Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Sách xb tại SG trước 1975 / Re: Sg-Bán một số sách trước 75
« Bài mới gửi bởi luuhuyenduc vào Hôm nay lúc 00:02:59 »
2
Tin văn hóa / Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Bài mới gửi bởi nduytai vào 17/07/2018, 23:51:58 »
Pháp: Điện Invalides, nơi yên nghỉ của hoàng đế Napoléon Đệ Nhất

Hoàng đế Pháp Napoléon I trút hơi thở cuối cùng ngày 05/05/1821 ở Longwood House, trên đảo Sainte-Hélène (ngoài khơi Đại Tây Dương, châu Phi) nơi ông bị lưu đày từ năm 1815. Dưới sự giám sát của người Anh, ngay hôm sau, thi hài hoàng đế Pháp được khám nghiệm và an táng bên một dòng sông, dưới bóng dương liễu, trong Thung lũng Géranium.

Mộ của hoàng đế Pháp Napoléon Đệ Nhất, điện Invalides, Paris

NAPOLÉON BONAPARTE yên nghỉ tại đó cho đến năm 1840 khi vua Louis-Philippe, với sự chấp thuận của nữ hoàng Anh Victoria, quyết định đưa di hài ông về Pháp trên con tầu Belle Poule do hoàng tử Joinville chỉ huy. Sau lễ an táng theo nghi thức quốc gia, di hài của hoàng đế Napoléon I được đặt tạm trong nhà nguyện Saint-Jérôme của điện Invalides ngày 15/12/1840 trong khi chờ xây xong mộ.
            Cho đến nay, hoàng đế Napoléon I vẫn được nhiều người quan tâm, như cảm nhận của một du khách Bỉ khi trả lời RFI tiếng Việt:

             “Trước hết đó là một nhà tổ chức tuyệt vời, một lãnh đạo quân sự lớn nhưng lại không đoán được thực tế về mùa đông nghiệt ngã tại Nga. Dân Pháp yêu quý ông. Thế nhưng, tôi nghĩ là nhiều dân tộc châu Âu khác vào thời kỳ đó không thích việc tất cả mọi người bị đăng lính để rồi bị đưa ra chiến trường dưới quân lệnh của Napoléon. Vào cuối đời ở Sainte-Hélène, tôi nghĩ là chính quyền Anh Quốc không “nâng niu” Napoléon cho lắm”.


Nhà Vòm điện Invalides, Paris

Nhà Vòm Invalides: Từ lăng danh nhân đến nơi an nghỉ của Napoléon I
            Được xây từ năm 1677 đến 1706 do Jules Hardouin Mansart chỉ đạo, Nhà Vòm Điện Quốc Gia Phế Binh (Le Dôme des Invalides), còn gọi là Nhà thờ Nhà Vòm (Eglise du Dôme), vẫn giữ những họa tiết nội thất được thực hiện vào thời kỳ đó để ca ngợi vinh quang của vua Louis XIV, nền quân chủ và quân đội.
            Dưới thời Napoléon I, Nhà Vòm trở thành lăng danh nhân quân sự, trong đó có di hài của Turenne (được đưa vào năm 1800) và mộ chứa trái tim của Vauban (26/05/1808). Ngoài ra còn có mộ phần của Aiglon, con trai của hoàng đế Pháp, hai người anh em Joseph và Jérôme Bonaparte, các tướng Bertrand và Duroc, sau này có thêm mộ của các thống chế lừng danh nửa đầu thế kỷ XX là Foch và Lyautey.
            Theo yêu cầu của vua Louis-Philippe, kiến trúc sư Louis Visconti (1791-1853) bắt đầu công trình trùng tu Nhà Vòm Điện Quốc Gia Phế Binh từ năm 1842 với nhiều thay đổi quan trọng như xây một hố lớn ở giữa vào năm 1847, ngay dưới mái vòm, để đặt quan tài hoàng đế Napoléon I. Đến ngày 02/04/1861, di hài của hoàng đế Pháp được an nghỉ vĩnh hằng tại đây, dưới sự chứng kiến của Napoléon III, cháu của Napoléon I.
            Lối xuống hầm mộ Napoléon được đặt gần dưới chân điện thờ cao trên có cây thánh giá lớn ở phía cuối Nhà Vòm. Phía trên hai cánh cửa bằng đồng sừng sững và oai nghiêm là những lời trăn trối bất hủ của Napoléon, được khắc trên đá cẩm thạch đen: “Tôi muốn tro của mình được đặt bên bờ sông Seine, giữa lòng dân tộc Pháp mà tôi vô cùng yêu mến”. Mỗi bên cửa là một bức tượng kiểu Ba Tư bằng đồng do Francisque Duret chạm khắc, một bên cầm quả địa cầu đại diện cho “Sức mạnh quân sự” (la Force militaire), bên kia cầm cây vương trượng đại diện cho “Sức mạnh dân sự” (la Force civile).
            Quan tài của hoàng đế Pháp được đặt chính giữa hầm mộ hình tròn, thẳng đứng với mái vòm. Trên tường của hành lanh chạy xung quanh quan tài là mười bức tranh khắc nổi được thực hiện dưới bàn tay tài hoa và sự chỉ đạo của Pierre-Charles Simart, thuật lại những chiến tích của hoàng đế Pháp, người luôn đứng ở vị trí trung tâm: Bình định các cuộc bạo loạn, Thỏa ước, Hành chính, Tham chính viện, Luật lệ, Đại học, Thẩm kế viện, Thương mại và công nghiệp, Công chính và Bắc đẩu bội tinh.
            Dài 4 mét, rộng 2 mét và cao 4,50 mét, quan tài của hoàng đế được làm từ bốn khối đá sa thạch đỏ (quaczit), đặt trên bệ làm từ đá granit xanh ngọc vùng Vosges. Trên nền đá cẩm thạch nhiều mầu là hình vòng nguyệt quế bao quanh quan tài với những hàng chữ ghi lại tám chiến thắng vẻ vang nhất gắn liền với tên tuổi của Napoléon I: Rivoli, Pyramides, Marengo, Austerlitz, Iéna, Friedland, Wagram, Moskova. Xung quanh mộ là tượng 12 nữ thần “Chiến Thắng”, biểu tượng cho những trận chiến của Napoléon, do Pradier tạc trên cột trụ của hành lang.
            Ở cuối hầm mộ, là bức tượng hoàng đế Napoléon II, trong trang phục hoàng gia. Bức tượng là một tác phẩm điêu khắc tuyệt vời của Simart, được làm từ đá cẩm thạch trắng và cao 2,66 mét. Bên tay phải, hoàng đế Pháp cầm vương trượng với một con đại bàng đậu ở phía trên và bên tay trái là quả địa cầu với vương miện được đặt ở trên, như muốn thâu tóm thế giới bằng sức mạnh và quyền lực.


Bên trong Nhà Vòm điện Invalides, Paris

Đúng di hài hoàng đế Napoléon I nằm trong quan tài?
            Trong mộ của hoàng đế Napoléon I có gì không? Và nếu có, liệu có phải là di hài thật của hoàng đế Pháp? Những thắc mắc này được đưa ra từ lâu, thậm chí có ý kiến đòi khai quật mộ của hoàng đế Napoléon để kiểm chứng.
            Thực vậy, khi đón phái đoàn Pháp đến đảo Sainte-Hélène vào năm 1840 để đưa di hài hoàng đế Napoléon I về nước, chính quyền Anh đã đưa ra những quân lệnh kỳ lạ: Tự tay người Anh khai quật mộ, trong đêm tối, dưới những ngọn đuốc le lói; Số người tham dự bị hạn chế, phải đứng cách quan tài 6 bước và chỉ có hai phút để quan sát thi thể. Ngay năm 1840, nhiều người có mặt trong buổi khai quật mộ hoàng đế Napoléon I đã thấy một số khác biệt với những gì họ đã chứng kiến trong lễ an táng năm 1821.
            Tham gia thảo luận quanh câu hỏi: Phải chăng mộ của Napoléon trống rỗng? Trong chương trình “Au coeur de l’histoire” (tạm dịch: Giữa dòng lịch sử, ngày 17/01/2012), nhà sử học Bruno Roy-Henry, tác giả cuốn Napoléon, l’énigme de l’exhumé de 1840 (tạm dịch: Napoléon, bí ẩn của người bị khai quật năm 1840, NXB L’Archipel), nhận xét:

            “Đúng vậy, người ta đã nhận ra khoảng 30 điểm bất thường, chủ yếu là vẻ bề ngoài của di cốt và trang phục vì có một vài chi tiết khác nhau về số lượng huân huy chương, vào năm 1840, họ thấy thiếu một chiếc. Hay bình đựng nội tạng của hoàng đế Napoléon không nằm cùng vị trí trong quan tài.
            Ngoài ra, còn có điều gì đó bí hiểm với bình đựng trái tim của hoàng đế mà phái đoàn Pháp có mặt lúc đó phải mang về. Đúng ra phải kiểm tra trái tim nằm trong một trong những chiếc bình để trong quan tài nhưng họ lại không động đến và để nguyên. Về những chi tiết khác, phải kể đến đôi hài bị há mõm với những ngón chân lòi ra ngoài, chứ không phải nằm trong đôi tất bằng lụa lúc hoàng đế được khâm liệm…
            Tóm lại, một số nhân chứng khác cũng có cùng nhận định, gần như đa số những người có mặt đều nhận thấy có nhiều điểm khác biệt lớn so với năm 1821. Chính vì thế mà nảy sinh hàng loạt thắc mắc
”.


Bên trong Nhà Vòm điện Invalides, Paris

            Georges Rétif de la Bretonne là người đầu tiên nêu lên những điểm khác biệt lớn này nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của hoàng đế Napoléon vào năm 1969 trong cuốn sách rất nổi tiếng Anglais rendez-nous Napoléon… Napoléon n’est pas aux Invalides (tạm dịch: Người Anh, trả lại Napoléon cho chúng tôi… Napoléon không nằm trong điện Invalides).
            Trong cuốn sách, nhà văn, nhà báo kiêm nhà sử học giải thích những điểm khác biệt đó dựa trên những yếu tố có thật và rõ ràng. Ông còn đi xa hơn khi đưa ra giả thuyết xác của hoàng đế Napoléon đã bị đánh tráo và thay vào đó là thi thể của Cipriani, chủ nhà nơi Napoléon sống trên đảo Sainte-Hélène, vì mộ của Cipriani, chết tại Sainte-Hélène vào tháng 02/1818, đã biến mất và vẫn chưa được tìm thấy.
            Những bí mật, những khúc mắc sẽ còn ngủ yên trong lớp quan tài vững chắc dưới lớp bụi trắng mà du khách người Bỉ cho là sẽ tác động đến hình ảnh của điện Invalides và ngành du lịch Pháp.


THU HẰNG
Tháng 8/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170825-phap-dien-invalides-noi-yen-nghi-cua-hoang-de-napoleon-de-nhat

3


Một ý kiến về “chữ Trung”

Nhân bài “Chữ Trung” của ông Nguyễn Văn Trung
đăng trong “Sinh-Lực” số 3 ngày 13-11-58

         Bài khảo luận “chữ Trung” của ông Nguyễn Văn Trung, đăng ở số 3 Sinh Lực, ngày 13-11-58, đã gây nên nhiều thắc mắc. “Chữ trung làm cho tôi lệ thuộc người khác, mất cả tự lập, phải giữ một điều hứa mà chính mình không còn muốn và không thể giữ được nữa”, vì tình thế đổi khác, nên chúng ta không thể giữ được lời thề xưa. “Lời thề chẳng qua là một ảo vọng, một tin tưởng ngây ngô có thể vĩnh viễn hóa thời gian thay đổi”.
         Nên “ta không giữ mãi được một điều đã hứa, vì ta lệ thuộc vào thời gian, không làm chủ được thời gian, không thể nhận định đúng một cách tuyệt đối và chỉ một lần hướng đi của cuộc đời ta”.
         Một vài đoạn đó cho ta thấy cách lập luận của tác giả chẳng khác gì chủ trương của thuyết hiện tượng, và vô tình hay hữu ý tác giả có thể mở đường cho chủ nghĩa duy vật vô thần.
         Vẫn hay, những hiện tượng của chữ Trung, những áp dụng của chữ Trung có thể đổi thay, nhưng nguyên tắc làm căn bản cho chữ Trung không thể đổi thay. Xưa kia, vì phò vua, vì trung thành với một nhân vật, có người để hỏng cả cuộc đời, khi vua hay nhân vật thất thế. Nhưng dù sao, trước cảnh hy sinh đó chúng ta vẫn kính phục.
         Dĩ nhiên ngày nay, hành động của ta hơi khác, vì trên và ngoài nhân vật hay chế độ còn tổ quốc, chính nghĩa, ích chung, tôn giáo: quan niệm của ta sâu rộng, tinh vi hơn, nhưng không vì thế mà nguyên tắc căn bản của chữ Trung đổi thay. Dựa vào tình thế khác biệt và sự biến đổi không ngừng để phi bác nguyên lý bất biến, thì quả là một ngộ nhận, và sớm chầy sẽ đưa ta đến phóng túng, bại tục, vô tôn. Phải chăng đó là thực phẩm tinh thần, hay là “thực phẩm trần gian” theo kiểu Gide?
         Thực ra, ông Trung cũng cảm thấy thế nên ông viết: “Dĩ nhiên, xin đừng nhầm tiếng gọi bên trong đó của nhân vị với những sở thích dục vọng chốc lát, để có thể thả cửa “lòng người, dạ thú”, thay đổi như áo. Nay thế này, mai thế khác như chong chóng xoay theo chiều gió”.
         Lời thanh minh đó đâu đủ để bào chữa cả bài? Phải chăng ông đã bị những triết gia duy vật Âu châu ám ảnh? Câu “đời là đi tìm hơn là tìm thấy” làm cho ta nhớ đến nhà lập dị Emile Alain đã đầu độc thanh niên Pháp. Hơn nữa, ông chọn câu của Oscar Wilde làm chủ đề cho bài khảo luận “Không bao giờ ta trung thành với ta hơn khi ta thay đổi”. Oscar Wilde là nhà văn hào Ái Nhĩ Lan đã làm hoen ố tác phẩm của mình bằng cuộc sống vô luân, chính vì bất trung, đã bị xử án vì gian dâm và hai năm khổ sai…
         Chúng tôi xin nhường lời cho ông Thế Quang phê bình bài của ông Trung, đứng trên lập trường Phật giáo, một lập trường rất đáng tôn trọng.


―  L. T. S.

○ ○ ○


ĐỌC XONG BÀI “chữ trung” của ông Nguyễn Văn Trung, tôi có một cả giác là lạ mà sau khi lắng lặng, có thể phân tích ra như sau:
         – tôi cảm thấy nhẹ nhàng; những gì ràng buộc tôi chặt chẽ lúc trước, nay trở nên lỏng lẻo hơn.
         – tôi cảm thấy “tuột xuống”, cảm thấy người tôi bây giờ không bằng người tôi trước.
         Nguyên tôi có một người bạn, hiệu trưởng một tư thục nọ. Mà huê lợi là nguồn sống chánh của gia đình anh. Cách đây ba năm, tôi mới bước chân vào nghề giáo, anh bạn đã dành cho tôi nhiều giờ; về phần tôi, tôi đã hứa sẽ hợp tác với anh lâu dài và tận lực cùng anh xây dựng cái trường. Lúc bấy giờ, trường khá đông học sinh; số lương tôi lãnh hàng tháng cũng khá. Ba năm qua, anh và tôi là hai trụ cột của tư thục. Tuy nhiên, cũng trong thời gian ấy, do sự cạnh tranh càng ngày càng gay gắt giữa các tư thục, trường bạn tôi đi dần đến chỗ suy sụp: số học sinh giảm nhiều…
         Hiện nay, số lương tôi lãnh hàng tháng kém trước nhiều; mặt khác tôi đã có bộn kinh nghiệm giáo khoa và được những trường trả lương khá mời dạy.
         Đã bao lần tôi muốn bỏ trường nầy vì tôi thấy những lý do khiến cách đây ba năm, tôi hứa hẹn hợp tác lâu dài với anh bạn tôi, nay không còn nữa. Nhiều người bạn mà tôi đã trình bày tình cảnh và ý muốn của tôi, cũng cho rằng tôi đi dạy trường khác là phải. Tuy nhiên, mỗi lần định thực hiện ý muốn thì tôi lại do dự, rồi lại thôi vì tôi cảm thấy không nên xử tệ, không nên thất hứa với bạn. Rồi tôi tiếp tục dạy và tôi tiếp tục sống trong cảnh thiếu thốn, nhưng tôi lại cảm thấy một niềm vui tinh thần tự bảo rằng mình ở đời cũng khá đấy.
         Sau khi đọc bài ông Nguyễn Văn Trung, tôi thấy cái “tình bạn”, cái luân lý “giữa lời hứa lời thề” không thể ràng buộc tôi mãi khi mà những điều kiện đẻ ra nó đã thay đổi. Tôi cảm thấy nhẹ người.
         Nhưng còn cái cảm giác, “tuột” xuống, tôi tìm nguyên nhân của nó thì thấy không phải vì lời chê bai của người ngoài, như đã nói ở trên, mà là một cảm giác đến với tôi từ bên trong.
         Nghe lời ông Nguyễn Văn Trung, tôi tự nhủ: mình không thể để cho một lời hứa một lời thề nhất thời ràng buộc và phải nhìn vào bên trong, lắng nghe “tiếng gọi bên trong của đời mình”.
         Nhưng lắng tai, tôi chỉ nghe từ bên trong vọng ra, càng ngày càng lớn, tiếng “tệ thật”, “tệ thật”.
         Suy nghĩ kỹ, tôi thấy như sau: ông Trung đã giải thoát cho tôi khỏi những sự ràng buộc chỉ có tính chất tạm thời, nhưng lại không cho tôi một cái gì vĩnh viễn để bám vào.
         Trước kia tôi đã bám vào những cái không vĩnh viễn nhưng ít ra tôi cũng có một cái gì để tạm thời bám vào mà đứng; nay thì tôi mất chân đứng và cảm thấy “tuột” xuống.
         Theo ông Nguyễn Văn Trung thì: cái bên ngoài ta biến đổi không ngừng trong thời gian biến đổi, mà cái bên trong thì cũng là cái mà ta đang đi tìm.
         Theo thiển kiến của chúng tôi thì sau cái biến đổi có cái không biến đổi, sau cái tạm thời có cái vĩnh viễn, sau hiện tượng có nguyên lý, sau luân lý có đạo đức.
         Viết bài về chữ “trung”, ông Nguyễn Văn Trung chỉ thấy luân lý mà không thấy đạo đức. Trọn bài ấy, từ đầu đến cuối, ông chỉ nhắm đến chữ “đạo đức” có một lần, lúc đầu khi mới nhập đề, còn lúc đi vào trọng tâm của vấn đề ông chỉ nói “luân lý”, “cuộc đời luân lý”, “đời sống luân lý”.
         Vì không thấy “đạo đức” nên ông không thấy cái trường tồn, cái bất biến, cái tuyệt đối.
         Dưới đây chúng tôi xin trình bày về luân lý và đạo đức.
         Thông thường, nói luân lý, đạo đức, thì phải nói việc phải, việc quấy, việc lành, việc dữ và chánh yếu là phải nói đến lương tâm.
         Đã là người ai cũng biết lương tâm. Người ta biết lương tâm bằng trực giác. Lương tâm là tiếng nói của bên trong, giúp ta phân biệt phải với quấy, lành với dữ; khen ngợi khi ta làm phải, làm lành, la rầy, trách móc khi ta làm quấy, làm dữ. Thú vật thì không phân biệt được phải, quấy, lành, dữ, vì thú vật không có lương tâm. Lương tâm là đặc điểm làm cho người khác thú vật.
         Lương tâm thật là một ánh sáng kỳ diệu, một linh quang mà các nhà hiền triết gọi là “Phật tâm”, “tính thiện”, “chơn nhơn” v.v… Dưới đây, khi dùng danh từ “chơn nhơn” là chúng tôi muốn nói lương tâm.
         Trong sinh hoạt của lương tâm, ai cũng có thể có những nhận xét sau đây:
         – Việc phải thường là việc lành nhưng vẫn có trường hợp việc lành lại cho là quấy.
         Quan Công tha Tào Tháo tại Huê Dung đạo là một việc lành, nhưng dưới mắt một người căm thù Tào Tháo thì hành động ấy là quấy.
         – Việc dữ thường là quấy nhưng vẫn có trường hợp việc dữ được cho là phải.
         Bên thây Đổng Trác giữa chợ, moi rún y làm tim thắp đèn là một việc dữ, nhưng bầy tôi trung của nhà Hán thì cho hành động ấy là phải.
         Tuy nhiên:
         – Việc lành dù bị coi là quấy, do một người hay một nhóm người, nhưng vẫn được người đời nói chung và qua các thời đại cho là một hành động có đạo đức và được lương tâm khen ngợi.
         – Việc dữ, dù được coi là phải, do một người hay một nhóm người, nhưng vẫn bị người đời nói chung và qua các thời đại cho là một hành động bất nhơn, phi đạo đức và bị lương tâm trách cứ.
         Qua những nhận xét trên, chúng ta thấy rằng:
         – Phải, quấy là đứng trên lập trường từng người hay từng nhóm người mà nhận xét.
         – Đạo đức hay phi đạo đức là đứng trên tư cách con người nói chung mà nhận xét.
         Do đó:
         – Người này, người kia, nhóm người này, nhóm người kia có thể nhận xét về phải, quấy khác nhau. Ngay một người hay một nhóm người cũng có thể nhận xét phải quấy khác nhau từ thời gian nầy qua thời gian khác.
         – Trái lại về lành dữ, đã là người thì nhận xét phải nhứt trí trong không gian và thời gian.
         – Phải, quấy là thuộc về luân lý, dựa vào người, có tính chất tương đối, hay biến đổi.
         – Lành, dữ là thuộc về đạo đức, dựa vào tự nhiên, dựa vào Trời, có tính chất tuyệt đối, bất biến.
         – Nhận xét về luân lý là nhận xét của cái ta ích kỷ có sự tham gia của lương tâm.
         – Nhận xét về đạo đức là nhận xét đơn thuần của lương tâm.
         Do đó:
         – Nhận xét về luân lý và nhận xét về đạo đức có chỗ nhứt trí và có chỗ không nhứt trí.
         – Lương tâm ta, chơn nhơn ta, về bản chất, dính với Trời.
         Trên đây là những nhận xét đầu tiên về luân lý và đạo đức, đứng bên ngoài mà nhận xét vấn đề. Dưới đây, chúng tôi xin nhìn vào bên trong, phân tách nội dung để giải đáp hai câu hỏi:
         – Đạo đức là gì?
         – Luân lý là gì? liên hệ giữa đạo đức và luân lý là thế nào?

Đạo đức là gì?
         Nếu ta sống cô độc một mình thì khó mà nhận thức thế nào là đạo đức, thế nào là phi đạo đức. Vậy nói đạo đức và phi đạo đức tức phải nói có người, có ta, có đời sống tập thể, có xã hội.
         Sống trong xã hội, mỗi hành động của ta đều có ảnh hưởng đến những người xung quanh và mỗi hành động đều có một chiều hướng. Ta hướng hành động vào một chiều hướng. Ta hướng hành động vào một chiều nào tức là ta mặc nhiên xác định một cái “tỷ” giữa Ta và Người. Cái tỷ ấy có thể viết ra như sau: N/T.
         N = NGƯỜI, xin hiểu là một cá nhân hay một tập thể ngoài ta với những gì quan hệ đến sự tồn tại, sự phát triển của cá nhân, của tập thể ấy.
         T = TA, xin hiểu là cá nhân ta với những gì quan hệ đến sự tồn tại, sự phát triển của nó.
         Hiểu như vậy, chúng ta hãy nhận xét sự biến đổi của N, của T và của N/T.
         Ở đời, có kẻ biết coi người là trọng, biết coi mình là nhẹ, cũng có kẻ coi mình lớn quá mà coi người chẳng ra gì, do đó:
         N có thể biến từ 1 đến 0 cũng như T có thể biến từ 1 đến 0.
         Do sự biến đổi của N hay của T, tỷ N/T cũng biến đổi, trải qua nhiều trường hợp:
         ― Trường hợp (1) N = T; N/T = 1
         Ta đặt người ngang hàng với ta, hành động ta có lợi cho ta mà cũng có lợi cho người, hoặc lợi cho ta mà không hại cho người.
         Đây là hành động của một giáo sư tận tâm dạy dỗ học sinh nhưng đòi hỏi trả lương xứng đáng, hành động của một ông chủ xưởng tính toán, thế nào cho xưởng mình ngày một phát đạt đồng thời đảm bảo cho công nhân mình một đời sống dễ chịu; hành động của một người bán hàng bán với giá phải chăng, thu cho mình một số tiền lời hợp lý mà không làm thiệt hại khách hàng.
         Những hành động kể trên có tánh chất công bình, làm cho mọi người thỏa mãn, gây đoàn kết, thân mến lẫn nhau.
         ― Trường hợp (2) N < T; N/T < 1
         Ta xem người nhẹ hơn ta; coi ta trọng mà coi người như cỏ rác; bóc lột người để cho ta vinh thê, ấm tử.
         Từ một thương gia nói dối, lừa khách hàng để thanh toán một món đồ ứ đọng, đến một ông quan tham lam, bắt người lương thiện để khảo của; một tên bạo chúa, xây ngai vàng trên xương máu muôn dân v.v…
         Tỷ như một con số dưới đơn vị, nghĩa là những hành động loại nầy không có lợi cho ai cả; đối với người thì gây đổ vỡ, đau thương, tang tóc; còn đối với ta, hành động như thế, mặc dầu tạm thời ta có thể nên sự nghiệp, nhưng cuối cùng, cái hoạnh tài ấy nhất định tiêu tan.
         Người đời gọi những hành động như thế là tàn ác, phi đạo đức.
         Khi N từ < 1 xuống gần 0 thì tỷ N/T cũng từ < 1 tuột xuống gần 0, và khi N = 0 thì N/T = 0/T = 0.
         Con người tuột xuống gần con vật, không còn biết đồng bào, đồng chủng nhân quần, xã hội gì nữa; đó là hạng người uống máu không biết tanh, là quỷ, là yêu.
         ― Trường hợp (3) N > T; N/T > 1
         Ta xem người trọng hơn ta, quên ta mà lo cho người.
         Đây là hành động của một quân nhơn bỏ mình vì nước; của một nhà cách mạng, hy sinh gia đình, vào tù ra khám để tranh đấu cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, dân tộc; của một tín đồ, chịu cực khổ, gian lao, lăn mình vào giữa những kẻ đi đoan mê tín, để truyền bá chánh đạo.
         Người đời thường gọi đó là những hành động đạo đức.
         Trường hợp (1) và trường hợp (2) hằng ngày được cụ thể hóa trước mắt ta.
         Những hành động thuộc trường hợp (2) N < T thường được kể nhan nhản trên báo chí, làm cho chúng ta than dài, thở vắn, lo âu.
         Những hành động thuộc trường hợp (1) N = T may thay, cũng được thường thấy, được ta khen ngợi, mến phục, khiến ta tin tưởng nơi con người, nơi tương lai xã hội.
         Tuy nhiên, những hành động thuộc trường hợp (3) N > T thì hiếm, nhưng đó là đích nhắm của chúng ta; vì thế chúng ta cần phân tích để nhận xem, bất đẳng thức N > T, N/T > 1 tượng trưng cho những sự kiện cụ thể gì.
         Khi con người tiến tới nhận thức được tương quan giữa ta và người như biểu diễn trong bất đẳng thức N > T, N/T > 1, thì trong con người có những biến đổi mà sau khi phân tích chúng ta thấy những sự kiện sau đây:
         – Sở dĩ con người nhận thức N > T là vì, nhìn ra cái không phải ta, cái phi ngã, con người không thấy từng cá nhân lẻ tẻ, mà thấy một đại thể; cái đại thể ấy gồm bao nhiêu cá nhân khác, trong số đó có chính mình.
         Đem nhận xét này mà rọi lại những tỷ dụ đã nêu ở trên, chúng ta thấy:
         – Quân nhân bỏ mình vì nước là thấy mình hy sinh cho Quốc gia dân tộc, một đại thể gồm ức triệu con người, trong số đó có mình.
         – Nhà cách mạng hy sinh hạnh phúc gia đình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng có một nhận thức như vậy.
         – Tín đồ vượt gian lao, nguy hiểm để truyền bá chánh đạo cũng thấy mình phục vụ một cái gì lớn lao, cao cả, đem chân lý lại cho toàn thể chúng sinh, trong đó có mình.
         Tóm lại, con người nhận thức mình phụng sự một đại thể mà những người khác và chính mình là những bộ phận; và nhận thức ấy có một năng lực cực kỳ mạnh mẽ, động viên con người làm những việc phi thường.
         – Làm những việc anh dũng, phi thường ấy, con người cảm thấy một niềm vui sướng tinh thần khó tả, một niềm vui trong sạch, lâu dài, khác hẳn những lạc thú nhục dục ô trọc, thoáng qua; vui sướng vì thấy rõ hành động của mình đem lại hạnh phúc lại cho những người xung quanh, vì được lương tâm khen ngợi, người đời mến phục.
         – Con người tin tưởng chắc chắn rằng mình đã đi vào con đường đúng đắn, đưa tới lý tưởng cao cả của đời mình.
         – Về trí tuệ, vì con người, được động viên mạnh mẽ, đem hết khả năng, toàn tâm, toàn lực ra thi hành nhiệm vụ, nên học hỏi kinh nghiệm trong hành động rất nhiều; mặt khác vì không bị cái cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, che mờ nhận thức, nên trí tuệ con người phát triển mau chóng lạ thường.
         – Do sự phát triển mau chóng của trí tuệ mà dần dần, sau bao nhiêu công phu học tập, tu tâm, dưỡng tánh, trầm tư mặc tưởng, con người tiến tới nhận thức càng ngày càng rõ cái Đại thể mà mình và những người khác là bộ phận.
         – Đến một mức giác ngộ cao độ, con người nhận thức được cái chân lý kỳ diệu sau đây:
         – Cái bản ngã chân chính của mình không phải là cái ta ích kỷ đắm say nhục dục, mà là cái chơn nhơn khát khao lý tưởng.
         – Mỗi người quanh ta là một chơn nhơn.
         – Ta và người không đối lập nhau; giữa ta và người, tuyệt đối không có mâu thuẫn. Ta và người là đồng nhứt thể, xuất phát từ một Đấng Đại Thể.
         – Đấng Đại Thể ấy là Thực Thể trường tồn của vũ trụ, Đấng Toàn Chân, Toàn thiện, Toàn năng, Nguyên lý tuyệt đối của vũ trụ.
         Đấng Đại Thể ấy, các vị thánh hiền Đông Tây đã thấy được và kính cẩn soi bằng những danh từ khác nhau.
         Logos (của phái Khắc Kỷ Zénon), Le Verbe (Thánh Gioan), Idée (Hégel) – Noumène (Kant) – Mind, Spirit (Emerson), Brahman (Giáo phái Védanta, Ấn Độ), Chân Như (Phật giáo). Danh từ phổ biến ở Á châu là Đạo, của Lão Tử. Dưới đây, mỗi khi đề cập đến Đấng Đại Thể, chúng tôi xin phép dùng danh từ Đạo.
         . . . . . .


THẾ QUANG


BÁCH KHOA |  SỐ 51

4
Chủ đề khác / Re: Bán sách cũ
« Bài mới gửi bởi ngocvancu vào 17/07/2018, 23:25:20 »
727. Văn hóa khoa bảng làng Đông Ngạc
60k

Motsach91

[/quoteCcòn không bạn tôi đăng ký một bản.
5
BÁCH KHOA |  SỐ 51  [15-2-1959 |  104 trang]  giá: 10$

    Số Tân niên 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Dân số và kinh tế [III] |  3-7
Thế Quang |  Một ý kiến về “chữ Trung” |  8-14
Bách-Khoa |  Đạo thờ người quân tử |  14
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Mặc cảm tự ti |  15
Đông Hồ |  Cánh quạt đề thơ |  16-17
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo: Khổng giáo, quốc giáo của Trung Hoa [III] \ F. Houang |  18-21
Vương Hồng Sển |  Thú chơi sách [II] |  22-28
Mộng Tuyết |  Đêm bất dạ |  29-35
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim bên Anh” hay là “mang danh kịch sĩ một thời” |  36-41
Ưng Trình |  Góp ý kiến với ông Nguyễn Hiến Lê về vấn đề: Dịch kinh sách |  42-45
Nguyễn Hiến Lê |  Sau khi đọc bài “Dịch kinh sách” của cụ Ưng Trình |  46-47
Bách-Khoa |  Cách thờ phụng song thân của Tử Lộ |  47
Nguiễn Ngu Í |  Nguyễn Huệ (1752-1792) hay là giấc mộng lớn chưa thành [V] |  48-55
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn ngu Í |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [X] |  56-60
Nguyễn Trần Huân |  Từ điển Y ngữ Việt Nam [XI] |  61-64
Quỳnh Hương |  Bâng Khuâng (thơ) |  65
Bách-Khoa |  Biết cách dùng người |  66
Nguyễn (dịch) |  Cuộc phiêu lưu của chàng sinh viên Đức \ Washington Irving |  67-72
Đông Xuyên |  Trước hiên xuân sớm (thơ) |  73
Bách-Khoa |  Cách trị dân của người quân tử |  73
Tường Linh |  Mùa xuân cao nguyên (thơ) |  74
Vũ Hạnh |  Một cái tết trong rừng (truyện) |  75-84
Xuân Vĩnh |  Mẹ (thơ) |  82
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 49 và 51 |  84
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXXI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  85-88
Quảng cáo |  89-104


SAIGON |  1959




6
Vĩnh Thịnh Thư Xã / Re: HN - Sách bán tháng 7
« Bài mới gửi bởi Francisco Lam vào 17/07/2018, 22:46:59 »
Cho mình đặt mua:
1. Bộ Những người khốn khổ 4tập 390k
21. Thần thoại Bắc Âu 50k
33. Thơ Trung hoa (La Poesie Chinoise) 150k
37. Nhớ lại và suy nghĩ tập 2 & 3: 300k
7
Chủ đề khác / Re: Khủng Long bán sách tháng 7 năm 2018 (new)
« Bài mới gửi bởi Khung long vào 17/07/2018, 21:51:33 »
1095. Những ngày cuối cùng của Hitler : 100.000 đ (giá bìa 138k)










1096. Phụ nữ tùng thư - Vấn đề phụ nữ ở nước ta : 140.000 đ (giá bìa 199k)










1097. Phụ nữ tùng thư - Một điểm tinh hoa, thơ văn Hồng Hà nữ sĩ : 130.000 đ (giá bìa 189k)










1098. Phụ nữ tùng thư - Lời người man di hiện đại, Nhời đàn bà : 50.000 đ (giá bìa 69k)








1099. 3 quyển Phụ nữ tùng thư : 270.000 đ/3 quyển (giá bìa 457k)

8
Cần mua / Re: Cần mua sách
« Bài mới gửi bởi sachlungtung vào 17/07/2018, 21:46:29 »
Đúng rồi, hiện tại , khó ai bán ra những sách trên, nếu bác có hàng độc ( khó có ) để đổi sách thì may ra !
Hàng như thế nào thì là độc, như thế nào là  ác ?
Có phải là nó kèm theo.. 1 chai thuốc cỏ.. không ?  :)
9
Gian hàng của Muasachdetho / Re: Bán sách KHKT khổ lớn
« Bài mới gửi bởi muasachdetho vào 17/07/2018, 21:43:17 »
TẠm dừng.
10
Gian hàng của Muasachdetho / Re: Bán sách KHKT khổ lớn
« Bài mới gửi bởi muasachdetho vào 17/07/2018, 21:42:43 »
F95
Sách khổ lớn
Gía :80k/ bộ 2 cuốn





Trang: [1] 2 3 ... 10