Tác giả Chủ đề: Phan Tứ  (Đã xem 11400 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi goose

Phan Tứ
« vào: 09/09/2009, 09:57:46 »
Phan Tứ (1930 - 1995) là một nhà văn Việt Nam và đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học đợt II năm 2000.

Thân thế gia đình

Ông tên thật là Lê Khâm, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1930 tại thị xã Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông là người con thứ tư và cũng là người con trai duy nhất trong gia đình có 7 người con. Thân sinh ông là ông Lê Ấm (1897-1976), từng làm Đốc học ở trường Quốc học Huế. Thân mẫu của ông là bà Phan Thị Châu Liên (1901-?), tục gọi là cô Đậu, vốn là con gái đầu của nhà Chí sĩ Phan Châu Trinh.

Sự nghiệp văn chương

Tuy sinh ở Bình Định nhưng suốt thời niên thiếu, Phan Tứ lại sống ở quê cha ở Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam. Vốn sinh trong gia đình có truyền thống học giỏi, ông từ nhỏ đã khá giỏi về môn văn và tiếng Pháp. Năm 15 tuổi, ông đã tham gia hoạt động trong đội tuyên truyền xung phong của tỉnh Quảng Nam và tham gia cướp chính quyền ở địa phương trong Cách mạng tháng Tám.

Năm 1950, ông nhập ngũ, theo học Trường lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ (Cồn Kênh, Thọ Xuân, Nông Cống, Như Xuân, Thanh Hóa). Cuối năm 1951, sau khi tốt nghiệp, ông được phân công theo đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cũng năm này, ông đã viết cuốn "Bên kia biên giới" với bút danh Lê Khâm, viết về cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào. Năm 1960, ông lại giới thiệu cuốn "Trước giờ nổ súng" với cùng đề tài trên. Cả 2 quyển sách được đánh giá cao, và ông trở thành một nhà văn tên tuổi thời bấy giờ khi mới vừa tròn 30 tuổi.

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, ông được phân công trở lại công tác tại chiến trường Miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ khu 5, và viết văn dưới bút danh Phan Tứ[1]. Bút danh này trở nên nổi tiếng gắn liền với các tác phẩm của ông về sau này. Do sức khỏe yếu và chịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc hóa học, năm 1966 ông được rút ra Bắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, sau đó giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng. Năm 1970, ông được kết nạp làm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Sau năm 1975, ông về sinh sống và làm việc tại quê hương Quảng Nam. Ông từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn, Ủy viên Ban Thư ký (Ban thường vụ) Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa III.

Ông qua đời đột ngột lúc 10 giờ 5 phút ngày 17 tháng 4 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng, khi còn dang dở bộ tiểu thuyết "Người cùng quê".

Ông từng là Đại biểu Quốc hội khóa 8, và đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng:

    * Huân chương Độc lập hạng Ba
    * Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất
    * Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba,
    * Huân chương Chiến thắng hạng Nhất

Các tác phẩm tiêu biểu

    * Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978)
    * Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960)
    * Trở về Hà Nội (truyện ngắn, 1960)
    * Trên đất Lào (bút ký, 1961)
    * Nhật ký chiến trường (di cảo, viết bằng 4 thứ tiếng Việt, Lào, Pháp, Nga)
    * Về làng (1964)
    * Trong đám nứa (truyện ngắn, 1968)
    * Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972, 1975)
    * Măng mọc trong lửa (bút ký, 1972, 1977)
    * Mẫn và tôi (tiểu thuyết, 1972, 1975, 1978, 1987, 1995)
    * Trại ST 18 (tiểu thuyết, 1974)
    * Trong mưa núi (hồi ký, 1984, 1985)
    * Sông Hằng mẹ tôi (dịch từ tiếng Pháp, tiểu thuyết Ấn Độ, 1984, 1985)
    * Người cùng quê (tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997, chưa hoàn thành)

Các giải thưởng

    * Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu
    * Giải thưởng 30 năm (1945 - 1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng;
    * Giải thưởng văn học loại A mười năm (1985 - 1995) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
    * Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

Chú thích

   1. Trong một số di cảo, ông còn ký tên là Phan Bốn. Phan là họ mẹ, còn Tứ hay Bốn là để chỉ ông là người con thứ 4 trong gia đình.


Một trang nhật ký của nhà văn Phan Tứ viết bằng tiếng Pháp - (ảnh: Đông Dương)

Nguồn: Wikipedia, Thanh Niên Online
 

Ngủ rồi goose

Re: Phan Tứ
« Trả lời #1 vào: 09/09/2009, 10:03:35 »
Gặp cô “Mẫn” trong Mẫn và Tôi của Phan Tứ

Trung Việt (Phụ nữ TP)

...Tôi mở gói thuốc lá, mời bà Phận. Bà xua tay: “Tao bỏ ba năm rồi, từ cái năm đau đầu kéo dài. Tao biết hút hồi nhỏ xíu. Hồi đó cha hay bảo: Út, đốt điếu thuốc cho cha! “Bập, bập” riết, rồi thành quen. Ông Phan Tứ về đây, bảo: Tôi đi hết liên khu 5, chưa thấy nơi nào như ở đây, ai cũng có bị thuốc bên hông...”.

Tôi nhìn kỹ bà. Tháng năm đã xô những vết ngang dọc trên gương mặt của người đàn bà 71 tuổi. Nếu tìm có tấm ảnh của “tuổi 20 yêu dấu”, hẳn khó hình dung tuổi 20 của cô Mẫn xinh đẹp, chỉ huy 12 đơn vị du kích của vành đai diệt Mỹ ở Chu Lai-Núi Thành - Quảng Nam. “Sao mày biết tao là Mẫn?”. Tôi cười: “Ai mà không biết”. “Lứa tao mới biết chứ lớp trẻ biết gì”.

Ngoài sân, nắng lên gay gắt. Vùng bán sơn địa như Tam Mỹ đây, vốn kín gió, lại càng oi nồng. Cả gia tài của đời văn Phan Tứ được sinh ra từ cái chòi canh chuột ăn kho thóc của tuyên huấn khu 5, vùng nóc ông Bền và Tứ Mỹ - Kỳ Sanh này. Cách đây mấy năm, bà Thanh - mẹ nuôi của Phan Tứ, bà “Má Bảy” ấy, mất, thọ 107 tuổi. Bà Phận ngoắt tay chỉ vào gốc mít góc vườn: “Chỗ đó, trước có cái hầm, hễ động là ông Tứ vọt xuống nấp”.



Bà Võ Thị Phận

Tôi kể cho bà nghe, có lần gặp một người là cán bộ xã, bị ổng thuyết giảng lý luận văn học về bà, rằng bà ấy là cô Mẫn đấy, nhưng cô Mẫn trong Mẫn và tôi là chỉ huy du kích 12 xã vành đai Chu Lai, chứ bà Phận chỉ làm giao liên, phụ nữ, rồi binh vận thôi. Ông còn móc tiếp một câu: Anh biết nhân vật văn học chứ, đó là sự nhào nặn nhiều con người để thành một, cho nên bảo đúng cũng được, không cũng chẳng sao! Tôi hỏi: Nếu tôi, mọi người đọc Mẫn và tôi bảo đúng là thế, anh nghĩ sao? Vì sao trong nhà bả treo ảnh Phan Tứ trên bàn thờ?

Phan Tứ vào chiến trường miền Nam năm 1960. Bà gặp ông giữa đường khi đi cáng thương binh. Một tháng sau, uỷ ban dẫn ông vào nhà cha bà, nói rằng cho uỷ ban gửi một tháng. “Lúc đó tao mới 20 tuổi, dám để ý ai. Tứ Mỹ-Kỳ Sanh là vùng đất giải phóng đầu tiên của Quảng Nam; bộ đội, cán bộ đi về như nước chảy, có biết ai là ai. Sau đó, tao học một lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Ngãi, lại gặp ông Tứ giảng bài về dân vận, chiến tranh du kích, binh vận. Phan Tứ ở vùng đất này đến năm 1965 mới đi hẳn”.

Đột ngột bà quay sang tôi: “Mày đọc Mẫn và tôi chưa?”. Tôi phì cười, đọc nát rồi cô ơi. “Vậy mày giải thích tao nghe vì sao trong đó ổng viết “Út cõng em”. Út mà sao lại có em?”. Tôi bó tay. “Chỉ có ở đây mới biết thôi. Tao là Út Phận. Mẹ tao thiếu con trai nên xin một đứa con nuôi. Nó là em tao, tên là Võ Sầm, gọi là cậu Mười , hiện đang sống ở thôn 8”.

“Cô biết không, con vào internet, thấy nhiều người, lớn có nhỏ có, đều khen tình yêu của cô Mẫn và anh Thiêm là quá đẹp, quá lãng mạn, một tình yêu đẹp nhất trong văn học chống Mỹ”. “Thế à? Tao nhà quê làm gì biết họ nói gì”. Nói xong, bà chống cằm nhìn ra sân, không nén được tiếng thở dài. Tiếng con mọt kẽo cọt xà nhà. Tôi nhìn lên, ngay cây cột đỡ cạnh bàn thờ, trên cao là ảnh nhà văn Phan Tứ. Ông đã thành người thiên cổ. Tôi cố nhớ những trang ông viết về tình yêu giữa anh Thiêm và cô Mẫn. Cứ tưởng tượng một cô gái trẻ măng, quấn khăn dù, áo bà ba, khoác AK, nắm tay một anh nhà văn mới qua tuổi 30, vai xắt cốt, hông đeo súng ngắn, đi dưới ánh trăng non, sau lưng họ là khoảnh rừng vừa cháy do bom... Tình yêu của cô Mẫn và anh Thiêm đã lay động trái tim bao thế hệ đọc sách. Một tình yêu lý tưởng, hiểu theo nghĩa đúng của tình yêu, chứ không phải thứ lý tưởng lên gân, bởi Phan Tứ đã viết bằng cả sự dấn thân và trải nghiệm, với tư cách là người trong cuộc.

Bà phá sự im lặng bằng giọng trầm tưởng, mà tôi nghe như đang có những giọt mưa, giọt mưa của ký ức vun đầy và vỡ tan. “Gặp miết, sao mà không yêu được. Tao biết ổng thương tao là do ăn chén chung. Thì sáu người mà chỉ có ba cái chén. Tao với ổng một chén, người ni ăn xong chuyển sang người kia. Tao đi đâu ổng đi đó. Khi ổng chuyển lên cái chòi cách đây 3km, cũng mình tao đưa thức ăn, áo quần lên. Có bữa nó nện bom nhiều quá, về không được, ổng lo. Tao nói: Không về được thì ở lại đây ngủ. Ổng nói : Ừ, lâu rồi mới nghe nói rứa! Ổng khó tính, gay lắm nghen mày, dễ gì để ổng ưng. Tao hồi đó mà lí lắc, cà chớn, sao lọt mắt ổng được”.

Bà khóc. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một người già khóc vì tình yêu. “Yêu lúc nào làm sao mà nhớ, thì cùng đi cùng làm việc với nhau mà. Ổng ở nhà tao mấy năm chứ ít đâu”. Bà cắt lời tôi rồi khóc tiếp. Tôi đứng dậy, ra ngoài. Trưa trung du như tấm gương cầu khổng lồ, loáng nắng vòm lá và cây rừng. Những cánh rừng một thời Phan Tứ đã sống và viết. Những cánh rừng của cô Mẫn và anh Thiêm cùng chạy tránh pháo, cùng tâm sự lúc vắng người, cùng xẻ chia cái nhìn sau một đợt pháo. Những khoảnh khắc chỉ là khoảnh khắc, nhưng sẽ là dài vô tận, bởi nó được sinh ra từ chiến tranh với bao điều không lý giải được. Ngay cả bà Phận, đến khi ngồi cùng tôi đây cũng ngơ ngác đến nao lòng.

***

Chung quy cũng là chuyện ra đời của một con người. Tôi đến, không có anh ở nhà, mà đang bận dạy ở trường xã. Anh là Phan Thế Huẫn. “Lúc đầu tên nó là Uẩn, do cha tao đặt, dụng ý: nó là đứa con của uẩn khúc, hơn nữa chiến tranh, lỡ sau này có đi lạc, thì cái tên khó nghe lại dễ tìm. Sau tao thấy khó kêu quá nên đặt là Huẫn”. Anh Huẫn sinh năm 1963.

“Sinh nó được sáu tháng thì ổng đi, nhắn tao đưa con lên gặp. Mấy chị em dẫn lên, ổng bồng nó, dặn tao “trời đất cho đứa con, tụi mình không biết đứa nào chết trước đứa nào, em ráng nuôi con”, xong, đưa ra chiếc nhẫn vàng “em giữ nó, khi nào khó khăn quá thì bán nuôi con”. Tao lắc đầu, ở nhà lo gì. Ai ngờ, khi bồng con về thì chị tao la lên: “Nó đeo chiếc nhẫn vào ngón chân cái thằng cu nè". Nhẫn tao còn giữ đấy. Xong, ổng đi luôn”. “Giải phóng ra, ổng có gặp cô không?”. “Tao nghe nói năm 1977, ổng có ghé về, gần đến nhà, không hiểu sao quay ra lại. Biệt luôn. Năm ổng mất, thằng Huẫn có ra, xin được chít khăn tang".

Tiễn tôi về, bà bảo, ngày kia là giỗ ông Tứ rồi. Hễ ngày nào giỗ, đêm đó thế nào cũng chiêm bao thấy ổng về. Cách đây một tuần, lại thấy ổng về, rủ ra ruộng ngồi chơi. Lạ quá! Tao nhớ hoài lời ổng nói khi chia tay: “Em yên tâm, sau này nếu không ở với nhau được, anh cũng làm điều đó cho em thanh thản. Thế mà...”.
 

Ngủ rồi buongchuoi

  • Thương nhớ 12
  • *****
  • Bài viết: 513
  • Thanked: 8 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Tôi yêu Việt Nam – “đồng”
Re: Phan Tứ
« Trả lời #2 vào: 04/10/2009, 12:52:38 »
Mẫn & tôi-nxbTN 1987(in lần thứ 5)


 
Trung thực khi nghèo khó - Im lặng khi giận dữ

bongdangthoixua

  • bạn
Re: Phan Tứ
« Trả lời #3 vào: 03/11/2009, 16:31:31 »
Bên kia biên giới; NXB Văn Học 1978

Về làng; NXB Văn Học Giải Phóng 1976

Trong mưa núi, NXB Thanh Niên 1985. Văn nghệ TP xuất bản năm 2001 với tựa là Hồi ký trong mưa núi.
 

bongdangthoixua

  • bạn
Re: Phan Tứ
« Trả lời #4 vào: 06/11/2009, 23:11:45 »
Măng mọc trong lửa, NXB Kim Đồng 2000

Tác phẩm chọn lọc in khổ nhỏ cho Thiếu nhi
- Trước giờ nổ súng 2 tập, NXB Kim Đồng 2002

 

Ngủ rồi Lắng nghe

Re: Phan Tứ
« Trả lời #5 vào: 22/11/2009, 10:19:59 »
Gia đình má Bảy - Nhà xuất bản Văn nghệ giải phóng 1975

 
Tk Vietcombank :

LÊ VĂN HỢP  -  0451001873763

Liên hệ : 0989.885.646

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Phan Tứ
« Trả lời #6 vào: 25/04/2011, 21:55:59 »
Trại S.T.18 - NXB Thanh niên 1974 - Văn Cao vẽ bìa
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Phan Tứ
« Trả lời #7 vào: 24/07/2011, 20:59:53 »
Sông Hằng mẹ tôi
Phan Tứ dịch, chú thích và giới thiệu
NXB Đà Nẵng 1985
 

Ngủ rồi unreader

Re: Phan Tứ
« Trả lời #8 vào: 02/10/2011, 08:37:39 »
Người cùng quê (tập I)
Phan Tứ
Nxb Đà Nẵng, 1985, 492 trang

« Sửa lần cuối: 28/02/2014, 11:22:47 gửi bởi unreader »
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Phan Tứ
« Trả lời #9 vào: 03/10/2011, 19:03:33 »
Gia đình má Bảy
NXB Văn Học 1975
 

Ngủ rồi Vienteacher

Re: Phan Tứ
« Trả lời #10 vào: 06/03/2012, 15:35:15 »
Trước giờ nổ súng, Lê Khâm
nxb văn học 1961
 
Số tài khoản: 0011004133635
Chủ tài khoản: Lê Thanh Mai
NH: VCB Hà Nội.

Ngủ rồi lenhale

  • Giáo làng
  • *******
  • Bài viết: 11,926
  • Thanked: 337 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Đồng Tháp
Re: Phan Tứ
« Trả lời #11 vào: 25/03/2012, 09:21:46 »
Mẫn và Tôi
NXB Thanh niên
 
VCB: 0601000453503
CTK: Lê Đức Dũng
ĐT: 0918280119

Ngủ rồi kadic

Re: Phan Tứ
« Trả lời #12 vào: 04/07/2012, 16:51:11 »
Mẫn và Tôi
NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1972



« Sửa lần cuối: 06/07/2012, 14:21:24 gửi bởi kadic »
 

Ngủ rồi kadic

Re: Phan Tứ
« Trả lời #13 vào: 04/07/2012, 16:53:21 »
Gia đình má Bảy
NXB Văn nghệ Giải Phóng, 1975



« Sửa lần cuối: 06/07/2012, 14:43:38 gửi bởi kadic »