Bàng Bá Lân

(1/3) > >>

Giấy gói xôi:
Bàng Bá Lân tên thật là Nguyễn Xuân Lân (17 tháng 12 năm 1912[1] - 20 tháng 10 năm 1988) là một nhà thơ, nhà giáo, nhà nhiếp ảnh Việt Nam.



Tiểu sử

Bàng Bá Lân nguyên ở làng Đôn Thư, tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam; nhưng sinh ra ở phố Tân Minh, Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang.

Năm 1916-1918, theo cha mẹ lên sống ở Vôi rồi ở Kép, tỉnh Bắc Giang.

Năm 1920-1928, sống với bà nội ở Đôn Thư, sau đó lại về Kép; học trường tiểu học Pháp-Việt ở Phủ Lý, phủ Lạng thương và đỗ bằng tiểu học Pháp-Việt ở Đáp Cầu.

Năm 1929-1933, vào học trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ bằng Thành chung. Vì thi Tú tài mấy lần không đỗ, năm 1934 ông về Kép vui thú điền viên, làm thơ, chụp ảnh và xuất bản tập thơ đầu tiên Tiếng thông reo.

Trước Cách mạng tháng Tám ông đã có những tác phẩm: Tiếng thông reo (1934), Xưa (hợp tác với Anh Thơ, 1941), Tiếng sáo diều (1939-1945).

Vào Sài Gòn, ông dạy học và cộng tác với nhiều nhật báo, tuần san, bán nguyệt san và xuất bản thêm: Thơ Bàng Bá Lân (1957), Tiếng võng đưa (1957), Để hiểu thơ (1956). Năm 1969, xuất bản các tập truyện: Người vợ câm, Vực xoáy, Gàn bát sách (phiếm luận) và tập thơ Vào thu. Ông cũng cho in hai quyển sách Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại cùng một số sách Giáo khoa Việt văn cho nhiều cấp lớp.

Ông còn đứng làm chủ bút tập san Bông Lúa vào thập niên 1950 ở Sài Gòn.

Từ 1977 đến 1984, Bàng Bá Lân viết thêm Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại quyển 3, hồi ký Trọn đời cho thơ (bản thảo đã thất lạc). Ngoài ra, ông còn viết truyện ký danh nhân Anh em Lumière, ông tổ nhiếp ảnh, viết sách bình khảo, dịch truyện, dịch thơ v.v.

Trong lãnh vực nhiếp ảnh, Bàng Bá Lân cũng tỏ ra là một người có tài năng. Ông từng đoạt những giải thưởng, như: Giải Agfa-Việt báo (Hà Nội, 1937), giải nhì cuộc thi ảnh tạo phủ Thống sứ Bắc kỳ (1938), huy chương của La Revue Francaise de Photographie et de Cinématographie (tạp chí nhiếp ảnh và điện ảnh Pháp) ở Paris (1939), giải thưởng Ferrania (1953); giải thưởng Triển lãm Tuần lễ Văn nghệ Sài Gòn (1955)...

Các tác phẩm nhiếp ảnh của ông từng được triển lãm ở Hội quán Hội Trí tri, (Hà Nội, 1939); Bologna, Ý (1952); Antwerpen, Bỉ (1953); Paris, Pháp (1953); Singapore (1953); Cuba (1954); Rochester, (Mỹ, 1956)...

Năm 1988, Bàng Bá Lân mất tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai câu vẫn được cho là ca dao:

    Hỡi cô tát nước bên đàng
    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

chính là thơ của ông, và nguyên bản của nó như sau:

    Hỡi cô tát nước bên đàng
    Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi.[5]

Giấy gói xôi:
Vào thu


vuhatue:
TRIỂN LÃM ẢNH MỸ THUẬT BÀNG BÁ LẤN NĂM 1956

Lắng nghe:
Phương Pháp Giáo Dục Mới , Tủ Sách Kim Văn phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa 1971 xuất bản


Bảo thư:
Việt Văn bình giảng:

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page