Tác giả Chủ đề: Phan Thị Bạch Vân  (Đã xem 1812 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Phan Thị Bạch Vân
« vào: 24/07/2010, 00:15:06 »


Phan Thị Bạch Vân là một nhà văn nữ đã đấu tranh rất tích cực cho nữ quyền vào đầu thế kỷ XX. Bằng cách thành lập Nữ lưu thư quán, bà đã tập hợp được một số tác giả tiến bộ và đã xuất bản nhiều tác phẩm văn học, khoa học, giáo dục…có giá trị. Thư quán cũng góp phần truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên, đặc biệt cho phụ nữ.
Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong Sài Gòn cố sự cho rằng “tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách”, nhưng “các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ lưu thơ quán ở Gò Công”.
Nhưng chân dung chủ nhân của Nữ lưu thơ quán có đại diện ở khắp Nam Trung Bắc và cả ở Pháp; người đã tập hợp trong thư quán của mình nhiều anh tài văn chương của đất nước như Đạm Phương nữ sĩ, Á Nam Trần Tuấn Khải, Tương Phố, Đông Hồ…; người được nhắc đến trong Địa chí văn hóa TP.HCMnhư một nhà văn yêu nước, đến nay vẫn còn bị bao phủ bởi một làn sương mờ.
Người ta chỉ biết bà là phu nhân của ông Võ Đình Dần, chủ nhân một nhà thuốc nổi tiếng thời đó ở Gò Công (vì thế mà có người ghi nhầm quê bà ở Gò Công), là trợ bút củaĐông Pháp thời báo và là người cộng tác với báo Phụ nữ tân văn. Hình ảnh của bà còn lại chỉ gồm một bức ảnh ở Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ (chụp lại trên báo Phụ nữ tân văn) với vài dòng tin tức về chuyện ra tòa của bà năm 1930.
Sau một thời gian tìm kiếm, chúng tôi đã may mắn gặp được gia đình của nhà văn và đã ghi nhận được vài nét về tiểu sử của nhà văn nữ độc đáo này. Cùng với sự nghiệp văn chương của bà, những nét tiểu sử này giúp ta có thể hình dung bước đầu về một nhà văn yêu nước đã tranh đấu rất sôi nổi cho nữ quyền và nặng lòng với sự tồn vong của đất nước, dân tộc.
Phan Thị Bạch Vân tên thật là Phan Thị Mai, là con thứ năm trong gia đình quan lại thanh bạch. Bà sinh năm 1903, quê ở làng Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, tỉnh Biên Hòa  (nay là phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa). Cha làm tri huyện, mất sớm, để lại vợ và bảy người con. Nhà nghèo nên năm 17 tuổi bà đã đi lấy chồng. Không may gặp người chồng không tốt nên cuộc hôn nhân tan vỡ. Buồn phiền, bà bắt đầu viết văn. Những bài báo đầu tay của bà được đăng trên Đông Pháp thời báo từ năm 1928. Từ duyên văn chương mà bà đã gặp người bạn đời sau này là ông Võ Đình Dần. Cũng từ 1928, bà theo chồng về Gò Công sinh sống và sáng lập ra Nữ lưu thơ quán, trụ sở đặt tại số 24 - 26, đường Chủ Phước, Gò Công.
Ban biên tập Nữ lưu thơ quán gồm có: Đạm Phương (Huế), Nguyễn Thị Đan Tâm (Phủ Quảng Trung Kỳ), Hoàng Thị Tuyết Hoa (bút danh của Phan Thị Bạch Vân), Tùng Viên (Phủ Quảng Trung Kỳ), Vũ Xuân Đệ (Hà Nội), Quốc Anh (giáo học Phú Thọ, Đồng Hới), Á Nam Trần Tuấn Khải (Hà Nội).
Nữ lưu thơ quán xuất bản sách mỗi tháng 3 kỳ với có mục đích rất rõ ràng: “Lựa chọn để bán ra cho cả thảy chị em bạn gái bằng cái giá thật hạ những truyện sách xuất bản trong xứ, có ích cho tinh thần đạo đức và nền luân lý nước nhà, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở học vấn thêm cao.
Trước tác, sưu tập, dịch thuật và lãnh xuất bản những cảo văn thật có giá trị về chánh trị, lịch sử, truyện ký, tiểu thuyết, phụ nữ vấn đề, nữ công, văn học, khoa học, thương mại và thiệt nghiệp... Những sách nhảm nhí thuộc về tình ái dâm phong, hoặc tả theo những lối quái dị trái hẳn với thể thống nước nhà, thì bao giờ cũng cự tuyệt”.
Sức lan tỏa của Nữ lưu thơ quán rất rộng. Nữ sĩ Mộng Tuyết trong bút ký Đốt sách cho biết Đông Hồ và bà hồi đó đã say mê đọc bộ sách Nữ lưu tùng thư của Phan Thị Bạch Vân cùng với các sách báo cấm khác. Nhà văn Nguyễn Vỹ trong Tuấn, chàng trai nước Việt cho rằng đầu thế  kỷ XX có ba loại sách đã “đào tạo cho thanh niên một tinh thần cách mạng và bồi dưỡng lòng ái quốc hăng say”, là “sách để đầu giường” của thanh niên học sinh, đó là sách Nam đồng thư xã của Nhượng Tống, sách Quan Hải tùng thư của Ðào Duy Anh và Trần Thị Như Mân, sách của Nữ lưu thơ quán ở Gò Công.
Tủ sách của Nữ lưu thơ quán rất phong phú, có tiểu thuyết ái tình như Hồng phấn tương tri, tiểu thuyết xã hội như Trần Minh Hà…; sách danh nhân như Gương nữ kiệt, Lịch sử Ghandi…; sách lịch sử như Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta, Mỹ quốc cách mạng sử…; sách khoa học, triết học, chính trị như Học thuyết lược khảo dịch của Lương Khải Siêu và giới thiệu học thuyết tiến hóa của Darwin, học thuyết của Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), học thuyết của Lư Thoa (Rousseau). Có cả sách dạy đạo vợ chồng, sinh sản, nuôi nấng con cái như Sản dục giám là “sách dạy con người từ buổi mới nên chồng nên vợ cho đến lúc cấn thai, đẻ con, nuôi lớn thành người… dạy rành đủ các phép trọng yếu bí hiểm mà con người cần biết trong đạo phu thê, hạp với lẽ hóa công thiên điển”. Đặc biệt Nữ lưu thơ quán có rất nhiều sách dành riêng cho phụ nữ đúng như tôn chỉ của mình, như Tân nữ học sinh, Phụ nữ tân giáo khoa, Nữ công thường dụng…
Riêng Phan Thị Bạch Vân cũng là một cây bút rất đa dạng. Bà dịch thuật, viết xã thuyết, làm thơ, sáng tác tiểu thuyết… Là trợ bút của Đông Pháp thời báo, bà viết về rất nhiều đề tài. Bà kêu gọi  “Phụ nữ Việt Nam ta thử lập vài cái học bổng”, (số 650 - 1927), bà muốn “Mưu trừ tuyệt nghề xe kéo” (số 704 - 1928) và làm cả thơ trào phúng (Đồng bạc Tây và đồng bạc Pháp, số 642 - 1927)...
Trong hoàn cảnh lúc đó, bài giới thiệu quyển Gương nữ kiệt viết về bà Roland, một nữ anh hùng của nước Pháp của Phan Thị Bạch Vân khiến cho chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì sự táo bạo, dũng cảm của bà khi công khai bày tỏ chính kiến: “Cùng sống trong một nước thì trai hay gái đều có cái bổn phận như nhau. Đương lúc nước mất dân tàn, trông mong vào những bực trượng phu ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nhi nữ ghé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam giới nữ giới đều có người thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giầy xéo. Chúng ta đọc truyện bà Rô-Lăng nước Pháp, sao được không nhớ đến bà Trưng bà Triệu là những bà mẹ yêu quí của chúng ta, rồi lại nghĩ đến cái bổn phận, cái cảnh ngộ của chúng ta ngày nay mà ngậm ngùi đau đớn”.
Trong bộ tiểu thuyết mang nhiều nét tự thuật Lâm Kiều Loan, Phan Thị Bạch Vân cũng cho nhân vật bộc lộ những suy nghĩ của một người phụ nữ mới: “Tôi nghe mấy lời mẹ dạy mà tủi thầm cho cái thân nhi nữ. Mình cũng mắt cũng tai cũng đầu cũng óc như nam nhi, cớ sao nam nhi người ta lại có quyền vùng vẫy nơi bể học rừng văn, còn mình lại buộc trở về toan đi nương thân gởi phận, chực bám vào người là cớ làm sao”.
Những bộ tiểu thuyết như Giám hồ nữ hiệp, Nữ anh tài, Kiếp hoa thảm sử được viết với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa cũng rất tiến bộ trong việc thể hiện người phụ nữ mới.Giám hồ nữ hiệp viết về Thu Cận, được chú thích là “nữ hiệp nước Tàu”. Đó là hình ảnh của những người phụ nữ mới dám hy sinh vì nghĩa lớn. Giám hồ nữ hiệp có những câu như: “Cách mạng có cứ gì con trai con gái”, “hai tiếng nô lệ ở trong thiên hạ này còn có dân tộc nào mà chịu mang không”… Nhân vật Tú Anh trong Nữ anh tài cũng vậy, rất có bản lĩnh trong tình yêu, hôn nhân và sự nghiệp. Qua nhân vật Tú Anh, Phan Thị Bạch Vân muốn xây dựng hình ảnh một “nữ hiệp, nữ kiệt” Việt Nam với tài trí không kém.
Riêng về tiểu thuyết, có thể nói Phan Thị Bạch Vân đã đóng góp cho văn học Nam Bộ một phong cách riêng với tư tưởng rất tiến bộ. Tác phẩm của bà nói chung vượt trội cả về nội dung và nghệ thuật so với các cây bút nữ đương thời.
Tất nhiên là nhà cầm quyền lúc đó không thể để yên cho việc công khai truyền bá tư tưởng “thương nước thương dân, lo cho hậu vận nước nhà, ham mến quốc văn, bảo tồn quốc túy”  của Nữ lưu thơ quán. Ngay cả tên tủ sách “Tinh thần phụ nữ” cũng bắt buộc phải đổi thành “Sách nữ lưu” (le livre des femmes). Bảy đầu sách của Nữ lưu thơ quánđã bị cấm lưu hành, trong đó có ba cuốn của Phan Thị Bạch Vân là Gương nữ kiệt, Giám hồ nữ hiệp và Nữ anh tài, Băng tâm ngọc chất của Huỳnh Anh Thị… Thư quán cũng bị đóng của sau đó ít lâu. Đến ngày 10-2-1930, Phan Thị Bạch Vân bị thực dân Pháp giải ra tòa “về tội phá rối cuộc trị an trong xứ bằng văn chương tư tưởng” lúc đang bụng mang dạ chửa. Theo lời con gái của bà, có một quan tòa người Pháp do có cảm tình với bà nên đã có lời nói đỡ trong phiên tòa, nhờ đó mà bà không phải chịu cảnh tù đày.
Phan Thị Bạch Vân có 5 người con, tất cả đều du học ở Pháp và khi tốt nghiệp đều trở về nước phục vụ. Người con gái lớn là Võ Thị Lan trong những năm chống Mỹ theo chồng là bác sĩ Dương Quang Trung về Hà Nội học tập và công tác, sau giải phóng miền Nam là giám đốc bệnh viện Điện Biên Phủ.
Phan Thị Bạch Vân mất ngày 2-8-1980 (tức ngày 22-8 Canh Thân) tại TP.HCM, di cốt hiện được gửi tại chùa Giác Ngộ, đường Nguyễn Chí Thanh, quận 5, TP.HCM.
Nữ lưu thơ quán tồn tại chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, nhưng đã tập hợp được một số tác giả tiến bộ và đã xuất bản nhiều tác phẩm văn học, khoa học, giáo dục…có giá trị. Thư quán cũng góp phần truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên, đặc biệt cho phụ nữ. Vào đầu thế kỷ XX, lúc bình quyền nam nữ còn được xem là một vấn đề mới mẻ, Phan Thị Bạch Vân đã bằng hành động và sáng tác của mình, chứng tỏ “nữ lưu” cũng có những thế mạnh của riêng mình, cũng có thể sánh vai với nam giới trong mọi lĩnh vực. Đó là điều rất đáng trân trọng của nhà văn nữ yêu nước, nhà hoạt động văn hóa còn chưa được đánh giá đúng mức này.


 
http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=926:mt-nha-vn-n-nam-b-tranh-u-cho-n-quyn-vao-u-th-k-xx&catid=63:vn-hc-vit-nam&Itemid=106

Nguồn: Tài hoa trẻ số 446 năm 2006
 

Ngủ rồi Hoàng-Lê

Re: Phan Thị Bạch Vân
« Trả lời #1 vào: 24/07/2010, 00:28:14 »

 Phan Thị Bạch Vân và tinh thần phụ nữ

Lê Thị Thanh Tâm

  1. Phan Thị Bạch Vân và Nữ lưu thư quán Gò Công:

Trong bài Xét về sự sinh hoạt của phụ nữ nước ta trên báo Phụ nữ Tân Văn  (PNTV) số 5 - 1929, Phan Khôi có viết một câu như sau: “Mới vài ba năm nay, trong xã hội ta, nhứt là trong làng ngôn luận, có nứt ra một danh từ mới mà nhiều người lấy làm chú ý, ấy là “vấn đề phụ nữ””.

Cách dùng “nứt ra một danh từ mới” rất ngộ nghĩnh của Phan Khôi cho thấy ấn tượng về sự khai sinh “vấn đề phụ nữ” vào những năm đầu thế kỷ XX. Với sự khai sinh này, lần đầu tiên, tinh thần phụ nữ từ chỗ là phát hiện của một trào lưu xã hội đến chỗ hình thành nền văn hóa tri thức mới với “thế lực phụ nữ” [1].

 Loạt bài viết của Phan Khôi về mối quan hệ giữa phụ nữ với văn chương đăng trên PNTV đã phản ánh một sự “thức tỉnh” bền bỉ và chắc chắn của giới nữ Nam kỳ. Sự xuất hiện của các tờ báo do phụ nữ viết và viết về phụ nữ (Nữ giới chung, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ trương Phụ nữ và nhi đồng của Đông Pháp thời báo…), sự xuất hiện đội ngũ sáng tác và dịch thuật là các nữ lưu ở nhiều nơi trên xứ Nam kỳ, sự nở rộ các hình thức “hội”, “viện”, “thư quán”, “học xá”… cho thấy xu hướng hợp tác vì tri thức và tiến bộ  tràn ngập trong mặt bằng học thuật và văn hóa thời bấy giờ.

Trong bối cảnh đó, Nữ lưu thư quán Gò Công do Phan Thị Bạch Vân phụ trách ra đời vào năm 1928, dưới sự bảo trợ của nhà thuốc gia truyền Võ Đình Dần – một thương hiệu nổi tiếng ở miền Nam từ 1921. Cần thấy tổ chức “thư quán” có sự gắn bó sâu sắc với các loại hình “hội”, “viện” như Hội Dục Anh, Nữ lưu học hội, Nữ công triển lãm hội trong thập kỷ 20… Trong nhiều bài phóng sự của Nguyễn Thị Kiêm (tức nữ sĩ Manh Manh) trên Phụ Nữ Tân Văn, chúng ta biết có cả Hội Phụ nữ Cái Vồn (chủ yếu tập trung vào việc tổ chức thể dục thể thao cho phụ nữ), Hội Cựu học sanh trường Nữ học đường, Hội Dục Anh xuất thân từ Viện Dục Anh do “các bà đầm” bên Tây “động lòng thương con nít Annam , cho nên mới rủ nhau tổ chức ra cơ quan kia, mục đích là sẽ lập những nhà nuôi con nít”[2]… Các “hội”, “viện” như thế dường như bộc lộ tính chất hoạt động xã hội của phụ nữ lẫn mục tiêu canh tân của họ. Và tất nhiên, từng “hội”, “viện” như vậy đều có những mục tiêu riêng.

Sự hình thành một “tinh thần phụ nữ” có màu sắc riêng của thư quán Gò Công nằm trong chuỗi hình thành tinh thần thời đại mà giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đang nỗ lực xây dựng cách này hay cách khác; trong đó nổi lên hai vấn đề lớn là luân lý và quốc học.

Tinh thần quốc học theo Lê Dư[3] bao gồm cả quốc văn, quốc sử và quốc túy. Việc giới thiệu sử truyện và học thuyết dân chủ, khoa học của người Pháp trong hoạt động của thư quán chứng tỏ người chủ nhiệm thư quán ý thức rất rõ con đường quốc sử và quốc túy thông qua quốc văn – dùng chữ quốc ngữ để dịch và giới thiệu các tư tưởng mới. Sự thu hút rất hiệu quả các cây bút sáng tác có tiếng lúc bấy giờ vào hoạt động chung của thư quán cũng là một đóng góp lớn của Phan Thị Bạch Vân trong việc tạo ra một hiệu ứng tinh thần quốc học từ các cây bút nữ lưu Nam và Trung kỳ.

Trong cuốn Văn học quốc ngữ Nam Kỳ 1865 -1930, Bằng Giang đã ghi nhận sự xuất hiện của Nữ lưu thư quán trong tiến trình cải cách tư tưởng người dân Nam kỳ: “…nội dung sách luân lý từ cuối thế kỷ XIX (chủ yếu là sách dịch) đến đầu thế kỷ XX lần hồi cũng có thay đổi  (sách biên soạn) tuy chậm. Mãi đến gần cuối thập kỷ 20 mới thấy hai tác phẩm ngay ở tên sách đã như là một tiếng trống báo hiệu một giai đoạn mới đã chín muồi trong tiến trình xã hội và văn học: Nam nữ bình quyền (1928) và Phụ nữ dự gia đình (1929), cuốn 12 của Nữ lưu thư quán) ra đời cùng một năm với Phụ Nữ Tân Văn …” (trang 293). Đoạn văn này nằm trong mục viết về sự suy thoái đạo đức của người Annam do quá trình giáo dục ráo riết dạy quốc ngữ của nước Đại Pháp vì mục tiêu “đọc thông tri, cáo thị của nhà cầm quyền thuộc địa để hiểu và làm cho đúng”. Chi tiết duy nhất nhắc đến Nữ lưu thư quán trong công trình nghiên cứu của Bằng Giang lại đặt trọng tâm ở phần tư tưởng. Tác phẩm của Nữ lưu thư quán Gò Công xuất bản và phát hành được nhắc tới bên trên ở một phương diện nào đó đã chạm đến một kiểu luân lý mới – luân lý gắn với sự tự ý thức mạnh mẽ của người phụ nữ trước vận mệnh của chính mình và cộng đồng. Từ cách đặt vấn đề trong sách Văn học quốc ngữ Nam Kỳ 1865 -1930 của Bằng Giang, chúng ta có thể hình dung tư tưởng tiến bộ ở tầm cao của người sáng lập và phụ trách mô hình Nữ lưu thư quán. Ngay chính trong lời đề tựa cho các tập sách do Thư quán thực hiện cũng đã nói lên tinh thần này: “Lựa chọn để bán ra cho cả thảy chị em bạn gái bằng cái giá thiệt hạ những truyện sách xuất bản trong xứ, có ích cho tinh thần đạo đức và nền luân lý nước nhà, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở mang tri thức, học vấn thêm cao”[4]. Không những thế, tinh thần “mở mang” mà những người hoạt động trong Thư quán đề xuất còn bao gồm cả “kíp đến cái địa vị quí đẹp chị em phải có”, “tấm lòng vì nòi giống”, “nỗi nước mất dân tàn”, “phong tục đồi tệ”, … , nghĩa là vươn đến những vấn đề sâu sắc và nghiêm trọng hơn đối với một trí thức thời thuộc địa, chứ không phải chỉ là những vấn đề của phụ nữ, cho phụ nữ.

Hiện chúng ta còn giữ được 8 cuốn Tinh thần phụ nữ do Phan Thị Bạch Vân chủ trương biên soạn bao gồm phần dịch thuật, giới thiệu tư tưởng các triết gia phương Tây như Darwin, Montesquieu, Rousseau, các tiểu thuyết của Hoàng Thị Tuyết Hoa (tức Phan Thị Bạch Vân), Nguyễn Bá Hạnh, các vấn đề về vệ sinh phụ nữ, kiến thức thường thức về gia đình… Phần Tự ngôn, Phan Thị Bạch Vân giới thiệu: “Bộ sách “Tinh thần phụ nữ” này dài đến một ngàn năm trăm trương, phân ra nhiều tập, chia ra nhiều thời kỳ, dễ xem dễ đọc cho chị em, vừa vui miệng, vừa mở trí”. Thế nhưng, bắt đầu từ cuốn thứ sáu, mặt bìa trong có một đoạn văn nhỏ như sau:

“Cáo lỗi cùng chư độc giả

Bộ “Tinh thần phụ nữ” từ nay xin đổi tên là Sách-Nữ-lưu (Le livre des femmes) cho dễ hiểu cho cả thảy mọi người.

Duyên cớ bởi đâu, nếu nói ra hết càng thêm đau đớn. Thôi nói nó là sách cho chị em bạn gái đọc, thì kêu nó là Sách Nữ Lưu cho xong.

Xin chị em độc giả gần xa hãy hiểu cho như vậy, chúng tôi bây giờ chỉ có vắn tắt mấy lời, hẹn về sau sẽ còn khi thưa rõ”.

Lý do chính xác mà Phan Thị Bạch Vân hẹn sẽ “thưa rõ” chúng ta chẳng bao giờ được biết. Có hai chi tiết trong đoạn văn cáo lỗi trên rất đáng lưu ý. Một là đổi tên từ “Tinh thần phụ nữ” sang “Sách Nữ Lưu” – mất chữ “tinh thần”. Hai là “nếu nói ra hết càng thêm đau đớn”. Đoạn văn mơ hồ này cho thấy sự thất vọng kín đáo của người khởi xướng Nữ lưu thư quán trước sự kiện (bị buộc phải) cất bỏ chữ “tinh thần” trong cuốn sách thường xuyên của thư quán. Vì (bị buộc phải) cất bỏ như thế mới có chuyện “càng thêm đau đớn”. Phải chăng, đây là đòn “nhắc nhở”, “cảnh báo” trước của chính quyền thực dân trước khi quyết định đưa Phan Thị Bạch Vân ra trước tòa vì đã dám “phá rối cuộc trị an trong xứ bằng văn chương tư tưởng”. Hoàn toàn có thể nói, vấn đề “tinh thần”, “tư tưởng” là mấu chốt cho hoạt động của thư quán này.

Nữ lưu thư quán Gò Công nhìn chung là một mô hình hoạt động văn hóa với nhiều phương thức:

- Kết hợp thương mại và học thuật

- Phát huy khả năng văn học và báo chí của giới nữ

- Xây dựng quan niệm mới về người nữ trong xã hội tri thức

- Đi thẳng vào tinh thần phụ nữ, qua đó góp phần xây dựng tinh thần thời đại.

Với tôn chỉ và mô hình hoạt động của mình, Nữ lưu thư quán Gò Công trở thành một trong những hiện tượng phụ nữ làm văn hóa độc đáo nhất trong lịch sử văn hóa văn học Nam bộ đầu thế kỷ XX.

2. Tác phẩm của Phan Thị Bạch Vân:

Những dòng tiểu sử về Phan Thị Bạch Vân trong các công trình văn học sử Nam Bộ thường rất vắn tắt, trống hoàn toàn năm sinh và mất. Về nhân thân, bà được biết đến với tư cách là trợ bút cho Đông pháp thời báo, chuyên phụ trách mục Phụ trương phụ nữ và nhi đồng, viết xã thuyết, tiểu thuyết, thơ… Tuy xuất hiện ngắn ngủi trên văn đàn, bà cũng đã được trân trọng đánh giá: “Một điều gần như chắc chắn, bà là người phụ nữ đầu tiên trong thể kỷ XX ở Nam bộ nói riêng và trong cả nước nói chung biết kết hợp song song những hoạt động thương mại và hoạt động truyền bá văn hóa, văn học một cách tài tình và hiệu quả”[5].

Dựa vào các tư liệu ít ỏi được tìm thấy và được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu văn hóa văn học Nam bộ, có thể tạm đưa ra danh mục tác phẩm đã xuất bản của Phan Thị Bạch Vân như sau:

1. Gương nữ kiệt, Nữ lưu thư quán Gò Công, 1928.

2. Giám hồ nữ hiệp (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa) Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928.

3. Nữ anh tài (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa), Cảnh thế tiểu thuyết, Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928.

4. Lâm Kiều Loan, Tiểu thuyết ẩn tình xã hội Nam kỳ, cuốn 1 (trọn bộ 10 cuốn), Imp. Trần Trọng Canh, Sài Gòn, 1932.

5. Kiếp hoa thảm sử (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa), Xã hội tiểu thuyết, trích đăng nhiều kỳ trong Tinh thần phụ nữ (từ số 6 trở đi là Sách Nữ Lưu), Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928-1929.

6. Phụ nghĩa tào khang, Đoản thiên tiểu thuyết, Đông Pháp thời báo, số 669, ngày 21.1.1928.

7. Vần quốc ngữ “Nữ lưu”, Nữ lưu thư quán Gò Công xuất bản.

8. Nam Kỳ cần phải có trường nữ công, Đông Pháp thời báo, số 695, ngày 15.3.1928.

9. Trường thương mãi cho Nữ lưu Việt Nam, Đông Pháp thời báo, số 698, ngày 22.3.1928.

10. Vài điều cần ích cho chị em bạn gái, Đông Pháp thời báo, số 704, ngày 5.4.1928.

11. Mưu trừ tuyệt nghề kéo xe, Đông Pháp thời báo, số 704, ngày 5.4.1928.

12. Kính gửi các nhà văn sĩ, Đông Pháp thời báo, số 709, 1928.

13. Gian nhà rách, Đông Pháp thời báo, số 640, 27.10.1927.

14. Đồng bạc Tây và đồng bạc Pháp, Đông Pháp thời báo, số 642, 1927.

15. Phụ nữ Việt Nam ta thử lập vài cái học bổng, Đông Pháp thời báo, số 650, 1927.

Về trường hợp hai cuốn Nữ anh tài và Giám hồ nữ hiệp gắn với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa, theo quan điểm một số công trình văn học sử về văn học Nam Bộ thì Phan Thị Bạch Vân và Hoàng Thị Tuyết Hoa là hai tác giả nữ được liệt kê song song nhau. Tuy nhiên, đọc lại cuốn Nữ anh tài, chúng tôi tìm được một thông tin liên quan đến việc chỉ ra Phan Thị Bạch Vân chính là Hoàng Thị Tuyết Hoa:

“Cùng chư độc giả yêu quí,

Bộ tiểu thuyết Nữ anh tài đến đây thì dứt (…) Tóm tắt câu chuyện về bộ ấy, thì toàn là chuyện về mặt phụ nữ với chức nghiệp. Vai chủ động ấy dẫu là vì cảnh thế éo le, nhưng thế nào cũng chẳng quên cái phận sự của mình đối với quốc gia, sao cho đáng một bực Nữ lưu tân tiến (…) Con người có ái tình mà gặp cảnh thế xã hội bất ưng ý, rồi đem cái ái tình ấy mà làm tình yêu nước, tình yêu dân, thì ôi thôi, đáng khen biết bao, đáng kính biết bao!...

(…)

Soạn giả PHAN –THỊ - BẠCH - VÂN

Biệt hiệu: HOÀNG - THỊ - TUYẾT - HOA

Kính bút,”

Đoạn văn nằm ở trang 25-26, cuốn thứ 6 bộ tiểu thuyết Nữ anh tài. Phần tên tác giả được in hoa. Chứng cứ này đã nối dài thêm danh sách các tiểu thuyết của Phan Thị Bạch Vân. Điều đáng nói nữa là các tiểu thuyết của bà (theo tư liệu hiện có) đều được tự tác giả phân định bằng cách tên gọi khác nhau: Cảnh thế tiểu thuyết (Nữ anh tài), Tiểu thuyết ẩn tình xã hội Nam kỳ(Lâm Kiều Loan), xã hội tiểu thuyết (Kiếp hoa thảm sử). Cũng trong cuốn thứ 6 của tiểu thuyết Nữ anh tài, bà ghi thêm dòng tái bút: “Kỳ tới sẽ hiến cho các bạn độc giả bộ Kiếp hoa thảm sử, tiểu thuyết về xã hội hiện thời. So với bộ Nữ anh tài, thì bộ này chuyên về một mặt khác, hành văn cũng tuân theo một lối khác, mời chư độc giả dượt xem” (trang 26). Như vậy, ít nhất từ sự định danh của tác giả, chúng ta có câu hỏi: xã hội tiểu thuyết (hay tiểu thuyết xã hội) thì khác thế nào với tiểu thuyết ẩn tình xã hội? Với cảnh thế tiểu thuyết? Ở đây, tác giả có ý nói rằng Nữ anh tài  phân biệt với Kiếp hoa thảm sử  về “mặt khác” và “hành văn khác”. Yếu tố “xã hội” và “cảnh thế” có thể là hai trọng điểm cảm hứng và quan niệm của tác giả về vấn đề phụ nữ chăng? Ý thức về sự “hành văn” khác, và cách đặt tiêu đề phụ dưới mỗi tiểu thuyết, theo chúng tôi, là những tín hiệu cho thấy nỗ lực sáng tạo của Phan Thị Bạch Vân gắn rất chặt với tinh thần cách tân không mệt mỏi và đầy tiềm lực của bà.

Đọc Lời dẫn đầu cuốn Gương nữ kiệt, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước sự táo bạo của người chủ nhiệm Nữ lưu thư quán vào thời điểm nhạy cảm lúc đó: “Đương lúc nước mất dân tàn, trông mong vào những bực trượng phu ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nhi nữ ghé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam giới nữ giới đều có thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giày xéo. Chúng ta đọc truyện bà Rô-lăng nước Pháp, sao được không nhớ đến bà Trưng bà Triệu là những bà mẹ yêu quí của chúng ta, rồi lại nghĩ đến cái bổn phận , cái cảnh ngộ của chúng ta ngày nay mà ngậm ngùi đau đớn…”. Không có gì lạ khi cuốn sách bị chính quyền thực dân xếp vào danh mục cấm lưu hành. Cũng trong cảm hứng về chân dung nữ kiệt, Phan Thị Bạch Vân còn viết một tác phẩm nữa là Giám hồ nữ hiệp với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa. Tác phẩm viết về Thu Cận, được chú thích là “nữ hiệp nước Tàu”. Hai nhân vật bà Roland và Thu Cận nằm trong tinh thần chủ đạo của Phan Thị Bạch Vân là truyền bá hình ảnh người phụ nữ mới: ý thức sự trỗi dậy của giới tính, dám làm việc lớn, và dám chịu chết cho lý tưởng. Bên cạnh đó là ý thức lập hội, tự làm kinh tế để duy trì sự nghiệp chính trị hoặc văn hóa. Giám hồ nữ hiệp có những câu viết “nguy hiểm”: “Cách mạng có cứ gì con trai con gái”, “hai tiếng nô lệ ở trong thiên hạ này còn có dân tộc nào mà chịu mang không”…

Bà cũng là tác giả của bốn tiểu thuyết (trong đó có 1 là đoản thiên tiểu thuyết). Truyện Lâm Kiều Loan  hiện chỉ còn 1 tập dài 32 trang. Nhân vật Lâm Kiều Loan được xây dựng trước hết ở tình cảnh bi thảm: con gái mất, chồng phản bội, gia đình chồng ác nghiệt. Rời bỏ cuộc hôn nhân bất hạnh, Lâm Kiều Loan đến Biên Hòa lập nghiệp với bạn Nguyễn Ngọc Anh, và lại chứng kiến tiếp một mảnh đời đau khổ của Bích Ngọc, chị của Bích Liên, một người bạn của của cô Ngọc Anh. Bích Ngọc cũng vì bị phản bội mà sinh ra diên dại. Câu chuyện ngưng lại ở đó. Như vậy, 9 tập còn lại hiện bị thất lạc đã không cho người đọc thấy được sâu xa hơn tư tưởng của nhà văn. Dựa vào các trước tác tìm thấy của Phan Thị Bạch Vân, cũng như tôn chỉ của Nữ lưu thư quán, ta có thể đoán định câu chuyện về nàng Lâm Kiều Loan không thể là một tấn bi kịch tuyệt vọng, mà ngược lại, là câu chuyện của ý chí nữ lưu. Sự tương phản về cách giải quyết giữa hai mảnh đời có cùng số phận (Kiều Loan và Bích Ngọc) ở cuốn đầu tiên cho thấy nhà văn có ý định xây dựng quan niệm sống của Kiều Loan dựa trên sự quan sát và suy gẫm về số phận của nhiều người phụ nữ khác, dựa trên sự thông cảm sâu xa đối với những bất hạnh có tính phổ biến của người nữ trong xã hội hiện thời, nghĩa là dựa trên “tinh thần” phụ nữ được cất giấu kỹ lưỡng trong đầu óc hoạt động của bà chủ nhiệm thư quán.

Kiếp hoa thảm sử là bộ tiểu thuyết nhiều kỳ đăng trên Tinh thần phụ nữ. Nhân vật chính Như Hoa không đối diện với bi kịch duyên phận cá nhân, mà với bi kịch của gia đình chung và xã hội. Chứng kiến hai cái chết kỳ lạ của người em ruột là Như Ngọc và em cùng cha khác mẹ là Minh Lang, Như Hoa quyết bỏ mẹ ghẻ ác nghiệt để ra đi tìm đường sống. Trên nẻo đường gian truân, Như Hoa chứng kiến thêm cuộc đời đau khổ của người bạn thân tên Lang. Số phận đẩy đưa cô bạn này đến chỗ chết. Như Hoa lại gặp vợ Tư Hiền, một người phụ nữ bị chồng đánh đến bầm tím cả người. Cách xây dựng cốt truyện và nhân vật của Phan Thị Bạch Vân có vẻ như theo một hệ thống. Nhân vật chính của bà được bao bọc rất kỹ trong ý thức bảo vệ mình và quan sát thời cuộc. Kiều Loan nhìn Bích Ngọc mà nghĩ cảnh mình, Như Hoa nhìn em mất, nhìn bạn chết, mà hiểu đời thêm. Dụng ý nghệ thuật của Phan Thị Bạch Vân gắn chặt với dụng ý về tư tưởng xây dựng từng bước tinh thần phụ nữ trong lòng người đọc, đặc biệt là nữ giới.

Cuốn Nữ anh tài  là điểm nhìn lạc quan nhất của Phan Thị Bạch Vân. Nhân vật chính Tú Anh có phần khác những nhân vật đầy bi kịch như Kiều Loan, Như Hoa. Tú Anh có bản lĩnh ngay từ chuyện tình yêu đôi lứa, chuyện hôn nhân, chuyện xử lý sự cố gia đình cho đến khả năng quản lý kinh tế, trau dồi tri thức học tập. Nhân vật Lê Tú Anh không gần gũi với những hình ảnh và số phận những người phụ nữ bình thường, mà có phần phản chiếu bóng dáng một “nữ kiệt, nữ hiệp” của riêng Việt Nam. Trong trường hợp này, gọi Nữ anh tài là tiểu thuyết luận đề, chúng tôi thấy cũng có lý.

Từ nội dung luân lý và quốc học như đã nêu, Nữ lưu thư quán Gò Công là sự xuất hiện đột phá của nữ giới Nam kỳ trong tiến trình hiện đại hóa ý thức văn học đầu thế kỷ XX. Với nhãn quan tiến bộ về lịch sử xã hội, với khả năng quản lý kinh tế tốt và tiềm năng học thuật cao, Phan Thị Bạch Vân là trụ cột tinh thần cho Nữ lưu thư quán Gò Công từ 1928 đến 1930 – một trong những hoạt động đầu tiên của phụ nữ Nam kỳ thể hiện bước chuyển mình chín muồi của thời đại đối với các vấn đề canh tân và chống đối ý thức hệ thực dân.

SG, 5.2006

Lê Tâm
« Sửa lần cuối: 24/07/2010, 00:32:05 gửi bởi Giấy gói xôi »
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Phan Thị Bạch Vân
« Trả lời #2 vào: 06/08/2010, 21:16:53 »
TINH THẦN PHỤ NỮ
Phan Thị Bạch Vân chủ trương
Nữ lưu thơ quán xuất bản



 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Phan Thị Bạch Vân
« Trả lời #3 vào: 06/08/2010, 21:23:03 »
Một số tác phẩm của Nữ lưu thơ quán









 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Phan Thị Bạch Vân
« Trả lời #4 vào: 17/08/2010, 17:03:55 »
 

Ngủ rồi lephan

  • *
  • Bài viết: 33
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Phan Thị Bạch Vân
« Trả lời #5 vào: 17/04/2015, 07:52:08 »
PHAN THỊ BẠCH VÂN – TRANH ĐẤU CHO NỮ QUYỀN

Phan thị Bạch Vân là một cây bút rất đa dạng. Bà dịch thuật, viết tiểu thuyết, xã thuyết, làm thơ,…Là trợ bút của Đông Pháp thời báo, bà viết về rất nhiều đề tài, nhưng tập trung nhất là các bài viết bênh vực quyền lợi phụ nữ, đấu tranh cho nữ quyền. Những bộ tiểu thuyết như Giám hồ nữ hiệp, Nữ anh tài… được viết với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa thể hiện tinh thần người phụ nữ mới. Trong bài giới thiệu quyển Gương nữ kiệt viết về bà Roland - một nữ anh hùng của nước Pháp, bà công khai bày tỏ chính kiến “Đương lúc nước mất dân tàn, trông mong vào những bực trượng phu ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nhi nữ ghé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam giới nữ giới đều có người thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giày xéo. Chúng ta đọc truyện bà Rô-Lăng nước Pháp, sao được không nhớ đến bà Trưng bà Triệu là những bà mẹ yêu quí của chúng ta, rồi lại nghĩ đến cái bổn phận, cái cảnh ngộ của chúng ta ngày nay mà ngậm ngùi đau đớn”.
Nữ lưu thơ quán do Phan thị Bạch Vân sáng lập xuất bản sách mỗi tháng 3 kỳ với mục đích “Lựa chọn để bán ra cho cả thảy chị em bạn gái bằng cái giá thật hạ những truyện sách xuất bản trong xứ, có ích cho tinh thần đạo đức và nền luân lý nước nhà, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở học vấn thêm cao”. Tủ sách của Nữ lưu thơ quán rất phong phú, có tiểu thuyết ái tình, sách danh nhân, lịch sử,  khoa học, triết học, chính trị. Đặc biệt Nữ lưu thơ quán có rất nhiều sách dành riêng cho phụ nữ như Tân nữ học sinh, Phụ nữ tân giáo khoa, Nữ công thường dụng…và sách dạy đạo vợ chồng, sinh sản, nuôi nấng con cái.
Việc công khai truyền bá tư tưởng “thương nước thương dân, lo cho hậu vận nước nhà, ham mến quốc văn, bảo tồn quốc túy”  của Nữ lưu thơ quán đã khiến nhà cầm quyền bấy giờ “để ý”.
Ngày 20-9-1928, chính quyền thực dân Pháp ban hành Nghị định cấm lưu hành quyển Gương nữ kiệt của tác giả Phan Thị Bạch Vân. Tiếp theo ngày 24-11-1928 quyển Giám-hồ nữ-hiệp do Nữ lưu thư quán xuất bản cũng bị cấm. Năm 1929, Nữ lưu thơ quán có 3 quyển bị cấm lưu hành gồm Nữ anh-tài (quyển IV) của Hoàng thị Tuyết Hoa (tức Bạch Vân) (Nghị định ngày 5-9-29), Hồn tự lập (quyển I và II) của Á-nam Trần Tuấn Khải (Nghị định ngày 9-9-1929 và ngày 11-10-1929). Quyển sách cuối cùng bị cấm lưu hành đồng thời với Nữ lưu thư quán bị đóng cửa là quyển Băng tâm Ngọc Chất (Nghị định ngày 13-12-1929).
Nữ lưu thơ quán tồn tại chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, nhưng đã tập hợp được một số tác giả tiến bộ và đã xuất bản nhiều tác phẩm văn học, khoa học, giáo dục…có giá trị, góp phần truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên, đặc biệt cho phụ nữ. Trong bài “Mối cảm tình đối với Phan Bạch Vân nữ sĩ “ của tác giả LV đăng trên Tiểu Trung Lập (phụ bản báo Trung Lập) ngày 9  Fevrier 1930 có đoạn viết “Xét ra thì trong Nam kỳ ta xưa nay chưa có một thơ quán tạp chí nào để thông tư tưởng nữ lưu cho chánh đáng bằng Nữ lưu thơ quán ở Gò Công mà cô Phan Bạch Vân đề tạo ra đó....Ngày nay có phải bị việc chẳng may làm ngăn trở cái chí nhiệt thành của cô, thật là một việc đáng tiếc đáng buồn cho chị em ta lắm…”
Cãi lý tại tòa
Báo Trung Lập (số ra ngày 13 Février 1930) tường thuật, 8 giờ sáng ngày 10 Février 1930, bà Bạch Vân bị giải ra toà Mỹ Tho xét xử. Trước lời buộc tội của ông Chánh tòa Chélier và Biện lý Léger, bà đã phủ nhận “làm rối trị an dân chúng bằng việc viết sách”. Bà nói “vì tôi thấy đàn bà An Nam còn dốt nhiều và bị áp chế dưới quyền đàn ông nên tôi viết ra những quyển sách ấy cố tâm khuyến dụ người đàn bà lo học thêm để mở mang trí thức, tập luyện các nghề nghiệp như đàn ông.” Tòa đã vin vào hai chữ “tham chính” trong một bài viết để buộc tội bà xúi phụ nữ Việt làm quốc sự. Bà cho rằng ai đó đã cố tình dịch sai từ tham chính (service puplic) có nghĩa là “việc chung”. Ý kiến của bà được ông trạng sư Vincent Toti đồng tình là bệnh vực cho bà “Tôi tưởng vụ này không đáng tội vạ gì hết mà lại là một chuyện nên khen thân chủ của tôi biết đường giải nghiệp cho phụ nữ và chính cô ta cũng đã làm gương bằng việc lập nhà in thơ quán”.
Ý kiến của trạng sư Vincent Toti  khiến phiên toà phải đình lại và 8 ngày sau tòa Mỹ Tho tuyên bố bà trắng án.
Trả lời báo Trung lập, ngay sau khi phiên toà, bà Vân tâm sự “Nghĩ lại câu làm nghịch chánh phủ mà tòa đã buộc mà phải thẹn cho tôi chẳng xứng với cái danh đó vậy. Lòng lại hỏi lòng từ ngày chường mặt với quốc dân tới nay có làm gì được điều chi gọi là giúp ích cho chị em”. Bà cho biết sẽ tạm nghỉ để tịnh dưỡng ít lâu song nghiệp văn chương thì chưa dứt được, hẹn có dịp sẽ hội ngộ.
Phan Thị Bạch Vân đã đóng góp cho văn học Nam Bộ một phong cách riêng với tư tưởng rất tiến bộ. Theo các nhà nghiên cứu, tác phẩm của vượt trội cả về nội dung và nghệ thuật so với các cây bút nữ đương thời. Bà mất ngày 2-8-1980 tại TP.HCM, di cốt hiện được gửi tại chùa Giác Ngộ, đường Nguyễn Chí Thanh, quận 5, TP.HCM.

Nguyễn Ngọc Phan