Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
"Jane Eyre"
Tác giả: Charlotte Bronte
(Bản tiếng Anh)
Oxford University Press 1963
Dầy 96 trang, còn đầy đủ lành lặn.
Giá: 25.000 VNĐ



2
"A Direct Method English Course"
(Cuốn Hai & Cuốn Ba)
(Bài Dịch & Bài Giải)
Soạn dịch: Gs. Nguyễn Văn Tạo
NXB Tuấn Tú 1966
Dầy 142+164 trang, còn đầy đủ lành lặn.
Giá cặp: 65.000 VNĐ



3
"A Direct Method English Course"
(Book Four)
NXB Longmans (Anh) 1965
Dầy 172 trang, giấy ngà láng, đầy đủ lành lặn.
Giá: 25.000 VNĐ


4
xin lay them: "Anh Ngữ Thực Dụng" (Cấp I)
do GS. Lê Bá Kông biên soạn để dùng song song với bộ "English for Today"
NXB Ziên Hồng 1973
Dầy 176 trang, còn đầy đủ lành lặn.
Giá: 30.000 VNĐ
"Anh Mỹ Ngữ Học Đối Thoại"
(Anh Ngữ  Đối thoại Lớp Cao- Lớp V)
Biên soạn: Edwin T. Cornelius, Jr.
Vietnamese & American Center (SaiGon) 1955
Dầy 150 trang, in trên giấy ngà láng, còn đầy đủ lành lặn.
Giá: 25.000 VNĐ   
5
"Anh Mỹ Ngữ Học Đối Thoại"
(Anh Ngữ  Đối thoại Lớp Cao- Lớp V)
Biên soạn: Edwin T. Cornelius, Jr.
Vietnamese & American Center (SaiGon) 1955
Dầy 150 trang, in trên giấy ngà láng, còn đầy đủ lành lặn.
Giá: 25.000 VNĐ   



6
Báo, tạp chí văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 / Re: Tạp chí Đại Học
« Bài mới gửi bởi nduytai vào Hôm nay lúc 09:39:20 »
TRIẾT HỌC NHƯ MỘT KHOA HỌC ĐÍCH XÁC

Lời dịch giả.–
            Từ cuối thế kỷ XVII và nhất là trong hai thế kỷ XVIII và XIX, khoa học thực nghiệm đã tiến những bước dài và chắc chắn, thành thử dần dần người ta có ý nghĩ rằng chỉ khoa học thực nghiệm là khoa học đích thực mà thôi, và để trở thành khoa học, tất cả các khoa khác đều phải đi vào con đường của khoa học thực nghiệm. Cho nên triết học và tâm lý học cũng phải dùng phương pháp thực nghiệm thì mới trông có ngày bước lên đài danh dự của khoa học thực sự. A. Comte đã đi vào nẻo đó khi ông khai sinh cho cái gọi là “triết học thực nghiệm” (philosophie positive). Và một số đông các tâm lý gia, như Wundt, Weber, Fechner, v.v… cũng đã quyết tâm dùng phương pháp của khoa học thực nghiệm để làm cho tâm lý học trở thành một khoa học đích thực. Người ta đã muốn nghiên cứu tâm linh con người như kiểu nhà vật lý nghiên cứu một quặng than: nói thế, vì khoa tâm lý tự xưng là tâm lý thực nghiệm đã nhất định mang phương pháp thực nghiệm áp dụng vào tâm lý học.
            Husserl tố cáo lập trường đó. Ông gọi nó là lập trường duy nhiên (naturalisme). Theo ông, tâm linh con người không phải là một vật thể, và những sinh hoạt của tâm thức không có quy chế của những hiện tượng vật lý. Thuyết Duy nhiên chính là thuyết muốn đồng hóa tâm thức và vật thể. Còn Husserl lại nhất quyết chủ trương sự khác biệt căn bản giữa hai loại hiện tượng tâm lý và vật lý: đã thế, không thể dùng phương pháp của khoa học vật lý để nghiên cứu về tâm lý được. Quặng than, cục sắt, hòn đá là những cái có một bản tính: và bản chất của một bản tính là nó để cho ta có thể tùy ý thí nghiệm nó nhiều lần, vì bao giờ nó cũng có đủ những đặc tính như thế mãi. Trái lại, thực tại của tâm linh (mà Husserl thường gọi tắt là cái tâm-thể) không chút chi giống như bản tính của một vật thể hết: cái tâm thể xuất hiện rồi tan biến, chớ không “nắm mãi trong hiện hữu” như vật thể. Vì thế, đối với những hiện tượng tâm lý thì “hiện hữu và xuất hiện cũng là một” nghĩa là chỉ hiện hữu trong giây phút xuất hiện mà thôi. Sự xuất hiện này chính là bản chất của những hiện tượng tâm lý. Để nói lên sự khác biệt đó, Husserl viết: “Các hiện tượng tâm lý không có một bản tính nào hết, nhưng chúng có một bản chất”. Sau này, khi trình bày thêm về bản chất của những hiện tượng tâm lý, Husserl sẽ cho biết những hiện tượng này chẳng qua chỉ là những hình thái luôn luôn biến thể của tâm thức: do đấy Tâm lý học sẽ được gọi là khoa học về kinh nghiệm bản chất, hoặc cũng gọi là “trực quan những bản chất” (vision des essences). Tóm lại, bản chất của hiện tượng tâm lý không phải là một bản tính vật thể nhưng chỉ là hình thái của tâm thức khi tâm thức là tương đồng thể (le corrélat) của sự vật mà nó ý thức (nòeme).
            Nếu theo phương pháp thực nghiệm để xây dựng tâm lý học là làm một điều phi lý, thì chúng ta phải theo phương pháp Hiện-tượng-học. Và đây là dịp cho Husserl nêu cao vai trò của Hiện-tượng-học: ông coi đó như khoa học đích xác (science rigoureuse). Vậy các khoa học thực nghiệm chưa đích xác ư? Husserl quả quyết rằng chưa: các khoa học thực nghiệm đều xây trên kinh nghiệm, và đều coi kinh nghiệm nguyên khởi của mọi tri thức. Nhưng, theo Husserl, đó còn là ngây thơ. Ngây thơ vì chưa tìm hiểu chính kinh nghiệm, chưa nghiên cứu xem tại sao chúng ta có ý niệm khác hẳn Newton về cơ cấu vũ trụ, cũng như Newton đã có ý niệm khác hẳn Aristote? Như thế nghĩa là khi ta tri giác, ta không thu nhận hình ảnh của một vũ trụ đã có hình thể như thế, nhưng hình thể đó là chính kết quả do sự gặp gỡ giữa tâm thức ta và vũ trụ vật lý. Trong ý đó, các nhà hiện-tượng-học chủ trương rằng vũ trụ là cái tôi tri giác (le monde est ce que je perçoi): đó là vũ trụ duy nhất mà tôi biết và tôi nói tới. Như vậy hiện tượng vũ trụ không có trước tri giác tôi, không có trước kinh nghiệm của tôi về vũ trụ: vũ trụ là hiện tượng phát sinh do sự gặp gỡ giữa tâm thức và tôi và cái vũ trụ vật lý (vũ trụ này được Merleau-Ponty gán cho cái tên là tiền-vũ-trụ, prémonde), nghĩa là chưa là vũ trụ mà tôi biết và nói tới.
            Như vậy hiện-tượng-học là khoa học về những hiện tượng kiểu đó, tức những hiện tượng tâm lý. Tuy nhiên chúng ta đừng vội tưởng Husserl dừng lại khoa Tâm lý. Husserl chống lại tất cả mọi hình thức của thuyết Duy-tâm-lý (Psychologisme). Khoa học mà Husserl gọi là khoa học đích xác đây là: Hiện-tượng-học. Hiện-tượng-học là khoa học về các bản chất: áp dụng vào những ngành nghiên cứu khác nhau, chúng ta sẽ có “khoa học về hiện tượng tâm lý” (Tâm lý học), rồi “khoa học về hiện tượng xã hội” (Xã hội học) v.v… Tóm lại, Hiện-tượng-học giúp ta nhận ra bản chất của những loại hiện tượng mà ta tìm hiểu, và nhận ra chúng đúng như chúng xuất hiện nơi ý thức ta. Tuy nhiên, như lời Husserl mà chúng ta đọc trong bản dịch này, “Hiện-tượng-học là khoa học vĩ đại, đặt nền cho một khoa tâm lý học hoàn toàn có tính cách khoa học, đồng thời cũng là môi trường cho một khoa phê bình lý trí đích thực”, cho nên tương quan giữa Tâm lý học và Hiện-tượng-học rất chặt chẽ.
            “Triết học như một khoa học đích xác” là một tiểu luận của Husserl in trong bộ Logos I năm 1911. Về số trang, nó không đáng bao nhiêu nhưng nó giữ một địa vị quan trọng trong quá trình của tư tưởng Husserl, vì nó đánh dấu khúc quặt của ông tiến về phía hiện-tượng-học cụ thể. Đàng khác, nó gọn ghẽ và rõ ràng, nên đã được coi như cửa mở vào những sách vở rất khó đọc của Husserl. Khó đọc, vì chuyên môn quá. Vì là một bài in trong bộ Logos, cho nên rất khó tìm ra nguyên văn tiếng Đức; chúng tôi đã tìm hỏi nơi các giáo sư người Đức, và những giáo sư Việt chuyên về triết học Đức ở Việt Nam, nhưng không ai có bản tiếng Đức, cho nên vì sự khẩn cấp muốn cống hiến bạn đọc một tài liệu căn bản về Hiện-tượng-học, chúng tôi mạo muội đưa ra bản dịch tạm này. Hy vọng một ngày gần đây chúng tôi sẽ có nguyên văn tiếng Đức, khi đó sẽ có thể cùng với giáo sư Trần Văn Toàn cống hiến một bản dịch giá trị hơn.
            Bài “Triết học như một khoa học đích xác” có hai phần: phần I phê bình thuyết Duy nhiên (Naturaslisme), phần II phê bình thuyết Duy sử (Historicisme). Đây chúng tôi chỉ địch phần I, có liên hệ đến khoa tâm lý thôi. Và trong phần I nầy, chúng tôi cũng bỏ qua vài tiết nhỏ, có tính chất bút chiến, không cần cho việc hiểu luận đề của Husserl.

* * *

I.– HUSSERL VẠCH TRẦN TÍNH CHẤT NGÂY THƠ CỦA KHOA HỌC THỰC NGHIỆM(1)
            Dĩ nhiên đây tôi không nhắm phê bình những cảm nghĩ có thể gọi được là bình dân của những nhà bác học, khi các ông này nói truyện triết học. Chúng tôi chỉ chú ý đến cái “triết học thông thái” đang trình diện với chúng ta dưới bộ mặt khoa học đích thực: tôi có ý nói đến cái phương pháp và cái bộ môn nhờ đó mà triết thuyết kia tưởng mình đã thực sự đạt tới hàng khoa học xác thực (science exacte). Triết thuyết đó tin chắc như thế, và nó khinh tất cả các cách triết lý khác. Theo nhóm đó, tất cả các cách triết lý khác đều phải quy về cách của họ là cách xác thực và có tính chất khoa học, cũng như khoa triết học về thiên nhiên đầy mơ hồ của thời Phục Hưng đã phải quy về khoa Cơ học xác thực của Galilei đang thời tươi tốt của khoa này; và cũng như thuật luyện kim (alchimie) phải quy về khoa Hóa học xác thực của Lavoisier.
            Khi chúng ta hỏi cái khoa triết học xác thực được đặt ngang hàng với khoa Cơ học xác thực đó là khoa triết học nào, thì người ta trỏ cho chúng ta khoa Tâm-lý-học tâm-vật-học (Psychologie psycho-physique) cũng gọi là Tâm-lý-học thực nghiệm, một khoa mà không ai chối cãi được là đã đạt tới hàng khoa học xác thực. Người ta nói rằng đó là khoa Tâm lý học có tính chất khoa học đích thực mà nhân loại tìm kiếm đã lâu, và ngày nay đã trở thành sự thực. Nhờ khoa Tâm lý học đó, các khoa Luận lý học, Tri thức học, Thẩm mỹ học, Đạo đức học và khoa sư phạm đã có nền tảng khoa học của chúng, và nhờ đó chúng đang thực sự trở thành những bộ môn thực nghiệm. Người ta còn nói thêm rằng khoa Tâm lý học đích xác kia tất nhiên phải được coi là nền tảng của tất cả các khoa học về tinh thần và của khoa Siêu hình học nữa. Riêng về khoa Siêu hình học, người ta nhận rằng khoa Tâm lý học không phải là nền tảng duy nhất, bởi vì khoa Vật lý học cũng chung phần trong việc đặt nền cho cái khoa học về thực tại phổ quát đó.
            Đáp lại tất cả những điều trên đây, chúng tôi chỉ xin đối lại rằng: trước hết phải nhận thức rằng: khoa Tâm lý nói chung là một khoa học về sự kiện, cho nên nó không có thể đặt nền cho những bộ môn triết học có nhiệm vụ nghiên cứu về những nguyên lý thuần túy (chi phối các khoa khác), chẳng hạn khoa luận lý học thuần túy, khoa giá trị học thuần túy, v.v… Chúng ta không cần phải đưa ra nhiều chi tiết hơn nữa, sợ rằng chúng sẽ đưa chúng ta tới những phản nghĩa hoài nghi mà chúng ta đã bàn luận rồi. Chỉ nói riêng về khoa Tri thức học mà chúng tôi muốn biệt ra khỏi khoa luận lý học thuần túy (chúng tôi muốn coi khoa đó như một Mathuesis Universalis, toán học phổ quát): chúng ta có thể đưa ra nhiều điều chống lại cái chủ trương muốn xây khoa tri thức học trên nền tảng thuyết Duy tâm lý (Psychologisme) và thuyết Duy vật lý (physicisme). Đây xin trình bày vài nét:
            Xét theo phương diện khởi điểm của chúng, tất cả các khoa học về thiên nhiên đều ngây thơ. Thiên nhiên mà chúng muốn nghiên cứu vẫn có kia (est là), thế thôi. Tất nhiên các sự vật đấy: những sự vật tĩnh, động, chuyển dịch trong không gian vô hạn, và những sự vật có bản chất thời gian trong thời gian vô hạn. Chúng ta tri giác chúng, mô tả chúng bằng những phán đoán đơn sơ phát sinh do kinh nghiệm. Khoa học về thiên nhiên có chủ đích nhận xét những dữ kiện hiển nhiên đó một cách có giá trị khách quan và đích thực khoa học. Cũng phải nói như thế về chữ thiên nhiên theo nghĩa rộng nhất, nghĩa tâm sinh lý, và các khoa học nghiên cứu thiên nhiên theo nghĩa đó, như khoa tâm lý học. Lãnh vực tâm linh không phải là một vũ trụ tự quy (pour soi); nó là một dữ kiện cũng như bản ngã (le moi) và như kinh nghiệm sâu xa mà ta có về Bản ngã (theo một nghĩa khác lắm), và như vậy lãnh vực tâm linh tỏ ra chịu quyền cái luật kinh nghiệm, nghĩa là có liên đới với các sự vật vật lý mà ta gọi là vật thể (corps). Đó là một dữ kiện thường nghiệm hiển nhiên. Như vậy nhiệm vụ của khoa Tâm lý học là nghiên cứu cái tâm-thể (ce psychique) đó trong toàn bộ tâm vật lý của thiên nhiên một cách khoa học, vì cái tâm thể tất nhiên nằm trong toàn bộ đó, rồi xác định nó một cách có giá trị khách quan, và tìm ra những định luật của sự thành hình và biến thể của nó, những định luật của sự xuất hiện và biến mất của nó. Tất cả mọi xác định tâm lý học đều tất nhiên có tính chất tâm vật lý, theo cái nghĩa rộng nhất của chữ tâm vật lý (mà chúng ta chấp nhận tự đây), nghĩa là bao giờ nó cũng có một ý nghĩa vật lý đi theo nó. Cả khi khoa Tâm lý học – Tâm lý học thực nghiệm – chỉ chú trọng xác định những biến cố thuần túy của ý thức và không quan tâm chi đến những tương quan tâm vật lý theo nghĩa thông thường và nghĩa chặt, thì những biến cố kia cũng vẫn được quan niệm như thuộc về những tâm thức người hay tâm thức súc vật, và người ta thấy một cách hiển nhiên rằng những tâm thức đó gắn liền với những thân xác con người hay thân xác con vật. Bỏ mất sự lệ thuộc vào thiên nhiên đó, tức là làm cho cái tâm thể mất hẳn tính chất của nó là sự kiện thiên nhiên có thể xác định cách khách quan và trong thời gian, tức là bỏ mất tính chất sự kiện tâm lý của nó. Như vậy, nên nhớ rằng: tất cả các nhận định tâm lý đều mang trong mình nó sự nhận định có thiên nhiên, hoặc cách minh nhiên hoặc không.
            Bởi vậy cách lý luận sau đây thực là hiển hiện: nếu có những luận chứng chắc chắn để chứng minh rằng khoa học vật lý về thiên nhiên không thể là khoa triết học theo nghĩa đặc biệt của danh từ này, nó không bao giờ lại có thể định dùng làm nền tảng cho khoa triết học và chỉ có được một giá trị triết học để xây dựng khoa siêu hình học khi nó dựa vào một triết học khác đi trước nó – thì ta cũng phải áp dụng một luận chứng như thế cho khoa tâm lý học.
            Vậy mà những luận chứng như thế không thiếu.
            Chỉ cần nhắc lại tính chất “ngây thơ” của khoa học về thiên nhiên ta đã nói đến rồi, ngây thơ vì khoa học về thiên nhiên đã chấp nhận thiên nhiên như một dữ kiện. Có thể nói tính ngây thơ này không bao giờ trừ được nơi khoa học về thiên nhiên, vì nó được lặp lại ở mỗi chặng đường mới của hoạt động nó: nó chỉ nại đến kinh nghiệm mà thôi, và kết cục nó quy tất cả phương pháp của khoa học thực nghiệm về chính kinh nghiệm đó. Quả thực, khoa học về thiên nhiên cũng có tính chất phê bình theo cách của nó. Kinh nghiệm đơn giản của mỗi người, dầu là kinh nghiệm nhiều lần đi nữa, vẫn chỉ được khoa học đó coi là rất ít giá trị. Chính nhờ sự xếp đặt và đối chiếu các kinh nghiệm một cách có phương pháp, chính nhờ cái nhịp luân phiên đã ấn định một cách hợp lý và chặt chẽ giữa kinh nghiệm và suy tưởng, mà người ta phân biệt đâu là những kinh nghiệm có giá trị, và nhân đấy mỗi kinh nghiệm nhận được phần giá trị nhiều ít của nó và làm xuất hiện một tri thức (tức khoa học và thiên nhiên) có giá trị khách quan. Mặc dầu kiểu phê bình kinh nghiệm này có thể làm hài lòng chúng ta, theo chỗ chúng ta còn đứng trong khoa học thiên nhiên và chúng ta còn suy tưởng theo thái độ của khoa học đó, tuy nhiên còn có thể có và cần phải có một lối phê bình khác nữa đối với kinh nghiệm: tức là lối phê bình có nhiệm vụ đặt lại vấn đề cho toàn thể kinh nghiệm đồng thời đặt vấn đề cách suy tưởng của khoa học thực nghiệm.


VẤN ĐỀ KHOA HỌC VỀ TÂM THỂ
Tâm lý học và khoa học thực nghiệm
            Làm sao kinh nghiệm xét như một hành vi của ý thức lại có thể cho hoặc gặp thấy một đối tượng? Làm sao những kinh nghiệm lại có thể nhờ những kinh nghiệm khác để tự biện minh và tự sửa chữa lẫn nhau, chứ không chỉ tự nhận là vô giá trị một cách chủ quan? Và cái ý thức mà thể thức luận lý là luận lý về kinh nghiệm, cái ý thức đó phải làm thế nào dẫn đưa ra những mệnh đề có giá trị khách quan, có giá trị cho những sự vật tự tại và tư quy? Tại sao những luật lệ của bộ máy ý thức lại không phải là không thể áp dụng cho các sự vật? Làm sao khoa học về thiên nhiên lại phải trở nên hữu lý một cách tuyệt đối trong mọi trường hợp xét theo chỗ nó luôn luôn đặt ra và nhận thức một bản tính (thiên nhiên) tự tại, tự tại đối với dòng chủ thể của ý thức? Khi chúng ta thận trọng chú ý suy nghĩ, thì những câu hỏi trên đây đều trở thành những điều bí ẩn cho ta. Người ta biết rằng khoa học tri thức học là bộ môn có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi đó nhưng cho đến nay, mặc dầu bao công lao của những nhà bác học đại danh đã nỗ lực vào đó, khoa tri thức học vẫn chưa mang lại cho những câu hỏi kia một trả lời có tính chất khoa học rõ ràng, dứt khoát và đơn nghĩa.(2)
            Chỉ cần trung thành một cách đích xác và thủy chung với cách đặt vấn như thế (điều này, tất cả những khoa tri thức học trước đây thực ra đã không đạt được), cũng đủ nhận ra tính chất vô lý của tất cả những “tri thức học phát sinh do khoa học về thiên nhiên” và do Tâm lý học. Đành rằng một ít điều bí ẩn nói chung vẫn nằm sẵn trong khoa học về thiên nhiên, nhưng người ta phải nhận rằng sự giải quyết chúng theo những tiền đề và những kết luận là việc vượt quá tầm của khoa học về thiên nhiên. Người ta sẽ lẩn quẩn trong vòng vô lý, nếu người ta muốn nhờ chính khoa học về thiên nhiên giải quyết cái vấn đề có liên can đến khoa học đó xét như nó là khoa học về thiên nhiên, và đó là vấn đề gắn liền với nó từ khởi đầu cho đến tận cùng của nó. Và người ta cũng sa vào chỗ vô lý nếu người ta tưởng rằng khoa học đó có thể mang đến bất cứ câu tiền đề nào để giúp vào việc giải quyết vấn đề đó.
            Một điều hiển nhiên là: tất cả mọi giải quyết khoa học hay tiền khoa học (pré-scientifique) về thiên nhiên và những mệnh đề có bao hàm những quyết đoán về hiện hữu của các sự vật trong không gian, của thời gian, của nguyên nhân tính (causalité), v.v… đều phải gạt ra ngoài, khi ta xây dựng một khoa tri thức học có giá trị đơn nghĩa. Điều này phải áp dụng cho tất cả mọi thế hiện hữu của Dasein(3) người nghiên cứu, hay của những tài năng tâm lý của người ấy.
            Đàng khác, nếu khoa tri thức học muốn nghiên cứu những vấn đề về tương quan giữa ý thức và hữu thể, thì nó chỉ có trước mắt cái hữu thể xét như tương-đồng-thể (corrélat) của ý thức mà thôi, nghĩa là xét như một cái chi được ý thức nhắm theo một cách nào đó: như được tri giác; được nhắc lại, được mong chờ, được biểu tượng trong một hình ảnh, được tưởng tượng, được nhận là đúng, nhận là khác, được tin tưởng, được giả thiết, được đánh giá v.v… Như vậy, người ta thấy rằng sự nghiên cứu phải đạt tới một tri thức khoa học về bản chất của ý thức, nghĩa là cái mà ý thức , theo bản chất nó, trong tất cả các hình thái khác nhau của nó; đồng thời nghiên cứu về cái ý thức “nêu ý nghĩa” (signifier) cũng là những hình thái khác nhau của ý thức tương quan đến bản chất của những hình thái kia, nhờ đó mà ý thức nhắm vũ trụ khách quan, – bản chất rõ hay không rõ, đối diện (présentant) hay đối diện hóa (présentifier), nêu ý nghĩa hay là mang hình ảnh, trực tiếp hay nhờ trung gian của suy tưởng, trong hình thức này hay hình thức khác của chú ý, như vậy là trong một lượng số vô cùng những hình thái khác nữa, – và trong những hình thái đó, ý thức chứng minh rằng có vũ trụ khách quan xét như là một cái gì có giá trị, thực tại…
            Chính ý thức phải làm cho ta thấy hiển nhiên rằng có khách thể tính (khách thể tính có thực) và khách thể tính hiện lộ một cách để ta dễ nhận thấy nó có và có như thế. Muốn thế, cần phải nghiên cứu về toàn thể ý thức, bởi vì nhờ những hình thái khác nhau của nó, mà có chân trong tất cả các chức vụ của tri thức. Nhưng, xét như mỗi hành vi ý thức đều là ý thức về, sự nghiên cứu về bản chất của ý thức phải bao hàm sự nghiên cứu về ý-thức-hàm-nghĩa(4) và ý-thức khách-thể-tính(5) trong bản chất của chúng (comme telles). Nghiên cứu bất cứ loại khách thể tính nào theo bản chất phổ quát của nó (một nghiên cứu có thể theo đuổi những mục đích ngoài lề khoa tri thức học và khoa học về ý thức) có nghĩa là chú ý đến những hình thái của nó xét như nó là một hữu thể dữ kiện và tát cạn cái nội dung của bản chất nó theo những phương sách thích hợp để khai minh. Mặc dầu ở đây thái độ chưa phải là thái độ nghiên cứu những hình thái của ý thức và nghiên cứu bản chất của những hình thái ấy, nhưng phương pháp khai minh đòi rằng ngay cả trong trường hợp này, chúng ta cần phải suy nghĩ về những hình thái của hữu thể bị nhắm và hữu thể dữ kiện. Nhưng, đàng khác sự khai minh những hình thái nền tảng của khách thể tính cũng cần thiết cho công việc phân tích ý thức, và như vậy thì khách thể tính cũng gồm trong ý thức; nhưng chỉ là trong sự phân tích đúng theo tri thức học, khi khoa này đặt tất cả nhiệm vụ của nó trong sự nghiên cứu những tương đồng thể (corrélat). Cho nên chúng tôi gồm tất cả những nghiên cứu đó dưới danh từ “những nghiên cứu hiện-tượng-học” mặc dầu theo phương diện khác, chúng ta phải phân biệt chúng.
            Làm như thế chúng ta sẽ gặp được một khoa học mà người ta chưa biết chi về tầm quan trọng của nó. Thật vậy, đây là một khoa học về ý thức, tuy nhiên không phải là một khoa tâm lý, nhưng là một khoa hiện-tượng-học về ý thức, đối lập với khoa học thiên nhiên về ý thức. Đã hẳn, vì ở đây không phải chỉ giống nhau hời hợt, nên người ta có quyền hy vọng rằng hiện-tượng-học và tâm lý học liên kết với nhau rất chặt chẽ, vì cả hai đều chuyên chú nghiên cứu ý thức, mặc dầu bằng những phương tiện và “thái độ” khác nhau. Điều chúng tôi muốn nói chính là: tâm lý học chuyên chú về “ý thức thường nghiệm” ý thức trong trạng thái thực nghiệm; xét như ý thức đó nằm trong bình diện thiên nhiên; trong khi đó hiện-tượng-học chuyên chú về ý thức “thuần túy” nghĩa là ý thức trong trạng thái hiện-tượng-học.
            Nếu quả đúng như thế thì ta không thể chối bỏ sự thật này là: tâm lý học và khoa học thiên nhiên cùng không phải và cùng không thể là triết học được. Vậy, kết cục vì những lý do thiết yếu, nghĩa là nhờ hiện-tượng-học, tâm lý học phải tự nhận thấy rất gần với triết học và số mệnh của nó liên kết chặt chẽ với triết học. Sau cùng, người ta sẽ vươn tới chỗ linh cảm thấy rằng: tất cả lý thuyết duy tâm lý về tri thức sở dĩ tồn tại được là vì người ta đã không am hiểu ý nghĩa đúng đắn trong việc đặt vấn đề khoa học về tri thức, cho nên người ta đã lẫn lộn tri thức thuần túy với tri thức thường nghiệm (một sự lẫn lộn rất dễ hiểu) và nói trắng ra, người ta đã “nhiên hóa” ý thức.
            Thực ra, đây mới chỉ là nhận xét của tôi và tôi sẽ minh chứng trong những giải thích sau đây:


BẢN CHẤT KHÁC NHAU CỦA VẬT THỂ VÀ TÂM THỂ
            Cái gây nên rối loạn liên tiếp trong tâm lý học, kể từ giai đoạn phôi thai của nó ở thế kỷ XVIII, chính là hình ảnh xảo trá của phương pháp có vẻ vừa khoa học vừa thiên nhiên, rất thích hợp với kiểu phương pháp lý hóa. Chúng ta tin chắc rằng phương pháp của tất cả các khoa học thực nghiệm, xét theo tính cách phổ quát về nguyên tắc, đều hoàn toàn giống nhau, và như thế phương pháp của tâm lý học cũng chính là phương pháp của khoa học vật lý. Nếu khoa siêu hình học đã phải đau khổ quá lâu vì bắt chước một cách sai lạc, lúc thì phương pháp hình học, lúc thì phương pháp vật lý, thì cũng vậy, chính kiểu cách đó vẫn còn được lặp lại trong khoa tâm lý học. Không phải tình cờ mà những tay thày của khoa tâm lý học thực nghiệm đều là những nhà vật lý và sinh lý. Phương pháp đích thực phải là phương pháp theo sát nghĩa bản tính của những sự vật mà ta muốn nghiên cứu và chúng ta phải gạt bỏ những thiên kiến và tiền tri giác về chúng. Từ tính cách chủ quan hàm hồ của những sự vật, với ngoại diện khả giác ngây thơ, khoa học thiên nhiên đã vạch ra những sự vật có tính cách khách quan xác thực. Cũng thế, người ta tự nhủ, tâm lý học cũng phải đưa dần vật thể mơ hồ, của cách giải thích ngây thơ, tới một sự hiển nhiên: phương pháp khách quan để thực hiện công việc đó là chính phương pháp thực nghiệm khoa học về thiên nhiên, một phương pháp đã từng được bảo đảm một cách rực rỡ nhờ những thành quả nhiều vô kể.
            Tuy nhiên vấn đề cần phải thấu triệt là tại sao những dữ kiện của kinh nghiệm lại có thể vươn tới tính cách xác định khách quan được, và những danh từ như “tính cách khách quan”, “xác định khách quan” phải được hiểu như thế nào ở mỗi lúc, cũng như trong mỗi giai đoạn khác nhau, phương pháp thực nghiệm giữ nhiệm vụ nào, điều đó tùy thuộc ý nghĩa riêng biệt của các dữ kiện hay tùy thuộc vào ý nghĩa mà ý thức thường nghiệm (chúng ta đang nói đây) gán cho những dữ kiện đó theo yếu tính của ý thức (ý thức xét như nó chỉ là sự nhắm ý nghĩa này chứ không phải một ý nghĩa nào khác), hễ theo kiểu mẫu khoa học về thiên nhiên thì nhất định là phải biến ý thức thành một sự vật. Điều đó lập tức đưa chúng ta tới chỗ phi lý: từ đó luôn luôn kế tiếp phát sinh sự đi tới những lập trường phi lý về vấn đề, đồng thời nó cũng dẫn tới những chiều hướng sai lạc trong công việc tìm kiếm. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề đó một cách cặn kẽ hơn.
            Vật thể.– Chỉ có vũ trụ vật thể trong thời gian và không gian là bản tính (nature) đúng theo đầy đủ ý nghĩa của danh từ. Tất cả mọi Dasein khác, tức tâm thể, phải hiểu theo ý nghĩa thứ hai của danh từ bản tính, và sự kiện đó minh định những khác biệt căn bản sâu xa giữa phương pháp khoa học thiên nhiên và phương pháp tâm lý. Theo nguyên tắc, chỉ có hữu thể vật chất là có thể được ta kinh nghiệm như đồng nhất một cách cá biệt trong nhiều kinh nghiệm trực tiếp, nghĩa là trong nhiều tri giác. Vậy khi nhiều tri giác thực hiện trên những “chủ thể” khác nhau, thì chỉ có hữu thể vật chất là có thể được tri giác như đồng nhất một cách cá biệt đối với nhiều chủ thể và được mô tả như một hữu-thể liên-chủ-thể. Cũng những vật thể ấy (vật thể và cách thức v.v…) trình diện trước mặt mọi người chúng ta và chỉ có chúng mới có thể được chúng ta xác định theo “bản tính” của chúng. Nhưng “bản tính” của chúng chứng tỏ rằng: đang khi trình diện với ta trong kinh nghiệm với những “ngoại diện có tính cách chủ thể” là những cái thay đổi không ngừng theo nhiều cách, chứng tỏ ra hoàn toàn là những đơn vị thời gian có đặc tính tĩnh hay động và được nhận thấy như nhập thể trong toàn khối (Zusammenhang) vũ trụ vật chất, cùng một thời gian và cùng một không gian, và cái toàn khối này nối kết tất cả những vật thể đó lại với nhau. Chúng chỉ là chúng trong khối nhất thể đó. Chúng có đồng nhất cá biệt (substance) và chúng duy trì cái đồng nhất cá biệt đó như là một cái gì mang những “đặc tính thực tại” duy nhất trong tương quan hỗ tương về nhân quả tính. Tất cả những đặc tính thực tại một cách vật chất đều có tính cách nhân quả. Tất cả các hữu thể vật chất (Daseiende) đều phải tuân theo những định luật của những sự biến thể mà chúng có thể có và những định luật này liên hệ đến đối tượng đồng nhất, đối tượng này không phải vật thể xét như vật thể, nhưng vật thể trong toàn khối duy nhất thực tại và khả hữu của thiên nhiên độc nhất. Mỗi vật thể có “bản tính” của mình (như quan niệm toàn thể về cái mà nó là, tức cái đồng nhất), vì mỗi vật là điểm giao tuyến của những chuỗi nhân quả, trong lòng khối thiên nhiên duy nhất kia. Những tính chất thực tại (tính chất của những vật thể thực tại và vật chất) là một huy hiệu về sự có thể biến thái mà vẫn giữ đồng nhất tính, đã được hoạch định trước theo những luật nhân quả; vì thế sự biến thái có tính cách đồng nhất chỉ được xác định nhờ sự nại đến những định luật này. Tuy nhiên, những vật thể đều là những dữ kiện xét như những đơn vị của kinh nghiệm trực tiếp, hay xét như những đơn vị của nhiều ngoại diện khả giác. Những tính cách vững chắc, hoặc biến đổi hay tương quan với biến đổi mà ta có thể nhận biết được nhờ cảm giác, đều luôn luôn hiến cho tri thức một sự hướng dẫn, và nhờ tương quan với những tính chất trên, chúng giữ địa vị một môi trường bất định, ở đó bản tính thực sự và khách quan, tức bản tính xác thực của vật lý học, được trình diện; và cũng chính qua môi trường đó, óc suy luận khoa học, xét như một suy tưởng thực nghiệm có tính cách khoa học, minh định và xây dựng các xác thực.
            Tất cả cái đó không phải là một cái gì người ta gán ghép cho những sự vật của kinh nghiệm và cũng không phải một cái gì người ta gán ghép cho kinh nghiệm về các sự vật, nhưng là một cái gì thuộc về yếu tính của chúng một cách bất khả phân ly, đến nỗi tất cả nhận xét có tính cách trực giác và quy kết về bản chất đích thực của vật thể (vật thể trong kinh nghiệm luôn luôn xuất hiện như một cái gì, như đang là đấy, như đã được xác định và đồng thời có thể xác định, nhưng như đang luôn luôn đổi khác, trong sự thay đổi những ngoại diện của nó và trong sự thay đổi những trường hợp xuất hiện) sẽ dẫn một cách tất yếu tới những tương quan nhân quả và hoàn thành trong sự xác định những tính chất khách quan tương ứng, xét như lệ thuộc vào những định luật. Khoa học thiên nhiên chỉ có việc tuân theo một cách quy kết cái ý nghĩa mà vật thể muốn có, xét như thể được kinh nghiệm, và có thể nói được rằng: với một kiểu cách khá mờ ảo, vật thể tự đề ra những phương sách của mình, chẳng hạn như loại trừ những phẩm tính đệ nhị, những yếu tố hoàn toàn chủ quan về ngoại diện để chỉ giữ lại “những phẩm tính đệ nhất”, mà thôi. Thực ra, bảo rằng: đấy là một sự trình bày lẫn lộn thì chưa đủ, những còn phải bảo: đây là một lý thuyết sai lạc mặc đầu có phương sách tốt.
            Tâm thể.– Bây giờ chúng ta, hãy quay trở lại “vũ trụ” của “tâm thể” và khảo cứu những “hiện tượng tâm linh” mà tâm lý học mới nhìn nhận như là đối tượng của mình. Như thế trước tiên, chúng ta hãy gạt ra một bên những vấn đề liên quan đến linh hồn và cái Tôi. Chúng ta thử hỏi: trong mỗi tri giác của tâm thể cũng như trong ý nghĩa của mỗi kinh nghiệm vật lý và mỗi tri giác về thực tại, người ta có nhận thấy hàm chứa một khách-thể-tính nào đáng gọi là bản tính không? Chúng ta nhận thấy ngay lập tức rằng: những tương quan trong lãnh vực Tâm linh hoàn toàn khác biệt với những tương quan trong lãnh vực vật lý. Tâm thể được phân chia (nói một cách ám chỉ chứ không phải một cách siêu hình) thành những đơn-tử không có một cửa sổ nào và chỉ được giao dịch nhờ nội-cảm (intropathie, Einfiihlung). Hữu thể tâm linh, hữu thể xét như là “hiện tượng” theo nguyên tắc, không phải một đơn vị có thể được kinh nghiệm trong nhiều tri giác khác nhau như là đồng nhất tính cá biệt, cũng không thể được kinh nghiệm trong những tri giác của cùng một chủ thể. Nói khác đi, trong lãnh vực tâm linh, không có sự phân biệt nào giữa xuất hiện và hiện hữu và nếu người ta hiểu thiên nhiên như một hữu thể được trình diện nhờ những ngoại diện thì chính những ngoại diện này (nhà tâm lý học cho những ngoại diện này thuộc tâm thể) sẽ không tạo nên một hữu thể có thể xuất hiện qua những ngoại diện kia. Mọi suy tư về tri giác, bất xét là tri giác ngoại diện nào đều chứng tỏ chắc chắn nhận xét trên. Vậy, thật là rõ ràng: nói cho đúng ra, chỉ có bản tính mới được trình diện trong những ngoại diện của những sự vật. Theo nghĩa rộng nhất của tâm lý học, tất cả những gì chúng ta gọi là một hiện tượng tâm linh, xét theo bản tính của nó, chắc chắn phải là một hiện tượng chứ không phải một bản tính.


SO SÁNH GIỮA VẬT THỂ VÀ TÂM THỂ
            Do đó một hiện tượng không phải là một đơn vị “có bản thể”. Hiện tượng không có một chút “đặc tính thực tại” nào. Nó không đính líu một chút thực tại cũng không một chút biến thể thực tại hay nhân quả tính nào, vì tất cả những danh từ này chỉ hiểu được trong ý nghĩa của triết học về thiên nhiên (bản tính). Gán ghép thiên nhiên vào những hiện tượng, tìm kiếm những thành phần tổ hợp thực tại, những tương quan nhân quả cho những hiện tượng, chính là làm một điều vô lý hoàn toàn, giống như đòi hỏi những tính chất nhân quả và những tương quan v.v… cho các con số. Nhiên hóa một vật thể nào mà yếu tính của nó khác hẳn với hữu thể xét như là thiên nhiên, tức là làm một việc phi lý. Vật thể là cái mà nó là, và ngàn đời vẫn nằm trong đồng nhất tính của nó. Thiên nhiên luôn vĩnh tồn. Những đặc tính hay những biến thể của những đặc tính đều quả là thuộc về vật thể khả giác của đời sống thực hành, nghĩa là vật thể xét như “nó được trình diện một cách khả giác”. Những đặc tính hay những biến thể trên có thể được minh định bằng phương pháp có giá trị khách quan, cũng như được xác nhận hay bị sửa chữa trong những kinh nghiệm luôn luôn đổi mới. Trái lại, vật thể tâm linh, tức “hiện tượng” xuất hiện và biến mất. Nó không duy trì một hữu thể liên tục đồng nhất nào là cái có thể gọi là như thế ấy và được xác định một cách khách quan theo ý nghĩa của khoa học về thiên nhiên, chẳng hạn như có thể bị chia một cách khách quan thành những thành phần hay có thể “phân tích” được, theo đúng ý nghĩa chuyên môn đặc biệt của danh từ.

TÂM LÝ HỌC LÀ KHOA HỌC VỀ CÁC HÌNH THÁI CỦA Ý THỨC
            Kinh nghiệm không thể nói cho ta biết tâm thể là cái gì, như nó đã có thể nói về cái vật thể. Bởi vì tâm thể không được nghiệm như một cái chi đang xuất hiện trước mắt ta, nhưng nó chỉ là “cái đã được ta sống” (Erlebniss); nó là cái đã sống và đang được ta nhìn thấy trong hồi tưởng; chúng nó xuất hiện đó, và nó xuất hiện bằng chính mình nó, trong triều lưu tuyệt đối (flux absolu): nó xuất hiện như đang có đó và như “đang hết hiện hữu”, và người ta thấy rõ ràng nó đang rơi vào cái đã qua. Cái tâm thể cũng có thể là một cái được hoài niệm và như vậy nó là cái ta “đã kinh nghiệm” theo một nghĩa hơi khác; trong cái “được hoài niệm” này, ta thấy xuất hiện “cái ta đã tri giác”. Nó có thể là hoài niệm được nhắc đi nhớ lại nhiều lần trong nhiều hoài niệm quy tụ trong cùng một tâm thức: hoặc tâm thức nhớ lại một cái gì nó cần phải nhớ lại, hoặc tâm thức vẫn nhớ luôn mãi. Trong tương quan này, và chỉ trong tương quan này mà thôi, cái a priori tâm thể (tức cái bản chất mà tâm linh ta có về sự vật) có thể được coi như được ta “kinh nghiệm” và được ta xác nhận là đồng nhất với cái đồng nhất của những lần nhắc lại khác nhau. Như vậy chúng ta có thể nói một cách hiển nhiên rằng: tất cả những gì ta kinh nghiệm trong tâm linh như thế đều được bao hàm trong cái toàn thể thông suốt, tức cái nhất thể “đơn tử” (unité monadique) của tâm thức là cái nhất thể không chút chi liên can đến không gian, thời gian, bản thể tính hay nhân quả tính, bởi vì tâm thức có “những hình thái vô cùng độc đáo” của nó. Tâm thức là một triều lưu những hiện tượng, triều lưu vô biên cả phía trước và phía sau, và với một đường ý-hướng-tính xuyên qua, đường ý-hướng-tính này chính là dấu hiệu của tính chất nhất thể nó thâm nhập vào tất cả, tức tính chất nhất thể của “thời gian nội tại” một thời gian không có khởi điểm và cũng không có chỗ cùng, thời gian mà không một đồng hồ nào đo được.
            Khi quan sát triều lưu những hiện tượng (le flux phénomènes) trong đời sống tự-nội, chúng ta đi từ hiện tượng này qua hiện tượng khác, mỗi hiện tượng là một đơn vị được quan niệm trong triều lưu và trong chính động tác của triều lưu, và chúng ta không đạt tới một cái chi khác ngoài những hiện tượng như thế. Chỉ khi nào cái nhắm tự-nội (visée immanente) và kinh nghiệm về đối tượng đi tới chỗ tổng hợp, thì khi đó hiện tượng được nhắm và đối tượng được kinh nghiệm mới liên lạc chặt chẽ với nhau. Nhờ kinh nghiệm ta có về sự vật và kinh nghiệm về mối tương quan giữa sự vật và hiện tượng, một nội-cảm (einfiihlung, intropathie) khởi dậy tức khắc như một cái nhìn gián tiếp về cái ở trong tâm linh…


CÁC BẢN CHẤT (WESENS) VÀ TRỰC GIÁC CÁC BẢN CHẤT (WESENSSCHAU)
            Nếu tâm thể tự-nội không phải là thiên nhiên, nhưng chỉ là cái đáp lại thiên nhiên, thì chúng ta coi cái gì là bản chất của tâm thể? Nếu cái tâm thể không được xác định như một “đồng nhất tính có tính cách khách quan”, như đơn vị thuộc bản thể với những tính chất thực tại mà phương pháp khoa học thực nghiệm luôn luôn đạt được, xác định và chứng minh; nếu cái tâm thể thu gọn vào triều lưu vĩnh cửu và nếu nó không thể trở thành đối tượng có giá trị tương-chủ-tính, thì chúng ta sẽ nắm được cái gì, sẽ xác định và ấn định được cái chi khách quan trong tâm linh chăng? Và tất cả những cái đó phải được hiểu theo kiểu cách nào, để chúng ta đứng vững trong phạm vi hiện-tượng-học thuần túy và gạt ra ngoài phạm vi khảo sát đó tất cả những gì tương quan với thân thể mà người ta thí nghiệm theo kiểu cách một vật thể, và bỏ tất cả những gì tương quan với thiên nhiên. Vậy câu trả lời là: nếu các hiện tượng không có một bản tính (thiên nhiên) nào hết, thì chúng vẫn có một bản chất (das wesen) người ta có thể lãnh hội được một cách trọn vẹn trong một cái nhìn trực giác. Tất cả những mệnh đề mô tả các hiện tượng bằng quan niệm trực tiếp, sẽ thực hiện được công việc đó, mỗi khi những mệnh đề đó có giá trị, nghĩa là mỗi khi chúng dùng những ý nghĩa có thể lãnh hội được bằng những danh từ; những ý nghĩa này được bộc lộ trong những trực giác bản chất.
            Cần phải hiểu một cách đứng đắn cái nền tảng của phương pháp Tâm lý học. Sự câu thúc của thái độ duy nhiên đã làm chúng ta bất lực không dứt mình ra khỏi cái thiên nhiên để nhìn nhận cái tâm thể như đối tượng của một nghiên cứu thuần túy trong một thái độ thuần túy, chứ không trong thái độ tâm vật lý: sự câu thúc kia đã ngăn cản chúng ta tiến tới một khoa học đích thực, nền tảng của tất cả những khoa Tâm lý học đáng gọi là khoa học đích thực, và còn là nền tảng cho khoa học về tri thức nữa, sự câu thúc của thái độ duy nhiên còn làm chúng ta khó nhìn thấy những “bản chất”, nghĩa là sự câu thúc đó đã làm ta nhiên hóa những “bản chất” đó, thay vì nhận thức đúng bản chất chúng…
            Vậy cần phải hiểu biết một cách dứt khoát rằng “trực giác các bản chất” không phải là một “kinh nghiệm” theo nghĩa tri giác hay hoài niệm, hoặc những hành động về loại đó; và trực giác đây cũng không phải là sự tổng quát hóa cái thường nghiệm theo cách lấy những sự kiện lẻ tẻ của thường nghiệm để ghép lại cho thành một Dasein (hữu thể cá biệt). Trực giác coi bản chất (essence) như là hiện hữu bản chất (être-essence), và không coi bản chất là một hữu thể cá biệt. Bởi thế, khi tri thức bản chất, ta không tri thức một cái chi thuộc loại sự kiện; tri thức của trực giác không hàm chứa một phán đoán nào có liên can đến hữu thể thiên nhiên hết. Nền tảng, hay nói đúng hơn, hành động nguyên thủy của một trực giác bản chất (chẳng hạn bản chất của tri giác, của hoài niệm, của phán đoán…) có thể là tri giác của một tri giác, tri giác của hoài niệm, tri giác của phán đoán; nhưng cũng có thể là một tưởng tượng thuần túy mà “rõ ràng”, và như vậy trực giác không phải là một kinh nghiệm, không tiếp nhận một hữu thể cá biệt nào hết. Công việc nắm bản chất này (Wesenserfassung) không hề vương tới sự kiện: nó chỉ là trực giác, vì nó nắm bản chất mà thôi, vì thế mà “xem” ở đây có nghĩa hoàn toàn khác với xem bằng kinh nghiệm. Dĩ nhiên, những bản chất có thể được biểu lộ một cách mờ mờ, biểu lộ bằng những ký hiệu và nhận định sai lầm: khi đó chúng là những bản chất được nhắm thôi, và chúng mang nhiều mâu thuẫn, như chúng ta dễ nhận thấy nơi tính chất không thể duy nhất hóa của chúng. Tuy nhiên tình trạng không rõ ràng này vẫn có thể được củng cố cho thành giá trị, nếu ta trở lại trực giác những dữ kiện của bản chất.

Bản chất, dữ kiện tuyệt đối
            Tất cả những phán đoán dùng quan niệm chắc chắn để diễn đạt các thỏa mãn những gì đã nắm được trong bản chất (chẳng hạn những bản chất về loại này gần với những bản chất khác thế nào), thí dụ “trực giác” (Anschauung) gần với “ý hướng trống rỗng” (leere Meinung) thế nào, và gần với “tri giác” và “quan niệm” thế nào, – và chúng nhất thiết phải duy nhất hóa với nhau vì những yếu tố này hay yếu tố nọ thế nào, – chúng hòa hợp với nhau như “ý hướng” hòa hợp với “thỏa mãn”, hay trái lại, chúng không hòa hợp được với nhau và vì thế đã tạo nên “ý thức bị phỉnh lừa”, tất cả những phán đoán như thế đều là những tri thức tuyệt đối, có giá trị phổ quát như bản chất của phán đoán, một bản chất mà ta sẽ phi lý nếu ta muốn dùng kinh nghiệm để đặt nền, củng cố hay phi bác.
            Sự phán đoán ấn định một “tương quan giữa những ý tưởng”, một a priori theo đúng nghĩa mà Hume đã nhìn thấy trước mắt ông, nhưng rồi tất nhiên nó đã tuột khỏi vòng tay ông bởi vì ông đã lầm lẫn bản chất với ý tưởng (ông coi ý tưởng là cái chi thuộc loại những ấn tượng). Nếu chủ nghĩa duy cảm của ông đã không làm ông mù quáng đối với tất cả lãnh vực ý-hướng-tính của “ý-thức-về”, – nếu ông đã biết coi lãnh vực này là cái chi dành cho nghiên cứu bản chất, thì ông đã không trở thành một nhà hoài nghi vĩ đại, nhưng đã trở thành vị sáng lập một học thuyết “duy nghiệm” đích thực về lý trí. Tất cả những vấn đề đã làm Hume say mê trong cuốn Treatise của ông, và đã dẫn ông hết lầm lẫn này qua lầm lẫn khác, – những vấn đề mà, trong thái độ của ông, ông không đặt nổi một cách đích đáng và thuần túy, – những vấn đề đó đều hoàn toàn thuộc quyền khoa Hiện-tượng-học. Không trừ một vấn đề nào, tất cả những vấn đề đó đều phải giải quyết theo những tương quan bản chất của những hình thái ý thức, trong một sự lãnh hội giống như một cái nhìn tổng quát là cái nhìn không bỏ qua một vấn đề hàm nghĩa (sinnvoll) nào. Như vậy, vấn đề bao la về đồng nhất tính của đối tượng qua nhiều ấn tượng hay nhiều tri giác, cũng phải được giải quyết như thế. Thực vậy, làm sao nhiều tri giác, tức nhiều ngoại diện, lại có thể đi tới chỗ làm xuất hiện một vật thể duy nhất và đồng nhất mãi. Đến nỗi ta nhận rằng vật thể đó chính là nó cho nó và cho ý thức: đó là một vấn đề chỉ có thể được đặt ra và giải đáp một cách rõ ràng nhờ sự nghiên cứu của khoa hiện-tượng-học về bản chất mà thôi. Muốn dựa vào một khoa học như kiểu khoa học thực nghiệm về thiên nhiên để trả lời cho vấn đề này, là không hiểu vấn đề và gán cho nó một ý nghĩa phi lý. Tại sao một tri giác cũng như bất cứ kinh nghiệm nào, lại có thể là tri giác chính cái sự vật ấy, theo lối nhìn ấy, có màu sắc ấy, có hình thức ấy v.v… đó là vấn đề bản chất của tri giác, bất cứ sự vật kia được xét theo phương diện nào của “hiện hữu” nó.
            Làm sao ta lại có một tri giác liên tục không do tự tiện, như khi cùng một sự vật luôn luôn trình diện với ta qua những hướng nhìn luôn luôn thay đổi của ta v.v… đó cũng là vấn đề bản chất như trên kia. Tóm lại, đây là những lãnh vực lớn lao dành cho việc “phân tích ý thức” (những lãnh vực mà văn chương chưa có khai thác mấy); trong lãnh vực này, cần phải mở rộng phạm vi dành cho chữ “ý thức” cũng như chúng ta đã dành cho những chữ tâm thể trên kia, để chữ ý thức có thể bao hàm tất cả những gì nội tại trong tâm thức và tất cả những gì mà ý thức nhắm bất cứ theo chiều hướng nào. Sau khi thoát khỏi thuyết Duy nhiên lần lạc kia, những vấn đề nguyên khởi mà người ta tranh luận từng nhiều thế kỷ, sẽ trở thành những vấn đề hiện-tượng-học. Chẳng hạn vấn đề nguyên khởi của “không gian biểu tượng”, của những biểu tượng về thời gian, về sự vật, về con số, về nhân quả v.v… Những vấn đề thường nghiệm về sự phát xuất những biểu tượng đó xét như chúng là những biến cố của tâm thức con người, sẽ chỉ có ý nghĩa khoa học và có những giải đáp thỏa mãn, khi nào chúng được truy nhận là những vấn đề thuần túy, được đặt ra và giải đáp một cách đúng nghĩa thực sự.
            Nhưng tất cả những cái đó sẽ chỉ đúng, nếu người ta nhận thấy và thành thực chấp nhận rằng: cũng trực tiếp như khi chúng ta nghe một âm thanh, thì chúng ta cũng có thể trực giác một bản chất, thí dụ bản chất “âm thanh”, bản chất “ngoại diện của sự vật”, bản chất “sự vật hữu hình”, bản chất “biểu tượng bằng hình ảnh”, bản chất “phán đoán” hay “ý chí”; và trong khi trực giác bản chất như thế, người ta có thể đưa ra một phán đoán về bản chất. Nhưng đàng khác, tất cả những điều nói trên đây chỉ sẽ đích thực, nếu người ta tránh được sự lẫn lộn riêng biệt của Hume, nghĩa là tránh đừng lẫn lộn cái nhìn hiện-tượng-học với phương pháp “nội quan”, tức kinh nghiệm nội tâm; tóm lại là đừng lẫn cái nhìn hiện-tượng-học với những hành động thay vì nhìn vào những đơn vị cá biệt tương ứng với những bản chất đó.


HIỆN-TƯỢNG-HỌC THUẦN TÚY VÀ CÁI CÁ BIỆT
            Bao lâu hiện-tượng-học còn thuần túy và không đả động chi tới phương diện hiện hữu của thiên nhiên, thì nó là một khoa học để nghiên cứu những bản chất mà thôi, chớ không nghiên cứu về hiện hữu. Tất cả những gì là “nội quan” và tất cả những phán đoán dựa trên “kinh nhiệm” như thế, sẽ bị gạt ra ngoài phạm vi của hiện-tượng-học. Xét theo phương diện tự-nội (immanence), thì cái cá biệt chỉ có thể là cái này cái nọ (thí dụ tri giác uyển chuyển này, hoài niệm nọ v.v…) và như vậy nó chỉ có thể được bao hàm trong những quan niệm chặt chẽ về bản chất, là những quan niệm đã được rút ra tự những phân tích về bản chất. Nói thế, vì cái cá biệt không bản chất, nhưng nó một bản chất, và người ta có thể nêu lên bản chất đó về cá biệt ấy một cách chắc chắn hiển nhiên. Nhưng xác định cái cá biệt đó như một cá thể, cho nó một vị trí trong cái “thế giới” của hữu thể cá biệt, lấy những quan niệm về bản chất để chụp lên cái cá biệt như thế, tất nhiên chưa phải là vạch rõ được nó. Đối với hiện-tượng-học, cái cá biệt sẽ muôn đời là cái vô định (apeiron). Hiện-tượng-học chỉ có thể nhận thức một cách có giá trị khách quan, những bản chất và những tương quan bản chất. Trong lãnh vực này, hiện-tượng-học thuần túy có thể chu toàn, và chu toàn một cách mỹ mãn tất cả những gì cần thiết để chúng ta có một sự thông hiểu rành mạch về những tri thức thường nghiệm và tri thức nói chung: nhìn nhận rành mạch về “nguyên khởi” của tất cả những “nguyên lý” hình thức luận lý và những nguyên lý tự nhiên luận lý – nhìn rành mạch tất cả những vấn đề liên can đến mối tương đồng (corréltion) giữa bản chất (bản chất của thiên nhiên, bản chất của giá trị) và ý thức…
            Duy khoa hiện-tượng-học triệt để và có hệ thống, nghĩa là khi nó không bị coi như một hành động phụ tạp, suy nghĩ lẻ tẻ, nhưng được coi như một sự đổ hết tâm lực vào những vấn đề vừa nhiều phức tạp của tâm thức – duy khoa hiện-tượng-học được hướng dẫn với một tinh thần thong dong và không bị mù quáng bởi một thiên kiến duy nhiên nào – duy khoa hiện-tượng-học như thế mới có khả năng dẫn chúng ta tới chỗ am tường cái tâm thể – trong lãnh vực tâm thức cá nhân hay tâm thức chung. Khi đó, lần đầu tiên, tất cả công trình thực nghiệm của thời ta, cùng với đầy đủ những sự kiện thường nghiệm đã được thu tập và những định luật đôi khi rất lý thú, sẽ sinh hoa kết quả xứng đáng, nhờ sự đánh giá có phê bình và sự phân giải có tính chất tâm lý học. Khi đó người ta sẽ nhận thấy điều mà người ta không thể nhận thấy nơi khoa Tâm lý học liên lạc mật thiết, vô cùng mật thiết, với khoa triết học.


EDMUND HUSSERL
LM. Trần Thái Đỉnh và Trịnh Hùng dịch

_____________________________________
Đích xác: rigoureux; Xác thực: exact.
(1) Sự phân phối các tiểu đề là do chúng tôi.
(2) Đơn nghĩa: univoque có nghĩa như tuyệt đối.
(3) Hữu thể nọ: Dasein, hiện hữu cá biệt.
(4) Conscience-signification (= noèse, phương diện chủ thể).
(5) Conscience-objectivité (= noème, phương diện khách thể).



7
"Mấy trào ;ưu Triết Học Phương Tây"
Biên soạn: Nguyễn Minh Lăng
NXB ĐH&THCN 1988
Dầy 360 trang, còn đầy đủ lành lặn.
Gia: 25.000 VNĐ


8
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách vật lý
« Bài mới gửi bởi nghiêm vào Hôm nay lúc 09:33:40 »
Bán hết 600k
9
Khoa học-Kỹ thuật / Bán sách vật lý
« Bài mới gửi bởi nghiêm vào Hôm nay lúc 09:30:03 »


















10
Văn học Việt Nam / Re: Sách xuất bản tại miền bắc trước 1975
« Bài mới gửi bởi Green vào Hôm nay lúc 09:25:45 »
36.104 trang, 1962
 
120k

37.286 trang, 1973

150k

38.400 trang, 1974

150k

39. 188 trang, 1964
 
150k

40.118 trang, 1971
 
100k

41. 76 trang, 1973
 
100k

42.110 trang, 1970
 
 100k

43.74 trang, 1968
 
100k

44. 164 trang, 1973

 100k

45. 138 trang, 1966

100k

46. 274 trang,1971

 100k

47. 124 trang, bìa sau đóng lại,1971

100k

48. 134 trang, 1966
 
100k

49. 58 trang, 1958

120k

50. 48 trang, 1960

 100k
Trang: [1] 2 3 ... 10