Tác giả Chủ đề: Tản văn tản viếc  (Đã xem 26898 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #30 vào: 22/08/2012, 22:34:20 »
thế là Tế Xuyên hơn cả tuổi Phạm Cao Củng cơ à bác?

Không rõ, chắc cũng gần 100 tuổi chứ không ít
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #31 vào: 22/08/2012, 22:37:42 »
năm 29 mà đã thành nghi phạm thì chắc phải hơn 100 rồi
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #32 vào: 22/08/2012, 22:40:29 »
Chắc chỉ ngang tuổi chứ chưa chẳc đã hơn đâu bác. Mấy ông sát thủ của QDĐ hồi đó nhiều ông chỉ 15, 16 tuổi
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #33 vào: 22/08/2012, 22:41:00 »
năm 29 mà đã thành nghi phạm thì chắc phải hơn 100 rồi

Hồi đó các bác ấy giết người sớm lắm. Lý Tự Trọng xuống tay khi mới 16, nhỏ tuổi hơn cả anh Luyện sau này.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #34 vào: 22/08/2012, 22:51:05 »
đảng nào thì cũng xui trẻ con ăn cứt gà nhỉ :d đảng ve chai đã có tấm gương hiệt liệt nào sánh với tiền nhân chưa :p
 

Ngủ rồi gamotsach

  • Riêng một góc trời.
  • *******
  • Bài viết: 6,118
  • Thanked: 3 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Thục sơn ngột, A phòng xuất.
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #35 vào: 22/08/2012, 22:54:02 »
Có ve chai xitrum đua với tốc độ máy chém bác ợ.  :p
 
Tiến sĩ danh dự Đại học Tham Mà Sặc.

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #36 vào: 16/09/2012, 15:18:59 »
nhân dịp "Những lời bộc bạch" (Les Confessions) của Jean-Jacques Rousseau vừa được ấn hành, tìm lại một bài cũ :p


Rousseau ở Montmorency

“Montmorency” là một từ thần kỳ hiện lên từ những trang sách thuở nhỏ của tôi. Montmorency, đó là mơ ước về một thiên đường giáo dục, một mô hình học tập mà Rousseau dựng lên trong Émile. Trong thế giới của Rousseau, con người có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên; ông đề xuất lối giáo dục tự do, chủ yếu dựa vào thiên nhiên. Chính vì thế cậu bé Émile sẽ được dạy địa lý không phải bằng những khái niệm nhồi nhét, những bài giảng khô cứng, mà qua việc tìm đường về khi bị lạc trong khu rừng Montmorency. Thành phố nhỏ xinh xắn Montmorency ở ngoại ô phía Bắc Paris cũng là nơi Rousseau sống liên tục trong sáu năm.

Công dân của thành phố tự do Genève, Rousseau đi khắp châu Âu, nhưng quãng thời gian ở Montmorency chắc chắn là quan trọng hơn cả trong sự nghiệp trước tác của ông, cả về văn chương lẫn triết học. Sáu năm ở ngôi nhà nhỏ Mont-Louis (từ 1756 đến 1762) Rousseau viết và xuất bản những tác phẩm quan trọng nhất: Julie hay nàng Héloïse mới, Émile hay về giáo dục, Khế ước xã hội và Thư gửi d’Alembert. Nằm không xa hồ Enghien nổi tiếng dành cho nhu cầu bơi lội của người dân thủ đô vào mùa hè, ngôi nhà Mont-Louis trên ngọn đồi dốc nay trở thành bảo tàng, con đường chạy qua trước nhà giờ mang tên Jean-Jacques Rousseau. Một ngày trời nắng muộn cuối mùa thu, người đàn bà luống tuổi trông coi khu nhà dẫn tôi đi thăm nhà. Dừng lại ở phòng ngủ của nhà văn, ở tầng trên, một căn phòng được sửa sang nhờ sự giúp đỡ của một người bạn, theo lối “căn hộ” thế kỷ XVIII với phòng chờ, phòng ngủ, nơi để và thay quần áo. Trước khi rời khỏi phòng, người hướng dẫn chỉ vào cửa sổ nhỏ trổ trên tường, đối diện với giường ngủ, và nói ngày trước, những hôm trời quang như hôm nay, Rousseau có thể từ đây nhìn thấy Paris, “thành phố của tiếng ồn, bùn lầy và khói bụi”.

Nhà văn Ý Italo Calvino trong một bài giảng năm 1958 tên là “Thiên nhiên và lịch sử trong tiểu thuyết” chứng minh rằng thiên nhiên trong truyền thống văn học cổ kéo dài cho đến Rousseau luôn hàm chứa trong nó ý tưởng về một tính siêu nhiên, một đấng cứu thế mà tinh thần có thể giao hội. Chỉ khi “tiêu diệt” xong kiểu thiên nhiên đó, tiểu thuyết hiện đại mới thực sự ra đời. Thiên nhiên với Rousseau là nơi để trốn ra khỏi vùng “kinh đô cát bụi bay nhiều” (Nguyễn Bính). Ngồi trong khu vườn đầy nắng nhưng vẫn có phần cô quạnh của Rousseau, ngay ở chiếc bàn đá tròn giản dị, dường như một thiên nhiên đầy âm thanh và ý nghĩa bỗng trong phút chốc truyền đến với tôi, một người khách từ xa đến. Ngày nay khu đồi vẫn khá yên tĩnh. Mọi thứ không có vẻ thay đổi nhiều lắm, ngoại trừ một nửa ngôi nhà được xây thêm vào thế kỷ XIX, gá thẳng vào nhà cũ, thành ra từ cửa sổ phòng ngủ Rousseau không thể còn nhìn thấy Paris được nữa.

Giai đoạn Montmorency này Rousseau phải trải qua không ít những tổn thất về tình cảm. Với một người đa cảm như ông, những người bạn mất đi để lại những vết thương không nhỏ. Bà d’Epinay, rồi Grimm, những người bạn Montmorency, rồi những người bạn Paris như Saint-Lambert hay Sophie. Và đặc biệt là người bạn mà ông coi là thân thiết nhất, Diderot. Diderot khiến ông cảm thấy tổn thương nặng nề khi viết thư cho ông, nói rằng: “Chỉ người nào độc ác mới cô độc”, mà Rousseau là một người “cô độc bẩm sinh”, tác giả của một trong những cuốn sách đẹp nhất về sự cô đơn: Những mơ mộng của người đi dạo cô độc.

Trước khi chuyển sang ngôi nhà Mont-Louis, Rousseau ở sát gần đó, trong một ngôi nhà tuyệt đẹp tên là “Ermitage”. Trong vòng một năm rưỡi, ông ở ngôi nhà mới xây dành riêng cho ông, và bắt tay viết Nàng Héloïse mới. Đó chính là ngôi nhà mà bà d’Epinay, một trong số những người bạn gái thân thiết của Rousseau, dùng làm món quà tặng nhà văn. Trong tác phẩm Tự thú ông kể bà bạn nói với ông đầy thân tình: “Con gấu của tôi, đây là chỗ trú ẩn của anh; anh đã lựa chọn nó, tình bạn tặng nó cho anh”. Đó là một món quà bất ngờ, vì bà d’Epinay khi thấy Rousseau tỏ ra thích khoảnh đất, đã xây ngôi nhà một cách bí mật để tặng lại cho ông. Nhưng rồi Rousseau chỉ ở được chốn thiên đường trần thế đó trong vòng khoảng một năm rưỡi, ngay trước khi chuyển sang Mont-Louis cùng với Thérèse Levasseur và bà mẹ của Thérèse (chỉ sau đó một thời gian rất ngắn, vì thích Paris hơn nên bà mẹ không ở đó nữa, để lại ngôi nhà cho hai người). Một cuộc tình duyên với một người bà con của d’Epinay chính là nguyên do khiến ông nhận được một bức thư lịch sự nhưng cương quyết mời ra khỏi nhà, khi năm 1856 đã bước sang những ngày cuối cùng.

Nhưng cuộc sống ở Mont-Louis cũng mang lại cho ông những người bạn mới. Thuê được ngôi nhà từ Mathas, người quản lý thuế má cho hoàng thân Condé với giá rất rẻ, Rousseau và “cô thợ giặt” Thérèse Levasseur nhanh chóng có láng giềng. Trong khi những người bạn Paris như Diderot hay d’Alembert của nhóm “Bách khoa toàn thư” sửng sốt trước tin Rousseau thuê nhà ở xa Paris (“Sao anh lại đến đó ở, anh không còn yêu chúng tôi nữa hay sao?”), một vị thống chế nhà ở gần đó, de Luxembourg, sau một thời gian quen biết, tỏ ý muốn sửa chữa ngôi nhà giúp Rousseau và Thérèse. Lúc đầu Rousseau không muốn, cả đời Rousseau không muốn được ai giúp, nhất là từ một nhà quý tộc. Vị thống chế đã thuyết phục được ông Mathas chủ nhà của Rousseau. Và thế là ngôi nhà được sửa sang, trong thời gian thợ làm việc, Rousseau và Thérèse chuyển sang ở nhà của vị thống chế. Ngoài ra, cũng nhờ vợ chồng người láng giềng hào hiệp mà ở cuối khu vườn, “donjon” (tòa tháp canh) mới được xây lên. Trước đó nó chỉ là một cái bàn nhỏ đặt cuối vườn, thông thống gió. Rousseau hay ngồi đó để viết. Từ nay nó đã trở thành một căn phòng nhỏ biệt lập và ấm áp. Ngoài việc giữ gìn sức khỏe, những bức tường mới xây còn giúp Rousseau một việc nữa: trước đó nhiều lần giấy tờ ông để lại trên bàn bị hai “kẻ tọc mạch” (cách gọi của chính Rousseau) láng giềng đọc trộm. Hai người đàn ông tò mò đó sống ở ngôi nhà hiện nay là nhà nghiên cứu Rousseau ở phố Mont-Louis.

Với gia đình Rousseau cũng như ở đại đa số gia đình thời đó, nước là cả một vấn đề nan giải. Nước nhà Rousseau dùng phải đi lấy ở tận chân đồi. Và dĩ nhiên phải dùng cực kỳ tiết kiệm. Thế nên trong nhà ông có thứ dụng cụ lạ mắt, chậu đựng nước vách rất dày, với một chiếc gáo đục thủng ở cán để lấy nước ra từ chậu theo từng giọt một. Trong phòng Thérèse cũng có một chậu nhỏ hình chữ nhật với các dụng cụ làm vệ sinh cơ thể. Nước cũng được tính bằng giọt. Cả trong phòng hai vợ chồng (phòng Rousseau nằm trên tầng) đều có chiếc kéo màu vàng cắt tim nến. Ngoài nước, nến cũng là thứ không thể phí phạm. Trên chiếc bàn nhỏ hơi võng xuống đặt giữa phòng đặt một mảnh giấy đang viết dở. Trên bàn này Rousseau đã viết những trang của Thư gửi d’Alembert trong đó ông phản đối việc xây dựng nhà hát ở Genève, bởi vì ông e dân thành phố quê hương ông sẽ ưa chuộng các thứ giả tạo bôi lên người, các thứ hóa trang sân khấu, để mà quên đi con người thật của mình. D’Alembert không giận ông vì chuyện này, nhưng nhóm “Bách khoa toàn thư” sẽ không tha thứ cho Rousseau vì đã động đến vị giám đốc đầy uy tín của họ.

Trong ngôi nhà đã trở thành bảo tàng khi đó đang có trưng bày về bộ sưu tập cây cỏ (herbier) mà Rousseau gửi tặng cho Madeleine, “cô bé Madelon”, con gái người bạn của ông, bà de Lessers. Nhưng khi còn sống ở Montmorency, thực vật học còn chưa trở thành niềm say mê của ông. Khi đó con người ông vẫn bị niềm say mê thứ nhất của cuộc đời chiếm trọn vẹn: âm nhạc. Cuộc trưng bày cũng bày những bản nhạc mà Rousseau viết theo lối ký âm của riêng ông, bởi vì ông nghĩ cần phải có một ngôn ngữ mới cho âm nhạc. Viện hàn lâm âm nhạc từ chối sáng tạo này.

Khi viết xong Émile với những ý kiến phàm tục, phạm thánh động chạm đến Nhà thờ, cuốn sách bị cấm và có lệnh bắt luôn tác giả. Trong Émile, Rousseau khẳng định: “Chúng ta không biết chút nào tuổi thơ: với những tư tưởng sai lầm mà chúng ta có sẵn về nó, càng làm thêm nữa chúng ta sẽ càng sai lầm.”. Nhưng vị thống chế de Luxembourg đã kịp thời cấp báo, và khi triết gia tỏ ra do dự, nài xin ông đi trốn. Ngay trong đêm ông ra đi trên một chiếc xe ngựa, hướng về vùng Jura, Thụy Sỹ. Trên đường chạy trốn xe ông gặp xe của những viên mõ tòa thừa lệnh đến bắt ông. Hai bên chào nhau thân ái, và những người mõ tòa sau đó báo cáo lại với cấp trên là Ông Rousseau không có nhà, nơi họ có lệnh phải bắt ông. Và thế là đường lưu lạc của Rousseau lại tiếp tục, sau những vinh quang và những khó nhọc, ông đến Thụy Sỹ, và rồi không hiểu nghe ai xui khôn xui dại, sang London. Thành phố khổng lồ nuốt chửng ông (tương tự như nó sẽ làm với Zola sau này), nước Anh với ông không hề thân thiện, bởi nếu ông nắm vững tiếng Pháp và tiếng Ý, thì tiếng Anh với ông là cả một gánh nặng, lúc nào ông cũng ngờ người ta đang âm mưu làm hại ông. Nước Anh còn khiến ông mang nhục, vì đã phải ngửa tay lấy tiến trợ cấp của vua George III, trong khi Rousseau kiêu hãnh đã từng từ chối tiền trợ cấp của Louis XV nước Pháp. Rồi Paris lại mở cửa cho ông, với điều kiện ông không được viết về chính trị nữa. Lệnh cấm đó giúp ích rất nhiều cho văn học Pháp: ông viết các tác phẩm tự truyện, và thể loại tiểu thuyết tự thuật đã được khai sinh với Confessions (Tự thú), viết từ năm 1764. Cuốn sách được in ở Genève thành hai phần, năm 1782 và năm 1789 (sau khi Rousseau đã qua đời).

Hầu tước de Girardin mở tiếp cho ông một chốn thần tiên nữa, sau Montmorency, sau Chamberry: Ermenonville. Ngày 20 tháng Năm năm 1778, ông đến nơi ở mới, được xây theo kiểu Clarens của Nàng Heloïse mới, bởi de Girardin là người tôn thờ Rousseau, thậm chí còn nuôi con mình theo những gì tác phẩm Émile “chỉ dẫn”. Sống được ở đó vài tuần thì Rousseau mất, nhưng ông còn được nằm lại mảnh đất đẹp đẽ đó đến năm 1794, khi Cách mạng Pháp cả quyết ông là thiên tài, vĩ nhân nước Pháp và đưa ông đến Panthéon, đặt nằm đối diện với Voltaire.

Ngày nay, Montmorency không còn tên là Émile như hồi cách mạng. Nó trở lại mang tên Montmorency (sau rất nhiều lần đổi đi thay lại) một cách nhất quán từ thời Louis-Philippe. Tuy thế Émile và Montmorency vẫn là hai từ không thể tách rời nhau, vẫn là một hình ảnh đẹp về một thiên đường giáo dục xa vời nhưng cũng vô cùng gần gũi.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #37 vào: 16/09/2012, 22:08:38 »
hình minh họa:

 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #38 vào: 18/09/2012, 19:16:23 »
Tuổi thơ

Viết về tuổi thơ, rất khó có chuyện nhà văn không chạm đến chính mình theo một cách thức nào đó. Sách cho trẻ em và sách lấy đề tài thiếu nhi phong phú vô vàn ở trong mọi thứ tiếng, nhưng tùy vào cách tự nhìn vào mình mà cái nhìn tuổi thơ của nhà văn đi theo hướng “tích cực” hay “tiêu cực”, “hồng” hoặc “đen”, “tươi đẹp” hay “u buồn”. Không có nhiều lựa chọn trong mảng sách cực kỳ dễ viết nhưng vô cùng khó hay này. Hoặc là tô hồng quá đáng, dựng ra những hoạt cảnh thần tiên trong suốt tinh tang những tiếng chuông dịu dàng, hoặc bôi đen vô chừng, mua nước mắt cho những cậu bé khổ đau chịu dập vùi đầy nghị lực, những cô bé rách rưới nhưng nhất định không để cho xấu xa cuộc đời lan nhiễm vào tâm hồn vị tha, nhân ái.

Một nhà văn từng nói, tình mẫu tử là điều thiêng liêng cuối cùng mà văn chương vốn lâu nay xoay ra khốn cùng đủ kiểu, nhạo báng mọi thứ, còn chưa dám đụng đến. “Cứ điểm” cuối cùng còn tương đối trụ vững được trước những đợt tấn công như a xít xói mòn tất thảy của văn chương; khi mà sự dòm ngó cuộc đời không còn là bất nhã, phân tích kiệt cùng mọi thứ xấu xa của nội tâm được tuyên dương, mỗi thế hệ nhà văn lại tiến thêm một bước trong quá trình tấn công vào mọi thứ tồn tại ở trên đời (và cả những thứ thật ra không tồn tại). Nhưng hẳn là vẫn còn một cái gì đó khiến mỗi khi nhà văn chạm tới tuổi thơ là tức thì họ chùng xuống, lòng mềm lại, và ta thấy không ít nhà văn thông thường bạo liệt đến tức thở bỗng trở nên vô cùng mềm mại, dịu dàng khi viết truyện thiếu nhi (Salman Rusdhie chẳng hạn). Tuổi thơ và ký ức của tuổi thơ giống như là một phần giúp người ta cân bằng, hoặc giúp người ta tưởng rằng mình có thể cân bằng trên đường đời, chặng đường có thể hiểu là luôn luôn “đi lên” nhưng hoàn toàn cũng có thể là miệt mài “đi xuống”. Nhưng đó rất có thể cũng là một sự tô hồng kiểu khác, tô hồng “một cách vô thưởng vô phạt” như Jean-Jacques Rousseau nói; hoặc là nó không hề “vô thưởng vô phạt”.

Bởi tuổi thơ rắc rối hơn nhiều, có thể còn nhiều vấn đề hơn mọi phần đời khác của con người, bởi sau này còn xuất hiện một yếu tố chi phối rất nhiều cách nhìn, cách nghĩ và cách sống: sự buồn chán, còn ở thời bé, người ta chưa biết buồn chán, và con thú nhỏ hùng hục sống ấy rất có thể đen tối và nguy hiểm, ngây thơ và nguy hiểm, nguy hiểm cũng chính vì sự ngây thơ: sự nguy hiểm lớn nhất là sự nguy hiểm không để lại manh mối gì cho tiếc nuối và sám hối. Vậy nên tuyệt đại đa số tác phẩm cho thiếu nhi tốt đẹp và âu yếm, nhưng cũng có tuổi thơ thực sự hiểm ác, đen tối không thể cứu chữa như những tuổi thơ trong các tiểu thuyết của Hervé Bazin, nơi những đầu óc non nớt chỉ chăm chăm nghĩ đến những gì ác độc, nơi hận thù còn chưa bị thời gian xói mòn mà nguyên khối, bức bối và sẵn sàng bùng phát bất kỳ lúc nào.

Lẽ dĩ nhiên, để an toàn, giống như với những bông hoa người ta chỉ nghĩ đến sự làm đẹp và làm thơm cho đời mà sẵn sàng lờ đi khả năng gây chết chóc của chúng, tuổi thơ “phải” là chốn an toàn, ít nhất cũng là ốc đảo giữa sa mạc, nơi chỉ cần hướng mắt về là thấy lòng nhẹ nhõm; người ta quên mất rằng những hình dung ác độc và xảo trá ngày nay bắt nguồn từ quá khứ, từ khi còn rất nhỏ. Bầu không khí văn chương cho và về tuổi thơ sẽ được hoan nghênh nhiệt liệt không phải vì độ “thật” của nó, mà vì độ “chênh” của nó với sự thật; và ở đây sẽ chẳng ai hơi đâu mà đi chất vấn tác giả về tính chất giả tạo, sự bài trí khéo tay, vân vân và vân vân. Độc giả Việt Nam nhiều năm vẫn mê “Cánh buồm đỏ thắm” và giờ đây vẫn hào hứng với những truyện thiếu nhi sót lại từ một thời dường như tốt đẹp, chẳng hạn như “bác Phiodor” hay “cá sấu Ghena” của nhà văn Nga Uspenski danh tiếng.

Có lẽ chính vì những điều nghiêu khê trên đây mà Astrid Lindgren mới vĩ đại đến thế. Truyện của bà có một điều gì đó rất khác biệt: Pippi Tất dài hay Karlsson trên mái nhà là những sáng tạo độc đáo hết mức. Sự nhân ái ở kẻ yếu là điều tất yếu đến nỗi hình như không phải là sự nhân ái nữa. Lòng tốt nằm ở chỗ những kẻ hoàn toàn biết rằng mình có thể và đủ sức làm điều xấu (thậm chí làm điều xấu còn rất vui), nhưng đã không làm.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #39 vào: 22/09/2012, 21:27:10 »
Người Pháp không xanh-trắng-đỏ

Tôi ở ký túc xá một trường nhỏ trong vài năm. Chúng tôi hầu hết mới bước vào tuổi hai mươi. Nhiều người xuất sắc hơn, mới mười tám tuổi. Paul Auster trong tiểu thuyết Moon Palace viết rằng “mười tám tuổi là một cái tuổi khủng khiếp”, trong khi người ta tìm cách tỏ ra theo một cách nào đó chín chắn hơn các bạn đồng lứa, thì trên thực tế người ta lại chỉ tìm ra một cách khác để tỏ ra mình còn rất trẻ con. Chỉ có những nghiên cứu sinh từ các nước là nhiều tuổi hơn. Sự lạc lõng của họ nhìn thấy rõ, lạc lõng vì tuổi tác, và vì là người nước ngoài. Tôi chỉ có cái lạc lõng là người nước ngoài.

Ban ngày, thư viện luôn chật ních người, phần lớn là các nghiên cứu viên già nhiều tuổi, thậm chí rất nhiều tuổi. Buổi sáng không có nhiều học sinh, họ còn bận ngủ. Buổi tối, sau bữa ăn chung ở căng tin trường, được gọi một cách hoa mỹ trong thứ biệt ngữ đặc biệt của chúng tôi là “tiệc tùng”, từng cá nhân trở về phòng. Đêm đến, một số sẽ tập hợp ở phòng ai đó có tính cách cosmopolite nhất. Phòng của Vanessa cùng hành lang của tôi thường xuyên quảng giao mở rộng cửa. Ở đó, nhiều tối, chúng tôi ngồi nói chuyện về mọi thứ trên đời, và uống rượu. Không bao giờ có rượu vang, mà là rượu mạnh đủ loại. Thường thì sau một lúc, sự ngột ngạt của những căn phòng ký túc nhanh chóng thúc đẩy một ai đó đưa ra đề nghị “đi ra ngoài”. Sau tháng Năm 1968, ký túc xá các trường ở Pháp không còn là những khu ghetto chia rõ ranh giới nam nữ, ngày với đêm. Bốn giờ sáng về đến nơi, người thường trực mặt mũi nhàu nhĩ vẫn cố nở nụ cười khi mở cửa cho kẻ về quá muộn (hoặc là quá sớm). Xung quanh trường là một tập hợp đa dạng những quán rượu mở suốt đêm. Không bao giờ phải lo phố Mouffetard (với chúng tôi là La Mouff’) ở quận 5 này, xưa kia là một ngoại ô xa xôi, thiếu vắng sức sống, vừa cuồng nhiệt, vừa rời rã, vào ban đêm.

Sự ngột ngạt của những căn phòng ký túc xá! Trên những bức tường chạy vòng quanh bốn dãy nhà vuông vắn lúc nào cũng dán đầy những tờ thông báo. Tin tiệc tùng và dạ hội lúc nào cũng lấn át thông tin của trường về các sự vụ hành chính và các cours học đặc biệt. Một diện tích lớn dành cho các tranh luận báo tường về chính trị và chính kiến giới tính. Tôi biết rõ những ai có chính kiến mạnh về chính trị, nhưng chưa bao giờ phân biệt được trong số những người gặp hàng ngày ai là người thường xuyên dán lên tường vào ban đêm những khiêu khích nhằm tới những người phản đối lối sống đồng tính. Sau Michel Foucault (từng là học sinh ở trường tôi), hai điều đã trở thành mốt (giống như trước đó Jean-Paul Sartre đã gieo trồng mốt tự do hiện sinh): chống tư tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa và đồng tính.

Mỗi năm qua đi, số lượng những người tôi quen từ khi mới vào trường giảm dần. Nhiều người ra nước ngoài, nhiều người không muốn ra khỏi phòng nữa. Những quen biết mới có tính chất khác hẳn. Không bao giờ người ta quay trở lại được tuổi mười tám, hai mươi. Trong số những người từng qua phòng Vanessa uống rượu buổi tối ngày xưa, tôi biết một người đã tự sát. Ngay trong trường. Tôi không muốn hỏi kỹ hơn. Sự lạc lõng không giảm mức độ theo năm tháng, tôi vẫn không hiểu nhiều điều. Vả lại, người bạn tôi không nhớ rõ mặt đã chọn một phòng tắm trong ký túc. Tôi rất không muốn biết đó chính xác là phòng tắm nào.
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #40 vào: 19/10/2012, 19:40:16 »
Kiểu Nhật

Văn chương Nhật Bản kỳ lạ đến mức, dường như đó là một thứ văn chương của hành tinh khác, hoặc giả có thể chia văn chương thành hai loại: văn chương “thông thường” và văn chương Nhật.

Ekuni Kaori là tác giả ba cuốn tiểu thuyết được dịch sang tiếng Việt gần đây: “Lấp lánh”, “Tháp Tokyo” và “Hoàng hôn rơi xuống”. Truyện thứ nhất kể về cuộc sống của một cặp đôi như sau: Shoko nghiện rượu nặng, còn Mutsuki là một người đồng tính nam. Họ sống với nhau trong một nhà nhưng không có quan hệ tình dục, và điều làm Shoko thích thú hơn cả là nghe chồng mình kể về người yêu của anh (một đồng tính nam khác). Ekuni Kaori sinh năm 1964 và có cách dẫn dắt câu chuyện khá giống với một nhà văn nữ Nhật Bản khác cũng rất nổi tiếng, Yoshimoto Banana.

Trong “Tháp Tokyo”, chàng trai trẻ Toru yêu Shifumi, một phụ nữ đã có chồng và là bạn của mẹ; nhân vật Koji bạn thân của Toru thì ở trong một mối tình với một người đàn bà đã có chồng khác, Kimiko, trong khi vẫn yêu cuồng nhiệt cô bạn cùng trường. Đến “Hoàng hôn rơi xuống” thì tính chất “weird” của văn chương Ekuni Kaori càng bộc lộ rõ hơn: Rika bị người yêu lâu năm của mình (tám năm chung sống) bỏ, rồi sau một thời gian, cô gái Hanako nguồn gốc cuộc chia tay kia bỗng xuất hiện và thế là Rika sống cùng Hanako trong một nhà.

Chưa nói gì đến mặt văn chương (mặc dù đây mới là cái đáng nói: so với cốt truyện kỳ quặc, văn chương của các nhà văn Nhật Bản mới thực là kỳ quặc), những câu chuyện thuật lại sơ giản trên đây đã cho thấy chút ít một cái gì đó làm nên một kiểu văn chương rất khác lạ nhưng lại cũng rất đặc thù (có lẽ đưa cho một độc giả tương đối sành sỏi một cuốn tiểu thuyết giấu tên, nhân vật được gọi tắt là X là Y là Z thì chỉ cần một lúc là người đó biết ấy là tiểu thuyết Nhật). Văn chương Nhật đưa ra những tình huống khó nghĩ đến nhất. Và đã là như thế từ rất lâu rồi: các nhà văn lớn của Nhật hồi thế kỷ XX chủ yếu đều chống lại chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa tự nhiên, để rồi xuất hiện một Dazai Osamu (của “Tà dương” và “Thất lạc cõi người”) hay Agutagawa vĩ đại.

Những nhân vật chủ chốt sau này cũng vậy. Mishima và vụ án Kim Các tự, Kawabata với những cánh hạc, và nhất là Tanizaki: độc giả ngoài nước Nhật, kể cả phương Tây, hẳn đều sửng sốt với những câu chuyện của Tanizaki, trong đó cái tâm lý con người bị khai thác theo những lối nếu không phải “quái gở” thì cũng đặc biệt quái đản, như trong “Chiếc chìa khóa” hay “Nhật ký lão già điên”.

Hình như nhà văn Nhật sẽ không khởi sự viết tác phẩm của mình nếu chưa tìm ra một tình huống đặc biệt: không cực đoan thì ắt oái oăm, không tuyệt cùng đau khổ thì ắt nặng nề trầm luân, không nổi loạn điên cuồng thì ắt phản kháng tự hủy, vân vân và vân vân. Để quay trở lại với giai đoạn gần đây: Ogawa Yoko (“Giáo sư và công thức toán”, “Quán trọ Hoa Diên Vỹ”) là bậc thầy của những tình huống lạ lùng. Nhưng cái lạ lùng Nhật Bản lại chẳng bao giờ có gì chung với sự ngẫu nhiên, vì cái lạ lùng ấy là lạ lùng từ bản chất, lạ lùng ở nền tảng.

Chuyện cứ tiếp tục như vậy cho cả đến những nhà văn rất gần đây, như ta đọc được trong “Đôi mắt ấy vẫn ở trên giường” của Yamada Amy, “Rắn và khuyên lưỡi” của Kanehara Hitomi hay “Em sẽ đến cùng cơn mưa” của Ichikama Takuji.

Không một lúc nào văn chương Nhật Bản không tìm kiếm những quái lạ, mà chỉ sự chừng mực nhất định trong đầu óc nhà văn và tài năng kiềm chế của họ mới không biến chúng thành những hỗn loạn văn chương. Nhưng đây cũng là điểm yếu của tiểu thuyết Nhật Bản, nhất là ở các nhà văn trẻ đã có sẵn “phong vị kiểu Nhật” ở trong máu: quá chú tâm vào việc tạo tình huống, quá phấn chấn với những gì gây sửng sốt, họ hay hụt hơi để rồi viết ra những cái kết truyện không tương xứng nổi với độ mãnh liệt của sự kỳ quái, đó cũng chính là trường hợp ba tiểu thuyết của Ekuni Kaori.
« Sửa lần cuối: 19/10/2012, 20:20:57 gửi bởi NL »
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #41 vào: 30/10/2012, 14:01:38 »
lâu lâu lại nhớ ra một bài cũ (viết hồi bộ Tam Quốc Phổ Thông mới in lại, có bàn tay của bác Aikidoka :p)

Nếu lỗi không là tại sách? Thì lỗi tại đâu?

Đợt hiu hiu lạnh này ối người ở cái đất Hà Nội máu lửa đổ đi tìm mua bộ sách Tam Quốc diễn nghĩa 13 tập, một bộ sách đặc biệt tái bản nhân dịp kỷ niệm 50 năm NXB Phổ Thông ở Hà Nội cho in, tức là dịp Bùi Kỷ đã hiệu đính bản dịch của Phan Kế Bính có từ trước đó. Theo Kiều Thanh Quế khi tổng kết về tình hình dịch thuật Việt Nam vào khoảng đầu những năm 1940, Phan Kế Bính trong văn tiểu thuyết Tàu có cỡ như là Trần Trọng Kim trong thơ Tàu (tập Đường thi của Trần Trọng Kim đã ra đời hồi đó, NXB Tân Việt, đẹp lung linh, bìa trông không khác gì tủ sách NRF của Gallimard, chắc cũng có chút ăn cắp ý tưởng).

Hồi này tình thân Việt Nam-Trung Quốc rất đậm đà, thành thử bộ sách ghi rõ đã hiệu đính theo bản tiếng Trung mới nhất tính tới thời điểm ấy, thậm chí còn thân tình hơn, các bạn Trung Hoa đã gửi trước cho Phổ Thông lời giới thiệu rất tỉ mỉ còn đang lên khuôn chưa kịp in vào sách Tàu.

Tất cả đều có trong bộ sách tái bản lần này (Đông A và NXB Văn Học). 13 tập gói giấy bóng kính rất đẹp, nhất là màu sắc và nét vẽ minh họa rất sắc nét (cái bìa thì là Tạ Thúc Bình trình bày, nhưng đều lấy lại tranh của hai họa sĩ Tàu). Trong những người tham gia có cả nhà báo Yên Ba với chức danh "đối chiếu". Anh Yên Ba cách đây vài năm đã có một cuộc triển lãm bộ sưu tập truyện Tam Quốc riêng của mình tại Trung tâm Đông Tây, nếu không nhầm thì có 62 bộ.

Hồi nhỏ tôi cũng đọc Tam Quốc diễn nghĩa, đúng bản này, nhưng là ấn bản 8 tập rất thịnh hành, về cơ bản là giống, giấy cũng không đến nỗi đen tồi đen tệ nhưng hình vẽ thì thường xuyên bị mờ và nhòe. Giở bộ sách mới lần này mới nhìn được rõ cảnh Tư Mã Chiêu nằm hấp hối trên giường.

Còn câu "Nếu lỗi không là tại sách? Thì lỗi tại đâu?" là của Bùi Giáng Búi Giáng Bùi, trong Sương Tỳ Hải, An Tiêm xuất bản lần đầu năm 1972, NXB Văn Nghệ tái bản năm 2007, bìa có một cái tranh của Paul Klee nhưng lại bị ghi sai thành Paul Klu (Ku Klux Klan chăng hehe).

Quyển này Bùi Giáng viết một lời tựa rồi sau đó dịch vài đoạn của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger. Lâu lắm rồi tôi mới cảm thấy mình có thể đọc Bùi Giáng bằng niềm vui, điều mà tôi nghĩ Bùi Giáng muốn người đọc cảm thấy. Đặc biệt nếu ai quan tâm đến chuyện Hoelderlin dịch Sophocle như Walter Benjamin từng nhắc tới trong "Nhiệm vụ của dịch giả" thì nên đọc (đoạn cuối sách).

Bài thơ mở đầu lời tựa cực kỳ hay, mặc dù cũng như (chắc là) mọi người, tôi chẳng hiểu gì cả:

Trên gò đống mọc xương da
Chiêm bao vạn lý sao hà sơn mơ
"Nàng rằng: Vì mấy đường tơ
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi."
Chiêm bao bờ cỏ về ngồi
Âm thanh hàng xóm chùm môi láng giềng
Da vàng da trắng rẽ riêng
Con người phố thị sao triền miên xinh
Bỗng dưng ngất tạnh biên đình
Từng đêm gay cấn bất thình lình run
Chào nhau các hạ cỗi nguồn
Về sau tại hạ nỗi buồn xin ghi
 

Ngủ rồi NL

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #42 vào: 31/10/2012, 12:29:09 »
Thôi đừng đọc sách :d

Những quyển sách không có giá trị bằng nhau đồng loạt (cũng giống như mọi thứ), nên cách ứng xử với mỗi cá thể trong biển sách mênh mông mà người xưa rồi người nay bày ra trước chúng ta đương nhiên cũng cần phải khác. Nếu ghép lý thuyết của hai chuyên gia đáng tin cậy (cũng như mọi lĩnh vực, ở lĩnh vực đọc sách cũng có các mức độ tin cậy không giống nhau) là Italo Calvino và Pierre Bayard lại, ta sẽ rút ra được một chiến lược ngõ hầu thoải mái và tự tin hơn trong quá trình đọc cá nhân. Chiến lược này không hẳn là thích hợp với bất kỳ ai, nhưng cũng là thêm một gợi ý cho những ai thực sự coi đọc sách là một công việc quan trọng ở đời.

Trước tiên, Calvino, trong Nếu một đêm đông có người lữ khách (1979), thực hiện công việc phân chia, xếp loại “sách bạn chưa bao giờ đọc” rất hữu dụng. Sách chưa đọc cũng có vô số loại, chỉ cần thông qua ấn tượng thị giác ban đầu cũng đã loại trừ được vô số quyển sách chẳng mấy có ích. Những cái nhãn mà Calvino đặt ra: “sách bạn không cần đọc”, “sách làm ra cho những mục đích khác ngoài đọc”, “sách bạn chưa mở ra thì cũng đã đọc rồi bởi vì chúng thuộc loại sách chưa viết ra thì người ta đã đọc rồi”, “sách bạn cũng có ý đọc nhưng có những sách khác bạn phải đọc trước đã”, “sách hiện giờ quá đắt nên bạn sẽ chờ đến khi nào chúng được bán hạ giá”, v.v…

Những chỉ dẫn không có gì khó hiểu này thật ra chỉ cụ thể hóa những gì loang loáng chạy qua đầu óc chúng ta mỗi khi ra đến hiệu sách, bởi dù cho có nhìn từ góc độ nào đi nữa thì tuyệt đại đa số sách được in ra là không có giá trị đối với bất kỳ ai trong chúng ta. Tác giả Nam tước trên cây hay Palomar, bằng cái giọng hài hước nhưng cũng lại rất nghiêm túc đó, đã ý nhị mà đưa ra luận đề: sách thì nhiều mà đời thì ngắn (gần giống câu ngạn ngữ Latinh “ars longa, vita brevis” - nguyên nghĩa là “nghệ thuật thì dài mà đời thì ngắn”). Và sau khi thực hiện bước loại trừ, đội quân sách vở hỗn loạn đông nghịt và có phần ô hợp đã bắt đầu tự sắp xếp thành hàng ngũ nghiêm chỉnh với những phiên hiệu như “sách bạn lên kế hoạch đọc đã nhiều năm nay”, “sách bạn đã săn lùng suốt bao năm mà không thấy”, “sách bạn muốn là của mình để nếu cần là có trong tay”, “sách bạn cần xếp cạnh những sách khác trên giá sách của mình”…

Nhưng phải điều binh khiển tướng cái đội quân rất có thể vẫn còn đông đảo như thế nào? Pierre Bayard, một giáo sư văn chương người Pháp, tác giả nhiều khảo luận độc đáo về Balzac, về lý thuyết văn học hay văn chương trinh thám trình bày một loạt kinh nghiệm “từ phía âm bản” trong Làm thế nào để nói về những cuốn sách chưa đọc? (2007) - một nhan đề sách gợi ngay ý vị bông đùa (còn nhiều hài hước hơn cả ở cuốn sách của Calvino), nhưng lại cũng hết sức nghiêm túc. Tác phẩm này hướng dẫn chúng ta ứng xử khôn ngoan với sách. Những lời khuyên ở đây rất xa với quy chuẩn thông thường, nhưng chắc chắn là có ích hơn nhiều so với đa phần sách dạy đọc sách, nơi sách vở luôn luôn được thần thánh hóa dưới những tấm áo choàng của “văn hóa” hay “nghệ thuật”. Pierre Bayard đồng thời cũng là một chuyên gia tâm phân học, ở ông những lý giải về cơ chế tâm lý của độc giả thường xuyên hết sức chi tiết và thuyết phục.

Dùng lời đề từ trích từ Oscar Wilde: “Tôi không bao giờ đọc một cuốn sách mà mình phải viết bài phê bình để không bị mang định kiến sẵn”, Làm thế nào để nói về những cuốn sách chưa đọc? báo trước là cuốn sách sẽ nói về sự đọc từ “sự không đọc”. Tất nhiên, không phải Bayard khuyên người ta không đọc sách, mà ở đây là những bài học về ứng xử rút ra từ các tác phẩm văn chương với mục đích giảm trừ nỗi sợ sách vở rất phổ biến ở người bình thường, mở rộng tự do cho phía tiếp nhận, tức độc giả, qua đó mà cung cấp niềm tin cho các chủ thể sáng tạo.

Lấy ví dụ từ các nhà văn như Musil, Valéry, Eco, Balzac…, Bayard lần lượt “hạ sát” những khẳng định quyền uy của sự đọc nhồi nhét, trịnh trọng, ông khuyên người ta nắm lấy cái nhìn toàn thể thay vì ra công miệt mài, khuyên khôn ngoan thay vì thật thà, và cả một lời tuyên bố lấy lại từ Oscar Wilde, theo đó thời lượng tốt cho một cuốn sách là sáu phút.

Tuy nhiên, cũng cần nhận ra là để khuyên độc giả ở lĩnh vực “không đọc”, Pierre Bayard đã phải đọc rất nhiều sách, và cuộc “bài xích đọc sách” thật ra lại là một dẫn dụ kỳ ảo vào thế giới sách vở, và chỉ có thể thưởng thức toàn bộ cuốn sách của Bayard nếu chúng ta thực sự đọc. Điều này cũng không mấy khó hiểu, bởi không phải bất kỳ ai cũng có thể hô hào vứt sách đi như Trang Tử; người khác nói, ai mà tin nổi.
 

Ngủ rồi kmath

  • Trí Ngủ biết bơi
  • *******
  • Bài viết: 2,742
  • Thanked: 4 times
  • Đánh giá: +2/-0
  • Giới tính: Nam
  • Phong lưu công tử đa xuân tứ
Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #43 vào: 31/10/2012, 12:44:07 »
Thì ra thế. Chiến lược đọc review (của bác Gà) chứ tuyệt đối ko đọc sách gốc của mình hóa ra cũng chỉ là invent lại cái bánh xe gỗ vuông, 1 tiếng hét vang lạnh cả trời :d

 
Blog cầu treo (cheo leo từng mái chèo) http://khanhnq1987.wordpress.com/

Ngủ rồi MERIT

Re: Tản văn tản viếc
« Trả lời #44 vào: 31/10/2012, 12:47:52 »
Đố chú Math biết ai là người đầu tiên trên thế giới phát minh ra cái bánh xe (tất nhiên có ổ bi)? :d