Bài viết mới

Trang: [1] 2 3 ... 10
1
Chủ đề khác / Re: Khủng Long bán sách tổng hợp
« Bài mới gửi bởi Khung long vào Hôm nay lúc 21:36:10 »
571. Bí mật ngôi nhà bên cầu (in 1997, đẹp) : 30.000 đ






572. Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung (bản bìa cứng) : 95.000 đ










573. Việt án - lần theo trang sử cũ : 80.000 đ (giá bìa 155k)






574. Tỉnh thành xưa ở VN : 70.000 đ (giá bìa 110k)








575. Nam Sa Đéc : 45.000 đ




576. Mười năm vắng bóng : 35.000 đ (giá  bìa 59k)




577. 120.000 đ/2 quyển (giá bìa 221k)






578. 140.000 đ/4 quyển (giá bìa 258k)




579. Mùa lá rụng trong vườn : 70.000 đ




580. Bước đường của cải lương : 40.000 đ (giá bìa 85k)




581. Quắng gánh lo đi và vui sống : 40.000 đ (giá bìa 65k)




582. 50.000 đ








583. Đại Việt quốc thư : 60.000 đ (giá bìa 100k)




584. Ngồi tù khám lớn : 60.000 đ (giá bìa 98k)




585. Hoa đỗ quyên đỏ (sách đẹp) : 40.000 đ





2
B / Re: Bùi Giáng
« Bài mới gửi bởi nduytai vào Hôm nay lúc 20:38:15 »


Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?


Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Đinh Cường)


BÙI GIÁNG là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Mặc dù ông từng có thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa, Mai… Nhưng tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.
          Ngược lại, ông được anh em trong văn giới nhắc nhở nhiều. Không phải vì thơ ông khiến họ phải nhớ. Cũng chẳng phải tại ông đã xuất bản nhiều sách trong thời gian từ 1963 trở về trước. Mà có lẽ vì cuộc sống khác thường, tinh thần đôi khi không quân bình, cũng như thái độ xử thế với anh em văn nghệ gây nhiều điều tiếng, đồn đãi…
          Nếu nghĩ về Bùi Giáng chỉ với chừng đó, tôi thấy bất công đối với ông: Một thi nhân hằng băn khoăn về nguồn cội. Tôi muốn đi vào thế giới tâm hồn phức tạp của nhà thơ này, với hy vọng sẽ vẽ được phần nào cõi giới đích thực Bùi Giáng, người được mệnh danh là cuồng sĩ thời đại.
          Bằng những bước thăm dò nghiêm chỉnh, khi tìm vào vũ trụ thi ca họ Bùi, cảm tưởng đầu tiên tôi trực nhận được là cảm tưởng bồng bềnh trôi giữa một khoảng trời bao la, chứa nhiều bỡ ngỡ, hoang mang, hỗn độn. Từ vùng ưu tư này tôi bị thơ ông đẩy trôi sang vùng ưu tư khác. Từ không gian của Nguyễn Du trầm mặc niềm tin Thiên Mệnh, tới không gian Heidegger váng vất những khắc khoải siêu hình. Từ không gian bàng bạc hoài cổ của Huy Cận, qua tới những hay bỡn cợt, hiện hữu…
          Trong cái thênh thang rộng mở đó – người đọc cũng thấy một Bùi Giáng chân phương không trang điểm cho thơ của mình những xung động thời thế, hoặc khao khát về cõi thiên đàng đã mất. Thơ ông bay lượn giữa hai đầu tuyệt đối và hữu hạn. Thơ ông tựa như bị vây khổn trong tấm lưới trầm suy của những quay cuồng, điên đảo kiếp người. Tôi có cảm tưởng, ông cố tạo dựng cho thơ ông một thế giới riêng, rồi đưa hồn mình ẩn trú trong cõi ấy.

                   “Giấc xanh cô độc thề vàng
                    nguồn tiên nga dậy mơ màng gieo âm”


          Nếu trước đó, một Huy Cận cũng đã thiết lập cho mình một địa-giới-khác:

                   “Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
                    suốt một đời như núi đứng riêng tây”


          Thì hôm nay, Bùi Giáng, cũng mang tâm thức tìm về nguồn trời lượng bể, tìm về với tinh thần an lạc phương Đông:

                   “Vì thiên cổ và bây giờ gần gũi
                    vì hôm nay là chính bữa hôm qua
                    thế nên chi anh xin trở lại nhà
                    vì hơi thở là linh hồn của phổi
                    vì máu se là nhịp đập của tim
                    thế nên chi anh ngồi ở dặm nghìn”


          “Xin trở lại nhà” và “xin ngồi ở dặm nghìn” quê hương họ Bùi là cõi phi thời gian lẫn không gian (?) Hay đó là cõi trú của những tâm hồn bị ám ảnh ý thức bị đọa lạc, lãng quên? Dường như đấy cũng là mơ mộng chung của đa số thi nhân hiện đại. Chỉ khác nhau ở chỗ họ có tìm được cho mình một lối thoát? Tạo được cho mình một hơi thở, tiếng nói khác hay không mà thôi.
          Ở Bùi Giáng, cũng với những cô độc, gánh vác hệ lụy bất ưng của của kiếp người:

                   “ngủ yên nghe rộng mười phương
                    mây trời tâm hướng thổi hương lại đèo
                    sịch bừng suối đá trôi rêu
                    ghềnh se sắt vó ngựa leo chán chường”


          Trước bế tắc, loay hoay tìm cho mình một mảnh trời mới, đa phần các nhà thơ hôm nay, ít nhiều gì cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tư tưởng, hình ảnh, ngôn từ của một số danh nhân Tây phương như Nietzche, Malraux, Camus, St. J. Perse, Paul Claudel, Jaque Prévert, Paul Eluard… hoặc thấp thoáng xa gần của những Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… Mà, không mấy ai chịu quay về với Nguyễn Du, một tác giả hậu bán thế kỷ 18, một thiên tài của thi ca Việt Nam.
          Riêng Bùi Giáng, với khát vọng về nguồn, về với bản thể dân tộc, ông đã chấp nhận Kiều của Nguyễn Du như ngọn lửa cứu rỗi thần trí thương tích của ông:

                   “Nửa năm hương lửa đang nồng
                    bây giờ cố quận xuống giòng viễn lưu
                    cõi cư trú rộng băng cần
                    nhịp thao thiết gọi về thâu thiên hà”


          Hoặc:

                   “tôi người viễn khách đa mang
                    lọ là thâm tạ con đàng ai đi
                    ngồi trong cỏ mọc xanh rì
                    cầu xin mưa lại đền nghì cho hoa”


          Ông mơ mộng tìm thấy một quê chung, cho mọi người:

                   “Buổi về đắm lụy điêu linh
                    còn nguyên xứ sở nguyên hình chiêm bao
                    máu se tàn lạnh điệu chào
                    trên đầu phố lạ vẽ mầu quê chung”


          Quê chung ở đây phải chăng là cõi trú – là chốn dừng chân cuối cùng của những tâm hồn khao khát tìm ý nghĩa cho cuộc sống xô bồ phồn tạp? Mà vực sâu là khoảng trống hãi hùng và hiện tiền chỉ là những bon chen, lừa đảo?
          Trước thực trạng đen tối ấy, tất cả sẽ còn gì? E chẳng còn gì, một khi những biểu tượng của niềm tin thiêng liêng cũng đã xiêu đổ! Một khi bước chân thi nhân trên lộ trình xuyên qua cuộc đời đi về tình người, cũng là những bước chân hẫng! Một khi cả phần đất mà vết dầu vật chất lẽ ra chưa đủ điều kiện lấn tới, văn minh cơ khí còn bên ngoài ngưỡng cửa đang chôn dần truyền thống đạo lý cũng đã sụp đổ:

                   “Tin từ cố quận bờ nương
                    hoàng hôn thâm tạ môi hồng bình minh
                    gửi trăng lục nhạc về ghềnh
                    bước du tử dựng miếu đền chiêm bao
                    mọc từ đất trích mòn hao
                    mùa xuân tinh thể xin chào bồng sơn
                    cổng xô còn vọng tiếng hờn
                    xin em ở lại bấm tròn cho cung.”


          Ở Bùi Giáng, người ta thường bắt gặp những tư tưởng, những hoài vọng mang tính chua xót. Thơ ông cũng rực rỡ những khao khát đẹp xưa. Đó là những chiếc lá rơi, là những cánh hoa hiu hắt bay; là những tiếng cười tố nữ mong manh, trong vắt thủy tinh; hoặc bàng bạc tiếng hò ruộng đồng, xa xưa…
          Nếu như một Huy Cận tiền chiến, bằng linh khiếu thi nhân đã nhìn ngắm mùa Thu nhập hình mình trong không gian thiên cổ:

                   “Nai cao gót lẫn trong mù
                    Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về”


          Thì họ Bùi cũng cam đành dìm đắm tâm tư trong vũng lầy cuộc sống, trong những xao động u ẩn bất lường của nhân thế, một thứ một tư-hữu-đau-thương… Rồi từ đó, ông đưa tư tưởng tới cõi miên viễn mà danh từ nhà thơ thường dùng là chốn vĩnh-thể trường tồn.

                   “sóng đi lớp mọc phiêu bồng
                    mang về thớ củi chất chồng mưa sa
                    thư cưu mỏng mắt hiên nhà
                    tròn như ngược tự người ta ngó người
                    đất xanh vẽ cỏ xa trời…”


          Với những hình tượng mang nhiều sắc thái quê chung, cùng những địa danh cõi riêng… tôi muốn nói đó là những chất liệu chính mà Bùi Giáng đã tận dụng, để tạo một vòm trời thi ca mang tên ông: Mang lại cho tương lai một khoảng không gian phương đông cổ kính:

                   “giết linh hồn lúc nghiêng mày
                    mù sa xứ sở trùng vây hai miền”

                    (Trích “Nietzche”)

          Hoặc:

                    “Bây giờ tôi ngó bãi ngang
                    bên này dọc ruộng duỗi vàng hoe nương…”


          Nói theo Hoài Thanh, Hoài Chân, khi kết luận về Huy Cận là: “… Đã gọi dậy cái hồn buồn Đông Á, đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này.”
          Thì nay với Bùi Giáng, ông cũng đã đang nổi trôi trong nguồn suối sầu vạn cổ. Nhưng không phải vì thế mà Bùi Giáng hoàn toàn giống Huy Cận.


DU  TỬ  LÊ               



https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tho-bui-giang-anh-huong-nguyen-du-huy-can/

3


Điểm sách: Việt Nam văn học toàn thư: thần thoại của Hoàng Trọng Miên

Tên sách: Việt Nam văn học toàn thư: thần thoại
Tác giả: Hoàng Trọng Miên00000000000000000
Nhà xuất bản: Quốc Hoa
0000000000iiii0000000

QUYỂN “Việt Nam văn học toàn thư” phần Thần thoại ra đời đã lâu. Hôm nay tôi không đặt vấn đề phê bình tỉ mỉ, mà chỉ đi vào vài điểm, theo tôi nhận thức, rất quan trọng đối với Văn học sử Việt Nam.
         Tất nhiên như thế tôi sẽ không bàn tới công trình tác giả đã bỏ ra để có nhiều tài liệu, hình ảnh(1) khiến quyển sách, trước hết, có một vẻ bề thế, khang kiện, thanh nhã, khả dĩ làm cho ngành biên khảo nước nhà đã tiến được một bước về hình thức. Và tôi cũng không cần dài giòng khen tác giả đã chú trọng nhiều về bút pháp để những tư tưởng phiền toái rắc rối diễn ra một cách trong sáng, tinh tường.
         Tôi chỉ nêu hai điểm chính: một điểm tổng quát về Văn học và một điểm riêng về Thần Thoại.

I.– Điểm tổng quát về Văn học
         Sở dĩ có điểm này là vì Thần Thoại là quyển đầu trong tập Việt Nam văn học Tùng thư, cho nên tác giả có nêu ra những điểm làm căn bản cho toàn bộ sẽ tiếp tục ấn hành. Những điều này khá quan hệ, vì ông muốn: “tổng hợp lại cái kho tàng (Văn học) quí giá của tổ tiên chúng ta để lại, đánh giá đúng đắn những giá trị tinh thần cũ”.
         Công việc tổng hợp của ông đặt trên cơ sở “tìm hiểu quá trình phát triển của văn học theo giòng lịch sử, khảo sát giá trị những hình thái văn học và tác phẩm văn chương qua các thời đại”.
         Một công việc có thể nói là vĩ đại. Vì ta có thể hiểu là qua công cuộc sưu tầm toàn thư, tác giả còn làm công cuộc tổng hợp của nhà văn học sử trong cái nghĩa đứng đắn và quan trọng nhất của nó.
         Nhưng trên đây, mới là những lời vào đầu cho “…con thú có bề ngang, bề cao, nghênh ngang giữa cỏ cây…”(2) Ta sẽ chờ để thấy sự xuất lộ của toàn hình con thú qua những quyển sách mang các đề tài khác nhau. Chúng ta sẽ tuần tự theo tác giả khảo sát, để xem công cuộc tổng hợp đó ra sao trong cái tình trạng của đa số nhà biên khảo còn như mù tịt trước một nền văn học mà tài liệu thiếu hẳn. Một tình trạng văn học trong đó có lẽ chỉ văn chương truyền khẩu và thi ca là còn lưu lại những gì đáng kể, song đã được ông Hoàng Trọng Miên báo trước: “Một nền văn chương dân tộc, có thể đem so sánh với bất cứ dân tộc nào, đã có những tác giả và tác phẩm có thể sánh vai với bất cứ nước nào trên thế giới”, trang 6 (sic và resic).
         Nhưng hãy khoan… Những điều này chỉ có thể nhận định sau khi toàn bộ sách ra đời. Bây giờ chúng ta đi theo việc chia phần.
         Sách gồm bốn phần, theo sự phát triển của “4 ngành rõ rệt trong văn học:
             1) Văn chương Truyền khẩu.
             2) Văn chương chữ Hán.
             3) Văn chương chữ Nôm.
             4) Văn chương Quốc ngữ.”
         Chỉ cần nhìn qua, người ta đã thấy có sự lạ trong việc phân ngành: chữ Hán! Gọi là sự lạ vì không mấy ai dám công nhận một ngoại ngữ – cho dẫu quan hệ đến văn học ta như thế nào – đem nó vào nền văn học nước nhà. Đành là: “Trong một thời gian suốt mười mấy thế kỷ, tổ tiên chúng ta đã diễn đạt tư tưởng tình cảm bằng chữ Hán, văn học chữ Hán do người Việt sáng tác đã có ảnh hưởng đến đời sống của dân tộc, tác động đến sự tiến triển của lịch sử đất nước và chữ Nôm cũng thoát thai từ chữ Hán mà ra”.
         Song như thế, chính ông đã tự phản ông. Vì ở trang mở đầu, ông đã tuyên bố một cách rất hợp lý, hợp tình là: “Văn học là một hiện tượng dùng ngôn ngữ dân tộc có tính chất nghệ thuật để diễn đạt bằng hình ảnh mà truyền cảm, biểu hiệu tinh thần, tình cảm của con người”.
         Hay ông cho đó là lệ chung, còn sự dùng Hán tự là ngoại lệ? Có thể có một lệ ngoại ngữ 1/4 của toàn thể? Có lệ ngoại đưa tiếng ngoài vào để tìm hiểu những sắc thái tinh thần của một dân tộc? Cái thứ chữ ngoại đó, ông tin là đã ảnh hưởng đến quần chúng thế nào qua các thời kỳ lịch sử? Còn bảo nó có ảnh hưởng đến đời sống dân tộc, tác động đến sự tiến triển của lịch sử đất nước thì tôi thiết tưởng Tứ thư, Ngũ kinh, Tam quốc, Thủy hử và sau này các sách của Lương Khải Siêu chẳng hạn… ảnh hưởng có kém đâu?
         Trong thế giới, đâu phải thiếu những nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của một nền văn hóa khác mà chính chữ viết của họ cũng lấy theo “mẫu tự” nước khác giống hệt trường hợp Việt, Nhật đối với văn học Trung Hoa. Văn sĩ, biên khảo gia của họ cũng tạo tác nhiều công trình đáng kể bằng thứ tiếng liên hệ ấy. Trường hợp văn học La-Hy đối với một số nước Tây phương là bằng chứng hùng hồn hơn hết. Thế mà có ai đi ghép các nhà văn, nhà biên khảo ấy cùng là tác phẩm của họ vào văn học chính thống nước nhà đâu? Ngược lại, chỉ thấy các văn học sử gia công nhận vào văn học sử Tổ quốc những nhà văn ngoại quốc viết bằng tiếng nước họ thôi.
         Sự táo bạo này của ông Hoàng Trọng Miên không phải đầu tiên. Mười mấy năm trước, tôi nhớ ông Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử cũng đã thực hiện công việc ấy và đã bị khá nhiều học giả (trong số ấy có ông Đặng Thái Mai ở Thanh Nghị) công kích một cách chính đáng.
         Tôi sở dĩ nói dài một việc mà người ta nhắc đến đã nhàm tai này chỉ vì một sự lạ thứ hai mà Hoàng quân sắp cống hiến chúng ta. Tôi hãy chép lại sự lạ ấy:

         “Ngoài những thơ văn truyền miệng bằng tiếng Việt, hoặc chữ viết bằng nôm, hán, quốc ngữ, chúng tôi có thêm phần văn chương của các đồng bào thiểu số (Mường, Thái, Thổ, Mèo, Mán, Cao Nguyên…) vốn có quan hệ xa gần với chúng ta mà bấy lâu đã bị bỏ quên. Thêm phần văn học của các dân tộc thiểu số vào văn học của dân tộc đa số Việt Nam, mục đích của tôi là làm cho bộ Việt Nam văn học toàn thư được thêm phong phú với sự đóng góp hợp lẽ, hợp tình của văn chương các dân tộc cùng trên một giải đất, cùng chung một hoàn cảnh lịch sử với chúng ta”.

         Thật là một ý mới mẻ! và đáng yêu biết bao. Còn có cái tinh thần đại đoàn kết nào cao cả hơn. Nhưng nghĩ cho kỹ, tôi cho đó chỉ là một sự lạ thứ hai đẻ ra do sự lạ thứ nhất: Quan niệm sai lầm về Văn học sử. Bởi vì, lần thứ hai, ông lại tự phản với nhận định của mình về văn học là: “dùng ngôn ngữ dân tộc” “biểu hiện tinh thần, tình cảm con người”. Đó không phải một ý tầm thường, mà chính là tư tưởng căn bản quyết định. Đưa nền Văn học thiểu số vào, ông sẽ đứng trên căn bản nào để phê bình và tổng hợp? Mà trước hết, ông hiểu thiểu số là thế nào? Dân tộc thiểu số chỉ có nghĩa là không hay chưa có nền độc lập riêng rẽ nên phải có sự liên hệ với đa số trên một quốc gia về phương diện chính trị, quân sự để bảo vệ sự an toàn chung cho lãnh thổ. Nhưng về các điều kiện khác, nhất là về văn hóa thì họ độc lập rõ ràng. Họ có tiếng nói riêng, có sự phát biểu riêng (có thể khác hẳn và trái ngược với ta) có chữ viết riêng, có phong tục tập quán riêng. Văn học của họ, dù chỉ mới là truyền khẩu, cũng chỉ để thể hiện những mối cảm nghĩ đặc biệt của họ, không liên can gì đến chúng ta, dù có sự ảnh hưởng qua lại đối với ta. Từ truyền khẩu, khi họ đã có chữ viết riêng thì chữ viết đó đã cũng sẽ theo qui luật tự nhiên mà thể hiện những tư tưởng, tình cảm mỗi ngày mỗi trưởng thành, mỗi trở nên phức tạp của họ và riêng của họ.
         Nó chỉ có thể giúp ta hiểu vấn đề có ảnh hưởng qua lại với nhau như đối với văn học Trung Hoa hay Pháp mà thôi. Vậy, tôi nhắc lại, ông đứng trên căn bản nào để phê bình và tổng hợp? Trên tinh thần đa số, ông sẽ trở thành một loại “đế quốc tinh thần” một cách trịnh trọng. Còn trên tinh thần thiểu số thì ông lại đi ra ngoài mục đích của Văn học Việt Nam. Còn dung hòa thì dung hòa gì được giữa hai khác biệt?
         Đó là cái khó trên tính chất. Còn trên phương tiện, ông sẽ nghiên cứu bằng thứ tiếng gì? Tôi đoán (đáng lẽ tôi không có quyền đoán) ông sẽ nghiên cứu bằng tiếng Pháp vì trong bản sách tham khảo, tôi thấy ông chỉ căn cứ vào tiếng Pháp để dịch các văn kiện của dân tộc thiểu số? Như thế nghĩa là nghiên cứu văn học “nước mình” ông lại phải dịch “nguyên tác” bằng một thứ tiếng thứ ba?
         Sự sai lầm này hết sức nghiêm trọng, không ai cấm ta, trong phần phân tích, tổng hợp có thể đưa nhiều chứng minh của văn chương miền Núi để đối chiếu, làm phong phú và sâu sắc thêm vấn đề. Song dầu cả một mớ tài liệu dịch từ tiếng ngoại quốc để làm chính văn mà nghiên cứu phê bình văn học nước nhà thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm càng trở nên quá quắt – tôi sẽ còn nhắc lại lần thứ hai – khi nhìn qua tập thần thoại, ta lại thấy văn chương miền Núi chiếm phần quan trọng gấp mấy văn chương Việt Nam! Thành người ta không hiểu đang đọc văn học sử miền Núi hay văn học sử Việt Nam nữa.

II.– Điểm riêng về thần thoại
         Thần thoại nằm trong văn chương truyền khẩu. Mở đầu phần này, ông Hoàng Trọng Miên viết: “Văn học các dân tộc trên thế giới đều bắt đầu bằng văn chương truyền khẩu”.
         Lại một sự sai lầm đáng kể nữa. Vì ở trong thế giới, một nền văn học quan trọng như Hoa Kỳ, đã không mở đầu bằng truyền khấu. Mà do đó, ta cũng có thể đoán biết nhiều dân tộc thành hình sau cuộc tìm ra Tân lục địa cũng bắt đầu ngay văn học của họ bằng các hình thức đã tiến bộ như chữ viết hoặc cả ấn loát nữa. Sự kiện này nhắc ta chú ý đến việc chưa nên vội vàng thành nguyên tắc và nhất định cũng không hoàn toàn theo tình trạng chung để xét các vấn đề quan hệ đối với từng quốc gia. Nhất là với văn học, dầu chỉ là một hai lệ ngoại trong tổng quát, cũng cứ phải theo lệ ngoại ấy để nghiên cứu tường tận, vì nó có quan hệ đến tư tưởng tình cảm muôn vạn con người. Nó quan hệ như một quyền phủ quyết.
         Tôi muốn dẫn đến việc nhận thức một điểm quan hệ: Không kể ở các dân tộc không có văn chương truyền khẩu, thì tại các nơi có văn chương truyền khẩu thần thoại có nhất thiết phải khởi đầu cho nền văn chương này không?
         Đó là điều căn bản. Vì có đi từ đó, chúng ta mới đặt vấn đề nghiên cứu thần thoại được.
         Và sở dĩ đặt điểm căn bản ấy, bởi vì nghiên cứu văn học của nhiều quốc gia, người ta cũng thấy có các văn học sử gia không đề cập đến thần thoại. Ngay nền văn học rực rỡ và sớm tiến bộ ở cạnh ta, nền văn học Trung Quốc, mà có người cũng không công nhận thời kỳ thần thoại của nó. Tôi không dám nói điều ấy là đúng, song sự kiện này mở ra cho chúng ta một hoài nghi xứng đáng! Vấn đề thần thoại không nhất thiết là hễ ở đâu có văn chương truyền khẩu tất là phải có. Nghĩa là ở những nơi dân tộc thành hình hơi chậm, vào thời kỳ các tôn giáo đã thịnh, hoặc ý thức tôn giáo đã rõ ràng thì không có thần thoại. Và ở các nước tiếp theo thời kỳ tiền sử quá lâu mà chưa có chữ viết để ghi chép, thần thoại bị thất lạc hoặc bị thời thế đổi thay đồng hóa nó với cổ tích, làm mất hẳn tính chất căn bản, thì vấn đề thần thoại cũng không thành hình.
         Tất nhiên còn rất nhiều trường hợp phức tạp khác đã đưa đến hiện tượng không có thời kỳ thần thoại trong lịch sử văn học một quốc gia, một dân tộc. Ông Hoàng Trọng Miên không phải không đặt vấn đề hoài nghi: “Song ở nước ta phần vì bị lệ thuộc ngoại tộc ngay từ khi dân tộc mới vượt khỏi thời kỳ dã man, văn hóa bị pha trộn sâu đậm với văn hóa phương bắc, phần vì ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết lịch sử mập mờ, lẫn lộn, nên có dư luận cho rằng trong văn học truyền miệng chúng ta không có thần thoại đúng nghĩa như thần thoại các dân tộc khác”. Nhưng ông lướt qua ngay để xác nhận sự kiện thần thoại trong quá trình phát triển dân tộc: “Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác, đã trải qua một thời kỳ nguyên thủy và thần thoại phát sinh ở trong giai đoạn sơ khai của lịch sử”.
         Tôi cần nhắc rõ ý nghĩa chữ nguyên thủy này mà nhiều người vẫn còn lầm, mặc dầu đã biết qua thời kỳ đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đó có thể giảng nhiều cách khác nhau, nhưng tựu trung có thể hiểu theo lời ông Hoàng Trọng Miên: “… Khi tìm lại nguồn gốc dân tộc, biết rằng đám người Lạc Việt trước kia sống ở lưu vực sông Dương Tử rồi sau vì Hán tộc bành trướng mà phải dồn xuống vùng Trung châu sông Hồng Hà”. Nghĩa là chúng ta bắt đầu không phải như người Trung Hoa, đi từ sự “thiên địa mịt mù” mà là khi đã trưởng thành trong một xã hội có tổ chức, đã biết đóng thuyền, chài lưới, đánh giặc bằng vũ khí như “rìu, cung tên, lao…”, như thế tất là chúng ta đã ra đi với khá nhiều kiến thức tiến bộ có phong tục, tập quán thành hình.
         Tôi muốn so sánh tình trạng của chúng ta với các sắc dân Âu châu khi tiến sang Tân lục địa. Không dám nói rằng chúng ta tiến bộ bằng họ, nhưng chắc chắn chúng ta đã thoát khỏi hình thái tối dã man của người thượng cổ khá lâu rồi. Chỉ có điểm khác với đám dân vượt biển sau này là chúng ta tiến chậm lắm vì các thế hệ sau bị cắt đứt với xã hội Trung Quốc khá lâu. Rồi chính trong các thời kỳ này với những điều kiện về sản xuất, về tổ chức đời sống thích nghi với địa phương v.v… mà một dân tộc mới thành hình và tất nhiên không phải thành hình trên cơ sở “hư vô”, thiếu những liên quan mật thiết với văn hóa phương Bắc.
         Tôi nhấn mạnh cái điểm này để góp ý với Hoàng quân là có lẽ xã hội Việt Nam khi thành lập là ở ngay thời kỳ “tiến từ đa thần đến nhất thần, xã hội loài người sắp vượt khỏi thời đại dã man, những thần thoại trong giai đoạn cuối cùng cũng bắt đầu nhân hóa các vị thần, và các vị anh hùng, dũng sĩ trong lịch sử, những nhân vật khai hóa văn minh, tổ sư các nghề, cũng được thần hóa đưa vào thần thoại. Biên giới giữa thần thoại và lịch sử bắt đầu lẫn lộn, yếu tố truyền thuyết xen vào, thần thoại giảm mất dần tính chất thuần túy” (trang 42).


⋆  ⎎  ⋆

         Mà cho dầu không phải ở trong tình trạng đó thì với cái trường kỳ lịch sử không có chữ viết để ghi chép, thần thoại cũng đổi thay. Nó đổi thay vì thời gian đã đành mà còn vì những biến chuyển quan trọng trong đời sống con người như thay đổi phương diện sản xuất, tổ chức xã hội, chiến tranh, thu nhận văn hóa mới và “… bản chất dân tộc bị phai nhạt, pha trộn. Triết học thực tiễn của Khổng Tử cùng Phật và Lão giáo đã biến đổi chân tướng của thần thoại Việt Nam cũng như đã thay đổi sâu sắc văn hóa Việt tộc, thần thoại nhuốm nhiều yếu tố tiên phật và thế giới của thần phản ảnh tổ chức quân chủ hạ giới theo quan niệm nho giáo”.
         Đó là về nội dung.
         Còn về hình thức thì thần thoại nằm trong hệ thống văn chương truyền khẩu, cốt cách là “truyện” mà phương pháp biểu thị là “kể” lại. Tất cả loại “truyện” phần lớn đều xây dựng theo phương pháp căn bản của truyện và sau này của kịch: trình bày, gút mở(3) qua nhiều biến chuyển tình tiết. Vì “kể” thì nó phải giản dị rõ ràng, cần làm thế nào phản chiếu những nếp cảm nghĩ trong đời sống thực tế bằng lời nói và sự kiện cụ thể. Người nghe có thể liên hệ, so sánh ngay với mọi điều quen thuộc trong sinh hoạt, tín ngưỡng, phong tục v.v… để do đó nẩy ra tưởng tượng, cảm giác. Người nghe truyện không có thì giờ nghĩ ngợi và tìm tòi mọi cái rắc rối nên người kể truyện cứ phải thay đổi chi tiết, tình tiết và có khi cả cốt truyện để thích hợp thời thượng. Chính nhờ ở sự cách điều hòa, văn nghệ hóa mà thần thoại cụ thể hóa được các ý niệm trừu tượng để giải thích thiên nhiên, và cũng vì cách điệu hóa, văn nghệ hóa mà thần thoại mới đi từ tín ngưỡng bước sang văn học. Cho nên nó cũng phải chịu mọi luật lệ biến đổi của văn chương truyền khẩu chi phối.
         Những lý do kể trên đã khiến thần thoại của ta, nếu có, đã biến vào văn chương truyền khẩu như một làn khói biến vào không khí. Muốn trở lại nguồn thật là một vấn đề hết sức khó khăn. Nhà văn phải dùng những phương pháp của nhà sử học: xã hội học, tâm lý học, địa chất học, ngôn ngữ học, lịch sử đối chiếu… và biết đâu không dùng cả kỹ thuật chụp ảnh, thực vật học, hóa học nữa!
         Tại sao không quan niệm như một loại cổ tích mà phải làm việc khó khăn đến thế?
         Vì lẽ thần thoại là một lịch sử của xã hội con người trong một thời kỳ nhất định (từ đa thần đến nhất thần). Nó không chỉ cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên theo một quan niệm cổ mà quan trọng hơn nhiều là ở chỗ nó phản ảnh tâm lý và xã hội thời đại nhất định đó rất rõ ràng. Tôi tưởng nếu chúng ta có chừng mười cái thần thoại chắc chắn là “nguyên tác” thì chúng ta có thể do đó tìm hiểu được khá nhiều phương diện của xã hội thời cơ sở ấy. Mỗi mỗi chi tiết của nó bao hàm nhiều ý nghĩa. Ví như từ một câu này của ông Hoàng Trọng Miên trong truyện “Tu bổ các giống vật: thấy gần đó có bình hương”… Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ cho chúng ta biết: Người dân Việt thời ấy đã biết dùng đất nung bình hương tức là cũng đã biết nặn ra các đồ dùng khác như chén bát, nồi trà, vò, hũ. Người dân Việt cũng đã xa cái quan niệm thô sơ về cúng tế vì đã biết dùng cây hương. Như thế tức là họ xa thời kỳ giữ lửa một cách khó nhọc, đã biết chế hóa các chất cháy liên tục (nếu là mua của ngoại quốc thì ít ra họ cũng đã thay đổi quan niệm về lửa), đã biết dùng tre trong những việc rất tinh vi (chân nhang). Và cũng có lẽ họ đã biết ngửi mùi hương (nếu nhang lúc đó đã có trộn quế) do người chế tạo, đã tìm hiểu ý nghĩa của một làn khói đi từ hữu hình vào hư vô. Rộng ra, tất đã có sự giao thông, giao thương với xã hội Trung Quốc và tiếp xúc khá thân mật với văn hóa Trung Quốc.


⋆  ⎎  ⋆

         Vậy Hoàng quân đã dùng phương pháp nào để tìm cho ra những truyện thần thoại trong cái đám cỏ rậm mênh mông của cố tích?
         Ông viết:

          “Thần thoại Việt Nam lại không được ghi chép sớm bằng chữ viết nên phải chịu thất lạc, tản mác đi nhiều. Tuy nhiên, qua bao nhiêu sự biến cải trong quá trình diễn tiến thần thoại Việt Nam vẫn còn giữ được cốt cách dân tộc, duy trì được các căn bản cố hữu mà không để bị đồng hóa.
         Theo những chuyện thần thoại đã phục hồi được sau đây, chúng ta có thể chia làm ba phần:
             1) Phần thứ nhất, gồm các tích thuộc về nguồn gốc sáng tạo vũ trụ và muôn vật.
             2) Phần thứ hai, gồm các tích thuộc những thần có quyền lực siêu nhiên, trông nom các sự vật đã được cấu tạo.
             3) Phần thứ ba, gồm các tích về những anh hùng dũng sĩ đã được thần hóa
”.

         Tôi vẫn chưa hiểu Hoàng quân đã tìm phương pháp nào để lọc cho ra các truyện thần thoại “còn giữ được cốt cách dân tộc, duy trì được các căn bản cố hữu mà không để bị đồng hóa”.
         Ông chỉ nói qua như thế rồi ông đi sang việc phục hồi. Theo ý ông, việc phục hồi có lẽ chỉ cần làm theo phương pháp giản dị này! Lấy trong các truyện cổ tích ra. Xem những truyện nào có sự tích ly kỳ thì thu góp lại. Xong rồi đem lược bỏ lần các sự tích thuộc Tiên thoại, Phật thoại và sau các loại thần mới phát minh sau này như thần ăn mày, thần ăn trộm. Nghĩa là cứ theo phương pháp loại dần cho tới khi nào chỉ còn những bài có “tích chuyện đời xưa, mà nhân vật là các thần của thời nguyên thủy, khác với thần về sau phần nhiều đã chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo. Thần trong thần thoại là một năng lực siêu nhiên, chất phác, vô tư, cũng khác hẳn với các thần trong truyền thuyết, lịch sử và những nhân vật được thần thánh hóa…” “Thần trong thần thoại đều phát sinh từ những hiện tượng thiên nhiên, như thần Sấm, thần Sét, thần Đất, thần Nước, qua trí tưởng tưởng chất phác của con người nguyên thủy với một quan niệm đơn sơ, mộc mạc về vũ trụ và nhân sinh”.
         Điều cần nhấn mạnh là quan niệm nhất thần và đa thần ở xã hội Việt Nam từ xưa không có biên giới rạch ròi. Ông Trời của Khổng học (nhất thần) cũng chỉ được nhận thức theo một cách trừu tượng tổng quát chứ không giống như Đức Chúa Trời trong Ki-tô giáo. Do lẽ đó các vị thần khác không phải được đặt ra xa lìa cái trục tâm về ý niệm tối cao, tối thiêng liêng kia, mà cốt để minh họa nó ra bằng nhiều phương diện. Thần Sấm, thần Sét, thần Đất v.v… đâu có phải là những vị có quyền lực siêu nhiên, mà quyền lực đó là do Trời truyền sang. Ý niệm về Thần chưa hẳn có trước ý niệm Trời, mà kể từ khi tin vào Trời một cách rõ ràng hơn với các học thuyết Khổng Mạnh thì các vị Thần vẫn còn giữ rất nhiều “quyền lực tinh thần”. Còn được súng bái và còn được “phát minh” thêm. Trời và Thần là một trong xã hội cổ Việt Nam.
         Ngay trong cái truyện đầu tiên về “Trời” ông Hoàng Trọng Miên cũng viết:

         “Ngày xưa, trước tất cả mọi sự, đã có ông Trời. Trời là một bậc quyền phép vô song ở trên cao, làm ra tất cả: trái đất, núi non, sông biển, mưa, nắng. Sinh ra tất cả: loài người, muôn vật, cỏ cây…
         Từ mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao trên trời cho đến vạn vật ở mặt đất, tất cả đều do Trời tạo nên.
         Trời có con mắt, thấy tất cả, biết hết mọi sự xẩy ra ở thế gian. Trời là cha đẻ muôn loài, xét đến muôn việc, thưởng phạt không bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho là Trời sinh, Trời dưỡng và đến khi chết thì về chầu Trời
”.

         Đã có một ông Trời được quan niệm như thế thì thử hỏi có khác mấy với ông Trời mà nhân dân ta vẫn tin suốt mấy nghìn năm? Và cho đến ngày nay, dân gian ở nhiều nơi vẫn còn tin? Huống chi ông Trời ấy “ở trên cao chín tầng”. Đó không phải là hình ảnh cửu trùng ở thế gian ư? Như vậy thì biết là ông Trời được cấu tạo vào thời kỳ nào? Nhất là với ông Trời Ngọc Hoàng mà tác giả cho là đã theo “Văn hóa Trung Hoa tràn sang với đạo Lão” thì tôi tưởng chẳng còn biết ông ấy thuộc về thoại nào? Tiên, Phật, Thánh? Là ông Trời cổ hay ông Trời kim? Vì Trời “ở trong một cung điện giống như cung điện nhà vua dưới trần đã bắt chước làm theo”, có “quan văn, quan võ tướng tá”, có vợ là “bà Tây Vương Mẫu ở núi Còn Côn” có vườn đào, ăn một trái chín thì được “trường sinh bất tử”… Trời “đội mũ có tua đỏ dắt mười ba viên ngọc ngũ sắc, tay cầm hốt”…
         Thần thoại kể theo lối ấy, thiết tưởng dễ dàng quá! Mà nhân dân ta chắc đều mới sống qua thời kỳ thần thoại chưa quá vài mươi năm!
         Tính chất nguyên thủy được phục hồi như thế nào, quả chúng ta mịt mù thiên địa!


⋆  ⎎  ⋆

         Muốn hiểu rõ thêm sự phục hồi đó một lần cuối cùng, tôi dẫn thêm mấy lời sau đây của Hoàng Trọng Miên:

         “Có những truyện hoàn toàn là của dân tộc, có từ thời nguyên thủy, rồi về sau vì ảnh hưởng của ngoại tộc mà bị chế biến đi. Song những nhân vật, tâm lý, tình tiết trong các chuyện thần thoại dù có giống nhau, khi đã chuyền sang Việt Nam, đều được thay đổi, có khi đến cả chủ đề, nhuộm màu sắc của dân tộc, Việt hóa thành sáng tác của người Việt Nam”.

         Lý luận như thế không sai. Vì đó là tình trạng tổng quát của các nền văn học ở trong một quốc gia phải trải qua nhiều biến cố như ta. Nhưng cái khó nhất và cần nhất là phải đề ra phương pháp nào, phương tiện nào để đi đến sự tìm ra các truyện hoàn toàn Việt Nam, có từ nguyên thủy rồi sau bị chế biến. Cần phải chứng minh ông Hoàng Trọng Miên cũng có kể một số truyện hoàn toàn Việt Nam như Sáng tạo vạn vật, Tu bổ các giống vật, Lúa và cỏ, Thằng cuội với cung trăng, thì nhiều truyện chẳng biết “Thần” nằm ở đâu! Thần thoại khác với các truyện cổ tích khác ở chỗ nào! Tôi chắc ông Hoàng Trọng Miên ít đi vào trong dân chúng. Không cần nói dân chúng miền Bắc. Ngay những khu vực mới định cư từ thời kỳ Nguyễn Hoàng trở về sau, suốt cả miền Nam hiện nay, dân chúng đến đâu cũng đặt ngay các truyện mới để giải thích các hiện tượng thiên nhiên. Không kể những truyện theo loại: giải thích tại sao con chim nọ “chới với nhún ba lần” rồi mới đậu (Tu bổ các giống vật), hay trời giận vì người đàn bà “cầm chổi rượt theo hạt lúa” khiến bắt người phải trồng lúa mà ăn (Lúa cỏ) v.v… Đó là những lối của cổ tích. Một trăm cổ tích đã hết đôi ba mươi cái giải thích thiên nhiên theo lối ấy rồi. Tôi nói ngay đến những chuyện có các vị thần linh cai quản các khu vực, các hang núi, các con sông, những nơi hoang vu; cả sấm, sét, mưa, lụt nhiều nơi nhân dân cũng đặt sự tích, hoặc cải đổi ít nhiều các sự tích cũ để tìm hiểu, giải thích…
         Ngoài một số truyện ít oi “thuần túy Việt Nam” toàn theo lối “Cổ tích giải thích” những hạt lúa, chim chóc cây cỏ chứ không có mục đích giải thích hiện tượng thiên nhiên theo lối thần uy, còn thì hết bảy, tám phần kia là sự tích của Tàu với mấy lời mào đầu trên mỗi bài để đoán định thần thoại Việt Nam trong loại ấy (thần biển, thần nước, thần núi, thần đất v.v…) Không biết nó “Việt Nam hóa” tới đâu (vì thiếu bản đối chiếu với từng truyện của Trung Hoa) chứ cứ nghe nào Long Vương, nào Thiên Hậu, nào Cao Sơn đại vương, nào Thổ Công, nào Kình Thiên Trụ thì chẳng còn rõ là thần thoại của ta hay của Tàu nữa. Vô lý nhất là còn có Thần Văn (thi cử). Nó phải là một sản phẩm tạo ra sau khi nền độc lập đã thu hồi, chủ quyền đã thuộc Việt Nam, Vua Chúa đặt thi cử để chọn nhân tài. Lại cả “Ả Chức” là một truyện cổ tích hoàn toàn Tàu và chẳng có chút gì là thần thoại cũng hiện diện một cách ngơ ngác…


⋆  ⎎  ⋆

         Tôi có thể nói: dẫu các lý thuyết của ông Hoàng Trọng Miên về Thần Thoại đúng hết và những điều tôi khảo luận trên kia sai hết thì tập Thần Thoại của ông vẫn không thể công nhận, vì Thần Thoại không phải chỉ là cổ tích, mà còn là những sản phẩm tinh thần của dân chúng trong một giai đoạn lịch sử nhất định (từ đa thần đến nhất thần) để giải thích các hiện tượng thiên nhiên có ảnh hưởng đến đời sống con người, tức là giải thích gián tiếp về thân phận con người. Nó không có thể chỉ là những bản văn có giá trị truyền cảm mà còn phải là những sự kiện lịch sử có thể minh họa về xã hội một thời. Vậy cần phải có phương pháp của nhiều ngành sử học góp sức để tìm ra chứng minh nó. Nếu là những thần thoại không do một sự kiện lịch sử đáng kể nào có ghi chép, mà chỉ do truyền khẩu của dân chúng lưu lại thì tất cả là sai nhiều. Nhất là khi dân chúng còn tôn sùng những vị Thần trong thần thoại thì chưa có gì chứng minh các vị thần đó là sản phẩm của thời kỳ thần thoại.
         Điểm không thể công nhận thứ hai là tập thần thoại của ông không thuộc Văn học sử vì những sản phẩm gọi là thuần túy Việt Nam trong đó, không ghi theo lối đã được cách điệu hóa, văn nghệ hóa, nghĩa là nội dung và hình thức không có đủ tính chất của những tác phẩm nhỏ truyền cảm. Nó chỉ có thể là một bộ sách thuộc Văn hóa sử.
         Điều không thể công nhận thứ ba là có quá nhiều thần thoại Trung Quốc đã bị Việt hóa. Vì có lý nào một dân tộc thành hình, có cả một thời kỳ thần thoại mà không tự đặt ra được những thần thoại riêng cho mình? Nhất là dân tộc ấy không thể tỏ ra nghèo nàn chút nào khi họ có không biết bao truyện cổ tích đặt ra theo đủ cách khác nhau mà cũng có không biết bao truyện cổ tích chuyên giải thích các hiện tượng thiên nhiên.
         Điểm không thể công nhận thứ tư là trong một tập thần thoại Việt Nam mà thần thoại của miền Núi – có đủ điều kiện của dân tộc thiểu số – lại chiếm hơn phân nửa. Như thế thì là thần thoại của nền Văn học nào?


⋆  ⎎  ⋆

         Tôi mạnh dạn nói thế vì tôi biết tất cả chúng ta chưa có đủ điều kiện để viết một quyển thần thoại. Sở dĩ từ trước đến nay, các tác giả cả Pháp lẫn Nam chỉ để trên các truyện xưa của họ sưu tầm là cổ tích hoặc truyền kỳ là vì họ đều không dám chắc các truyện sản xuất từ thời kỳ nào, cho dẫu đó là truyện của các vị thần.
         Có người cho là một phần lớn thần thoại của ông Hoàng Trọng Miên chép theo các thần thoại của ông Nguyễn Đổng Chi ngoài Bắc. Tôi tưởng như thế, Hoàng quân lại vấp một sai lầm nghiêm trọng thứ hai của ông Nguyễn Đổng Chi mà cái sai lầm thứ nhất tôi đã nêu từ phần một của bài này: Sự đưa văn học chữ Hán vào văn học Việt Nam.
         Nhưng ông Nguyễn Đổng Chi có thể ít lầm hơn nếu ông không ghép tập thần thoại(4) của ông vào lịch sử văn học.


NGUYỄN VĂN XUÂN

___________________________________
(1) Tôi không rõ một số ảnh chụp ở bảo tàng Guinet có in trong quyển này là sản phẩm mỹ thuật của nước nào. Tàu, Nhật hay Việt Nam? Nếu là của Việt Nam tác giả nên chua rõ một số chi tiết vì nó có quan hệ đến sự tìm hiểu văn nghệ Việt Nam. Còn nếu của Tàu hay Nhật cũng nên cho độc giả biết để khỏi nhầm lẫn.
(2) Lời tựa của Tam Ích, mượn ý của Flaubert khi nói về các tác phẩm lớn.
(3) exposition, noeud, denoument.
(4) Nếu đúng là lối viết ông Miên.


BÁCH KHOA |  SỐ 83

4
Cần mua / Re: Tìm truyện tranh Anh em hồ lô
« Bài mới gửi bởi twins89 vào Hôm nay lúc 18:37:55 »
vẫn tìm ạ
5
Từ điển-Ngôn ngữ học / Re: Bán Ngôn ngữ học- Từ điển.......kính mời.
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 15:36:43 »
237
60K
SỔ TAY NGƯỜI DÙNG TIẾNG PHÁP
KHỔ VỪA-HỮU NGỌC
XB 1993-450T

Xin lấy cuốn này anh nhé
6
Từ điển-Ngôn ngữ học / Re: Bán Ngôn ngữ học- Từ điển.......kính mời.
« Bài mới gửi bởi hoaico vào Hôm nay lúc 15:33:10 »
275
80K
VĂN PHAM
SỐNG MỚI XB 1970-500T

XIN LẤY CUỐN NÀY ANH NHÉ
7
316
40K
SPEAKING

317
50K
SANS

8
311
690K
PHÁP VĂN
ĐỆ THẤT
XB 1952-100T

312
100K
NGỮ VỰNG ANH VĂN
ZIÊN HỒNG XB 1960-100T

314
40K
NGỮ PHÁP TIẾNG ANH

315
40K
CLEAR
9
326
60K
TOEFL

327
60K
TOEFL

328
40K
TIẾNG ANH CHUẨN

329
40K
ENGLISH 10

310
40K
ENGLISH 10
10
320
40K
BASIC

321
60K
3500 CÂU HỘI THOẠI
MỌI TÌNH HUỐNG

322
50K
ANH NGỮ CĂN BẢN

323
70K
NGỮ PHÁP TIẾNG ANH
XB 1995-400T

324
50K
12 BỘ ĐỀ

325
60K
GRAMMAR IN USE
1990-300T

Trang: [1] 2 3 ... 10