Tác giả Chủ đề: Nguyễn Du  (Đã xem 7513 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Nguyễn Du
« vào: 09/09/2009, 09:52:11 »
Nguyễn Du (1765–1820) tên tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.

Cuộc đời

Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long. Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (thuộc Hà Tây và nay thuộc Hà Nội) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).

Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.

Đến thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới triều Lê... Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu sử học. Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con trai. Người con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm), người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây. Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là Chiêu Bảy.

Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái.

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi).

Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh. Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngả.

Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm, một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.

Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà.

Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếm Đại Việt. Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, quê ở Quỳnh Côi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?).

Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. Năm 1796, nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng. Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn.

Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).

Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc.

Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.

Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.

Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.

Sau khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.

Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820.

Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh)

Tác phẩm

Khái quát

Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh (xem: Văn tế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả v.v.). Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19”. Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.”

Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật , thất ngôn luật, ca, hành...nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà bằng chứng là ở Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát “có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.”

Tác phẩm bằng chữ Hán

Tính đến tháng 5 năm 2008, giới chuyên môn đã sưu tập được 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, được chia ra như sau:

    * Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
    * Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.
    * Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

Tác phẩm bằng chữ Nôm


Sáng tác của Nguyễn Du gồm có:

    * Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đan đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc.

Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học ghi: Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn (tr. 1844)

    * Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.

    * Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.

    * Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.

Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Nghệ An, sau bị quân Tây Sơn bắt giữ rồi thả.

Theo Từ điển văn học (bộ mới) thì: "Bài Thác lời trai phường nón rất tình tứ, mang âm hưởng của ca dao, của vè còn đậm nét. Bài Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, tác giả cũng học tập ở ca dao, tục ngữ, thành ngữ nhưng chưa được nhuần nhuyễn; nhiều chỗ tác giả tỏ ra quá lệ thuộc, làm giảm tính sáng tạo của mình.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du
« Sửa lần cuối: 15/05/2010, 18:48:56 gửi bởi mic27 »
 

Ngủ rồi Dongnat

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #1 vào: 09/09/2009, 21:15:56 »

Thái Hanh, Kim Kiều Hán Việt Truyện, 1971-2004


Nguyên tác: Nguyễn Du (Tố Như tiên sinh), dịch giả: Nguyễn Khắc Nhân (Đông y sĩ Thái Hanh)


Dịch giả kính biếu




Bản này xuất bản tại Úc.
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #2 vào: 13/09/2009, 00:17:44 »
TRUYỆN KIỀU
Ấn phẩm đặc biệt năm 1989 của NXB Thông Tin Hà Nội dưới sự bảo trợ của Hội đồng IBA Việt Nam. Bàn này có nhiều họa bản mới, dị bản gốc và các bản in nổi tiếng trước đây của các hoạ sĩ: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Đức Nùng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân. Tổng cộng có 17 phụ bản màu, áo bìa là hoạ phẩm "So dần dây vũ dây văn" của họa sĩ Trần Văn Cẩn. Sách dày 175 trang.





                                             
 

Ngủ rồi Thoong

  • Ngự sử đại phu
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 6,928
  • Thanked: 89 times
  • Đánh giá: +3/-0
  • Tứ triều nguyên lão
Re: Nguyễn Du
« Trả lời #3 vào: 13/09/2009, 19:29:53 »
một cuốn sach bàn về Nguyễn Du , Nam Sơn in năm 60

 

Ngủ rồi Thoong

  • Ngự sử đại phu
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 6,928
  • Thanked: 89 times
  • Đánh giá: +3/-0
  • Tứ triều nguyên lão
Re: Nguyễn Du
« Trả lời #4 vào: 13/09/2009, 19:31:56 »
Vương thuý Kiều chú giải tân truyện
Tân Dân in năm 1942

 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #5 vào: 03/10/2009, 13:15:08 »
KIM VÂN KIỀU
Bổ sung 6 bức hình phụ bản của các hoạ sỹ: Phạm Thúc Chương, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Sekiguchi, Mai Trung Thứ.


 

Ngủ rồi Thoong

  • Ngự sử đại phu
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 6,928
  • Thanked: 89 times
  • Đánh giá: +3/-0
  • Tứ triều nguyên lão
Re: Nguyễn Du
« Trả lời #6 vào: 05/10/2009, 18:55:27 »
tượng Nguyễn Du

 

Ngủ rồi Dongnat

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #7 vào: 11/10/2009, 20:09:04 »



Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều, Trần Cửu Trường - Hoàng Hiển hiệu khảo, Song Trâm - Phượng Bình minh họa, Thanh Tâm, Saigon, 1958
Sách có rất nhiều hình vẽ, gần như một vài trang có một hình.
 

Ngủ rồi mic27

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #8 vào: 21/12/2009, 07:20:04 »
Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh), Nxb Văn học, HN 1963.

 
Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa... !

Ngủ rồi vuhatue

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #9 vào: 15/05/2010, 18:38:28 »
Tạp chí Bách Khoa số 209, ngày 15/9/1965. Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du.

 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #10 vào: 15/05/2010, 18:41:51 »
Tạp chí Bách Khoa, ngày 15/11/1972.
Số đặc biệt về Nguyễn Du và Truyện Kiều

 

Ngủ rồi cafe_sach

  • Anh hàng cà phê
  • Moderator
  • *****
  • Bài viết: 5,904
  • Thanked: 16 times
  • Đánh giá: +1/-0
  • Giới tính: Nam
Re: Nguyễn Du
« Trả lời #11 vào: 27/09/2010, 00:19:49 »
Văn số đặc biệt tưởng niệm Nguyễn Du
« Sửa lần cuối: 24/01/2011, 12:51:14 gửi bởi cafe_sach »
 

Ngủ rồi AK

  • BÍ DANH
  • *******
  • Bài viết: 5,745
  • Thanked: 3 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Không có gì không có, chỉ sợ tiền không nhiều
Re: Nguyễn Du
« Trả lời #12 vào: 18/03/2012, 14:04:13 »

và sang truyện tranh
 
Đọc cho lắm để đến chết cũng chẳng biết gì hêt

Ngủ rồi MERIT

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #13 vào: 02/04/2012, 17:59:05 »
KIM VAN KIEU
dịch bởi Abel des Michels
Ernest and Leroux, 1884-1885
Bản Truyện Kiều đầu tiên bằng tiếng Quốc ngữ và tiếng Pháp

(bộ sưu tập của Thino)



Tome I (1884)


Tome II (1885)


Tome II (1885) phần chữ Nôm:


 

Ngủ rồi MERIT

Re: Nguyễn Du
« Trả lời #14 vào: 02/04/2012, 18:02:41 »
TRUYỆN KIỀU
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Nông Sơn Nguyễn Can Mộng
NXB D'Extrème-Orient, Hà Nội: 1936