Tác giả Chủ đề: Tản văn tản viếc  (Đã xem 25798 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi NL

Tản văn tản viếc
« vào: 24/04/2012, 16:14:04 »
Một ít tản văn có liên quan chút đến sách vở :d

Đương đầu với đơn giản

Nhà văn người Pháp Frédéric Beigbeder, một “tay chơi” có danh tiếng lẫy lừng trong nhiều ngón nghề, từng khẳng định: “Sau ba năm, một cặp đôi phải bỏ nhau, tự sát, hoặc sinh con, đó là ba cách xác nhận kết cục của họ”. Một mối tình kết thúc bằng việc hai con người hoặc lủi thủi hoặc hằm hè chia tay nhau, điều này rất không đáng bị coi là lạ. Mối tình có đoạn kết là một cú nhảy từ trên cầu xuống sông, lao vào đầu máy xe lửa, hoặc tanh bành hơn nữa là có mùi vị của thuốc ngủ quá liều hay thuốc súng đủ liều, phim ảnh văn chương cũng chẳng hiếm khi cung cấp ví dụ. Điều lạ ở đây là Beigbeder xếp ngang hàng việc có con với bỏ nhau và tự sát.

Trong mọi trường hợp xuất hiện “người thứ ba” xen vào giữa một cặp yêu nhau, chắc chắn một đứa trẻ con ít gây nghi kỵ nhất. Chẳng ai nghĩ đến chuyện so sánh đứa bé với nỗi nguy hiểm từ một gã đàn ông sát gái mặt đầy sẹo nhưng tâm hồn bay bổng, một cô gái xinh đẹp mềm mại buồn nhưng lại rất cứng rắn trong công cuộc gây thương nhớ, hoặc thậm chí một bà mẹ chồng tai quái quyết chí chiếm trọn chỗ trong trái tim đứa con trai. Thế nhưng câu chuyện tình yêu vẫn cứ rẽ ngoặt vào lúc khả năng hoặc thực tế về một đứa trẻ xuất hiện.

Tình huống này còn phải tính đến bối cảnh đan xen chằng chịt của bao nhiêu chi phối: mệnh lệnh của sinh học trong công trình tiếp nối giống nòi, tiếng thủ thỉ nhỏ nhẹ nhưng cương quyết của truyền thống gia đình, chưa kể đến mọi tính toán về trợ cấp xã hội, vân vân và vân vân. Những người yêu nhau, họ cứ tưởng chừng như mình tự do lắm mà tùy ý nương theo chiều hướng tình cảm cá nhân, họ cứ tưởng mọi thứ mới là bắt đầu, phơi phới đầy triển vọng, trong khi sự thật là kết cục lúc nào cũng đã lăm le xuất đầu lộ diện. Không gì trường cửu như tình yêu, nhưng cũng không có gì dễ đổ vỡ như tình yêu, và con người lãng mạn đến mấy rồi cũng sẽ đến lúc phải công nhận rằng tiếng trẻ con khóc và mùi tã lót là những thứ không hề dễ chịu.

Sự đương đầu với “người thứ ba” này, ngay cả khi không phải là người thứ ba không được mong muốn, còn khó ở chỗ không một cách giải quyết theo lối bạo liệt nào là khả dĩ: bỏ nhau hay tự sát, dẫu đau đớn, vẫn là lựa chọn, còn cái kết cục thứ ba theo Beigbeder này đơn giản là không cho người ta một khả năng nào nữa.

Còn một khi đã có “lệch pha” giữa hai người yêu nhau về chủ đề đơn giản nhưng nghiêm trọng này, thì tức thì bi kịch thảm khốc sẽ xảy ra. Trong cuốn tiểu thuyết “Moon Palace” của Paul Auster, việc không quyết định nổi là nên có con hay không đã khiến cho Marco Fogg và Kitty Wu đánh mất đi một tình yêu tưởng chừng muôn đời nồng nhiệt. Ở mức độ thấp hơn và kín đáo hơn, ta có thể tìm thấy lời cảnh báo nghiêm khắc và thường trực từ các tờ báo phụ nữ về số lượng phá thai ở thiếu nữ. Thậm chí một nhà văn nổi tiếng còn từng để cho nhân vật của mình phát biểu những lý do để không nên có con, trong đó có một lý do phảng phất ý vị siêu hình: sinh con cũng đồng nghĩa với công nhận rằng thế giới là tốt đẹp muôn phần, trong khi sự thật hình như không phải vậy.

Người ta thường rất mạnh mẽ và thực hiện được những chiến công tuyệt diệu khi phải đối mặt với những hiểm nguy kinh người, nhưng lại rất lúng túng lúc đương đầu với những điều đơn giản. Thế mà cuộc đời này lại được làm nên từ rặt những điều đơn giản đến buồn cười.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #1 vào: 26/05/2012, 07:38:34 »
Tàu hỏa đối chiếu

Một ai đó, hình như Ngô Phan Lưu, từng ví tiếng còi tàu với tiếng kèn saxophone. Của đáng tội, nhìn một đoàn tàu bò đi ở xa xa tôi thường xuyên nghĩ tới một con giun đất. Con giun đất mãi mà không đào hết đất, các đoàn tàu thì mãi mãi không dừng lại.

Tàu Shinkansen của Nhật Bản có một sự thuận tiện kinh hoàng: khách đi tàu không bao giờ phải ngồi quay lưng về hướng đi của đoàn tàu, vì băng ghế ngồi có thể dễ dàng xoay ngược lại. Dĩ nhiên, bạn cũng có thể nhất định lúc nào cũng ngồi ngược, nếu thuyết phục được những người bên cạnh. Tàu hỏa Việt Nam còn thuận tiện hơn: những chuyến tàu tôi đi hồi bé, người ta mắc võng nằm ngay phía trên những cái ghế, mỗi lần tàu lắc là như có thể bắn ra khỏi cửa sổ (hồi đó mới thế, sau này tài ném đá của mấy chú bé nông thôn làm nhà tàu phải may lưới sắt bịt hết cửa sổ lại). Người ta còn trải áo mưa nằm trên sàn tàu, dưới gầm ghế. Ký ức của tôi hẳn là có biệt tài thiên vị những điều tốt đẹp, nên tôi chỉ còn nhớ đã từng nằm trên bao nhiêu là người chứ không nhớ có lần nào nằm dưới ai.

Nhưng ấn tượng về một đời sống tàu hỏa, đời sống phong phú nhà ga phòng chờ chỉ thật rõ tại châu Âu, cho dù hình ảnh đoàn tàu bu kín người cả trên nóc ở Ấn Độ mới thật gây choáng váng tinh thần. Mọi thành phố châu Âu đều được xây dựng xung quanh ga tàu và nhà thờ, một số thành phố như Leipzig có nhà ga (Bahnhof) to đến mức đi mãi không hết, lại rất mỹ thuật, và giới trẻ thành phố tụ tập ở đây như giới trẻ Hà Nội tối tối tập trung ở tượng đài Lê nin hay tượng đài Lý Thái Tổ, để mà vui chơi, sinh hoạt lành mạnh lẫn không lành mạnh lắm. Nhất là khi sống tại Pháp, một đất nước không mấy thịnh hành xe khách liên tỉnh, muốn tiện lợi mà không phải tự lái xe đường dài rất nhức vai nhức cổ mà lại bị khống chế tốc độ, thế nào bạn cũng lựa chọn tàu hỏa. Tàu TGV chạy Paris-Marseille mất chừng ba giờ đồng hồ, còn nhanh hơn đi máy bay.

Khi đi tàu, người Pháp hay đọc sách, người Anh hay đọc báo, còn người châu Á nói chung (Hồng Kông, Nhật Bản) chơi điện tử hoặc nhí nhách nhắn tin điện thoại, nhưng không ở đâu hoạt động trên tàu phong phú như trên tàu hỏa Việt Nam: trên các chuyến tàu chợ, người ta thường ăn trứng vịt lộn và đánh bạc kiếm tiền, rồi uống nước chè hút thuốc lào xòng xọc. Hồi tàu Thống Nhất Bắc-Nam còn chạy mất hai ngày, mỗi lần đi người ta khao khát đợi tới ga Đà Nẵng để được tắm một trận đã đời và nôn nóng đợi ga Diêu Trì để ăn xôi gà.

Đi tàu ở Pháp đã thích, nhưng sang đến những chuyến tàu nước Đức, EC hay IC, tàu liên thành phố, mới thấy thật là văn minh tiến bộ. Người ngoài châu Âu nếu muốn đi du lịch ngắn ngày khắp châu Âu thì nên mua vé “eurail”, được đi tàu thoải mái trong một quãng thời gian nhất định, từ tàu TGV, tàu Thalys, tàu Eurostar tới tàu Trenitalia (tàu Ý thì phải nói là hơi bẩn và hơi lộn xộn); nếu tính toán khéo để qua đêm trên tàu thì còn tiết kiệm được khối tiền khách sạn. Nhưng cũng phải tìm hiểu cặn kẽ những khác biệt để khỏi rơi vào trường hợp khó xử; vì không biết ban đêm nhà ga ở Thụy Điển đóng cửa nên tôi đã có lần suýt chết vì cái lạnh tháng Chạp bên ngoài một nhà ga trung tâm miền Bắc Âu lạnh hơn tủ lạnh.

Ở Việt Nam ngày nay, nếu căn cứ vào “chi phí cơ hội” thì rất ít người thoải mái chọn tàu hỏa làm phương tiện di chuyển. Trừ phi đi từ Hà Nội vào Sài Gòn bằng tốc độ của TGV, chứ bao nhiêu chục năm mà mới chỉ rút ngắn được từ 48 tiếng xuống còn 32 tiếng và sự tròng trành lắc lư vĩnh viễn không thay đổi, thì tàu hỏa rõ ràng không phải một lựa chọn khôn ngoan, cho dù các nhà thơ Việt Nam đã dành những dòng thơ đẹp nhất cho đoàn tàu, nhà ga: “Những ngày nghỉ học tôi thường tới/Đón chuyến tàu đi đến những ga” (Tế Hanh), “Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt/Buồn ở đâu hơn ở chốn này” (Nguyễn Bính) hay “Tàu chạy mau mà qua rất lâu/Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau/Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu” (Tô Thùy Yên).

Bỏ không đi tàu nữa cũng đồng nghĩa với từ bỏ một ước vọng lên đường đi xa. Máy bay không đại diện nổi cho ước vọng ấy ở phương diện ẩn dụ, khơi gợi về một phương xa huyền bí. Máy bay trơ trẽn là một cục sắt biết bay, trong khi tàu thủy tàu hỏa chứa đựng hai thành tố của ngũ hành nên có ý nghĩa rất sâu sắc. Con người ta mơ lên đường là mơ đến khói bay từ ống khói tàu thủy hay tiếng còi tàu (như tiếng kèn saxophone đầy sexy, theo Ngô Phan Lưu) chứ ai thèm mơ check-in và boarding card. Mai Thảo để nhân vật của mình nghĩ trong tiểu thuyết “Mười đêm ngà ngọc”: “Xưa kia Nguyên đã mơ ước được như thế, được là một cánh chim giang hồ, người lữ hành của những sân ga”, và hai nhà thơ giang hồ Nguyễn Bính cùng Vũ Hoàng Chương khi liên vận làm một bài thơ dịp đi thăm nhà thơ Bàng Bá Lân trên miền trung du đã mở đầu ngay bằng một câu nức nở: “Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương”.

Cá nhân tôi chủ trương làm theo các bài học đầy lợi ích nhìn thấy được của “chi phí cơ hội” và luôn luôn nghĩ đoàn tàu trông giống con giun đất, nhưng trong những ước mơ thầm kín nhất tôi vẫn mơ mình là một cánh chim giang hồ gian khổ tham gia xúc tuyết cùng hành khách trên tuyến đường Xuyên Siberia huyền thoại nghe đâu là sản phẩm của độc tài Stalin, hay phè phỡn phòng riêng xa xỉ như một ông hoàng Trung Đông trên tàu Orient Express. Đã là mơ, thì phải mơ cho đáng, bét nhất tôi cũng muốn ở trên chuyến tàu North-Express giống như trong bộ phim “Strangers on a Train” mà Alfred Hitchcock từng quay dựa trên tác phẩm của Patricia Highsmith, để được một lần tận mắt chứng kiến một tấn thảm kịch thật là ly kỳ rùng rợn.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #2 vào: 15/08/2012, 23:21:45 »
Cũng cần cay cú

Chúng ta sống trong một cuộc đời chẳng ra sao. Trong khi ta mơ ước vụt được một, dù chỉ một đường bóng đầy uy lực trúng vào đường vạch biên khuất phục đối phương bên kia lưới, giống như Roger Federer, thì chính Roger Federer lại cứ liên tục chảy nước mắt uất hận vì không sao quay trở lại được vị trí tennisman số một thế giới đang bị Rafael Nadal nắm giữ. Là cây vợt thứ nhì thế giới, nhưng Federer khổ sở hơn Novak Djokovic hay Andy Murray, và tất nhiên là khổ sở hơn các vận động viên hạng ruồi hay các thể loại tay mơ bu đầy các sân tennis trên khắp thế giới.

Đúng là không có chút công bằng nào cả. Người chơi dở thì tha hồ sung sướng, thậm chí là sung sướng với mấy giọt mồ hôi nhỏ ra được sau ngày làm việc bụng dính vào gờ bàn, người chơi giỏi thì phải tấm tức khóc, cảnh tượng đó nhiều người bảo là bi tráng nhưng tôi chỉ thấy thật là buồn.

Đã không công bằng, lại còn căng thẳng. Thể thao, mà người ta cứ gọi là “trò chơi”, nói là “chơi thể thao”, hóa ra chỉ mang lại khoái cảm sung sướng khi “căng thẳng đến nghẹt thở”. Kể từ khi ngài Nam tước Pierre de Courbetin sáng lập ra các kỳ Thế vận hội Olympic hiện đại thì tuy thể thao vẫn được danh nghĩa là “trò chơi” nhưng phải là trò chơi sao cho “xa hơn, nhanh hơn, cao hơn”, mỗi phần nghìn mét cũng “làm nên lịch sử”. Thể thao, tuy vẫn được xác định là để khỏe người, nhưng khỏe không phải là khỏe để tốt cho mình cho vợ hoặc chồng hoặc người yêu mình, mà là để về nhất. Khỏe, nhưng căng thẳng, thế thì cũng chẳng biết được là có khỏe thật hay không. Nếu không khỏe thật mà lại cứ muốn nhất thì thế nào cũng doping, mùa đua xe đạp Tour de France nào cũng thấy có phát hiện doping. Mà doping thì chắc chắn là không thể khỏe, không thể lành mạnh được. Người ta cứ nói sinh ra trên đời ai cũng có một vị trí cho mình, và tất cả bình đẳng với nhau. Xin lỗi chứ, làm gì có bình đẳng, nếu không thì tại sao lại còn nảy sinh thứ nhất – và do đó là thứ hai, sinh ra Federer rồi tại sao nhất định cứ phải xuất hiện Nadal?

Thiếu công bằng như vậy, và căng thẳng như vậy, thành thử cũng dễ hiểu khi thế giới đổ xô đi tìm những cách sống mới. Người phương Tây đột nhiên phát hiện một từ kỳ diệu: slow (chậm), và thế là cả một trào lưu đi kèm: ăn chậm, uống chậm, đi chậm, sống chậm, tình ái chậm, thậm chí cả chạy chậm. Nguồn minh triết phương Đông lũ lượt đổ sang phương Tây và tìm thấy vô số tín đồ. Trước đây cần phải chiến thắng, phải thành công, thì bây giờ biết sống là mỉm cười trước mọi sự, lúc nào cũng stay cool (kể cả khi trông khá là đờ đẫn). Phải “buông xả thanh thản”, và phải biết sống sao cho “đời không tâm điểm”.

James Dean may mà chết sớm, vì cứ cái kiểu tung hô sống gấp gáp, đốt cháy từng giây phút của cái hiện sinh nhọc nhằn, thế nào người hùng Hollywood chẳng bị các tờ tạp chí trendy nêu lên đầu bảng của sự quê mùa và quá đát. Cái trò “chicken’s run” lao xe về phía miệng vực, người thắng là người hãm phanh cuối cùng, nghe thì ghê gớm thế chứ cũng chỉ thu hút được các em gái miền núi, bây giờ ai thèm quan tâm. New Age và hippy đã thế chỗ những chàng đẹp trai lúc nào cũng sẵn sàng đi ra đường tìm cách tự làm gãy cổ, giờ thì ở tuyệt đối đỉnh cao phong độ và đẳng cấp phải là người biết luôn miệng “om”, “cool” và “zen”.

Một nhà văn Pháp giờ đây đã bị lãng quên khá nhiều, Marcel Aymé (tác giả truyện ngắn “Người đi xuyên tường” một thời lừng danh), từng có một cảm nhận đi trước thời đại từ rất sớm. Trong truyện ngắn “Người về bét” (Le Dernier) viết từ những năm 1930, Aymé miêu tả một tay cua-rơ xe đạp cả đời chỉ về bét, nhưng vẫn không bỏ cuộc, vẫn chăm chỉ và đều đặn tham gia những cuộc đua, với một trạng thái tâm lý rất thiền, thản nhiên và chấp nhận. Để lại vợ và con ở nhà, cứ khi nào có tiếng bánh xe lăn trên đường cái là anh lại ra đi – không “vui như ngày hội” nhưng hẳn là cũng phơi phới lắm, dù biết trước là mình sẽ chẳng được cái giải rút gì.

Có lẽ những con người như thế mới thực sự đông đảo ở trên cuộc đời này, cũng như trong thể thao. Danh hiệu và vinh quang thì ít ỏi, mà những người trên đường đuổi bắt chúng thì đông vô kể, mấy ai được thỏa mãn đâu.

Thế nhưng, nếu không cố gắng để trở thành người chiến thắng, nếu không có chút cay cú nào khi tham gia đua tranh, thì các cuộc đua Tour de France sẽ không khác gì chuyến đạp xe về quê picnic của một nhóm bạn, trận bóng bầu dục Mỹ giống như bữa barbecue trong sân nhà bà cụ tốt bụng. Tôi, một người không biết chơi cả tennis lẫn đua xe, tôi sẵn sàng cho Roger Federer những gì tôi có để anh ngừng khóc khi bị thua Nadal, nhưng nếu đến giải sau đó Federer “buông xả thanh thản” thì chắc chắn là tôi tắt vô tuyến ra sân tìm thầy khởi sự tập môn quần vợt.
 

Ngủ rồi javous

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #3 vào: 16/08/2012, 07:07:59 »
Trong Rebel without a cause, cả hai đều cho xe lao về miệng vực, anh nào nhảy ra khỏi xe sau là thắng thì phải?
« Sửa lần cuối: 16/08/2012, 07:09:40 gửi bởi javous »
 

Ngủ rồi gamotsach

  • Riêng một góc trời.
  • *******
  • Bài viết: 6,118
  • Thanked: 3 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Thục sơn ngột, A phòng xuất.
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #4 vào: 16/08/2012, 07:38:41 »
NL lại có ý định thể dục hóa thể thao rồi. Thể dục để rèn luyện sức khỏe cho mình, thể thao cũng vậy, nhưng thường có tính đua tranh, cạnh tranh.Đua tranh thì phải có nhất nhì, phải nhanh nhất, cao nhất, xa nhất để phù hợp với lời kêu gọi của Coubertin. Nên thể dục thường xuyên, nhưng đời người thì cũng nên ít nhất một lần bước vào tranh tài thể thao NL à.
 
Tiến sĩ danh dự Đại học Tham Mà Sặc.

Ngủ rồi Quang Hai

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #5 vào: 16/08/2012, 07:46:42 »
Cũng cần cay cú

Đúng là không có chút công bằng nào cả. Người chơi dở thì tha hồ sung sướng, thậm chí là sung sướng với mấy giọt mồ hôi nhỏ ra được sau ngày làm việc bụng dính vào gờ bàn, người chơi giỏi thì phải tấm tức khóc

Có lẽ những con người như thế mới thực sự đông đảo ở trên cuộc đời này, cũng như trong thể thao. Danh hiệu và vinh quang thì ít ỏi, mà những người trên đường đuổi bắt chúng thì đông vô kể, mấy ai được thỏa mãn đâu.


Em xin trích dẫn hai câu này. Hơi có chút mâu thuẫn trong đó. Ở câu trên em nghĩ người chơi dở cũng chả sung sướng hơn đâu ạ. Họ lại có biết bao nỗi khổ khác mà  Roger Federer không phải chịu.
Câu dưới, em nghĩ bác đã phần nào tự trả lời cho mâu thuẫn mà bác đưa ra ở câu trên rồi. Sướng hay khổ tùy vào việc mỗi người cảm thấy tự thỏa mãn được bao nhiêu với tham vọng của mình.

Về Marcel Aymé em rất đồng ý với bác. Càng lúc đọc lại ông này càng thấy hay.
« Sửa lần cuối: 16/08/2012, 07:48:15 gửi bởi Quang Hai »
 
Mua sách cốt ở giành nhau.  
Sách đọc chán chết, giành thời lại vui! :d

Ngủ rồi h1995vn

  • ****
  • Bài viết: 435
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #6 vào: 16/08/2012, 08:36:15 »
Thích câu này của bác NL
Trích dẫn
Danh hiệu và vinh quang thì ít ỏi, mà những người trên đường đuổi bắt chúng thì đông vô kể, mấy ai được thỏa mãn
Nhưng câu kết này nghe hơi sến
Trích dẫn
Tôi, một người không biết chơi cả tennis lẫn đua xe, tôi sẵn sàng cho Roger Federer những gì tôi có để anh ngừng khóc khi bị thua Nadal, nhưng nếu đến giải sau đó Federer “buông xả thanh thản” thì chắc chắn là tôi tắt vô tuyến ra sân tìm thầy khởi sự tập môn quần vợt.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #7 vào: 16/08/2012, 10:05:46 »
câu kết tôi phải nghĩ mãi mới ra đấy :d

thì đây là cổ xúy cả cho việc tranh tài thể thao mà các bác, tôi cũng nhiều lần thi đấu rồi, đúng là có khán giả và giải thưởng máu lửa hẳn hihi
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #8 vào: 16/08/2012, 12:55:31 »
Các mảnh nhỏ của ký ức

Con người ta liên thông với thế giới bằng các giác quan, còn mối quan hệ với quá khứ chắc chắn là phức tạp hơn rất nhiều.

Tôi nhớ đến bộ phim “Johnny Got His Gun”, một bộ phim rất đặc biệt của lịch sử điện ảnh thế giới. Cuốn tiểu thuyết cùng tên được xuất bản năm 1939, đúng vào những ngày đầu tiên của Thế chiến thứ hai, và bối cảnh câu chuyện xảy ra vào cuối Thế chiến thứ nhất. Tác giả cuốn tiểu thuyết, Dalton Trumbo, đồng thời cũng là tác giả kịch bản, và không những thế còn làm nốt nhiệm vụ đạo diễn. Bộ phim được trình chiếu vào năm 1971, ngay lập tức được vinh danh nồng nhiệt ở festival Cannes và trở thành một trong các biểu tượng văn hóa mạnh mẽ của phong trào chống chiến tranh (hồi đó dĩ nhiên là chiến tranh Việt Nam). Xem bộ phim này chắc chắn những người từng khóc khi xem đến đoạn các chàng cao bồi mặt sẹo ngã xuống trong một vụ đọ súng hay nàng nọ biết tin chàng kia tử trận, chắc chắn phải khóc đến cả một bể nước. Ngay cả những người ít dành nước mắt cho phim ảnh (xét cho cùng là phù phiếm - “xa nhau không hề rơi nước mắt”, cần phải thế!) cũng khó tránh khỏi rơm rớm.

Bởi vì tình cảnh nhân vật chính Joe của bộ phim khủng khiếp quá: Joe là thanh niên người Mỹ tình nguyện đi chiến trận, nhưng khi chiến tranh sắp kết thúc thì bị dính miểng, mất hết toàn bộ tay chân mặt mũi, toàn bộ các giác quan mà con người ta có trên người: thính giác, thị giác, khứu giác và khả năng nói. Joe chỉ có thể cảm nhận được một chút ít qua tiếp xúc với phần da còn lành lặn ở nửa người trên. Thậm chí Joe còn không phân biệt được sáng tối, rằng mình đang ở trong đời thực hay trong giấc mơ, chỉ riêng việc đang ở trong một căn phòng bệnh viện thôi mà cũng phải chật vật lắm anh mới biết được.

Thế nhưng, điều này làm cho câu chuyện càng trở nên khủng khiếp hơn, trí óc của Joe vẫn còn nguyên vẹn, và lời kể chuyện của anh, mà người xem hiểu là một dạng tiếng nói nội tâm, khiến người ta hiểu dù bị tước hết những điều vô cùng cơ bản của cuộc sống, thì về cơ bản Joe vẫn sống, và, còn hơn thế nữa, sống với đầy đủ ý nghĩa lành mạnh của từ này.

Kể câu chuyện này tôi hoàn toàn không có ý định hỏi độc giả xem liệu một bộ phim như vậy có cảm động hay không, vì chắc chắn là nó rất cảm động (nhiều trường đoạn niềm cảm động đó lên đến mức không thể chịu đựng nổi: cứ thử xem phim rồi sẽ hiểu tôi muốn nói gì!), mà cái trường hợp vô cùng đặc biệt của anh lính Joe ấy dường như muốn nói với chúng ta rằng mọi việc trên đời này thật ra đều nhỏ bé thôi, và thực tình không ai biết nổi mức độ tối thiểu của mỗi chúng ta có thể đạt tới đâu.

Bác tôi đi lính hồi chiến tranh, suốt bốn năm cực khổ ở chiến trường Nam Lào, không bao giờ có một tin tức gì về nhà, ai cũng tưởng là không còn sống nữa. Thế mà khi về đến nhà (lành lặn, các giác quan đều còn hoạt động bình thường), câu chuyện duy nhất mà bác kể lại cho những đứa cháu của mình chỉ có thế này: khi được chuyển quân về vùng Vĩnh Phú trong đêm, sáng sớm mở mắt chợt nghe thấy tiếng bọn trẻ con líu lo bên ngoài, bác chợt thấy cảm giác của mình nhẹ hẳn xuống. Và như vậy không phải vì không có tiếng bom đạn, mà chỉ vì mấy năm liền nghe giọng nói nặng trịch của người miền Trung giờ đây bác bỗng bắt gặp trở lại âm điệu nhẹ hơn của người miền Bắc. Không có câu chuyện nào khác nữa về các trận đánh, bác tôi tuột thoát ra khỏi cuộc chiến bằng một cảm giác nhẹ nhàng về sự “chuyển tông” các giọng nói như vậy. Như thể ký ức về chiến tranh đã được gột rửa thông qua một tác động vô cùng nhỏ của giác quan.

Rồi cũng đến lúc bản thân tôi, khi phải đối diện với câu hỏi “Còn lại gì?” về những điều mình đã trải qua trong đời, cũng dần nhận ra cái còn lại khiêm tốn lắm lắm. Người ta bước vào đời với bao nhiêu hình dung to tát (để mượn lại nhan đề một cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens: “Great Expectations”: những hoài vọng to lớn) và cũng có thể làm được những điều to tát, nhưng rốt cuộc khi ngoái nhìn lại thì cái di sản cá nhân của ký ức mới nghèo nàn làm sao, tưởng chừng như xếp vừa vào một hộp giày cũ cất đâu đó trong căn phòng để đồ lặt vặt, chẳng mấy khi lôi ra xem lại.

Cả thành phố Vienna hoa lệ mà tôi đến thăm cùng với một sự rộn ràng náo nhiệt của tâm trí giờ còn lại trong ký ức một vài hình ảnh nhòe nhoẹt, sắc nét nhất lại không phải là tòa lâu đài Schoenbrunn mênh mông, từng được lấy làm bối cảnh cho bộ phim “Marie-Antoinette” của Sofia Coppola hay quảng trường MQ của các viện bảo tàng nổi tiếng, mà là giây phút ngủ quên trên bãi cỏ xanh ven bờ sông Danube, và nụ cười của một người phụ nữ đẩy xe cho đứa con nhỏ tình cờ bắt gặp tôi ở một góc phố và niềm nở hỏi xem tôi có cần giúp đỡ gì không. Cái bằng chứng cho sự ngơ ngác trên nét mặt của tôi ấy lại là điều còn lại lâu nhất trong ký ức tôi.

Rồi ấn tượng xa xưa nhất mà tôi có về cuộc sống xung quanh: lần này một giác quan khác đã chiếm chỗ thị giác, cụ thể hơn là khứu giác. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ rõ mồn một mùi của nhà ăn tại trường mẫu giáo nơi tôi đến học trong một khoảng thời gian rất ngắn. Mỗi lần đi qua một nơi có cái mùi gần giống như vậy (chỉ có thể gần giống, vì đúng theo lý thuyết của thiên tài mùi vị Jean-Baptiste Grenouille của cuốn tiểu thuyết “Das Parfum”, mỗi mùi là duy nhất), là giống như một cái công tắc được bật thông qua bàn tay mảnh dẻ của mùi vị, lại hiện ra căn phòng ngủ trưa của những đứa trẻ con, nền đá hoa và những khuôn mặt tuy bụ bẫm theo lứa tuổi nhưng vẫn có chút gì đó thật nghèo đói tội nghiệp. Mà xét cho đến cùng, đó cũng chỉ là hỗn hợp của tinh bột, rau cải và một chút ít thịt.

Tôi dần trở nên tin tưởng rằng ký ức đọng lại kiên cường nhất trong các nếp gấp não bộ ngày càng lười biếng của chúng ta chính là ký ức về mùi vị. Có một câu chuyện cười nói rằng nếu muốn biết liệu mình đã đến ga Hưng Hòa hay chưa thì cứ việc thò tay ra khỏi cửa sổ tàu hỏa, khi rụt tay lại mà thấy không còn đồng hồ thì đúng là đã tới rồi. Còn tôi, kể cả nhắm mắt tôi cũng nhận ra mùi vị đặc trưng của Sài Gòn, dù thành phố ấy tôi mới chỉ ghé ngang qua vài lần. Một vài thành phố có mùi vị không thể trộn lẫn, hoặc là giữa các khu phố khác nhau của cùng một nơi cũng có mùi rất khác nhau: Paris chẳng hạn, quận 6 có mùi của sự náo nhiệt, mùi sang cả của quần áo đẹp và tác phẩm nghệ thuật, quận 16 lại lành lạnh và pha chút chất thải của những con chó nhà giàu, sang đến quận 13 là đã rộn rã xì dầu nước mắm và một cái mùi nhất quyết không thể quên: thịt quay.

Ký ức về con người cũng vậy thôi, sẽ đến lúc thật khó hình dung nét mặt một ai đó, nhưng một cái mùi đặc biệt sẽ giúp cho quá khứ sống dậy (cầu cho đó không phải là một mùi khó chịu!), kể cả những mùi nhân tạo như Flora, J’Adore hay Poison.

“Ai đem phân chất một mùi hương”, Xuân Diệu từng hỏi tu từ như vậy. Có lẽ thủ phạm chính là ký ức của chúng ta, trong cái nhu cầu da diết tóm bắt lấy quá khứ của nó.
 

Ngủ rồi MERIT

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #9 vào: 16/08/2012, 13:08:43 »
Các mảnh nhỏ của ký ức

Cả thành phố Vienna hoa lệ mà tôi đến thăm cùng với một sự rộn ràng náo nhiệt của tâm trí giờ còn lại trong ký ức một vài hình ảnh nhòe nhoẹt, sắc nét nhất lại không phải là tòa lâu đài Schoenbrunn mênh mông, từng được lấy làm bối cảnh cho bộ phim “Marie-Antoinette” của Sofia Coppola hay quảng trường MQ của các viện bảo tàng nổi tiếng, mà là giây phút ngủ quên trên bãi cỏ xanh ven bờ sông Danube, và nụ cười của một người phụ nữ đẩy xe cho đứa con nhỏ tình cờ bắt gặp tôi ở một góc phố và niềm nở hỏi xem tôi có cần giúp đỡ gì không. Cái bằng chứng cho sự ngơ ngác trên nét mặt của tôi ấy lại là điều còn lại lâu nhất trong ký ức tôi.


Ờ cái này đúng quá, ấn tượng về Paris của tớ thì nhiều, nhưng đến nay một trong những điều nhớ nhất là một buổi sáng hè ở một vườn hoa nhỏ rất tầm thường, mà mình không nhớ tên, khi đó vợ và con bé con đang ngồi chờ mình chay ra mua mấy thứ ở một cửa hàng hoa quả ven đường; cũng nhớ một góc tường bên ngoài bảo tàng Louvre (chứ không phải những nơi bên trong đó), nơi hai vợ chồng ngồi pha sữa bột và đổ từng thìa một cho con bé khi đó vì nó không chịu tu bình.
 

Ngủ rồi h1995vn

  • ****
  • Bài viết: 435
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #10 vào: 16/08/2012, 13:13:20 »
Còn em cũng giống bác là nhớ mùi, mặc dù khi hỏi nhiều người họ lại bảo chả ngửi thấy mùi gì cả
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #11 vào: 16/08/2012, 14:14:07 »
bài này có bị sến quá không bác? :p
 

Ngủ rồi unreader

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #12 vào: 16/08/2012, 15:18:11 »
Xin được góp ý một tí, là bác NL viết nhầm chỗ này: muốn biết liệu mình đã đến ga Hưng Hòa hay chưa..." Đó là ga Hòa Hưng nổi tiếng đấy, thưa bác!

Và thêm nữa, là dù tôi không hiểu rõ câu này lắm: "Cái bằng chứng cho sự ngơ ngác trên nét mặt của tôi ấy lại là điều còn lại lâu nhất trong ký ức tôi" nhưng tôi nghĩ có thể ký ức của bác NL về Vienna còn lay lắt mãi cũng chính vì mùi cỏ xanh bên bờ sông Danube đấy! :)

Bài viết này của bác NL không phải là 'sến' nhưng có vẻ hơi bùi ngùi - như mọi trang viết khác về ký ức thôi - vì nó hàm ngụ những điều gì đó đã qua đi mãi mãi! =D> 
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #13 vào: 16/08/2012, 15:29:06 »
Tôi viết bài này cách đây khoảng ba năm rồi, sau đó cũng biết mình nhầm tên nhà ga, tính sửa nhưng lại thôi, để lại coi như một bằng chứng của trí nhớ khiếm khuyết :)

Câu kia thì hơi cầu kỳ, ý tôi muốn nói với người phụ nữ Viên mà tôi gặp, hẳn trên mặt tôi phải thể hiện sự ngơ ngác thế nào đó nên mới hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không, cái vẻ đó tôi gọi là "bằng chứng". Có lẽ khi ấy tôi mới ngủ dậy nên mặt mũi hơi nhăn nhúm.

thank you
 

Ngủ rồi gamotsach

  • Riêng một góc trời.
  • *******
  • Bài viết: 6,118
  • Thanked: 3 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Thục sơn ngột, A phòng xuất.
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #14 vào: 16/08/2012, 16:49:01 »
Hay quá NL.Mỗi khi tôi hồi tưởng về quê nhà, tôi lại nhớ đến mùi của cái bếp nhà nội tôi.Nó là tổng hợp của mùi tro rơm, mùi cá khô, mùi bánh tráng...Tôi lại bị Xuân Diệu chê ngớ ngẩn rồi.Thanks you very much.
 
Tiến sĩ danh dự Đại học Tham Mà Sặc.