Tác giả Chủ đề: Yukio Mishima  (Đã xem 10373 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi silent night

  • ****
  • Bài viết: 384
  • Đánh giá: +0/-0
Yukio Mishima
« vào: 28/05/2010, 12:49:54 »

Yukio Mishima (14 tháng 1 1925 - 25 tháng 11 1970) tên thật là Hiraoka Kimitake , là một nhà văn và nhà biên kịch Nhật Bản.

Tuổi thơ

Mishima sinh ra tại quận Yotsuya ở Tokyo (ngày nay là một phần của Shinjuku). Cha ông là Azusa Hiraoka, một nhân viên chính phủ, trong khi mẹ ông Shizue, là con một hiệu trưởng tại Tokyo. Ông bà nội của Mishima là Jotarō  Mishima và Natsuko Hiraoka.
Tuổi thơ của Mishima bị phủ bóng bởi người bà Natsu, người đã nuôi và cách ly ông khỏi gia đình trong vài năm.  Natsu là một người cục cằn và dễ nổi nóng, điều này thường xuyên được ám chỉ trong các tác phẩm của Mishima. Chính qua tìm hiểu Natsu mà một số người đã phát hiện nỗi ám ảnh với cái chết của Mishima. Natsu thường không cho Mishima ra ngoài ánh nắng hay tham gia vào bất cứ hoạt động thể thao nào với các cậu bé khác; điều này khiến ông phải dành phần lớn thời gian một mình hoặc chơi đồ chơi con gái.
 Mishima trở lại gia đình năm 12 tuổi. Cha ông, một con người của kỉ luật quân đội, đã áp dụng kỉ luật sắt với cậu bé Mishima bằng cách bồng cậu bé lên thành của một con tàu cao tốc; cha của Mishima cũng thường xuyên lùng sục phòng của ông và phát hiện những sở thích "ẻo lả" về văn chương của Mishima và xé các bản thảo đó của ông.

Các tác phẩm đầu tiên

Ở tuổi 12, Mishima viết những câu chuyện đầu tiên của ông. Ông đọc rất nhiều các tác phẩm của Oscar Wilde, Rainer Maria Rilke và vô số những tác gia kinh điển Nhật Bản khác. Ông nhập học một trường dành cho tầng lớp quý tộc ở Nhật.

Sau sáu năm học, Mishima trở thành thành viên trẻ nhất trong ban biên tập văn học của trường, ông bị cuốn hút bởi các tác phẩm của Tachihara Michizō. Những tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông bao gồm thơ Waka, trước khi chuyển hướng sang thể loại văn xuôi.

Mishima được mời viết chuyện ngắn văn xuôi cho tạp chí văn học của trường và gửi bản Hanazakari no Mori (The Forest in Full Bloom), một câu chuyện trong đó người kể mô tả cảm xúc về những người tổ tiên còn sống trong nội tâm nhân vật. Giáo viên của Mishima rất ấn tượng với câu chuyện và họ giới thiệu nó cho tạp chí văn học uy tín, Bungei-Bunka ( Literary Culture). Câu chuyện với ngôn ngữ ẩn dụ và cách ngôn, đã được xuất bản năm 1944, giới hạn trong 4000 bản do việc thiếu nguyên liệu giấy thời chiến tranh. Để bảo vệ ông khỏi phản ừng từ các bạn đồng môn, các giáo viên của Mishima đã đặt cho ông bút danh "Yukio Mishima".
Chuyện Tabako ( tạm dịch: Thuốc lá), xuất bản năm 1946, mô tả sự khinh miệt và đối xử mà Mishima gặp phải ở trường khi ông thổ lộ với những thành viên của CLB Rugby trường rằng ông gắn bó với nghề văn chương. Những kí ức này cũng là nguồn tư liệu cho tác phẩm Shi o Kaku Shōnen (tạm dịch: Cậu bé làm thơ) sau này, xuất bản năm 1954.
Dù cho người cha cấm ông không được viết truyện nữa, nhưng Mishima vẫn tiếp tục bí mật viết vào buổi đêm, dưới sự ủng hộ và bảo vệ của mẹ ông, bà luôn là người đầu tiên đọc một chuyện mới của Mishima. Tham dự các buổi thuyết giảng ban ngày và viết chuyện ban đêm, Mishima tốt nghiệp trường Đại học Tokyo năm 1947. Sau đó ông dành được một vị trí nhân viên bộ tài chính trong chính phủ, một tương lai sáng lạn đang chờ đón.

Tuy nhiên, Mishima lại cảm thấy kiệt sức và cha ông đồng ý cho ông từ chức trong năm đầu tiên để tập trung thời gian cho viết lách.
Các tác phẩm thời hậu chiến

Mishima bắt đầu viết chuyện ngắn Misaki nite no Monogatari ( A Story at the Cape) năm 1945 và tiếp tục viết cho đến cuối thế chiến thứ 2. Vào tháng 1 năm 1946, ông tới thăm nhà văn Yasunari Kawabata tại Kamakura và mang theo bản thảo chuyện Chūsei ( The Middle Ages) và Tabako, nhằm xin lời khuyên và sự giúp đỡ của Kawabata. Tháng 6 năm 1946, nhờ lời khuyên của Kawabata, Tabako được tạp chí văn chương mới Ningen (Humanity) xuất bản.

Cũng trong năm 1946, Mishima bắt đầu viết tiểu thuyết đầu tay, Tōzoku (Thieves), trong đó câu chuyện kể về hai thành viên trẻ trong gia đình quý tộc luôn muốn được tự vẫn. Tiểu thuyết này xuất bản năm 1948, nhờ nó mà Mishima đã được xếp vào hàng ngũ thế hệ thứ hai của những nhà văn thời hậu chiến. Sau đó, ông cho ra đời Confessions of a Mask, một tác phẩm bán tự truyện kể về người đồng tính luôn phải lấp sau mặt nạ để hòa nhập vào xã hội. Cuốn tiểu thuyết đã rất thành công và biến Mishima trở thành một nhân vật nổi tiếng ở tuổi 24.

Vào khoảng năm 1949, Mishima cho xuất bạn một serie tiểu luận trong Kindai Bungaku về Kawabata Yasunari, người mà ông dành cho một sự ngưỡng mộ sâu sắc. Mishima là một nhà văn đa tài, ông không chỉ viết tiểu thuyết, tiểu thuyết ngắn, chuyện ngắn, tiểu luận mà còn là một nhà biên kịch có tiếng cho sân khấu kịch Kabuki và những phiên bản hiện đại của thể loại kịch Nō.

Các tác phẩm của ông đã dành được tiếng vang quốc tế và rất nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Anh.

Mishima đã đi tới rất nhiều nơi; năm 1952, ông tới thăm Hy Lạp, đất nước đã từng làm say đắm ông từ thời thơ ấu. Những kinh nghiệm thu được từ chuyến thăm đã xuất hiện trong Shiosai (Sound of the Waves), xuất bản năm 1954, câu chuyện lấy cảm hứng từ thần thoại Daphnis và Chloe của Hy Lạp.

Mishima cũng khắc họa những sự kiện đương thời trong các tác phẩm của mình. The Temple of the Golden Pavilion ( Kim Các Tự )( xuất bản năm 1956, là một câu chuyện tiểu thuyết hóa về vụ cháy ngôi chùa nổi tiếng ở Kyoto. Utage no Ato (After the Banquet), xuất bản năm 1960, bám sát những sự kiện xung quanh chiến dịch tranh cử thị trưởng Tokyo của chính trị gia Hachirō Arita, vì tác phẩm này mà Mishima đã bị kiện vị tội xâm phạm cá nhân. Năm 1962, tác phẩm Utsukushii Hoshi (Beautiful Star), một tác phẩm gần với thể loại khoa học viễn tưởng thời đó, được xuất bản và nhận được những phản ứng trái ngược.

Mishima từng ba lần được đề cử giải Nobel và là một nhà văn yêu thích của rất nhiều nhà xuất bản quốc tế.
Cuộc sống cá nhân
Năm 1955, Mishima tham gia lớp tập thể thao và chế độ dinh dưỡng cho tập luyện ba buổi một tuần được ông tuân thủ trong suốt 15 năm cuối đời. Trong bài tiểu luận xuất bản năm 1968, Sun and Steel, Mishima phàn nàn về việc những nhà trí thức coi trọng đầu óc hơn thân thể. Mishima sau đó đã trở nên rất điêu luyện với môn kendō.

Dù cho đã từng thăm các quan bar dành cho gay ở Nhật Bản, vấn đề định hướng giới tính của Mishima hiện vẫn là một chủ đề bàn thảo ở Nhật. Mishima kết hôn với Yoko Sugiyama ngày 11 tháng 6 năm 1958 và có hai con là Noriko (1959) và Lichiro (1962).

Năm 1967, Mishima gia nhập Lực lượng phòng vệ đất liền Nhật Bản và trải qua việc tập luyện cơ bản. Một năm sau đó, ông thành lập Tatenokai (Hội lá chắn) nhằm tập hợp các thanh niên trai tráng có võ và thề sẽ bảo vệ Nhật Hoàng.

Trong 10 năm cuối cuộc đời, Mishima viết một vài vở kịch và tham gia đóng trong vài bộ phim cũng như đồng chỉ đạo một bộ phim chuyển thể từ một trong những chuyện của ông, Patriotism, the Rite of Love and Death. Ông cũng tiếp tục viết bộ bốn tác phẩm , Hōjō no Umi (Sea of Fertility), những tác phẩm xuất bản theo khổ định kỳ từ tháng 9 năm 1965.

Vào cuối đời, Mishima là một người tán dương chủ nghĩa dân tộc. Các nhân vật cánh tả không ưa gì ông, đặc biệt là vì ý tưởng chấn hưng tinh thần võ sĩ đạo (bushidō) của Mishima, ông cũng bị rất nhiều những người theo chủ nghĩa dân tộc chỉ trích vì luận điểm nêu ra trong Bunka Bōeiron ( A Defense of Culture), cho rằng Hirohito nên thoái vị và phải nhận trách nhiệm cho sự chết chóc trong chiến tranh.

Tự vẫn
Ngày 25 tháng 11 năm 1970, Mishima và bốn thành viên của Hội lá chắn, tới thăm sĩ quan chỉ huy doanh trại Ichigaya, một trụ sở ở Tokyo của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Bên trong trụ sở, họ dựng chướng ngại vật và trói vị chỉ huy trên ghế. Với một bản tuyên ngôn và khẩu hiệu chuẩn bị sẵn nêu rõ các yêu cầu, Mishima bước ra ban công để hô hào các binh sĩ tụ tập phía dưới và xúi giục họ đảo chính để thiết lập lại sức mạnh của hoàng đế. Tuy nhiên, những lời nói của Mishima chỉ khiến các binh sĩ bị chọc giận và bản thân ông thì bị chế giễu. Ông hoàn thành bài diễn văn đã chuẩn bị sẵn, trở lại phòng chỉ huy và tự sát theo nghi thức seppuku, nhiệm vụ sau cùng truyền thống của nghi thức này được giao cho thành viên Masakatsu Morita của Hội lá chắn thực hiện, tuy nhiên Morita không đủ khả năng thực hiện điều này và cuối cùng Mishima cho phép một thành viên khác của Hội lá chắn, là Hiroyasu Koga ,chặt đầu ông.

Nguồn: Wikipedia
Cách tốt nhất để giữ sách lành lặn, sạch đẹp là đọc nó đến nát bét.
 

Ngủ rồi silent night

  • ****
  • Bài viết: 384
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Yukio Mishima
« Trả lời #1 vào: 28/05/2010, 18:27:46 »


Các tác phẩm chính : Kinkaku-ji* ,( The Temple of the Golden Pavilion- Kim Các Tự )
Kamen no Kokuhaku ( Confessions of a Mask ),Manatsu no Shi ( Death in Midsummer and other stories ), Taiyō to Tetsu ( Sun and Steel ),Hagakure Nyūmon  (  Way of the Samurai )
Cách tốt nhất để giữ sách lành lặn, sạch đẹp là đọc nó đến nát bét.
 

kinhnhieuloc

  • bạn
Re: Yukio Mishima
« Trả lời #2 vào: 02/07/2010, 07:08:02 »
(Image removed from quote.)

Các tác phẩm chính : Kinkaku-ji* ,( The Temple of the Golden Pavilion- Kim Các Tự )
Kamen no Kokuhaku ( Confessions of a Mask ),Manatsu no Shi ( Death in Midsummer and other stories ), Taiyō to Tetsu ( Sun and Steel ),Hagakure Nyūmon  (  Way of the Samurai )
Gởi Bác bản Kim Các Tự  - tiếng Anh

Confessions of a Mask - Lời thú tội cuả chiếc mặt nạ?
« Sửa lần cuối: 04/07/2010, 07:00:42 gửi bởi kinhnhieuloc »
 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #3 vào: 19/10/2010, 09:34:18 »

Tiếng Sóng, Đỗ Khánh Hoan - Đỗ Tường Minh dịch, NXB Sông Thao, 1971



Nguồn hình: Bạn Ho Lieu
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #4 vào: 19/10/2010, 09:35:42 »
Chiều hôm lỡ chuyến
Đỗ Khánh Hoan - Nguyễn Tường Minh dịch
NXB Sông Thao, 1971

« Sửa lần cuối: 11/06/2012, 09:14:48 gửi bởi Nguyên Thánh »
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #5 vào: 19/10/2010, 11:24:38 »

Sau bữa tiệc, Tuyết Sinh dịch, NXB Trẻ, 1973

Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #6 vào: 20/10/2010, 14:26:31 »

Khát vọng yêu đương - Tiểu thuyết

Author: Yukio Mishima, Phạm Xuân Thảo dịch
Publisher: NXB TH An Giang
Edition: 1988
 

Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #7 vào: 20/10/2010, 14:28:20 »

Sóng tình - Tiểu thuyết
Author: Yukio Mishima, Nguyễn Nhật Tâm dịch - Lê Lộc hiệu đính
Publisher: NXB TH Kiên Giang
Edition: 1988
 

Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi Binh

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #8 vào: 20/10/2010, 22:14:45 »
Kim Các Tự- Tiếng Nhật

 

Ngủ rồi joankim

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #9 vào: 22/10/2010, 16:25:53 »

Kim các tự - Nguyên tác: Kinkaku-ji, tiểu thuyết

Author:      Yukio Mishima, Đỗ Khánh Hoan - Nguyễn Tường Minh dịch
Publisher:   NXB An Tiêm
Edition:      1970
 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 

Ngủ rồi Binh

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #10 vào: 22/10/2010, 22:48:04 »
Ngôi Đền Vàng

Yukio Mishima, Lê Lộc dịch
NXB Thanh Niên, 2004

 

Ngủ rồi zhugge

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #11 vào: 03/11/2011, 10:08:29 »
Chết giữa mùa hè
Dịch: Tâm Linh- NXB Phù Sa 1969



Hình của vinhbocap
Đời người có bao nhiêu cái mười năm...
 

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #12 vào: 26/05/2012, 14:14:32 »
Người thủy thủ bị biển khước từ (Chiều hôm lỡ chuyến)
Hà Nội: Nxb Văn học


hình của bác AlphaPi
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.
 

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #13 vào: 01/06/2012, 08:07:36 »
Ngôi đền vàng
Lê Lộc dịch
Tủ sách Đông Tây tác phẩm, 2002

Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.
 

Ngủ rồi muasachdetho

Re: Yukio Mishima
« Trả lời #14 vào: 12/09/2012, 13:45:23 »
Tiếng Sóng - Mishima Yukio. Bản dịch Đỗ Khánh Hoan & Nguyễn Tường Minh. NXB Sông Thao 1971.
(số phận em...sách hơi te tua như bị sóng dập)




« Sửa lần cuối: 12/09/2012, 20:28:44 gửi bởi muasachdetho »
Tk: Lê Thị HIền. Vietcombank NT. Stk 0061000199621