Tác giả Chủ đề: Các tác phẩm về Tết  (Đã xem 1490 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi goose

Các tác phẩm về Tết
« vào: 16/12/2008, 01:24:28 »
Nghe các bác nhắc đến tết, goose lại thấy nhớ tết quá  :) Quyết định lập topic này để post các tác phẩm hay về Tết. Topic nhất định sẽ không thiếu các cụ Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Vũ Bằng  :-*
« Sửa lần cuối: 16/12/2008, 14:14:09 gửi bởi goose »
 
The following users thanked this post: tuan minh

Ngủ rồi goose

Re: Các tác phẩm về Tết
« Trả lời #1 vào: 16/12/2008, 14:13:45 »
Những ngày áp tết (Chuyện cũ Hà Nội - Tô Hoài)

Mỗi tháng có sáu phiên chợ Bưởi, ngày bốn và ngày chín. Tôi vẫn nhớ đếm như thế từ khi biết đi chợ. Lại rõ thêm chợ Bưởi có ba phiên chợ Tết vào cuối tháng chạp: mười chín, hăm bốn, hăm chín. Năm nào hăm chín bắt làm ba mươi, chợ cuối năm càng đông và tất bật. Phiên chợ Tết cũng gọi là phiên chợ trâu bò. Bởi vì, cả năm, chỉ đến chợ Tết, các làng làm ruộng trong vùng mới đem bò ra chợ bán.

Rồi lại nghe người ta nói mà biết nhận xét: chợ mười chín là chợ của người có tiền. Ai sẵn tiền thì sắm tết sớm. Phiên hăm bốn, chợ của mọi người ta thường thường. Chợ hai mươi chín là chợ người nghèo. Nhà nghèo chạy cái tết bở hơi tai, cho đến hôm tất niên mới mò được ra chợ mua miếng thịt lợn, nén hương, gọi là cho có tết nhất.

Vẫn nhớ những phiên tết chợ Bưởi như vậy. Và nhớ thể nào tôi cũng có bánh pháo tép dài bằng gang tay. Chốc chốc lại ra thúng hàng cụ Lựu mua miếng khế khô tẩm mật gừng về ngậm. Thể nào u tôi cũng sắm cho tôi đôi guốc mộc mới. Và, cái đầu tôi được cạo trọc lốc, trắng hếu, đầu mới để ăn tết.

Trẻ con cứ hí hửng cái tết bé bỏng như thế. Nhưng lại cũng lây người lớn, biết lo buồn cái tết thật sự. Bởi vì, những ngày áp tết, nhà tôi thường có người tới đòi nợ. Cũng không có gì đáng ghê lắm. Nhà tôi không đến nỗi có các du côn nặc nô khách nợ cửa phủ chuyên nghề đến đòi nợ thuê. Không có tiền trả, khách nợ bắt đồ đạc, khuân bát hương đi. Thật tình tôi cũng chỉ mới nghe nói về các chuyện lôi thôi ấy. Mà chưa tận mắt trông thấy nặc nô đi đòi nợ hay khách nợ ăn vạ ở nhà con nợ.

Người đòi nợ nhà tôi khác. Đây là ông phán Hàng Mã. Ở phố, người ta cứ thấy ông ấy ngày ngày xách ô đi làm đều đặn, thế là gọi tôn ông lên là ông phán. Chẳng biết có thật ông ấy làm ông tham ông phán không. Tôi cũng đã kể về việc ấy một lần rồi. Và ai cũng biết ông phán từ khi lấy người vợ hai là cô đầu, nhà càng ngày càng lục đục và khó khăn.

Bà tôi vay tiền ông phán Hàng Mã bao nhiêu, tôi không biết. Cứ nghe lỏm những câu ông phán đòi nợ, kể lể và bà tôi khất nợ, tôi mang máng đoán biết là mẹ chú Phúc đã đứng ra "bầu chủ" cho bà tôi vay tiền. Rồi bà tôi lần khân không trả được, hoặc chỉ trả lãi, đôi khi. Ông phán đi đòi mãi, năm này sang năm khác. Hình như vì lôi thôi thế mà rồi nhà tôi nhạt hẳn, không đi lại với nhà chú Phúc dưới Hàng Mã nữa.

Áp tết, năm nào ông phán cũng lên. Cái khăn nhiễu tây, cái ô đen và tấm áo đoạn, khi đi giày tây, khi giày ta, chững chạc. Có điều bao giờ tôi cũng chỉ thấy ông phán mặc độc bộ quần áo mồi ấy, mấy năm đã qua khăn đã sờn bạc, hai vai và lưng áo mồ hôi muối ăn ra, ngả màu nước dưa. Và khuôn mặt ông nhợt nhạt chảy phệu xệ xuống đến nỗi mỗi lần gặp lại ông, tôi cứ ngờ ngợ đấy có phải ông phán Hàng Mã không.

Chỉ có một thói quen của ông phán thì vẫn thế. Mỗi khi ông ho, ông lấy khăn mùi xoa ra, khạc rớt dãi vào đấy, gấp lại rồi bỏ vào túi. Về sau, không thấy ông rút ra cái mùi xoa mà ông lấy mảnh nhật trình, ông ho rồi nhổ đờm vào giấy, rồi gấp lại, bỏ vào túi.

Có năm, ông phán lên sớm lắm. Dễ ông đi chuyến tàu điện từ tinh mơ. Chắc ông nghĩ lên sớm thì thể nào bà tôi cũng có nhà.

Tôi biết đấy là ông phán lên đòi nợ. Biết thế tôi cứ vừa buồn, vừa xấu hổ, vừa sợ. Tôi tránh đi, tôi lang thang lên chợ. Phiên chợ tết đông hơn ngày chợ mọi khi. Đi xem khắp hàng tranh, hàng bưởi bòng, chỗ bán trâu bò, đến trưa mới mò về. Thế mà vẫn thấy ông phán ngồi ở ghế tràng kỷ.

Tôi chẳng nghe tiếng ông phán nói gì. Có lẽ cả buổi ông đã nói to, ông đã quát tháo, bây giờ ông ngồi im. Nhưng không phải cái tính ông phán hống hách thế. Đôi khi, không vào dịp tết, ông phán chợt lên nhà tôi đòi nợ. Cũng chỉ nghe ông thủ thỉ, nhỏ nhẹ. Có hôm tôi trông thấy ông khóc, nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt ủ ê.

Tôi không sợ ông phán nữa. Mà tôi thương ông phán. Còn bà tôi thì cứ ngồi trơ ra. Ông phán hỏi câu nào nói câu ấy. Bà tôi vốn lắm điều, hay nói, bà tôi nói sa sả cả ngày được. Bà tôi xưa nay có tiếng là người đáo để. Im lặng như thế là bà tôi thi gan với người ta. Xem cái người đi đòi nợ ngồi dai được đến bao giờ nào. Không có tiền, chẳng có đồng nào, trong nhà không có gì đáng nửa xu, làm gì nhau nào. Là tôi cứ tưởng tượng ra vậy, chứ bà tôi cũng chẳng nói thế. Bà tôi chỉ ngồi chịu chuyện nhát gừng. Tôi đâm ra ghét bà tôi.

Một lúc sau, ông phán đứng dậy. Ông phán nói:

- Cụ hẹn... cụ hẹn cho tôi một câu chắc chắn, sang giêng tôi lại lên vậy.

Bà tôi nói như phân trần:

- Ông trông nhà cửa thì ông biết. Đến hôm nay mà đã hết củi từ bao giờ rồi. Tiền cọc thợ cửi, thợ hồ chẳng có, không biết sang năm xoay xỏa vào đâu.

Ông phán cũng chẳng nói thêm. Ông phán bước ra.

- Sang giêng... sang giêng...

Hình như ông lại đương nói dở câu khác.

Bà tôi bấy giờ mới lấy trong thắt lưng ra mấy đồng xu dúi vào tay ông.

- Tôi gửi ông suất tàu điện, ông cầm tạm vậy.

Năm sau, ông phán lại lên nhà tôi vào ngày áp tết. Đến sẩm tối, còn thấy ông phán ở ghế tràng kỷ. Bà tôi vẫn ngồi chịu chuyện. Chủ nợ và con nợ ngồi im chẳng thấy ai nói ra sao với nhau cả. Mà có gì để nói. Đi đòi nợ, người ta không có, nhà chẳng có của nả đáng bắt nợ, mà ông phán cũng không phải người có lực đi bắt nợ. Còn gì để nói đâu.

Bà tôi vẫn ngồi đấy. Cũng không ra vẻ người trây, ngườỉ muốn vỗ nợ. Bà tôi chỉ ngồi im, buồn thiu.

Ông phán đứng dậy, bước lừ đừ. Bà tôi đi theo tiễn ông ra tận ngoài gốc đa đầu làng.

Ông phán bảo bà tôi:

- Cụ cho tôi xin một vé tàu điện.

Rồi ông ho sù sụ. Tay ông lập cập, ông kín đáo nhổ đờm vào mảnh giấy báo, rồi gập lại, bỏ vào túi.

Giữa cảnh chợ chiều cuối năm, táo tác, vội vã, chợ búa như cướp giật. Trước cửa đồn Bưởi, từng bọn các ông chức dịch làng Yên Thái bưng gà rượu, khăn áo xúng xính. Người làm việc các làng lên lễ tết quan đồn Tây khi vào cổng, đưa đồng hào phong bao giấy đỏ cho chú lính khố xanh gác. Mỗi năm các làng đều đi tết quan đồn cả tết tây tết ta. Đưa đồ lễ chiều ba mươi, mai mùng một chỉ việc lịch sự nhẹ nhàng đến mừng tuổi "bông xua me xừ, bà đầm".

Rồi những năm sau, chẳng thấy ông phán Hàng Mã lên nhà tôi nữa.

 

Ngủ rồi goose

Re: Các tác phẩm về Tết
« Trả lời #2 vào: 17/12/2008, 21:11:23 »
Đón giao thừa (Chuyện cũ Hà Nội - Tô Hoài)

Bây giờ không mấy ai còn biết ba chữ "tháng củ mật" nữa. Nhưng cả ngày trước, cũng chẳng ai biết "củ mật" nghĩa là thế nào. Không hiểu, nhưng sợ thì sợ lắm. Bởi vì ai cũng biết "tháng củ mật" là tháng áp tết có nhiều trộm cướp.

Đêm ngoài kia, mưa dầm rả rích, tiếng giọt gianh hay tiếng nước trên tàu chuối. Nhà nhà rào chuồng lợn, gà qué thì cho vào bu bỏ trong buồng, đóng chặt then cửa, nêm đóng thật chắc. Suốt đêm thấp thỏm. Chợt rùng mình đến lạnh gáy, khi nghe trong bóng tối, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên, tiếng kêu thất thanh: Ối làng nước ơi! Cướp! Cướp! Có khi ánh lửa lấp ló vào cả khe vách. Kẻ cướp đang bật hồng làm đuốc soi đường kéo vào phá cổng nhà ai ngõ trong kia...

"Tháng củ mật" dồn dập những cái lo sợ rợn người. Người nghèo lo trốn nợ, người thù hằn nhau sợ bị người ta bỏ rượu báo Tây đoan về khám, sợ đứa thù đốt nhà...

Trong thành phố, "tháng củ mật" lại diễn ra những bối rối khác. Các sở cẩm có bao nhiêu đội xếp đều suốt ngày đêm đi "tua" ngoài phố. Đội xếp Tây giắt lưng khẩu súng lục. Đội xếp ta, nách đeo lủng lẳng chiếc dùi cui trắng cao su đặc. Gặp ai cũng hoa dùi cui lên hỏi thẻ thân, phạt người đi trái đường, đi bộ tay trái, đi nhỡ chân xuống lòng đường, hỏi "lập lắc" xe đạp, hỏi chuông, hỏi phanh, phạt cả xe đi rẽ loạng choạng. Cái gì ngứa mắt cũng phạt. Chốc lại thấy dong qua một dòng dài người nọ nhằng vào người kia, cánh tay bị thừng trói, đội xếp áp tải đằng sau đằng trước, không biết bị điệu về bóp vì tội đánh bạc hay kẻ cướp.

Những ngày áp tết, trẻ con ở đâu chui ra mà lắm thế. Chẳng biết con nhà đói khó hay đứa bơ vơ. Cũng lại từng xâu những đứa trẻ, tay buộc thít giằng vào nhau, phải bắt về nhốt sở cẩm Hàng Đậu, Hàng Trống... "Tháng củ mật", "tháng củ mật" ở phố xá càng nhốn nháo hơn.

Thế nhưng trẻ con lang thang càng nhiều như kiến. Không ai bắt hết được kiến. Đám trẻ lưu lạc, mà đội xếp gọi là bọn "ma cà bông" như kiến đen, kiến gió, lủi rất tài.

Năm giờ chiều, chợ Đồng Xuân đuổi chợ. Người cai chợ cầm cái khóa xích to nặng bằng quả tạ quàng từng vòng lên những dóng cửa sắt. Thế là, trong tiếng chuông dóng dả lùa người ra khỏi chợ, những người cu li quét chợ bắt đầu cầm vòi rồng cao su lia nước xối xả, ai vào chợ muộn tha thẩn, chậm chân bước ra bị ướt như ngã xuống ao, mặc kệ.

Thời ấy, mùng bốn tết, sau lễ hóa vàng, tiễn ông bà ông vải, các chợ mới mở khai xuân.

Chiều ba mươi tất niên, khác thường khi, rửa chợ xong, chợ nghỉ thông luôn ba ngày tết. Vòi rồng phun nước rào rào trên mặt phản hàng và dưới lối đi. Rác rưởi bị đẩy xuống rãnh băng ra các cửa cống ngoài tường đằng Hàng Khoai. Ở đấy, mấy cái xe bò chở rác đã đợi sẵn. Những người phu quét chợ ra về, rồi cai chợ khóa trái nốt cửa sau. Thế là cả mấy cầu chợ mái tôn, trong ánh điện mờ mờ, không một bóng một người. Chợ sạch người trong ba ngày tết. Ngoài phố, trời đã tối hẳn, lại mưa phùn rét buốt đêm ba mươi.

Một lúc sau, từ gầm quầy rau quả, dưới các phản hàng, trên cả nóc những xích đông hàng thô, lô nhô bóng người chui ra, leo xuống. Chẳng mấy lúc, ở giữa chợ, quanh chỗ các phản hàng thịt khuất nhất, đã tụ lại một đám lúi húi, lũn cũn toàn trẻ con. Thì ra, lúc ông cai lắc chuông đuổi chợ, đám trẻ con đã lẻn vào từ bao giờ, núp dưới các mặt phản hàng, quầy hàng từ trước, nước phun rửa chợ cứ việc ào ào phía trên. Người lia vòi rồng cũng chẳng ai buồn nhìn lại chỗ vừa được xả nước.

Có đến mấy chục đứa trẻ im lặng ngồi chụm vào nhau cho ấm. Không dám đứng, không dám nói thì thào. Không dám đấm đá nhau. Bởi trước cửa và nách chợ phía Hàng Khoai, phố Mới song sắt thông thống, đội xếp đi tuần mà nhìn vào thoáng thấy bóng người trong này thì chết cả lũ.

Tiếng pháo giao thừa nổ, lan khắp thành phố, ấy là lúc bọn trẻ bíu nhau lũ lượt trèo ra. Chúng nó trèo chỗ tường thấp phía sân bóng rổ Lơ-pa, tụt xuống bãi Bắc Qua.

Chốc lát, những đứa trẻ cầu bơ cầu bất lang thang đi đón giao thừa đã lẫn lộn trong đám người lễ đền Ngọc Sơn, đền Quan Thánh, người đi hái lộc, người xuất hành lấy may.

Làm sao mà cả trăm đứa trẻ không nhà không cửa biết được chỗ trú ẩn kín đáo khéo vậy.

Khi kháng chiến, liên khu một bị bao vây, nhiều trẻ con sinh sống quanh chợ Đồng Xuân đã gia nhập Trung đoàn Thủ đô, làm liên lạc, đi trinh sát. Sau ra Việt Bắc, có em vệ túm đã là thiếu sinh quân kể cho tôi biết chuyện này. Có gì đâu, quanh chợ Đồng Xuân, hàng mấy trăm trẻ em hàng ngày bán nước vối, đánh giày, bới rác, đi ăn cắp, ăn mày. Cái chợ như cái nhà chúng nó ấy mà. Cả dạo áp tết không dám ngủ ngoài đường, sợ đội xếp hót đi, đêm nào cũng trốn vào ngủ vụng trong chợ, sớm tinh mơ lủi ra. Nhưng đêm nay giao thừa, thèm đi bát phố như người ta chơi đông ngoài kia, nửa đêm trèo tường kéo ra.

Người xuất hành tiễn năm cũ đón năm mới khắp các ngả đường. Chợt nghe ở ngã năm đằng kia tiếng lũ nhóc réo lên:

Líp líp lơ
Con ma quay tơ
Con gà mái ghẹ
Con mẹ đổi thùng

Thầy đội xếp nghiêng mặt hơi lạ tai, quay xe đạp lại.

Ma cà bông
Ma cà cúi
Lúi húi vườn hoa
Đội xếp đi qua
Hỏi nhà mày đâu
Nhà tao ở phố Đầu Cầu...

Thầy đội dắt xe đạp thủng thỉnh đi tới, cái dùi cui cặp nách. Nghe đến "đội xếp đi qua... hỏi..." giật thót mình. Quái, cả tháng củ mật, bắt bỏ bóp rồi tống ra các cửa ô lắm đến thế mà vẫn còn "ma cà bông líp líp lơ" đi giao thừa! Chúng nó ở chỗ nào? Chỉ nghe tiếng réo như chửi đội xếp trong đám đông.

___________

Bonus thêm cho các bác Album Cung đàn xưa của Văn Cao. Em vừa post bài vừa nghe hay quá!

http://www.esnips.com/doc/79c97475-80c7-4bc4-8d81-ed78f7ddbf02/Cung-%C4%91%C3%A0n-x%C6%B0a