Tác giả Chủ đề: Trần Đức Thảo  (Đã xem 7017 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi goose

Trần Đức Thảo
« vào: 10/09/2009, 10:49:24 »
Trần Đức Thảo (26 tháng 9 năm 1917- 24 tháng 4 năm 1993) là nhà triết học Việt Nam.




Tiểu sử


Trần Đức Thảo sinh tại thôn Song Tháp, xã Châu Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tháng 11 năm 2008, đã đổi thành Song Tháp, Phường Châu Khê, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường Đại học Sư phạm Paris. Ông tốt nghiệp thạc sĩ triết học hạng nhất tại Pháp lúc mới 26 tuổi (1942).

Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn đối với đất nước vừa giành được độc lập hồi tháng 8 năm 1945. Lá thư được in trên tờ Cờ giải phóng, cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.

Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

Ông bị quy tội dính líu đến phong trào Nhân văn Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, ông thôi giảng dạy ở trường Đại học và làm chuyên viên nghiên cứu.

Năm 1992, ông sang Pháp chữa bệnh kết hợp với nghiên cứu và mất tại Paris vào năm sau. Di hài ông được nhà nước đưa về an táng tại Khu A Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.

Tặng thưởng

    * Năm 2000, ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội.

Đánh giá

    * "Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, ở Việt Nam bản thân mình và các đồng nghiệp khác cũng chỉ là những người nghiên cứu và giảng dạy triết học, người duy nhất được coi là nhà triết học, chỉ có Trần Đức Thảo mà thôi."

Các tác phẩm

    * Phương pháp hiện tượng học của Husserl (1942), tiếng Pháp
    * Phénoménologie et matérialisme dialectique (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng). Minh Tâm. Paris 1951.
    * Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ (1955)
    * Nội dung xã hội và những hình thức của tự do (1956).
    * Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, tiếng Pháp, NXB Xã hội của Pháp, năm 1973.
    * Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người (1988).
    * Logic của cái hiện tại sống động (La logique du présent vivant)(chưa hoàn thiện).
    * Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
    * Sự hình thành con người, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

Nguồn: Wikipedia

THƯ MỤC TẠM THỜI

TRẦN ÐỨC THẢO

(1917-1993)


Trích dẫn
«Thư mục Trần Đức Thảo» này đã được thực hiện, và các văn bản được sao chụp, nhờ sự trợ giúp của nhiều tấm lòng. Chúng tôi thành thật cám ơn ông Hoàng Khoa Khôi đã gửi tặng bản sao quyển Triết Lý Đã Đi Đến Đâu?, bạn Phan Huy Đường đã cho mượn các bản thảo cuối cùng của tác giả, bà Nguyễn Thị Xuân Sương đã sao chụp giúp những tài liệu ở Thư Viện Quốc Gia Pháp, và nhất là quý ông Phạm Thế Khang, Nguyễn Xuân Dũng, Chương Thâu trong nước đã cung cấp bản sao các bài biên khảo bằng tiếng Việt  thuộc thời kỳ Trần Đức Thảo còn sinh sống và công tác ở Việt Nam. Dù vậy, chúng tôi vẫn tin chắc rằng thư mục còn rất nhiều thiếu sót, nhất là về loại quy chiếu viết bằng những sinh ngữ ngoài 3 thứ tiếng Việt, Anh và Pháp; ở đây, chúng tôi mong được sự trợ giúp của tất cả mọi độc giả quan tâm đến triết học và Trần Đức Thảo, hầu có thể cập nhật thường xuyên thư mục tạm thời này. Mỗi lần cập nhật, các quy chiếu mới thêm vào sẽ được giới thiệu bằng màu mực khác.
       
Phạm Trọng Luật

Cập nhật ngày 1/7/2006

Loạt bài về Trần Đức Thảo trên Viet Studies


Chữ ký Trần Đức Thảo
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #1 vào: 18/09/2009, 02:02:40 »
TRIẾT-LÝ ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU?
NXB Minh Tân - Paris xuất bản năm 1950. Sách dày 60 trang




 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #2 vào: 21/09/2009, 22:06:12 »
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA "LÝ LUẬN KHÔNG CÓ CON NGƯỜI"
NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1988. Sách dày 152 trang.


 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #3 vào: 26/09/2009, 18:10:02 »
TRIẾT LÝ ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU
Xuất bản ở Sài Gòn năm 1971

 

tri.nguyenold

  • bạn
Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #4 vào: 04/10/2009, 18:42:08 »
Tiểu sử tự thuật

TIỂU SỬ TRẦN ĐỨC THẢO

 
Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917.
 

      Từ 1923 – 1935 Tôi học tại trường trung học Pháp tại Hà Nội
      1935 – 1936  Là sinh viên năm I trường Luật ở Hà Nội
      1936 Tới Paris chuẩn bị dự thi vào Trường Sư phạm phố d’Ulm
      1936 – 1939 Học tại Trường Louis – le Grand và Henri IV
      1939 Nhập học Trường Sư phạm phố d’Ulm
      1939 – 1943 Học cử nhân triết học (tốt nghiệp cử nhân triết học)
      1940 Lánh nạn tại Bagnères de Bigorre
      09/1940 đến 03/1941 Lánh nạn ở khoa Văn trường Clermont Ferrand, tại đây cũng có trường Strasbourg đến sơ tán. Ở đó tôi gặp Jean Cavaillès và được ông đưa vào đọc Triết học Husserl
      03/1941 đến 9/1944 Nội trú tại Trường Sư phạm phố d’Ulm
      1941-1942 Nhận bằng Cử nhân với đề tài “Phương pháp hiện tượng học của Husserl”
      1942-1943 Học và lấy bằng Thạc sĩ triết học
      1943-1944 Nghiên cứu sinh tại Trường Sư phạm phố d’Ulm để thực hiện luận án Tiến sĩ quốc gia (Doctorat d’Etat) với đề tài “Phương pháp hiện tượng học của Husserl”
       Đầu năm 1944 Tới Bỉ, nghiên cứu tại cơ quan lưu trữ Husserl ở Louvain. Edmund Husserl mất năm 1937 tại Đức sau khi đã bị bọn phát xít gạch tên tại trường đại học. Bà Husserl đã phải lánh nạn ở Bỉ, tại đó trường đại học Louvain đã thành lập một khu đặc biệt với tên Lưu trữ Husserl (Archives Husserl) với mục đích thu thập tài liệu là những bản viết tay của Husserl.

                     
        Những nghiên cứu tôi thực hiện ở đây vào đầu năm 1944 cho phép tôi khằng định những gì đã được dự đoán trong luận án tốt nghiệp: đó là ngược lại với những giải thích thông thường đã giới thiệu thuyết Hiện tượng học Husserl là một học thuyết về những bản thể vĩnh hằng, những phân tích của Husserl hướng tới triết học về thời gian, về con người lịch sử và về lịch sử thế giới. Ông nói: “Cái vĩnh hằng là một thời gian tuyệt đối, chính bản thân nó chỉ là một phương thức của thời gian”.

Từ đó tôi đã đi đến Hiện tượng học của trí tuệ của Hegel mà tôi đã bình luận trong bài báo đăng trên tạp chí Temps Modernes (tháng 9 năm 1948).

Từ tháng 10 năm 1936 đến tháng 9 năm 1944: Là sinh viên nhận học bổng của Bộ thuộc địa.

Từ tháng 10/1944 đến tháng 9/1946: là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de Recherches Scientifiques CNRS).

Từ tháng 12 năm 1944: là Báo cáo viên chính trị tại Đại hội những người Đông Dương ở Avignon, tại đây tôi đã trình bày một cương lĩnh thiết lập nền dân chủ ở Đông Dương.

Tôi đã được chọn để viết báo cáo chính trị, vì mọi người đề biết tôi chưa từng có bất kỳ một quan hệ nào với những người đảng viên quốc xã. Sau giải phóng đó là điều kiện đầu tiên để có quyền được nói về chính trị. Đại hội diễn ra tại phòng lễ hội của toà Thị chính Avignon và ông thị trưởng là đảng viên Đảng Cộng Sản.

Tôi đã được bầu là Uỷ viên của Tổng Liên đoàn người Đông Dương ở Pháp và phụ trách nghiên cứu những vấn đề chính trị.

Đầu năm 1945 với tư cách uỷ viên Tổng Liên đoàn người Đông Dương, tôi đã có một cuộc tiếp kiến với ngài Tổng bí thư Maurice Thorez tại trụ sở của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Pháp. Chúng tôi đã thống nhất đường lối chung trong cuộc đấu tranh vì các dân tộc bị áp bức, chống lại chủ nghĩa đế quốc: cuộc đấu tranh nhằm giải phóng cho các dân tộc ấy, do những điều kiện khách quan của thế giới đương thời sẽ nhất thiết dẫn đến chủ nghĩa cộng sản. Ngài Maurice Thorez đã hứa rằng các tổ chức của Đảng Cộng sản Pháp sẽ có những giúp đỡ cụ thể dành cho các tổ chức địa phương do Tổng Liên đoàn người Đông Dương ở Pháp làm đại diện. Lời hứa này đã hoàn toàn được tôn trọng.

Tháng 9 năm 1945: Nhiều truyền đơn và hội nghị báo chí được tổ chức ủng hộ Mặt trận Việt Minh và Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một bài báo đăng trên tờ Le Monde đã thuật lại cuộc họp báo của tôi, bài báo đó đã nhắc lại một câu hỏi của một nhà báo đã hỏi tôi: “Những người Đông Dương sẽ làm gì khi quân đội viễn chinh đổ bộ?”, tôi đã trả lời: “Phải nổ súng”. Vì lời đối đáp này, tôi đã phải trả giá là bị bắt giam giữ tại nhà tù Príon de la Santé từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 12 năm 1945 (3 tháng), với lý do “xâm phạm an ninh nước Pháp trong những lãnh thổ có chủ quyền của Pháp” (Xem trong tạp chí Les Temps Modernes, số 5, tháng 12 năm 1946, trang 878).

Khi tôi bị giam giữ, báo L'Humanité đã đăng một bài đòi trả tự do cho tôi. Maurice Merleau Ponty, Tổng biên tập tạp chí Les Temps Modernes đã truyền đi một bản kiến nghị cùng nội dung trên tới hàng nghìn người trí thức.

Ở phố d’Ulm, đã có tình trạng chia rẽ. Những người cộng sản và những người cảm tình cộng sản (trong số đó phải kể đến những người theo trường phái hiện sinh) đã đòi trả tự do cho tôi. Điều đáng lưu ý là trong thời kỳ chiếm đóng của Đức quốc xã, nhóm của Jean-Paul Sartre đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa phát xít và đã có mối liên hệ với những người Đảng cộng sản. Jean-Paul Sartre xuất phát trực tiếp từ triết học của Husserl và nếu có bị ảnh hưởng bởi triết học của Heidegger ông vẫn ở mức khá xa rời triết học của vị này.

Những sinh viên khác và các sinh viên nội trú trường sư phạm đã phản kháng chống lại việc bắt giữ tôi, đơn giản là vì tinh thần dân chủ.

Còn một số nào đó thì do dự, vì sự gắn bó của họ với tổ chức Liên hiệp Pháp (L’Union Francaise). Nhóm khác là những người tán thành ý kiến của Bộ Thuộc địa. Những chia rẽ này đã ngăn cản việc thực hiện bản kháng nghị tập thể do một chi bộ cộng sản tiến hành.

       Trên thực tế, tôi vẫn ở ký túc xá của Trường sư phạm phố d’Ulm từ khi trở về từ Clermont Ferrand (tháng 3 năm 1941) cho tới khi giải phóng Paris. Nơi này không bao dung cho chủ nghĩa phát xít. Những học sinh cảm tình với Đảng Quốc Xã hầu như đã bị trục xuất khỏi ký túc xá, họ là những người ngoại trú, và thực tế hầu như họ chưa bao giờ đến trường.

       Tôi đã là chuyên gia nghiên cứu về Husserl - người đã bị xoá tên khỏi trường đại học của Đức ngay khi những người phát xít lên nắm chính quyền. Tôi đã được ông Jean Cavaillès - người đã tham gia vào cuộc kháng chiến ngay từ buổi đầu bị Đức Quốc xã chiếm đóng, dẫn dắt đến với thuyết Hiện tượng học Husserl.

       Vào đầu tháng 10 năm 1945, Toà án quân sự đã bắt giữ 50 người Đông Dương ở Paris. Một số tờ báo đã viết rằng những người này đã hợp tác với những người cầm quyền Đức và Nhật. Thực tế, Toà án đã không tìm được bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ điều đó và những tờ báo vu khống đã bị kiện vì nói sai sự thật. Toà án đã khép tội cho những người này là đã đe doạ đến an ninh nước Pháp trong những lãnh thổ có chủ quyền của Pháp (Xem Tạp chí Les Temps Modernes, số 5, tháng 12 năm 1946, tr. 878).

       Tổng liên đoàn những người Đông Dương đã đệ đơn kiện lời vu khống của báo chí cho rằng tôi có quan hệ với những người đảng viên Quốc xã. Ngay lập tức những tờ báo này ngừng vu khống và nhận thấy rằng những lời vu cáo đó là vô căn cứ.

       Bài báo “Về Đông Dương” của tôi được đăng Tạp chí Les Temps Modernes, số 5, đã được viết trong thời gian bị giam giữ một mình tại nhà tù Prison de la Santé.

       Tôi đã sử dụng thời gian rảnh rỗi này để kiểm tra lại nhận thức của mình về Hiện tượng học. Nhưng hoàn cảnh khách quan mà tôi đang lâm vào, cùng với sự đối kháng mạnh mẽ giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa tư bản đế quốc, đã hướng tôi tới con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin. Kết quả của sự định hướng này là tác phẩm Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng (năm 1951).

       Cuối 1946 (hay đầu 1947), bài báo đăng trên Tạp chí Les Temps Modernes đả kích những vu khống chống lại Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương của người theo phái Trotsky Claude Lefort.

       1947: Bài đăng trên Tạp chí La Pensée (Tư tưởng) đả kích sự xâm lược thuộc địa với Việt Nam.

       1947: Bài đăng trong Revue de métaphysique et de morale về triết học Macxit, về lịch sử, tôi đã tán thành những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

       1947 – 1948: Tổ chức một loạt hội thảo dành cho sinh viên Trường sư phạm Sèvres về Hiện tượng học của Husserl, Kant và Hegel.

       Tháng 9 năm 1948: bài báo đăng trên tạp chí Les Temps Mordernes, số 36 về Hiện tượng học của Tinh thần và nội dung hiện thực của nó”. Nhân dịp xuất bản giáo trình của Alexandrre Kojève về thuyết Hiện tượng học của tinh thần của Hegel. Giáo trình này được giảng dạy trước chiến tranh, trong số người nghe có Jean-Paul Sartre, J. Hyppolite, M. Merleau-Ponty, R. Aron,… điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới triết học Pháp. Vì M. Merleau – Ponty đã đề nghị tôi viết tường thuật về vấn đề này cho Tạp chí Les Temps Modernes, nhân dịp này tôi tìm hiểu kỹ hơn về Hegel. Và tôi đã đi đến kết luận rằng chỉ phường pháp duy vật biện chứng mới cho phép tìm hiểu được nội dung hiện thực, và ý nghĩa đích thực của Thuyết Hiện tượng học của Hegel.

        Bài báo của tôi, được định hướng chống lại cách giải thích mang tính hiện sinh về Hegel do Kojève thực hiện, đồng thời bái báo đó cho phép tôi tự giải thoát khỏi quan điểm duy tâm của Husserl. Nó chính là cây cầu giúp tôi đi từ Hiện tượng học Hegel đến với chủ nghĩa duy vật biện chứng.

        Cuối năm 1948 đầu năm 1949: Tôi đã ký vào bản tuyên ngôn của các nhà trí thức (công bố trên báo L’Humanité, nhật báo của Đảng Cộng sản Pháp) phản kháng lại những đàn áp do Tito tiến hành đối với người Nam Tư.

        Cuối năm 1949 đầu năm 1950: Năm buổi trao đổi có ghi tốc ký với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh. Sartre mời tôi đến đối thoại, vì ông đinh chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh có thể chung sống hoà bình trên phương diện học thuyết với chủ nghĩa Macxit. Bản tốc ký có mục đích để chuẩn bị một cuộc công bố chung dưới dạng đối thoại.

        Jean-Paul Sartre không thấy được giá trị của chủ nghĩa Mác về mặt chính trị và về mặt lịch sử - xã hội. Ngay cả đối với triết học Mác, ông ta cũng không hiểu nó một cách nghiêm túc. Ông đề nghị một sự phân chia những vùng ảnh hưởng: Chủ nghĩa Mác chỉ có ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó, đối với những vấn đề xã hội, còn chủ nghĩa hiện sinh mới có giá trị về mặt triết học.

        Tôi cố gắng chỉ ra rằng cần phải hiểu chính xác, đúng đắn và nghiêm túc Chủ nghĩa Mác về phương diện là một triết học. Ở buổi nói chuyện thứ năm, vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề quan hệ của ý thức với vật chất đã dẫn đến việc xem xét kỹ vốn sống trải chủ yếu.

        Jean-Paul Sartre không biết được Erfahrung und Urteil, và cũng không biết về nhóm D về những cái mới lạ của Huesserl. Do đó mà cuộc nói chuyện đã kết thúc.

       Vào lúc chia tay nhau, Jean-Paul Sartre đã đồng ý là không còn thắc mắc về vấn đề này nữa cả về phía người này cũng như về phía người kia. Nhưng trái với lời hứa với nhau trước đó, sau này Jean-Paul Sartre và những người thân cận của ông ta đã tung ra những lời gièm pha cho rằng: tôi chính là người phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của cuộc nói chuyện… Và sau đó vì tôi đơn độc, nên tôi không có cách nào để chấm dứt những lời đồn thất thiệt này ngoài cách là gửi đơn kiện Jean-Paul Sartre, sau đó kết cục là chiến dịch lừa lọc do những môn sinh của Jean-Paul Sartre khởi xướng đã bị chấm dứt ngay lập tức.

       Năm 1952, Jean-Paul Sartre đã quyết định cống hiến tích cực cho phong trào vì hoà bình. Có thể những trao đổi về quan điểm trước đây vào mùa đông năm 1949-1950 đã góp phần vào sự tiến bộ của ông ta theo hướng hợp tác với những người cộng sản.

       Với tôi những cuộc đối thoại ấy đã làm dứt điểm được sự đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện sinh, sự đoạn tuyệt được bắt đầu bằng bài báo của tôi được viết vào tháng 9 năm 1948, chống lại lời bình luận của Kojève về vấn đề Hiện tượng học của Tinh thần (Phénoménalogie de l’Esprit) của Hegel.

       Tháng 8 năm 1951 tôi công bố cuốn “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” do Nhà xuất bản Minh Tân phát hành.

       Cuốn sách này đánh dấu sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế tôi mới chỉ đạt tời ngưỡng cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận biết được chân lý của những cơ sở lý luận của học thuyết duy vật biện chứng, nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong những phân tích ở phần 2 cuốn sách của tôi, phương pháp được coi là mác-xít đã lạc vào những điểm nhấn thất thường của hai thứ Hiện tượng học Husserl và Hiện tượng học Hegel.

       Tuy nhiên, ít nhất thì những quan điểm được khẳng định rõ ràng trên bình diện triết học đủ đưa tôi quyết định trở về Việt Nam. Cần phải gắn cuộc sống với triết học, thực hiện bằng một hành động thực tế giải đáp những kết luận về mặt lý luận trong cuốn sách của mình.

       Kể từ sự chấm dứt của tôi với nhóm Tạp chí Les Temps Modernes vào đầu những năm 1950, có những người bạn tuyệt vời đã gợi ý cho tôi một lý lẽ đúng đắn rằng không có một chút hy vọng nào vào một cuộc cách mạng ở Paris. Tôi đã đồng ý, và đã hoàn thành một cách gấp rút cuốn sách đã quảng cáo từ cuối năm 1943, ngày mà tôi đã đăng ký làm luận án Tiến sĩ quốc gia về Hiện tượng học của Husserl. Không bàn đến việc thực hiện luận án này cho Trường Sorbonne nữa, nhnưg bằng mọi giá tôi phải tự giải phóng về phương diện triết học. Cuốn sách đã hoàn thành nhưng vì thiếu thời gian nên chỉ có 368 trang.

       Trước khi rời Paris, tôi đã giao phó lại cho Nguyễn Văn Chỉ, người chịu trách nhiệm liên lạc với Tạp chí Les Temps Modernes, thay tôi tiếp tục theo dõi việc kết thúc vụ kiện Jean-Paul Sartre.

       Cuối năm 1951, trở về Việt Nam, qua Prague, Maxcơva, Bắc Kinh.

       Năm 1952: nghiên cứu tại hai xưởng công nghiệp của Việt Bắc, báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương, điều tra tình hình các trường học ở Việt Bắc, báo cáo với Bộ Giáo dục.

       Mùa xuân năm 1953: Dịch các tác phẩm của đồng chí Trường Chinh, Văn phòng Tổng bí thư.

       Mùa hè năm 1953: Tham gia vào chỉnh huấn, thành viên của Ban Văn, Sử, Địa.

       Mùa thu năm 1953 đến đầu năm 1954: Tham gia cải cách ruộng đất với vai trò là cán bộ cơ sở ở Phú Thọ.             

       Năm 1954: Giảng viên trường đại học Tổng hợp Hà Nội.

       Năm 1954 – 1955: Giảng viên cổ sử học.

       Năm 1955 – 1958: Giáo sư giảng dạy lịch sử triết học.

       Năm 1956 – 1958: Chủ nhiệm khoa Sử.

       Năm 1955 – 1956: Đăng nhiều bài trên Tập san Đại học Sư phạm và trên Tập san Đại học Văn khoa.

       Cuối năm 1956:  Đăng hai bài báo trên Tạp chí Nhân văn và Giai phẩm trong đó tôi đã so sánh nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với nền dân chủ tư sản, chủ nghĩa nhân đạo mác-xít với chủ nghĩa nhân đạo tư sản.

       Năm 1958 – 1961: Nghiên cứu những tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

       Năm 1961 – 1973: Tham gia dịch các tác phẩm của Mác, Ănghen cho Nhà xuất bản Sự thật.

       Năm 1965:  Đăng bài trên Tạp chí La Pensée với bài “Hạt nhân duy lý của phép biện chứng Hegel” (Dịch từ bài báo đăng trên Tập san Đại học Văn khoa, năm 1956).

       1966:  Đăng trên Tạp chí La Pensee bài: “Hành động giải thích chính là hình thức nguyên thuỷ của tính xác thực cảm tính”.

       1969 – 1970: Đăng trên tạp chí La Pensée bài “Từ cử chỉ của ngón tay tới hình tượng điển hình” (gồm 3 phần).

       1973: Công bố cuốn “Khảo cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và nguồn gốc ý thức” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội Paris ấn hành.

       Tháng 1 và tháng 9 năm 1975: Đăng trên Tạp chí La Nouvelle Critique (Bình luận mới) bài: “Từ phép Hiện tượng học đến phép biện chứng duy vật của ý thức” (gồm 2 kỳ).

       Tháng 5 năm 1981: Đăng trên Tạp chí La Pensée bài “Hành động giải thích chính là cấu tạo của tính xác thực cảm tính”.

       Tháng 7 năm 1984: Đăng trên Tạp chí La Pensée bài “Phép biện chứng logic trong sự hình thành của Tư bản”.

       Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua 2 con đường:

       Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội.

       Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học.

       Trong những năm sau chiến tranh, lần đầu tiên khi tôi được làm quen với những chính văn (tác phẩm nguyên bản) của Chủ nghĩa Mác, tôi rất ngạc nhiên bởi những lời nhận xét trong Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” về khả năng chuyển qua giai cấp vô sản của một bộ phận trí thức tư sản, trong thời kỳ khủng hoảng toàn bộ của Chủ nghĩa tư bản qua việc nghiên cứu triết học của tôi từ những vấn đề đơn thuần là trừu tượng đến việc suy xét một cách toàn diện về tính chân thực của vận động của lịch sử, của tự nhiên lý, hoá đối với cuộc sống, với xã hội và ý thức.

       “Vào thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp đi đến lúc quyết định, thì quá trình tan rã bên trong tầng lớp thống trị, bên trong toàn bộ xã hội cũ mang một tính chất mạnh mẽ và triệt để đến mức một bộ phận của tầng lớp thống trị sẽ tự rời bỏ giai cấp mình và liên kết với tầng lớp, với giai cấp cách mạng, tầng lớp nắm giữa tương lai trong tay họ.

      Cũng tương tự như trước đây, một bộ phận quý tộc chuyển qua giai cấp tư sản, ngày nay cũng tương tự như vậy, một bộ phận tư sản sẽ chuyển qua giai cấp vô sản, Đặc biệt hơn, một bộ phận những nhà tư tưởng tư sản với sức cố gắng làm việc của mình, họ có thể vươn lên sự am hiểu về lý luận của toàn bộ quá trình vận động của lịch sử”.


Hà Nội, ngày 01 tháng 02 năm 1984

TĐT
Lấy từ trang viet-studies.info đầy đủ hơn

« Sửa lần cuối: 04/10/2009, 18:53:29 gửi bởi tri.nguyenold »
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #5 vào: 27/10/2009, 18:15:18 »
TÌM CỘI NGUỒN NGÔN NGỮ VÀ Ý THỨC
Nguyên bản tiếng Pháp "Recherches sur L'origine du langage et de la conscience" xuất bản lần đầu tại Paris năm 1973. Bản dịch tiếng Việt của Đoàn Văn Chúc. NXB Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1996. Sách dày 360 trang.

 

Ngủ rồi mic27

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #6 vào: 21/04/2010, 18:06:16 »
Sự hình thành con người, Nxb ĐHQG, HN 2004, 144 tr.

Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa... !
 

Ngủ rồi mic27

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #7 vào: 21/04/2010, 18:49:49 »
Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nxb ĐHQG, HN 2004, 374 tr.

Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa... !
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #8 vào: 06/06/2010, 01:22:39 »
VẤN ĐỀ ĐÔNG DƯƠNG
Xã hội và Văn hóa tùng thư xuất bản năm 1947

 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #9 vào: 25/07/2010, 08:16:13 »
LA PHILOSOPHIE DE STALINE
Xuất bản tại Paris năm 1988



Thủ bút & chữ ký Trần Đức Thảo
 

Ngủ rồi buidung

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #10 vào: 11/11/2010, 14:30:54 »
GIÁO SƯ TRẦN ĐỨC THẢO
TIỂU SỬ TÓM TẮT
(Sinh ngày 26/9/1917 – mất 24/4/1993)
 
HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP HẠNG NHÌ
GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ (Đợt I)
 
TS. Cù Huy Chử

 
I. Quê hương, giòng họ, gia đình  

          Giáo sư Trần Đức Thảo sinh ngày 26-9-1917 tại Thái Bình, nơi khi ấy thân phụ ông làm chủ sự một bưu điện, mất ngày 24-4-1993 tại Paris, thủ đô Cộng hòa Pháp, trong lúc đang công tác nghiên cứu khoa học, do Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN cử.
          Giáo sư Trần Đức Thảo quê ở làng Song Tháp, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Làng Song Tháp nằm giữa cánh đồng lúa mênh mông của huyện Từ Sơn, tiếp giáp với chân núi Sóc Sơn gắn liền với truyền thuyết Thánh Gióng. Đi chếch về phía đông bắc là đồi Lim, di chỉ văn hóa quan họ nổi tiếng, và núi Bựu gắn liền với lịch sử nhà Trần. Tiếp đến là cả vùng đồi núi huyện Tiên Du đẹp như tranh, thủa xưa là vùng trồng đặc sản rau trái cung phụng cho các triều vua. Con sông Ngũ Khê Huyện sau khi chảy qua năm huyện về ôm lấy làng Song Tháp tạo vẻ đẹp nên thơ, hữu tình. Qua con sông ấy để vào làng Song Tháp hiện còn có một cây cầu xi măng do thân phụ Trần Đức Thảo xây hiến tặng cho làng. Song Tháp như là nơi hội tụ âm vang của tiếng hát quan họ Bắc Ninh và màu sắc của hội Lim, hội Gióng, hội Đô.
          Làng Song Tháp sống mãi trong ký ức Trần Đức Thảo đến tận cuối đời. Giáo sư đã từng nói với tôi, trong một chiều Sài Gòn: Ông vẫn nhớ những năm tháng thuở nhỏ theo cha về quê ăn tết. Những mảnh nắng vàng phủ sương bay trên cánh đồng rất đẹp, làng Song Tháp nhỏ bé nhưng đằm thắm tình người và tình họ hàng. Bởi vậy ông đã đưa cụ thân sinh về an nghỉ tại quê nhà. Ông rất ân hận chưa làm được việc đó với thân mẫu. Nguyện vọng của ông là khi trăm tuổi, muốn người cháu duy nhất của ông là bác sỹ Trần Đức Tùng con liệt sỹ Trần Đức Tảo, anh ruột ông, đưa về yên nghỉ ở làng Song Tháp.
          Giáo sư Trần Đức Thảo từ lúc năm tuổi, sau khi từ Thái Bình về, đến lúc đi du học tại Pháp sống ở Hà Nội cùng với cha mẹ. Hà Nội cũng là quê hương của ông. Trần Đức Thảo hiểu rất kỹ về lịch sử văn hóa dân tộc. Ông gần như thuộc lòng từng câu, từng chữ của của Hịch tướng sỹ, Cáo bình Ngô, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm. Trần Đức Thảo nhớ từng chân tơ kẽ tóc các đường phố Hà Nội cổ, những danh lam thắng cảnh gắn liền với truyền thuyết của Thăng Long. Ông nói: “Những giá trị hữu thức ấy cứ chìm lắng xuống tạo thành vô thức làm nên cái-mờ-ảo-người, có sức sống kỳ diệu, định hướng cuộc đời”. Viết đến điều này tôi bỗng nhớ một giáo sư phương Tây khi nghiên cứu về Trần Đức Thảo, đã viết: “Có lẽ người Việt Nam ít ai hiểu được và giải thích được nguyên nhân nào đã làm cho cậu bé nhà quê Trần Đức Thảo đã trở nên một trí thức thiên tài, một nhà bác học nổi tiếng của Việt Nam hậu chế độ thực dân”.
          Nhưng giáo sư Trần Đức Thảo đã nói một cách rõ ràng nhiều lần trong lời tự bạch: “Thấm thía nỗi đau của một dân tộc mất nước, nô lệ, với khát vọng dân chủ nên đã đi đến chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác để sáng tạo lý luận giải phóng dân tộc, giải phóng con người”.
          Giòng họ Trần ở làng Song Tháp là một giòng họ lâu đời, là trực hệ của vua Trần Nghệ Tông. Các đời trước cụ thủy tổ, nhiều người làm quan trong triều đại nhà Trần. Cụ thủy tổ tên là Trần Phúc Hiền, hiệu Thụ Bản, đỗ hương cống (cử nhân) triều nhà Lê,làm quan Thái Bộc Quang Lộc trong triều nhà Hậu Lê, tự Thiếu Khanh. Nhân một lần đi du ngọan về tỉnh Bắc Ninh đã chọn Song Tháp làm nơi xây dựng quê hương bản quán cho hậu thế. Từ đó cho đến thế kỷ 20, trong giòng họ nhiều người vẫn theo đòi nho học, nhiều người làm quan giúp dân trị nước, nhiều người làm thầy thuốc thầy học. Ông nội Trần Đức Thảo là cụ Trần Đức Sán, cũng học chữ nho và làm quan ở bậc hàng tỉnh, tỉnh Bắc Ninh, nhưng về hưu sớm và mất lúc trên 50 tuổi. Thân phụ Trần Đức Thảo là Trần Đức Tiến lúc đầu học chữ nho, nhưng sau khi chữ nho bị bãi bỏ đã chuyển sang học chữ Pháp và quốc ngữ ở một trường thông ngôn. Ông là người học giỏi, nhưng chỉ làm thông ngôn một thời gian ngắn, sau đó làm chủ sự bưu điện ở Đồ Sơn và Thái Bình, sau về Hà Nội. Ông Trần Đức Tiến là một người sống bao dung độ lượng thương người, luôn luôn khuyến khích con cháu học hành. Trần Đức Thảo kể lại hồi ở Hà Nội trong nhà có nhiều anh em họ hàng được cụ thân sinh nuôi ăn học. Bà Nguyễn Thị An, mẹ Trần Đức Thảo cũng là con nhà danh giá, nề nếp. Hồi nhỏ Trần Đức Thảo vẫn thường được nghe mẹ hát vè Hà Nội thất thủ và đọc thơ của Ngọc Hân Công Chúa. Bà có sự kết hợp đức tính đôn hậu và nghiêm khắc trong dạy dỗ con cháu. Rất tự hào về dòng họ nhà chồng, nhất là trí tuệ thông minh, bà luôn khát vọng con cái có người nối dõi tông đường.
          Ông bà Trần Đức Tiến có hai người con: Trần Đức Tảo và Trần Đức Thảo. Trần Đức Tảo đỗ cử nhân luật có làm công chức cho chế độ thực dân Pháp, là con rể của tổng đốc Dương Thiệu Tường, một trong những tiến sỹ cuối cùng của triều Nguyễn. Cách mạng Tháng Tám thành công, Trần Đức Tảo nhiệt tình tham gia hoạt động, trở thành cán bộ của Bộ Ngoại giao, đã hy sinh tại Thái Nguyên năm 1947, là liệt sỹ. Trần Đức Tảo có một người con trai duy nhất là bác sỹ Trần Đức Tùng sinh  năm 1947, hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Sau 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo kết hôn với Tiến sỹ Nguyễn Thị Nhứt, đến ngày 5 tháng 1 năm 1967, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhứt hai ông bà đã thuận tình ly hôn. Từ đó đến lúc mất giáo sư Trần Đức Thảo sống độc thân. Hiểu được nỗi lòng cha mẹ và vì hoàn cảnh của mình, Trần Đức Thảo rất yêu thương và trân trọng bác sỹ Trần Đức Tùng. Lần đầu tiên hai chú cháu gặp nhau tại TP Hồ Chí Minh, Trần Đức Thảo trao lại toàn bộ kỷ vật của cụ Trần Đức Tiến cho bác sỹ Trần Đức Tùng, trong sự xúc động, ông nói: “Đây là những gì ông bà nội con còn lại, chú trao lại cho con. Con hãy giữ lấy và truyền lại cho các con con. Ông bà nội đặt tất cả hy vọng vào con”.
 
II.  Cuộc đời và tác phẩm
 
          Từ nhỏ đến lúc đi du học, Trần Đức Thảo ở với cha mẹ ở Hà Nội. Lúc đầu ở tại nhà số 8 Hàng Ngang, sau dời về nhà số 6 Hàng Trống.
1923-1935: học ở trường tiểu học và trung học Pháp tại Hà Nội.
1935-1936: Sau khi đậu đầu tú tài toán và triết, học năm đầu đại học luật tại Hà Nội.
1936: Đến Paris học dự bị để thi vào trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm ( Trường Cao đẳng Sư phạm này là trường đại học danh giá nhất nước Pháp và của Âu Mỹ thời bấy giờ cũng như hiện nay ).
1936-1939: Học lớp  sinh viên ưu tú để thi vào trường đại học lớn nhất của Pháp (Học xong lớp này số thi đỗ vào các trường đại học lớn rất ít, nhưng số trượt thì cũng được vào thẳng năm thứ hai các trường đại học khác). Trần Đức Thảo đã đỗ vào trường đại học lớn là Trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm.
          1939-1941: Học Cao đẳng Sư phạm phố Ulm, đã đỗ thêm một bằng đại học triết học vì quy định bắt buộc để lấy bằng Cao đẳng Sư phạm phố Ulm thì phải có thêm một bằng đại học nữa.
          Hè 1940 trú ở Bagnéres-de-Bigorre, vì chiến tranh.
          Tháng 10/1940 – 3/1941: trú tại khoa văn chương Đại học Clermond-Ferrand. Chính tại đây Trần Đức Thảo đã gặp giáo sư Jean Cavaillès, người đã hướng dẫn Trần Đức Thảo nghiên cứu các tác phẩm triết của nhà triết học Hiện tượng vĩ đại Husserl, và về sau này giáo sư Jean Cavaillès cũng là người hướng dẫn Trần Đức Thảo làm luận án thạc sĩ về Hiện tượng học Husserl.
          Tháng 3/1941-9/1944: Nội trú tại trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm
          1942-1943: Nhận văn bằng đặc biệt của ngành giáo dục về triết học, một loại văn bằng rất khó, đòi hỏi thi hết sức nghiêm ngặt về kiến thức khoa học.
          1943: Thủ khoa thạc sĩ triết học tại Trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm. Từ khi thành lập trường này, đến những năm 50 của thế kỷ 20, Trần Đức Thảo là người ngoại quốc duy nhất của nước Pháp thi được vào trường và được cấp bằng Thạc sĩ .
          1943-1944: Nghiên cứu ở trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm để làm luận án tiến sĩ quốc gia về Hiện tượng luận của Husserl.
          Đầu năm 1944 đi Bỉ để nghiên cứu trực tiếp các tác phẩm của Husserl tại thư viên do chính vợ của Husserl lưu giữ. Chính tai đây Trần Đức Thảo đã hiểu thấu đáo tư tưởng triết học của hai nhà triết học vĩ đại: Hegel và Husserl. Đây cũng là cơ sở khoa học để sau này Trần Đức Thảo nắm được tinh thần căn bản của chủ nghĩa Mác, sang tạo và chính xác hóa chủ nghĩa Mác.
          Tháng 10/1944: Tùy viên nghiên cứu tại Trung Tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS).
          Tháng 12/1944: Từ một trí sĩ yêu nước, Trần Đức Thảo bắt đầu hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đông Dương ở Avignon, Trần Đức Thảo đã giới thiệu một chương trình xây dựng nền dân chủ ở Đông Dương. Tại đây ông đã tiếp xúc với các nghị sĩ Đảng Cộng sản Pháp, phụ trách nghiên cứu các vấn đề chính trị.
Đầu 1945 Nhân danh tổng phái đoàn của Người Đông Dương, Trần Đức Thảo cùng kỹ sư Lê Viết Hường đã gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez. Đảng Cộng sản Pháp đã hứa ủng hộ và giúp đỡ cho phong trào yêu nước ở Đông Dương. Lời hứa này đã hoàn toàn được giữ.
          Tháng 9/1945: Trần Đức Thảo viết truyền đơn và họp báo ủng hộ Việt Minh và Chính Phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên tờ báo Le Monde, khi một nhà báo hỏi: “Người Đông Dương sẽ làm gì khi quân đội viễn chinh của Pháp tới?” Trần Đức Thảo đã trả lời: “Phải nổ súng”. Vì thế tháng chạp 1945 Trần Đức Thảo bị chính phủ Pháp bỏ tù.
          Tháng 2/1946: Do có sự đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, của các trí thức Pháp và của Việt kiều, nhà cầm quyền Pháp đã phải thả Trần Đức Thảo ra khỏi nhà tù.
          Tháng 2/1946: Từ trong xà lim nhà tù Trần Đức Thảo đã viết bài báo nổi tiếng: Sur l’Indochine (Về Đông Dương) phản đối thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương, khẳng định quyết tâm giành độc lập của nhân dân các nước Đông Dương (đăng trên báo Les Temps Modernes số 5 tháng 5/1946).
          Cũng trong thời gian ở tù, do chiêm nghiệm và ý thức về sự đối nghịch sâu sắc giữa dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa tư bản đế quốc, Trần Đức Thảo đã hướng tới con đường chủ nghĩa Mác-Lênin, định hướng ấy sau này thành tác phẩm Phénoménologie et Matérialisme Dialectique (Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng -1951). Đây là tác phẩm được các nhà triết học Pháp và thế giới đánh giá rất cao, được dịch ra nhiều thứ tiếng.
          1946: Đón và tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp nhiều lần, xin Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước để tham gia kháng chiến nhưng được Người khuyên ở lại Pháp tiếp tục học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, tranh thủ sự ủng hộ của các trí thức Pháp, nhất là các tri thức trong Đảng Cộng sản Pháp.
          1946-1947: Đã viết và đăng nhiều bài ủng hộ Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, chống các lực lượng phản cách mạng, chống bọn thực dân quay trở lại xâm lược Đông Dương.
          1947-1948: Hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường Cao đẳng sư phạm phố Ulm về Huserl, Kant và Hegel.
          Tháng 9/1948: Đăng bài báo nổi tiếng La Phénoménologie de l’Esprit et Son Contenu Réel (Nội dung và thực chất của hiện tượng luận tinh thần  - Tạp chí Les Temps Modernes số 36 ). Bài báo này nêu lên những quan điểm khác hoàn toàn với Kojève về Hiện tượng luận tinh thần của Hegel. Tác phẩm này cũng đã được giới triết học thế giới đánh giá rất cao. Với tác phẩm này, Trần Đức Thảo được giới triết học coi là nhà triết học hiểu thấu đáo, và hiểu đúng về Hegel, tạo lập một trường phái mới về Hegel học.
          Cuối 1949-đầu 1950: Trần Đức Thảo đã có cuộc tranh luận nổi tiếng với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Hiện sinh. Quan điểm của Sartre là chỉ công nhận chủ nghĩa Mác về chính trị và lịch sử. Ông không coi trọng triết học mac-xit. Ông coi chủ nghĩa hiện sinh có giá trị triết học hơn. Trần Đức Thảo có quan điểm ngược lại, khẳng định chủ nghĩa Mác có giá trị toàn diện, cả triết học, cả lịch sử-xã hội. Cuộc tranh luận không đi đến kết thúc vì Sartre chưa đọc hết tác phẩm của Huserl và Marx. Cuộc tranh luận ấy đã đưa Trần Đức Thảo đến sự đoạn tuyệt chủ nghĩa Hiện sinh.
          Ngày 4-1-1949: Trần Đức Thảo được chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử làm thành viên Hội đồng giáo dục quốc gia. Khi đó Trần Đức Thảo đang còn ở Pháp.
          1951: Xuất bản cuốn Phénoménologie et Matérialisme Dialectique (Hiện tượng học  và Chủ nghĩa duy vật biện chứng ) tại nhà xuất bản Minh Tân (ở Paris). Cuốn sách này mãi đến năm 1951 mới xuất bản, chậm vì lí do kỹ thuật. Tác phẩm khẳng định Trần Đức Thảo đứng hẳn về chủ nghĩa Mác. Như ông đã từng nói: “Về nguyên tắc tôi khẳng định đã đứng hẳn về phía chủ nghĩa Mác. Từ đó tôi quyết định trở về Việt Nam. Cần phải làm cho cuộc đời ăn nhập với triết học, thực hiện một hành động thực tế là điều đáp trả những kết luận lý thuyết của cuốn sách của tôi”. Cũng chính từ nhận thức trên đây mà Trần Đức Thảo từ bỏ bảo vệ luận án tiến sĩ về Husserl tại Trường đại học Sorbonne.
          Cuối 1951-đầu 1952: Trở về Việt Nam tham gia kháng chiến, qua Praha, Matxcova, Bắc Kinh.
          1952: Nghiên cứu thực tế và báo cáo cho Trung ương Đảng về hoạt động sản xuất của các xí nghiệp tại Việt Bắc, báo cáo cho Trung ương Đảng về thực trạng các trường học tại Việt Nam.
          1953: Làm việc tại  văn phòng đồng chí Trường Chinh. Là thư ký của Tổng bí thư và phiên dịch các tác phẩm của đồng chí Trường Chinh.
          Được cử làm thành viên của Ban Văn-Sử-Địa ( tiền thân của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng và Ủy ban Khoa học xã hội sau này).
          Tham gia cải cách ruộng đất ở Phú Thọ.
          1954: Viết 9 bài báo về lịch sử và văn học Việt Nam đăng trên tạp chí Văn-Sử-Địa.
          Ngày 27-11-1954 và 1-12-1954, 8-12-1954 dự Hội nghị bàn về Vấn đề Đại học, Giáo sư Trần Đức Thảo nêu quan điểm: Phải cân bằng và chủ động cả hai mặt, giáo dục chuyên nghiệp và nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng đào tạo đại học, để đảm bảo uy tín của Việt Nam với thế giới, nhất là khoa học xã hội, để tiếp cận với thành tựu khoa học hiện đại của thế giới. Giáo sư Trần Đức Thảo cũng nhấn mạnh vị trí, vai trò của Trường đại học Văn Khoa, bao gồm cả đào tạo các nhà khoa học Xã hội và Nhân văn, về lịch sử, triết học, báo chí văn hóa, nghệ thuật, ngoại giao để khẳng định vị trí và uy tín khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế (1)
          1954-1956: Giáo sư Đại học Hà Nội,là Phó giám đốc và Trưởng khoa Lịch sử. Giảng dạy lịch sử và triết học.
          Đăng nhiều bài báo nổi tiếng trên Tập san Đại học Sư phạm, Tập san Đại học Văn khoa như: Nguồn gốc ý thức trong sự tiến hóa của hệ thần kinh, Hạt nhân duy lý của biện chứng Hegel.
          1958-1961: Tiếp tục nghiên cứu trực tiếp văn bản gốc của chủ nghĩa Mac-Lênin (tiếng Đức và tiếng Nga).
          1961-1973: Giáo sư – Chuyên viên cao cấp của Nhà xuất bản Sự thật. Dịch các tác phẩm của Mac-Ănghen ( những tác phẩm dịch này Nhà xuất bản Sự thật không công bố tên dịch giả), dịch tác phẩm Perspectives de l’homme (Viễn cảnh của con người) của Roger Garaudy, tác phẩm Xã hội mở và những kẻ thù của nó của Karl Popper (Những tác phẩm này chưa công bố).
          1965: Đăng trên tạp chí La Pensée các tác phẩm Le “noyau rationnel” dans la dialectique hégélienne (Hạt nhân duy lý của biện chứng Hegel) - La Pensée số 119 .
          1969-1970: Đăng trên tạp chí La Pensée tác phẩm Du geste de l’index à l’image (Từ cử chỉ chỉ trỏ đến hình ảnh điển hình) -  La Pensée số 147,148,149.
  Với sự công bố của các tác phẩm trên đây, Trần Đức Thảo lại được các nhà triết học trên thế giới đánh giá rất cao, coi ông thực sự là nhà triết học mac-xít nổi tiếng của thế giới (Từ điển các nhà triết học của Pháp và bình luận của nhiều tạp chí lý luận trên thế giới).
          1973: Xuất bản tác phẩm: Recherches sur l’origine du langage et de la conscience (Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức) - NXB Xã Hội, Paris . Đây là tác phẩm về sau được phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học-Công nghệ đợt 1.
          1975: Đăng trên tạp chí La Nouvelle Critique tác phẩm De la phénoménologie à la dialectique matérialiste de la conscience (Từ hiện tượng luận đến biện chứng duy vật của ý thức) - La Nouvelle Critique số 8.
          1977-1988: Xuất bản tác phẩm: La Philosophie de Staline (Triết học của Staline) -- Nhà xuất bản May-Paris-1988.
          1983-1984: Đăng trên tạp chí La Pensée số 231 tác phẩm: Le mouvement de l’indication comme constitution de la certitude sensible (Động tác chỉ trỏ như là hình thức gốc của xác thực cảm quan).
          1984: Đăng trên tạp chí La Pensée số 240 tác phẩm: La dialectique logique dans la genèse du “Capital” (Phép biện chứng logic phát sinh“Tư bản”).
          1985-1993: Hàng loạt tác phẩm bằng tiếng Pháp và tiếng Đức của Giáo sư Trần Đức Thảo chưa công bố như:
La crise du mode de production esclavagiste dans L’Empire Romain(Sự khủng hoảng trong phương thức sản xuất sản sinh ra chế độ nô lệ tại Đế chế La Mã)
La dialectique générale des forces productives dans le passage d’une formation sociale à une autre plus élevée (Biện chứng học tổng quát về những động lực thúc đẩy phát triển trên con đường hình thành xã hội đến những đỉnh cao mới).
La loi des forces productives dans le passage d’une formation sociale à une autre plus élevée (Quy luật thúc đẩy có hiệu quả trên con đường hình thành xã hội sang bước nâng cao mới).
Introduction à la genèse de l’Homme (Giới thiệu nguồn gốc gien của loài người).
La naissance du premier homme (Nguồn gốc của loài người nguyên thủy).
La naissance du langage (Sự ra đời của ngôn ngữ).
Le concept de l’Homme (Khái niêm về loài người)
La naissance de la production, du langage, de la conscience et de la propriété(Sự hình thành sản xuất ngôn ngữ ý thức và sở hữu).
Introduction à l’origine de la société, du langage et de la conscience(Giới thiệu về nguồn gốc xã hội ngôn ngữ  và ý thức).
La formation de l’Homme(Nguồn gốc của loài người).
La dialectique de l’aliénation et le développement humain (Biện chứng của sự tha hóa và sự phát triển của con người).
La double signification du mouvement révolutionaire (Ý nghĩa kép của phong trào cách mạng).
Le concept de la nature humaine dans les textes classifies du  marxisme-léninisme(Bản năng loài người trong những văn bản phân loại của chủ nghĩa Mác-Lênin).
La Méthode de Pensée de Staline (Phương pháp tư tưởng của Staline).
Die Bewegung des Zeigens als Konstitution der sinnilichen GewiBheit (Động tác chỉ trỏ - hình thức của cảm quan xác thực).
          ■ Những tác phẩm cuối đời ( tháng 3-1991 đến tháng 4-1993):
 
          Đây là những tác phẩm viết trong thời gian Giáo sư Trần Đức Thảo được Ban bí thư Trung ương Đảng cử đi công tác tại Cộng hòa Pháp.
 
          La formation de l’Homme  ( Sự hình thành con người)       
La formation de l’Homme. Introduction à l’origine de la société, du langage et de la conscience (Sự hình thành con người – Giới thiệu về sự xuất phát của xã hội, ngôn ngữ và ý thức).       
          La Formation de l’Homme. Appendix. La liaison du biologique, du social et du psychique. Introduction au problème de l’Homme ( Sự hình thành con người.Phụ lục. Mối liên hệ giữa  sinh học, xã hội và tâm thần. Giới thiệu về vấn đề con người )
          Recherches Dialectiques (I) – Un Itinéraire ( Những nghiên cứu về biện chứng học (I) – Một hành trình)
          Recherches Dialectiques (II) – Le Problème de l’Homme (Những nghiên cứu về biện chứng học (II)  - Vấn đề con người )
          Recherches dialectiques (III) - La liaison du biologique, du social et du psychique. (Những nghiên cứu về biện chứng học (III) - Mối liên hệ giữa sinh học, xã hội và tâm thần)
          “Le noyau rationnel” de la Logique hégélienne (“Hạt nhân hợp lý” trong phép Logic của Hégel)
          La double Phénoménologie hégélienne et husserlienne (Hiện tượng học kép của Hégel và Husserl)
Nouveau Projet pour la Préface à la seconde édition de “Phénoménologie et Matérialisme dialectique” (Đề án mới để chuẩn bị cho lần xuất bản thứ hai cuốn sách “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” )
La méthode phénoménologique et son contenu effectivement réel ( Phương pháp hiện tượng học và nội dung hiệu quả thực tế của nó )
Introduction a la dialectique de la societe antique (Giới thiệu về biện chứng của xã hội cổ đại )
La logique du présent vivant (Logic của cái  hiện tại sống động):
I. Pour une logique formelle et dialectique (Về một logic hình thức và biện chứng)
II. La logique comme forme générale de la temporalisation (Logic như là  hình  thức tổng quát của vận động thời gian)
III. La théorie du présent vivant comme théorie de  l’individualité (Lý thuyết của cái hiện tại sống động như là lý thuyết về cái cá thể hóa )
IV. La théorie du présent Vivant comme théorie de l’Associativité  ( Lý thuyết về cái hiện tại sống động như là lý thuyết về sự kết hợp )
          Những tác phẩm này là những phát hiện, những sáng tạo lớn của Giáo sư Trần Đức Thảo góp phần phát triển và chính xác hóa chủ nghĩa Mác-Lênin (2).
 
          ■  Các  phẩm tiếng Việt đã công bố:
 
          1950: Triết lý đã đi đến đâu ( xuất bản tại Pháp).
          1954-1990: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong sự khủng hoảng của xã hội phong kiến Việt Nam (Tập san nghiên cứu Văn-Sử-Địa số 1).
          Tìm hiểu giá trị văn chương cũ (Tập san nghiên cứu Văn-Sử-Địa số 3).
          Bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và xã hội phong kiến Việt Nam ( Tập san nghiên cứu Văn-Sử-Địa số 5).
          Nguồn gốc ý thức trong sự tiến hóa của hệ thần kinh (Tập san Đại học sư phạm số 1,2-1955).
          Nội dung xã hội truyện kiều (Tập san Đai học Sư phạm số 1,2-1956).
          Hạt nhân duy lý trong triết học Hegel (Tập san Đại học Sư phạm Văn khoa số 6,7-1956).
          15-10-1956: Nỗ lực phát triển tự do dân chủ ( Báo Nhân văn, số 3 ra ngày 15/10/1956)
          12-1956: Nội dung xã hội và hình thức tự do ( Tạp chí Giai phẩm Mùa Đông, tháng 12/1956 )
          25,26,27-5-1958: “Ông Trần Đức Thảo tự kiểm thảo” (Đầu đề do báo Nhân Dân đặt ). Báo Nhân Dân số 25/5/1958, 26/5/1958,27/5/1958)
          GS.Trần Đức Thảo đã viết bài cho báo Nhân Văn và tạp chí Giai Phẩm Mùa Đông. Là nhà triết học mác-xit, GS. Trần Đức Thảo ý thức đầy đủ về việc viết các bài báo ấy. Dưới giác độ triết học, Trần Đức Thảo đã phân tích vấn đề đó trong báo cáo gửi Trung ương ngày 20/1/1989, có tựa đề “ Về vấn đề Nhân Văn”(3). Ông viết như sau:
“Nguyên nhân sinh ra báo Nhân văn trước hết là những sai lầm trong Cải cách ruộng đất và đặc biệt là trong Chỉnh đốn tổ chức. Cải cách ruộng đất chính sách là đúng nhưng cán bộ làm sai. Nhưng Chỉnh đốn tổ chức thì sai hoàn toàn vì không có chính sách gì hết. Ở đâu tiến hành Chỉnh đốn tổ chức thì ở đó cơ sở Đảng vỡ tan: một tai họa hoàn toàn vô lý, trái ngược, không thể nào bào chữa. Nói rằng Chỉnh đốn tổ chức là không có chính sách, thì điều ấy có nghĩa rằng Chỉnh đốn tổ chức không xuất phát từ ban lãnh đạo Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh và các vị lãnh đạo khác của Đảng ta không thể nào quan niệm rằng cán bộ phải xuất phát từ thành phần trong sạch.
Chỉnh đốn tổ chức là xuất phát từ quan điểm siêu hình của Staline-Mao Trạch Đông, và đặc biệt là tư tưởng duy tâm của Mao Trạch Đông chống chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua đoàn cố vấn Trung Quốc…”
“Đặc điểm của quan điểm Staline-Mao Trạch Đông là tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, biến thành độc tôn giai cấp, xóa bỏ thực chất của những quan hệ con người với tư cách là con người, tức là những liên hệ xã hội cộng đồng (liên đới, tương trợ, bình đẳng) và những liên hệ nhân cách. Những quan hệ con người như thế thực chất là sinh ra từ thời cộng sản nguyên thủy và tái lập trong mỗi trẻ em do những quy luật tất yếu của sự giáo dục nhi đồng. Sau đấy, thì con người đi vào xã hội giai cấp. Quan hệ giai cấp như thế là áp đặt vào quan hệ con người. Do những quan hệ giai cấp bao trùm nên những quan hệ con người ít hay nhiều cũng bị tha hóa bằng cách này hay cách khác. Nhưng dưới sự tha hóa thì những quan hệ con người với tư cách con người vẫn duy trì ở bề sâu. Và chúng biểu hiện ít hay nhiều trên những hiện tượng bề mặt bằng những khía cạnh không có tính giai cấp của những hiện tượng này”.
“Thực chất của tư tưởng siêu hình chiết trung của Staline- Mao Trạch Đông, tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, biến thành độc tôn giai cấp là quy kết, thu rút tất cả mọi sự vào tính giai cấp, kể cả những khía cạnh không có tính giai cấp, xuất phát từ di sản của những quan hệ cộng đồng. Do đấy mà họ tạo nên một thứ hình ảnh tính giai cấp tùy tiện , tách rời sự vận động chung , tức là áp đặt bất kỳ thế nào vào bất kỳ ai. Một người hôm trước là nông dân, hôm sau bị quy thành địa chủ hoặc thành phần bóc lột khác. Đảng viên cốt cán thành Việt gian phản động”.
“Quan điểm siêu hình Staline-Mao Trạch Đông và tư tưởng duy tâm của Mao Trạch Đông, mạo danh biện chứng duy vật , gọi là “macxit” đã tạo nên một khái niệm “giai cấp” thổi phồng, tuyệt đối hóa tức là một thứ danh từ vạn năng , mơ hồ, gạt bỏ di sản của những quan hệ xã hội cộng sản nguyên thủy, tức là gạt bỏ thực chất của những quan hệ tiền giai cấp ( Gia đình, hàng xóm láng giềng, đồng bào, nhân cách , tư tưởng ở bề sâu…) do xóa bỏ thực chất ấy nên nó đã đưa đến chỉnh đốn tổ chức năm 1955, tức là hoàn toàn xuất phát từ ảnh hưởng mê hoặc của đoàn cố vấn maoit Trung Quốc…”
“Năm 1956 , tôi chưa hiểu vấn đề diệt chủng. Nhưng đứng trước sự tan vỡ của cơ sở Đảng trong chỉnh đốn tổ chức …qua các cấp lên đến Trung ương, tôi đã rùng mình khiếp sợ vì thấy cái lý luận độc tôn “ Thành phần giai cấp trong sạch” như một bài thần chú trong một thứ phép phù thủy làm cho chính cán bộ ta lại phá vỡ tổ chức Đảng và chính phủ, thực chất là phế Đảng ta.
“Kết quả là “ chính mình làm hại mình, như anh Trường Chinh đã báo cáo công khai ở Mặt trận: “Giống như bàn tay phải chặt bàn tay trái”.
... “ Tôi có cảm tưởng như đại hội XX của Đảng Cộng Sản Liên Xô đánh đổ sùng bái cá nhân Staline đã mở đường cho cán bộ ta phát hiện sai lầm …”
“ Với mức nhận thức hạn chế, năm 1956, tôi cũng đã thấy vai trò của Đại hội XX kịp thời hãm lại phong trào “Bàn tay phải chặt bàn tay trái” trong chỉnh đốn tổ chức của ta. Ngày ấy tôi đã viết một bài kêu gọi phát triển tự do dân chủ in trên báo Nhân Văn, cho rằng nếu có xảy ra lệch lạc sai lầm gì thì trong lời ăn tiếng nói điều ấy cũng không thấm vào đâu so với con đường “Tay phải chặt tay trái”. ..Dĩ nhiên đấy là suy nghĩ hời hợt, chưa thấy vấn đề cơ bản. Vấn đề cơ bản là ở chỗ quan điểm siêu hình của Staline-Mao Trạch Đông, và chủ nghĩa duy tâm của Mao, đã bóp méo , xuyên tạc chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà thực chất là chủ nghĩa nhân bản chân chính của các nhà kinh điển Mác-Lênin”.
Về 3 bài báo tự kiểm thảo trên báo Nhân Dân, Giáo sư Trần Đức Thảo viết: “Báo Nhân Văn, đã giải tán từ cuối năm 1956, thì đến sau tết năm 1958 tôi bị đưa ra kiểm thảo trong một bầu không khí “ai thắng ai” . Ba ngày liền tôi bị đả kích liên tục bằng những chuyện bịa đặt. Tôi không biết nói ra sao, vì trong tình cảnh tố đấu theo kiểu ai được ai thua, tức là “đấu lực”, thì không thể nhắc đến thực chất của vấn đề, là những gì đã xảy ra trong chỉnh đốn tổ chức, do sự thống trị thực tế của tư tưởng Mao Trạch Đông…vì không có cách gì nói thẳng, nên tôi đã phải nói chệch ra rằng tôi đã có tư tưởng “sợ cộng sản” . Cụ thể là tôi đã khiếp sợ trước những cuộc khủng bố hàng loạt của Staline…của việc vận dụng tư tưởng Mao Trạch Đông để ám thị cán bộ ta đàn áp tràn lan trong nội bộ và nhân dân ta. Và tất cả dưới lá cờ gọi là cộng sản. 
Tôi cũng nói rằng tôi mới tiếp thu chủ nghĩa cộng sản về mặt “lý tính”, chưa tiếp thu về mặt “cảm tính”. Quả thật là từ đoạn cuối cùng của thời gian tôi còn ở bên Pháp, tôi đã hoàn toàn tin tưởng ở chủ nghĩa Mac- Lê-nin, vì lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã giải phóng tôi khỏi những bế tắc của triết lý hiện tượng học của Husserl và Hêghen. Nhưng đấy mới là “lý tính” . Còn đi vào cụ thể thực tế đời sống, thì lại thấy những loạt khủng bố có hệ thống triền miên của ông Staline, tái diễn trong cải cách ruộng đất, cải cách dân chủ, chỉnh đốn tổ chức của ta. Mà trong cuộc kiểm thảo, tố đấu năm 1958, thì khái niệm cộng sản hay chủ nghĩa xã hội được hiểu là bao hàm tất yếu những cuộc khủng bố tràn lan của Staline-Mao Trạch Đông…nhưng vì tôi vẫn còn nhớ những văn kiện kinh điển của Mac, Anghen và Lê-nin và cảm-thấy rằng trong ấy không bao giờ dự kiến những cuộc khủng bố của Staline, Mao trạch Đông, nên tôi cũng không tiếp thu về mặt “cảm tính”.
Vì ba ngày khủng bố tinh thần không ngớt cũng đã làm cho tôi tiêm nhiễm khá sâu sắc cái phép siêu hình máy móc, chiết trung duy tâm tuyệt đối hóa khái niệm giai cấp, phủ định, xóa bỏ con người có thật, là con người nói riêng gắn liền, thống nhất biện chứng với con người nói chung, nên tôi đã cho rằng nhà trường mà tôi đã học ở bên Pháp là “nhà trường đế quốc”. Thậm chí vì đã lĩnh học bổng nên tôi đã quy rằng như thế là “con nuôi nhà trường đế quốc”!
 Trên thực tế thì ở bề mặt và hàng trên, thì nhà trường Pháp là nhà trường tư sản và tiểu tư sản dưới sự thống trị của nhà nước đế quốc. Nhưng về bề sâu và ở hàng dưới thì nội dung văn hóa giáo dục thực sự là truyền thống dân chủ, nhân bản cổ điển (humanisme classique ). Mà vì là dân một nước thuộc địa, nên tôi chỉ tiếp thu cái nội dung dân chủ nhân bản cổ điển. Cái gì không thuộc truyền thống dân chủ nhân bản cổ điển, thì tôi không tiếp thu.
 Truyền thống dân chủ nhân bản cổ điển là di sản của công trình lao động và đấu tranh tiến bộ và cách mạng của quần chúng nhân dân, trong ấy có những nhân sĩ tiến bộ và thân sĩ yêu nước ở mỗi thời đại. Đến thời sau thì những giá trị cách mạng và tiến bộ của thời trước lắng đọng lại thành nội dung văn hóa truyền thống của xã hội, đúc kết lại thành cái vốn văn hóa chung của loài người, cái vốn giá trị của con người nói chung: thiện lý, chân lý, thẩm mỹ.
 Cái truyền thống nhân bản cổ điển thể hiện trong những quan hệ con người (gia đình , đồng bào, hữu nghị giữa các dân tộc, nhân cách ). Cái hệ  thống giá trị nhân bản quy định cái bản chất hàng hai của con người trong xã hội giai cấp, ở dưới cái bản chất hàng một, là cái hệ thống giá trị giai cấp. Cái bản chất hàng hai duy trì ở chiều sâu. Và nó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của con người trong lịch sử loài người”
 Sau khi đọc kỹ “Báo cáo về vấn đề Nhân Văn”, tôi nhiều lần đề nghị GS. Trần Đức Thảo nói rõ hơn về sự thống nhất “lý tính” với “cảm tính” trong nhận thức về chủ nghĩa duy vật biện chứng - lịch sử. Giáo sư đã nói như sau: “Đây là một vấn đề phức tạp, nhưng  khía cạnh sau đây là đáng lưu ý nhất: Phải công nhận có con người nói chung. Tức là khẳng định sự gắn liền, thống nhất biện chứng giữa con người nói riêng với con người nói chung, khẳng định sự thống nhất biện chứng của lịch sử giống người, khẳng định tình hữu nghị giữa các dân tộc chính là sự biểu hiện của sự thống nhất biện chứng ấy. Nói như vậy cũng tức là khẳng định giá trị của con người , của loài người. Ở đây giá trị của mỗi cá thể cá nhân và giá trị cộng đồng dân tộc, nhân loại chỉ có thể phát triển trong mối quan hệ biện chứng, theo xu hướng thống nhất quá khứ-hiện tại-tương lai. Như thế thì mới thống nhất cảm tính và lý tính trong nhận thức và hoạt động thực tiến theo xu hướng tiến bộ. GS Trần Đức Thảo nói thêm: Trong bối cảnh những năm 40 của thế kỷ 20, ông đã đi từ hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng bởi nhận thức rằng đó là con đường duy nhất đúng để giải phóng dân tộc thoát khỏi chế độ thực dân. Nhưng có độc lập dân tộc rồi thì phải phát triển dân chủ, tự do để giải phóng con người.Đây là vấn đề mà người trí thức rất quan tâm”
“Nhưng không thể, không chỉ dừng lại ở sự phê phán tư tưởng siêu hình, duy tâm của Staline-Mao Trạch Đông. Vấn đề là phải chứng minh, luận chứng một cách khoa học, con người nói chung tồn tại, thống nhất biện chứng trong con người cá thể-cá nhân-nhân cách trong mối liên hệ cộng đồng dân tộc, nhân loại trong tiến trình lịch sử. Đó cũng là sự thống nhất biện chứng của sinh học-xã hội-tâm thần, thể hiện sống động trong nguồn gốc của con người, trong sự phát triển của lịch sử giống người, trong nguồn gốc xuất hiện của ngôn ngữ và ý thức. Tất cả nhằm khẳng định quyền con người, quyền tồn tại của cá thể-cá nhân-nhân cách. Như thế cũng là khẳng định giá trị tự do trong tất yếu. Cần thống nhất logic hình thức và biện chứng, để nắm bắt logic như là hình thức tổng quát của vận động thời gian, xây dựng lý thuyết của cái hiện tại sống động như là lý thuyết về cái cá thể hóa và lý thuyết về sự kết hợp”(4)
Toàn bộ tư tưởng triết học trên đây, GS. Trần Đức Thảo đã kiên trì, cần mẫn sáng tạo cho đến tận cuối đời, với tất cả nghị lực phi thường để bất chấp và vượt qua mọi trở lực nhằm sáng tạo và chính xác hóa chủ nghĩa Mac, xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản.
Cuối năm 1958, Giáo sư Trần Đức Thảo đề nghị Bộ Giáo dục và Ban tổ chức Trung ương bố trí cho ông đi thực tế ở một cơ sở sản xuất ở Sơn Tây. Nhưng mới đi được mấy tháng thì xảy sự việc: Trong lúc vừa thổi cơm vừa đọc sách, do quên đổ nước vào nồi, nên lửa bốc cháy, đèn dầu hỏa làm bếp thổi cơm bị đổ làm cháy cả lán ở. Sau sự việc đó, Thiếu tướng Hoàng Hữu Kháng, Cục trưởng Cục bảo vệ Trung ương Đảng đã đưa xe hơi đón ông về lại Hà Nội, theo chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng Lê Đức Thọ. Sau này tôi có hỏi Giáo sư Trần Đức Thảo vì sao Giáo sư lại đề nghị đi lao động thực tế. Giáo sư đã trả lời tôi: “Lúc đó, tôi muốn được thanh thoát về mặt tư tưởng. Hơn nữa trong bối cảnh ấy, thì đó là giải pháp tốt nhất. Huy Cận chẳng đi vùng mỏ, Xuân Diệu chẳng đi Thanh Hóa là gì!”.
Qua ý kiến trên đây, chúng ta thấy trong bối cảnh tố đấu năm 1958, GS. Trần Đức Thảo vẫn rất trung thực và có bản lĩnh khi trình bày những ý kiến của mình trong bản “tự kiểm thảo”…Trong bối cảnh hiện nay, nếu chúng ta đọc lại hai bài báo của GS. Trần Đức Thảo đăng trên báo Nhân Văn và Giai Phẩm Mùa Đông, ta thấy tư tưởng của những bài báo ấy là trong sáng, mang tính xây dựng. Chính với sự trung thực và bản lĩnh khoa học đó mà ở giai đoạn sau Trần Đức Thảo đã có những cống hiến, sáng tạo lớn về triết học được cả thế giới công nhận.
Chung quanh vụ Nhân văn-Giai phẩm, Trần Đức Thảo hiểu được một số nhà lãnh đạo như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh , Lê Đức Thọ, Hà Huy Giáp… đã trân trọng tài năng của ông. Chính giữa lúc đang “đấu” ông ở Hội trường Trường Đại học Tổng hợp, Bộ trưởng  Nguyễn Văn Huyên đã đề nghị ông Hà Huy Giáp, Ủy viên Trung ương Đảng ,Thứ trưởng Bộ Giáo Dục công bố thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Giáo sư Trần Đức Thảo. Sau khi công bố bức thư ấy, cuộc “đấu” được lập tức dừng lại. Giáo sư Trần Đức Thảo đặc biệt cám ơn ông Trường Chinh, trong vụ Nhân văn-Giai phẩm đã không hề phê phán ông mà còn trực tiếp gặp ông để nghe ông trình bày ý kiến, cám ơn Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tạo điều kiện cho ông tiếp tục cộng tác với các tổ chức nghiên cứu khoa học ở nước ngoài để công bố tác phẩm. Qua hồ sơ, thư từ được lưu trữ, cho thấy Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước như Đào Duy Tùng, Hà Xuân Trường, Nguyễn  Khánh Toàn, Trần Trọng Tân,, Phạm Minh Hạc…đã rất trân trọng Giáo sư Trần Đức Thảo, quan tâm đến đời sống và hoạt động sáng tạo của ông.
          Từ 1975-1991: Nhiều bài báo đăng trên tạp chí Cộng Sản, báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng và các tạp chí khác.
1988: Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không có con người” (Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh.
          2-1989: Sự biện chứng của ý thức (Tập san Đổi Mới ,trường Nguyễn Ái Quốc).
          1991: Vận dụng triết học Mác-Lênin thế nào cho đúng (Nhà xuất bản Sự thật).
          1995:Lịch sử tư tưởng trước Mác (do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội công bố).
         
          ■ Những tác phẩm tiếng Việt chưa công bố:
          Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
          Về khái niệm vật chất
          Bản chất của thế giới.       
          Vấn đề con người trong chủ nghĩa Mác-Lênin.
          Tính chất khoa học cách mạng của quan điểm vô sản về con người.
          Về khái niệm con người.
          Con người và xã hội.         
          Về cái cơ bản chung trong phương thức sản xuất và con người của các thời đại
           lịch sử.       
          Về cái cơ bản chung của lịch sử dân tộc.
          Về khái niệm bản tính con người.
          Về sự tha hóa của con người và chủ nghĩa Mác-Lênin chống tha hóa .     
          Về chủ nghĩa nhân đạo thực sự.
          Về vấn đề Phương thức sản xuất Châu Á.         
          Hệ thống tư tưởng duy tâm siêu hình của Mao Trạch Đông (1,2,3)
          …
          Các báo cáo gởi Ban chấp hành Trung ương Đảng về các công trình nghiên cứu khoa học .       
          Các thư từ gởi các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, trong đó có nhiều bức thư đồng thời là tác phẩm.
- Ngày 24-4-1993 Giáo sư Trần Đức Thảo tạ thế tại Paris, Thủ đô Cộng hòa Pháp.
- Ngày 27-4-1993 Giáo sư Trần Đức Thảo được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhì.
- Ngày 28-4-1993 tại Giảng đường Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Bộ giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu Giáo sư Trần Đức Thảo. Các đồng chí Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Đỗ Mười, cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ và Ban bí thư Trung ương Đảng đã gửi vòng hoa viếng.
- Ngày 1-9-2000, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký quyết định số 392KT/CLVT, quyết định phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho 21 công trình khoa học công nghệ, trong đó có tác phẩm “Tìm cội nguồn ý thức và ngôn ngữ” của Giáo sư Trần Đức Thảo.         
          Trên đây chỉ nêu lên một số tác phẩm tiêu biểu. Giáo sư Trần Đức Thảo để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm gần 200 tác phẩm tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Việt khoảng 2 vạn 6 ngàn trang (quy đổi thành trang 13x19).(5)
          Toàn bộ hoạt động sáng tạo của Giáo sư Trần Đức Thảo đã khẳng định ông là một nhà trí thức yêu nước sâu sắc, một nhà khoa học lỗi lạc. Trần Đức Thảo đã nói: “Trong tiến trình của mình, tôi đã được dẫn đến chủ nghĩa Mác bằng hai con đường: một là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc dẫn tới chủ nghĩa xã hội, một mặt khác nghiên cứu triết học và lịch sử đã chỉ cho tôi thấy rằng chủ nghĩa Mác – Lênin mới cung cấp giải pháp đúng đắn cho những vấn đề chung của lý thuyết khoa học”. (Lời tự bạch của Giáo sư Trần Đức Thảo được công bố trên nhiều tạp chí).
          Trần Đức Thảo đã có những phát hiện, những sáng tạo to lớn về nhận thức nguồn gốc loài người, sự ra đời của con người nguyên thủy, sự phát triển tính loài của con người, nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức, đặc biệt là lý thuyết về cái trung giới trong sự vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy, sự biện chứng của ý thức, sự biện chứng của sự hình thành, phát triển con người, giống người, sự thống nhất của logic hình thức và biện chứng,logic như là hình thức tổng quát của vận động thời gian, lý thuyết của cái hiện tại sống động như là lý thuyết về cái cái cá thể, lý thuyết về cái hiện tại sống động như là lý thuyết về sự kết hợp… Trên nền tảng những sáng tạo triết học ấy, Trần Đức Thảo luôn luôn nhìn nhận con người và lịch sử xã hội, lịch sử dân tộc thống nhất trong vận động biện chứng của những hệ thống riêng trong  những hệ thống chung, thống nhất con người nói chung trong vận động, phát triển của lịch sử giống loài, lịch sử dân tộc và nhân loại. Trần Đức Thảo là nhà Triết học lỗi lạc suốt đời chiến đấu cho chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa cộng sản, đã kết hợp trong nhân cách của mình tình cảm và trí tuệ sáng suốt, mẫn tiệp.Tư tưởng triết học cốt lõi của ông là chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản.
          Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh , các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng đã hết sức quan tâm đến hoạt động sáng tạo của Giáo sư Trần Đức Thảo. Tết năm 1968 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thiếp mừng xuân cho Giáo sư Trần Đức Thảo. Hàng trăm nhà khoa học, nhà văn hóa của Việt Nam và của thế giới có mối liên hệ sâu sắc với Giáo sư thể hiện qua trên 300 bức thư còn được lưu giữ lại. Giáo sư Trần Văn Giàu nói: Việt Nam chỉ có một nhà triết học duy nhất là Giáo sư Trần Đức Thảo. Nhà thơ Huy Cận khẳng định Trần Đức Thảo là nhà triết học lớn của thế kỷ. Anh hùng lao động – Giáo sư Vũ Khiêu đánh giá: Trần Đức Thảo là nhà triết học lỗi lạc của Việt Nam và của thế giới. Trong Từ điển bách khoa Hiện tượng học Daniel J Herman đã viết: Trần Đức Thảo , nhà macxit và nhà Hiện tượng học đặc sắc cuối cùng sẽ tìm được chố đứng xứng đáng trong lịch sử tổng quát của ý nghĩa.
          Lịch sử có những sự ngẫu nhiên kỳ diệu. Ở thế kỷ XIII, đã xuất hiện nhà triết học phật giáo ,Vua Trần Nhân Tông. Đến thế kỷ XX , giòng dõi hậu duệ của vua Trần Nghệ Tông, lại có Trần Đức Thảo một  nhà triết học lỗi lạc của Việt Nam và thế giới.
          Tư tưởng triết học Trần Đức Thảo và nhân cách nhà trí thức ái quốc Trần Đức Thảo mãi mãi sống trong trí tuệ Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ.
          Dân tộc Việt Nam tự hào đã sản sinh ra Trần Đức Thảo.
 
     TP. Hồ Chí Minh 20/10/2010
     Giảng viên cao cấp, TS triết học Cù Huy Chử
     (Trích Lời Bạt, in trong Danh mục di sản của Giáo Sư Triết Học Trần Đức Thảo  - sắp xuất bản.)
 
 Chú thích
 
(1) Theo các biên bản của Bộ GD được công bố trong Nguyễn Văn Huyên ,toàn tập, tập 3, NXB GD Hà Nội năm 2005 trang 1142 - 1165
(2) Di cảo của GS Trần Đức Thảo viết tại Pháp năm 1991, 1992, 1993. Tài liệu do Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Cộng Hòa Pháp gửi về cho Ủy ban KHXH NV để trao lại cho người thừa kế duy nhất của GS Trần Đức Thảo là BS. Trần Đức Tùng.
(3) và (4) Tư tưởng triết học trên đây của Giáo sư Trần Đức Thảo được thể hiện trong các tác phẩm đã công bố và Di cảo sáng tác từ năm 1973 đến tận cuối đời.
(5) Toàn bộ tác phẩm và Di cảo của Trần Đức Thảo hiện được lưu giữ tại thư viện Cù Huy Chử, được phản ánh trong công trình: Danh mục di sản của Giáo Sư Triết Học Trần Đức Thảo, của Tiến Sỹ Cù Huy Chử - sắp xuất bản.
 

Ngủ rồi YV

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #11 vào: 19/07/2011, 20:36:16 »




 

Ngủ rồi FC.Bacar_2015

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #12 vào: 01/12/2015, 13:42:38 »
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA "LÝ LUẬN KHÔNG CÓ CON NGƯỜI"
NXB TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2001 (Sách in lần II, 248 trang).
 

Ngủ rồi như mộ

Re: Trần Đức Thảo
« Trả lời #13 vào: 04/01/2017, 20:54:56 »




 
The following users thanked this post: hoangnguyen, Nguyên Thánh