Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 19295 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #15 vào: 14/04/2017, 17:16:50 »
Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng

Trong hoạt động sân khấu cải lương, cái tên Hà Triều Hoa Phượng đã quá quen thuộc với khán giả, do bởi những vở tuồng nổi tiếng của hai soạn giả này được lần lượt cho ra đời từ những năm cuối thập niên 1950, và dài cho đến hết thập niên 1960. Thế nhưng, trong trường hợp nào mà hai thầy tuồng này kết hợp với nhau để tô điểm cho vườn hoa nghệ thuật dân tộc thêm tươi đẹp, nền ca kịch nước nhà thêm phong phú.

Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Cặp bài trùng
            Lúc đầu người ta tưởng đâu Hà Triều Hoa Phượng là một người. Và cũng có người nói rằng Hà Triều Hoa Phượng là đôi vợ chồng, hoặc cặp tình nhân khắn khít với nhau, nhứt là chữ “Phượng”, người ta cho là nữ.
            Nhưng thời gian dần dần báo chí khai thác, tìm hiểu và tiết lộ sự liên hệ giữa hai soạn giả này, nên thiên hạ mới rõ biết Hà Triều Hoa Phượng là hai người. Và họ chỉ mới biết nhau từ lúc hợp soạn viết tuồng, chớ trước đó cả hai chẳng hề quen nhau. Vậy Hà Triều quê quán từ đâu và Hoa Phượng xuất thân ở nơi nào? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi…
            Hà Triều quê quán miền Tây, tỉnh Rạch Giá, rời ghế nhà trường rất sớm. Thời chiến tranh Việt-Pháp, Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Nhưng khoảng một hai năm gì đó thì chịu không nổi với cảnh bưng biền, Hà Triều bí mật lén trở về Thành sống nương tựa với một thân hữu ở Phú Thọ Hòa, gần trường đua Phú Thọ.
            Người thân nầy đã lo giấy tờ hợp pháp và đồng thời chạy cho Hà Triều vào làm công chức một cơ quan thông tin ở Sài Gòn. Làm việc ở cơ quan nầy ông thường được tặng vé hát và đi coi cải lương nhiều lần, do đó nảy sinh ra ý định viết tuồng cải lương.
            Còn Hoa Phượng là người sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang và cũng đi kháng chiến ở đất Long Châu Hậu. Sau Hiệp Định Genève 1954 hai người gặp nhau ở Sài Gòn và hợp tác viết tuồng cải lương; “cặp bài trùng” này đã một thời làm mưa làm gió sân khấu ca kịch qua các vở tuồng mà soạn giả mang tên hai người.


Nghệ sĩ Thành Được

Kiếm hiệp Nhật Bản
            Vở tuồng đầu tiên làm cho hai soạn giả nầy được nổi tiếng là tuồng Nhật Bản có tên “Khi Hoa Anh Đào Nở” trình diễn trên sân khấu Thúy Nga, và kép Thành Được nổi tiếng cũng nhờ vở tuồng này.
            Khởi đầu vào khoảng 1957 người ta thấy tên Hà Triều Hoa Phượng xuất hiện trên tấm bảng quảng cáo của đoàn ca kịch Thúy Nga treo trước rạp hát, trình bày hình ảnh hoạt cảnh của vở tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”, với hình vẽ các nhân vật trang phục theo kiểu mấy chàng kiếm khách Phù Tang và các cô gái Nhật mặc kimono, tương tợ như người ta thấy trong phim Nhật được nhập vào thời bấy giờ.
            Đây là vở tuồng đầu tiên mở đầu cho thời kỳ mà các tuồng loại kiếm hiệp Nhật Bản tràn lan, gánh hát nào cũng khuyến khích soạn giả viết tuồng Nhật để lôi kéo khán giả. Từ khi có tuồng Nhật thì số người đi coi hát hằng đêm tăng cao, nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục tung ra thêm một số tuồng cùng loại như: Đợi Anh Mùa Lá Rụng – Yêu Anh Đã Muộn Rồi
            Lúc bấy giờ người Nhật không tốn một giọt nước miếng tuyên truyền quảng cáo, mà trên sân khấu các rạp cải lương đêm nào cũng ca ngợi cái đẹp của núi Phú Sĩ, nói lên cái thơ mộng của hoa anh đào bên sườn đồi, đồng thời những cảnh chia ly, tao ngộ của những chàng kiếm khách với cô gái Phù Tang, cũng luôn nhắc tới cái hương vị thơm nồng của rượu sa kê…
            Người Nhật cũng không cần phải mướn người mẫu phô trương trưng bày bộ quốc phục kimono, vẫn được các cô đào cải lương Việt Nam mặc biểu diễn hằng đêm trên sân khấu, coi như vô tình mà Hà Triều Hoa Phượng đã gián tiếp giới thiệu đặc thù văn hóa xứ Phù Tang đến với dân tộc mình. Nhưng có điều chắc chắn là hai soạn giả nhà ta đã không được Nhật Bản trả tiền công, mà chỉ được các bầu gánh cải lương Việt Nam trả tiền bản quyền mà thôi!

Tình cảm xã hội
            Được một thời gian thì tuồng Nhật hết ăn khách, con số khán giả lơi dần nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng chuyển sang viết tuồng xã hội và vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” được ra mắt khán giả trên sân khấu Thanh Minh đã gây chấn động một dạo. Khác hẳn với tuồng xã hội của Năm Châu dùng lời văn đối thoại cao sâu bóng bẩy, tuồng xã hội của Hà Triều Hoa Phượng có lối hành văn đối thoại thông thường, đi thẳng vào thực tế ngoài đời.
            Tình tiết của tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” rất dễ xảy ra trong bối cảnh xã hội của thời đó, cái thời mà gái quê do hoàn cảnh phải ra Tỉnh hoặc lên Sài Gòn, do đó người coi hát có cảm tưởng như là đã có thật vậy. Hơn nữa lời văn đối thoại của tuồng cũng được hai soạn giả chuyển đổi đưa thẳng vào trong bài bản ca cổ nhạc một cách linh hoạt, khiến người đi coi hát vừa hồi hộp, lại vừa giải tỏa được tình huống ngay trong một vài giây đồng hồ.
            Cái tài tình của Hà Triều Hoa Phượng trong vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” là đưa lên sân khấu các nhân vật điển hình trong một xã hội tuy an bình nhưng lại bon chen hỗn tạp, những hạng người xấu xuất hiện gây sóng gió. Cũng như tình tiết cùng bố cục nhân vật trong “Nửa Đời Hương Phấn” dễ làm cho người ta chú ý, dễ ăn sâu vào lòng khán giả, do đó đã đem lại uy tín cho Hà Triều Hoa Phượng, đồng thời tạo một thế đứng khá vững vàng cho hai soạn giả trong lãnh vực cải lương.
            Vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” ra đời, khán giả ùn ùn đi coi, hát cả tháng trời tại một rạp Nguyễn Văn Hảo vẫn còn đông khách, và ngay cả bây giờ nếu tuồng nầy được trình diễn trở lại vẫn có khán giả như thường. Sau đó tuồng còn được thu thanh vào dĩa hát phát hành khắp nước, được phổ biến rộng rãi đến đỗi đi đâu cũng nghe hát. Bản ca Phụng Hoàng trong tuồng được rất nhiều ca sĩ tài tử học thuộc lòng và ca trong những buổi sinh hoạt đình đám ở thôn quê, hoặc các quán tiệm có sinh hoạt đờn ca cổ nhạc.


Nghệ sĩ Út Bạch Lan và Nghệ sĩ Thành Được
trong vở Nửa Đời Hương Phấn, ảnh chụp năm 1959

            Ngoài ra các nhà buôn đã khai thác đưa dĩa hát sang Nam Vang bên Miên, đưa lên tận Vạn Tượng ở Lào, nên kiều bào ta ở bên đó cũng khá rành tình tiết vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn”. Về sau Hà Triều Hoa Phượng cho tung ra vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái”, có đề cập đến cuộc biến động ở bên Lào vào thời đó (nhân vật là Nguyễn Trung Bình từ Lào về do nghệ sĩ Tám Vân đóng).
            Sau khi thành công vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”, sẵn trớn Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục cho ra đời các tuồng xã hội khác cũng ăn khách và nổi tiếng luôn, trong đó có tuồng Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng
            Tuồng xã hội “Con Gái Chị Hằng” sau khi thành công ở địa hạt sân khấu cải lương, được hãng dĩa hát hợp đồng khai thác, mà còn lấn sang lãnh vực điện ảnh, được quay thành phim. Phim do Kim Cương đóng vai Chị Hằng, nghệ sĩ Hữu Phước vai cậu Tư Kiên, được chiếu ở các rạp chiếu bóng trên toàn quốc cũng khá ăn khách.
            Sau gần một thập niên viết chung, tên Hà Triều Hoa Phượng luôn luôn đi đôi, nhưng đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9, và đến lúc này thì thiên hạ biết rõ Hà Triều Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia.
            Về cuộc đời tình cảm của Hà Triều là cả những chuỗi ngày dài cô độc, ông lại thích ngựa đua hơn là thích đàn bà con gái, do đó mà suốt mấy chục năm sống một mình luôn cho tới ngày chết! Tuy là soạn giả nổi danh, tiền làm ra cũng khá nhiều nhờ chia tiền bản quyền tác phẩm tuồng tích, nhưng lại không có hình bóng đàn bà bên cạnh để xài bớt, mà phần nhiều đổ vô quán nhậu và trường đua Phú Thọ.
            Có người hỏi tại sao ông không chọn một bà để lo cơm nước, an ủi bầu bạn, chăm sóc thuốc men mỗi khi trái gió trở trời, thì ông chỉ cười hoặc vui miệng lắm thì cũng nói một câu: “Nhậu nhẹt như tôi nếu có vợ thì sớm muộn gì bà xã cũng bỏ, nên tôi ở một mình tốt hơn!
            Nghe nói năm 40 tuổi Hà Triều có cưới vợ một lần, nhưng chỉ sống chung có một tháng thì đường ai nấy đi, và Hà Triều ở vậy cho đến ngày từ giã cõi đời, coi như tuyệt tự!
            Nhờ là soạn giả nổi tiếng nên sau 1975 Hà Triều được cho vào làm ở Sở Văn Hóa Thông Tin Sài Gòn, và được cấp một căn trong chung cư Nguyễn Thành Niệm, cạnh rạp Hưng Đạo. Những lúc sau nầy ông bị bệnh mờ mắt không còn hoạt động gì nữa, và ở đây luôn cho đến khi bệnh nặng và qua đời tại Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Quận 5 Chợ Lớn vào năm 2003.
            Về phần soạn giả Hoa Phượng thì khác xa với Hà Triều, trong khi Hà Triều sống độc thân thì Hoa Phượng có nhiều vợ. Về viết tuồng thì người trong giới đều thấy rõ cái uy của một ông thầy tuồng (khán giả bình dân gọi soạn giả là thầy tuồng).


Từ trái sang: Thanh Nga – Hữu Phước – Thành Được
trong vở Con Gái Chị Hằng

            Khi xưa đào kép rất nể nang thầy tuồng, nhứt là ông soạn giả kiêm bầu gánh Mộng Vân từng cho ra đời cả mấy chục vở hát ở thời thập niên 1940.
            Nhưng về sau thì đào kép chánh nổi danh được khán giả ái mộ, họ đã lấn quyền của soạn giả, coi thầy tuồng chẳng có ký lô nào cả. Đôi khi soạn giả trao role tuồng, họ chỉ coi sơ qua rồi liệng trở lại soạn giả, nói rằng tuồng này không hát được, hoặc đòi hỏi này nọ, như bảo sửa lời đối thoại này, hoặc thay đổi bản ca kia…
            Soạn giả vì cuộc sống phải nhẫn nhục làm theo ý của đào kép chánh cho tuồng của mình được hát để có tiền, chớ bằng như tuồng không hát được thì treo nồi cơm.
            Tóm lại thời thập niên 1960 thì đa số thầy tuồng trở thành “Tớ Tuồng” chịu lép trước cái hào quang của nghệ sĩ.
            Thế nhưng, chỉ có một người là áp đảo được cái hào quang của nghệ sĩ tên tuổi, đó là Hoa Phượng.
            Đối với soạn giả Hoa Phượng thì chẳng đào kép nào dám thắc mắc về role tuồng, chê khen một tiếng thì coi như mất chỗ đứng trong vở hát, vai trò sẽ được giao người khác. Do đó mà mỗi lần Hoa Phượng phát role tuồng là hầu hết đào kép có vai trò đều im re, chẳng ai dám hó hé gì hết. Hoa Phượng mất năm 1984.
            Hà Triều và Hoa Phượng ra đi, nhưng những tác phẩm nghệ thuật cải lương của hai soạn giả vẫn còn đó, hai ông đã để lại cho đời những tuyệt phẩm cải lương vô cùng quý giá vậy!
            Hà Triều tuy là rặt Nam Kỳ, dân Rạch Giá nhưng Hà Triều lại rất thích “hạ cờ tây”, hầu hết các quán thịt cầy ở quanh Thủ Đô Sài Gòn nhiều ít gì cũng đều có đón tiếp ông đến nhậu nhẹt.
            Một vài người từng chung bàn rượu với ông nói: “Hà Triều chỉ cần ăn vào một miếng thịt cầy là có thể đoán biết được là chó vàng, chó mực, chó móc, hay chó vện v.v… bởi khi gắp lên một miếng đưa vào miệng là ông vọt miệng nói ngay: cái nầy đúng là con vàng, con mực…” Có lần chúng tôi xem tập tuồng tại một rạp nọ ở Sài Gòn thì thấy ông đến, và lúc đó khoảng 10 giờ trưa, ông nói với anh chị em: “Bữa nay đến đây hơi trễ, tại do chiều hôm qua vô Xóm Mới Gò Vấp “làm” đúng con mực, mát quá nên hôm nay thức dậy trễ.”
            Quán cầy tơ ở đầu đường Bùi Chu gần ngã ba Bùi Chu, Hồng Thập Tự là nơi ông chiếu cố nhiều nhứt, thường rủ bạn bè đến đây nhậu suốt buổi, có những lần nhậu say không còn biết trời đất gì hết, bạn bè phải dìu về nhà. Những lúc men rượu thấm nhiều, ông khề khà khen món dồi chó ở quán thịt cầy Bùi Chu là hết sẩy, rượu thuốc ở đây là tuyệt, uống đã quá!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ha-trieu-hoa-phuong-nmai-05292011084040.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #16 vào: 18/04/2017, 15:09:02 »
Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam

Nghệ sĩ Năm Châu người gốc ở Mỹ Tho, học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu, thi đỗ bằng Thành Chung nhưng không làm việc cho cơ quan chính quyền thời Pháp, mà say mê về kịch nghệ.

NS Phùng Há hóa trang cho NS Năm Châu trước buổi diễn

Từ “Quan Âm Thị Kính” tới “Người đẹp Bình Dương”
            Ông thành lập đoàn Việt Kịch Năm Châu và hoạt động mạnh thời thập niên 1940-1950 chuyên diễn tuồng xã hội do chính ông trước tác, tuy mang nhiều ý nghĩa, nhưng sân khấu không có gì mới lạ, thành thử ra không cạnh tranh nổi với các gánh thành lập sau này có những loại tuồng Nhật, tuồng Á Rập, tuồng hương xa. Cốt truyện các loại tuồng nói trên tuy không mang ý nghĩa thực tế, nhưng lại màu sắc, lại có những cảnh sôi động, những màn đánh kiếm, đấu dao găm, và những tuồng thuộc loại chiến tranh của gánh Hoa Sen đã thu hút hết khán giả. Thành thử ra gánh Năm Châu thưa dần người đi coi hát, khiến ông nợ nần chồng chất, bắt buộc phải cho gánh hát về nằm ụ ở trại cưa phía bên kia Cầu Bông, đường đi Bà Chiểu, Gia Định.
            Tuy xuống dốc bên cải lương, nhưng Năm Châu lại làm ăn được phía bên điện ảnh, và ở lãnh vực này ông đã làm gì, thành công ra sao?
            Thất bại ở cải lương, nhưng ở điện ảnh thì Năm Châu lại làm ăn khá, thành công ngay buổi đầu. Khoảng 1956 Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân quay cuốn phim “Quan Âm Thị Kính”, mà thành phần tài tử nòng cốt là người trong gia đình của Năm Châu nắm trọn hết. Đào cải lương Kim Lan, em vợ của Năm Châu trong vai Bà Thị Kính là yếu tố ăn khách nhứt của phim. Ông già vợ của Năm Châu là nghệ sĩ kỳ cựu Bảy Nhiêu thì được giao đóng vai Sư Cụ chùa Vân (ngôi chùa Bà Thị Kính giả trai đi tu). Thời điểm này vàng y khoảng ba ngàn một lượng, thế mà hãng Mỹ Vân đã trả cho nghệ sĩ Bảy Nhiêu mười ngàn đồng để ông hy sinh bộ tóc mây đẹp đóng vai Sư Cụ.
            Người ta có thể nói rằng phim Quan Âm Thị Kính thành công vượt bực về tài chánh, chiếu ở thủ đô Sài Gòn xuất nào cũng chật rạp, sau đó phim đi tỉnh khán giả lại càng đông hơn. Điều cần nói ở đây là khán giả đi coi phim Quan Âm Thị Kính đa số là khán giả của cải lương. Nhờ dịp này Năm Châu thanh toán hết nợ nần mà còn dư ra sắm xe hơi, hàng tuần đưa bà Kim Cúc đi Vũng Tàu, Long Hải nghỉ mát.
            Sau cuốn phim Quan Âm Thị Kính, Năm Châu lại tiếp tục hợp tác với hãng Mỹ Vân bằng cách viết truyện phim, đạo diễn, cũng như tuyển chọn tài tử, và Thẩm Thúy Hằng trúng tuyển trong cuộc chọn lựa này. Chuyện phim thần thoại cổ tích và lấy tên nhân vật chánh là người đẹp Bình Dương đặt tên cho cuốn phim. Và sau khi làm tài tử chánh cho phim thì Thẩm Thúy Hằng được thiên hạ gọi là người đẹp Bình Dương rồi mang danh luôn. Chớ thật ra Thẩm Thúy Hằng chẳng dính dáng gì đến cái xứ có nhiều trái cây sầu riêng, măng cụt, hoặc đồn điền cao su ngút ngàn dọc theo Quốc Lộ 13, tức tỉnh Bình Dương.


Năm Châu – Thanh Hương

Đem vọng cổ chuyển âm phim Ấn Độ!
            Thành công với phim ảnh, Năm Châu thừa thắng xông lên, nhân lúc phim Nhật, phim Phi Luật Tân, phim Ấn Độ nối tiếp nhau nhập vào, ông bỏ luôn sân khấu, tuyển chọn một số người, phần lớn là trong gia đình để thành lập Ban Năm Châu và lãnh công việc chuyển âm cho các hãng nhập cảng phim. Lúc bấy giờ người trong giới cải lương ai cũng nể phục Năm Châu ở tài quyền biến tháo vát.
            Cái sáng kiến độc đáo nhất của Năm Châu trong việc chuyển âm là đem vọng cổ vào phim Ấn Độ, và thiên hạ đã bất ngờ, thích thú có cảm tưởng như đang coi hát cải lương, bởi ngoài tiếng nói quen thuộc của Ban Năm Châu trong phim, giờ đây lại còn nghe 6 câu vọng cổ mùi rệu. Người ta còn nhớ khoảng 1957 cuốn phim Ấn Độ “Gió Bụi Kinh Thành” chiếu ở rạp Tân Đô, Tân Định, khán giả phải sắp hàng mua vé, do bởi phim này tài tử chính là Ganessan, một anh Bảy nhưng ca vọng cổ quá hay. Có gì đâu, tiếng hát của bài ca Ấn Độ trong phim được chuyển sang tiếng Việt với tiếng ca của vua vọng cổ Út Trà Ôn.
            Sang thập niên 1960 công việc chuyển âm phim giảm bớt dần, bà Kim Cúc cộng tác với gánh Thanh Minh Thanh Nga đóng vai đào mụ (vai bà già), còn Năm Châu thì dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Bà Kim Cúc cũng là giáo sư dạy diễn kịch và cải lương tại trường này.
            Do có trình độ và uy tín, Năm Châu năm nào cũng được bầu vào ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu (Năm Châu và bà Phùng Há luôn là hội trưởng hoặc phó hội trưởng). Vào những năm cuối của thập niên 1960, Năm Châu có mấy lần làm trưởng phái đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi Pháp, đi Anh và các nước Phi Châu, và mỗi lần đi thì trong đoàn đều có nghệ sĩ Kim Cúc, do bởi bà là nghệ sĩ được coi như sáng giá với những vai trò đào lẳng.
            Thập niên 1970 bà Kim Cúc hợp tác với ban Trường Giang của nhạc sĩ Út Trong ở đài truyền hình với vai trò cố vấn và dạy nghề cho lớp trẻ. Tóm lại sự nghiệp nghệ thuật của bà Kim Cúc gắn liền với Năm Châu trong suốt cuộc đời.


Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng 1962

Hãng phim Thẩm Thúy Hằng, và lại ra gánh
            Tuy đang là giáo sư dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ, nghệ sĩ Năm Châu vẫn hợp tác với hãng phim của Thẩm Thúy Hằng. Khi xưa Thẩm Thúy Hằng được chọn đóng vai chánh trong phim Người Đẹp Bình Dương, một phần lớn là do Năm Châu, ông chấp nhận thì mới được, vì truyện phim do ông viết, nhân vật trong phim là người của ông dàn dựng. Mà nghe nói cái tên Thẩm Thúy Hằng cũng do Năm Châu đặt, do đó mà lúc nào Thẩm Thúy Hằng cũng xem Năm Châu là bực thầy.
            Đến khoảng 1970 sau cái đám cưới lớn của Thẩm Thúy Hằng với ông Nguyễn Xuân Oánh, ông này lập cho vợ hãng phim ở đường Lê Quang Định, tức thì Thẩm cô nương mời thầy Năm Châu cộng tác viết truyện phim. Nếu như cuối thập niên 1950 Năm Châu đưa Thẩm Thúy Hằng vào điện ảnh để nổi tiếng, thì sang đầu thập niên 1970. Năm Châu lại một lần nữa giúp Thẩm Thúy Hằng làm giàu. Ông đã viết truyện phim “Chiều Kỷ Niệm” và chọn kép cải lương Thanh Tú đóng cặp với người đẹp Bình Dương. Nghe nói phim chiếu khai trương hai tuần đã lời trên mười triệu.
            Hồi thập niên 1940 Năm Châu từng mang đoàn hát ra Bắc, có lần gánh hát rã ngoài đó! Có người muốn giúp ông có tiền về Nam nhưng sợ ông tự ái, nên mời ông ca bản Dạ Cổ Hoài Lang của nhạc sĩ Sáu Lầu (tiền thân của bản vọng cổ), nói rằng để thu thanh dĩa hát. Nhưng nhiều năm sau vẫn không thấy dĩa hát nào.
            Năm 1965 được Bộ Xã Hội bảo trợ, Năm Châu lại một lần nữa lập gánh cải lương lấy tên đoàn Ánh Chiêu Dương, và đây là lần lập gánh cuối cùng trong cuộc đời làm nghệ thuật của Năm Châu. Đoàn khai trương tại rạp Thống Nhứt với vở tuồng xã hội “Nước Biển Mưa Nguồn”.
            Sau 1975 do tuổi già, vợ chồng Năm Châu, Kim Cúc không một hoạt động văn nghệ nào nữa, nên các nghệ sĩ trẻ thường rủ nhau đến nhà thăm vợ chồng ông. Trước ngày mất, Năm Châu nằm ở bệnh viện Đồn Đất, nhạc sĩ Nguyễn Hiền có đến thăm ông tâm sự… Còn bà Kim Cúc thì cũng đi theo ông chồng vài năm sau đó.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #17 vào: 20/04/2017, 18:11:28 »
Vài mẩu chuyện về nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Hôm nay tôi xin nói vài mẩu chuyện có liên quan đến nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Thật ra muốn đề cập đến nữ hoàng sân khấu Thanh Nga thì phải viết vài cuốn sách, như trong bộ truyện tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga của Ngành Mai, tức của tôi, quyển 1 phát hành năm 2005. Do đó mà hôm nay tôi chỉ đề cập đến vài mẩu chuyện nho nhỏ về người nữ nghệ sĩ lừng danh này.

Cố nghệ sĩ Thanh Nga

Ăn ảnh
            Trước hết xin nói về việc Thanh Nga ăn ảnh khi lên truyền hình. Trong làng cải lương có những nghệ sĩ, phần nhiều là giới nữ, họ có gương mặt rất kiều diễm dưới ánh đèn sân gỗ, duyên dáng tuyệt vời trong bất cứ vai tuồng nào tại hí viện, nhưng khi ra trước màn ảnh nhỏ vô tuyến truyền hình, các nữ nghệ sĩ dễ mến kia lại mất đi ít nhiều những nét khả ái đã từng được in sâu trong lòng khán giả mộ điệu. Tại họ khớp trước ống ảnh của phim trường chăng? Không! Họ vẫn giữ nguyên những động tác của lúc thi thố trên sân khấu, không sơ xuất chút nào về phương diện diễn xuất. Ấy thế mà chỉ cái tội là, nói theo nhà nghề là họ không ăn ảnh.
            Và cũng có những nữ nghệ sĩ mà trên sân khấu ít ai thấy hết cái duyên dáng và diễn xuất thần tình của họ. Nhưng lên màn ảnh nhỏ truyền hình, họ có những nét đặc biệt làm cho người xem ngạc nhiên hơn nhiều. Đó là trường hợp của nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Tôi xin trình bày sau đây…
            Đứng trên sân khấu, trong những pha phải bộc lộ sự buồn rầu, chán nản, Thanh Nga đã làm cho khán giả phải mềm lòng, thổn thức từng cơn rồi. Lên màn ảnh truyền hình, sắc diện ấy càng bộc lộ trọn vẹn ở vành môi, khóe mắt, ở từng một bước đi, từ cử động nhẹ ở đôi tay. Cái buồn muôn thuở của nàng Giáng Hương trong vở hát “Sân Khấu Về Khuya”, của Nguyễn Thành Châu, và giọt lệ thật sự chân thành long lanh trong khóe mắt sâu thẳm gợi buồn mênh mông để từ từ lăn trên đôi má.
            Cũng như cái buồn uất nghẹn của cô nữ sinh “con gái chị Hằng” đã tạo cho Thanh Nga một khuôn mặt bất hủ trên màn ảnh Tivi vậy.

Đào con
            Tiếp sau đây xin nói về Thanh Nga lúc 10 tuổi làm đào con trên sân khấu đoàn Thanh Minh, do dưỡng phụ của cô là nghệ sĩ Năm Nghĩa làm bầu gánh. Hồi ấy, đoàn Thanh Minh nhân dịp Tết chia ra hai gánh, nói cho đúng là chia thành hai nhóm hát ở hai rạp khác nhau. Một ở rạp Thuận Thành, Đa Kao và một ở bên Chánh Hưng (phía bên kia cầu chữ Y). Mới 10 tuổi nên Thanh Nga được thủ vai “đào con” ở cả hai bên. Thời đó gánh hát còn nghèo, Thanh Nga và gánh hát đâu có xe hơi riêng, thành thử cô phải đeo xe cam nhông không mui để chạy rạp cho kịp tuồng. Thời ấy ở Sài Gòn, Chợ Lớn có loại xe vận tải không có mui mà người ta gọi là xe thớt.
            Năm ấy một bên hát tuồng “Con Vật Giữa Chợ Người” và bên kia diễn vở “Đảng Ó Biển”. Thanh Nga còn nhỏ, chạy rạp, đeo xe hoài nên mệt. Trong khi chờ đợi đến lượt ra sân khấu, cô ngồi sau cánh gà rồi… lơ mơ ngủ lúc nào không biết. Mãi đến lúc người nào đó kêu to lên:
            – Con nhỏ ngủ sao? Ra sân khấu đi chớ, tới lớp rồi.
            Thanh Nga giựt mình choàng dậy, chạy đại ra sân khấu. Người ta đang hát tuồng “Con Vật Giữa Chợ Người”, nhưng mới ngủ dậy có biết gì đâu, bèn hát ngay mấy câu trong tuồng “Đảng Ó Biển”!
            Đến lúc biết mình hố, vội vàng sửa cái rụp! May là vì khán giả chưa kịp nhận ra. Từ ấy về sau mỗi dịp Tết đến, Thanh Nga không thể nào quên được kỷ niệm vui tươi ngộ nghĩnh ấy.

Tình nghệ sĩ
            Một câu chuyện nữa là Thanh Nga đi xích lô mà người đạp xích lô là nghệ sĩ thuộc lớp đàn anh.
            Thanh Nga hối hả đi trên đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn. Cô nhìn lại phía sau, thấy có chiếc xích lô vắng khách, cô vội vàng vẫy tay để xe ngừng lại chở cô đi công việc gấp. Xe vừa ngừng, Thanh Nga bước tới, bỗng cô nhìn thấy người đạp xe xích lô rồi dừng chân lại không đám bước lên xe. Có tiếng người đạp xích lô:
            – Cô Nga lên xe đi!
            Giọng của Thanh Nga bỗng run run:
            – Trời ơi! Khổ sở như thế này sao?
            Rồi Thanh Nga cũng bước lên xe. Chiếc xích lô lăn bánh. Thanh Nga trân mình ngồi trên xích lô mà lòng như tê lạnh. Bọn trẻ nít hai bên đường chỉ chỏ: “Thanh Nga kìa tụi bây ơi”, chớ bọn chúng nào có để ý đến người đạp xích lô đã kéo chiếc nón xuống che gần kín đôi mắt. Im lặng nặng nề kéo dài một lúc… Thanh Nga nói:
            – Người ta đồn anh đạp xích lô, Nga không tin, ai dè là sự thật
            – Chẳng có gì quan trọng đâu. Như thế này tôi mới đủ tiền nuôi sống cả gia đình.
            Rồi người đạp xích lô như muốn lảng sang chuyện khác:
            – Thế này cũng giống như chúng ta diễn trong một vở tuồng xã hội có xích lô, có xe đạp
            Xe xích lô dừng lại, Thanh Nga bước xuống, mặt đầy vẻ xúc động nói:
            – Anh phải trở lại sân khấu chớ không thể đạp xích lô. Để tôi xin Má Bảy Phùng Há đem vợ chồng anh trở lại sân khấu cải lương.
            Và sau đó quả đúng như thế. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga đã báo cho nữ nghệ sĩ Phùng Há sự việc, và Má Bảy đã nhận người đạp xích lô đó – nghệ sĩ Văn Khoe – và vợ là nữ nghệ sĩ Hoài Mỹ vào trong nhóm “Đời Cô Lựu”. Và nhóm lúc ấy có các nghệ sĩ: Phùng Há, Út Trà Ôn, Thanh Nga, Hoàng Giang, Kim Giác, Ngọc Nuôi, Hoàng Ấn, Nam Hùng, Thanh Thanh Hoa, Văn Khoe, Hoài Mỹ…
            Nữ nghệ sĩ Phùng Há, và Thanh Nga đã mang lại cuộc sống vật chất cho gia đình Văn Khoe – Hoài Mỹ là việc nhỏ, mà cái lớn hơn là sự giúp đỡ đồng nghiệp trở lại với nghề, cho người nghệ sĩ sân khấu trở lại với sân khấu.
            Kép Văn Khoe và đào Hoài Mỹ nổi tiếng một thời ở gánh Hoài Dung – Hoài Mỹ. Và trong tuồng “Người Mẹ Tội Lỗi” của Nguyễn Huỳnh, sau đổi tên là tuồng “Tướng Cướp Bạch Hải Đường”. Văn Khoe đóng vai ông Cò sở mật thám, bạn của chàng Minh, tức tướng cướp Bạch Hải Đường.

Ái mộ
            Có lần đoàn cải lương Việt Nam trình diễn tại rạp Minh Phụng ở Chợ Lớn, sau khi vãn hát ra về Thanh Nga được một số khán giả ái mộ chạy theo nắm tay níu áo. Ông xã cô là ông Đổng Lân biết nguy đến nơi nên vội vàng đến xe trước để mở cửa cho vợ lên xe, mong thoát khỏi đám đông đang vây quanh Thanh Nga.
            Nhưng trong lúc Đổng Lân loay hoay mở cửa xe thì Thanh Nga bị một trong số người ái mộ nắm tóc giựt xuống khiến cô đau điếng thiếu điều muốn la làng.
            Lên xe rồi mà cô vẫn còn bị người ta rị tóc lại đau đến nỗi cô phải khóc lên. Qua ngày sau đầu Thanh Nga bị u một cục và nghe rêm cả mỏ ác. Ái mộ cái kiểu này chắc chẳng ai ham.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/actress-thanh-nga-nmai-06262011112530.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #18 vào: 22/04/2017, 08:20:35 »
Giải Thanh Tâm 1960

Trước khi đề cập đến giải Thanh Tâm 1960, tôi xin nói thêm vài sự việc liên quan đến giải Thanh Tâm 1959. Số là sau khi nghe tin hai nghệ sĩ Lan Chi và Hùng Minh trúng tuyển giải Thanh Tâm 1959 thì rất nhiều người trong giới cải lương, và giới ký giả kịch trường đều đinh ninh rằng năm nay lễ phát giải cũng sẽ được tổ chức ở tửu lầu như giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga.

Những nữ nghệ sĩ nhận giải Thanh Tâm.
Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

MÀ NẾU NHƯ tổ chức ở tửu lầu Bồng Lai hay một nhà hàng Tàu nào đó thì những ai có giấy mời ắt sẽ được một bữa ăn cơm Tàu với những món ăn cầu kỳ, cao lương mỹ vị…
            Nhưng không, những người có giấy mời tham dự lễ phát giải Thanh Tâm 1959 đã vỡ mộng, bởi năm nay giấy mời do ông Trần Tấn Quốc ký tên đã ghi rõ rằng là giải phát ở hội trường Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tuy vậy người có giấy mời cũng hy vọng là thức ăn sẽ có thể được mang đến, và hy vọng này cũng tiêu tan luôn, do bởi năm nay ban tổ chức chỉ cho khách tham dự uống nước đá chanh và ăn kẹo đậu phọng.
            Tại sao chỉ cách có một năm mà công cuộc tổ chức lại cách biệt quá xa đến như thế chứ? Đây là vấn đề mà ai cũng thắc mắc tìm hiểu và người ta chỉ đoán già đoán non rồi nói chớ ông Trần Tấn Quốc thì tuyệt nhiên chẳng hề tiết lộ là tại sao. Riêng tôi thì góp nhặt được nhiều sự kiện trong hai lần phát giải này và cũng có suy đoán riêng. Trong một dịp khác tôi sẽ trở lại vấn đề này. Và bây giờ xin nói về giải Thanh Tâm 1960.

Giải Thanh Tâm 1959 bị mang tiếng
            Sau hai lần phát giải Thanh Tâm mà phương thức tổ chức khác xa nhau, cũng như đối tượng được phát thì lần đầu không thấy ai thắc mắc gì về người nhận giải, tức Thanh Nga, mà báo chí lúc ấy chỉ tập trung phê bình về ban tuyển chọn, rằng tại sao ban tuyển chọn quá ít người, cũng như có nhiều nữ nghệ sĩ trẻ đã không hay biết…
            Còn lần thứ hai thì lại nhắm vào nghệ sĩ nhận giải tức Hùng Minh và Lan Chi để chỉ trích, dù rằng giải Thanh Tâm 1959 này ban tuyển chọn mở rộng có đến 13 thành viên, coi như tăng gần gấp ba, thay vì giải Thanh Tâm 1958 chỉ có 5 thành viên.
            Ban tuyển chọn này gồm: Bà Phùng Hà, Nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Nghệ sĩ Duy Lân (3 nghệ sĩ kỳ cựu); các soạn giả: Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu (3 soạn giả); các ký giả kịch trường: Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Hoài Ngọc, Bạch Tùng Hương, Trần Tấn Quốc (7 ký giả). Như vậy còn số ký giả kịch trường nhiều hơn con số soạn giả và nghệ sĩ cộng lại.
            Giải Thanh Tâm 1959 bị mang tiếng nhiều, một phần lớn là do Hùng Minh nhận giải chẳng bao lâu thì xảy ra vụ Hùng Minh – Văn Chung – Thanh Hương mà tôi đã nói qua rồi. Một phần nhỏ hơn là đào Lan Chi sau ngày nhận giải thì cô này theo đoàn Phước Chung đi hát tận nơi xa xôi mà ít người biết đến. Do đó mà giới mộ điệu cải lương trông chờ xem năm thứ ba, tức năm 1960 này ông Trần Tấn Quốc sẽ làm như thế nào đây, có gây được niềm tin trở lại, hay là bị thiên hạ phàn nàn như kỳ vừa qua, mà những tờ báo đồng nghiệp đã không nương tay, đã triệt để khai thác những nhược điểm, và đưa ra sự suy đoán rằng giải Thanh Tâm khó thể nào được tiếp tục tổ chức, sẽ bị tẩy chay v.v…


Nghệ sĩ Ngọc Giàu

Ngọc Giàu và Bích Sơn đoạt giải
            Vậy thì ông Trần Tấn Quốc tức ký giả Thanh Tâm đối phó ra sao với tình hình ấy. Xin mời quí vị theo dõi…
            Đối với một nhà báo có nhiều kinh nghiệm, và với lợi thế là có tờ báo Tiếng Dội trong tay nên mọi chuyện thị phi, mọi bàn tán bất lợi cho giải đã bị tờ Tiếng Dội phá tan đám mây mù, đồng thời nhờ số độc giả yêu thích cải lương ủng hộ, do đó mà ông Quốc vẫn trầm tĩnh “đường ta ta cứ đi”, có nghĩa là vẫn loan báo mỗi tuần hai lần trên trang kịch trường rằng giải Thanh Tâm đang xúc tiến việc mời ban tuyển chọn, đang họp hành để chấm điểm…
            Một mặt thì ông Quốc tiếp xúc riêng rẽ với từng người mời vào thành phần ban tuyển chọn, và không quên mời họ sau ngày phát giải đi ăn cơm Tàu ở Chợ Lớn. Về kế hoạch tổ chức thì năm nay sẽ phát giải tại rạp hát có bán vé như là một buổi hát tuồng cải lương vậy.
            Thành phần ban tuyển chọn giải Thanh Tâm được thành lập gồm 15 thành viên: Bảy Nhiêu, Duy Lân (2 nghệ sĩ kỳ cựu); các soạn giả Điêu Huyền, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu (4 soạn giả cải lương); và các ký giả kịch trường Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Việt Định Phương, Sĩ Trung, Bạch Tùng Hương, Hoài Ngọc, nếu tính luôn ông Trần Tấn Quốc chủ giải thì nhà báo 9 người, chiếm quá nửa con số thành viên năm đó. Và giải Thanh Tâm 1960 ban tuyển chọn quyết định phát cho hai nữ nghệ sĩ Bích Sơn và Ngọc Giàu (hai nữ, không có nam). Khi hai nữ nghệ sĩ trên được tuyển chọn thì cũng có kẻ khen người chê, chớ không có phản đối chỉ trích nhiều như năm 1959.
            Ba tháng sau thì lễ phát giải Thanh Tâm 1960 được tổ chức tại rạp Hưng Đạo, người tham dự nếu không có giấy mời thì phải mua vé coi như một buổi trình diễn tuồng cải lương, nhưng đặc biệt hơn là có các nghệ sĩ đoạt huy chương vàng của của năm trước xuất hiện.
            Để thực hiện lời mời, tối ngày hôm sau ông Quốc mời ban tuyển chọn đi ăn cơm Tàu ở nhà hàng Ái Huê trong Chợ Lớn. Các nghệ sĩ trúng giải kể cả hai năm trước cũng được mời dự tiệc và người ta thấy có mặt Thanh Nga, Lan Chi, Bích Sơn, Ngọc Giàu. Riêng Hùng Minh thì không biết ban tổ chức có mời hay không mà hôm lễ phát giải cũng như buổi tiệc người ta đã không thấy nam nghệ sĩ này có mặt tham dự, bởi lúc bấy giờ đoàn Thanh Hương – Hùng Minh đang bị tẩy chay ở khắp nơi mà chưa thấy có dấu hiệu nào giảm bớt.
            Phát giải cho hai nữ nghệ sĩ Ngọc Giàu và Bích Sơn, coi như giải Thanh Tâm đã lấy lại được niềm tin của khán giả, bởi hai nữ nghệ sĩ này rất nổi tiếng về sau. Bích Sơn lúc mới vào nghề, dì của nàng là nữ nghệ sĩ Bích Thuận lập đoàn hát. Lúc ấy thi sĩ Kiên Giang, cũng là soạn giả Hà Huy Hà viết tuồng cho đoàn Bích Thuận, anh đã bỏ vai cho Bích Sơn đóng vai nàng tiên nữ xuống trần tắm suối để quên cặp cánh không còn về Bồng Lai được nữa. Thấy cô Bích duyên dáng và thanh tao như tiên… thật, Kiên Giang bèn tự viết báo ca ngợi nàng là kiều nữ! Ấy thế rồi kiều nữ chóng lớn danh với mọi người để rảo bước qua các sân khấu lớn với mái tóc thề gói trọn tâm tư.


Kiều nữ Bích Sơn

            Thi sĩ nhà ta làm lu bù thơ khen tặng kiều nữ đã trở nên một giai thoại trong làng sân khấu. Thế nhưng, kiều nữ Bích Sơn là người theo đạo Thiên Chúa, còn thi sĩ thì không, vậy mà chàng ta đã thành khẩn đề thơ: Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ở trên trời…
            Khi nghe tin đồn kiều nữ sắp đi lấy chồng, chàng đã làm thơ rằng: Hoa trắng thôi cài lên trên mái tóc. Ôi còn đâu nữa tấm băng trinh. Lúc ấy thiên hạ nói rằng nếu như Bích Sơn mà chưa đi lấy chồng thì chàng thi sĩ Kiên Giang chắc còn làm cả “lố” thơ nữa.
            Sau 1975 người ta không thấy Bích Sơn đi hát, và kiều nữ đã ra hải ngoại nhưng không lần nào xuất hiện trên sân khấu, coi như từ giã nghiệp cầm ca luôn. Có lần vào năm 2002, trong lúc đang thành lập ban giám khảo giải Phụng Hoàng, tôi với tư cách là hội trưởng Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại kiêm trưởng ban tổ chức, tôi có liên lạc được với kiều nữ Bích Sơn trên điện thoại (số điện thoại do nữ nghệ sĩ Kiều Mỹ Loan cho). Tôi có mời Bích Sơn tham gia ban giám khảo, nhưng kiều nữ từ chối, và từ ấy đến nay tôi không có liên lạc nữa và cũng không biết kiều nữ ở đâu.
            Về phần Ngọc Giàu thì liên tục hát trên nhiều sân khấu, về sau còn được theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Tây, và sau 1975 Ngọc Giàu vẫn còn hát. Những năm trước đây ở hải ngoại có phong trào mời nghệ sĩ cải lương ở trong nước từng nổi tiếng khi xưa ra trình diễn, trong đó có Ngọc Giàu.
            Lúc đầu thì khán giả đi coi rất đông, các bầu sô cũng kiếm khá tiền, nhưng mấy năm gần đây khán giả ở Mỹ cũng không còn tha thiết với những sô hát này nữa.
            Do bởi các nghệ sĩ thần tượng năm xưa giờ đây đã già đi nhiều, sắc vóc đã không còn dễ nhìn mà hơi hám cũng đâu còn nữa để mà hát. Có còn chăng là cái dư âm, tên tuổi của ngày xưa. Một khi không còn thu hút được khán giả, nếu tổ chức hát thì lỗ lã, thành thử ra các bầu sô chạy dài luôn.
            Giờ đây coi như cái thời kỳ mà bầu sô hải ngoại hốt bạc đã qua rồi. Mang nghệ sĩ tên tuổi trước 1975 ra hát đã chẳng còn bán vé được nữa, nếu còn tổ chức sô hát thì từ chết tới bị thương thôi!
            Tóm lại là hai nữ nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm 1960 được coi như xứng đáng, nếu có bị chỉ trích vấn đề nào đó thì là việc đương nhiên, bởi giải nào mà không bị chỉ trích ít nhiều.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/1960-thanhtam-award-nmai-09042011084845.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #19 vào: 24/04/2017, 11:19:49 »
Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn

Trong số những dĩa hát cổ nhạc phát hành từ thời xa xưa cho đến sau này, một trong những dĩa được thiên hạ ưa chuộng nhứt, phải kể là 6 câu vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu”, của soạn giả Viễn Châu do Út Trà Ôn ca – Út Trà Ôn là một danh ca vọng cổ mà tên tuổi lẫy lừng không những giới yêu thích cổ nhạc cải lương, mà luôn cả nhiều giới khác cũng nghe danh.

Chương trình buổi hát của danh ca Út Trà Ôn đăng trên quảng cáo

Đỉnh cao danh vọng của một nghệ sĩ cải lương
            Nghệ sĩ Út Trà Ôn đã đóng góp rất nhiều vào kho tàng nghệ thuật sân khấu cải lương cũng như cho đĩa hát, mà các thế hệ sau này chẳng một ai so sánh được.
            Từ một nông dân ở quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (khi xưa Cần Thơ là một trong 20 tỉnh Nam Kỳ dưới thời thuộc địa Pháp, sang thời Đệ Nhứt Cộng Hòa tỉnh Cần Thơ đổi tên Phong Dinh, quận Trà Ôn vẫn còn ở tỉnh này, và bây giờ Trà Ôn thuộc Vĩnh Long).
            Từ miền Lục Tỉnh, Út Trà Ôn lên Sài Gòn với số vốn liếng hành trang mang theo chỉ là giọng ca thiên phú, để rồi từ đó bắt đầu một sự nghiệp lớn lao về nghệ thuật cũng như về đời sống vật chất.
            Do tiếng ca thu hút được người nghe, nên một phần lớn khán giả đi coi hát đã tập trung vào thưởng thức tiếng ca vọng cổ của Út Trà Ôn, và rồi dần dà thiên hạ, khán giả, người đời đã tặng cho Út Trà Ôn biệt danh “đệ nhứt danh ca”.
            Ngôi vị tuy không văn bản nào xác nhận, nhưng chẳng nghe ai công khai lên tiếng phản đối, do đó coi như mọi người đã ngầm chấp nhận vậy! Cũng như trong suốt nhiều thập niên chưa có nghệ sĩ nào giành được ngôi vị đặc biệt đó.
            Với một thế đứng vững vàng ở lãnh vực sân khấu cải lương trong suốt nhiều thập niên, Út Trà Ôn đã tạo cho mình một sự nghiệp lớn lao mà bất cứ ai vào nghiệp cầm ca cũng rất thèm thuồng cái ân sủng mà Tổ nghiệp cải lương đã ưu đãi Út Trà Ôn.
            Bên địa hạt đĩa hát cũng thế, chưa có nghệ sĩ nào vô đĩa nhiều như Út Trà Ôn, vì thế nên lời ca tiếng hát của ông đã được phổ biến cùng khắp. Người ta đã thử so sánh số tiền lương được lãnh mà ông bầu gánh hát Thủ Đô đã phát cho nghệ sĩ của đoàn vào năm 1960 thì biết Út Trà Ôn “đế vương” đến cỡ nào.
            Lúc bấy giờ kịch đoàn Thủ Đô là một đoàn hát lớn hoạt động rất mạnh ở Sài Gòn, và là đoàn hát có tiếng trả lương cao, đã trả tiền lương mỗi xuất hát của từng nghệ sĩ như sau: Kép chánh Thanh Hải năm trăm đồng, đào chánh Ngọc Hương năm trăm đồng, kép độc Hoàng Giang hai ngàn đồng và Út Trà Ôn thì lãnh xỉu xỉu có… năm ngàn đồng thôi! Với số tiền trả lương của đoàn Thủ Đô như trên cho thấy rằng Út Trà Ôn lãnh lương gấp hai lần rưỡi Hoàng Giang và gấp 10 lần Ngọc Hương, Thanh Hải.
            Còn nếu như so sánh với lương bổng của giới khác thì thời điểm 1960 lương lính binh nhì là 514 đồng mỗi tháng. Lúc bấy giờ có câu thơ “Anh đây là lính binh nhì, năm trăm mười bốn lấy gì nuôi em”. Không biết ai là tác giả bài thơ nhưng rất phổ biến trong giới nhà binh mà hầu như người lính nào cũng biết, cũng thuộc lòng. Như vậy lương lính một tháng chỉ khoảng một đêm lương của Thanh Hải, Ngọc Hương, hoặc 10 tháng lương của người lính chỉ bằng một đêm lương của đệ nhứt danh ca. Nói một cách khác là tiền của khán giả cải lương, thay vì đem nuôi một Út Trà Ôn, lấy tiền đó nuôi được hai đại đội binh sĩ chiến đấu. Đó là chưa kể còn những món tiền khác như ký hợp đồng lấy khơi khơi vài triệu, tiền hát xuất ban ngày, tiền vô đĩa v.v… Tóm lại là số tiền Út Trà Ôn lãnh vào thời đó nghe qua ai cũng ngộp!


Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn

Cậu Mười không biết đọc cũng như viết
            Thế nhưng, có ai biết rằng Út Trà Ôn từng xuất thân là nông dân, dốt đặc hoàn toàn, tức là không biết luôn cả các chữ mẫu tự A B C… Có người nói Út Trà Ôn xuất thân từ chăn trâu, thời kỳ mà ông còn ở tỉnh chưa lên Sài Gòn. Thật ra thì người làm ruộng nào lại không chăn trâu, chớ như Minh Cảnh thuở thiếu thời đi lượm rác thì có sao đâu! Nói về thời gian cộng tác với các đoàn hát thì gánh Thanh Minh được coi như Út Trà Ôn có mặt lâu dài nhứt, mà Thanh Minh thì thường hoạt động quanh quẩn vùng Sài Gòn, Chợ Lớn chớ ít khi đi lưu diễn xa nên rất nhiều người được biết rõ về việc Út Trà Ôn trong vấn đề học tuồng. Vào khoảng các năm 1950-1951, mỗi khi nhận vai trò trong một vở tuồng (hầu hết là vai chánh) thì có người đọc role tuồng cho ông ta học, lý do không biết chữ nhứt một thì đọc thế nào được chứ! Lúc đó bầu gánh Năm Nghĩa phải mướn người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học với phương pháp đọc đi đọc lại nhiều lần cho ông nghe trong lúc ngồi ăn cơm, hoặc trước khi ngủ. Người đọc cứ tự nhiên đọc, đọc hoài chừng nào thấy ông ngáy ngủ thì ngưng đọc (phải chi lúc ấy có máy cassette, băng đĩa thì đỡ biết mấy).
            Vậy mà ai thuộc tới đâu thì Út Trà Ôn thuộc tới đó, và đến khi lên tập tuồng ông ta nhớ hết tất cả lời ca không vấp chữ nào, cũng như lời đối thoại đúng y như soạn giả viết và diễn thì ăn khớp với vai trò đã đảm trách. Thời gian có người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học kéo dài suốt cả chục năm, tính thời gian từ lúc ông ở đoàn Thanh Minh của Năm Nghĩa khoảng 1952, cho đến khi ông về đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản năm 1960-1961. Đó là chỉ tính từ ngày ông có mặt trong mấy gánh hát hoạt động ở Sài Gòn mà thôi, chứ lúc còn ở tỉnh ông học bài ca từ hồi nào và cách học ra sao thì không nghe ai nói, và chắc ông cũng không hề tiết lộ với ai vấn đề, trừ phi có người biết rõ hồi ông còn ở dưới quê.
            Cũng bởi do tiếng ca quá thu hút người nghe, lôi cuốn mọi lớp tuổi, mọi thành phần khán giả và yêu cầu chính yếu của người mua vé đi coi cải lương lúc bấy giờ là nghe tiếng ca vọng cổ của Út Trà Ôn. Do vậy nên dù phải chi thêm tiền mướn người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học, bầu gánh hát cũng vui vẻ chấp nhận thôi, chứ bằng như Cậu Mười không lên sân khấu được thì đoàn hát sẽ lâm nguy, đói hết cả đám! (Hầu hết trong đoàn hát đều gọi Út Trà Ôn bằng Cậu Mười).
            Tuy rằng chẳng đọc được chữ nhứt một, nhưng mục tiêu mua vé của khán giả là Út Trà Ôn, nên không ai dám nói động đến vấn đề dốt chữ của Cậu Mười, vì hễ nói ra chẳng lợi lộc gì hết, lại rủi ai đó tọc mạch, Cậu Mười biết được sẽ phàn nàn với bầu gánh, tức thì người nói ấy bị đuổi việc ngay, bởi tính toán của bầu gánh thà hy sinh người đó chứ không thể để mất số tiền thu vô hằng đêm nhờ giọng ca Út Trà Ôn. Còn nói về thu đĩa hát ở hãng đĩa Hoành Sơn thì vấn đề dốt đặc của Út Trà Ôn đã làm khổ tâm cho hãng đĩa, làm phiền phức cho nghệ sĩ cùng thu thanh chung tuồng.
            Do bởi khi thu đĩa mà ông quên tuồng, quên lời ca thì coi như bỏ hết, ngày khác thu lại, và chuyện Út Trà Ôn quên tuồng xảy ra hầu như đĩa nào cũng bị thu thanh trở lại không nhiều thì ít. Nếu như người biết chữ thì dù không thuộc tuồng thì họ cầm role tuồng coi đó mà ca mà nói thì có phải đỡ khổ cho hãng đĩa lắm không...


Bìa dĩa “Tình anh bán chiếu” với hình ảnh Út Trà Ôn (giữa)

“Tình anh bán chiếu” lên ngôi
            Út Trà Ôn là một danh ca vọng cổ mà tên tuổi lẫy lừng không những giới yêu thích cổ nhạc cải lương, mà luôn cả nhiều giới khác cũng nghe danh. Căn cứ vào những sự kiện nào để đánh giá như thế? Muốn biết rõ ta phải ngược thời gian trở về những năm cuối của thập niên 1940 và trọn hai thập niên 1950-1960 để mà so sánh thì sẽ có câu trả lời xác đáng.
            Thật vậy, nếu như tính hết những tuồng cải lương và bài ca vọng cổ do Út Trà Ôn thu thanh dĩa hát thì có đến hàng trăm bộ dĩa được phát hành phổ biến cùng khắp. Thế nhưng, nếu nói có bao nhiêu bài ca do đệ nhứt danh ca thu dĩa mà được thiên hạ biết đến, thì con số chắc không nhiều.
            Lý do phần lớn những dĩa hát do Út Trà Ôn ca đã không được giới đờn ca tài tử học thuộc lòng để ca trong các buổi sinh hoạt tiệc tùng, hoặc đình đám mà họ đã có những bài ca khác như “Bóng Người Kỵ Sĩ” do Thành Công ca, bài “Điên Vì Khói Lửa” do Minh Chí ca v.v…
            Đến khoảng giữa thập niên 1950 thì các hãng dĩa hát sau khi phát hành bộ dĩa nào thì cho in cuốn bài ca nhỏ của bộ dĩa ấy, rồi mang về nông thôn bán ở các chợ làng quê. Nhờ vậy nên lúc bấy giờ một số bài vọng cổ do Út Trà Ôn ca độc chiếc cũng được dân đờn ca tài tử mua về học, nhưng dân đờn ca tài tử có người học, có người không, họ đã chẳng mặn mòi bao nhiêu với các bài vọng cổ này.
            Và nếu như người nào đó thuộc các bài ca trên thì khi mang ra ca người nghe cũng lơ là chẳng mấy ai thích.
            Đến giữa thập niên 1960 thì dĩa hát “Tình Anh Bán Chiếu” cũng do Út Trà Ôn ca được phát hành, người bán bài ca ở chợ vừa bán vừa hát, chợ chưa tan thì bài ca đã bán hết. Thế là một số lớn dân đờn ca tài tử đã học thuộc lòng và thiên hạ được nghe. Có thể nói “Tình Anh Bán Chiếu” đã thâm nhập hầu hết các nhóm đờn ca tài tử ở miền Nam, đi tới đâu cũng nghe bài vọng cổ này.
            Thời ấy không riêng gì ngoài dân chúng, mà trong giới nhà binh người ta cũng nghe hát “Tình Anh Bán Chiếu”. Các ca sĩ tài tử nhập ngũ đã mang bài ca này vào quân trường, rồi khi ra đơn vị lại mang theo đi khắp các đồn trại từ Nam ra Trung. Các tài tử mặc áo lính rất nhiều người thuộc lòng bài “Tình Anh Bán Chiếu”, lắm lúc không có người đờn, họ vẫn một mình hát khơi khơi vậy.
            Rồi sau 1975 “Tình Anh Bán Chiếu” cũng vào trại cải tạo, dân đờn ca tài tử gặp nhau trong trại là trở thành nhóm, giờ nghỉ sinh hoạt của họ là các bạn cùng trại lại được nghe bài ca ấy.
            Đến khi ra hải ngoại thì bài ca này cũng có mặt nhiều nơi. Thế nhưng, do đâu mà “Tình Anh Bán Chiếu” lại được dân tài tử ưa thích, được người nghe mến mộ?

Đi vào lòng người
            Nhờ yếu tố nào mà thiên hạ lại yêu thích bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu? Đó là câu hỏi mà thời gian qua đã có rất nhiều câu giải đáp, nhưng phần nhiều chỉ là những câu trả lời có tính cách chung chung, cho rằng đó là bài ca hay, chớ ít ai nói rõ ràng chi tiết. Sau khi thu thập nhận xét của nhiều người thì người ta có thể kết luận rằng:
            “Bài ca vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” chứa đựng một câu chuyện trữ tình, đi đôi với bối cảnh, địa danh có thật ở miền Tây. Bài ca nói lên tâm trạng si tình của một gã bán chiếu gốc ở Cà Mau, một mối tình đơn phương tuyệt vọng mà ai nghe qua cũng cảm thương, đồng thời cũng trách anh ta sao lại si tình một cách vô lý như thế.”
            Cái tài tình của soạn giả Viễn Châu là sử dụng nghề nghiệp của anh chàng bán chiếu, đưa chàng ta vào phòng loan của cô gái con nhà khá giả một cách hợp pháp. Chiếc giường sơn gõ đỏ đủ nói lên nếp sống con nhà giàu của cô gái miền sông nước Hậu Giang.
            Mùi hương cùng bày biện trang hoàng phòng loan của cô gái đã làm cho gã bán chiếu mê mẩn tâm thần, và đầu óc đã suy nghĩ vu vơ quá trớn. Thấy người đó, cảnh đó rồi âm thầm thương nhớ, chứ có ai nghĩ gì đến anh chàng đâu? Anh ta kể lể: “Cô ơi! Đôi chiếu này tự tay tôi dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lát sợi gai…” Anh chàng vừa dệt chiếu vừa dệt mộng, lại càng vô lý hơn qua lời than vãn: “Khi họ cất bước theo chồng đã không một lời hỏi han từ giã…” Không lẽ mỗi khi một cô gái về nhà chồng, lại đi tìm người bán chiếu để từ giã? Thật là ngớ ngẩn!
            Cái hay của người sáng tác bài ca đã lấy bối cảnh, địa danh có thật để tô điểm làm đậm đà cho câu chuyện. Con sông Phụng Hiệp, bờ kinh Ngã Bảy đâu có lạ gì với người dân ở Cần Thơ hay miền Lục Tình. Chỉ nội người dân ở địa phương thắc mắc bàn tán hỏi han nhau, rằng cô gái mặc chiếc áo bông hường kia là ai? Và anh chàng bán chiếu với chiếc áo nhuộm bùn lấm tấm giọt mồ hôi kia là chàng nào, cũng đã làm cho bài ca nổi tiếng.
            Tóm lại bài ca vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” đã có một hấp lực mạnh mẽ thu hút giới đờn ca tài tử lẫn người nghe, do đó nó được phổ biến thật rộng rãi. Bạo phát mà không bạo tàn, trái lại còn lâu bền, và biết đâu nó sẽ sống mãi với thời gian.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/famous-cailuong-actor-nm-10242011130407.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #20 vào: 26/04/2017, 08:47:54 »
Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”

Trong Làng cải lương, không ai không biết đến nghệ sĩ Út Bạch Lan với giọng ca được mệnh danh là “Sầu nữ”. Không phải những giọng ca nữ khác không u buồn, nhưng nói về độ mùi mẫn bi ai thì rõ ràng không ai vượt qua được Sầu nữ Út Bạch Lan. Còn nếu nhìn vào các giọng ca nam, ca mùi thì có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” thì có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang còn để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.

Cố nghệ sĩ Thanh Sang (1943-2017) và nghệ sĩ Thanh Tú trong vở Bên Cầu Dệt Lụa

Bỏ đời ngư phủ theo nghiệp cầm ca
            Nghệ sĩ Thanh Sang tên thật Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Gia đình ông làm nghề chài lưới, rất nghèo khổ, lại đông con, mà ông lại là con trai một, nên cái gánh nặng gia đình tự nhiên trở thành một áp lực vô hình đè nặng lên ông, để phải tìm mọi cách đổi đời cho gia đình bớt khổ.
            Nếu ai có dịp về Phước Hải sẽ không khỏi ngậm ngùi khi nói tiếng chia tay với vùng duyên hải thơ mộng này. Núi non hùng vĩ đứng bên bờ biển bao la của vùng Phước Hải đã kết tinh thành một giọng ca buồn miên man nhưng đầy khí khái của cậu bé tên Thu.
            Thuở nhỏ, Thanh Sang học ca vọng cổ theo tiếng đờn của danh cầm Văn Vĩ trên đài phát thanh, 12 giờ khuya hằng đêm mà ông nghe ké được từ nhà hàng xóm. Khi biết ca rồi, ông bèn năn nỉ mấy thầy đờn tập giùm những lúc họ rỗi rảnh. Về diễn xuất cũng vậy, vẫn theo đà của thế hệ vàng, nghề ca hát được truyền theo kiểu nghề dạy nghề, Thanh Sang ngồi cánh gà coi riết rồi thuộc hết thảy các vai tuồng, kể cả vai nữ. Để rồi lại “trông mong” có nghệ sĩ nào bị đau ốm để được lên đóng thế.
            Mới hơn 14 tuổi ông đã bắt đầu theo nghiệp tổ. Cái áp lực khi ấy đối với ông nặng lắm, bởi đã bỏ nghề cá và bỏ xứ theo nghiệp hát ca thì phải làm sao có chút đỉnh thành công, nếu không thì còn mặt mũi nào dám trở lại nhìn mặt xóm làng. Áp lực nặng đến mức mà Thanh Sang từng ví chuyến đi của mình như: “Kinh Kha qua sông Dịch”.
            Con đường khởi nghiệp của Thanh Sang cũng lắm gian nan. Ông kể, chờ hoài mà mấy anh kép chánh không chịu bệnh, chỉ có kép phụ bị làm khó làm dễ rồi xin nghỉ để mới được cho đóng thế vai phụ. Những vai phụ đầu tiên của chàng trai tuổi đôi mươi lại là vai lão. Lúc trẻ tên tuổi Thanh Sang gắn với vai lão nhiều hơn.
            Đúng như câu “Tái ông thất mã”, cuộc đời mà, trong cái rủi thì ắt hẳn có cái may, cũng chính nhờ đóng vai lão mà Thanh Sang đã đạt đến đỉnh cao vinh quang khi đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm vào năm 1964, giải thưởng cải lương danh giá nhất tính đến hiện tại. Vai diễn đưa Thanh Sang đến với giải thưởng cao quí này là vai Tạ Tốn trong vở “Cô Gái Đồ Long”.
            Đây là một vai diễn rất khó, vì người diễn bị mất đi một vũ khí diễn xuất lợi hại nhất của người nghệ sĩ trên sân khấu, đó là đôi mắt, do Tạ Tốn là một nhân vật mù. Hơn nữa đây là một nhân vật có tuổi, mà lại cùng với bao sóng gió của cuộc đời, Tạ Tốn lại càng trở nên già nua với ngổn ngang tâm sự. Như tổ nghiệp đã cố tình sắp đặt, giọng ca của Thanh Sang rất hợp với nhân vật Tạ Tốn này: giọng ca u buồn, đong đầy tâm sự, nhưng luôn có một xung lực phi thường, cách diễn của Thanh Sang lại rất chừng mực, nên đã thể hiện xuất sắc vai diễn này.
            Có vẻ ban tổ chức của giải Thanh Tâm đã có lý khi quyết định trao huy chương vàng cho Thanh Sang, vì đến hiện tại vai Tạ Tốn vẫn được xem là “vai của Thanh Sang”, bởi chưa thấy ai đóng qua được. Sự có lý của ban tổ chức giải Thanh Tâm còn được khẳng định thêm, khi năm 1964 cùng với Thanh Sang thì nữ nghệ sĩ Lệ Thủy cũng nhận giải thưởng cao quí này. Và đến hiện tại, hai nghệ sĩ này đã thật sự vượt mong đợi của những người trao giải với những thành công không thể nào rực rỡ hơn nữa trên sân khấu cải lương.


Nghệ sĩ Bạch Tuyết chúc mừng ba nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm năm 1964: Diệp Lang, Thanh Sang, Lệ Thủy (từ trái sang)

Thanh Sang – Thanh Nga: Đôi bạn diễn “xưa nay hiếm”
            Thanh Sang từng tâm sự rằng, khi còn trẻ thì được giao đóng vai già, còn khi lớn tuổi lại được chọn đóng vai kép trẻ. Quả thật vậy, và sự chọn lựa này của các đạo diễn dành cho Thanh Sang không phải là không có lý, bởi cái vai già ông đóng khi trẻ cũng thành công, mà cái vai trẻ ông đóng khi già cũng lại rất thành công.
            Nói về vai kép chính trẻ trung đầu tiên của Thanh Sang phải nhắc đến vai Đông Nhật trong vở Tuyết Phủ Chiều Đông. Đây cũng là một cơ duyên, bởi khi ấy ở đoàn Ngọc Kiều của ông bầu Hoàng Kinh, anh kép chánh Hùng Cường vừa đánh người phải đi hầu tòa, nên Thanh Sang được chọn thế vai cho Hùng Cường, và con đường kép chánh của Thanh Sang bắt đầu từ đó.
            Thế nhưng, để gọi là thành công rực rỡ, tức tạo được dấu ấn trong lòng người mộ điệu cải lương, thì phải chờ đến khi Thanh Sang về đoàn Thanh Minh – Thanh Nga của bà Bầu Thơ, mẹ của cố nghệ sĩ Thanh Nga. Ở đó, tổ nghiệp dường như đã có ý đền đáp cho thái độ làm nghệ thuật nổi tiếng nghiêm túc của bà Bầu Thơ bằng cách ban cho đoàn hát của bà một đôi Kim Đồng Ngọc Nữ: Thanh Sang – Thanh Nga.
            Đôi bạn diễn thành công đến mức mà đến hiện tại, dù có bình luận thế nào, tranh cãi ra sao, thì hễ nhắc đến Thanh Sang người ta lập tức nghĩ ngay đến Thanh Nga, mà hễ bàn về Thanh Nga thì lại nghĩ ngay đến Thanh Sang. Cả hai đều có giọng trầm buồn, đầy nội lực, cách ca cách diễn rất chừng mực, cách làm nghệ thuật rất nghiêm túc, nên sự ăn ý trên sân khấu đã đạt đến mức hoàn hảo.
            Năm 1978, Thanh Nga bất hạnh qua đời, sự ra đi này là một tổn thất không gì bù đắp nổi đối với sân khấu cải lương, bởi đó là sự ra đi của một nữ nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu. Thế nhưng mất mát cho cải lương còn ở chỗ: sự ra đi của Thanh Nga cũng khiến cho sân khấu cải lương mất một đôi bạn diễn thuộc hàng “xưa nay hiếm”.


Nghệ sĩ Thanh Nga và Thanh Sang trong vở Bên cầu dệt lụa

Trần Minh – Thanh Sang: Ca nội tâm, diễn chân phương
            Vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa đã mang đến hai hình tượng thuộc hàng đẹp nhất cho sự thủy chung son sắt. Nếu Thanh Nga xuất sắc với vai nàng tiểu thư Quỳnh Nga dám vượt khuê môn đến chăn tằm dệt vải bên cầu để lấy tiền cho người chồng hứa hôn lên kinh ứng thí, thì Thanh Sang cũng đáp lại bằng vai diễn để đời với một hàn sĩ Trần Minh, bị nhạc trượng tương lai ruồng bỏ do chê gia thế bần hàn, đến độ mẹ ruột bị hành hạ đến uất ức mà mang bệnh chết.
            Trong nghịch cảnh ấy, lòng thù hận của Trần Minh đối với nhạc trượng đã được hóa giải bằng tấm chân tình của người vợ hứa hôn Quỳnh Nga. Để rồi, khi đỗ trạng nguyên, bị vua dùng quyền uy tối thượng ép chàng phải cưới công chúa, Trần Minh đã từ chối cái ngôi phò mã cao sang, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết để giữ cho vẹn thủy toàn chung với người vợ tào khang Quỳnh Nga ở quê nhà.
            Lớp diễn Trần Minh đối đáp với vua và công chúa giữa trào đình là một lớp diễn xuất thần của Thanh Sang. Nét khẳng khái, sự quyết liệt, cách đối đáp chân thật mà uyên bác, thâm thúy mà giản đơn đã được Thanh Sang thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế: nhẹ nhàng vì Thanh Sang có lối diễn chừng mực không phô trương, tinh tế vì Thanh Sang biết khai thác tối đa thế mạnh của giọng ca đầy nội tâm để biểu đạt hết cái thần của nhân vật.
            Một nét đáng chú ý trong lớp diễn này, nhất là đoạn Trần Minh ca hai câu vọng cổ đối đáp với vua khi vua mang gươm lệnh ra dọa nếu Trần Minh từ chối ngôi phò mã thì sẽ phải mất đầu: đây là một lớp diễn rất khó. Khó trước tiên là về cách diễn xuất phải làm sao bộc lộ được sự quyết liệt từ chối nhưng phải giữ được đạo quân thần, chứ không phải từ chối của một kẻ bình dân, mà là từ chối của bậc trạng nguyên có ăn có học.
            Cái khó thứ hai mà cũng là cái khó chính, đó là lời bài ca trong lớp diễn. Hai câu vọng cổ mà Trần Minh ca đối đáp với vua hàm chứa rất nhiều điển tích, mà phải chi điển tích là những câu chuyện dài thì còn có thể nắm cốt chuyện mà nhớ, đằng này lại liên quan đến một loạt các tên tuổi lấy từ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu. Chẳng hạn như đoạn đối thoại có những lời như sau:
             “Muôn tâu, thánh như Ngũ đế, nhân như Tam Vương, mạnh như Ô Hoạch, dõng như Mạnh Bôn Hạ Dục mà còn phải chết, trên đời có ai thoát khỏi chết đâu mà thần phải sợ”.
            Chúng ta thấy, dẫu là người có học cao, khi ca đoạn này cũng phải học thật kỹ, nếu không khi đang ca trong lòng bản vọng cổ, không có thời gian đâu mà suy nghĩ nhiều, nên việc nói nhanh mà nhầm lẫn tên là rất khả dĩ. Ấy thế nhưng ở Thanh Sang cách diễn xuất rất tự nhiên, cách ca rất trôi chảy, lời ca trong nét diễn, nét diễn trợ lời ca, cho thấy đó thật sự là một Trạng Nguyên thuộc lào kinh sử, chứ không phải là một anh kép hát đang vừa ca vừa vắt óc nhớ lời hoặc ca một cách vô hồn, không hiểu gì về tên những nhân vật mà mình đề cập.
            Xuất thân hàn vi nên Thanh Sang không được ăn học nhiều, nhưng Thanh Sang luôn chịu khó tự trao dồi kiến thức, và khi ca diễn ông có thể hiểu trọn vẹn những tích tuồng mà mình tham gia đóng. Trong giới cải lương, Thanh Sang được mệnh danh là người có hiểu biết rộng, thông tuệ nhiều thứ. Thế mới thấy được sự phấn đấu phi thường đáng trân trọng của nghệ sĩ Thanh Sang, một sự phấn đấu mà không phải những người được xem là trí giả đôi khi còn không có. Thế mới thấy thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này nên soi vào đó để tự trao dồi, trao dồi không chỉ kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức sử xanh cần thiết.
            Lớp diễn để đời khác trong tuồng Bên Cầu Dệt Lụa là đoạn Trần Minh đỗ trạng nguyên xong về lại quê xưa, nhưng xin phép vua không làm lễ vinh quy bái tổ rình rang như thông lệ, mà lại chọn cách xếp cờ êm trống, mặc áo cơ hàn mang bầu rượu nhạt đến tìm gặp người bạn tri giao là hàn sĩ Nhuận Điền. Nghệ sĩ Thanh Tú thủ vai Nhuận Điền đã cùng Trần Minh – Thanh Sang để lại cho đời một tình bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa.
            Đặc biệt, khi Nhuận Điền ngạc nhiên thấy Trần Minh đã là trạng nguyên mà còn mang rượu mua ở quán nghèo tại quê hương đến mời bạn, Nhuận Điền hỏi: “Giờ đã là trạng nguyên rồi mà còn uống được rượu quán nghèo nơi xóm cũ à?”, Trần Minh – Thanh Sang vô vọng cổ câu 5 để trả lời: “Uống chớ đại huynh, tuy rượu quán nghèo mà nồng nàn hương vị, xin kính cẩn nâng ly mời tri kỷ, mượn chén rượu ngày xưa cho tròn vẹn… thâm… tình”. Giọng ca Thanh Sang trầm ấm, trữ tình, chứa đầy tâm sự, nên chỉ với bốn chữ: “Uống chớ đại huynh” thôi thì người nghe cũng có thể hiểu được trọn vẹn nổi lòng của nhân vật rồi. Chỉ bốn chữ đơn giản như thế mà đến giờ phút này, đã có không ít nghệ sĩ trích lại đoạn nói trên, nhưng chưa thấy ai đạt đến trình độ: “Bốn chữ nói lên tất cả” như Thanh Sang.
            Thế nhưng, trong vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa, khi nhắc đến Quỳnh Nga – Trần Minh, người mộ điệu nghĩ ngay đến đoạn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên đường lai kinh ứng thí. Nàng mang đến cho chàng gói hành trang, lộ phí, mà điều đáng quý là tất cả những thứ đó đều do tự tay nàng làm ra sau khi rời khỏi lầu son gác tía trong phủ quan huyện của cha nàng để đến dựng quán bán vải bên cầu. Ý nghĩa nhất lúc này đó là chiếc áo ngự hàn mà nàng đã thức suốt bao đêm để dệt bằng “tơ tâm sự”. Thanh Nga ca hai câu vọng cổ để trao gói hành trang, thì Thanh Sang sau đó cũng ca hai câu vọng cổ đáp tạ chân tình. Đoạn ca này cả hai đã thật sự đạt trình độ thượng thừa về ca diễn. Đặc biệt về ca, tất cả những tình cảm cần thể hiện đã được đôi nghệ sĩ ngọc ngà này của sân khấu cải lương đưa hết vào trong lời ca.
            Đáp lại Quỳnh Nga – Thanh Nga, Trần Minh – Thanh Sang đã ca như vầy: “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc, rừng rực lửa yêu đương ta nguyện cùng ai thề giữ vẹn chữ… chung… tình”. Những chữ “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc” được Thanh Sang đưa hết tình cảm vào đó. Với giọng ca đầy nội lực và nội tâm của Thanh Sang, chỉ với mấy chữ mở đầu này cũng đủ để khán giả cảm được sự rưng rung nước mắt trong lòng của bậc trượng phu Trần Minh, không cần phải xem thêm động tác gì nữa.
            Giọng ca của Thanh Sang rất thích hợp cho những vai nội tâm cao, đây là một ưu thế của ông, nên ông đã triệt để khai thác, và khai thác một cách xuất sắc cho đoạn ca này. Nhiều nghệ sĩ thế hệ sau ca diễn lại đoạn này, nhưng do giọng ca thiếu nội lực, do không có được làn hơi đầy nội tâm như Thanh Sang, hoặc do diễn hơi bị lố, nên chưa thấy có ai thể hiện xuất thần đoạn này như Thanh Sang.
            Thành công của Thanh Sang trong Bên Cầu Dệt Lụa đến mức mà khán giả miền Tây thường biết đến tuồng cải lương này qua tên Trần Minh Khố Chuối, và hình tượng một Trần Minh nghèo khổ hiếu học, vẹn thủy toàn chung đã đi vào đời sống thường nhật của người Nam Bộ, bởi rất thường khi gặp một người nam nghèo khổ có chí học hành thì nhiều người gọi ngay đó là “Trần Minh khố chuối”.


Nghệ sĩ Thanh Sang và Thanh Nga trong vở Tiếng trống Mê Linh

Thi Sách – Thanh Sang: Đỉnh cao của nét diễn bi hùng
            Một vai diễn để đời nữa của Thanh Sang là vai Thi Sách trong vở Tiếng Trống Mê Linh cũng đóng cặp với Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Nếu trong vai Trưng Trắc, Thanh Nga đã tạo ra những đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến giờ này chưa nữ nghệ sĩ cải lương nào vượt qua, thì Thanh Sang cũng đã “gây khó dễ” cho thế hệ sau với vai Thi Sách, bởi đến hiện tại chưa thấy ai tiếp bước một cách xứng tầm cho vai diễn này. Và hễ nhắc đến Thi Sách trong Tiếng Trống Mê Linh là người mộ điệu nghĩ ngay đến Thanh Sang.
            Lớp diễn để đời cho cả hai nghệ sĩ bậc thầy này là lớp Trưng Trắc – Thanh Nga tế sống Thi Sách – Thanh Sang trước cửa thành Luy Lâu. Số là Thi Sách bị Tô Định bắt đem lên giàn hỏa để uy hiếp buộc Trưng Trắc lui quân. Thế nhưng, vận mệnh non sông chỉ còn ở trận đánh đó thôi, chỉ còn ở thời cơ đó thôi. Nợ nước tình nhà đè nặng lên vai Trưng Trắc. Thanh Nga đã xuất thần trong lớp diễn tế sống chồng với hai câu vọng cổ thuộc hàng “quỷ khốc thần sầu”. Thi Sách – Thanh Sang cũng không hề lép vế với bạn diễn. Trên giàn hỏa, Thi Sách – Thanh Sang khảng khái khuyên vợ đặt việc nước trước tình nhà để tấn binh diệt giặc. Thanh Sang cũng đã ca hai câu vọng cổ thuộc hàng “thần sầu quỷ khốc”.
            Cả hai đã gặp nhau ở một điểm, mà lại là điểm quyết định cho giá trị thật sự của vai diễn, đó là: sự bi hùng. Trưng Trắc – Thanh Nga tế sống chồng trước ba quân nên không thể “bi lụy” được, còn Thi Sách – Thanh Sang lên tiếng khuyên vợ trước ba quân cũng phải dằn niềm riêng mà quyết chí vì nghĩa lớn của dân tộc.
            Như đã nói, thế mạnh của Thanh Sang là có một giọng ca biểu lộ nội tâm rất tốt, bởi vậy Thanh Sang đã vận dụng thế mạnh này một cách tuyệt vời cho vai Thi Sách và đặc biệt là cho đoạn trên giàn hỏa.
            Trong đoạn ca kêu gọi Trưng Trắc – Thanh Nga tiến quân, Thi Sách – Thanh Sang ca như vầy: “Ta cám ơn tất cả đã tạm đình binh để kéo dài mạng sống cho ta dù trong phút giây ngắn ngủi. Nhưng nàng hãy ra lệnh cho nghĩa binh anh dũng hãy nổi trống đồng lên. Hãy nổi trống tấn công đi…” Sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” của Thi Sách – Thanh Sang âm vang, uy vũ, nhưng lại rất chan chứa tâm tình. Uy vũ vì là lời ra lệnh với tư cách chủ tướng dành cho thuộc cấp, chan chứa thâm tình vì thuộc cấp chẳng ai khác là người vợ tào khang, bảo vợ tấn binh tức đồng nghĩa với việc âm dương hai ngã, nhưng biết làm sao hơn khi mà “Sống thác là chuyện đi về, hợp tan là trò dâu bể. Tất cả đều không có đáng kể. Mà điều đáng lo là sự trường tồn của dòng dõi Hùng Vương”.
            Nội tâm bi hùng đó đã được thể hiện một cách trên cả tuyệt vời qua giọng ca đầy nội tâm của Thanh Sang. Và sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” thật đơn giản, dễ ca, nhưng mỗi khi nghe Thanh Sang ca sáu chữ này, người nghe ắt hẳn không khỏi giật mình về “độ bi hùng” trong giọng ca Thanh Sang. Để đạt được trình độ bi hùng thượng thừa như Thanh Sang trong vai Thi Sách thì đến hiện tại chưa thấy có ai.


Giai phẩm Giải Thanh Tâm 1964

Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
            Thanh Sang có giọng trầm, đầy nội lực, man mác u buồn nhưng không bi lụy. Như đã nói, đây là một giọng ca rất thích hợp cho các vai có nội tâm cao. Nói về ca vọng cổ, thì giọng ca này cũng đúng cái bản chất của bài ca vọng cổ: “Chân phương hoa lá”. Tức ca vọng cổ là phải ca chân phương, không điệu đà thái quá, không làm dáng dư thừa, mà phải có sao ca vậy, giống như câu hò lời ru Nam Bộ, mộc mạc mà ngọt ngào, ru hồn người nghe một cách dịu êm. Thế nhưng, chân phương không có nghĩa chết cứng, mà phải biết dùng giọng ca trời cho và sự điêu luyện trong nhịp nhàng, cùng với cách sắp chữ, nhấn nhá để tạo hoa lá cho bài hát, qua đó tạo dấu ấn riêng cho mình.
            Đâu phải ngẫu nhiên mà giọng ca Út Trà Ôn đi vào huyền thoại. Nghe Út Trà Ôn ca, ta thấy ngay đó là một giọng ca chân phương, nhưng những cung bậc tình cảm đa dạng của cuộc đời đã được nghệ sĩ bậc thầy này đưa vào bài ca trọn vẹn. Bởi thế mà, đến hiện tại, cái mỹ danh Vua ca vọng cổ vẫn thuộc về Út Trà Ôn.
            Lúc thiếu thời, Thanh Sang mê giọng ca Út Trà Ôn và thường bắt chước ca theo. Khi theo nghề, lối ca Thanh Sang bị ảnh hưởng nhiều bởi Út Trà Ôn, từ cách sắp chữ, đưa hơi, nói chung là rất chân phương và hoa lá. Thế nhưng, Thanh Sang được trời phú cho một giọng ca rất riêng, cùng với sự phấn đấu không ngừng, Thanh Sang đã tạo được nét riêng cho mình. Cũng như các nghệ sĩ thành danh thế hệ vàng của sân khấu cải lương, giọng ca của Thanh Sang không nhầm lẫn với ai được, không cần nhìn, chỉ cần nghe cất hơi là người mộ điệu biết ngay đó là Thanh Sang.
            Giọng Thanh Sang trầm, buồn man mác, một cái buồn mà người nghe không cảm thấy bị ngột mà là bị lây từ từ, để rồi càng nghe càng thấy thấm, mà thấm từ từ, nói chung là buồn, buồn lắm. Đây là một điểm đáng chú ý nhất trong giọng ca Thanh Sang, mà thiết nghĩ trong giới nam nghệ sĩ, chỉ có Thanh Sang mới được trời phú cho một giọng ca đạt đến “độ sầu” như vậy. Nghe Thanh Sang ca vọng cổ ta dần cảm được cái gọi là “trời sầu đất thảm”.
            Nếu nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan được mệnh danh là”Sầu Nữ”, thì xin tặng cho Thanh Sang hai chữ: “Sầu nam”. Sầu nam ở đây không có nghĩa là Thanh Sang chuyên đóng vai bi, vai sầu, mà là giọng ca của Thanh Sang cũng giống như giọng ca Út Bạch Lan, dù rằng một nam một nữ, nhưng cả hai giọng ca đều có một “ma lực” gieo rắc u sầu để người nghe không sầu theo cũng không được.
            Thanh Sang không ca lẻ vọng cổ nhiều, nhưng đã ca thì ca lấy chắc. Chúng ta chỉ cần nghe lại một số bài cũng đủ thấy được độ sầu của giọng ca Thanh Sang: Mồ em Phượng (Viễn Châu), Nhớ mẹ hiền (Viễn Châu), Người đánh đàn trên bắc Mỹ Thuận (Viễn Châu).
            Năm 2001, Thanh Sang bị bệnh nặng tưởng không qua khỏi, sau đó phải vắng bóng trên sân khấu sáu bảy năm trời. Đến năm 2007, được bạn bè và đồng nghiệp cổ vũ, giúp đỡ, Thanh Sang đã tổ chức live show mang tên: “Năm mươi năm một tình yêu nghệ thuật” tại Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, do Cải lương chi bảo Bạch Tuyết làm đạo diễn. Lần “tái xuất giang hồ này” của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn càng khẳng định tính nghiêm túc trong nghề nghiệp của Thanh Sang. Được biết, khi ấy dù mọi người lo lắng sức khỏe không cho phép ông hát được trọn vẹn trên sân khấu, nhưng ông kiên quyết không hát nhép, và tuyên bố ca trực tiếp thì dù có chết trên sân khấu cũng được.
            Ôi đáng kính thay một tấm lòng vì nghệ thuật! Nếu tất cả nghệ sĩ đều có một tấm lòng như thế thì cải lương chắc hẳn sẽ không bị cho là khủng hoảng như bây giờ, bởi như không ít người thường nói, không phải khán giả bỏ cải lương, mà có nhiều nghệ sĩ đang bỏ và đang giết lần mòn cải lương vậy.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120929-thanh-sang-mot-giong-ca-%E2%80%9Ctroi-sau-dat-tham%E2%80%9D

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #21 vào: 28/04/2017, 10:18:15 »
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và Giải Thanh Tâm 1961

Vào thời kỳ hoàng kim của cải lương, nhiều gánh hát lớn ra đời phục vụ khán giả sân khấu, nên khi nghe nói có phát giải thì rất dễ gây sự chú ý theo dõi của nhiều người, nhưng giải Thanh Tâm 1961 đã gây bất ngờ cho giới hâm mộ cải lương, với khán giả và đặc biệt là những người theo dõi hoạt động của giải Thanh Tâm của thời bấy giờ. Do bởi giải chỉ phát cho mỗi mình nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa, đào chánh của đoàn Thủ Đô, thay vì một nam một nữ như trong điều lệ.

Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa, huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1961

CŨNG NHƯ năm trước đó giải đã phát Ngọc Giàu và Bích Sơn, tức hai nữ chứ không có nam. Như vậy cũng sai điều lệ, do đó gây thắc mắc, xôn xao một dạo cho những người đoán mò. Chỉ có giải Thanh Tâm 1959 là đi đúng, vì năm đó phát cho nữ nghệ sĩ Lan Chi và nam nghệ sĩ Hùng Minh. Và giải Thanh Tâm 1961 này ban tuyển chọn một lần nữa đã không đi đúng điều lệ. Những riêng nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa thì cô rất vinh dự vậy.

Đi hát từ năm 14 tuổi
            Thanh Thanh Hoa sinh năm 1943, gốc ở Cai Lậy, Mỹ Tho, bắt đầu đi hát năm 14 tuổi, nhờ người cô gởi cho bà Bầu Thơ vào làm đào con ở gánh Thanh Minh, và được đặt nghệ danh là Thanh Hoa để học nghề chứ chưa có lương. Được khoảng hơn một năm thì có sự thương lượng ngầm giữa Bầu Cang (bầu gánh Tiếng Chuông) và thân phụ cô, nên sau đó cô về đoàn này với giao kèo đàng hoàng: Lương suất hát 50 đồng, cộng với 5 ngàn đồng tiền giao kèo.
            Gặp lúc đào chánh Kim Nương đấu kiếm bị tai nạn nghề nghiệp nghỉ hát nên Thanh Hoa được đóng thế vai chánh, coi như nghiệp cầm ca bắt đầu đi lên. Đến năm 1959 Thanh Hoa về đoàn Hương Hoa của Bầu Sinh (chung đoàn với nghệ sĩ Nam Hùng chồng của cô sau này). Ở đoàn Hương Hoa được một năm, cô lại đi gánh Kim Hoàng – Như Mai trước khi về đoàn Thủ Đô năm 1961, và sự nghiệp rạng rỡ trên sân khấu này.
            Ở sân khấu đoàn Thủ Đô cô đổi nghệ danh là Thanh Thanh Hoa. Cô về đoàn Thủ Đô lúc mới thành lập, tập dượt tuồng “Tiếng Trống Sang Canh” của Thu An để khai trương bảng hiệu. Thanh Thanh Hoa đóng vai Tuyết Vân (đào độc), trong vở tuồng nói trên cô ca hai câu vọng cổ (câu 4 và 6). Với làn hơi ca khan, không mùi, nhưng được cái là kỹ thuật ca rất điêu luyện và chắc nhịp. Riêng về bài bản Bắc thì Thanh Thanh Hoa ca rất “nghề” như Xuân Tình lớp chót hoặc Xàng Xê lớp 1 ca chung với Út Trà Ôn.

Đoạt giải Thanh Tâm năm 1961
            Gần cuối năm Thanh Thanh Hoa được giao cho vai Cát Dung Phương Tử trong vở hát “Cát Dung Phương Tử”. Với vai này Thanh Thanh Hoa đoạt giải Thanh Tâm 1961. Và việc phát giải trong điều kiện tốt đẹp nào? Tôi sẽ trình bày tiếp sau đây, mời quí vị theo dõi…
            Do Thanh Thanh Hoa đang cộng tác cho đoàn Thủ Đô, nên việc tổ chức phát giải Thanh Tâm 1961, ông Trần Tấn Quốc đã đỡ lo nhiều bởi chủ nhân đoàn Thủ Đô là ông Ba Bản, một nhà tư bản ở Sài Gòn thời bấy giờ, ông làm bầu gánh hát là do tiền dư bạc để, thích mà làm chớ phải là nghề nghiệp chi đâu.


Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa

            Ông Ba Bản đã bỏ tiền ra cho nghệ thuật cải lương phát triển, thuê rạp chiếu bóng Thanh Bình suốt hai năm liền cho cải lương hoạt động. Do vậy mà khi đào chánh đoàn hát của mình được giải Thanh Tâm, thì ông chấp thuận ngay sự yêu cầu của ông Trần Tấn Quốc là cho mượn rạp Thanh Bình để làm lễ phát giải mà không phải trả tiền rạp như năm vừa qua ở rạp Hưng Đạo.
            Nhờ không phải trả tiền rạp lại còn có thêm nghệ sĩ tên tuổi ủng hộ, những cô đào trúng giải các năm vừa qua trong đó có Thanh Nga góp mặt trong buổi lễ, nên buổi hát phát giải vé bán không còn chỗ trống, khiến cho ông Quốc mừng vui ra mặt, như trúng số nho nhỏ vậy. Dĩ nhiên năm đó ban tuyển chọn được ông Quốc mời đi đãi đằng, ăn cơm Tàu ở tửu lầu trong Chợ Lớn, và nghe nói mỗi vị đều có bao thơ lì xì tiền cà phê gọi là “thông cảm” nên ai nấy đều vui.
            Con số ban tuyển chọn Giải Thanh Tâm 1961 lên đến 18 thành viên: Bà Phùng Há (1 nghệ sĩ kỳ cựu); Các soạn giả Điêu Huyền, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu, Bạch Diệp, Tứ Lang (6 soạn giả); Và 11 ký giả kịch trường: Ngọc Linh, Thiên Hương, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Hoài Ngọc, Việt Định Phương, Sĩ Trung, Bạch Tùng Hương, Ngọc Đỉnh và ông Trần Tấn Quốc. Năm này cạnh ban tuyển chọn còn có thêm ban cố vấn, và các vị sau đây được đề cử: Nghệ sĩ Bảy Nhiêu, Năm Châu, Duy Lân.
            Sau ngày lãnh giải Thanh Tâm 1961 Thanh Thanh Hoa như một ngôi sao sáng rực và vẫn hát cho đoàn Thủ Đô, bởi ở đoàn này thì tên tuổi ngày một sáng chói thêm, mà tiền lương thì cũng không có đoàn nào cao như đoàn Thủ Đô lúc ấy. Thời gian sau thì Thanh Thanh Hoa kết hôn với nghệ sĩ Nam Hùng một kép độc khá nổi tiếng ở đoàn Thanh Minh. Năm 1969 Nam Hùng từng theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp.
            Con người ta bôn ba gì cũng không qua thời vận, Thanh Thanh Hoa đã có bao nhiêu nơi dạm hỏi nhưng nàng đều từ khước, để rốt cuộc gặp Nam Hùng, và từ ấy cho đến nhiều năm sau họ như chim liền cánh, cây liền cành. Có ai bàn đến cái duyên kỳ ngộ của Nam Hùng – Thanh Thanh Hoa thì Nam Hùng cười bảo: “Tụi này thề sống với nhau cho tới ngày răng long đầu bạc mà, và nhờ lời thề đó mà Thanh Thanh Hoa mới ưng tôi đó chớ”.
            Đôi vợ chồng nghệ thuật và ngoài đời này sống hạnh phúc trong nhiều năm. Nhưng rồi sau 1975 trong lúc không còn hát xướng bao nhiêu thì họ chia tay nhau. Không nghe thấy Thanh Thanh Hoa có chấp nối với ai, cũng không thấy hát ở đâu hết, có lẽ đã chuyển nghề. Riêng kép Nam Hùng thì về với đào trẻ Tô Kim Hồng, cả hai cũng không còn hát xướng gì nữa, mà chuyển nghề mở tiệm “Phở Nam Hùng” ở đường Nguyễn Duy Dương gần Ngã Bảy Sài Gòn.
            Cách đây hai năm Má Bảy Phùng Há về với Tổ nghiệp cải lương, thì vài tuần sau nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa cũng vĩnh viễn ra đi ở tuổi 66.
            Giới cải lương nói rằng Thanh Thanh Hoa được Má Bảy rủ đi theo bà, thầy trò cùng về bên kia thế giới hát tuồng cổ cho Tổ nghiệp coi.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/thanh-thanh-hoa-nmai-12112011075254.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #22 vào: 01/05/2017, 09:40:23 »
“Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương

Thập niên 1960 lúc thịnh thời của cải lương, đào kép nghệ sĩ đêm nào cũng lên sân khấu, và ngày Chủ Nhựt lại có thêm xuất hát ban ngày lúc 3 giờ chiều, nên đời sống giới cải lương thời này rất thoải mái. Trong khi đó bên tân nhạc thì lại khó sống.

Danh ca Phương Dung và Tâm Đan

PHÍA BÊN tân nhạc phải một, hai tuần, có khi cả tháng mới tổ chức đại nhạc hội một lần thì người ca sĩ sống thế nào được chớ! Do đó mà có thời kỳ những ca sĩ tân nhạc đã âm thầm gia nhập làng cải lương, và trong số ấy có cả nhạn trắng Gò Công Phương Dung.
            Có lẽ thấy Hùng Cường bước sang cải lương đã thành công mỹ mãn, nên rất nhiều ca sĩ tân nhạc đã tìm đến các lò cổ nhạc để học ca, học nhịp với hy vọng sẽ được trở thành nghệ sĩ đi xe hơi như Hùng Cường. Do đó mà vào thời ấy những lò đào tạo cổ nhạc đã tiếp nhận khá nhiều học trò vốn là ca sĩ tân nhạc đến thọ giáo (Trong dân gian người ta gọi các lớp dạy cổ nhạc là “lò”).
            Lúc bấy giờ chỉ nội ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 20 lò cổ nhạc, đó là chưa kể ở các tỉnh có rất nhiều nơi dạy và tỉnh nào cũng có. Một trong những lò cổ nhạc ở Sài Gòn được nhiều ca sĩ tân nhạc đến thọ giáo, người ta phải kể là lò Út Trong.
            Do bởi nhiều năm trước đó nhạc sĩ Út Trong từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu cho đến khi trở thành ngôi sao sân khấu. Nữ ca sĩ tân nhạc Thanh Tuyền cũng từng có thời gian đến với lò Út Trong để học ca vọng cổ.
            Ngoài ra còn có những lò của các nhạc sĩ: Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v… cũng đều có ca sĩ tân nhạc đến học thời gian dài hoặc ngắn. Thế nhưng, đa số học viên có gốc từ tân nhạc đã thất vọng bởi nhiều lý do, mà trong đó lý do chính là họ không có giọng ca vọng cổ trời cho, nói rõ hơn là làn hơi ca không mùi, không thu hút được người nghe, thành thử ra đa số đã bỏ cuộc.
            Theo một số người từng tham gia đờn ca tài tử lúc còn nhỏ, thì họ có thêm một nhận xét rằng, ngoài làn hơi ca vọng cổ hay, mùi, còn phải có tinh thần đam mê cổ nhạc thì mới được, tức là cổ nhạc đã thâm nhập vào trong máu trong tim từ thuở bé thì mới đủ yếu tố để thành công ở địa hạt cải lương.
            Nói theo vô vi thì phải có căn nghiệp với cổ nhạc, với cải lương thì mới được gia nhập, chớ còn từ nhỏ đã không thích âm điệu của cây đờn kìm, đờn cò, hay cây lục huyền cầm, mà lại đi chơi cây đàn mandoline, dương cầm, cùng những nhạc cụ của tân nhạc đến rành rẽ trở thành ca sĩ tân nhạc. Rồi giờ đây vì cuộc sống bấp bênh mới ngả sang cổ nhạc hát cải lương thì rất khó mà thành công, như trường hợp ca sĩ Phương Dung.
            Có điều là trong giới tân nhạc cũng như khán giả của cả hai môn tân cổ hầu như phần lớn người ta đều tưởng rằng cô ca sĩ gốc ở biển Tân Thành, Gò Công chỉ biết ca tân nhạc mà thôi, họ đâu có ngờ rằng Phương Dung đã biết ca vọng cổ trước khi nổi danh bên tân nhạc, và từng hát cải lương đảm trách vai trò đào thương của một đoàn hát lớn.
            Vậy chớ Phương Dung học cổ nhạc bao giờ, hát cải lương trên sân khấu nào, vai trò và tuồng gì? Tôi xin trình bày tiếp sau đây. Mời quí vị theo dõi…

Phương Dung, thập niên 1960

            Người ta nói nếu như một Hùng Cường từ tân nhạc bước qua cải lương thành công, đã là động lực cho nhiều ca sĩ tân nhạc nhảy vào địa hạt cổ nhạc. Và cũng một Phương Dung thất bại ở lãnh vực cải lương đã làm chồn chơn bao nhiêu người khác, khiến họ e ngại đã không dám nhảy vào cải lương.
            Nói về ca sĩ Phương Dung thì khoảng năm 1962 người ta chưa biết cô nàng là ai. Cô đến tòa soạn của một tờ nhựt báo đề nghị ca tân nhạc cho các “chú” nghe… chơi. Và lúc ấy anh chàng thi sĩ Kiên Giang nhiều mơ mộng, tức ký giả Hà Huy Hà đã gọi Phương Dung là “con nhạn trắng Gò Công” trên mặt báo từ đó, và đã trở thành biệt danh cho sau này.
            Rồi Phương Dung đi vào làng tân nhạc ca hát ở các vũ trường, các phòng trà, lần lần nổi danh được mời ca hát ở nhiều đại nhạc hội, ở đài phát thanh. Tuy ca hát ở nhiều nơi, nhưng hằng đêm Phương Dung vẫn ca hát ở vũ trường và phòng trà, vì những nơi này là miếng đất mầu mỡ và thường trực của các ca sĩ tài danh ở Sài Gòn.
            Nhưng rồi, thời gian sau có lẽ các phòng trà chuyển hướng làm ăn, đưa loại nhạc kích động vào chương trình hằng đêm có vẻ hợp thời hơn. Vả lại lúc ấy nhiều ca sĩ trẻ tấn lên sẵn sàng đi hát cho các phòng trà, vũ trường với tiền thù lao tượng trưng, hoặc là hát mà không nhận tiền, có nghĩa là phòng trà khỏi phải trả đồng nào hết. Hơn nữa thành phần hát “chùa” này lại dẫn theo bạn bè khá đông ngồi chật bàn.
            Đã không phải trả tiền cho ca sĩ mà lại thêm nhiều khách thì phòng trà nào lại không chọn làm ăn kiểu này, do đó mà Phương Dung và những ca sĩ khác bị mất việc làm, giảm bớt sô. Thật ra thì dù bị bớt sô hát cũng có thể kiếm sống được, nhưng không thể khá bằng nghệ sĩ cải lương, chỉ thời gian ngắn là ký giao kèo, đi xe hơi. Do đó mà con nhạn trắng Gò Công Phương Dung dù đã nổi danh bên tân nhạc, đã có lúc bay sang đậu cành cây cải lương.
            Chuyện nhạn trắng Gò Công đi hát cải lương rất hiếm người biết, nói ra có thể nhiều người sẽ không tin. Nhưng đó lại là sự thật, mà nếu như không phải là người theo dõi hoạt động cổ nhạc cải lương từ lâu năm thì không thể nắm vững vấn đề.
            Có lẽ Phương Dung cũng không muốn thiên hạ biết mình từng là đào cải lương chăng? Hầu như cô ca sĩ chẳng tiết lộ vấn đề ấy với ai từ lúc nổi tiếng cho đến mấy lúc sau này.


Phương Dung, thập niên 1960

            Số là Phương Dung bước vào làng cải lương, mà cô không phải tìm đến lò cổ nhạc nào để học ca, học nhịp, do bởi trước khi nổi tiếng ở tân nhạc, Phương Dung đã từng học ca vọng cổ từ đầu thập niên 1960, nên khi bước vào làng tân nhạc thì những bản nhạc đầu tiên người ta nghe được trên đài phát thanh Sài Gòn như: Nỗi Buồn Gác Trọ, Những Đồi Hoa Sim… thì hơi hướng tân nhạc của cô ca sĩ này vẫn còn vương quyện hơi ca vọng cổ, nó không dứt khoát, nhưng lại khiến cho người ta cảm thấy một nét ngồ ngộ lý thú vậy.
            Thật ra thì trước khi hát cải lương, Phương Dung đã có sự chuẩn bị dọn đường bằng cách tập sự đóng kịch mà trước đây cô đã thủ vai Lượm trong vở trường kịch Sông Dài của Hà Triều Hoa Phượng, đã từng diễn ở miền Tây. Và đến năm 1965 thì Phương Dung chính thức đi vào làng cải lương, gia nhập đoàn Thống Nhứt của Út Trà Ôn, nhận vai trò đào thương hát tại rạp Hưng Đạo mỗi cát xê lãnh ba ngàn đồng.
            Trong vai Sử Mộng Hoàng gái Mông Cổ, Phương Dung đóng cặp với Út Trà Ôn, người ta thấy chất nghệ thuật già trẻ phân định rõ rệt. Một Út Trà Ôn không che giấu được tuổi trời bên cạnh một Phương Dung quá trẻ và bé bỏng. Không có sự trợ hứng của bạn đồng diễn dù Phương Dung cố gắng cũng khó mà có những pha ca diễn xuất thần.
            Có điều là một ca sĩ từng hát trước hàng trăm, hàng ngàn khán giả của tân nhạc, thành phần trẻ nhiều, họ càng phá, càng làm ồn lên bao nhiêu thì càng gây phấn khích cho người hát bấy nhiêu, càng hứng thú để hát. Song lần đầu tiên đứng trước khán giả cải lương vốn trầm lặng, ca nữ tân nhạc Phương Dung có vẻ hơi ngỡ ngàng khiến cho người coi có cảm giác cô như cá nước mặn vào vùng nước ngọt vậy.
            Mang cảm giác mọi người chú ý đến mình, để ý đến mình từng cử chỉ, động tác tay chân, do đó Phương Dung dù vững vàng với tân nhạc, vẫn không khỏi ngượng ngập khi trình diễn cải lương. Đó là chuyện rất dĩ nhiên của Phương Dung hay của bất cử ca sĩ tân nhạc nào lần đầu tiên làm quen với cải lương.

Phương Dung, thập niên 2000

            Trong lúc bộ môn cải lương đang trong thời kỳ hưng thịnh, Phương Dung lên sân khấu với vai trò đào thương sao lại bỏ nghề? Có người cho rằng bởi sau khi đoàn Thống Nhứt diễn tuồng nói trên thì bị rã gánh, Phương Dung mất đất đứng, chán quá nghỉ chơi với cải lương luôn! Cũng có người nói có lẽ do thấy được địa hạt này rất “khó ăn” nếu như giọng ca vọng cổ không được “mùi”, mà Phương Dung thì ngay cả hát tân nhạc có hay thật, nhưng không truyền cảm. Vì yếu tố để trở thành cô đào chánh, được ký giao kèo với món tiền lớn thì làn hơi ca vọng cổ phải ru hồn người ta, phải thu hút khán giả thì mới được.
            Thật ra Phương Dung gia nhập đoàn Thống Nhứt trong tình trạng đoàn này kiệt sức, sắp rã gánh, sống ngày nào hay ngày nấy. Lúc ấy thiên hạ nói phải chi Phương Dung chọn một sân khấu khác thì chắc không đến đỗi bỏ nghề cải lương sớm như vậy. Bởi người ta ví đoàn Thống Nhứt của Út Trà Ôn lúc đó như ông Phán già mà nghệ thuật không có chiều hướng đi lên.
            Cậu Mười cố cầm cự và có sáng kiến mời những người ca sĩ tên tuổi bên phía tân nhạc để cứu vãn tình hình, và đã mời Phương Dung, Tùng Lâm, Việt Ấn vào nhận vai trò trong tuồng, có nghĩa là gia nhập làng cải lương chớ không phải phụ diễn tân nhạc. Những rồi cũng không làm gì hơn được, ba ca sĩ tân nhạc chỉ tham gia hát cải lương được khoảng một tuần thì Út Trà Ôn tuyên bố rã gánh.
            Rõ ràng Phương Dung, Tùng Lâm, Việt Ấn không có số với cải lương vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 2/2012

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html

 

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #23 vào: 01/05/2017, 10:54:27 »
Trích dẫn
...
Có điều là một ca sĩ từng hát trước hàng trăm, hàng ngàn khán giả của tân nhạc, thành phần trẻ nhiều, họ càng phá, càng làm ồn lên bao nhiêu thì càng gây phấn khích cho người hát bấy nhiêu, càng hứng thú để hát.
Song lần đầu tiên đứng trước khán giả cải lương vốn trầm lặng, ca nữ tân nhạc Phương Dung có vẻ hơi ngỡ ngàng khiến cho người coi có cảm giác cô như cá nước mặn vào vùng nước ngọt vậy.

 Tác giả dùng tỷ dụ: " Ca sĩ như cá nước mặn" để so sánh với " nghệ sĩ cải lương như cá nước ngọt " thì thật là mới lạ, nhưng lại thú vị và chính xác.
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #24 vào: 03/05/2017, 08:36:08 »
Hát bội miền Nam và hát bội miền Trung

Hát bội có trước cải lương hằng trăm năm nhưng đâu ai biết rõ từ lúc nào. Đó là lời của nhiều khán giả cao tuổi từng theo dõi và biết qua về hoạt động của hai bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này.

Một màn hát bội trên sân khấu trong nỗ lực bảo tồn nghệ thuật cổ

Vân Hạc, ban hát bội tiên phong
            Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những xuất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn”, đó là những xuất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách.
            Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc vui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Mãi đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi, và Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng hát thường trực ở Đình Cầu Quan, gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.
            Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chính đến phụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trực của Ban Vân Hạc.
            Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của ban suốt thời gian dài, đó là các nam như nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, yêu nghề nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.
            Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn… tức là ngồi một chỗ chứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không có áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe Radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phục và đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.


Hát bội Bình Định

            Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quí chinh Đông, Tiết Đinh San chinh Tây, Phản Dường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm… người ta vẫn mở Radio nghe tuồng nối tiếp từ hồi nọ đến hồi kia, có nghĩa là một buổi hát chỉ vài đoạn nào đó trong bộ truyện mà thôi.
            Từ đầu thập niên 1960 trở về sau, diễn viên Ban Vân Hạc nhiều người già không còn hát nổi nữa, cũng như đã có những người qua đời.
            Ở trong Nam với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Đinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc.

Hát bội miền Trung
            Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Định”, cả hai môn nghệ thuật đặc thù trên đã một thời được khán giả mến chuộng.
            Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Đồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Định cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng… Thế nhưng, trong thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Định cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.
            Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một. Cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972, phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa đã tổ chức 3 đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và Trung”.
            Đêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Định, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Đêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ miền Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn. Và đêm sau cùng thì nghệ sĩ Bình Định trở lại trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần”. Khán giả trong lúc xem một số người nói rằng hát bội Bình Định thì rất nghề, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội trong Nam.
            Thời điểm 1972 ấy hát bội miền Nam sống không ra sống, chết không ra chết. Vậy hát bội miền Trung – hát bội Bình Định thế nào?
            Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam-Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Định là Long Trọng-Thu An. Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban”, tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì nghệ sĩ Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi”.
            Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng-Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. (Thu An ở đây là đào hát bội Bình Định, chớ không phải soạn giả Thu An).


Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi

Gánh “Tấn Thành Ban”
            Nếu như người ta ngược thời gian trở về thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh.
            Hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ tháng Hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An.
            Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.
            Thời điểm này khán giả đi coi hát bội còn nhiều, đào kép có thể sống với nghề được. Thế nhưng, đến gần cuối thập niên 1950 thì số người coi hát bội ngày một giảm sút. Và theo như nhận định của những người am tường vấn đề thì số khán giả lớn tuổi lần lượt trước sau qua đời, hoặc già yếu không đến rạp được. Còn khán giả trẻ thì phần lớn đã chuyển sang đi coi cải lương, để thưởng thức tuồng tích mới lạ, thay vì coi hát bội chỉ hát đi hát lại mãi những tuồng dựa theo truyện Tàu.
            Những năm hát bội còn thịnh hành thì đào kép đêm hát ngày tập tuồng, dù rằng họ thuộc lòng từng chữ từng câu, từ điệu bộ cho đến đối thoại họ rành như ăn cơm bữa vậy. Thế mà họ lại siêng tập tuồng, họ tập những lớp diễn mà thường hay được thưởng trống chầu và cây quạt giấy kẹp tiền liệng lên sân khấu.
            Theo lời ông bầu gánh Trần Khiêm Cung thì lớp tuồng thường hay được vị cầm chầu đánh trống khen tặng, cũng như quạt giấy được quăng lên nhiều nhứt là lớp Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân trong tuồng San Hậu. Trong tuồng có lớp linh hồn Khương Linh Tá đưa Đổng Kim Lân qua núi. Kim Lân và Linh Tá phò trợ hoàng tử Tề bang đi lánh nạn. Bọn soán ngôi là anh em Tạ Ôn Đình, Lôi Nhước đuổi theo tìm bắt. Khương Linh Tá chặn đường giặc, Kim Lân ôm hoàng tử thoát thân.
            Lớp diễn mà khán giả hồi hộp, tán thưởng nhiều nhứt, cũng như trống chầu đánh liên tục, quạt giấy quăng lên sân khấu không ngớt là lúc Tạ Ôn Đình chém Khương Linh Tá rụng đầu, nhưng khi chúng nhìn thấy Linh Tá mò mẫm tìm kiếm chiếc đầu rơi chụp gắn vào cổ, chúng sợ quá lui binh không dám đuổi theo Đổng Kim Lân. Hồn nghĩa sĩ Khương Linh Tá thương bạn Kim Lân, bèn hóa thành ngọn đèn hồng, đưa đường Kim Lân và hoàng tử qua núi trước khi trời rạng sáng.
            Đây là một trong những nét đặc trưng của sân khấu hát bội, đã đem lại sức suy tưởng phong phú đầy thú vị cho khán giả.
            Hiện nay ở trong nước hát bội vẫn còn. Hằng năm nhân ngày giỗ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt là có diễn tuồng San Hậu ở Lăng Ông Bà Chiểu. Riêng ở hải ngoại thì Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) cũng có đào kép hát bội ngày xưa truyền dạy cho lớp trẻ bộ môn nghệ thuật này.
            Rõ ràng là nghệ thuật không nuôi sống nổi con người chuyên nghiệp. Ai đã làm cho sân khấu cổ truyền sụp đổ như vậy?

“Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?”
            Câu chuyện xảy ra trong làng hát bội. Khoảng đầu thập niên 1970 đoàn hát bội của ông bầu Ba Luông hát tại Lăng Ông Thủy Tướng, thuộc xã Thắng Nhì (Vũng Tàu), và do hát cúng, không bán vé, bà con đi coi đông đảo. Đêm ấy đoàn trình diễn vở tuồng “Triệu Hường Lan Đả Hổ”, có lớp bà mẹ chồng cùng nàng dâu đi xin ăn, sau đó bà mẹ chồng chết dọc đường bỏ lại nàng dâu bơ vơ.
            Trong vai mẹ chồng do đào mụ là bà Tám Ngàn thủ diễn, bà hát mấy câu Nam, bi ai thảm thiết làm khán giả xúc động, họ ném tiền lên ào ạt thưởng cho bà. Hát bội thời xưa có thông lệ khán giả thưởng tiền cho đào kép đang hát bằng cách kẹp tiền vào chiếc quạt giấy liệng lên sân khấu, và diễn viên khi hết lớp tuồng thì lượm tiền, cám ơn xong mới đi vô.


Một nghệ sĩ chăm chút những phục trang cho nền nghệ thuật e rằng đang mai một

            Thế nhưng, bà Tám Ngàn chưa kịp lấy tiền, mới vừa hát dứt câu Nam chót, thì bà trợn mắt rồi… đi luôn. Cô đào đóng vai nàng dâu kinh hoàng kêu thét lên:
            – Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?
            Khán giả đâu có biết, tưởng lớp tuồng là như vậy, hay quá, nên cứ tiếp tục quăng quạt giấy lên thưởng, cho tới khi cô đào la lên bài hãi:
            – Ông bầu ơi, bà Tám chết rồi nè!
            Mọi người giựt mình trở về thực tại, bàng hoàng trước cái chết thật của một nữ nghệ sĩ già, lẽ ra chỉ làm bộ chết mà thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 4/2012


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #25 vào: 05/05/2017, 12:19:03 »
Thầy tuồng bị xem là “tớ tuồng”

Cải lương ngày xưa, dù cho ai có tính cao ngạo đến đâu cũng phải nhìn nhận soạn giả hay người thầy tuồng là linh hồn của một đoàn hát. Thầy tuồng bỏ ra nhiều công phu đôi ba tháng, hoặc năm, sáu tháng và có khi cả năm, để chọn từng câu văn, từng chi tiết phổ biến thành một ca kịch phẩm để cho một nhóm nam nữ nghệ sĩ diễn đạt lại trong vòng ba tiếng đồng hồ, dưới sự theo sát và chỉ dẫn từng cá nhân của người cha đẻ ra soạn phẩm.

Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng,
với Tám Vân – Thanh Nga – Hữu Phước

Cha đẻ của tác phẩm
            Công trình tim óc nhọc nhằn đó không ngoài mục đích làm sống gánh hát, tức nhiên làm sống chủ nhân và tất cả nghệ sĩ trong đoàn, nên ngày xưa vai trò quan yếu của ông thầy tuồng mặc nhiên được đặt để ở hàng đầu, và được sự nể trọng của mọi người trong đoàn hát.
            Cái uy quyền của các cụ soạn giả tiền bối như: Mộc Quán, Nguyễn Công Mạnh, Mười Vảng và kế đó là quý ông Nguyễn Thành Châu, tức nghệ sĩ Năm Châu, ông Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi mà nhứt là ông Hai Trung tự Mộng Vân thì quả thật là tuyệt đối.
            Ông Mộng Vân quê quán ở Bạc Liêu, là bầu gánh hát Mộng Vân kiêm soạn giả, ông được hầu hết người trong giới nể trọng. Rất nhiều kịch bản thời xưa do ông soạn cho nhiều đoàn trình diễn, mỗi khi ông đến thăm đoàn hát nào thì bầu gánh và cả nhóm nghệ sĩ đã đón rước ông thật rình rang, long trọng không kém cuộc đón rước Thần về làng.
            Những lúc ông tập tuồng (dĩ nhiên là tuồng của ông viết) được loan báo trên tấm bảng đen khởi sự tập 9 giờ, sau ba hồi chuông báo hiệu, các nghệ sĩ có tuồng kể cả đào kép chánh đều phải lo chuẩn bị hội tụ đủ mặt trên sân khấu luôn trước giờ ấn định, dù cho là hàng gạo cội trong đoàn mà trễ một vài phút thôi cũng bị cúp lương rồi.
            Còn mấy lúc sau này, tức thập niên 1960 trở về sau, trừ một số rất ít soạn giả tên tuổi, chớ phần nhiều thì vai trò của soạn giả không còn được coi như gọi là thầy tuồng nữa, mặc nhiên đã bị xuống cấp, bị một số đào kép chánh đè xuống hàng thứ yếu. Vai tuồng nào họ không thích, họ ngang nhiên quăng trả lại cho thầy tuồng ngay bữa ráp đầu tiên, không thì họ làm áp lực với bầu gánh, rồi bầu gánh áp lực lại thầy tuồng phải sửa vai tuồng lại theo ý muốn của họ. Như vậy thầy tuồng đã trở thành “tôi tớ” của đào kép chánh rồi!
            Còn nói đến chuyện tập tuồng mỗi buổi sáng thì thầy tuồng phải đến sân khấu trước hơn ai hết, và đào kép chánh phần đông đến trễ hơn ai hết, bao nhiêu người có mặt buộc lòng phải lóng nhóng ngồi chờ họ. Chỉ trừ một số ít như trên đã nói như Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Yên Ba, Loan Thảo, Mộc Linh là còn được đào kép chánh nể nang thôi, như soạn giả Hoa Phượng thì không đào kép chánh nào dám ra mặt phản đối.

Soạn giả Hoa Phượng
            Có lần tôi thấy một buổi trao vai tuồng cho các nghệ sĩ có vài trò mà trong đó có kép chánh Hùng Cường, một nghệ sĩ gạo cội, thì Hoa Phượng tay cầm cuốn tuồng, tay kia vừa vỗ lên vừa nói: “Tuồng nầy đã kiểm duyệt rồi, các anh chị em không được sửa một chữ, biết không? Nếu đồng ý thì nhận, bằng không thì trả lại ngay!” Rồi ông cầm cuốn tuồng đi đi lại lại không nói thêm lời nào nữa, cả sân khấu cũng lặng yên. Độ vài phút không thấy ai hó hé gì, ông mới vui vẻ trao vai tuồng cho từng người và gương mặt người nào cũng hân hoan.
            Soạn giả Hoa Phượng liên danh với Hà Triều (Hà Triều – Hoa Phượng) từng soạn các tuồng cải lương nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Khi Hoa Anh Đào Nở… Hoa Phượng cũng từng hợp soạn với soạn giả Ngọc Điệp cho ra đời vở tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9. Thành tích như Hoa Phượng thì nghệ sĩ nể trọng là lẽ đương nhiên, ông mới đúng là “thầy tuồng”, chớ nhiều soạn giả khác thì thuộc về “tớ tuồng” thôi!


Từ trái sang: Thanh Nga – Hữu Phước – Thành Được
trong vở Con Gái Chị Hằng

Gian nan thầy tuồng
            Thời gian cải lương còn hoạt động hầu như lúc nào cũng nghe nói thiếu tuồng mới, vậy mà có thiếu thật hay không chớ! Đây là sự thật của vấn đề mà soạn giả cải lương phải chấp nhận do bởi họ yêu nghề viết tuồng.
            Khi còn nằm trong bản thảo, kịch bản văn học sân khấu cải lương chưa đi trọn cái kiếp, có nghĩa chưa thể được gọi là tuồng, mà phải được dàn dựng, phải được diễn trên sân khấu thì mới gọi là tuồng. Nói một cách khác là nhân vật do soạn giả tạo thành, được đặt tên phải thoát ra khỏi những dòng chữ trên giấy, nói năng ca hát… chừng ấy mới gọi là tuồng. Do đó không thể biết được tuồng hay, dở khi nó còn trong giấy.
            Đã không ít những tuồng khi viết xong, đã chịu nằm chết trong học tủ, trong ngăn kéo của soạn giả cả chục năm, có khi suốt cả đời chẳng ai ngó tới. Những nhân vật mà soạn giả đã lao tâm, khổ trí tạo ra đã không có cơ hội chào đời, không có dịp xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu. Tại sao vậy? Tại sao các đoàn hát than thiếu tuồng, mà tuồng soạn giả viết xong phải nằm một chỗ chờ chết?
            Sau đây là tâm sự của một soạn giả mà người ta nêu lên, coi như một câu trả lời: “Mình đã chán cái cảnh mang kịch bản đi chào hàng lắm rồi! Đến các đoàn hát lớn thì đã có soạn giả thường trực đầy uy thế trong đoàn “trấn ải”. Len lỏi đến các đoàn hát nhỏ thì đa số chỉ thu băng thu đài, chép lại rồi phân role đem ra diễn, chả tốn hao gì. Đến phòng văn nghệ các đài thì càng lắm gian nan. Muốn các anh các chị chiếu cố đến mình cũng cực lắm!”
            Trên thực tế cho thấy nhiều đoàn cứ lôi tuồng cũ, mấy mươi năm về trước, đem sửa chữa, đánh bóng lại, rồi trình diễn với một tựa tuồng mới. Trong khi đó biết bao nhiêu vở hát viết xong phải nằm chờ.
            Từ nhiều năm nay cải lương xuống dốc thê thảm, gần như tê liệt hoàn toàn, và điều đó ai cũng biết. Nhưng tìm cách nào để sống trở lại thì vẫn chưa có giải pháp. Nhưng hễ có ai chê bai sân khấu thì y như rằng, người ta sẽ đổ lỗi cho soạn giả.
            Thời kỳ cải lương thịnh hành, người làm nghệ thuật sân khấu kiếm ăn được, vậy mà các soạn giả phải trải qua 6 cái “sợ”. Do đó mà khi cải lương ngất ngư, nói theo soạn giả Yên Lang là như cái “thi hài biết thở”, thì thử hỏi có thầy tuồng nào hăng hái viết kịch bản. Vậy 6 cái sợ ấy là gì?
            Đầu tiên kịch bản đưa vào đoàn hát, soạn giả phải sợ bầu gánh trước nhất, kịch bản dù hay dù dở mà ông hoặc bà bầu nhà ta lắc đầu hay ngâm tôm ở đó nghiên cứu thì kể như dẹp. Kế đến là sợ các diễn viên chánh có vai không vừa ý là bắt đầu chê kịch bản này nọ, kế tiếp đó là sợ đạo diễn chưa bằng lòng kịch bản, rồi đề nghị sửa tới sửa lui mãi, tinh thần soạn giả cũng đủ bèo nhèo như cái mền rách rồi. Muốn vượt khỏi ba điều sợ này thì phải chịu mẻ tiền bản quyền.
            Sau khi kịch bản được thông qua cho đào kép tập dượt, soạn giả lại còn phải trải qua ba điều sợ nữa. Thứ nhất là sợ khán giả xem không đông thì mọi việc đều đổ trút vào soạn giả, cho rằng tuồng không hay, tuồng không ăn khách. Thứ nhì là sợ các đồng nghiệp trong cái thế chen lấn mần ăn khó khăn sẽ có đủ trò làm người viết tuồng không yên tâm được. Thứ ba là sợ những kẻ tự cho mình cái quyền phê phán rồi nhận xét, tạo dư luận theo cảm tính cá nhân, khoác lên bằng thứ lập luận chê khen cũng bằng tình cảm riêng tư.
            Chỉ mới có 6 cái sợ đó cũng đã làm giảm sút lòng tự tin tự hào của soạn giả rồi, còn nói chi đến trọng trách cao cả nữa chứ!


NGÀNH MAI
Tháng 1/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-folk-art-87-nm-01042013124340.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #26 vào: 08/05/2017, 14:59:12 »
Ông Bầu Xuân và đoàn Dạ Lý Hương

Có những người mà trong cuộc đời họ không hề nghĩ đến nghề ca hát, cũng không hề đi coi cải lương, vậy mà về sau họ lại là những người có công lớn đối với cải lương, đóng góp một cách thiết thực cho bộ môn nghệ thuật sân khấu. Do tình thế đưa đẩy họ đứng ra làm bầu gánh cải lương, mà lại là đoàn hát lớn, danh tiếng lẫy lừng, và ông Bầu Xuân là một trong những nhân vật ấy.

Bìa đĩa cải lương Yêu Người Điên, soạn giả Thiếu Lĩnh, đoàn cải lương Dạ Lý Hương

Vượt qua khó khăn
            Về tiểu sử của Bầu Xuân thì người ta được biết ông là người sinh trưởng ở Bình Trị Đông gần Chợ Lớn, thuở nhỏ học ở trường Phú Lâm, nhà nghèo vừa đi học vừa đội bánh bò đi bán. Rồi thì thời gian sau thân phụ ông kinh doanh dầu ở Chợ Lớn trở nên phát đạt nên đã gởi Bầu Xuân sang Hồng Kông học chữ Anh và chữ Trung Hoa đến hết trình độ trung học. Năm 24 tuổi (1958) Bầu Xuân trở về nước được cha cho theo tàu chở hàng buôn đường Sài Gòn, Nam Vang. Hai năm sau ông trở về Sài Gòn thành lập công ty xuất nhập cảng Nam Hiệp Công Thương ở đường Thái Lập Thành, sau dời về đường Nguyễn Công Trứ. Đồng thời ông cũng là nhà thầu xây dựng và chủ nhân hãng giấy Kiss Me.
            Hãng thầu của Bầu Xuân có một nhà kho trên mảnh đất một mẫu ở Tham Lương, ngang hãng dệt Vinatexco. Lúc bấy giờ Bầu Hiếu của đoàn Hoa Thủy Tiên (gia đình vốn quen biết với Bầu Xuân) gặp nguy nan vì đoàn Hoa Thủy Tiên rã gánh tại Bà Quẹo. Bầu Hiếu năn nỉ Bầu Xuân cho anh chị em đoàn hát dọn vào nhà kho ở tạm. Bầu Xuân bằng lòng và còn cung cấp gạo, tiền để nghệ sĩ sống tạm qua ngày.
            Mấy tháng sau, soạn giả Bạch Diệp, Minh Nguyên của đoàn gặp Bầu Xuân đề nghị ông bỏ ra số tiền lập lại đoàn hát, để anh chị em nghệ sĩ có dịp hành nghề sinh sống, tốt hơn là cứ nuôi mãi thì biết bao nhiêu tiền cho đủ. Bầu Xuân bằng lòng và bắt đầu làm bầu cải lương từ tháng 6 năm 1962. Trước tiên ông bỏ ra 300 ngàn đồng thành lập đoàn Hoa Mùa Xuân, khai trương vở “Tiếng Chuông Chùa Xá Lợi” của Bạch Diệp, Minh Nguyên tại rạp Thuận Hóa, Sóc Trăng. Đoàn lưu diễn lần về Sài Gòn qua Vĩnh Long, Mỹ Tho đều thất bại, hết vốn 300 ngàn đồng. Bầu Xuân làm lại đoàn Hoa Mùa Xuân đợt mới với Tấn Tài, Như Ngọc diễn vở Lòng Mẹ của Thiếu Linh và rồi cũng thất bại luôn lần thứ nhì.
            Lúc bấy giờ nơi công ty hãng thầu nhiều người phản ứng yêu cầu Bầu Xuân nghỉ không làm đoàn hát nữa, vì như thế ông mất nhiều thì giờ làm thiệt hại cho hãng thầu; hãy xem hai lần thất bại như là đánh bài thua một canh bạc thế thôi.
            Về vấn đề này Bầu Xuân cảm thấy buồn và tự ái. Buồn vì cả đoàn hát anh chị em nghệ sĩ thất nghiệp đang kỳ vọng nơi ông. Tự ái vì ông là người hoạt động thành công nổi tiếng ở thương trường mà không làm thành công được một đoàn hát hay sao? Ông tâm sự với Tư Hiếu, phó giám đốc đoàn như vậy.


Poster quảng cáo vở cải lương Nửa Đời Hương Phấn với Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan

Đổi mới
            Sau hai lần làm bầu cải lương đã có kinh nghiệm, Bầu Xuân có ý muốn đổi mới sân khấu cải lương nên đã mời nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Thiếu Linh họp bàn, đi đến quyết định thành lập đoàn Dạ Lý Hương. Bàn cách xóa bỏ lề lối phong kiến lâu đời ở đoàn hát, người nghệ sĩ được tôn trọng đúng mức và không phải khúm núm đối với bầu. Tất cả thành viên đoàn hát đều ký hợp đồng với số tiền tùy theo tên tuổi của nghệ sĩ và sự thỏa thuận của đôi bên. Khi mãn hợp đồng được tặng luôn số tiền, còn bỏ đoàn ngang thì bồi thường đúng số tiền hợp đồng đã ký; bỏ ngang đêm hát phải bồi thường cả xuất hát.
            Bệnh nghỉ phải có giấy bác sĩ chứng nhận. Tập tuồng đến trễ phải phạt một cữ nước uống cho tất cả anh em. Biểu diễn cương ngoài kịch bản, cợt đùa lố bịch bị khán giả chê nghệ thuật của đoàn thì diễn viên phải đến bồi danh dự thương mại cho bảng hiệu. Về ăn ở thì đoàn hát lo hết cho nghệ sĩ. Mỗi đêm hễ mở màn hát là phát lương đủ chớ không có vấn đề phát phân nửa hoặc một phần tư lương, v.v… Tóm lại Bầu Xuân đã làm cuộc cách mạng sân khấu, và đó cũng là yếu tố đem lại sự thành công cho đoàn Dạ Lý Hương sau này.
            Trên cơ sở đó đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân được thành lập với số vốn được bỏ ra ban đầu là 3 triệu đồng. Với một doanh nhân thành đạt như ông, số vốn lớn đó vẫn là “chuyện nhỏ”. Đoàn Dạ Lý Hương ra đời năm 1963 là một đại ban vững mạnh. Giám đốc là Bầu Xuân, phó giám đốc đoàn là ông Nguyễn Văn Hiếu, giám đốc nghệ thuật là nghệ sĩ Ba Vân, đài trưởng là đạo diễn Hoàng Việt. Soạn giả thường trực: Thiếu Linh, Hà Triều, Hoa Phượng. Coi như mãi đến lần thứ ba thành lập đoàn hát Bầu Xuân mới thành công và đoàn Dạ Lý Hương trở thành một trong năm đoàn loại A thời bấy giờ.
            Năm 1964, Dạ Lý Hương cải tiến có mời thêm những nghệ sĩ về đoàn như Út Trà Ôn, Ngọc Bích, Hoàng Giang, Văn Chung, Bạch Tuyết, Hùng Cường. Sau này còn có Viễn Châu về làm soạn giả thường trực. Đoàn cho ra đời những kịch bản xã hội ăn khách như: Tuyết Tình Ca (ông cò Quận 9), Nỗi Buồn Con Gái, Thảm Kịch Tuổi Xanh, Trường Kịch 20 Năm, Lấy Chồng Xứ Lạ…
            Đoàn Dạ Lý Hương oai trùm suốt thời gian gần 5 năm, thì bị cái Tết Mậu Thân, cải lương khủng hoảng, xuống dốc trầm trọng, nhiều đoàn hát rã gánh, đoàn nào còn sống cũng tình trạng ngất ngư, một đêm hát vài ba đêm nghỉ. Dĩ nhiên đoàn Dạ Lý Hương cũng không tránh khỏi tình trạng bấp bênh. Tuy vậy nhờ có vốn nhiều, đoàn cũng sống cầm chừng chớ không cho rã gánh.
            Đến tháng 10-1974 đoàn Dạ Lý Hương diễn vở hát cuối cùng là “Người Thua Cuộc” của soạn giả Nguyên Thảo tại rạp Quốc Thanh có mặt nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Đêm ấy đoàn có 300 khán giả đến xem, Thanh Nga từ chối không lãnh lương. Cô nói vì “khán giả chỉ có 300 người, khán giả ít lắm, nghệ sĩ lãnh lương kỳ quá”… Sau đó đoàn Dạ Lý Hương giải thể sau 12 năm hoạt động.
            Sau 30-4-1975 ông Bầu Xuân thành lập trở lại đoàn Dạ Lý Hương (Tỉnh Sông Bé). Đến năm 1978, Bầu Xuân định dàn dựng vở “Kiều” trên sân khấu của ông và hỏi ý kiến nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu. Năm Châu đã khuyên Bầu Xuân không nên dựng diễn vở “Kiều” vì sẽ gặp chuyện không may, ông nêu trường hợp đoàn Bạch Tuyết Hùng Cường diễn “Kiều” rồi liền sau đó đoàn hát này bi rã gánh. Bầu Xuân có vẻ không tin điều này. Sau này khi nghệ sĩ Năm Châu qua đời, giữa năm 1978, Bầu Xuân nhờ đạo diễn Hoàng Sa dựng vở “Kiều” diễn tại Miễu Quốc Công (Vĩnh Long) khán giả đầy rạp suốt một tuần lễ. Đến đêm chót tại đây, Bầu Xuân bị tai nạn phải đi học tập nơi xa suốt thời gian 3 năm 9 tháng.


NGÀNH MAI
Tháng 3/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/bau-xuan-and-da-ly-huong-nm-03182013095229.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #27 vào: 10/05/2017, 12:58:01 »
“Nghiệp báo” của người sáng lập giải Thanh Tâm

Người ta có thể nói rằng trong giới cải lương và những người yêu thích bộ môn nghệ thuật sân khấu thời thập niên 1950-1960 nếu không thấy mặt ông Trần Tấn Quốc thì cũng nghe danh cái bút hiệu Thanh Tâm của ông. Do bởi chữ “Thanh Tâm” được đặt tên cho một giải thưởng hằng năm của bộ môn sân khấu cải lương.

Ông Trần Tấn Quốc (phải)

NĂM 1950 khi vừa làm chủ nhiệm tờ báo Tiếng Dội thì ông Trần Tấn Quốc liền mở ngay “Trang Kịch Trường” nói về hoạt động cải lương, để rồi về sau rất nhiều tờ báo cũng theo chân mở trang kịch trường với đường lối gần giống như ông chủ trương.

Suốt cuộc đời dấn thân
            Trước khi nói về hoạt động cùng thành tích đạt được của trang kịch trường trên báo Tiếng Dội, tôi sơ lược qua về tiểu sử ông Quốc, cũng như cơ duyên nào đưa đẩy ông vào nghiệp báo chí để rồi suốt cuộc đời dấn thân vào trong cái nhục vinh của “nghiệp báo” này.
            Ông Trần Tấn Quốc sinh năm 1914 tại Cao Lãnh, học thi đậu bằng Sơ Học (Certificat d’Etudes Primaires). Theo lời ông kể thì ông yêu thích nghề làm báo từ lúc còn ngồi ghế nhà trường. Hai nhà báo mà ông ngưỡng mộ nhứt là: Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, và ông Diệp Văn Kỳ chủ bút tờ nhựt báo Thần Chung.
            Ông Diệp Văn Kỳ là người Huế, thân mẫu là một bà công chúa em gái Vua Thành Thái. Từng du học bên Pháp đậu bằng Cử Nhân Luật, ông Kỳ về nước không chen chân vào đường quan lộ mà chọn nghề làm báo. Là người miền Trung nhưng ông lại lọt vào “hũ nếp” ở đồng bằng sông Cửu Long, (vợ ông Kỳ là bà Lê Thị Hạnh, con của một đại điền chủ giàu có số một ở Cao Lãnh).
            Lúc ông Quốc đang học ở trường tiểu học Cao Lãnh thì ông Diệp Văn Kỳ nhân dịp về thăm quê vợ có đến thăm trường ông. Trước khi ra về, ông Diệp Văn Kỳ nói thẳng đám học sinh:

            “Các em ráng học, để sau này giúp ích cho nước nhà. Chắc thầy các em đã nói cho các em biết tôi là ai hỉ? Có người lại bảo, tại sao tôi không ra làm quan? Nhưng làm quan để mà chi? Khi ta chỉ sung sướng một mình còn bao nhiêu đồng bào ta cực khổ, thì làm quan có ích gì? Tuy nhiên, về sau muốn làm nghề gì, thì lúc còn nhỏ cũng phải ráng học cái đã. Vậy tôi khuyên các em ráng học…”

            Ông Quốc kể lại:

            “Lời khuyên bảo của ông Kỳ thật là ngàn vàng, nhưng thay vì đây càng ráng học để sau này giúp ích cho nước nhà như lời ông khuyên bảo, thì bắt đầu từ đó, tôi muốn… làm báo! Để làm gì? Thật ra tôi chưa biết làm báo để làm gì, điều chắc chắn làm báo để… thành ông chủ bút, như… ông chủ bút Diệp Văn Kỳ”.

            Năm 1930 ở Cao Lãnh có phong trào người dân biểu tình chống nhà cầm quyền thuộc địa Pháp. Ông Quốc mới 17 tuổi tham gia biểu tình bị bắt kêu án 5 năm đày đi Côn Đảo, vì tội “hoạt động phá hoại chống Nhà Nước”. Thọ án 4 năm thì được “phóng thích có điều kiện” về quê nhà ở Cao Lãnh, mỗi tuần phải đi trình diện chính quyền sở tại.
            Về nhà được một thời gian thì ông Trần Tấn Quốc lại bị thêm một tai nạn nữa, do bài cảm tưởng dưới đây gởi đăng báo:

            Lâu lắm rồi, từ ngày được trở về, tôi mới có dịp đi chợ quận chỉ cách nhà tôi một ngàn thước. Tôi đi xem lễ “14 Juillet” nghe nói năm nay được tổ chức lớn lắm theo lịnh của quan chủ quận:
            Trong lúc nhiều người vui vẻ nô đùa với các trò chơi của buổi lễ, riêng tôi cảm thấy buồn thấm thía. Buồn cho đồng bào mình chưa thức tỉnh và tủi cho một dân tộc bị trị đã quên mất cái quá khứ oanh liệt. Ngoài đua thuyền, chạy bộ, kéo dây là những trò biểu diễn thể thao cần ích, đến cạp chảo, đập tĩn, leo cột thoa mỡ bò… là những trò khỉ vô bổ vô duyên không thể chấp nhận.
            Người ta gắn dính một cắc bạc vào đít cái chảo đầy lọ đen rồi treo chảo lên một hàng năm cái. Ai muốn lấy cắc bạc ấy phải dùng răng mà cạp và không được làm rơi đồng tiền xuống đất. Dù lấy được hay không mặt mày người nào người nấy cũng dính đầy lọ chảo, trông không còn là mặt con người. Vậy mà cũng có nhiều người tranh nhau cạp để… giúp vui thiên hạ!
            Một hàng tĩn sáu cái (thứ tĩn đựng nước mắm hồi trước) treo lên cao ngang đầu người, cách khoảng một thước một cái. Trong mỗi tĩn có một cắc bạc. Sáu người đều bịt mắt, mỗi người cầm một khúc cây, đứng xa hàng tĩn bốn thước. Quay tròn bốn vòng thật nhanh rồi tự mình nhắm tìm hàng tĩn mà đập. Tĩn bị đập bể, cắc bạc rớt ra thì lượm lấy. Nhưng không dễ gì! Những đòn đập gió, thiên hạ cười ồ. Người nầy ra sức đập vào… đầu người nọ, đôi khi đến phun máu, thiên hạ cũng… cười…!

            Sau cuộc cách mạng 1789, mỗi năm đến 14 Juillet, nhân dân Pháp kỷ niệm ngày dân chúng nổi dậy phá ngục Bastille, đạp đổ đế quyền chuyên chế bằng tổ chức mít tinh, biểu tình nêu cao tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái: Còn ở nước ta, từ khi Pháp xâm chiếm và thống trị, đa số dân chúng không biết ý nghĩa ngày 14 Juillet ra sao? Bình dân gọi là “Lễ Chánh Chung”, người có học Pháp thì gọi “Lễ 14 Juillet”. Dịp này, mỗi địa phương đều tự động tổ chức những trò vui theo sáng kiến của nhà cầm quyền, trong đó có bày ra nhiều trò vô ý thức, hạ thấp phẩm cách con người, làm tổn thương truyền thống oai hùng của một dân tộc.
            Những đoạn trên là nội dung bài “cảm nghĩ khi xem Lễ 14 Juillet tại Cao Lãnh” ký tên CT (trong giấy tờ hộ tịch ông Quốc tên là Trần Chí Thành) đăng trên một nhật báo ở Sài Gòn. Bài báo này làm cho quan chủ quận T. nổi trận lôi đình khi điều tra biết tôi là tác giả và lúc bị quận đòi hỏi tôi cũng xác nhận như vậy, quan liền áp dụng biện pháp trừng phạt thật nghiêm khắc.
            Kể từ đây, tuyệt đối tôi không được đến chợ và cũng không được đi ra khỏi làng đang cư ngụ bất cứ vì lý do gì; ngoài ra, mỗi ngày phải đến công sở xã Hòa An ký tên vào sổ hiện diện. Cò bót và làng xã trong toàn quận đều được thông báo quyết định của quan đối với tôi để nghiêm chỉnh thi hành.


Những nữ nghệ sĩ nhận giải Thanh Tâm. Từ trái qua: Thanh Nga - Ngọc Giàu - Lan Chi - Bích Sơn

“Bỏ xứ… đi làm báo”
            Trong cái cảnh bị giam lỏng như thế với nguy biến không biết xảy ra lúc nào, nên một hôm thừa dịp con nước ròng, tối trời, mẹ và em ông Quốc âm thầm bơi xuồng xuôi dòng sông Cửu Long xuống Sa Đéc, đưa ông lên chiếc xe đò sớm nhứt đi Sài Gòn. Lần ra đi này ông Quốc gọi là “bỏ xứ… đi làm báo”.
            Những bước chân đầu tiên đặt lên vùng đất lạ Sài Gòn, thủ phủ của xứ Nam Kỳ nên ông Quốc không sao tránh khỏi những bỡ ngỡ trước cuộc đời mới. Mộng làm báo vẫn đeo đẳng bên mình. Đứng trước thực tế vô vàn khó khăn không giống như những điều mơ ước của cậu học trò năm xưa, khiến ông phải nhiều suy nghĩ để quyết tìm cho mình một chí hướng.
            Nhắc lại những ngày dấn thân ấy, ông kể tiếp:

            Lúc còn đi học, mình tha thiết nghề viết báo bao nhiêu, giờ đây đứng trước thực tế, thấy khó gia nhập làng báo bấy nhiêu. Viết báo chẳng những giỏi Việt văn mà còn phải có một số vốn liếng Pháp văn ở mức nào đó, dầu là một phóng viên đi lượm tin nơi các nhà thương và cò bót. Một anh phóng viên cầm cuốn sổ tay đến bót cảnh sát, thì từ anh Biện đến ông Cò, là những người có quyền cho tin nhà báo, đều là người Pháp; vào nhà thương thì gặp bác sĩ người Pháp, mà dầu bác sĩ người Việt, họ cũng nói tiếng Pháp. Lên Tòa án từ ông chánh án đến công tố viện và luật sư đều dùng tiếng Pháp trong việc hỏi cung, buộc tội và biện hộ.
            Vấn đề mộng và thực đã đặt ra trước mắt tôi. Lúc ở trường, mình viết bài gởi đến báo đăng chơi, hoặc tạo cho mình một cái bút hiệu để “làm tàng với chúng bạn”, bây giờ viết bài đem bán cho nhà báo để lấy tiền sống lại là việc khác.
            Lúc bơ vơ giữa chợ đời với muôn nẻo sáng, tối thì may quá, tôi gặp một giáo sư tư thục, thương tình cám cảnh dẫn về ở với ông, vừa nuôi ăn, vừa cho theo ông vào lớp để học ké với nhóm học sinh có đóng học phí hẳn hòi. Đó là giáo sư sống độc thân chuyên dạy Pháp văn mà tên Đinh Nho Hàng của ông đã khắc sâu vào tâm khảm tôi từ đó.
            Theo ăn ở và học với ông Đinh Nho Hàng hơn một năm, thầy trò rất tương đắc, một hôm có việc riêng ông đi tỉnh. Ở nhà buồn quá, tôi ra bồn binh Sài Gòn ngồi trên băng đá nghĩ chuyện đời và đếm từng chiếc xe hơi chạy qua cho đến khuya. Bỗng có hai người đàn ông tuy còn nhỏ tuổi mà nét phong trần lộ lên khuôn mặt có vẻ dạn dày, với bộ điệu nhanh nhẹn, xề xuống ngồi chung một băng đá với tôi và bắt đầu nói một “thứ tiếng” lạ tai khó hiểu.
            Một người nói:
            – Khứa tứ bị cội múm.
            Người thứ hai chắt lưỡi và mặt đượm ngay nét buồn. Đoạn người này ngó tôi nói với người nọ:
            – Coi khứa ni là khứa ăn bay hay khứa 77?
            Người nọ liếc tôi, rồi nói với người kia:
            – Hừ, khứa nhủ.
            Sáng hôm sau, tôi đem chuyện này thuật lại với một ông cảnh sát truy tầm (Agent de recherche) ở gần nhà giáo sư Đinh Nho Hàng để nhờ ông giải thích.
            Ông ta cười ha hả mà nói:
            – Chú em gặp mấy thằng “ăn hồ” rồi!
            – Nữa, “ăn hồ” là gì?
            – Là bọn móc túi.
            Những tiếng “khứa tứ”, “cội múm”, “khứa nhủ” là tiếng lóng của đám móc túi. Như “khứa” có nghĩa là thằng, hay anh, “khứa tứ” là anh tư, “khứa nhủ” là thằng nhỏ, “cội” là lính, “khứa 77” là lính kín, “múm” là bắt, “ăn bay” là ăn cắp vặt, “ăn hồ” là móc túi v.v…
            Thằng này nói với thằng kia “khứa tứ bị cội múm” có nghĩa là thằng này báo tin cho thằng kia hay “Anh Tư đã bị lính bắt”. Sau khi được ông cảnh sát truy tầm giải thích những tiếng lóng của bọn móc túi, một ý nghĩ nảy sanh trong đầu óc tôi: Viết một phóng sự về bọn móc túi ở Sài Gòn.
            Qua một cuộc vận động và năn nỉ và cũng nhờ ông cảnh sát truy tầm sẵn lòng thương. Kế đó được thầy tôi cho phép, tôi bèn theo bén chân ông cảnh sát trong công tác bài trừ bọn móc túi. Như vậy, trong gần ba tháng, tôi được biết những ổ của bọn bất lương, biết rõ từ cách tổ chức đến hoạt động, từ những tiếng lóng đến mánh lớn “làm ăn” của bọn móc túi Sài Gòn.
            Nghe tôi thuật chuyện, giáo sư Hàng bảo:
            – Anh viết phóng sự đi: Đó là cách mở ngõ cho anh vào làng báo.
            Tôi cắm đầu viết thiên phóng sự “Những hoạt động và mánh lới của bọn móc túi Sài Gòn” rồi tự mang đến bán cho ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm nhựt báo Việt Nam.
            Với tác phẩm đầu tay nầy, tôi được trả bút phí 20 đồng, nhưng nỗi vui mừng lớn nhứt của tôi là sau khi đăng dứt thiên phóng sự vừa nói trên (đăng mỗi ngày và trên một tuần) tôi liền được ông chủ nhiệm nhựt báo Việt Nam cho tôi một chân phóng viên của báo nầy với số lương tháng 30 đồng và chánh thức gia nhập đội ngũ báo chí Sài Gòn từ tháng 6 năm 1936
.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/founder-of-thanh-tam-award-nm-04012013151502.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #28 vào: 12/05/2017, 13:16:51 »
Ông Trần Tấn Quốc và trang kịch trường trên tờ báo Tiếng Dội

Khởi đầu chỉ làm anh phóng viên đi xe đạp lượm tin hàng ngày gọi là tin local (tin vặt – địa phương) mà có kẻ xấu mồm gọi là tin “xe cán chó”. Tuy vậy với số lương đầu tiên trong nghề cũng có thể sống được để theo đuổi cái “nghiệp báo” hay là “nghiệp chướng” mà khi vào nghề mới thấy.

Nhà báo Trần Tấn Quốc

LÚC ẤY mỗi tháng ông Quốc lãnh 30 đồng tiền Đông Dương, gởi về cha mẹ 10 đồng, ăn ở 6 đồng, tiền học lớp đêm 3 đồng, còn lại những 11 đồng để sắm quần áo, xài vặt phủ phê, vì lúc đó chưa biết hút thuốc lá, và chưa quen uống cà phê đen. Hai năm sau ông Quốc về cộng tác với tờ báo khác mang tên Nhựt Báo của ông Nguyễn Bảo Toàn, và những năm kế tiếp làm cho các tờ Công Luận, Điển Tín cùng vài tờ báo nào đó nữa.

Đích thân chăm lo trang kịch trường
            Đến năm 1950 ông Phan Văn Thiết là người bạn cùng quê Cao Lãnh với ông (người ta thường gọi là ông Tòa Thiết, do bởi ông đậu Luật khoa cử nhân từ đầu thập niên 1930, từng làm chánh án, luật sư) nhường tờ Tiếng Dội cho ông Trần Tấn Quốc khai thác với danh nghĩa chủ nhiệm có sự chấp thuận của nhà cầm quyền.
            Với tờ Tiếng Dội của ông Thiết, Trần Tấn Quốc bắt đầu làm chủ báo từ đây. Trong làng báo miền Nam ai cũng biết Trần Tấn Quốc là một ký giả, đồng thời là chủ báo mạnh dạn chủ trương mở riêng biệt một trang kịch trường đầu tiên trên tờ Tiếng Dội, nhằm thúc đẩy sự tiến triển liên tục của ngành sân khấu cải lương.
            Là chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhưng ông Quốc đích thân chăm lo trang kịch trường chớ không giao cho một biên tập viên nào. Lý do vì đây là công việc đòi hỏi người phụ trách phải am tường, phải hiểu biết sâu rộng về cải lương. Nói một cách khác là phải theo dõi liên tục hoạt động sân khấu với một trình độ căn bản về thu thập, chứ không phải hiểu biết cách lơ tơ mơ mà làm được. Ông Quốc đã nghĩ rằng không ai rành rẽ bằng ông trong vấn đề này. Nhưng vì sao mà ông Quốc lại đặt nặng trang kịch trường đến như thế?
            Để trả lời câu hỏi trên, thì đây là lời của nghệ sĩ Năm Châu thường nói với các ký giả kịch trường ở Ngã Tư Quốc Tế:

            “Ở Sài Gòn này có trên 10 rạp cải lương, đêm nào cũng có hát, chưa kể miền Lục Tỉnh từ Mỹ Tho dài xuống Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá… nơi nào cũng có rạp hát và gần như lúc nào cũng có các gánh cải lương lớn, nhỏ trình diễn. Cải lương hoạt động tất nhiên có nhiều tin tức liên quan đến bộ môn nghệ thuật mà đa số người miền Nam ưa thích. Nếu tin lên báo thì không riêng gì khán giả mua báo theo dõi chuyện cải lương, mà rất nhiều thành phần khác có liên hệ làm ăn với nghệ thuật sân khấu, họ cũng cần có tờ báo để nắm bắt tình hình, hầu tính toán công cuộc làm ăn. Ông Quốc chăm lo kỹ lưỡng trang kịch trường là do vấn đề thương mại, chỉ nội người ham mê cải lương mua báo, ông Quốc cũng bỏ tiền nặng túi rồi!

            Lời nhận định của nghệ sĩ lão thành Năm Châu rất thực tế vào thời đó, vì đa số độc giả của Tiếng Dội là những người hâm mộ cải lương.
            Năm 1950 lúc ông Quốc mới làm chủ nhiệm, tờ Tiếng Dội chỉ đăng vài tin hoạt động cải lương nơi trang 2, không nhứt thiết ngày nào trong tuần. Thế rồi dần dần thì ở trang 2 này kịch trường chiếm trọn, nhưng mỗi tuần chỉ có một ngày thứ Năm. Đến 1953 thì mỗi tuần tăng lên hai ngày thứ Tư và thứ Bảy. Tuy vậy vẫn không đáp ứng được số độc giả ham đọc tin tức cải lương, họ muốn đọc mỗi ngày.
            Có người hỏi ông Quốc tại sao không đăng luôn tin tức cải lương mỗi ngày? Ông trả lời: “Mỗi tuần hai ngày mà tôi còn muốn điên cái đầu đây rồi, nếu làm suốt cả tuần chắc tôi phải vô Chợ Quán hay lên Biên Hòa thôi!” (Có hai nhà thương điên: một ở Chợ Quán và một trên Biên Hòa).
            Là người nắm vận mạng tờ Tiếng Dội, ông Trần Tấn Quốc quan niệm tờ báo như món hàng, món hàng ấy phải trình bày thế nào đập vào nhãn quang của người đọc. Có lần vào tháng 6 năm 1954 cô đào Năm Phỉ chết trong lúc đang coi chiếu bóng ở rạp Nam Quang, Chợ Đũi. Tờ Tiếng Dội của ông Quốc đã đăng tin ấy với cái tựa sắp bằng chữ lớn nhứt của nhà in, kéo dài 8 cột đặt trên đầu trang nhứt. Mới nhìn qua có người cho là “chướng quá” và đặt câu hỏi mỉa mai: “Cô Năm Phỉ có phải là một nhân vật quốc tế? Cái chết của cô phải chăng như cái chết của Staline?”
            Nhưng con mắt những ký giả nhà nghề đã thấy rõ dụng tâm của đồng nghiệp Tiếng Dội: Quần chúng miền Nam rất ưa thích cải lương, mà cô Năm Phỉ là thần tượng của tri kỷ mộ điệu muôn phương. Cô Năm đã thu hút được tình cảm của bao nhiêu triệu khán giả ái mộ trên 30 năm nay. Tờ Tiếng Dội đăng lớn tin cô từ trần là có dụng ý làm cho báo bán chạy…
            Lẽ dĩ nhiên ngoài phần hình thức, ông luôn luôn quan tâm đến giá trị nội dung của bài vở trang ngoài cũng như trang trong, vì đó là chính yếu để tờ Tiếng Dội có thế đứng vững vàng trong làng báo.

Thời kỳ vàng son
            Theo nhận xét riêng của tôi thì tờ Tiếng Dội làm ăn khá nhứt là thời kỳ 1953 lúc đoàn Hoa Sen khai trương lần thứ hai tại rạp Nguyễn Văn Hảo, với những máy bay, xe tăng cùng phim ảnh lên sân khấu. Thời kỳ mà đoàn Hoa Sen oai trùm với những tuồng chiến tranh, thì trang kịch trường của tờ Tiếng Dội cũng tràn ngập tin… chiến tranh cải lương. Lúc bấy giờ hàng đêm ông Quốc đi coi tuồng chiến tranh, rồi về viết phóng sự ngoài việc tường thuật cái mới lạ của sân khấu Hoa Sen, còn nói về cảnh chen lấn mua vé, hôm nào cũng vé bán hết từ chiều, đã vô tình quảng cáo thêm cho đoàn Hoa Sen vậy.
            Có điều là thời này vé hát mua trễ là hết, nếu như tuồng hay, nhưng lại không có cái nạn vé chợ đen. Còn mấy lúc sau này, vé hát thường bị ế, ghế trống hơn nửa rạp. Vậy mà muốn có “ghế tốt” khán giả phải mua vé chợ đen mới có. Thế mới ngược đời!
            Khi xưa 1954 trở về trước chưa có nhà phát hành báo chí, ra báo thì tờ nào cũng tự bán lấy, do đó người chủ báo ngoài sự hiểu biết, kinh nghiệm về báo chí, mà còn phải có khả năng về thương mại thì mới dám ra báo. Khi tờ báo đã có con số độc giả rồi như tờ Tiếng Dội thì từ lúc 4, 5 giờ khuya trời chưa sáng, thiên hạ còn ngủ thì ở trước các báo quán đã sinh hoạt náo nhiệt. Người của những sạp báo ở Đô Thành và phụ cận đã có mặt để lấy báo về bán cho kịp buổi sáng trước khi công tư chức vào sở làm việc. Giới thầy chú này có thói quen là trước khi vô sở, họ thường ngồi tiệm cà phê vừa đọc báo vừa nhâm nhi ly cà phê, phì phà điếu thuốc lá.
            Trong thời gian trang kịch trường nói về đoàn Hoa Sen với những tuồng sấm sét: Đoàn Chim Sắt, Mộng Hòa Bình, Nợ Núi Sông… thì tại trước báo quán Tiếng Dội ở đường Lagrandière (đường Gia Long sau này) cảnh giành giựt lấy báo thường diễn ra, do bởi chiếc máy in của báo Tiếng Dội là máy thường, ra báo có hạn, số cung không đủ cho số cầu.
            Lúc đó mấy sạp báo quanh vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có khi mua trễ là hết tờ Tiếng Dội. Còn ở các tỉnh thì dân ghiền cải lương cũng mỗi ngày coi cải lương hàm thụ bằng cách tập trung tại địa điểm bán báo, chờ chiếc xe đò mang báo về, mua tờ Tiếng Dội để đọc bài tường thuật đêm hát của đoàn Hoa Sen.
            Tóm lại là ông Trần Tấn Quốc mở trang kịch trường trên tờ Tiếng Dội đã đưa đến sự tiến triển bộ môn nghệ thuật sân khấu cải lương, thì ngược lại cải lương sân khấu cũng gián tiếp nuôi sống tờ Tiếng Dội. Có nhiều người mua báo thì tờ Tiếng Dội mới sống vững, mới tồn tại, mới có tiền trả lương cho biên tập, cho nhân viên tòa soạn, cho in ấn… Chớ không như bây giờ ở hải ngoại có nhiều tờ báo tốn tiền in ra rồi đem… bỏ ở các chợ. Báo bỏ chồng đống mạnh ai nấy lấy, một tờ cũng được mà mười tờ cũng chẳng sao, có khi hốt cả xấp mang về mà không biết có đọc hay chăng nữa? Khi xưa mà ông Quốc ra báo cái kiểu này thì từ chết tới chết, chớ không phải bị thương đâu!


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/trtanquoc-and-stage-page-04072013141028.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #29 vào: 15/05/2017, 13:10:25 »
Chuyện kép hát cải lương đóng vai nhà sư

Từ những nhân vật thời xa xưa do trong truyện sách ghi lại, mà người ta hình dung ra cách họ ăn mặc rườm rà, cờ quạt mang đầy mình, cùng binh khí đánh trận để dựng lên sân khấu như: Vua chúa, hoàng hậu, thứ phi, nguyên soái, văn võ bá quan… đã một thời làm say mê khán giả hát bội, và cải lương hồ quảng. Rồi đến khi diễn tuồng xã hội thời cận đại thì sân khấu có Quan Huyện, Quan Tòa, Hội Đồng, phú hộ, nông dân tá điền… và dĩ nhiên nhân vật “nhà sư” cũng lên sân khấu luôn, bởi các thầy cũng là một thành phần trong xã hội.

Nghệ sĩ Bảy Nhiêu và hai cô con gái Kim Cúc, Kim Lan.
Ðào Kim Cúc là vợ của nghệ sĩ Năm Châu, và đào Kim Lan từng đóng vai Thị Kính trong cuốn phim
 Quan Âm Thị Kính, do Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân thực hiện năm 1956

Trong Quan Âm Thị Kính
            Nhà sư trong cải lương trước tiên có lẽ là vị sư ở chùa Vân trong tuồng Quan Âm Thị Kính. Lúc chú tiểu Kỉnh Tâm, tức bà Thị Kính bị Thị Mầu vu oan giá họa, nên bị nhà Làng tra khảo. Dù chưa biết oan hay ưng, cũng như không biết Kỉnh Tâm là bà Thị Kính giả trai, nhưng thấy cảnh đánh đập khảo tra ấy, nhà sư đau lòng, ông đã lãnh Kỉnh Tâm về chùa.
            Cũng vai vị sư ở chùa Vân này, mà nghệ sĩ lão thành Bảy Nhiêu kiếm được món tiền khá lớn, dù rằng ông đã nghỉ hát từ lâu. Năm 1956 nghệ sĩ Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân quay cuốn phim Quan Âm Thị Kính. Cuốn phim có tựa đề dễ ăn khách này Năm Châu chủ trương “gia đình trị”. Nói rõ hơn là gia đình ông đảm trách hầu hết các vai quan trọng:
            Đào Kim Lan (cô em vợ trẻ đẹp của Năm Châu) đóng vai Thị Kính; bà xã Kim Cúc của ông đóng vai Thị Mầu; ông già vợ là nghệ sĩ Bảy Nhiêu vai sư cụ; con gái của Năm Châu tức đào Nguyệt Thu năm đó mới 9 tuổi đóng vai Đạo Đồng (Đạo Đồng là con của Thị Mầu nhưng lại là con nuôi của bà Thị Kính); và bản thân Năm Châu thì đóng vai Thầy Hương Giáo. Như vậy gia đình Năm Châu nắm hầu hết vai trò quan trọng trong phim.
            Đóng cuốn phim ấy “nhà sư” Bảy Nhiêu hy sinh bộ tóc mây đẹp để nhận mười ngàn đồng. Mười ngàn thời điểm đó Bảy Nhiêu mua được chiếc Mobylette mới tinh và hai lượng vàng y.

Trong Lan và Điệp
            Kế tiếp là vị sư trong vở hát Lan và Điệp của soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang, phóng tác theo tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan. Tình tiết vở hát Lan và Điệp hầu như khán giả cải lương ai cũng biết qua, do bởi tuồng hát đi hát lại không biết bao nhiêu lần rồi, các gánh lớn, nhỏ đều có diễn qua tuồng này, bởi có hát là có khán giả; bảy thập niên qua rồi vở tuồng vẫn còn giá trị (riêng tôi coi tuồng Lan và Điệp trên cả chục lần).
            Nhà sư, tức vị hòa thượng trong Lan và Điệp đã gây xúc động cho khán giả, lúc ông trao chiếc áo cà sa cho Điệp, để Điệp giả dạng hòa thượng vào chốn hậu liêu chứng minh cho Lan trao gởi nỗi niềm tâm sự.
            Hai chú tiểu dẫn Điệp vào. Lan mệt nhọc trăn trối một lúc thì hấp hối… Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa trao nhanh cho chú tiểu rồi chạy tới ôm Lan, và Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp. Soạn giả Tư Trang đã làm cho hàng vạn khán giả rơi lệ ở cảnh này.

Nhà sư Giác Minh
            Ngoài hai nhà sư trong hai tuồng nói trên, thời kỳ trước 1975 thỉnh thoảng cũng có tuồng mà soạn giả cho nhà sư xuất hiện, nhưng với vai trò khiêm nhường, vai phụ không gây được ấn tượng cho người xem nên người ta rất khó nhớ hình ảnh cũng như hành động của các sư, trừ vai trò chính yếu của nhà sư Giác Minh.
            Số là, một đoàn hát nhỏ dạng “C” hát tại một xã thuộc tỉnh Phú Yên ở ngoài Trung. Đêm ra mắt vở tuồng mới “Bí Ẩn Thiếu Lâm Tự”, khán giả rủ nhau đi xem hát thật đông, trong đó có nhiều vị sư ở các chùa cũng đi coi.
            Câu chuyện trong kịch bản tập trung vào nhân vật chính là một vị hòa thượng pháp danh Giác Minh do kép Thanh Hậu đóng. Giác Minh xuất thân từ một ngư phủ… Đêm ấy, ông và một người bạn thân rủ nhau xuôi thuyền ra biển đánh cá. Giữa đường người bạn của Giác Minh có chuyện phải quay về, Giác Minh đành đi một mình. Trời bỗng nổi giông gió, Giác Minh phải quay thuyền cập bến. Ông về nhà lúc nửa đêm chợt thấy một chuyện động trời:
            Người bạn thân cùng đánh cá với ông hằng ngày và vợ ông đang ngoại tình. Giác Minh giận quá chỉ vào mặt đôi gian phu dâm phụ chửi mắng thậm tệ. Quá hổ thẹn, cả hai người này đều tự sát. Lòng ông cảm thấy ăn năn nên quay đầu quy y cửa Phật, hòng quên chuyện hồng trần.
            Mười mấy năm trôi qua ông trở thành một cao tăng, võ công thâm hậu nhưng vẫn không màng lợi danh. Trái lại ông hết lòng hướng thiện, cứu giúp đời. Nhưng oan gia vẫn không tha sư Giác Minh. Hai người con của bạn ông vẫn tìm ông để trả thù. Do nóng nảy thù chưa trả được mà một người đã bị nạn tai đến mù đôi mắt. Nhà sư Giác Minh đã ra tay cứu giúp bằng sự hy sinh đôi mắt của mình. Thế rồi từ chỗ bị xem là kẻ tử thù, giờ đây Giác Minh đã trở thành người ân của họ.
            Nhân vật sư Giác Minh đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả, nên khi tuồng hát đã vãn mà nhiều người vẫn không chịu về. Ai nấy đều lấy tay hoặc vạt áo để lau nước mắt. Dưới khán giả bỗng có tiếng nói to:
            – A Di Đà Phật, lành thay, lành thay!
            Hầu hết mọi người đều hướng mắt về nơi phát ra âm thanh đó. Rất nhiều nhà sư mặc áo vàng đi chân đất, dẫn đầu là một vị sư đã có tuổi tay chống thiền gậy đang tiến lên sân khấu. Trên tay vị sư nào cũng có một bó hoa. Vị cao tăng bước tới trước mặt sư Giác Minh (do Thanh Hậu đóng) tặng hoa rồi ông vỗ lên đầu Thanh Hậu:
            – Con hát vai này đạt lắm, hay lắm. Các sư đây ai cũng khóc cả.
            Sau đó vị cao tăng mời Thanh Hậu cùng toàn thể anh chị em trong đoàn đến viếng chùa của mình và thiết đãi cơm chay. Nhiều đồng nghiệp trong đoàn thấy vậy mới trêu ghẹo Thanh Hậu: “Sư giả mà được sư thật khen ngợi thì hên lắm đó! Mai nhớ đãi tụi này một chầu ăn sáng nghen hôn!”
            Cải lương cũng có những tuồng mà người nghệ sĩ phải chấp nhận xuống tóc mới được đảm trách vai trò, có nghĩa là phải bằng lòng thí phát cạo đầu như qui y thật sự vậy.


Nghệ sĩ Quốc Kiệt đóng vai Trì Địa Bồ Tát

Nhà sư “Quốc Kiệt”
            Về câu chuyện “nghệ sĩ nhà sư” thì có lần quay video cảnh ở chùa Trúc Lâm mà nghe qua ai cũng buồn cười. Hôm bữa đó trời mưa nên cả đoàn đứng bên hiên chùa chờ cơn mưa tạnh để quay tiếp. Khách đến lễ chùa thấy nghệ sĩ Quốc Kiệt trong bộ áo nhà sư nên hỏi:
            – Chào thầy, thưa ở đây có sư phụ. (hỏi vị sư nào đó)
            Quốc Kiệt chắp hai tay đáp lễ:
            – Bạch thí chủ, tui mới tới đây chưa quen, thí chủ cứ vào thẳng bên trong sẽ gặp sư phụ.
            – Cám ơn.
            Đợi khách đi khuất cả đoàn làm phim cười rần lên vì lớp “diễn” ngoài vở tuồng của Kiệt.
            Hết cảnh quay, Quốc Kiệt đi vòng vòng rồi lọt vô một nơi cây cảnh thật đẹp. Đang thả hồn lơ mơ, bỗng có bốn cô sư nữ xuất hiện. Một cô khoảng gần 40 và ba cô trẻ hơn, mặt trắng hồng xinh đẹp (nói vậy chớ người ta đi tu rồi, Quốc Kiệt không có cảm giác gì đâu).
            Vị sư nữ lớn tuổi đầy vẻ nghiêm chỉnh khuyên Kiệt:
            – Số cậu không tu trước cũng tu sau, nên tu trước tốt hơn.
            – Không được đâu! Con còn nặng nợ hồng trần, chưa dứt được.
            – Nãy nghe nói cậu là nghệ sĩ? Trong chùa có ông Thần Hộ Pháp chấm cậu rồi đó. Sau này cậu khó ra khỏi chỗ nầy, chẳng đi đâu lâu được đâu

            Quốc Kiệt hoảng hồn, nhớ tới mẹ. Hồi Kiệt mới cạo đầu thấy mẹ lo, vì có lần mẹ đi chùa có vị sư tiên đoán số mạng của Kiệt sau này theo đường tu…
            Bỏ đi, mà Kiệt cứ ngoái đầu nhìn lại. Thấy họ ngó theo, cười. Kiệt tự hỏi: Có phải mấy sư nữ tinh nghịch chọc ghẹo mình chăng? Hay thực sự mình có duyên với nhà Phật? Trời ơi! Con còn nhiều việc chưa làm…
            Bộ dĩa Quan Âm Thị Kính được hãng Asia thu thanh phát hành vào thập niên 1930, những người đóng vai đều qua đời, nhưng tiếng ca còn lưu lại.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/cailng-stars-act-asamonk-04142013131754.html