Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 16038 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #30 vào: 17/05/2017, 17:07:29 »
Các “dượng đào” trong làng cải lương

Trong làng sân khấu có những từ ngữ để gọi cho từng nghiệp vụ chuyên môn mà ai đó rơi đúng vào, thì y như rằng trong một sớm một chiều sẽ mang danh ngay. Những ngôn từ hầu như bất di bất dịch, hễ nói ra là người ta hiểu ngay người đó thuộc thành phần nào trong làng cải lương như: Đào thương, đào lẳng, đào mụ, đào con, kép mùi, kép độc, kép lão, hề, thầy đờn (tức nhạc sĩ), thầy tuồng (tức soạn giả), công nhân, dàn cảnh, và có cả… dượng đào.

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân

TRONG BUỔI nói chuyện này, tôi nói riêng về dượng đào, cũng là một thành phần trong cải lương mà từ lâu nay ít ai để ý đến, do bởi dượng đào chỉ ở hậu trường sau bức màn nhung, nhưng lại thường hay gây sóng gió cho đoàn hát, xưa nay phần nhiều là vậy.

Ngoài giới
            Nếu như có những cuộc hôn nhơn của người trong giới với nhau thì ngôn từ để gọi người chồng không có gì thay đổi. Thí dụ như Út Bạch Lan kết hôn với Thành Được thì thiên hạ vẫn gọi Thành Được là kép mùi; đào Thanh Nguyệt lấy chồng là soạn giả Mộc Linh, hoặc đào Kiều Oanh kết hôn với soạn giả Yên Lang thì người ta vẫn gọi hai chàng này là soạn giả như thường. Còn như bầu gánh lấy vợ đào hát như trường hợp bầu Hoài Nhân của đoàn Sao Ngàn Phương có vợ là đào Kiều Hoa, thì người đời vẫn gọi Hoài Nhân là ông bầu, chứ không gọi thêm danh từ nào khác. Tóm lại các cô đào mà lấy chồng người trong giới là chuyện thường tình, chẳng có gì lạ, và danh từ để gọi người chồng vẫn giữ nguyên như nghiệp vụ của các chàng ta.
            Thế nhưng, các đào hát mà lấy chồng không phải người trong giới thì đức lang quân của nàng được phong chức “dượng đào” ngay liền để gia nhập làng cải lương. Đó là quy luật bất thành văn, chạy trời không khỏi nắng, các dượng đào nhà ta dù muốn dù không cũng phải lãnh chức. (Vấn đề nầy chỉ ngầm hiểu mà thôi, nhưng ai cũng biết.)
            Một khi được phong chức rồi thì dượng đào mặc nhiên là thành viên của gánh hát mà đào ta đang cộng tác. Dù rằng chẳng làm lợi ích gì cho đoàn hát, cho nghệ thuật nhưng đoàn hát đi đâu thì chàng đi theo đó, chẳng một ai thắc mắc gì cả, chỉ có cái là không được trả lương. Người ta nói có lẽ do vấn đề không được trả lương này mà dượng đào Trọng Viễn bị đào Ngọc Loan Anh cho ra rìa luôn chăng?
            Thiên hạ nói “cưới đào hát là cầm chắc sự đau khổ trong tay”, và đó cũng là ý kiến hay thành kiến của nhiều người đã trải đời khá nhiều. Vậy mà cũng có người trong giới ký giả đã “cả gan” cưới đào hát, để rồi sau đó khổ tâm không ít như trường hợp Trọng Viễn cưới cô đào hát Ngọc Loan Anh, mà một dạo đã là đề tài bàn tán cho người trong giới.
            Năm 1965 đoàn Hoa Thủy Tiên hát ở Sài Gòn, cô đào chánh trẻ Ngọc Loan Anh có nhan sắc và hình vóc của cô đào đại ban, nổi danh nhờ báo chí thời đó đăng ảnh đề cập đến khá nhiều. Và người ta cũng biết người lăng xê cho cô mạnh nhứt là ký giả kịch trường Trọng Viễn (em của nhà báo Việt Định Phương), do đó mà Ngọc Loan Anh đã phải lòng anh chàng ký giả này. Thế nhưng, mối tình của họ hình như bị người cha nuôi ngăn cản, nên có một lần đoàn Hoa Thủy Tiên dừng bước giang hồ lưu diễn ở Sa Đéc, thì đào trẻ Ngọc Loan Anh cắt tóc gởi cho chàng (cắt ngắn thôi chớ không phải cạo trọc như ni cô), xong cô vào ngôi chùa ở thị trấn ấy. Nhưng rồi, nàng còn ở tuổi vị thành niên, nhà chùa không nhận vì không có cha mẹ thuận ưng cho tu hành nên cô trở về với đoàn hát.
            Nàng đã có gởi thơ cho chàng rằng: “Em yêu anh mãi. Năm ngoái ở Sa Giang vì phiền cha mẹ nuôi ngăn cản, em đã cắt tóc vào chùa…”
            Nàng nặng tình đến thế, tưởng đâu sẽ lâu dài, nhưng chẳng bao lâu thì có chuyện. Sau vụ đó vài tháng thì gia đình đào Ngọc Loan Anh chấp thuận cho cô thành hôn với Trọng Viễn. Việc đầu tiên là… tiền, chàng ta lo chạy tiền, có người nói có lẽ chàng ta bán đất của ông cụ để lại ở Rạch Giá?

Cuốn gói theo đào
            Đám cưới rỡ ràng, hai họ dự đám khá đông. Chàng ký giả kịch trường Trọng Viễn đang làm việc cho tờ báo Tia Sáng, nhưng khi cưới được cô đào Ngọc Loan Anh thì chàng ta nghỉ làm báo, mà cuốn gói theo nàng để rày đây mai đó, gạo chợ nước sông. Vất vả như thế nhưng dượng đào nhà ta cũng vui vẻ chấp nhận, ráng đi theo để canh chừng, vì e rằng sẽ bị anh kép nào đó cuỗm mất cô vợ trẻ đẹp mới cưới của mình.
            Những người trong đoàn Hoa Thủy Tiên kể lại rằng, hằng đêm đào Ngọc Loan Anh diễn ngoài sân khấu, thì dượng đào Trọng Viễn luôn ngồi phía sau cánh gà nhìn ra đã tỏ vẻ khó chịu, bực bội, nhứt là những lúc đào ta mùi mẫn với chàng kép chánh. Vì vậy cho nên có những lúc tấm màn nhung vừa buông xuống vãn hát là vợ chồng hục hặc một lúc mới yên.
            Nhưng sự việc trên chỉ một phần nhỏ thôi, mà vấn đề chính là trong khi mọi người trong đoàn hát ai cũng có lương đêm, chỉ một Trọng Viễn là không có. Không còn lãnh tiền ở nhà báo, mà tiền gánh hát cũng không thì lấy chi đây để sống chứ? Bởi vậy suốt mấy tháng đi theo đoàn chàng ta phải sống nhờ tiền lương của vợ, một gánh nặng cho đào ta.
            Khi đoàn Hoa Thủy Tiên lưu diễn vùng Cao Nguyên, từ Dakto dọn xuống Kontum thì Ngọc Loan Anh lại phát cơn điên loạn, kêu khóc thảm thiết và gọi đích danh chồng là Trọng Viễn, đuổi anh này hãy về Sài Gòn tự do lấy vợ để cho cô ta thong thả hát xướng.
            Trọng Viễn nghĩ rằng trong việc này có người chia rẽ vợ chồng anh. Và anh cả quyết rằng ông cha nuôi của Ngọc Loan Anh đã dùng bùa ngải làm cho vợ anh điên loạn, nên chi anh đã tống cho cha vợ nuôi mấy loi rồi thu xếp đồ đạc ra phi trường bay ngay về Sài Gòn.
            Về đến Sài Gòn chàng ký giả Trọng Viễn buồn khổ, không đến hậu trường các rạp hát như mọi khi, cũng không đến nhà báo Tia Sáng mà anh ta cộng tác. Rồi đến một ngày nọ không lâu lắm, người ta thấy anh chàng xuất hiện ở Ngã Tư Quốc Tế với thân hình tiều tụy, mặt mày ủ rũ, đầu cổ tóc tai bù xù… Gặp người quen hỏi cũng không buồn trả lời.
            Có lẽ để dứt luôn với quá khứ hay sao, mà thời gian sau đó đào Ngọc Loan Anh đổi tên là Trang Đài lên truyền hình, đóng kịch, đóng phim, ca tân nhạc v.v… Nàng đã dứt khoát hẳn với Trọng Viễn. Thế là xong, coi như mất chức dượng đào.

Ăn theo
            Dượng đào cũng đặc biệt được hưởng quyền lợi của nghệ sĩ, như trường hợp chồng của cô đào Trang Kim Nga. Thời kỳ trước 1975 trong phái đoàn nghệ sĩ xuất ngoại nọ, có cái tên nam nghệ sĩ Huỳnh Xuân Thưởng, người trong giới không rõ đó là kép nào nên xôn xao lên dữ dội.
            Giữa lúc mọi người đang đánh cá với nhau tưng bừng thì lão soạn giả Điêu Huyễn cho biết: Nó là thằng Thưởng, chồng già khú của nàng Trang Kim Nga đó. Chẳng là nó trước đây khoái cải lương lắm, nên mới vung tiền ra mà cưới đào hát để nó được là dượng đào. Rồi lấy hơi đào, nó tự xưng là nghệ sĩ tháp tùng đi Tây chơi đó mà.
            Nhờ lãnh chức dượng đào mà tên chàng ta được nằm trong danh sách phái đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi Âu châu vào đầu thập niên 1970.
            Và sau đây một dượng đào nữa, đó là dượng đào Đổng Lân chồng nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
            Mối tình của Thanh Nga với Đại Úy Mẫn khoảng hơn một năm thì tan vỡ, Thanh Nga như một chiếc lá trong cơn bão lốc của tình trường, dư luận được dịp đồn đãi lung tung, gán cho nàng đủ các nhân vật, từ ngài đại sứ cho đến cậu công tử con nhà buôn hột xoàn danh tiếng nọ…
            Thời gian sau Thanh Nga lại xuất hiện chung với ông Luật Sư Phạm Duy Lân, nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin, mà người ta gọi là Đổng Lân.
            Ông Đổng Lân cưng Thanh Nga hết cỡ, nàng đi đóng phim ở đâu cũng có chàng theo bên cạnh, tay che dù, tay quạt mát, thật hạnh phúc vô cùng, thấy nàng ngồi nắng là ông chịu không nổi. Song phải có nắng như vậy thì mới đủ ánh sáng quay phim…
            Ông phàn nàn: “Điện ảnh của mình còn thiếu phương tiện quá, không có một dàn đèn nào đủ dùng để quay phim ngoài trời…”
            Thế rồi ông cầm dù che nắng cho Thanh Nga, và khi nào bắt đầu quay, đạo diễn hô “cho đèn nhé” thì ông mới kéo nghiêng dù qua một bên nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa, để đủ sức sáng thu hình vào ống kính. Tiếng đạo diễn vừa hô “cắt” là ông đã che ngay dù như cũ cho Thanh Nga khỏi bị “nắng ăn, vừa sợ nàng đen mà vừa ngại nàng sổ mũi, nhức đầu lại nhõng nhẽo…
            Lúc tạm nghỉ, Thanh Nga và ông Lân vào nơi có bóng mát tâm sự với nhau, ông Lân cầm quạt và… quạt lia.
            Rồi ông vui miệng kể chuyện cho anh em nghe về những ngày ông cùng Thanh Nga ra Huế, nàng đóng phim “Nắng Chiều” cho hãng Lido. Ông nói, “Nắng chiều” là phim màu, nhưng cũng trông vào ánh sáng mặt trời như những phim khác. Thành thử có hôm Nga và tôi cùng với đoàn quay phim tới địa điểm ngồi chơi, xơi nước, tán dóc thả đàn rồi lại vui vẻ… đi về, vì không có nắng.
            Mỗi ngày, ông Lân lái chiếc xe hơi hiệu Honda xinh xắn chở người đẹp Thanh Nga đi chỗ này, chỗ nọ, Thanh Nga tươi cười nói chuyện vui vẻ ríu rít như chim…
            Tùy theo vị thế của cô đào mà các dượng đào cũng được ăn theo, như trường hợp dượng đào Đổng Lân nhờ Vương Hậu Thanh Nga lừng danh tên tuổi mà Đổng Lân cũng nổi tiếng hơn tất cả các người cùng cảnh ngộ.
            Dượng đào Đổng Lân luôn bám sát Thanh Nga như hình với bóng, riết rồi người ta không còn phân biệt ông là người trong hay ngoài giới, mà điển hình là trong một cuộc bầu bán ở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, dượng đào Đổng Lân cũng được bầu vào một chức vụ trong ban chấp hành.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/actress-husband-stories-04272013144134.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #31 vào: 19/05/2017, 14:00:14 »
Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp

Khoảng sau cái Tết Mậu Thân độ một năm, trong lúc tình trạng cải lương bi thảm, ngày một kiệt quệ thì một ngọn gió mát thổi vào làm dễ thở cho một số ít người trong giới sân khấu, đó là một đoàn hát cải lương được đi Pháp trình diễn.

Sân khấu Thanh Minh Thanh Nga

Vui mừng
            Người ta còn nhớ trong lúc Hòa Đàm Ba Lê đang diễn ra thì Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Paris đánh điện về kêu cứu, rằng phải cho một đoàn cải lương sang gấp, chớ không thôi sẽ bị thua thiệt nhiều, do bởi có một đoàn văn công Bắc Việt được đưa sang Paris trình diễn và kiều bào rất hoan nghinh.
            Thật vậy, kiều bào người Việt lâu năm xa xứ, nhớ nhà, giờ đây có đoàn văn nghệ đến tận nơi phục vụ, người ta cảm thấy như là được gần gũi với quê hương vậy. Đối với kiều bào lúc bấy giờ, họ chẳng chú ý tới vấn đề đoàn văn nghệ xuất phát từ Nam Việt hay Bắc Việt, mà trước mắt họ là hình ảnh của quê hương đã đến với họ, thành thử ra số người đi coi rất đông. Các buổi trình diễn văn nghệ đã tác động tâm lý kiều bào, tiếp trợ cho cái thế của hai phái đoàn Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Hòa Đàm Ba Lê.
            Do tình hình như thế, nên Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy đã quyết định cho cải lương sang Pháp, và đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn. Thế là nước Pháp được coi như bãi chiến trường của văn nghệ của hai miền Nam Bắc Việt Nam. Đào kép cải lương dù muốn dù không cũng trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Như vậy, Hòa Đàm Paris ngoài việc trực tiếp ảnh hưởng đến vận mạng đất nước, nhưng cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động cải lương.
            Ở đây, trong phạm vi chương trình cổ nhạc, tôi không bàn thêm về cuộc chiến văn nghệ của hai miền Nam Bắc nói trên, mà chỉ nói về nội tình của đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong cuộc đi lưu diễn bên trời Âu lúc bấy giờ. Và do yếu tố nào mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn đi?
            Bộ Thông Tin là cơ quan trách nhiệm trong việc gởi đoàn cải lương đi Pháp, và Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin lúc đó là ông Phạm Duy Lân đã trình lên chính phủ, thực lực cùng sắc thái của các đoàn hát đang hoạt động tại Thủ Đô Sài Gòn. Có ba đoàn cải lương được đưa lên bàn mổ là Kim Chung, Dạ Lý Hương và Thanh Minh Thanh Nga.
            Đoàn Kim Chung của ông Bầu Long giàu nhứt, coi như có đầy đủ phương tiện nếu như đoàn hoạt động bên Tây (ông Bầu Long có nhà cửa, con cái ở Pháp), nhưng Kim Chung bị loại do bởi chỉ hát tuồng “hương xa” tuy ăn khách, nhưng cốt chuyện từ đâu đâu chẳng nói lên ý nghĩa gì hết. Kế đến là đoàn Dạ Lý Hương cũng bị loại, do bởi lúc đó chẳng có tuồng tích gì đặc sắc, thành ra ông Bầu Xuân dù là nhà tư bản, là giám đốc công ty xuất nhập cảng vẫn bị loại.
            Thế là đoàn Thanh Minh Thanh Nga dù đang yếu thế, bà Bầu Thơ luôn mang nợ lại được chọn đi Tây nhờ hai yếu tố: Thứ nhất là đoàn có thành tích hát tuồng xã hội như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển… là những tuồng phản ảnh thực tế xã hội, mang nhiều ý nghĩa xây dựng mà tình tiết lại hấp dẫn, dễ lôi cuốn khán giả.
            Yếu tố thứ hai là thành phần nghệ sĩ, Út Trà Ôn là đệ nhứt danh ca, là vua vọng cổ, giọng ca Út Trà Ôn đã làm say mê hàng triệu người nghe. Kiều bào ta ở bên Tây có những ra đi từ thời Nam Kỳ còn là thuộc địa của Pháp. Sau chiến tranh Đông Dương một số đông hơn cũng đã được rước sang Pháp định cư luôn cho đến sau này, thành thử ra cái tên Út Trà Ôn rất quen thuộc với họ. Còn như những lớp nghệ sĩ trẻ nổi tiếng sau này như Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương v.v… thì lại rất xa lạ với kiều bào. Do đó mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga đến Paris rất được người Việt ở đây hoan nghinh.
            Kế đến là Hữu Phước cũng là nghệ sĩ hữu danh, và với vai trò Cậu Tư Kiên đầu tóc bới kiểu mấy ông già ở Lục Tỉnh, cộng với bộ đồ bà ba đen sẽ xuất hiện trong tuồng Con Gái Chị Hằng, chắc chắn sẽ đem lại cho kiều bào một hình ảnh quê hương đặc biệt. Ngoài ra Hữu Phước lại có quốc tịch Pháp, dân pháp mà về Tây thì quá hợp tình hợp lý. Về phía bên đào thì Thanh Nga được coi như là nữ nghệ sĩ có nhiều người ái mộ, được cảm tình nhứt đối với khán giả, và Ngọc Giàu cũng là nữ nghệ sĩ từng đoạt giải Thanh Tâm 1960 cùng một năm với Bích Sơn.


Nghệ sĩ Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm (năm 1958)

Xuất ngoại khó khăn
            Trong danh sách đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Tây có trên 20 người, tính luôn vừa bầu gánh, vừa đào kép, nhạc sĩ, soạn giả. Cũng cần nói thêm vào thời điểm đó việc xuất ngoại rất khó khăn, nhứt là nam giới, hồ sơ xuất ngoại trước khi được cấp pasport phải gởi qua Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng duyệt xét xem người xin đi có hợp lệ quân dịch hay không. Theo danh sách của đoàn Thanh Minh thì người ta thấy Út Trà Ôn đã ngoài tuổi bị chi phối bởi luật tổng động viên. Còn Hữu Phước thì quá “hợp lệ quân dịch”, bởi trên giấy tờ anh là dân Pháp. Lúc ấy nghệ sĩ Năm Châu nói rằng đối với phần đông nghệ sĩ thì gọi là xuất ngoại, nhưng riêng Hữu Phước thì phải nói là… về nước mới đúng.
            Chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại, trước tiên nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận đi trước sang Ba Lê để nghiên cứu về thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tiếp đến là Thanh Nga sang ký hợp đồng trình diễn 12 đêm tại hai rạp Maubert Mutualité và Fleyel. Tất cả 12 đêm hát đều được mua giàn, vé bán tại các tiệm cơm Việt Nam trong khu Quartier Latin ở Paris. Đó là chính thức trên giấy tờ, chớ thời gian còn lại đoàn đi diễn nhiều nơi khác, đúng hai tháng mới về nước, và ký hợp đồng xong Thanh Nga về Sài Gòn để cùng với đoàn sang Ba Lê một lượt.
            Trong lúc cải lương chết lên chết xuống, mà Thanh Nga mang tờ hợp đồng nói trên về chẳng khác nào liều thuốc hồi sinh cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Lúc ấy nhiều người đã cho rằng Thanh Nga có “chơn mạng” giúp cho đoàn hát nhà tiếp tục sống, chớ theo sự đồn đãi thì lúc đó bà Bầu Thơ có ý định cho rã gánh, do bởi đang mang nợ quá nhiều. Cũng như chịu không nổi với cái lệnh giới nghiêm ban đêm, hát xướng thế nào được.
            Với tư cách Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin phụ trách vấn đề, ông Đổng Lân đã trình lên chính phủ rằng việc đi Tây của đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngoài việc hành nghề, kinh doanh nghệ thuật, còn là “công tác kiều vận”, do vậy ông trình xin ngân sách quốc gia tài trợ cho đoàn chi phí di chuyển, ăn ở trong thời gian công tác. Được chuẩn thuận, số tiền tài trợ được đưa sang Viện Hối Đoái Quốc Gia đổi thành đồng phật lăng của Pháp.
            Riêng con số hơn 20 người được đi thì người nào cũng được đổi một số ngoại tệ với hối xuất chính thức, khiến cho đào kép ai nấy mừng vui ra mặt bởi được gấp đôi. Thí dụ hối xuất chính thức 35 đồng Việt Nam đổi một đô la, còn hối xuất tự do thì phải 72 đồng đổi một đô la. Đa số nghệ sĩ xuất ngoại dù được đổi tiền nhưng chẳng mấy người mang đi, bởi sang bên đó tiền lương hát được trả bằng tiền France của Pháp. Vậy mà khi về nước va li của người nào cũng nặng trĩu đồ vật, máy móc, mỹ phẩm không phải chịu thuế.
            Qua sự việc trên thiên hạ nói rằng tổ nghiệp cải lương ưu đãi ai thì nấy nhờ, người được đi thì mừng vui hớn hở, có dịp đi du lịch nước ngoài, lại có tiền mua sắm. Còn kẻ không được đi thì buồn tủi, than thân trách phận, có người than thở gần như muốn vô vọng cổ vậy. Lúc đó ai cũng tiếc cho kép Thành Được, bởi anh rời gánh Thanh Minh Thanh Nga chẳng bao lâu thì đoàn được chọn đi Tây, thành ra không còn dịp hát đóng cặp với Thanh Nga, lại vừa mất một dịp bằng vàng ngàn năm một thuở mới có.
            Vấn đề đi Tây của đoàn Thanh Minh Thanh Nga có ba mối lợi ngó thấy. Thứ nhất là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không cần phải sử dụng chuyên viên chiến tranh chính trị gì hết, các đào kép cải lương lúc ấy coi như làm công tác tâm lý chiến.
            Mối lợi thứ hai là bà Bầu Thơ có tiền trang trải nợ nần, để cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga sống thêm một thời gian nữa, đến năm 1972 mới thực sự rã gánh. Còn mối lợi thứ ba là giúp cho ông Đổng Lân có được vợ đẹp tài sắc, tên tuổi. Ai cũng biết trong thời gian bà Bầu Thơ lo thủ tục xuất ngoại thì mọi thứ đều một tay ông Đổng Lân lo, bà nằm nhà không phải đến cơ quan nào hết mà vẫn đủ giấy tờ xuất ngoại.
            Cũng nhờ hết lòng giúp đỡ đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong chuyến đi Tây nên sau ngày đoàn về nước, ông Đổng Lân lui tới nhà bà Bầu Thơ mỗi ngày và cuối cùng thì làm chủ được trái tim người đẹp Thanh Nga. Kể từ đó Đổng Lân luôn đi sát Thanh Nga như hình với bóng, cho đến một ngày nọ thì về bên kia thế giới cùng một ngày, một giờ với Thanh Nga.
            Người xưa có câu “sống thì đồng tịch đồng sàn, thác thì đồng quan đồng quách”, câu này rất đúng với Đổng Lân, bởi trong đám tang dù hai chiếc quan tài, người ta chỉ dùng chung một lư hương. Ban tổ chức đám tang sợ rằng nếu hai lư hương trước hai quan tài thì người ta chỉ đốt nhang lư hương của Thanh Nga mà thôi. Và an táng tại Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp, ông Đổng Lân cũng nằm cạnh Thanh Nga trong ngôi mộ song phần.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-05042013-05042013132857.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #32 vào: 22/05/2017, 13:08:16 »
Nội tình đoàn Thanh Minh Thanh Nga và chuyện Út Trà Ôn đi Tây

Nhờ có làn hơi ca vọng cổ trời cho mà từ một nông dân làm ruộng chăn trâu ở miền Lục Tỉnh, Út Trà Ôn đã cởi lớp áo nhà quê tay lấm chân bùn để trở thành nghệ sĩ đi xe hơi, được người đời tặng cho danh hiệu “đệ nhứt danh ca” tên tuổi vang lừng ca nước. Do được hàng triệu người ái mộ, tiền vô như nước đã đưa ông ta đến đỉnh vinh quang, một cuộc sống sung túc, và luôn có người vợ đẹp trẻ măng bên cạnh. Cô vợ trẻ là đào Ngọc Bích sống chung với nhau ngót hơn 10 năm nhưng cả hai đều nói họ chỉ là “thầy trò”. Sau 1975 thì Út Trà Ôn mới xác nhận thì cũng là lúc họ chia tay với nhau.

Chương trình buổi hát của danh ca Út Trà Ôn đăng trên quảng cáo

RỒI ĐẾN KHI “quá niên tuổi trạc tứ tuần” thì Út Trà Ôn “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” lên máy bay đi Tây, trước sự thèm thuồng của hằng bao nghệ sĩ cải lương cùng chung Tổ nghiệp nhưng kém may mắn.
            Câu chuyện đi Tây của Út Trà Ôn là “chuyện bên lề” nhưng lại tác động mạnh vào trung tâm của nghệ thuật, không kém phần quan trọng, nếu giải quyết không xong sẽ trở thành chuyện lớn và hậu quả khôn lường.
            Buổi nói chuyện hôm nay tôi nêu lên một số sự việc từng xảy ra trong nội tình của đoàn Thanh Minh Thanh Nga từ lúc chuẩn bị cho đến khi đoàn sang đến nước Pháp mà từ lâu ít ai biết đến.

Kẻ vui người buồn
            Lúc bấy giờ tin tức đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn đi Tây, ai nấy trong đoàn đều vui mừng, bởi lúc đầu tưởng đâu người nào cũng được đi giống như là những lần lưu diễn ở miền Tây hay miền Trung vậy. Nhưng sau đó biết chắc là số người đi bị hạn chế chỉ trên dưới 20 người được đi mà thôi, tức là dưới phân nửa số người của đoàn, thành ra có kẻ vui người buồn.
            Chỉ thành phần nghệ sĩ gạo cội như Út Trà Ôn, Hữu Phước thì cầm chắc trong tay là có tên mình, số còn lại ai cũng trông chờ sự quyết định của bà Bầu Thơ, và nếu như chọn một cách trung thực thì người ta phải nói rằng có những người không thể có tên trong danh sách được, như trường hợp kép Hữu Thìn trong quá khứ chẳng có vai trò nào đáng kể, tên tuổi cũng chẳng mấy người biết, thế mà lại có tên vì Hữu Thìn là con của bà Bầu Thơ và là anh của Thanh Nga.
            Còn như Ngọc Bích thì lúc ấy cũng chẳng có gì sáng chói, thỉnh thoảng mới lên sân khấu, nhưng nhờ là học trò của Út Trà Ôn, thầy đâu thì trò đó chớ! Vấn đề Ngọc Bích đã xảy ra tranh chấp về số người ai đi ai ở, bà Bầu Thơ đã loại Ngọc Bích, bởi lúc đó trong đoàn có những nữ nghệ sĩ nổi tiếng và ăn khách hơn Ngọc Bích nhiều. Sự việc đưa đến gây gỗ và Út Trà Ôn từ chối đi Tây, nếu như không có Ngọc Bích trong đoàn.
            Thế là bà Bầu Thơ trước tiên phải chịu thua một keo, bởi trong tờ hợp đồng mà Thanh Nga ký với nhà tổ chức bên Pháp là phải có Út Trà Ôn, thiếu người nào thì còn thay thế được, chớ như thiếu đệ nhứt danh ca thì có thể bị hủy hợp đồng, mà một khi hợp đồng bị hủy bỏ thì sẽ có đoàn hát khác sẵn sàng thay thế ngay, trước nhu cầu tâm lý chiến ở Paris đòi hỏi.
            Đó là rắc rối lúc đoàn sắp sửa chuẩn bị đi, và lúc vừa qua tới nước Pháp thì xảy ra liền một chuyện lẩm cẩm, nhưng nó sẽ nổ bùng thành chuyện lớn dễ dàng nếu như giải quyết không ổn thỏa. Vậy chuyện lẩm cẩm ấy là gì?
            Số là khi đoàn vừa xuống chiếc phi cơ Air France tại phi trường Orly, tất cả lên xe buýt về khách sạn ở Paris (trừ Thanh Nga có xe riêng của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Paris đón).
            Ở Paris khách sạn giá đắt đỏ, bà Bầu Thơ vì tiết kiệm, tránh chi phí nhiều nên trong thời gian đoàn ở khách sạn, bà cho nam ở chung với nam, nữ ở với nữ, như vậy chỉ cần thuê vài phòng lớn là đủ rồi. Thế nhưng Út Trà Ôn nào đâu có chịu, mà đòi phải có một phòng riêng cho ông và Ngọc Bích, việc đó đã đưa đến cải vả ngay từ lúc ở phi trường vừa về tới khách sạn.
            Trong đoàn ai cũng nể nang Út Trà Ôn và gọi ông bằng Cậu Mười, Anh Mười hoặc Cậu Út, Anh Út, chỉ riêng bà Bầu Thơ thì gọi bằng “Chú Út” mà trước đây Năm Nghĩa thường gọi, bà năn nỉ:
            – Ở đây mướn phòng mắc quá đó Chú Út! Ăn nhiều chớ ở bao nhiêu, chú chịu khó ở chung với anh em đi.
            Không do dự suy nghĩ gì hết, Út Trà Ôn phản kháng ngay:
            – Đâu có được chị Năm, hồi nào tới giờ đi lưu diễn tới đâu tui cũng ở phòng riêng, mà bây giờ chị “phá lệ” coi sao cho được chớ!
            – Ở bên Tây nầy giá phòng ngủ mắc gấp mười bên mình, tôi mướn sao nổi chớ Chú Út?
            – Tui biết chị lời quá trời rồi! Đâu chị đưa tờ hợp đồng ra tôi nhờ người đọc cho anh chị em nghe coi có phải như vậy không?
            Đoán chừng mà nói thế, chớ Út Trà Ôn nào đâu biết được trong tờ hợp đồng ghi những gì. Từ ngày Thanh Nga mang tờ hợp đồng về đâu có ai thấy được, chỉ nghe nói mà thôi, bởi trong tờ giao kèo có ghi rõ thành phần nghệ sĩ phải có Út Trà Ôn. Do vậy mà bà Bầu Thơ đã giấu kỹ, ngoài bà và Thanh Nga chẳng một ai biết. Rất may mà Cậu Mười chưa thấy, chớ nếu như biết rõ như thế, chắc rằng cậu sẽ yêu sách, sẽ hoạnh hẹ khó dễ nhiều thứ khác nữa chớ không riêng gì chuyện mướn phòng khách sạn.
            Thấy bà Bầu Thơ còn lưỡng lự chưa dứt khoát vấn đề mướn phòng riêng cho ông, Út Trà Ôn lớn tiếng tuyên bố thẳng thừng:
            – Nếu không cho ở riêng một phòng tôi đi về Sài Gòn ngay!
            Thế là bà Bầu Thơ thua thêm một keo nữa, phải móc hầu bao thuê riêng cho Út Trà Ôn một phòng, bởi đệ nhứt danh ca mà không có mặt thì coi như vi phạm hợp đồng, ăn nói làm sao đây với nhà tổ chức, bởi 12 đêm hát vé đã bán hết và vé nào cũng có ghi tên Út Trà Ôn đứng đầu.

Bà con mến mộ
            Còn một vấn đề nữa liên quan đến Cậu Mười cũng gây thêm một rắc rối. Theo như quy định xưa nay của đoàn thì nghệ sĩ đêm hát, ngày tập tuồng, dù là tuồng cũ hay mới để nghệ thuật được nhuần nhuyễn. Do đó mà khi đoàn đi Pháp bà Bầu Thơ cũng áp dụng nội quy này, bà mướn một phòng rộng nhứt của khách sạn cho phái nam ở, đồng thời cũng dùng làm nơi tập tuồng.
            Sau cuộc hành trình từ Á sang Âu, tất cả ai nấy cũng mỏi mệt, nên ngày hôm sau cả đoàn được nghỉ. Ngày thứ ba mọi người phải thức dậy sớm ăn điểm tâm xong, đúng 9 giờ sáng thì tập tuồng. Bữa nay được coi như quan trọng nhứt, bởi tối đến là buổi hát đầu tiên, mà nghe nói thì người tổ chức mua giàn đã bán hết vé từ mấy ngày trước.
            Thế là tất cả đào kép đều có mặt để tập tuồng, kể cả kép chánh Hữu Phước, nhưng lại thiếu vắng thầy trò Út Trà Ôn, Ngọc Bích. Tưởng đâu hai người còn ngủ, ai ngờ cô Minh người hầu của Thanh Nga vào nói rằng sáng nay có xe du lịch đến rước hai thầy trò Cậu Mười đi đâu đó chẳng biết, và Út Trà Ôn có nhắn lại bà bầu cứ cho anh chị em tập tuồng, tối nay ông sẽ đến rạp trước giờ hát. Cô Minh nói thêm không phải mới bữa nay, mà sáng hôm qua lúc mọi người còn ngủ thì chiếc xe du lịch ấy đã đến rước hai thầy trò Út Trà Ôn đi ăn đến trưa mới về.
            Bà Bầu Thơ không ngờ lại có sự kiện như vậy, hôm bữa mới tới cái vụ mướn phòng, Cậu Mười nói rằng bà “phá lệ”. Bà đành chịu thua, và giờ đây thì chính Cậu Mười phá lệ mà chắc chắn phía bị thua cũng là bà. Dù quá bực tức nhưng bà Bầu Thơ vẫn trầm tỉnh, chỉ huy anh chị em tập tuồng.
            Có điều mà ai cũng thắc mắc là mới đến Paris chỉ một ngày, mà Út Trà Ôn quen với ai nhanh thế, mà lại còn đem xe du lịch đến rước đi?
            Số là vài tuần trước ngày đoàn Thanh Minh Thanh Nga đến Paris thì tờ quảng cáo dán đầy ở các tiêm cơm Việt Nam, nên tin tức loan truyền bàn tán rần rộ trong cộng đồng người Việt ở Pháp. Không phải chỉ ở Thủ Đô Paris mà các thị trấn xa hằng trăm cây số người Việt mình cũng biết và chờ đi coi cải lương, món ăn tinh thần đặc thù độc đáo của miền Nam nước Việt, mà lâu lắm rồi đã không có.
            Cái đêm hát đầu tiên ấy, khi xe chở nghệ sĩ đến rạp thì bà con khán giả đã đứng đầy ở đây chờ xem mặt đào kép cải lương từ bên nhà sang, mà đặc biệt là nhắm vào Thanh Nga và đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn. Tiếng ồn ào vang rền là lúc Thanh Nga vừa mở cửa xe bước xuống. Cô nhanh nhẹn đi vào bên trong, sợ rằng sẽ bị bao vây khó thoát. Và vài phút sau thì đệ nhứt danh ca cũng xuất hiện. Danh bất hư truyền! Bà con ở Pháp vấy quanh Út Trà Ôn, ông phải khó khăn lắm mới vượt qua được rừng người mến mộ.
            Về phần bà Bầu Thơ thì tuy rằng bực tức về thái độ của Út Trà Ôn, nhưng khi thấy cảm tình của khán giả dành cho ông, thì bà cũng tan biến đi cái giận, và đổi lại bằng cái tươi cười. Bởi nói cho cùng thì dầu gì đi nữa Út Trà Ôn cũng đem lại nguồn lợi cho bà, mà cụ thể là nếu như không có Út Trà Ôn thì chưa chắc gì đoàn Thanh Minh Thanh Nga có được điều kiện được đi Paris.
            Thời gian ở Pháp ngoài việc chính thức hát cho đoàn, ngày nào Út Trà Ôn, Ngọc Bích cũng có xe đưa đi ca hát ở các tiệm ăn Việt Nam, ở các buổi họp mặt của người Việt tại Pháp, nghe nói thì số tiền kiếm thêm kiểu này còn nhiều hơn cả tiền lương phát cho ông sau mỗi buổi hát.
            Tóm lại thời gian ở Pháp tuy là đi chung đoàn, nhưng nhiều ngày gần hát người ta mới thấy xe du lịch của người nào đó đưa Út Trà Ôn, Ngọc Bích tới, và lúc vãn hát hát thì xe chạy lại rước đi. Tuy vậy, dù không tập tuồng nhưng mỗi lần Út Trà Ôn vô vọng cổ thì tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp, tiếng ca Cậu Mười thu hút người ta bỏ tiền mua vé từ trong nước đến hải ngoại.
            Như đã nói, Thanh Nga ngay từ lúc xuống máy bay đã được xe “chiến” của Sứ Quán đón về, sau đó thì ngày nào cũng có xe rước đi, không một lần nào đi chung với đoàn. Số còn lại cũng chỉ đi chung có mấy ngày đầu, sau một tuần thì hơn phân nửa đoàn không còn đi ngoạn cảnh tập thể mà mạnh ai nấy có mục tiêu riêng.
            Đệ nhứt danh ca cũng không quên vào thăm mấy Casino ở Paris, bởi kể từ ngày Đại Thế Giới bị dẹp tiệm không có nơi nào đánh bạc công khai như ở Pháp, do đó mà dù kiếm được nhiều tiền, thì đồng phật lăng của Pháp cũng trả về Tây. Ngày về của Út Trà Ôn cũng chẳng có dư được bao nhiêu tiền phật lăng mang về nước.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-05112013-05112013122940.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #33 vào: 24/05/2017, 16:41:01 »
Tiền đạo Nguyễn Văn Quận và chuyện xem một đêm hát cải lương

Trong hoạt động cải lương, một đoàn hát hạng A hạng B là luôn luôn có người tiền đạo, và người này đã giữ vai trò khá quan trọng, đoàn hát có làm ăn khá hay không, sống hay chết một phần lớn là do người này.

Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng, với Tám Vân – Thanh Nga – Hữu Phước

Vai trò người tiền đạo
            Khi một đoàn hát muốn dọn đến tỉnh nào thì người tiền đạo phải đi đến đó trước vài tuần hoặc ít nhứt cũng bốn, năm ngày để nghiên cứu tình hình ở địa phương rồi đề nghị về đoàn để bầu gánh quyết định xem có nên di chuyển đoàn đến nơi đó. Không phải chỉ ở trong nước, mà khi đi trình diễn ở nước ngoài, cải lương cũng phải có người tiền đạo, mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp là một trường hợp. (Chuyện “tiền đạo” dài dòng lắm tôi sẽ có bài nói riêng về vấn đề này). Và hôm nay xin nói về nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận.
            Tôi, Ngành Mai người phụ trách trang Cổ Nhạc Kịch Trường nhật báo Người Việt từ tháng 3-2000 tính đến nay đã hơn 13 năm rồi, và vẫn đang tiếp tục hàng tuần phục vụ độc giả tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại này. Đồng thời tôi cũng đang phụ trách tạp chí cổ nhạc Đài RFA từ hai năm nay mà quí vị đang nghe đây.
            Đài RFA phát đi từ Thủ Đô Washington, buổi phát thanh lúc 6 giờ 30 sáng Chủ Nhựt ngày 5 tháng 5 – 2013, trong chương trình cổ nhạc với bài “Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp” tôi có đề cập đến nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận đi trước sang Ba Lê để nghiên cứu về thiên thời, địa lợi, nhân hòa trước khi Thanh Nga sang ký hợp đồng trình diễn tại Pháp.
            Sau đó thì người con của ông Quận tên Đoàn Anh Loan (không thấy nói cư ngụ ở quốc gia nào) đã e-mail về đài với nội dung:

            “Hôm qua gia đình chúng tôi nghe đài RFA, tin về “Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga” đi Pháp biểu diễn của thông tín viên Ngành Mai. Như những bài viết khác rất hay của tác giả này, bài về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp cũng cung cấp nhiều thông tin quí báu và chính xác, cùng những nhận định sâu sắc, chi tiết về tình hình hoạt động và diễn biến việc đi Pháp của đoàn. Trong đó, có thông tin về người đi tiền đạo qua Pháp là ông “Nguyễn Văn Quận”. Người này chính là thân phụ quá cố của chúng tôi. Tuy nhiên, tên ông chính thật là Đoàn Kỳ Quận, chứ không phải Nguyễn Văn Quận. Có lẽ thời gian quá lâu và chi tiết này không phải là quan trọng nhất, nên tác giả bài viết nhớ chưa chính xác. Vậy, nếu không có gì khó khăn, xin quý vị chỉnh sửa dùm.
            Bài viết này gợi lại cho gia đình chúng tôi những kỷ niệm khó quên về một cột mốc quan trọng trong đời của người cha quá cố, đã góp phần nhỏ cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga, đồng thời đóng góp vào hoạt động nghệ thuật của nước nhà ở Pháp vào thập niên 60. Xin chân thành cảm ơn ông Ngành Mai, cô Hòa Ái cùng đài RFA đã cho cộng đồng người Việt nhiều thông tin bổ ích
”.

            Tuy là vấn đề không quan trọng lắm, nhưng sự việc lên tiếng của cô Đoàn Anh Loan cũng giảm đi mức độ chính xác của bài viết, bài nói chuyện của mình, trên làn sóng phát thanh một đài có nhiều người nghe, thành thử ra tôi đã e-mail về đài RFA để trả lời cho cô Đoàn Anh Loan, mà tôi sẽ trình bày tiếp ở phần sau.
            Khi xưa thời thập niên 1960 có lần ban tuyển chọn giải Thanh Tâm họp tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, ông Trần Tấn Quốc người sáng lập giải Thanh Tâm, có nói chuyện với các thành viên trong ban (mà đa số là ký giả kịch trường) như sau:

            “Người phụ trách trang kịch trường của tờ báo phải am tường, phải hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật cải lương. Nói một cách khác là phải theo dõi liên tục hoạt động sân khấu thời gian lâu dài với trình độ căn bản về thu thập. Đồng thời ít nhiều gì cũng phải có tài liệu liên quan đến hoạt động cải lương để tham khảo và để chứng minh khi cần. Chứ không phải chỉ hiểu biết cách lơ tơ mơ, rồi mang máy chụp hình đến Ngã Tư Quốc Tế, hoặc đi vào hậu trường rạp hát để làm ký giả kịch trường…”

            Lời của ông Trần Tấn Quốc quả đúng không sai, đã rơi vào trường hợp của tôi hiện giờ. Nếu như không có tài liệu thì rất khó giải thích, bởi cô Đoàn Anh Loan là con của nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận, hay Đoàn Kỳ Quận (theo như cô Đoàn). Người con nói tên họ của cha mình thì ai lại không tin là đúng.
            Thế nhưng, đối với tôi lại là người có tài liệu chứng minh, và để trả lời cô Đoàn Anh Loan, tôi scan bản tin của Việt Tấn Xã hồi 44 năm về trước được đăng trên tờ báo Chính Luận ngày 22-1-1969 có ghi rõ nhà tiền đạo là Nguyễn Văn Quận, gởi về đài RFA để thông báo trả lời cho cô Đoàn trong mục Thư Tín của đài.


Hình ảnh Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp

Một đêm hát cải lương
            Đến rạp để xem một vở tuồng, khán giả thật tâm muốn thưởng thức nghệ thuật phải chú trọng những gì diễn trên sân khấu, do đó người xem phải tập trung tư tưởng, tinh thần để theo dõi lời ca, câu hát. Có vậy mới bổ ích cho mình và cũng không hoài công sự cố gắng của diễn viên và soạn giả. Nhưng khốn nỗi, trong lúc khan giả thật tâm muốn thưởng thức nghệ thuật lại gặp bao nhiêu bực dọc phiền toái ở cạnh mình, giữa bầu không khí ồn ào mà phần lớn cũng là do đa số khán giả gây ra.
            Có lần nọ vào giữa thập niên 1960, một ông công chức cùng bà xã đi coi cải lương, sáng hôm sau vào sở ông kể lại rằng, tuồng hát bắt đầu, lúc tấm màn nhung vén lên khởi diễn thì khán giả ở ngoài mới chịu ùn ùn kéo vào.
            Đáng lý khán giả vào trước lối 5 hay 10 phút để biết chỗ nào mình ngồi, và để cho tâm trí được thong thả nhẹ nhàng đặng chút nữa xem hát nghe ca. Nhưng không, số bà con khán giả khá đông đó đợi mở màn rồi mới chen lấn vào. Cảnh tượng, không khí bên trong rạp lúc bấy giờ thật là rối loạn huyên náo. Những người vào trước phải co giò nép mình cho những người vào sau tìm số ghế.
            Khi mấy bạn chỉ dẫn tìm đúng số ghế, lại thấy có người chiếm rồi. Anh ta năn nỉ người ngồi lầm ghế trả lại chỗ ngồi, nhưng khán giả ấy không chịu đi, do bởi nhân viên ở quày vé bán “đúp lê” chiếc ghế tốt này. Thế là cả một vấn đề gay go, giải thích và xin lỗi đủ điều của anh chỉ dẫn. Không khí đã ồn ào lại càng ồn ào hơn bởi sự cãi vã to tiếng.
            Tội nghiệp cho khán giả ngồi phía sau vì sự chàng ràng của mấy ông bà khán giả đi tìm số ghế, cho đến cả mấy chú chỉ dẫn lom khom năn nỉ, nên họ phải nghiêng đầu qua, nghiêng đầu lại để nhìn lên sân khấu.
            Chờ cho xong cuộc “đổ bộ” như thế, những người vào trước và thật sự muốn xem hát vô tình bị “tước” hết một đoạn đầu của màn nhứt. Tuồng tích lần hồi đến mức éo le gay cấn, tưởng đâu ai nấy đều chăm chú theo dõi những diễn biến trên sân khấu, thì ở đầu nầy có hai chị đàn bà hàn huyên, kể lể bằng một giọng rang rảng về hụi hè, về vé số và luôn cả vụ vừa mới đánh ghen với đức ông chồng ở đâu đó. Tiếng nói của hai chị khán giả nầy nổ như pháo Tết làm át mất tiếng hát của nghệ sĩ.
            Trong lúc ấy thì ở góc bên kia, một bà khán giả khác bồng theo một em bé độ hai tuổi, vì nóng nực đòi uống nước thế nào đó, lại ré lên. Khi đó, thay vì dịu dàng dỗ con hay nếu không cũng chịu khó đứng dậy bồng đứa bé ra ngoài trong chốc lát để tránh sự phiền phức cho những người ngồi chung quanh. Trái lại, bà này lại “xáng” cho cậu bé mấy tát tai… Thế là thằng nhỏ đau điếng khóc thét rùm cả rạp. Đã vậy, bà khán giả nói trên lại rống miệng đem đủ danh từ không đẹp chút nào để mắng cho thằng bé một trận đã nư, khiến cho bao nhiêu khán giả ngồi gần phải buộc lòng… nghe ráo.
            Nếu là khán giả cải lương của thời thập niên 1950-1960 chắc chẳng một ai mà không biết qua vấn đề trẻ em gây ồn ào trong rạp hát, rất phiền hà cho khán giả. Có lần nọ vào khoảng 1956 gánh hát bầu tèo trình diễn ở Mỹ Tho, đêm đó đang diễn tuồng Phàn Lê Huê giả chết. Màn nhứt vừa bỏ xuống, bỗng kéo lên liên, và người thấy ông bầu đứng nghiêm chỉnh, trịnh trọng nói:
            – Kính thưa quí vị nít nhỏ, xin quí vị cảm phiền bước xuống khỏi sân khấu tui mới cho hát tiếp…
            Khán giả cười ầm lên. Thì ra hôm bữa đó con nít vô rạp quá nhiều, đứng chật đường đi, không còn chỗ đứng và tràn lên sân khấu. Lại còn thêm phía trong cánh gà còn nghịch ngợm hơn, một đứa vô nằm trong chiếc hòm của Phàn Lê Huê để cho mấy đứa khác khiêng và cười rần lên…
            Trong đám con nít ấy có con của các khán giả, và những đứa bé vô cọp cũng có. Có lần nọ đi xem đoàn Hoa Thủy Tiên khai trương ở rạp Biên Hùng, Biên Hòa gặp “hằng hà sa số” con nít đứng trên bệ trước giàn kèn, rồi tràn lên mí sân khấu. Đến đoạn một cô đào sắp diễn lớp cô ta tự tử ở trước tấm đề co phít, thì “quí vị nít nhỏ” bu cô ta, khiến cô ta mắc cỡ, diễn… tắt ngang cái lớp đó, để tắt đèn đổi cảnh…
            Có đêm đông đảo con nít đến đứng cà rà ở dàn nhạc khiến khán giả ngồi ở phía sau hết sức bực mình. Rồi thỉnh thoảng các nhân viên soát vé đến lùa đám trẻ nít đi. Rồi một chút thôi, chúng lại tụ tập đến nơi ấy nữa. Rồi các anh soát vé đến đuổi xô. Diễn mãi như thế… Hoặc là một chị nọ dẫn theo ba, bốn đưa con nít ngồi đứng lăng xăng cạnh mẹ nó, làm cho khán giả ở hai bên và ở phía sau khó xem được tuồng hát. Cái lào xào, lộn xộn ở các rạp hát do con nít tạo ra rất thường thấy. Nhiều người xem hát, dẫn theo con nít từ còn bé đến con nít biết chạy giỡn. Người ta hằng được chứng kiến cảnh con của một nữ khán giả khóc ré lên, rồi nữ khán giả ấy vạch vú cho con bú – thằng “oắt con” hay con “oắt con” có lẽ vì nực nội, cứ khóc mãi, khiến cho má nó giận đánh cái chát rồi chửi um lên.
            Còn rất nhiều chuyện lào xào lộn xộn nữa, mà thường do con nít “chủ động”. Các đoàn hát cần khán giả nên vẫn cho các bà mẹ dẫn con theo hay bồng con theo coi. Vì một số nữ khán giả thuộc lớp lao động, không có mướn người giữ con, nên đi xem hát là phải dẫn con theo. Nếu cấm ngặt con nít đi theo mẹ, thì chắc chắn các đoàn hát mất một số lớn khán giả vậy.
            Trên đây là một vài vấn đề “đặc thù” của sân khấu cải lương ở nước ta. Và những chuyện như vầy chắc rằng khán giả cải lương sẽ hình dung được ngay. Còn bao nhiêu vấn đề khác nữa mà trong một buổi nói chuyện làm sao nói cho hết được!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-05182013-05182013120525.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #34 vào: 26/05/2017, 18:31:34 »
Chuyện vui làng sân khấu: Tú Trinh và Huỳnh Thanh Trà

Khán giả truyền hình thời kỳ trước 1975 quá quen thuộc với hình ảnh của nữ kịch sĩ Tú Trinh và tài tử chiếu bóng Huỳnh Thanh Trà, bởi cả hai thường xuất hiện trên màn ảnh nhỏ này. Thế nhưng có mấy ai rõ được đã có một chuyện xảy ra liên quan đến hai người, chẳng khác gì một màn kịch sống động, và thiên hạ nói nếu như câu chuyện thật này được đưa lên sân khấu, trên sàn quay của đài truyền hình thì chắc rằng cả hai sẽ nổi tiếng nhiều hơn gấp bội. Vậy trước khi đề cập đến câu chuyện kia, cũng cần biết qua về quá trình hoạt động văn nghệ của hai kịch sĩ đã một thời được khán thính giả ái mộ.

Một cảnh trong phim “Trống Mái” 1971. Tài tử Huỳnh Thanh Trà (trái)
và kép Thanh Tú vai thằng Vọi. Ảnh do Ngành Mai sưu tập

Nữ kịch sĩ Tú Trinh
            Trước hết nói về Tú Trinh, nữ diễn viên thoại kịch và điện ảnh có tiếng nói sang cả dễ thương, cô đã cho báo chí biết rằng sở dĩ có được nghề là nhờ thời gian học ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ.
            Trước tiên người ta thuê cô chuyển âm phim, và về thoại kịch thì Tú Trinh đã lên sân khấu lần đầu tiên trong đại nhạc hội Kim Cương, và sau đó gia nhập ban kịch “Sống” của Túy Hồng.
            Nữ kịch sĩ Tú Trinh là con của nhạc sĩ Chín Trích, (một danh cầm đờn cò), cô có nước đã đen gần như Chà Và, song nàng lại có duyên và đóng kịch rất khá, được thiên hạ tặng cho biệt danh “nàng Công Chúa Ấn Độ”. Tú Trinh không buồn gì trước cái biệt danh đó, trái lại nàng còn nói:
            “Chính người yêu của em cũng bảo là ảnh yêu em tại nước đa đen ngòm của em đó…”
            Tú Trinh đã có lần tiết lộ chính nhờ màu da bánh mật ấy mà người yêu của cô cưng như trứng mỏng. Khi xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, Tú Trinh thường hay đóng vai những cô gái tuổi vừa tròn mộng với bộ bà ba rất là mộc mạc. Với dáng dấp ấy và nụ cười quyến rũ ấy, Tú Trinh đã khiến nhiều chàng ái mộ, si mê. Thế nhưng, người ta vỡ mộng khi gặp con người thật của Tú Trinh ngoài đời rất “chì”. Ra đường Tú Trinh thích mặc đầm mà đầm mi ni mới ác, chớ không hề thấy nàng khép nép trong bộ bà ba như trên TV bao giờ.
            Thỉnh thoảng Tú Trinh cũng có hát cải lương. Có lần trên truyền hình nàng đóng một vai khá quan trọng trong vở hát “Kẻ Đội Mồ” do Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu thực hiện. Người xem trông đợi và lắng nghe Tú Trinh ca cổ nhạc như thế nào. Nhưng rất tiếc, vai trò của Tú Trinh diễn bằng… nước mắt nhiều hơn ca. Cô khóc nhiều quá! Hễ xuất hiện là khóc, có thể nói đụng tới là… khóc.
            Kể ra Tú Trinh khóc cũng hay lắm, cô khóc sướt mướt, nước mắt nước mũi đổ giọt. Do đó, vai tuồng của Tú Trinh có ca nhiều trong đó có vọng cổ nữa, song vì khóc bù lu bù loa, mà ca không ra bài bản nào, và khán giả cũng không nghe được gì để nhận xét Tú Trinh ca cổ nhạc ra sao?
            Vai tuồng bắt buộc diễn viên phải khóc. Phần khác, Tú Trinh là cô gái nhạy cảm và đa cảm, nên đóng vai trò mà phải khóc là cô khóc thật tình, nước mắt ràn rụa. Khi gặp vai tuồng gay cấn làm xúc động diễn viên như vai Mai trong “Kẻ Đội Mồ”, Tú Trinh khóc đến can không nổi. Có một bà khán giả xồn xồn lên tiếng:
            “Cái cô này “mít ướt” quá xá ta!
            Một bà khác nói:
            “Nếu thi khóc tay đôi với Kim Cương, chắc Tú Trinh về… hạng nhì.”
            Câu nói đùa của bà này khiến cho khán giả truyền hình hôm bữa đó cười rần lên.
            Sau 1975 trong một video tuồng Tô Ánh Nguyệt, Tú Trinh đóng vai vợ chàng Minh cũng có ca một, hai câu vọng cổ gì đó cũng khá.


Nghệ sĩ Tú Trinh và Cao Phi Long vào đầu thập niên 80

Diễn viên Huỳnh Thanh Trà
            Đó là sơ qua về tài nghệ của Tú Trinh, còn Huỳnh Thanh Trà thì sao? Chàng này cũng nổi tiếng không kém. Nếu như có ca sĩ tân nhạc bước sang qua địa hạt cải lương để rồi nổi tiếng nhờ bộ môn nghệ thuật này như trường hợp Hùng Cường, thì cũng có người theo học cải lương, xuất thân từ trường đào tạo cải lương thì lại nên danh nhờ… điện ảnh, đó là Huỳnh Thanh Trà, tài tử chánh đóng cặp với Thanh Nga trong phim “Loan Mắt Nhung”.
            Nhưng lúc bấy giờ có nhiều người tự hỏi Huỳnh Thanh Trà xuất thân từ đâu, học trường lớp nào mà lại nhảy vô làm tài tử chánh trong cuốn phim, mà theo dư luận lúc bấy giờ thì số thu rất cao ở nhiều rạp trong đô thành và các tỉnh.
            Khi phim “Loan Mắt Nhung” ra đời, cái tên của Huỳnh Thanh Trà cũng theo đó mà lên, chớ trước đó thiên hạ đâu có biết Huỳnh Thanh Trà là ai, báo chí cũng không nói tới tên bao giờ, do vậy mà đã không ít người cho rằng Huỳnh Thanh Trà may mắn giống như trúng số vậy. Tóm lại là khán giả chưa đánh giá cao tài năng của anh.
            Thế nhưng, nếu ngược về quá khứ để tìm hiểu Huỳnh Thanh Trà thì người ta sẽ thấy bước đường nghệ thuật mà anh đạt được không phải là do một sự may mắn tình cờ, mà là cả một quá trình học tập nghề nghiệp có căn bản vững vàng, chớ không phải khơi khơi mà nhảy vô làm tài tử điện ảnh như nhiều người lầm tưởng.
            Cũng như Tú Trinh, những năm đầu của thập niên 1960, Huỳnh Thanh Trà là học viên của trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn và tốt nghiệp lớp đào tạo nghệ sĩ sân khấu cải lương ở đây, có nghĩa là anh xuất thân là môn đệ của những Năm Châu, Duy Lân, Năm Nở…
            Năm 1966 lúc Huỳnh Thanh Trà ra trường lại là lúc có đoàn Ánh Chiêu Dương của Năm Châu ra đời, và Huỳnh Thanh Trà lúc bấy giờ với cái nghệ danh Dạ Khách đã gia nhập đoàn hát ngay từ buổi đầu mới thành lập, và chỉ đóng vai phụ, nhưng rồi đoàn này chẳng sống được bao lâu thì rã gánh. Kế đó Dạ Khách lại đi gánh Thiên Hương, rồi thì cũng bị cảnh gánh hát rã.
            Người ta nói có lẽ Huỳnh Thanh Trà không có duyên với cải lương hay sao, chớ trước đó đào Phương Ánh cũng xuất thân từ trường lớp này, và được lên sân khấu lớn Thanh Minh Thanh Nga, đóng vai chánh gái bán ba, trong tuồng “Gái Bán Ba”. Nhưng rồi cũng do lận đận với cải lương, anh đổi tên là Huỳnh Thanh Trà. Nhờ đam mê nghệ thuật, dù cải lương hay điện ảnh, ai mời đâu đóng đó.
            Một ngày đẹp trời nọ Huỳnh Thanh Trà lọt vào cặp mắt nghề nghiệp của đạo diễn Lê Dân, và bước đường nghệ thuật của anh ta đã có dịp đi lên. Đạo diễn Lê Dân đã chọn Huỳnh Thanh Trà thủ vai chính trong phim Loan Mắt Nhung rồi nổi tiếng luôn, và cũng kể từ đó cái tên Dạ Khách đã lui về dĩ vãng.
            Như đã nói Huỳnh Thanh Trà và nữ kịch sĩ Tú Trinh là bạn đồng môn ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Thời gian sau Huỳnh Thanh Trà gia nhập cán bộ xây dựng nông thôn, và cùng phục vụ trong ban văn nghệ với Tú Trinh, do vậy mà họ rất thân với nhau. Lúc cộng tác với đài truyền hình thì có một câu chuyện xảy ra khiến ai nghe qua cũng cười.
            Số là có một hôm tại đài truyền hình bỗng rần lên xôn xao, do cái tát tay của Tú Trinh giáng vào mặt Huỳnh Thanh Trà là người ta đồn ầm lên rằng là tại Tú Trinh ghen Huỳnh Thanh Trà mới ra nông nỗi. Họ có yêu nhau hay không thì mấy ai hiểu cho thấu đáo. Thiên hạ nói hễ ghen là có yêu, vậy thì Huỳnh Thanh Trà có yêu Tú Trinh không và Tú Trinh ghen với ai đây? Thế nhưng, Tú Trinh thì bảo rằng sở dĩ cô tát tay Huỳnh Thanh Trà, chỉ vì anh này đã dám công khai bảo với mọi người rằng cô đã có lần sexy trăm phần trăm cho các tay tổ nào đó xem chơi. Tình thật, theo giới am hiểu đầu đuôi câu chuyện thì bảo rằng hôm đó Tú Trinh thay đồ trong, Huỳnh Thanh Trà vô tình nên đã thấy…
            Nếu như thấy rồi mà im luôn một mình biết mà thôi thì đâu có chuyện gì. Đằng này chàng ta lại đem nói với người nào đó, rồi thì một đồn mười, mười đồn trăm và rồi cả đài truyền hình ai cũng biết. Thiên hạ suy diễn thêm bớt đủ thứ về cái chuyện sexy ấy, do đó Tú Trinh tức quá, nổi nóng giáng cho anh chàng xấu miệng Huỳnh Thanh Trà một tát tay đau điếng.
            Lúc ấy tại quán cà phê gần đài truyền hình, thiên hạ không ngớt bàn tán về cái “thấy” của Huỳnh Thanh Trà. Có người chê Huỳnh Thanh Trà quá dở, nếu đã thấy thì coi như có dịp được xem một màn vũ sexy do nữ kịch sĩ nổi danh đóng thì còn gì hơn chớ! Dễ gì được coi, lại coi không mất tiền nữa…
            Rồi người khác lại nói bởi thấy cái đó nên xui xẻo, bị ăn tát tay cũng đúng thôi! Nhưng ngược lại cũng có người cho rằng “hên” lắm lắm. Nhưng không biết chàng ta thấy được sexy bao nhiêu phần trăm? Nếu như chỉ thấy chút chút mà ăn tát tay thì có hơi đắt. Còn như thấy… hết trơn trọn gói thì đáng đồng tiền bát gạo, ăn một tát tay cũng còn rẻ chán!
            Cách đây khoảng hai năm, Tú Trinh từ Việt Nam ra hải ngoại tham gia văn nghệ, do được ban kịch “Sống” của Túy Hồng mời góp mặt trong vở “Đoạn Tuyệt” phỏng theo tác phẩm cùng tên của văn hào Nhất Linh. Tôi có gặp Tú Trinh ở Little Sài Gòn, miền Nam California tại một buổi tiệc do kịch sĩ Túy Hồng mời. Thế nhưng, lúc ấy tôi lại quên hỏi Huỳnh Thanh Trà hiện nay ra sao? Có còn làm nghệ thuật gì nữa không? Nếu hỏi thì chắc gì được trả lời!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-052413-05242013171643.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #35 vào: 29/05/2017, 18:52:21 »
Điều kỳ diệu của bài vọng cổ

Trong nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ, có nhiều mỹ danh gắn liền với những nghệ sĩ tài hoa: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Vua xàng xê Minh Chí, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn tài, Nữ vương sầu nữ Út Bạch Lan, Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, Nữ hoàng kiếm hiệp Mỹ Châu… Đối với tất cả các nghệ sĩ thành danh này, một trong những thước đo chính để trao vương miện cho họ chính là tài năng ca vọng cổ. Nói cách khác, trên sân khấu cải lương, bản vọng cổ được xem là bài bản “xương sống”. Ra đời cách đây hơn 90 năm, đến hiện tại dù cải lương đang hồi khó khăn, nhưng bản vọng cổ dường như vẫn khỏe mạnh và tiếp tục phát triển. Vì sao thế? Bởi vì bản vọng cổ có những điều kỳ diệu của nó.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu năm 1960

Từ cuộc tình chung thủy đến bản Dạ cổ hoài lang
            Bài tổ của bản vọng cổ chính là bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Sự ra đời của bài ca này gắn với một cuộc tình son sắt.
            Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) sinh năm 1892 tại rạch Cây Cui, thôn Thuận Lễ, tổng Thạnh Hội Hạ, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, bây giờ là Mỹ Thuận, Tân An, Long An. Năm lên 6 tuổi, gia đình của cậu bé Sáu Lầu cùng với 19 gia đình khác dắt dìu nhau về lập nghiệp tại Gia Hội, Bạc Liêu. Ở đó, cậu bé Sáu Lầu đã thọ giáo với nhạc sĩ Hai Khị, một nhạc sĩ đàn ca tài tử có tiếng khắp lục tỉnh Nam Kì lúc bấy giờ.
            Năm 21 tuổi, chàng thanh niên Sáu Lầu được mai mối kết hôn với cô Trần Thị Tấn. Dù trong cảnh nghèo khó, nhưng đôi vợ chồng son vẫn yêu thương nhau rất mực. Số phận trớ trêu, tám năm ân ái mà họ vẫn chưa có được mụn con nào. Theo đúng truyền thống phong kiến “Tam niên vô tử bất thành thê” (cưới nhau đã ba năm mà không thể sinh con thì không được xem là vợ nữa), mẹ ông đã buộc ông phải trả vợ.
            Nếu phải chìu lòng thân mẫu vì cái câu ác nghiệt “Tam niên vô tử”, thì chàng thanh niên Sáu Lầu cũng hiểu rõ cái câu “Nhất nhật phu thê bá dạ ân” (Một ngày là vợ chồng thì trăm năm ân nghĩa). Bởi thế, Sáu Lầu ngày đêm thương nhớ vợ hiền, mong mỏi ngày đoàn tụ. Trong tâm trí, ông nghĩ rằng vợ ông chắc cũng đang chịu cảnh sầu thảm nhớ nhung giống như ông. Cám cảnh thay cho người vợ tuổi mới đôi mươi buộc phải xa chồng, chịu bao tiếng đời ác nghiệt, để rồi đêm đêm mong ngóng chồng mòn mỏi như thiếu phụ trông ngóng chinh phu ngoài vạn lý xa xôi.
            Tức cảnh sinh tình, người chồng Sáu Lầu đã viết nên một bài ca mang tên là “Hoài Lang” (Trông chồng), như để nói dùm nỗi lòng của người vợ tào khang. Sau đó ông Bảy Kiên đề nghị thêm vào chữ “Dạ cổ” (Tiếng trống đêm khuya). Và thế là bài “Dạ cổ hoài lang” (Đêm nghe tiếng trống nhớ thương chồng) đã ra đời.
            Nỗi lòng ông đã được người mẹ vợ cảm thông nên bà âm thầm tạo điều kiện cho hai người được bí mật gặp nhau. Trời như thương kẻ có lòng, chính những lần gặp gỡ âm thầm đó, vợ ông đã có mang. Gia đình ông Sáu Lầu vui mừng đến đón dâu trở lại. Vợ chồng đoàn tụ trong niềm hân hoan. Sau đó bà sinh cho ông đứa con trai đầu lòng trong tổng số bảy người con, năm trai, hai gái sau này.
            Ông Sáu Lầu mất ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại Bạc Liêu. Mộ hai vợ chồng ông hiện được đặt cạnh nhau như một minh chứng cho cuộc tình thủy chung gắn bó của đôi vợ chồng nghèo dẫn đến sự ra đời một bài bản bất hủ của sân khấu cải lương Nam Bộ.

Từ tác phẩm cá nhân trở thành sáng tác tập thể
            Bài “Dạ cổ hoài lang” được nhạc sĩ Sáu Lầu viết vào năm 1919. Khi ấy bài này có 22 câu nhịp đôi. Theo soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá, ông Sáu Lầu đã bỏ hai câu cuối để còn 20 câu nhịp đôi. Từ nhịp đôi lúc mới vừa được sáng tác, bài “Dạ cổ hoài lang” dần phát triển theo thời đại để đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức của khán giả.
            Theo giáo sư Trần Văn Khê, năm 1922, ông Phạm Công Bình đặt vở tuồng “Tối độc phụ nhân tâm” trong đó có bài “Dạ cổ hoài lang” nhịp hai. Năm 1925, ông Huỳnh Thủ Trung, tức Tư Chơi, sáng tác lời ca cho bài “Vọng cổ” nhịp tư mang tên “Tiếng nhạn kêu sương” trong đó có đoạn:
                        “Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc
                        Én cam khóc hận dưới trời Nam”
.
            Đến năm 1935, ông Lư Hòa Nghĩa, tức nghệ sĩ Năm Nghĩa, ca bài “Văng Vẳng tiếng chuông chùa” vọng cổ nhịp 8. Năm 1938, nhạc sĩ Vĩnh Bảo đàn cho cô năm Cần Thơ ca vọng cổ nhịp 16. Đĩa Beka thâu vọng cổ nhịp 8, nhịp 16. Khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã khởi đầu ca bài vọng cổ nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Vọng cổ nhịp 64 và 128 cũng bắt đầu phát triển, nhưng không mấy phổ biến.
            Đi vào chi tiết về ngày tháng, tên họ của các nhạc sĩ, nghệ sĩ góp phần phát triển cho bản vọng cổ từ nhịp 2 đến nhịp 128, hiện còn khá nhiều điểm chưa tương đồng giữa các nhà nghiên cứu cổ nhạc. Thế nhưng, có một điều chắc chắn là, bản “Dạ cổ hoài lang” của cụ Sáu Lầu ngày ấy đã không ngừng lớn lên theo năm tháng, đặc biệt là có biết bao nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đóng góp cho việc định hình một bài vọng cổ nhịp 32 hoàn hảo cho người mộ điệu thưởng thức như ngày nay.

Bài ca vua của sân khấu cải lương
            Bản vọng cổ được xem là “Bài ca vua” của sân khấu cải lương. Có nhiều lí do để giải thích cho “cái vị thế” đó. Trước tiên, bài vọng cổ được xem là thước đo chính để khán giả đánh giá nghệ sĩ, các nghệ sĩ muốn được nổi tiếng và thành công thì phải hát thật mùi bài vọng cổ. Nó giống như cái dáng vẻ bên ngoài của một con người, dù chưa biết tâm tính thế nào, lòng dạ ra sao, nhưng nếu có dáng vẻ bên ngoài dễ nhìn, thì tất nhiên đó là một lợi thế để lấy được thiện cảm của người khác. Đối với nghệ sĩ, nếu ca vọng cổ mà khán giả nghe mùi, thì nghệ sĩ sẽ dễ dàng chiếm được cảm tình của khán giả. Nếu ca vọng cổ mà được khán giả chấp nhận, thì tức là người nghệ sĩ đã có được một giấy thông hành loại ưu tiên để tiếp tục con đường chinh phục trái tim người mộ điệu. Bởi vậy mà tất cả các đào kép chánh đều buộc phải ca vọng cổ cho hay. Và hầu như tất cả những nghệ sĩ thành danh, khán giả nhớ đến họ trước hết là nhớ đến một giọng ca vọng cổ đặc sắc nào đó.
            Còn khi đến rạp xem diễn cải lương trực tiếp, trên sân khấu, nghệ sĩ ca, múa biết bao nhiêu bài bản cải lương. Nhưng lạ thay, như một luật bất thành văn, hễ nghệ sĩ trên sân khấu vô vọng cổ, là lập tức khán giả im phăng phắt để lắng nghe từng câu, từng lời, từng cách nhả chữ, luyến láy, đến khi nghệ sĩ xuống vọng cổ thì lập tức cả khán phòng vỗ tay tán thưởng. Trong khi các bài bản cải lương khác, dù nghệ sĩ có ca thật hay, thật mùi, cũng không hề được ưu ái dành cho một luật bất thành văn như vậy.
            Một thế mạnh nữa của bài vọng cổ để giúp nó ngồi vững trên ngai vàng, đó chính là tính phổ biến của nó trong xã hội, đối với người mê cải lương cũng như người thích tân nhạc. Trong xã hội hiện đại ngày nay, cái thời mà hằng ngày bằng phương tiện này hoặc phương tiện khác, người ta đều nghe nói đến cái gọi là “cải lương xuống dốc”, “cải lương suy thoái”… nói chung là những từ ngữ chỉ sự suy yếu của cải lương trước những loại hình giải trí hiện đại khác. Ấy thế mà, dù mê cải lương hay không, có mấy ai ở Miền Nam Việt Nam khi nghe nói đến từ “vọng cổ” lại không biết đó là cái gì. Còn khi nghệ sĩ cải lương phải chạy sô cho các chương trình tân nhạc, thì khi nhìn thấy họ trên sân khấu, khán giả có mấy ai yêu cầu họ ca một bản Nam ai hay một bài Trường tương tư, mà hầu như chỉ yêu cầu duy nhất vọng cổ và vọng cổ.

Sáu câu vọng cổ nghe hoài không chán
            Nhờ bài vọng cổ mà biết bao giọng ca đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Sang, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng, Tấn Tài, Hà Bửu Tân, Út Bạch Lan, Thanh Hương, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Mộng Tuyền, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ… và còn biết bao giọng ca bất tử khác nữa. Thế nhưng mà lạ thay, trong rất nhiều giọng ca nổi danh ấy, không giọng nào giống giọng nào, mỗi giọng có một nét rất riêng mà hễ vừa nghe là khán giả nhận ra ngay, không nhầm lẫn vào đâu được.
            Dù nhiều nhà nghiên cứu cố gắng xếp nhiều nghệ sĩ vào trong một trường phái ca vọng cổ cụ thể, thế nhưng sự phân chia đó vô cùng tương đối, bởi cái tính đa dạng trong giọng ca giữa những nghệ sĩ qua cách nhấn nhá, vô vọng cổ, xuống xề, xấp chữ… Ngay cả đối với bản thân nghệ sĩ, thì trong mỗi bài vọng cổ, tùy theo nội dung và tâm trạng họ cũng có những cách nhấn nhá khác nhau. Thế mới biết, chỉ có sáu câu vọng cổ nhưng lại hàm chứa muôn hình vạn trạng kiểu ca, cách hát: Như cách xấp chữ và ca chẻ nhịp của nghệ sĩ Út Trà Ôn đến hiện tại vẫn chưa có ai kế thừa, hay lối xuống xề ở cuối câu 5 và 6 của Sầu nữ Út Bạch Lan cũng là có một không hai, hoặc cách dứt câu 2 ngân dài của nghệ sĩ Mộng Tuyền cũng là độc nhất vô nhị trong làng cổ nhạc Miền Nam.
            Nhờ sự đa dạng này, mà bản vọng cổ chỉ có 6 câu ca tới ca lui từ xưa đến giờ với biết bao ngàn bài, thế mà mỗi lần nghe, là người ta có cảm giác như mới vậy. Khi một soạn giả viết ra một bài ca vọng cổ mới, thì cái mới ở đây chỉ là lời ca, chứ còn bản đờn 6 câu vọng cổ vẫn y vậy, không có gì thay đổi. Tuy nhiên, với lời ca mới, khán giả khi nghe không hề thấy nhàm chán với 6 câu đờn, mà lời ca mới đã khiến cho cả bản vọng cổ trở nên hoàn toàn mới. Hơn nữa, cùng một bài vọng cổ, nhưng mỗi nghệ sĩ có cách thể hiện khác nhau, bởi thế nó vẫn luôn như mới.

Vọng cổ đâu chỉ có u buồn!
            Khán giả tìm đến với cải lương bởi ở đó là một cuộc đời thu nhỏ. Các bài bản cải lương rất đa dạng, có thể diễn tả được đủ loại thất tình lục dục của con người. Thường thì sân khấu cải lương có 20 bài bản tổ bao gồm:
            – Ba bài Nam: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái, Đảo Ngũ Cung + Song Cước.
            – Sáu bài Bắc: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
            – Bảy bài Lễ: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
            – Bốn bài Oán: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.
            – Bốn bài Oán phụ: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ.
            Hai mươi bản tổ này chia ra bốn loại theo bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và bốn hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), được sử dụng biểu đạt những cung bậc tình cảm khác nhau. Chẳng hạn như để diễn tả tình cảm vui tươi rộn rã thì sử dụng bài Xuân Tình, sự hùng tráng uy nghi thì có điệu Xàng Xê, buồn ảo não thì có Phụng Hoàng, Tứ Đại Oán hay Nam Ai, biểu lộ sự sảng khoái thì dùng điệu Nam Xuân, thổ lộ tâm tình trong tâm trạng u hoài thì có Văn Thiên Tường…
            Thế còn bài vọng cổ thì sao? Vọng cổ có thể diễn tả được hết thảy các loại tình cảm đó.
            Trước tiên, vọng cổ là u buồn ảo não. Bản “Dạ cổ Hoài Lang” vốn là một bài buồn tê tái, thì bản vọng cổ ngày nay đương nhiên phải đượm nét u sầu. Đã có biết bao bài vọng cổ kể lể chuyện thương đau làm rung cảm biết bao con tim mộ điệu: Tình anh bán chiếu – Út Trà Ôn, Tiếng Ve Sầu – Út Bạch Lan, Cô gái bán đèn hoa giấy – Thanh Hương, Bạch Thu Hà – Lệ Thủy, Bông Ô Môi – Tấn Tài, Hòn Vọng Phu – Mỹ Châu, Tình là dây oan – Hữu Phước + Thanh Nga, Tình mẫu tử – Ngọc Giàu…
            Thế nhưng, bài vọng cổ không chỉ có u sầu, mà còn có thể khiến người nghe cười ra nước mắt. Người mê vọng cổ làm sao quên được giọng ca độc nhất vô nhị của vua vọng cổ hài Văn Hường, với hàng loạt các bài vọng cổ để đời: Vợ tôi nói tiếng Tây, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Văn Hường đi Suzuki, Tề Thiên đại thánh, Văn Hường đi hớt tóc, Tư ếch lên sài Gòn, Tư Ếch đại chiến Văn Hường… Hay giọng ca Hề Minh trong bài Tôi mến làng tôi, Hề Sa với bài Pháp sư giải nghệ.
            Trong cuộc sống, những bậc anh hùng có khi cũng phải lệ rơi vì một hoàn cảnh trái ngang nào đó. Giọt nước mắt ở đây không phải là giọt nước mắt “bi lụy” mà là giọt lệ “bi hùng”. Cũng vẫn là những câu vọng cổ quen thuộc, nhưng người ca đòi hỏi phải cho khán giả cảm được nỗi u buồn, nhưng buồn với khí khái anh hùng. Những bài vọng cổ cho thể loại này cũng không hiếm: Nguyễn Trãi – Út Trà Ôn, Phàn Lê Huê – Út Bạch Lan, Hận Kinh Kha – Tấn Tài, Trống Loạn Thăng Long thành – Minh Cảnh, Men Rượu Sa Kê – Hữu Phước…

Cái hồn của bài vọng cổ
            Bài vọng cổ được xem là một bản nhạc cho người ca nhiều tự do nhất. Ví dụ như đối với bản vọng cổ 6 câu nhịp 32, người ca chỉ cần giữ đúng nhịp ở cuối câu, còn trong lòng bản thì hoàn toàn tự do nhấn nhá, luyến lái, xấp chữ… Chính nhờ có tự do mà các nghệ sĩ tha hồ sáng tạo ra cái riêng để người nghe không nhàm chán. Thế nhưng, cũng như khi nấu một nồi canh chua Nam Bộ, tùy ý thích mà người ta có thể nêm gia vị chua nhiều hoặc ngọt nhiều, nhưng phải nêm nếm làm sao để cho nồi canh chua còn là nồi canh chua, chứ để nhiều đường quá cũng không được mà bỏ nhiều me quá cũng không hay. Bản vọng cổ cũng vậy, nó “tự do” mà không “vô lối”, tức dù có tự do, nhưng phải giữ những điểm cơ bản nhất của nó, nếu không nó sẽ không còn là vọng cổ nữa.

Những điểm cơ bản nào?
            Vọng cổ trước tiên là “tự sự”, tức “kể chuyện lại cho người ta nghe”. Trong câu chuyện dĩ nhiên tùy lúc sẽ có Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Cụ, Dục (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn). Như vậy, mỗi bản vọng cổ đòi hỏi người viết phải cho nó một cốt truyện, người nghệ sĩ phải dùng lời ca để truyền tải cho được nội dung và tinh thần của cốt truyện đó đến người nghe.
            Thứ hai, phải hiểu rằng nhiệm vụ chính của người thể hiện bài vọng cổ là “ca”, và cái đích chính đó là làm thỏa mãn sự “nghe” của người thưởng thức. Bởi vậy mà người ta thường nói “ca vọng cổ”, nhưng “hát cải lương”. “Ca”, tức là người nghệ sĩ phải sử dụng giọng ca của mình để biểu đạt nội dung và sắc thái tình cảm của bài vọng cổ, làm sao để cho người thưởng thức chỉ nghe giọng ca cũng cảm được những cung bậc tình cảm mà người viết bài ca gửi gắm. Trong khi đó, cái chính của cải lương là “hát”, tức “biểu diễn” để cho khán giả “xem”, lời ca khi ấy đóng vai trò bổ trợ cho động tác diễn. Hồi trước, trong rạp hát, khi nghệ sĩ trên sân khấu chuẩn bị vô vọng cổ là lập tức hệ thống chiếu sáng được tắt bớt, ánh sáng chỉ còn giữ đúng cho khán giả nhìn thấy người nghệ sĩ đang vô vọng cổ. Trong bóng đêm, âm thanh của câu vọng cổ ngân vang, người nghe tập trung vào âm thanh đó, lời vọng cổ bổng nhiên trở nên trang trọng và hay làm sao! Thế mới biết các bậc tiền bối coi trọng việc “nghe” vọng cổ đến dường nào.
            Vọng cổ là “bình dị” bởi nó xuất phát từ nơi thôn dã, bởi nó giống như câu hò điệu lí của Miền Nam. Chính vì thế mà nó mới được công chúng yêu thương đến như vậy. Do đó, phải ca làm sao cho đúng cái thần của âm nhạc miền nam là “Chân phương hoa lá”. Tức khi ca vọng cổ là phải ca chân phương, nhưng không phải để bài ca chết khô, mà phải dùng chất giọng riêng tô điểm thêm hoa lá cho bài ca được tươi, được đẹp.
            Ngày nay, có nhiều người lạm dụng quá mức các màn múa bổ trợ cho bài vọng cổ. Đến mức mà, khi nghệ sĩ đang vô vọng cổ trên sân khấu, người ta vẫn để đèn đuốc sáng trưng, nghệ sĩ ca đứng giữa, các nghệ sĩ múa chạy qua chạy lại tấp nập. Trong điều kiện như vậy, khán giả bị phân tâm, không thể tập trung vào việc “nghe” được, còn nghệ sĩ biểu diễn thì cũng không thể tập trung chăm sóc tối đa cho giọng ca của mình do bị chi phối bởi việc kết hợp cùng đội múa. Và kết quả là: người ca thì không thể “ca” hết mình, mà người nghe thì cũng không thể “nghe” hết sức.
            Nhận định về thế hệ ca vọng cổ ngày nay qua các cuộc thi vọng cổ, Vua soạn lời vọng cổ Viễn Châu cho biết: “Hầu hết các cuộc thi tôi đều theo dõi, cảm thấy vô cùng vui mừng khi bộ môn cải lương vẫn còn nhiều người trẻ nối tiếp kế tục, sẵn sàng dấn thân đeo đuổi. Nhưng thú thật, có nhiều nghệ sĩ trẻ hát vọng cổ điệu đà, làm dáng quá đáng không đúng với cái chất của vọng cổ lắm. Theo ý kiến riêng của tôi, thể hiện bài hát vọng cổ cần phải thật giản dị, nhẹ nhàng giống như những lời mẹ ru, ngọt ngào và êm ái đưa con trẻ vào giấc ngủ say”. Đấy có phải chăng là lời cảnh báo cho thế hệ nghệ sĩ hiện tại đừng rời bỏ “cái hồn” của bản vọng cổ, để bảo tồn và phát huy “Bài ca vua của sân khấu cải lương”?


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120808-dieu-ky-dieu-cua-bai-vong-co

 
The following users thanked this post: huhu, tnghia

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #36 vào: 29/05/2017, 23:25:16 »
Đọc bài < Điều kỳ diệu của bài vọng cổ>: bài viết công phu và khá hay.
Tuy nhiên trong bài viết có vài chi tiết sai sót:
 *Chưa phân biệt giữa 2 tên gọi "bản" và "bài" :
  - Bản Vọng cổ (bản đờn): dùng để gọi bài ghi các ký âm (chữ : hò, xự, xang..) dùng để đờn.
  - Bài Vọng cổ (bài ca):  dùng để ghi lời ca dựa theo bản đờn Vọng cổ.
* Nên dùng từ " nhịp hai" thay cho từ "nhịp đôi" :
  - Nhịp hai : là để chỉ mỗi câu của bài "Dạ cổ hoài lang" gồm có 2 nhịp.
  - Nhịp đôi : là Mỗi câu hát bao gồm cả 2 loại nhịp đi đôi nhau. (thực tế trong cải lương không có loại nhịp đôi).
* Đoạn văn <Bài vọng cổ được xem là một bản nhạc cho người ca nhiều tự do nhất. Ví dụ như đối với bản vọng cổ 6 câu nhịp 32, người ca chỉ cần giữ đúng nhịp ở cuối câu, còn trong lòng bản thì hoàn toàn tự do nhấn nhá, luyến lái, xấp chữ… > :
   - Không phải câu nào trong "bài Vọng cổ " cũng chỉ cần giữ nhịp ở cuối câu cả đâu, mà tùy theo câu.
 Cụ thể,  ở câu 2 và câu 5 (bài VC 6 câu), ngoài việc ca đúng nhịp ở cuối câu, người ca còn phải xuống đúng nhịp ở chữ " hò " của khuôn đờn thứ 4 và thứ 5 của câu đó. Ở nhịp của chữ đờn " hò " này mà người ca tự do, luyến láy, chẻ nhịp, v.v  thì.. chết bài Vọng cổ !
     
 
The following users thanked this post: lenhale, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #37 vào: 31/05/2017, 21:47:34 »
Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương

Trong lịch sử hình thành và phát triển hơn 90 năm của sân khấu cải lương, có một nghệ sĩ có đến 70 năm cống hiến với những thành công rực rỡ trong cả hai lĩnh vực: đàn và sáng tác lời vọng cổ. Ông cũng chính là người góp phần to lớn cho thành công của đại đa số nghệ sĩ cải lương thời hoàng kim. Đó chính là soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá.

Soạn giả Viễn Châu (1924-2016)

Đệ nhất thập lục huyền cầm
            Nhắc đến ông, trước tiên là nhắc đến người được mệnh danh “Đệ nhất thập lục huyền cầm” Bảy Bá. Trong những năm 1960, thời vàng son của sân khấu cải lương, có một bộ ba đờn cổ nhạc được mệnh danh là “Tam hùng” bao gồm: Năm Cơ đàn sến, Văn Vĩ đàn guitar phím lõm và Bảy Bá đàn tranh. Đến hiện tại, chưa thấy có tay đờn nào vượt qua được bộ ba kiệt xuất này.
            Ông tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21/10/1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Trong gia đình ông là người con thứ Sáu, nên ông lấy nghệ danh Bảy Bá đúng theo cách gọi của người miền Nam.
            Năm 12 tuổi ông đã thành thạo đàn tranh và đàn guitar phím lõm. Tuy nhiên ngón đàn tranh của ông đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng đồng nghiệp và người mộ điệu. Một ngón đờn mượt mà qua từng âm thanh đầy gợi cảm, lúc thì du dương, lúc thì róc rách như tiếng của dòng suối thì thầm, lúc véo von như tiếng sơn ca, lúc thì trầm lắng như tiếng lòng người mang nhiều tâm sự.
            Ông đã có công khai phá nhiều lối chơi, tạo thêm nhiều bài học kinh nghiệm cho dàn nhạc cổ trong sinh hoạt đờn ca tài tử và sân khấu cải lương chuyên nghiệp của Nam Bộ.
            Soạn giả Kiên Giang từng ca ngợi: “Ngón đờn tranh điêu luyện của anh Bảy Bá như rót vào hồn bài vọng cổ những rung động con tim của người nghệ sĩ đã có nhiều vốn sống”.

Ông vua viết lời vọng cổ
            Đến hiện tại, sân khấu cải lương biết đến một số ít các ông vua: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn Tài. Thế nhưng, người góp phần quan trọng đưa các vị vua nói trên lên ngôi báu chính là Viễn Châu, người được mệnh danh là “Vua viết lời vọng cổ”.
            Nghệ danh Viễn Châu có từ năm 1950, khi ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng”. Từ “Viễn Châu” hàm ý chữ đầu của “Viễn xứ”, cộng với chữ cuối trong tên xã Đôn Châu quê hương ông, một cách để ông nhớ về quê hương nguồn cội.
            Bảy mươi năm tay viết tay đàn, ông đã sang tác gần 70 vở cải lương lớn nhỏ. Tuy nhiên, ông được biết đến nhiều nhất với tài viết lời vọng cổ với hơn 2000 bài, lập kỷ lục trong làng sân khấu cải lương.
            Những sáng tác theo kiểu “đo ni đóng giày” của ông đã góp phần làm nên nhiều tên tuổi: Tình anh bán chiếu – Út Trà Ôn, Hoa lan trắng – Út Bạch Lan, Áo tình đắp mộ người yêu – Ngọc Giàu, Tiếng trống tàn canh – Thành Được, Bạch Thu Hà – Lệ Thủy, Tu là cội phúc – Minh Cảnh, Lắng tiếng chuông ngân – Thanh Nga, Hòn vọng phu – Mỹ Châu, Hận Kinh Kha – Tấn Tài, Lòng dạ đàn bà – Minh Vương…
            Nghệ sĩ Ngọc Giàu khẳng định: “Không có Viễn Châu là không có Ngọc Giàu cũng như gần hết các tên tuổi cải lương nổi tiếng của cải lương thời hoàng kim. Hồi mới 12-13 tuổi ông đã viết cho tôi bài Áo tình đắp mộ người yêu để tôi thu dĩa và nổi tiếng từ đấy. Nhiều nghệ sĩ khác thời còn con nít như tôi cũng được nổi tiếng nhờ những bài ca của chú Bảy đo ni đóng giày…”

Ông tổ của Tân Cổ giao duyên
            Ông được xem là người tiên phong kết hợp tân nhạc với cổ nhạc thành ra một thể loại vọng cổ mới mà ông đặt tên là “Tân cổ giao duyên”. Số là vào năm 1958, sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, nhờ biết chơi đàn guitar và đàn tranh, ông đã đem bài tân nhạc Chàng là ai? của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết hòa với bài vọng cổ. Ông mạnh dạn bỏ hai câu 3 và 4 vì dễ bị trùng lắp, để đưa tân nhạc vào, tạo thành một bài tân cổ giao duyên hoàn chỉnh.
            Sau đó đưa cho hãng đĩa thu âm và phát hành. Hãng đĩa Hồng Hoa phát hành đĩa tân cổ giao duyên với giọng ca Lệ Thủy, lập tức bài tân cổ giao duyên được đông đảo thính giả đón nhận. Dù bị báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đả kích kịch liệt, nhưng ông vẫn quyết tâm tiếp tục thể nghiệm. Kết quả là, thể loại tân cổ giao duyên đã thành công ngoài mong đợi, và đến hiện tại vẫn được người mộ điệu tiếp tục đón nhận.

Cha đẻ của Vọng cổ hài
            Thường khi nói về vọng cổ, người ta nghĩ ngay đến một cái gì đó buồn thảm, bi ai. Thế mà, soạn giả Viễn Châu đã “lật ngược” một cách ngoạn mục lối suy nghĩ đó. Năm 1960, ông viết bài vọng cổ hài đầu tiên mang tên “Đêm tân hôn” cho danh hài Văn Hường ca.
            Bài ca đã đưa Văn Hường đến với con đường chinh phục vọng cổ hài. Tiếp sau đó, ông viết một loạt các bài ca hài hước khác cho Văn Hường: Vợ tôi nói tiếng Tây, Tôi mến làng tôi, Sợ vợ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Tề Thiên Đại Thánh… Nhờ vào những bài “đo ni đóng giày của ông”, Văn Hường đã đạt đến đỉnh cao vinh quang khi được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ hài”.

Biệt tài viết vọng cổ ngay tại phòng thu
            Nói về cái tài viết vọng cổ, Viễn Châu là người có khả năng “xuất khẩu thành… vọng cổ”. Ông có thể cầm bút viết ngay tại phòng thu. Anh em trong nghề vẫn hay kể nhau nghe về hai bài hát viết chưa ráo mực đã được thu đĩa của ông.
            Vào khoảng năm 1964, ngay tại phòng thu, ông được yêu cầu viết một bài vọng cổ để nghệ sĩ Hữu Phước ca thu đĩa tại chỗ. Tình thế cấp bách, ông nhận lời viết liền. Thế là khi mọi người đi rước hai nhạc sỹ Văn Vĩ và Năm Cơ tới, ông đã viết xong 3 câu đầu của bài vọng cổ “Nhớ mẹ”. Hữu Phước vào phòng thu ca xong ba câu đó, thì Viễn Châu cũng vừa hoàn tất ba câu vọng cổ còn lại.
            Một thời gian sau, cũng tại phòng thu, ông lại được yêu cầu viết ngay một bài cho nghệ sĩ Thanh Nhàn ca. Thế là ông viết liền bài “Trái khổ qua”, lấy cảm hứng từ việc nhìn thấy một anh đầu bếp đi chợ mua về một thúng đồ ăn, trong đó có đựng mấy trái khổ qua.
            Điều đáng chú ý là dù được viết vội vã, nhưng đây lại là hai bài vọng cổ thuộc hàng kiệt tác.

Nét đặc sắc trong phong cách Viễn Châu
            Ông được mệnh danh là Vua viết lời vọng cổ không phải chỉ vì ông viết được đến hơn 2000 bài ca, mà còn vì ông đã tạo ra cho những bài vọng cổ của mình một phong cách rất riêng, “rất Viễn Châu”. Sau đây là một vài nét nổi bật trong phong cách đó:
            – Dễ ca, dễ nhớ: Do có lợi thế là thông thạo đàn tranh và đàn guitar phím lõm, Viễn Châu đã uốn lời bài hát một cách uyển chuyển, mượt mà với cách phân chữ rất “vô khuôn”, nên rất dễ ca. Đặc biệt các bài vọng cổ của ông có bố cục rõ ràng, nói theo trong nghề là “không lan man”, nên rất dễ nhớ. Có lẽ đó cũng chính là một yếu tố quan trọng khiến bài ca vọng cổ của Viễn Châu trở nên rất đại chúng.
            – Một lượng kiến thức sâu rộng: Dù dễ ca dễ nhớ, nhưng các bài vọng cổ của Viễn Châu hàm chứa một lượng kiến thức rất sâu rộng. Ông đưa vào bài hát từ dân ca, tục ngữ đến các điển tích xa xưa, mà cái hay là ông đưa những kiến thức đó vào trong bài ca một cách “rất ngọt”.
            Chẳng hạn như trong bài vọng cổ “Hoa Đào năm ngoái” viết về mối tình của Thúy Kiều và Kim Trọng, ta tìm thấy hai câu thơ trứ danh của nhà thơ Đỗ Phủ:

                        “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
                        Cô chu nhất hệ cố viên tâm”

                        (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
                        Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
           
            Hay hai câu thơ bất hủ của Thôi Hộ:

                        “Nhân diện bất tri hà xứ khứ
                        Đào hoa y cựu tiếu đông phong”

                        (Người đẹp năm xưa đâu rồi nhỉ,
                        Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông)

            Hoặc thơ của vua Tự Đức trong bài “Khóc Bằng Phi”:

                        “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
                        Xếp tàn y lại để dành hơi”


            Và còn biết bao điển tích, thơ văn khác nữa…

            – Một nhà thơ lớn: Trong nhiều bài vọng cổ của Viễn Châu, ta thấy có những bài thơ thuộc hàng kiệt tác, đủ để khẳng định rằng Viễn Châu cũng là một nhà thơ lớn. Chẳng hạn như bốn câu thơ nối lối trong bài vọng cổ “Gánh nước đêm trăng”, kể về tâm sự của một anh nông dân nghèo phải đi làm ăn xa xứ, ba năm sau khi trở về thì người yêu gánh nước đêm trăng với mình thuở nào đã sang ngang:

                        “Năm tháng dãi dầu nơi đất khách
                        Nhớ em tôi trở lại quê nghèo
                        Đêm khuya vắng bóng người thôn nữ
                        Sương nhỏ trên cành lệ nhỏ theo”


            Hay bốn câu nối lối trong bài “Xuân đất khách” (Tâm sự kẻ ly hương) viết về tâm sự của người xa xứ:

                        “Đất khách bơ vơ lạ bốn bề
                        Nên lòng cứ mãi nhớ thương quê
                        Màu xuân về nữa xuân về nữa
                        Tuyết trắng rơi nhiều dạ tái tê”


            – Lối kết thúc bài hát rất dễ nhớ: Một nét đặc biệt nữa trong phong cách Viễn Châu, đó là đa số bài ca của ông đều được kết thúc bằng hai câu thơ lục bát, một lối kết thúc rất ngọt, rất trữ tình và rất dễ nhớ. Chẳng hạn như cuối bài vọng cổ “Lá Bàng Rơi”, ông viết:

                        “Lá bàng rơi rụng về đâu
                        Lá thu rụng hết đoạn sầu còn đây”
.

            Hay trong bài “Tình anh bán chiếu”, hai câu kết cũng là hai câu thơ rất ngọt:

                        “Sông sâu bên lở bên bồi,
                        Tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”


            Hoặc hai câu kết trong bài “Lá Trầu Xanh”:

                        “Mưa rơi lạnh buốt khung trời,
                        Anh phụ em rồi, em (còn) biết tin ai”


            Hai câu kết trong bài “Lòng dạ đàn bà” cũng rất độc đáo:

                        “Cho hay trong đạo vợ chồng,
                        Biết ai chung thủy, ai lòng bạc đen”


Bí quyết sáng tác của Viễn Châu
            Nói về bí quyết sáng tác của mình, nghệ sĩ Viễn Châu cho rằng, khi viết, không phải mực trào ra đầu ngòi bút mà đó là tim óc, trí não của ông đang đặt hết vào đầu bút để tuôn thành lời!
            Thật vậy, để viết thành công, khi viết, người viết phải tạm quên mình đi và hóa thân vào nhân vật mình đang viết. Như vậy, Viễn Châu đã hóa thân thành công trong hàng ngàn vai diễn với hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải lương. Viễn Châu thật sự là “Một soạn giả ngoại hạng”, bởi trong lịch sử hình thành và phát triển của sân khấu cải lương hơn 90 năm nay, rõ ràng chưa có một soạn giả cổ nhạc nào đạt được nhiều thành công rực rỡ như ông.
            Viễn Châu được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú vào năm 1988. Năm 2012, ông được đặc cách phong Nghệ sĩ nhân dân cùng với ba cô học trò của mình: Ngọc Giàu, Bạch Tuyết và Lệ Thủy.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120801-vien-chau-soan-gia-ngoai-hang-cua-san-khau-cai-luong

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #38 vào: 03/06/2017, 06:02:44 »
Nghệ sĩ Lệ Thủy: Thinh sắc lưỡng toàn

Trong nghệ thuật cải lương, để thành công, một nghệ sĩ đòi hỏi phải có một trong hai yếu tố tiên quyết: thinh và sắc. Thinh tức là giọng ca, sắc ý muốn nói đến cái đến vóc dáng bên ngoài, đến khuôn mặt có “làm sáng sân khấu” hay không. Trong hai yếu tố này, cái thinh luôn đi trước cái sắc, và thực tế đã chứng minh, có nhiều nghệ sĩ không may mắn có được sắc vóc bằng chị bằng em, nhưng nhờ sở hữu một giọng ca đặc sắc nên đã được thành công vang dội. Nói như vậy để khẳng định rằng, nghệ sĩ mà có được một trong hai yếu tố kể trên đã là quý rồi. Thế nhưng, trong sân khấu cải lương, thỉnh thoảng cũng có một vài nghệ sĩ được trời ban cho cả thinh và sắc. Trong số lượng ít ỏi đó có nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, một nghệ sĩ “thinh sắc lưỡng toàn”.

Lệ Thủy tái ngộ khán giả Paris sau 27 năm, trong trích đoạn Tô Ánh Nguyệt – Paris-2011

Tài không đợi tuổi
            Lệ Thủy tên thật là Trần Thị Lệ Thủy, sinh ngày 20/05/1948, là con cả của một gia đình nông dân nghèo có 8 người con tại làng Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ cái trách nhiệm “chị hai” (gọi theo kiểu miền Nam) đã sớm đè nặng lên đôi vai Lệ Thủy. Do cuộc sống khó khăn, nên từ nhỏ cô đã theo gia đình bôn ba đến Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Được phát hiện tài năng ca cổ từ năm mới lên 10 tuổi. Lúc đó các em của Lệ Thủy liên tục đau ốm, gia đình nợ nần tứ phía, Lệ Thủy phải nghỉ học đi làm việc để phụ giúp gia đình và quyết định xin đi theo gánh Trâm Vàng ở Biên Hòa Đồng Nai để đỡ gánh nặng cho ba má.
            Cũng như nhiều nghệ sĩ thành danh khác, “vai diễn” đầu tiên của Lệ Thủy trên sân khấu là ngâm thơ hậu trường, rồi có khi được đóng thế những vai kép con, và rồi đóng đào nhì trên sân khấu đoàn Trâm Vàng… Sau đó, Lệ Thủy về công ty Kim Chung của ông bầu Trần Viết Long, một đại bang có đến 7 đoàn hát. Tại sân khấu Kim Chung, Lệ Thủy bắt đầu tỏa sáng với vai trò đào chính.
            Năm 15 tuổi, tức năm 1963, Lệ Thủy được ban tuyển chọn giải Thanh Tâm quyết định trao “Huy chương vàng triển vọng”. Thế nhưng, sau đó ban tuyển chọn mới biết Lệ Thủy 15 tuổi, chưa đủ tuổi theo điều lệ giải. Vì thế, phải đợi đến năm 1964, Lệ Thủy mới chính thức nhận giải thưởng cao quý này cùng với nam nghệ sĩ Thanh Sang. Trong tổng số 24 nghệ sĩ qua 10 đợt phát giải của giải Thanh Tâm, Lệ Thủy là nghệ sĩ có tuổi đời trẻ nhất khi nhận giải.

Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy: đỉnh cao của nghệ thuật ca diễn
            Ở đoàn Kim Chung, Lệ Thủy đã có dịp đóng cặp với “kép đẹp” Minh Phụng, và đã tạo nên một đôi bạn diễn được khán giả ái mộ, đến mức mà báo chí khi ấy gọi họ là “Cặp bão biển đang lên”. Giai đoạn này, Lệ Thủy đã ghi đậm dấu ấn trong lòng người mộ điệu qua hàng loạt các vở cải lương: Xin một lần yêu nhau, Đêm lạnh chùa hoang, Kiếp nào có yêu nhau, Người phu khiêng kiệu cưới, Áo vũ cơ hàn, Hoa Mộc Lan, Chung Vô Diệm, Mạnh Lệ Quân, Máu nhuộm sân chùa, Tây Thi, Tiêu Anh Phụng, Kiếm Sĩ Dơi, Manh áo quê nghèo, Mỹ nhân và loạn tướng… Trong các vở đó, có lẽ Đêm lạnh chùa hoang là vở mà Lệ Thủy được khán giả nhớ đến nhiều nhất.
            Lệ Thủy sở hữu một ngoại hình có thể nói là thuộc hàng ”bắt mắt nhất” trong số các nữ nghệ sĩ cải lương. Trên sân khấu, dù vào bất cứ vai nào, ở Lệ Thủy cũng toát lên một vẻ đẹp “chân phương” khó tả, nói chung là một vẻ đẹp rất đỗi “Nam Bộ”. Có lẽ đó cũng chính là một ưu thế giúp cô dễ dàng lấy được thiện cảm của khán giả miền đồng bằng sông nước Cửu Long.
            Nói về diễn xuất, Lệ Thủy có một phong cách diễn “chân phương” tương đồng với vẻ đẹp “chân phương” của cô. Ở Lệ Thủy, ta thấy cô thể hiện nhân vật lúc nào cũng “rất vừa đủ”, không bao giờ diễn quá lố, mà cũng chẳng khi nào có chuyện diễn “không tới”. Đây là một cách diễn rất khó, vì nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải nghiên cứu rất kỹ kịch bản, nhất là phải là “chân tài thực học” thì mới có đủ khả năng ước lượng chính xác cách diễn thế nào là “vừa đủ”, bởi diễn quá một chút là “dư”, mà diễn non một chút là “thiếu”, trong khi trên sân khấu cải lương, “thiếu” hay “dư” gì cũng đều không tốt. Hơn nữa, cách diễn “chân phương”, nói cách khác là “có sao diễn vậy”, góp phần đưa sân khấu gần hơn với đời thường, gần hơn với khán giả, khác hẳn với những nghệ sĩ bị chi phối bởi trường phái “ước lệ tượng trưng” của nghệ thuật hát bội.
            Cải Lương chi bảo Bạch Tuyết nhận định: “Hiếm ai cùng một lúc hội đủ cả hai yếu tố ca-diễn nhưng Lệ Thủy đã làm được, và đã làm trên cả tuyệt vời”. Trong tuồng Đêm lạnh chùa hoang, với vai quận chúa Mông Cổ Hồ Bảo Xuyên, Lệ Thủy đã thật sự đạt đến trình độ “ca trong diễn, diễn trong ca”.
            Cái vai quận chúa Hồ Bảo Xuyên như viết ra là chỉ để dành cho Lệ Thủy, bởi cô có một sắc diện “sáng sân khấu”, rất hợp làm một “lá ngọc cành vàng”, cô cũng có một giọng ca kim pha thổ, trong trẻo mà có pha chút trầm lặng, rất hợp để biểu hiện cho tâm trạng “buồn nhưng không thảm”, “bi nhưng không lụy”, một tâm trạng bi hùng của nàng quận chúa Mông Cổ. Hồ Bảo Xuyên của Lệ Thủy là một quận chúa Mông Cổ uy nghi, oai phong lẫm liệt, lấy sát phạt làm niềm vui, lấy xâm lăng làm lẽ sống, thế nhưng đã bị tiếng sét ái tình đánh trúng khi gặp chàng trai đất Trung Nguyên tên Tần Lĩnh Sơn. Thế là tình yêu đã sinh ra trong chiến tranh và loạn lạc, giữa một kẻ trong tư thế xâm lăng, và một người quyết chí bảo vệ quê hương đất nước.
            Đoạn hay nhất trong vở tuồng này là đoạn cuối, lúc Tần Lĩnh Sơn vào ngôi chùa hoang lấy được nửa bức mật đồ, và sau đó bị quân của quận chúa Hồ Bảo Xuyên bao vây. Trước tình thế trái ngang phải chọn lựa giữa tình yêu và đất nước, Hồ Bảo Xuyên đã chọn cách hy sinh thân mình để cứu người yêu. Đến lúc đó, khán giả bổng dưng rơi lệ xót xa cho số phận của nàng quận chúa Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy trên sân khấu. Đoạn ca diễn lúc Hồ Bảo Xuyên và Tần Lĩnh Sơn uống rượu chia tay trong ngôi chùa hoang trước khi quyết đấu sinh tử là đoạn ca diễn “trên cả tuyệt vời”, làm cho người xem được “sướng con mắt”, còn người nghe thì được “đã cái lỗ tai”.
            Năm 2007, trong kỉ niệm 45 năm nghiệp cầm ca tổ chức tại nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, một Lệ Thủy tuổi lục tuần đã vào vai một Hồ Bảo Xuyên tuổi đôi mươi một cách “ngọt lùi”. Nhất là đến đoạn trong ngôi chùa hoang nói trên, khi Tần Lĩnh Sơn – Minh Phụng đang chợp mắt sau khi lấy được nửa bức mật đồ mà không hề biết quân Mông Cổ đến bao vây, Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy ca một đoạn Lý Con Sáo: “Sầu đêm này và ngàn đêm nữa đi, em vẫn yêu chỉ yêu một mình anh. Dù chia lìa tình đôi nơi cách xa, ngủ đi anh một giấc mơ thần tiên”, rồi vô vọng cổ: “Ngủ đi anh một giấc ngủ thần tiên trên trăm miền hoa cỏ, rồi rạng sáng ngày mai mình chia tay vĩnh viễn, người ở đầu sông kẻ cuối chân trời”, nghe Lệ Thủy ca, xem Lệ Thủy diễn trên sân khấu, khán giả chợt thốt lên: “Đúng là gừng càng già càng cay”, bởi ca ngọt quá, mà diễn cũng hay quá.

Tô Ánh Nguyệt – Lệ Thủy: một hình mẫu kinh điển của sân khấu cải lương
            Nhìn lại những thập niên 1960-1970, Lệ Thủy “tung hoành” chủ yếu trong các tuồng kiếm hiệp. Bắt đầu những thập niên 1980, cô mới thật sự chinh phục khán giả trong các vai xã hội. Giai đoạn đoạn này, tên tuổi Lệ Thủy được gắn nhiều nhất với đoàn 2-84. Số là váo tháng Hai năm 1984, Lệ Thủy cùng với một số nghệ sĩ gạo cội như Diệp Lang, Minh Vương, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu… theo đoàn nghệ sĩ của nhà nước Việt Nam đi biểu diễn ở Tây Âu, đây được xem là lần đầu tiên cải lương Việt Nam đem chuông đi đánh xứ người.
            Sau chuyến lưu diễn ấy, các nghệ sĩ trong đoàn hợp lại thành lập nên đoàn nghệ thuật 2-84. Ở đoàn 2-84, Lệ Thủy để đời với các vai diễn trong nhiều vở cải lương đặc sắc như Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa, Kiếp chồng chung, Lôi vũ… Trong các vở đó, vai diễn làm bất tử hình ảnh Lệ Thủy trong lòng người mộ điệu là vai Nguyệt trong tuồng Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang. Từ đó đến nay, mỗi khi nhắc đến Lệ Thủy là người mộ điệu cải lương lập tức nghĩ trước tiên đến Tô Ánh Nguyệt, mà mỗi khi nhắc đến Tô Ánh Nguyệt là nghĩ ngay đến Lệ Thủy.
            Bàn về vai Nguyệt, trước Lệ Thủy, đã có khá nhiều nữ nghệ sĩ bậc thầy thủ diễn thành công. Bởi vậy, nhận đóng vai này quả thật là một “sự liều lĩnh” đối với Lệ Thủy. Ấy thế mà, chính “sự liều lĩnh” kia đã thật sự làm bất tử tên tuổi Lệ Thủy trong nghệ thuật sân khấu cải lương.
            Cái hay của Lệ Thủy là cô đã không rập khuôn theo các nghệ sĩ đi trước, mà cô đã diễn vai Nguyệt đúng theo phong cách “chân phương” của riêng mình. Lệ Thủy đã thành công khi lột tả được một cô Nguyệt “kiên cường và bản lĩnh”: kiên cường vượt qua vòng lễ giáo phong kiến để lựa chọn tình yêu cho chính mình, kiên cường vượt qua sóng gió cuộc đời để bảo vệ bào thai là kết quả của một mối tình thơ mộng, kiên cường bứt ruột giao con cho vợ chồng Minh để theo cha về nhà phụng dưỡng mẹ già đang lâm trọng bệnh, kiên cường tỏ vẻ lạnh nhạt với Minh để bảo vệ hạnh phúc cho người mình yêu và cho đứa con khờ, kiên cường ôm đau khổ về quê sau khi bị chính đứa con ruột của mình tìm đến xua đuổi…
            Thế nhưng, cô Nguyệt của Lệ Thủy không chỉ có kiên cường, mà vẻ kiên cường đó là sự cố gắng bên ngoài, còn trong cõi lòng thì đầy phong ba bão táp. Đoạn thể hiện tâm lí nhân vật hay nhất là đoạn gần hai mươi năm sau, lúc ấy Minh đã có vợ, con của Minh và Nguyệt là Tâm thì được vợ chồng Minh nuôi dưỡng, còn Nguyệt thì âm thầm tìm đến sống gần đó để được phần nào có cảm giác gần con. Thế là Minh thường xuyên lui tới thăm Nguyệt và van nài Nguyệt nối lại tình xưa. Nguyệt kiên quyết không chấp nhận vì hạnh phúc của Minh và của con mình. Bởi vậy, trước mặt Minh, Nguyệt phải tỏ ra lạnh lùng, kiên quyết từ chối, thậm chí còn nặng lời xua đuổi Minh, ấy thế nhưng trong lòng thì cô còn yêu Minh nhiều lắm.
            Hay lắm đoạn Minh – Minh Vương van nài Nguyệt – Lệ Thủy nối lại tình xưa, Nguyệt – Lệ Thủy nói: “Chúng ta hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con”. Minh – Minh Vương hỏi khó: “Còn chúng ta?”, thì Nguyệt – Lệ Thủy trả lời: “Hãy sống như loài chim Uyên Ương khi thời tiết đổi thay, một con chẳng may bị cuốn vào sóng dữ, thì con còn lại một mình đương sức gió, vẫn tháng tháng ngày ngày gào to trên sóng dữ”. Minh – Minh Vương chỉ vào cập gối thêu chim Uyên Ương hỏi tiếp: “Nhưng đã từ lâu rồi em…?!”, trong dụng có ý nhắc Nguyệt rằng: “Em vẫn còn yêu anh, và bằng chứng là cặp gối thêu chim Uyên Ương này”, thì Nguyệt – Lệ Thủy trả lời: “Giấc xuân mộng từ lâu cam trống trải. Tình gối chăn nay vẫn chịu lạnh lùng. Nghĩa mẹ con xin có lúc được trùng phùng. Duyên can lệ…
            Đến chữ “Duyên can lệ”, Nguyệt – Lệ Thủy đưa mắt nhìn Minh – Minh Vương nói tiếp: “…không thể nào tái hợp”. Ánh mắt của Nguyệt – Lệ Thủy khi ấy thể hiện sự dứt khoát cho người kia thấy rõ rằng: câu chuyện bắt buộc phải giải quyết như vậy, và không còn cách nào khác. Ấy thế nhưng, trong sự dứt khoát đó, Lệ Thủy lại để trong ánh mắt cô Nguyệt đượm nét u buồn đong đầy tình cảm, một nổi u buồn sâu thẳm miên man, một ánh mắt không phải chỉ để thể hiện sự quyết liệt từ chối của mình, mà còn để cho người kia biết rằng: “Em còn yêu anh lắm, bởi thế đến nay vẫn không bước thêm bước nữa. Nhưng thôi anh ơi, chúng ta hãy sống vì hạnh phúc của con. Anh hãy hiểu và xẻ chia với em điều đó”. Cái ánh mắt dứt khoát nhưng tình cảm để tìm kiếm sự cảm thông kia thật sự đã khẳng định trình độ diễn xuất thượng thừa của Lệ thủy, nó đã “ám ảnh” người xem suốt suốt mấy chục năm qua.
            Rồi đến khi Minh từ biệt ra về, lúc ấy Minh – Minh Vương – đang bệnh nặng, nên phải lê bước rất nặng nề và cất tiếng ho, ở sau lưng, Nguyệt – Lệ Thủy ứa nước mắt len lén nhìn theo, khi thấy Minh – Minh Vương toan ngoái đầu lại, lập tức Nguyệt – Lệ Thủy cuối đầu làm mặt lạnh trong nước mắt, rồi khi Minh – Minh Vương vừa bước chân đi khỏi, thì Nguyệt – Lệ Thủy mới khóc òa lên. Có hay đâu khi giọt nước mắt của Nguyệt – Lệ Thủy đang âm thầm trên sân khấu, thì khán giả dưới kia chợt thấy con tim khó thở, đến khi cô Nguyệt – Lệ Thủy khóc òa, thì cũng là lúc nước mắt khán giả bỗng tuôn trào lai láng.
            Đoạn này tuy rất đời thường, diễn biến tâm trạng không mấy phức tạp, nhưng lại rất khó diễn, bởi như người ta thường nói: “Vẽ ma thì dễ chứ vẽ người thì khó”, do đó diễn xuất một cái gì càng gần với đời thường chừng nào thì càng khó diễn chừng ấy, diễn dư hay thiếu một chút là bị phát hiện ngay. Trong vai Tô Ánh Nguyệt, quả thật là Lệ Thủy đã diễn rất “vừa đủ”, một sự vừa đủ chuẩn mực, diễn quá một chút nữa cũng không được, mà diễn non một chút nữa cũng không hay.
            Cuối năm 2011, Lệ Thủy đã được tái ngộ khán giả Paris sau 27 năm kể từ khi cải lương Việt Nam đem chuông đi đánh xứ người vào năm 1984. Xem Lệ Thủy diễn lại vai Tô Ánh Nguyệt trên sân khấu, khán giả mới chợt nhận ra rằng: không còn ranh giới giữa nhân vật và nghệ sĩ nữa. Lệ Thủy đã thật sự biến thành cô Nguyệt, và cô Nguyệt cũng đã thật sự “nhập” vào Lệ Thủy. Tất cả những động tác trên sân khấu, từ nói, ca, đi, đứng, khóc, cười của cô Nguyệt – Lệ Thủy khi ấy đã trở thành một cái gì rất tự nhiên, rất vừa đủ, rất chân phương và rất Lệ Thủy.
            Có thể nói rằng, Lệ Thủy đã tạo nên một hình mẫu cho nhân vật Tô Ánh Nguyệt. Thành công của Lệ Thủy trong vai diễn này lớn đến mức mà đã có khuynh hướng làm lu mờ các thế hệ sau khi diễn vai Tô Ánh Nguyệt, bởi khi nghe nói Tô Ánh Nguyệt, là người mộ điệu nghĩ ngay đến Lệ Thủy.

Giọng ca Lệ Thủy: Vang mãi tiếng chuông ngân
            Cái duyên sân khấu của Lệ Thủy rất lớn, bởi vậy dường như vừa xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã “cảm thấy thương rồi”. Bên cạnh đó, giọng ca của Lệ Thủy cũng có cái duyên đặc biệt khó tả, một giọng ca cũng được xem là “vừa nghe đã thấy thương rồi”.
            Đi vào kỹ thuật một chút thì ta thấy rằng giọng ca Lệ Thủy sang sảng, trong như pha lê, nhưng lại có pha một chút trầm buồn. Đó là “giọng kim pha thổ”, lảnh lót, sâu lắng, rất ngọt, rất giòn. Ở ngoài đời, giọng nói Lệ Thủy nghe khàn khàn, thế mà khi lên sân khấu bổng nhiên trở nên trong trẻo, lảnh lót.
            Trong một lần diễn chung với cô, trước khi lên sân khấu, thấy giọng cô khàn khàn nên tôi hơi lo vì sợ một chốc lên sân khấu cô sẽ không hát được, nhưng cô cười và cho tôi biết, giọng cô ngoài đời và trên sân khấu xưa nay rất khác nhau, ngoài đời giọng cô khàn khàn, có khi bị bệnh lại càng khàn hơn, nhưng mà lạ thay, khi lên sân khấu thì lập tức cái giọng khàn khàn ấy trở nên trong trẻo ngọt ngào. Và quả đúng như vậy, lần ấy khi cô lên sân khấu, tôi chợt giật mình vì cái giọng khàn khàn đã biến đi đâu mất, mà thay vào đó là một giọng ca lảnh lót đến khó tả. Đúng thật là “lạ thay”, cái “lạ thay này” này chính là “cái duyên sân khấu” của Lệ Thủy.
            Giọng Lệ Thủy rất tương đồng với giọng hát của nữ danh ca Thanh Hương: cả hai đều được cho là có “giọng kim pha thổ”, ngoài ra cả hai điều cùng một trường phái “ca chân phương”, nói nôm na là “có sao ca vậy”. Mà “chân phương” lại chính là cái hồn của bài vọng cổ, bởi vậy mà hai cô đều đã để đời với nhiều bài vọng cổ đặc sắc. Lệ Thủy từng tâm sự là cô thần tượng giọng ca Thanh Hương, người thuộc hàng tiền bối của cô, bởi khi Lệ Thủy mới chập chững vào nghề thì giọng ca Thanh Hương đã nổi đình nổi đám trong làng cải lương Nam Bộ.
            Lệ Thủy cho biết: “Nghệ sĩ trẻ thường hay nghe rồi bắt chước cách luyến láy, sắp xếp nhịp của nghệ sĩ đi trước nhưng nó chỉ là cái nền, còn phát triển theo hướng nào phải tùy vào nỗ lực của mình”. Và Lệ Thủy đã làm được điều đó: cũng là lối ca chân phương, nhưng với sự rèn luyện không ngừng, giọng ca Lệ Thủy đã dần thoát khỏi ảnh hưởng của Thanh Hương ở cái gọi là “hoa lá”, tức cách nhấn nhá, luyến láy, xấp chữ đã tạo thành nét riêng của Lệ Thủy.
            Thậm chí đến giọng ca, dù là cùng giọng “kim pha thổ”, nhưng Lệ Thủy đã tạo được một giọng ca rất riêng mà hễ vừa cất lên thì người nghe biết ngay là Lệ Thủy, không thể nhầm lẫn vào đâu được. Lệ Thủy đã khẳng định mình thành công đến mức mà đã được nhiều nhà chuyên môn xếp cô thành một trường phái ca cổ riêng: “Trường phái Lệ Thủy”, tức tách biệt hẳn với “Trường phái Thanh Hương”.
            Giọng ca Lệ Thủy lảnh lót, trong trẻo lại có chút trầm buồn nhưng không quá bi lụy, giống như tiếng chuông chiều ngân nga trong gió, nó vang rất xa nhưng lại được truyền đi một cách nhè nhẹ mơ hồ, nó không chói tai khi nghe gần mà rất rõ khi ở xa, nó không quá ồn ào nhưng lại đầy đủ âm điệu và hơi thở. Bởi vậy mà người nghe có được cái cảm giác “nhẹ nhàng” để rồi mới nghe xong lại muốn tiếp tục nghe nữa, để rồi thấy tiếng ca duyên dáng, chân tình biết bao nhiêu, để rồi nhắm mắt lại thả hồn theo tiếng ca như thả hồn nương theo tiếng chuông chiều ngân nga trong cơn gió nhẹ lướt trên con sóng nhấp nhô của những dòng sông hiền hòa miền Châu Thổ Cửu Long. Đó chính là nét độc đáo của giọng ca Lệ Thủy, một giọng ca mà người mộ điệu cải lương không chỉ còn ái mộ ở mức thông thường, mà đã lên đến mức “yêu thương say đắm”.
            Khán giả mãi không bao giờ quên giọng ca Lệ Thủy qua hàng loạt các bài vọng cổ trứ danh: Cô gái bán đèn hoa giấy, Tiền và lá, Anh đi xa cách quê nghèo, Bạch Thu hà, Chàng là ai, Quán gấm đầu làng với Minh Cảnh, Chuyện tình Lan và Điệp với Trọng Hữu, Bánh Bông Lan với Minh Vương, Dòng sông quê em với Thanh Tuấn, Con gái của mẹ với Phượng Liên… Năm 2007, trong Live Show 45 năm nghiệp cầm ca của mình, Lệ Thủy đã cùng hai giọng ca nữ quí báu khác còn sót lại của sân khấu cải lương là Sầu nữ Út Bạch Lan và Cải lương chi bảo Bạch Tuyết khẳng định một lần nữa nét đẹp của bản vọng cổ khi cả ba ru hồn khán giả qua bài Tình quê hương của nghệ sĩ Bạch Tuyết dưới bút danh là Nguyễn Thị Khánh An.

Nghệ sĩ được sự yêu mến ngoại hạng của khán giả
            Đóng góp nghệ thuật của nghệ sĩ Lệ Thủy đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng cao quý: Giải Thanh Tâm năm 1964, Giải Kim Khánh năm 1974, “Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất” năm 1989 do báo Sân khấu TP.HCM tổ chức, Danh hiệu nghệ sĩ ưu tú năm 1993, “Kỷ lục Guiness Việt Nam 2008 cho Đôi bạn diễn lâu năm và ưng ý nhất” (cùng với nghệ sĩ Minh Vương), Giải Mai vàng cho hạng mục “Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất” do báo Người Lao Động tổ chức năm 2008 và 2009, Danh hiệu nghệ sĩ nhân dân năm 2012. Thế nhưng, còn một giải thưởng không thể không nhắc đến, một giải thưởng cực kì quý giá mà bất kì nghệ sĩ nào cũng mơ ước, đó là sự ái mộ đặc biệt của khán giả Nam Bộ dành cho nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, một sự ái mộ “chưa từng thấy”.
            Từ những năm 1990, Lệ Thủy là một trong những nghệ sĩ thuộc hàng “cây đa cây đề” về lưu diễn ở các tỉnh Miền Nam, đem lời ca tiếng hát đến cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Những câu chuyện “thật như đùa” về sự ái mộ “không thể tưởng nổi” của khán giả dành cho Lệ Thủy cũng bắt đầu xuất hiện.
            Còn nhớ ngày ấy lần đầu tiên Lệ Thủy về biểu diễn ở quê tôi, một xã vùng sâu thuộc Miền Tây Nam bộ, vì xã không có rạp hát nên nhà tổ chức phải dùng lưới sắt và vải bao thành một vòng tạo ra “rạp hát ngàn sao” trước sân ủy ban xã. Nghe nói 5 giờ chiều là Lệ Thủy sẽ lên đến “rạp”, thế là bà con không kể già, trẻ, lớn, bé từ 3 giờ chiều đã đứng chật cứng cổng “rạp” để chờ Lệ Thủy.
            Cuối cùng, khoảng 5 giờ xe hơi chở Lệ Thủy đã đến trước cổng “rạp”, nhưng không cách nào chạy vào trong được vì bà con hò hét đòi gặp Lệ Thủy. Không hiểu sao lúc đó trời bắt đầu mưa như trút nước như là để “giải vây” cho Lệ Thủy, thế nhưng lạ thay, lạ kỳ thay: bà con không ai chạy đi tránh mưa, tất cả vẫn “bám trụ vị trí chiến đấu” mặc cho cơn mưa xối xả. Đến mức mà Lệ Thủy phải cầm dù (ô) bước ra khỏi xe chào bà con, thế là bà con mới “tha” cho xe chở Lệ Thủy vào.
            Khi một nghệ sĩ lớn về quê biểu diễn thì lúc nào cũng có phần giao lưu trực tiếp với khán giả: nghệ sĩ đứng trên sân khấu nói chuyện với khán giả, khán giả được phát micro để tâm tình công khai với nghệ sĩ trên sân khấu. Qua những lần giao lưu như thế, mới càng thấy rõ cái lòng ái mộ không thể tưởng nổi của khán giả nông thôn dành cho Lệ Thủy. Nào là chuyện một bà lão cầm micro tâm sự: “Mỗi ngày đi mần (làm) về, nghe tiếng con ca là má hết mệt liền”, rồi chuyện có một nữ khán giả tuổi gần ngũ tuần, đứng dậy cầm micro hỏi tuổi Lệ Thủy, khi nghe Lệ Thủy cho biết tuổi, khán giả nữ nọ tỉnh bơ: “Vậy là con lớn hơn má hai tuổi”. Thế đấy, trong lòng bà con mê cải lương Nam Bộ, Lệ Thủy vẫn mãi trẻ trung như giọng ca lảnh lót ngọt ngào của cô vậy.
            Rồi đến chuyện có một cụ bà mới 2 giờ chiều đã lụ khụ mang chiếu đến “rạp ngàn sao” chọn chỗ gần sân khấu để trải chiếu ngồi chờ đến tối khi Lệ Thủy diễn thì được nhìn rõ mặt Lệ Thủy hơn. Đến khi vãn hát, cụ bà về nhà mới phát hiện… ăn trộm đã vét hết lu gạo rồi. Còn nghe kể có cụ bà khi hấp hối còn kêu con cháu bật máy cassette để nghe tiếng hát Lệ Thủy.
            Có khi trên đường đến chỗ hát, đoàn xe chở Lệ Thủy phải qua phà. Thế là nhiều lần xe chở Lệ Thủy lên phà rồi, phà chạy đến giữa kênh đào thì không tài nào cặp bến bên kia được: vì bà con hay tin tập trung dầy đặc cả hai bên bờ kênh. Còn việc về Miền Tây mà thấy có những gia đình vì quá yêu Lệ Thủy nên đặt tên cho con gái mình là Lệ Thủy cũng là chuyện rất phổ biến… và còn nhiều câu chuyện “thật như đùa” như vậy lắm, đúng là “kể đến sáng cũng chưa hết”…
            Trong lịch sử cải lương Nam Bộ từ gần một thế kỉ nay, thật sự khó mà tìm được một nghệ sĩ được khán giả nông thôn ái mộ đến mức như thế. Giải thích nguyên nhân thì có nhiều lắm: có người cho rằng do giọng ca Lệ Thủy chân phương, mộc mạc nên dễ tiếp cận người nông thôn, có người lại bảo là do Lệ Thủy có một vẻ đẹp rất bình dị, lại có một lối sống bình dân nên được bà con thương mến… Ai cũng có lý riêng của mình, nhưng để giải thích đến nơi đến chốn một sự ái mộ “đến khó hiểu” như vậy thì thật là không thể, chỉ còn biết bảo rằng: “cái duyên sân khấu” của Lệ Thủy quá lớn, cô đã được tổ nghiệp ưu ái và đã đền đáp cho sự rèn luyện, cống hiến của cô bằng phần thưởng cao quý đó, một phần thưởng mà “có vàng cũng không mua được”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120829-nghe-si-le-thuy-thinh-sac-luong-toan

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #39 vào: 05/06/2017, 14:45:01 »
Tấn Tài: Vị hoàng đế có giọng ca liêu trai

Sân khấu cải lương thời hoàng kim đã tạo nên một phong trào “trăm hoa đua nở” với sự thành danh của nhiều nghệ sĩ bậc thầy. Cái đặc sắc nhất của các nghệ sĩ thuộc thế hệ này, là dù tất cả đều hay, đều nổi tiếng, đều được khán giả ái mộ, nhưng lạ thay, từ giọng ca đến phong cách biểu diễn, không ai trùng lắp với ai.

Giọng ca Tấn Tài để đời với Hận Kinh Kha và Phạm Lãi biệt Tây Thi

ĐẶC BIỆT là giọng ca, khi nghệ sĩ vừa cất giọng, dù chưa nhìn thấy mặt, thì người mộ điệu cũng lập tức biết ngay đó là giọng ca của nghệ sĩ nào. Trong những giọng ca đặc sắc đó có giọng ca liêu trai của “Hoàng đế đĩa nhựa” Tấn Tài. Với giọng ca ngọt nhẹ và kiểu nhấn nhá rất đặc trưng, giọng ca Tấn Tài đã tạo được một trường phái ca cổ riêng trong làng sân khấu cải lương. Đến giờ phút này, giọng ca và lối ca của Tấn Tài vẫn thuộc hàng “độc bộ thiên hạ”.

Nhà giáo mê nghiệp cầm ca
            Nhắc đến Tấn Tài, trước tiên là nhắc đến một người có tâm hồn yêu cải lương tha thiết, đến mức mà bỏ cả nghề giáo để theo nghiệp cầm ca. Nghệ sĩ Tấn Tài tên thật là Lê Tấn Tài, sinh năm 1938 tại xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, tỉnh An Giang. Cha mẹ ông làm nghề buôn bán. Sau khi thi đậu trung học đệ nhất cấp ở An Giang, ông ra làm thầy giáo dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu. Khi ấy, ông thường xuyên tham gia đờn ca tài tử. Sân chơi tài tử ấy đã làm cho ngọn lửa yêu cải lương ngày càng bùng lên dữ dội trong lòng nhà giáo trẻ. Thế là vào năm 1959, ông khăn gói lên Sài Gòn theo gánh hát. Gia đình đã nhiều lần đến bắt ông về, nhưng ông vẫn quyết chí theo đuổi nghiệp cải lương.
            Trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, cái nghề ca hát dù được nổi danh, dù kiếm được nhiều tiền, nhưng vẫn còn phải hứng chịu cái quan niệm cổ hủ “Xướng ca vô loài”. Trong khi đó, thì từ bao đời nay, nhà giáo luôn được xã hội quí trọng dù nghèo khổ về bề vật chất. Thế mới thấy quyết định bỏ nghề giáo theo nghiệp cầm ca của Tấn Tài quả là một quyết định táo bạo, cho thấy cái lòng yêu cải lương của Tấn Tài mới mãnh liệt làm sao! Chẳng bao lâu khi rời quê lên Sài Gòn, nhà giáo trẻ ngày nào đã trở thành anh kép chánh Tấn Tài, được các đoàn cải lương và các hãng đĩa lớn săn đón, được khán giả mến mộ.

Anh kép không biết kén đào
            Nghệ thuật cải lương có một điều kì diệu, đó là “cái duyên sân khấu”. Trong nghề hát ca, không phải nghệ sĩ tài năng nào cũng được nổi tiếng, cũng được mến mộ. Sự yêu ghét của khán giả dành cho một nghệ sĩ thật không thể lí giải được theo lô gích thông thường, mà khi một nghệ sĩ được thành công, tức được khán giả yêu mến thì người ta cho rằng nghệ sĩ đó “có duyên sân khấu” và “được tổ đãi”. Trên thực tế, có nhiều trường hợp nghệ sĩ có tài có sắc thật sự, nhưng rốt cuộc lại không được nổi danh bằng chị bằng em, đành phải chấp nhận số phận và tự nhủ là “tổ nghiệp không thương”, tức thiếu “cái duyên sân khấu”.
            Bên cạnh đó, “cái duyên sân khấu” còn có thể được hiểu là “cái duyên đóng cặp” của một đôi nghệ sĩ trên sân khấu. Không phải đào kép nào đóng cặp cũng được khán giả đón nhận. Có khi cả đào lẫn kép đều là nghệ sĩ tài năng, nổi tiếng, nhưng “không có duyên diễn chung”, cho nên dù cố gắng đóng cặp cũng không tạo được dấu ấn trong lòng khán giả.
            Về vấn đề này, có lẽ Tấn Tài là một trường hợp ngoại lệ bởi ông được mệnh danh là “Kép không kén vai nữ”. Năm 1964, Tấn Tài là kép chánh của đoàn Dạ Lý Hương bên cạnh Cải lương chi bảo Bạch Tuyết. Có thể nói đây là một trong những đôi bạn diễn thành công nhất của sân khấu cải lương, từ sự tương đồng về giọng ca, cách nhả chữ, đến nghệ thuật biểu diễn điêu luyện. Ngoài Bạch Tuyết, Tấn Tài còn đóng cặp thành công với nhiều nữ diễn viên cải lương gạo cội khác như Út Bạch Lan, Thanh Nga, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Mộng Tuyền, Mỹ Châu…
            Không chỉ thành công trong các vở tuồng xã hội, mà Tấn Tài còn để đời với nhiều vai diễn kiếm hiệp đặc sắc. Có lẽ do xuất thân nhà giáo, nên cái nét chững chạc cũng đeo bám anh trên sân khấu. Tấn Tài có một lối diễn đơn giản mà chững chạc, diễn mà như không diễn, không quá ồn ào cũng không quá trầm lặng. Nói chung, anh diễn rất tiết độ với biểu hiện vừa đủ cho tâm trạng nhân vật. Cách diễn này tưởng dễ mà quá ra lại rất khó, bởi nó đòi hỏi người nghệ sĩ không được ỷ lại vào tài năng để hát cương, mà phải nghiên cứu kỹ lưỡng nhân vật để điều tiết cách ca diễn cho vừa đủ. Lối diễn này có vẻ đang thiếu ở thế hệ nghệ sĩ cải lương hiện tại, bởi có người thì không chịu nhập vai nên cái tính “giả bộ”, cái tính “đóng cải lương” lộ rõ trên sân khấu, có người nhập vai nhưng lại thể hiện thái quá tâm lí nhân vật.
            Trong vô số vở cải lương có Tấn Tài tham gia biểu diễn, có lẽ Chuyện Tình An Lộc Sơn là vở diễn minh chứng rõ ràng nhất cho đỉnh cao nghệ thuật ca diễn của Tấn Tài. Bên cạnh Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga trong vai Dương Quí Phi, Tấn Tài thể hiện vai An Lộc Sơn một cách xuất thần, cả về diễn xuất lẫn kỹ thuật ca. An Lộc Sơn của Tấn Tài là một vị võ tướng uy phong lẫm lẫm, nhưng khi yêu thì trở nên rất dịu dàng và yêu say đắm. Tấn Tài đã tạo ra một An Lộc Sơn rất lịch lãm trong tình yêu, nhưng cũng rất thiện chiến trên sa trường. Cách biểu diễn của Tấn Tài đã khiến cho người xem không thấy rằng An Lộc Sơn yêu Dương Quí Phi một cách mù quáng đến mức phải khởi binh tạo phản, mà là một An Lộc Sơn được khán giả cảm thông bởi vì đã sẵn sàng đánh đổi tất cả nhằm bảo vệ tình yêu chân thật của mình. Đến hiện tại, vai An Lộc Sơn của Tấn Tài vẫn chưa thấy có người thay thế xứng tầm.

Một giọng hát liêu trai
            Nhắc đến Tấn Tài là nhắc đến một giọng ca “lạ”, và đến hiện tại giọng ca này vẫn thuộc loại “độc bộ thiên hạ”. Xuất thân là nhà giáo, nên ông rất nghiêm túc trong mọi việc. Mỗi nhân vật, mỗi lời ca ông đều tìm hiểu kỹ lưỡng, bởi thế ông biết nhấn nhá, luyến láy đúng nơi đúng chỗ, biết chọn “vuốt” những từ cần thiết để khơi dậy xúc cảm của khán giả.
            Về mặt này, soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá nhận định: “Tấn Tài xuất thân là một nhà giáo nên cách ca và luyến láy của anh đầy tính văn học. Chính anh đã góp phần làm sang trọng thêm bài vọng cổ. Về kỹ thuật ca, người trong nghề nói vui với nhau rằng, Tấn Tài ca dường như muốn đùa giỡn với dàn đờn. Bởi người nghệ sĩ phải nắm vững niêm luật, cách chơi mới dám đùa giỡn với nhịp. Nghe anh Tấn Tài ca cứ tưởng anh sẽ bị rớt nhịp và dàn đờn sắp vớt anh, thế mà không bao giờ anh rớt. Nghe anh ca vọng cổ vì thế mà sướng trong sự cảm nhận, bởi chất nam tính trầm hùng, chất lãng mạn liêu trai như quyện chặt vào bài vọng cổ”.
            Tấn Tài có một làn hơi rất riêng khiến người nghe không thể nhầm lẫn với bất kì giọng ca nào khác. Lối ca của Tấn Tài vừa ngọt, vừa cao, vừa nhẹ. Cái mà khán giả dễ nhận ra nhất ở Tấn Tài đó chính là cách ông “nhấn kéo dài”những chữ mang dấu sắc nói riêng và cách ông “vuốt” những chữ mang thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) nói chung. Ông thả hơi cho những chữ này rất nhẹ và “mỏng như lá lúa”. Ví dụ như ba tiếng “Thái Chân ơi” mà ông ca trong vở Chuyện tình An Lộc Sơn, ông ca thành “Th… á… i… (thả hơi)… Chân ơi”. Tức thay vì ca liên tục ba chữ như những người khác, Tấn Tài kéo dài chữ “Thái” và ca liên tục hai chữ còn lại. Khi ông kéo dài, giữa chữ “Thái” và chữ “Chân” không đứt quãng hẳn, mà vẫn còn được kết nối bằng một làn hơi thật mỏng, và chính cái làn hơi thật mỏng này là nét rất riêng của Tấn Tài.
            Hay như trong bài vọng cổ Hận Kinh Kha, trong câu thơ nói lối: “Tân khách muôn người lệ chứa chan”, Tấn Tài đã xử lí bằng cách ca kéo dài giữa hai chữ “chứa” và “chan”, khiến cho giữa hai chữ này chỉ còn tồn tại một làn hơi thật mỏng, thật nhẹ, và thật độc đáo. Hoặc như trong bài Bên rặng ô môi, đoạn vô vọng cổ câu một: “Bến nước năm xưa chỉ còn cội đa già chơ vơ rũ bóng”, Tấn Tài cũng vuốt mỏng hai chữ “Bến… nước” thật ngọt ngào. Ngay cả trong lòng bản ca vọng cổ, Tấn tài cũng có cách vuốt rất nhẹ, rất mỏng, có thể nói là một kiểu vuốt “đứt dây đờn”.
            Làn hơi mỏng đó kết hợp với giọng hát “nhẹ bổng” đã tạo thành một lối ca “rất mỏng” và “rất nhẹ”, mỏng và nhẹ đến mức mà nó có thể len lỏi một cách dễ dàng vào tận cùng sâu thẳm con tim người mộ điệu. Nghe Tấn Tài ca, ta không hề thấy người ca phải “ca ráng hơi”, mà ta lại có cảm giác là ông ca rất nhẹ nhàng, bởi vậy người nghe cũng tìm được cái cảm giác nhẹ nhàng, mới thật sự được “sướng cái lỗ tai”. Nghe Tấn Tài ca, ta có cảm giác như tiếng ca đang văng vẳng từ xa nhưng lại rất gần ở đâu đó, thật đúng là một giọng hát “liêu trai”.

Nhà giáo làng lên ngôi “Hoàng Đế”
            Hồi những thập niên 60 của thế kỷ trước, giọng ca Tấn Tài đã làm khuynh đảo thị trường băng đĩa cổ nhạc ở Sài Gòn, nhiều hãng đĩa lớn tranh nhau mời Tấn Tài thu âm. Được biết, khi ấy mỗi ngày ông thu khoảng 5-6 bài, thù lao cho mỗi bài khi ấy tương đương một lượng vàng. Chỉ tính từ năm 1962 đến 1975, ông đã thu âm khoảng 1.000 bài vọng cổ và chừng 500 trăm vở cải lương lớn nhỏ. Đó là một con số kỷ lục mà cho đến nay chưa có nghệ sỹ nào vượt qua. Thành quả nghệ thuật đó cũng chính là nguyên nhân để khán giả và báo giới Sài Gòn khi ấy phong tặng Tấn Tài danh hiệu “Hoàng đế đĩa nhựa”.
            Năm 1963, khi về cộng tác với đoàn Thủ Đô, với vai Điệp Nhứt Lang trong vở Cát Dung Phương Tử của soạn giả Thiếu Linh, Tấn Tài đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm (cùng năm với các nghệ sỹ Diệp Lang, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Mộng Tuyền và Trương Ánh Loan), một giải thưởng danh giá nhất của sân khấu cải lương tính đến hiện tại. Năm 2011, trên bầu trời nghệ thuật cải lương Nam Bộ, một trong những ngôi sao sáng nhất đã vụt tắt khi nghệ sĩ Tấn Tài vĩnh biệt người mộ điệu ở tuổi 74.
            Ông mất đi, nhưng để lại cho đời nhiều vai diễn ấn tượng, đặc biệt là một giọng hát liêu trai “độc nhất vô nhị”. Với tất cả những gì ông thể hiện trên sân khấu cải lương, nhất là trong các bài vọng cổ, ta có thể mạnh dạn nói rằng, Tấn Tài là một trong những giọng ca hàng đầu góp phần khẳng định rằng: “ca vọng cổ” không chỉ đơn giản là “ca”, mà đó là cả “một nghệ thuật có tính hàn lâm”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120822-tan-tai-vi-hoang-de-co-giong-ca-lieu-trai

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #40 vào: 07/06/2017, 08:37:35 »
Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu

Dù ghiền hay không ghiền vọng cổ, ở miền Nam hễ nhắc đến vọng cổ thì người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán Chiếu, tới Út Trà Ôn và tới Viễn Châu. Đây là một bài ca ngoại hạng của làng vọng cổ, ngoại hạng vì nó được xem như bài phổ biến nhất trong tất cả các bài vọng cổ, và đặc biệt là vì bài ca này đã đưa hai người lên ngôi báu: “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn” và “Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu”.

Nghệ sĩ Út Trà Ôn và soạn giả Viễn Châu

SOẠN GIẢ Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Ông thành thạo từ nhỏ đàn tranh và đàn guitar phím lõm, đặc biệt tuyệt kỷ đàn tranh của ông đã được xem là độc nhất vô nhị, và đến hiện tại chưa có người thế nổi. Nếu với nghệ danh Bảy Bá ông được xem là nhạc sĩ bậc thầy, thì với nghệ danh Viễn Châu ông đã leo lên ngôi báu với vương hiệu là “Vua viết lời vọng cổ”.

Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu
            Tài năng đo ni đóng giày của ông cũng xếp hàng thượng thừa, vì nhờ những bài vọng cổ của ông mà rất nhiều nghệ sĩ thời vàng son của cải lương đã thành danh như: Út Bạch Lan, Thanh Hương, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Minh Cảnh, Thanh Sang, Phương Quang, Minh Vương…
            Viễn Châu là một soạn giả cổ nhạc hi hữu. Hi hữu vì đến hiện tại ông đã là tác giả của gần 70 vở cải lương lớn nhỏ và trên dưới 2000 bài vọng cổ, lập kỷ lục chưa ai phá nổi trong làng sân khấu cải lương! Hi hữu là vì khán giả cải lương xưa nay có thói quen là chỉ quan tâm đến nghệ sĩ, tên tuồng hay tên bài ca mà ít quan tâm đến tên soạn giả, thậm chí nghệ sĩ biểu diễn có khi còn không biết mình đang ca bài của soạn giả nào, ấy vậy mà người mộ điệu cải lương Miền Nam từ già đến trẻ ai mà không biết soạn giả Viễn Châu!
            Nếu soạn giả Viễn Châu là hi hữu thì bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu của ông lại càng hi hữu. Hi hữu vì Viễn Châu có đến 2000 bài vọng cổ, ấy thế mà khi nhắc đến Viễn Châu là người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán chiếu. Hi hữu là vì bài ca này không chỉ làm bất tử tên tuổi của ông, mà còn đưa vào huyền thoại người được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn”.

Lãng du cùng Tình Anh Bán Chiếu
            Bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu có nội dung đơn giản. Bài ca là tâm sự của một thanh niên đến từ Cà Mau làm nghề bán chiếu, khi ghe chiếu anh cặp bến ở Ngã Bảy Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang, anh được một cô gái đặt làm đôi chiếu, được cô dẫn vào tận phòng riêng để đo ni chiếc giường. Thời gian trôi qua, khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang. Cô sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ, và anh cảm thấy tủi cho thân phận bán chiếu của mình.
            Có nhiều câu chuyện được thêu dệt xung quanh chuyện tình anh bán chiếu. Có người còn mạnh dạn cho rằng, soạn giả Viễn Châu một lần nọ khi ghé qua Ngã Bảy Phụng Hiệp đã gặp anh bán chiếu thất tình, ông đến trò chuyện và biết được câu chuyện tình dở dang của anh nên đã viết nên bài ca Tình Anh Bán Chiếu. Thế nhưng, theo soạn giả Viễn Châu, thì vào năm 1959, nghệ sĩ Út Trà Ôn về ký hợp đồng với hãng dĩa Hồng Hoa. Bà chủ hãng đĩa mới đề nghị Viễn Châu viết gấp một bài đặc biệt cho Út Trà Ôn ca với mục đích là “làm náo động thị trường”.
            Viễn Châu tìm trong trí nhớ và nhớ ra có một lần ông đi từ Bạc Liêu về Sài Gòn, tới khu chợ nổi Phụng Hiệp thì xe hơi bị chết máy, phải đậu lại sửa, khi ngồi nghỉ, Viễn Châu chợt thấy một anh chàng tay ôm đôi chiếu bông đứng mệt nhọc giữa trưa nắng như chờ ai trước một căn nhà đóng kín, xa xa lại có một đám cưới. Hình ảnh đó đã gây ấn tượng mạnh trong lòng một nghệ sĩ đầy cảm xúc như Viễn Châu và ông đã hóa thân thành anh bán chiếu nọ để được yêu, được tâm sự. Thế là bài ca Tình Anh Bán Chiếu đã ra đời.
            Nội dung bài ca khá đơn giản. Có người còn cho rằng, khi nghe kỹ rõ ràng thấy tình tiết câu chuyện phi lý, vì anh bán chiếu có cớ gì để thất tình, anh và cô gái nọ chưa từng hò hẹn với nhau mà chỉ là quan hệ người bán chiếu và người đặt mua chiếu mà thôi. Thế thì tại sao bài ca lại đi sâu vào lòng người đến thế? Lại được người mộ điệu say mê đến thế? Đến mức trở thành bài vọng cổ được phổ biến nhất đến thế? Đến mức làm bất tử tên tuổi hai ông vua của làng cổ nhạc Miền Nam đến thế?
            Câu trả lời có lẽ trước tiên nằm ở cái gọi là “tâm hồn nghệ sĩ”. Tình yêu vốn không có qui luật nên yêu đơn phương cũng không có qui luật, mà tình yêu của nghệ sĩ lại càng không có qui luật. Tâm hồn nghệ sĩ vốn dễ xao động và dễ đồng cảm với những cung bậc hỉ nộ ái ố của cuộc đời, huống chi đối với một nghệ sĩ lớn như Viễn Châu, với 2000 bài ca và được người mộ điệu yêu thích, thì thử hỏi cái tâm hồn nghệ sĩ đó ở Viễn Châu nó mới “mong manh” đến dường nào.
            Còn nói về nội dung thì chính cái nội dung đơn giản của bài Tình Anh Bán Chiếu đã khiến nó dễ dàng đi vào lòng người, nhất là người miền sông nước Nam Bộ vốn mộc mạc và giàu tình cảm. Có một điều ta có thể khẳng định chắc chắn rằng, một bài ca muốn được người mộ điệu yêu thương và ghi nhớ đòi hỏi trước hết phải “chạm” được cảm xúc của người mộ điệu, tức phải tìm được sự đồng cảm của người mộ điệu, nói cách khác là người nghe tìm được chính mình trong bài vọng cổ. Sự phổ biến “kỳ lạ” của Tình Anh Bán Chiếu suốt hơn nửa thế kỉ nay là một minh chứng hùng hồn rằng Viễn Châu đã “chạm” được cảm xúc của người Nam Bộ, tức đến cái tính mộc mạc trong cuộc sống đời thường nhưng không kém “sự dạt dào cảm xúc” trong tình yêu đôi lứa.

Vua ca vọng cổ – Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn
            Út Trà Ôn sinh năm 1919 tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ mười trong gia đình và cũng là cuối cùng, tức thứ Út theo cách gọi của người Nam Bộ. Năm 1937, ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh là Út Trà Ôn, một kiểu lấy tên vừa để nhớ gia đình vừa để nhớ quê hương Trà Ôn của ông.
            Xuất thân nhà nghèo nông thôn, Út Trà Ôn bắt đầu một sự nghiệp lẫy lừng trên sân khấu cải lương từ năm 18 tuổi. Cách diễn xuất của ông mộc mạc, chân phương, lại là người rất khó tính trong nghề, luôn có chí cầu tiến học hỏi, bởi vậy ông là một bậc thầy trong diễn xuất. Vỡ tuồng ghi đậm dấu ấn nhất trong lòng người mộ điệu là vỡ “Tuyệt Tình Ca” ông đóng cặp với Sầu nữ Út Bạch Lan, Bạch Tuyết và Thanh Sang thì đóng vai hai đứa con là Trường An và Long Hồ.
            Lớp ca diễn để đời là lớp ông tái ngộ vợ hiền sau nhiều năm xa cách, Út Trà Ôn ca với Út Bạch Lan ba câu vọng cổ, đây là ba câu vọng cổ để đời của hai nghệ sĩ bậc thầy này. Út Trà Ôn mở đầu bằng 4 câu nói lối như sau: “Tôi đứng đây tưởng chừng như đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, lúc mình quay xuồng trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn, con nước lớn lục bình trôi rời rạc”, Cải lương chi bảo Bạch Tuyết nhận xét: khi nghe ông ngâm đoạn này, cô cảm thấy được ngay trước mắt cảnh rời rạc của lục bình trôi trên sông Mỹ Thuận. Quả thật như vậy, đúng là ông đã đưa trọn tình cảm và nghệ thuật ca cổ thượng thừa vào lời ca để nó trở nên truyền cảm một cách thần sầu đến như vậy.
            Ấy thế nhưng khi nhắc đến Út Trà Ôn người mộ điệu nghĩ ngay đến cái tài ca vọng cổ của ông, một giọng ca và một cách ca mà đến hiện tại vẫn chưa có người kế tục xứng đáng. Năm 1960, ký giả Trần Tấn Quốc, người lập giải Thanh Tâm danh giá cho sân khấu cải lương, đã mở cuộc thăm dò ý kiến độc giả, và Út Trà Ôn đã được chọn là “Đệ nhất danh ca”. Báo chí, đồng nghiệp và người mộ điệu phong cho ông là “Vua ca vọng cổ”. Danh hiệu “đệ nhất danh ca” thì dù đã có đôi lần báo chí sau này tổ chức bầu chọn cho những nghệ sĩ thế hệ sau ông, nhưng đến hiện tại hễ nhắc đến “Đệ nhất danh ca” thì không hiểu sao người ta lại nghĩ ngay đến Út Trà Ôn.
            Còn cương vị “Vua ca vọng cổ” thì hầu như vẫn nghiễm nhiên được người mộ điệu dành cho Út Trà Ôn.
            Đi vào kỹ thuật ca, ta thấy Út Trà Ôn có giọng đồng, trầm. Kiểu ca và giọng ca của ông đã được xếp thành một trường phái ca vọng cổ riêng và luôn được xếp hàng đầu khi có người tìm hiểu về các trường phái ca vọng cổ. Ông được xếp đầu cũng đúng thôi vì trước Út Trà Ôn rõ ràng chưa có giọng ca nào được nổi danh như ông. Út Trà Ôn cũng chính là nghệ sĩ tiên phong trong việc phổ biến vọng cổ nhịp 32, một bài bản phổ biến nhất hiện nay.
            Út Trà Ôn ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ” đúng chất tài tử, phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Đây là trường phái ca mẫu mực, không lạng bẻ, kiểu cọ. Giọng ca này hoàn toàn tương thích với bản chất của bài vọng cổ là “tự sự”, là “chân phương hoa lá”. Nghe Út Trà Ôn ca ta không cần nhìn ông diễn cũng có thể cảm nhận được rõ ràng sắc thái tình cảm mà người viết gửi gắm, người nghe không còn chú ý đến nhịp nhàng tới câu mấy nữa, mà bị ru hồn bởi nội dung bài hát mà ông “tự sự” và bởi kỹ thuật ca điêu luyện, cách xấp chữ và ca chẻ nhịp độc nhất vô nhị.
            Thế hệ sau cũng có nhiều người theo trường phái ca này, nhưng để gọi là kế thừa xứng đáng thì quả thật chưa có ai. Soạn giả Viễn Châu nhận xét về giọng ca Út Trà Ôn như sau: “Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm được tròn vành rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp… Nếu lắng nghe Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã chất chứa sự giàu có của làn hơi”.

Út Trà Ôn bất tử cùng Tình Anh Bán Chiếu
            Nếu nhắc đến Vọng Cổ lập tức người yêu thích hay không yêu thích cổ nhạc đều nghĩ ngay đến bài Tình Anh Bán Chiếu, mà hễ nhắc đến Tình Anh Bán Chiếu thì lập tức nghĩ đến Út Trà Ôn và Viễn Châu. Tên tuổi Út Trà Ôn trước khi đến với bài Tình Anh Bán Chiếu cũng đã có tiếng rồi, thế nhưng với bài Tình Anh Bán Chiếu thâu ở hãng dĩa Hồng Hoa, giọng ca Út Trà Ôn đã thật sự làm chấn động làng cổ nhạc, và bài ca này đã làm bất tử tên tuổi của ông.
            Sau Út Trà Ôn đã có nhiều nam nghệ sĩ thuộc hàng “đại gia” trong sân khấu cải lương ca lại bài Tình Anh Bán Chiếu, dù rằng mỗi người mỗi vẻ, mỗi người có cái hay riêng, thế nhưng không hiểu sao hễ nghe Út Trà Ôn ca Tình Anh Bán Chiếu thì người nghe mới thấy “đã cái lỗ tay”. Vì sao thế, có lẽ bởi vì giọng ca Út Trà Ôn là chân phương, buồn bã nên hoàn toàn thích hợp để thể hiện một bài vọng cổ chân phương buồn bã như Tình Anh Bán Chiếu, còn những kiểu ca lạng bẻ, kiểu cọ rõ ràng là không thích hợp với bài hát này. Nói cách khác, ta có thể tìm thấy tất cả những đặc trưng của giọng ca Út Trà Ôn qua Tình Anh Bán Chiếu.

Chiếu Cà Mau, Ngã Bảy Phụng Hiệp và Tình Anh Bán Chiếu
            Chỉ một bài vọng cổ chưa đầy mười phút nhưng đã đưa hai người lên “ngôi báu”, đồng thời còn làm bất tử một “người” khác đó là “chiếu Cà Mau”. Mới mở đầu bài ca Viễn Châu đã viết: “Chiếu Cà Màu nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu, chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm”. Ta bàn thêm một chút về “Chiếu Cà Mau” để hiểu rõ thêm bài Tình Anh Bán Chiếu.
            Xưa kia, tại làng Tân Thành (nay là xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau) đã hình thành làng chiếu Tân Thành, trải dài gần chục cây số dọc bờ sông Cái Nhúc bởi một số quân binh của vua Gia Long trên đường đi cầu Xiêm đã chán ghét chiến tranh, tìm đến lập nghiệp. Thời kỳ cực thịnh, chiếu Tân Thành đã vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh, ghe xuồng xuôi ngược trên dòng sông Cái Nhúc, lớp mang hàng ra chợ Cà Mau bỏ cho vựa, lớp xuôi về Ngã Bảy ra Phụng Hiệp, Phong Điền bán. Bởi vậy chiếu Tân Thành cũng là đại diện cho chiếu Cà Mau.
            Nhờ Tình Anh Bán Chiếu mà vùng Ngã Bảy Phụng Hiệp cũng trở nên nổi tiếng ngoài sức tưởng tượng, đến mức mà một lãnh đạo của Huyện Phụng Hiệp thốt lên: “Nhờ bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu mà Ngã Bảy Phụng Hiệp được nổi danh khắp vùng Nam Bộ”. Ngã Bảy Phụng Hiệp là một vùng kinh sáng thuộc huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang. Tại đây có Chợ Nổi Phụng Hiệp nổi tiếng được đề cập trong bài Tình Anh Bán Chiếu. Chợ Nổi Phụng Hiệp từng một thời là đầu mối giao thương lớn của miền cực nam, và hiện tại là một địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng đất này. Đây là một nơi giữa đồng quê sông nước đầy ấp phù sa dễ gây xúc cảm tâm hồn nghệ sĩ:

                       “Bảy sông dồn nước, cuồn cuộn nước
                        Phù sa lớp lớp, quyện phù sa”

                        (Ca dao)

            Và nhờ có Viễn Châu và Út Trà Ôn mà miền đất này bên cạnh phù sa trĩu nặng còn chất chứa thêm nỗi lòng của Tình Anh Bán Chiếu:

                       “Sông sâu bên lỡ bên bồi,
                        tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”

                        (Hai câu kết bài Tình Anh Bán Chiếu)

            Như vậy, ở Tình Anh Bán Chiếu, ta có thể tìm thấy trọn vẹn những tinh hoa trong làn hơi điêu luyện, cách ca chân phương với lối nhấn nhá chẻ nhịp thần sầu của Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, tìm thấy trọn vẹn lối viết vọng cổ đảm bảo được cái hồn “tự sự” của bản vọng cổ với bố cục rõ ràng khúc chiết, lời văn rất nên thơ và rất “vô khuôn” của Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu.
            Một bài ca vọng cổ chỉ có 6 câu với chưa đầy mười phút nhưng đã đưa người ca là nghệ sĩ Út Trà Ôn và người viết là soạn giả Viễn Châu lên “ngôi báu” và đã làm bất tử tên tuổi của hai ông cùng với nghề chiếu Cà Mau và Ngã Bảy Phụng Hiệp.
            Cái “liên danh” Tình Anh Bán Chiếu-Út Trà Ôn-Viễn Châu-Chiếu Cà Mau-Ngã Bảy Phụng Hiệp đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu cải lương nói chung và vọng cổ nói riêng. Bấy nhiêu thôi cũng đủ khằng định rằng, bài Tình Anh Bán Chiếu Xứng đáng là “Bài vọng cổ vua” của làng cổ nhạc Miền Nam.
            Ngày nay, số lượng bài ca vọng cổ ra đời nhiều vô kể, thế mà đa phần đều làm thất vọng người nghe. Trong khi đó, đến hiện tại, người yêu cổ nhạc ai mà không mê Tình Anh Bán Chiếu và giọng ca Út Trà Ôn. Điều đó khẳng định rằng, nếu biết khai thác cái chất tự sự, mộc mạc và chân phương của bản vọng cổ thì bản vọng cổ vẫn luôn có sức hút phi thường.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121124-tinh-anh-ban-chieu-bai-vong-co-vua

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #41 vào: 07/06/2017, 12:31:00 »
Đọc "Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu": Bài viết có nội dung khá hay, tiếc rằng trong bài có nhiều lỗi về từ ngữ.
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #42 vào: 09/06/2017, 12:11:42 »
Ngọc Giàu: Viên kỳ ngọc của làng sân khấu cải lương

Trong làng cải lương, mỗi nghệ sĩ có sở trường riêng: có người nổi tiếng với vai ác, có người chuyên trị vai hiền, có người thiên bẩm vai mùi, có người chỉ hợp với loại vai hài hước. Nhưng thỉnh thoảng có một vài nghệ sĩ thành công với hầu hết tất cả các loại vai. Trong đó, đứng đầu có lẽ là cô Ngọc Giàu, người được mệnh danh là “nghệ sĩ đa năng” của sân khấu cải lương.

Nghệ Sĩ Ngọc Giàu vai Phàn Lê Huê trong vở diễn Thần Nữ dưng Ngũ Linh Kỳ ở Pháp

NGHỆ SĨ Ngọc Giàu tên thật là Phong Thị Ngọc Giàu, sinh năm 1945, trong một gia đình lao động nghèo ở Thủ Thiêm (Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh). Ký ức tuổi thơ của Ngọc Giàu là những chuỗi ngày bần hàn, cơ cực. Mê ca hát nên những lúc rảnh rỗi cô bé Ngọc Giàu thường học ca vọng cổ qua đài phát thanh. Mới bảy, tám tuổi đầu, Ngọc Giàu đã phải đi làm thuê làm mướn, ca hát giúp vui để chủ bán hàng. Năm lên 9 tuổi, cô cùng anh trai mình gia nhập một nhóm sơn đông mãi võ nhào lộn, phụ bán thuốc để nuôi sống gia đình.
            Năm 12 tuổi, Ngọc Giàu bắt đầu xuất hiện trên sân khấu với vai tỳ nữ, ngâm thơ hậu trường. Sau đó một năm, Ngọc Giàu được đóng đào nhì rồi lên đào chánh. Năm 1958 là năm tạo mốc son cho sự nghiệp của Ngọc Giàu: cô được Vua Xàng xê Minh Chí giới thiệu cho hãng đĩa Asia nổi tiếng lúc bấy giờ (hãng đĩa Hồng Hoa sau này). Người viết bài ca cho Ngọc Giàu lần đó là “tổ sư đo ni đóng giày” Viễn Châu. Ông viết cho cô bé 14 tuổi Ngọc Giàu bài vọng cổ “Áo Tình Đắp Mộ Người Yêu”.
            Bài ca nhanh chóng chinh phục khán giả mộ điệu bốn phương, chinh phục cả đôi soạn giả cải lương hàng đầu lúc bấy giờ: Hà Triều-Hoa Phượng. Thế là Hà Triều-Hoa Phượng đã giới thiệu Ngọc Giàu về đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga để đứng chung sàn diễn với Nữ hoàng sân Khấu Thanh Nga. Từ đó, bước đường vinh quang của Ngọc Giàu bắt đầu rực rỡ.
            Có lẽ cái tuổi thơ gian khổ cùng với những tháng ngày gạo chợ nước sông, ăn quán ngủ đình, bôn ba tứ xứ cùng các đoàn hát đã giúp cho Ngọc Giàu có được nhiều trải nghiệm cuộc sống quý giá. Chính nhờ cái thực tế cuộc sống đó đã giúp cho vai diễn của Ngọc Giàu mang đậm dấu ấn của đời thường, và chính bởi Ngọc Giàu, mà đời thường đã bước lên sân khấu một cách rất tự nhiên.
            Đó chính là đặc trưng trong phong cách ca diễn của Ngọc Giàu: không quá “hoa lá cành”, không màu mè kiểu vẽ, mà rất chân thật, dung dị, và chính cái chân thật dung dị ấy đã khiến cho nhân vật trên sân khấu do Ngọc Giàu thể hiện trở nên gần gũi, dễ dàng nhận được sự đồng cảm của khán giả.
            Nói cách khác, Ngọc Giàu đã thành công trong việc vận dụng kinh nghiệm thực tiễn vào vai diễn. Với Ngọc Giàu, “cuộc đời sân khấu” và “sân khấu cuộc đời” đã quyện làm một. Bởi thế cô là một nghệ sĩ hiếm hoi của sân khấu cải lương có phong cách diễn đa dạng, thành công với nhiều loại vai. Trên thực tế, Ngọc Giàu đã có nhiều vai diễn để đời với đủ thể loại: đào mùi, đào lẳng, đào hài, giả trai, giả lão…
            Trong nghệ thuật ca diễn, diễn quá mức cũng không hay, mà đứng chết bộ lại càng dở. Bởi thế, các bậc thầy trong giới cải lương thường khuyên là: “Đã bước ra sân khấu thì phải diễn, nhưng mà đừng có diễn”. Tức là, khi bước ra sân khấu thì phải diễn xuất, nhưng hãy cố gắng diễn sao cho thật tự nhiên đến mức như là không có diễn: Ngọc Giàu đã đạt được trình độ diễn xuất đó.

Thị Lộ, Đào mùi
            Trong số vô vàn các vai đào mùi mà Ngọc Giàu thể hiện, thành công nhất có lẽ là vai Thị Lộ trong Rạng Ngọc Côn Sơn và vai Phàn Phụng Cơ trong vở tuồng San Hậu. Hình tượng Thị Lộ của Ngọc Giàu trong Rạng Ngọc Côn Sơn, bên cạnh nghệ sĩ Minh Vương trong vai Nguyễn Trãi, thật gần gũi và dễ cảm.
            Lớp diễn hay nhất là lớp tâm tình của Nguyễn Trãi và Thị Lộ trong tưởng tượng của bà sau vụ án Lệ Chi Viên, khi bà đang bị giam cầm trong ngục thất. Chỉ với hai tiếng “Đại phu!” thật ngọt ngào chậm rãi, Ngọc Giàu đã khiến cho con tim người nghe không khỏi ngậm ngùi, quặn thắt. Rồi khi hồi tưởng buổi sơ ngộ với Nguyễn Trãi, đáp lại bài thơ thất ngôn tứ tuyệt qua giọng ngâm của Nguyễn Trãi – Minh Vương:

                        “Ả ở nơi nào bán chiếu gon
                        Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
                        Xuân xanh phỏng độ bao nhiêu tuổi
                        Đã có chồng chưa? Được mấy con?”


            Thị Lộ – Ngọc Giàu đáp lại:

                        “Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
                        Can chi ông hỏi hết hay còn
                        Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ
                        Chồng còn chưa có, hỏi chi con!”


            Ngọc Giàu có giọng thổ thâm trầm, lại có chút hơi hướng Huế, nên cô đã ngâm bốn câu thơ đáp lời nói trên một cách “ngọt lịm”, êm như ru vậy. Bên cạnh đó, Ngọc Giàu đã chọn cách ngâm bài thơ không quá ướt át bi lụy, mà vừa có chút lãng mạn hòa với nỗi u buồn.
            Đó là một cách diễn tinh tế, bởi nó thể hiện rất lô-gích tâm trạng của Thị Lộ đang ở trong tù, đau buồn vì toàn gia Nguyễn Trãi lâm tai kiếp, nhưng đoạn đối đáp trên thật sự là một kỷ niệm tình yêu tuyệt đẹp, đã khắc sâu vào tâm trí của Thị Lộ và Nguyễn Trãi, nên nó không thể nào không mang chút lãng mạn cho được!
            Đến với vai Phàn Phụng Cơ trong vở tuồng San Hậu. bên cạnh nghệ sĩ Thanh Nga trong vai Nguyệt Kiểu, Ngọc Giàu đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật ca diễn. Khi nghe Ngọc Giàu và Thanh Nga ca trong vở tuồng này, Người mê cải lương ắt hẳn không thể nào không thốt lên: “Nghe đã làm sao!”

Bà Hai Hương – Vai Lão
            Ngọc Giàu bắt đầu vào vai lão khi mới 15 tuổi và đã để đời với nhiều vai lão. Hình tượng lão bà của Ngọc Giàu rất đôn hậu, chân thật, gần gũi. Vai lão ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng khán giả của Ngọc Giàu là vai bà Tư trong vở Bông Hồng Cài Áo. Ngọc Giàu đã để đời trong vai một người mẹ suốt đời tần tảo nuôi con. Ấy vậy mà hai đứa con của bà đã không hiểu được nỗi lòng người mẹ nên bỏ về ở với bà Nội giàu sang.
            Để rồi ngày lại ngày, với gánh chè nặng trĩu trên vai, người mẹ ấy lại đến len lén nhìn con cho đỡ nhớ. Cái dáng đi chầm chậm, lầm lũi của người mẹ Ngọc Giàu cùng với tiếng rao hàng nghẹn ngào đứt quãng đã khiến cho khán giả… khóc lúc nào cũng không biết.
            Khán giả vẫn mãi thổn thức với câu vọng cổ mà người mẹ Ngọc Giàu tâm sự cùng hai con khi đến từ giã chúng lên đường về quê ẩn cư: “Nhớ hồi chúng còn bé, mình cho chúng cục kẹo chúng cũng mừng, đi đâu chúng cũng đòi theo. Còn bây giờ mình cho chúng cả cuộc đời chúng cũng không thèm nhận. Và sắp đi một chuyến không về nữa, mà chúng cũng chẳng thèm để ý và không muốn được cùng theo”. Ngọc Giàu không ca hết nguyên câu dài, mà chọn cách ca đứt quãng thành từng đoạn ngắn, ấy như tiếng nấc, tiếng nghẹn ngào, thể hiện một nỗi lòng quặn thắt, nhưng phải cố kiềm nén trước mặt các con để cho chúng bớt phần ái ngại và lo lắng.
            Với cách diễn không ồn ào, không khóc than thảm thiết, mà trái lại rất thâm trầm, chủ ý là để cho khán giả cảm nhận được từ nơi nhân vật sự uất nghẹn trong tâm hồn, sự quặn thắt con tim, cảm nhận được vô vàn giọt lệ đau thương đang ồ ạt chảy về tim, để rồi khán giả khóc cùng Bà Tư Ngọc Giàu lúc nào cũng không hay, để đến khi thấy lòng mắt cay cay, thì khán giả mới chợt nhận ra dòng lệ của mình đang lăn dài trên má để đồng cảm với Bà Tư Ngọc Giàu trên sân khấu. Đó chính là “tuyệt chiêu” lấy nước mắt khán giả của Ngọc Giàu.
            Cũng không thể không nhắc đến vai bà Hai Hương trong vở cải lương Đời Cô Lựu. Cải Lương Chi Bảo Bạch Tuyết từng nhận xét về vai diễn này của Ngọc Giàu như sau: “Vai Bà Hai Hương trong Đời cô Lựu là một chuẩn mực của nghệ thuật ca diễn Ngọc giàu. Chất đôn hậu, chân chất mà dí dỏm được thể hiện cả trong đường kim mũi chỉ, cho đến cái dáng điệu lúi húi, nụ cười thật thà mà chua chát, bàn tay run rẩy tìm cho ra chai dầu xanh”.

Hoạn Thư, Đào độc
            Nhắc đến Ngọc Giàu, người mộ điệu cải lương còn nhớ đến những vai diễn “vô cùng đáng ghét”, tức những vai đào độc. Ngọc Giàu đã đưa nhân vật Hoạn Thư từ trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du bước lên sân khấu cải lương một cách tuyệt diệu. Dường như đến giờ phút này, chưa nghệ sĩ nào đóng vai Hoạn Thư đạt đến trình độ diễn xuất của Ngọc Giàu.
            Hoạn Thư – Ngọc Giàu đã cho khán giả “Tận mục sở thị” thế nào là “Bề ngoài phơn phớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Vai diễn Hoạn Thư của Ngọc Giàu thành công đến mức có lúc khán giả ngồi bên dưới quên mình đang xem cải lương, nên đã ném giày dép vào cô Hoạn Thư – Ngọc Giàu trên sân khấu.
            Ngọc Giàu đã khắc họa nhân vật này một cách rất tinh tế: không ồn ào trong cách diễn nhưng lại vô cùng khốc liệt trong diễn biến tâm trạng. Ngọc Giàu đã để cho nhân vật Hoạn Thư khóc khi nghe Thúy Kiều và Thúc Sinh hát đối đáp Chiêu Quân Khúc với nhau. Giọt nước mắt âm thầm lặng lẽ ấy của Hoạn Thư – Ngọc Giàu đã bộc lộ được nỗi đau đớn tột cùng trong một tâm hồn rất ư là… phụ nữ.
            Đến lúc đó, khán giả mới bắt đầu cảm thấy thương cho số phận của người vợ Hoạn Thư phải chịu cảnh chồng chung. Đến lúc đó khán giả mới chợt hiểu ra rằng: “Ghen tuông vốn chuyện người ta thường tình”. Lối diễn xuất này đã góp phần làm cho cải lương trở nên chân thật, gần gũi hơn với cuộc sống, một cách diễn đến hiện tại trong làng cải lương hiếm có nghệ sĩ thể hiện được trọn vẹn.
            Một vai đào độc nữa không kém phần đặc sắc đó là vai Hoàng Hậu Thượng Dương trong vở cải lương Câu Thơ Yên Ngựa. Vở tuồng kể lại việc giặc Tống sang xâm lấn nước ta, võ tướng Lý Thường Kiệt lo trấn thủ biên cương, văn quan Lý Đạo Thành lãnh nhiệm vụ lo bề chính trị trong nước, dưới sự nhiếp chính của thái hậu Ỷ Lan. Trong bối cảnh ấy, tức giận vì mất ngôi thái hậu, hoàng hậu Thượng Dương đã cấu kết với gián điệp phương Bắc để phá rối triều đình. Ngọc Giàu thủ vai này xuất sắc, khiến cho người xem “không ghét cũng không được”.
            Độc đáo nhất là đoạn khi âm mưu bại lộ, giữa trào đình, Lý Đạo Thành đề nghị xử tội chết, thái hậu Ỷ Lan thì đang phân vân, lúc đó Thượng Dương – Ngọc Giàu nài nỉ van xin thái hậu tha chết, nhưng qua ánh mắt, giọng nói, Thượng Dương – Ngọc Giàu đã cho khán giả thấy rằng: Ôi, đó là một vị hoàng hậu thâm hiểm đến mức không thể nào thâm hiểm hơn được nữa!

Đại náo làng hài
            Nhắc đến Ngọc Giàu còn nhắc đến một tài năng hài kiệt xuất. Ngọc Giàu bắt đầu đến với hài vào năm 1984 khi lần đầu tiên cải lương Việt Nam “đem chuông đi đánh xứ người” trên đất Pháp. Trong vở Đời Cô Lựu của cố soạn giả Trần Hữu Trang, Ngọc Giàu đã kiến trúc thành công một vai diễn để đời: Vai Cô Bảy Cán Vá.
            Số là trong nguyên tác của cụ Trần Hữu Trang, đây chỉ là vai người ở, một vai “vô cùng phụ”, chỉ chiếm có vài dòng trong kịch bản. Ngọc Giàu đã phải thủ vai bà Hai Hương, là một vai lão mùi, vậy mà cô đã xông xáo nhận luôn vai “con sen”. Cái vai phụ bé nhỏ ấy qua tay Ngọc Giàu bỗng nhiên không còn bé nhỏ nữa: Ngọc Giàu đã sáng tạo thêm cái tay cán vá cho nhân vật, cùng nhiều mảng miếng hài hước độc đáo khác.
            Chỉ mới trong màn trước với vai bà Hai Hương, Ngọc Giàu vừa lấy xong nước mắt khán giả, vậy mà ngay màn sau khán giả lại được một phen cười nghiêng ngã khi Cô Bảy Cán Vá – Ngọc Giàu đại náo trên sân khấu. Đạo diễn tuồng lúc bấy giờ là Nghệ sĩ Huỳnh Nga còn phải công nhận tài năng sáng tạo nghệ thuật hiếm có của Ngọc Giàu và cho rằng: “Ngọc Giàu là người có tài biến không thành có”.
            Cái hay của Ngọc Giàu đó là, với cánh tay cán vá, người xem không cảm thấy một dị tật bị đem lên làm trò hề trên sân khấu, mà trái lại, sau khi xem cô Bảy cán vá của Ngọc Giàu, người ta bắt đầu cảm thấy cái tay cán vá nó duyên dáng làm sao.
            Thêm vào đó, một sáng tạo khác của Ngọc Giàu không chỉ đặc sắc trong nghệ thuật, mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Khi bị ông chủ là chồng cô Kim Anh la mắng, “con sen” Bảy Cán Vá – Ngọc Giàu khóc tức tưởi. Cô Bảy khóc bù lu bù loa trên sân khấu trong khi bên dưới khán giả lại cười nghiêng ngửa thế mới hay! Và cô Bảy tự than thân: “Trong cái nhà này, có một chút vui vẻ cũng không được với người ta!”
            Rõ ràng là “ở trong cái nhà này”, cô Bảy là người ở đợ, mà cái vị thế của người ở đợ trong bối cảnh lịch sử đó thì làm sao tìm thấy niềm vui cho được. Bởi thế, cô Bảy ở đợ Ngọc Giàu nói với cô chủ Kim Anh khi cô này về đến nhà và nghe cô Bảy kể việc vừa bị chửi: “Dù em ở đợ, nhưng em còn có cái cương vị của em chớ”.
            Khi Ngọc Giàu nói câu này, khán giá không hề thấy một cái gì nặng nề về chính trị, nhưng càng nghĩ lại thì thấy sâu sắc, càng thấy hay và càng thấy thương cho số kiếp tôi đòi! Như vậy, cái hài của Ngọc Giàu không phải là cái hài dễ dãi, kiểu chọc cười rẻ tiền, mà là cái hài có trình độ, có nghệ thuật.

Lục Vân Tiên – vai giả trai
            Vóc dáng Ngọc Giàu không to cao, tướng tá không lớn, tức không có ưu thế để đóng vai nam. Ấy thế mà cô vào vai nam rất ngọt và đã có nhiều vai diễn để đời. Trong các vai đó, vai diễn gắn liền với tên tuổi Ngọc Giàu là vai Lục Vân Tiên trong tuồng Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga, bên cạnh nghệ sĩ Bạch Tuyết thủ vai nữ chính.
            Có thể nói, hình tượng Lục Vân Tiên qua nét diễn xuất của Ngọc Giàu vừa oai phong, lẫm liệt, vừa đa tình, tài hoa… đã trở thành một chuẩn mực cho vai diễn này. Dù đã diễn đi diễn lại nhiều lần nhưng cứ hễ đến lớp tương phùng, khi Lục Vân Tiên – Ngọc Giàu vừa ôm Kiều Nguyệt Nga – Bạch Tuyết là khán giả lại vỗ tay vang dội bởi đó là một khoảnh khắc nghệ thuật tuyệt đẹp – đẹp bởi cái tình son sắc thủy chung của hai nhân vật, và đẹp vì thế tạo hình hoàn mỹ của hai nghệ sĩ bậc thầy trên sân khấu.
            Bên cạnh một quốc trạng lẫm liệt oai phong, Ngọc Giàu cũng mang đến cho khán giả một Lục Vân Tiên có tình có nghĩa với nét diễn bi hùng xuất thần. Khi vị khách quốc trạng lần đầu tiếp chuyện với người phụ nữ góa chồng là con gái của gia chủ, mà chẳng ai khác hơn đó chính là Kiều Nguyệt Nga, người mà Vân Tiên ngày thương đêm nhớ, quốc trạng – Ngọc Giàu đã mở lời: “Thưa chị, người tiết hạnh thật là cao quí, mong rằng những lời thô thiển không làm vẫn đục tấm lòng trinh, xin người quá phụ nể tình bỏ lỗi”. Ngọc Giàu chọn cách nói chậm rãi, nhấn từng chữ một, qua đó người nghe có thể cảm nhận được một vị quốc trạng đang đong đầy tâm sự.
            Đến đoạn: “Xin người góa phụ”, Ngọc Giàu lại xử lí bằng cách nói lớn tiếng, và sau đó đến những chữ “nể tình bỏ lỗi” thì Ngọc Giàu nói nhỏ lại bình thường, như thể nổi niềm tâm sự kia chợt dâng trào mãnh liệt, toan vỡ òa ra bên ngoài, thế nhưng đấng trượng phu không thể ủy mị khóc than, nước mắt đàn ông không thể chảy bên ngoài, bởi vậy vị quốc trạng đã kịp thời ngăn cảm xúc.
            Dù không để cảm xúc bộc phát ra ngoài, nhưng qua cách diễn, cách nhấn chữ của Ngọc Giàu, người xem có thể cảm nhận được vị quốc trạng oai phong kia đang cố gắng kiềm nén tâm sự của mình. Nói chung, Ngọc Giàu đã thể hiện chất bi hùng của nhân vật một cách rất tinh tế. Nghệ sĩ Bạch Tuyết từng nhận định: “Hình tượng Lục Vân Tiên qua phong cách Ngọc Giàu vẫn là một chuẩn mực không một ai thay thế. Những hình tượng Lục Vân Tiên đến nay hầu như chưa làm nổi bước cách tân, so với Lục Vân Tiên – Ngọc Giàu ngày ấy”.

Lụa trải Nhung Căng
            Ngọc Giàu không chỉ nổi danh qua tài diễn xuất trong các tuồng cải lương, mà cô cũng đã để đời nhiều bài vọng cổ đặc sắc, từ tuổi học trò đến tâm sự tuổi già, từ xã hội đến kiếm hiệp. Giọng ca của Ngọc Giàu được cho là “Lụa trải Nhung Căng”: một giọng ca ngọt ngào, nhẹ nhàng, êm dịu như lụa như nhung.
            Ngọc Giàu có một lối ca đúng với bản chất của âm nhạc miền nam là “Chân phương hoa lá”, tức ca một cách rất chân phương, nhưng không để bài ca chết khô, mà cô dùng giọng trời phú “lụa trải nhung căng” cùng với lối luyến láy điêu luyện, khiến cho bài hát có đủ hoa lá cành tươi tốt.
            Ngọc Giàu có một giọng thổ đặc biệt, khó ai có thể bắt chước, lại thêm vào đấy một chút hơi hướng của sông Hương núi Ngự, khiến cho làn hơi trầm trầm của cô chứa đầy nhạc điệu, là lạ khó quên. Người mê vọng cổ làm sao quên được giọng ca Ngọc Giàu trong hàng loạt bài vọng cổ đặc sắc: Áo Tình đắp mộ người yêu, Tình mẫu tử, Đời nghệ sĩ, Dương Quý Phi, Khúc nhạc từ ly, Trọng Thủy Mỵ Châu, Kiều Phong A Châu…
            Trong làng sân khấu cải lương, thỉnh thoảng cũng có một vài nghệ sĩ có thể diễn được nhiều tính cách nhân vật, nhưng để đạt được thành công như Ngọc Giàu thì quả thật đến hiện tại vẫn chưa thấy có ai. Nghệ sĩ Ngọc Giàu thật sự là “một hiện tượng lạ”, “một viên kỳ ngọc” của sân khấu cải lương.
            Năm 16 tuổi, Ngọc Giàu đoạt “huy chương vàng triển vọng” giải Thanh Tâm. Năm 1963 cô nhận “huy chương vàng xuất sắc” giải Thanh Tâm, là một trong sáu nghệ sĩ hiếm hoi đạt được giải thưởng cao quí này. Năm 1979, Ngọc Giàu được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và năm 2012 được đặt cách phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân cùng với người thầy của mình là soạn giả Viễn Châu, và hai người bạn diễn thâm niên là nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Bạch Tuyết.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120815-ngoc-giau-vien-ky-ngoc-san-khau-cai-luong

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #43 vào: 12/06/2017, 08:58:12 »
Hà Mỹ Xuân: Cải lương đã thấm vào huyết quản

Một nghệ sĩ sống bằng nghề hát cải lương tận tụy với cải lương đã là đáng quí, nhưng có những nghệ sĩ phải làm nghề khác để sinh nhai nhưng lại hết lòng hết dạ với cải lương, thì điều đó thật sự còn đáng quí biết dường nào. Và trong thực tế, những trường hợp như vậy rất hạn hữu.

Hà Mỹ Xuân trong vai thái hậu Dương Vân Nga (trái), Tết 2012 – Trụ sở UNESCO Paris

TRONG CÁI số lượng rất hạn hữu đó đầu tiên phải kể đến nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân, một nghệ sĩ tài danh vang bóng một thời hồi những thập niên 1960, 1970, có nhiều đóng góp cho sân khấu cải lương sau 1975, và dù đã hơn 20 năm sống nơi đất khách, nghệ thuật cải lương vẫn luôn chảy trong huyết quản của cô.

Một thời vang bóng
            Nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tên thật là Nguyễn Thị Tiết Xuân, sinh ngày 10/10/1950 tại Long Xuyên, An Giang. Hà Mỹ Xuân bắt đầu đi hát từ năm 13 tuổi dưới sự dìu dắt của người anh ruột là nghệ sĩ Thanh Điền và người chị ruột là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên. Nghệ danh Hà Mỹ Xuân là do Hà Mỹ Liên đặt. Ngoài anh chị của mình, Hà Mỹ Xuân còn được may mắn thọ giáo với những bậc thầy của giới cải lương: cô được nghệ sĩ Diệu Hiền dạy ca và nghệ sĩ Ba Vân dạy diễn xuất.
            Năm 15 tuổi, Hà Mỹ Xuân bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh vị tiền bối của mình là nghệ sĩ Minh Cảnh trong vở Công Chúa Rừng Xanh tại đoàn Kim Chung, một đoàn hát lớn mà hầu hết nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ đều ước mơ được về hát. Hà Mỹ Xuân đã hát cho nhiều đoàn như Kim Chung, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu…
            Năm 1972, Hà Mỹ Xuân cùng với anh chị mình là nghệ sĩ Thanh Điền và nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thành lập đoàn hát Xuân Liên Hoa, qui tụ nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng lúc bấy giờ: Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Hà Bửu Tân, Giang Châu…

Kiếp tầm nhả tơ
            Sau năm 1975, trước làn sóng quốc hữu hóa các đoàn hát, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục theo nghiệp cải lương ở nhiều đoàn khác nhau đi lưu diễn khắp nơi như đoàn Long Giang (Long Xuyên), đoàn Long An, đoàn Vũng Tàu Côn Đảo, đoàn Sài Gòn 2, đoàn Sài Gòn 3, đoàn Tiền Giang, đoàn Thanh Nga… Đặc biệt ở đoàn Tiền Giang, Hà Mỹ Xuân đã có nhiều đóng góp quan trọng, nhất là một nghệ sĩ lớn có danh vọng như Hà Mỹ Xuân mà chấp nhận về làm quản lí và nghệ sĩ biểu diễn cho một đoàn hát tỉnh lẻ thì quả thật là một sự hy sinh đáng ghi nhận.
            Đóng góp của Hà Mỹ Xuân cho nghệ thuật cải lương sau 1975 đã được ghi nhận bằng những giải thưởng lớn: huy chương vàng toàn quốc năm 1985 với vai Nguyễn Thị Hạnh trong tuồng Đất và Hoa của soạn giả Minh Khoa, huy chương vàng khu vực Vũng Tàu-Côn Đảo năm 1986 với vai Thứ phi Phi Yến trong vở tuồng cùng tên của soạn giả Nhất Tâm, huy chương vàng khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 1987 với vai vợ chàng họa sĩ mù trong Đôi Mắt Tình yêu của soạn giả Lưu Quang Vũ.
            Năm 1988, Hà Mỹ Xuân sang định cư tại Pháp. Nơi đất khách quê người, cô không còn có thể sống bằng nghề hát cải lương, nhưng niềm đam mê cải lương trong cô vẫn luôn cháy bỏng. Trên đất khách, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục hát mỗi khi có cơ hội, hát không phải để kiếm tiền mà để thỏa cái lòng thương nhớ cải lương, để góp phần “đem chuông đi đánh xứ người”. Báo chí Pháp và Đức đã từng có bài ghi nhận về những đóng góp của cô cho nghệ thuật cải lương.

Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân: Đôi bạn diễn xưa nay hiếm
            Hà Mỹ Xuân rất tâm đắc cách diễn và giọng ca của Nữ Hoàng Sân Khấu Thanh Nga, nên mỗi khi nói về Thanh Nga cô nói với một sự say sưa bất tận. Hà Mỹ Xuân từng có một thời đứng chung sân khấu với nghệ sĩ Thanh Nga: Hà Mỹ Xuân là đào nhì còn Thanh Nga là đào chánh. Thường thì trong nghệ thuật cải lương người ta hay nói về “đôi bạn diễn” hay “đóng cặp” thì người ta nghĩ ngay đến đôi đào kép chánh, tức một nam một nữ. Thế nhưng, Thanh Nga và Hà Mỹ Xuân trong vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh đã góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc chọn lựa “đôi bạn diễn” đào chánh và đào nhì trong một vở cải lương.
            Trên thực tế, việc chọn đào nhất và đào nhì cũng rất quan trọng. Nói về các vai đào trong một vở tuồng thì đây là hai cô đào xuất hiện nhiều nhất, ca diễn nhiều nhất, có khi đóng vai là người thân của nhau, có lúc lại là kẻ thù của nhau. Thế nhưng người thân hay kẻ thù gì thì cũng phải diễn sau cho “khớp”, phải biết nương nhau, tung hứng cho đúng lúc đúng nơi để góp phần giúp nhau thành công trong vai diễn. Trong lô gích đó thì đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân có thể được xem là “đôi bạn diễn” xưa nay hiếm.
            Trong tuồng cổ trang lịch sử Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc và Hà Mỹ Xuân trong vai Trưng Nhị. Thanh Nga có giọng ca trầm buồn còn Hà Mỹ Xuân thì có giọng cao, mạnh mẽ, cả hai lại có cách diễn chững chạc, khai thác triệt để nội tâm nhân vật, vì thế sự khác biệt trong giọng ca đã giúp hai giọng ca này bổ sung cho nhau, sự tương đồng trong cách diễn đã giúp đôi bạn diễn này tung hứng một cách đúng lúc, đúng nơi, có tiết độ và rất ăn ý. Nếu Thanh Nga để đời với vai Trưng Trắc thì Hà Mỹ Xuân cũng làm khó cho thế hệ sau với vai Trưng Nhị, bởi sau cô, đến hiện tại chưa thấy có ai thủ vai Trưng Nhị đạt được như cô, cũng chưa thấy có đôi bạn diễn Trưng Trắc – Trưng Nhị nào được như đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân.
            Lớp hay nhất trong Tiếng Trống Mê Linh của Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân là lớp Tào Uyên được cử làm sứ giả đến thăm dò thực hư của quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong buổi tiếp, Trưng Trắc đã dụng kế ly gián Tào Uyên với thái thú Tô Định, và thả Tào Uyên về để giúp bà thực hiện mưu kế đó. Thế nhưng, Trưng Nhị chưa hiểu được cơ mưu, cứ ngỡ rằng chị mình đã nhân từ với kẻ thù mà quên đi mối hận nước non và mối thù bắt giữ Thi Sách, nên Trưng Nhị đã lớn tiếng trách chị mình.
            Giọng ca của Hà Mỹ Xuân mạnh mẽ, lối diễn xuất chững chạc, điệu bộ thể hiện sự oai phong rất điêu luyện, nên rất thích hợp với vai nữ tướng. Thêm vào đó, Hà Mỹ Xuân có cách diễn xuất khai thác triệt để nội tâm, nên lời trách cứ của Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân thật sự rất bi hùng, rất oai phong và cũng rất tình cảm. Tiếp theo đó, Trưng Trắc – Thanh Nga đã nhẹ nhàng khuyên em mình, và cả hai người ca ba câu vọng cổ. Cách diễn tương đồng, cách ca bổ trợ cho nhau đã thể hiện xuất thần tính cách của nhân vật và điều mà tác giả cần gửi gấm, đúng như lời của cụ Đô Trinh nhận xét sau đó: “Thật không thấy tình chị em nào thắm thiết như thế”. Đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân đã làm cho lớp tuồng vốn rất nhỏ bé này trở nên to lớn, tạo thành một trong những điểm nhấn của vở diễn.
            Chưa hết, lớp Trưng Trắc đánh trống tiến quân sau khi đã tế sống chồng cũng là một lớp diễn để đời. Trưng Trắc – Thanh Nga đánh ba tiếng trống ra quân với một sự cố gắng tối đa của lý trí, với một niềm đau khổ tột cùng, nhưng trước nghĩa lớn của dân tộc nên đành phải hy sinh tình nhà. Thanh Nga đã xuất sắc trong cách diễn khi đánh ba tiếng trống này. Mỗi khi dùi của Trưng Trắc – Thanh Nga chạm vào mặt trống thì người xem cũng tan lòng nát dạ.
            Bên cạnh Thanh Nga, Hà Mỹ Xuân cũng không kém phần xuất thần. Khi Trưng Trắc – Thanh Nga cầm dùi chuẩn bị đích thân đánh trống tiến quân, Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân nắm tay chị nói: “Xin chị để cho em nổi trống tấn công”. Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân nói trong nghẹn ngào, thể hiện được sự cố gắng tối đa của lý trí, cố vượt qua tình nhà vì nợ nước. Nếu mối tình nhà của Trưng Trắc lúc này chỉ là khóc thương chồng, thì mối tình nhà của Trưng Nhị lại nhân đôi, tức vừa khóc thương cho anh rể, vừa khóc thương cho hoàn cảnh của chị mình. Giọng nói của Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân khi ấy bên cạnh nỗi đau thương còn cho khán giả cảm nhận được một niềm uất hận tột cùng, uất hận kẻ thù đã gây cảnh nước mất nhà tan. Chỉ mấy từ đơn giản như trên, nhưng thật sự Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân đã thể hiện được sự thượng thừa trong diễn xuất.

Cải lương đã hòa trong huyết quản
            Năm 1978, nghệ sĩ Thanh Nga qua đời, Hà Mỹ Xuân được xem là người thế Thanh Nga thành công nhất trong các vai diễn Trưng Trắc (Tiếng Trống Mê Linh), Quỳnh Nga (Bên Cầu Dệt Lụa), Thái Hậu Dương Vân Nga (Vở tuồng cùng tên).
            Hồi tết năm 2012, trong chương trình mừng xuân của người Việt Nam tại Pháp tổ chức ở trụ sở Tổ chức UNESCO tại Paris, Hà Mỹ Xuân đã tái hiện lại vai Thái Hậu Dương Vân Nga và vai Quỳnh Nga với sự góp mặt của nghệ sĩ Lý Kim Thành. Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga, người xem không khỏi giật mình về tính chuyên nghiệp của cô, nhịp nhàng điêu luyện, động tác chuẩn mực.
            Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga ta chợt nhận ra rằng những động tác của bà Thái Hậu Dương Vân Nga – Hà Mỹ Xuân trên sân khấu dư một chút cũng mất hay mà thiếu một chút cũng không được. Nhất là lớp thoại trên sân khấu khi trên tay cầm tấm long bào. Đoạn này vị thái hậu nói gần như là độc thoại với một số vị quan muốn làm hòa với giặc.
            Đây là một đoạn rất khó diễn bởi là đoạn cao trào nên khán giả tập trung chú ý từng cử chỉ của bà thái hậu để xem bà quyết định thế nào cho vận mệnh non sông, mà cụ thể là xem bà thái hậu có quyết định giao nạp long bào cho giặc Tống hay không. Phải làm sao thể hiện được sự thuyết phục tuyệt đối trong lời nói đối với các quan, mà muốn thuyết phục thì trước tiên bản thân vị thái hậu phải thể hiện một sự quyết tâm cao độ, một ý chí sắt đá trước đe dọa của cường địch. Hà Mỹ Xuân đã thỏa mãn hoàn toàn những yêu cầu đó với lối diễn xuất chuẩn mực, với giọng nói mạnh mẽ âm vang đầy tâm trạng, Nếu không phải một nghệ sĩ bậc thầy thì không thể đạt nổi trình độ diễn xuất đó.
            Vai Quỳnh Nga cũng vậy, ngược lại hoàn toàn với vai một bà thái hậu uy nghi, Hà Mỹ Xuân ngay sau đó vào vai một nàng Quỳnh Nga dịu dàng, chịu thương chịu khó nuôi tằm dệt lụa lo cho Trần Minh ăn học. Với lớp diễn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên kinh ứng thí, Hà Mỹ Xuân đã thật sự làm sống lại cái không khí chuyên nghiệp đỉnh cao của nghệ thuật cải lương.
            Hà Mỹ Xuân đã xa quê hương trên 20 năm, đã sống trong văn hóa Tây trên 20 năm, thế mà lại không hề xuống phong độ trong cách diễn xuất, trong sự điêu luyện về lối ca, thì quả thật là một điều đáng quí. Điều đó chỉ có hai cách giải thích. Thứ nhất đó là vì cải lương đã trở thành máu, thành hơi thở của Hà Mỹ Xuân nên dù ở trong môi trường nào, khi cần hát là cô hát được ngay, mà hát một cách rất điêu luyện.
            Cách giải thích thứ hai liên quan đến sự rèn luyện của người nghệ sĩ. Người xưa thường nói “Văn ôn võ luyện”, đối với nghệ sĩ cải lương câu nói này có giá trị hơn ai hết. Là một nghệ sĩ, để ca điêu luyện, để diễn cho hay, thì đòi hỏi phải trau dồi không ngừng, phải tập luyện hằng ngày, làm sao cho sự ca và sự diễn trở thành như quán tính tự nhiên, thì khi diễn trên sân khấu mới hay được.
            Như giọng ca chẳng hạn, nếu nghệ sĩ không ca hát, không luyện hơi thường xuyên hằng ngày thì giọng ca sẽ nhanh chóng bị xuống và lối ca sẽ nhanh chóng không còn điêu luyện nữa. Theo cách lý luận đó, thì ta có thể khẳng định rằng, Hà Mỹ Xuân giữ được phong độ ca diễn như vậy là nhờ sự tự trau dồi thường xuyên, nói cách khác là trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến cải lương.
            Hà Mỹ Xuân đến Pháp trên 20 năm và từ ấy đến nay cải lương không còn là nghề kiếm sống của cô, mà cô phải làm nhiều nghề khác, còn cải lương thì thỉnh thoảng dịp lễ tết mới hát đôi ba trích đoạn. Nếu cải lương là nghề kiếm sống mà nghệ sĩ không ngừng trau dồi thì đã là quí, còn ở đây đối với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân cải lương tuyệt đối không phải là nghề để kiếm sống mà cô còn đặt toàn tâm toàn ý cho cải lương thì thật là cao quí lắm thay!

Một nghệ sĩ “khó tính”
            Ở Pháp, Hà Mỹ Xuân nổi tiếng là một nghệ sĩ khó tính. Khó tính ở đây không phải là cô đòi hỏi cát sê cao hay yêu cầu này nọ bởi như đã nói cô không kiếm sống bằng cải lương từ hơn 20 năm nay, mà thật ra cô rất khó tính trong việc ca diễn và khâu tổ chức. Cô yêu cải lương nên cô biết trân trọng cải lương. Hà Mỹ Xuân không thích biến cải lương trở thành một vật mua vui tầm thường, nên chỗ nào tổ chức có vẻ xô bồ là cô từ chối không hát.
            Còn trong ca diễn, đã bước lên sân khấu thì dù là sân khấu lớn hay nhỏ, Hà Mỹ Xuân cũng ca diễn hết mình, ca diễn một cách chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trong một buổi cơm xã hội gần đây của một ngôi chùa Việt Nam ở ngoại ô Paris, Hà Mỹ Xuân có tham gia trong chương trình văn nghệ phục vụ thực khách đến ủng hộ chùa. Hà Mỹ Xuân cùng chị mình là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên và nghệ sĩ Lý Kim Thành diễn trích đoạn tuồng Bông hồng Cài Áo. Sân khấu thì nhỏ, thực khách thì đông nên có đôi khi mọi người say sưa nói chuyện mặc cho nghệ sĩ ca hát trên sân khấu, tạo ra cảnh người nói chuyện phía dưới người ca hát phía trên, chẳng ai quan tâm để ý đến ai.
            Trong tiết mục của mình, sau phần giới thiệu của người dẫn chương trình, trước khi xuất hiện trên sân khấu, Hà Mỹ Xuân đã cầm micro nói từ hậu trường: “Xin quí khán giả giữ yên lặng, tập trung theo dõi trích đoạn vì lời thoại rất hay”. Không phải Hà Mỹ Xuân quan trọng hóa lớp diễn của mình mà là cô muốn hễ có kẻ hát thì phải có người thưởng thức, tức là khán giả và nghệ sĩ phải tôn trọng lẫn nhau, đấy mới là thái độ làm nghệ thuật nghiêm túc. Bằng chứng cho sự nghiêm túc của Hà Mỹ Xuân là khi bước ra sân khấu, cô đã ca diễn hết mình, như thể cô đang hát trước hội đồng giám khảo trong một cuộc thi tranh huy chương vàng vậy.

Bông tai nhỏ – tình cảm lớn
            Như đã đề cập bên trên, hồi tết rồi, Hà Mỹ Xuân có tham gia biểu diễn cho bà con Việt Kiều tại Pháp trong chương trình chào xuân tổ chức tại trụ sở UNESCO ở Paris. Trong trích đoạn Thái Hậu Dương Vân Nga, nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân mặc bộ y phục thái hậu mà cô diễn vai này sau khi Thanh Nga mất hồi những năm 1980. Khi sang Pháp cô đã mang theo nhiều y phục cải lương, trong đó có bộ y phục này.
            Trong hậu trường, mọi người đang hóa trang cho vai diễn của mình, bỗng nhiên tôi thấy Hà Mỹ Xuân tìm một vật gì đó, mà trông dáng vẻ của cô tôi đoán rằng đó là một vật rất quí giá và quan trọng lắm. Khi hỏi ra tôi mới biết rằng cô đang tìm một chiếc bông tai của bộ y phục thái hậu Dương Vân Nga nói trên. Bộ y phục tuổi đời đã trên dưới 30 năm, đã sờn, đôi bông tai cũng đã cũ lắm rồi. Với khả năng hiện tại Hà Mỹ Xuân có thể đặt làm lại những bộ khác sặc sỡ hơn, lộng lẫy hơn, đắt tiền hơn. Thế nhưng, cô vẫn tiếc một chiếc bông tai cũ kĩ vì nó gắn liền với một thời làm nghệ thuật sôi nổi của cô. Thế mới biết Hà Mỹ Xuân yêu cải lương và nhớ cải lương đến dường nào.
            Thời đại ngày nay, cải lương đang lúc khó khăn, mà nghệ sĩ cải lương thì cũng có người sống bằng cải lương nhưng không biết quí trọng cải lương, không yêu cải lương hết mình, luôn mang bệnh ngôi sao, làm nghệ thuật không nghiêm túc, diễn xuất thì ngày càng hời hợt. Trong bối cảnh đó, câu chuyện chiếc bông tai nói trên quả thật là lời nhắc nhở quí giá, bởi vì nếu chính nghệ sĩ cải lương mà cũng không trân trọng cải lương thì làm sao cải lương không xuống dốc cho được.


LÊ PHƯỚC
Tháng 10/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121027-ha-my-xuan-cai-luong-da-tham-vao-huyet-quan

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #44 vào: 14/06/2017, 14:06:17 »
Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy”

Nếu “Tình anh bán chiếu” được mệnh danh là bài “vọng cổ vua” ở miền nam, thì “Cô bán đèn hoa giấy” có thể được xem là “bài vọng cổ hoàng hậu”. Như một định mệnh, bài “Tình anh bán chiếu” gắn liền với tên tuổi của “Đệ nhất nam danh ca vọng cổ” Út Trà Ôn, còn “Cô bán đèn hoa giấy” thì lại là bài để đời của nữ nghệ sĩ Thanh Hương, người giữ danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ “.

Nữ nghệ sĩ Thanh Hương

TÁC GIẢ của bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” là soạn giả Quy Sắc. Ông sinh năm 1924 tại Thủ Dầu Một-Bình Dương. Tên thật của ông là Nguyễn Phú Quý, mà chữ Quý thì được đánh vần là “quy sắc quý”, bởi vậy nghệ danh Quy Sắc chính là cách chơi chữ tên thật của ông. Ông đỗ bằng thành chung của Pháp (Tức bằng Cao đẳng tiểu học – Diplôme d’études primaires supérieures franco-indigènes, tương đương tốt nghiệp cấp hai ở Việt Nam ngày nay), và trước khi đến với cải lương thì ông theo nghiệp giáo.
            Khi đi làm gia sư cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga, Quy Sắc đã gặp soạn giả-nhà thơ Kiên Giang và từ đó ông bắt đầu bước vào nghiệp viết cải lương. Ông đã cùng với Kiên Giang viết chung nhiều tuồng có giá trị. Vở tuồng đầu tiên của liên danh này là Người vợ không bao giờ cưới (Tức Sơn nữ Phà Ca). Đây là vở tuồng giúp nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958 khi mới 16 tuổi. Tính đến khi ông tạ thế năm 2010, Quy Sắc đã có đến 70 vở tuồng cải lương lớn nhỏ. Bên cạnh đó, ông cũng để lại nhiều bài vọng cổ đặc sắc trong đó đặc sắc nhất là bài Cô bán đèn hoa giấy.
            Bài vọng cổ Cô gái bán đèn hoa giấy gồm có 6 câu nhịp 32. Bài ca là tâm tình của một thiếu nữ làm nghề bán đèn hoa giấy. Năm 14 tuổi, trong lúc bán đèn hoa giấy như mọi khi trong dịp xuân về, cô gái đã gặp gỡ một vị khách đặc biệt của cuộc đời cô: một chàng thư sinh trẻ tuổi. Thấy thiếu nữ bán đèn dễ thương, chàng trai vuốt má và tặng cho cô nàng một chiếc lược. Có ngờ đâu buổi sơ ngộ đã khiến cho cô gái bán đèn hoa giấy tương tư, đêm ngày mong nhớ.
            Năm cô 16 tuổi, chiến tranh xảy đến, làng xóm tan hoang, cô gái phải theo cha mẹ chạy lánh nạn ở nơi thành thị nên không còn bán đèn nơi xóm cũ khi xuân về. Năm 20 tuổi, theo lệnh mẹ cha cô gái đã cất bước sang ngang.
            Một thời gian sau, cô dẫn con thơ trở lại bán đèn dưới bóng dừa như thuở trước, và mong ngóng gặp lại người xưa. Cuối cùng, người khách năm xưa trở lại tìm cô. Khi biết được cô đã có chồng, khách buồn bã lê bước ra đi. Kỷ niệm trào dâng, cô bán đèn hoa toan chạy theo tiếng gọi con tim, nhưng chợt đứa con tuổi ngây thơ của cô cất tiếng gọi, thế là cô đành nuốt nước mắt gạt tình riêng mà ở lại với con.
            Ta thấy nội dung bài ca là một chuyện tình lãng mạn, u buồn. Cái hay của bài ca là nó có vẻ rất liêu trai, nửa hư nửa thật, chợt đến chợt đi, nói chung là rất khó giải thích cũng giống như tình yêu vậy. Cái hay của bài ca là đượm buồn, nhưng là buồn man mát, không ồn ào nhưng thoang thoảng, không bị lụy nhưng dai dẳng, nó khiến cho người ta không thể nào quên hẳn cho được. Cái hay của bài ca là lời văn đậm chất văn học, mượt mà, trong sáng.
            Như trong lần gặp gỡ đầu tiên, vị khách thư sinh hỏi cô gái có chồng chưa, nhưng hỏi một cách nên thơ và tế nhị như thế này: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, đèn hồng cô bán (chứ) má hồng bán chăng”. Cô nàng đáp lại cũng rất nên thơ: “Má hồng hãy hỏi song thân, em đây chỉ bán cho anh đèn hồng”. Lúc gặp lại nhau khi cô gái đã có chồng, chàng trai hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cô đã có chồng hay chưa”. Cô gái nghẹn ngào: “Đèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi”. Chúng ta thấy, lời văn rất trong sáng, rất nên thơ, đạt đến đỉnh điểm của cái đẹp văn học.
            Một điểm nhấn nữa của Cô bán đèn hoa giấy, đó là bài ca có cốt truyện rõ ràng, đúng chất tự sự của bài vọng cổ, khiến người ca và người nghe đều dễ theo dõi, dễ nhớ, không bị lan man. Nói chung là dễ đi vào lòng người.

Đệ nhất nữ danh ca Thanh Hương
            Đầu những năm 1950, Cô bán đèn hoa giấy đã làm say mê biết bao con tim người mộ điệu. Công của người viết thì đương nhiên thuộc về soạn giả Quy Sắc, còn công của người thể hiện, tức người ca, người đưa bài hát đến công chúng, người giúp bài hát len lỏi được vào trái tim người mộ điệu, đó chính là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Hương.
            Thanh Hương vốn là con nhà nòi: cha là nghệ sĩ bậc thầy Năm Châu, mẹ là giọng ca nữ nổi danh một thời, cô Tư Sạng. Có lẽ cha mẹ đều là bậc thầy trong làng cổ nhạc, nên bài vọng cổ đã thấm tận xương tủy của Thanh Hương. Thanh Hương thành danh cùng thời với Sầu nữ Út Bạch Lan. Hai giọng ca này đã từng song hành làm nghiêng ngửa thị trường băng đĩa những năm 1950-1960 và cả 1970.
            Làn giọng Thanh Hương đặc chất thổ có pha chút kim, âm vực rộng và mạnh. Thanh Hương ca vang vọng, ở xa vẫn nghe rõ mồn một. Sức hấp dẫn của giọng ca Thanh Hương là âm vực cao, tiếng rất trong trẻo, vang lộng, ngọt ngào, khi ca những đoạn lâm ly thì nghe rất mùi, rất êm tai, Thanh Hương ca vọng cổ đúng chất tự sự: mộc mạc, chân phương nhưng đủ đầy hoa lá.
            Bộ nhịp của Thanh Hương rất vững và chuẩn, bởi vậy cô ca như đùa giỡn với cung đàn, người trong nghề thì nói là cô có biệt tài “nhảy múa trên dây đàn”. Cô ca rất xôm và rất tươi, rất rộn ràng sôi động. Theo các nhà phân tích, chỉ có một số nghệ sĩ có nghệ thuật ca thượng thừa như Út Trà Ôn hay Út Bạch Lan mới dám thi triển lối ca nhảy múa này.
            Cuối thập niên 1950, trong cuộc bầu chọn của khán giả trên tờ báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ biên, về phía nam nghệ sĩ, danh hiệu “Đệ nhất nam danh ca vọng cổ” thuộc về Út Trà Ôn, còn danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ” thì thuộc về nghệ sĩ Thanh Hương. Từ đó đến nay, đã bao lượt trăng tàn rồi trăng khuyết, đã có biết bao nữ nghệ sĩ cải lương nổi danh làm xao động làng cổ nhạc, thế nhưng, không hiểu sao, cứ nhắc đến danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca” thì người mộ điệu nghĩ ngay đến nghệ sĩ Thanh Hương.


Cô bán đèn hoa giấy – CD ca cổ, cải lương – Thanh Hương, Tấn Tài, Thanh Sơn

Thanh Hương bất tử cùng Cô bán đèn hoa giấy
            Nếu nhắc đến danh hiệu “đệ nhất nữ danh ca” là nhắc đến Thanh Hương, thì mỗi khi nhắc đến Thanh Hương, người mộ điệu nghĩ ngay đến bài vọng cổ Cô bán đèn hoa giấy. Vào thập niên 1950, khi hãng dĩa Hồng Hoa (tức hãng dĩa Asia trước kia) tung ra thị trường đĩa vọng cổ Cô Bán đèn hoa giấy, cái liên danh Thanh Hương – Cô bán đèn hoa giấy trở thành “tuyệt phẩm vọng cổ”, tuyệt về lời ca, tuyệt về giọng ca. Từ đó, cái tên Thanh Hương bắt đầu gắn liền với Cô bán đèn hoa giấy.
            Bài Cô bán đèn hoa giấy mang chất tự sự, hoàn toàn phù hợp với giọng ca Thanh Hương. Thanh Hương có giọng đặc thổ có pha chút kim nên tiếng ca nghe vang vọng nhưng đượm u buồn, rôm rả nhưng đầy tâm sự, nó như tiếng lòng đang thổn thức, như con tim yêu đang loạn nhịp, buồn man mác mà không bi lụy. Thêm vào đó, như đã nói, Thanh Hương có kỹ thuật ca vọng cổ thượng thừa: bộ nhịp vững chắc, chính xác như đổ khuôn, sử dụng ca từ như nhảy múa trên cung đàn. Đặc biệt, Thanh Hương đã đạt đến trình độ “diễn xuất trong giọng hát”, tức cũng giống như Đệ nhất nam danh ca Út Trà Ôn, chỉ cần nghe Thanh Hương ca, không cần nhìn cô diễn tả bằng động tác, người nghe cũng cảm được những cung bậc tình cảm của nhân vật trong bài ca.
            Với giọng ca đó, với cách ca đó, Thanh Hương đã thể hiện trọn vẹn tâm tình của Cô bán đèn hoa giấy: buồn man mác, không đủ mạnh để làm gục ngã cô gái, nhưng nó cứ thoang thoảng đâu đó để đeo đuổi theo cô gái suốt cuộc đời. Đoạn hay nhất của bài ca, hay vì tính văn học và về độ sâu tình cảm, đó là lúc cô bán đèn hoa giấy và vị khách thư sinh đối đáp như đã nói ở trên.
            Trong buổi sơ ngộ, chàng thư sinh chắc cũng bắt đầu có cảm tình với cô bé bán đèn nên mới hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, đèn hồng cô bán, má hồng bán chăng?”, và cô bán đèn – Thanh Hương đáp “Má hồng hãy hỏi song thân, em đây chỉ bán cho anh đèn hồng”. Khi hay người gặp lại, chàng trai hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cố đã có chồng hay chưa?”, cô bán đèn – Thanh Hương đáp: “Đèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi”. Ta thấy, Thanh Hương ca ngâm hai đoạn này thật tuyệt vời, người nghe cảm nhận được trong lời ca sự nặng trĩu của tâm tình và một nỗi buồn man mác.
            Một câu hỏi đặt ra: Khi gặp lại, vì cô gái đã có chồng nên cô buồn là đúng, chứ còn trong buổi sơ giao thì đang lúc tươi vui sao lại u buồn? Thưa rằng, bài ca là một câu chuyện có cốt truyện hẳn hoi, do cô gái, tức người trong cuộc kể. Vì thế, cô đang kể tức là cô đang hồi tưởng lại từng chi tiết của câu chuyện, và dĩ nhiên đây là kỉ niệm về một mối tình đã lỡ, đương nhiên người kể phải u buồn, thế nhưng sự việc đã qua, và mối tình kia chỉ là kỉ niệm, nếu có còn chăng thì cũng ở tận cùng đáy tâm hồn, vì thế nó mới man mác, không ồn ào, và dĩ nhiên người kể không thể nào kể sướt mướt cho được.
            Theo lô gích đó, ta thấy đoạn đẹp nhất, giàu chất văn học nhất của bài ca, tức tám câu thơ lục bát đối đáp, tưởng dễ ca nhưng thực chất lại là đoạn khó ca nhất. Bởi người ca không thể ngân nga cho điệu thơ được du dương, không thể lê thê cho sự u buồn trở nên bi lụy, mà phải làm sao thể hiện được chất tự sự trong lời ca, đưa được trọn vẹn tâm tình của Cô bán đèn hoa giấy vào lời ca, phải làm sao cho người nghe cảm nhận được sự trĩu nặng của tâm hồn, sự sâu xa của mối tình đầu và sự man mác của cuộc tình vừa chớm đã vội tan. Nét đặc sắc này đã được Thanh Hương thể hiện một cách tuyệt vời, khiến cho người nghe cũng bị cái buồn man mác len lỏi vào trong tim lúc nào mà không biết.

Lệ Thủy kế tục xứng đáng Cô bán đèn hoa giấy
            Khi nghệ sĩ Thanh Hương đã thành danh vang dội trong làng cải lương nam bộ, thì tổ nghiệp có lẽ đã hậu ái khi chuẩn bị người kế thừa cho giọng hát của cô, đó chính là nữ nghệ sĩ tài danh Lệ thủy. Hồi Lệ Thủy còn nhỏ, gia đình Lệ Thủy phải dắt dìu nhau lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Vì nhà nghèo nên ngoài giờ học, Lệ Thủy phải bồng em để cho mẹ làm việc kiếm tiền. Hàng ngày Lệ Thủy bồng em ra ngang hông chợ Khánh Hội chơi, nên thường nghe được bài Cô bán đèn hoa giấy do Thanh Hương ca, phát ra từ một tiệm sửa radio trong chợ.
            Lệ Thủy nghe rồi bắt đầu thích, thích rồi mê quá giọng ca Thanh Hương. Ai có ngờ đâu, Cô bán đèn hoa giấy sẽ là bài gắn liền với tên tuổi Lệ Thủy bởi vì trong vố số các bài vọng cổ mà Lệ Thủy đã thể hiện, có thể nói tất cả những cái gì biểu trưng cho giọng ca điêu luyện của Lệ Thủy điều được tìm thấy trong Cô bán đèn hoa giấy.
            Được biết, thuở thiếu thời, Lệ Thủy thần tượng giọng ca Thanh Hương. Nếu nghe Lệ Thủy ca khi cô còn trẻ, ta thấy từ giọng ca đến cách ca của cô rất giống Thanh Hương. Lệ Thủy chịu ảnh hưởng nhiều của Thanh Hương trong cách ca, cách phát âm, cách nhã chữ, cách sắp chữ. Nét thu hút trong giọng ca hai nữ nghệ sĩ này là: âm vực rộng, ca chân phương không cầu kỳ, ca mộc mạc, sắp chữ nằm gọn trong khuôn. Đây là trường phái ca vọng cổ thuộc hàng mẫu mực, thể hiện được cái tinh thần “chân phương hoa lá” của bài vọng cổ.
            Khi thể hiện bài Cô bán đèn hoa giấy, Lệ Thủy có thể nói là đã có chút mạo hiểm, bởi vì bậc tiền bối của cô là nghệ sĩ Thanh Hương đã để lại cái bóng quá lớn trong bài hát này, bởi vì Lệ Thủy là người chịu ảnh hưởng của giọng ca Thanh Hương. Ấy thế nhưng, do giọng ca Lệ Thủy có chút khàn khàn rất riêng, lại là giọng kim pha thổ, nên Lệ Thủy đã tạo được nét riêng của mình trong bài hát. Không chỉ có thế, Lệ Thủy cũng đã tìm tòi sáng tạo trong cách ca để không bị rập khuôn người đi trước, do đó cô đã tạo được dấu ấn riêng cho bài hát, được người mộ điệu tán thưởng.
            Như đã nói, điểm nhấn của Cô bán đèn hoa giấy là hai đoạn đối thoại bằng thơ lục bát trong hai lần gặp mặt của cô bán đèn hoa giấy và vị khách thư sinh. Lệ Thủy đã thể hiện trọn vẹn tâm sự nặng trĩu của cô gái trong đoạn ca ngâm này: nổi buồn không nức nở nhưng man mác. Có thể nói Lệ Thủy đã kế tục xứng đáng Thanh Hương trong bài ca Cô bán đèn hoa giấy, một sự kế tục có sáng tạo, vì thế tên tuổi Lệ Thủy cũng đã bất tử với bài ca này. Sau Lệ Thủy, chưa thấy có nữ nghệ sĩ nào nổi bật với bài hát này.

Bài ca khẳng định cái hồn vọng cổ
            Ở đây, ta thấy có những sự trùng hợp rất kỳ diệu. Bài Cô bán đèn hoa giấy dù không phổ biến bằng Tình anh bán chiếu, nhưng nếu Tình anh bán chiếu được xem là “Bài vọng cổ vua”, thì Cô bán đèn hoa giấy cũng được xem là “Bài vọng cổ hoàng hậu”. Lạ kỳ thay, người thể hiện thành công nhất bài Tình Anh bán chiếu chính là Út Trà Ôn, người được danh hiệu “Đệ nhất nam danh ca” trong cuộc bình bầu của những năm 1950. Danh hiệu đệ nhất nữ danh ca năm ấy thuộc về Thanh Hương, người thể hiện thành công nhất bài Cô bán đèn hoa giấy.
            Một nét trùng hợp nữa là cả hai bai ca này đều mang chủ đề về tâm tình của một người bán hàng bình dân, một người là nam làm nghề bán chiếu và một người là nữ chuyên bán đèn hoa giấy mỗi dịp xuân về.
            Thế nhưng, những nét trùng hợp đáng chú ý nhất có lẽ là về nội dung bài ca và về giọng ca thể hiện. Về nội dung, Tình Anh bán chiếu và Cô bán đèn hoa giấy đều là những bài vọng cổ thuộc hàng mẫu mực: giàu chất tự sự, lời ca đầy tính văn học, tình cảm nhân vật mộc mạc, chân phương, u buồn nhưng không sướt mướt bi lụy. Về giọng ca thể hiện: Út Trà Ôn và Thanh Hương đều có lối ca chân phương, mùi mẫn, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ”. Đặc biệt hai người đều có bộ nhịp rất vững, cách phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn.
            Nói chung, hai người thuộc trường ca mẫu mực, không lạng bẻ, không kiểu cọ, thể hiện được trọn vẹn tính tự sự, tính chân phương – cái thần của bài vọng cổ. Hai giọng ca chân phương, tự sự đã thành công với hai bài ca cũng mẫu mực về tính chân phương, tự sự: Cô bán đèn hoa giấy và Tình anh bán chiếu.
            Mấy mươi năm đã trôi qua, cải lương đã trải qua bao nỗi thăng trầm, và hiện tại bị xem là đang tuột dốc, ấy thế mà giọng ca Út Trà Ôn và Thanh Hương vẫn chưa có ai vượt nổi, vẫn làm say đắm người mộ điệu. Và cứ nhắc đến tài ca vọng cổ, thì người ta nghĩ ngay đến Út Trà Ôn và Thanh Hương, hễ nhắc đến danh hiệu “đệ nhất danh ca”, thì người ta nghĩ ngay đến Út Trà Ôn và Thanh Hương. Và cứ nhắc đến Út Trà Ôn thì người ta nghĩ đến Tình anh bán chiếu, còn nhắc đến Thanh Hương thì người ta nghĩ ngay đến Cô bán đèn hoa giấy. Đó là một minh chứng hùng hồn cho thấy, sức hấp dẫn lớn nhất của bài vọng cổ cũng chính là cái thần hồn của nó: đậm chất tự sự, và chân phương nhưng hoa lá.


LÊ PHƯỚC
Tháng 1/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130126-lag-du-cung-voi-bai-vong-co-co-ban-den-hoa-giay

 
The following users thanked this post: tnghia