Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20

(1/5) > >>

hoangnguyen:
I. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng gồm cả các tôn giáo thế giới (quốc tế) được du nhập và các tôn giáo bản địa ra đời do một số điều kiện chính trị xã hội nhất định, các tôn giáo bản địa gồm Bửu Sơn Kì Hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo….đã góp phần không nhỏ trong việc đấu tranh chống Pháp. Nó cũng đóng vai trò nhất định trong lịch sử của dân tộc ta, nên việc phân tích những nguyên nhân xuất hiện của các tôn giáo này là một điều cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về tôn giáo có mặt Việt Nam nói chung và tôn giáo bản địa nói riêng.

II. Khái niệm tôn giáo
1.   Tôn giáo là gì?
Tôn giáo, thường được định nghĩa là niềm tin vào những cái gì được coi là siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh cũng như những đạo lý, lễ nghi và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
Như vậy, nói đến “tôn giáo” là nói đến tín ngưỡng, giáo hội, giáo quyền, thần quyền, lễ nghi và thần khải…., và trong nghĩa tổng quát nhất, có thể định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa con người và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế, tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học, và trong buổi đầu phát triển của tôn giáo thường sẽ có các nhà tư tưởng uyên bác, nhà tiên tri xuất hiện với vai trò giải thích các câu hỏi siêu hình như đã nêu trên, và các vị này thường là các vị giáo chủ ban đầu của Tôn giáo. Khi tôn giáo phát triển đến một mức độ nào đó, sẽ đòi hỏi có một tổ chức, một lực lượng tu sĩ có nhiệm vụ phân phối hay rao giảng những tư tưởng triết lý, thần học đến các tín đồ của mình.

Tôn giáo xuất phát từ niềm tin, tín ngưỡng của con người trong sự bế tắc vào việc giải thích nguồn gốc của vũ trụ, nhưng tín ngưỡng chỉ là giai đoạn phát triển ban đầu, chưa có tổ chức điều hành, hệ thống giáo lý, kinh điển và nơi thờ cúng cụ thể riêng biệt và nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc, như vậy có thể nói rằng tín ngưỡng, nếu phát triển đến một mức độ nào thì có thể sẽ trở thành tôn giáo.

2.   Điều kiện chung nhất cho sự ra đời của tôn giáo
Tôn giáo ra đời từ rất lâu, có thể nói là từ buổi sơ khai của con người, nó bắt nguồn từ  khoảng cách giữa tri thức của con người với bản chất của vũ trụ và hiện tượng, con người không thể hiểu được sự huyền nhiệm của vũ trụ vạn vật, và lí do về sự có mặt của mình trên trần gian nên mới tạo ra Thần Thánh và gán cho Thần Thánh một chức năng sáng tạo, và họ đã thờ phượng đấng Thần thánh này và nhờ họ che chở, từ đó tín ngưỡng, niềm tin đã bắt đầu hình thành trong đời sống của con người.
Trong xã hội thuở ban sơ, có những triết gia thích suy tư, thích tìm hiểu về vũ trụ vạn vật, cùng với sự chiêm niệm và  qua quá trình tu luyện của bản thân họ lí giải được một số hiện tượng và đã trở thành những nhà tiên tri và giáo chủ đầu tiên của tôn giáo.
Trong quá trình phát triển của việc truyền giáo, thì đội ngũ đệ tử của những nhà tiên tri sẽ được tuyển mộ để thực hiện chức năng truyền bá giáo lý của giáo chủ, đền thờ được xây dựng để thực hiện các lễ nghi tôn giáo.
Tóm lại có 3 yếu tố chính dẫn đến sự xuất hiện của tôn giáo:
1.   Tín ngưỡng của con người vào đấng thần linh
2.   Các nhà tiên tri (giáo chủ)
3.   Lực lượng thầy tu làm nhiệm vụ phân phối (rao giảng) giáo lý của các giáo chủ, lực lượng này sẽ tu chỉnh kinh điển, thiết lập nghi lễ, xây dựng nơi thực hành lễ nghi tôn giáo

III. Tôn giáo bản địa Việt Nam
Việt Nam xuất hiện nhiều tôn giáo bản địa, nhưng chỉ có bốn tôn giáo chính gây ảnh hưởng nhiều nhất với dân tộc và lịch sử  mà người viết sẽ đề cập một cách tổng quát như sau:

1.   Bửu Sơn Kì Hương
1.1 Người sáng lập
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) là tôn giáo đầu tiên ra đời ở Việt Nam. Người sáng lập là Đoàn Văn Huyên, pháp hiệu là Minh Huyên và Pháp Tạng (1807 – 1856), người làng Tòng Sơn, Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp).
Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương này được truyền ra là từ khi ông về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần ông thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì ông có phát cho một cái lòng phái * có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Ông có bài thơ rằng:
 “Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên, Sơn trung sư mạng địa Nam tiền , Kỳ niên trạng tái tân  phục quốc, Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.”
1.2 Thời gian khai đạo
Năm 1849, bệnh dịch hoành hành nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, khiến nhiều người chết. Đoàn Minh Huyên dùng hoa, nước lã, bao nhang, giấy vàng bạc… chữa lành cho nhiều người. Đồng thời, ông lập ra đạo BSKH bằng cách đơn giản hóa đạo Phật – cả về giáo lý cũng như về nghi thức – như khuyên mọi người tu nhân, học Phật (rèn luyện để làm người tốt, thực hành lời Phật dạy) và đền đáp tứ đại trọng ân (bốn ơn lớn: ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo và ơn đồng bào nhân loại).
1.3 Giáo lý
Ông không yêu cầu tín đồ cạo đầu, ăn chay, tụng kinh, gõ mõ, thờ ảnh tượng… mà chỉ yêu cầu họ niệm danh hiệu Phật A Di Đà, thờ trần điều (tấm vải màu đỏ), cúng bông hoa, nhang đèn, nước lã, mặc áo quần màu đen, có thể để râu, tóc, cưới vợ, lấy chồng. Ông khuyên tín đồ khẩn đất hoang, lập trại ruộng, xây dựng cuộc sống mới.
1.4 Địa điểm
 Người theo đạo ngày càng đông, tôn ông là Phật Thầy Tân An (vì ông tu tại chùa Tân An ở núi Sam, An Giang). Đây cũng là địa điểm hoạt động của BSKH.
Giáo phái BSKH là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

2.   Tứ Ân Hiếu Nghĩa
2.1 Người sáng lập
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, còn có tên là Đạo Lành, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa, do Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp, nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng.
2.2 Thời gian khai đạo
Đạo được sáng lập bởi Đức Bổn sư  Ngô Lợi vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang
2.3 Giáo lý
Cũng như Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương), Ngô Lợi chú trọng phát triển Phật giáo theo hình thức "cư sĩ", nghĩa là tín đồ không cần "ly gia cắt ái" hay "đầu tròn áo vuông", tín đồ mặc áo vạt hò, quần lá nem, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được... Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc "Học Phật - Tu Nhân" làm nền tảng cho sự hành đạo.
Tu Nhân: được thể hiện qua việc kính thờ và phụng sự tứ ân:
Tứ trọng ân bao gồm: ân tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.
Ngoài việc kính thờ trên, người tín đồ còn phải hành xử việc "Hiếu" (hiếu thảo với ông bà tổ tiên) và việc "Nghĩa" (nghĩa vụ với đất nước, đồng bào và nhân loại).
Học Phật:
Là học những điều Phật giáo hóa chúng sanh, thành tâm phụng thờ và trì niệm Phật để cầu được giảm “tội, nghiệp”, được cứu độ và giải thoát.
Mặc dù phát triển từ nền tảng của tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng đạo Hiếu Nghĩa, ngoài Phật giáo còn chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác nữa như Nho (quan niệm tu nhân), và Lão (luyện tinh khí thần).
2.4 Địa điểm
Chùa Phi Lai tại An Giang, được xây từ năm 1872 được coi như là thánh thất của đạo Hiếu Nghĩa. Hơn 140 năm hình thành và phát triển, đạo Hiếu Nghĩa đã qui tụ gần 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh, thành thuộc Nam Bộ, nhưng nhiều nhất là ở huyện Tri Tôn. Đây là đạo thuần túy nội sinh, tín đồ đa phần là nông dân.

3.Phật giáo Hòa Hảo
3.1 Người Sáng lập
Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947).
Huỳnh Phú Sổ là con một gia đình địa chủ ở làng Hòa Hảo. Hồi nhỏ ông đi học và tốt nghiệp tiểu học, song do sức khỏe yếu nên ông phải bỏ học. Trong Quá trình chữa bệnh ông học được nhiều bài học thuốc nam. Sau đó ông nghiên cứu tư tưởng môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An. Ông tự xưng là bậc “sinh như tri” biết được nhiều việc của quá khứ và tương lai, xuống trần với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, bể khổ về chốn Tây phương cực lạc”.
3.2 Thời gian khai đạo
Phật giáo Hòa Hảo được giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập vào tháng 7 năm 1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang
3.3 Giáo lý
Giáo lý của đạo Hòa Hảo được thể hiện trong các bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ soạn thảo trên cơ sở tiếp thu và nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An, đồng thời chịu ảnh hưởng của xu hướng nhập thế của phong trào chấn hưng Phật giáo, của quan điểm đạo đức Nho giáo, Lão giáo. Nội dung giáo lý gồm hai phần: Học Phật và Tu nhân.
- Phần Học Phật: chủ yếu dựa vào giáo lý Phật giáo nhưng được giản lược bớt và có sửa đổi đôi chỗ, có 3 pháp môn chính là Ác pháp, Chân pháp và Thiện pháp
- Phần Tu nhân: Phần thực hành đạo đức “Tứ ân hiếu nghĩa” để tu thân. Đó là thực hành ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.
3.4 Địa điểm
Nơi hình thành của tôn giáo này là tại làng Hòa Hảo, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân tỉnh An Giang và phát triển chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long.
3.5 Quá trình phát triển của Phật giáo Hòa Hảo
- Ra đời năm 1939 nhưng qua đến năm 1940 số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn người. Năm 1941, thực dân Pháp sợ Huỳnh Phú Sổ theo Nhật nên đã câu thúc ông tại Châu đốc rồi Cần Thơ, Bạc Liêu. Năm 1942, Nhật mua chuộc, lôi kéo đạo Hòa Hảo và đưa ông về Sài Gòn. Năm 1945, Huỳnh Phú Sổ được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách là đại diện cho đồng bào Phật giáo Hòa Hảo.
- Năm 1946, những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức “Việt Nam dân chủ xã hội đảng” gọi tắt là đảng Dân xã. Đây là một tổ chức chính trị. Cùng lúc, lực lượng vũ trang riêng của Phật giáo Hòa Hảo được thành lập lấy tên là bộ đội Nguyễn Trung Trực với một lực lượng gồm 7 chi đội vũ trang với khoảng 20.000 binh sĩ và 300.000 đội viên bảo an quân. Năm 1947, sau khi Huỳnh Phú Sổ chết, lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia rẽ, mỗi nhóm cát cứ một vùng.
- Đến năm 1954, tổng số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người.
- Năm 1955, cuộc chiến tranh giữa các giáo phái ở miền Nam (Cao đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên) xảy ra do sự xúi bẩy và chia rẽ của Mỹ – Diệm, lực lượng vũ trang của đạo Hòa Hảo tan rã, đa số sát nhập vào quân đội ngụy. Từ năm 1964, Phật giáo Hòa Hảo được Mỹ – Nguỵ hỗ trợ nên đạo Hòa Hảo phát triển nhanh. Đến năm 1975 tổng số tín đồ có khoảng hơn 2 triệu người

4.Đạo Cao Đài
4.1 Người sáng lập
- Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của một tôn giáo bản địa Việt Nam, có tên đầy đủ là “Đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài được đông đảo quần chúng đón nhận do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản), công chức chủ trương, ban đầu nó vốn là một trào lưu chính trị với mục đích thành lập đạo để tập hợp lực lượng quần chúng mà chủ yếu là nông dân chống lại sự kỳ thị, bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp. Song sau đó trào lưu này đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo lớn tại Nam bộ cho đến tận ngày nay.
- Sự ra đời của đạo Cao Đài gắn liền với tên tuổi của một số nhân vật sau đây:
+ Ông Ngô Minh Chiêu:
Ngô Minh Chiêu sinh năm 1879 tại chợ Bình Tây, Chợ Lớn Sài Gòn. Ông học giỏi, là thư ký của Sở di trú tại Sài gòn rồi tri phủ Phú Quốc. Ông ham mê truyện thần tiên và cầu cơ, tiếp thu “Thông linh học”. Khi đạo Cao Đài chính thức ra đời, ông nhường quyền lãnh đạo cho ông Lê Văn Trung rồi trở về Cần Thơ tu luyện và hình thành phái Cao Đài Chiếu Minh đàn (là biến âm của tên ông). Ông mất năm 1932.
+ Ông Lê Văn Trung:
Lê Văn Trung sinh năm 1875 tại Chợ Lớn, Sài gòn. Năm 1893 tốt nghiệp trường trung học và được bổ làm văn phòng thống đốc Nam kỳ, sau đó chuyển sang làm thầu khoán và được bầu làm nghị sĩ, tham gia hội đồng tư vấn phủ Thống đốc. Năm 1920, ông bị thua lỗ trong kinh doanh và bị phá sản, ông quay sang hoạt động tôn giáo. Nhờ sự thông minh, tài ngoại giao và tài tổ chức, ông đã nhanh chóng tiếp thu sứ mệnh khai đạo của ông Ngô Minh Chiêu và trở thành Giáo tông đứng đầu “Cửu trùng đài” – cơ quan hành pháp của đạo Cao Đài. Ông mất năm 1941.
+ Ông Phạm Công Tắc:
Phạm Công Tắc sinh năm 1893 tại Tân An. Ông bắt đầu làm công chức ngành thuế từ năm 1940. Sau do bị chèn ép nên ông bỏ nhiệm sở chuyển sang hoạt động đạo Cao Đài với chức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp Thiên đài – cơ quan lập pháp của đạo này. Sau khi ông Lê Văn Trung chết, Phạm Công Tắc trở thành lãnh tụ tối cao nắm cả hai cơ quan Hành pháp và Lập pháp và cũng từ đó mâu thuẫn trong nội bộ đạo Cao Đài nổ ra và chia rẽ thành nhiều hệ phái.
4.2 Thời gian ra đời
Đạo Cao Đài ra đời vào đêm Noel năm 1925 trong bối cảnh cách mạng nước ta đang bị khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo, còn chính sách cai trị thực dân Pháp đang đẩy nông dân Nam Bộ vào con đường cùng không lối thoát, trong khi các tôn giáo khác dần dần bị mất uy tín. Đạo được thống đốc Nam Kỳ chính thức đồng ý bằng văn bản vào tháng 10 năm 1926.
4.3 Giáo lý cơ bản của đạo Cao Đài
- Nội dung giáo lý của đạo Cao Đài cơ bản là sự kết hợp các giáo lý của các tôn giáo  Phật, Lão, Nho.
Đạo còn là hệ quả trực tiếp và điển hình của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật – Lão – Nho), là sự hòa nhập giữa trào lưu “Thần linh học” – một hình thức mê tín của dân phương Tây với tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt trong những năm 1924 – 1926, đã tạo nên phong trào cầu cơ – chấp bút (gọi tắt là cơ bút), khá sôi nổi ở vùng Nam Bộ.
- Đạo Cao đài có chủ trương “Qui nguyên tam giáo” (Phật – Lão – Nho, đây có thể coi là nền tảng tư tưởng của đạo, đạo Cao Đài hợp nhất ba tư tưởng lớn của ba đạo (từ bi của đạo Phật, bác ái của Đạo giáo, công bằng của đạo Nho) và có ý đồ “hợp nhất ngũ chi” – thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo – Khổng tử, thần đạo – Khương Thái Công, thánh đạo – Giê su, tiên đạo – Lão Tử, Phật đạo - Thích ca Mâu ni) và đấy là trung tâm giáo lý của đạo. Từ đó đạo Cao Đài bộc lộ ý đồ là “tôn giáo của tôn giáo” và làm cho giáo lý mang tính dung hợp rất phức tạp.
- Giáo lý của đạo Cao Đài đặc biệt quan tâm và đề cao tính thiêng liêng huyền diệu của cơ bút, coi đó là linh hồn của đạo.
+ Ngũ giới cấm (tức 5 điều cấm kỵ): bất sát sinh, bất du đạo, bất tửu nhục, bất tà dâm, bất vọng ngữ.
+ Tứ đại điều quy: 4 điều trau dồi đức hạnh. (Tuân lời dạy bề trên, lấy lẽ hoà người, chớ khoe tài kiêu ngạo, giúp người nên Đạo,đừng vay mượn không trả, đừng kính trước, khinh sau.
- Lễ nghi của đạo Cao Đài khá rườm rà và cầu kỳ cũng là để thể hiện tinh thần tổng hợp tôn giáo.
4.4 Địa điểm
Ban đầu Đạo được thành lập tại chùa Gò Kén (Từ Lâm, Tây Ninh) và năm 1957, thì chính thức xây dựng tòa thánh Cao Đài Long Hoa huyện Hòa Thành, Tây Ninh
4.5 Quá trình phát triển của Đạo Cao Đài
- Khi mới ra đời, đạo Cao Đài là một tổ chức thống nhất với cơ quan đầu não đặt tại Tòa thánh Tây Ninh nhưng sau đó đạo Cao Đài sớm phân hoá thành nhiều hệ phái (trước 1975 có khoảng gần 20 hệ phái, nay còn khoảng trên dưới 10 hệ phái). Quá trình phân hoá về tổ chức là quá trình xa rời nhau về thái độ chính trị của các hệ phái Cao Đài. Một số chức sắc của một số giáo phái Cao Đài mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, bị các thế lực đế quốc lợi dụng, đi ngược lại lợi ích dân tộc. Còn tuyệt đại đa số tín đồ, số đông chức sắc của nhiều hệ phái có quá trình gắn bó với cách mạng, đóng góp công sức vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.
- Sau năm 1975, các chức sắc và hơn 1 triệu tín đồ các hệ phái chủ yếu tu tại gia. Trong thời kỳ đổi mới, các hệ phái đã sinh hoạt trở lại với sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước. Nhiều hệ phái được thừa nhận tư cách pháp nhân như: Tiên thiên, Minh Chơn đạo, Bạch Y Liên Đài… Các hệ phái tổ chức các đại hội. Qua đó, lòng tin vào chính sách tôn giáo của Đảng được củng cố trong tín đồ. Những nhân tố tích cực của Đạo được khơi dậy, khắc phục một bước tình trạng mất đoàn kết trong chức sắc. Xu thế chung là tín đồ đạo Cao Đài muốn hành đạo thuận lợi trong khuôn khổ luật pháp và làm tròn nghĩa vụ công dân.
IV. Nguyên nhân ra đời
Có thể có các cách lý giải khác nhau về nguyên nhân ra đời các tôn giáo bản địa Nam Bộ. Nhưng có một thực tế là các tôn giáo chỉ ra đời trong xã hội của người Việt Nam Bộ và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi đó. Rõ ràng xã hội của người Việt Nam Bộ và bối cảnh của xã hội Nam Bộ vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ, việc đề cập đến bối cảnh Việt nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 sẽ góp phần hiểu rõ lý do của sự xuất hiện tôn giáo bản địa.

1. Bối cảnh Việt nam trong cuối thế kỉ 19

1.1   Tính chất phong kiến của triều đình nhà Nguyễn
Vào đầu thế kỷ 19, được sự giúp đỡ của các thế lực trong và ngoài nước Nguyễn Ánh đã khôi phục được quyền thống trị cho dòng họ Nguyễn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do bản chất của chính quyền này là một dòng họ vua quan đầy tham vọng cho nên khi nắm được chính quyền trong cả nước, thì nhà Nguyễn đã tái lập chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền dòng họ trên phạm vi cả nước. Quyền hành tập trung trong tay vua tới mức bất kỳ một công việc gì dù lớn nhỏ các quan dưới quyền cũng không được tự ý thi hành nếu không có ý kiến của nhà vua.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính cũng thể hiện tính chất nhất quán của triều Nguyễn. Trong lĩnh vực ruộng đất, đường lối chung là sự tái lập và phát triển một cách ưu tiên các loại sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã để là cơ sở cho nền kinh tế nhà nước, đồng thời hết sức chú ý đến sự phát triển sở hữu địa chủ trên cơ sở hạn chế sở hữu nhỏ tự canh của nông dân tập thể. Đường lối này không phù hợp với yêu cầu phát triển lịch sử nên không thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Về hệ tư tưởng, hệ thống chính là Nho giáo. Vì hệ tư tưởng Nho giáo tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam và cùng với việc thờ cúng thần linh, tổ tiên được coi là phương tiện tốt nhất tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và thần dân. Mọi đề xuất cho việc canh tân đất nước đều không được lắng nghe.
Ngay sau khi vượt qua được bão táp khởi nghĩa nông dân để khôi phục lại quyền thống trị của dòng họ Nguyễn, triều đình Nguyễn đã tỏ rõ sự tận hưởng đắc thắng bằng những hành động xa xỉ đáng lên án.  Còn đối với bọn quan lại, sử sách ghi lại đầy rẫy những dẫn chứng không thể bác bỏ về đời sống xa hoa, trụy lạc, tham ô, của chúng. 
Để bù đắp lại những chi phí khổng lồ cho việc xây dựng kinh thành, lăng tẩm và phục vụ đời sống xa hoa của cả một vương triều và bọn quan lại, không có cách nào khác là huy động sức người và sức của trong nhân dân. Người nông dân phải đóng nhiều loại thuế. Ngoài thuế ruộng đất khá nặng nề họ còn phải đóng thuế đinh và nó trở thành một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của nhà nước phong kiến.

1.2 Đời sống khổ cực của những người lao động
Chính sách kinh tế của nhà Nguyễn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân cùng với các yếu tố khác, góp phần tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân. Người nông dân phải đi lính, đi phu để phục vụ cho đời sống vốn đã rất xa hoa của bọn thống trị. Những người thợ thủ công cũng phải đóng thuế hết sức nặng nề. Họ vừa phải đóng thuế đinh vừa phải nộp thuế sản phẩm.
Đời sống của người nông dân khổ cực còn do thiên tai gây nên. Dịch bệnh xảy ra làm chết người làm hao mòn sức lực, ảnh hưởng đến sản xuất đến các sinh hoạt cộng đồng khác. Đi kèm theo thiên tai, dịch bệnh là nạn đói triền miên cũng gây không ít nỗi thống khổ cho người lao động. Thiên tai, dịch bệnh, nạn đói làm cho đời sống của người nông dân tại các làng quê Việt Nam khổ cực đã xô đẩy hàng hàng nông dân phải rời bỏ quê hương phiêu tán. Giai cấp cơ bản và đông đảo trong xã hội là nông dân.

1.3   Sự phản kháng của nhân dân
 Vấn đề cơ bản của nông dân là ruộng đất - tư liệu sản xuất chính và cũng là nguồn sống chính. Nhưng những nguyện vọng chính đáng của họ không được đáp ứng và do đó có những phản ứng tùy theo cấp độ. Cấp thấp nhất là đòi chia lại ruộng đất. Cấp cao hơn là ly tán, bỏ quê hương ra đi. Cấp cao nhất thể hiện phản ứng gay gắt của nông dân là tham gia các cuộc khởi nghĩa. Tất nhiên các cuộc khởi nghĩa nổ ra do nhiều nguyên nhân khác nhau (như mâu thuẫn quyền lợi giữa các phe phái, sự bần cùng của người dân, sự bất bình đẳng quyền lợi giữa các tộc người...) Nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu chi phối đến hình thức đấu tranh là do ách áp bức bóc lột của bọn quan lại địa chủ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, liên tục với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Không cam chịu chết dần chết mòn vì đói rét bệnh tật, các tầng lớp bị trị đã vùng lên tìm lối thoát cho sự sống còn của bản thân mình, cũng tức là đấu tranh cho sự tồn tại của xã hội, của cả dân.

1.4    Cuộc xâm lược của Pháp và những hậu quả của nó
Chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách sát đạo đã tạo cho thực dân phương Tây cái cớ để chúng thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Ngày 31-5-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược. Chúng muốn chiếm Đà Nẵng để làm bàn đạp tấn công Huế. Nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quan quân của nhà Nguyễn trước họa mất nước. Sau đó, chúng chuyển hướng tấn công Gia Định, vốn là chỗ dựa của Nguyễn Ánh trước đây với mục đích là giành một địa bàn quan trọng và thuận lợi cho việc hành binh và lưu thông thương mại đồng thời để gây sức ép với triều đình Huế qua việc cắt đứt con đường vận chuyển lương thực từ miền Nam ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc, để rồi từ đó Pháp sẽ có điều kiện phát triển chiến tranh sang Campuchia, Lào rồi tiến lên vùng biên giới giữa Lào và Trung Quốc. Để thực hiện dã tâm đó vào tháng 2 năm 1859, Pháp chuyển quân từ Đà Nẵng và tiến dần lên Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2 năm 1859 chúng đánh chiếm những đồn nhỏ trên đường tiến vào Sài Gòn. Mặc dù gặp sức kháng cự nhưng cuối cùng chúng cũng chiếm được và tiến đánh Gia Định. Thành Gia Định với mức độ khá quy mô và kiên cố vào thời bấy giờ cũng không thể bảo vệ được trước sức tấn công của thực dân Pháp. Để rồi sau khi chiếm được thành Gia Định thực dân Pháp tiếp tục mở rộng lấn chiếm các tỉnh khác như Định Tường (Mỹ Tho), Biên Hòa. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đã thừa nhận ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và Côn Đảo thuộc Pháp. Trong khi triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ (vì quyền lợi của dòng họ) thực dân Pháp, nhân dân ta ở các tỉnh bị Pháp chiếm vẫn tiếp tục đấu tranh. Đó là những cuộc kháng chiến đầu tiên và còn tiếp diễn mãi. Đến năm 1867, chỉ trong vòng một tuần thực dân Pháp chiếm các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến đây kết thúc giai đoạn đầu trong kế hoạch chung xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Và cũng từ đây bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử nước ta. Mặc dù vua quan nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ nhưng nhân dân ta với lòng yêu nước không cam tâm nhìn cảnh đất nước bị ngoại bang thống trị vẫn đấu tranh kiên cường. Tôn giáo bản địa ra đời trong tình hình này, hầu hết các tôn giáo bản địa đều chủ trương chịu ơn đất nước và ơn đồng bào nên các đệ tử đều tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tóm lại có thể thấy rằng Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Như sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thế giới.

2. Nguyên nhân ra đời của tôn giáo bản địa

2.1 Vị trí và đặc điểm của miền tây nam bộ
Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.
Thứ đến, đó là nơi có nhiều tộc người sinh sống. Đây là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện. Chưa nói đến là nơi đây đã từng có một số tộc người sinh sống nhưng do những lý do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác. Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di cư xảy ra liên tục. Quá trình giao lưu văn hóa, và tiếp biến văn hóa  giữa các tộc người tạo nên sự hội tụ của các nền văn hóa. Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau, và tôn giáo bản địa khi xuất hiện cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố này (hỗn dung tôn giáo của Cao Đài là một thí dụ điển hình).
2.2   Không có hệ tư tưởng chủ đạo chi phối
Có một thực tế là những người nông dân Việt vào Nam Bộ khai hoang lập làng (ấp) ”hầu hết là những người nghèo khổ, dốt nát, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện. Xét về cơ bản, nền giáo dục của lớp cư dân vào Nam Bộ khai hoang van nằm trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo. Đó là nền tảng giáo dục của xã hội Việt Nam thời bây giờ. Nhưng những di dân lại là những người nghèo khó, những người vì những lý do khác nhau đã phải rời bỏ quê hương, môi trường lao động cực nhọc ở miền đất mới không phải là mảnh đất tốt cho Nho giáo bám rễ sâu. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã có ảnh hưởng rất lớn về mọi mặt.  Nhưng một khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó ít học thì khó lòng có thể xác lập được một chỗ trong xã hội để chi phối và ảnh hưởng như nó đã từng có trong xã hội Việt Nam. Vì vậy, việc xuất hiện một tôn giáo bản địa phù hợp với tâm tư ý nguyện của người dân lúc bấy giờ là một điều tất yếu.
Và có thể thấy, đạo Cao Đài ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân Nam Bộ. Trên thực tế, nó có vai trò cố kết người dân không chỉ về mặt tinh thần mà còn về các mặt kinh tế, xã hội. Vì thế đạo phát triển khá nhanh chóng. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây.

2.3   Điều kiện xã hội của vùng Nam bộ thời đó
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.

2.4 Lòng yêu nước của nhân dân ta
Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và cũng chính điều này mà tôn giáo nào hô hào phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc thì sẽ được nhân dân hưởng ứng một cách nhiệt tình và mãnh liệt.
Như Đạo BSKH nhấn mạnh việc đền ơn đất nước, ơn đồng bào, ơn Tổ tiên, ơn Tam Bảo, ơn đồng loại nên khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tín đồ BSKH tham gia đánh Pháp, biến trại ruộng thành căn cứ kháng chiến (điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Bảy Thưa – Láng Linh (An Giang) từ 1867 đến 1873 do Trần Văn Thành lãnh đạo. Theo tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, Trương Định và Nguyễn Trung Trực cũng là tín đồ BSKH.

2.5 Vai trò lu mờ của Phật giáo và Thiên chúa giáo thời bấy giờ
Thiên chúa giáo và Phật giáo là 2 tôn giáo lớn được du nhập từ Nước Ngoài vào Việt Nam, nhưng Thiên Chúa giáo do Pháp mang vào nước ta nên ít nhiều cũng có thiện cảm với chế độ thực dân Pháp, nên không thấy xuất hiện sự đấu tranh của tôn giáo này với chủ nghĩa thực dân.
Còn Phật giáo thì bị Pháp phong tỏa kềm chặt, lại không xuất hiện những nhân vật uyên bác và linh hoạt để có thể hướng tín đồ của mình trong công cuộc đấu tranh chống Pháp một cách hợp pháp công khai hay bán công khai, do vậy quần chúng yêu nước, không thể dựa vào hai tôn giáo này và việc hưởng ứng với các tôn giáo bản địa khác cũng là một tất yếu.

V. KẾT LUẬN

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó ra đời trong những điều kiện xã hội cụ thể và cũng chính những điều kiện cụ thể đó lại chế định vùng ảnh hưởng của tôn giáo. Điều kiện còn thì thì nó còn, và nó sẽ mất đi khi những điều kiện sinh ra nó không còn tồn tại nữa, sự suy thoái kém phát triển của một số tôn giáo bản địa hiện nay đã minh chứng cho quy luật bất biến này.

Qua bài viết trên có thể kết luận rằng, tinh thần yêu nước và đời sống cực khổ của nhân dân, sự đô hộ vơ vét của giặc Pháp, vị trí , đặc điểm và điều kiện của Nam bộ thời bấy giờ cộng với sự suy tàn của Nho giáo, sự lu mờ của các tôn giáo quốc tế khác ở VN đã làm phát sinh nhanh chóng các tôn giáo bản địa tại Việt Nam thời bấy giờ.

Tài liệu tham khảo

1.   GS TS. Ngô Văn Lệ - Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ
2.   Nguyên Hùng -Sư thúc Hòa Hảo NXB TH Hậu Giang 1990
3.   Nguyên Hùng –Người Bình Xuyên NXB CAND 2005
4.   Nguyễn Anh Tuấn & Đỗ Minh Hợp Tôn giáo lí luận xưa và nay - NXB TH TP.HCM 2005

Giấy gói xôi:
Bài này của bác viết ạ? đã đăng báo chưa hả bác ?

hoangnguyen:
Tôi nộp cho trường Phật học rồi bác ạ, nhưng chưa đăng báo.

Giá nào cũng chơi:
Em hỏi bác hoangnguyen tẹo, các tôn giáo bản địa VN đầu thế kỷ 20 đều xuất hiện ở Nam Bộ mà không có tôn giáo nào khai sinh ở bắc và trung bộ phải không? và tại sao? :h

hoangnguyen:
Đúng là ko có tôn giáo nào được khai sinh ở vùng bắc và trung bộ, lí do tóm tắt như sau:

Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.

Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page