Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Sách xb tại SG trước 1975 / Re: sách xưa trước 1975
« Bài mới gửi bởi tnghia vào Hôm nay lúc 06:37:19 »
Em gom 41, 55
2
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách toán trước 75....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 04:58:29 »
241
60K
TÍCH PHÂN
XB 03-280T

242
60K
VẬT LÝ SƠ CẤP-1
XB 01-300T

243
60K
TÍCH PHÂN
XB 02-420T

244
60K
GIẢI TÍCH 12

245
60K
GIẢI TÍCH 12

246
60K
ỨNG DỤNG TRONG ĐẠI SỐ
XB 03-350T
3
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách toán trước 75....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 04:52:09 »
236
70K
CHUYÊN ĐỀ HÌNH
XB 98-400T

237
70K
QUY HOẠCH TUYẾN TÍNH
XB 2000-450T

238
50K
HÓA HỌC
XB 97-400T

239
60K
VẬT LÝ 12
XB 96-220T

240
50K
HÓA 12
XB 87-300T
4
Khoa học-Kỹ thuật / Re: Bán sách toán trước 75....kính mời.
« Bài mới gửi bởi tamhoanhatrang vào Hôm nay lúc 04:47:23 »
231
50k
TOÁN CHUYỂN ĐỘNG
XB 99-200TT

232
60K
HÌNH HỌC 10
XB 95-200T

233
60K
VẬT LÝ 9
XB 98-250T

234
50K
HÓA HỌC 12
XB 92-220T

235
60K
ĐẠI SỐ 10
XB 99-250T
5
Sách xb tại SG trước 1975 / Re: sách xưa trước 1975
« Bài mới gửi bởi huhata vào Hôm nay lúc 03:15:40 »
E 42
6
B / Re: Bùi Giáng
« Bài mới gửi bởi như mộ vào Hôm nay lúc 01:02:04 »
7
Thế mà cũng tiếp tục sửa. Á hihi

Nhấn chuột phải vào ảnh nó sẽ hiện ra một hộp thoại trong đó có dòng : Sao chép địa chỉ hình ảnh
Click vào dòng đó sau đó paste nó vào giữa hai cái img] [img thế là xong !

8
Tin văn hóa / Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Bài mới gửi bởi nduytai vào 20/10/2018, 23:45:49 »
Chuyện tình Lan và Điệp từ cải lương bước sang tân nhạc

Từ hơn bảy thập niên qua, kể từ ngày vở hát Lan và Điệp của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Nghệ sĩ Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp

Bất tử với thời gian
            Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan – Điệp trở thành bất tử với thời gian. Bởi trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.
            Trước tiên Lan và Điệp được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc. Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp họ tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp ba, bốn lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.
            Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lèo và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều bào ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương Lan và Điệp phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.


Đĩa Hoa Rơi Cửa Phật – Cô Tư Sạng; Tám Thưa; Năm Nghĩa; Hồng Châu

Tân nhạc chào đón Lan và Điệp
            Từ khi vở hát Lan và Điệp ra đời hiện diện trên sân khấu suốt hai thập niên, hầu như không ai nghĩ đến chuyện sẽ có ngày Lan và Điệp lại có thể chen chân vào lãnh vực tân nhạc. Bởi tân nhạc có một lối sinh hoạt khác xa với cải lương, có người còn nói tân nhạc và cổ nhạc hình như không thích nhau. Thế mà đến giữa thập niên 1960 tân nhạc đã mở rộng cánh cửa thân tình, chào đón Lan và Điệp, đó là năm 1965 người ta bất ngờ nghe xướng ngôn viên Đài phát thanh Sài Gòn giới thiệu nhạc bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” của Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lỉnh. Bản nhạc có lời ca điệu nhạc truyền cảm ấy được thính giả lúc bấy giờ ưa thích, gởi thơ yêu cầu nhiều nên Đài phát thanh Sài Gòn và đài Ba Xuyên đã cho phát đi phát lại bản nhạc này nhiều lần, đến đỗi có người nghe riết rồi thuộc lòng và hát luôn.
            Có điều lạ là đa số thính giả yêu cầu đài phát bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” lại là thính giả thường nghe chương trình cổ nhạc cải lương, và họ cũng nói phải chi bản nhạc này mà có Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thành Được ca thêm vài câu vọng cổ thì hay biết mấy.
            Thế là hãng dĩa hát Hồng Hoa đã “bắt mạch” được, họ thương lượng với tác giả bản nhạc mua bản quyền và “đặt hàng” cho soạn giả Viễn Châu viết thêm lời ca vào, đồng thời chọn các ca sĩ tân cổ nhạc đang nổi tiếng lúc bấy giờ là Thanh Tuyền, Hồng Phúc, Thanh Nga, Thành Được, Tấn Tài. Còn đệm tân nhạc thì hãng chọn ban nhạc Huỳnh Anh, về cổ nhạc thì nhạc sĩ Năm Cơ đờn kìm, Bảy Bá đờn tranh và lục huyền cầm, Tư Huyện đờn vĩ cầm. Với thanh phần ca nhạc sĩ khá hùng hậu này mà hãng chỉ thu thanh có một dĩa nhựa 45 tua, thì phải nói rằng hãng dĩa Hồng Hoa đã chịu bỏ tiền đầu tư một số vốn khá lớn vậy.

Vọng cổ có pha tân nhạc
            Dĩa hát tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” phát hành đã bán khá chạy, bởi đa số những người có máy hát dĩa thời đó đã không bỏ qua dĩa hát trữ tình này. Đồng thời đã không ít những người yêu thích tân nhạc họ cũng khen hay, do đó là động lực cho hãng dĩa Hồng Hoa tiếp tục cho phát hành dĩa vọng cổ có pha tân nhạc, với những bản nhạc đang được ưa chuộng.
            Tiếp theo đó thì lại thêm những hãng dĩa khác ra đời, xuất hiện với nhiều nhãn hiệu mới, mà hầu như hãng nào cũng nhắm vào khai thác bài tân cổ giao duyên. Lúc bấy giờ do vấn đề thương mại, các hãng dĩa đã không còn sản xuất dĩa hát rặc ròng 6 câu vọng cổ nữa, mà hầu hết đã tìm các bản nhạc từng nổi tiếng nhiều năm trước, để biến thành bài tân cổ giao duyên.
            Theo lập luận của hãng dĩa, tức những người làm thương mại họ tính toán khá kỹ, thì tuy rằng bài tân cổ giao duyên có làm “trái tai” với một số người vốn bảo thủ bài vọng cổ thuần túy, nhưng nó lại thích hợp với một số đông đảo hơn, với những người thưởng thức cổ nhạc thời ấy. Do vậy mà số thính giả bảo thủ dù muốn dù không cũng “bị” nghe tân nhạc xen vô vọng cổ.


Phim Lan và Điệp với Thanh Tú & Thanh Nga (hãng phim Dạ Lý Hương, 1972)

Bài vọng cổ chỉ còn 4 câu
            Người ta nhớ lại từ đầu thập niên 1950 cho đến năm 1965, soạn giả viết bài ca luôn đầy đủ 6 câu vọng cổ, mà thông thường nói lối xong xuống hò vô câu 1. Khi dứt câu 3 nói lối trở lại và xuống hò vô vọng cổ câu 4.
            Thời đó các soạn giả viết bài ca vọng cổ đã theo quy luật này, và những bài vọng cổ đủ 6 câu cũng thịnh hành một thời như Xâu Gùi Bến Cát, Đội Gạo Đường Xa, Mồ Em Phượng, Tình Anh Bán Chiếu, Gánh Nước Đêm Trăng, Lòng Dạ Đàn Bà, Tu Là Cội Phúc, Tiếng Đàn Trên Bắc Mỹ Thuận, Bá Nha Tử Kỳ...
            Cũng có trường hợp soạn giả đã thay thế nói lối bằng mấy câu thơ lục bát. Soạn giả Kiên Giang vốn là thi sĩ nên bài vọng cổ của ông ngoài việc cho thơ thay thế nói lối, mà còn đem thơ vào luôn câu ca vọng cổ, thường là 8 nhịp dứt câu. Nhưng dù cho thơ vào, thì bài vọng cổ vẫn đủ 6 câu chớ không cắt bớt.
            Thời điểm ấy đờn ca tài tử khi nhập cuộc thì ca đủ 6 câu vọng cổ, kể cả các bài vọng cổ hài hước do Hề Minh và Hề Văn Hường ca. Thế nhưng, từ ngày bài tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” ra đời đã dẫn theo hàng loạt bài tân cổ giao duyên khác, do vậy mà bài vọng cổ chỉ còn bốn câu. Câu thứ 4 bị mất trước tiên, rồi thì câu 3 cũng bị bỏ đi, cho dù cắt bỏ câu nào cũng được, riêng câu 6 thì giữ nguyên phần xuống “xê” và 8 nhịp chấm dứt bài ca.
            Do yêu cầu của nhà sản xuất dĩa hát, nên soạn giả bắt buộc phải bỏ bớt hai câu để xen tân nhạc vào cho hợp với kỹ thuật thu dĩa, mỗi bài tân cổ giao duyên vô một mặt dĩa, không thể dư được.
            Lúc bấy giờ có người thắc mắc với soạn giả Viễn Châu, rằng tại sao không viết trọn bài vọng cổ 6 câu, mà viết toàn vọng cổ pha tân nhạc, làm vọng cổ mất đi hai câu, như vậy dân đờn ca tài tử đâu có ca được. Soạn giả Viễn Châu đã trả lời: Nếu viết cho đủ 6 câu, tức là không có chen tân nhạc thì ai trả tiền? Hãng dĩa chỉ mướn mình viết vọng cổ dựa theo bài tân nhạc, chớ còn viết đủ 6 câu thì phải đi chào hàng khó ăn hơn nhiều, mà chắc gì hãng dĩa chịu mua. Thôi thì viết bài ca được “đặt hàng” đôi khi còn nhận tiền trước.
            Do vậy mà từ khi tân cổ giao duyên ra đời, dân đờn ca tài tử chỉ ca các bài bản cũ 1965 trở về trước, mà bài được ca nhiều nhứt phải nói là bài “Tình Anh Bán Chiếu ” của soạn giả Viễn Châu.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0606-06052015224843.html
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-061115-nm-06112015083142.html

9


Phạm Tăng trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1925 tại vùng biên giới Bắc Trung-Việt (Bảng Sơn-Ninh Bình).
            Vẽ, làm thơ, viết bài phê bình hội họa. Đã cho xuất bản một tập thơ.
            Cộng tác với báo “Tự Do”, tạp chí “Bách-Khoa”, v.v…


○ ○ ○

         Phú Thọ trường đua.
         Nhà anh ở đối diện với trường đua.
                  “Bốn năm ròng khép cửa,
                  Ngày vắng, không tiếng cười.
                  Đêm về, quên đốt lửa
…”(1)
         Tôi đến phá rầy anh vào một ngày chủ nhật. Phá rầy không cho anh tự do vẽ nốt cái tranh hí họa cho một tờ báo hằng ngày, phá rầy sự tịnh mịch của căn phòng nhỏ thường chỉ có bóng gầy của anh làm bạn với chiếc bóng chưa phai màu có người lặng thinh ghé đọc “những trang sách của cuộc đời” ai.
         ― Anh đã làm một điều trái ngược, là ngày nghỉ ngơi, anh lại chạy đi phỏng với vấn, thì tôi cũng trả lời lộn ngược cho anh.
         ― Nghĩa là sao?
         Anh vừa pha cà phê vừa tủm tỉm:
         ― Nghĩa là tôi trả lời anh từ dưới lên trên, tức là đi từ quốc tế lộn về quốc gia vậy.
         ― Anh trả thù tôi cách ấy à? Cũng chẳng sao. Lâu ngày đổi món, thỉnh thoảng xáo trộn tôn ti trật tự vậy, cũng hay hay. Thế thì truyện nước người, anh cho truyện nào hay nhất?
         ― Truyện hay nhất nước người à? Là chuyện hai “người tu hành” cùng uống cà phê đen ngoại quốc với đường trắng nước nhà.
         Biết nhà họa còn đẩy đưa, tôi đành quên mình là người đi phỏng vấn để làm tròn bổn phận của người khách vậy.
         Cà phê vô, lời ra.
         ― Một truyện của Lâm Ngữ Đường. Đúng ra, do Lâm Ngữ Đường viết lại. Tôi được một người thân đọc trong tập “Những truyện ngắn hay của Trung Hoa”, viết bằng tiếng Anh, và dịch cho tôi nghe. Nhan là: “Pho tượng ngọc thạch”.(2)
         Tôi buộc mồm ngắt lời anh:
         ― Dường như trước, anh có theo ban Kiến trúc.
         ― Có, tôi theo ban Hội họa, song trước đó cũng làm quen với ban Kiến trúc ít lâu. Nhưng sao anh lại hỏi tôi điều này?
         ― Là vì tên cái truyện anh vừa mới nói. Tôi đoán càn, may mà trúng. Câu chuyện có gì lạ không anh?
         ― Biết sao là lạ biết sao không? Để tôi kể sơ, rồi anh tự trả lời.
         “Hai người yêu nhau, đắm say và tha thiết. Chẳng có gì lạ. Nhưng chàng và nàng lại bà con với nhau, bà con rất gần, nên “yêu nhau thì quá nặng, mà lấy nhau thì không đặng”.
         ― Họ định lấy nhau à? Thế thì cũng lạ.
         ― Thế à? Yêu nhau, rồi lấy nhau…
         ― Rồi làm khổ nhau…
         ― Thì thường quá đi thôi, có gì là lạ.
         ― Nhưng anh quên rằng họ là bà con, mà bà con chú bác thì phải, vì phong tục Trung Hoa cho phép bà con cô cậu, bạn dì lấy nhau, còn bà con chú bác thì…
         ― Cũng có lý. Phong tục đứng dậy cản, cha mẹ, bà con đứng dậy ngăn. Mặc. Họ đứng lên, chống lại tục cổ, chống lại người thân và họ chung sống với nhau.
         ― Rồi họ xa nhau!
         ― Đúng. Xa nhau mãi mãi.
         ― Nghĩa là nàng đi, đi mãi, đi không về nhà?
         ― Nàng chết.
         ― Thế là hết chuyện.
         ― Chưa. Chàng, sau cơn đau khổ chết người, đem hết tâm trí nhớ lại người nàng, tạc hình người-rất-thương vào ngọc thạch. Và nàng như tái sinh trong đá quí vô tri.
         Anh thôi nói, nâng chén cà phê đặc. Tôi nhìn quanh phòng. Chỉ thấy, “sách vở lung tung loạn xạ”. Tôi nhìn lên tường. Chỉ bắt gặp chiếc bóng chưa phai màu có người lặng thinh ghé đọc “những trang sách của cuộc đời” ai.
         Anh để ý cử chỉ tôi hỏi: “Anh tìm gì?”
         ― Một cái gì quí.
         ― Nhà tôi đâu có cái gì quí!
         Nhưng tôi quí trọng cái đơn chiếc của anh, nên không làm xong phận sự người đi phỏng vấn, giã từ anh, để trả anh lại với căn phòng nhỏ, từ lâu chỉ in bóng mình anh và chỉ treo ảnh một người.



         Tòa soạn Bách-Khoa. Bên kia đường, sân vận động Phan Đình Phùng vừa lốp bốp những tiếng súng giả bắn tập, thì anh đến. Tôi đón anh với một câu Kiều, đổi đi một chữ tình:
         ― Nợ nần chưa trả cho ai
         Anh cười nhè nhẹ.
         ― Thì anh cứ đòi đi.
         ― Anh cho biết vì sao anh cho truyện “Pho tượng ngọc thạch” do Lâm Ngữ Đường viết lại là hay nhất.
         Anh hơi ngạc nhiên: “Tôi nhớ không có nói với anh là hay nhất”.
         ― Thế thì thích nhất vậy.
         ― “Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên…”(3) thì tôi có thể trả lời anh ngay. Nhưng vì sao tôi thích nhất, thì thật là khó nói.
         ― Khó nói chớ nào phải không nói được!
         “Tôi thích truyện này vì nó đưa ra một thanh-nam, một thanh-nữ dám đạp những trở ngại của tập tục xưa, dám cắt những ràng buộc do những người thân tạo lấy, để mà cùng nhau chia xẻ những đắng cay, nhiều đắng cay và một ít ngọt bùi của cuộc đời. Họ dám làm. Họ đã dám.
         ― “Biết. Muốn. Dám. Im”. Tôi nói nhỏ.
         ― Anh nói gì?
         ― Tôi nhớ lại mấy động từ mà người Ai Cập xưa khắc ở tượng các con sư nhơn trầm ngâm giữa biển cát. Còn gì nữa không, anh?
         ― Còn. Tình của người sống đối với người-không-về-nữa nó nồng nàn, nó chân thật, nó siêu thoát đến đỗi nó kết tinh thành một công trình nghệ thuật, mà sự tồn tại của nghệ phẩm này có lẽ không mỏng manh như một kiếp người.
         Bỗng anh đột ngột hỏi: “Thế anh nghe tôi kể sơ qua, có thấy thích truyện ấy không?”
         ― Có chớ.
         ― Đến phiên tôi phỏng vấn lại anh? Tại sao?
         ― Tại vì chàng không chết theo nàng.



         Lần thứ ba, tôi chẳng buông tha anh. Vì có sau, mà chưa có trước. Anh chưa cho biết ý kiến anh về truyện nước nhà.
         ― Tôi thích truyện “Ba con cáo” của Bình Nguyên Lộc một bức tranh xã hội đương thời, mà màu sắc, âm thanh, ánh sáng sơ sơ và bóng tối đặc dày. Một thằng lưu manh, một ả giang hồ, một con cáo, vì đâu mà con cáo-chồn nằm trong nồi cháo, rồi thằng cáo lưu manh nằm trong khám chật, rồi ả giang hồ phản bội nghẹn ngào với xấp giấy bạc vô tri, thề sẽ làm lại cuộc đời. Nhưng mà cuộc đời nó đã thế đó, thì làm lại, dễ gì!
         ― Nhưng mà anh còn thích truyện nào nữa không?
         ― Các truyện của Võ Phiến đăng ở Bách-Khoa.
         ― Như truyện nào? Anh kể cho một truyện.
         ― À, chuyện một cô gái Bình Định có chồng bị chánh quyền bắt đi an trí, ghét cay chua một cán bộ thô lỗ nhưng mà dai dẳng, rồi lấy hắn, rồi lén trốn ở lại ngày tập kết, rồi lại được một anh cán bộ chính quyền quốc gia tầm thường lại bền bỉ đeo đuổi, lấy anh này, để cho một chàng biết rõ tâm sự cô nàng qua tập nhật ký bỏ quên, tha thiết yêu nàng, phải lẳng lặng vào chùa… nhìn khói hương mơ màng trước tượng Phật từ bi…
         ― Tên nàng là Dung. Mà tên truyện cũng là Dung.
         ― Đúng rồi. Tôi thích chung các truyện Võ Phiến vì nó có một cái duyên ngầm, cái lê thê đặc biệt, cái sâu sắc thâm trầm, các nhân vật đáng thương mà cũng đáng tội. Võ Phiến làm tôi nhớ lại một Nguyễn Tuân, nhưng tôi đọc Võ Phiến, thấy thú hơn, vì Võ Phiến hé cho ta nỗi lòng của thời đại chúng mình, từ 1945 đến nay.
         ― Anh còn nói gì nữa không?
         ― Dường như là hết rồi. À, mà còn. Còn một truyện ngắn tôi thích, đăng ở báo “Tự Do”, số Tân niên năm rồi, năm Mậu Tuất. Của Lý Thắng. Tên truyện là “Miếng bít-tết”. Câu chuyện chẳng có gì. Một ông nhà giàu Việt nuôi một con chó Tây. Đã chó Tây, lại ở nhà giàu, nên được nuôi bằng thịt bò, bằng bít-tết. Có cậu sinh viên ở gần thấy bạn mình – một anh quá ư nghèo – cần có ăn vài tháng để kịp kì thi, bèn nảy ra một ý: rình khều miếng thịt ngon kia, thế vào một gói… đồ dư của người. Chó bắt mùi thấy… cứt cũng ngon, còn người bạn nghèo kia nhờ tẩm bổ đồ ăn vốn là của chó ngoại quốc kia mà công thành danh toại.
         ― Thành ra mọi người đều vừa lòng.
         ― Ai cũng vừa lòng, cũng thích thú. Người sinh viên có lòng tốt, người bạn quá nghèo mà cần học, con chó được đổi món ăn… Anh thấy chớ, vừa tân kì, vừa khôi hài, mà lại vừa chửi đời một cách quá chua cay! Phật bảo đời là bể khổ, quả không sai!


NGUIỄN NGU Í thuật

________________________________________
(1) Trong bài thơ “Căn phòng tưởng tượng” của Phạm Tăng, đăng báo “Tự Do”, số Xuân Kỉ Hợi. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Nhan chữ Anh là: “The Jade Gaddess” trong tập “Famous Chinese short stories” (Những truyện ngắn hay của Trung Hoa) do Lin Yuiang (Lâm Ngữ Đường) kể lại, xuất bản lần đầu ở New-York, 1948.
(3) Xuân Diệu – Thơ thơ.


BÁCH KHOA |  SỐ 69

10
Chủ đề khác / Re: Khủng Long bán sách tổng hợp
« Bài mới gửi bởi Muadengam2 vào 20/10/2018, 23:26:41 »
A lấy hộ e 1 quyển mã 360 nhé
Trang: [1] 2 3 ... 10