để cuối cùng ra ga còn sớm chán, còn khối thời gian! Bên trong phòng đợi ở chỗ quầy giải khát bỗng có một gã trẻ tuổi dễ mến chạy lại reo ầm lên: "Đồng chí Piotr Ivanich! còn nhớ em không?". Đồng chí Piotr Ivanich ngỡ ngàng, lúng túng: "Xin lỗi, nhất thời không nhớ ra, hình như...". Gã trai trẻ tỏ vẻ rất thân mật, giả lả: "Sao lại thế, sao lại thế... để em ôn lại chuyện cũ cho đồng chí nhớ...", rồi kính cẩn nghiêng xuống nói với bà vợ: "Xin phép bà chị cho em mượn ông anh chừng một phút nhé!". Dĩ nhiên bà vợ phải gật đầu để ông khách thân thiện khoác tay chồng đi hàn huyên, để cái một phút đó trở thành muôn năm... hoặc chí ít là 10 năm!

Gọn gàng thế đó! Nhà ga đông nghẹt người mà có ai hay ai biết gì đâu! Hỡi những công dân ưa đi du lịch, xin đừng quên rằng mỗi nhà ga đều có trụ sở chi nhánh của GPU mà bên trong luôn được bố trí vài phòng tạm giam.

Màn kịch "bạn cố tri" này diễn y như thật nên chỉ những tay có bề dầy kinh nghiệm nằm trại mới không mắc phải, còn hầu như ai cũng bị quả lừa. Đừng tưởng an ninh không dám tóm bạn giữa thanh thiên bạch nhật vì bạn là cộng tác viên của sứ quán Mĩ, chẳng hạn như tay Aleksandr D. trên đường Gorky sát bên Bưu điện trung tâm. Một ông bạn chưa hề quen biết bỗng nhiên rẽ đám đông nhảy xổ đến, giang tay ôm chầm lấy bạn, reo ầm lên: "Saaa...sha! Lâu quá không gặp, ra góc này bù khú chút đi, kẻo phiền mọi người!" Thế rồi vừa ra đến góc đường, một chiếc "Pobeda" mui bít kín xịch đến ngay... Ít bữa sau Thông tấn xã TASS sẽ phẫn nộ công bố đến tất cả các báo đài rằng nhà chức trách hiện chưa có manh mối gì liên quan đến vụ mất tích của công dân Aleksandr D. Có gì lạ đâu! Cơ quan an ninh chuyên nghiệp của ta còn bố trí vụ tóm Zhora Blednov ngay giữa thủ đô Brussels của Bỉ, chứ Mạc-tư-khoa là chuyện nhỏ!

Xét ra cần phải tặng huân chương cho Cơ quan vì tính sáng tạo của phương pháp bắt người muôn hình muôn vẻ trong cái thời đại mà cái gì cũng được sản xuất dây chuyền hàng loạt, từ diễn văn, nhạc kịch, cho đến thời trang của quý bà... Bạn vừa chìa thẻ ra vào để qua cổng xí nghiệp thì đầu kia đã có an ninh chờ sẵn; đang sốt 39 độ nằm ở quân y viện vẫn bị an ninh mời đi, như trường hợp Ans Bernstein, mà đố ông bác sĩ nào dám hó hé can thiệp; có trường hợp đang nằm trên bàn mổ còn bị lôi xuống tống vào xà lim, như ông thanh tra học vụ N.M. Vorobiev năm 1936, đang trong ca phẫu thuật loét bao tử, dở sống dở chết người đầy máu me vẫn bị kéo đi tuốt (có ông Karpunich làm chứng); hay như Nadia Levitskaya, được cho phép đến gặp bà mẹ đang bị câu lưu chưa biết xử tội gì, té ra là một cuộc đối chứng để rồi hai mẹ con cùng đi một lượt! Tại cửa hàng thực phẩm cao cấp Gastronom, bạn được mời đến phòng đặt hàng đặc biệt và được đưa thẳng về Cơ quan luôn; bạn bị tóm bởi một kẻ hành hương lỡ đường được bạn cho trú tạm qua đêm vì tình thương của đấng Ki-tô; nói chung, từ một ông nhân viên nhà đèn đến thay công-tơ, một gã phóng xe đạp va vào bạn ngoài đường, nhân viên soát vé tàu hỏa, lái xe taxi, thâu ngân quầy tiết kiệm, cho đến quản lí rạp chiếu bóng... ai cũng có thể bắt người, cho đến khi bạn được chìa vào mặt tấm thẻ công vụ màu booc-đô thì đã quá muộn!

Đôi khi những vụ bắt bớ cứ như một vở tuồng phải dàn dựng công phu, tốn biết bao suy nghĩ, sức lực đầu tư vào đó để dự phòng mọi tình huống xảy ra; ấy vậy mà nạn nhân chẳng hề mảy may kháng cự! Hay là mấy ông an ninh muốn phô trương, ra điều lực lượng hùng hậu, công tác liên miên? Thực chất, chỉ cần tống đạt "giấy mời" đến bất kì mạng nào trong danh sách bắt, chắc chắn đúng ngày đúng giờ nạn nhân sẽ ngoan ngoãn khăn gói quả mướp đến trình diện trước cổng sắt đen xì của cơ quan an ninh để chiếm một chỗ được dành sẵn trên sàn xà lim. Các nông trang viên thường bị bắt theo lối như vậy, chẳng lẽ đêm hôm phải mò mẫm đến từng nhà một, nhiều khi còn chẳng có đường lộ mà đi? Cứ triệu tập lên ủy ban rồi hốt đi hết! Công nhân xí nghiệp cũng vậy, chỉ cần gọi lên văn phòng là xong!

Tất nhiên, không cỗ máy nào có thể chạy quá công suất được, cỗ máy bắt người cũng vậy! Vào những năm 1945-1946, khi chiến dịch bắt người lên đến cao điểm, hết đoàn tàu này đến đoàn tàu khác từ châu Âu đổ cả rừng người xuống chờ phân tán đi các GULAG, thì làm sao còn chuyện dàn dựng với kịch bản gì nổi; bộ lông óng ả của lí thuyết bắt người trước kia nay cũng bạc phếch rồi! Và công cuộc tống giam cả chục ngàn con người bỗng biến thành một cuộc điểm binh, cán bộ cứ cầm danh sách rồi xướng tên, trúng tên ai thì cứ việc rời toa tàu cũ lên toa mới để chuyển đi nơi khác.

Từ hàng chục năm nay, những vụ bắt bớ chính trị ở xứ ta có đặc điểm là nạn nhân hoàn toàn chẳng biết mình phạm tội gì để mà chuẩn bị đối phó sẵn. Hình thành một tâm lí chung là vô phương trốn chạy, làm sao thoát khỏi tay của GPU hay NKVD, cái hệ thống quản lí hộ chiếu của nước ta đúng là phục vụ hữu hiệu cho việc này! Thậm chí ngay thời điểm cao trào của dịch bắt người, buổi sáng trước khi đi làm lo từ giã, nhắn nhủ vợ con sẵn vì chưa dám chắc buổi tối có thể trở về, cũng chẳng có mấy ai bỏ trốn, thi thoảng có vài trường hợp tự tử. Chỉ cần có vậy. Cừu non thì đời nào thoát khỏi nanh sói!

Sở dĩ có chuyện như vậy là do chẳng mấy ai am tường cơ cấu hoạt động của cỗ máy bắt người vào thời kì đại dịch. Thường thì Cơ quan chẳng có cơ sở để phân tích lựa chọn phải bắt ai, không được đụng đến ai gì ráo; bắt là bắt mà không bắt là không bắt, miễn sao hoàn thành chỉ tiêu cơ số thì thôi, bắt đúng luật cũng được mà bắt bừa bắt ẩu cũng chẳng sao! Vậy mới có chuyện vào năm 1937 tại Công an tỉnh Novocherkassk, một phụ nữ vào hỏi phải giải quyết làm sao với đứa bé còn đang bú mẹ bên nhà hàng xóm mà mẹ nó vừa bị bắt. Người ta bảo: "Cứ ngồi đợi một chút, chúng tôi sẽ xác minh". Cỡ chừng hai giờ đồng hồ sau, người khách ngồi đợi bị giải vào khám luôn! Thì ra cần phải đủ cơ số gấp để báo cáo mà lại không đủ nhân viên để cử vào phố bắt người, thôi sẵn đây thì tống giam luôn! Ngược lại, trường hợp Andrei Pavel ở thị trấn Orsha, Latvia, bị an ninh vây bắt, y không chịu mở cửa mà vọt cửa sổ trốn thoát rồi giông một mạch sang Siberia. Hắn sống ở đấy, vẫn giữ nguyên tên tuổi cũ, giấy tờ cũ mà Cơ quan có truy nã hay nghi ngờ gì đâu? Thì ra có đến ba hình thức truy nã: cấp toàn Liên bang, cấp nước cộng hòa và cấp tỉnh, mà trong đại dịch bắt bớ thì đến non nửa số người bị bắt không cần phải công bố lệnh truy nã vượt quá cấp tỉnh! Trường hợp bắt bừa cho đủ cơ số thì chỉ cần có đơn tố cáo của hàng xóm là đủ rồi, nên không bắt người này thì bắt người khác, như nhau cả! Một số người tương tự như A. Pavel, chẳng hạn thình lình bị bố ráp hay căn hộ bị bao vây, lúc đó cứ liều mà bỏ chạy, đừng chờ đến lúc bị công an hỏi cung, rút cục lại chẳng sao; chứ còn ở lại mà chờ công lí thì vào khám là cái chắc. Ấy vậy mà đại đa số lại phản ứng như trường hợp sau: chán nản, bó tay, vô vọng chờ vào tù mới lạ!

NKVD một khi không bắt được người cần bắt sẽ buộc gia đình nạn nhân không được đi đâu hết, phòng trường hợp còn có người để trám vào chỗ trống. Chế biến ra một bộ hồ sơ là việc hết sức đơn giản!

Sự ngây thơ tin mình vô tội khiến người ta chẳng có phản ứng gì. Ai cũng nghĩ chắc họ chừa mình ra. Như trường hợp ông A.I. Ladyzhensky, hiệu trưởng một ngôi trường ở quận Kologriv hẻo lánh. Vào năm 1937, đang đi ngoài chợ bỗng có một nông dân đến rỉ tai: "Aleksandr Ivanich, có người báo ông đã có tên trong danh sách, trốn đi cho mau!". Nhưng ông ta cứ ở lại, không chịu trốn - Cả trường trông cậy vào một mình tôi, chính con cái họ còn đang học với tôi, không lẽ họ bắt tôi à? Quả nhiên ít ngày sau, họ vẫn cho ông nằm khám như thường. Đâu phải ai cũng thấu hiểu lẽ đời như Vania Levitsky, một thiếu niên mới tròn 14 tuổi. Cậu bé cả quyết: "Một người tử tế chắc chắn sẽ vào tù. Cha tôi hiện đang nằm khám, khi nào tôi lớn sẽ đến lượt tôi!". Quả không sai, năm 23 tuổi cậu vô khám thật! Đại đa số dân tình thường thụ động với hi vọng hão: Một khi ta vô tội, hà cớ gì người ta lại bắt được? Chẳng qua là NHẦM LẪN thôi! Đã bị nắm cổ tống vào tù rồi mà vẫn còn tự an ủi: "Nhầm lẫn gì chăng? Thế nào họ chẳng xét lại rồi thả mình ra!" Người ta bị bắt đầy ra đấy, rành rành vậy, thế mà vẫn không thoát được ý nghĩ mê muội: "có khi tay ấy bị bắt là phải!"... còn mình, mình làm gì nên tội. Rồi xem, Cơ quan sáng suốt như vậy, thế nào chả xét lại rồi thả mình ra!

Vậy thì hà tất phải bỏ trốn, chống đối để làm gì? Chỉ tổ làm cho tình huống xấu đi, cản trở người thi hành công vụ làm sáng tỏ sự thật. Không những không chống lại, họ còn rón rén nhẹ nhàng từng bước xuống bậc thang để hàng xóm láng giềng khỏi hay biết nữa kìa!

               Sau này khi nằm trại rồi đám tù mới trăn trở, dằn vặt: ví thử như mấy tay
               an ninh, mỗi đêm trước khi đi bắt người, phải từ giã nhắn nhủ vợ con, vì chắc gì toàn
               mạng mà trở về? hoặc vào thời điểm bố ráp hàng loạt như ở Leningrad, cả
               một phần tư dân số thành phố bị hốt, thay vì trốn chui trốn nhủi trong nhà, thất
               kinh hồn vía trước từng tiếng gõ cửa, trước từng bước chân lên cầu thang, giá như
               ngộ ra rằng đời còn gì để mất nữa mà lo, chỉ cần dăm bảy người gậy gộc, búa
               rìu phục sẵn dưới nhà, đã biết trước giờ nào bọn đầu trâu mặt ngựa xộc tới
               rồi mà! Sao không sẵn sàng chống lại? Sao không đánh đuổi gã lái xe đợi bên
               ngoài hay phá xe, chọc thủng lốp xe? Cơ quan chắc chắn sẽ thiếu người, thiếu
               phương tiện, rồi thì bộ máy bắt người ắt phải khựng lại, mặc cho cơn khát
               bắt bớ của Stalin có thỏa mãn hay không!
               Chao ôi, toàn những giá như với phải chi...
[Chú thích của tác giả]

Thử hỏi nếu chống lại thì chống vào lúc nào? Lúc bị lột thắt lưng? Hay lúc được lệnh úp mặt vô tường? Hay đúng lúc vừa bước chân qua ngưỡng cửa? Xét ra mỗi ca bị bắt là một tổ hợp những điều ngớ ngẩn vô lí, những chi tiết vụn vặt chả ra gì; vậy nên thật vô nghĩa nếu tách bạch ra từng chi tiết - trong khi bao nhiêu ý nghĩ của người bị bắt đều xoay quanh một dấu hỏi lớn: "vì tội gì?" - và toàn bộ những điều ngớ ngẩn vô lí ấy cấu thành một vụ bắt bớ.

Biết bao ý nghĩ lộn xộn quay cuồng trong đầu óc một người mới bị bắt mà nhiều khi cả một quyển sách cũng chưa mô tả hết. Có thể là những cảm xúc mà chúng ta không đời nào ngờ tới. Như trường hợp cô nàng mười chín tuổi Yevgenia Doyarenko vào năm 1921, nửa đêm đang ngủ bị ba gã Chekist trẻ tuổi xộc vô tận giường lục soát, ngăn tủ đồ lót và các đồ lặt vặt bị chúng lôi ra xét từng chút, nhưng Doyarenko vẫn bình thản như không: có giấu giếm gì đâu mà sợ bị phát hiện. Nhưng khi chúng vừa đụng tới quyển nhật kí ghi chép những tâm tình riêng tư thầm kín của nàng mà ngay cả mẹ nàng cũng chưa được xem thì nàng lồng lộn lên ngay. Đối với nàng thì việc xâm phạm nhật kí ngang nhiên của ba cặp mắt cú vọ còn dã man tệ hại gấp bội lần nhà tù Lubyanka với song sắt đen xì và hầm biệt giam. Nhiều người có những cảm giác và những mối liên hệ rất riêng tư mà việc đụng chạm hay xúc phạm những điều đó còn kinh khủng hơn nỗi khiếp sợ tù tội hay tư tưởng chính trị. Một người mà trong thâm tâm không hề có sự chuẩn bị đối phó với bạo lực thì bao giờ cũng yếu thế hơn kẻ đàn áp.

Rất hiếm trường hợp thông minh gan dạ và phản ứng kịp thời như Grigoriev, viện trưởng Viện Địa chất thuộc Viện Hàn lâm khoa học Sô-viết. Năm 1948 bị an ninh đến nhà bắt, ông chốt cứng cửa lại trong hai giờ liền để đốt bằng hết giấy tờ đã.

Đôi khi, có người bị bắt lại cảm thấy nhẹ nhõm, thậm chí vui mừng là khác, đã từng xảy ra trong thời kì nở rộ dịch bắt bớ: những người y như mình ở xung quanh bị bắt sạch cả rồi... tại sao chưa ai hỏi han gì đến mình? họ còn chờ gì nữa chứ? Chính sự bồn chồn, lo lắng đó còn khó chịu hơn bị bắt nhiều, đặc biệt đối với những ai yếu tâm lí. Có mấy ai gan dạ như Vasili Vlasov, một cán bộ cộng sản trung kiên, người mà chúng ta sẽ còn nhắc tới sau này, vào năm 1937 đã từ chối không bỏ trốn mặc dù được sự hỗ trợ che chở của những bạn hữu ngoài đảng, cảm thấy suy sụp khi tất cả các đồng chí lãnh đạo quận ủy Kaidy đã bị bắt hết cả rồi mà mình thì mãi vẫn chưa thấy ai hỏi thăm sức khỏe. Thà là nhận được một cú giáng vào giữa trán còn hơn - rồi thì đồng chí cũng được nhận và được yên tâm, trong những ngày đầu bị bắt, đồng chí thấy nhẹ nhõm quá chừng! Như giáo sĩ Ieraks (Bocharov) vào năm 1934 đi Alma-Ata để thăm các giáo hữu bị lưu đày, trong thời gian đó an ninh đã mò đến nơi ở của cha tại Moskva ba lần nhưng không gặp. Khi cha quay lại Moskva, các tín đồ phải trực ở ga đón để ngăn không cho về nhà, rồi họ thay nhau "chứa chấp" cha trong vòng 8 năm trời, di chuyển liên tục nay nhà này mai nhà khác. Cuộc sống lang thang trốn chui trốn nhủi đã hành hạ cha đến mức chịu không nổi, cho nên vào năm 1943 khi bị an ninh bắt, cha đã hân hoan làm dấu thánh và đọc kinh Tạ ơn.

Trong chương này, chúng tôi chỉ mới nói đến những tập thể, những cá nhân bị bắt mà không hiểu vì duyên cớ gì. Rồi cũng đến lúc đề cập đến những người, trong thời kì mới có dính líu đến hoạt động chính trị thực sự. Như Vera Rybakova, một nữ sinh viên có chân trong Đảng Dân chủ Xã hội, hồi còn tự do cô chỉ mong ước được nhốt tại phòng biệt giam nhà tù Suzdal: chỉ ở đó cô mới cho là thật sự được gặp những đồng chí tiền bối (những đồng chí này đã nằm khám cả) và ở đó cô sẽ xây dựng cho mình một thế giới quan. Còn cô Ekaterina Olitskaya, đảng viên Đảng Xã hội Cách mạng năm 1924 cứ có mặc cảm tự cho mình không xứng đáng để được ngồi tù: những con người kiệt xuất của nước Nga đều trải qua trường tù ngục hết... mà cô thì còn quá trẻ, chưa có cống hiến gì cho tổ quốc Nga. Vào tù rồi mới hiểu ý nghĩa của tự do. Cả hai cô đều vào tù với niềm tự hào và sung sướng.

Chú thích của ND:

[6] "Đảng Công nghiệp" là một vụ án lớn, được xét xử từ 25-11 đến 7-12-1930 tại Moskva, buộc tội một nhóm các nhà khoa học và những kĩ sư thành lập tổ chức phản cách mạng hoạt động bí mật dưới tên gọi "Tổ chức liên hiệp các kĩ sư" hay "Đảng Công nghiệp". Kết quả 5 người bị xử bắn là giáo sư Ramzin - Viện trưởng Viện kĩ thuật nhiệt, giáo sư Charnovski, Larichev, Kalinnikov, Fedotov. Còn Krylenko khi đó là công tố viên nhà nước tại phiên toà.

[7] Sovtourist - Soviet Tourist và Intourist - International Tourist.

[8] Ignaty Kazakov (1891-1938) - viện trưởng Viện nghiên cứu về trao đổi chất và rối loạn nội tiết tố - ông cùng với Lev Levin và Dmitri Pletnev bị buộc tội đầu độc các lãnh đạo cao cấp và bị xử bắn ngày 15-3-1938.

[9] Tangut (Western Xia) - ngôn ngữ cổ được sử dụng vào thời Tây Hạ (1038-1227).

[10] Komintern - viết tắt của Communist International - Quốc tế Cộng sản III (1919-1943).

[11] Lubyanka - Tổng hành dinh của KGB, tọa lạc tại quảng trường Lubyanka, trong đó có nhà giam lớn.
« Sửa lần cuối: 25/01/2012, 10:27:42 gửi bởi quan mac co »
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi quan mac co

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #10 vào: 29/10/2011, 12:03:06 »
Chương 1 (tt)

"Phải chống cự lại chứ! Sao lúc đó mấy người không phản kháng gì hết vậy?" - những kẻ vừa đau khổ ở tù ra thường bị những người chưa nếm mùi tù ngục mắng cho một câu xốc óc.

Đúng vậy, lẽ ra phải chống cự ngay từ phút đầu tiên lúc mới vừa bị bắt!

Nhưng chẳng ai chống cự!

Vậy là cứ ngoan ngoãn để họ lôi đầu đi. Trong những vụ bắt ngày, bao giờ cũng có khoảnh khắc mà nạn nhân bị điệu đi khơi khơi giữa đám đông hàng trăm con người, hoặc với họng súng của kẻ áp giải dí vào lưng, hoặc không thấy mà chỉ nghe dọa. Nạn nhân có bị nhét giẻ vào mồm đâu. Nạn nhân thừa sức kêu ầm lên! Đáng lí phải kêu lớn lên rằng mình bị bắt, rằng những kẻ kia là "cá chìm" trá hình đi bắt người, rằng mình bị vu khống, rằng cả triệu con người đang bị bịt miệng, bị đàn áp! Giá như mỗi ngày có vài vụ la ầm lên như vậy ở khắp các ngõ ngách của thành phố, biết đâu chừng đồng bào chẳng rục rịch phản ứng, biết đâu chừng việc bắt người không thể xảy ra dễ dàng như thế!?

Như hồi năm 1927, khi đó sự khiếp nhược dễ bảo còn chưa làm nhũn não dân ta như bây giờ, một phụ nữ bị hai nhân viên Cheka chặn bắt giữa ban ngày tại quảng trường Serpukhov. Chị ta níu chặt cứng lấy cột đèn, la ầm lên, nhất định không cho dẫn đi. Đám đông bu lại xem. Cần phải có một phụ nữ như thế, và càng cần phải có một đám đông như thế, chứ không phải thấy chuyện bất bình trước mắt rồi bước vội bước vàng đi cho yên chuyện! Hai tay Chekist nhanh nhẹn bỗng nhiên bối rối. Nghề mật vụ đâu cho phép hành sự lộ liễu vậy. Hai ông vội lên xe rồi chuồn thẳng. (Lẽ ra chị ta phải phi ngay ra ga đáp chuyến tàu sớm nhất bỏ trốn tức thì! Đằng này lại mò về nhà, nên ngay đêm đó bị an ninh đến tóm về Lubyanka).

Nhưng từ đôi môi khô khốc của bạn chẳng hé ra một âm thanh nào, và đám đông qua lại làm sao nhận biết được bạn đang đi với đám đao phủ mà cứ tưởng bạn bè khoác tay nhau đi dạo mát!

Chính tôi cũng nhiều lần có cơ hội la lớn lên lắm chứ.

Vào ngày thứ mười một kể từ khi bị bắt, ba ông SMERSH áp giải tôi đến nhà ga Belorus, thay vì phải canh chừng tù nhân, ba ông còn phải lo trông nom ba chiếc va li đồ sộ, kềnh càng, nên rút cục suốt quãng đường dài họ lại phải nhờ tôi coi sóc giùm! Được mệnh danh là tổ áp giải tù đặc biệt có võ trang nhưng thực chất mấy khẩu súng chỉ làm họ thêm vướng, chỉ vì mấy chiếc va li căng phồng, đầy những "chiến lợi phẩm" mà họ và mấy sếp phản gián quân đoàn 2 Belorus của họ vơ vét kiếm chác được ở bên Đức. Muốn đem về trót lọt để làm quà cho gia đình thì phải mượn danh nghĩa công tác hộ tống đặc biệt chứ! Chiếc vali thứ tư nhẹ tênh mà tôi chẳng muốn chẳng muốn xách theo chút nào, bên trong toàn giấy tờ nhật ký, bản thảo - nghĩa là tang vật để buộc tội.

Cả tổ hộ tống ba ông có ông nào biết đường trong thành phố đâu, lại phải tôi phải làm hướng dẫn viên chỉ đường đi ngắn nhất cho họ áp giải chính mình vào tù, chính tôi phải dẫn họ đến Lubyanka, họ đã đến đây bao giờ đâu... còn tôi thì lại nhầm nó với trụ sở của Bộ Ngoại giao!

Sau một hôm ở trại giam Cục phản gián quân đoàn cộng thêm ba ngày ở Cục phản gián mặt trận, các bạn tù đã kịp chỉ giáo cho tôi những mánh lới, thủ đoạn dọa nạt đánh đập của bọn điều tra viên; họ bảo một khi đã vô đây thì đừng mong có ngày về, bèo nhất cũng phải mười niên! Vậy mà cứ như là có phép lạ, chỉ vỏn vẹn bốn ngày tôi đã được tống khứ khỏi chỗ đó và còn được lên tàu, đi lại tự do như bất kì một người tự do nào; mặc dù lưng tôi đã từng nếm mùi ổ rơm mục sát bên hố xí, mắt tôi đã từng thấy những con người bị đập tơi tả, không nhắm mắt ngủ nổi, tai tôi đã từng nghe bao nhiêu chuyện thật, miệng nấu cơm tù. Vậy sao tôi lại câm nín? Tại sao trong những phút cuối cùng của cuộc đời tự do tôi lại không thét lớn lên cho đám đông bị lừa dối lâu nay nghe?

Tôi đã nín thinh khi về đến thành phố Brodnica, Ba Lan - có thể vì ở đó không ai hiểu tiếng Nga. Tôi cũng chẳng mở mồm trên đường phố Belostok - vụ bị bắt của tôi có liên quan gì đến dân Ba Lan đâu. Tôi cũng không thốt một lời khi về đến ga Volkovysk - có thể vì chung quanh chẳng có mấy người. Tôi vẫn ngoan ngoãn đi dạo cùng mấy ông đồ tể như chưa từng có chuyện gì xảy ra dọc sân ga Minsk - nhưng nhà ga vẫn còn là một đống hoang tàn. Giờ đây tôi còn dẫn ba ông phản gián đó đến tiền sảnh với mái vòm cong trắng toát của ga tàu điện ngầm Belorus. Nhà ga ngập tràn ánh đèn điện, trước mặt chúng tôi là hai cầu thang cuốn chạy song song, chở lên biết bao nhiêu là người dân Moskva. Có cảm giác như tất cả bọn họ, ai nấy đều nhìn vào tôi, dòng người vô tận theo thang cuốn từ lòng đất tăm tối chạy lên mái vòm tỏa sáng, chuyển động đến phía tôi như thể chỉ để nghe lấy một lời sự thật. Tại sao cho đến tận lúc đó tôi vẫn còn ngậm miệng??!

Vẫn biết mỗi người ai chẳng có sẵn cả tá lí do tại vì, bởi lẽ... để giải thích cho việc chẳng nên hi sinh lãng nhách.

Một số người vẫn còn hi vọng vào một lối thoát tốt đẹp và họ e rằng việc la lớn sẽ hủy hoại cơ hội ấy. Xét cho cùng, vì chúng ta mù tịt chẳng biết gì về thế giới bên kia, nên chúng ta không thể biết được rằng ngay từ giây phút đầu tiên lọt vào tay an ninh thì số phận của chúng ta đã được an bài theo chiều hướng không còn gì tệ hơn được nữa! Những người khác thì hầu như chưa có khái niệm muốn hét vào đám đông thì phải hét ra làm sao. Chỉ những tay làm cách mạng chuyện nghiệp thì khẩu hiệu lúc nào cũng sẵn trên môi, tự nó đã có thể bật thành tiếng hô lớn theo phản xạ, còn phó thường dân, không hề tham gia cái gì thì biết đường nào mà hô? Đơn giản là chẳng biết phải hô lớn cái gì. Và sau cùng, có rất nhiều người, lòng tràn ngập biết bao cảm xúc, mắt đã từng chứng kiến biết bao điều, thì cả một dòng thác cảm xúc ấy trong tâm khảm sao có thể ngay một lúc tuôn ra vỏn vẹn chỉ trong vài tiếng kêu rời rạc được!

Còn tôi, tôi đã nín lặng vì một lí do khác: bởi vì số người dân Moskva đặt chân trên những bậc của hai dòng thang cuốn hôm ấy đối với tôi còn quá ít, thực sự quá ít! Nếu tôi có la lớn, bất quá cũng chỉ có hai trăm người hoặc gấp đôi con số hai trăm nghe thấy là cùng - còn hai trăm triệu con người thì sao? Chính vào lúc ấy tôi đã ngờ ngợ, mường tượng ra rằng thế nào cũng có ngày tôi sẽ la lớn để cho hai trăm triệu con người nghe thấy...

Cho đến lúc này tôi vẫn chưa mở miệng, mặc cho thang cuốn lôi tôi vào thế giới âm u.

Đến ga Okhotny Ryad, tôi vẫn lặng thinh.

Ngang qua khách sạn Metropole tôi vẫn chưa thốt một lời.

Lúc tới quảng trường Lubyanka - Golgotha[12] tôi cũng chẳng buồn vẫy tay...

***

Trường hợp của tôi, phải nói là ca bị bắt dễ nhất, gọn nhất mà người ta có thể hình dung ra. Tôi không bị lôi tuột ra khỏi vòng tay vợ con người thân, không phải li khai với nếp sống gia đình quen thuộc. Vào một ngày mùa đông tháng hai u ám tại châu Âu, tôi bị buộc phải rời cứ điểm đóng quân vùng duyên hải Baltic, nơi chúng tôi đang bị quân Đức bao vây hay quân Đức bị chúng tôi bao vây, tùy quan điểm từng người. Tôi chỉ bị buộc rời xa pháo đội của mình và cảnh tượng ba tháng cuối cùng của cuộc chiến.

Bữa đó tư lệnh lữ đoàn gọi tôi lên Bộ chỉ huy và yêu cầu nạp súng lục, tôi đưa ngay không chút ngờ vực, bỗng trong đám sĩ quan tham mưu ngồi yên lặng trong góc phòng với vẻ căng thẳng khẩn trương có hai ông bên phản gián đứng bật dậy. Chỉ với vài bước chân họ đi hết căn phòng và tiến về phía tôi, phải nói là xông lại mới đúng. Bốn cánh tay đưa lên đều đặn, nhanh thoăn thoắt để lột lon, lột phù hiệu gắn trên nón, lột thắt lưng, lột luôn sắc-cốt; rồi dõng dạc quát lên như đang diễn kịch:

- Anh đã bị bắt!!

Tôi bỗng nóng bừng người, tê buốt như bị kim châm từ đầu tới gót chân, nhất thời cũng chẳng tìm ra một câu gì đó thông minh hơn:

- Tôi ư? Vì tội gì chứ?!

Thường thì chẳng ai thèm giải thích lí do, nhưng bữa đó tôi lại nhận được câu trả lời mới lạ! Điều này rất đáng nhớ vì nó hoàn toàn trái với thông lệ. Sau khi mấy tay SMERSH làm xong thủ tục lột lon, tịch thu sắc-cốt và các tài liệu ghi chép của tôi, lẹ làng đẩy tôi ra phía cửa giữa lúc mấy ô cửa kính còn rung động dưới loạt đạn pháo kích của quân Đức - bỗng nhiên một giọng nói chắc nịch hướng về phía tôi - phải, sau hai tiếng "bị bắt" là sự cắt đứt giữa tôi và những gì còn lại phía sau, là lằn ranh ngăn cách với vùng bị phong tỏa do dịch hạch, là không một ai dám hó hé lên tiếng - đó là tiếng nói của tư lệnh lữ đoàn:

- Solzhenitsyn, quay lại đây!

Tôi quay mạnh người, thoát khỏi tay mấy ông SMERSH, và tiến lại trước mặt vị chỉ huy trưởng. Là thuộc cấp nhưng thực sự tôi biết ông rất ít, ông chưa hề nói chuyện phiếm với tôi bao giờ. Thấy mặt ông là chỉ thấy truyền lệnh, sai phái, giận dữ. Nhưng lúc đó sao nét mặt ông trầm ngâm thế - phải chăng do cảm giác xấu hổ vì bất đắc dĩ phải dính líu vào một công việc bẩn thỉu, phải chăng do hết chịu nổi việc cả một đời chỉ biết ngoan ngoãn phục tùng rồi? Mười hôm trước, tôi vừa đưa pháo đội của tôi rút ra khỏi trận địa pháo an toàn, trong khi nguyên một tiểu đoàn pháo hạng nặng 12 khẩu của ông phải bỏ lại - thế mà giờ đây chỉ với một tờ giấy có con dấu bên trên, ông đành phải chịu để người ta lôi tôi đi?

- Anh có người bạn ở Mặt trận 2 Ukraine phải không? - ông đắn đo lên tiếng.

- Cấm tiết lộ! - tay thiếu tá và đại úy phản gián la lớn - Đại tá, ông không được phép!

Ở góc phòng, đám sĩ quan tham mưu ngồi sát lại nhau, như sợ phải chịu trách nhiệm liên đới với ông lữ đoàn trưởng về sự liều lĩnh của ông (tất nhiên mấy gã sĩ quan chính trị sẽ ghi nhận để làm tài liệu về sự vi phạm của ông). Với tôi thì vậy là quá đủ, tôi hiểu ngay mình bị bắt vì những thư từ trao đổi với người bạn học thời phổ thông, và tôi biết mức độ nguy hiểm đang chờ đợi tôi ra sao!

Giá như lúc đó có thể ngăn Zakhar Georgievich Travkin lại thì hay biết mấy! Nhưng không! Dường như để tự cảm thấy trong sạch và thanh thản với lương tâm của mình, đại tá đứng dậy khỏi bàn làm việc, bước qua lằn ranh phong tỏa dịch hạch và chìa tay ra bắt tay tôi (trước kia, chưa bao giờ đại tá bắt tay tôi và lại càng không bao giờ phải đứng dậy rời chỗ!) trong sự sợ hãi đến câm lặng của ban tham mưu, sự ấm áp thoáng hiện trên gương mặt vốn khô khan, khắc khổ thường ngày, đại tá nói thật thản nhiên và rành rọt:

- Đại úy, chúc may mắn!

Tôi đã không còn là đại úy nữa, mà là kẻ thù bị vạch mặt của nhân dân (ở ta dường như bất cứ kẻ bị bắt nào, ngay từ thời điểm bị bắt, đã là một tên phản động). Thật khôi hài, ông ta lại chúc may mắn cho kẻ thù của nhân dân!

Cửa kính rung lên bần bật. Cách đó chừng hai trăm mét, từng loạt đạn pháo của quân Đức xới tung mặt đất. Điều này[13] không thể xảy ra ở hậu phương an toàn trên đất của ta, mà chỉ có thể ở nơi súng nổ đạn bay, nơi mà hơi thở của cái chết luôn phà sát bên gáy và bình đẳng, chẳng chừa một ai.

               Thật lạ vô cùng: con người ta sau này ra sao chỉ có trời mới biết! Hành
               động "lệch lạc" của Travkin lại không gây phiền toái gì cho ông. Gần đây,
               chúng tôi vui mừng gặp lại nhau và lần đầu có dịp chuyện trò thân mật.
               Ông đã là tướng về hưu và là thanh tra Hiệp hội săn bắn.
[Chú thích của tác giả]

Quyển sách này không phải là những hồi ức về cuộc sống riêng tư nên tôi sẽ không ghi lại hết những chi tiết lí thú, hoàn toàn không giống ai về vụ tôi bị bắt. Vào đêm hôm đó, mấy ông SMERSH hoàn toàn mù tịt không thể đọc được bản đồ (họ có được huấn luyện xem bản đồ bao giờ), sau khi đánh vật với tấm bản đồ, họ đành phải lịch sự đưa cho tôi để nhờ tôi chỉ đường cho lái xe đến Cục phản gián quân đoàn. Chính tôi phải hướng dẫn họ áp giải mình vào tù và để trả ơn, họ dành cho tôi một xà lim đặc biệt. Và tôi buộc phải mô tả cái kho bé xíu trong nhà một nông dân Đức bỏ lại, tạm dùng để làm xà lim đặc biệt này.

Nó có bề dài khoảng một thân người, còn bề rộng ba người nằm là chật, bốn người thì gần như phải đè lên nhau, nêm cứng ngắc! Tôi là khách hàng thứ tư, quá nửa đêm mới được tống vào, ba người đang nằm ngủ nheo mắt ngó tôi qua ánh đèn dầu lờ mờ, rồi cũng nhích người nhường một khoảng trống đủ để tôi nghiêng người, nửa đè nửa chen, lát sau nhờ sức nặng thân người cũng nêm được vào. Cả bốn đứa còn nguyên áo khoác, nằm xếp lớp trên sàn rơm, bốn đôi bốt quay ra phía cửa. Họ ngủ, còn tôi thao thức. Nửa ngày trước đây còn nghiễm nhiên mang lon đại úy, giờ là thằng tù nằm như cá mòi trên sàn kho mới đau! Lâu lâu có người cựa quậy đổi tư thế vì nằm nghiêng mãi một bên chịu sao nổi, thế là cả bọn lục tục đổi theo.

Gần sáng họ mò dậy, ngáp to, cằn nhằn, duỗi chân duỗi cẳng, mỗi người một góc và bắt đầu làm quen:

- Anh bạn sao bị dính?

Có lẽ tôi đã bị nhiễm cái máu thận trọng của mấy ông SMERSH nên làm bộ ngạc nhiên:

- Tôi biết gì đâu! Bọn họ có cho mấy anh biết không?

Ba anh bạn cùng xà lim - thuộc binh chủng thiết giáp qua dấu hiệu là cái mũ nồi đen - trái lại, chẳng thèm giấu giếm. Cả ba đều thuộc loại người bộc trực, cởi mở, típ người mà tôi thích giao du trong mấy năm trời chiến đấu, bởi vì bản thân tôi còn phức tạp, rắc rối và tệ hơn nhiều. Cả ba cùng là sĩ quan, cứ nhìn chỗ cầu vai bị lột lon với chỗ rách trơ tấm gòn lót bên trong là biết liền. Trên chiếc áo khoác dơ bẩn, chỗ miệng túi có những vệt nhỏ hơi sáng màu là dấu vết của những huy chương vừa bị tước đi, những vết sẹo đỏ và bầm trên mặt và tay họ là chứng tích của những vết thương và vết phỏng. Đơn vị chiến xa của họ rút về hậu cứ để sửa chữa trong một ngôi làng, xui xẻo làm sao, Cục phản gián Quân đoàn 48 lại đặt bản doanh ở đó. Hôm trước vừa chiến đấu như điên, hôm qua được rút về hậu cứ nên họ nhậu say khướt ở ngoài bìa làng rồi lạng quạng thế nào lại chui vào nhà tắm. Thấy hai đứa con gái ăn mặc hở hang cũng đi vào nhà tắm, cả ba rượt theo nhưng bí tỉ rồi, chân nam đá chân chiêu, nên mấy cô gái chạy thoát. Vô phúc cho họ, một trong hai đứa con gái lại là bồ cưng của cục trưởng Cục phản gián Quân đoàn!

Chuyện chỉ có vậy! Ba tuần lễ nay, Hồng quân đã tiến vào lãnh thổ Đức, chẳng nói ra nhưng ai cũng rõ, bắt được đàn bà con gái Đức là cứ việc hiếp rồi bắn bỏ vô tội vạ, chiến trận mà, đâu chả thế! Nếu là gái Ba Lan hay gái Nga lạc lõng lớ quớ ở đó, dĩ nhiên họ có thể rượt đuổi mấy đứa con gái tồng ngồng chạy quanh vườn và tha hồ nghịch ngợm vỗ mông, bất quá cũng chỉ là một trò đùa không hơn không kém. Khổ nỗi, chỉ vì một trong hai đứa con gái đó lại là vợ chiến trường của sếp phản gián, cho nên ba tay sĩ quan tác chiến lại bị một gã trung sĩ hậu cứ lột sạch cả lon lẫn huy chương, lon do Bộ Tư lệnh mặt trận gắn còn huy chương do Chủ tịch Sô-viết tối cao ân thưởng cùng chung số phận mới đau! Nhưng đau hơn cả là ba chiến sĩ đã từng trải qua hết cuộc chiến tranh, từng phá tan bao nhiêu chiến tuyến địch lại sắp bị đưa ra toà án binh, thứ toà mặt trận mà nếu không có đoàn chiến xa của họ xung phong đi đầu thì chẳng ông toà nào dám héo lánh đến miền quê này để xử.

Chúng tôi tắt đèn dầu hôi cho đỡ ngột ngạt vì cả xà lim chỉ có một khuôn chữ nhật kích thước chừng bằng tấm bưu thiếp đục trên cánh cửa để lấy chút ánh sáng từ hành lang lọt vô. Hình như họ sợ ban ngày chỉ có bốn mạng thì quá thừa chỗ nên lại tống thêm vào một khách hàng thứ năm. Đó là một dân bộ binh quân phục mới toanh, nón cũng mới và chừng hắn quay mặt ra chỗ khuôn cửa lờ mờ, bọn tôi mới thấy rõ một khuôn mặt tươi tỉnh với lỗ mũi hếch và hai gò má đỏ hồng!

- Ở đâu tới đó, người anh em? Bị gì vậy?

- Ở bên kia - hắn thản nhiên trả lời - làm gián điệp!

- Giỡn chơi hả anh bạn? - bọn tôi hơi choáng. Xưa nay có thằng gián điệp nào ngang nhiên nhận mình là gián điệp bao giờ? Đến Sheinin và anh em nhà Tur[14] cũng chẳng nặn ra nổi câu chuyện gián điệp lạ đời kiểu đó!

- Thời buổi chiến tranh bố ai dám giỡn chơi! - gã trẻ tuổi gật gù - Bị tụi Đức vồ làm tù binh thì cách nào mò về đây được? Mấy anh giỏi thì thử chỉ xem.

Gã chưa kịp bắt đầu câu chuyện là hôm trước vừa được quân Đức đưa ngược về chiến tuyến để đi trinh sát, phá cầu; được dịp thoát thân là gã tót ngay về phía quân ta, đến Bộ chỉ huy tiểu đoàn gần nhất để trình diện. Nghe hắn tường trình "công tác gián điệp" cho Đức, ông Tiểu đoàn trưởng đang mệt đừ và buồn ngủ gần chết bèn đuổi gã xuống trạm cứu thương để y tá phát cho ít viên thuốc an thần..., bỗng nghe tiếng la chói lói:

- Ra mau... Đi ỉa đi đái! Hai tay sau gáy! - cánh cửa xà lim mở ra cho thấy gã thượng sĩ nhất đầu bò, loại người bẩm sinh để kéo nòng pháo 122 li mới đúng!

Trên mảnh sân bố trí những họng đại liên dọc theo đường dẫn bọn tôi vòng ra sau kho thóc. Tôi sôi hết cả tiết khi nghe cái giọng hách dịch "hai tay sau gáy" của gã thượng sĩ nhất ngu xuẩn dám ra lệnh cho đám sĩ quan bọn tôi, nhưng thấy ba tay thiết giáp y lệnh nên đành bắt chước theo họ.

Mé sau kho thóc là một khoảnh đất vuông vắn vốn dùng để nhốt súc vật, bên trên tuyết chưa tan hết, chỉ bị giày đạp nhẹp. Và chao ôi... chỗ nào cũng thấy toàn cứt là cứt! Cứt người nhiều đến mức khó lòng kiếm được một chỗ đủ để đặt hai chân ngồi chồm hổm mà không sợ đạp nhầm. Cuối cùng thì cả năm đứa tôi cũng tản ra và cũng thu xếp để ngồi chồm hổm xuống được. Hai gã canh tù ôm khư khư hai khẩu đại liên cũng ngồi xổm mé đối diện, súng lăm lăm chĩa vào bọn tôi. Mới được một chút thì gã thượng sĩ nhất đầu bò đã oang oang:

- Lẹ lên, lẹ lên mấy ông! Với bọn tôi thì đi ỉa cũng phải tốc hành!

Ngồi gần tôi là tay trung úy thiết giáp người Rostov cao lớn dềnh dàng, vẻ mặt rầu rĩ, mặt y sạm đem không hiểu do bụi sắt hay khói ám, nhưng vết sẹo lớn đỏ ửng chạy dọc bên má vẫn nổi bật.

- Bọn tôi là bọn nào vậy? - vừa ngồi xổm hắn vừa khẽ hỏi lại, coi bộ chưa muốn trở về xà lim sặc sụa hơi dầu hôi ngay thì phải.

- Là SMERSH, là cơ quan phản gián chứ là gì, thế cũng hỏi! - gã thượng sĩ nhất cắt ngang, lớn tiếng hơn mức cần thiết, ra vẻ rất tự hào. (Mấy ông phản gián này rất khoái xài từ SMERSH cực kì vô duyên rỗng tuếch, viết tắt từ mấy chữ Thủ tiêu gián điệp. Hình như họ nghĩ vậy nghe mới oai, nghe đến SMERSH là nhiều đứa phải vãi hết cả linh hồn!

- Còn tụi này quen đi chậm rồi, cứ từ từ... - tay trung úy trả lời, vẻ mặt suy tư. Chiếc nón lính tăng đội lật ra sau gáy để lộ cái đầu với mớ tóc nham nhở còn chưa cạo hết. Cái bàn toạ chai cứng vì những năm chiến trận mài ghế xe tăng hơi nhổm lên như để hứng chút gió lạnh cho khoái.

- Tụi này của mấy ông là tụi nào? - thượng sĩ nhất đầu bò hét ầm lên, vặn lại.

- Là chiến sĩ Hồng quân chứ là gì! - vừa nhón gót hắn vừa đáp tỉnh khô, cặp mắt còn giương lên ngó tay thượng sĩ nhất đầu bò, lẽ ra phải là dân kéo pháo thì mới đúng người đúng việc.

Cái không khí ngục tù lần đầu tiên tôi được hít thở là như thế đấy!

Chú thích của ND:

[12] Golgotha - theo truyền tích Công giáo là núi Sọ hay đồi Can-vê (Calvary Hill), nơi dựng cây thánh giá Chúa chịu đóng đinh câu rút; ở đây tác giả ngụ ý nhà tù Lubyanka là nơi đóng đinh câu rút người ta.

[13] Ở đây muốn nói đến thái độ đầy tình người của đại tá lữ đoàn trưởng.

[14] Sheinin - Lev Romanovich Sheinin (1906-1967), luật sư, trưởng phòng điều tra của Viện kiểm sát tối cao Liên Xô từ năm 1935, năm 1936 cũng bị bắt và cho vào trại Kolyma nhưng sau đó ít lâu được thả ra. Năm 1951 lại bị bắt và bị buộc tội tham gia tổ chức tư sản dân tộc Do Thái và bị giam ở Lubyanka cho đến năm 1953. Sau 1953, chỉ hoạt động trong lĩnh vực văn học.
Anh em nhà Tur là bút hiệu chung của Leonid Tubelsky (1905-1961) và Piotr Ryzhei (1908-1978), họ cộng tác với nhau từ năm 1925, chuyên viết kịch bản phim và truyện gián điệp.
Năm 1949, Sheinin cộng tác với anh em nhà Tur viết kịch bản phim "Cuộc gặp gỡ trên sông Elbe".
« Sửa lần cuối: 23/01/2012, 16:29:40 gửi bởi quan mac co »
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi quan mac co

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #11 vào: 31/10/2011, 11:25:15 »
Vậy là đã dịch xong phần Mở đầu và Chương 1 của "Quần đảo GULAG"! Vì sao dịch và dịch để làm gì?

Trước tiên, chắc chắn là vì tôi khoái đọc Solzhenitsyn! Có một lần tôi đọc "Không sống bằng dối trá"; sau khi công bố tác phẩm "Quần đảo GULAG" và tiểu luận này, Aleksandr Solzhenitsyn bị bắt và sau đó bị trục xuất khỏi Nga Sô năm 1974, và tôi ngạc nhiên là chưa thấy bản dịch tiểu luận này, mặc dù nó đã được dịch sang tiếng Anh và đăng trên The Washington Post ngày 18-2-1974.

Tìm trên mạng thì thấy có bản dịch của Linh Vũ (tôi không biết là ai?!) theo bản tiếng Anh. Do không dịch từ nguyên bản nên có nhiều chỗ dịch không đúng với tinh thần bản tiếng Nga đọc nghe không sướng! Rồi tôi tự nghĩ, ý kiến ý cò thì dễ lắm, nhưng cứ thử bắt tay vào việc xem sản phẩm ra lò có mùi mẽ gì hay không? Tranh thủ thời gian rảnh, tôi dịch thử; sau đó đưa vài người bạn biết tiếng Nga đọc chơi thì may thay họ nói "đọc nghe cũng ổn!".

Bộ "Quần đảo ngục tù" do Ngọc Tú và Ngọc Thứ Lang dịch, tôi đọc thấy chưa sướng. Phải nói Ngọc Thứ Lang là bậc cao thủ về cách dùng từ giang hồ đối với những tác phẩm về gangster Hoa Kỳ (như trong Bố già ông nghĩ ra những từ rất "đắt"). Còn với giọng văn đầy chất khôi hài, kiểu "cười ra nước mắt" của Solzhenitsyn trong QĐ GULAG, dịch chưa đạt, chưa kể còn dịch qua bản tiếng Anh mà không từ nguyên bản. Rất khó, như Thomas Whitney là một người am hiểu về lịch sử và văn hóa Nga mới dịch được như thế, bản dịch của ông được đánh giá rất cao (vậy mà đọc bản tiếng Anh tôi chưa "cảm" được cái chất châm biếm của câu văn - chắc chắn là do trình tiếng Anh của tôi còn "đuối hơn quả chuối").

Tuy nhiên, người sau chê việc của người trước là điều rất dở - không nên làm; huống hồ "văn mình vợ người", sau gần 30 năm, cảm nhận về ngôn ngữ Việt cũng đã khác đi, vốn từ ngữ cũng đã được cập nhật hơn; thêm vào đó các dịch giả trước đây phải làm việc với sức ép về thời gian, họ phải chạy đua với thời gian mà lại còn không có sự hỗ trợ hữu hiệu của công cụ máy tính như bây giờ. Vì thế, tôi sẽ không đi vào chi tiết những chỗ dịch chưa chuẩn, có khi còn sai hẳn nội dung so với nguyên bản.

Nhưng cứ làm thử xem nào, "những thằng chưa nếm mùi tù ngục, bao giờ cũng có thể mắng mấy thằng vừa ra tù được" như Solzhenitsyn đã viết. Vào một buổi nhậu lai rai, chém gió tại quán de la Hien (nghĩa là đờ la Hiên - quán vỉa hè) gồm có thoton, hoangnguyen, vuhatue, coinietban và tôi (buidung tuy bận nhưng cũng chở đào nhí đến uống một ly rồi được anh em cho về vì đào nhí nhất định không chịu ở lại). Mọi người ai cũng đều khích lệ tôi dịch lại truyện này, có bạn còn phát biểu: "Anh cứ việc dịch, việc in ấn xuất bản để em lo!". Rất cảm ơn sự khích lệ của mọi người, như vậy là anh em đã đọc những mình đăng thử và thấy là "đọc nghe cũng được" không đến nỗi nào! :d

Tôi không dám hứa trước, nhưng việc dịch thuật cũng công phu lắm, xương lắm chứ chẳng phải chơi! Ngoài ra, tôi đâu phải tay chuyên nghiệp, cũng còn phải lo cơm áo gạo tiền, còn phải lo cho mấy cái tàu há mồm ở nhà nữa, cho nên khi nào rảnh mới "làm cho vui", chắc phải đợi đến lúc về hưu thì mới rảnh nhất, vì cái cuộc đời tẻ nhạt của mình thì đến lúc đó cũng chẳng phải bận tâm chuyện viết hồi ký! :)
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky
 

Ngủ rồi nduonghieu

Re: Quần đảo GULAG
« Trả lời #12 vào: 07/12/2016, 08:51:08 »
Một topic thật hay, cảm ơn bác!
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ
Tùy theo sức của mình