Tác giả Chủ đề: Thạch Trung Giả  (Đã xem 3321 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi vuhatue

Thạch Trung Giả
« vào: 17/04/2010, 00:54:27 »
Tiểu sử: bổ sung sau
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #1 vào: 17/04/2010, 00:56:06 »
VĂN HỌC PHÂN TÍCH TOÀN THƯ
Lá Bối xuất bản năm 1973



Thủ bút và chữ ký Thạch Trung Giả
 

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,437
  • Thanked: 26 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #2 vào: 27/04/2010, 22:05:21 »

Nhất nguyên thế giới, dịch của Swami Vivekânanda, Cơ sở triết học Ấn Độ Thái Bình Dương, 1971




 
The following users thanked this post: mộ như
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi chuoi

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #3 vào: 15/04/2012, 12:52:07 »
Văn học phân tích toàn thư / Thạch Trung Giả (S. : Lá Bối, 1973 - 668 p.)
(Có chữ ký tác giả)

« Sửa lần cuối: 15/04/2012, 13:01:54 gửi bởi chuoi »
 

Ngủ rồi Harrypham1986

  • Trảm Phong Đại Sư
  • *******
  • Bài viết: 12,978
  • Thanked: 96 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hiểu Nguyệt Tình Thiên
Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #4 vào: 08/01/2013, 17:50:43 »
                                      Áo Nghĩa Thư - Upanishads - An Tiêm xb 1972

                                     
 
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.

Ngủ rồi mộ như

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #5 vào: 02/04/2016, 18:32:03 »






Tên sách : Áo nghĩa thư UPANISHADS
Tác giả : Shri Aurobindo
Dịch giả : Thạch Trung Giả
Ngôn ngữ : Việt
Số trang : 308
Nhà xuất bản : An Tiêm

UPANISHADS

Shri Aurobindo bình giải

Thạch Trung Giả dịch

An Tiêm

PHÁT ĐOAN TỪ

Uống nước uống tận nguồn.

Một công trình jkhảo cứu dù tinh vi đến đâu cũng không thể nào thaythế được kinh văn cội gốc; Giỏi lắm chỉ là một bộ xương khô so với con người sống thật có linh hồn long lanh trong ánh mắt và tỏa ra trong hơi thở. Ấy là chưa kể những công trình phản bội chiếm đến chín mươi phần trăm số sách khảo cứu. Xin kể một thí dụ.

Trước khi đọc thẳng vào những mảnh tản văn của Parménide, triết gia vĩ đại phái Elée, tôi đã tìm hiểu qua những bộ triết sử và nghiên cứu của những học giả Tây Phương đã thừa hưởng công trình vài chục thế kỹ. Đến khi đọc thẳng vào những mảnh tản văn, tôi đi từ sửng sốt này đến sửng sốt khác vì mọi sách khảo cứu mà tôi được biết đều phản bội, lật ngược lại chủ ý sâu xa của Parménide, của phái Elée, một triết gia không để lại nhiều sách vở nhưng được coi là một trong mấy cơ sở lớn của tư duy Hy Lạp, của thế giới Tây-phương. Thời gian tôi dùng để đọc dăm trang khảo cứu là một vài giờ còn đọc thẳng vào vài trang bản văn là mười lăm đêm, mỗi đêm 4 tiếng đồn hồ tức là 60 giờ. Đó là một chuỗi hàm số liên tiếp mà người đọc phải tự giải, nhưng giải xong thì thấy cả núi sách khảo cứu dầu đúng cũng không đưa vào chiều sâu, vào cái thần, ấy thế mà lại giải sai.

Nếu Parménide với triết phái Elée, được người Tây-phương khảo sát nhiều thế kỷ vì tự coi là thừa kế triết học Hy Lạp, mà còn bị phản bội như thế thì những triết thư Ấn Độ như Upanishads được khảo sát ra sao, ta có thể duy đoán được.

Người Việt ta vài ngàn năm quen với một dòng của triết đạo Ấn Độ là Phật giáo, nhưngvề những dòng khác thì mới bắt đầu từ vài chục năm nay. Cho đến bây giờ những bộ căn bản nhất như Upanishads cũng chỉ được trích dẫn vài câu đã thành sáo ngữ trong vài cuốn khảo cứu. Đã đến lúc uống nước uống tận nguồn. Bởi thế cho nên chúng tôi lựa chọn ba bộ tiêu biểu được đạo sư có uy tín người Ấn Độ là Shri Aurobindo vừa thừa hưởng được truyền thống, vừa có căn bản triết học Tây-phương để bình giải, trình bày cho chúng ta thời bấy giờ hiểu nổi.

Ấn Độ có ba dòng lớn về triết đạo là: Bà la môn giáo, Kỳ-na giáo, Phật giáo. Trong lòng Bà-la môn lại có sáu phái mà quan trọng nhất là hai phái Số luận tức là Sâmkhya, Vệ-Đàn-Đà tức Védânta nghĩa là Viên thành Vệ Đà.

Gạt ra ngoài vấn đề so sánh giá trị nội tại của hai phái này, mà chỉ nói quan niệm của đa số người Ấn cũng như học giả thế giới thì Vệ Đàn Đà được coi như tiêu biểu cho tư tưởng Ấn- Độ, là cái phần tinh túy nhất mà văn hóa Ấn-Độ cung hiến cho nhân loại. Đó là tư tưởng nhất nguyên coi vũ trụ, nhân loại, Thượng Đế chỉ là một, chỉ có một Đại Ngã, Đại Hồn. Bởi thế cho nên Upanishads nhắc đến Thượng Đế hay đấng Chủ Tể thì ta chớ nên lẫn với nhất thần giáo mà chỉ coi là một lối nói tạm để bị vượt ngay trong một bộ sách như phép giải toán lập số khử số để đi đến đáp số cuối cùng. Nó là nhất nguyên luận mà người Tây phương gọi là phiếm thần giáo, mà Phật giáo Đại thừa gọi là nhất như thuyết. Védanta với Đại thừa cùng một dòng tư tưởng, đó là điều hiển nhiên tuyệt đối.

Kinh điển nòng cốt của Védánta là những bộ Upanishads. Chúng tôi dịch là Áo Nghĩa Thư với danh từ thông dụng từ lâu của những nhà Phật học nhưng giá trị của nó không ở dưới những bộ được gọi là kinh như Tứ Thư so với Ngũ Kinh. Là vì bên Ấn Độ, những bộ được gọi là Sùtras, vẫn được dịch là kinh, chưa hẳn giá trị hơn những bộ không gọi là Sùtras. Bởi thế những bộ như Védas tôn quí bậc nhất mà không gọi là Sutras. Và người ta đã có lý khi dịch là Kinh Vệ Đà. Vậy Áo Nghĩa Thư hay Áo Nghĩa Kinh cũng vậy.

Những bộ này được xếp sau những bộ Vệ Đà nên được coi là Liễu Kết Vệ Đà hay Viên Thành Vệ Đà với hai nghĩa đen và bóng: nó được coi là rút tỉa tinh hoa của Vệ Đà, đào sâu mở rộng cái trực giác thần diệu nhất giữa nhiều trực giác ở Vệ Đà phong phú như cái mỏ. Đó là trực giác về nhất nguyên luận hay nhất như thuyết.

Những bộ Áo Nghĩa Thư thật nhiều, khởi từ trước hay ngang thời Phật Thích Ca đến cuối Trung Cổ, nhưng những bộ căn bản được coi là có mười hai, mà ba bộ sau đây ở trong số đó. Những tác giả thường vô danh, những vị được nhắc đến ở bộ này bộ nọ là những bậc truyền miệng được người ta ghi lại thêm bớt mà có vị chỉ là nhân vật huyền thoại.

Những bộ này thường được coi là thần kỳ bí hiểm, những bản dịch nhiều khi khác nhau đến mực đưa ra những nghĩa không liên quan gì với nhau. Nên chúng tôi lựa chọn những bọ do đạo sư người Ấn dịch ra Anh văn, hơn hẳn những bản dịch của những học giả Tây phương mà tôi có thể đối chiếu. bản dịch tù Anh ra Pháp về hai bộ Isha và Mundaka do ông Jean Herbert đã được đạo sư Aurobindo hiệu chính, căn bản dịch Kena so ông Jean Herbert cống tác với hai bạn là Camille Rao và René Daumal tuy không được đạo sư hiệu chính nhưng chắc chắn đáng tin cậy để tái dịch lại ra Việt vì ông Jean Herbert đã cả đời hiến mình cho việc dịch, khảo và truyền bá triết đạo Ấn độ, có tiếp xúc với nhiều bậc thầy Ấn hiện sống.

Chỉ xin có đôi lời về lối dịch của chúng tôi. Tiếng Tat, Phạn ngữ, được dịch sang Pháp là chữ Cela, Cái ấy, để ám chỉ Chân Thể mà người nghe được coi là đã ngầm hiểu. Người Việt ta đã quen từ lâu với tiếng Chân Như nên chúng tôi dịch là Chân Như. Đó là trong cuốn Isha nhưng sang cuốn Kena thì tôi phải dịch sát là Cái Ấy vì Chân Thể trong cuốn này được coi như là một nghi vấn, một ẩn số đối với chư thần, mãi đến cùng mới nhận ra.

Soham, tiếng Phạn, dịch ra Pháp ngữ là Je Suis Lui – chúng tôi dịch: Ta là Chân Như cũng vì lẽ trên.

Tal tvam asi: - Tu es Cela – chúng tôi dịch : Người là Chân Như cũng vì lẽ trên.

Tiếng Être thường được dịch là Hữu Thể mà theo Parménide, cổ triết gia Hy Lạp người đã xây dựng toàn bộ học thuyết trên ý niệm này, thì thuộc tính lớn nhất của Hữu Thể là hằng hữu, bất sinh bất diệt, vậy chúng tôi dịch là Hằng Hữu để phân biệt với être thường không viết hoa dịch là hữu thể.

Tiếng Existence có hai nghĩa chính là thực hữu hay hiện hữu và sinh tồn, chúng tôi dịch thành hữu tồn, tuy cũng có khi là sinh diệt, khi là sinh hóa, khi là sáng hóa, vừa theo tinh thần triết học Ấn-Độ vừa uốn theo sắc thái, nhịp độ tư tưởng rất biến hóa linh động của Aurobindo.

Tiếng Dissolution thường được dịch là hòa tan hay tiêu diệt chúng tôi dịch là tiêu nhập theo tinh thần ở đây.

Tiếng Jeucó nhiều nghĩa, mà kể ba là trò chơi, sự vận dụng, sự xếp đặt xảo diệu, chúng tôi dịch là trò diệu hóa hay diệu hóa lực theo hệ thống tư tưởng của Aurobindo vẫn gọi bằng tiếng Phạn là Lilâ hay Mâyâ tức Huyễn hóa.

Egoisme thường được dịch là vị kỷ, vị ngã, nhưng tư tưởng Ấn độ còn suốt nguồn gốc vị ngã là chấp ngã vậy chúng tôi dịch là ngã chấp. Mental theo nghĩa của Tây triết là tâm trí và Mentalité là tâm tính, nhưng ở đây theo Ấn triết phải dịch là phàm thức và thức tính đối với siêu thức tuy đổi chỗ có thể dịch  đại khái là tâm thức hay thức và tâm tính.

Đó chỉ là một vài trong nhiều thí dụ về lối dịch của chúng tôi không thể hoan toàn y theo những tự điển hiện hành, nhưng có lẽ độc giả cũng thừa thông cảm.

Ngoài ra cũng nên nhắc đến một danh từ thường dùng đến là Phạm Thể dịch ở tiếng Phạn Brahman. Theo quan niệm Ấn Độ thì Brahma là thần linh tối cao đã sinh ra vũ trụ, mà Brahman là bản thể của Brahmâ cũng như chư thần cũng như chúng ta cũng như vũ trụ theo lẽ nhất nguyên, vậy nếu Brahmâ đã được dịch từ mấy ngàn xưa là Phạm Thiên thì bây giờ chúng tôi dịch Brahman là Phạm Thể.

Về cú pháp, nhiều chỗ mông lung, hàm súc vì huyền diệu mà ông Jean Herbert cùng các bạn phải vượt khuôn khổ của Pháp ngữ, vốn nổi tiếng là minh bạch khúc chiết, để phản ảnh với những câu như buông lơi, lỏng lẻo nên phải đọc kỹ bình giải mới quyết nghĩa được. Xem kinh văn, nếu thấy những chỗ bí hiểm thì độc giả không nên khổ công tìm hiểu mà cứ tạm để đó, tiến đến phần bình giải sẽ vỡ ra.

Đọc thẳng một bộ như thế này, quí vị sẽ thâm nhập hơn là loanh quoanh mãi ở vành ngoài với những bộ khảo cứu có công dụng giúp ta bước đầu với những ý niệm đại khái như bộ xương khô so với người sống thực

 

                                                                 THẠCH TRUNG GIẢ


MỤC LỤC

 

Phát đoan từ                                                                                                           

Isha Upanishad

Thiên Đế Áo Nghĩa Thư

Kinh văn                                                                                                                 

Chú thích                                                                                                                 

Phân tích                               

Kết luận và toát yếu                                                                                               

Kena Upanishad

Nghi vấn Áo Nghĩa Thư

Kinh – văn                                                                                                             

Bình giải                                                                                                                 

Mundaka Upanishad

Kinh văn


http://www.thuvienphatgiao.com/buddhistbook/detail/book-633/Ao-nghia-thu-UPANISHADS.html

bài viết của NGUYỄN PHÚ
http://giaimaindia.blogspot.com/2015/09/upanishad-minh-triet-o.html#more
« Sửa lần cuối: 02/04/2016, 19:29:46 gửi bởi mộ như »
 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #6 vào: 02/04/2016, 19:05:22 »






 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #7 vào: 02/04/2016, 19:08:39 »






 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #8 vào: 02/04/2016, 19:14:31 »
một số thứ liên quan search được:



bài của Trùng Dương trên tienve.org:
http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=11087

Trong một buổi mạn đàm văn học gần đây, tình cờ có người nhắc tới tên Thạch Trung Giả, một học giả của miền Nam trước 1975. Cũng chỉ là một nhắc nhở thoảng qua. Cũng thoáng qua là phần nhắc tới tên ông trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan (in lần thứ ba, California, Văn Nghệ, 2000) của nhà văn Võ Phiến, trang 149 và phần Tác Giả và Tác Phẩm ở cuối sách, với vỏn vẹn mấy chữ: “Thạch Trung Giả - Tác phẩm: Văn Học Phân Tích Toàn Thư (1973)”.

Lục trên thư mục của Thư Viện Quốc Hội thì thấy chỉ có mỗi cuốn trên, với các chi tiết sau:



Lục trên internet, Wikipedia.org vốn post đủ loại bài thượng vàng hạ cám nhưng cũng không thấy tên ông. Sục sạo một chặp nữa, chỉ thấy tên ông được nhắc tới tại một trang web ở Hà Nội, tên là Sách Xưa (sachxua.net), với hình bìa hai cuốn sách của ông, Văn Học Phân Tích Toàn Thư, Lá Bối xuất bản năm 1973 ở Sàigon, có kèm theo trang thủ bút đề tặng ai đó mà tên đã bị che đi; và cuốn Nhất nguyên thế giới, dịch của Swami Vivekânanda, do Cơ sở triết học Ấn Độ, Thái Bình Dương, 1971, xuất bản, có lẽ cũng tại Sài Gòn. Vì phải đăng ký mới vô được, nên tôi không biết những trang sách của ông có được post trên website Sách Xưa hay không. Đặc biệt, trên trang web có in hình bìa hai cuốn sách của ông, có dòng chữ, “Tiểu sử: bổ sung sau”. Tóm lại, trừ mấy chi tiết kể trên, kỳ dư không thấy còn dấu tích gì của một học giả đã một thời, trước 1975, công khai phản đối việc người ta đưa tên ông, mà không hỏi ý kiến, vào danh sách ban giám khảo của Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hồi ấy.

Tuy vậy, tôi tình cờ và may mắn có được một kỷ niệm khó quên với ông, mà tôi đã ghi lại được khi ký ức chưa bị thời gian làm phai nhạt, trong một bài viết cho số báo ra mắt của tạp chí Thời Tập của nhà văn Viên Linh tái bản ở hải ngoại, vào mùa xuân 1979, trong thời kỳ báo chí sách vở chữ Việt ở hải ngoại còn phải bỏ dấu tay. Post lại ở đây phóng ảnh một bài viết cũ dính dáng tới cá nhân cầm bút của mình không ngoài mục đích hy vọng có ai biết chút gì về học giả Thạch Trung Giả thì bổ sung, giúp cho những ai muốn tìm hiểu về ông trong bối cảnh văn học Miền Nam 1954-1975. Hình như tôi viết bài này hồi ấy là do nghe tin ông đã tự tử chết. Tin này về sau tôi cũng không có dịp kiểm chứng xem thực hư thế nào. Từ đấy tới nay, bao nhiêu nước đã chảy qua dưới cầu...

Xin mời đọc.



 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #9 vào: 02/04/2016, 19:19:05 »
Thơ của học giả Thạch Trung Giả
bài viết của Viên Linh

Tuần trước nghe tin nhà văn Văn Quang phải hai lần vô bệnh viện khẩn cấp, tôi vội vàng viết một bài về bạn, lòng chạnh nghĩ: bạn 81 tuổi rồi, trước sau gì cũng phải viết.

Vui thay, bạn rời bệnh viện về nhà, lại được người ta mách cho bài ấy, và ngạc nhiên, viết thư qua: “Món quà ‘hồi sinh’ bất ngờ. Ông kiếm đâu ra bài thơ này trong khi tôi quên biến luôn cả tên bài thơ và không nhớ vào thời gian nào [1957] nhưng lại lõm bõm nhớ vài câu thơ cũ. Ủa thì ra mình cũng là ‘nhà thơ’ đấy.” Ðây là lần thứ hai mà bài tôi viết về các đồng nghiệp, được đồng nghiệp khoanh tròn một nét son. Năm 1997, lúc nghe tin nhà văn Nguyễn Thụy Long đói, từ Sài Gòn gửi qua Mỹ một cái hồi ký nho nhỏ cho người bạn cũ xưa kia ăn nhờ ở đậu trong nhà mẹ mình, nay đang là chủ báo ở Quận Cam, bị vị chủ báo chê, không đăng - tôi bèn viết một bài về tác giả Loan Mắt Nhung, nhắc đến những bữa ăn có cá kho giềng tuyệt vời do bà mẹ của bạn nấu nướng một cách tuyệt đỉnh Bắc Kỳ, mùi cá thơm nồng, vị cá ngọt mà cay, màu nâu đen đậm, “nước thắng” màu rượu chát nhưng đặc sệt quyện vào từng miếng củ cải, rau răm, ăn một lần lúc nhỏ, vài chục năm sau tìm mãi không thấy lần thứ hai. Viết xong đăng lên báo, thử thời vận bỏ vào phong bì, gửi qua bưu điện từ California về Xóm Nhiêu Lộc, Gia Ðịnh, ai dè phép mầu hiện ra, tờ báo lọt lưới nằm trên bàn viết của bạn. Ít lâu sau tôi nhận được thơ bạn, kể lại là suốt đêm ấy không ngủ, ngồi đánh bóng cái phin cà phê Thăng Long, tiệm cà phê lúc trẻ chúng tôi ngồi uống: “Mày làm tao sống lại.” Sau đó, hải ngoại mấy nhà đều in truyện Nguyễn Thụy Long, hồi ký Nguyễn Thụy Long, có tới năm sáu cuốn. Và Long sáng tác thêm khoảng hai chục truyện ngắn thật hay.

Tuần trước là “Thơ của nhà văn,” tuần này xin viết về “Thơ của học giả.” Vâng, một học giả khác thường, viết nhiều bài cho tạp chí Thời Tập và từng giảng dạy tại Ðại Học Vạn Hạnh, tác giả của cuốn tập đại thành “Văn Học Phân Tích Toàn Thư” do Lá Bối xuất bản lần đầu năm 1973 và những dịch bản nổi tiếng khác: Nhất Nguyên Thế Giới (tuyển dịch Swami Vivekananda, Thái Bình Dương xuất bản, 1971) - Áo Nghĩa Thư Upanishads (dịch kinh văn Shri Aurobindo với lời bình giải, An Tiêm in 1973) - Số Không với Vô Tận (dịch Le Zero et L'Infini của Arthur Koesler, An Tiêm 1973). Thạch Trung Giả xuất hiện trên tạp chí Thế Kỷ ở Hà Nội từ 1950 tới 1954, bên cạnh những Bùi Xuân Uyên, Trúc Sĩ, Triều Ðẩu, Tạ Tỵ, vào Nam viết cho tạp chí Liên Hoa, Thời Tập, đặc biệt về thơ luận và triết thư. Văn thơ ông rành rọt, khúc chiết, trải nghiệm, câu nào câu nấy như nét chạm trổ. Trong phần “phát đoan từ” của cuốn Văn Học Phân Tích Toàn Thư, là trang mở đầu cuốn sách (trang 12 trong cuốn sách non 700 trang), Thạch Trung Giả viết:

“Với thời gian, sống trên một đất nước, giữa một thế giới trải qua bao cuộc bể dâu trong khoảng nửa kiếp người - cách mạng, đảo chính, chiến tranh - tư tưởng tôi đã bao lần thay đổi nhưng có một điều bất di dịch, và càng với thời gian càng thêm sâu sắc - là sự cần thiết, sự trang nghiêm của việc đọc sách, đọc sách có ý thức, có phương pháp, theo một hệ thống tinh vi và linh động. Nhà văn hào Goethe, người có tên trong mấy bộ sử, văn học, triết học, khoa học, hiện thân cho văn hóa nước Ðức, vào độ bát tuần khi đầu nặng trĩu những vòng hoa, đã trả lời một người bạn trách lâu ngày không thấy mặt, là bận đọc sách, tập đọc sách, vì đọc sách khó quá, khó hơn sáng tác. ‘Tập đọc sách,’ lời nói như có vẻ khôi hài, như khiêm tốn giả nhưng thực chân thành, chân thành đến mức độ tuyệt đối. Sáng tác dễ, đọc sách khó.

Ðiều đó hiển nhiên ngay trong lĩnh vực học đường. Viết một áng văn tả cảnh, tả tình trôi chảy, có quan sát, có rung động không phải khó với một học sinh trung học nhưng phân tích một áng văn thơ mệt hơn gấp mấy lần. Bởi thế cho nên, chương trình hiện hành ra hai đề luân lý, phổ thông ở trung học đệ nhất cấp, còn giảng văn rút vào mấy câu hỏi chứ không thành nghị luận văn chương như trước. Vì với môn này phải làm những bài giảng văn tinh vi đầy đủ, hoặc phải tổng hợp nhiều bài giảng văn thành nhận xét báo quát về tác giả hay tác phẩm.” (Thạch Trung Giả, Phát Ðoan Từ, Văn Học Phân Tích Toàn Thư).

Giáo sư, học giả Thạch Trung Giả tên thật là Trần Văn Long, không rõ ngày năm sinh, dạy Quốc văn và Triết tại trung học Võ Tánh, Nha Trang. Trong các tỉnh miền Trung Việt Nam, dường như chỉ có hai nơi các trường trung học có đủ bảy lớp, là Huế và Nha Trang, có lớp đệ nhất. Tôi không được biết ông trước cho tới khi ông đến tòa soạn Thời Tập trên đường Nguyễn Trãi, bên hông trường trung học Bác Ái của người Hoa; và viết cho Thời Tập mấy bài về Triết, (Goethe với Nguồn Gốc Hiện Sinh), khoảng 1973 trở đi. Thạch Trung Giả vóc người đầy đặn, trên trung bình, tóc cắt ngắn gọn ghẽ, mang kính trắng, mặc đồ trắng, không để lại một cảm giác gì rõ rệt nơi người đối diện, ngoài cảm giác đây là một người chín chắn, chững chạc, ăn mặc xuề xòa xong thôi. Bài ông viết kỹ, lối viết không để ai có thể biên tập thêm thắt.

Ông thuộc lớp những nhà văn miền Bắc khi di vào Nam vừa có danh, nhưng chưa có tác phẩm in thành sách, hoặc chỉ mới có một cuốn, những năm 1952, 1953. Phần lớn lớp các nhà văn nhóm Thế Kỷ sinh khoảng 1920-1925, khi vào Nam vừa ở tuổi trên dưới 30. (Bùi Xuân Uyên, chủ nhiệm Thế Kỷ, sinh năm 1922, Tạ Tỵ 1922...). Tôi đoán Thạch Trung Giả sinh trong khoảng này. Khi ông dạy Vạn Hạnh là ở khoảng xấp xỉ 50 tuổi. Ông đưa tôi hai bài thơ, cả hai bài đã đăng ngay. Tôi có dịp phỏng vấn ông, ông không trả lời bình thường, mà thay vào đó là một bài thơ.

Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ tháng 3,1975, tôi làm ngay số báo Thời Tập chủ đề “Văn Chương Trước Tình Thế Mới, Tâm Hồn và Ðất Nước Tây Nguyên Trung Việt,” để phát hành vào ngày 15 tháng 4, 1975. Không ngờ đó là số báo văn nghệ cuối cùng của tờ báo, và cũng là số báo văn học cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài bài vở thơ văn họa sáng tác liên hệ, tôi phỏng vấn nhiều tác giả, trong có Thạch Trung Giả. Cuộc phỏng vấn chỉ có hai câu hỏi, đưa ngay và chờ lấy, hoặc lấy trả lời ngay trong ngày:

1. Anh (chị) có phải từng tự hỏi về vai trò người cầm bút là mình trước một tình thế đất nước biến động như trong những ngày qua hay không? Xin cho biết.

2. Theo anh (chị) văn chương thực sự có một khoảng cách như thế nào trước một biến cố dược chọn làm đề tài mô tả?
Có 11 tác giả đã trả lời, xếp theo thứ tự: Mặc Ðỗ, Tuệ Mai, Nguyễn Mộng Giác, Thạch Trung Giả, Phạm Thiên Thư, Bình Nguyên Lộc, Trúc Sĩ, Võ Phiến, Lê Tràng Kiều, Lệ Hằng, Xuân Vũ. [Hôm nay mới thấy là có 11 người trả lời, trên tờ báo năm 1975 lại ghi lầm là 10 người!]

Thạch Trung Giả không trả lời thẳng vào hai câu hỏi, mà chỉ bằng một bài thơ!


Những Ai Nằm Ðó?

Những ai nằm đó?
Dưới khuya này thẳm mấy ngàn năm
U minh hình bóng trập trùng
Miên miên Ðất Tổ vua Hùng dựng nên
Bước chân chạm mấy cửu tuyền
Mấy tầng huyết đổ, lệ hoen chốn này
Những ai nằm đó?
(Thạch Trung Giả, Trả lời Viên Linh, Thời Tập số 23, Sài Gòn, 15.4.1975)


Tôi đã không có số báo này cho đến mấy năm gần đây. Báo có giấy phép kiểm duyệt ký ngày 27 tháng 3, 1975, in 3000 số, dày 90 trang, bìa in 4 màu đề ngày 15 tháng 4, 1975, có nghĩa là phát hành khoảng mấy ngày trước đó. In, gấp, và đóng 2 kim, xong đó phải xén, thường phải mất bốn năm ngày. Loại báo có gáy vuông ở Sài Gòn lúc đó phải gấp bằng tay, ê-kíp gấp gồm 14 phụ nữ, mỗi người cầm một thẻ tre hay gỗ dài khoảng 50 cm để cán giấp xoèn xoẹt từng tờ một, mỗi tờ giấy lớn (loại giấy báo), in được từ 8, 16 hay 24 trang tùy theo khổ của tờ báo. Bình thường báo Thời Tập dầy 102 trang, riêng số này rút ngắn, còn 90 trang, vẫn bán 220 đồng một số. Tôi nhớ rất rõ tờ báo vì cái hình bìa quá gấp, không kịp nhờ họa sĩ, tôi vẽ lấy, và tôi đặc biệt thích vẽ chủ đề Ban Mê Thuột, vì từng sống và dạy học tại thị trấn cao nguyên này những năm 1959-60.

Bài thơ trên của Thạch Trung Giả có lẽ cũng là bài thơ cuối cùng của anh đăng báo, vì sau này tôi nghe tin anh tự tử chết ngay trong năm 1975. Nhưng mới vài ngày qua, khi có ý định viết bài về anh, “Thơ của học giả,” để tiếp theo bài “Thơ của nhà văn,” [Văn Quang, đăng trên mục này tuần trước], tôi bấm máy tìm thêm tin tức về anh, may thay tìm ra một thông tin từ một học trò cũ của thầy Thạch Trung Giả, và biết rõ hơn về ngày cuối cùng của người bạn vong niên. Ðoạn đó như sau: “Nhiều người cho biết là cứ đến mùa Hè là thầy [Thạch Trung] Giả lên chùa Vào Hạ (một khóa học của các tu sĩ), tham thiền với các vị sư và trong thời gian sau năm 1975, thầy Giả thường hay lên chùa và thầy đã mất tại chùa. Vì hoàn cảnh khó khăn, chùa quá nghèo nên không có tiền mua hòm nên các vị sư chỉ còn cách quấn chiếu và tìm ván cũ đóng lại chôn thầy... Học sinh trường Võ Tánh Nha Trang cảm thương thầy quá thầy ơi! Thầy ơi! (Phạm Vũ, Newvietart.com)

Ðể nhớ một hồn kinh triết, xin đọc một đoạn thơ về biển của Thạch Trung Giả, trong bài thơ có lẽ được sáng tác ở Nha Trang, một trong ba bài thơ tôi còn giữ được của anh:

Châu Trầm Bé Nhỏ

Mang tim người rỏ xuống đại dương kia
Biển vô cùng nhưng giọt mắt tan lìa
Mang vô tận mấy trùng kia thế giới
Nước thăm thẳm nhưng sầu kia vời vợi
Tỏa vô cùng bao quát đại dương kia
Hằng hà sa góp lại cũng khôn bì
Mấy vạn lý với bao đời kim tự tháp
Rút thiên cổ thu vào trong một hạt
Vạn sắc cờ phai nát với hư vô.
(Thạch Trung Giả, Thời Tập số 15.11.1974)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=183465&zoneid=16


 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi như mộ

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #10 vào: 07/01/2017, 19:25:43 »


« Sửa lần cuối: 15/03/2017, 18:56:44 gửi bởi như mộ »
 
The following users thanked this post: hoangnguyen, Nguyên Thánh

Ngủ rồi như mộ

Re: Thạch Trung Giả
« Trả lời #11 vào: 26/06/2017, 15:56:36 »







 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh