Tác giả Chủ đề: Martin Heidegger  (Đã xem 3738 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

nguyenhainamvn

  • bạn
Martin Heidegger
« vào: 23/05/2010, 22:59:33 »


Martin Heidegger (26 tháng 9 năm 1889 – 26 tháng 5 năm 1976), ông chịu ảnh hưởng của triết học Brentano, sau khi nghiên cứu, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. Ông từng là học trò và là trợ giảng cho Huxec, sau đó đã kế tục Huxec giảng dạy triết học tại đại học tổng hợp Freiburg. Heidegger là người đã thừa nhận tư tưởng Đức quốc xã, năm 1933 -1934, ông trở thành hiệu trưởng đại học Freiburg nhưng sau đó do bị khủng hoảng tinh thần ông đã từ chức

Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: “Tồn tại và thời gian” đây là tác phẩm đã đưa ông trở nên nổi tiếng được xuất bản năm 1927; “ Kant và vấn đề siêu hình học”; “Nhập môn siêu hình học” (1935); “ Học thuyết Platon về chân lý” (1942); “Bức thư về chủ nghĩa nhân đạo” (1947); “Những con đường rừng” (1950); Những bài thuyết trình và những bài viết (1952); “Tư duy là gì” (1954); “Nietzsche” (1961);….

Bản thể luận của Heidegger: Bản thể luận của Heidegger là học thuyết về tồn tại con người, về cấu trúc của tồn tại con người.
Heidegger cho rằng, triết học Châu Âu trước đó chỉ đặt ra vấn đề hiện hữu nói chung và sự hiện hữu tối cao là Chúa, chứ không đặt ra vấn đề: thông qua cái gì mà tất cả mọi sự hiện hữu mới có thể là hiện hữu? Tức là triết học truyền thống đã không đặt ra vấn đề tồn tại người.
Heidegger cho rằng tồn tại người là xuất phát điểm, là hiện thực đầu tiên có tính thứ nhất. Khác các hiện hữu khác, tồn tại người là một hiện hữu ý thức được sự hiện hữu của chính mình, tức là có khả năng nhận thức, khả năng tự hỏi về vấn đề hiện hữu. Tồn tại không phải là các sự vật và nó cũng khác hiện hữu. Tồn tại người là nền tảng, là nguồn gốc của toàn bộ hiện hữu.
Nếu đối tượng nghiên cứu của bản thể luận truyền thống là vật thể, hay cao hơn nữa là Chúa trời thì đối tượng nghiên cứu của bản thể luận chính là tồn tại. Theo Heidegger tồn tại chính là cái định đoạt sự vật như là sự vật, là cái trên cơ sở đó sự vật đã được hiểu.
Trong các vật thể, con người là một loại đặc biệt. Sự đặc biệt đó, theo Heidegger là do trong sự tồn tại của con người có sự hiện diện sự hiểu biết về tồn tại. Chỉ trong sự tồn tại của con người mới tiềm ẩn một sự hiểu biết về tồn tại. Nó thể hiện trong cách sống của con người, trong cách con người liên hệ với các vật thể khác.
Heidegger phân biệt hiện hữu là khác với tồn tại, hiện hữu là một cái gì đó được hình thành và có được bằng một cách nào đó.
Bản thân hiện hữu có tính hữu hạn và tính đặc thù. Hiện hữu có nền tảng là tồn tại người. Hiện hữu là đối tượng của các khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học…) và các khoa học xã hội nhân văn (sử học, xã hội học, nhân học…), trong khi đó chỉ có tồn tại người mới là đối tượng của triết học.
Xuất phát từ quan niệm như vậy về tồn tại và hiện hữu, Heidegger đã đi đến phê phán triết học Châu Âu sau Socrate. Ông cho rằng triết học sau Socrate đã không phân biệt được sự khác nhau giữa tồn tại người với sự hiện hữu của các sự vật khác. Nó coi tồn tại người cũng giống như tồn tại của các sự vật khác, nó đã đồng nhất tồn tại và hiện hữu với nhau. Và như vậy, quan niệm cũ đó đã đưa đến quan niệm sai lầm về con người, coi con người là một con vật thuần túy sinh học.
Nét đặc trưng cơ bản của tồn tại người là siêu việt, theo Heidegger thì sự siêu việt này đặc trưng bởi sự tồn tại trong thế giới. Mọi mối liên hệ giữa con người với vật thể và đồng loại có được là do sự siêu việt này thế nên con người không phải là “chủ thể” tư duy, đứng ngoài quan sát và nhận biết thế giới bên ngoài mà con người, trong sự tồn tại của mình với tư cách là tồn tại trong thế giới đã luôn ở trong, hóa nhập với thế giới đó.

Heidegger về siêu hình học:
Sự phê phán đối với siêu hình học truyền thống: siêu hình học không chỉ là phương thức tư duy hay quan điểm triết học mà nó còn là phương thức tồn tại của nhân loại, phương thức quan hệ của con người với thế giới, con người với con người, nó không chỉ là quan niệm mà còn là lối sống, phương thức sống.
Phương thức tồn tại của con người đã qui định đặc trưng của cả thời đại lịch sử, trong đó con người hướng đến chinh phục thế giới coi mình là chúa tể của muôn loài. Vì vậy, siêu hình học, theo Heidegger là nguồn gốc của toàn bộ nền văn hóa châu Âu hiện đại cũng như phương thức sống hiện đại. Là cơ sở cho khoa học và kỹ thuật hiện đại.
Song, Heidegger cho rằng đối tượng của siêu hình học truyền thống không phải là tồn tại mà là hiện hữu. Triết học Châu Âu truyền thống đã không phân biệt được điều này. Siêu hình học truyền thống đã đồng nhất tồn tại người với sự vật khác.
Điều đó tất yếu dẫn đến quan niệm sai lầm về con người, coi con người chỉ là con vật thuần túy, như những đồ vật khác. Vì vậy, Heiderger đòi hỏi phải nghiên cứu vấn đề tồn tại và bản thể luận trước khi có thể bản đến khoa học, bởi vì không có con người sẽ không có tồn tại sẽ không có hiện hữu. Và triết học trong suốt 2000 năm qua đã lãng quên tồn tại người.
Heidegger cho rằng, siêu hình học có nguồn gốc từ Platon và Parmenide, những nhà siêu hình học đầu tiên đã đồng nhất tồn tại và tư duy, biến hư vô trở thành khái niệm logic.
Theo Heidegger thời kỳ tiếp theo trong sự phát triển của siêu hình học là triết học tôn giáo thời trung cổ.
Thời cận đại có siêu hình học của Descartes, Spinoza, đặc biệt là Leibnitz, người đã đưa ra nguyên lý quan trọng nhất của siêu hình học: quy luật nền tảng. Theo đó, không cái gì tồn tại lại không có nền tảng.
Tiếp theo là siêu hình học Cổ điển Đức, đặc biệt là của Hegel với nguyên lý về sự phản tư.
Cuối cùng, siêu hình học kết thúc ở Nietzsche, khi ông nói đến cái chết của Thượng đế và đưa ra chủ nghĩa hư vô, tầm thường hóa mọi giá trị. Heidegger cho rằng, sự kết thúc bằng chủ nghĩa hư vô không phải là ngẫu nhiên, nó chính là hậu quả của việc triết học truyền thống châu Âu đã lãng quên tồn tại.
Trên cơ sở phê phán và tìm ra điểm sai lầm của siêu hình học châu Âu truyền thống, Heidegger đặt ra nhiệm vụ trung tâm của nhân loại là khắc phục chủ nghĩa hư vô và siêu hình học. Nhiệm vụ này có ảnh hưởng đến số phận của nhân loại.
Để khắc phục điều đó, phải trở về với các khái niệm khởi đầu chưa thực hiện của nền văn hóa châu Âu từ thời Socrate, trở về trước khi mà tồn tại vẫn chưa bị lãng quên và lặp lại khái niệm ban đầu của nó.
Điều đó là có thể thực hiện được, bởi vì, trong suốt thời đại đã quên tồn tại nhưng nó vẫn sống trong lòng nền văn hóa đó, ngôn ngữ đó. Heidegger cho ràng “ngôn ngữ là nơi trú ngụ của tồn tại”. Chỉ cần phải học bằng cách lắng nghe ngôn ngữ, cho phép nó nói thì có thể nghe thấy được cái mà con người hiện đại không thể nghe thấy.
Heidegger phê phán thái độ hiện tại đối với ngôn ngữ, xem nó như công cụ, đồng nhất nó với tiếng nói, với một phần của thể xác con người, với một cái gì đó mang tính vật chất có thể sờ thấy được, hoặc biến ngôn ngữ từ chỗ là nơi trú ngụ của tồn tại ban đầu ở tất cả các dân tộc thành một đối tượng đơn giản, thành hiện hữu bên cạnh bất cứ hiện hữu nào khác.
Heidegger phê phán việc ngôn ngữ bị kỹ trị hóa trở thành phương tiện truyền thông, trong ý nghĩa ấy, ngôn ngữ với tư cách là là tiếng nói, chuyện kể, thơ ca….đã hoàn toàn bị chết. Như thế, cùng với cái chết của ngôn ngữ đã làm mất đi sự liên hệ cuối cùng giữa con người hiện đại và văn hóa của họ với tồn tại. Đó là mối nguy cơ lớn nhất mà siêu hình học mang đến.
Ông bác bỏ việc tư duy bằng khái niệm. Theo ông, phải tái tạo ngôn ngữ tiền logic, trước khi bị phân tích. Ngôn ngữ đó gần với ngôn ngữ của nhà thơ. Bởi vì, theo ông, ngôn ngữ tiếp tục sống trước hết ở trong các tác phẩm của các nhà thơ vĩ đại, những người có thể lắng nghe tiếng của ngôn ngữ. Do đó, ông nghiên cứu rất nhiều tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng mà ông yêu mến.
Như vậy, theo Heidegger có thể khắc phục siêu hình học và chủ nghĩa hư vô bằng cách liên hệ với tồn tại, lắng nghe ngôn ngữ nói trong các tác phẩm của các nhà thơ vĩ đại.

(Nguồn Wikipedia)
« Sửa lần cuối: 09/11/2011, 16:29:01 gửi bởi Nguyên Thánh »
 

nguyenhainamvn

  • bạn
Re: Martin Heiderger
« Trả lời #1 vào: 28/05/2010, 23:11:03 »




 

nguyenhainamvn

  • bạn
Re: Martin Heiderger
« Trả lời #2 vào: 28/05/2010, 23:12:00 »


 

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Martin Heiderger
« Trả lời #3 vào: 02/11/2010, 10:30:03 »

Siêu hình học là gì? - Nguyên tác: Was ít Metaphysik?

Author:      Martin Heidegger, Trần Công Tiến dịch
Publisher:   NXB Ca Dao
Edition:      1974
 


 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Martin Heiderger
« Trả lời #4 vào: 02/11/2010, 10:33:37 »
Hữu thể và thời gian

Author:      Martin Heidegger, Trần Công Tiến dịch - Lê Tôn Nghiêm giới thiệu
Publisher:   NXB Quê Hương
Edition:      1972
 

 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi YV

  • Khiêm
  • *******
  • Bài viết: 2,715
  • Thanked: 3 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Mỉm cười đi em
Re: Martin Heiderger
« Trả lời #5 vào: 15/12/2010, 08:46:33 »
vài cuốn bằng tiếng Pháp.





 

Ngủ rồi Trần Hoàng Hoàng

Re: Martin Heiderger
« Trả lời #6 vào: 22/08/2011, 22:46:02 »


Trần Xuân Kiêm dịch, NXB Tân An, Sài Gòn, 1974.
 
Kiên quyết nói “không” với sách tái bản, xén và thiếu trang!

Ngủ rồi bansachmuakem

  • *******
  • Bài viết: 5,414
  • Thanked: 4 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hãy làm điều bạn thích, chứ đừng làm điều bạn muốn
Re: Martin Heidegger
« Trả lời #7 vào: 16/06/2013, 22:02:25 »

Trăng Châu Thổ
t/g Martin Heidegger
Bùi Giáng dịch
Võ Tánh xb 1969

 
ĐT 0938.255.982 Ngân hàng Vietcombank TPHCM
Số TK : 0071004283096 Chủ TK : Phạm Lê Quốc Hưng

Ngủ rồi vechaisaigon

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #8 vào: 01/07/2015, 10:09:03 »
Martin Heidegger

Trong một giờ học, triết gia Martin Heidegger (1889-1976) đặt câu hỏi: giả sử một người thời nguyên thủy bước vào lớp học của chúng ta ngày nay, người ấy sẽ “nhìn” và “thấy” những gì? Chắc hẳn người ấy sẽ “nhìn” như chúng ta thôi: bàn ghế, bảng đen, sách vở, giấy bút... Nhưng sẽ “thấy” khác! Bàn và bảng đen có thể là những tấm khiên che rất tốt khi săn thú, ghế là vũ khí, sách vở, giấy bút là những vật lạ lùng chưa biết để làm gì, và nếu có quạt và đèn, chúng có thể là những thần linh đáng để thờ phượng!

Về một phương diện, người ấy “sai”, xét theo cái “thấy” của chúng ta. Nhưng thật ra, người ấy chỉ “thấy” khác, bởi mọi sự vật xuất hiện ra đâu phải là những tri giác rời rạc, vô nghĩa, trái lại, luôn kết thành một mạng lưới ý nghĩa theo “nhãn quan”, trong “thế giới cuộc sống”, của mỗi người. Người nào chưa bao giờ nhìn xe hơi, máy bay, sẽ thấy chúng bằng con mắt khác, có khi rất mới mẻ, độc đáo, khác với những người đã quá quen thuộc, theo lối mòn. Ai không tin, xin cứ đến với các thi sĩ, như Cao Bá Quát “thấy” dòng sông Hương: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” hay Lưu Trọng Lư “thấy” ngược lại: “Mắt em là một dòng sông”!


Triết gia Đức Martin Heidegger (1889-1976)

Từ cách hiểu khác về “chân lý”

Quan niệm thông thường của ta về chân lý là sự trùng hợp giữa đầu óc của ta và thực tại. Theo mô hình này, đầu óc một đàng, thực tại một nẻo, vấn đề là phải làm cho cả hai đối ứng với nhau. Nhưng, theo Heidegger, trong Bản chất của Chân lý (1931-1932), ta vốn sống “trong thế giới”, không hề có sự phân ly, cô lập giữa đầu óc và thực tại, và không bao giờ “nhìn thấy” thế giới hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai cả. Đúng hơn nên nói: con người “khai mở” chân lý từ nhiều viễn tượng, gồm nhiều mức độ thấu hiểu khác nhau, chen lẫn ánh sáng và bóng tối. Sự khai mở ấy là vô tận và thực tại là phong phú đến khôn dò.

Trong thực tế, ta không nhìn thấy một mớ hỗn mang, mà nhìn thấy cây cối, nhà cửa, sông núi, trăng sao, tức luôn “thấy” cái gì đó “như là” cái gì đó. Chính cái cấu trúc “như là” ấy quy định nhãn quan của ta, vừa cho thấy năng lực diễn giải của ta về thế giới (điều kiện thiết yếu để sống còn), vừa cho thấy sự hữu hạn của mọi tầm nhìn. Nhưng dù sao, để diễn giải, phải có một không gian mở. Đất đá vô tri không biết mình là ai. Thú vật không biết đặt câu hỏi “tại sao” vì không vươn lên khỏi được cái trước mắt. Ta sở dĩ nhận thức được sự vật theo một cách nào đó là nhờ ở trong không gian mở cho sự gặp gỡ của đôi bên. Đúng hay sai, phong phú hay nghèo nàn, sâu sắc hay hời hợt tùy thuộc vào sự mở ngỏ này. Vì thế, sự mở ngỏ xứng đáng được gọi là bản chất của chân lý theo nghĩa chặt chẽ nhất. Vì sự mở ngỏ đòi hỏi sự tự do, nên cũng có thể nói bản chất của chân lý là tự do. Tự do có nghĩa là mở lòng ra đón nhận sự khai mở của thực tại. Hay nói cách khác, bản chất của chân lý là hãy để cho thực tại, cho sự vật có thể xuất hiện ra cho ta đúng với thực chất của chúng, mà không quy giản chúng một cách thô bạo thành sự méo mó, dị dạng, dù việc này không dễ dàng tránh khỏi.

Dạy là cho, là hiến tặng, nhưng nếu người học chỉ đơn thuần tiếp nhận, họ không học được gì cả. Ảnh Hồng Thái

Với cách nói có vẻ ngược đời, Heidegger cho rằng bản chất của chân lý thật ra không phải là chuyện của con người, mà của chính bản chất. Bản chất của thực tại tự xuất hiện ra, vừa khai mở, vừa giấu mình, khiến ta phải tập làm quen với sự tương tác giữa ánh sáng và bóng tối, giữa vùng được khai quang và vùng bị che phủ. Tư duy như thế sẽ không chỉ thường xuyên mang lại cho ta những khái niệm, hình ảnh mới mẻ, mà còn thay đổi quan hệ của ta với thực tại. Thực tại, mỗi lần xuất hiện hay “khai mở” cho ta, là một “sự biến” khiến ta bỡ ngỡ, kinh ngạc như mới gặp lần đầu (trong ví dụ về người nguyên thủy bước vào lớp học). Cũng là một sự “tương ứng”, nhưng không tĩnh tại như cách nhìn truyền thống, mà như một sự dọn mình từ cả hai phía để sẵn sàng trao và nhận thực tại như một quà tặng ân cần (như sông Hương chỉ “ban tặng” thanh trường kiếm cho người có đủ khí độ là Cao Bá Quát). Lần đầu tiên, bằng lối chơi chữ tế nhị dựa vào sự gần gũi ngữ âm giữa hai động từ trong ngôn ngữ Âu châu, Heidegger đồng nhất “suy tư” (denken/thinking) với sự “biết ơn” (danken/thanking)!

Một quan niệm như thế không thể không ảnh hưởng sâu đậm đến tư duy giáo dục độc đáo của Heidegger.

“Dạy khó hơn học”

Trong Ngôn ngữ truyền thống và ngôn ngữ kỹ thuật (1960), Heidegger viết câu khá bí hiểm: “Người thầy đích thực chỉ hơn trò ở một chỗ, đó là phải học nhiều hơn trò, đó là học cách để (yên) cho trò học. (Học có nghĩa là đưa những gì ta làm vào sự tương ứng với những gì mang lại cho ta như là bản chất cốt yếu)”. Trước đó, từ 1934, trong Trách vụ mới của đại học, ông nói rõ hơn: “Dạy không phải là đơn thuần truyền đạt kiến thức. Dạy là: để cho việc học xảy ra (...) Dạy là mang người học đến chỗ họ không còn mãi mãi là học trò nữa”. Trong Suy tư là gì? (1951-1952), ông lại giải thích: “Dạy khó hơn học rất nhiều. Ta biết thế nhưng hiếm khi suy nghĩ về điều ấy. Thế tại sao dạy lại khó hơn học? Không phải vì người thầy phải có nhiều thông tin hơn và luôn có sẵn một bụng chữ. Dạy khó hơn học rất nhiều vì điều đòi hỏi nơi việc dạy là: hãy để cho học. Người thầy thật sự không để cho điều gì khác được học ngoài việc học”.

“Để cho người học (biết) học”, theo Heidegger, là giúp người học hồi đáp một cách tự do - chân thành, đích thực - đối với nhứng gì họ thấy cần học. Ông gọi tiến trình này là “sự (đồng thanh) tương ứng” (Ent-sprechung/co-respondence) giữa thầy và trò, giữa người học và đối tượng suy tư. Nó còn tương đương với “để cho sự vật là-chính-nó” (Gelassenheit/”letting-be/releasement”) như là thái độ thích đáng đối với vạn vật quanh ta. Tiến trình này cho phép việc học “xảy ra” như một sự biến đầy kỳ diệu, bất ngờ.

Dọn sẵn lòng mình để việc dạy và học có thể “xảy ra” là điều kiện cần thiết nhất, trước khi có bước thứ hai: biến “chân lý” bên ngoài thành của chính mình. Học là “tiếp nhận”, là “lấy” một cách rất đặc biệt: người lấy chỉ lấy những gì mình vốn có sẵn! Việc dạy, do đó, cũng tương ứng với việc học này. Dạy là cho, là hiến tặng, nhưng nếu người học chỉ đơn thuần tiếp nhận, họ không học được gì cả. Họ chỉ học khi trải nghiệm rằng những gì họ lấy thật ra họ đã có sẵn. Việc học đích thực chỉ diễn ra khi việc lấy những gì vốn có sẵn nơi mình trở thành việc “tự ban tặng” cho mình và thực sự trải nghiệm đúng như thế.

Khi Heidegger đảo ngược quan hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy và cho “việc giảng dạy là căn nguyên hơn”, ý ông muốn nói rằng việc nghiên cứu không có cơ sở sẽ làm cho việc giảng dạy trở thành vô mục đích. Bởi, nghiên cứu và giảng dạy, hay đúng hơn, nghiên cứu trong giảng dạy, cần nhắm đến mục đích chung, nếu không muốn nói là duy nhất: mở rộng lòng người, đón nhận những tặng vật của trần gian và biết tri ân chúng. Đừng để “mặc hồn hương nhạt với chiều”, đừng để “hoa đẹp rơi trên đá”, oan uổng “một đời thơm”.

Bùi Văn Nam Sơn

http://nguoidothi.vn/vn/news/giao-duc-du-hoc/tro-chuyen-triet-hoc/5238/-biet-may-dong-thom-mo-giua-duong-.ndt
 
Giá đã gồm phí ship.Sách cũ VECHAISG-Ms Uyên

Ngủ rồi longchuoiday

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #9 vào: 01/07/2015, 16:22:19 »
Hữu thể và thời gian

Author:      Martin Heidegger, Trần Công Tiến dịch - Lê Tôn Nghiêm giới thiệu
Publisher:   NXB Quê Hương
Edition:      1972
 
{/quote]nghe nói cuốn này là đỉnh nhất của Heidegger
hic
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #10 vào: 04/04/2016, 21:37:04 »


 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi như mộ

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #11 vào: 20/12/2016, 15:23:33 »






 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh

Ngủ rồi như mộ

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #12 vào: 29/12/2016, 22:46:56 »
 

Ngủ rồi như mộ

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #13 vào: 05/01/2017, 20:38:38 »
 

Ngủ rồi như mộ

Re: Martin Heidegger
« Trả lời #14 vào: 22/02/2017, 21:01:48 »