Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 8470 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #105 vào: 29/03/2018, 22:43:51 »
Do đâu có hiện tượng đào kép cải lương nhảy sang đóng phim

Lịch sử điện ảnh Việt Nam khởi đầu từ năm 1930 với những bước đi chập chững, cũng đã cho ra đời được vài cuốn phim. Thế nhưng, có điều là mấy cuốn phim đầu tiên đó giờ đây biết có còn hay không, nếu còn thì đang nằm ở đâu, hoặc nếu như mất mát hay thất lạc thì còn lưu lại vết tích gì cho các thế hệ làm phim ảnh sau này? Thật khó mà có câu trả lời vậy.

Nghệ sĩ Hùng Cường và Thanh Nga trong phim Nắng Chiều

Do lạm phát hãng phim?
            Thời đó lâu lâu mới có một phim Việt Nam được ra đời thì đâu có đủ nhu cầu giải trí của bà con, nên khán giả đành phải đi xem phim ngoại quốc vậy. Như thế thì rõ ràng là diện ảnh Việt Nam không đáp ứng nhu cầu chớ chẳng phải là không có thị trường, bởi gần cả chục năm mà con số phim “lô canh” chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi, mà tài tử đóng phim chuyên nghiệp thì vẫn những khuôn mặt quen thuộc như La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Vân Hùng, Trang Thiên Kim…
            Thời này chỉ có tài tử chiếu bóng chuyên nghiệp, chẳng một ai nghĩ rằng sẽ có lúc đào kép cải lương bước sang thao túng sàn quay.
            Thập niên 1960 lúc thịnh thời của cải lương, thì phía bên điện ảnh chết lịm, chỉ có một số cuốn phim dựa vào chuyện cổ tích dân gian: Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Trương Chi Mỵ Nương… hầu hết là của Chú Ba ở Chợ Lớn bỏ tiền ra làm ăn chụp giựt, chẳng phim nào ra hồn, do đó mà người ta gọi là thời kỳ của phim “lô canh” hát bóng rẻ tiền cũng chẳng có gì quá đáng.
            Sang đầu thập niên 1970 có một dạo một số đào kép cải lương được các hãng phim mời đóng phim, và tình trạng đã gây nên khủng hoảng cho nhiều đoàn hát, có một số đoàn phải chịu rã gánh, do bởi đào kép chánh rời khỏi đoàn. Ngay cả các anh hề của sân khấu cải lương và thoại kịch, chưa một kinh nghiệm nào trong lãnh vực điện ảnh, bỗng phút chốc trở thành tài tử đứng trên sàn quay. Vậy hiện tượng trên do đâu mà có? Người ta tìm hiểu và đi đến kết luận: Do lạm phát hãng phim!
            Thật vậy, khoảng đầu thập niên 1970, nhận thấy làm phim kiếm ăn được, nên có nhiều tay chẳng biết gì về điện ảnh cũng nhảy ra lập hãng phim để hốt bạc, và cũng vì lạm phát hãng phim nên đào kép cải lương cũng được “khiêng” ra làm tài tử màn bạc.
            Lúc bấy giờ nhà sản xuất phim quá thừa, trong khi tài tử lại hiếm và lãnh “cát sê” quá thấp, đó là những điều ghi nhận được về tình trạng của nền điện ảnh Việt Nam lúc ấy. Sau một thời gian vắng bóng, phim Việt Nam bắt đầu xuất hiện trên màn bạc, và sự thành công của các phim Loan Mắt Nhung với đào Thanh Nga, và Chân Trời Tím với Hùng Cường, Kim Vui thì phim Việt Nam đã bắt đầu có giá trị phần nào về cả nghệ thuật lẫn nội dung.
            Nhu cầu xem phim Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc nền điện ảnh Việt Nam bị “chèn ép” quá đáng, nhưng từ năm 1954 hòa bình được vãn hồi thì điện ảnh Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Các đề tài được khai thác lúc bấy giờ thuộc phạm vi xã hội, tình cảm hoặc chuyện cổ tích.


Kiều Chinh trong Người tình không chân dung (1971)

Thời cực thịnh của điện ảnh
            Năm 1958 đánh dấu một sự cực thịnh của điện ảnh Việt Nam với 28 phim, mà đáng kể nhứt là các phim Lòng Nhân Đạo, phim Tình Hận, phim Chúng Tôi Muốn Sống và phim Quan Âm Thị Kính. Sự phồn thịnh này kéo đến hết 1959 thì điện ảnh Việt Nam từ từ thu hẹp phạm vi hoạt động, ngay cả số phim nhập cảng cũng giảm xuống quá thấp là 300 phim, so với một ngàn phim nhập cảng mỗi năm lúc trước.
            Tuy vậy đến đầu năm 1970 vì người Việt Nam cũng muốn xem phim Việt Nam, điện ảnh nước nhà đã phục hưng với các phim Xin Nhận Nơi Đây Làm Quê Hương, phim Chiều Kỷ Niệm v.v… và tính đến thời điểm 1971 thì đã có 28 hãng phim có giấy phép, trong số đã có 20 hãng đã chính thức hoạt động. Lúc bấy giờ theo lời ông Thái Thúc Nha chủ hãng Alpha thì số lời to tát vài chục triệu của phim Loan Mắt Nhung đã thúc đẩy những người không hiểu gì về điện ảnh cũng mở hãng phim.
            Do lời quá nhiều nên lúc ấy có những tay chẳng hề có một kinh nghiệm nào về điện ảnh cũng nhảy ra làm phim, xin giấy phép đàng hoàng. Lúc ấy ngoài 28 hãng phim có giấy phép, còn có tất cả 50 người khác nộp đơn xin. Tình trạng lạm phát hãng phim nói trên sở dĩ xuất hiện vì nhiều người có óc thương mại thấy lời là nhào vô không cần biết gì nữa. Tình trạng này đã làm cho nền điện ảnh nước nhà đi xuống, vì chủ hãng phim chỉ biết khai thác những gì có lợi cho họ. Ngoài ra, họ không cố gắng cải thiện phim Việt Nam. Tuy vậy theo ông Tôn Thất Cảnh, quản đốc Nha Điện Ảnh lúc bấy giờ thì sự lạm phát về nhà sản xuất phim cũng hứa hẹn một ngày mai tươi đẹp cho nền điện ảnh nước nhà. Ông Cảnh cho rằng theo luật đào thải của tạo hóa, các chủ hãng phim thuộc loại trên dần dần nhường chỗ cho những người thực sự muốn phát triển nền điện ảnh Việt Nam.
            Chính sự lạm phát nhà sản xuất đã đưa đến việc tài tử cải lương nhảy sang điện ảnh, trong số khoảng chừng 40 tài tử lúc đó so với 23 hãng phim, như vậy cứ mỗi hãng phim chưa có đến hai tài tử. Do đó các nhà sản xuất phim bắt buộc phải mượn “đỡ” đào kép cải lương qua điện ảnh, rất có lợi trong phạm vi tài chánh của cuốn phim, người ta có thể lợi dụng ngay tên tuổi của đào kép đó như Hùng Cường, Thanh Nga…
            Thật ra từ ngày đào cải lương Thanh Nga được điện ảnh mời đóng phim “Loan Mắt Nhung”. Phim quá ăn khách, nghe nói hãng phim lời cả chục triệu, và cũng từ đó, tức khoảng năm 1969 thì coi như Thanh Nga không còn trở lại sân khấu cải lương nữa. Do bởi vừa đóng xong phim này, thì được hai, ba hãng phim cùng mời ký hợp đồng với tiền thù lao cao hơn. Dĩ nhiên là cô chấp nhận, bởi lúc đó sân khấu cải lương đang khủng hoảng. Thôi thì ở luôn bên lãnh vực điện ảnh vậy.
            Nhưng người am tường vấn đề đã nói rằng, Thanh Nga bước sang điện ảnh, cô vô tình kéo theo số khán giả hằng ái mộ. Họ đi coi hát bóng có Thanh Nga hơn là đi coi cải lương mà không có cô, chỉ tiếc một điều là trên màn bạc Thanh Nga không có ca vọng cổ.



Khán giả cải lương đi xem phim
            Đào kép cải lương nhảy sang đóng phim đã làm cho màn nhung sân khấu tệ hại thêm, do bởi hãng phim đã mời toàn nghệ sĩ nổi tiếng, đang được khán giả ái mộ. Do vấn đề thương mại, các hãng phim thời bấy giờ họ tính toán khá kỹ, thay vì mời tài tử chuyên nghiệp, họ lại mời đào kép cải lương tên tuổi, bởi khi có mặt đào kép cải lương đang là mục tiêu mua vé của khán giả trên sân khấu, thì con số khán giả đó sẵn sàng đi coi phim, nếu như thần tượng của họ có mặt trong phim, như trường hợp đào Thanh Nga là một vậy.
            Người sành điệu thời đó nói rằng, khán giả đi coi phim “Loan Mắt Nhung” thì hết tám chục phần trăm là khán giả thuần túy cải lương. Do vậy mà phim này hốt bạc cũng đúng thôi. Số khán giả xưa giờ vốn trung thành với cải lương, giờ đây họ đi coi chiếu bóng, khiến cho rạp cải lương ghế trống trơn thì mở màn thế nào được. Sau Thanh Nga rồi đến đào Bạch Tuyết cùng đào Mộng Tuyền cũng nối gót bước sang điện ảnh. Người ta con nhớ, năm 1970 hoạt động cải lương tê liệt, nghệ sĩ than trời như bộng, cải lương chi bảo Bạch Tuyết tâm sự với một ký giả kịch trường, cô nói:
            – Trong tình thế này, khó mà làm gì hơn. Tuyết may mắn đứng vào tư thế đỡ khổ hơn nhiều anh chị em nghệ sĩ, vậy mà còn gặp phải bao nhiêu trở ngại khiến cho sân khấu cải lương phải sa sút. Thấy mà không làm được gì, biết mà khó sửa chữa có hiệu quả, thôi thì Tuyết tạm nghỉ hát trong một thời gian coi xem sao. Tuyết có chương trình, nhưng nói bây giờ e rằng sớm và không hay vì biết đâu vì lẽ này hoặc lẽ khác, Tuyết chưa thực hiện được thành ra mình nói lố…
            Hỏi về vấn đề tuồng tích, Bạch Tuyết trả lời:
            – Chú nghĩ coi, tuồng tích bây giờ chỉ hát độ hai tuần lễ rồi cất luôn, soạn giả nào nào còn tinh thần sáng tác. Viết cho mau, viết vội để có tuồng, và viết trong lúc xuống tinh thần, dĩ nhiên là kém rồi. Nhiều lúc diễn viên ra sân khấu không chỗ diễn, khán giả phàn nàn mình thiếu cố gắng. Thôi thì phải chịu. Tuyết tạm rời sân khấu một thời gian. Tái ngộ với quí khán giả bốn phương là việc mà Tuyết mong muốn rồi, nhưng chưa biết ngày nào. Và như Tuyết đã nói Tuyết có chương trình, song chưa dám nói ra. Có điều Tuyết có thể nói với chú một cách thành thật là Tuyết rất yêu nghề, yêu sân khấu…
            Cải lương chỉ bảo Bạch Tuyết số hên hơn phần đông đào kép khác, nghỉ lên sân khấu chẳng bao lâu thì được mời đóng phim. Bạch Tuyết được nhiều hãng phim mời mọc trong đó có hãng Việt Ảnh của đạo diễn Bùi Sơn Duân, mời đóng phim “Như Hạt Mưa Sa”. Cuốn phim được tham dự giải điện ảnh và Bạch Tuyết đoạt giải tượng vàng diễn viên xuất sắc vai phụ. Cùng lúc ấy đào Mộng Tuyền cũng tham gia tài tử màn bạc, và là nữ tài tử sáng giá. Về phía kép cải lương thì Hùng Cường, Thanh Tú cũng trở thành tài tử chính ở địa hạt điện ảnh. Đào kép tên tuổi rời bỏ sân khấu, vậy thì bảo sao cải lương không ngất ngư chớ!
            Ngoài ra vấn đề diễn xuất tuy có sự khác nhau giữa “sân khấu” và “ống kính”, nhưng nhiều đào kép thông minh chỉ cần nhắc sơ là có thể đóng phim ngay được. Thêm vào đó ở Việt Nam đa số dân chúng bình dân rất dễ dãi khi xem chiếu bóng, vì vậy sự có mặt của đào kép cải lương sẽ làm tăng số khán giả loại này rất nhiều.



Hãng phim âm thầm mời nghệ sĩ cải lương
            Kể từ sau các phim “Loan Mắt Nhung”, phim “Chiều Kỷ Niệm” được ra mắt khán giả với mức thành công khả quan về số thu, thì đào kép cải lương được mùa đóng phim. Các hãng âm thầm chạy mời nghệ sĩ cải lương ký giao kèo để thực hiện gấp rút những phim khác, và những nghệ sĩ tên tuổi đang ăn khách của sân khấu được chiếu cố đến.
            Trước tình hình sa sút của sân khấu vì thời cuộc càng ngày càng bóp chẹt mọi mặt cho sự hoạt động của các đoàn hát, nên gặp dịp được các hãng phim mời là một số nghệ sĩ nhận lời ngay. Trước hết và nhiều nhứt có bốn nghệ sĩ sân khấu được các hãng phim thi đua ký giao kèo trước để dành quyền ưu tiên là: Thanh Nga, Hùng Cường, Bạch Tuyết và Thanh Tú.
            Rồi đến các vua hề cũng được hãng phim Tàu chiếu cố. Hãng Á Đông phim ở Chợ Lớn, một công ty của người Tàu, do người Tàu điều khiển và họ đã âm thầm chạy mời tất cả các anh hề đang ăn khách nhứt của sân khấu cải lương, tân nhạc để đóng trong một cuốn phim hài hước từ đầu đến cuối gồm có: Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn, Hoàng Mai và Văn Chung.
            Nữ tài tử có: Bé Bự (của Dạ Lý Hương), Túy Hoa, Diễm Kiều, Tường Vi và Túy Hồng, nghĩa là có năm ông và năm bà tất cả, nhưng bên nữ kể về hề thì có Túy Hoa và Bé Bự.
            Hỏi một anh hề tựa phim và cốt truyện do ai viết, nội dung ra sao. Anh ta đáp:
            – Cốt truyện do người Tàu viết, và đạo diễn cũng do người Tàu luôn, thành ra chưa biết tựa sẽ mang tên là gì? Nghệ sĩ chỉ theo sự hướng dẫn của đạo diễn ở sàn quay thôi.
            Hỏi thăm về tiền thù lao? Anh cho biết:
            – Kể như là hãnh diện lắm, do đó mà tôi ký luôn với hãng phim này một phim thứ nhì thuộc loại kiếm hiệp.
            Tuy vậy dần dần số đào kép cải lương này cũng giảm bớt, ông Thái Thúc Nha cho biết như Hùng Cường chẳng hạn, về sau cũng ít ai chịu mượn vào đóng phim nữa. Từ năm 1973 trở đi thì điện ảnh bắt đầu xuống dốc, xuống mau lẹ, khiến cho nhiều người hăm hở trước đó đã phải bỏ cuộc, có người sạt nghiệp luôn bởi bao nhiêu vốn liếng bỏ vào chẳng thu lại được, mà còn thêm nợ cũng do làm phim mà ra.
            Từ năm này tài tử chiếu bóng thất nghiệp dài dài, đa số đào kép cải lương tham gia điện ảnh đành quay trở về sân khấu để sống. Nhưng chạy ô mồ mắc ô mả. Bắt đầu thời điểm giữa năm 1969, hai hãng chiếu bóng Show và Lido của Chú Ba tranh nhau thuê tất cả rạp hát ở đô thành để khai thác về điện ảnh, và dĩ nhiên mấy chú chỉ chiếu phim Tàu. Những hãng phim lô canh như Mỹ Vân, Mỹ Phụng, Alpha, Liêm… đều bó tay chịu trận để ngồi coi phim kiếm hiệp Tàu tràn lan trên đất nước.
            Về phía cải lương không có rạp, phải rút về tỉnh, nhưng rồi ở tỉnh cũng không xong, các rạp ở tỉnh lỵ, thị xã cũng bị Chú Ba mua hoặc thuê dài hạn hết. Ở Cần Thơ có rạp Minh Châu xưa giờ là nơi đón tiếp cải lương, nếu hát đều đều vẫn kiếm ăn được, bởi khán giả Tây Đô rất mến mộ cải lương. Thế nhưng đến thời điểm nọ rạp Minh Châu cũng bái bai cải lương, bởi khoảng giữa 1971 thì rạp Minh Châu sửa chữa lại phá bỏ sân khấu để cho chiếu phim Hồng Kông.
            Sức mạnh của Chú Ba thời này thật là vô địch, đuổi không cho cải lương sống tại Thủ Đô là quá lắm rồi! Rồi lại còn tràn xuống tỉnh lỵ để tống quách cải lương đi hát đình hát chợ, đau như bị bò đá. Thời đó dân Cần Thơ muốn coi cải lương phải xuống Cái Răng hoặc qua Cái Vồn mà coi, và người ta nói rằng Chú Ba dùng “đại đao” để giết cải lương.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-110114-nm-11012014073120.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-11152014-nm-11152014073059.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #106 vào: 05/04/2018, 23:46:26 »
Út Trà Ôn làm bầu gánh Thống Nhứt

Đầu thập niên 1960, đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn đang hát cho đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản với điều kiện hết sức ưu đãi, với giao kèo mấy triệu và lương đêm cao gấp hơn chục lần kép hát thường. Vậy mà cũng không vừa lòng, ông ta nhảy ra lập đoàn Thống Nhứt, để rồi sau hơn ba năm hoạt động, ông bầu Út Trà Ôn đã chịu đời không thấu đành phải tuyên bố rã gánh vào tháng 8 năm 1965.

Út Trà Ôn trong vở Tuyệt Tình Ca

Nghiệp cầm ca
            Thế là sau một thời gian đứng trong hàng ngũ cải lương, đoàn Thống Nhứt từ đó đã phải vắng bóng, và người ta không thấy Cậu Mười làm bầu thêm một lần nào nữa. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, hầu hết các đoàn hát đều thấp thỏm lo sợ cho vận mạng của đoàn. Nếu có đoàn nào rã, đó là chuyện phải đến đã đến. Đoàn Thống Nhứt cũng nằm trong tình trạng ngất ngư đó, càng về sau càng xuống dốc, Cậu Mười Út cố gắng chống cự với mọi khó khăn trở ngại, nhưng một con én, và con én ấy lại cao niên, thành thử làm thế nào đem lại Mùa Xuân được chớ!
            Vậy mà trong giai đoạn chót, đoàn Thống Nhứt cũng cố vượt lên một phen, là đoàn có tăng cường thêm ba ngôi sao tân nhạc là Phương Dung, Việt Ấn, Tùng Lâm. Có thêm ba cây xanh rờn bên tân nhạc tăng cường không đem lại cho đoàn Thống Nhất một tia hy vọng nào. Trái lại ông bầu Út Trà Ôn con phải ngất ngư thêm, vì mỗi đêm bán vé chưa tới 20 ngàn mà phải trả tiền cho ba người tân nhạc này mỗi đêm 6.500 đồng (Phương Dung 3.000; Tùng Lâm 2.000; Việt Ấn 1.500 đồng).
            Kết quả sau tuần lễ có thêm ba nghệ sĩ Phương Dung, Việt Ấn, Tùng Lâm: Đoàn Thống Nhứt rã! Xác gánh được đưa về trại ở đình Tân Kiển, Chợ Quán. Có một nguồn dư luận xầm xì, cải lương người ta hát ngày này qua năm khác chẳng hề hấn gì. Vậy mà mới nhảy vô ăn có một tuần lễ, ba nghệ sĩ tân nhạc nói trên không tiếp hơi được mà còn chôn luôn đoàn Thống Nhứt.
            Dư luận đó nếu không đùa để mà cười chơi, thì cũng là khắt khe vì thật tình đoàn Thống Nhứt lúc đó như một con bịnh lâu năm đến ngày kiệt quệ rồi. Có hay không có ba nghệ sĩ Phương Dung, Việt Ấn, Tùng Lâm nhảy vào ăn có thì đoàn này cũng… ngủ. Như vậy là một tai nạn cho ba nghệ sĩ tân nhạc nói trên, bởi không đi “coi thầy” trước khi về hợp tác với cải lương. Người ta không hiểu sao lúc bấy giờ đệ nhứt danh ca vọng cổ lại không còn tin ở làn hơi ca hái ra bạc của mình, mà lại phải cầu viện bên phía tân nhạc.
            Quả là Út Trà Ôn đã đi lầm một nước cờ! Lúc ấy người trong giới đã cười mỉa mai nói rằng Tổ nghiệp cải lương đã cho Út Trà Ôn làm bầu gánh cho biết đá biết vàng, để đền cái tội ông đã từng làm khó dễ, gây khổ sở cho các bầu gánh trước đó mà ông ta từng cộng tác. Thật vậy, cái khổ của Út Trà Ôn lúc ấy đâu có khác gì cái khổ của nhiều bầu gánh bị sạt nghiệp, mang nợ mang nần cũng vì mê cải lương nhảy ra kinh doanh nghệ thuật. Âu cũng là cái nghiệp cầm ca, nghiệp dĩ cải lương thôi!
            Có người nói rằng tuy gánh hát rã, Út Trà Ôn bị lỗ nặng, mang nợ nần, nhưng Cậu Mười lại có món lời đặc biệt: Một cô vợ trẻ măng, đào trẻ đẹp Ngọc Bích luôn sát cánh bên Cậu Mười. Thật vậy, nếu như không làm bầu gánh Thống Nhứt đầy uy thế, thì có lẽ Ngọc Bích không từ Cần Thơ lên Sài Gòn gia nhập đoàn hát, vừa làm học trò, vừa làm bà vợ thứ ba (không ra mặt) suốt mười mấy năm.


Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn

Ẩn tình Út Trà Ôn – Ngọc Bích
            Và tiếp sau đây là câu chuyện “ẩn tình” Út Trà Ôn, Ngọc Bích, được thiên hạ bàn tán khá nhiều, từng hao tốn nhiều giấy mực báo chí.
            Thời thập niên 1960 trong làng cải lương có câu chuyện “ẩn tình” Út Trà Ôn, Ngọc Bích, được nói đến rất nhiều, khán giả cũng rất muốn biết, và báo chí thời đó cũng theo dõi sự việc để khai thác vấn đề. Nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu cả, do vậy mà suốt cả mười mấy năm chẳng ai hiểu được một cách rõ ràng, chính xác.
            Thiên hạ nói một đôi vợ chồng nghệ sĩ mà suốt mười mấy năm kín miệng, luôn luôn phủ nhận chuyện vợ chồng nếu có ai đề cập, và khi họ chịu nói thiệt ra thì cũng là lúc kim cải rã rời, đó là trường hợp của đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn và cô đào học trò Ngọc Bích.
            Số là vào khoảng cuối năm 1960 đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn và kép độc Hoàng Giang đang cộng tác với đoàn Thủ Đô, cả hai là diễn viên cột trụ của đoàn, đã tách ra cùng đứng chung thành lập đoàn Thống Nhứt, và đoàn này cũng sống được khoảng ba năm như đã nói. Tuy vậy, cũng nhờ làm chủ gánh hát mà có thêm một người đẹp đi vào cuộc đời tình cảm của Út Trà Ôn, mà vốn đã có hai bà vợ rồi.
            Thật vậy, họ sống chung với nhau, đi đâu người ta cũng đều thấy hai người như hình với bóng, từ đi thâu truyền hình cho đến thâu dĩa băng nhựa, và đứng trên sân khấu. Người ta không thể không thắc mắc, vì đi hát ở đâu họ cũng ở chung phòng, ngay cả lúc đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp, bà Bầu Thơ cũng phải cho Ngọc Bích đi theo, dù rằng khả năng nghệ thuật của cô không cần thiết cho chuyến đi Pháp ấy, bởi nếu Ngọc Bích không có tên trong đoàn thì Út Trà Ôn nhứt định không đi.
            Lúc đoàn Thanh Minh Thanh Nga đến Thủ Đô Paris, khách sạn ở đây quá đắt, nên bà Bầu Thơ có kế hoạch mướn phòng rộng cho nam ở chung với nam, nữ ở chung với nữ cho đỡ tốn kém, nhưng Cậu Mười nhứt nhứt không chịu, nếu không có một phòng cho ông và Ngọc Bích thì ông trở về Việt Nam ngay. Cuối cùng thì bà Bầu Thơ cũng chịu thua, đành bỏ tiền thuê riêng một phòng cho “cậu cháu” họ ở. Sở dĩ bà Bầu Thơ phải chịu lép vế là do bởi trước khi đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp, thì Thanh Nga đã đi trước qua Paris ký hợp đồng với nhà tổ chức bên đó, trình diễn mười hai đêm ở Paris. Bản hợp đồng ghi rõ là phải có Út Trà Ôn, do vậy mà bà Bầu Thơ bắt buộc phải cho đào Ngọc Bích có tên trong đoàn. Ngay cả lúc lập danh sách lên liên Bộ Thông Tin – Ngoại Giao để được cấp giấy thông hành (Passport) cũng phải có tên Ngọc Bích, nếu không có thì Cậu Mười ở lại.
            Thật ra thì trong thiên hạ với lớp người từng trải, sành đời thì ai cũng biết Út Trà Ôn và Ngọc Bích đã khắn khít với nhau từ lâu, nhưng nếu nói ra thì chẳng có lợi gì cho cả hai. Do bởi Út Trà Ôn lúc ấy đã có hai vợ rồi, nếu Ngọc Bích là vợ nữa thì là bà ba.
            Sự việc nó là như vậy, tuy chưa rõ như ban ngày, nhưng sự thể đó thì ai mà chẳng biết mối liên hệ của hai thầy trò. Một người đàn ông đứng tuổi, được mệnh danh là ông vua vọng cổ. Một cô đào tơ mơn mởn, chập chững bước vào nghệ thuật cổ nhạc, họ sống chung một mái nhà, gọi nhau bằng “cậu cậu, cháu cháu”. Trên sân khấu họ đóng chung tuồng yêu đương tha thiết anh… em ngọt lịm.
            Do đó mà báo chí lúc bấy giờ cố tình khai thác chuyện ấy, nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu hết. Một vài tờ báo có trang kịch trường chỉ đề cập ấm ớ, hoặc thỉnh thoảng trong hậu trường các gánh hát lại bật mí sơ sài rồi im lặng. Tuần báo Phụ Nữ Mới trong một bài viết, nói rằng Út Trà Ôn, Ngọc Bích có thể xé rào, sống theo quan niệm “xướng ca vô loại” để làm mục tiêu cho mọi người phê phán. Đồng thời qua những cây bút các ký giả kịch trường, ký giả Phong Vân nói: “Họ dám yêu nhau là sự thường tình, lửa gần rơm… phải cháy”. Còn ký giả Hoài Ngọc thì ông nói:
            – Chuyện gì ở trên đời dám xảy ra làm kinh thiên động địa thì chuyện ẩn tình cũng dám… xảy ra thôi!
            Ký giả Lê Thu Phương thì nói:
            – Ẩn tình hả? Nếu không có gì, tại sao ai muốn hỏi về Ngọc Bích thì cô này chỉ sang Cậu Mười. Hỏi cậu Mười thì lại nói: Hỏi nó á! Coi như cả hai người chẳng ai xác nhận hay phủ nhận gì hết, cứ phớt tỉnh ăng lê vậy. Và rồi thiên hạ có ai rảnh rang đề mà bàn tán mãi chuyện ấy chớ!


NGÀNH MAI
Tháng 11/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1129-nm-11292014072923.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #107 vào: 12/04/2018, 21:11:58 »
Ẩn tình Út Trà Ôn – Ngọc Bích

Người ta chỉ cần căn cứ vào việc cậu Mười chẳng hề cho Ngọc Bích hát đóng cặp với chàng kép nào, quanh năm suốt tháng chỉ đóng cặp với ông thôi. Dầu rằng với tuổi tác chênh lệch như thế, nhưng ông vẫn khăng khăng bác bỏ đề nghị của bầu gánh muốn Ngọc Bích đóng cặp với kép trẻ nào đó sẽ ăn khách hơn.


Tin đồn?
            Lúc về với đoàn Tân Thủ Đô Như Ngọc, điều kiện nào cũng được Út Trà Ôn chấp nhận, riêng có cái vụ Cậu Mười nhứt định đòi đóng cặp với Ngọc Bích, chớ không cho cô cháu phây phây hơ hớ đóng cặp với ai cả, thì Như Ngọc có vẻ hơi ngại. Cô tìm lời nói nhẹ nhàng: “Cậu Mười nè, không phải cháu muốn phiền cậu, nhưng cậu đã lớn (cô tránh chữ già) đóng cặp với Ngọc Bích… e bớt đặc biệt…”
            Nhưng nói gì thì nói, Út Trà Ôn cũng chẳng nghe, vẫn giữ lập trường.
            Lúc ấy vào khoảng 1971, thiên hạ và người trong giới đồn đãi quá nhiều. Một nhà báo phỏng vấn Ngọc Bích: Ngọc Bích nghĩ thế nào về những nguồn tin đồn đãi của thiên hạ?
            Có vẻ hơi buồn, Ngọc Bích cúi mặt xuống đất trầm ngâm giây lâu mới ngẩng đầu lên đáp:
            – Bích thật khổ tâm…

Phóng viên: Ngọc Bích có có thể cho chúng tôi biết một vài ý nghĩ trong vấn đề này?
            Ngọc Bích buồn nói:
            – Vì với cậu Mười, Bích là phận con cháu, cậu Mười đã từng dạy dỗ và chỉ bảo Bích nên ngày nay Bích mới được như vầy. Với cậu Mười, Bích xem như người cha, hay nói một cách khác Bích xem như một ông thầy mà ông thầy đó Bích mang nhiều ơn sâu đậm, thì chuyện lẹo tẹo giữa Bích và cậu Mười theo lời đồn đãi của thiên hạ làm sao có được. Hơn nữa Bích đã mang ơn hai mợ, nhứt là mợ mười Út (bà Hồng Hoa) luôn luôn ở bên cạnh Bích trong những chuyến lưu diễn xa, còn khi trở về Sài Gòn thì Bích ở nhà với mợ mười Út…

Phóng viên: Còn chuyện Ngọc Bích đi đâu đều có Út Trà Ôn đi theo tò tò, chuyện đó có đúng vậy không? Nếu đúng thì tại sao?
            – Tất cả mọi việc tiền bạc cũng như ký giao kèo trên mọi lãnh vực về văn nghệ, ba má Bích đều giao cho cậu Mười cái quyền quyết định. Vì lời hứa danh dự với ba má Bích, nên khi hát sân khấu nào cậu Mười cũng tìm cách đem Bích theo, bởi lẽ đó mà những người xấu mồm xấu miệng tung tin thất thiệt để hạ danh dự gia đình Bích và cậu Mười.

Phóng viên: Ngọc Bích có cảm tưởng thế nào về những lời đồn đãi trên?
            – Bích tự nghĩ, quyền ăn nói là quyền tự do của con người, nhưng Bích chỉ buồn một điều là trước khi nói, họ không chịu suy nghĩ xem lời nói của họ có hại cho người bị nói hay không.

Phóng viên: Có nhiều nguồn tin đồn, Út Trà Ôn không cho Ngọc Bích đóng cặp thật tình tứ với kép, nhứt là kép đẹp, có đúng vậy không?
            – Lại một nguồn tin sai sự thật nữa, cậu Mười đâu có cấm Bích như vậy, có cấm là cấm không cho Bích trửng giỡn một cách thô tục quá đáng, sợ rồi đây mất đi cảm tình của khán giả ái mộ.

Phóng viên: Xin Ngọc Bích cho biết có bằng cớ nào cho độc giả và khán giả ái mộ biết là giữa Ngọc Bích và Út Trà Ôn không có lẹo tẹo với nhau như lời đồn đãi?
            – Hiện tại thì Bích không biết lấy làm gì để nói lên sự thật, nhưng Bích có thể nói rằng “không có chuyện gì bí mật mãi với thời gian, thời gian sẽ trả lời việc làm của Bích và cậu Mười”.


Nữ nghệ sĩ Ngọc Bích

Kim cải rã rời Cậu Mười khai thiệt hết
            Đúng vậy! Thời gian đó là sau ngày 30-4-75 thì mọi chuyện bí mật đã phơi bày. Ẩn tình kia trong thời gian dài, có ngày rồi đã không còn “ẩn” nữa sau 1975, và thiên hạ được biết như sau:
            Lúc ấy tất cả đoàn hát do nhà nước quản lý, hầu hết đào kép và luôn cả bầu gánh đều hưởng lương, lãnh gạo theo chế độ khẩu phần. Lương hướng kép chánh, đào phụ, công nhân đoàn hát gần như ngang nhau. Do đó mà “cây dù” của đệ nhứt danh ca không còn che được cho cô học trò Ngọc Bích, và cô này đã bỏ thầy để đi gánh khác và lấy chồng.
            Nghe nói lúc ấy Út Trà Ôn tức lồng lộn lên, khai hết sự thật mối tình của ông với cô học trò, để cố níu kéo Ngọc Bích ở lại với mình. Nhưng không, cô nàng đã nhứt quyết ôm cầm sang thuyền khác.
            Sau khi Ngọc Bích có chồng một thời gian thì ký giả Phương Chi có phỏng vấn Út Trà Ôn về sự nghiệp, về cuộc đời tình cảm, trong đó có vấn đề Ngọc Bích, và sau đây là câu hỏi của ký giả Phương Chi và trả lời của cậu Mười Út Trà Ôn.

Phương Chi: Ngày còn ở đoàn Thống Nhứt năm 1960 anh Mười có đào tạo cô đào Ngọc Bích, từ các vai phụ trở thành đào nhì, và rồi sau này lên đào chánh đoàn Sài Gòn 2. Nghe nói mối tình giữa cậu Mười Út và cô đào Ngọc Bích đằm ấm hơn mười mấy năm qua, chẳng hay vì lẽ gì Ngọc Bích phải ôm cầm sang thuyền khác? Chuyện ấy anh Mười có thể cho nghe được không?
            Út Trà Ôn đăm chiêu suy nghĩ một chặp, rồi chậm rãi nói:
            – Chuyện là thế này, hồi tôi hát ở đoàn Thống Nhứt, có cô Ngọc Bích người ở Bình Thủy, Cần Thơ lên xin tôi cho gia nhập đoàn. Vì cô là người Cần Thơ cùng xứ sở với vợ lớn của tôi, và sau khi tôi nghe giọng ca của cô tuy còn non nớt nhưng có nhiều triển vọng. Và điều quan trọng là vợ tôi có cảm tình với cổ, do đó tôi chấp nhận cho theo đoàn. Đúng ra do cổ có chí và năng khiếu ca hát, nhứt là cổ chịu học hỏi, thấy vậy tôi mới chỉ biểu thêm về kinh nghiệm để cổ trau dồi nghệ thuật ca diễn. Cũng có thể nói là Ngọc Bích theo tôi từ đào phụ tiến lên đào nhì và sau này lên đào chánh như anh đã biết.

Phương Chi: Thưa anh, còn chuyện tình yêu giữa cô đào Ngọc Bích và kép Út Trà Ôn, có thể cho nghe được không?
            Út Trà Ôn cười xòa rất cởi mở:
            – Chuyện yêu đương là tự lòng cô ấy. Mà nói cho đúng ra, cũng có sự thỏa thuận của bà lớn nhà tôi đây, chớ không phải chúng tôi làm chuyện vụng trộm. Tuy chúng tôi ăn ở với nhau từ năm 1960 cho đến 1978, nhưng Ngọc Bích vẫn giữ không để có con.

Phương Chi: Có phải vì ở với nhau mười mấy năm vẫn không con, nên cô Ngọc Bích buồn tình ôm cầm sang thuyền khác để kiếm con hủ hỉ khi tuổi xế chiều chăng?
            Út Trà Ôn cười lắc đầu:
            – Có lẽ không phải vậy anh à, mà theo chỗ tôi biết, chỉ vì cô ấy quá nghe lời bà vợ hai của tôi đó thôi.
            Bỗng nhiên giọng nói của Cậu Mười Út trở nên sôi nổi hơn khi nãy:
            – Anh nghĩ coi, khi một người đàn bà không nghe lời mình nữa, mà lại đi nghe lời vợ của mình, như vậy cũng đã có ý khác rồi, thì mình còn nắm nuối giữ lại làm gì nữa cho thêm khổ cả đôi bên. Do đó tôi đồng ý chia tay trong sự êm đẹp. Khi chia tay năm 1978 tôi có cho Ngọc Bích căn nhà ở đường Trần Hưng Đạo, Quận Nhứt.

Phương Chi: Tôi được nghe sau đó Ngọc Bích có chồng khác và đã sinh con?
            Cậu Mười Út gật đầu cười:
            – Đúng vậy, sau đó Ngọc Bích gia nhập đoàn Sài Gòn 2 và trong thời gian ấy cổ có chồng rồi sanh một đứa con. Tôi rất mừng và cũng cầu mong cho Ngọc Bích được hạnh phúc với chồng trong gia đình mới.

            Thời gian sau tờ báo Sân Khấu có phỏng vấn Ngọc Bích về nghề nghiệp và cuộc sống, nhưng không thấy nói gì đến Út Trà Ôn. Giờ đây thì đệ nhứt danh ca đã về với Tổ nghiệp, an nghỉ trong nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp. Còn đào Ngọc Bích thì nghe nói cũng ở Sài Gòn, và làm nghề nghiệp gì đó để nuôi con (con của chồng sau này, chớ thời gian trước với Út Trà Ôn cô không có con).


NGÀNH MAI
Tháng 12/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1206-nm-12062014104059.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #108 vào: 19/04/2018, 23:11:46 »
Nghệ sĩ cải lương có mấy ai nghĩ đến ngày mai

Lúc sinh thời nghệ sĩ lão thành Năm Châu trong những buổi nói chuyện với các ký giả kịch trường, có lần ông nói rằng cái nghề ca hát là nghề phù du, do đó mà lúc tên tuổi đăng bản còn người mua vé thì phải biết lo xa cho mai hậu, chớ một khi mà tên của mình quảng cáo rùm beng vẫn không ai mua vé thì đã trễ rồi!

Bìa dĩa hát Lá Sầu Riêng, với các nghệ sĩ:
Thành Được, Thanh Sang, Út Hiền, Kim Cương, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết

Mở cơ sở làm ăn
            Trong giới cải lương hầu hết nam nữ nghệ sĩ đều biết vậy, cho nên lúc tên tuổi họ đang lên, kiếm tiền được nhiều thì một số nghệ sĩ đã lo đến hậu vận, vội vã mua sắm này nọ, hoặc mở ra cơ sở làm ăn khác để trông cậy vào lúc hết thời. Từ năm 1968 trở đi cải lương xuống dốc thấy rõ, thì rất nhiều đào kép cải lương bươn bả chạy kiếm thêm công việc làm ăn khác, họ có thể có những nguồn lợi riêng tư nữa mà lắm người không hề biết đến.
            Trước tiên phải nói đến Thanh Hải, anh kép có giọng ca hái ra tiền, từng làm kép chánh những đại ban Thủ Đô, Kim Chưởng, Kim Chung và là diễn viên xuất sắc của Giải Thanh Tâm năm 1967. Lúc đang cộng tác với Kim Chung 6, Thanh Hải với nhà lầu xe hơi, người ta bảo rằng vì anh ít ăn xài như các anh kép cải lương khác nên dư giả, nhưng nếu có hàn huyên trò chuyện nhiều lần với Thanh Hải mới nghe anh tâm tình thế này: Nào có phải nhờ hát xướng mà tôi giàu đâu, tôi có hoa lợi rất nhiều với hai cái Bar ở Biên Hòa do vợ tôi và người anh vợ điều khiển. Những ngày đầu tháng, cuối tháng kiếm mỗi hôm trên dưới 30 ngàn, ngày thường có tệ lắm cũng 15 ngàn (thời điểm này một lượng vàng y khoảng 10 ngàn) và nghe nói Thanh Hải còn hùn hạp mở thêm vài nhà bán thuốc tây nữa.
            Thế nhưng vốn liếng đâu mà Thanh Hải làm được như thế chớ? Những người am tường hoạt động cải lương nói rằng, đa số kép hát cải lương ký công tra bạc triệu, nhưng cờ bạc ăn chơi rồi tiêu hết lại còn mang nợ, còn Thanh Hải thì khi xưa vốn xuất thân là dân phu cạo mủ cao su ở đồn điền Lai Khê, biết tiền bạc khó kiếm nên không dám xài phí mà lo xa vậy.
            Tiếp đến là kỳ nữ Kim Cương, không phải chỉ riêng bà bầu Kim Chưởng mới biết kinh doanh khách sạn như nhiều nghệ sĩ cải lương đã biết, mà trước đó kỳ nữ Kim Cương đã có khách sạn rồi: “Khách Sạn Kim Cương” ở Long Xuyên gần rạp hát Minh Hiển, do tiền của Kim Cương bỏ ra cất và đưa tên mình lên bảng hiệu. Tuy nhiên Kim Cương không cần phải lui tới để thu hoa lợi mà giao quyền cho người cậu Út, thường gọi là Út Đề trông coi. Kim Cương thường nói một ngày nào đó cô sẽ về dưỡng già ở Long Xuyên nên sắm trước vậy cho vững bụng. Nhưng sau 30 tháng Tư 1975 vật đổi sao dời, khách sạn của Kim Cương có còn hay không!
            Kế đến là Hùng Cường, anh đi hát từ đoàn Ngọc Kiều đến Kim Chưởng rồi Kim Chung, Dạ Lý Hương với giao kèo đến cả triệu này sang triệu khác, và đều đều mỗi xuất đại nhạc hội là kiếm chẵn mười ngàn, ngoài ra còn thu dĩa nhiều hơn ai hết. Ấy vậy mà cũng chưa đủ, Hùng Cường còn mở một trung tâm băng nhạc sống, tại đường Gia Long để tự mình độc quyền tiếng hát của mình, và làm chủ nhân ông với sự cộng tác của nhiều anh chị em nghệ sĩ khác.
            Chưa hết, Hùng Cường còn mở một câu lạc bộ văn nghệ để hàng tuần mời anh em văn nghệ sĩ tới đó trình bày một vấn đề gì thuộc phạm vi văn học nghệ thuật cho vui. Ngon lành đến thế! Nhưng rồi “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, về sau hầu như không còn gì hết, và khi ra hải ngoại cũng chẳng làm nên được gì. Những ngày cuối đời Hùng Cường sống trong căn chung cư ở đường Euclid, thành phố Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ. Hoàn cảnh thiếu thốn, bệnh hoạn và qua đời khoảng giữa thập niên 1990.
            Giờ đây nói đến Phương Ánh và Mộng Tuyền, trong khi nhiều cô đào cùng lứa tuổi hoặc lớn hơn cứ bám mãi nghề ca hát, thì hai nữ nghệ sĩ này đã biết lo xa từ khi còn rất trẻ. Ngay lúc còn hát xướng Phương Ánh đã có một nhà may tại đường Trần Quốc Toản, và do thương mến cô đào hát từng đóng vai cô gái bán bar trong tuồng “Gái Bán Bar” nên khách đổ xô đến may đông đảo.
            Thực ra thì Phương Ánh đâu có biết may vá gì đâu, nhưng đó cũng là một hình thức lo cho mai hậu. Còn Mộng Tuyền cũng có một lúc mở quán “Mộng Tuyền”, địa điểm là căn phố ngó xéo vô chợ Thái Bình, bảng hiệu Mộng Tuyền mà chỉ có ông già của Mộng Tuyền ở đây thôi, nên quán ế rồi dẹp luôn, chịu lỗ lã. Sau đó Phương Ánh, Mộng Tuyền hợp tác với nhau mở nhà “bảo kê xe hơi”. Bảo kê chớ không phải bảo hiểm nhé! Ai có xe hơi cứ đưa tới Phương Ánh, Mộng Tuyền bảo kê thì bất cứ đi đâu gặp trục trặc máy móc, cứ gọi về văn phòng hai cô là có chuyên viên tới sửa tại chỗ, nặng lắm thì kéo về ga ra. Nghề này vững hay không chẳng biết, cũng như sau 1975 nghề “bảo kê xe hơi” của hai nàng có hoạt động được không?


100 Năm Cải Lương Việt Nam (Tập 2)

Cải lương thời này không có “… nhứt thân vinh”
            Đó là các nghệ sĩ biết lo xa cho mai hậu, chớ đa số thì hầu như chẳng có gì, hát bữa nào tiêu xài bữa nấy. Một số thì luôn mang nợ trả hoài chẳng dứt, đến lúc cải lương xuống dốc thì te tua như chuyện kể dưới đây.
            Người xưa nói “nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh”, nếu giờ đây đem ra áp dụng cho cải lương thì chắc là không khá, bởi cải lương ở thời này thì “nhứt thân vinh” cái nỗi gì chớ! Từ sau cái Tết Mậu Thân cải lương ế ẩm, xuống dốc trầm trọng, đào kép thất nghiệp dài dài, nằm chờ mấy tháng vẫn không thấy dấu hiệu nào hát trở lại, thì trong làng cải lương nảy sinh ra hiện tượng đào kép đi làm nghề khác để kiếm sống, bởi không còn hy vọng gì ở sân khấu, ở tấm màn nhung mà thời gian qua đã là mảnh đất đào tạo sự nghiệp, tên tuổi của họ.
            Thật vậy, sau thời gian nhiều tháng chịu đựng mà tương lai vẫn mịt mờ, tiền vay bạc hỏi cũng không còn ai cho, nên gần như hầu hết nghệ sĩ nhà ta phải chạy tới chạy lui tìm sinh lộ. Lúc đầu thì ai nấy cũng nghĩ rằng làm nghề mới chỉ tạm thời gian thôi, chờ ngày lên sân khấu trở lại, nhưng chờ mãi từ tháng này sang năm nọ, chỉ thấy tình trạng ngày càng bi đát hơn thôi, do đó mà nghề tạm đã dần dà thở thành nghề chính tự lúc nào không hay.
            Lúc bấy giờ người ta thấy họ bung ra đi làm rất nhiều nghề như: Tài xế, đứng bến, sửa xe, hớt tóc, bán dạo, bán thuốc lá, làm thuê mướn, khuân vác… nói chung thượng vàng hạ cám gì cũng được, miễn là có cơm gạo sống qua ngày, đồng thời cũng có người giải nghệ luôn về quê làm ruộng rẫy, hoặc mua bán gì đó ở nông thôn.
            Năm Mậu Thân một số lớn đoàn hát rã gánh, thì dĩ nhiên một số đông đào kép công nhân bắt buộc phải chuyển nghề, có nghĩa là tìm nghề khác làm ăn, coi như bỏ hẳn nghiệp cầm ca. Tuy nhiên vẫn còn một số ít gánh hát nhỏ ở tỉnh vẫn hoạt động, và thường đi lưu diễn, bởi dọn đến địa điểm mới thì ít nhiều gì cũng có khán giả. Bầu gánh nhỏ ở tỉnh vẫn bám nghề dù rằng bữa hát bữa không, có khi hát một đêm, nghỉ ba, bốn đêm hoặc nhiều hơn nữa. Như vậy thì sống thế nào được chớ? Câu trả lời là đào kép công nhân sân khấu có thể làm thêm nhiều nghề khác, thay vì chỉ đơn thuần lo việc hát xướng, mà giờ đây nó đã trở thành nghề phụ. Trên đường lưu diễn, gánh hát dừng lại nơi nào, thì họ tìm ngay công việc làm để lo cho sự sống trước cái đã, rồi sau đó mới tính đến chuyện hát xướng. Tùy theo khả năng có sẵn, nghệ sĩ có thể làm thêm những công việc khác như cạo gió giác hơi, đánh bóng tủ bàn ghế, chùi lư đồng, chạy xe ôm. Họ cũng có thể là thợ hớt tóc, thợ điện, thợ hồ, thợ mộc và cũng có thể làm… ruộng.
            Vào một dịp gần Tết năm nọ có gánh hát về diễn ở Gò Công, người ta thấy một hiện tượng khá lạ. Đoàn vừa dọn đến chưa ổn định gì hết, thì hầu như từ đào kép đến thầy đờn, công nhân chia làm nhiều nhóm tỏa ra các ngả đường như đi dạo. Thỉnh thoảng họ liếc mắt vào các nhà dân như tìm người quen. Thấy lạ, người ta mới hỏi một anh kép thì được cho biết là đoàn hát của anh có cái nghề đánh bóng tủ, chùi lư đồng, đèn đồng… và hễ thấy nhà nào có những thứ này là gặp gia chủ để… tiếp thị. Anh ta còn cho biết nghề này không tốn vốn chỉ tốn công, cần phải làm cho kỹ thì gia chủ mới trả công cao, nhứt là các dịp Tết Nguyên Đán thì nghề này trúng lắm. Anh nói thêm nhiều địa phương bà con biết mình là nghệ sĩ làm thêm nghề tay trái nên họ rất cảm động, sẵn sàng giao công việc và còn giới thiệu cho bạn bè, thân tộc. Nhiều chị trong đoàn còn nhận thêu thùa hoặc nấu nướng cho bà con tại các địa phương mà mình lưu diễn.
            Có chị được khán giả địa phương cảm mến, gom góp cho hàng chục ký vải vụn đem về kết lại thành những tấm mền đủ màu sặc sỡ rồi bán lại cho dân địa phương. Đã có nhiều đoàn trúng mánh khi về một số địa phương gặp phải đám tiệc, đám cưới, liên hoan, thôi nôi, đầy tháng, đám ma, sinh nhật… Người thì nhận sô văn nghệ, người nhận trang trí, thiết kế ánh sáng, người phụ trách về âm thanh, người nhận bao thầu nấu nướng…
            Chạy xe ôm cũng là một nghề thường thấy trên đường lưu diễn, nhiều nghệ sĩ có xe Honda ngoài việc chở cho người trong đoàn đi đây đi đó, còn chở thuê cho dân trong vùng xa.
            Nghề cạo gió giác hơi cũng chen chân được vào đoàn hát và trở nên khá phổ biến, có đoàn có đến ba, bốn người cùng làm nghề này. Thường ở trong đoàn, họ làm với tính cách giúp đỡ, chữa trị cho đồng nghiệp mà không nhận thù lao, hoặc có cũng với giá tượng trưng. Có một nữ nghệ sĩ thành thạo nghề cạo gió giác hơi, ai trúng gió, cảm lạnh cũng đều nhờ chị làm giúp. Có chị còn nấu nước xông, nấu cháo cảm cho anh em mau lành bệnh.
            Nghệ sĩ luôn thích làm đẹp, nhứt là các cô đào. Vì thế ở đoàn nào cũng có người làm móng tay, móng chân, nhiều nữ nghệ sĩ ở các đoàn thường sắm kềm cắt riêng mỗi khi làm móng tay móng chân để ngừa bệnh.
            Nhiều đoàn, khán giả đến chơi, thăm nghệ sĩ thấy có người làm nghề này nên ủng hộ rồi sau đó về nhà giới thiệu cho nhiều người khác đến làm.
            Chuyện viên phụ trách ánh sáng ở đoàn thường kiêm luôn nghề sửa điện, và nghề này kiếm khá tiền. Và còn rất nhiều nghề nữa mà ở đây không thể kể hết.


“Thành Được Restaurant” ở Milpitas, California

Hát xướng hết thời, đào kép mở tiệm ăn
            Đào kép cải lương trong thời gian chuyển sang nghề khác, có lẽ do mặc cảm nên đa số giấu đi nghề đi hát của mình, chỉ những người từng biết mặt biết tên, mới rõ biết họ là nghệ sĩ từng ở gánh hát này đoàn hát kia, chớ hiếm khi tiết lộ cái nghề chính hằng đêm lên sân khấu trước đây.
            Thế nhưng, có một nghề họ không giấu giếm mà còn trương bảng hiệu nghệ danh của mình chẳng khác gì trương bảng đoàn hát, đó là: Nghề mở tiệm ăn! Không hiểu nghĩ sao mà họ lại lấy nghệ danh hát xướng của mình đặt tên cho cửa tiệm, mà vốn chẳng ăn nhập gì đến nghệ thuật sân khấu, cũng chẳng dính dáng gì đến cái nghiệp cầm ca của mình.
            Khi xưa, thời thập niên 1950 ở Thị Nghè, Sài Gòn có quán “Lệ Liễu” do nữ danh ca Lệ Liễu làm chủ, được giới yêu thích cổ nhạc hoan nghinh một thời. Cô Lệ Liễu, một danh ca đài phát thanh Sài Gòn thời đó, cô đã có mục tiêu rõ ràng khi lấy nghệ danh của mình đặt tên cho quán, bởi quán bán thức ăn song song với tổ chức đờn ca cổ nhạc tài tử. Về sau quán dời về đường Lý Thái Tổ vẫn được giới yêu thích cổ nhạc ủng hộ. Quán mở mỗi ngày từ chiều cho đến quá nửa đêm, có sân khấu nhỏ, có nhạc sĩ thường xuyên đờn cho khách muốn ca thì lên sân khấu. Hợp tình hợp cảnh như thế nên cái tên quán “Lệ Liễu” chẳng ai thắc mắc gì.
            Thế nhưng về sau nghệ sĩ không còn đi hát cũng mở quán ăn uống, treo bảng mang tên nghệ danh của mình nhưng chẳng có ca hát gì cả. Nhớ lại hình ảnh xa xưa thì có đào Hà Mỹ Xuân, từng là đào chánh của đoàn Thế Hệ Dũng Thanh Lâm, Hương Mùa Thu, Kim Chung 6… và gặp lúc cải lương kiệt quệ thì đào Hà Mỹ Xuân về quê Long Xuyên mở tiệm nhậu lấy tên “Tri kỷ Hà Mỹ Xuân” (không biết ai là tri kỷ của cô đào này?)
            Người ta chẳng biết có phải do quán đẹp, ấm cúng, món nhậu ngon, hay là nhờ cô đào Hà Mỹ Xuân trẻ đẹp mà khách nhậu đông đảo, đều mỗi ngày. Tuy nhiên cô này bảo: Bán quán là bán cho đỡ buồn vậy thôi, chớ còn nhớ hát xướng quá, nên lúc nào buồn là vác rương đi hát nữa. Nói vậy chớ cải lương ngày một khốn đốn thêm lên, gánh hát nào cũng sống dở chết dở thì đi gánh nào bây giờ, do đó mà quán nhậu “Tri kỷ Hà Mỹ Xuân” vẫn sống một thời gian khá dài.
            Một trường hợp nữa là đôi vợ chồng nghệ sĩ Phong Sắc, Lệ Hằng. Đã có một thời ai cũng biết một gánh hát nhỏ xuất xứ ở Bạc Liêu mang bảng hiệu Phong Sắc – Lệ Hằng, thường hay có mặt ở ngoại ô Đô Thành Sài Gòn, có khi cũng dám nhào vô rạp Aristo hay rạp Nguyễn Văn Hảo.
            Thế nhưng, cũng do cái Tết Mậu Thân cải lương càng lúc càng xuống dốc, gánh Phong Sắc – Lệ Hằng đành chịu rã gánh tại Bến Đình, Vũng Tàu. Thế là vợ chồng cặp đào kép này không làm sao hơn là che lều tại đây để bán cà phê sống đắp đổi, mong có ngày lập gánh lại như xưa.
            Nhưng chừng như cái thời đã hết nên bao phen vận động mà vẫn không dựng lại nổi đoàn hát, bởi có ai dám bỏ tiền ra cho gánh hát vay lúc ấy chớ! Rồi thì sống mãi với nghề bán cà phê luôn. Anh này lấy tấm bảng gánh hát Phong Sắc – Lệ Hằng bôi bỏ chữ “đoàn ca kịch” viết lại chữ “quán cà phê”, khiến nhiều người lầm tưởng gánh hát còn, đến khi nhìn kỹ thì… thôi vô uống cà phê vậy!
            Thời đó có người nói kép Phong Sắc vì không được “sắc phong” nên gánh hát rã rồi chuyển bảng hiệu sang bán cà phê. Một trường hợp nữa, đó là nghệ sĩ Nam Hùng, anh kép độc này lấy nghệ danh Nam Hùng của mình đặt tên cho tiệm phở ở đường Nguyễn Duy Dương, cũng khiến cho thiên hạ thắc mắc, rằng trong quán có ca hát gì không? Kép độc Nam Hùng nổi tiếng từ thời thập niên 1960, từng đóng vai chàng hiệp sĩ, ý trung nhân của cô gái mù do Thanh Nga đóng trong tuồng “Tiếng Hạc Trong Trăng” của soạn giả Yên Ba.
            Nam Hùng và Thanh Thanh Hoa là đôi vợ chồng nghệ sĩ chung sống với nhau đến những hai thập niên, có lúc báo chí nói họ như “chim liền cánh, cây liền cành” nhưng về sau thì Nam Hùng “kết” với đào Tô Kim Hồng, và gặp lúc cải lương tê liệt, họ nhảy ra mở tiệm phở.
            Người ta nói rằng thấy quán Nam Hùng, vô ăn thử xem có thêm hát xướng gì không? Thật sự là chẳng hề thấy màn cảnh, áo mão, đờn trống gì hết. Thực khách nguyên là khán giả cải lương đến tiệm đã thất vọng, vì không thấy Thầy Đề (tuồng Ngao Sò Ốc Hến). Nghệ thuật không có ở đây mà treo bảng cái tên của nghệ thuật thì quả thật là… tréo cẳng ngỗng.
            Ở hải ngoại hiện nay có nghệ sĩ Thành Được, anh này mở nhà hàng dựng bảng hiệu “Thành Được Restaurant” ở San Jose miền Bắc California, và thời gian sau lại mở thêm “Thành Được Restaurant” thứ hai ở khu Little Sài Gòn, miền Nam California, nhưng địa điểm này không thọ, chỉ thời gian ngắn là dẹp bảng không thấy nữa. Có người từng là khán giả đi coi hát nhiều năm qua đã nói rằng cái tên Thành Được gắn liền với nghệ thuật, ăn sâu vào lòng khán giả, trương bảng “Thành Được” mà vào quán không thấy hơi hướng gì của rạp hát, của đờn ca cổ nhạc thì kể cũng lạ. Vào đây không thấy một kiếm sĩ Tô Điền Sơn, một tướng cướp Thy Đằng, mà chỉ thấy Thành Được làm những công việc của nhà hàng. Giờ đây có người nói rằng phải chi Thành Được tổ chức quán của mình như danh ca Lệ Liễu thì hay biết mấy.
            Chuyện đào kép cải lương thất thời nhảy ra làm tiệm ăn, đồng thời lấy nghệ danh đi hát của mình đặt tên cho cửa tiệm cũng là một vấn đề để cho khán giả, thiên hạ luận bàn, phê bình không ít, theo từng quan niệm riêng của mỗi người. Thiên hạ nói rằng bán tiệm ăn thì yếu tố để được đông khách lâu dài là phải “ngon”, chứ nếu như dùng cái tên nghệ thuật mà phục vụ không đúng mức thì lại càng phản tác dụng thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 12/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1213-nm-12132014100920.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1220-nm-12202014095510.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #109 vào: 29/04/2018, 23:20:22 »
Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa

Nhân dịp ở miền Nam California Hoa Kỳ, Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại vừa phát giải Phụng Hoàng tổ chức thành công tốt đẹp với một tuồng cải lương và ba bài vọng cổ sáng tác trúng giải, mà báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tường thuật khá nhiều. Trước sự việc trên, người ta nhớ lại khi xưa thời kỳ trước 1975, chính phủ, trong công cuộc bảo tồn văn hóa, đã ban hành nghị định thiết lập giải thưởng, lấy tên “Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống”, để hàng năm phát cho nhiều bộ môn văn hóa nghệ thuật, mà trong đó có tuồng hát bội và tuồng cải lương.

Nữ nghệ sĩ đã nhận giải Thanh Tâm từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

NGƯỜI ĐƯỢC trúng giải ngoài phần danh dự được lãnh văn bằng, huy chương, và tiền thưởng khá cao, chỉ nội giải khuyến khích cũng được tiền thưởng 100 ngàn đồng (thời điểm này vàng y khoảng 20 ngàn một lượng).
            Thế nhưng, rất hiếm tuồng cải lương tham dự giải, bởi năm đó (1971) chỉ duy nhứt có một tuồng “Thân Gái Dặm Trường” của soạn giả Ngọc Điệp tham dự và được lãnh giải khuyến khích.
            Hôm lễ phát giải được tổ chức trọng thể tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập, chính Tổng Thống đích thân trao giải cho từng người.
            Nghệ sĩ lão thành Năm Châu với tư cách chánh chủ khảo, trong ban giám khảo chấm giải bộ môn cải lương, ông có mặt trong buổi lễ và được Tổng Thống hỏi:
            – Tại sao cải lương không có nhiều tuồng tham dự?
            Nghệ sĩ Năm Châu đáp bằng một câu thật chí lý:
            – Thưa Tổng Thống, đào ở đâu cho ra tuồng cải lương hay mà tham dự giải.
            – Không có tuồng thì cải lương lấy cái chi để hát?
            – Cải lương có bao nhiêu tuồng hay thì giải Thanh Tâm đã chấm điểm hết rồi.
            Năm Châu nói rõ hơn là tuồng cải lương được gọi là hay, xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1968 (Mậu Thân) chỉ có khoảng hơn 20 tuồng được coi như có ý nghĩa, đạt tiêu chuẩn để chấm điểm, còn bao nhiêu tuồng khác gọi là “hương xa” thì không mang ý nghĩa gì hết, cốt truyện từ đâu đâu chẳng biết của quốc gia nào, mà đa số là dựa vào phim Tàu, phim Nhựt ghép lung tung.
            Mấy năm nay các gánh chỉ hát đi hát lại tuồng cũ, hoặc ghép tuồng này sang tuồng nọ rồi đổi tên tựa, chớ tuồng mới thực sự thì không có. Những tuồng hay, đạt tiêu chuẩn thì một số lớn đã từng tham dự giải Thanh Tâm, và một số tuồng hay khác thì soạn giả đã vào chiến khu, đâu ai dám đem tuồng đi tham dự giải của Tổng Thống.
            Kể từ năm Mậu Thân 1968 cải lương xuống dốc trầm trọng, các soạn giả lớn ngưng viết tuồng. Giờ đây cải lương chỉ có những tuồng chấp vá loạn xị, hoặc sao chép từ phim Tàu thì có ra hồn gì đâu mà tham dự giải.
            Còn lý do vì sao mà soạn giả lớn ngưng viết tuồng thì rất dễ hiểu, bởi cải lương xuống dốc, nếu bỏ công sức, tim óc để hoàn thành cho ra đời một vở hát mà không tiêu thụ được. Gánh hát ế, một ngày hát bốn, năm ngày nghỉ, lỗ lã là thường thì đâu có tiền dư trả tiền bản quyền cho soạn giả.
            Vậy thì soạn giả lấy gì lo cho cuộc sống để mà tiếp tục viết tuồng. Những soạn giả mà nghiệp dĩ còn mang, người ta thấy có Thu An thì anh này vốn là thầy tuồng, một thời làm mưa làm gió trên sân khấu đoàn Thủ Đô, từng viết tuồng Tiếng Trống Sang Canh, Con Cò Trắng, Gánh Cỏ Sông Hàn… rồi nhảy ra lập gánh Hương Mùa Thu. Vì là gánh hát nhà buộc lòng phải viết lách lai rai cho Ngọc Hương hát cho vui, chớ chẳng phải là muốn tranh tài với ai nữa cả.
            Riêng về hai soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng vang danh tên tuổi, có thế đứng mạnh nhứt trong số soạn giả lớn danh, thì đã kẻ trước người sau xa lánh Sài Gòn để tạo cho mình một sân khấu nhỏ sống đắp đổi ngoài Trung, và dĩ nhiên nghiệp dĩ bắt buộc các anh phải viết tuồng cho gánh của các anh hát như Thu An vậy. Thời điểm này liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chỉ còn lại trong lòng khán giả như chuyện vang bóng một thời vậy thôi.
            Những tuồng cải lương đang diễn hiện nay trên các sân khấu, trên truyền hình là của các soạn giả nhỏ trước đây chỉ sống được với các gánh hạng B, hạng C, nay nghiễm nhiên trở thành trụ cột của các gánh lớn, để rồi chỉ cần đi coi phim kiếm hiệp Tàu rồi cóp lại làm tuồng kiếm hiệp, hoặc xào nấu lại những vở tuồng cũ trên chục năm trước đây cho hát kiếm cơm đắp đổi, thì làm sao có tuồng mới để mà tham dự giải.
            Lời trần tình của nghệ sĩ Năm Châu trước Tổng Thống rất đúng với thực tại của cải lương lúc bấy giờ, đó là cải lương thiếu tuồng tích nên ngày một suy yếu, mà càng suy yếu thì lại càng không có tuồng hay. Cái vòng lẩn quẩn đó cứ kéo dài hết năm nầy sang năm nọ, thành thử ra nhiều năm qua cải lương chưa có một tuồng hay nào xuất hiện, thì lấy đâu ra tuồng để tham dự giải.
            Vấn đề đã cho thấy rằng ngay cả giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống, đầy đủ phương tiện tổ chức, giải thưởng lớn lao cả về tinh thần lẫn vất chất, vậy mà cũng thiếu tuồng cải lương tham dự, thì các tổ chức sau này đứng ra làm cái công việc trên thì không thể nào mà không gặp khó khăn.
            Không phải chỉ thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới có giải văn học nghệ thuật phát cho cải lương, mà trước kia chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng có phát giải cho cải lương, và cũng rất ít tuồng tham dự giải. Trước khi nói về giải thưởng cải lương thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, thì phải nói đến các gánh hát trong khu kháng chiến của những năm 1946-1947 để rồi dẫn đến câu chuyện này.
            Số là thời ấy trong vùng kháng chiến, gánh hát Lam Sơn của nhạc sĩ Chín Điều có vở hát “Chén Cháo Chí Linh” tức Lam Sơn khởi nghĩa được coi như là tuồng chủ lực. Sau 1954 Chín Điều về thành làm soạn giả lấy bút hiệu là Điêu Huyền, và lúc xảy ra câu chuyện thì ông đang cộng tác với đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ của vợ chồng đào Hoài Dung và soạn giả Nguyễn Huỳnh. Gánh hát do đào Hoài Dung đứng tên làm giám đốc, bởi soạn giả Nguyễn Huỳnh đang là viên chức cảnh sát cấp lớn ở Đô Thành (ông Cò Huỳnh).
            Năm 1957, Phủ Tổng Thống có mở ra cuộc thi văn nghệ trình diễn toàn quốc, chú trọng vào hai bộ môn kịch nói và ca kịch. Thông cáo về cuộc thi đó được đưa tới Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu để nhờ hội này phổ biến và khích lệ giới sáng tác ca kịch tham gia. Hội Nghệ Sĩ thấy mình phải làm gương trước hơn ai hết, nên tổng thơ ký của hội lúc đó là soạn giả Duy Lân mới hỏi số anh em soạn giả hiện diện rằng ai có tuồng hát lành mạnh thì nên gởi dự thí.
            Lúc bấy giờ soạn giả Điêu Huyền liền thưa thiệt rằng anh có sẵn vở hát “Chén Cháo Chí Linh” mà anh coi ra như có đủ yếu tố dự thi, nhưng ngặt cái là nó được sáng tác hồi còn trong khu kháng chiến, chẳng biết là có nên gởi dự thi hay không? Tổng thơ ký Duy Lân cho rằng chẳng làm sao hết, xin miễn rằng nó chỉ đề cao tinh thần dân tộc chiến đấu mà chẳng có điểm nào tuyên truyền thì thôi.
            Cũng cần nói thêm dù rằng tuồng được hát từ lâu trong khu kháng chiến, nhưng chỉ viết tay trong cuốn tập học trò giống như bản thảo. Nghe vậy soạn giả Điêu Huyền đánh máy vở hát trên giao qua cho Hội Nghệ Sĩ gởi đi dự thi, và sau đó thì vở hát này được trúng giải của Quốc Hội ban phát.
            Khi kết quả được công bố và soạn giả nhà ta vừa lãnh giải xong thì oái oăm thay, đài Hà Nội lại cho truyền thanh liền vở hát đó, mà soạn giả Điêu Huyền nào có hay. Cho tới phiên các ông mật vụ ở Phủ Tổng Thống tìm hiểu tại sao có chuyện kỳ cục như vậy thì soạn giả Điêu Huyền mới… phát rét. Tuy nhiên cũng may nhờ bầu gánh Hoài Dung – Hoài Mỹ là soạn giả Nguyễn Huỳnh trần tình giùm cho Điêu Huyền hết mực cho nên anh này mới thoát khỏi tai bay vạ gió. Ai nấy đều hú hồn cho Điêu Huyền!
            Thời Đệ Nhứt Công Hòa, cuộc thi đó cũng chỉ có hai tuồng dự thi, nhưng một tuồng bị loại không cho thi, đó là tuồng “Mắng Việt Gian” của nghệ sĩ Bảy Nam (thân mẫu của kỳ nữ Kim Cương). Không biết nội dung tuồng ấy là những gì mà bị loại. Như vậy chỉ có tuồng “Chén Cháo Chí Linh” tham dự và trúng giải.
            Tuồng tích cải lương khó khăn như vậy, nên hiện nay tổ chức nào làm được công việc khuyến khích soạn giả viết tuồng mới, là được giới mộ điệu hoan nghinh cũng đúng thôi.
            Vậy nếu như muốn thực hiện công cuộc bảo tồn văn hóa, duy trì bộ môn nghệ thuật độc đáo của dân tộc, phải được sự ủng hộ của nhiều phía, cùng góp tay với Hội Cổ Nhạc, thì mới mong làm được việc.
            Về phía tổ chức đứng ra làm, phải đồng tâm hiệp lực, tôn trọng lẫn nhau, ý kiến không tương phản thì công việc mới trôi chảy, mới đưa đến thành công.
            Một cô trưởng đoàn nghệ thuật từng nói: Một ban tổ chức phải thực sự có uy tín “nói mà người ta nghe” thì mới hy vọng làm được việc. Lễ phát giải Phụng Hoàng kỳ 7 vừa qua cũng nhờ uy tín mà Hội Cổ Nhạc tổ chức thành công. Chớ nếu chưa đủ uy tín “nói mà người ta chẳng nghe”, thì chuyện nhỏ cũng không xong, chớ đừng nói chi đến chuyện tổ chức phát giải văn học nghệ thuật.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/tradi-vietn-12-26-2014-12262014121116.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #110 vào: 05/05/2018, 22:19:53 »
Vì sao không thấy gánh hát Ấn Độ ở Việt Nam?

Có người thắc mắc nói rằng người Ấn Độ ở nước ta khá đông, qua nhiều thế hệ, họ có cả Chùa Chà ngay tại Sài Gòn gần chợ Bến Thành, có nhà hàng Chà ở góc đường Nguyễn Trãi, Trần Bình Trọng, luôn có thực khách là người Ấn, người Việt đến ăn cơm nị. Thế nhưng, không hiểu sao người ta lại không thấy có “Đoàn hát Ấn Độ” giới thiệu về văn hóa của một quốc gia đông dân đứng thứ nhì trên thế giới, và người ta cũng không thấy gánh hát nào từ Tân Đề Li sang Việt Nam trình diễn.

Đền thờ Bà Mariamman (đền Hindu giáo), ở số 45 Trương Định, Quận nhất, Sàigòn

Người Ấn ở Việt Nam qua nhiều thế hệ
            Chớ như người Hoa ở Việt Nam họ có gánh hát Tàu ở Chợ Lớn, có ban nhạc Triều Châu, và khi xưa họ còn có những gánh hát Sơn Đông đi hát dạo cùng khắp các chợ. Ngoài ra họ còn có gánh hát từ Hồng Kông sang Chợ Lớn trình diễn, có cả nghệ sĩ tên tuổi như Mã Sư Tăng, Hồng Tuyến Nữ. Cặp đào kép trứ danh này từng đến thăm Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, được Má Bảy Phùng Há, Năm Châu, Duy Lân cùng nghệ sĩ các đoàn hát tiếp đón trọng thể. Do đó ít nhiều gì bà con ta cũng hiểu sơ qua về văn hóa đặc thù của dân tộc Trung Hoa.
            Ngược thời gian trở về những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, lúc bấy giờ phim Ấn Độ tràn ngập các rạp chiếu bóng ở Sài Gòn, ở các tỉnh, đi đâu cũng thấy hình ảnh tài tử Ấn Độ vẽ trước rạp chiếu bóng. Các phim Ấn Độ thời ấy thường có nội dung, tình tiết gần gũi với văn hóa Á Đông, và diễn tiến câu chuyện thường là kẻ ác gặp dữ, kẻ hiền gặp lành. Trang phục và nhạc điệu phim nào cũng na ná như nhau, nghe âm thanh là nhận ra ngay là phim Ấn Độ đang chiếu. Đặc biệt là thường hay có rắn xuất hiện, khiến những khán giả vốn sợ rắn đã sợ hãi hồi hộp, có người xỉu luôn tại rạp. Các “tài tử rắn” lên màn bạc đem lại sự mới lạ, nhưng cũng đồng thời làm mất đi số khán giả, phần nhiều là phái nữ họ đã bái bai phim Ấn Độ do vấn đề rắn.
            Thời đó phim Ấn Độ rất ăn khách nhờ nói tiếng Việt, do ban Năm Châu chuyển âm. Có những phim tài tử hát nhạc Ấn, lại được chuyển sang ca vọng cổ, các phim này lúc đầu khán giả phải sắp hàng mua vé. Tôi còn nhớ tại rạp Tân Đô ở Tân Định, cuốn phim “Gió Bụi Kinh Thành” có đoạn tài tử Ganesan xuống vọng cổ: “Thật khổ thay trong cái cảnh gió bụi kinh... thành...” Khán giả vỗ tay vang dậy, không phải tán thưởng cái anh chàng tài tử Ấn này, mà là khen tặng làn hơi ca ngọt ngào mùi rệu của đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn.
            Tung hoành được vài năm thì phim Ấn Độ bị phim chưởng Tàu đánh tới tấp, Anh Ba tung “chưởng” mạnh quá khiến phim Anh Bảy chịu không nổi phải bỏ chạy hết rạp này đến rạp khác, thu hẹp dần, chỉ còn chiếu mỗi một rạp Long Phụng ở đường Gia Long mà cũng chưa yên thân. Rồi thì rạp cuối cùng Long Phụng cũng bị Anh Ba gỡ hình tài tử Ấn xuống và treo lên những Vương Vũ, Khương Đại Vệ, Trịnh Phối Phối, Trần Tinh... Coi như phim Ấn Độ đã cáo chung, mất hết khán giả, mất luôn thị trường.
            Xem phim Ấn Độ người ta thấy có cảnh những đoàn hát Ấn Độ đi trình diễn ở vùng quê, và hình thức cũng giống như, gánh hát bầu tèo (tên gọi gánh hát nhỏ) ở miền quê nông thôn nước ta. Về trang trí thì rất đơn giản, chỉ vài tấm phông màn, và dụng cụ hát cũng thu gọn trong vài chiếc rương, chẳng khác gì các gánh hát bán thuốc dạo ở thôn quê miền Đông, miền Tây Nam Việt thời những năm cuối thập niên 1950.
            Vậy là nước Ấn Độ cũng có hát xướng nhưng không hiểu sao mà người Ấn ở Việt Nam, họ không lập gánh hát phục vụ cho nhu cầu giải trí trong cộng đồng của họ. Cũng như gìn giữ văn hóa khi ra nước ngoài như người Hoa.

Bên trong Đền thờ Bà Mariamman

Người Ấn Độ rất muốn có vợ Việt?
            Tôi từng nghe một bà có chồng người Ấn nói rằng, nếu lập gánh hát thì không sống nổi, vì đa số người Ấn Độ sang Việt Nam họ rất muốn có vợ Việt rồi theo sống lập nghiệp luôn ở quê hương của bà xã, có nghĩa là khi có vợ Việt rồi thì họ tách ra khỏi cộng đồng người Ấn, tức nơi quy tụ người Ấn ở khu vực có Chùa Chà.
            Số người Ấn có vợ Việt khá nhiều nhưng ở rãi rác khắp nơi, mỗi khi có lễ hội ở các Chùa Chà thì họ quy tụ về chỉ một ngày, một buổi mà thôi. Hết lễ họ trở về nhà lo làm ăn, có người suốt mấy năm chưa về lễ hội một lần, nên dần dà con cái của họ đồng hóa với dân Việt luôn. Vả lại người Ấn ở Việt Nam không đông đảo như người Tàu nên không thể lập gánh hát. Có lẽ do vậy mà không có gánh hát Ấn Độ chăng?
            Cũng vấn đề người Ấn có vợ Việt này, mà thời kỳ trước 1975 trên sân khấu Dạ Lý Hương dựng lên vở tuồng “Tình Anh Bảy Chà” của soạn giả Xuân Phát, nội dung vở hát là câu chuyện một người Ấn có vợ Việt. Kép Thành Được đóng vai Anh Bảy rất được hoan nghinh, nhưng khổ nỗi anh hề Xuân Phát kiêm soạn giả viết tuồng lại không nghiên cứu kỹ lưỡng văn hóa và tôn giáo Ấn Độ, đã cho kép Thành Được đội chiếc nón mà Anh Bảy thường đội. Nhưng chiếc nón ấy lại liên quan đến tôn giáo nào đó, cũng như người Ấn chuyên nghề cho vay tiền góp lại không phải ăn mặc như nhân vật mà Xuân Phát dựng lên. Thành thử ra soạn giả Xuân Phát bị Hội Ấn Kiều Sài Gòn lên tiếng phản đối, cho rằng bị chế diễu, thơ phản đối đăng trên nhiều tờ báo.
            Lúc bấy giờ do vấn đề ngoại giao, không muốn mích lòng nước bạn, nên Bộ Thông Tin đã không cho diễn tuồng “Tình Anh Bảy Chà” trên sân khấu cũng như trên truyền hình nữa. Có điều là sau 1975 cả soạn giả Xuân Phát và Thành Được đều có mặt ở hải ngoại, mà khán giả không thấy vở tuồng “Tình Anh Bảy Chà” từng ăn khách kia được dựng trở lại.
            Khoảng 1971 trên truyền hình Việt Nam có chiếu Lễ vũ Ấn Độ (tế nữ thần). Những vũ khúc trình bày đều là vũ dân tộc Ấn dùng động tác hai tay diễn tả hình ảnh, và vận dụng hết mặt diễn tả nội tâm. Ngoài các điệu thôn vũ, đáng chú ý nhứt là lễ vũ. Đây là điệu vũ diễn tả lễ tế nữ thần Cali hằng năm theo cổ tục của Ấn Độ. Một người được tuyển chọn để tế sống cho nữ thần được hài lòng. Lúc đầu nạn nhân tỏ ra sợ hãi, nhưng rồi lần lần họ chấp nhận xem như một danh dự là được hy sinh cho nữ thần. Ở điệu vũ này, vũ công cặp mắt há trắng như một thần linh, và do bởi lễ tế thần thường được cử hành dưới ánh sáng ngọn đuốc và nến, nên những động tác lúc vũ rất vất vả như tưới sáp nóng lên mình, lăn lộn...
            Trên đây là những vấn đề có liên quan đến người Ấn Độ hiện diện sinh sống ở nước ta từ lâu đời, mà lại không có đoàn hát Ấn Độ.


Vở cải lương: Tình anh Bảy Chà,
với các nghệ sĩ: Vũ Luân, Thanh Ngân, Diệp Lang, Ngọc Giàu

Ấn Độ cũng có nghệ thuật sân khấu dân gian
            Tìm hiểu thêm vấn đề thì biết rằng ở Ấn Độ cũng có nghệ thuật sân khấu dân gian. Nếu như ngày xưa các diễn viên sân khấu Ấn Độ bị coi là thuộc về đẳng cấp thấp và bị khinh bạc (giống như quan niệm “xướng ca vô loại” ở nước ta ngày trước) thì nay lại hoàn toàn khác, họ được mọi người ưu ái, nhứt là đối với những diễn viên có tài, bởi vì chính họ là những người làm vẻ vang cho tổ quốc trước đông đảo khán giả sân khấu thế giới. Nhưng cũng vì sự ưu ái này nên đã có những sự cạnh tranh gay gắt, về vấn đề nghệ thuật trình diễn giữa các đoàn, nhờ vậy mà sau cùng, chính khán giả là những người được lợi nhất.
            Đối với các nghệ sĩ tuồng dân gian Ấn Độ, thì không có việc “ế” khán giả, mà chỉ có vấn đề làm sao phải luôn nâng cao trình độ diễn xuất, bởi vì tuồng tích hay, không hẳn là đã đủ, mà còn cần phải diễn hay nữa. Điều này đòi hỏi các diễn viên phải “đổ mồ hôi sót con mắt”. Về trang phục trên sân khấu thì đào kép ăn mặc kín đáo giống như trong phim Ấn Độ mà chúng ta thường thấy. Các đoàn hát dân gian chỉ trình diễn bốn hoặc năm lần trong mỗi tháng, là vì họ dành khá nhiều thời giờ vào việc tập luyện hơn là dành thời gian vào việc “chạy sô”. Tuy số lần trình diễn trong tháng có giới hạn, nhưng lại là những lần diễn đầy khán giả, những loại tuồng mà có nội dung chế giễu “quan chức bàn giấy”, cho vay nặng lãi, địa chủ, v.v... là những loại tuồng luôn được khán giả ưa thích.
            Tuy nhiên, không vì các buổi hát luôn có khán giả đến xem mà các đoàn sân khấu dân gian Ấn đã trở nên giàu có. Cũng giống như các gánh hát cải lương ở nước ta, ít có đoàn nghệ thuật dân gian nào chịu đóng trụ lâu tại một nơi, cho dù đó là tại thủ đô Tân Đề Li sầm uất đầy đủ tiện nghi, hay tại vùng Rishi Rish hẻo lánh sát chân dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ. Hầu như các đoàn nghệ thuật dân gian đều thích được đi khắp nơi trong đất nước Ấn Độ hơn là diễn mãi ở một chỗ, và mỗi lần đi đây đi đó như vậy là thu chi đều gần như ngang nhau.
            Từ thủ đô Tân Đề Li di chuyển đến thành phố Patna nằm trên bờ sông Hằng cách cả ngàn cây số, đoàn nghệ thuật dân gian Gulab mở cuộc lưu diễn dừng lại hát nhiều chỗ, và khi đến đây họ tạm nghỉ để đi chơi đây đó thăm Patna, và đến khi gần cạn tiền, đoàn mới tiếp tục diễn lại để... lấy tiền mua vé xe lửa về Tân Đề Li! Như vậy có nghĩa là sau cuộc lưu diễn túi không lại hoàn túi không, chẳng khác gì đào kép cải lương xứ mình vừa nghỉ hát là đi vay nợ vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-010315-nm-01032015075924.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #111 vào: 12/05/2018, 22:04:06 »
Đệ nhị danh ca Út Rạch Giá

Vào những năm của thập niên 1950, miền Nam có đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn, thì thời ấy cũng có đệ nhị danh ca Út Rạch Giá, đó là danh hiệu mà giới sân khấu cải lương và báo chí phong tặng. Nhưng cuộc đời sự nghiệp của mỗi nghệ sĩ thật khác nhau, có người may mắn giữ được phong độ suốt đời, có người chỉ vang bóng một thời, rồi tên tuổi lu mờ theo năm tháng. Nghệ sĩ Út Rạch Giá, đệ nhị danh ca miền Nam về sau còn mấy ai nhớ tới cuộc đời ông ấy ra sao?

Ðệ nhị danh ca Út Rạch Giá đứng trước mái nhà lá của ông

Vang bóng một thời
            Út Rạch Giá còn có tên là Út Dậu, khoảng tuổi Út Trà Ôn, quê quán ở Rạch Giá. Ban đầu ông lấy nghệ danh là Út Dậu, sau nổi danh là Út Rạch Giá. Năm lên 10 tuổi ông đã say mê đờn ca cổ nhạc và thường theo nhóm ca nhạc tài tử trong làng đi chơi đây đó, có nghĩa là đi theo xách đờn, mua rượu cho các nghệ nhân. Rồi ngày này qua tháng nọ ông thuộc làu nhịp nhàng, bài bản và được bạn bè dạy thêm rồi biết ca. Mặt khác ông học qua máy hát dĩa.
            Năm 16 tuổi ông trốn gia đình đi theo cải lương, đoàn đầu tiên là Tân Hí Ban của bầu Núi. Ban đầu chỉ làm quân câm (tức chỉ đứng chớ không nói gì hết), hàng đêm cầm giáo đứng hầu vua, quan trên sân khấu, một thời gian sau mới được làm quân báo (tấu, trình), mỗi xuất hát lúc đó lãnh được 5 xu (5 xu thời đó không biết mua được gì).
            Theo đoàn ba năm, mẹ ông bắt về cưới vợ không cho đi theo cải lương nữa. Sống với người vợ mới cưới được sáu tháng, vì nhớ sân khấu quá nên bỏ vợ trốn đi theo cải lương lần thứ hai. Rõ ràng mê cải lương hơn mê vợ! Ông vào gánh Thế Nguyên, vừa học nghề vừa làm dàn cảnh, đóng vai quân sĩ. Đến năm 1952 ông được hát kép nhì, sau đó hãng dĩa Hoành Sơn và Đài phát thanh Pháp-Á mời ông thu thanh nhiều bài vọng cổ 6 câu, và bài “Nhớ Mẹ Hiền” của soạn giả Trần Bá. Bài này đã làm tên tuổi của Út Dậu được khẳng định. Năm 1954 tại rạp Nguyễn Văn Hảo trong ngày giỗ Tổ cải lương, Út Dậu ca bài vọng cổ “Nhớ Mẹ Hiền” lúc cúng Tổ, được ông Trần Tấn Quốc và giới nghệ sĩ cải lương phong tặng danh hiệu Út Rạch Giá – đệ nhị danh ca miền Nam (sau Út Trà Ôn một bậc).
            Từ đó đến 1961 làm kép chánh các đoàn tuồng cổ, và đến năm 1964 thì lâm bạo bịnh, ông không hát được nữa phải về Mỹ Tho làm tài công cho đò máy Hiệp Hưng một năm. Trong thời gian này, Út Rạch Giá gặp cô Ba Thại, lúc ấy là đào chánh của đoàn hát bội Bến Tre, nên ông nghỉ tài công và đi theo hát bội, hai người nên duyên từ đó.
            Sau 1975 Út Rạch Giá và vợ đi đoàn Hiệp Lợi, Bến Tre, và kế tiếp làm trưởng đoàn cải lương Hàm Luông, và hát kép lão. Đến năm 1982 ông về hưu và ở lại hậu cứ của đoàn. Còn cô Ba Thại vợ ông đến năm 1984 bị bệnh bán thân, được vợ chồng người con gái là Ngọc Mai đem về nuôi dưỡng tại xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo – Tiền Giang. Năm 1986, Út Rạch Giá không còn ở hậu cứ của đoàn nữa, thỉnh thoảng đi hát chầu.
            Tuy rằng trên dưới có một bậc nhưng cuộc sống lại khác xa một trời một vực. Trong khi đệ nhứt danh ca thì nhà cao cửa rộng ở Thủ đô Sài Gòn, bên cạnh luôn có cô vợ trẻ măng đào Ngọc Bích. Lúc Út Trà Ôn cùng đào Ngọc Bích theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga lên máy bay đi Tây, thì Út Rách Giá cùng bà vợ già là đào hát bội Ba Thại theo đoàn hát bội di chuyển xuồng ghe, hát đình hát chợ ở thôn quê làng xã. Người ta nói cái số nghèo thì dù là đệ nhị danh ca cũng vẫn nghèo!
            Sau 1975 Út Trà Ôn vẫn còn chiếc Volkswagen, tuy cũ nhưng là nghệ sĩ đi xe hơi. Còn đệ nhị danh ca Út Rạch Giá thì cuộc sống nghèo nàn, cơ cực, rày đây mai đó với nghề vá xoong nồi nhôm để kiếm sống. Căn nhà vợ chồng nghệ sĩ Út Rạch Giá không được lành lặn cho mấy. Người ta không khỏi bùi ngùi khi đứng trước mái nhà lá lụp sụp, bên trong duy nhứt chỉ có một chiếc giường tre xiêu vẹo, vài cái chén, vách phên ọp ẹp, nóc nhà lổ chổ ban đêm đếm được sao trời. Bạn bè nghệ sĩ đến thăm, Út Rạch Giá nói rằng có những đêm mưa hai ông bà phải ngồi khúm núm ở một góc nhà, chờ hết mưa mới ngủ được. Từ lâu nay không nghe tin tức gì về Út Rạch Giá, không biết ông có còn mạnh giỏi.


Danh ca Út Trà Ôn

Nhiều nghệ sĩ cũng thất nghiệp
            Đâu phải chỉ đệ nhị danh ca Út Rạch Giá là bị cảnh nghèo khó bủa vây, mà nhiều nghệ sĩ cũng lâm cảnh túng thiếu nếu như không hát được.
            Người ta còn nhớ chỉ nội một năm Mậu Thân 1968 thôi là giới cải lương đã điêu đứng rồi, tình trạng kéo dài thêm mấy năm lại càng bi đát hơn, đa số nghệ sĩ không còn sống được với cải lương, tìm nghề khác làm ăn, mà hầu như nghề nào cũng không vững. Thành thử ra người nào cũng khổ sở về vật chất lẫn tinh thần, mà trong đó có cả kép Hữu Phước, một nghệ sĩ tài danh mà khi xưa thiếu chi người muốn được vị thế như ông.
            Khoảng năm 1972, tức là lúc mà các đào kép cải lương chỉ nhắm vào đi… đóng phim, thì cha con Hữu Phước và Hương Lan xem mòi gặp vận đen chiếu cố quá nặng, nên công chuyện làm ăn không được phát nếu không nói là túng quẫn. Nói thế không có nghĩa là cha con Hữu Phước, Hương Lan không chịu khó làm ăn, mà phải thành thật mà nói Hữu Phước cũng như Hương Lan đã đem tất cả khả năng sẵn có, phục vụ nghệ thuật để đổi chén cơm manh áo cho gia đình, nhưng vì thời cuộc không cho phép nên chuyện hát xướng đành gác lại.
            Nữ nghệ sĩ Kiều Lệ Tâm từ dạo về Dạ Lý Hương lần lần lu mờ rồi vụt biến đi đâu mất. Bỗng sau Mậu Thân người ta thấy cô Kiều xuất hiện trước trường Hưng Đạo với một xe quay nước trái cây để bán cho học sinh. Thời buổi cải lương lận đận này, nếu chỉ trông cậy vào việc hát xướng để sống thì có ngày cũng đói rã ruột. Rồi cũng chẳng bao lâu thì kép Việt Hùng cho biết, vợ chồng ông đành chịu thất nghiệp. Nhưng không làm nghề này thì Việt Hùng lại kiếm nghề khác vậy, ông hùn hạp với anh em tổ chức được một ga ra sửa xe tại chung cư Cô Giang. Riêng phần ông ngày ngày chạy áp phe bán xe cộ lấy lời đắp đổi. Phải kiếm thêm nghề khác thôi.
            Thời đó giới am tường cải lương nói rằng bây giờ đâu phải như thời thập niên 1950-1960 có vấn đề bắt đào, chuộc kép, nghệ sĩ được ký giao kèo. Giờ đây giữa thời kỳ mà nghệ sĩ tên tuổi, ăn khách còn bữa hát bữa không, thì những anh kép không còn thu hút được khán giả mua vé đi coi bị thất nghiệp là đương nhiên. Bầu gánh đâu có dại gì kêu hát để phải trả lương đêm. Tiền khó kiếm quá mà.
            Và đến con phượng hoàng bán hủ tiếu trứng cút, một nghề bất đắc dĩ mà Lê Thanh Các phải làm. Người ta còn nhớ Lê Thành Các từng vang danh một thời là tay đua xe đạp số một, được người đời tặng cho biệt danh “con phượng hoàng”. Bà xã của anh lại là đào hát Ngọc Tín, và con gái là Bo Bo Hoàng từng đi hát cho đoàn Thủ Đô. Gặp lúc cải lương xuống dốc, vợ chồng Lê Thành Các ra Vũng Tàu lập quán hủ tiếu trứng cút ngay trước mặt rạp hát Duy Tân.
            Cũng là nghe lời người ta ào ào mượn vốn gần nửa triệu bạc nuôi cút, đến khi cút mình đẻ được rồi thì trứng bán 5 đồng một hột cũng không ai mua, thành ra nợ nần còn đăng đăng đê đê đó, vợ chồng phải lo mở quán hủ tiếu kiếm ăn. Gặp bạn bè ông thường nói: Tại cút nó hại tôi! Bây giờ không bán hủ tiếu trứng cút thì mang bán cho ai đây? Có lẽ hình như Tổ nghiệp không còn chìu đãi người nghệ sĩ yêu nghề như thuở xưa nữa.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-011015-nm-01092015144532.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #112 vào: 19/05/2018, 23:13:41 »
UNESCO công nhận Đờn Ca Tài Tử là di sản văn hóa nhân loại

Đờn ca tài tử là nghệ thuật nhân gian xuất phát từ thời xa xưa ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, và càng về sau càng tỏa rộng ra hầu hết các tỉnh miền Tây miền Đông Nam Việt. Đến giữa thập niên 1950 đờn ca tài tử có mặt ở các tỉnh miền Trung và vùng Cao Nguyên Trung Phần, mà lớn mạnh nhứt là ở Ban Mê Thuột.

Lễ đón nhận bằng của UNESCO vinh danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ
là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại TP.HCM

Xuất phát ở Nam Kỳ Lục Tỉnh
            Người miền Tây đi làm ăn xa đã mang theo môn nhạc từng gắn liền với cuộc sống của họ, và khi đặt chân đến nơi nào là đờn ca tài tử xuất hiện tại đó, đã vô tình lôi cuốn người mộ điệu ở các địa phương tham gia góp phần làm mạnh mẽ thêm cho nghệ thuật độc đáo này. Đờn ca tài tử cũng theo chân người Việt sang xứ Chùa Tháp, do bởi người dân Lục Tỉnh qua đất Miên làm ăn lập nghiệp từ mấy thế hệ trước. Nỗi buồn xa xứ, họ giải sầu với điệu đàn tiếng hát mang từ quê hương sang, thành thử ra không khí các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử ở bên Miên đối với họ chẳng khác gì bên nhà.
            Một năm trước đây (ngày 5-12-2013) nghệ thuật đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đã đưa nghệ thuật dân gian này trở nên một tầm vóc lớn lao.
            Trước sự kiện tốt đẹp này, đối với tôi, một người từng tham gia đờn ca tài tử từ giữa thập niên 1950 đến nay, tôi cảm thấy phấn khởi hân hoan, và nghĩ rằng mấy chục năm theo dõi tìm hiểu cổ nhạc của tôi đã không uổng.
            Cách đây ba năm trên tờ báo Người Việt Xuân Nhâm Thìn 2012 tôi có viết bài “Còn Người Miền Nam Là Còn Đờn Ca Tài Tử”. Cái tên tựa bài viết cũng đã nói lên đờn ca tài tử liên quan mật thiết, và đồng hành gắn bó với người miền Nam. Đồng thời tôi cũng nói: “Dù cho cải lương có chết, đờn ca tài tử vẫn sống, và sống mạnh nữa là đằng khác”. Bài viết được đăng hai năm trước ngày môn nhạc được UNESCO công nhận.
            Sở dĩ tôi có nhận định như vậy là do quá trình tham gia đờn ca tài tử suốt hơn nửa thế kỷ, tôi đã nhận thấy được những gì cao quý ở nghệ thuật dân gian này. Từ khi còn trẻ tôi đã gia nhập vào nhóm đờn ca tài tử gần nhà, và do cuộc đời đưa đẩy phải di chuyển nhiều nơi, nhưng đến nơi nào tôi cũng đều tham gia vào nhóm đờn ca tài tử ở địa phương đó. Đến lúc vào quân đội thì đương nhiên đờn ca bị gián đoạn, tuy vậy mỗi lần được nghỉ phép là tôi tìm đến tiếp xúc với giới đờn ca tài tử. Do đó mà nam nữ thân hữu đồng điệu bốn phương rất nhiều. Kể cả những năm vào trại cải tạo, tôi cũng cùng góp mặt với anh em đờn ca tài tử trong trại, tham gia văn nghệ của hầu hết các trại mà mình đã trải qua.
            Tóm lại đờn ca tài tử đã thâm nhập vào trong máu thịt, trong huyết quản. Cũng nhờ vậy mà ngày nay tôi đủ trình độ, khả năng phụ trách trang cổ nhạc hàng tuần của một tờ báo lớn ở hải ngoại. Đồng thời phụ trách tạp chí cổ nhạc đài RFA mà quí vị đang nghe đây.
            Thế nhưng, vì sao mà tôi lại đam mê đờn ca tài tử quá đậm nhứ thế chớ! Theo tôi thì do bản chất người tài tử là “tri âm tri kỷ”, người tài tử mượn tiếng đờn lời ca để giao cảm với người nghe, phong cách tài tử mang tính cách thính phòng, cách đờn ca tao nhã, tiếng trầm bổng khoan thai, đi vào chiều sâu của tình cảm, người đờn và người hát chủ yếu là vì người nghe. Tiếng đờn, lời ca trong nhạc tài tử là tiếng và lời của người tri kỷ, tìm nơi ký gởi tâm tình. Ca tài tử là ca cho bạn tri âm, cho những người đồng hội đồng thuyền, hiểu nhau, cảm nhau, thích với nhau mà ca, có khi thâu đêm suốt sáng.


Biểu diễn Đờn ca tài tử tại Lễ đón nhận bằng của UNESCO vinh danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ
là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại TP.HCM

Dễ gần gũi với công chúng
            Đờn ca tài tử rất dễ gần gũi với công chúng, ai đó có năng khiếu, tinh thần đến với nghệ thuật dân gian này là được, trước lạ sau quen và đưa dần tới thân thiện. Những ca sĩ tài tử tuy không qua trường lớp chuyên nghiệp, vẫn rất vững vàng nhịp điệu. Đờn ca tài tử xuất hiện bất cứ nơi nào, ở gốc cây, sân nhà, bờ sông, chòi ruộng, trên ghe… Nhưng khi chơi là rất nhiệt tình, vô điều kiện, tài tử giai nhân đã nhập cuộc thì dường như quên cả sự đời.
            Do đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, mà hiện nay nghệ thuật nhân gian độc đáo này phát triển mạnh ở trong nước, không chỉ ở miền Nam mà mở rộng ra miền Bắc, điển hình là một Câu Lạc Bộ đờn ca tài tử vừa được thiết lập ở Hà Nội cuối năm vừa qua và hoạt động mỗi tối Chủ Nhật hàng tuần theo hình thức xã hội hóa, có nghĩa là những ai yêu thích đờn ca tài tử đều có thể tham gia câu lạc bộ, và hoàn toàn miễn phí.
            Khởi đầu các nghệ sĩ của Nhà Hát Cải Lương 2 và một số nghệ nhân, nhạc sĩ ở miền Nam truyền dạy cho hội viên những bài bản tài tử như Tây Thi, Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Phụng Hoàng v.v… để rồi từ đó dần dần phát triển mở rộng ra các tỉnh ở miền Bắc. Nếu như vấn đề thành công thì đây là một bước đột phá mà tôi cũng như những người am tường về sinh hoạt nghệ thuật nhân gian này đã không nghĩ rằng đờn ca tài tử có thể “chinh phục” được người dân miền Bắc nhập cuộc.
            Với suy nghĩ và nhận định trên không phải là không có cơ sở, bởi đờn ca tài tử đã có từ lâu đời, trước ngày ca ra bộ tức tiền thân của cải lương xuất hiện thời thập niên 1910. Đến mấy thập niên sau loại hình nghệ thuật này cũng hoạt động giới hạn ở các tỉnh Nam Việt, và lẻ tẻ một vài nơi ở miền Trung chớ không ra miền Bắc, dù rằng cải lương đã ra Bắc từ nhiều thập niên qua. Cũng có người nói rằng do Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, nên đờn ca tài tử không thể vượt sông Bến Hải để ra Bắc. Lập luận trên bị phản bác ngay, bởi tuy ngăn chia đôi bờ Bến Hải, nhưng đã có hàng triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Rất nhiều khu định cư được thành lập, chẳng hạn như khu định cư Cái Sắn nằm giữa Long Xuyên – Rạch Giá là hai tỉnh mà đờn ca tài tử được coi như mạnh mẽ nhứt. Thế mà không có nhóm đờn ca tài tử nào hình thành ở khu định cư Cái Sắn này.
            Ngoài ra còn nhiều khu định cư khá đông của đồng bào miền Bắc di cư như: Hố Nai (Biên Hòa), Xóm Mới (Gò Vấp), Ngã Ba Ông Tạ, Bùi Môn (Hóc Môn) và nhiều vùng định cư khác nhỏ hơn, đờn ca tài tử cũng không lọt được vào đây. Lý do tại sao chứ? Tóm lại cũng theo như nhiều người là do người dân miền Bắc đã không mặn mà với loại đờn ca mà vốn phát sinh từ miền Nam chăng? Không hẳn là như vậy, mà theo tôi thì do vấn đề khác không thể trình bày ngay trong buổi nói chuyện này.
            Trở lại việc đề án đưa đờn ca tài tử ra Bắc, mới nghe qua rất hay, nhưng khi áp dụng có thành công hay không, hoặc mang lại kết quả ít nhiều thì chưa thể biết được, phải chờ thời gian mới có thể đánh giá và kết luận.
            Và như đã nói đờn ca tài tử là sự giao cảm của những người đồng điệu, tri kỷ tri âm gặp nhau, không điều kiện hay ràng buộc gì hết. Giờ đây mở câu lạc bộ thì dĩ nhiên người tham gia phải tuân theo nội quy, điều lệ là vấn đề mà người đờn ca tài tử không ai muốn, do đó chưa biết kết quả ra sao, thành công đến mức độ nào.
            Riêng tôi thì rất mong muốn người miền Bắc nhập cuộc, và có lẽ những ai từng tham gia đờn ca tài tử cũng đều mong cho nghệ thuật dân gian này được phổ biến rộng rãi, càng lan rộng càng tốt, đi đâu cũng thấy vậy.
            Có điều là đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đã đánh tan những luận điệu xuyên tạc của những kẻ vô ý thức, chê bai cổ nhạc (đờn ca tài tử) là thấp kém, là lạc hậu, thậm chí còn nói rằng giống như ăn xin…
            Đây là vấn đề mà hầu như người ham thích cổ nhạc như tôi ai cũng gặp phải, cũng rõ biết, và tôi sẽ đề cập trong những lần nói chuyện sắp tới.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0117-nm-01162015213808.html