Tác giả Chủ đề: Mấy giải Booker của tác giả gốc Ấn Độ  (Đã xem 1247 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi NL

Giải Man Booker trên sachxua: http://sachxua.net/forum/index.php/topic,221.msg226108/topicseen.html#msg226108


Lộn trái Ấn Độ

Ấn Độ? Thông thường điều đó nghĩa là vô vàn thần linh (theo nhân vật Hổ Trắng là 36 triệu vị thần), là vô vàn bò, vô vàn những người đầu đen kín đặc nhà ga và mặt đường (ấn tượng lớn nhất của nhà văn Ba Lan Ryszard Kapuściński khi lần đầu đặt chân đến Ấn Độ); còn người, với Hổ Trắng, là những “người nâu” (brown man): “tương lai của thế giới nằm cùng với người da vàng và người da nâu” (trích từ “The White Tiger” - “Hổ Trắng”, Atlantic Books, 2008). Những người nâu ấy sống trong một thế giới đen kịt bùn sông Hằng và u tối tội lỗi, giống hệt như nhân vật Balram Halwai, tức “Munna”, tức “Hổ Trắng”.

Năm nay 50.000 bảng Anh của giải Man Booker danh giá hàng đầu thế giới lại về tay một người Ấn Độ, và đó đã là lần thứ ba kể từ năm 1997. Năm ấy, Arundhati Roy trẻ trung xinh đẹp cho thế giới biết rằng văn chương Ấn Độ không chỉ có Tagore bằng tiểu thuyết “The God of Small Things” (tức “Trùm chuyện vặt” theo cách dịch của nhà văn Hồ Anh Thái - đã từng có một bản dịch tiếng Việt mang tên “Chúa trời của những điều vụn vặt”). Roy và Aravind Adiga của “Hổ Trắng” năm 2008 mới chỉ là hai trên bốn nhà văn giành giải Booker ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay, tính trong suốt lịch sử của giải thưởng kể từ năm 1969 tới giờ.

Ở giữa “Trùm chuyện vặt” và “Hổ Trắng”, năm 2006 cũng ghi tên một nhà văn (nữ) nữa của Ấn Độ: Kiran Desai của “The Inheritance of Loss”, mới có bản tiếng Việt trong một sự chuyển ngữ khó có thể hoàn hảo hơn dưới nhan đề “Di sản của mất mát” (Nham Hoa dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn). Cả Roy và Desai đều tinh tế và tài tình trong miêu tả thế giới phức tạp tại Ấn Độ qua con mắt của những đứa trẻ hoặc các thiếu niên bắt đầu khám phá cuộc đời và chớm nhận ra nó không phải giống như những tờ tạp chí “National Geographic” mà cô bé Sai trong “Di sản của mất mát” cứ lật giở xem mãi không ngừng. Ấn Độ của “Trùm chuyện vặt” thì huyền bí mơ màng của sông hồ và tình dục bị kìm nén, Ấn Độ của “Di sản của mất mát” thì bất ổn trong sự bình thản, nhưng cả hai cuốn tiểu thuyết đều là những tuyệt tác về thế giới nội tâm và tài kể chuyện.

Đó cũng là nỗ lực của các nhà văn Ấn Độ trong tái hiện cuộc sống đất nước mình, thoát ra khỏi cái nhìn theo kiểu “phương Đông là sản phẩm của phương Tây” như học giả Edward Said đã trình bày theo một lối vừa đáng ngưỡng mộ vừa đáng căm ghét trong tác phẩm “Đông phương học” lừng danh. Trong “Di sản của mất mát”, các nhân vật ở vùng núi Kanchenjunga bàn luận về sách vở, nói về “Khúc quanh của dòng sông” của V.S. Naipaul, “nhưng Lola, Noni, Sai và Cha Booty đều nhất trí rằng họ không khoái mấy nhà văn Anh viết về Ấn Độ; đọc phát buồn nôn; thế nào mà sốt rét và mê sảng lại gắn với đền đài và rắn rết, với cuộc tình ngang trái, đổ máu và sẩy thai; không phản ánh đúng thực tế” (tr. 322). Vị thế khó ở của người Ấn Độ trong cuộc toàn cầu hóa, trong cuộc va chạm của cách nhìn pha màu sắc phương Tây dõi chiếu về cái thường nhật cũng nâng “Trùm chuyện vặt” và “Di sản của mất mát” lên hàng các tác phẩm phân tích thấu đáo hoàn cảnh hiện đại ở phạm vi toàn thế giới. “Làm sao người Ấn Độ có thể đi lại trên thế giới và sống trong thế giới như người phương Tây?... Người ta kết tội thế giới thứ ba vì là thế giới thứ ba” (tr. 332), một nhân vật trong “Di sản của mất mát” đã tự nhủ như vậy.

Đến “Hổ Trắng” của Aravind Adiga, các vấn đề được đặt ra trực tiếp hơn nhiều, ngắn gọn hơn nhiều, sắc nét và đau đớn hơn nhiều. Được viết dưới dạng những lá thư Hổ Trắng viết trong bảy đêm gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sắp sang thăm Bangalore để nói về “sự thật Bangalore”, cái “phần đen tối” của bước nhảy vọt công nghệ Ấn Độ, trung tâm thế giới về outsourcing (dịch vụ thuê ngoài), được cuốn tiểu thuyết đưa ra ánh sáng của văn chương. Friedman của “Thế giới phẳng” từng dành nhiều trang cho sự kỳ diệu Bangalore, nhưng Hổ Trắng, con trai một người kéo xe thuê nghèo khổ, hiểu rằng sông Hằng chỉ có thể hấp dẫn khách du lịch người Mỹ, còn bản thân nó chỉ là bùn đen. Hổ Trắng thông minh, được một vị thanh tra giáo dục đặt biệt danh như vậy sau đoạn hội thoại nhiều ý nghĩa ẩn dụ: “Ở mỗi khu rừng rậm, đâu là loài thú hiếm hoi nhất mỗi thế hệ chỉ sinh ra được một con?” - “Hổ trắng.” - “Vậy thì mày là hổ trắng đấy, ở trong khu rừng rậm này.” Bố của Hổ Trắng thì dạy con: “Cả đời tao, tao đã bị đối xử như một con lừa. Tất cả những gì tao muốn là một đứa con của tao - ít nhất là một - phải được sống như một con người.” Và con người đó quả thực đã thành công, ít nhất là theo một phương diện nào đó, nhưng là sự thành công thông qua tội lỗi, thậm chí là cả tội sát nhân: “Hổ Trắng” từng được các nhà phê bình so sánh với “Macbeth” của Shakespeare ở khía cạnh chủ đề.

Ấn Độ và vô vàn vấn đề của nó, cứ như vậy, bị các nhà văn của một thế hệ hoàn toàn mới liên tiếp lộn trái trong một tinh thần không chút khoan nhượng.