Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Tin văn hóa / Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Bài mới gửi bởi nduytai vào Hôm nay lúc 18:54:44 »
Nhà thơ Hồ Ðình Phương và sự nghiệp âm nhạc Hoàng Trọng

Lịch sử tân nhạc Việt Nam ghi nhận: Thời tiền chiến, có một hiện tượng đặc biệt. Ðó là sự thành công rực rỡ của nhạc Ðoàn Chuẩn với ca từ của Từ Linh. Nếu trong toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn, người ta đếm được 11 ca khúc do Từ Linh đặt lời thì, trong khoảng trên dưới 200 ca khúc mà, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng để lại cho đời, người ta đếm được ít nhất cũng trên dưới 50 ca khúc do nhà thơ Hồ Ðình Phương đặt lời, hay từ thơ của ông.(1)

Ban nhạc Tiếng Tơ Ðồng

TƯỞNG CŨNG NÊN nói ngay rằng, nhạc sĩ Hoàng Trọng không chỉ hợp tác với một mình nhà thơ Hồ Ðình Phương trong phần ca từ mà, họ Hoàng cũng nhận được sự hợp tác của rất nhiều nhạc sĩ, nhà thơ, nghệ sĩ vốn có tình thân với ông. Trong số này, có nhiều tên tuổi quen thuộc, như Hoàng Dương, Quách Ðàm, Vĩnh Phúc, Thanh Nam, Quốc Bảo, Y Vân, Lan Ðình, Dạ Chung, Nguyễn Túc, v.v…

Nhà thơ Hồ Ðình Phương (mt9011.multiply.com)

            Tuy nhiên, cách gì thì số lượng những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng, có sự hợp tác của những tác giả kể trên, vẫn là những con số rất khiêm tốn, nếu so sánh với phần đóng góp của họ Hồ. Ðó là chưa kể gần như tất cả những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ca từ của nhà thơ Hồ Ðình Phương đều là những ca khúc nổi tiếng như: “Mộng ban đầu”:

                       “Quê em miền thùy dương
                        Lúa ngọt ngào hoa mới
                        Gió mang mùa Xuân tới
                        Hôn liếp dừa lên hương
                        Hương thơm tràn muôn lối
                        (…)

                        Hôm qua buồn nhìn đâu
                        Thoáng mẹ già nom thấy
                        Hỏi: con chờ ai đấy?
                        Em níu lấy cành dâu
                        Che giấu mộng ban đầu
                        (…)

                        Nhớ về thăm em nhé!
                        Ðứng khinh mái lều tranh
                        Rau muối ấm tâm tình
                        Cơm ngô thắm no lòng
                        Anh nhớ về anh nhé!

                        Trông em mừng vườn cau
                        Trái mập tròn Xuân mới
                        Bỗng mẹ cười mẹ nói:
                        Con bé lớn thật mau,
                        Mai mốt mẹ ăn trầu…”

                        (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc:
                       “Bạn lòng thân mến
                        Ðây tôi hiến bài ca
                        Mong ai hát vui hòa
                        Bạn là xuân thắm
                        Cho tôi đón nhiều hoa
                        Gieo hương mái tranh nhà
                        Rồi ta chung ngắm
                        Ðôi chim lướt trời xa
                        Say sưa muôn tiếng ca…”

                        (Trích “Bạn Lòng”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc nữa:
                       “Ánh Xuân về tràn dâng nắng mới
                        Tơ trời mừng say gió tới
                        Ngàn đóa hoa bừng chào đời
                        Từng bầy én trông đẹp mùa màng
                        Vờn cánh vui đùa nhịp nhàng
                        Hòa tiếng chung tình nồng nàn
                        Có riêng một mình ta với bóng
                        Không hẹn gần ai ấm cúng
                        Mà chẳng nghe lòng lạnh lùng
                        Vì người ấy luôn chờ một lời
                        Là hiến ta trọn cuộc đời
                        Thề ước đem tình sánh vai…”

                        (Trích “Mộng Lành”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)


Nhạc sĩ Hoàng Trọng (TranThiNguyetMai.com)

            Tôi không biết tình thân giữa nhạc sĩ Hoàng Trọng và họ Hồ ở mức độ nào. Tôi cũng không biết hai ông có bàn thảo trao đổi ý kiến chặt chẽ, kỹ lưỡng với nhau, trước khi hợp soạn một ca khúc hay không? Nhưng hiển nhiên, sự hòa quyện của tất cả những sáng tác mà họ là đồng tác giả, thật tuyệt vời.
            Trách nhiệm phần ca từ, nhà thơ Hồ Ðình Phương không chỉ cho thấy, ông rất đồng điệu, rất tâm lý với những giai điệu mang tính thơ mộng, lãng mạn viết về tuổi trẻ của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà, ngay với những ca khúc nặng tình quê hương, đất nước, ông cũng cho thấy khả năng, tài hoa rất mực của mình, ứng hợp với dòng nhạc Hoàng Trọng:

                       “Thuyền trôi chờ ai nhấp nhô trên sông dài
                        Phải thuyền năm ấy hòa với lòng tôi
                        Cùng mơ hàn nối đôi phương cách xa vời
                        Ðể người sum vầy khỏi buồn đầy vơi?
                        Mẹ quê lần bước đưa tôi ra tận thuyền
                        Nhủ rằng: Luôn nhớ tình nước con ơi
                        Trời đang mờ tối, quê hương đang tơi bời
                        Chờ con về xóa ngàn mối u hoài
                        Mẹ già yêu mến, giờ này con đang thề
                        Ðấu tranh cùng muôn người:
                        Ðợi một ngày mai tràn đầy
                        Xuân mới về cố hương hòa vui…”

                        (Trích “Mộng ngày hồi hương”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Nhưng ca khúc viết về niềm tự hào dân tộc, thành công nhất, giá trị nhất, theo tôi là ca khúc “Bên bờ đại dương”, nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương:
            “…Hôm nao, ai đã mơ mộng/ Chia mối tơ đồng của một khối non sông vinh quang/ Ai ơi, ai nhớ chăng rằng/ Gươm súng đâu diệt được nòi giống muôn năm hiên ngang// Anh với tôi còn sống bên bờ đại dương/ Tôi với em còn thắm trong lòng niềm thương/ Ðất nước tôi còn gió độc lập Trường Sơn/ Còn lúa tràn đồng phương Nam/ Còn xóa được hờn quê hương.” (Theo dactrung.com)
            Nói cách khác, tới nay, lịch sử tân nhạc Việt Nam chỉ ghi nhận được hai cuộc hôn phối mang tính đường trường. Ðó là cuộc hôn phối giữa Ðoàn Chuẩn-Từ Linh, thời tiền chiến. Và, Hoàng Trọng-Hồ Ðình Phương, hôm nay vậy.


DU TỬ LÊ
Tháng 04/2013

________________________________________________________
(1) Theo tác giả Lê Mộng Hòa trong tác phẩm “Thi Nhân Huế”, xuất bản năm 1960 thì, nhà thơ Hồ Ðình Phương Sinh ngày 1 Tháng Ba năm 1927 tại Huế. Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, năm 1958, nhà thơ Hồ Ðình Phương từng cộng tác với một số báo và tạp chí tại Saigon, như Thẩm Mỹ, Phụ Nữ, Văn Nghệ Tiền Phong… Những tác phẩm đã xuất bản của ông, gồm có: “Hai Cuộc Sống” (Thơ, xuất bản năm 1951). “Tình Thế Hệ” (Thơ, xuất bản năm 1952). “Sưởi Nắng” (Thơ, xuất bản năm 1953. Tái bản bản năm 1954). Ông cũng là tác giả của ít nhất hai tác phẩm có tính cách nghiên cứu, biên khảo về thi ca, chưa xuất bản như: “Thi Pháp Thực Hành” và “Thi Ca Với Thời Ðại”.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Nha-tho-Ho-Dinh-Phuong-va-su-nghiep-am-nhac-Hoang-Trong-5804/

2
N / Re: Nguyễn Hùng Trương (Ông Khai Trí)
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 17:19:10 »



Photo từ báo ĐẠI ĐOÀN KẾT, số 122, tháng 6 năm 2001
3
Cần mua / Re: Xin tìm giúp!
« Bài mới gửi bởi cotich vào Hôm nay lúc 17:18:59 »
Bác Hoài Cổ nhá hàng chi tội nghiệp. Em tìm mua mừng thọ ông cụ. Lúc nhỏ xíu ở quê hay qua cụ đọc sách ké, thơ dại ngu khờ lỡ tay làm nát cuốn khổng-minh :d. Bác có lòng xin nhường lại cuốn tư mã được không ạ.
4
N / Re: Nguyễn Hùng Trương (Ông Khai Trí)
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 16:57:28 »
https://trithucvn.net/van-hoa/ong-nguyen-hung-truong-va-nha-sach-khai-tri.html


Ông Nguyễn Hùng Trương và nhà sách Khai Trí

Nguyễn Ngọc Chính •Thứ Năm, 25/10/2018 •

Khi đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Geneve (20/7/1954), nhà sách Khai Trí đã có mặt tại Sài Gòn từ hai năm trước đó. Tôi di cư sớm hơn, vào Ðà Lạt năm 1953 và trong những chuyến về chơi thủ đô, nhà sách Khai Trí là một trong những địa điểm tôi thường lui tới để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu về thế giới sách vở tại đây.



Dạo đó, mỗi chiều cuối tuần người Sài Gòn thường rủ nhau đi “bát phố” Bonard, hết đi lên rồi lại đi xuống, suốt con đường từ Quốc Hội (sau này đổi là Nhà Hát Lớn) đến chợ Bến Thành. Kể từ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Bonard được đổi tên thành Lê Lợi. Ðặc biệt con đường này chỉ đông người phía bên phải theo hướng từ tòa nhà Quốc Hội đi đến cuối đường là chợ Bến Thành.

Ðường Lê Lợi đông người “bát phố” vì trên suốt con đường có nhiều địa chỉ nổi tiếng… Nhà hàng Givral nằm ngay góc Catinat (đường Tự Do, sau 1975 đổi là Ðồng Khởi) và Bonard. Nơi này được mệnh danh là “Khu tứ giác Eden” gồm Passage Eden có rạp ciné Eden của gia đình họ Huỳnh Phú, đầu kia của tứ giác là nhà hàng Givral (góc Tự Do và Lê Lợi)…

Khu tứ giác này ngày nay đã biến mất hình dạng, để lại cho những người Sài Gòn xưa nhiều nuối tiếc. Kiến trúc “hiện đại” đã làm mất đi những đường nét cổ kính từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Vẫn biết cuộc sống là luôn thay đổi nhưng ở một chừng mực nào đó thì vẫn còn đọng lại đâu đây những nuối tiếc, hoài cổ.

Rồi sau này, năm 1962, có rạp Rex, rạp cinê đầu tiên có máy lạnh, có thang cuốn, của tỷ phú Ưng Thi được khai trương theo mô hình rạp Rex tại Paris. Rex nằm ngay ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Huệ lúc nào cũng dập dìu “tài tử giai nhân” đi xem phim hoặc không tiền thì đi… nhìn người ta xem phim!

Xuống đến ngã tư Lê Lợi-Pasteur có tiệm kem Mai Hương, ngày nay là kem Bạch Ðằng. Ðây là địa chỉ dừng chân của những người trung lưu, không đủ tiền ngồi Givral vốn dành cho giai cấp thượng lưu, “quý tộc”, kể cả những trai thanh gái lịch con nhà giàu.

Ði thêm vài bước nữa là đến tiệm sách Khai Trí, giang sơn của giới “mọt sách” bình dân; vì nếu “trí thức” hơn, người ta ghé vào nhà sách Xuân Thu trên đường Catinat (Tự Do). Xuân Thu có gắn máy lạnh và chuyên bán sách báo nhập từ nước ngoài với giá cao, và dĩ nhiên chỉ dành cho giới “quý tộc”.



Lần đầu tiên nghe đến tên Khai Trí không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến Hội Khai Trí Tiến Ðức ngày xưa tại Hà Nội (1). Nhà sách ở Sài Gòn cũng như hội đoàn ngoài Hà Nội đã cùng một mục đích “khai tâm mở trí” cho người Việt thời Pháp thuộc cũng như thời Việt Nam Cộng Hòa.

Ðường Lê Lợi cũng có thể gọi tên là con đường “văn hóa” vì ngay cạnh Khai Trí (số 60-62 Lê Lợi), còn có nhiều nhà sách khác như Dân Trí, Thanh Tuân và Phúc Thành nằm chen vai thích cánh bên nhau. Tuy cùng cạnh tranh trên đường Lê Lợi nhưng Khai Trí vẫn nổi bật vì chiếm hẳn hai căn nhà bề thế; hơn nữa việc nổi tiếng còn do tài lèo lái và quản lý của người chủ. Ðó là ông Nguyễn Hùng Trương nhưng người ta ít biết đến tên ông mà chỉ gọi là: “Ông Khai Trí.”

Người ta nói ông Khai Trí khởi nghiệp buôn bán “sách vở” bằng một chiếc xe đẩy, hình như trước cổng trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự, nay là trường Lê Quý Ðôn, đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng tại Sài Gòn được đăng trên báo Tiền Phong năm 2001 mang tựa đề “Vua sách Khai Trí trở lại”, ông Nguyễn Hùng Trương kể lại thời kỳ khởi nghiệp trên bước đường kinh doanh sách của mình:

Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã mê sách hơn mọi thứ khác. Càng lớn lên thì niềm đam mê sách càng tăng.

Tôi nhớ một ngày nọ có mấy anh bạn đồng môn đến nhờ tôi mua giùm năm cuốn sách về văn học Pháp. Tôi cũng đang cần một cuốn để lưu, nên gởi thư cho nhà xuất bản xin mua sáu cuốn. Ông giám đốc nhà xuất bản gởi thư hồi âm rằng, nếu tôi mua từ mười cuốn trở lên thì sẽ được trừ 30% giá bìa. Nhẩm tính tôi thấy nếu mua luôn mười cuốn thì số tiền chẳng hơn sáu cuốn chưa chiết khấu là bao, nên mượn tiền gởi mua đủ. Nhận sách, tôi đưa mấy anh bạn năm cuốn, tôi lưu một cuốn, còn bốn cuốn đem ký gởi.

Khoảng ba ngày sau tôi ra thăm chừng, không ngờ sách đã bán hết, ông chủ tiệm trả tiền và nói rằng nếu có sách gì cần bán thì cứ đem đến ký gởi… Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm các loại sách báo có giá trị, quý hiếm đặt mua ngay tại cơ sở rồi mang ra hiệu sách ký gởi. Rồi khi để dành được số tiền kha khá tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mở nhà sách. Năm 1952, sau một thời gian chuẩn bị vốn liếng và mặt bằng, tôi đã khai trương nhà sách Khai Trí.

Tài sản quý giá nhất của ông Khai Trí là sách báo. Sài Gòn khi đó có khoảng ba mươi tờ nhật báo, hàng chục tuần báo và nguyệt san, bán nguyệt san. Ông tìm mua hết và đóng bìa cứng để lưu trữ. Ðặc biệt hơn cả, ông sưu tập được bộ Paris Match của Pháp từ số 1 cho đến ngày 30/4/1975, trong đó có nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá về cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương.

Ngoài ra, kho lưu trữ của ông còn 4.000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách nằm trong kế hoạch in thì bị “nửa đường đứt gánh”. Theo lời ông, thật đáng tiếc là kho sách báo ấy hiện bị thất lạc gần hết. Ông nói, tại Mỹ, bộ tạp chí Paris Match nếu còn giữ được thì giá không dưới nửa triệu đô-la.


Ông Khai Trí (phải) và nhà văn Nhật Tiến


Cũng từ trong nước, nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long, tác giả cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, đã viết về ông Nguyễn Hùng Trương như sau:

Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ. Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.

Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi, “Ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai.” Ðúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hóa, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng “đầu nậu” xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.


Ông Khai Trí và nhà soạn từ điển Nguyễn Văn Khôn

Khai Trí là nhà sách bán lẻ nhưng cái tên Khai Trí còn xuất hiện như một nhà xuất bản, nhà phát hành và đồng thời là nhà xuất nhập cảng sách. Ngoài việc xuất bản sách,ông còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi (Chủ nhiệm: Nguyễn Hùng Trương, Chủ biên: Nhật Tiến) rồi tập san Sử Ðịa (2) do Nguyễn Nhã làm Chủ biên. Ông tâm sự với Phan Hoàng:

Trong tất cả các loại sách, tôi đặc biệt nặng lòng với sách thiếu nhi.Từ năm 1971 tới 1975, tôi chọn lọc xuất bản 300 đầu sách trong bộ Tuổi thơ dành riêng cho các cháu nhỏ.Bên cạnh đó, tôi còn xuất bản tuần báo Thiếu nhi với sự cộng tác của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo có uy tín và tâm huyết với trẻ em. Ðây là công việc mà tôi thích thú nhất!

Trên diễn đàn Talawas, tác giả Làng Ðậu bày tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam với “tuần báo giải trí và giáo dục thiếu nhi” như đã ghi trên bìa mỗi số:

Về hình thức, trang bìa và trang cuối của tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ. Trang bìa thường in hình vẽ của họa sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm của họa sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

Nếu như trang đầu của tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện của Walt Disney… Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Họa sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh họa một số truyện tranh Việt Nam.




Tờ Thiếu Nhi không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kỳ thi “đố vui có thưởng,” các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các bài thơ, văn, nhạc, họa của nhiều tác giả, cả già lẫn trẻ. Mục “Truyện cổ tích” cũng thu hút người đọc bằng các truyện của Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác. Ðặc biệt thú vị là hai mục: “Trả lời thắc mắc” và “Tay ngọc bên bếp hồng.”

Cũng xin nhắc lại vài câu thuộc loại “hoa thơm cỏ lạ” được giới thiệu trong vô vàn danh ngôn mà tờ Thiếu Nhi đã cho phổ biến trên mặt báo: “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan” (Ðức Phật), “Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi) hay “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”… Làng Ðậu, “độc giả nhí ngày đó,” viết:

Tiền lời của nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành sử ‘bù lỗ nhiều hơn’; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.

Ðối với độc giả người lớn, ông Khai Trí “bảo trợ” tập san Sử Ðịa của một nhóm giáo sư và sinh viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1966 và số cuối cùng năm 1975 mang chủ đề “Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa”, một đề tài nóng bỏng sau sự kiện ngày 19 tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa (Paracells) khi ấy đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.




Tập san Sử Ðịa phát hành 3 tháng một kỳ, ra được tổng cộng 29 số báo cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ðây là nguồn tài liệu phong phú trong việc khảo cứu, sưu tầm về sử ký và địa lý Việt Nam. Tác giả những bài viết trên tập san Sử Ðịa là những nhân vật nổi tiếng của miền Nam như Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Í…

Khai Trí còn là một nhà xuất bản chuyên in tự điển của miền Nam. Nếu nhà xuất bản Thời Thế in cuốn Việt Nam Tân Từ Ðiển của Thanh Nghị dầy 1069 trang thì Khai Trí đã phát hành một loạt từ điển như Pháp Việt Tự Ðiển của Ðào Ðăng Vỹ với độ dầy lên đến 1276 trang; Anh Việt-Việt Anh Từ Ðiển của Nguyễn Văn Khôn…

Thậm chí có những cuốn tự điển rất cần cho việc nghiên cứu nhưng lại khó tiêu thụ trên thị trường nhưng Khai Trí vẫn mạnh dạn xuất bản, chẳng hạn như bộ Hán Việt Từ Ðiển của Thiều Chửu hay Hán Việt Tân Từ Ðiển của Nguyễn Quốc Hùng.

Nguyên tắc của kinh doanh nói chung là nhắm vào tiền lãi thu về nhưng một nhà kinh doanh có “tâm” hay có “đạo đức kinh doanh” là biết dung hòa giữa một bên là “lợi nhuận” và phía bên kia là “lợi ích” của xã hội. Ông Nguyễn Hùng Trương là nhà kinh doanh biết kết hợp cả hai cái “lợi” để đóng góp cho nền văn hóa của miền Nam. Ông còn giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn bằng cách mua tác phẩm của họ, dù chưa in nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ theo kiểu “tiền trao cháo múc.” Ngoài ra, ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn, chẳng hạn như tờ nhật báo Sống của Chu Tử.



Theo Kaviti, ông Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Ðức, nhưng cũng có người nói ông sinh tại Biên Hòa. Thời thơ ấu của ông rất cơ cực, thường nhịn ăn sáng và dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên trung học ông vào trường Petrus Ký với một chiếc xe đạp cũ.

Báo Thanh Niên viết về ông Khai Trí: “Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.”

Trong những ngày đầu Sài Gòn đổi chủ, có người thấy ông chủ Khai Trí trải tấm nylon lớn trên vỉa hè ngay trước cửa nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại. Tờ Thiếu Nhi vốn là báo khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét nhưng vẫn giữ nguyên tôn chỉ và mục đích.

Năm 1976, chính quyền mới mở đợt “cải tạo văn hóa” tiếp theo sau đợt cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền.” Nhà sách Khai Trí bị truất hữu và tịch thu, kho sách 60 tấn bị tiêu hủy. Chủ nhân Nguyễn Hùng Trương bị bắt trong chiến dịch tháng 4, 1976 và đưa đi cải tạo tại trại Z30C Hàm Tân vì tội “biệt kích văn nghệ.”

Một số nhân vật khác trong ngành phát hành sách báo như ông Nguyễn Văn Chà, chủ nhân nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn (Paul) chủ nhân cơ sở phát hành Thống Nhất rồi ông chủ các nhà phát hành Ðồng Nai, Ðộc Lập cũng cùng chung số phận vì đã hoạt động trong lãnh vực sách báo “văn chương đồi trụy”…



Năm 1991, ông Khai Trí xuất cảnh sang Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng gia đình. Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Nguyễn Hùng Trương dự định mở lại nhà sách Khai Trí, nhưng điều trớ trêu là hầu hết các tác phẩm của Khai Trí đã “được” một số nhà xuất bản hải ngoại in lại mà không hề nghĩ đến chuyện… bản quyền!

Theo Phạm Phú Minh, một điểm khó khăn nữa là ông Khai Trí vừa thiếu vốn lại thiếu cả nhân lực để gây dựng lại nhà xuất bản tại Mỹ:

Ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã tiếp xúc nhiều với ông Khai Trí thời gian ông mới qua Mỹ, cho biết rằng các con của ông Khai Trí nói thẳng rằng họ có thể góp ít vốn cho ông theo khả năng của họ, nhưng hoàn toàn không thể giúp được gì ông, vì ai cũng có công việc cả rồi, không thể nào bỏ việc để cùng cha phiêu lưu theo giấc mộng của ông.

Hình như ông Khai Trí có gặp ông Nguyễn Tấn Ðời để bàn việc góp vốn cho chương trình văn hóa nhưng không đạt được kết quả. Ông Võ Thắng Tiết cho biết, trong số sách vở ông Khai Trí đã chuyển được sang Mỹ có nhiều thứ rất giá trị, như bộ sưu tập đầy đủ của báo Tri Tân và báo Nam Phong, tập san Sử Ðịa thời Việt Nam Cộng Hòa cũng không thiếu một số nào, tất cả sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học.

Sau năm năm sống tại Mỹ, ông Nguyễn Hùng Trương biết rõ là mình chẳng làm được những gì mong ước cho nên năm 1996 ông Khai Trí về lại Việt Nam để sống luôn tại đây. Nghe nói nhà nước Việt Nam có chủ trương trả lại nhà cửa đã tịch thu năm 1975, ông về nước với đề nghị nhà nước trả lại các cơ sở cho ông; và ông sẽ cùng nhà nước thực hiện các nhà sách tân tiến theo lối Mỹ, trong đó có gian uống cà phê xem sách, có gian thiếu nhi để các em thoải mái tìm tòi…



Nhưng những gì ông “nghe nói” đã không đúng với thực tế. Nhà sách Khai Trí của ông đã thành nhà sách quốc doanh Sài Gòn. Nhà khác của ông thì bị chia chác cho cán bộ đã 20 năm qua, họ bán đi bán lại nhiều lần, giá cả càng ngày càng cao. Cuối cùng người ta “cho lại” một phòng trong một căn nhà cũ của ông; và ông sống ở đó, cho đến ngày qua đời, với giấc mộng lớn không bao giờ thực hiện.

Con người có niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy đã ra đi lúc 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3, 2005, linh cữu tại nhà riêng số 237 Ðiện biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ). Nguyện vọng của gia đình là tiền phúng điếu sẽ tặng cho quỹ từ thiện thành phố.

Lúc còn sinh thời ông Nguyễn Hùng Trương đã có lần chán nản khi được hỏi bao giờ người ta trả lại nhà sách Khai Trí cho ông.Câu trả lời của ông là… “năm 3000”! Chẳng khác nào khi diễn tả một chuyện không bao giờ có thể xảy ra, người Sài Gòn thường nói chờ đến… “Tết Congo”!

Nguyễn Ngọc Chính

Đăng lại từ bài viết cùng tên
Đăng trên diễn đàn Góc Nhỏ Sân Trường (gocnhosantruong.com)

5
N / Re: Nguyễn Hùng Trương (Ông Khai Trí)
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 16:46:30 »


Nhà sách KHAI TRÍ
62 Đại lộ Lê Lợi, Saigon



Nhà sách Khai Trí (kế tiệm thuốc tây Dân Trí)
6
N / Re: Nguyễn Hùng Trương (Ông Khai Trí)
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 16:29:40 »
http://baotreonline.com/ong-khai-tri-sai-gon-mot-thoi-vang-bong/

Ông Khai Trí “Sài Gòn, một thời vang bóng”

Cách đây 13 năm khi nghe tin ông chủ nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương mất, giới yêu sách Sài Gòn ai cũng bùi ngùi thương mến. Ngày 4 tháng 11, 2018 vừa qua, người vợ đầu ấp tay gối của ông Khai Trí cũng đã mãn phần theo gót ông về cõi tịnh, cùng ông an giấc ngàn thu. Cụ bà Phùng Thị Bông hưởng thọ 89 tuổi, mất tại Little Sài Gòn vào cuối mùa Thu.


Ông Bà Khai Trí trong toà soạn báo Thiếu Nhi trước 75


Tôi đến viếng tang lễ của cụ bà và gặp gỡ những người thân của đại gia đình họ Nguyễn. Những tấm ảnh slide show chiếu trên màn hình nhà tang lễ đã ghi lại những kỷ niệm đẹp của gia đình và cụ ông, cụ bà như một nhắc nhở ân cần đến hình bóng của kẻ ra đi.

Tôi được dịp trò chuyện với người con trai thứ của cụ là anh Nguyễn Hùng Tâm và tỏ lòng ngưỡng mộ cụ ông Khai Trí cùng đức độ của cụ khi còn sinh thời. Tiếng vang thơm ngát về lòng yêu thiếu nhi và mối tình gắn bó của cụ với sách vở đã khiến tôi quý trọng con người cụ dù tôi chưa gặp cụ bao giờ.


Ông Khai Trí đứng bên kệ sách nhà ông


Dù đang có tang chế anh Hùng Tâm vẫn vui vẻ nghe tôi trò chuyện và hỏi han về những kỷ niệm đẹp còn lưu dấu của song thân anh, hai người đã khuất. Anh kể:

– Ðối với cha tôi, những điều tôi trân trọng, lưu giữ trong trí, mến quý và yêu nhất là những giờ phút cuối của cụ. Trong 2 tấm hình chụp ông cụ trên giường, tôi thấy lúc nào quanh ông cũng tràn đầy sách vở. Hình ông cụ ngồi có một cái võng vắt ngang, sách vở cũng đầy giường tủ. Cụ luôn luôn miệt mài cùng sách vở kể cả những phút lâm chung.


Ông Khai Trí ngồi trên giường đầy sách


– Ðối với mẹ tôi, bà là người vợ lúc nào cũng tận tụy với chồng kể cả từ những ngày ban đầu mới thành lập nhà sách Khai Trí. Thuở hàn vi, dẫu không có người làm phụ giúp, bà vẫn hết lòng cùng chồng gánh vác những khó khăn, gian khổ buổi đầu.Những cuốn sách nào có giá trị cha tôi lúc nào cũng đưa cho bà đọc để có cùng một chí hướng với chồng và cùng tạo dựng sự nghiệp.

Anh Nguyễn Hùng Tâm nguyên là chủ nhân và hiệu trưởng của một trường đại học “TTL College” ở San Jose, CA. Anh tâm sự, sở dĩ anh mở trường đại học kỹ thuật này là do dòng máu văn hoá VN của cha anh để lại. Do đó anh muốn thành lập một trường chuyên môn dạy nghề hầu giúp cho người Việt hải ngoại có một cái nghề để sinh sống không những cho bản thân mà có thể giúp đỡ gia đình nữa. Ngoài ra anh còn muốn giúp cho những người Việt mới định cư và những người muốn thăng tiến nghề nghiệp có được một trình độ cao hơn. Các giáo sư trong trường đều là người VN.



Trong phòng khách nhà ông Khai Trí trước 75


Khi chụp hình tang lễ, tôi nhận ra gia đình cụ Khai Trí là một đại gia đình như đa số các gia đình VN với nhiều người con. Tôi trộm nghĩ đây có lẽ là lý do cụ rất yêu thiếu nhi và bỏ nhiều tâm huyết vào việc mở mang trí tuệ cho các thế hệ măng non VN trước năm 1975. Ðể trả lời câu hỏi của tôi về tình yêu thiếu nhi, anh Hùng Tâm cho biết:

– Lúc đương thời, ông cụ luôn có chí hướng muốn tiến lên mãi và muốn làm cái gì đó cho thế hệ mai sau. Quan trọng nhất là thế hệ thiếu nhi, nên cụ bỏ ra rất nhiều thì giờ vào thế hệ này. Cụ đã để một  gian hàng sách thiếu nhi cho những đứa trẻ vào đọc mà không cần phải mua. Khi cụ thấy các em đứng đọc trông thật tội nghiệp, cụ cho lập một hàng ghế để các em ngồi đọc thoải mái từ sáng tới chiều. Những em nào không có tiền mua sách, có thể đến gặp cụ, cụ viết cho một tấm thiếp có tên cụ, giống như một tấm chi phiếu. Lúc nào cần sách cứ tới gặp nhân viên, họ sẽ đưa sách đem về nhà mà không cần phải trả tiền. Nguyên thủy nhà sách Khai Trí chỉ có hai căn; trên con đường tiến xa hơn nữa, cụ đã mua thêm hai căn sát bên với mục đích nối liền 4 căn với nhau để có diện tích rộng gấp đôi nhà sách cũ. Với dự án xây lầu cao hơn, cụ dành một tầng cho sách tiếng Việt, một tầng cho sách ngoại quốc, và một tầng cho sách thiếu nhi. Ước vọng của ông cụ không chỉ có thế, cụ còn có chương trình thành lập bộ sách “Encyclopedia”(Bách khoa Tự điển) cho VN. Cụ thấy các quốc gia khác có, tại sao VN chưa có. Cụ đang chuẩn bị để thành lập với những người cộng tác và họ sẽ được cụ trả lương ngồi viết cho đến khi bộ sách hoàn tất. Tuy nhiên những ước mơ của cụ đã bị ngưng vào năm 1975.


Ông bà Khai Trí năm 1983


Nghe anh Hùng Tâm kể tôi cảm thấy sững sờ và kính phục cụ Khai Trí và nhiệt tâm của cụ. Anh H Tâm kể tiếp:

– Sau năm 1975, cha tôi bị đi tù. Khi ở trại cải tạo về, ông lại có ý định trở lại với ngành sách vở. Ông đã bỏ ra thì giờ, tiền bạc, đi tìm mua lại những sách cũ đã bị thất lạc, bị tịch thu, hay thất thoát ra ngoài để đem về cất giữ. Lúc nhận được giấy bảo lãnh qua Mỹ, ông đã có trong tay trên 3,000 cuốn sách thuộc nhiều loại khác nhau. Ông đã cố gắng chuyển số sách ấy ra hải ngoại với mục đích mang tiếng Việt ra hải ngoại cho người Việt. Ra đến hải ngoại ông đi thăm tất cả các tiệm sách ở đây và nhận ra 90% số sách ông mang qua đều đã được tái xuất bản và đang bày bán. Ông vô cùng thất vọng vì cảm thấy không còn làm gì được nữa, đành phải trở về lại VN. Lần này ông đi mua tất cả những cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại sau 75, trong kỳ vọng đem về cho dân trong nước có cơ hội được đọc sách hải ngoại. Tuy nhiên, khi về đến VN ông bị chận lại và bị bắt bỏ tù lần nữa. Tất cả số sách ông mang về bị tịch thu và ông vào tù với tội danh “mang văn hoá đồi trụy vào trong nước”.


Bài Vị bà Khai Trí


Vào những giờ phút bất lực cùng cực, ông vẫn chưa chịu thua, ông tiếp tục tự mình soạn ra những cuốn sách để lại cho hậu thế. Ðó là cuốn “Thơ Tình Việt Nam và Thế Giới”. Ông tập trung những lá thư tình của VN và thế giới, Bắc, Trung, Nam về để soạn thảo. Ông muốn nói lên một điều là thơ tình hay tình yêu không phân biệt quốc gia hay cộng sản. Ông đã yêu cầu được in và xuất bản tại Sài Gòn. Buổi ra mắt sách được tổ chức tại Thư Viện Quốc Gia VN tại Sài Gòn vào dịp kỷ niệm 300 năm thành lập Sài Gòn. Trong ngày ra mắt sách, ông đã yêu cầu không có chào cờ cộng sản và những người lên lãnh giải cho cuốn sách ấy là những người đã từng ngồi tù trong trại cải tạo. Mục đích ông muốn cho họ thấy, là họ làm việc có chính nghĩa và trong đất cộng sản họ vẫn được quyền lãnh quyển sách được trao giải đó. Ðây là việc làm đáng giá và đáng ghi nhớ ở VN, tại 1 quốc gia cộng sản không có tự do mà ông cụ vẫn làm, mà làm được. Ðằng sau cuốn sách có ghi tên ông, chủ nhà sách Khai Trí soạn và xuất bản.

Ngoài ra còn một việc làm thứ hai mà ông đã làm được ở VN là đi đòi tiền bản quyền cho một số tác giả viết trước 1975, mặc dù các tác giả đã xuất ngoại, nhưng ông vẫn đòi được. Ông đã gởi tiền đòi được qua cho tôi ở hải ngoại và tôi cầm tiền trao lại cho các tác giả ấy.

Câu chuyện anh H Tâm kể về cụ Khai Trí làm tôi vô cùng xúc động. Không biết tỏ nỗi cảm phục nào hơn, tôi chỉ biết thắp nén hương lòng gởi đến cho cụ ông, cụ bà Khai Trí và cầu nguyện cho hai cụ mãi mãi thong dong ở cõi yên bình.


Toàn gia đình của Ông Bà Khai Trí

TTT thực hiện
7
Em đặt 2,8,9 nhé
xac nhận a lấy 2,8,9. thanks
8
Em đặt 2,8,9 nhé
9
Cần mua / Re: Mua sách Ông cố vấn, ván bài lật ngửa
« Bài mới gửi bởi lenhale vào Hôm nay lúc 13:43:12 »
Em có, cũ mới cũng có.
10


Đám ma anh Văn

NHÀ VĂN ở trên con đường đi tới Bắc Việt Nghĩa Trang nên một trong những thú tiêu khiển của Văn là đứng xem những đám ma đi ngang nhà mình. Thường thường ngày nào cũng có một đám, ngày đông đến ba, bốn đám.
         Có đám linh đình nhộn nhịp như một thịnh hội, có đám xơ xác rạc rời như một dúm tàn quân, đám nào cũng cho người xem nhiều dấu hiệu về gia thế, nghề nghiệp cùng về những nỗi thành bại, thăng trầm của người đã chết.
         Sáng chủ nhật đó, nghe từ xa tiếng kèn nức nở, Văn châm một điếu thuốc lá rồi ra đứng cửa theo thường lệ. Anh còn đang ngắm nghía bức ảnh đặt trên linh xa, bỗng thấy người khó chịu, sa sẩm mày mặt, anh vứt điếu thuốc đi, quay vào trong nhà, nằm lên chiếc ghế dài. Một lát sau chị Văn đang làm cơm trong bếp nghe thấy chồng ngáy khò khò ở buồng ngoài. Chị lẩm bẩm:
         ― Chả được cái việc gì! Chỉ được cái dễ ngủ là không ai bằng!
         Gần trưa, thằng Long ra đánh thức bố nó dậy ăn cơm, không thấy bố nó trả lời. Chị Văn lại gần, định bụng sẽ đập mạnh lên vai cho chồng giật mình tỉnh giấc, nhưng chị đã sững sờ trước sắc mặt khác thường của chồng. Mắt anh nhắm nghiền, môi cắn chặt – Chị cầm tay anh giơ cao lên, lúc bỏ ra, tay vật thõng xuống.
         Chị hốt hoảng kêu thằng Tùng đạp xe đi mời bác sĩ. Chị giật tóc mai chồng, xoa đầu, gọi ầm ĩ. Con Bích lè nhè ngồi khóc một xó, chả lẽ nó không làm gì khi cả nhà tíu tít.
         Bác sĩ khám, cho biết anh Văn đã bị một cơn đau tim nặng và không phương gì cứu chữa được nữa. Có ai tin được không? Chín giờ còn đứng xem đám ma, mười hai giờ đã chết. Ở đời có những sự vô lý mà chỉ có ai phải chịu đựng mới tin được là có thực.
         Riêng đối với Văn, cái chết là một sự khám phá kỳ thú. Từ trước đến nay anh đã nghĩ rằng chết là một cái gì tăm tối âm u như một đêm dài vô tận, người chết không còn biết đến cảnh vật chung quanh. Nhưng đến khi chết thật, anh mới rõ cái chết khác hẳn những điều anh tưởng tượng. Anh thấy như mình có thêm một giác quan mới, cùng một lúc nhìn được khắp chốn khắp nơi, đọc được cả ý nghĩ người bên cạnh. Và anh quyết lợi dụng cái khả năng mới này mà nhìn lại cuộc đời cho bõ với những lúc phải trông bằng nhỡn quan hạn chế của đôi mắt mở sáng.
         Bác sĩ xếp ống nghe vào túi da rồi rửa tay với xà bông. Văn hơi khó chịu:
         ― Người ta chết vì tim chứ có vì vi trùng đâu mà ông phải rửa tay kỹ thế.
         Chị Văn vừa mếu máo vừa đưa bác sĩ tiền khám bệnh. Anh thấy rõ ông ta đang nghĩ:
         ― Mình không lấy tiền mới phải. Mình tới coi, hắn đã chết rồi, có phải chữa chạy gì đâu?
         Văn đang sung sướng thì bác sĩ cầm tiền rồi đi ra về.
         Chị Văn bao nhiêu năm nay sống với chồng, không có lúc nào tưởng tượng rằng chồng có thể chết mau đến thế nên chị lúng túng quá. Chị sai thằng Tùng đi báo tin trong họ và tìm bác Đào. Đào là một anh bạn thân, tính nết sốt sắng, lại khéo cắt đặt nên các bạn hễ có việc gì khó khăn đều tới nhờ Đào.
         Anh ta đang nằm vừa đọc báo vừa nghe phát thanh cổ nhạc thì thằng Tùng lấp ló ở cửa.
         ― Cái gì đấy cháu? Bố mày lại muốn rủ bác sang đánh chén phải không?
         Tùng nghẹn ngào:
         ― Bố cháu chết rồi.
         ― Hứ!
         Lúc Đào chạy sang tới nơi, Văn không thể nhịn được cười. Chưa vào đến cửa, Đào đã cất tiếng hỏi, cố lấy giọng bình tĩnh, thế mà hai đầu gối run lẩy bẩy và trống ngực đánh thình thình. Đào đứng xa nhìn vào. Văn tưởng bây giờ hét lên được một tiếng, chắc chắn Đào té xỉu.
         Con mèo con vẫn được Đào vuốt ve mỗi khi anh sang chơi, mon men đến cạnh, cọ bộ râu mép vào cánh tay anh làm Đào túm chặt lấy cổ nó kêu lên:
         ― Nhốt ngay nó lại, hay là gửi nó đi đâu, chứ không lôi thôi bây giờ.
         Đào xếp đặt mấy việc lặt vặt xong, chạy đi kiếm cỗ áo và mướn xe đòn. Qua nhà Sơn, anh tạt vào báo tin Văn chết. Sơn chạy báo Thiệu, và Cầu đang đi ở đường Lê Lợi bỗng nhìn thấy Nhân gọi giật lại:
         ― Này Cầu, Văn chết rồi.
         ― Văn nào?
         ― Văn “Ba Kim”(1) chứ còn Văn nào.
         Cứ từ người nọ truyền sang người kia như vậy đến buổi chiều hôm đó thì gần hết các bạn thân đã biết tin.
         Đêm hôm chủ nhật, Văn nằm sõng sượt giữa nhà. Lúc còn sống, suốt ngày bị con quấy phá, vợ hỏi dồn, anh thường nói:
         ― Tao chịu không nổi rồi. Ước gì tao được nằm một mình một chỗ cho sướng cái thân tao.
         Bây giờ anh mới thấy mình lầm. Dưới ngọn đèn xanh xao, không có bên mình hơi thở quen thuộc của những người thân yêu, anh thấy thê lương một cách khó tả. Cái lạnh lẽo của cái chết cũng chưa ghê rợn bằng cái lạnh lẽo của tình thương tắt dụi.
         Ba đứa con anh, vì thiếu chỗ, – anh đã chiếm hết cả phòng ngoài rồi còn đâu – nằm chúi đầu vào với nhau trên cánh phản nhỏ ở góc phòng trong, trông chẳng khác gì ba con chó con. Nhà bận quá, cũng chẳng ai nghĩ đến mắc màn cho chúng và mấy con muỗi đói đang hút đầy máu trên đùi gầy nhom của thằng Long. Thằng Tùng ngủ say mệt, nó chạy suốt ngày hôm nay còn gì, gác cả đôi chân nặng chĩu lên mặt em Bích.
         Anh chợt nghĩ đến những em nhỏ lải nhải mời anh mua vé số, dai dẳng đến khó chịu, hay lúi húi ở dưới gậm bàn trong các tiệm ăn, ôm cẳng từng người, đặt lấy được lên trên quai cái hộp gỗ mà đánh đôi giầy. Xin trời phù hộ cho các con anh khỏi phải ném quá sớm tuổi thơ của chúng vào cuộc đời. Bây giờ mà anh sống lại, chúng nó dù có quấy phá, hờn, vòi thế nào cũng mặc, anh nhất định sẽ không đánh mắng chúng nó nữa.
         Chị Văn đang cặm cụi may áo sô cho chị và các con. Nỗi buồn đã đến đột ngột quá làm chị không còn đủ sức mà khóc nhưng khuôn mặt chị có những nét cứng rắn khác thường. Văn không biết rồi vợ sẽ loay hoay ra sao trong những ngày sắp tới. Trước đây đã có lúc anh nói với vợ:
         ― Khi nào anh sắp chết, thế nào anh cũng kể hết cho em nghe anh đã chơi bời giấu diếm em như thế nào.
         Đến nay lời đó anh cũng không giữ nổi và anh chết đã đem theo đi cả những câu dối trá nói với vợ những bữa về khuya, hay những chuyện nhiều thêu dệt để tự bào chữa sau những đêm trác táng.
         Anh chợt liên tưởng đến mấy người bạn đã cùng anh chia sẻ những phút đó và anh nẩy ra ý tò mò muốn biết xem giờ này họ đang làm gì và cái chết của anh có thay đổi gì đến nếp sống của họ không. Anh thả hồn rảo đi một vòng. Tất cả các bạn đều đã ngủ kỹ, anh ngáy, anh nói mê, không ai bỏ những thói quen thường nhật. Chỉ còn hai anh thao thức. Thiện và Nhân. Thiện thì đang loay hoay làm bài thơ để phúng anh. Thiện mới nghĩ được câu đầu:
         “Hôm qua sống mà hôm nay đã chết
         Cái vần chết này thật là tử vận. Thiệu tìm mãi không ra câu dưới. Nhân không làm thơ nhưng lại nghĩ đến món nợ hai chục ngàn mà Văn đã mượn để sang căn nhà đang ở. Bây giờ Văn chết đi, chị ta một nách ba con, kiếm đủ ăn cũng còn chật vật, nói gì đến chuyện trả nợ.
         Sáng thứ hai, ông chủ hãng của Văn lúc tới sở vẫn chưa biết tin. Không thấy Văn ở bàn giấy, ông càu nhàu:
         ― Lại còn tạt đi làm tô phở gà với ly cà phê. Không mấy buổi là không đi chậm.
         Trong khi đó, các bạn Văn tíu tít kêu điện thoại, bắt liên lạc họp thành từng nhóm, chia nhau đóng góp mua đồ phúng. Ai nấy đùn cho người khác công việc đi sắp lễ và mang lại nhà đám, chỉ xin về phần mình được đứng tên trong một danh sách chung.
         Người ta đã đặt Văn trong một cái hòm kín mít. Anh tưởng anh sẽ ngột ngạt khó chịu lắm nhưng không, nằm dài trên một lượt dầy giấy bản và bấc thông êm ái, anh thấy rất thoải mái và anh vẫn trông rõ hết những cảnh bên ngoài.
         Nếu không chết đi như thế này, không bao giờ anh lại biết anh đã có một đời sống gương mẫu và được nhiều người thương tiếc đến như vậy.
         ― Người hiền lành, chu đáo quá, thế mà trời bắt tội.
         ― Ăn ở với anh em, chẳng ai mất lòng cả. Tính nết thật dễ dãi, việc gì cũng chín bỏ làm mười.
         Tất cả những lời khen đó làm anh nửa sung sướng, nửa nghi hoặc. Đúng là anh đã quá nghiêm khắc với anh rồi, nên phải chờ người khác nói, anh mới biết là mình có bao nhiêu điều hay nết tốt.
         Có ông đến phúng anh mà chỉ giương mục kỉnh đi quanh nhà đọc các bức trướng đối, có bà ngắm đi ngắm lại đứa cháu gái của anh mà bà vẫn muốn hỏi cho con giai nhưng bà chưa có dịp nào xem mặt kỹ càng.
         Tiếng kèn nghe mới khó chịu làm sao. Mỗi một người vào là nó lại tỉ tê, nức nở, chẳng ra tiếng khóc mà cũng chẳng phải điệu nhạc. Nó cứ ỉ eo dai dẳng như thế từ sáng đến tối khuya làm Văn nghe kèn mà có cảm giác như bị ai cầm một cái lá dứa nhiều gai rồi nhay đi, kéo lại trên da thịt.
         Kèn nổi lên, vợ con anh lại xụp xuống đáp lễ khách. Mấy đứa trẻ lúc đầu còn lễ một cách chăm chỉ, sau mỏi dần, chân xiêu vẹo, khăn một nơi, gậy một nẻo.
         Sáng hôm thứ ba người ta đưa Văn ra nghĩa trang. Anh chưa bao giờ được đi đứng một cách rềnh ràng như vậy. Đời anh đã nhiều lần bực mình về chuyện kẹt xe, nay được làm cho sự lưu thông ứ đọng lại, anh tìm thấy một cách thích thú riêng.
         Trên một chiếc xe hơi nọ, một đôi trai gái đang cãi nhau. Họ đang muốn đi thật nhanh ra khỏi thành phố để tránh những con mắt tò mò, thì bị nghẽn lại ở khúc này. Người con gái, cúi gầm mặt xuống:
         ― Đã bảo đi đường khác mà không nghe.
         ― Ai có ngờ đâu lại gặp cái đám ma chết tiệt này.
         Một vài người cất mũ chào anh mà dáng như lo ngại thiên hạ không trông thấy cử chỉ lịch sự của mình.
         Anh ngoái lại đằng sau nhìn đám người đi theo xe tang. Chị Văn lê lết trên đường, lưng gập xuống như phải vác một cái gì quá nặng. Thằng Tùng đi bên mẹ. Nó đã khá lớn nhưng mới chỉ hiểu một cách mơ hồ là gia đình nó đang trải qua một biến cố. Thằng Long, con Bích vẫn nhởn nhơ như không, coi việc bố chết chẳng khác gì bố đi chơi xa.
         Các bạn anh quần áo trịnh trọng, nét mặt trầm ngâm, tưởng như sắp làm việc gì quan trọng lắm.
         Đào đi lên, đi xuống, chỉ huy mọi việc. Thiệu vẫn ậm ạch với bài thơ chưa làm xong. Nhân ngơ ngác về món nợ Văn chưa thanh toán. Cầu bấm ngón tay cái lên mấy ngón kia rồi quay sang nói với người bên cạnh:
         ― Tôi xem tử vi hắn thì chưa việc gì mới phải. Có Kình, Đà, Không, Kiếp thật nhưng ngộ Triệt.
         Sơn ghé vào tai Tường dáng điệu rất bí mật:
         ― Cậu xem nghị định thăng thưởng đã ký chưa? Có thấy tên tớ không?
         Mỗi nhóm nói một chuyện nhưng tất cả đều sốt ruột mãi chưa thấy đến trạm nghỉ – Trời đã nắng gắt và mồ hôi bắt đầu rỏ giọt làm người ta ngưa ngứa trên lưng.
         Hải bước uể oải, chậm dần, chậm dần, đang hàng trên tụt xuống dưới, rồi vừa lúc đến chỗ rẽ nhẩy ngoắt lên hè, quay lưng trở lại, nét mặt thản nhiên như mình không có dính dáng gì đến đám người đang đi.
         Đám ma tới nghĩa trang, người ta đặt Văn cạnh huyệt đã đào sẵn. Miệng huyệt đen ngòm và sâu thẳm như sắp nuốt lấy Văn. Ngay bên đống đất đầy ù đang chờ đợi xóa trùm mọi vết tích của một cuộc sống.
         Thân nhân của Văn tự nhiên khóc rống lên chẳng khác gì những con thú bị thương. Con đường của mọi người đi tiễn Văn đã dừng sững lại trước cửa huyệt này.
         Đã mấy hôm nay, Văn vẫn đùa nghịch với cái chết của mình, nhìn lại người sống, nhìn lại cuộc đời với con mắt diễu cợt. Nhưng trước miệng huyệt anh mới chợt thấy cái chết nghiêm khốc phũ phàng hơn anh tưởng.
         Chim chóc ríu rít ngoài trời, một cái máy bay vừa cất cánh ở phi trường gần đấy, những tiếng ồn ào của thành phố nhịp nhộn, tất cả những âm thanh đó dội vào tai Văn làm anh thấy mình thèm thuồng cuộc đời như một người uống chưa đã khát.
         Những người phu đòn không để anh nhớ tiếc lâu. Họ bỏ thõng anh xuống huyệt, lấp đất vào, dận thình thình trên ngực anh. Những hòn đất mà bạn bè thân thuộc ném lốp đốp trên anh như còn muốn dìm anh xuống sâu hơn nữa trong lòng đất.
         Một màn đen tối sầm phủ chặt lấy mắt anh. Anh cũng không nghe thấy gì nữa. Một sự im lặng mênh mông như từ vạn cổ trôi về cuốn anh đi mất. Thế là hết. Hết hẳn.


⋆ ⋆ ⋆

         Văn sợ quá giật mình tỉnh dậy, bàng hoàng một hồi lâu, rồi mới chợt nhận ra mình đã ngủ quên đi và đã nằm mê trong giấc ngủ.
         Ngoài trời, ánh sáng chói lòa, sức sống đang chồi lên từ ngọn cỏ, từ búp cây. Mấy đứa con anh đang chụm đầu vào nhau chơi chọi dế. Anh lại gần các con, và chẳng có duyên cớ gì, phát lên mông mỗi đứa một cái. Anh vào trong bếp – Vợ vẫn đứng làm cơm và đang gọt củ đậu (củ sắn) nhanh thoăn thoắt. Anh đưa một tay ra đập vào lưng vợ, còn tay kia nhặt một miếng củ đậu bỏ vào miệng nhai ngau ngáu. Chưa bữa nào anh thấy củ đậu ngọt và mát như hôm nay.


PHAN VĂN TẠO

________________________________
(1) Văn mang tên này từ khi anh mua cái đồng hồ mới rất đúng giờ. (xem Bách-Khoa số 82)

Trang: [1] 2 3 ... 10