Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Triết-Luật-ChínhTrị-Tôn Giáo / Re: Bán sách tôn giáo....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tnghia vào Hôm nay lúc 21:27:08 »
em lấy 240, 241 nếu ruột sạch đẹp
2


Hồ Quí Ly, một gương thất bại

TỪ ĐÓ ĐẾN NAY, đã năm trăm năm chục năm rồi. Năm trăm năm chục năm về trước, năm 1407, đánh dấu một cuộc thất bại vĩ đại và đau thương nhất trong lịch sử dòng giống Việt.
         Hồ Quí Ly bị quân Tàu bắt được, giải về đất Trung Hoa. Bao tư tưởng mạnh, bao sáng kiến hay, bao thực hành mới lạ đều đi theo người tù binh không con nước, cái nước mà mình quyết làm cho mãnh liệt Trường tồn, cho rực rỡ Vinh quang, nào ngờ đâu lại dìm trong tang tóc và trong máu hòa nước mắt.
         1407-1957.
         Năm thế kỷ rưỡi đã qua.
         Để kỷ niệm gương thất bại ấy – tại sao ta chỉ kỷ niệm những thành công thôi? – chúng ta hãy cùng nhau xét lại người và việc cũ, để may tìm chút gì có ích cho giờ đây và biết chừng đâu, cho cả mai sau.


⎎⎎⎎

Thời thế ấy…
         Thời thế ấy là một thời thế rối reng, hỗn độn.
         Cơ đồ nhà Trần như ngọn đèn trước bão. Không có một Hồ Quí Ly chấm dứt nó, thì rồi cũng có một người nào đó xóa tên trong lịch sử.
         Cái hào khí của ông cha đã mất, cái phong thời thịnh trị cũng chẳng còn. Vua thì bạc nhược, bê tha, tôi thì ươn hèn, xu nịnh, kẻ sĩ thì an phận, lờ đờ. Bên trong lủng củng: quần thần chia bè phái để củng cố địa vị, gièm pha nhau và giết hại lẫn nhau. Bên ngoài thì lôi thôi: Bắc, người Tàu hết dòm lại ngó, hết đòi hỏi vật cần này lại buộc nộp đồ quí kia, cốt tạo cơ hội để rõ nội bộ nước ta mà “chờ gió”; Nam, người Chàm, hết cướp phá, quấy nhiễu ở biên thùy, lại tiến ra Nghệ An, ra Thanh Hóa, ra cả Thăng Long, mà không phải chỉ một lần.
         Triều đình đã như thế thì dân chúng có được nhờ gì. Mùa màng bị phá, bị thất, đói lạnh sờ sờ, mà giặc cỏ lung tung, không dẹp được, mà thuế má sưu dịch cứ nặng thêm lên. Người dân đen còn biết bám vào đâu nữa? Kẻ có lòng giờ biết tin ai?
         Thời thế tạo kẻ hùng.
         Kẻ hùng cần những lúc ấy. Còn anh hùng hay gian hùng thì phải chờ nắp quan tài đậy lại, phải cần một khoảng thời gian khá dài để bình tĩnh mà xét, hiểu. Đó là việc của lịch sử. Còn người lúc bấy giờ như kẻ chới với giữa dòng, mong có tay ai để nắm, còn bàn tay ấy thế nào, ra sao, của ai, thì chưa cần rõ.
         Chính lúc đó, Hồ Quí Ly xuất hiện.


⎎⎎⎎

Con người ấy…
         Con người ấy, dòng dõi gốc nơi nôi của dân tộc Việt,(1) tỉnh Chiết Giang bên Tàu; tằng tổ sang sống ở nước ta từ đời Ngũ Quí, định cự ở Nghệ An, vùng đá sỏi. Ông tổ bốn đời của Quí Ly đến ở Thanh Hóa, nơi phát tích của nhà Lê, nhà Nguyễn sau này.
         Hồ Quí Ly sanh năm 1336, trên đất Việt, là người Việt hoàn toàn (chút máu Tàu trải trên bốn trăm năm pha trộn hẳn chỉ còn một chút xíu không đáng kể, mà người Việt nào chẳng mang trong huyết quản ít nhiều máu Ấn Độ hay Chi-na),(1) chống lại Trung Hoa – từ người cho đến tư tưởng – để rốt cuộc cùng gia quyến lê cuộc đời tàn ở nước Tàu và gởi xương cho đất Hán với cả niềm uất hận tưởng chưa nguôi.
         Khi vua Minh Tông chọn hai người cô của Quí Ly làm vợ, vô tình vua đã gián tiếp “chọn” người để kế tiếp nhà Trần. Vì sau, một người là mẹ vua Nghệ Tông, một người lại là mẹ vua Duệ Tông, và nhờ cái dây máu mủ bên ngoại ấy mà Quí Ly mới được tin dùng và đến gần chiếc ngai vàng để mà…
        “Thoán đoạt”!
         Con cháu nhà Trần, bầy tôi nhà Trần, hầu hết dân chúng lúc đó đều buông hai tiếng khinh thị này. Cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, nhà viết sử Trần Trọng Kim(2) cũng không nói gì khác:

         “Lê Quí Ly mưu sự thoán đoạt (…) Từ đấy Quí Ly cứ chuyên làm mọi việc để chực đường thoán đoạt”.

         Nói gì giữa hai chặng này, các sử gia ta, hoặc đã mù quáng theo quan niệm chép sử của người Tàu, hoặc đã sợ sệt trước uy quyền dòng vua họ phụng thờ, mà đẩy nhà Hồ qua hàng ngũ “ngụy triều”, cũng như sử gia triều Nguyễn đối với nhà Tây Sơn. Họ quên mất rằng nhà Tiền Lê, nhà Hậu Lý, nhà Trần – mà họ gọi là những “triều chính thống” – đã được sáng lập bằng những cái gì mờ ám, cong queo, nếu không là tàn bạo!
         Nên chi lời lẽ để bênh vực việc “lên ngôi” của họ Hồ như của Quách Vũ sau đây,(3) ta có thể cho là hi hữu.

        “Hồ Quí Ly có phải là gian hùng chăng? Nếu ta bận lòng với thuyết chính thống, nếu ta nghĩ đến nhà Trần thì tất nhiên Hồ Quí Ly là một kẻ soán nghịch. Và nếu kể ra những dòng vua giựt quyền những dòng vua khác thì nước ta không thiếu gì.
        “Ta không thể nhất định rằng: đoạt ngôi là bậy. Phải nghĩ rằng cao hơn vua còn có nước, phải xét từng người và từng hành vi.
        “Cải cách là điều tối cần cho đất nước, cái ngai vàng là bước đầu chắc chắn, thì chiếm đoạt đi!”


         Tự nhiên là những lời, những lẽ trên đây đã gây liền phản ứng. Dương Minh “Lại xét về Hồ Quí Ly”,(4) và người tráng niên Tây học này lại còn gắt gao hơn cả những cụ đồ xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Ta hãy nghe một đoạn của bản án:

        Khi hắn giết một lúc 370 người nghĩa sĩ, trong đó có Trần Nguyên Hãng và Trần Khát Chân, để xẻ một đường máu mà bước tới ngai vàng, hắn có biết đâu rằng là đã giết cái tinh hoa anh kiệt của nước, và số phận hắn – và hỡi ơi! số phận quốc gia nữa – đã định đoạt ngay từ hôm đó. Cho nên lo toan xếp đặt mà làm gì! Bao cải cách như xe cát dã tràng mà thôi! Một đứa gian giảo đội tên là Trần Thiêm Bình tố cáo với nhà Minh, một toán quân ngoại quốc tràn vào, mấy dòng chữ khắc vào mảnh ván thả xuống sông mà Trương Phụ kể tội họ Hồ, có bấy nhiêu đủ làm cho một cơ đồ tan nát. Vì lòng người có ai phục đâu kẻ thoán nghịch! Đối với con mắt khách quan của hậu thế, thì Trần Thiêm Bình với Hồ Quí Ly, hai người có hơn gì nhau về phương diện tham lam. Cả hai cùng mưu sự vinh lợi cho mình thôi.
        “Sử ta thiếu gì kẻ tham lam như Thiêm Bình và Quí Ly đã gây cho quốc gia bao nhiêu tai vạ, hoặc là ngoại xâm, hoặc là nội loạn”.


         Cũng buộc tội gắt gao họ Hồ, còn có Chu Thiên, nhưng đứng về một mặt khác:

        “Quí Ly chỉ là nhà cải cách chính trị thôi, một nhà cải cách thiếu lương tâm và không tròn phận sự.
        “Thiếu lương tâm nhà nghề, Quí Ly đã không thi hành liên tiếp chính sách cải cách cần thiết trong khoảng bảy, tám năm đầu (Quang Thái triều Thuận Tông) là lúc Quí Ly thừa quyền thế, rộng thời giờ và là lúc mọi người mong mỏi nhất.
        “Không tròn phận sự, Quí Ly chỉ mải mưu tư lợi, không làm việc cải cách nhanh chóng, để phụ lòng tin cậy và kỳ vọng của vua Nghệ Tông cùng tất cả các bậc thức giả tán thành công cuộc của mình”.
(5)

         Trong đời Dân tộc, có đôi người, có vài việc, mà ta thấy cần – có khi lại thấy có bổn phận – xét đi xét lại ít nhất là… “hơn một lần”.
         Hồ Quí Ly thuộc vào số đôi người đó.
         Sự thất bại của Hồ Quí Ly thuộc vào số vài việc đó.


⎎⎎⎎

         Chắc rằng nay, trên mười năm qua, nhất là sau cuộc giành độc lập gay go mà một kết quả là con sông Bến Hải lặp lại cái hờn tủi và não lòng của “Ôi! sông Gianh…”, những nhà văn, nhà báo nói trên nếu có thể hoặc có dịp phê phán lại người họ Hồ và việc của Quí Ly, hẳn là chúng ta được đọc những lý, những lời, những ý rất có thể chẳng giống trước kia, mà biết chừng đâu, trái nghịch nữa.
         Từ Nguyễn Trãi (năm 1427), thay mặt Bình Định Vương Lê Lợi (mà ta có thể nói rằng thay mặt cho toàn dân lúc bấy giờ) tung khắp nước những lời:

                “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
                  Trí sử nhân tâm cho oán bạn”.

                  (Gần đây vì họ Hồ phép ngặt, lệnh phiền
                  Đến nỗi khiến dân nước lòng lìa, dạ oán
).(6)

         Đến Lê Văn Hòe (năm 1941) hỏi: “Hồ Quí Ly có công hay có tội?” rồi lần lượt xét các công cuộc kinh tế, chính trị, văn học của họ Hồ, đã trả lời người công thần bậc nhất của Lê Thái Tổ trong việc giải phóng nước non nhà:

        “Rút lại, chính trị nhà Hồ chẳng có gì là phiền hà như lời Nguyễn Trãi đã kết án.
        “Chính sự ấy chỉ là chính sự một ông vua có óc cải cách văn minh mong làm dân giàu nước mạnh”.
(7)

         Có cả một trời xa cách.
         Và tác giả “Quốc sử đính ngoa” lại còn đi xa hơn nữa trong những câu kết luận:

        “Nghĩa là không phải họ Hồ làm mất nước, mà chính là quốc dân thời bấy giờ không biết có nước đã làm mất nước.
        “Kết tội Hồ Quí Ly (một ông vua có cách tổ chức theo lối Âu-Mỹ) thì thật là oan uổng và bất công.
        “Hãy kết tội những kẻ đã cầu viện nhà Minh sang đánh họ Hồ, cùng đám dân ngu tưởng rằng hàng phục quân Minh lúc ấy, là trung quân ái quốc lắm”.
(7)

         Nhưng mười năm sau, năm 1952, chính tác giả những dòng trên lại hỏi: “Vì lẽ gì họ Hồ thua giặc Minh và thua mau như vậy?” sau khi chứng minh rằng nước ta dưới thời Hồ Quí Ly, công cuộc quốc phòng được tổ chức mạnh mẽ và chu đáo hơn bao giờ hết. Và ông tìm ra hai cớ chánh:
         1.– Hồ Quí Ly vô chính trị.
         2.– Họ Hồ, quan niệm lầm về việc dùng binh, hay vụng dùng binh.
         Lý luận và đưa những bằng cớ xong, ông kết luận:

        “Tóm lại, họ Hồ bị thua giặc Minh một cách mau lẹ là vì họ Hồ vô chính trị đối với nhân dân lúc bình thời, và không biết dùng binh sát với tình thế và hoàn cảnh đất nước.
        “Nói cách khác, họ Hồ đã khờ khạo không biết rút những kinh nghiệm kháng địch đời Trần để đem áp dụng đối với giặc Minh.
        “Và chính bởi thế mà họ Hồ thất bại, chớ họ Hồ không thất bại vì đã cướp ngôi nhà Trần, như ý ông Trần Trọng Kim muốn nói trong Việt Nam sử lược”.


⎎⎎⎎

         1941, kịch liệt biện hộ cho Quí Ly.
         1952, kịch liệt kết án họ Hồ.
         Một nước nào đó bên kia dãy Ourala có câu tục ngữ: “Không khi nào có hai mà chẳng có ba”. Sau hiệp định lịch sử Genève, học giả Lê Văn Hòe chọn “không tự do”, ở lại Hà Nội, chúng ta mong có ngày được biết ý kiến – lần thứ ba – của người chủ trương “Quốc học thư xã” đối với họ Hồ. Hẳn là chúng ta sẽ được nghe những luận điệu, những lý lẽ nếu không mới lạ thì cũng khác hai lần trước, nghĩa là có ích cho chúng ta, chẳng ít thì nhiều: thêm một tiếng chuông, tiếng thứ ba, về một người Việt phi thường, đã gởi lại lịch sử một gương thất bại quá đau thương.
         Ta sẽ xét sự thất bại ấy sau. Giờ, ta thử kết luận về người.
         Con người ấy, dù mạt sát, dù buộc tội, hay biện hộ, hay tiếc khen, ai ai cũng gặp nhau ở điểm: đó là một người xuất chúng, lắm tài ba, đa sáng kiến, không chịu mòn mỏi trong khuôn khổ cũ, có tinh thần độc lập, và đặc biệt nhất, là óc độc lập về tư tưởng.(8)
         Con người ấy là một kết tinh của dân tộc: vài trăm năm nay mới có một người.
         Và hơn năm trăm năm cách biệt trong thời gian, ngoảnh lại, ta chẳng khỏi ngậm ngùi cho con người “quá tham lam” ấy.
         Quá tham lam, nhưng chẳng phải vì mải mưu lợi riêng cho mình hay cho dòng họ mình, mải muốn thân đã vinh càng vinh thêm, nhà đã phì càng phì nữa.
         Quá tham lam, nhưng chẳng phải tham lam những cái gì cân được, chất được, đếm được, giấu được, gởi được, rờ mó được, như vàng ròng, bạc nén, ngọc ngà, má phấn, lầu son… để rồi, ngai vàng chiếm được, là họ bo bo ôm lấy nó sợ người khác giựt giành mà chẳng tiếp tục bao cải cách rất cần mà những kẻ thức thời trông đợi.
         Ngàn lần không. Xin đừng gán cho con người ấy những thèm muốn, khát khao sà sà mặt đất ấy.
         Quá tham lam, là quá tham lam một giấc mơ to. Giấc mơ nọ đã to, to quá, và đẹp, đẹp ghê, to đẹp đến đỗi nó làm cho kẻ mơ bị nó ám ảnh, bị nó quyến dũ, bị nó thu hút thành “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”, rồi thành kẻ có mắt sáng đi trong đêm dày, thành kẻ mù mà chẳng biết, cho đến khi “khối mơ” vĩ đại kia trở lại đè bẹp mình; tấm thân đành nát, mà đau xót biết bao, bao công phu bồi đắp, bao nền móng dựng xây, đều chịu nát tan theo tro bụi. Để… để lưu lại những phiền hà, những gian hùng, những quyền gian, những nghịch tặc, và còn gì nữa? À, còn cái tội làm mất nước, cái tội làm dân khổ nhục trong hai mươi năm Minh thuộc, cái tội đem cái họa đốt chở sách, kho vốn quí báu vô song của giống dòng, đám rễ cứng sâu của dân tộc.
         Giấc mộng chẳng phải là ảo mộng: nòi Việt giơ cao ngọn cờ tươi sáng ấm, báo hiệu một nguồn văn minh mới đẹp ở bờ biển lớn Thái Bình, và… và sự thật phũ phàng: như vậy đó.
         Mà vì đâu nên nỗi? Để công trình hai mươi năm âm mưu, toan tính, sắp đặt, đối phó, diệt thù, rồi bảy năm toàn quyền thi hành sáng kiến tài tình, cải cách táo bạo, phải sụp nhào như lâu đài xây trên cát, và chỉ trong vòng một năm thôi?
         Cớ chánh là: “sai một li, đi một dặm”.
         Cái sai ấy, là họ Hồ quá say sưa với sự thực hành những mộng lớn mộng con của mình – toàn là mộng đẹp cả – mà quên lửng dân đi mất: dân có phục, có tin mình chăng? Dân có hiểu việc làm mình không? Dân có vui lòng làm theo mình muốn chớ? Dân có đủ sức chịu đựng những cái rắc rối, phiền hà, mới lạ, thiệt thòi trong lúc ban đầu chăng?
         Bao câu hỏi thiết thực mà người có óc thực tiễn như họ Hồ lại quên đi mất. Thì nước mất, nhà tan, công toi, tiếng xấu… tên tù binh họ Hồ trên sáu mươi tuổi ấy mới “trả” cái sai một li của mình một cách vô cùng đắt đỏ: sự hống hách mất dạy của kẻ thù tham bạo, ngay trước mặt, và tiếng rên rỉ nghẹn ngào theo đường chim… theo cánh gió bay đến tai người chiến bại. Tưởng và quyết lái con thuyền quốc gia đến một bến Vinh quang huy hoàng chưa từng thấy, mà lại vì một giây sơ sót, vì chẳng thấy sự sợ hãi, rối loạn của đám thủy hành xa bờ và ra khơi lần thứ nhất, thuyền vỡ tan tành, cả những người trên đó chìm trong nháy mắt giữa ba đào, người thuyền trưởng nọ trọn kiếp sống thừa trên đất khách, biết bao giờ mới vơi uất hận cộng cùng hối hận.
         Tim một Lê Chiêu Thống, tim một Napoléon còn trơ, rắn lại. Mà nỗi uất hờn của hai vì vua bị an trí, bị tủi nhục này có nghĩa gì sánh với nỗi uất hờn của một “con người” bị tù đày, với cái đầu bạc bảy mươi mốt tuổi, với tấm lòng già mà hối hận chẳng buông tha.
         Có ai tìm lại giùm ta coi tim Quí Ly đã thành sắt hay đá?
         Có ai đem tài và tình mình để cho dân Việt có một khúc trường hận ca, khúc ca trường hận của người thất bại vĩ đại họ Hồ?


Tân Phong Hiệb, ngày Chiến sĩ trận vong
Năm Đinh Dậu (1957)

NGUIỄN NGU Í

______________________________________
(1) Chúng tôi theo thuyết Aurousseau.
(2) Trong “Việt Nam sử lược”.
(3) Trong bài… “Một người Việt phi thường: Hồ Quí Ly ”, đăng ở tuần báo “Thanh Niên” năm 1944, các số 24, 25, 26, 27.
(4) Tuần báo “Thanh Niên”, năm 1944, số 28.
(5) Trong cuốn “Chính trị Hồ Quí Ly”, 1944.
(6) Trích trong “Bình Ngô đại cáo”, Mạc Bảo Thần dịch.
(7) “Quốc sử đính ngoa”.
(8) Chúng tôi xin nói kỹ trong đoạn “Những việc làm của con người ấy trong thời thế ấy” đăng trong số tới.

BÁCH KHOA |  SỐ 21

3
"Cutting Edge"
(Students' Book)
Gồm 2 cuốn (Starter & Elementary)
Biên soạn: Sarah Cunningham & Peter Moor
NXB Longman (London-Anh) 2012
Khổ lớn 21x29cm.
Mỗi cuốn dầy 128 trang, in màu trên giấy trắng láng, đều còn đầy đủ sạch sẽ.
Đặc biệt, có đính kèm theo tập sách nhỏ để tra cứu từ vựng.
Tổng giá bìa: 292.000 VNĐ
Giá bán cả cặp:  60.000 VNĐ










4
"Open Water- Diver Manual"
(Tài liệu hướng dẫn Thợ Lặn- Bản tiếng Anh)
Biên soạn: Nhiều vị
NXB PADI (CA-USA) 2010
Khổ 20x23cm.
Dầy 260 trang, còn sạch đẹp.
Giá: 30.000 VNĐ





5
Chợ sách Nha Trang / Re: Tam Kỳ Tứ Xứ Văn Chương Thuần Việt (Mới)
« Bài mới gửi bởi vinh bo cap vào Hôm nay lúc 20:03:43 »
"Cung đường vàng nắng"
Tác giả: Dương Thụy
NXB Trẻ 2012
Bìa tay gấp.
Dầy  304 trang. Mới tinh toanh.
Giá bìa: 80.000 VNĐ
Giá bán: 25.000 VNĐ



6
"The Story of Phra Abhai Mani" (Bản tiếng Anh) - Tác giả: Sunthorn Phu- Chuyển ngữ: Prem Chaya- Tác giả giữ bản quyền 1986 -Dầy 124 trang, nhiều minh họa đẹp, còn đầy đủ sạch sẽ.
HỦY GẠCH, BÁN LẠI!
Giá: 20.000 VNĐ 


7
BÁCH KHOA |  SỐ 21  [15 tháng Mười Một  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu |  1-4
Bách-Khoa |  Cách làm cho người ta kính trọng mình |  4
P. N. T. |  Một ý kiến để cho binh sĩ thêm gan dạ tại mặt trận |  5-9
Vương Hòa Đức |  Quỹ tiền tệ quốc tế |  10-14
Bách-Khoa |  Thần đồng Lý Bí |  14
Nguyễn Văn Mầu |  Quyết nghị Lập pháp và Quyết nghị Hành chánh |  15-24
Nguiễn Ngu Í |  Hồ Quí Ly, một gương thất bại |  25-30
Bách-Khoa |  Thân bất thất thân |  30
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học |  31-39
Bách-Khoa |  Đức khiêm nhượng và tính kiêu ngạo |  39
Cô Liêu |  Dân tộc tính văn nghệ [II] |  40-45
Bách-Khoa |  Tam tự ngục |  45
Nguyễn Hiến Lê (dịch) |  Đại tướng Montgomery \ Dale Carnegie |  46-48
Mai Lâm |  Nắng mai (thơ) |  49
Quảng cáo |  50-51
Nguyễn Phúc |  Thoát [II] (truyện) |  52-59
Bách-Khoa |  Một lời nói có thể dựng được nước hay làm mất nước không? |  59
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [IV] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  60-71
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 19 và 20 |  71
Quảng cáo |  62, 64, 66, 68, 70, 72-80


SAIGON |  1957




8
"Những người bạn thân thiết của tôi"
Nhiều tác giả
Dịch: Ngô Bá.
NXB Trẻ 2002
Dầy 220 trang, đầy đủ lành lặn.

Giá: 15.000 VNĐ




9
"Cuộc tháo chạy tán loạn"
Tác giả: Frank Snepp
Dịch: Thành Tín
NXB TH Phú Khánh 1985
Mất bìa trước- Gáy dán băng keo màu.
Dầy 390  trang, còn đầy đủ lành lặn.
Giá: 10.000 VNĐ 

10
Cần mua / Re: Cần tìm Văn minh vật chất của người Việt Nam (bìa trắng)
« Bài mới gửi bởi destinical vào Hôm nay lúc 19:32:33 »
Vẫn đang tìm!
Trang: [1] 2 3 ... 10