Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách khoa học kỹ thuật....kính mời.
« Bài mới gửi bởi bacvuongdaithanh vào Hôm nay lúc 06:57:11 »
lấy 204
2
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách khoa học kỹ thuật....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 05:25:26 »
201
20K
ĐIỀN KINH

202
60K
NỔ MÌN
XB 1972-400T

203
30K
CƠ SỞ CỦA SỰ SỐNG
TẬP1

204
20K
KỸ THUẬT TÍNH

205
20K
CẨM NANG

206
40K
BƠI LỘI

207
10K
3
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách khoa học kỹ thuật....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 05:19:17 »
196
30K
QUÂN SỰ

197
20K
ĐÁ CẦU

198
20K
PHƯƠNG PHÁP

199
40K
VẬT LÝ ĐẠI CHÚNG-2

200
10K
BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI
4
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách khoa học kỹ thuật....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 05:15:17 »
191
50K
VẬT LIỆU XÂY DỰNG

192
30K
KHOA HỌC BIỂN

193
10K
CẦU THĂNG BẰNG.

194
20K
BÓNG BÀN

195
20K
NHẢY XA
5
Văn học nước ngoài / Re: Bán văn học ngoại........kính mời.
« Bài mới gửi bởi Kim Son vào 25/04/2019, 23:02:37 »
Em 380, 390, 406 nhé bác. Cám ơn bác.
6
Tin văn hóa / Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Bài mới gửi bởi nduytai vào 25/04/2019, 21:56:46 »
Liên danh Hà Triều – Hoa Phượng tan rã do đâu?

Những ai theo dõi, am tường hoạt động sân khấu cải lương cũng đều biết hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng bắt đầu nổi tiếng qua vở hát “Khi Hoa Anh Đào Nở”, được ra mắt khán giả trên sân khấu Thúy Nga vào khoảng 1957.

Út Bạch Lan và Thành Được trong tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”

“Khi Hoa Anh Đào Nở”
          Nhờ xuất hiện ở thời gian này nên Hà Triều – Hoa Phượng được hưởng quyền lợi năm phần trăm tổng số thu, có nghĩa tuồng được hát thì được lãnh phần trăm đều đều hằng đêm. Chẳng hạn như tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” hát liên tục cả tháng trời, mà đêm nào khán giả cũng nghẹt rạp, thì dĩ nhiên soạn giả vừa được lãnh tiền nhiều do con số khán giả quá cao, mà lại kéo dài suốt cả tháng, không khá sao được.
          Nếu như ngược thời gian trở về trước thì người ta sẽ thấy soạn giả cũng chẳng khá gì, dù rằng tuồng hay, khán giả đông đảo. Ngày xưa, ở mỗi gánh hát, đều có một ông “thầy tuồng” được ăn lương tháng. Thầy tuồng có nghĩa là vừa viết tuồng vừa làm đạo diễn, mà phần đông là bạn thân thiết của chủ gánh, và thời ấy chưa có lệ tiền bản quyền.
          Mãi đến khoảng 1925-1926, bầu gánh Tân Thinh là thầy Ba Thông mới bày ra chuyện mua một vở tuồng với giá là 80 đồng (tiền Đông Dương thời này khá lớn). Điều ấy có nghĩa là sau khi bán rồi thì soạn giả chẳng còn gì nữa, tuồng có hát bao nhiêu lâu cũng thế, bầu gánh hưởng trọn do bởi mua đứt rồi.
          Rồi đến khoảng năm 1928-1932, các gánh Thầy Năm Tú, Trần Đắc rất biệt đãi các soạn giả tài giỏi như: Tư Chơi, Năm Châu, Trần Hữu Trang nên trả tiền mỗi vở tuồng là 150 đồng, có làm giấy tờ mua bán đàng hoàng.
          Số tiền đó kể như khá cao, vào thời buổi ấy, bởi có nhiều gánh như Phụng Hảo chỉ trả 120 đồng cho một tuồng như vở hát Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Tư Trang. Và nếu tập luôn cho diễn viên sẽ được trả thêm 30 đồng, tức 150 đồng. Tuy vậy không một vở nào hoàn thành mà soạn giả khỏi thiếu nợ bầu gánh, mặc dù số tiền 150 đồng hồi ấy kể cũng nhiều lắm. Nhưng do viết một vở tuồng trên một tháng rưỡi, rồi nghỉ không có lương để tập dợt trên hai, ba tháng thì lấy tiền đâu mà ăn, không mượn nợ chủ gánh? Bởi vậy tiền nợ cứ chồng chất, dù tuồng hát đi hát lại nhiều lần, thầy tuồng vẫn thiếu hụt là chuyện thường…
          Tình trạng gánh Năm Phỉ lúc đó, chỉ đặc biệt soạn giả Tư Trang là được trả 120 đồng cho mỗi vở hát, như tuồng Mộng Hoa Vương, tuồng Lan và Điệp, do bởi mấy tuồng này ăn khách. Còn các soạn giả khác không được trả đồng đều, khi thì 80 đồng, lúc thì 60 đồng. Giá cả rất phức tạp, có thầy tuồng làm giao kèo viết mướn hằng năm, mỗi tháng một tuồng lãnh 60 đồng. Càng đi sâu vào vấn đề, càng thấy phức tạp vì soạn giả ta rất nhiều hạng, hoàn cảnh sinh sống khác nhau, rất ít soạn giả chuyên nghiệp.
          Có người phải lệ thuộc chủ gánh, bị bóc lột trắng trợn mà không dám nói ra. Có soạn giả ở ngoài, không thấu đáo rõ rệt phương tiện của mỗi sân khấu, nên phải bán giá thật rẻ, để cho chủ gánh toàn quyền sửa chữa tác phẩm của mình!
          Về sau soạn giả Năm Châu đề nghị với bầu gánh Tám Bang cho các soạn giả hưởng huê hồng năm phần trăm số thu cho 50 lần diễn đầu và từ đó trở đi thì ba phần trăm. Vấn đề chỉ được áp dụng chỉ một đoàn hát của Năm Châu cộng tác mà thôi, các đoàn khác không có, bầu gánh muốn trả bao nhiêu tùy ý.
          Mãi đến năm 1956 xã hội sang qua thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, các ngành nghề lao động được thành lập nghiệp đoàn, thuộc hệ thống Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam, và nghiệp đoàn nghệ sĩ sân khấu được thành lập. Sau đó thì phân bộ soạn giả trong nghiệp đoàn có nhiều phiên họp tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, để quy định mức tối thiểu về tiền bản quyền cho cho soạn giả của tất cả các đoàn hát đang hoạt động là năm phần trăm. Nhờ đó mà Hà Triều – Hoa Phượng mới được hưởng quyền lợi từ mỗi đêm hát, và bắt đầu làm ăn khá luôn song song với sự nổi tiếng. Chớ nếu như cặp soạn giả này mà xuất hiện trước vài ba năm thì quyền lợi được hưởng cũng chẳng là bao nhiêu.
          Cặp soạn giả tài danh Hà Triều – Hoa Phượng sau gần một thập niên viết chung, tên hai người luôn luôn đi đôi, do đó mà cũng có nhiều người tưởng đâu rằng hai người là một. Tuy vậy người ta cũng không thắc mắc làm chi, miễn tuồng hay là được, và thời ấy khán thính giả chỉ chú trọng đến các nhân vật trong tuồng mà thôi!
          Nhưng rồi, đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận Chín, và đến lúc nầy thì thiên hạ biết rõ Hà Triều – Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia.


Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Tiểu sử
          Hà Triều tên thật là Đặng Ngươn Chúc, quê quán ở làng Vĩnh Tuy, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Còn Hoa Phượng thì tên thật là Lương Kế Nghiệp, sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang, nơi có dòng kinh xáng Long Xuyên – Rạch Giá chảy ngang qua. Thời chiến tranh Việt-Pháp cả hai ông đều đi kháng chiến từ lúc còn thư sinh. Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Còn Hoa Phượng cũng đi kháng chiến ở đất Long Xuyên, Châu Đốc.
          Năm 1954 chiến tranh Việt-Pháp chấm dứt, hòa bình lập lại trên đất nước, sự đi lại dễ dàng, Hoa Phượng và Hà Triều rời khỏi bưng biền từ miền Tây lưu lạc lên Sài Gòn tìm sự sống. Hai cậu thanh niên hàn vi áo vải trước Sài Gòn huy hoàng tráng lệ, họ đã không chán nản mà cố gắng vượt qua mọi khó khăn trong buổi đầu để hòa nhập vào, và về sau trở thành soạn giả tên tuổi. Họ gặp nhau khi ở trọ nhà của thi sĩ Kiên Giang ở Chợ Quán, chớ trước đó hai người không hề biết nhau.
          Kiên Giang đùm bọc khuyến khích hai người viết tuồng cải lương, và kể từ đó cả hai có tiền bản quyền bỏ túi xài thoải mái hơn trước đó, bởi nếu không mỗi đêm thì cũng vài ba đêm tuồng được hát là có tiền. Thi sĩ Kiên Giang từng nói rằng Hà Triều – Hoa Phượng như hai dòng chảy hợp lưu thành con sông lớn.
          Nếu như sự đời trôi chảy bình thường thì liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chắc còn tiếp tục cho ra đời thêm nhiều tuồng cải lương giá trị, mới lạ nữa. Nhưng đến khoảng 1964-1965 thì đã xảy ra sự bất đồng giữa hai người, để rồi kết cuộc đưa đến tan rã một liên danh soạn giả một thời làm mưa làm gió ở địa hạt cải lương.
          Thế nhưng, thiên hạ cũng không ai biết được cái nguyên nhân mà hai người không còn hợp soạn, do bởi hai ông chẳng hề chính thức tuyên bố lý do. Báo chí có hỏi thì hai anh chỉ cười nói rằng tại vì muốn như vậy thôi!
          Nếu như ngược thời gian trở về những năm giữa thập niên 1950 thì Hà Triều – Hoa Phượng còn nghèo, cả hai chưa thấy đam mê thứ gì cả. Nhưng từ lúc nổi tiếng, cộng thêm có nhiều tiền thì mỗi người lại có một tật riêng. Trong khi Hoa Phượng có nhiều vợ thì Hà Triều lại sống độc thân, anh ta không thích đàn bà con gái, mà lại thích ngựa đua, và thích nhậu nhẹt.
          Tuy rằng là dân Rạch Giá, Nam Kỳ rặt, nhưng Hà Triều lại rất thích “hạ cờ tây”. Quán cầy tơ ở đầu đường Bùi Chu gần ngã ba Bùi Chu – Hồng Thập Tự là nơi Hà Triều chiếu cố nhiều nhứt, ông thường rủ nghệ sĩ Kim Nguyên đến đây nhậu (nghệ sĩ Kim Nguyên hiện ở San Jose).
          Có lẽ do đó mà mà thiên hạ đồn đãi rằng do nhậu cầy tơ nên Hoa Phượng chia tay với Hà Triều chăng. Rồi người ta cũng nói thêm Hoa Phượng có thờ vị Thánh nào đó, mà đối với thánh thần thì rất kỵ nên Hoa Phượng không còn hợp tác soạn tuồng với Hà Triều. Đó là thiên hạ chỉ suy đoán rồi nói với nhau thôi, chớ chưa một ai dám bảo đảm rằng mình biết chính xác. Rồi cũng có người nói hay là do chia chác tiền bản quyền nhiều ít gì đó, hoặc là do một nguyên nhân sâu xa nào mà cả hai chẳng nói ra.
          Khoảng 1972 thời kỳ cải lương khủng hoảng trầm trọng, đa số đoàn hát đã rã gánh, thì người ta lại thấy Hà Triều – Hoa Phượng hợp tác làm ăn bằng cách điều động trông nom kỹ thuật cho một đoàn hát nhỏ ở ngoài Trung. Khán giả trông chờ cặp soạn giả nầy cho ra đời tuồng mới, nhưng chờ mãi vẫn không thấy tuồng mới nào của hai ông được ra mắt. Do bởi hai người chỉ hợp tác làm ăn chớ không hợp soạn như ngày nào. Nói rõ hơn là chỉ làm ăn với một hình thức khác, chớ không phải hợp soạn tuồng.
          Sau 1975 Hoa Phượng cộng tác với đoàn cải lương Tây Ninh, với chức vụ gì không rõ. Còn Hà Triều năm 1976 là cán bộ của Sở Văn Hóa Thông Tin, tham gia trại sáng tác Vũng Tàu.
          Những năm sau cùng của cuộc đời, Hà Triều sống đơn độc ở căn phòng tại chung cư Hưng Đạo. Hà Triều vĩnh viễn ra đi năm 2003, và Hoa Phượng thì qua đời 9 năm trước đó (1994).
          Tóm lại việc tan rã liên danh Hà Triều – Hoa Phượng, trong suốt nhiều năm sau người ta cũng không rõ được là do đâu. Hiện nay cả hai đã về với Tổ nghiệp, và mang theo luôn cái nguyên do chia tay của hai anh. Người đời, nhứt là giới mộ điệu cải lương có muốn rõ biết cũng đành chịu thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-121615-nm-12262015072441.html

7
Chủ đề khác / Re: Khủng Long bán sách tổng hợp
« Bài mới gửi bởi Khung long vào 25/04/2019, 21:52:28 »
790. Nghệ An ký (in lần 1 - 1993, đẹp tuyệt đối) : 350.000 đ
776. Nghệ An ký : 150.000 đ.
Xin lấy. Tks anh

xin lấy
136: Tứ Thư: 120.000 đ
702. Quyền trí Trung Hoa : 220.000 đ
752: Binh thánh tôn vũ: 60.000 đ
773: Tinh hoa trung quốc: 100.000 đ




Mua 813

Ok. Thanks
8
Cần mua / Re: Mua sách Liên Xô 1986
« Bài mới gửi bởi Muadengam2 vào 25/04/2019, 21:27:05 »
A show hàng đi rồi đưa ra giá. Ở đây toàn dân thích đọc sách thì mới tham gua. Nói nhiều làm gì. Đã là đàn anh thì đừng chấp các e
9


Nhân đọc bài “Lăng vua Quang Trung”: Từ Lăng Sọ đến Lăng Bà Vành

NHỮNG KẺ tin theo phong thủy, cho rằng mồ mả của người chết có lên quan mật thiết đến người sống. Cho nên người ta rất quan tâm đến việc chọn lựa đất đai trong những cuộc an táng. Chôn vào đất tốt, con cháu sẽ làm nên, có khi phát vương, phát tướng cũng chưa biết chừng. Trái lại, gặp chỗ xấu. Con cháu sẽ tàn mạt đau ốm, cực khổ v.v…
         Cũng do đó, mà muốn hại đối phương, ta hay có lối tìm cách xâm phạm đến mồ mả, phá hoại hoặc cắt đứt long mạch khiến con cháu không sao trồi đầu lên được nữa. Trong lịch sử, việc đào mả đổ xuống sông là một việc rất thường thấy. Tây Sơn đào mả nhà Nguyễn, đến khi lên làm vua Nguyễn Ánh lại đào mả của Tây Sơn.
         Thân phụ của Nguyễn Ánh tên là Nguyễn Phúc Luân, mất năm 1765, nghĩa là trước khi Tây Sơn dấy nghiệp. Lăng của Hưng tổ là Cơ Thánh. Cơ nghĩa là nền, thánh là một tiếng tôn xưng. Lăng nầy nằm trên con đường đi lên lăng Minh Mạng, mặt trước ngó ra sông, mặt sau dựa vào núi. Đứng về phương diện lịch sử thì du khách cùng nên xem cho biết, chứ về lối kiến trúc thì chẳng có gì đặc sắc. Tiếp giáp với đường đi là một cái sân gạch không lấy gì làm rộng cho lắm. Bước lên mấy tầng cấp đến một cái sân thứ hai, tường xây ba mặt, ngay giữa trổ một cái cửa, sau cửa nầy là nấm mộ.
         Theo Đại Nam nhất thống chí thì năm 1790, quân Tây Sơn khai quật hài cốt đổ xuống sông chảy ngay trước mặt. Một người dân làng Cư Chánh tên Nguyễn Ngọc Huyên và con mới lén lút lặn lấy hài cốt lên chôn cất tử tế.
         Sau khi vua Gia Long lên ngôi, hay được chuyện ấy, chọn ngày lành chôn lại chỗ huyện cũ.
         Theo lời thuật lại của dân chúng trong vùng thì sau khi Tây Sơn khai quật hài cốt của Nguyễn Phúc Luân ném xuống sông, một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, kéo lên được một cái sọ. Ông ta hoảng sợ ném sọ đi, nhưng lần thứ hai tại thấy cái sọ ấy nằm trong lưới.
         Nguyễn Ngọc Huyên mới khấn vái: Nếu quả là sọ của một vị nào anh linh, xin cho chúng tôi biết. Thì qua lần thứ ba cũng lại thấy cái sọ ấy nằm ở trong lưới! Kiếm nơi mai táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người trong làng thuật lại câu chuyện đó, Ngài mới cho đòi Nguyễn Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua mới thử bằng cách chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ. Sọ liền hút những giọt huyết ấy như đất khô hút nước. Người ta cho rằng lối thử ấy cho biết về mối liên hệ giữa hai người có tình cốt nhục. Vua Gia Long mới chôn lại huyệt cũ và xây lăng Cơ Thánh ngày nay.
         Về việc vua Quang Trung xâm phạm lăng tẩm nhà Nguyễn, Dạ sử chép đại ý:
         “Sau khi thua Nguyễn Ánh nhiều trận, Huệ cho rằng nhà Nguyễn, nhờ có mồ mả phát vương, mới sai người đào hài cốt các bậc tiên vương nhà Nguyễn đổ xuống hố sâu và sai Nguyễn Văn Ngữ đào lăng của Hưng tổ ném xuống sông. Lúc ấy nhà của Ngữ ở Kim Long bỗng phát hỏa. Ngữ vội vã trở về. Nguyễn Ngọc Huyên mới nhân cơ hội ấy, cùng con lặn xuống sông vớt lên chôn cất tử tế, cho đến khi vua Gia Long phục quốc v.v…
         Liệt truyện tiền biên cũng chép rằng Nguyễn Huệ không phải chỉ xâm phạm mồ mả của thân phụ Nguyễn Ánh mà còn hủy diệt các tôn lăng đời trước nữa. (Huệ tàn ngược vô đạo, sơ cứ đô thành giã, liệt thánh chư tôn lăng giai phạm chi. – Huệ tàn ngược vô đạo, lúc mới đến đóng ở đô thành, tất cả các tôn lăng đều xâm phạm).
         Để đề cao triều Nguyễn, Chính biên liệt truyện cho rằng cái chết của vua Quang Trung, một phần cũng do việc xâm phạm tôn lăng mà ra:
         “… Một buổi chiều, Huệ đang ngồi, bỗng mắt mờ đầu choáng, và thấy một ông lão tóc bạc từ trên không hiện xuống, mình mặc áo trắng, tay cầm đùi sắt, mắng Huệ rằng: Tổ phụ nhà ngươi lúc sinh thời ở đất của Vua, đời này sang đời khác làm dân của Vua, sao ngươi lại dám phạm đến Tôn lăng? Đoạn lấy đùi đập vào trán, Huệ bổ xuống mê, giây lâu mới tỉnh và đem chuyện nói lại cho Trần Văn Kỷ biết, từ đó bệnh trở nên nguy kịch” (Liệt truyện chính biên sơ tập quyển 30, trang 42).
         Sách Liệt truyện chép tiếp:
         “Lúc Huệ bệnh nặng có dặn lại: Sau khi ta chết, nội trong một tháng, chôn cất qua loa sao cho xong thì thôi, bọn ngươi (Nguyễn Quang Diệu) nên cùng nhau giúp đỡ Thái tử để sớm lo liệu việc dời đô”.
         Vua Quang Trung mất vào ngày 29 tháng 9, và theo lời căn dặn ở trên, tháng 10 đã an táng xong.
         Trong Liệt truyện không minh xác chỗ chôn, chỉ nói một cách mơ hồ: Táng ư Hương giang chi nam (chôn ở hướng phía nam sông Hương), vua Quang Trung sau khi thăng hà, Thị trung Học sĩ Ngô Thời Nhiệm, Hộ bộ Tả đồng nghị Nguyễn Viết Trực sang sứ Trung Hoa cáo tang, nói dối rằng: Lúc vua Quang Trung mất căn dặn lại phải đem chôn ở Hồ Tây Bắc thành ngõ hầu gần gũi Thiên triều. Vua Thanh tin thật mới đặt thụy là Trung Thuần, làm thơ để điếu lại tặng tiền và phẩm vật.



         Vua Gia Long khi lên ngôi, có khai quật lăng vua Tây Sơn không? Lẽ tất nhiên là có vì Liệt truyện đã chép rõ: thị đông xa giá hoàng thành cáo miếu hiến phù, tận pháp trừng trị, quật phá Nhạc Huệ mộ, đảo khí hài cốt, u kỳ đầu vu ngục thất, cải Tây Sơn ấp viết An Tây ấp… (Mùa đông năm ấy (Nhâm tuất: 1802), xa giá về đến Kinh thành, cáo miếu, làm lễ hiến phù(1) đem tất cả pháp luật ra để trừng trị, đào phá mộ Nhạc và Huệ, nghiền nát vứt bỏ hài cốt, đầu giam vào ngục thất, đổi ấp Tây Sơn ra làm An Tây ấp).
         Theo truyền thuyết thì tại Khám đường có ba cái vò đựng sọ của các vua Tây Sơn. Hai vò đựng sọ Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ, còn vò thứ ba, người ta không rõ là của Nguyễn Văn Lữ hay Nguyễn Quang Toản. Ba cái vò đặt tại ba gian trong khám, dùng dây xiềng để cột lại, ngoài cửa niêm phong hẳn hoi. Cứ mỗi tháng lại một lần, có hội đồng đi kiểm soát. Lính gác khám đường cho rằng những cái vò ấy linh thiêng lắm nên thường hay cúng vái. Họ gọi là Ông Vò hay Ông Chúa Ngụy (Theo tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huế bài Note sur les cendres es Tây Sơn dans la prison du Khám đường của Nguyễn Đình Hòe trang 145 số 2 năm 1914).
         Nay chúng tôi hãy xét đến ngôi mộ mà Ông Nguyễn Thiệu Lâu gọi là Lăng vua Quang Trung thử có đúng không:
         Ông Lâu viết: Gần Huế, ở các xã An Ninh, Nguyệt Biểu, Kim Long, có biết bao nhiêu mộ to. Có mộ mà bia bị chìm xuống đất.
         Nhưng chỉ thuộc về hai kiểu, một kiểu thuộc về đời Nhà Tây Sơn, một kiểu thuộc về đời Nhà Nguyễn.
         …
         Đây là một mộ to, có ba thành bằng đá ong bao bọc. Chung quanh thành ngoài, như các anh đã đứng trên mặt thành mà nhìn, thời là các ngọn núi, chạy vòng quanh với nhau, ôm lấy ba cái thành, nghĩa là cái mộ ở giữa một vùng hình lòng chảo vì chất đá mềm đã bị suối đào (cuvette d’érosion).
         Nói tóm lại, lối kiến trúc hùng vĩ trong một khung cảnh đặc biệt của thiên nhiên, cái bia chữ thật to, bị rập và cái mộ bị đào, ba chi tiết này khiến tôi nghĩ rằng đây là mộ một vị cấp cao chứ không phải là một ông quan thường, dù là nhất phẩm, Văn hay Võ.
         …
         Một lúc lâu tôi mới trả nhời: “Đây là lăng Hoàng đế Quang Trung”.

         Và trong một đoạn nào Ông Nguyễn Thiệu Lâu viết: “Tôi tin chắc đây là lăng Hoàng đế Quang Trung”.
         Trước khi viết nài nầy, tôi đã đi những vùng Thành Lồi, Ngự Bình, Nam Giao là những chỗ nhiều mồ mả. Còn tất cả các lăng của các vua chúa, dầu lớn dầu nhỏ tôi đã xem qua cả rồi. Theo tôi thì ở Huế không có lăng Tây Sơn thành thử không có những khác biệt giữa kiểu lăng Tây Sơn và kiểu lăng nhà Nguyễn.
         Lăng tẩm nhà Nguyễn phần nhiều những bức thành xây bên ngoài, hình chữ nhật, cái nấm ở bên trong cũng vậy. Nhưng trái lại lăng Tự Đức cái thành bên ngoài lại hình tròn. (Theo tôi biết, dưới triều Nguyễn, dân chúng không được đắp ngôi mộ hình chữ nhật vì thế nên ta thấy lăng vua và các ông hoàng bà chúa mới đắp hình chữ nhật mà thôi.) Cũng cùng con vua Minh Mạng chẳng hạn mà có ông hoàng thì xây mộ trên mặt đất, nhưng có ông lại xây sụp xuống lòng đất, thành thử ta không thể bằng theo lối kiến trúc để phân biệt là lăng triều Tây Sơn hay triều Nguyễn được.
         Sở dĩ tôi nói không có lăng triều Tây Sơn ở Huế là vì tôi nghĩ rằng một khi muốn phá lăng tẩm, người ta không phải chỉ moi huyệt lấy hài cốt mà còn phá sạch thành quách, khiến chỗ đó trở nên bình địa. Còn cái bia thế nào cũng đánh vỡ ra từng mảnh vụn chứ đâu có phải đập cho mờ chữ đi mà thôi!
         Cái lăng mà ông Nguyễn Thiệu Lâu nói đó thường gọi là lăng Ba Thành hay Ba Vành, và vẫn có cái dư luận là vua Quang Trung đã chôn ở đấy. Nhưng sự thật thì không phải.
         Trước khi đưa bằng cớ ra, chúng tôi xin thêm đôi chút về lăng Ba Vành.
         Lăng nầy hình móng ngựa, vành ngoài vào lối 42 thước đường kính. Thành xây bằng đá lớn, chỉ có mặt trong trơn láng còn mặt ngoài thì đá không đẽo gọt. Vôi hồ không được gắn chặt. Thành bề dày 1 thước 40, cao 1 thước 60.
         Để ra vào có một cái cửa rộng 5 thước, hai bên có một trụ đá bị phá và mất một nửa. Trước kia hình như có cửa gỗ để đóng lại nay chỉ còn thấy dấu vết mà thôi.
         Bên ngoài cửa, ngày xưa phía trước có lẽ có một cái bể cạn hình bán nguyệt vì ta còn thấy được hình dáng lờ mờ của nó.
         Nấm mộ xây bằng đá nhỏ và vôi. Huyệt đã bị đào và lấp lại. Giữa khoảng bức thành và ngôi mộ lại có mộ của một người nào đem vào chôn ở đó.
         Bia dựng trên một cái bệ, cao 1 thước 25, rộng 0 thước 70 và dày 0 thước 25. Mặt trước và mặt sau có những hàng chữ bị những lát búa đập vào cho mờ đi không thể đọc được.
         Giữa bức thành và ngôi mộ lại có một cái bàn thờ xây bằng gạch phía trước có một cái bia nhỏ đề bốn chữ: Sơn Nhạc Chung Linh (Khí linh thiêng của sông núi chung đúc lại). Đây là loại bàn thờ thổ thần, như ta thường thấy cạnh những ngôi mộ lớn.
         Trong bài báo, ông Nguyễn Thiệu Lâu có nhắc đến cha Cadière. Cha là một người rất am hiểu về Việt Nam, nhất là về Huế. Lúc từ trần, sách vở cũng như di cảo, cha Cadière đều biếu dòng Thiên An.
         Dòng nầy có một cái thư viện chứa đựng khá nhiều sách cổ, lại được cái may mắn thoát khỏi nạn đao binh. Nhưng tiếc một điều là dòng Thiên An ở xa thành phố nằm trên ngọn đồi cao nên việc lui tới khó khăn, nhưng một khi đã đến nơi, các cha trong dòng tiếp đón rất niềm nở. Riêng về phần tôi, đã từng được giữ lại ăn cơm trưa.
         Đọc xong bài “Lăng vua Quang Trung” của ông Nguyễn Thiệu Lâu tôi nghĩ bụng thế nào trong tủ sách của cha Cadière cũng có đề cập đến. Tôi đã bỏ cả một chủ nhật để lên dòng Thiên An. Và sau khi lục tìm từ 8 giờ đến 12 giờ trưa, tôi kiếm ra một tài liệu chứng minh rằng lăng Ba Vành không phải lăng vua Quang Trung.
         Một cái thư của cha Cadière gởi cho ông R. Orband, lúc bấy giờ giữ chức Hội lý hộ (Administrateur Délégué au Ministère des Finances) và cũng là trợ bút của Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huế.

         Nhờ bộ Lễ (hoặc một bộ nào khác) hỏi giúp làng Cư Chánh:
         Ai đã chôn trong Lăng gọi là lăng Ba Thành?
         Tại sao người chôn trong lăng ấy lại bị đào và đốt đi?
         Ngôi mộ chôn lại sau cũng trong lăng đó là của người nào?
         Và vì sao bia lại bị búa đập?


         Ông R. Orband trả lại bức thư của Cha Cadière, và thêm vào mấy chữ:

         Thưa cha,
         Sau đây là những điều mà tôi đã hỏi được.
         Điều mà ông Orband đã hỏi được đó là một tờ phúc thư của bộ Lễ, nói rằng: Tiếp Hộ chánh tòa Hội biện quan Đại nhơn hỏi sự tích mộ Ba Vành và con cháu hiện nay ở tại xã nào, Bộ tôi đã tư Thừa Thiên Phủ chuyển hỏi làng Cư Chánh. Nay cứ xã ấy khai rằng, ngôi mộ chôn ai, và con cháu thuộc xã thôn nào thì chưa được rõ, chỉ biết rằng mộ ấy là mộ xưa, nguyên đắp ba lớp thành tục xưng Ba Vành, bỏ phế đã lâu, chỉ lưu lại một tòa bia đá tự tích bị phá hủy.
         Năm Thành Thái thứ 13 (1901) lý trưởng lúc bấy giờ là Nguyễn Bút (nay đã chết) cho Cơ Mật viện Thừa biện Vũ Bá Khương (nay Chủ sự Phụ chính phủ) đem thân nhân chôn vào trong lăng ấy. Bộ tôi hỏi viên chủ sự Vũ Bá Khương thì viên ấy khai rằng ngôi mộ Ba Vành là của Chánh Dinh Hộ Bộ kiêm Binh Bộ tặng Bá lý Công thần, đặc tấn Trụ quốc Kim tử Vinh lộc Đại phu chánh trị Thượng khanh Ý Đức Hầu Lê Quí Công chi mộ. Có một người làng Đồng Di là Đinh Như Nghi khai rằng năm Thành Thái thứ bảy (1895) con cháu của ngôi mộ là Lê Xuân (nay đã chết) cải táng hài cốt trong mộ đem qua chôn ở núi Ngự Bình v.v…
         Đinh Như Nghi có sao đính gia phả họ Lê, về viên quan đã chôn trong mộ:
         Đời thứ nhất:
         Chánh Dinh Ký lục tặng Đại lý tự khanh, gia tặng Thị giảng Quốc sư Đoan Túc Duệ Bảo Trung Hưng Tuần Đức hầu Lê Quí Công, mộ tại làng Lương Văn.
         Đời thứ hai:
         Con của Quốc sư: Chánh dinh Tham nghị tặng Đôn hậu Công thần đặt tấn Trụ quốc Kim tử Vinh lộc Đại phu Đại lý tự khanh Hiến Đức hầu Lê Quí Công, mộ chôn tại Cự Sĩ.
         Đời thứ ba:
         Con của Tham nghị Chánh Dinh Hộ Bộ kiêm Binh Bộ tặng Bá lý Công thần, đặc tấn Trụ quốc Kim tử Vinh lộc Đại phu Chánh trị Thượng khanh Ý Đức hầu Lê Quí Công mộ gọi là Ba Vành ở tại làng Cư Chánh.
         Đinh Như Nghi có khai thêm rằng: Lúc Lê Xuân cải táng hài cốt ở mộ Ba Vành đem sang chôn ở núi Ngự Bình bị dân làng Cư Chánh nghiêm trách dữ đội, nên Lê Xuân hoảng sợ bỏ làng vào ở tại Đà Nẵng làm nghề thợ thiếc, nay đã từ trần.



         Theo những tài liệu trên nầy, ta có thể tạm tin rằng Lăng ba Vành không phải là lăng vua Quang Trung.

BỬU KẾ

____________________________________________
(1) Hiến phù: dâng lên các đấng tiên vương những tù binh đã bắt được.


BÁCH KHOA |  SỐ 102

10
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách khoa học kỹ thuật....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào 25/04/2019, 15:42:33 »
186
40K
BẠN HAY THÙ

187
30K
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

188
40K
MÔI TRƯỜNG ĐẤT

189
20K

190
40K
KỸ THUẬT SƠN MÀI
Trang: [1] 2 3 ... 10