Diễn đàn sách xưa | Bảo tồn văn hóa Việt

KIẾN THỨC => Thời sự => Tin văn hóa => Tác giả chủ đề:: nduytai vào 08/03/2017, 08:17:29

Tiêu đề: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 08/03/2017, 08:17:29
tảnmạn... vănnghệ...
______ ______  ______ ______

(https://www.nguoivietshop.com/images/100NamCaiLuong1_F.jpg)
Hình bìa cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, với hình ảnh các nghệ sĩ lừng danh:
Nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há – Ðệ nhứt danh ca Út Trà Ôn – Vương Hậu cải lương Thanh Nga.
(Hình: Sưu tập của Ngành Mai)

□□□  ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ 1916 □ 2016 ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□

ĐỂ CHỨNG MINH cải lương luôn gắn liền với nền văn hóa của dân tộc Việt, Giáo Sư Trần Văn Chi cho biết, cải lương mang tính đặc thù của Việt Nam, hay nói khác đi, đó là một nghệ thuật của bản địa, và vì có tính bản địa, cho nên nó chuyên chở sự gần gũi, cái vui, cái buồn được phát nguồn từ Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà ngày xưa còn gọi là đất Đàng Trong.
             Lúc bấy giờ, cư dân miền Bắc, có một số bỏ quê hương ra đi, thì họ mang theo tâm trạng của những người xa xứ. Khi vào miền Nam, cũng vì cưu mang những nỗi buồn xa xứ đó, họ thường hát hò những điệu hát của miền Bắc. Vì thế, từ lúc bấy giờ cho đến ngày nay, trong cải lương có ba làn điệu, gồm điệu Bắc, điệu Nam, và điệu nhạc lễ. Ba nền điệu này tạo ra những bài bản chánh của cải lương. Điệu Bắc thì rộn ràng, có tiếng trống và bộ gõ, còn nhạc lễ thì nghe có vẻ nghiêm túc hơn, nhưng khi vào trong Nam, thì nó mang thêm tính chất u hoài vì chuyên chở thêm nỗi buồn của những người xa xứ.
             Những người dân di cư vào Nam, phần nhiều là các dân từ Thanh-Nghệ tỉnh và ngũ Quảng, họ thấy miền Nam ruộng đồng bát ngát, và đi đến đâu cũng thấy chim cá đầy đàn, mà trong câu ca dao có nói, “Tới đây xứ sở lạ lùng/Con chim kêu cũng sợ, nghe cá vẫy vùng cũng lo.”
             Và cũng vì nỗi nhớ quê hương, nên họ đã làm ra những điệu hát hò, kết hợp với những điệu hò hát của miền Nam, qua hình ảnh của những cô gái chèo ghe thường hò những bài ca dao lục bát, tất cả những điệu hát hò ấy trở nên những bài ca cổ nhạc. Cho nên trong những làn điệu cổ nhạc Việt Nam thường mang những tâm trạng buồn, và mang tính bản địa để nói lên nỗi buồn của những người xa xứ.
             Soạn giả lão thành Yên Lang là người cha đẻ của rất nhiều tuồng cải lương có giá trị, và đã chiếm lĩnh sự ái mộ của hàng triệu con tim của khán giả trên rất nhiều sân khấu cải lương ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ông chia sẻ với mọi người về sự ràng buộc giữa soạn giả và các nghệ sĩ của sân khấu cải lương.
             Theo soạn giả, cải lương là một nghệ thuật tổng hợp, gồm kịch bản, đạo diễn, diễn viên, có âm thanh, có ánh sáng, có rạp hát, và âm nhạc, không chỉ có cổ nhạc mà còn có cả tân nhạc. Nếu tách rời một trong những yếu tố đó, thì cải lương không thể nào dựng thành một vở diễn được.
             “Kịch bản là tiền đề của sân khấu, diễn viên và yếu tố trọng tâm, do đó, sự ràng buộc giữa soạn giả và diễn viên và những bộ phận khác phải có, và bắt buộc phải có. Trong đó, quan trọng vô cùng là các nhạc sĩ cổ nhạc, vì nếu thiếu dàn cổ nhạc thì các diễn viên không biết làm sao phải ca hát được. Vì thế, thực hiện được một vở tuồng cải lương trên sân khấu hoàn chỉnh, thì phải tốn rất nhiều công phu để biên soạn và tập luyện,” soạn giả Yên Lang nói.



₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪

01.  Cuộc đời ngoại hạng của nghệ sĩ Phùng Há
02.  Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, giọng ca vang lộng sinh khí
03.  Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc
04.  Giỗ Tổ cải lương
05.  Tuổi thơ trôi dạt của Sầu nữ Út Bạch Lan
06.  Giọng ca vàng Hữu Phước theo lời kể của soạn giả Nguyễn Phương
07.  Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường
08.  Bích Thuận, nghệ sĩ tiền phong sân khấu cải lương
09.  Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam
10.  Thanh Tòng, người dày công Việt hóa cải lương hồ quảng
11.  Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga
12.  Giải Thanh Tâm năm thứ nhì 1959 bị xuống cấp
13.  Đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt
14.  Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”
               page 2
15.  Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng
16.  Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam
17.  Vài mẩu chuyện về nữ nghệ sĩ Thanh Nga
18.  Giải Thanh Tâm 1960
19.  Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn
20.  Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
21.  Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và Giải Thanh Tâm 1961
22.  “Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương
23.  |  *
24.  Hát bội miền Nam và hát bội miền Trung
25.  Thầy tuồng bị xem là “tớ tuồng”
26.  Ông Bầu Xuân và đoàn Dạ Lý Hương
27.  “Nghiệp báo” của người sáng lập giải Thanh Tâm
28.  Ông Trần Tấn Quốc và trang kịch trường trên tờ báo Tiếng Dội
29.  Chuyện kép hát cải lương đóng vai nhà sư
               page 3
30.  Các “dượng đào” trong làng cải lương
31.  Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp
32.  Nội tình đoàn Thanh Minh Thanh Nga và chuyện Út Trà Ôn đi Tây
33.  Tiền đạo Nguyễn Văn Quận và chuyện xem một đêm hát cải lương
34.  Chuyện vui làng sân khấu: Tú Trinh và Huỳnh Thanh Trà
35.  Điều kỳ diệu của bài vọng cổ
36.  |  *
37.  Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương
38.  Nghệ sĩ Lệ Thủy: Thinh sắc lưỡng toàn
39.  Tấn Tài: Vị hoàng đế có giọng ca liêu trai
40.  Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu
41.  |  *
42.  Ngọc Giàu: Viên kỳ ngọc của làng sân khấu cải lương
43.  Hà Mỹ Xuân: Cải lương đã thấm vào huyết quản
44.  Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy”
               page 4
45.  Nghệ sĩ Diệu Hiền: Đệ nhất đào võ sân khấu cải lương
46.  Hà Mỹ Liên: Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ
47.  |  *
48.  Vọng Cổ Hài: Thiếu cả người viết lẫn người ca
49.  Diệp Lang: Bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên
50.  Kiên Giang: Lối viết cải lương mang đậm chất thơ
51.  Bạch Huệ: Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ
52.  Minh Cảnh, giọng ca “nhẹ như mây”
53.  Mỹ Châu: “Nữ hoàng” có chất giọng liêu trai
54.  Minh Vương: 50 năm trạng nguyên vọng cổ
55.  Gánh hát cải lương và chuyện Nam Vang đi dễ khó về
56.  Gánh hát Phụng Hảo lưu diễn ở Nam Vang
57.  |  *
58.  Cải lương sanh nghề tử nghiệp
59.  Ca múa “Địa Nàng” ở miền Nam Việt Nam
               page 5
60.  Thanh Tuấn “vua vọng cổ” bên con sông Trà
61.  Đào kép cải lương với điện ảnh
62.  Khi tiệm ăn mang tên đào kép cải lương
63.  Chuyện soạn giả cưới vợ đào hát
64.  Văn nghệ Nùng và tuần lễ văn hóa các dân tộc thiểu số
65.  Danh phẩm Kim Vân Kiều lên sân khấu Trung Hoa
66.  Người đẹp Bình Dương có liên hệ gì đến tỉnh Bình Dương?
67.  Nếu cải lương tổ chức như gánh hát Tàu ở Thái Lan
68.  Chuyện nghệ sĩ sân khấu trùng tên
69.  Chuyện cô Năm Cần Thơ vào hát trong khu kháng chiến
70.  Khi nữ giới làm soạn giả cải lương
71.  Đoàn Dạ Lý Hương và hiện tượng Hùng Cường, Bạch Tuyết
72.  Những hệ lụy sau ngày đào Thanh Loan vào mật khu
73.  Nghệ sĩ Năm Châu và ý kiến gọi ông Trần Tấn Quốc trở về Sài Gòn
74.  Ông Trần Tấn Quốc về Sài Gòn gặp Tổng Thống
               page 6
75.  Ông Ngô Trọng Hiếu với đề án cải tiến hoạt động cải lương
76.  Cô đào Lương Ngọc Yến và gánh hát Tàu ở Chợ Lớn
77.  Cuộc đời nhạc sĩ Sáu Lầu lên sân khấu cải lương
78.  Chuyện về vở hát Tây Thi gái nước Việt
79.  Vở tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” – Cao Văn Lầu
80.  Đoàn Kim Chung thành lập ngoài Bắc, an cư lạc nghiệp trong Nam
81.  Tổ cải lương là ai và thờ Tổ từ bao giờ?
82.  Nàng vượn bạch – Bạch Viên Thanh Nga
83.  Người đẹp Bình Dương và cuộc di cư ra Bắc
84.  Hát cải lương hay là chim bay kiếm mồi
85.  Tuồng cải lương “Con Tấm Con Cám”
86.  Khi đào kép cải lương hát “nhập vai”
87.  “Nữ Trạng Hề” của thập niên 1960-1970
88.  “100 Năm Cải Lương Việt Nam”
89.  Đài phát thanh và những danh ca không hề thấy mặt
               page 7
90.  Vở hát Thuyền Ra Cửa Biển với văn chương… cải lương
91.  Các hãng dĩa hát với hợp đồng thu thanh tuồng cải lương
92.  Nối gót Tư Trang và Thanh Loan, soạn giả Phong Anh vào mật khu
93.  Khi đào cải lương Út Bạch Lan đóng phim
94.  Tổ nghiệp cải lương có phản đối?
95.  Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa
96.  Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định
97.  Khi gánh hát xưa di chuyển bằng đường sông
98.  Chuyện cổ tích “Trầu Cau”
99.  Bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”
100.  Cải lương vay nợ ngày cận Tết
101.  Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình
102.  Bài vọng cổ “Kiếp Con Tằm”
103.  Vở cải lương pha thoại kịch “Tình Cô Gái Huế”
104.  Út Hiền – Bạch Tuyết
               page 8
105.  Do đâu có hiện tượng đào kép cải lương nhảy sang đóng phim
106.  Út Trà Ôn làm bầu gánh Thống Nhứt
107.  Ẩn tình Út Trà Ôn – Ngọc Bích
108.  Nghệ sĩ cải lương có mấy ai nghĩ đến ngày mai
109.  Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa
110.  Vì sao không thấy gánh hát Ấn Độ ở Việt Nam?
111.  Đệ nhị danh ca Út Rạch Giá
112.  UNESCO công nhận Đờn Ca Tài Tử là di sản văn hóa nhân loại
113.  Làm sao để đưa đờn ca tài tử vào trường học?
114.  Con nhà giàu cũng hát… đờn ca ăn xin
115.  Ngôi sao hài tắt lịm, nghệ sĩ Văn Chung vĩnh viễn ra đi
116.  Nghệ thuật cải lương trong cơ chế thị trường
117.  Những vần thơ đối thoại trong vở hát “Ðiên Trong Thời Loạn”
118.  Đêm hát khán giả nhiều nhứt, và đêm hát khán giả ít nhứt
119.  Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng
               page 9
120.  Bài vọng cổ “Bến Vắng Chiều Thu”
121.  Kỳ nữ Kim Cương trên bước đường nghệ thuật và tình cảm
122.  Những thăng trầm của đoàn kịch nói Kim Cương
123.  Thơ Vân Tiên trong bài vọng cổ “Trái Khổ Qua”
124.  “Dạ Cổ Hoài Lang” với Thành Lộc, Hữu Châu trên sân khấu Quận Cam
125.  Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?
126.  Ðờn ca tài tử và “bí ẩn” phía sau cuốn bài ca nhỏ
127.  Vân Tiên – Nguyệt Nga trên sân khấu và trên màn bạc
128.  Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam
129.  Bài vọng cổ “Dưới Bóng Thùy Dương”
130.  Chuyện quan trấn thủ Trấn Biên-Biên Hòa có liên quan đến hát bội
131.  Ngày Rằm Tháng Bảy ở chùa và nghĩa trang nghệ sĩ
132.  Bài vọng cổ “Sương Khói Quê Nghèo” của soạn giả Viễn Châu
133.  “Làng Nghệ Sĩ” trong Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương
134.  Giàn nhạc tài tử cải lương hiếm thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm
...


TẠP CHÍ VĂN HÓA RFI

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 08/03/2017, 08:41:54
Cuộc đời ngoại hạng của nghệ sĩ Phùng Há

Nữ nghệ sĩ Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, huyện Châu Thành, Tỉnh Mỹ Tho, Việt Nam. Bà mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, tại nhà riêng xây trong khuôn viên chùa Nghệ sĩ Gò Vấp, Saigon, hưởng thọ 99 tuổi.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/phungha_99_tuoi.jpg)
Nghệ sĩ Phùng Há, lúc 99 tuổi

SINH THỜI, bà kể, năm 12 tuổi, Phùng Há sống với bà ngoại mù và người mẹ thường đau yếu luôn nên Phùng Há phải đi mò lạch, kiếm cá, tép về làm cái ăn giúp mẹ. Một bà hàng xóm thương tình, dẫn Phùng Há đến làm công in gạch trong lò gạch của ông Bang Hoạch ở xóm cầu đúc lộ số 7, châu thành Mỹ Tho, tiền công in 100 viên gạch được ba xu. Phùng Há in gạch rất khổ nhọc mà chẳng được bao tiền, buồn nên vừa làm vừa hát nghêu ngao, không ngờ những người làm công gần đó nghe thích nên yêu cầu Phùng Há ca cho họ nghe, họ in gạch thế cho Phùng Há.
            Tiếng đồn cô xẩm lai trong lò gạch có giọng hát hay nên ông Hai Cu, bầu gánh hát tìm đến nghe. Ông bèn đề nghị với gia đình Phùng Há cho Phùng Há gia nhập gánh hát Tái Đồng Ban của ông. Ông cho mượn trước 50 đồng để lo thuốc thang cho bà ngoại và phát lương cho Phùng Há 8 cắc một suất diễn.
            Theo gánh hát, Phùng Há được ăn cơm hội, như vậy thì lương của Phùng Há nhiều gấp 10 lần khi đi in gạch. Về gánh Tái Đồng Ban, Phùng Há được nhạc sĩ kiêm soạn giả Tư Chơi dạy ca, nghệ sĩ Năm Châu và thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh dạy hát.
            Bà vào nghề hát từ năm 1924, lúc 13 tuổi, vai đầu tiên của bà hát trên sân khấu gánh hát Tái Đồng Ban là vai Giả Thị, tuồng Hoàng Phi Hổ Quy Châu của soạn giả Nguyễn Công Mạnh.
            Từ khi mới vào nghề hát năm 13 tuổi cho đến khi bà xa rời sân khấu vì tuổi già sức yếu, Phùng Há luôn luôn thủ diễn vai đào chánh các gánh hát Tái Đồng Ban, gánh hát Thầy Năm Tú, gánh hát Huỳnh Kỳ, Trần Đắc, Phụng Hảo, Tam Phụng, Con Tằm, đoàn Việt Kịch Năm Châu.
            Bà đã sáu lần lập gánh hát, một lần mang bảng hiệu gánh hát Huỳnh Kỳ và năm lần với bảng hiệu đoàn cải lương Phụng Hảo, bà vừa làm bầu gánh vừa là đào chánh. Bà đã có nhiều vai hát để đờì, như vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình, vai Manh Lệ Quân trong tuồng Mạnh Lệ Quân thoát hài, vai tướng An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận… và những vai tuồng xã hội trong các vở Tô Ánh Nguyệt, Đời Cô Lựu, Đêm Không Ngày, Sân Khấu Về Khuya, Vợ và Tình…
            Giới nghệ sĩ sân khấu cải lương và ký giả kịch trường đánh giá những vai hát để đời của nghệ sĩ Phùng Há có tính cách nghệ thuật hát kinh điển, từ một trăm năm qua chưa có nghệ sĩ nào hát những vai này hay hơn bà.
            Lúc làm bầu gánh hát Phụng Hảo, bà Phùng Há mời những nghệ sĩ bậc thầy người Trung Quốc, Hồng Kông sang Việt Nam, giảng dạy cho bà nghệ thuật hát, các đông tác vũ đạo theo đúng hí khúc Trung Quốc (múa khăn, sử dụng quạt của vai nam, vai nữ, cách thức dâng rượu, múa thương, múa kích, múa gươm của các nhân vật võ tướng, bộ quan văn, bộ võ tướng trong tuồng Tàu). Bà đã tiết chế bớt âm nhạc theo thể loại hí khúc Trung Quốc như loại bỏ các điệu đánh trống, mõ, đồng lố, chập chỏa minh họa theo từng động tác của diễn viên và giản lược động tác vũ đạo sân khấu để phù hợp với sân khấu cải lương Việt nam, đặt nền móng cho nghệ thuật hát cải lương tuồng dã sử, lịch sử Việt Nam trong các thập niên 1950, 1960.
            Nghệ sĩ Phùng Há sống gần 100 tuổi mà đã dành 86 năm của cuộc đời mình để góp phần xây dựng một nền nghệ thuật sân khấu độc đáo của dân tộc Việt Nam. Bà đã đào tạo hàng trăm nghệ sĩ cải lương tài danh trong ba thế hệ nghệ sĩ, đào tạo trực tiếp trên sân khấu khi tập tuồng, đào tạo tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, thời Việt Nam Cộng Hòa khi bà là giảng viên kịch nghệ.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/aef_image_original_format/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/KimCuc_NamChau_PhungHa.jpg)
Kim Cúc, Năm Châu và Phùng Há

            Bà cũng là giảng viên trường Nghệ Thuật Sân Khấu, trường đào tạo nghệ sĩ sân khấu của nhà hát Trần Hữu Trang sau năm 1975. Học trò của bà thành danh có các nghệ sĩ Thanh Nga, Thành Được, Thanh Thanh Hoa, Nam Hùng, Tô Kim Hồng, Thanh Thanh Tâm, Đỗ Quyên, Thanh Nguyệt, Quốc Nhĩ, Tú Trinh, Hoàng Trinh, Thúy Uyễn, Tuyết Sĩ, Phương Ánh, Hương Xuân, Minh Ngọc v.v…
            Nghệ sĩ Phùng Há được giới nghệ sĩ cải lương và các bậc thức giả khen là một bực minh sư trong ngành hát, một cây Đại Thụ của Cải Lương và được phong là Nghệ sĩ Nhân Dân.
            Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há đã được tưởng thưởng những huy chương, bội tinh của vua Bảo Đại, của quan Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương, của vua Miên, Lào, Thái Lan, của đại sứ Trung Hoa Dân Quốc ở Việt Nam, của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và của chánh phủ Việt Nam hiện tại.
            Năm 1964, bà đã có dịp xuất ngoại hát tại Pháp, tại Hungary (Budapest) được khán giả ngoại quốc nhiệt liệt ngợi khen, dù họ không hiểu tiếng Việt, nhưng thông qua diễn xuất của nghệ sĩ Phùng Há, họ hiểu được cốt chuyện và tâm tình nhân vật do bà thủ diễn.
            Nghệ sĩ Phùng Há còn được mọi ngành mọi giới xem bà Phùng Há là biểu tượng đoàn kết trong giới nghệ sĩ cải lương.
            Năm 1948, bà Phùng Há là một trong những nghệ sĩ tiền phong đứng ra thành lập Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ, đặt trụ sở tại số 133 đường Cô Bắc quận nhứt Saigon. Bà Phùng Há nhiều lần tái đắc cử Hội Trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ. Bà tổ chức hát Hội, quyên tiền lập quỹ giúp đỡ các nghệ sĩ bịnh hoạn, nghèo yếu neo đơn, bà vận động nghệ sĩ tiếp tay cứu trợ nạn nhân hỏa hoạn Khánh Hội, giúp đỡ các nạn nhân hỏa hoạn vì chiến cuộc ở khu Nancy năm 1955.
            Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ đã đại diện nghệ sĩ Việt Nam tiếp đón các phái đoàn văn nghệ các nước bạn Trung Hoa Dân Quốc, Ấn Độ, Pháp quốc, Hoa Kỳ trong các cuộc giao lưu văn hóa nghệ thuật với Việt Nam trong đầu thập niên 50 tại Saigon.
            Năm 1958, bà Phùng Há vận động sự tài trợ của Hội Đua Ngựa Phú Thọ giúp cho một ngày doanh thu của Hội đua ngựa để có tiền mua đất, lập chùa nghệ sĩ và khu nghĩa trang nghệ sĩ ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp. Tính từ năm 1958 đến năm 2008, Chùa Nghệ Sĩ và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ đã có 456 ngôi mộ nghệ sĩ cải lương và 500 lô cốt của nghệ sĩ cải lương được hỏa táng, thờ phượng trong Chùa Nghệ Sĩ ở huyện Gò Vấp.
            Năm 1997, bà Phùng Há cũng thay mặt cho Ban Ái Hữu Nghệ Sĩ xin với chánh quyền một khu đất ở đường Âu Dương Lân quận 8 để xây nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Đây là khu đất thuộc Viện Tế Bần cũ thời Việt Nam Cộng Hòa, bỏ hoang đã lâu. Được sự chấp nhận của chánh phủ, bà tổ chức hát Hội để lập quỹ xây dựng Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Nhiều nhà Mạnh Thường Quân, các chủ thương buôn ở chợ Bến Thành, chợ An Đông, chợ Bình Tây ái mộ cải lương, các chủ quán có ca nhạc, các nghệ sĩ tài danh và Nhà nước tiếp tay tài trợ, nên viện dưỡng lão đã được xây dựng rất khang trang và chung quanh có vườn cây cảnh đẹp. Bà Phùng Há và các quan chức thành phố, các nghệ sĩ tài danh đến tổ chức lễ khánh thành Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ vào ngày 07 tháng 3 năm 1998. Trong 13 năm qua, có 40 lão nghệ sĩ được nuôi dưỡng trong viện dưỡng lão nghệ sĩ, trong số đó có 18 lão nghệ sĩ đã qua đời.
            Nữ nghệ sĩ Phùng Há là người Việt Nam duy nhất không phải là người có quyền thế hay có gia tài sự nghiệp của cha mẹ để lại, bản thân của bà cũng không phải là người giàu có, dư ăn dư mặc, nhưng bà Phùng Há đã thực hiện được rất nhiều việc từ thiện giúp cho nhiều nghệ sĩ bịnh tật, nghèo yếu neo đơn và giúp cho đồng bào bất hạnh, nạn nhân của thiên tai, bão lụt. Tôi được biết bà là người nòng cốt trong việc Chùa Nghệ Sĩ và các nghệ sĩ vận động quyên tiền, tổ chức hơn 20 chuyến đi đến tận nơi bị thiên tai bão lụt để giúp đồng bào nạn nhân.
            Nghệ sĩ Phùng Há với tính cách là hội trưởng Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu và với uy tín cá nhân, bà đã cùng với Hội nghệ sĩ thực hiện được ba công trình có tầm vóc quốc tế: Đó là lập Chùa Nghệ Sĩ, Nghĩa Trang Nghệ Sĩ và Viện Dưỡng Lão Nghệ sĩ… Tôi dùng chữ tầm vóc quốc tế không phải ý muốn nói ba công trình đó được kiến trúc lớn rộng hay nguy nga, ngang tầm với những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là những việc như xây Chùa Nghệ Sĩ, lập Nghĩa Trang Nghệ Sĩ và Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ cải lương thì trên thế giới, chưa có nghệ sĩ nước nào làm, chưa có ngành nghề nào làm riêng cho ngành nghề của mình như giới nghệ sĩ cải lương đã làm được cho nghệ sĩ cải lương.
            Cố nữ nghệ sĩ Phùng Há mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, hưởng thọ 99 tuổi.
            Phùng Há không có điều gì mong ước riêng cho mình. Trong 86 năm cuộc đời nghệ sĩ, bà Phùng Há đã cống hiến trọn đời cho nghệ thuật, đã góp công sức để làm việc từ thiện giúp đồng bào nghèo, hoạn nạn, thiếu đói và giúp cho các thế hệ nghệ sĩ kém may mắn hơn mình.
            Có mấy ai trên cõi đời này đến tuổi gần 100 năm như bà Phùng Há mà lại có cuộc sống tràn đầy ý nghĩa và tình thương như bà?


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 7/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110731-cuoc-doi-ngoai-hang-cua-nghe-si-phung-ha

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 11/03/2017, 16:53:41
Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, giọng ca vang lộng sinh khí

Chương trình phát thanh cổ nhạc kỳ này xin giới thiệu cuộc đời của nghệ sĩ Út Trà Ôn, từng được giới hâm mộ tặng cho danh hiệu Vua Vọng Cổ. Lúc sinh tiền, giọng ca vang lộng đầy sinh khí và truyền cảm của Út Trà Ôn đã được thính giả Việt Nam nồng nhiệt tán thưởng.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/portrait.jpg)
Vua vọng cổ Út Trà Ôn

TRƯỚC KHI đề cập đến cuộc đời nghệ thuật của vua vọng cổ Út Trà Ôn, xin giới thiệu tóm tắt về bản vọng cổ, bản nhạc vua của sân khấu cải lương.
            Năm 1918, nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu, sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang (Đêm Khuya nghe tiếng trống nhớ chồng), bài Dạ Cổ Hoài Lang được giới cổ nhạc ưa thích, thường diễn tấu trong các cuộc đàn ca tài tử. Lúc đó, khi tấu nhạc hòa đàn, các nhạc sĩ đóng góp thêm sáng kiến, tăng nhịp thức, phong phú hóa nhạc điệu, bài Dạ Cổ Hoài Lang đổi tên gọi là Vọng Cổ Hoài Lang rồi Vọng Cổ, từ nhịp đôi đến nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu tăng lên thành nhịp ba mươi hai rồi nhịp sáu mươi bốn. Qua một thời gian lâu dài với sự đóng góp tâm huyết của bao thế hệ nhạc sĩ và ca sĩ, bản Vọng Cổ khẳng định giá trị của mình trong nền âm nhạc của sân khấu cải lương.
            Bản Vọng Cổ vừa có tính chất tự sự, vừa có tính chất trữ tình, với 32 nhịp hay 64 nhịp, lồng khung của bản nhạc vừa đủ dài để tác giả viết lời ca nhiều chữ, khiến cho bài vọng cổ có tính chất kể chuyện, tâm sự, nội dung chuyên chở một câu chuyện, một nổi lòng đầy đủ tính chất hỉ, nộ, ái, ố mà sân khấu cải lương thường diễn tả.
            Bài Vọng Cổ được dùng như một cái khung, gọi là lòng bản, tác giả có thể viết bằng văn xuôi, văn vần, bằng các loại thi thơ, có thể kết hợp với nhạc nên giúp cho ca sĩ nhiều phương tiện, nhiều hình thức để diễn tả trong khi ca vọng cổ, do đó ca sĩ có thể tạo một phong cách ca riêng biệt của mình. Cùng là một bài vọng cổ, không ai đàn giống ai, không ai ca giống ai nhưng tất cả vẫn biểu diễn đúng là âm điệu và tiết tấu của bản vọng cổ mà qua đó người danh ca có một lối ca riêng của mình, người đàn cũng có ngón đàn riêng.
            Từ thập niên 60, ký giả Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dội Miền Nam mở một cuộc trưng cầu ý kiến của đọc giả, khán thính giả ưa thích cải lương, bình chọn những nghệ sĩ được gọi là đệ nhất trong ngành sân khấu cải lương. Kết quả như sau:
            Nghệ sĩ Út Trà Ôn, với giọng ca hơi đồng trầm ấm, phong cách ca ngâm rõ ràng, truyền cảm, nên được phiếu bầu cao nhất và được tặng danh hiệu là Đệ Nhất Danh Ca Nam. Ông còn được các ký giả kịch trường và giới ái mộ cải lương tặng cho biệt danh Vua Vọng Cổ.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_43_large/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/uttraon.jpg)

VUA VỌNG CỔ Út Trà Ôn tên thật là Nguyễn Thành Út, sanh năm 1919 tại làng Đông Hậu, quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông là người con thứ 10 trong gia đình nên được các bạn nghệ sĩ gọi là anh Mười Út.
            Năm 13 tuổi, anh Mười Út đi cày thuê cấy mướn, nhờ có giọng tốt, nên khi làng có Hội cúng Kỳ Yên, anh Mười Út được Ban Nhạc Lễ nhờ đứng ra xướng danh cho hương chức hội tề cúng lễ. Ông Năm Tồn, nhạc sĩ đờn tranh và ông Tư Hiệu, nhạc sĩ đờn cò dạy cho anh Mười Út ca hai mươi bài bản tổ của cổ nhạc.
            Năm 15 tuổi, Mười Út nổi danh trong Ban đàn ca tài tử của quận Trà Ôn.
            Năm 18 tuổi, Mười Út lên Saigon chơi đàn ca tài tử, gặp dịp hãng rượu Bình Tây tổ chức thi ca thưởng rượu, anh Út dự thi được giải nhất. Đài Pháp Á mời anh Út ca trên đài phát thanh và đặt nghệ danh cho anh là Út Trà Ôn khi giới thiệu anh ca các bài vọng cổ Thức suốt đêm đông, Sầu bạn chung tình và Tôn Tẩn giả điên. Giọng ca vang lộng đầy sinh khí và truyền cảm của Út Trà Ôn đã được thính giả nhiệt liệt tán thưởng.
            Năm 1943, anh Út Trà Ôn nổi danh trong vai Hoàng Tử Thủy Tề trong tuồng Lý Chơn Tâm cưỡi củi của gánh hát Hề Lập…
            Năm 1947, Út Trà Ôn được hãng đĩa Asia mời thu đĩa bài vọng cổ Thái Sư Văn Trọng gián thập điều và bài vọng cổ Trụ Vương thiêu mình. Hai bài vọng cổ này được Đài Pháp Á phát thanh trên làn sóng điện thì lập tức khắp Saigon, Chợ Lớn và các tỉnh miền Hậu Giang dấy lên một phong trào thưởng thức vọng cổ. Báo chí không ngớt viết bài ngợi khen giọng ca của Út Trà Ôn. Đĩa vọng cổ Thái Sư Văn Trọng gián thập điều phát hành chưa tới ba tháng mà đã bán hết sạch. Hãng đĩa Asia phải tái bản lần thứ hai, thứ ba mà vẫn không đáp ứng được số yêu cầu. Ông bầu Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh ký hợp đồng 50.000 đồng để mời nghệ sĩ Út Trà Ôn về hát cho gánh hát Tiến Hóa của ông. Đây là một số tiền rất lớn, lập kỷ lục trong hợp đồng giữa nghệ sĩ và chủ gánh hát trong thời điểm này. Nên nhớ là số trúng độc đắc của cuộc xổ số Đông Dương lúc đó là một trăm ngàn đồng.
            Năm 1951, Út Trà Ôn hát cho đoàn Mộng Vân với hợp đồng ký một trăm ngàn đồng tức là gấp đôi số tiền hợp đồng của anh ký với đoàn Tiến Hóa. Nghệ sĩ Út Trà Ôn rất nổi tiếng qua các tuồng Triều Tiên vong quốc sử, Đảng Chiếc lá vàng, Ba ngọn đèn xanh của tác giả Mộng Vân, mở màn cho một cao trào các tuồng cải lương kiếm hiệp rất ăn khách lúc bấy giờ.
            Năm 1954, Út Trà Ôn ký hợp đồng về hát cho đoàn Thanh Minh với giá tiền là 750.000 đồng, lương mỗi suất hát là một ngàn đồng. Nghệ sĩ Út Trà Ôn nổi danh qua các tuồng Con trai người ăn mày, Hoàng Tử của mùa xuân, Nẻo tắt Hoành Sơn, Hồi trống Vân Lâu…
            Soạn giả Viễn Châu, người chuyên sáng tác vọng cổ cho nghệ sĩ Út Trà Ôn ca, nhận xét về ông vua vọng cổ này: “Nghệ sĩ Út Trà Ôn có hơi đồng trầm ấm, phong cách ca ngâm khoan thai, chững chạc, thích hợp với tâm sự một ông lão chèo đò, sống ung dung tự tại cùng sông nước, không mãn chuyện thế thái nhân tình. Giọng ca không chân phương quá mà cũng không luyến láy kỹ thuật quá, người ca biết tôn trọng ý tứ của người viết và tìm cách thể hiện cho thật phù hợp với bài ca. Nghệ sĩ Út Trà Ôn còn được xem là bậc thầy về lối hành văn, sắp chữ, câu nhiều chữ ca vẫn hay, câu ít chữ kéo ra vẫn duyên dáng. Nhịp nhàng chắc chắn, cung bổng cung trầm đâu ra đó rõ ràng”.
            Soạn giả Viễn Châu đã sáng tác hai bản vọng cổ “Ông lão chèo đò” và “Tình anh bán chiếu”, có thể nói là danh ca Út Trà Ôn đã làm cho hai bản vọng cổ này nổi tiếng và cũng từ hai bản vọng cổ này mà danh hiệu Vua Vọng Cổ của Út Trà Ôn càng được khẳng định.
            Năm 1958, sau khi mãn hợp đồng hợp tác của bộ tứ chủ bầu Út Trà Ôn, Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, nghệ sĩ Út Trà Ôn trở về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh. Ông ký giao kèo với một số tiền kỷ lục là một triệu năm trăm ngàn đồng, lương mỗi suất hát là một ngàn năm trăm đồng.
            Năm 1961, nghệ sĩ Út Trà Ôn ký hợp đồng hát cho đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản. Năm 1962, Út Trà Ôn và Hoàng Giang hợp tác thành lập đoàn hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn.
            Năm 1964, ông theo đoàn hát Dạ Lý Hương của bầu Xuân và năm 1965, ông ký hợp đồng với bầu Long, hát cho đoàn Kim Chung 1, rồi Kim Chung 6.
            Năm 1968, ông trở về cộng tác với đoàn Thanh Minh Thanh Nga, sau đó ông có thời gian hát cho đoàn Thái Dương, đoàn Hoa Lan, đoàn Tiếng Hát Dân Tộc. Từ năm 1969 đến năm 1975, nghệ sĩ Út Trà Ôn hát tăng cường cho các đoàn hát Tấn Tài, Thanh Hải, Minh Cảnh.
            Sau năm 1975, nghệ sĩ Út Trà Ôn hát cho đoàn cải lương Saigon 1 đến năm 1979 rồi chuyển sang diễn cho nhà hát Trần Hữu Trang đến năm 1988 thì ông nghỉ, không trình diễn trên sân khấu nữa.
            Tuy nhiên vì ông vẫn nhớ nghề nên mãi đến khi đã 80 tuổi, ông thường được mời tham gia Ban Giám Khảo cho các cuộc thi tuyển lựa giọng ca cải lương ở các tỉnh, cho giải huy chương vàng Trần Hữu Trang và cho Hội Sân Khấu, góp phần đào tạo và tuyển lựa nghệ sĩ tài tử các thế hệ kế thừa và ông đi ca cổ nhạc giúp cho các chùa gây quỹ làm việc từ thiện.
            Út Trà Ôn mất lúc 7 giờ 30, ngày thứ hai 13 tháng 8 năm 2001 tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương Saigon, được quàn tại tư gia số 706 đường Điện Biên Phủ quận 10 Saigon và an táng ngày thứ sáu 17 tháng 8 năm 2001 tại nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp.
            Dân chúng và nghệ sĩ cải lương vĩnh biệt ông, người nghệ sĩ tài hoa đã cống hiến cả đời cho sân khấu. Ông đã để lại cho sân khấu cải lương một nghệ thuật ca vọng cổ chân phương với kỹ thuật ca chồng hơi độc đáo do ông sáng tạo, cách sử dụng hơi ca, ngân, luyến láy trầm bỗng, nhặt khoan, đã giúp cho bản vọng cổ trở thành bản nhạc vua của sân khấu cải lương.
            Ông đã hướng dẫn, truyền nghề cho những nghệ sĩ cùng đứng chung sân khấu với ông. Các nghệ sĩ tài danh Thanh Nga, Diệu Hiền, Út Hậu, Út Hiền, Phương Quang, Thanh Hải, Ngọc Ản, Thanh Sang đều xem ông như sư phụ của mình. Đến ngày ông mất, ông vẫn được giới nghệ sĩ và khán giả ái mộ tôn vinh ông trong ngôi vị Vua Vọng Cổ.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 10/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111030-vua-vong-co-ut-tra-on

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 17/03/2017, 12:04:25
Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc

Tiếp tục các bài viết về âm nhạc truyền thống Việt nam, soạn giả cải lương Nguyễn Phương giới thiệu về thân thế sự nghiệp và cuộc đời nghiệt ngã của nữ nghệ sĩ tài danh của sân khâu cải lương Việt nam Thanh Nga, người được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/PhamDuyLanvaThanhNga.jpg)
Hai vợ chồng nghệ sĩ Phạm Duy Lân – Thanh Nga

ÔNG HỘI ĐỒNG quản hạt tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Lợi kết hôn với bà Nguyễn Thị Thơ, sanh được ba con, tại xã Thái Hiệp Thạnh, tỉnh Tây Ninh: Trưởng nam là Albert Nguyễn Hữu Thìn sanh năm 1940, tức là diễn viên Hữu Thìn của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Thứ nữ là Juliette Nguyễn Thị Nga, sanh ngày 31 tháng 7 năm 1942 tức là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga. Thứ nam, Michel Nguyễn, sanh năm 1944, tác giả một tuồng cải lương duy nhứt tựa là “Người đi trong ngõ tối”, từ trần năm 1970.
            Năm 1945, ông Hội Đồng Lợi bị sát hại tại tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thơ sợ sẽ bị giết hại như chồng, nên dắt ba đứa con còn nhỏ xuống Saigon lánh nạn. Năm 1948, Bà Thơ tái giá với ông Lư Hòa Nghĩa tức nghệ sĩ danh ca Năm Nghĩa, sanh được 5 con: Lư Bảo Quốc, tức danh hài Bảo Quốc. Lư Chí Bình, Lư Ánh Đào, Lư Ánh Mai và Lư Chí Tiên, không theo nghề nghệ sĩ sân khấu.
            Năm 1952, mới 10 tuổi, Thanh Nga được nghệ sĩ Năm Nghĩa dạy ca và đưa lên sân khấu đoàn Thanh Minh ca vọng cổ bài Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa, trước khi mở màn hát. Nhạc sĩ Út Trong nhạc trưởng của đoàn hát dạy cho Thanh Nga ca những bài bản cổ nhạc khác.
            Năm 1954, vai diễn đầu tiên của Thanh Nga là vai đào con Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa.
            Năm 1958, Thanh Nga 16 tuổi mới được đóng vai Sơn Nữ Phà Ca, vai chính trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới của soạn giả Kiên Giang và Qui Sắc. Qua vai hát Sơn Nữ Phà Ca, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được thưởng Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm, do ký giả Trần Tấn Quốc thành lập, giải thưởng cho diễn viên triển vọng xuất sắc nhất trong năm.
            Năm 1959, nghệ sĩ Năm Nghĩa, dưỡng phụ và là thầy của Thanh Nga mất. Năm 1960, Bà Bầu Thơ, thân mẫu của Thanh Nga trực tiếp điều khiển đoàn Thanh Minh, đổi bảng hiệu lại là Đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà rước những nghệ sĩ bực thầy về dạy cho Thanh Nga ca, diễn, như anh Năm Châu, cô Phùng Há, cô Ba Thanh Loan, cô Kim Cúc. Anh Ba Vân.
            Từ năm 1960 đến năm 1968 nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn những vai chánh, đóng cặp với những nam nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang và có lúc có anh Năm Châu, anh Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, bà Năm Sađec đóng chung tuồng với Thanh Nga.
            Thanh Nga là một ngôi sao sáng, với sắc đẹp thật dịu dàng, ngày càng quyến rũ. Thanh Nga vào vai nữ hoàng, công chúa, cô có nét đẹp lộng lẫy kiêu sa. Vào vai cô gái quê nghèo, Thanh Nga mang nét thôn quê bình dị với chiếc áo bà ba, với giọng ca truyền cảm đến lạ lùng, Thanh Nga đã có những vai để đời như vai Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa; Mã Nhi Nương Bửu (Gió ngược chiều), Giáng Hương (Sân khấu về khuya), Diệp Thúy trong tuồng Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong tuồng Bọt biển…
            Năm 1960 Thanh Nga được thưởng bằng danh dự diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm. Năm 1966, Thanh Nga lại được thưởng giải diễn viên xuất sắc nhất trong năm. Thanh Nga cũng thành công trong lãnh vực Điện ảnh qua các phim: Đôi mắt người xưa, Loan mắt Nhung, Lan và Điệp, Sau giờ giới nghiêm, Triệu phú bất đắc dĩ…
            Năm 1968, Tết Mậu thân, chiến tranh lan vô các thành phố, chánh phủ ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm, các đoàn hát cải lương không hát được, nhiều đoàn phải chịu rã gánh.
            Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được ông Phạm Duy Lân, Đổng Lý Văn Phòng bộ Thông Tin gợi ý xuất ngoại sang Pháp biểu diễn cho Việt Kiều xem nhân dịp Tết năm 1969. Đối với bộ Thông Tin, việc đưa đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp hát là một công tác tranh thủ tình cảm của Việt Kiều ở Pháp khi đang có hội nghị bốn bên ở thủ đô Paris. Đối với đoàn hát thì đây là lối ra duy nhứt để đoàn có doanh thu. Bà bầu Thơ đồng ý, vì vậy ông Phạm Duy Lân thường xuyên giúp đỡ bà bầu Thơ giải quyết mọi thủ tục liên quan tới việc đưa đoàn hát xuất ngoại, việc chọn tuồng và chọn diễn viên.
            Năm 1969, đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở Pháp trong vòng 2 tháng, hát ở rạp Maubert, Playel và các tỉnh miền Nam nước Pháp, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được khán giả Việt Nam ở Pháp nhiệt liệt khen ngợi qua các tuồng Con gái chị Hằng, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Hoa Mộc Lan, Giấc mộng đêm xuân.
            Sau chuyến lưu diễn ở Pháp về, nữ nghệ sĩ Thanh Nga thành hôn với ông Phạm Duy Lân. Năm 1972, đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngưng hoạt động, nữ nghệ sĩ Thanh Nga đi hát cho đoàn Việt Nam của bà bầu Thu hoặc đi đóng phim, thu truyền hình tuồng cải lương.
            Sau 30 tháng 4 năm 1975, bà bầu Thơ được phép thành lập gánh hát với bảng hiệu đoàn Thanh Nga. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga tiếp tục nhận được cảm tình nồng hậu của khán giả qua các tuồng Tấm lòng của Biển, Tiếng trống Mê Linh, Bài thơ trên cánh diều, Thái hậu Dương Vân Nga.
            Ngày 16 tháng 3 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh tại rạp Lao Động B gần cầu chữ Y thì có một kẻ vô danh liệng một quả lựu đạn lên sân khấu. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.
            Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Saigon. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).
            Sáng hôm sau hay tin, chúng tôi lập tức đến nhà bà bầu Thơ. Bà rất buồn, nói như lạc giọng: “Chú thiếm Ba, Thanh Nga bị bắn chết rồi. Chú thiếm ra bệnh viện Saigon thăm cháu!” Thanh Lệ, vợ của Hữu Thìn cùng đi với chúng tôi. Khó khăn lắm chúng tôi mới vô bệnh viện được vì dân chúng hiếu kỳ đứng nghẽn cả lối đi. Nhân viên bệnh viện đưa chúng tôi đến phòng lạnh, kéo hai hộc đựng xác ra để chúng tôi nhìn.
            Thanh Nga nằm hộc trên, khi kéo ra thì tóc cô đổ xõa dài xuống đất, đen mượt như một dòng suối đen. Thanh Nga đã được chị Ngọc Nuôi đánh phấn, thoa son, hóa trang như đang trình diễn. Nét mặt Thanh Nga vẫn đẹp, đôi mắt nhắm lại như đang trong giấc ngủ bình yên. Cô đã được chị Ngọc Nuôi và bà Sáu đồ hội thay cho mặc bộ y phục Thái Hậu Dương Vân Nga y như đã mặc trên sân khấu đêm rồi, trước khi bị sát hại. Ông Phạm Duy Lân, chồng của Thanh Nga nằm hộc dưới, nét mặt còn lộ vẻ kinh hoàng. Ông đã được thay bộ âu phục đen, thắt cà vạt sọc xanh trắng.
            Các nghệ sĩ Kim Cương, Ngọc Nuôi, Liễu Thuận, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, bà năm Hay (em bà bầu Thơ) và chúng tôi nghe anh tài xế của ông Lân (tên Cát) kể lại diễn biến thảm cảnh Thanh Nga bị sát hại.
            Anh Cát nói xe về tới nhà ở đường Ngô Tùng Châu, khi anh mở cửa xe bước ra thì bị một người lạ mặt đánh một báng súng vô ót rồi xô anh té chúi trở vô xe. Anh còn nghe tiếng cửa xe bên kia mở, tiếng khóc thét của Cúc Cu, tiếng la lớn của Thanh Nga: “Buông con tôi ra, buông con tôi ra” và tiếng của ông Lân la rất lớn: “Bớ người ta… cướp… cướp”, tiếp theo đó là hai phát súng chát chúa. Kẻ sát nhân bắn xong, phóng lên chiếc xe Honda đen, chạy mất…
            Ông Phạm Duy Lân chết liền tại chỗ, nằm gục dưới đất, gần cửa sau xe, vết đạn trúng tim. Thanh Nga bị bắn trên ngực phía trái gần tim. Cô được chở bằng xe cyclo đi bệnh viện Saigon cấp cứu, nhưng xe đến ngang ga xe lửa thì Thanh Nga tắt thở.
            Theo yêu cầu của Hội nghệ sĩ, lễ tang của Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân do Hội nghệ sĩ đứng ra tổ chức. Quan tài của Thanh Nga và chồng được quàng tại nhà Hội, số 81 đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Mac Mahon cũ) hai quan tài để song song, sát vào nhau và để một lư hương chung cho hai vợ chồng, tránh việc người vào viếng chỉ thắp hương cho Thanh Nga mà không thắp hương cho ông Lân. Khi liệm, Thanh Nga vẫn mặc y phục hát vai Thái Hậu Dương Vân Nga, y phục đẫm máu của Thanh Nga được để dưới đất ở đầu quan tài.
            Tôi còn nhớ số người ái mộ Thanh Nga quá đông, phải tổ chức cho xếp hàng 4, từ cổng vô ở đường Nguyễn Văn Trổi, nối đuôi trên đường Tú Sương dài tới trường Régina Pacis. Liên tục trong ba ngày ba đêm, số người đến viếng tang kiên nhẫn nối đuôi nhau, tay cầm một cây nhang đã đốt sẵn hoặc một cành hoa do ban tổ chức đưa cho, để khi vào trước quan tài Thanh Nga đỡ tốn thì giờ thắp nhang.
            Số nghệ sĩ các đoàn hát và các em học sinh ái mộ cũng xếp hàng 4 trên đường Nguyễn Văn Trỗi, cũng cầm nhang đốt sẵn, đi vào bằng cổng phụ, tới trước quan tài Thanh Nga, đặt hoa xuống hoặc cắm nhang rồi đi ra về theo cổng chính. Số người theo sau quan tài Thanh Nga đến nơi an nghỉ cuối cùng cũng rất đông, phải kể là một con số kỷ lục. Cứ tưởng tượng, số người đi đưa tang Thanh Nga đứng lấp cả lòng đường Hiền Vương. Đầu đám tang đã tới đường quẹo qua Dakao, dòng người nối đuôi vẫn chưa rời khỏi trụ sở của Hội ở đường Nguyễn Văn Trỗi. Có thể nói là cả mấy chục ngàn người đã đi tiễn Thanh Nga.
            Phát súng bắn vào Thanh Nga đã làm bàng hoàng mọi người. Nhiều nghi vấn đã được đặt ra: Ai là thủ phạm đã giết Thanh Nga? Với mục đích gì?
            Dư luận nói Phục Quốc quân giết Thanh Nga thì căn cứ vào việc Thanh Nga hát những vở tuồng của cộng sản, Thanh Nga là công cụ tuyên truyền của cộng sản, giết Thanh Nga là cảnh cáo những nghệ sĩ khác. Nhưng khi mất Saigon rồi, mất cả miền Nam rồi, có nghệ sĩ nào mà không ca, không hát những tuồng đã được nhà cầm quyền đương thời kiểm duyệt và cho phép hát? Những tuồng như Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tấm lòng của biển… có điểm nào đáng để mà kết án tử hình người nghệ sĩ đã hát những tuồng đó?
            Dư luận nói cộng sản Trung Quốc giết thì căn cứ vào tình hình gay cấn giữa Trung Quốc và Việt Nam (Nạn Hoa kiều ở Hải Phòng, Saigon, Chợ Lớn…) Thanh Nga diễn những vở chống xâm lăng Tàu như Tiếng trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga…
            Lúc đó tình hình giữa Việt Nam và Trung Cộng đang căng thẳng với nhau nên nhà cầm quyền lợi dụng cái chết của Thanh Nga để mà động viên tòng quân chống xăm lăng Tàu Cộng. Thanh Nga chết ngày 26 tháng 11 năm 1978, Tàu cộng đánh qua biên giới tháng 2 năm 1979, hỏng lẽ họ giết chết Thanh Nga ba tháng trước rồi mới tràn qua biên giới sao?
            Đến cuối năm 1987, có phiên “Tòa án nhân dân thành phố“ xử những tên bắt cóc trẻ thơ và giết người. Các báo tường thuật: Vụ án Thanh Nga trước sau chỉ đơn thuần là một vụ bắt cóc con để tống tiền những cha mẹ có tên tuổi, có máu mặt sau 1975 như cô đào Kim Cương, cô đào Thanh Nga, bác sĩ Nguyễn La Hỹ. Họ là những người chỉ có một đứa con duy nhứt và lại lắm bạc nhiều tiền.
            Con trai của đào Kim Cương tên Tô Rô bị bắt vào ngày 26 tháng 12 năm 1977 giá tiền chuộc là 20 lượng vàng. Sau khi Kim Cương nạp đủ số vàng trên, bọn cướp cho Tô Rô uống thuốc ngủ rồi đem tới bỏ trước cửa Sở Bưu Điện Saigon. Kim Cương được báo tin, tới nhận lại con.
            Đến con trai của Thanh Nga, Cúc Cu Phạm Duy Hà Linh, vì Thanh Nga và ông Lân chống cự, kêu cứu, bọn chúng sợ quá, bắn đại để thoát thân (theo lời khai của can phạm Nguyễn Thanh Tân trước Tòa).
            Mấy tháng sau, ngày 6 tháng 2 năm 1979, xảy ra vụ bắt cóc con trai bác sĩ Nguyễn La Hỹ làm việc tại bệnh viện Chợ Rẩy tên là Phương. Bọn bắt cóc người cũng đòi tiền chuộc là 20 lượng vàng.
            Các báo kể: Trong một cuộc phục kích, công an bắn trúng lưng tên Nguyễn Văn Hóa làm tên nầy bị trọng thương, phải vào bệnh viện cứu cấp. Do lời khai của tên Hóa, những tên trong băng bắt cóc cháu Phương bị sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương, con bác sĩ Hỹ được Tân đưa về giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi mà hơn một năm trước chúng cũng giam giữ cháu Tô Rô. Như vậy hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm và giàu có thì đã rõ. Còn những phát đạn bắn vào vợ chồng Thanh Nga thì tên Tân khai là vì phản ứng quyết liệt của hai vợ chồng Thanh Nga, chúng sợ ông Lân có súng, nên ra tay trước để tẩu thoát.
            Mạng sống của con người thì ai cũng phải trân trọng, bởi lẽ người ta sinh ra chỉ một lần và chết đi cũng chỉ một lần. Nhưng cái chết của từng mỗi con người chỉ là tổn thất của từng mỗi gia đình hay trong một phạm vi quan hệ nhỏ. Còn sinh mạng bị cướp đi của Thanh Nga là một tổn thất không gì bù đắp nổi của sân khấu cải lương và là niềm đau của hàng triệu người. Dù tội ác đã được trừng trị, nhưng có lẽ thêm ngàn lần trừng trị nữa cũng không tương xứng với những tổn thất mà tội ác đã gây ra.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 10/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111002-thanh-nga-nu-hoang-san-khau-ma-hong-phan-bac

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 18/03/2017, 09:41:34
Giỗ Tổ cải lương

Trong chương trình phát thanh kỳ này, Nguyễn Phương xin trình bày về tập tục gỗ Tổ cải lương, thường niên nhằm ngày 11, 12 tháng 8 âm lịch, năm 2011, nhằm ngày 8 và 9 tháng 9 dương lịch là ngày giỗ Tổ cải lương.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/gio_to.jpg)

TRƯỚC KHI ra sân khấu trình diễn, các nghệ sĩ chấp tay, quay vào trong, xá Tổ ba cái rồi mới ra hát. Các nghệ sĩ cải lương và một số nghệ sĩ tân nhạc ở trong nước vẫn tuân thủ tập tục đó từ xưa đến nay, khi đi định cư nước ngoài, tôi thấy các nghệ sĩ ở bên Cali, bên Pháp, ở Canada hay ở Úc Châu vẫn theo cổ lệ của các nghệ nhân tiền bối, tôi mừng lắm…
            Tôn giáo nào, ngành nghề nào cũng có những mỹ tục được người trong đạo hay trong giới đó tôn trọng, gìn giữ. Ví dụ, ta thấy Thiên Chúa có lễ Pâques, lễ Assomption (Lễ Thăng Thiên), Lễ Toussaint, lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh v.v… Phật Giáo có 3 lễ lớn: Lễ Phật Đản, Lễ Thành Đạo, Lễ Tịch Diệt, có 3 ngày rầm lớn: Rằm Thượng Ngươn tháng giêng, Rằm Trung Ngươn Tháng bảy cúng xá tội vong nhân, Rằm Hạ Ngươn tháng 10, Lễ Vu Lan. Cao Đài có Lễ Cao Đài Đạo Khai. Tam Tông Miếu có lễ Minh Lý Đạo Khai. Phía dân chúng thường dân có ngày lễ Cha (fête des pères), ngày lễ Mẹ (fête des Mères), ngày Tình Nhân (Valentine), ngày lễ chủ nhân (Fête des patrons), lễ những người thợ (fête des ouvriers), người dân Việt Nam có lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ Thánh Gióng, lễ Hai Bà Trưng v.v… Cải Lương cũng có ngày giỗ Tổ.
            Nói tới cúng Tổ nghề, người ta thường liên tưởng đến tập tục của giới nghệ sĩ sân khấu, vì một lẽ dễ hiểu là ở trong nước có hơn trăm đoàn hát cải lương và hát bội, mỗi đoàn có từ bốn đến năm, sáu chục nghệ sĩ và công nhân sân khấu, đó là chưa kể các nghệ sĩ hành nghề tự do trong các đài phát thanh, hãng dĩa, quán ăn có ca nhạc, các lớp dạy cổ nhạc, trường sân khấu kịch nghệ. Lễ cúng Tổ hàng mấy ngàn người, cùng cúng đồng loạt trong hai ngày, ở hàng trăm địa điểm, tự nhiên thấy rất là long trọng.
            Trước hết, phải hiểu là cúng Tổ nghề là một tập tục cúng bái có tầm vóc quan trọng như việc thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình Việt Nam. Hồi xưa, mỗi dòng họ trong dân gian có một từ đường thờ gia tiên, mỗi triều đại của dòng Vua nào thì có Thái Miếu thờ Tiên Đế, mỗi phường nghề đều phải có miếu thờ vị Tổ Sư của nghề đó.
            Vị Tổ Sư một nghề có thể là người phát minh ra nghề đó hoặc là người đầu tiên đem nghề đó ở một nơi khác, về truyền dạy cho dân chúng trong làng hay ở một vùng nào đó.
            Người ta không những thờ cúng vị Tổ Sư như một hành động biết ơn công khai sáng mà còn là sự khẩn cầu xin bảo hộ cho nghề nghiệp và bảo hộ người đang hành nghề.
            Tôi muốn nói về Tổ nghiệp sân khấu và các nghi lễ ngày xưa cúng Tổ như thế nào, vì hiện nay trong hoàn cảnh định cư nước ngoài, có nhiều người không còn nhớ hoặc không coi trọng tập tục cũ nữa. Tôi kể tỉ mỉ ra đây với hy vọng là lưu giữ lại một chút gì những tập tục cũ trong ngành sân khấu để mai sau các nhà nghiên cứu về văn hóa văn nghệ dùng làm tư liệu trong chương trình nghiên cứu của mình. Các bạn trẻ sanh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài, khi nhìn về quê hương Việt Nam, có thể hiểu ngày xưa các bậc trưởng thượng của mình đã có một niềm tin như vậy để mà đeo đuổi theo nghề nghiệp, có niềm tin đó mới cống hiến cả đời mình và nhiều thế hệ nối tiếp để làm cho nghề hát ngày thêm tiến bộ hơn, hay hơn, xứng đáng có một vị trí trên nền văn hóa nghệ thuật của thế giới.
            Theo tài liệu sử sách, Tổ nghề Hát Bội là Lý Nguyên Cát và Liên Thu Tâm. Liên Thu Tâm vốn là kép hát Trung Quốc được vua Lê Ngọa Triều giao cho dạy cung nữ cách hát tuồng từ năm 1005. Lý Nguyên Cát vốn là người Tàu theo đoàn quân Nguyên qua xâm lược nước ta, bị bắt làm tù binh. Vì Lý Nguyên Cát có tài hát xướng nên vua Trần dùng để dạy hát trong cung vua.
            Không biết các đoàn hát bội ở miền Trung có thờ hai ông này không, chớ ở miền Nam thì thờ Ông Làng, giống như hát Tiều thờ Lão lang Quân.
            Ở nhà Truyền Thống của Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ ở số 133 đường Cô Bắc, Quận Nhứt, khánh thờ Ông Tổ làm bằng một loại danh mộc, chạm trổ rất công phu, bên trong có 12 cốt ông, tính đến nay có gần một trăm năm rồi, do bà Tám Đội tặng cho giới nghệ sĩ. Bà Tám Đội là một nhà phú hào, có đồn điền cao su ở Củ Chi và là chủ gánh hát bội và rạp hát tên là Rạp Bà Tám Đội ở đường Les Marins, nay là đường Trần Hưng Đạo Chợ Lớn, người bỏ tiền ra xây cất đình Phú Nhuận.
            Theo khái niệm chung của những nghệ sĩ tiền phong trong nghề hát thì Tổ Nghiệp của nghề hát là danh xưng để gọi chung các bậc tiền bối đã dày công sáng lập nên sự nghiệp có liên quan tới sân khấu như các vị: Tổ Sư, Thánh Sư, Tiên Sư, Tam Giáo đạo Sư, Lão lang Thần (tức Ông Làng theo cách gọi miền Nam) Thập Nhị Công nghệ, nghĩa là mười hai ông Tổ các ngành nghề như nghề thợ mộc, nghề dệt vải, ngành âm nhạc, nghề múa, nghề kim khí, nghề vẽ v.v… Hồi xưa, các nghệ nhân không dùng danh từ: sân khấu là một ngành nghệ thuật tổng hợp, gồm có văn, thơ, họa, nhạc, vũ đạo, trang trí mỹ thuật như ngày nay, nhưng trong khái niệm chung về nghề hát, các nghệ nhân tiền bối đã biết đến công lao của những ngành nghề khác như nghề dệt vải để may y phục hát, ngành kim khí làm gươm giáo, đạo cụ sân khấu, ngành vẽ, vẽ phong cảnh… 12 cốt ông là tượng trưng Thập Nhị Công Nghệ đó, tức là 12 ông Tổ của các ngành nghề có liên quan tới nghề sân khấu như vừa mới kể.
            Hàng năm, đúng vào ngày 11 tháng 8 âm lịch thì lễ giỗ Tổ Sân Khấu. Đêm 11, lễ cúng chay với chè xôi, hoa trái. Sáng 12 là chánh lễ, cúng mặn với heo quay, gà luộc, bánh trái. Năm 2000, tôi có về Việt Nam và đúng vào dịp cúng Tổ. Tôi có quay phim lễ cúng Tổ.
            Quan khách và nghệ sĩ tề tựu đông đủ trước bàn thờ Tổ, mở đầu, ông chấp sự, là người đạo cao đức trọng, được người trong giới nghệ sĩ đề cử thay mặt làm lễ xây chầu, tức là lễ khai tràng. Ông Chấp sự nâng cặp roi trống chiến, xá ba cái, ban ba hồi thỉnh tổ.
            … … … (ba hồi trống chiến thỉnh Tổ) … … …
            Một hồi trống chầu, ba hồi trống chiến, vì vậy mới có câu: Đuôi trống Chầu là đầu trống chiến.
            Ông Bầu, Bà Bầu, Hội Trưởng Cô Bảy Phùng Há vào niệm hương…
            (Người xướng: Thỉnh Hương. Dâng Hương… Quỳ… bái v.v…)
            Các năm xưa đến đây là có pháo nổ, lân múa từ ngoài vô lạy Tổ, năm nay chỉ có lân, không có pháo. Kế đó lễ Đại Bội truyền thống do các nghệ sĩ hát bội đoàn Tấn Thành Cầu Muối phối hợp với nghệ sĩ Bầu Thắng đình Cầu Quan múa Điểm Hương.
            Mở đầu là Điểm Hương, một anh kép sắm mặt tướng, vai Thiên Lôi, cầm bó nhang đốt sẵn, múa bộ mở rộng, xoay bốn phương, tám hướng. Vai Thiên Lôi cắm nhang trên lư hương bán thờ Tổ, chấp tay xá xá, lui ra. Trống vẫn đánh theo nhịp múa.
            Múa Xang Nhật Nguyệt do một nam diễn viên mặc mãng bào, đội mão vua, tay cầm Mặt Nhựt, (một tấm bảng vẽ hình mặt trời, có chữ Nhựt viết theo chữ nho), một nữ diễn viên sắm vai mụ văn, mặc mãng bào, đội mũ cửu phụng, tay cầm mặt Nguyệt, cả hai múa điệu Âm Dương phối họp.
            Kế đó ba người sắm vai ba ông Phước Lộc Thọ, múa điệu múa Tam Hiền, chúc lành cho mọi người.
            Tiếp theo, múa Ngũ Hành, một diễn viên đứng tuổi, sắm mặt đẹp, đội mão văn và bốn cô đào con, tượng trưng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, múa lễ tạ thánh Tổ, cầu an và chúc lành cho bá tánh.
            Sau đó bốn võ tướng múa Tứ Thiên Vương, tượng trưng cho bốn Thiên Vương trấn giữ bốn cõi trời Đông, Tây, Nam, Bắc. Khi Tứ Thiên Vương trụ bộ lại, xổ ra bốn cuộn liễng có viết bốn câu: Quốc Thái Dân An, Phong Hòa Vũ Thuận, Hà Thanh Hải Yến, Nông Ngư Đắc Lợi. Chúc mọi điều may mắn cho tất cả mọi người chớ không riêng gì giới nghệ sĩ.
            Chót hết là Ông Địa ra múa, dâng liễng Gia Quan Tấn Tước. Từ sau 75 đến nay, ông Địa chỉ ra múa vui với lân, không dâng liễng Gia Quan Tấn tước nữa.
            Trên đây là nghi lễ cúng Hội Kỳ Yên, tạ Thần Hoàng Bổn Cảnh, cúng Giỗ Tổ Hùng Vương, Cúng Giỗ Tổ Cải Lương, nói chung phần đầu nghi thức là cúng như vậy. Do đó ta thấy trong phần cúng tế các tiền nhân hay thánh thần, lời nguyện luôn luôn là cầu Thái Bình cho đất nước, dân được an cư lạc nghiệp, mưa thuận gió hoà, nông dân hay ngư phủ đều làm ăn phát đạt. Có lẽ các tiền nhân nghệ sĩ ngày xưa đã nghĩ rằng khi đất nước thái bình, dân an cư lạc nghiệp thì họ mới có tiền để coi hát, do vậy khi cầu cho nghề hát phát triển, bao giờ người nghệ sĩ cũng nhớ là phải cầu cho toàn dân an cư lạc nghiệp, đất nước thái bình.
            Bầu không khí thật là trang nghiêm, khói hương bay quyện, các nghệ sĩ lần lượt vào lên hương, lạy Tổ theo thứ tự vai vế trong đoàn và thứ tự theo tuổi tác, kính lão đắc thọ.
            Người nghệ sĩ hát bội và nghệ sĩ cải lương, trăm người như một đều có lòng thành kính tin Tổ Nghiệp. Dù nghệ sĩ đang ở Việt Nam hay đã đi định cư nước ngoài, bất kỳ ở đâu, khi nhớ ngày giỗ Tổ, khi có tổ chức giỗ Tổ thì mọi người đều tề tựu lại, chung phần tổ chức cúng Tổ. Còn một tập tục rất hay là hát hầu Tổ. Ngày xưa thì tập tục này rất được người trong giới tuân theo, bây giờ đơn giản hóa, có chỗ làm, có chỗ không.
            Hát hầu Tổ là khi tề tựu, niệm hương, vái lạy xong, các diễn viên tùy theo niên kỷ, người lớn hát trước, tới xá Tổ rồi hát một câu hay một đoạn cho tổ nghe, câu hát mà người hát cho là hay nhứt. Xong rồi, tới người khác…
            Trước hết là lão nghệ sĩ Minh Biện hát mấy câu trong vai Tạ Ôn Đình.
            Nhạc và các câu hát hoặc trống, đờn của ngành hát bội.
            Có nghệ sĩ chỉ cầm roi ngựa, biểu diễn lên yên, gò cương, tế ngựa v.v…
            Có nghệ sĩ múa một đường đao.
            Có nghệ sĩ hát khách, hát một câu trong vai Lưu Bị cầu hôn giang tả.
            Có người thủ vai Triệu Tử Long, múa thương đương dương trường bản.
            Mỗi người chỉ hát một câu, múa vài điệu bộ rồi lui ra nhường cho người khác vào hát hầu Tổ. Nhạc, trống cứ tự do tấu cho cuộc biểu diễn tự do của nghệ sĩ.
            Đổi nhạc hòa tấu cải lương.
            Đến đây đến phần các nghệ sĩ cải lương.
            Càng về khuya, anh em ăn nhậu rồi có người ngủ, dàn đờn cũng dẹp, không có đờn nữa, bởi vì đó là khuya rồi, có ông Năm Đại, ổng đi hát chầu về trễ, một mình ổng không có đờn trống gì hết, ổng ca một câu bái trước Tổ rồi ổng thổi kèn miệng…
            Lệ hát hầu Ông trong lễ giỗ, mang một ý nghĩa rất tốt đẹp. Đây là dịp mà các đào kép đem hết khả năng ca diễn của mình, nói là hát cho Tổ coi, thật ra có ý tôn sư trọng đạo, trình cho các bậc đàn anh đàn chị nghệ sĩ thấy sự tiến bộ của từng người, và đặc biệt cho các ông Bầu, ông Nhưng, Thầy tuồng đánh giá khả năng của từng người để giao vai tuồng mới, để định vị trí diễn viên…
            Tôi nghĩ, loại trừ một vài yếu tố có tính cách mê tín trong hình thức tổ chức nghi lễ, tục lệ giỗ Tổ của giới sân khấu cũng như các ngành nghề khác biểu hiện lòng Tôn Sư Trọng Đạo, Uống Nước Nhớ Nguồn, đó là truyền thống của dân Việt Nam. Lễ Giỗ Tổ theo tôi là nên duy trì, bảo tồn để kết chặt tình tương thân tương ái giữa những người làm nghệ thuật hoặc giữa những đồng nghiệp với nhau.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 9/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110918-gio-to-cai-luong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 20/03/2017, 14:24:15
Tuổi thơ trôi dạt của Sầu nữ Út Bạch Lan

Hồi xưa, ở Việt Nam, khán giả ái mộ cải lương, mến thương nghệ sĩ nên tùy theo từng giọng ca mà tặng cho nghệ sĩ một mỹ hiệu hay biệt danh. Khi nghe nhắc Vua vọng cổ là biết nói tới danh ca Út Trà Ôn, nhắc tới Nữ Hoàng vọng cổ, sầu nữ… là người ta biết nói tới nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan, một người có giọng ca rất buồn, một giọng ca hiếm có trong sân khấu cải lương suốt nửa thế kỷ qua.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/artis-ut-bach-lan-ml-11102016134133.html/ut-bach-lan-400.jpg/@@images/2059070c-08b8-4450-9ed4-d2c74103f5e8.jpeg)
Nữ Hoàng vọng cổ, sầu nữ Út Bạch Lan

NỮ NGHỆ SĨ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sanh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thân phụ của cô là ông Nguyễn Văn Chưa, làm nghề nài ngựa đua, qua đời năm 1966. Mẹ của cô là bà Đặng Thị Tư dẫn bé Hai (tên của Út Bạch Lan hồi nhỏ) lên Chợ Lớn. Hai mẹ con sống lang thang lề đường xó chợ. Lúc đó bé Hai được tám tuổi, ban ngày em phụ mẹ rửa chén, làm chân sai vặt cho những người trong chợ Bình Tây, buổi tối bé Hai ngủ trên sạp thịt, không mùng màn chiếu gối.
            Bà Tư, mẹ của bé Hai làm quen với một người đàn bà nghèo đồng trạc tuổi, cùng cảnh ngộ nên hai bà kết nghĩa chị em. Con của bà bạn là một em bé mù nhưng biết đàn guitare thùng khá giỏi. Đó là Văn Vĩ. Bé Vĩ mù bẩm sinh, được một nhạc sĩ thương tình dạy cho bé Vĩ đờn guitare cổ nhạc. Văn Vĩ dạy lại cho bé Hai ca. Bé Hai đã học được những bài vọng cổ Đêm Khuya Trông Chồng, Mẹ Dạy Con, Trọng Thủy Mỵ Châu, đó là những bài vọng cổ mà bạn hàng chợ thường hát dĩa nên bé Hai học thuộc lòng.
            Bé Hai thấy người mù đi hát dạo trong chợ được người ta cho tiền nên rũ Văn Vĩ lén mẹ đi hát dạo, từ Chợ Lớn đến Chợ Bến Thành, chợ Bàu Sen, chợ Cầu Ông Lãnh. nơi nào hai em bé Hai và Văn Vĩ hát dạo cũng được đông đảo người tụ tập nghe và cho tiền. Hai em đem tiền về cho mẹ nên cuộc sống đỡ đói khó, vất vả như xưa.
            Lúc đó, năm 1946, 1947, đang có cuộc chiến tranh Việt Pháp, Ban Công Tác Thành Saigon liệng lựu đạn những nơi có đông người tụ tập, các rạp hát, các bar dancing. Bé Hai và Văn Vĩ đờn ca hát dạo, dân chúng tụ tập đông đảo nên lính cảnh sát Tây bắt bé Hai và Văn Vĩ về nhốt trong bót quận Nhì ở đường Hammelin, đường đi hướng về cầu Ông Lãnh.
            Ông xếp bót là người Pháp lai Việt Nam, bạn thân của nhạc sĩ Jean Tịnh đờn vĩ cầm cổ nhạc nên ông bảo Jean Tịnh đến bảo lãnh cho hai em đó ra.
            Nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công đến bót, nghe Văn Vĩ và bé Hai đờn ca. Thành Công bảo lãnh hai em ra, anh theo hai em về chợ Bình Tây, gặp hai bà mẹ để xin cho hai em theo Ban cổ nhạc Thành Công ca trên đài Pháp Á.
            Ca sĩ Thành Công rất mến mộ ngón đàn guitare sắc xảo của Văn Vĩ và giọng ca có chất buồn man mác của bé Hai nên Thành Công đặt nghệ danh Bạch Lan cho bé Hai để đối lại với ca sĩ tí hon Bạch Huệ trên đài Phát Thanh Saigon. Bé Hai xin giữ thêm chữ Út mà mẹ cô thường dùng để gọi cô, từ đó bé Hai có nghệ danh Út Bạch Lan.
            Ngoài việc đờn ca cho Đài Pháp Á, Út Bạch Lan và Văn Vĩ còn được mời đờn ca giúp vui cho các cuộc tiệc, đám cưới, đám giỗ, được dân chúng ở chợ Bàu Sen mời về nhà họ đờn ca. Những lần được mời đờn ca, Văn Vĩ và Út Bạch Lan được thưởng nhiều tiền, người ta cho quần áo đẹp và cho ăn uống phủ phê. Cô Năm Cần Thơ chủ quán ca nhạc Họa Mi ở khu giải trí trường Đại Thế Giới Chợ Lớn, mời Út Bạch Lan và Văn Vĩ đờn ca thường xuyên cho quán Họa Mi.
            Út Bạch Lan được ca sĩ Thành Công, cô Năm Cần Thơ, nhạc sĩ Jean Tịnh và nhạc sĩ Mười Lương dạy ca thêm nhiều bài bản cổ nhạc.
            Năm 1952, Út Bạch Lan gia nhập đoàn hát Kim Khánh của ông bầu Ba Cang, nhưng đoàn Kim Khánh lúc đó đang có bốn cô đào trẻ Thu Ba, Bé Hoàng Vân, Kim Nên, Ngọc An nên chỉ khi nào một trong bốn nữ diễn viên đó bịnh thì Út Bạch Lan mới được đóng thế vai. Thấy ở đoàn Kim Khánh không có tương lai, Út Bạch Lan tìm đi gánh hát khác.
            Năm 1953, Út Bạch Lan theo đoàn hát Tô Huệ, cũng chỉ được cho làm thế nữ, quân hầu nên cô trở về Saigon cộng tác với Ban Cổ Nhạc Thành Công trên đài phát thanh Saigon.
            Năm 1955, Út Bạch Lan gia nhập đoàn hát Kim Thanh do bốn danh ca vọng cổ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng, Thúy Nga hùm vốn làm bầu. Ở đoàn Kim Thanh, Út Bạch Lan cũng không được giao một vai tuồng quan trọng. Soạn giả Viễn Châu biết giọng ca của Út Bạch Lan rất được khán giả tán thưởng nên trong tuồng “Đời Cô Nga” anh viết thêm hai câu vọng cổ cho Út Bạch Lan ca. Thành công quá sức tưởng tượng: khán giả vỗ tay nhiệt liệt không thua gì khi họ nghe Út Trà Ôn vô vọng cổ. Vãn hát, khán giả đứng nghẹt ở cửa sau rạp hát để chờ đón xem mặt Út Bạch Lan.
            Hình của Út Bạch Lan được đăng rất lớn trên các trang kịch trường, ký giả Nguyễn Ang Ca viết: “Út Bạch Lan, một ngôi sao lạ vụt sáng trên vòm trời sân khấu cải lương”.
            Ký giả Trần Tấn Quốc viết: “Út Bạch Lan, một giọng ca vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe!”
            Ký giả Kiên Giang viết: “Sầu nữ Út Bạch Lan, chất giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi, đêm đêm khơi nguồn lệ của hàng ngàn khán giả ái mộ cải lương”.
            Đại diện các hãng dĩa Hồng Hoa, Hoành Sơn, Tứ Hải mời Út Bạch Lan ca thu dĩa vọng cổ. Điều bất ngờ là soạn giả Viễn Châu không được phép viết thêm bài ca vọng cổ để giới thiệu Út Bạch Lan với lý do là không được phép viết thêm khi tuồng đã kiểm duyệt. Út Bạch Lan biết có người sợ soạn giả Viễn Châu viết vọng cổ cho cô ca sẽ làm lu mờ họ nên tung tin ngăn cản.
            Ông bầu Nghĩa đoàn Thanh Minh hay tin này, mời Út Bạch Lan ký hợp đồng 150.000 đồng để Út Bạch Lan về hát. Út Bạch Lan đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Hương, Hữu Phước, Kim Anh, Thu Ba, Văn Chung, Minh Tấn, hề Kim Quang và đã có những vai hát quan trọng trong các tuồng Biên Thùy Nổi Sóng, Cánh Bướm Lửa, Tình Tráng Sĩ, Đồ Bàn Di Hận, Nhớ rừng, Cung Đàn Trên Sông Lạnh, Núi Liễu Sông Bằng, Hồi Trống Vân Lâu, Áo Gấm Khôi Nguyên, Cầu Gỗ Hoàng Mai Thôn, Người Đẹp Bạch Hoa Thôn.
            Năm 1958, Út Bạch Lan ký hợp đồng hai triệu đồng về hát cho đoàn hát Kim Chưởng, hát cặp với kép chánh Thành Được.
            Thành Được và Út Bạch Lan là một cặp diễn viên lý tưởng nhất trong hai thập niên 60, 70… Út Bạch Lan cùng với dàn diễn viên của đoàn Kim Chưởng: Thành Được, Trường Xuân, Kim Nên, Nam Hùng, Mộng Thu, Hề Minh, Phượng Liên, Diệp Lang đã ghi dấu một thời hoàng kim của cải lương với các tuồng Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Thuyền Ra Cửa Biển, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nửa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa…
            Trên sân khấu Kim Chưởng, mối tình đầu nẩy nở giữa Út Bạch Lan và Thành Được đưa tới một cuộc hôn nhơn có hôn thư giá thú đàng hoàng, cô Phùng Há đứng làm chủ hôn.
            Năm 1961, Út Bạch Lan – Thành Được rời đoàn Kim Chưởng, thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Út Bạch Lan – Thành Được, hai nghệ sĩ Phùng Há và Ba Vân làm chỉ đạo nghệ thuật. Đoàn Út Bạch Lan Thành Được có những tuồng Trảm Mã Trà, Đêm Huyền Diệu, Chân Trời Hạnh Phúc, Khi Rừng Mới Sang Thu, Bốn Mùa Hoa Nở, Bao Giờ Vườn Xứ Mưa Hoa, Cuối Đường Hoa Mộng, Thuyền Về Bến Ngự, Khi Hoa Anh Đào Nở, Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng, Sầu Qua Mấy Nhịp Cầu Duyên…
            Cuối năm 1962, đoàn Út Bạch Lan – Thành Được rã gánh, Cặp vợ chồng nghệ sĩ này về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga, hát tuồng Nửa Đời Hương Phấn của Hà Triều Hoa Phượng. Thời gian này soạn giả Viễn Châu viết tặng cho Út Bạch Lan bài vọng cổ Tâm Sự Một Loài Hoa, kề về cuộc đời nhiều gian truân của Út Bạch Lan.
            Trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, Út Bạch Lan – Thành Được hát những tuồng xã hội Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Đôi Mắt Người Xưa, Bóng Chim Tăm Cá, Ngược Dòng Sông Lỗi, Áo Cưới Trước Cổng Chùa, Ngả rẽ Tâm Tình, Đời Hai Mặt, Thầy Cai Tổng Bồi, Đời cô Nga…
            Năm 1965, hôn nhơn của Út Bạch Lan và Thành Được gãy đổ. Út Bạch Lan ký hợp đồng hát cho đoàn Kim Chung của Bầu Long. Thành Được ký hợp đồng hát cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga.
            Năm 1967, Út Bạch Lan lập gánh Tân Hoa Lan hát các tuồng Ai Cho Tôi Tình Yêu, Cỗ Xe Độc Mã, Anh Hùng Xạ Điêu, Đi Biển Một Mình.
            Sau năm 1975, Út Bạch Lan hát cho đoàn cải lương Saigon 1 rồi cô trở về quê hương Long An hát cho đoàn cải lương của tỉnh nhà.
            Trong những năm gần đây, sầu nữ Út Bạch Lan được mời sang Hoa Kỳ, hát tái ngộ với nghệ sĩ Thành Được nhân dịp Phượng Liên tổ chức kỷ niệm 45 năm sân khấu. Út Bạch Lan được khán giả hải ngoại nhiệt liệt ngợi khen giọng ca bi thảm của cô, dù tuổi trên bảy mươi, giọng hát của Út Bạch Lan vẫn êm dịu, mượt mà, thu hút tâm hồn người nghe.
            Út Bạch Lan đã quy y phật pháp, cô thường đi hát giúp gây quỹ từ thiện và hát giúp trong các lễ ở các chùa chiền. Sầu nữ Út Bạch Lan, một giọng ca hiếm có trong nền nghệ thuật Cải lương. Khán giả ái mộ gọi cô là Sầu Nữ, Nữ Hoàng Vọng Cổ, Vương Nữ Sương Chiều… hơn nửa thế kỷ qua, Út Bạch Lan đã rút hết tơ lòng để nhả cho đời những sợi tơ vàng óng ả đẹp vô ngần.


Lắng đọng gồm thâu những cuộc đời,
Vào hồn “sầu nữ” thấm tình người,
Cho nên nghệ thuật thanh xuân mãi,
Tiếng hát ngàn xa vượt tuổi trời
.

***

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/artis-ut-bach-lan-ml-11102016134133.html/ut-bach-lan-622.jpg/image)
Nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan

            Nghệ sĩ Út Bạch Lan qua đời vào ngày 4 tháng 11 năm 2016 và tang lễ của bà tuy đơn sơ nhưng đậm tình sân khấu. Chung quanh bàn thờ bà người ta thấy hàng trăm nghệ sĩ của sân khấu cải lương cùng với những người con nuôi mà suốt đời bà che chở. Khán giả của Út Bạch Lan tuy không còn nhiều như xưa nhưng cũng đủ cho người ta thấy rằng tài năng và đức độ là hai mặt của người nghệ sĩ vẫn luôn được mọi người yêu mến, trân trọng như lúc bà bước chân ra sân khấu khóc cười với họ…

NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 8/2011


http://vi.rfi.fr/chau-a/20110821-tuoi-tho-troi-dat-cua-sau-nu-ut-bach-lan

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 23/03/2017, 12:23:32
Giọng ca vàng Hữu Phước theo lời kể của soạn giả Nguyễn Phương

Mở đầu loạt bài cổ nhạc: Soạn giả Nguyễn Phương từ Canada giới thiệu giọng ca vàng của cố nghệ sĩ Hữu Phước. Vào năm 1966, Hữu Phước từng đoạt giải Diễn Viên xuất sắc nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thanh Tâm, nhờ vai bác sĩ Vũ trong vở tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/huuphuoc_utbachlan.jpg)
Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Bạch Lan

NĂM 1955, tôi là soạn giả của đoàn hát Kim Thoa của ông bà bầu Ngô Thiên Khai và nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Ngày 19 tháng 12 năm 1955, khi đoàn hát Kim Thoa khai trương vở tuồng dã sử Lấp Sông Gianh của soạn giả Kinh Luân tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, đoàn Kim Thoa bị kẻ xấu liệng lựu đạn lên sân khấu, làm chết nghệ sĩ Ba Cương, nhiếp ảnh viên Nguyễn Mai khi hai ông đang đứng bên cánh gà, ngoài ông Mai và Ba Cương ra còn có em vệ sĩ đóng quân tên Phiên chết một tuần lễ sau đó. Nghệ sĩ Duy Lân bị cắt đứt tiện một bàn chân từ mắt cá, các nghệ sĩ Sáu Thoàng, Hữu Phước, hề Minh, Văn Sa, nữ nghệ sĩ Đoàn Thiên Kim bị thương nhẹ. Vì đoàn hát bị liệng lựu đạn nên khán giả không dám đến xem hát, muốn thu hút khán giả nên mỗi đêm trước khi mở màn, đoàn hát thêm chương trình phụ diễn ca vọng cổ ngoài màn, giới thiệu hai giọng ca trẻ: đó là nghệ sĩ Hữu Phước và hề Minh.
            Năm 1956, đoàn Kim Thoa rã, tôi và Hữu Phước về cộng tác với đoàn Thanh Minh, hát thường trực tại rạp Thành Xương ở đường Yersin quận Nhứt và sau đó là đoàn Thanh Minh Thanh Nga cho đến đầu năm 1969 tôi mới chia tay với Hữu Phước để sang cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương. Lúc còn ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga, khi tôi viết tuồng Đôi Mắt Người Xưa, Bóng Chim Tăm Cá, Chuyện Tình 17, Hai Hình Bóng Một Cuộc Đời, Sông Dài, Mộng Đẹp Nửa Đời Hoa, tôi đến nhà Hữu Phước ở vài ngày. Khi tôi viết đoạn nào đắc ý hoặc các bài vọng cổ cho vai tuồng của Hữu Phước, tôi thường nhờ nhạc sĩ Ba Thu và Ba Tý, hai nhạc sĩ này ăn ở thường xuyên trong nhà Hữu Phước, đàn cho Hữu Phước ca để xem các câu vọng cổ đó có đủ mượt mà để Hữu Phước ca lấy nước mắt của khán giả chưa? Tôi cũng đã sáng tác nhiều vai em bé trong các tuồng của tôi để cho Hương Lan đóng. Lúc đó Hương Lan mới có 6 tuổi.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/aef_image_original_format/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/huuphuoc.jpg)
Nghệ sĩ Hữu Phước

            Cố nghệ sĩ Hữu Phước tên thật là Henry Trần Quang, sanh năm 1932 tại quận Châu Thành tỉnh Sóc Trăng. Cha là ông Trưởng Tòa Trần Quang Cảnh, nhạc sĩ cổ nhạc đờn vĩ cầm, thân mẫu là bà Tám Kiều, một nữ nghệ sĩ trong gánh hát Thầy Thuốc Minh ở Sóc Trăng.
            Hữu Phước khởi nghiệp cầm ca từ năm 1954, được ông Trần Hữu Lương, tức nhạc sĩ Mười Lương, chồng của nữ danh ca Năm Cần Thơ dạy ca và đặt nghệ danh Hữu Phước thay cho tên Henry Trần Quang. Nhạc sĩ Mười Lương dẫn Hữu Phước đến quán ca nhạc Họa Mi của cô Năm Cần Thơ để ca vọng cổ và cổ nhạc. Hữu Phước đã ru hồn biết bao khách mộ điệu và được chủ của các hãng dĩa Hoành Sơn, Hồng Hoa, Tứ Hải tranh nhau mời thu dĩa hát. Hữu Phước nổi danh qua các dĩa hát thu đầu tay như Mặt Trận Ái Tình của soạn giả Thu An, dĩa Tình Huynh Đệ và bộ dĩa Tỉnh Mộng, dĩa Đội Gạo Đường Xa, Gánh Nước Đêm Trăng, Tàu Đêm Năm Cũ, Đời Vũ Nữ, Tình Là Giây Oan của các tác giả Viễn Châu, Kiên Giang, Quy Sắc làm tăng thêm danh tiếng của danh ca Hữu Phước. Danh vị trong làng dĩa nhựa của Hữu Phước lên cao, vượt qua các danh ca đương thời như Việt Hùng, Tám Bằng, Thành Công, Chín Sớm, Văn Chung… có thể nói là danh ca Hữu Phước sóng đôi với vua vọng cổ Út Trà Ôn nhờ vào giọng ca vàng của Hữu Phước.
            Minh họa hai câu vọng cổ trong bài Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.

            Cao Tiệm Ly (Hữu Phước): Hãy uống nữa đi anh để rồi sau khi anh sang tận bên kia bờ Dịch Thủy, Ly ở đây sẽ vắng bóng người tri kỷ đêm từng đêm rũ rượi tiếng tiêu… sầu, Mưa gió thê lương nhỏ lệ xuống chân cầu… khóc người đi không bao giờ trở lại, để nơi này nhớ mãi hận ngàn thu. Biết lấy gì để tiễn đưa nhau, thôi thì mượn tiếng trúc với bầu rượu nóng, tiếng tơ trúc nói lên tình tri kỷ, rượu hoàng hoa sưởi ấm dạ anh hùng.
            Kinh Kha: Đa tạ, xin cám ơn Cao Tiệm Ly hiền hữu. Vâng, Kha uống cạn chung này và xin vĩnh biệt.
            Cao Tiệm Ly: Hiền hữu ơi, rồi đây mang lưỡi gươm thề vào tận đất Hàm Dương, bạn sẽ trả được thù quân quốc. Hãy cho tôi lau dòng nước mắt, bởi cạn chung này mình sẽ chia tay. Lạnh lùng trời lả tả tuyết sương bay, sầu tang tóc đất trời còn nhỏ lệ. Ly tiễn bạn bằng tiếng tiêu nức nở và ngâm câu nhất khứ bất lai hoàn. Nhổ neo rồi thuyền đã ra khơi, mưa hay lệ mịt mờ vương khói sóng. Kha ơi, Kha đã đi rồi, tận chốn phương trời tôi nhớ thương anh.

            Hữu Phước có giọng ca thật rõ ràng, âm sắc đẹp, đậm chất bi ai, nghe sâu lắng mượt mà. Giọng ngâm thơ ngọt như mật, êm như nhung như tơ. Hữu Phước có biệt tài sắp chữ ca, làm nổi bật từng ý từng lời, anh ca vuốt nhẹ khi đến chữ Hò vô vọng cổ, tiếng ca như quyện chặt vào tiếng đàn, nghe thật êm tai, thật mùi. Trong lòng câu ca, với một làn hơi dài, Hữu Phước chạy lả lướt với tốc độ ca dồn chữ, từng đợt từng đợt như những lượn sóng triền miên xô đuổi nhau, một kỹ thuật ca khiến cho người nghe có cảm giác là Hữu Phước bất chấp cả nhịp nhàng, bất chấp trường canh, khán giả e sợ Hữu Phước sẽ hụt hơi hoặc ca rớt nhưng không, trăm lần như một, khi đến dứt câu ca thì Hữu Phước dứt câu rất đúng nhịp và còn có một làn hơi ngân dài, nhỏ dần, nhỏ dần rồi như tan biến vào không gian vô tận. Lối ca của Hữu Phước không chỉ là một kỹ thuật ca điêu luyện, nhịp nhàng vững chắc mà còn có khả năng chuyển tải nội dung bài ca một cách xúc động nhất đến cho khán giả thưởng thức.
            Khán giả đã khóc với những số phận của nhân vật tuồng khi xem đoàn Thanh Minh Thanh Nga nhờ vào giọng ca vàng của Hữu Phước và của các nghệ sĩ danh ca như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Được, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hồng Nga vân vân. Hữu Phước đã được Giải thưởng Thanh Tâm tặng huy chương vàng Diễn Viên xuất sắc nhất năm 1966 qua vai bác sĩ Vũ trong tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_43_large/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/huuphuoc_uttraon.jpg)
Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Trà Ôn

            Hữu Phước cũng được báo chí kịch trường tặng cho mỹ hiệu Giọng Ca Vàng và là một trong các nghệ sĩ danh ca được các bầu gánh hát, các chủ hãng dĩa ký contrat với số tiền cao nhất.
            Thời còn làm việc chung ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga, tôi biết Hữu Phước có ba người con, cô con gái đầu lòng Trần thị Ngọc Ánh. Ngọc Ánh có giọng ca trong suốt, lời ca rõ từng chữ, nhịp nhàng vững chắc. Lúc 6 tuổi, Ngọc Ánh xuất hiện đầu tiên trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga trong vai bé Lệ, con của bác sĩ Vũ tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương. Soạn giả Kiên Giang đề nghị lấy hai tên cuối của hai nữ danh ca Thanh Hương và Út Bạch Lan để đặt nghệ danh cho Ngọc Ánh, đó là chữ Hương chót của Thanh Hương ghép với chữ Lan chót của Út Bạch Lan thành tên Hương Lan.
            Hương Lan được thừa hưởng di truyền của danh ca Hữu Phước và được cha rèn luyện nên cô đã thành danh mấy chục năm qua trên địa hạt ca tân nhạc lẫn cổ nhạc. Cô cũng là một diễn viên xuất sắc của nghệ thuật sân khấu cải lương. Làn hơi ca của nữ nghệ sĩ Hương Lan mang âm hưởng giòng nước chảy, nhẹ tỏa như làn khói lam, lướt êm như cánh chim, tiềm ẩn chất giọng cổ nhạc ở miền đất phù sa trù phú của đồng bằng sông Cửu Long.
            Cô con gái kế tên là Hương Thanh, Hương Thanh cũng có giọng ca quyến rũ trong các cuộc biểu diễn văn nghệ của Cộng đồng người Việt ở thủ đô Paris, Pháp quốc. Các bạn của tôi ở Pháp cho biết Hương Thanh họp cùng ca sĩ Nguyên Lê thực hiện nhiều chương trình ca nhạc mới, mang âm hưởng ngũ cung, một dòng nhạc đẹp của thời đại tân tiến ngày hôm nay.
            Người con trai thứ ba của Hữu Phước tên Sáng. Tôi không được biết hiện nay cháu Sáng làm gì, ở đâu…
            Sau năm 1975, Hữu Phước có quốc tịch Pháp nên cả gia đình được trở về quê hương Pháp Quốc. Hữu Phước xa rời sân khấu cải lương như con cá bị vớt ra khỏi nước, hết phương vùng vẫy. Năm 1986, Hữu Phước quy tụ những nghệ sĩ cải lương đã được định cư ở nước Pháp: Minh Đức, Kiều Lệ Mai, Phương Thanh, Hà Mỹ Liên, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long để mong làm sống lại nghệ thuật cải lương ở hải ngoại.
            Một nhóm nghệ sĩ cải lương khác gồm có Minh Tâm, Tài Lương, Ngọc Lựu, Mỹ Hòa, Hùng Tiến, Chí Tâm cũng lập đoàn cải lương. Ý muốn của Hữu Phước và các nghệ sĩ khác muốn làm sống lại nghệ thuật cải lương ở Pháp là một ý rất hay nhưng không dễ gì thành công.
            Hữu Phước thương tiếc cái thời vàng son đã qua, nhiều đêm mơ về quê cũ, thấy mình vẫn còn đứng hát trên sân khấu với các bạn ngày xưa, Hữu Phước viết bốn câu vọng cổ, tự ca lên để nói nỗi niềm xa xứ và nhớ ánh đèn sân khấu.
            Minh họa bài vọng cổ “Nhựt ký đời tôi” của Hữu Phước:

            Hữu Phước:
                        Mười mấy năm rồi biệt cố hương
                        Dòng thơ ghi lại giữa đêm trường
                        Nửa đêm thức giấc, sầu xa xứ
                        Vọng hướng chân trời, để nhớ thương.
            Trải hết tâm tư lên từng trang giấy mỏng, hình ảnh thân thương chập chờn như giấc mộng, kỷ niệm ngày xưa ghi lại giữa

            (Câu 1) … đêm tàn… nhật ký đời tôi là tiếng hát cung đàn… mỗi khi chiều xuống là thấy lòng mình rạo rực, mong đến gặp bạn bè nơi hí viện từng đêm. Say đắm lòng mình qua lớp phấn son, mà sân khấu cải lương như có một linh hồn, nên mới khiến cho kẻ ly hương đêm từng đêm gục đầu tưởng nhớ.
            (Câu 2) Ôi! Nhớ vai Lý Quảng trong vở Hoa Mộc Lan bên cạnh một Thanh Nga, một chiến binh kiều diễm, mà đôi bạn tâm tình đã bao phen vào sanh ra tử, trước làn tên mũi đạn giữa chốn sa trường… Kỷ niệm ngày xưa vương vấn mãi trong lòng… một Nam tước Bảo Sinh trong Cung Đàn Trên Sông Lạnh, một bác sĩ Vũ nhân từ trong Đôi Mắt Người Xưa, Rồi từ huy chương vàng diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm, cùng một lượt với Bạch Tuyết, trong năm sáu mươi bảy, những lúc canh khuya bồi hồi nhớ lại, nước mắt trào ràn rụa giữa làn mi.
            (Nói lối) Có những lúc mơ màng trong giấc ngủ,

                          Tôi cứ ngỡ mình đang sống giữa quê hương,
                          Chợt nhớ ra mình là kẻ tha phương
                          Giữa đêm lạnh ngập ngừng bông tuyết trắng.
            Ôi! Nhớ giọng ca trầm ấm của nghệ sĩ Tám Thưa, nhớ tiếng cười vui của lão độc Hoàng Giang và giọng ca nức nở bi thương của Út Bạch Lan sầu nữ, những người anh người chị thân yêu đã dìu dắt từng bước tôi đi trên bước đường sân khấu, suốt bao năm biết mấy

            (Câu 5) … ân tình… ơn nghĩa ngày xưa ghi đậm giữa tim mình… tiếng đờn của Mười út Trần Hữu Lương như còn văng vẳng trong những đêm buồn nơi đất lạ trời xa, nhớ ngày nào mới tập tễnh học đờn ca, đứng trước khán giả sao lạ lùng bỡ ngỡ, lần đầu tiên tôi bước ra sân khấu, vở Lấp Sông Gianh, tôi nhớ mãi đến bây giờ.
            (Câu 6) … Ôi! Nhớ làm sao tiếng nhạc lời ca, nhớ khán giả, nhớ ánh đèn sân khấu, có ai còn nhớ vai Tấn trong Tấm Lòng Của Biển, hay vở Con Gái Chị Hằng trong vai cậu Tư Kiên, có đêm nằm mơ tôi thấy mình đang đứng cạnh Thanh Nga và hai tôi đang diễn vở Người Vợ Không Bao Giờ Cưới. Sơn Nữ Phà Ca gục đầu nức nở và nước mắt người yêu nghe ràn rụa thấm vai mình… Chuông giáo đường bỗng vọng tiếng ngân nga, tôi tỉnh giấc ngoài trời tuyết đổ, nơi đất khách những đêm không ngủ, tôi cứ ngỡ là mình đang diễn tuồng trên sân khấu quê hương.

            Tâm trạng của Hữu Phước có thể đại diện cho tâm trạng của những nghệ sĩ định cư ở hải ngoại. Không có đông đảo khán giả như ở Việt Nam, không có bạn diễn đồng sức đồng tài, không có soạn giả, không tác phẩm mới, nhịp điệu âm nhạc tân tiến và lối sống văn minh công nghiệp của nước ngoài cũng không phải là môi trường thuận lợi cho nghệ thuật sân khấu cải lương, tài năng như Hữu Phước và nhiều nghệ sĩ vang bóng một thời ở Việt Nam, đến xứ lạ quê người cũng phải khô cạn dần như con cá mắc cạn chờ chết khô, có vùng vẫy đôi chút, mòn mỏi nhớ thương biển rộng sông dài.
            Hữu Phước mất ngày 21 tháng 2 năm 1997 tại Paris. Khi nhắc đến giọng ca vàng Hữu Phước, các bạn nghệ sĩ cải lương Việt Nam còn nhớ lời nhà học giả Vương Hồng Sển khi nói về giọng ca của Hữu Phước, Ông Vương Hồng Sển đã nói: “Mấy mươi năm trước chưa ai ca vọng cổ hay hơn Hữu Phước, e rằng mấy mươi năm sau cũng chẳng có ai”.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 6/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110626-giong-ca-vang-huu-phuoc-theo-loi-ke-cua-soan-gia-nguyen-phuong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 25/03/2017, 10:14:40
Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường

Có lẽ vì sân khấu cải lương thường diễn những vở tuồng Tàu và tuồng lịch sử, nhân vật trong tuồng có vai Vua, Hoàng Đế, Hoàng Hậu, nên các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ có thói quen khi thấy nghệ sĩ nào có tài ca hay, diễn giỏi mà họ cho là giỏi bực nhứt trong nghề thì họ tặng cho nghệ sĩ đó những mỹ danh có kèm chức vị Vua hay Hoàng Hậu trước cái tên chính của người nghệ sĩ đó. VÌ vậy sân khấu cải lương có Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hoàng Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua Xàng Xê Minh Chí, Hoàng Hậu Sân Khấu Thanh Nga, Nữ Vương Sầu Mộng Út Bạch Lan, Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường…

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/vanhuong_bis.jpg)

Nghệ sĩ Văn Hường tự giới thiệu về mình:
            “Tôi là một nông dân, một nghệ sĩ rất là nông dân, nông dân ở xã nghèo, xã Long Thạnh Mỹ. Tôi mới bèn xuống dưới Saigon ở. Đó, lúc đó thì khổ sở lắm. Đó… mới là đi học ca, mà học ca là toàn anh em dìu dắt mình học, đó chẳng hạn, rồi lúc tôi ca được thì lúc đó tôi gặp anh Văn Vĩ, anh Năm Cơ, rồi gặp nhiều anh nghệ sĩ lớn tuổi mà rất là thương yêu nghệ sĩ Văn Hường, đó… thương mới bèn đưa đi đây đi đó, đám giỗ, đám cưới gì tôi ca hết, đó… lúc đó thì ca tốt rồi đó, cái bà Lệ Liễu mới mời tôi về ở giải trí trường Lệ Liễu ca, lúc đó là quán Lệ Liễu ở giải trí trường… Đó, rồi được anh em thương, rồi bà con đều thương, đó lúc đó thì có anh Viễn Châu cũng vô đó chơi, nhậu nhẹt rồi ca hát, lúc đó anh Viễn Châu thấy Văn Hường ca được quá, mới bèn mời về hợp tác với hãng dĩa, với cái bài đầu tiên của tôi ca, đó là cái bài Đêm Tân Hôn của soạn giả Viễn Châu viết.
            Rồi cái lần hồi ảnh viết qua cái bài Tư Ếch đi Saigon, Vợ tôi nói tiếng Tây, Pháp Sư giải nghệ… nhiều bài lắm, bây giờ kể không hết được… Lần hồi cái rồi anh Bảy Cao cũng về đó hát…, đó anh Bảy Cao đoàn Hoa Sen, gặp Văn Hường, cũng vô ngồi nhậu nhẹt, rồi nói chuyện, đờn chơi, mới mời tôi hợp tác với đoàn Hoa Sen… Hát được mấy năm trời, kế Kim Chung thấy tôi hát được quá, bèn mời tôi hợp tác với đoàn Kim Chung. Lúc đó thì ký giao kèo hơi lớn đó… hà hà… rồi từ từ hát… đâu chín, mười năm, mười một năm… A ký hợp đồng với Kim Chung Hát mười mấy năm
…”

            Thông thường, nghệ sĩ tự giới thiệu mình thì ít khi có mạch lạc và chi tiết.
            Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường tên thật là Nguyễn Văn Hường, sanh năm 1934 tại xã Long Thạnh Mỹ, huyện Thủ Đức. Cha mẹ là nông dân, có mười mấy người con mà Văn Hường là người con thứ sáu nên bạn bè gọi anh là anh Sáu Văn Hường.
            Trước năm 1975, tôi sáng tác nhiều bài ca cải lương hài hước cho Văn Hường ca thu dĩa cho hãng Capitol, tôi hỏi do đâu mà anh luyện được giọng ca đưa hơi ự ự hài hước độc đáo đó. Văn Hường cho biết là vì anh nghe danh ca Tám Thưa ca rất hay nhờ cái giọng đưa hơi ợ ợ của ảnh, nhờ đó Văn Hường nảy ra sáng kiến, chế cái tiếng ự ự thay cho cái tiếng ợ ợ, cái tiếng ự ự ăn khách dữ lắm.
            Nghệ sĩ Văn Hường trả lời đơn giản như vậy, vì nếp sống và cách suy nghĩ của Văn Hường rất đơn giản. Văn Hường không nghĩ là nếu gặp một bài ca vọng cổ có nội dung lịch sử như bài ca ca ngợi chiến thắng Đống Đa hay Trần Hưng Đạo Bình Nguyên hay một bài ca tình yêu như Lan và Điệp hay bài Đồi Thông Hai Mộ, Văn Hường có ự ự hay cách mấy thì thính giả cũng không cười được, mà nếu thính giả cười thì là cười Văn Hường làm hư nội dung bài ca. Ví dụ Văn Hường đã ca bài Đời là gì, thính giả chỉ mỉm cười vì nội dung trách hờn đời, chớ thính giả không cười rộ lên khi nghe anh ca những bài hài hước khác.
            Muốn có một bài ca vọng cổ hài hước làm cho thính giả cười lên được, phải có một sự kết hợp chặt chẽ giữa người viết bài ca, nội dung bài ca diễu, người ca sĩ có chất giọng và kỹ thuật ca diễu kết hợp với dàn đờn đờn ăn ý với người ca. Cái lối ca dùng tiếng ự ự thay cho tiếng ơ ơ chỉ là một kỹ thuật ca góp một phần nhỏ vào cách chọc cười thính giả.
            Khi khởi nghiệp cầm ca, nghệ sĩ Văn Hường được cái may mắn là gặp được soạn giả kiêm nhạc sĩ Viễn Châu. Anh Viễn Châu khám phá giọng ca lạ của Văn Hường nên viết nhiều bài ca hài để khai thác giọng ca hiếm có với nội dung viết về những trái khoáy trong xã hội từ chuyện sợ vợ, chuyện mê gái, chuyện mê tín dị đoan, đến nạn tứ đổ tường, những chuyện bình dị trong đời thường.
            Lối viết khéo léo của Viễn Châu và các tác giả chuyên viết vọng cổ hài cộng với lối ca duyên dáng dễ thương của nghệ sĩ Văn Hường đã đánh trúng tâm lý của người nghe. Trong các buổi tiệc đám cưới, đám giỗ, các buổi đờn ca tài tử, người ta bắt chước Văn Hường ca: “Một vợ thì nằm giường lèo, hai vợ thì nằm chèo queo, ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm…” (bài Năm con vợ), hoặc “Uống chi cho đã rồi lủi vô bụi cây cho chó ăn chè…” (bài tâm sự Ba xi đế).
            Sau bài vọng cổ vui đầu tiên Đêm tân hôn, Văn Hường được soạn giả Viễn Châu sáng tác cho rất nhiều bài vọng cổ hài hước như Tư Ếch đi chợ Saigon, Tư Ếch đại chiến Văn Hường, Tư Ếch coi cải lương, Tư Ếch coi hội chợ, Vợ tui tui sợ, Vợ tui nói tiếng Tây, Tôi mê tài xỉu, Văn Hường thua số đuôi, Pháp sư giải nghệ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ Táo Quân…


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/aef_image_original_format/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/vanhuongsovo_bis%20copie.jpg)

Văn Hường ca Vợ tui tui sợ của soạn giả Viễn Châu:
            “Hỡi những bậc nam tử tu mi, hỡi các đấng trượng phu từ thanh niên râu chí mấy cụ già lão nhược, hãy đứng lên chung lưng đấu cật mà cùng nhau sợ vợ cho vui cửa
            Vọng cổ câu 1: … vui nhà… Bà con lối xóm họ điệu thì họ kêu là mình thương vợ, còn họ ghét thì gọi là thờ bà… nhưng ở đời mà, hơi sức đâu bận tâm tới miệng lằn lưỡi mối, ăn no cái rồi bươi móc chuyện của người ta hoài vậy hà… Sách có câu Trị Quốc Tề Gia, phu phụ thuận hòa thì gia đạo mới yên, tơ hồng nguyệt lão se duyên, kẻ được vợ hiền còn người rinh con vợ dữ… ư… ư
            Câu 2: … Nói không phải khoe với anh Ba, chớ tôi dám chắc nội cái xóm Nancy nầy không có tay nào sợ vợ cho bằng Văn Hường sợ vợ hết á… nhưng cái sợ của tôi là cái sợ có sách có vở. Mà cái sợ vợ cao cấp, cái sợ vợ có nghệ thuật à… chứ đâu phải thứ sợ vợ tay mơ của mấy cha lục đục thường tài… vì hồi ban sơ mới lấy nhau, tôi nhè lỡ sợ nên tới ngày nay tôi tiếp tục sợ hoài… Vậy bà con lối xóm họ đâu có thông cảm, họ xậm xì xậm xịt, họ nói là hiếu phụ nha nha… sợ vợ như là sợ… sợ… sợ… ối, nhưng mà anh Ba ôi, tôi gẫm lại thì vợ mình mình sợ, phải hông. É chớ mình đâu có điên dại gì mình lại sợ vợ của người ta
            Câu 5: Nhỏ cũng sợ mà già cũng sợ… Sách có câu sợ vợ mới nên! Tại tôi muốn ăn ở cho đúng sách Thánh hiền, chớ thân bảy thước, ai sợ gì phụ nữ… Ủa, lạm gì mà ngó tôi rồi anh cười chúm chím, làm tôi quê quá. É Anh nhớ lại mấy lần đến thăm tôi, anh đều thấy tôi mặt mày sưng húp, mắt bầm đen và lỗ mũi ăn trầu… Ạ, đó là tại con vợ tôi nó nựng tôi hơi nặng tay, nên tôi mới bể đầu… thì đâu có sao… chết chóc gì anh Ba… Sách có câu, đèn nhà ai nấy sáng, thương nhau lắm mới đánh nhau đau, lổ đầu gẫm chẳng có sao, băng keo dán lại, lấy dầu xức vô, máu ra một lát nó khô, chớ còn cãi lại thì ô hô sanh buồn.
            Câu 6: Đọ… Anh Ba thấy hông… từ vua chúa đến thứ dân, từ khố rách áo ôm cho tới tai to mặt lớn, từ quê tới tỉnh, từ ruộng rẫy tới thị thiền, ai ai cũng sợ vợ ráo trơn ráo trọi hết, bởi vì cái vụ sợ vợ là cái sự dĩ nhiên mà anh Ba… xấu hổ gì chuyện đó… Đàn bà là sếp gia đình, Nam tử tụi mình phải rắc rắc tuân theo, Sợ nào bằng sợ vợ làm reo, nổi giận nó dám bỏ chèo queo một mình. Sách Nhị Thiên Đường có câu: Phu xướng phụ tùy, dạy một cách khác nữa là chồng phải quỳ (oui) khi vợ gọi, anh Ba ôi, nên hư số hệ nơi trời, vợ mình mình sợ, ai cười mặc ai.

            Sau 200 bài vọng cổ hài của Viễn Châu sáng tác cho Văn Hường, có rất nhiều vọng cổ hài của các tác giả khác viết khai thác giọng ca hài của Văn Hường như bài Thằng Lãnh bán heo của soạn giả Quy Sắc – hãng dĩa Hồng Hoa, bài Văn Hường đau khổ, Văn Hường ba con vợ của soạn giả Văn Giai – hãng dĩa Quê Hương, bài Già Đa dạy lái Honda, Văn Hường trúng số hụt, Ông Thần ve chai, Văn Hường làm thầy bói, Văn Hường đi Suzuki, Chàng Rể độc đắc, Ông Táo cải lương của hai soạn giả Yên Sơn và Nguyễn Phương – hãng dĩa Capitol, bài Anh hùng náo quán bia hơi của Hoàng Việt – hãng dĩa Việt Hải… đưa danh tiếng của Văn Hường đến tột đỉnh của nghệ thuật ca hài hước lúc bấy giờ.
            Viết vọng cổ thật ra không khó, nhưng muốn viết hay, có tính văn học lại là chuyện khác. Người viết biết giữ đúng lề lối, đúng khung nhạc, đúng chữ đờn cuối khung và văn chương có vần điệu là có thể sáng tác vọng cổ, nhưng viết một bài vọng cổ hài thì tác giả phải có cái nhìn sự việc độc đáo và phải biết sử dụng ngôn ngữ hài. “Nhìn sự việc độc đáo” là nhìn ra khía cạnh nào có thể châm biếm được, chọc cười người nghe, khám phá ra những hủ tục cần đả phá và phải dùng lời châm biếm nhẹ nhàng, gây cười khiến cho người nghe dù là kẻ bị châm biếm cũng phải cười mà không phật lòng, người bình thường thì tán thành lối châm biếm đó như là họ đã nhờ tác giả nói thay cho họ vậy.
            Trước danh ca hài Văn Hường, có nhiều nghệ sĩ ca hài hước vọng cổ như Hề Lập ca trong tuồng Lý Chơn Tâm cưỡi củi, hề Tư Xe trong vai Lôi Nhược ca trong tuồng San Hậu, danh ca Tám Bằng ca bài vọng cổ Thầy bói nói mò, danh ca Hồng Châu ca hài bài vọng cổ Cọp cọp, Bonjour thầy Ba… các nghệ sĩ đó dùng cách ca cà lăm để tạo tiếng cười, nhưng khi đến Văn Hường thì anh biết sáng tạo, khai thác thêm giọng ca và cách ca cho phù hợp với nội dung bài vọng cổ hài, với làn hơi độc đáo, anh sử dụng cách luyến láy, nhấn nhá, kéo dài phụ âm “R”, hoặc lên giọng thật cao, ca “sét” ở những chữ mang dấu sắc, dấu hỏi, đặc biệt câu vô với chữ “Ự… Ự” lên xuống trước khi xuống chữ hò vô vọng cổ. Ngoài ra, Văn Hường còn có một làn hơi phong phú, bộ nhịp vững chắc cho phép anh tùy ý ngân nga, chạy nhảy trong bài vọng cổ hài, vốn có những câu rất nhiều chữ và không có khoảng nghỉ lấy hơi trong lòng câu vọng cổ. Những sáng tạo của nghệ sĩ Văn Hường trở thành khuôn mẫu để những danh hài sau này bắt chước như Hề Sa, Hề Thanh Nam. Cho đến nay, chưa có nghệ sĩ ca vọng cổ hài nào tìm được sáng tạo mới, thoát khỏi cái khung mà Văn Hường đã định.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 11/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20111127-vua-vong-co-hai-van-huong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 28/03/2017, 08:23:29
Bích Thuận, nghệ sĩ tiền phong sân khấu cải lương

Nghệ sĩ cải lương dù đang còn ở trong nước hay đã định cư nơi hải ngoại, đều rất lấy làm hãnh diện có được một nghệ sĩ bậc thầy, một nghệ sĩ lão thành tiêu biểu cho nghệ thuật sân cải lương Việt Nam: Nữ nghệ sĩ Bích Thuận. Bích Thuận cũng là tấm gương sáng cho nghệ sĩ đàn em về tinh thần học hỏi trau dồi nghề nghiệp, về tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết trong giới nghệ sĩ với nhau và tinh thần biết ơn và tôn trọng khán giả.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/BichThuan.jpg)
Bích chương giới thiệu buổi diễn của nghệ sĩ Bích Thuận năm 1999 tại UNESCO (Paris)

SOẠN GIẢ Nguyễn Phương hân hạnh được gặp lại nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận, người nghệ sĩ cải lương cao niên nhất trong Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Paris nhân dịp Hội tổ chức một tiệc thân hữu đón tiếp vợ chồng Nguyễn Phương khi chúng tôi đến Paris vào ngày 12 tháng 11 năm 2006. Vào thời ấy, giọng ca Bích Thuận nổi bật trong vai Lữ Bố tuồng Phụng Nghi Đình, hát trên sân khấu Maubert Mutualité Paris.
            Lúc đó Cô Bích Thuận đã 84 tuổi, cô vẫn còn giữ được giọng ca thanh thoát và một dung nhan sắc sảo như thuở cô còn hát trên sân khấu những thập niên 50, 60. Các nữ nghệ sĩ cải lương đồng thời với cô, những nữ nghệ sĩ đã vào lứa tuổi trên 80, không có ai còn giữ được một dung nhan kiều diễm bền vững với thời gian như nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận.
            Nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận, quê ở tỉnh Bắc Ninh, quê hương của những điệu hát quan họ. Lúc lên 10 tuổi, cô Bích Thuận và em gái là Tường Vi gia nhập gánh hát Đồng Ấu Nhật Tân Ban của ông Bầu Tài ở Hà Nội. Thời đó ở Hà Nội có phong trào hát cải lương theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ, có người gọi là gánh hát cải lương hát theo điệu Saigon nghĩa là trong tuồng có ca vọng cổ Bạc Liêu, ca các bài cổ nhạc Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung, Xàng Xê, Phụng Hoàng, và các bài cổ nhạc ngắn, nói lối và ngâm thơ theo điệu Tao Đàn Saigon.
            Các đoàn cải lương hát điệu Saigon mới được thành lập gồm nhiều học viên nghệ thuật trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 15 tuổi. Các ông bầu gánh hát Đồng Ấu phỏng theo cách tổ chức của các gánh hát Tiều từ bên Tàu sang Việt Nam trình diễn ở Hà Nội, các học viên trẻ gia nhập đoàn hát của họ phải được cha mẹ làm giấy ký kết cho con học hát nơi đoàn hát đó (vì các em đều ở tuổi vị thành niên). Trong khi học hát, bầu gánh bao ăn, ở, may cho y phục và khi nào hát được trên sân khấu, học viên sẽ được phát lương tháng. Tờ cam kết có thời hạn hai năm kể từ ngày học viên hát được và có lãnh lương. Nếu chưa mãn hạn cam kết mà học viên bỏ sang gánh hát khác thì cha mẹ phải bồi thường công nuôi nấng, dạy dỗ của bầu gánh và của các nghệ sĩ đàn anh chăm sóc sân khấu đó. Thông thường giá tiền bồi thường thiệt hại cho bầu gánh nặng gấp nhiều lần hơn số tiền họ đã bỏ ra để nuôi dạy học viên trẻ, vì vậy khi một học viên trẻ được đào luyện ở đoàn Đồng Ấu nào thì thường hát ở đoàn hát đó ít nhất năm, ba năm.
            Trong thời kỳ mới đi học hát của cô Bích Thuận, tại Hà Nội có ba gánh hát Đồng Ấu nổi danh, đó là gánh hát Nhật Tân Ban của ông bầu Tài, gánh hát Quảng Lạc Ban của ông bầu kiêm họa sĩ Trần Phền, gánh hát Đồng Ấu Sán Nhiên Đài của ông bầu kiêm kép Sáu Cương. Ba ông bầu gánh Đồng Ấu này chung đậu một số tiền lớn để mua chuộc các nghệ sĩ Nam Kỳ trong đoàn hát Nghĩa Hiệp Ban để họ ở lại Hà Nội dạy cho các đoàn hát mang bảng hiệu hát cải lương ca theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ.
            Nữ nghệ sĩ Bích Thuận chỉ qua sáu tháng học ca cổ nhạc và học hát là đã đóng vai đào chánh trên sân khấu đoàn Nhật Tân Ban. Theo lời cô Bích Thuận kể lại, kỷ niệm trong đời đi hát của cô là khi học ca theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ, cô ca vẫn đúng theo bài bản, nhịp điệu nhưng không thể nào bắt chước được giọng Nam Kỳ. Cô ca vọng cổ trong đoàn hát Nhật Tân Ban hay đoàn Tố Như mà đa số diễn viên hát giọng Bắc, cô thấy hòa hợp và diễn xuất được tự nhiên. Khi vô Saigon hát, dầu chỉnh sửa thế nào cũng không giấu được âm hưởng Bắc trong giọng nói và câu ca. Cô chọn lối hát Quảng, hát tuồng Tàu và nổi danh qua các vai Lữ Bố, An Lộc Sơn, Triệu Tử Long.
            Sau khi hết hợp đồng với đoàn Đồng Ấu Nhật Tân Ban, nữ nghệ sĩ Bích Thuận gia nhập đoàn hát Tố Như và nổi danh là nghệ sĩ danh ca thinh sắc lưỡng toàn, đồng thời với các ngôi sao sân khấu miền Bắc như Bích Hợp, Kim Chung, Khánh Hợi, Túy Định…
            Năm 1948, khi đoàn hát Tố Như vào Nam lưu diễn, cô Bích Thuận ở lại miền Nam và lập gánh hát Bích Thuận. Hai năm sau cô giải tán đoàn hát Bích Thuận để đầu quân vô gánh hát Phụng Hảo của cô Phùng Há, và sau đó đi hát cho gánh hát Nam Phi của cô Năm Phỉ và Bảy Nam.
            Sau năm 1954, Bích Thuận lại gia nhập gánh hát Phụng Hảo 3, hát chung sân khấu với các nữ diễn viên tài danh người miền Nam như Phùng Há, Kim Thoa, Thanh Tùng, Ngọc Hải. Cô Bích Thuận và cô Phùng Há cùng hát chia vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình. Cô Tư Thanh Tùng trong vai Điêu Thuyền, kép Năm Định trong vai Đổng Trác. Trong tuồng Trường Hận, cô Bích Thuận chia vai với cô Phùng Há hát vai võ tướng An Lộc Sơn hoặc vai ông vua si tình Đường Minh Hoàng. Trong tuồng Mộng Hoa Vương, Bích Thuận để lại một ấn tượng sâu sắc cho sân khấu Saigon trong vai võ tướng Triệu Tuấn, người si mê Mộng Hoa Vương và là tình địch của sứ thần Ngô Trung Cảnh.
            Thời đó, tuồng Mộng Hoa Vương với các diễn viên tài danh vừa kể là một vở tuồng ăn khách, lấy nước mắt khán giả nhờ vào mối tình tay ba: Mộng Hoa Vương, sứ thần Ngô Trung Cảnh và võ tướng Triệu Tuấn. Kết cuộc của vở Mộng Hoa Vương, vì tranh tình mà võ tướng Triệu Tuấn so tài với Ngô Trung Cảnh, đâm chết Ngô Trung Cảnh. Triệu Tuấn – Bích Thuận tưởng đã giết chết kẻ tình địch thì sẽ cướp được tình yêu của Mộng Hoa Vương. Không ngờ Mộng Hoa Vương bỏ cả ngai vàng, chở xác người yêu xuống thuyền ra khơi trở về cố quốc của Ngô Trung Cảnh. Một cuộc tranh tình mà ba trái tim đều tan vỡ.
            Tôi còn giữ được nhiều ảnh chụp cô Bích Thuận năm 1956 trong tuồng Mộng Hoa Vương của soạn giả Tư Trang. Cô Bích Thuận đóng vai võ tướng Triệu Tuấn, người si mê Mộng Hoa Vương nhưng không được yêu lại. Nam nghệ sĩ Thanh Phong trong vai sứ thần Ngô Trung Cảnh, vai hát để đời của cố nghệ sĩ Tư Út; cô Phùng Há trong vai Mộng Hoa Vương, cô Kim Lan trong vai tướng cướp Bạch Cúc, Kim Cương trong vai nữ tướng Hồng Liên.
            Cô Bích Thuận vì là người Bắc nên ca những bài bản lớn cổ nhạc của miền Nam như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng không hay bằng các diễn viên miền Nam, nhưng bù lại thì cô Bích Thuận ca những bài hát quảng, ca những bài bản nhỏ có âm hưởng và nhịp điệu như tân nhạc của soạn giả Mộng Vân thì rất hay. Bích Thuận có điệu múa theo bộ hát Quảng, hát tuồng Tàu cũng đẹp không thua cô Phùng Há nên Bích Thuận thành công dễ dàng trong các vai tướng võ trong tuồng Tàu như vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình; vai An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận, vai tiểu tướng Phùng Mậu trong tuồng Phùng Mậu hạ san; vai vua Trần Khắc Chung trong tuồng Sương Gió Chiêm Thành.
            Trước năm 1975, cô Bích Thuận được mời làm giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon, cô là một nghệ sĩ đa tài trong các bộ môn cải lương, kịch nói, ngâm thơ ba miền, ca tân nhạc và giỏi về các vũ đạo tuồng Tàu theo lối hát Quảng.
            Sau khi định cư ở Pháp vào đầu thập niên 80, Bích Thuận và phu quân, người được giới nghệ sĩ thân mật gọi là Tonton Hiếu, hai ông bà luôn luôn là những khách mời trân trọng nhứt trong các buổi họp mặt văn nghệ, những buổi giới thiệu ra mắt sách, thơ, văn… cô Bích Thuận đến những nơi có kiều bào định cư ở Hải Ngoại để trình diễn những trích đoạn tuồng cải lương nổi tiếng xưa của cô trên các sân khấu Phụng Hảo, Kim Chung. Cô ngâm thơ Tao đàn, ngâm sa mạc, ca quan họ, hát ả đào. Có khi cô thủ diễn lại vai Lữ Bố trong trích đoạn Lữ Bố Hí Điêu Thuyền với nữ nghệ sĩ Kiều Lệ Mai làm Điêu Thuyền, Minh Đức trong vai Tư Đồ Vương Doãn.
            Ngày 13 tháng 6 năm 1999, Hội Đông Y giới Việt Nam Tự Do và các môn sinh của cô Bích Thuận tổ chức vinh danh cho cô tại phòng khánh tiết Trung Tâm Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) nằm trong quận 7 Paris. Gần đây một số Hội đoàn trên đất nước Hoa Kỳ làm lễ vinh danh cho 50 năm sự nghiệp trình diễn văn nghệ của cô Bích Thuận. Cô Bích Thuận đã hát Quan Họ trong màn trẩy hội du xuân vùng Kinh Bắc, cô thủ vai Thúy Kiều trong lớp tâm sự với Thúc Sinh do nghệ sĩ Hoàng Long thủ diễn, cô cũng thủ diễn vai Trưng Trắc, múa song kiếm gợi lại hình ảnh của nghệ sĩ đàn em Thanh Nga trong tuồng Tiếng Tiếng Trống Mê Linh.
            Năm 2009, người bạn đời của nữ nghệ sĩ lão thành tài danh Bích Thuận là ông Tonton Hiếu về cõi vĩnh hằng, bạn bè nghệ sĩ Paris và các nghệ sĩ đàn em ở Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Việt Nam đã gửi thư, e mail, điện thoại chia sẻ nỗi đau đớn mất mát to lớn này với nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận.
            Nửa thế kỷ trôi qua, nữ nghệ sĩ Bích Thuận vẫn còn chói sáng một tài năng hiếm có về nhiều bộ môn nghệ thuật ca ngâm diễn xuất. Cô không những không mòn mỏi trong nghệ thuật ca diễn dầu cho tuổi đời chồng chất, Bích Thuận là hạt nhân đoàn kết của các nghệ sĩ cải lương ở Paris và ở Hải ngoại. Cô Bích Thuận có đạo Gia Tô, là người theo đạo Thiên Chúa mà vẫn luôn luôn có mặt trong các dịp cúng Tổ cải lương, khi còn ở trong nước cũng như mấy mươi năm ở hải ngoại. Cô nói “Niềm tin Chúa thì mình vẫn giữ trong lòng, còn theo nghề hát thì Tôn Sư Trọng Đạo là một đạo đức nghề nghiệp, người nghệ sĩ vẫn phải tôn trọng chứ”.
            Nghệ sĩ cải lương chúng tôi dù đang còn ở trong nước hay đã định cư nơi hải ngoại, chúng tôi rất lấy làm hãnh diện có được một nghệ sĩ bậc thầy, một nghệ sĩ lão thành tiêu biểu cho nghệ thuật sân cải lương Việt Nam. Nữ nghệ sĩ Bích Thuận cũng là tấm gương sáng cho nghệ sĩ đàn em về tinh thần học hỏi trau dồi nghề nghiệp, về tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết trong giới nghệ sĩ với nhau và tinh thần biết ơn và tôn trọng khán giả.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 2/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120226-bich-thuan-nghe-si-tien-phong-san-khau-cai-luong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 30/03/2017, 12:25:10
Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam

Một bộ môn sân khấu phong phú và có lẽ được yêu chuộng nhất của người dân miền Nam Việt Nam là sân khấu Cải Lương. Nó phong phú ở những điểm nào? Được yêu chuộng vì lẽ gì? Đó là những khía cạnh được soạn giả lão thành Nguyễn Phương đề cập đến trong tạp chí Văn Học Nghệ Thuật kỳ này.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/Vietnamese-traditional-music-playwright-nguyen-phuong-bids-farewell-nphuong-12062009094709.html/nguyenphuong305.jpg/image)
Soạn giả Nguyễn Phương

ĐÂY LÀ bộ môn nghệ thuật giá trị và độc đáo, vốn văn hóa của miền đồng bằng Nam Bộ mà nếu không được nhắc đến, e rằng sẽ bị mai một. Đó là một di sản văn hóa lớn trong ngành nghệ thuật sân khấu của nước Việt.
            Về vấn đề này, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Đài RFA hân hạnh được soạn giả Nguyễn Phương dành cho một cuộc phỏng vấn, xin mời quý thính giả theo dõi:

Phạm Điền: Kính chào soạn giả Nguyễn Phương. Xin ông vui lòng cho thính giả của đài RFA biết khái quát tiểu sử và kinh nghiệm trường trải của soạn giả với sân khấu cải lương cũng như việc trở thành một nhà soạn tuồng cho bộ môn này.
Nguyễn Phương: Chào ông Phạm Điền, xin chào thính giả Đài RFA. Tôi tên là Nguyễn Phương, tôi sanh ngày 1 tháng 7, 1922. Sanh quán ở làng Điều Hòa, Mỹ Tho. Tôi tốt nghiệp trường Bách nghệ Sài Gòn năm 1940, sau đó thì tôi đi học tiếp ở Hà Nội, trường Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp hai năm. Năm 1943 tôi được bổ nhiệm làm cho Sở Bưu Điện ở Sài Gòn, phòng kỹ thuật. Nhà tôi ở đường hẻm Cá Hấp ở gần rạp hát Thành Xương với đường Cầu Quang, nên tôi thường tới coi hát vậy nên tôi quen với nhiều nghệ sĩ lắm. Tới 1948 thì bạn tôi rủ tôi theo gánh hát. Gánh hát Tiếng Chuông của Bầu Căn.
            Từ năm 1948 cho tới luôn năm 1989, tôi bỏ luôn nhiệm sở theo gánh hát liên tục hơn 40 năm, tôi học viết tuồng rồi tôi trở thành soạn giả. Tôi cọng tác với các đoàn như đoàn Tiếng Chuông của Bầu Căn, Đoàn Ánh Sáng của Bầu Tập. Đoàn Diễn Kịch Năm Châu, Đoàn Kim Thoa, Đoàn Thanh Minh của Bầu Nghĩa, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga của Bầu Thơ, Đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân. Lúc đó thì tôi cũng là Trưởng Ban Cải Lương Phát Thanh Phương Nam, cải lương của Đài Phát Thanh Sài Gòn, rồi tôi là trưởng ban của Kịch Phương Nam, đài Truyền hình Sài Gòn. Tôi viết kịch thường xuyên, kịch Sống của Túy Hồng, ban kịch của Kim Cương, ban kịch của Thẩm Thúy Hằng với cái Chương Trình Lúc Không Giờ của Đài Truyền Hình do đạo diễn Lê Hoàng Hoa phụ trách.
            Về phim thì tôi là tác giả của các truyện phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, của Mỹ Vân phim. Sống Đời Tôi với Lệnh Bà Xã là của Mỹ Ảnh phim, Chàng Ngốc Gặp Hên của Trùng Dương phim, Con Ma Nhà Họ Hứa của Dạ Lý Hương phim.
            Sau năm 1975 thì tôi lại chuyên viên kỹ thuật sân khấu của các đoàn hát Thanh Nga, rồi Sài Gòn 3, đoàn Phước Chung, đoàn Hương Nam, Đoàn Sài Gòn 2.

Phạm Điền: Thưa ông Nguyễn Phương, xin cho biết ông đã soạn tất cả bao nhiêu vở tuồng rồi cho đến nay?
Nguyễn Phương: Tôi soạn hơn 100 kịch bản Cải Lương và kịch nói mà bây giờ thì tôi có thể nhớ những tác phẩm tiêu biểu như Đôi Mắt Người Xưa, Ngã Rẽ Tâm Tình, Bọt Biển, Tình Xuân Muôn Tuổi, Hoa Đồng Cỏ Nội, Tình Của Biển, Chuyện Tình 17, Tiền Rừng Bạc Biển, Chén Trà Của Quỷ…
            Năm 1989 tôi định cư ở Canada, tới nay là 15 năm rồi.

Phạm Điền: Thưa soạn giả Nguyễn Phương, ông đã có kinh nghiệm trường trải trong ngành cải lương. Ông đánh giá như thế nào về sân khấu cải lương so với các bộ môn nghệ thuật trình diễn khác.
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, đánh giá một bộ môn Cải Lương trong cái ngành nghệ thuật chung của nước mình thì đó là một việc rất lớn, bao quát, phải phân tích, phải dẫn chứng. So sánh giữa nghệ thuật Cải Lương với các bộ môn sân khấu khác, hát Bội cũng như kịch nói, kịch thì mới có thể làm nổi bật lên được cái tính ưu việt, cái tính đặc sắc của Cải Lương. Trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi như vậy đó, nhất là không đủ tài liệu để minh họa, khi đề cập đến mọi khía cạnh đặc sắc của cải lương.
            Ở nước mình đó, có nhiều người thì thích kịch nói vì cho kịch nói đó là một nghệ thuật tân tiến. Có người lớn tuổi, hoài cổ, thì thích nghệ thuật Hát Bội, vì cho đó là nghệ thuật kinh điển. Có người lại thích nghe Vọng Cổ, coi hát Cải Lương, nhưng mà ngay trong số những người thích coi hát cải lương đó thì có những người có thành kiến, cải lương là một cái gì không thật, phóng đại, đương nói bỗng ca, gần chết rồi mà còn ca vọng cổ mà. Thành ra cái vấn đề sân khấu cải lương có rất nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, nhất là cần phải bàn cho rõ quan niệm của người mình xem hát cải lương như thế nào. Những cái đặc trưng của nghệ thuật sân khấu cải lương ra sao thì mới có thể hiểu được sân khấu cải lương.
            Chắc là phải có nhiều lần nói chuyện mới từ từ nói hết được cái hay, cái đặc biệt, cái đặc sắc của cải lương. Bữa nay đó thì tui chỉ đóng khung trong cái nhìn khái quát về nghệ thuật sân khấu cải lương thôi.

Phạm Điền: Cái khung đó, nếu bây giờ nói một cách khái quát thì nó như thế nào thưa ông?
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, sân khấu cải lương là một loại hình nghệ thuật kỳ diệu, thật là kỳ diệu là bởi vì nó có rất nhiều hình thức để thực hiện rất là độc đáo. Có thể nói cuộc sống phong phú bao nhiêu thì sân khấu cải lương cũng đa dạng bấy nhiêu. Ở cải lương có đủ cả thi, ca, vũ nhạc, kịch, hội họa. Trong cách thể hiện và văn phong cải lương thì có tính cách ước lệ, tính tượng trưng, tả thực, tả ý, tả tình, lịch sử, trữ tình. Nói chung, nó là một nghệ thuật tổng hợp phong phú và hấp dẫn. Chỉ nói riêng về khả năng chuyên chở đề tài của nghệ thuật cải lương. Về khả năng chuyên chở của đề tài cải lương đó thì tôi thấy rằng nó có một sức chuyên chở vô tận.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/theart-of-cailuong-mlam-04162011135246.html/bavanphungha250.jpg/image)
Nghệ sĩ Ba Vân và Nghệ sĩ Phùng Há trong tuồng cải lương Khi Người Điên Biết Yêu
Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

Phạm Điền: Thưa soạn giả, như thế hẳn lịch sử cải lương cũng để lại các sắc thái đặc sắc trong quá trình hình thành của nó?
Nguyễn Phương: Tôi xin mời ông Phạm Điền và thính giả lướt qua lịch sử hình thành nghệ thuật cải lương và quá trình phát triển của nó, trong hơn 80 năm thì sẽ thấy cái đặc điểm này. Cái đặc điểm mà theo lối các loại nghệ thuật sân khấu khác là không có làm được. Cái hồi cải lương mới ra đời tôi chỉ nhắc từ năm 1910 thôi. Cải lương còn sơ khai trong cái hình thức ca rao bộ thì cải lương đã diễn ca Lục Vân Tiên Bùi Kiệm gặp Nga, những nhân vật trong Lục Vân Tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu ở trong cái thời xa xưa, nhưng mà khán giả coi hát cảm khái như là cái chuyện xảy ra trong thời đại hôm nay. Tới cái chuyện ông Trang Tử Cổ Bồn Ca của ông Mạnh Tư Trương Như Toàn nói chuyện ông Trang Tử giả chết để thử bụng dạ vợ mình.
            Chuyện là chuyện cổ bên Tàu, diễn viên ăn mặc theo y phục cổ trang. Trên sân khấu cải lương nhân vật Tàu được ca hát bằng tiếng Việt Nam, khán giả vẫn chấp nhận, thưởng thức nội dung cốt chuyện đó. Sau đó thì ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Huyền viết chuyện Phụng Nghi Đình, tuồng Quan Công Phục Huê Dung Đạo… Lữ Bố Hí Điêu Thuyền, Lữ Bố tròng ghẹo tình tứ với Điêu Thuyền, Điêu Thuyền mê hoặc Đổng Trác, rồi trong tuồng Huê Dung Đạo, Tào Tháo thua trận Xích Bích tới rớt râu sút mão, rồi ca vọng cổ quên đến mình, tưởng Tháo đã chết nên Tháo khóc một cách ngon lành.
            Chuyện ở bên Tàu đời nhà Hán cách nay mấy ngàn năm, tướng Tàu, đào Tàu đều ca vọng cổ, ca bài bản nhạc Việt Nam. Khán giả nghe như chính người Việt Nam nói chuyện với nhau. Sự khác biệt về ngôn ngữ Tàu Việt, khác về lối sống, khác vì dân tộc tính không ngăn cản được cái sự cảm thụ của khán giả khi khán giả xem tuồng Tàu dưới dạng diễn của nghệ thuật cải lương.
            Đó cũng chưa hết kỳ diệu đâu, phải kể tới cái thời ông Năm Châu, soạn giả Nguyễn Thành Châu, chuyện Tây, hết Tàu rồi bây giờ đem chuyện Tây Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ thành tuồng cải lương, d’Artagnan mặc y phục của Pháp, kể chuyện tình của hoàng hậu nước Pháp với vị quận công nước Anh, vậy mà các nhân vật nước Anh, nước Pháp đó đều ca vọng cổ, ca bài bản Việt Nam, nói tiếng Việt Nam, câu chuyện tình trên đây được chuyên chở dưới dạng cải lương thì khán giả thưởng thức một cách trọn vẹn ngọt sớt như cái chuyện đời xưa nào đó của Việt Nam, hổng phải ở đâu hết.
            Nghệ sĩ Năm Châu viết rất nhiều kịch bản lấy kịch Pháp như là Tứ Hoa Vương Nữ… Trong cái thời kỳ cải lương hát tuồng phương tây đó, nội dung cốt chuyện, tình cảm, nhân vật, nước Anh, nước Pháp, nước Tây Ban Nha. Sân khấu Việt Nam nhưng giống như người Việt Nam chánh gốc. Hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu trong Gió Ngược Chiều do nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn. Tâm tình của Hoàng Hậu Mã Nhi Nương Bửu được Thanh Nga ca vọng cổ khán giả cải lương rất là đồng cảm. Khán giả đã khóc vì cuộc đời bi thương của hoàng hậu, khán giả đã khóc vì Trà Hoa Nữ.
            Tôi thì tôi cảm giác cái hàng rào ngôn ngữ của các quốc gia khác biệt không có hiện diện khi ta đưa câu chuyện ngoại quốc vào kịch cải lương.
            Đó rồi nói tới cái thời kỳ tuồng tiên, tuồng Phật, tuồng Tôn Tẩn Bàng Quyên, Lê Huê Phá Hồng Thủy Trận, tuồng Phật Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính, Phật Nhập Niết Bàn, Thích Ca Cầu Đại Nhân, những câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Sắc Tức Thị Không, Không tức thị Sắc vô vọng cổ lúc Thái tử Sít Đạt ta bỏ hoàng thành đi, cứ ca vọng cổ thì không còn thấy dạng niệm Phật của câu tụng kinh nữa mà nó trở thành một câu vọng cổ, nghe rất là êm dịu. Cái thời đó hát rất là đông khách. Tới thời Nhật Bổn, tuồng Nhật Bổn, các nhân vật như là Khi Hoa Anh Đào Nở của Hà Triều Hoa Phượng với Tô Điền Sơn Thành Được, cái đầu trán sói bóng lưỡng, búi tóc nhỏ sau lưng, mặc áo kimono, gươm võ sĩ đạo trên lưng Tô Điền Sơn Thành Được, một kiếm sĩ Nhật Bổn ca vọng cổ nghe mùi riệu. Tới ngày nay, hơn 40 năm sau tôi còn nghe khán giả nhắc tới Tô Điền Sơn Thành Được.
            Cái nghệ thuật mà hát cải lương mới đưa được những cái đó. Hát Bội cũng thử, diễn cái tuồng Le Cid của Ưng Bình Thúc Dạ ở Huế ông viết, ông đề tựa là Nàng Chim Anh Lộ Địch, nhưng mà Hát Bội vô cái tuồng đó không hay bằng cái tuồng giá trị của Năm Châu. Có đưa thử Roméo Julliette, nhưng mà khi diễn Quan Công Phò Nhị Tẩu, hay Hán Sở Tranh Hùng thì cái kịch người ta coi thành một cái hài kịch thôi.

Phạm Điền: Thưa soạn giả, những vở tuồng có giá trị như thế có được giữ lại trong kho tài liệu văn hóa nghệ thuật hay không?
Nguyễn Phương: Tôi muốn nói thêm một điều nữa, tiếc một điều tiểu thuyết thì có ấn bản, có sách in lưu hậu thế, tuồng tích, nhiều tuồng văn chương đối thoại thiệt là hay, nhưng mà không có in thành sách cho nên khi hát xong rồi, qua một thời gian không còn lưu dấu. Mấy năm sau này thì có cái in dĩa, thu thanh, rồi DVD, nghệ sĩ trẻ còn lưu được. Một điểm nữa tôi nghĩ là các sân khấu khác không có cái đặc điểm của cải lương.
            Sân khấu cải lương sản sinh ra rất nhiều nghệ sĩ tài danh, khán giả ái mộ, tặng cho rất nhiều danh hiệu, giả tỉ như Út Trà Ôn là Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hoàng Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua vọng cổ Hài Văn Hường, Vua viết Vọng Cổ Viễn Châu, Nữ Hoàng Sân Khấu Thanh Nga, Kỳ nữ Kim Cương, Tiếng Hát Liêu Trai Mỹ Châu, Giọng ca Vàng Hữu Phước, Giọng Ca Nhung Lụa Ngọc Giàu, Hoàng Hậu Cải Lương Kim Lan, Mỹ Nhân Sân Khấu Thanh Tùng, Vua Cắc Bùm Bảy Cao, Vua Xàng Xê Minh Trí, Đệ Nhất Hương Kim Thoa, Quái Kiệt Ba Vân, Hề Râu Thanh Việt, Tô Điền Sơn Thành Được, Kép Trọc Trường Xuân, Chế Bồng Nga Hoàng Giang, Cậu Ấm Thân Việt Hùng, Phà Ca Thanh Nga…
            Quá nhiều… Chưa thấy nghệ thuật nước nào giống như nghệ thuật sân khấu cải lương, một nền nghệ thuật có thể chuyên chở tất cả những chuyện ngoại quốc và Việt Nam hóa được hết những chuyện ngoại quốc đó. Những nhân vật Tây Tàu khi vô cải lương được Việt Nam hóa rất tài tình.
            Chỉ có một cái quan điểm khán giả và nghệ thuật chưa gắn bó với nhau đó là tại sao đương hát lại ca, tới cái phút đó còn ca, điều này đó thì tôi thấy cái Opéra Pháp với Mỹ cũng ca hoài, ca liên tục, tôi thấy không có ai đặt vấn đề.

Phạm Điền: Đến đây, chúng tôi xin cảm ơn soạn giả Nguyễn Phương đã đến với tạp chí Văn Học Nghệ Thuật để cho thính giả có dịp hiểu nhiều hơn sân khấu cải lương giá trị của Việt Nam. Chào ông.


PHẠM ĐIỀN
Tháng 7/2004


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/142278-20040728.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 03/04/2017, 17:26:53
Thanh Tòng, người dày công Việt hóa cải lương hồ quảng

Ngày 22/09/2016, Nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng từ trần, thọ 69 tuổi (theo tuổi âm lịch). Nhìn lại hơn 60 năm sự nghiệp sân khấu, ông được xem là đã có công đưa tối đa lịch sử Việt Nam vào nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ. Theo nhận xét của nhà sử học Lê Hồng Phước, nhờ có Thanh Tòng, nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ Việt Nam đã tiếp tục được đưa lên đỉnh cao và đã ngày càng được Việt hóa rõ nét.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/0/665/374/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/thanh-tong-.jpg)
Nghệ sĩ Thanh Tòng trong vai Lữ Bố, vở Phụng Nghi Đình

SINH RA trong một gia tộc nhiều đời gắn bó với cải lương tuồng cổ, nghệ sĩ Thanh Tòng đã đóng góp rất nhiều, từ lối diễn xuất đến nghệ thuật dàn dựng, nghiên cứu điệu bộ. Vào thập niên 1970, với Thanh Tòng, cải lương Hồ Quảng thật sự trở thành Cải lương tuồng cổ để đến gần hơn với khán giả Việt Nam, mà ở đó kịch bản ngày càng mang đậm chất sử Việt chứ không chỉ tập trung vào những tích tuồng cổ Trung Quốc.
            Nhà sử học và cũng là nhà bình luận cải lương Lê Hồng Phước trước hết nhắc lại gia tộc đã có nhiều đời gắn bó với cải lương tuồng cổ Việt Nam: Nghệ sĩ Thanh Tòng là hậu duệ của dòng họ Vĩnh-Xuân, của ông Bầu Thắng, Minh Tơ.

Lê Hồng Phước: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở miền Nam đã xuất hiện loại hình Đờn ca tài tử. Trong khi đó nghệ thuật hát bội đã có từ rất lâu đời. Thế nhưng, hát bội thì đặt nặng tính ước lệ, vẽ mặt vẽ mày rằn ri theo lối tuồng hát của Tàu mà còn hay thoại bằng chữ Nho nữa nên dần dần trở nên lỗi thời trong cái thuở văn hóa phương Tây mà đặc biệt là văn hóa Pháp đang xâm nhập rất mạnh mẽ dưới thời Pháp thuộc đầu thế kỷ XX. Ấy thế nên, cái trào lưu cải cách – sửa lại cho tốt mọi thứ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đương nhiên là ảnh hưởng đến lĩnh vực ca hát. Tức là phải “Cải lương” mọi thứ, trong đó có hát bội.
            Nhiều tài liệu kể lại rằng thuở ấy các cụ cũng tranh luận nhiều lắm về vấn đề Cải lương ngành ca hát sao cho văn minh kịp với thời đại. Mà cụ thể là phải làm sao cho ca hát trở nên gần gũi hơn với cuộc sống. Hát bội cũng phải gần hơn với cuộc sống. Thêm vào đó là lối kịch của Pháp xâm nhập vào Việt Nam cũng thu hút được sự chú ý của các nhà có đầu óc muốn cải cách lúc bấy giờ. Kịch Pháp chia thành màn thành lớp và có cốt truyện xuyên suốt dễ hiểu mà lại là biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp. Tất cả đã tạo mảnh đất tốt cho một loại hình mới ra đời vào những năm 1918-1920: tức là Cải lương. Đến năm 1920, gánh hát Tân Thịnh có treo câu đối trước rạp:


                        Cải cách hát ca theo tiến bộ
                        Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

            Cái tên Cải lương có lẽ bắt đầu được sử dụng chính thức từ đó.
            Rồi đến những năm 1940 người ta thấy bắt đầu xuất hiện trên sân khấu Cải lương những điệu hát, điệu múa theo kiểu Tàu (kiểu Quảng Đông là chủ yếu), mà dẫn đầu có lẽ là các nghệ sĩ Phùng Há, Cao Long Ngà, Năm Phỉ… Tuồng tích hát thì chủ yếu là lấy trong cổ sử Trung Quốc với những sự đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa của Nho giáo.
            Loại tuồng này về cách hóa trang thì đơn giản theo lối Cải lương, tức đơn giản hơn nhiều so với bên Hát bội, và ca thì xen lẫn hát bội và các điệu bên Cải lương. Và bắt đầu được công chúng đón nhận. Loại hình này thường được gọi là “Cải lương Hồ Quảng”. Vào những năm 1970 thì được gọi là “Cải lương tuồng cổ”, có thể được xem là một loại hình trung gian giữa Hát bội và Cải lương.
            Nghệ sĩ Thanh Tòng thuộc về một gia tộc có nhiều đời gắn bó với Cải lương tuồng cổ. Khi nhắc Cải lương tuồng cổ ở miền Nam, người ta nghĩ ngay đến hai dòng tộc nổi đình nổi đám nhất và cũng thuộc hai phong cách hát Hồ Quảng tương đối khác nhau: dòng tộc Huỳnh Long và dòng tộc bầu Thắng-Minh Tơ.
            Bên nhánh Huỳnh Long thì hiện tại có hậu duệ đang cầm trịch là nữ nghệ sĩ Bạch Mai. Nghệ sĩ Bạch Mai cũng đã có hậu duệ kế thừa xứng đáng là nữ nghệ sĩ Bình Tinh – người vừa đoạt cúp quán quân chương trình truyền hình dành cho con nhà nòi mang tên Sao Nối Ngôi.
            Bên nhánh Bầu Thắng-Minh Tơ thì có Thanh Tòng là hậu duệ cầm trịch mấy chục năm nay. Hậu duệ kế thừa Thanh Tòng là nữ nghệ sĩ Quế Trân từng được Huy chương vàng Trần Hữu Trang ở tuổi 18 và hiện tại đã được nhà nước Việt Nam phong là Nghệ sỹ Ưu Tú.
            Nói về dòng tộc Thanh Tòng, thì trước tiên là bắt đầu từ nghề Hát bội, bắt nguồn từ ông bầu Vĩnh và cô đào Xuân. Hai vị khởi nghiệp của dòng họ này có một người con trai theo nghề trứ danh từ khi còn rất trẻ, mà sau này cũng trở thành bầu là ông bầu Thắng. Sự nghiệp của bầu Thắng có lẽ bắt đầu chính thức nhất là khi sang lại đoàn hát và làm bầu vào khoảng năm 1924. Gánh hát bội của bầu Thắng ra đời và trụ tại đình Cầu Quan trên đường Yersin quận I ngày nay.
            Bầu Thắng có năm người con theo nghiệp hát: Minh Tơ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai, Bạch Cúc, Đức Phú, trong đó Minh Tơ và Khánh Hồng được biết đến nhiều nhất. Thanh Tòng là con trai của Minh Tơ. Minh Tơ, Khánh Hồng có thể được xem là thế hệ kế tiếp sau thế hệ cô Bảy Phùng Há của Cải lương Hồ Quảng.
            Nghệ sĩ Minh Tơ là người đầu tiên trong dòng tộc khai sinh ra một đoàn đồng ấu Minh Tơ dùng làm đất diễn và làm nơi truyền nghề cho con cháu trong gia tộc. Trong những năm 1990, ta thấy có nghệ sĩ Bạch Long trong dòng tộc cũng tiếp bước tiền bối thành lập đoàn đồng ấu Bạch Long đào tạo ra những diễn viên trẻ và tài năng mà trong đó có Quế Trân là con gái Thanh Tòng.
            Đến với Minh Tơ-Khánh Hồng, thì Cải lương Hồ Quảng cũng dần chuyển mình tìm kiếm những nét Việt nhiều hơn. Đến những năm 1970, ta thấy bắt đầu có sự xuất hiện cách gọi Cải lương tuồng cổ để gọi thay cho Cải lương Hồ Quảng. Tuồng cổ ở đây không chỉ là tuồng tích Tàu như Cải lương Hồ Quảng hồi trước, mà bắt đầu đưa tuồng tích của Lịch sử Việt Nam vào.
            Là con nhà nòi nên Thanh Tòng lên sân khấu từ rất sớm, ở cái tuổi lên ba lên bốn. Như vậy tính đến năm 2016 này khi Thanh Tòng mất ở cái tuổi 69 thì ông đã đứng sân khấu hơn một đời người là 60 năm.
            Nếu tính đến đời Quế Trân, thì gia tộc Thanh Tòng đã ăn cơm tổ nghiệp năm đời. Còn nếu tính luôn cháu nội Thanh Tòng hay con của Tú Sương, thì là sáu đời. Chỉ tiếc rằng, ngày nay khi Thanh Tòng nằm xuống, thế hệ kế thừa dù có tài năng, dù rất triển vọng những vẫn chưa đủ sức để kế tục sự nghiệp quá to lớn của dòng họ, nhất là trong bối cảnh Cải lương nói chung đang gặp khó khăn, và Cải lương tuồng cổ nói riêng cũng như Hát bội lại càng khó khăn.


Vậy đâu là những đóng góp của cố nghệ sĩ Thanh Tòng cho dòng nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ Việt Nam?
Lê Hồng Phước: Công lao của nghệ sỹ Thanh Tòng đối với Cải lương tuồng cổ miền Nam rất lớn. Thanh Tòng đã hát trên 60 năm, gắn bó cả đời với Cải lương tuồng cổ. Nay ông mất ở tuổi 69 cũng không phải đúng nghĩa là thọ trong thời đại khoa học tân tiến như ngày nay, bởi vậy có lẽ còn nhiều điều chưa thể thực hiện được cho Cải lương tuồng cổ nhất là đối với một nghệ sĩ tâm huyết với nghề như ông.
            Một sự nghiệp kép hát, đạo diễn, dạy hát, soạn tuồng đồ sộ như Thanh Tòng thì khó mà nói ra đây cho hết, nhưng chúng ta cũng cố gắng tóm về một vài nét chính sau để gọi là làm điểm mốc:
            – Thanh Tòng không phải là người sáng tạo ra Cải lương tuồng cổ mà chỉ là người kế thừa. Nếu tính từ thế hệ đầu của loại hình này là cô Bảy Phùng Há, thì tới Thanh Tòng là thế hệ thứ ba. Thế nhưng, có thể nói rằng, đến với Thanh Tòng thì Cải lương tuồng cổ được truyền bá mạnh mẽ nhất nhờ vào tâm huyết của ông và vào cái thời bắt đầu phát triển những phương tiện truyền thông hiện đại. Nói một cách khác, Thanh Tòng là đại diện của thế hệ phát huy đỉnh cao Cải lương tuồng cổ với rất nhiều tuồng tích do ông sáng tác hay chuyển thể và dàn dựng mà nhắc tới nhiều người dù không mê Cải lương cũng biết tới như: Bức Ngôn đồ Đại Việt, Bão Táp Nguyên Phong, Câu Thơ Yên Ngựa, Bích Vân cung kỳ án…
            – Thanh Tòng dày công đưa tối đa lịch sử Việt Nam vào Cải lương tuồng cổ chứ không chỉ hát tuồng tích Tàu như trước kia. Và rõ ràng Cải lương tuồng cổ rất phù hợp để hát những tuồng lịch sử Việt Nam bởi nó không quá ước lệ mà cách diễn cách hóa trang gần gũi cuộc sống hơn, ngôn từ cũng không khó hiểu như bên Hát bội nhưng nhờ vào quần áo mũ mão cũng uy nghi như Hát bội nên cũng diễn tả được sự uy nghi và oai hùng của những nhân vật lịch sử. Kèm vào đó có hát những bài bản của Cải lương nên cũng thu hút được người mộ điệu Cải lương. Như vậy có thể thu hút được hai bên khán giả của Hát bội và Cải lương.
            – Thanh Tòng đào tạo hay góp phần đào tạo được nhiều nghệ sĩ tuồng cổ kế thừa rất giỏi nghề. Không chỉ trong dòng tộc, mà chúng ta thấy trong cách diễn trong điệu bộ của những nghệ sĩ nổi tiếng như Tài Linh, Vũ Linh, hay Kim Tử Long thì đều có bóng dáng của Thanh Tòng.
            – Thanh Tòng dày công nghiên cứu, vun đắp điệu bộ để Cải lương tuồng cổ có được cái riêng chứ không chỉ bị hạn chế bởi điệu bộ của tuồng Tàu. Tức là ông rất tâm huyết và lúc nào cũng muốn ra sức Việt hóa hoàn toàn loại hình nghệ thuật này.


Những vai diễn để đời?
            Và ngoài những đóng góp cho sân khấu, ở hậu trường Thanh Tòng còn bỏ nhiều công sức đào tạo cho các thế hệ nghệ sĩ đi sau. Theo đánh giá của nhà sử học Lê Hồng Phước, tên tuổi của Thanh Tòng đã gắn liền với một số vai diễn, mà tới nay vẫn chưa ai sánh kịp. Điều đáng khâm phục nơi người nghệ sĩ vừa nằm xuống là dù thể hiện vai nào, trong tuồng cổ cũng như ở thể loại cải lương xã hội, ông đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng giới mộ điệu.

Lê Hồng Phước: Trong sự nghiệp ngần ấy năm thì nghệ sĩ Thanh Tòng để lại rất nhiều vai ấn tượng. Nhất là thế mạnh của Thanh Tòng là nằm ở điệu bộ (vũ đạo) và tài năng diễn xuất thượng thừa. Ở đây chúng ta có thể kể ra một số vai mà khi nhắc đến thì dù là dân không mê Cải lương cũng nghĩ ngay tới Thanh Tòng:
            – Cải lương tuồng cổ: xuất thân là con nhà nòi của Cải lương tuồng cổ, nên Thanh Tòng diễn loại hình này thì người xem chỉ biết không tiếc lời khen mà thôi. Những vai ấn tượng nhất thì có: Lữ Bố, Quan Tư Đồ (Phụng Nghi Đình phỏng theo Tam Quốc Diễn Nghĩa), Nguyễn Địa Lô (trong Bức Ngôn Đồ Đại Việt), Bao Công (trong Bích Vân cung kỳ án), và Lý Đạo Thành (trong Câu thơ yên ngựa).
            Đặc biệt nhất trong những vai đó thì có vai Lý Đạo Thành. Lớp hát Lý Đạo Thành xử tử Hoàng hậu Thượng Dương (do Thanh Tòng thủ vai Lý Đạo Thành, Bạch Lê thủ vai Ỷ Lan và Thanh Loan thủ vai Hoàng hậu Thượng Dương) là ba vai để đời của ba nghệ sĩ thuộc dòng tộc Bầu Thắng-Minh Tơ này. Đối với vai Lý Đạo Thành, Thanh Tòng đã làm khó cho thế hệ sau bởi tới ngày nay khi ông tạ thế thì lớp hậu duệ chưa có người nào đạt tới trình độ ca diễn như ông.
            Đặc biệt nhất là Thanh Tòng có khả năng diễn ánh mắt một cách thượng thừa. Ánh mắt Lý Đạo Thành khi xử Hoàng hậu Thượng Dương khiến người xem video cũng phải rùng mình và đến nay ánh mắt đó trong dòng tộc của ông cũng chưa có lớp hậu duệ kế thừa nổi. Những năm cuối đời, dù bệnh tật hoành hành, bộ tịch không còn linh hoạt nữa, nhất là bộ chân của Thanh Tòng bị hạn chế rất nhiều. Ấy thế mà ánh mắt của Thanh Tòng có vẻ ngày một lợi hại hơn trong diễn xuất!
            – Cải lương kiểu xã hội: không chỉ nổi danh diễn giỏi trong Cải lương tuồng cổ mà Thanh Tòng cũng làm mưa làm gió nhiều trong Cải lương kiểu xã hội. Những vai gắn liền với tên tuổi của ông như: Tân (Tô Ánh Nguyệt), Định (Nửa đời hương phấn), Con rể Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu)… Đặc biệt nhất là vai Tân trong Tô Ánh Nguyệt, đến hiện tại chưa thấy có ai diễn có duyên và đạt được trình độ như Thanh Tòng. Cái hay của Thanh Tòng là ở chỗ, ông là kép Tuồng cổ chánh tông, thế mà khi diễn các tuồng xã hội người ta không thể nào tìm thấy có một dấu vết Tuồng cổ nào trong cách ca diễn của ông, trong khi mà có không ít nghệ sĩ tuồng cổ khi hát Cải lương xã hội vẫn để lộ bộ tịch tuồng cổ của mình.
            Làm được như vậy, thì ngoài tài năng thiên bẩm, Thanh Tòng hẳn nhiên phải khổ luyện không ít.
            Tóm lại, nói về nghệ sĩ Thanh Tòng, theo tôi chúng ta cần nhấn mạnh một số điểm như sau: Thanh Tòng hậu duệ xứng đáng số một của dòng họ Vĩnh Xuân-Bầu Thắng-Minh Tơ. Thanh Tòng đứng hàng đầu trong việc đẩy mạnh đưa lịch sử vào tuồng cổ và góp phần không nhỏ vào việc Việt hóa tối đa Cải lương Hồ Quảng. Nói một cách công bằng thì ở miền Nam không chỉ có hai gia tộc Huỳnh Long và Minh Tơ hát tuồng cổ, mà ngày nay cũng còn khá nhiều đoàn Hát bội và hát Cải lương tuồng cổ hoạt động khá mạnh trong những dịp đển chùa cúng kiến, thế nhưng hai đại gia tộc bền bỉ nhất và xứng đáng đại diện nhất đó là Minh Tơ và Huỳnh Long.
            Thanh Tòng là đại diện hàng đầu của một trong hai đại tộc đó. Với những đóng góp của ông, Thanh Tòng thật sự là một anh hùng Cải tương Tuồng cổ miền Nam.


THANH HÀ
Tháng 9/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160924-thanh-tong-nguoi-day-cong-viet-hoa-cai-luong-ho-quang

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 05/04/2017, 12:06:15
Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Tôi là Ngành Mai, hôm nay lần đầu tiên được đến với thính giả trong chương trình tạp chí cổ nhạc. Trước hết tôi xin trình bày về giải Thanh Tâm nổi tiếng thời thập niên 1960, và vài nét về nữ nghệ sĩ Thanh Nga là nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/historic-tt-award-n-actress-tn-04192011152058.html/Thanhnga-wikipedia-200.jpg/image)
Cố nghệ sĩ Thanh Nga

THẬT RA thì giải Thanh Tâm khởi đầu từ năm 1958 và lần đầu tiên ấy chỉ phát cho một người, đó là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó giải được phát liên tục hằng năm, và cho đến năm cuối 1967 phát cho bốn nghệ sĩ gồm hai nam là Bảo Quốc và Phương Bình và hai nữ là Mỹ Châu và Ngọc Bích.
            Như vậy giải Thanh Tâm hoạt động đúng 10 năm. Và cho đến năm Mậu Thân 1968 thì đình chỉ luôn cho tới bấy giờ. Và theo như nhận định của nhiều người, thì giải này sẽ không bao giờ sống lại bởi hai lý do chính:
            1) Tình trạng cải lương ngày một xuống dốc và cho đến ngày nay thì chưa thấy có dấu hiệu nào khôi phục trở lại.
            2) Chủ giải là ông Trần Tấn Quốc, tức ký giả Thanh Tâm thì đã qua đời. Khó có ai đủ tư cách đứng lên dựng lại giải.

Sự ra đời của giải Thanh Tâm
            Số là thời thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn có tờ nhựt báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau nhiều năm mở trang kịch trường nói về hoạt động nghệ thuật cải lương, được độc giả yêu thích nghệ thuật sân khấu hoan nghinh và ủng hộ. Báo bán khá chạy, mỗi ngày một tăng, nhờ con số độc giả cải lương phần nhiều là giới nữ mà vốn ít khi đọc báo. Do vậy mà đến năm 1958 ông Quốc nghĩ đến chuyện cần phải có một giải thưởng cho bộ môn nghệ thuật này, bởi lúc ấy trường Quốc Gia Âm Nhạc đã không có lớp dạy về cổ nhạc cải lương, và các cơ quan văn hóa chính quyền cũng chưa chính thức ra một giải thưởng nào về bộ môn nghệ thuật này.
            Thế là ông Trần Tấn Quốc loan báo trên tờ Tiếng Dội, rằng ông cũng như tờ báo chủ trương một giải thưởng nghệ thuật lấy tên “Thanh Tâm”, tức bút hiệu viết báo của ông. Cái buổi đầu tiên nầy rất đơn giản, ban tổ chức chỉ có mỗi một mình ông Quốc đảm trách, và ban tuyển chọn, tức ban giám khảo cũng chỉ có năm người: Bà Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu là ba nghệ sĩ kỳ cựu, ông Trần Tấn Quốc (chủ giải), và ông Nguyễn Hoàng Minh (ông Minh là công chức tham gia ban tuyển chọn với tư cách khán giả ái mộ).
            Năm người chấm giải Thanh Tâm 1958 đầu tiên trên đây thì các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu và ký giả Trần Tấn Quốc đã qua đời. Riêng ông công chức Nguyễn Hoàng Minh tham gia ban tuyển chọn thì về sau không thấy xuất hiện lần nào nữa.
            Năm đầu tiên giải phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại Bồng Lai tửu quán, một nhà hàng Tàu ở ngay trung tâm Thủ Đô Sài Gòn.
            Lúc bấy giờ rất nhiều người trong giới báo chí cũng như giới cải lương đã thắc mắc nói rằng phát giải tổ chức ở nhà hàng sang trọng như vậy, ông Quốc lấy tiền đâu để tổ chức chớ, bởi tờ Tiếng Dội đâu phải là tờ báo giàu, thì tiền đâu đãi đằng thiên hạ ở tửu lầu Bồng Lai?
            Lúc ấy có nhiều người cố tình tìm hiểu sự việc nhưng chẳng hề có câu trả lời, bởi nếu có ai đó hỏi thì ông Quốc chỉ cười trừ mà thôi chớ chẳng đi vào vấn đề. Cũng có người nói tiền ấy là của đoàn Thanh Minh, nhưng lý lẽ này đã không vững, bởi thời điểm ấy bầu gánh đoàn Thanh Minh là nghệ sĩ Năm Nghĩa bị bệnh trầm kha, thuốc thang mỗi ngày, hát đêm nào đủ tiền phát cho đào kép, công nhân và chủ nợ là mừng rồi.
            Đang nợ nần thì có ai đâu tiền vay bạc hỏi thêm để đi làm cái chuyện mà theo quan niệm lúc ấy chẳng có gì thiết thực, người ta chưa có một ý niệm nào về một giải thưởng cho cải lương, giải Thanh Tâm chỉ nổi tiếng ở những năm về sau mà thôi. Bởi vậy sau này có hai lập luận, kẻ thì nói Thanh Nga nổi tiếng nhờ giải Thanh Tâm, người thì bảo giải Thanh Tâm nổi tiếng nhờ Thanh Nga, không biết cái nào đúng. Có người nói rằng cả hai lập luận trên đều đúng vậy!
            Như đã nói giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga ở Bồng Lai tửu quán đã gây bất ngờ cho giới sân khấu cải lương, cho mọi giới, bởi một rừng ký giả các báo tham dự, vì tờ báo nào ở thời điểm đó cũng được giấy mời. Lâu lắm mới có dịp được mời đi ăn cao lâu thì đâu có báo nào bỏ qua. Ngoài ra còn có các cơ quan truyền thông của chính quyền cũng hiện diện như Đài Phát Thanh Sài Gòn và Nha Điện Ảnh đến quay phim (lúc bấy giờ chưa có truyền hình).
            Mấy ngày sau đoạn phim quay cảnh giải Thanh Tâm được cho vào cuốn phim Thời Sự Việt Nam, để rồi dân chúng Thủ Đô Sài Gòn và luôn cả các tỉnh trên toàn quốc, từ thành thị đến thôn quê thiên hạ phần đông đều biết rằng Thanh Nga lãnh giải Thanh Tâm.
            Điều cần nói rõ thêm là khi xưa, thời Đệ Nhất Cộng Hòa khán giả đi coi chiếu bóng, lúc đèn vừa tắt thì tất cả được yêu cầu đứng lên chào cờ, và kế đó thì phim thời sự được chiếu trước, sau đó mới tới phim chính. Phim thời sự không những được chiếu ở hầu hết các rạp chiếu bóng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn được mấy chục xe chiếu bóng lưu động của Ty Thông Tin các tỉnh hằng đêm chạy đến các bãi đất trống ở vùng quê, chiếu miễn phí cho bà con nông thôn xem.
            Nhờ được vô cuốn phim thời sự này mà tên tuổi Thanh Nga nổi như cồn (lúc ấy cô mới 17 tuổi), cũng như nhờ vậy mà giải Thanh Tâm được nhiều người biết đến. Do phát giải Thanh Tâm lần đầu tiên quá long trọng, lại tổ chức ở tửu lầu, nên đã gây ấn tượng tốt đẹp cho những người đang hoạt động trong lãnh vực sân khấu cải lương.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/historic-tt-award-n-actress-tn-04192011152058.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 07/04/2017, 17:10:38
Giải Thanh Tâm năm thứ nhì 1959 bị xuống cấp

Tôi là Ngành Mai, hôm nay lại được hân hạnh tái ngộ quí thính giả của đài Á Châu Tự Do, và trong chương trình tạp chí cổ nhạc, tôi xin trình bày tiếp về giải Thanh Tâm của năm thứ nhì 1959. So với năm trước thì năm thứ nhì này coi như giải bị xuống cấp. Vậy thì do đâu? Và đây xin mời quí vị theo dõi.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ActorHungMinh_NPhuong-20070811.html/HungMinh200.jpg/image)
Nghệ sĩ Hùng Minh trong vai Mã Tắc. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

SAU KHI đoạt giải Thanh Tâm 1959 thì ngôi sao Hùng Minh vụt sáng ngời, nhờ giọng ca hay, mà lại đẹp trai. Thế nhưng, chỉ một thời gian ngắn thì ngôi sao Hùng Minh mờ dần.
            Mấy năm sau các nam nghệ sĩ khác chiếm giải Thanh Tâm thì ai cũng nổi tiếng lâu dài, như Tấn Tài được hãng dĩa hát mời thu dĩa liên miên, và Thanh Tú, Thanh Sang, Diệp Lang, Phương Quang cũng được báo chí, thiên hạ nhắc nhở mỗi ngày. Tóm lại chỉ có Hùng Minh là ít khi báo chí nhắc tới.
            Thế là do đâu? Cái gì cũng có căn nguyên của nó hết!

Kép Hùng Minh
            Số là lúc Hùng Minh mới vừa nhận giải Thanh Tâm, thì đoàn Hữu Tâm của bầu Ba Khuê đang thiếu một kép ca để đóng cặp với đào Thanh Hương đang được khán giả ái mộ giọng ca, tương đương với Út Bạch Lan thời bấy giờ.
            Lúc ấy thì kép Bửu Tài đang đóng vai chánh, đóng cặp với Thanh Hương, nhưng giọng ca Bửu Tài không thể thu hút khán giả. Cũng do đó mà đoàn Hữu Tâm mất khán giả, nên bắt buộc Bửu Tài phải nhường vai chánh cho Hùng Minh.
            Hùng Minh đóng cặp với Thanh Hương đã thu hút khá đông khán giả, bữa nào cũng đông đảo khán giả đi coi, đêm nào cũng đầy rạp, dọn đến đâu cũng chật rạp và đoàn Hữu Tâm đã lấy lại phong độ, khởi sắc thấy rõ.
            Vở tuồng ăn khách nhứt lúc ấy là tuồng “Nắm Cơm Chan Máu” của hai soạn giả Bạch Diệp – Minh Nguyên, là tuồng dã sử, cốt truyện dựa vào bối cảnh thời Nhà Hậu Lê, quan phục hầu Nguyên Trãi bị tru di tam tộc, con là công tử Hồng Quỳ trốn được đổi tên Trần Ai.
            Trong vở hát này Hùng Minh đóng vai Trần Ai và Thanh Hương đóng vai nàng Đỗ Lệ. Mối tình thiên nan vạn nan của hai nhân vật chính trong tuồng đã làm hằng bao khán giả rơi lệ, thì lại cũng đồng thời đưa đến việc hai diễn viên đóng vai là Hùng Minh – Thanh Hương yêu nhau ngấm ngầm.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ActressThanhHuong_NPhuong-20060603.html/ThanhHuong150.jpg/image)
Nữ danh ca Thanh Hương. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

            Lúc ấy Thanh Hương đã có chồng là kép Văn Chung và đã có con với nhau. Cặp vợ chồng Văn Chung – Thanh Hương rời đoàn Hữu Tâm nhảy ra lập gánh, lấy tên hai người đặt cho bảng hiệu, và lại kéo theo Hùng Minh về đóng vai chánh. Và việc phải đến đã đến, chẳng bao lâu thì Thanh Hương tuyên bố dứt khoát với Văn Chung, cô cùng Hùng Minh lập đoàn hát lấy tên “Thanh Hương – Hùng Minh”.
            Xã hội, khán giả lúc bấy giờ đã quá khắt khe với sự việc trên, nên đoàn Thanh Hương – Hùng Minh đi đến đâu cũng bị phản đối, bị tẩy chay, đến đỗi đoàn phải dọn đi thật xa, ở những nơi hẻo lánh. Do vậy mà tên tuổi cả Hùng Minh lẫn Thanh Hương bị lu mờ ít nghe nói đến.

Đào Lan Chi
            Còn đào Lan Chi thì sau ngày lãnh giải đã theo đoàn Phước Chung, và đoàn này cũng đi hát ở những vùng thôn quê xa xôi. Tóm lại đôi nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm 1959 đã không được như các nghệ sĩ đoạt giải như mình.
            Riêng đào Thanh Hương thì đến năm 1974 khi đoàn đang hát ở một xã miền quê ở Sa Đéc thì Thanh Hương qua đời trong cảnh nghèo.
            Thanh Hương là con của nghệ sĩ Năm Châu và danh ca Tư Sạng. Cô Tư Sạng là danh ca thu thanh các dĩa hát Hoa Rơi Cửa Phật (tức Lan và Điệp), dĩa Quan Âm Thị Kính, dĩa Tình Mẫu Tử. Nhờ mang dòng máu nghệ sĩ của cha mẹ, nên Thanh Hương đã có giọng ca thu hút người nghe.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/2nd-ttam-downgraded-nmai-04232011155147.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 10/04/2017, 16:29:24
Đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt

Khoảng gần cuối năm 1954, nghĩa là sau khi Hiệp Định Genève ký kết, người ở Thủ Đô Sài Gòn, nhứt là khán giả ái mộ cải lương, bỗng thấy một đoàn hát mới từ miền Bắc xuất hiện tại Hòn Ngọc Viễn Đông. Đó là đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt đã theo làn sóng của đồng bào di cư xuôi về miền Nam Việt Nam.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/the-kim-chung-co-nmai-05152011102935.html/kim-chung-bau-long-305.jpg/image)
Nghệ sĩ Kim Chung và ông Bầu Long

Cải lương Bắc giữa Sàigòn
            Lúc mới vào Nam, đoàn Kim Chung cũng đi lưu diễn nơi nầy nơi nọ như các gánh hát ở trong Nam. Nhưng sau một thời gian rồi về rạp Trung Ương Hí viện Aristo hát thường trực tại đây. Coi như đóng đô luôn tại địa điểm này. Về sau khi đoàn Kim Chung dời qua rạp chiếu bóng Olympic thì Hí viện Aristo trở thành nhà hàng Lê Lai.
            Lúc đầu mới vô Nam, đoàn Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt hơi kén khách. Vì sao? Phải nhìn nhận rằng khán thính giả ở miền Nam đi coi cải lương, phần đông đều thích nghe ca vọng cổ. Trong khi đó thì các nam nữ nghệ sĩ dưới bảng hiệu Kim Chung lúc bấy giờ toàn là người miền Bắc, cố nhiên, không thể nào sử dụng được bản vọng cổ có âm hưởng du dương đúng mức, đi sâu vào tâm hồn khán thính giả như nghệ sĩ miền Nam được. Vì bản này ra đời tại miền Nam, dường như chỉ đặc biệt dành cho người miền này xử dụng. Chính nghệ sĩ đoàn Kim Chung cũng nhận rõ điều đó nên về sau các cô Kim Chung, Bích Hợp, Bích Sơn, Huỳnh Thái đều cố gắng ca vọng cổ theo giọng Nam.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/the-kim-chung-co-nmai-05152011102935.html/bichhophuynhthai200.jpg/image)
Bích Hợp, đệ nhất đào thương miền Bắc và Huỳnh Thái
trên sân khấu Kim Chung – 1950. Ảnh Huỳnh công Minh

            Vậy có thể nói sở dĩ lúc đầu bảng hiệu Kim Chung hơi kén khán giả (miền Nam) là do chưa ca được bản vọng cổ đúng giọng miền Nam vậy.
            Đoàn Kim Chung vô Nam gồm đào kép, nhạc sĩ, soạn giả, công nhân, (nghe nói khoảng 40 người), trong số có ba nghệ sĩ nổi tiếng nhứt là đào Kim Chung, đào Bích Hợp và kép Huỳnh Thái. Nếu như ở trong Nam nghệ sĩ Út Trà Ôn được người đời tặng cho danh hiệu đệ nhứt danh ca miền Nam, thì ở ngoài Hà Nội, nghệ sĩ Huỳnh Thái cũng được mệnh danh đệ nhất danh ca miền Bắc. Huỳnh Thái cộng tác với đoàn Kim Chung thời gian khá dài, nhưng về sau thì tách ra thành lập đoàn hát lấy tên là đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái, và đoàn này cũng bị rã gánh khoảng năm Mậu Thân.
            Mới hơn 50 tuổi Huỳnh Thái bị bệnh qua đời năm 1970. Lúc bấy giờ trong số nghệ sĩ đi đưa đám tang có người nói đùa rằng: “Nghệ sĩ Huỳnh Thái sinh Bắc tử Nam”. Nói nghe ngon như vậy, chớ lúc đó đất nước còn chia đôi bờ Bến Hải thì làm sao chết ngoài Bắc, mà phải “tử Nam” vậy thôi.

Bầu Long
            Trở lại vấn đề của đoàn Kim Chung, giám đốc là ông Bầu Long, tên thật là Trần Viết Long, sinh năm 1922 tại Hà Nội trong một gia đình giàu có. Bầu Long từng đi du học ở Pháp, ở Đức nghiên cứu rất nhiều về điện ảnh. Về nước ông Long không làm cho cơ quan nào cả, mà lại rất ái mộ cải lương, và phải lòng đào Kim Chung, để rồi cùng đứng ra thành lập đoàn Kim Chung – Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt. Thời gian sau đó Bầu Long góp tay với ông Phạm Thọ Minh thành lập thêm đoàn Kim Chung – Tiếng Chuông Vàng Hải Cảng (Hải Phòng).
            Hiệp Định Genève 1954 ra đời, chiến tranh Pháp-Việt kết thúc, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam. Nhờ đâu đoàn Kim Chung được đông khách tại rạp Aristo?
            Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, đồng bào di cư, ngoài số lớn đã đi về những nơi định cư ở các tỉnh, mà số ở Thủ Đô Sài Gòn cũng khá đông. Dĩ nhiên tất cả đồng bào di cư hồi ấy đều “thất nghiệp” 100 phần trăm. Cứ ăn rồi đi “bát phố”, song đi mãi thì cũng mỏi chân, mà mắt nhìn phố phường riết rồi cũng chán. Người ta liền nghĩ đến chuyện vào rạp hát để vừa nghỉ chân, vừa đưa mắt lên sân khấu cho đỡ buồn. Bảng hiệu Kim Chung được đồng bào di cư kéo đến ủng hộ đông đảo hằng đêm tại Trung Ương Hí viện Aristo là như thế.
            Sau thời gian hoạt động trong Nam, đoàn Kim Chung đã phát triển mạnh, lập ra nhiều gánh (từ đoàn 1 đến đoàn 6), do đó đòi hỏi phải có nhiều tuồng mới để cung ứng cho các gánh, nên ông Bầu Long đã mời nhiều soạn giả viết tuồng.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/the-kim-chung-co-nmai-05152011102935.html/kiephoa250.jpg/image)
Một cảnh trong phim Kiếp Hoa chiếu ở Sàigòn năm 1958,
với nghệ sĩ Kim Chung (trái), Kim Xuân (giữa) và Trần Quang Tứ. Hình của Ngành Mai

Hòa đồng văn nghệ
            Có thể nói rằng công ty Kim Chung đã thực hiện sự “hòa đồng văn nghệ” giữa hai miền Nam Bắc vậy. Vì trong tập thể soạn giả cung cấp tuồng cho bảng hiệu Kim Chung có cả người Nam lẫn người Bắc Việt. Nhưng nếu nói riêng về sự cộng tác trước sau thì có lẽ hai soạn giả Ngọc Huyền Lan tức ký giả Nguyễn Ang Ca (chủ nhiệm nhựt báo Tin Sớm) và ký giả Hoài Ngọc đã hợp tác với Kim Chung trước nhứt. Rồi sau đó mời thêm nhiều soạn giả tên tuổi khác về cộng tác như Yên Ba, Loan Thảo, Thanh Cao, Hoài Điệp… bằng cách làm thường trực hoặc ở ngoài đưa tuồng vào. Ở đây, chúng tôi không kể hai “soạn giả ruột” của Kim Chung là Ngọc Văn và Vạn Lý, vì hai người này được xem như soạn giả thường trực của đoàn.
            Song song với việc mời các cây bút viết tuồng người miền Nam tiếp tay trong việc cung cấp tuồng tích, ban lãnh đạo đoàn Kim Chung còn mời nghệ sĩ miền Nam tham gia.
            Trên đường lối khuếch trương với mục đích vừa thương mại vừa hòa đồng dân tộc trên phương diện văn hóa và nghệ thuật cầm ca. Đã rút kinh nghiệm và cũng do nhu cầu nhân lực, ban đầu não của các đoàn Kim Chung liền “rao bảng cầu hiền” mời các nghệ sĩ gốc miền Nam về tham gia dưới bảng hiệu. Do đó nhiều nam nữ nghệ sĩ miền Nam kéo nhau về “đầu quân” cho Kim Chung. Kép ca Minh Cảnh được nổi tiếng cũng từ sân khấu nầy, và hai cô đào trẻ làm nên danh vọng (đoạt huy chương vàng Giải Thanh Tâm) là Lệ Thủy và Mỹ Châu cũng do bảng hiệu Kim Chung đào tạo.
            Ngoài ra những nam nữ nghệ sĩ miền Nam tên tuổi khác như Hùng Cường, Kim Nguyên, Thanh Hải, Út Trà Ôn, Út Hậu; các cô Kim Hoàng, Diệu Hiền, Hà Mỹ Liên, Hà Mỹ Xuân, Ngọc Bích… đều đã từng đứng “dưới cờ” công ty Kim Chung. Từ lúc có nhiều đoàn hát cùng mang một bảng hiệu Kim Chung thì nhiều đoàn trong số đó được xem như miền Nam hóa hoàn toàn, vì hầu hết nghệ sĩ công nhân trong đó đều là người miền Nam cả.
            Tôi không là ông bầu! Ông Long thường nói thế, bởi vì người ta hay gọi hai tiếng “bầu bì” liền nhau. Bì đây có nghĩa là vỏ, các ông bà bầu trong Nam trước nay hay vay nợ lập gánh, nên chỉ có cái vỏ đó thôi. Còn tôi, tôi là chủ nhân sáng lập với vốn liếng sẵn có của tôi, gánh hát khá được phần lớn cũng nhờ vốn nhà.
            Có thể bầu Long nói đúng, bởi cuốn phim “Kiếp Hoa” của đoàn Kim Chung quay ở Hồng Kông năm 1953 được đem chiếu khắp nước, nghe nói lời trên mười triệu (năm 1953-1954 mười triệu quá lớn). Bầu Long đã đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật nước nhà. Ông mất vào năm 2003 tại Sài Gòn.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/the-kim-chung-co-nmai-05152011102935.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 12/04/2017, 16:45:31
Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”

Thập niên 1940, soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang đã dựa theo cuốn “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan để soạn thành vở ca kịch “Lan và Điệp”, đưa lên sân khấu, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp. Đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính “Lan – Điệp” trở thành bất tử với thời gian.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/lan-va-diep-nmai-05222011095636.html/tranhuutrang200.jpg/image)
Soạn giả Trần Hữu Trang

VẬY SAU KHI được đưa lên sân khấu rồi, Lan và Điệp còn bước sang bao nhiêu lãnh vực nghệ thuật khác nữa? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi…

Ăn khách
            Nhận thấy tuồng “Lan và Điệp” quá ăn khách với nhiều đêm hát đông nghẹt khán giả, do đó đã làm động lực cho hãng dĩa hát Asia tìm đến soạn giả Tư Trang để thương lượng thu thanh dĩa hát. Đồng thời hãng cũng yêu cầu soạn giả viết ngắn lại, làm sao cho tuồng thu ít dĩa càng tốt. Bởi trước đó các bộ dĩa “San Hậu” và “Quan Âm Thị Kính”, bộ nào cũng trên 10 dĩa nên tiêu thụ chậm, khó bán.

            Để đáp ứng yêu cầu của hãng dĩa, Tư Trang đã rút gọn tình tiết vở tuồng, bỏ bớt phần đầu nên Lan và Điệp chỉ thu thanh gọn trong 4 dĩa và đặt tên tựa là “Hoa Rơi Cửa Phật”.
            Với bộ dĩa nầy soạn giả chỉ lấy đoạn sau, từ cảnh Lan vào chùa tu – Điệp tìm đến chùa giựt chuông – Lan ra mở cổng thấy Điệp, nàng không mở cổng.
            Điệp kêu:
            – Lan mở cổng cho anh vào.
            – Không được! Anh về đi, đã hết rồi!
            Nói dứt câu, Lan đi ngược trở vô chùa – Điệp tiếp tục giựt chuông liên hồi và Lan cắt đứt dây chuông.
            Điệp thẩn thờ đành quay gót trở về. Cảnh này Tư Trang đã xử dụng bản ca “Chuồn Chuồn” cho Năm Nghĩa ca với lối vô đầu giống như vọng cổ (Năm Nghĩa là dưỡng phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Nga).
            Lan cắt dứt dây chuông, nàng ngất xỉu và phát bệnh luôn. Bệnh mỗi ngày một nặng thêm, thuốc thang đều vô phương cứu chữa. Cho đến một ngày kia Lan biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên nàng mới xin vị hòa thượng trụ trì chứng minh cho nàng trao gởi nỗi niềm tâm sự, có nghĩa là nói hết sự thật do đâu mà nàng đi tu. Đồng thời cũng nói cho vị hòa thượng biết rằng mình là gái tên thật là Nguyễn Thị Lan, đã giả trai và mượn tên Điệp để được nhận vào chùa.
            Về phần vị hòa thượng thì nghĩ rằng, ông đã đi tu hơn 30 năm rồi, không còn muốn vương vấn, dính dáng gì đến chuyện thế gian, nên buộc lòng ông từ chối.
            Nhưng đến lúc thấy bịnh tình của Lan trầm trọng, và lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn. Nhớ lại sự việc trước đây Điệp đến chùa và Lan cắt dứt dây chuông, thì vị hòa thượng đã tìm ra giải pháp: Cho người đi mời Điệp đến thay thế ông đóng vai sư cụ, bằng cách cho Điệp mượn chiếc áo cà sa, giả làm hòa thượng vào hậu liêu chứng minh cho chú tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự (Huệ Minh là pháp danh của Lan).
            Khi chú tiểu Huệ Thông đưa hòa thượng, do Điệp giả dạng với chiếc áo cà sa mượn mặc vào. Huệ Thông nói:
            – Sư cụ đã nhận lời cầu xin của huynh Huệ Minh rồi. Vậy muốn trao gởi gì thì cứ nói.
            Thế là Lan nói sự thật như trên đã nói, và cảnh nầy soạn giả Tư Trang đã xử dụng bản Nam Ai, nổi tiếng là bản ca diễn tả lúc buồn. Qua bản Nam Ai với lời ca, Lan kể sự thật xong thì hấp hối. Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa ra rồi chạy tới ôm Lan:
            – Em Lan! Anh là Điệp đây!
            Lan mệt nhọc nói tiếng còn tiếng mất:
            – Anh… Điệp. Kiếp nầy không hiệp… hẹn cùng anh theo kịp… em chờ!
            – Em Lan! Lan!
            Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp.
            Đây là cảnh chót, cảnh xúc động nhứt, hàng vạn các bà, các cô đã rơi lệ ở cảnh nầy.
            Kịch bản Lan và Điệp, soạn giả Tư Trang trao cho nghệ sĩ Năm Châu lúc gánh Việt Kịch Năm Châu còn hoạt động. Đầu thập niên 1960 Tư Trang vào mật khu, người ta không biết kịch bản này nằm ở đâu, và cũng không thấy Năm Châu dàn dựng trở lại vở hát này, bởi lúc ấy Ban Năm Châu chỉ lo việc chuyển âm phim.

Thêm thắt
            Lúc bấy giờ hầu hết các gánh hát bầu tèo, tức các gánh hát nhỏ ở miền quê, do không có kịch bản chính nên đã lấy bài ca và lời đối thoại trong dĩa Hoa Rơi Cửa Phật làm nền chính, và thêm thắt vào để hát tuồng Lan và Điệp. Tuy vậy tuồng vẫn hay, khán giả vẫn đi coi.
            Có điều là đoạn đầu thì mấy gánh hát bầu tèo tùy tiện, viết sao cũng được, miễn là có cảnh Lan tiễn Điệp đi học – Điệp thi đỗ đạt bị gọi đến nhà quan Huyện, bị phục rượu say mèm và đem bỏ vô phòng Thúy Liễu – Cảnh Thúy Liễu hành tội mẹ chồng.
            Các cảnh nầy, mấy gánh hát bầu tèo muốn xử dụng bản ca nào, câu đối thoại nào thì tự viết vào rồi cho nghệ sĩ tập tuồng. Xong cho hát, bởi có ai khiếu nại gì đâu.
            Lại có cả bầu gánh ngang nhiên sửa đổi tình tiết câu chuyện mới thiệt là đáng trách hơn hết!
            Vào khoảng 1962 có gánh hát bầu tèo (không nhớ gánh tên gì) hát ở Suối Cụt, Trảng Bàng, Tây Ninh. Thay vì đoạn cuối Lan chết, thì gánh này lại cho cô Lan sống, và được vị hòa thương cho rời chùa trở lại thế gian, về sống với Điệp và vãn hát.
            Do thấy tuồng đã không đúng với sự hiểu biết của mình, nên sau khi vãn hát, một số khán giả đi ra hậu trường chất vấn ông bầu:
            – Ai cũng biết tuồng Lan và Điệp kết cuộc cô Lan chết, sao bữa nay cô Lan không chết mà lại về sống với Điệp, nghĩa là sao chớ?
            Ông bầu đang ăn cháo lòng, nhậu rượu ba xi đế, đã trả lời:
            – Bộ mấy ông bà muốn cô Lan chết phải hôn?
            – Nhưng mà tuồng nó như vậy, tôi coi tuồng Lan và Điệp cả chục lần rồi, chỉ có lần nầy cô Lan sống mà thôi.
            – Được rồi! Ngày mai đi coi, tôi cho cô Lan chết…
            Tóm lại có những vấn đề trên là do soạn giả đã không có mặt, bầu gánh muốn hát sao thì hát. Cải lương mà!
            Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành được bán khắp cùng từ Nam chí Bắc, bán cả bên Miên, trên Lèo và cả bên Pháp.
            Vài tháng sau khi dĩa hát được phát hành phổ biến khắp nơi rồi, thì cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời đem bán các chợ lớn, nhỏ từ thành thị đến thôn quê. Chính nhờ những cuốn bài ca này mà ca sĩ tài tử đâu đâu cũng thấy, tạo thành một sinh hoạt đờn ca tài tử độc đáo ở miền Nam Việt Nam.


NGÀNH MAI
Tháng5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/lan-va-diep-nmai-05222011095636.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 14/04/2017, 17:16:50
Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng

Trong hoạt động sân khấu cải lương, cái tên Hà Triều Hoa Phượng đã quá quen thuộc với khán giả, do bởi những vở tuồng nổi tiếng của hai soạn giả này được lần lượt cho ra đời từ những năm cuối thập niên 1950, và dài cho đến hết thập niên 1960. Thế nhưng, trong trường hợp nào mà hai thầy tuồng này kết hợp với nhau để tô điểm cho vườn hoa nghệ thuật dân tộc thêm tươi đẹp, nền ca kịch nước nhà thêm phong phú.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ha-trieu-hoa-phuong-nmai-05292011084040.html/hatrieu-hoaphuong-305.jpg/image)
Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Cặp bài trùng
            Lúc đầu người ta tưởng đâu Hà Triều Hoa Phượng là một người. Và cũng có người nói rằng Hà Triều Hoa Phượng là đôi vợ chồng, hoặc cặp tình nhân khắn khít với nhau, nhứt là chữ “Phượng”, người ta cho là nữ.
            Nhưng thời gian dần dần báo chí khai thác, tìm hiểu và tiết lộ sự liên hệ giữa hai soạn giả này, nên thiên hạ mới rõ biết Hà Triều Hoa Phượng là hai người. Và họ chỉ mới biết nhau từ lúc hợp soạn viết tuồng, chớ trước đó cả hai chẳng hề quen nhau. Vậy Hà Triều quê quán từ đâu và Hoa Phượng xuất thân ở nơi nào? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi…
            Hà Triều quê quán miền Tây, tỉnh Rạch Giá, rời ghế nhà trường rất sớm. Thời chiến tranh Việt-Pháp, Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Nhưng khoảng một hai năm gì đó thì chịu không nổi với cảnh bưng biền, Hà Triều bí mật lén trở về Thành sống nương tựa với một thân hữu ở Phú Thọ Hòa, gần trường đua Phú Thọ.
            Người thân nầy đã lo giấy tờ hợp pháp và đồng thời chạy cho Hà Triều vào làm công chức một cơ quan thông tin ở Sài Gòn. Làm việc ở cơ quan nầy ông thường được tặng vé hát và đi coi cải lương nhiều lần, do đó nảy sinh ra ý định viết tuồng cải lương.
            Còn Hoa Phượng là người sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang và cũng đi kháng chiến ở đất Long Châu Hậu. Sau Hiệp Định Genève 1954 hai người gặp nhau ở Sài Gòn và hợp tác viết tuồng cải lương; “cặp bài trùng” này đã một thời làm mưa làm gió sân khấu ca kịch qua các vở tuồng mà soạn giả mang tên hai người.


(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/VN_textile_products_to_US_might_face_dumping_tax-20061202.html/ThanhDuoc150.jpg/image)
Nghệ sĩ Thành Được

Kiếm hiệp Nhật Bản
            Vở tuồng đầu tiên làm cho hai soạn giả nầy được nổi tiếng là tuồng Nhật Bản có tên “Khi Hoa Anh Đào Nở” trình diễn trên sân khấu Thúy Nga, và kép Thành Được nổi tiếng cũng nhờ vở tuồng này.
            Khởi đầu vào khoảng 1957 người ta thấy tên Hà Triều Hoa Phượng xuất hiện trên tấm bảng quảng cáo của đoàn ca kịch Thúy Nga treo trước rạp hát, trình bày hình ảnh hoạt cảnh của vở tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”, với hình vẽ các nhân vật trang phục theo kiểu mấy chàng kiếm khách Phù Tang và các cô gái Nhật mặc kimono, tương tợ như người ta thấy trong phim Nhật được nhập vào thời bấy giờ.
            Đây là vở tuồng đầu tiên mở đầu cho thời kỳ mà các tuồng loại kiếm hiệp Nhật Bản tràn lan, gánh hát nào cũng khuyến khích soạn giả viết tuồng Nhật để lôi kéo khán giả. Từ khi có tuồng Nhật thì số người đi coi hát hằng đêm tăng cao, nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục tung ra thêm một số tuồng cùng loại như: Đợi Anh Mùa Lá Rụng – Yêu Anh Đã Muộn Rồi
            Lúc bấy giờ người Nhật không tốn một giọt nước miếng tuyên truyền quảng cáo, mà trên sân khấu các rạp cải lương đêm nào cũng ca ngợi cái đẹp của núi Phú Sĩ, nói lên cái thơ mộng của hoa anh đào bên sườn đồi, đồng thời những cảnh chia ly, tao ngộ của những chàng kiếm khách với cô gái Phù Tang, cũng luôn nhắc tới cái hương vị thơm nồng của rượu sa kê…
            Người Nhật cũng không cần phải mướn người mẫu phô trương trưng bày bộ quốc phục kimono, vẫn được các cô đào cải lương Việt Nam mặc biểu diễn hằng đêm trên sân khấu, coi như vô tình mà Hà Triều Hoa Phượng đã gián tiếp giới thiệu đặc thù văn hóa xứ Phù Tang đến với dân tộc mình. Nhưng có điều chắc chắn là hai soạn giả nhà ta đã không được Nhật Bản trả tiền công, mà chỉ được các bầu gánh cải lương Việt Nam trả tiền bản quyền mà thôi!

Tình cảm xã hội
            Được một thời gian thì tuồng Nhật hết ăn khách, con số khán giả lơi dần nên hai soạn giả Hà Triều Hoa Phượng chuyển sang viết tuồng xã hội và vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” được ra mắt khán giả trên sân khấu Thanh Minh đã gây chấn động một dạo. Khác hẳn với tuồng xã hội của Năm Châu dùng lời văn đối thoại cao sâu bóng bẩy, tuồng xã hội của Hà Triều Hoa Phượng có lối hành văn đối thoại thông thường, đi thẳng vào thực tế ngoài đời.
            Tình tiết của tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” rất dễ xảy ra trong bối cảnh xã hội của thời đó, cái thời mà gái quê do hoàn cảnh phải ra Tỉnh hoặc lên Sài Gòn, do đó người coi hát có cảm tưởng như là đã có thật vậy. Hơn nữa lời văn đối thoại của tuồng cũng được hai soạn giả chuyển đổi đưa thẳng vào trong bài bản ca cổ nhạc một cách linh hoạt, khiến người đi coi hát vừa hồi hộp, lại vừa giải tỏa được tình huống ngay trong một vài giây đồng hồ.
            Cái tài tình của Hà Triều Hoa Phượng trong vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” là đưa lên sân khấu các nhân vật điển hình trong một xã hội tuy an bình nhưng lại bon chen hỗn tạp, những hạng người xấu xuất hiện gây sóng gió. Cũng như tình tiết cùng bố cục nhân vật trong “Nửa Đời Hương Phấn” dễ làm cho người ta chú ý, dễ ăn sâu vào lòng khán giả, do đó đã đem lại uy tín cho Hà Triều Hoa Phượng, đồng thời tạo một thế đứng khá vững vàng cho hai soạn giả trong lãnh vực cải lương.
            Vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” ra đời, khán giả ùn ùn đi coi, hát cả tháng trời tại một rạp Nguyễn Văn Hảo vẫn còn đông khách, và ngay cả bây giờ nếu tuồng nầy được trình diễn trở lại vẫn có khán giả như thường. Sau đó tuồng còn được thu thanh vào dĩa hát phát hành khắp nước, được phổ biến rộng rãi đến đỗi đi đâu cũng nghe hát. Bản ca Phụng Hoàng trong tuồng được rất nhiều ca sĩ tài tử học thuộc lòng và ca trong những buổi sinh hoạt đình đám ở thôn quê, hoặc các quán tiệm có sinh hoạt đờn ca cổ nhạc.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ha-trieu-hoa-phuong-nmai-05292011084040.html/thanhduocutbachlan250.jpg/image)
Nghệ sĩ Út Bạch Lan và Nghệ sĩ Thành Được
trong vở Nửa Đời Hương Phấn, ảnh chụp năm 1959

            Ngoài ra các nhà buôn đã khai thác đưa dĩa hát sang Nam Vang bên Miên, đưa lên tận Vạn Tượng ở Lào, nên kiều bào ta ở bên đó cũng khá rành tình tiết vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn”. Về sau Hà Triều Hoa Phượng cho tung ra vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái”, có đề cập đến cuộc biến động ở bên Lào vào thời đó (nhân vật là Nguyễn Trung Bình từ Lào về do nghệ sĩ Tám Vân đóng).
            Sau khi thành công vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”, sẵn trớn Hà Triều Hoa Phượng tiếp tục cho ra đời các tuồng xã hội khác cũng ăn khách và nổi tiếng luôn, trong đó có tuồng Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng
            Tuồng xã hội “Con Gái Chị Hằng” sau khi thành công ở địa hạt sân khấu cải lương, được hãng dĩa hát hợp đồng khai thác, mà còn lấn sang lãnh vực điện ảnh, được quay thành phim. Phim do Kim Cương đóng vai Chị Hằng, nghệ sĩ Hữu Phước vai cậu Tư Kiên, được chiếu ở các rạp chiếu bóng trên toàn quốc cũng khá ăn khách.
            Sau gần một thập niên viết chung, tên Hà Triều Hoa Phượng luôn luôn đi đôi, nhưng đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9, và đến lúc này thì thiên hạ biết rõ Hà Triều Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia.
            Về cuộc đời tình cảm của Hà Triều là cả những chuỗi ngày dài cô độc, ông lại thích ngựa đua hơn là thích đàn bà con gái, do đó mà suốt mấy chục năm sống một mình luôn cho tới ngày chết! Tuy là soạn giả nổi danh, tiền làm ra cũng khá nhiều nhờ chia tiền bản quyền tác phẩm tuồng tích, nhưng lại không có hình bóng đàn bà bên cạnh để xài bớt, mà phần nhiều đổ vô quán nhậu và trường đua Phú Thọ.
            Có người hỏi tại sao ông không chọn một bà để lo cơm nước, an ủi bầu bạn, chăm sóc thuốc men mỗi khi trái gió trở trời, thì ông chỉ cười hoặc vui miệng lắm thì cũng nói một câu: “Nhậu nhẹt như tôi nếu có vợ thì sớm muộn gì bà xã cũng bỏ, nên tôi ở một mình tốt hơn!
            Nghe nói năm 40 tuổi Hà Triều có cưới vợ một lần, nhưng chỉ sống chung có một tháng thì đường ai nấy đi, và Hà Triều ở vậy cho đến ngày từ giã cõi đời, coi như tuyệt tự!
            Nhờ là soạn giả nổi tiếng nên sau 1975 Hà Triều được cho vào làm ở Sở Văn Hóa Thông Tin Sài Gòn, và được cấp một căn trong chung cư Nguyễn Thành Niệm, cạnh rạp Hưng Đạo. Những lúc sau nầy ông bị bệnh mờ mắt không còn hoạt động gì nữa, và ở đây luôn cho đến khi bệnh nặng và qua đời tại Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Quận 5 Chợ Lớn vào năm 2003.
            Về phần soạn giả Hoa Phượng thì khác xa với Hà Triều, trong khi Hà Triều sống độc thân thì Hoa Phượng có nhiều vợ. Về viết tuồng thì người trong giới đều thấy rõ cái uy của một ông thầy tuồng (khán giả bình dân gọi soạn giả là thầy tuồng).


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/actress-thanh-nga-nmai-06262011112530.html/con-gai-chi-hang-305.jpg/image)
Từ trái sang: Thanh Nga – Hữu Phước – Thành Được
trong vở Con Gái Chị Hằng

            Khi xưa đào kép rất nể nang thầy tuồng, nhứt là ông soạn giả kiêm bầu gánh Mộng Vân từng cho ra đời cả mấy chục vở hát ở thời thập niên 1940.
            Nhưng về sau thì đào kép chánh nổi danh được khán giả ái mộ, họ đã lấn quyền của soạn giả, coi thầy tuồng chẳng có ký lô nào cả. Đôi khi soạn giả trao role tuồng, họ chỉ coi sơ qua rồi liệng trở lại soạn giả, nói rằng tuồng này không hát được, hoặc đòi hỏi này nọ, như bảo sửa lời đối thoại này, hoặc thay đổi bản ca kia…
            Soạn giả vì cuộc sống phải nhẫn nhục làm theo ý của đào kép chánh cho tuồng của mình được hát để có tiền, chớ bằng như tuồng không hát được thì treo nồi cơm.
            Tóm lại thời thập niên 1960 thì đa số thầy tuồng trở thành “Tớ Tuồng” chịu lép trước cái hào quang của nghệ sĩ.
            Thế nhưng, chỉ có một người là áp đảo được cái hào quang của nghệ sĩ tên tuổi, đó là Hoa Phượng.
            Đối với soạn giả Hoa Phượng thì chẳng đào kép nào dám thắc mắc về role tuồng, chê khen một tiếng thì coi như mất chỗ đứng trong vở hát, vai trò sẽ được giao người khác. Do đó mà mỗi lần Hoa Phượng phát role tuồng là hầu hết đào kép có vai trò đều im re, chẳng ai dám hó hé gì hết. Hoa Phượng mất năm 1984.
            Hà Triều và Hoa Phượng ra đi, nhưng những tác phẩm nghệ thuật cải lương của hai soạn giả vẫn còn đó, hai ông đã để lại cho đời những tuyệt phẩm cải lương vô cùng quý giá vậy!
            Hà Triều tuy là rặt Nam Kỳ, dân Rạch Giá nhưng Hà Triều lại rất thích “hạ cờ tây”, hầu hết các quán thịt cầy ở quanh Thủ Đô Sài Gòn nhiều ít gì cũng đều có đón tiếp ông đến nhậu nhẹt.
            Một vài người từng chung bàn rượu với ông nói: “Hà Triều chỉ cần ăn vào một miếng thịt cầy là có thể đoán biết được là chó vàng, chó mực, chó móc, hay chó vện v.v… bởi khi gắp lên một miếng đưa vào miệng là ông vọt miệng nói ngay: cái nầy đúng là con vàng, con mực…” Có lần chúng tôi xem tập tuồng tại một rạp nọ ở Sài Gòn thì thấy ông đến, và lúc đó khoảng 10 giờ trưa, ông nói với anh chị em: “Bữa nay đến đây hơi trễ, tại do chiều hôm qua vô Xóm Mới Gò Vấp “làm” đúng con mực, mát quá nên hôm nay thức dậy trễ.”
            Quán cầy tơ ở đầu đường Bùi Chu gần ngã ba Bùi Chu, Hồng Thập Tự là nơi ông chiếu cố nhiều nhứt, thường rủ bạn bè đến đây nhậu suốt buổi, có những lần nhậu say không còn biết trời đất gì hết, bạn bè phải dìu về nhà. Những lúc men rượu thấm nhiều, ông khề khà khen món dồi chó ở quán thịt cầy Bùi Chu là hết sẩy, rượu thuốc ở đây là tuyệt, uống đã quá!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ha-trieu-hoa-phuong-nmai-05292011084040.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 18/04/2017, 15:09:02
Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam

Nghệ sĩ Năm Châu người gốc ở Mỹ Tho, học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu, thi đỗ bằng Thành Chung nhưng không làm việc cho cơ quan chính quyền thời Pháp, mà say mê về kịch nghệ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html/phungha-namchau-207/image)
NS Phùng Há hóa trang cho NS Năm Châu trước buổi diễn

Từ “Quan Âm Thị Kính” tới “Người đẹp Bình Dương”
            Ông thành lập đoàn Việt Kịch Năm Châu và hoạt động mạnh thời thập niên 1940-1950 chuyên diễn tuồng xã hội do chính ông trước tác, tuy mang nhiều ý nghĩa, nhưng sân khấu không có gì mới lạ, thành thử ra không cạnh tranh nổi với các gánh thành lập sau này có những loại tuồng Nhật, tuồng Á Rập, tuồng hương xa. Cốt truyện các loại tuồng nói trên tuy không mang ý nghĩa thực tế, nhưng lại màu sắc, lại có những cảnh sôi động, những màn đánh kiếm, đấu dao găm, và những tuồng thuộc loại chiến tranh của gánh Hoa Sen đã thu hút hết khán giả. Thành thử ra gánh Năm Châu thưa dần người đi coi hát, khiến ông nợ nần chồng chất, bắt buộc phải cho gánh hát về nằm ụ ở trại cưa phía bên kia Cầu Bông, đường đi Bà Chiểu, Gia Định.
            Tuy xuống dốc bên cải lương, nhưng Năm Châu lại làm ăn được phía bên điện ảnh, và ở lãnh vực này ông đã làm gì, thành công ra sao?
            Thất bại ở cải lương, nhưng ở điện ảnh thì Năm Châu lại làm ăn khá, thành công ngay buổi đầu. Khoảng 1956 Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân quay cuốn phim “Quan Âm Thị Kính”, mà thành phần tài tử nòng cốt là người trong gia đình của Năm Châu nắm trọn hết. Đào cải lương Kim Lan, em vợ của Năm Châu trong vai Bà Thị Kính là yếu tố ăn khách nhứt của phim. Ông già vợ của Năm Châu là nghệ sĩ kỳ cựu Bảy Nhiêu thì được giao đóng vai Sư Cụ chùa Vân (ngôi chùa Bà Thị Kính giả trai đi tu). Thời điểm này vàng y khoảng ba ngàn một lượng, thế mà hãng Mỹ Vân đã trả cho nghệ sĩ Bảy Nhiêu mười ngàn đồng để ông hy sinh bộ tóc mây đẹp đóng vai Sư Cụ.
            Người ta có thể nói rằng phim Quan Âm Thị Kính thành công vượt bực về tài chánh, chiếu ở thủ đô Sài Gòn xuất nào cũng chật rạp, sau đó phim đi tỉnh khán giả lại càng đông hơn. Điều cần nói ở đây là khán giả đi coi phim Quan Âm Thị Kính đa số là khán giả của cải lương. Nhờ dịp này Năm Châu thanh toán hết nợ nần mà còn dư ra sắm xe hơi, hàng tuần đưa bà Kim Cúc đi Vũng Tàu, Long Hải nghỉ mát.
            Sau cuốn phim Quan Âm Thị Kính, Năm Châu lại tiếp tục hợp tác với hãng Mỹ Vân bằng cách viết truyện phim, đạo diễn, cũng như tuyển chọn tài tử, và Thẩm Thúy Hằng trúng tuyển trong cuộc chọn lựa này. Chuyện phim thần thoại cổ tích và lấy tên nhân vật chánh là người đẹp Bình Dương đặt tên cho cuốn phim. Và sau khi làm tài tử chánh cho phim thì Thẩm Thúy Hằng được thiên hạ gọi là người đẹp Bình Dương rồi mang danh luôn. Chớ thật ra Thẩm Thúy Hằng chẳng dính dáng gì đến cái xứ có nhiều trái cây sầu riêng, măng cụt, hoặc đồn điền cao su ngút ngàn dọc theo Quốc Lộ 13, tức tỉnh Bình Dương.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html/namchau-thanhhuong-200/image)
Năm Châu – Thanh Hương

Đem vọng cổ chuyển âm phim Ấn Độ!
            Thành công với phim ảnh, Năm Châu thừa thắng xông lên, nhân lúc phim Nhật, phim Phi Luật Tân, phim Ấn Độ nối tiếp nhau nhập vào, ông bỏ luôn sân khấu, tuyển chọn một số người, phần lớn là trong gia đình để thành lập Ban Năm Châu và lãnh công việc chuyển âm cho các hãng nhập cảng phim. Lúc bấy giờ người trong giới cải lương ai cũng nể phục Năm Châu ở tài quyền biến tháo vát.
            Cái sáng kiến độc đáo nhất của Năm Châu trong việc chuyển âm là đem vọng cổ vào phim Ấn Độ, và thiên hạ đã bất ngờ, thích thú có cảm tưởng như đang coi hát cải lương, bởi ngoài tiếng nói quen thuộc của Ban Năm Châu trong phim, giờ đây lại còn nghe 6 câu vọng cổ mùi rệu. Người ta còn nhớ khoảng 1957 cuốn phim Ấn Độ “Gió Bụi Kinh Thành” chiếu ở rạp Tân Đô, Tân Định, khán giả phải sắp hàng mua vé, do bởi phim này tài tử chính là Ganessan, một anh Bảy nhưng ca vọng cổ quá hay. Có gì đâu, tiếng hát của bài ca Ấn Độ trong phim được chuyển sang tiếng Việt với tiếng ca của vua vọng cổ Út Trà Ôn.
            Sang thập niên 1960 công việc chuyển âm phim giảm bớt dần, bà Kim Cúc cộng tác với gánh Thanh Minh Thanh Nga đóng vai đào mụ (vai bà già), còn Năm Châu thì dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Bà Kim Cúc cũng là giáo sư dạy diễn kịch và cải lương tại trường này.
            Do có trình độ và uy tín, Năm Châu năm nào cũng được bầu vào ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu (Năm Châu và bà Phùng Há luôn là hội trưởng hoặc phó hội trưởng). Vào những năm cuối của thập niên 1960, Năm Châu có mấy lần làm trưởng phái đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi Pháp, đi Anh và các nước Phi Châu, và mỗi lần đi thì trong đoàn đều có nghệ sĩ Kim Cúc, do bởi bà là nghệ sĩ được coi như sáng giá với những vai trò đào lẳng.
            Thập niên 1970 bà Kim Cúc hợp tác với ban Trường Giang của nhạc sĩ Út Trong ở đài truyền hình với vai trò cố vấn và dạy nghề cho lớp trẻ. Tóm lại sự nghiệp nghệ thuật của bà Kim Cúc gắn liền với Năm Châu trong suốt cuộc đời.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html/thamthuyhang/image)
Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng 1962

Hãng phim Thẩm Thúy Hằng, và lại ra gánh
            Tuy đang là giáo sư dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ, nghệ sĩ Năm Châu vẫn hợp tác với hãng phim của Thẩm Thúy Hằng. Khi xưa Thẩm Thúy Hằng được chọn đóng vai chánh trong phim Người Đẹp Bình Dương, một phần lớn là do Năm Châu, ông chấp nhận thì mới được, vì truyện phim do ông viết, nhân vật trong phim là người của ông dàn dựng. Mà nghe nói cái tên Thẩm Thúy Hằng cũng do Năm Châu đặt, do đó mà lúc nào Thẩm Thúy Hằng cũng xem Năm Châu là bực thầy.
            Đến khoảng 1970 sau cái đám cưới lớn của Thẩm Thúy Hằng với ông Nguyễn Xuân Oánh, ông này lập cho vợ hãng phim ở đường Lê Quang Định, tức thì Thẩm cô nương mời thầy Năm Châu cộng tác viết truyện phim. Nếu như cuối thập niên 1950 Năm Châu đưa Thẩm Thúy Hằng vào điện ảnh để nổi tiếng, thì sang đầu thập niên 1970. Năm Châu lại một lần nữa giúp Thẩm Thúy Hằng làm giàu. Ông đã viết truyện phim “Chiều Kỷ Niệm” và chọn kép cải lương Thanh Tú đóng cặp với người đẹp Bình Dương. Nghe nói phim chiếu khai trương hai tuần đã lời trên mười triệu.
            Hồi thập niên 1940 Năm Châu từng mang đoàn hát ra Bắc, có lần gánh hát rã ngoài đó! Có người muốn giúp ông có tiền về Nam nhưng sợ ông tự ái, nên mời ông ca bản Dạ Cổ Hoài Lang của nhạc sĩ Sáu Lầu (tiền thân của bản vọng cổ), nói rằng để thu thanh dĩa hát. Nhưng nhiều năm sau vẫn không thấy dĩa hát nào.
            Năm 1965 được Bộ Xã Hội bảo trợ, Năm Châu lại một lần nữa lập gánh cải lương lấy tên đoàn Ánh Chiêu Dương, và đây là lần lập gánh cuối cùng trong cuộc đời làm nghệ thuật của Năm Châu. Đoàn khai trương tại rạp Thống Nhứt với vở tuồng xã hội “Nước Biển Mưa Nguồn”.
            Sau 1975 do tuổi già, vợ chồng Năm Châu, Kim Cúc không một hoạt động văn nghệ nào nữa, nên các nghệ sĩ trẻ thường rủ nhau đến nhà thăm vợ chồng ông. Trước ngày mất, Năm Châu nằm ở bệnh viện Đồn Đất, nhạc sĩ Nguyễn Hiền có đến thăm ông tâm sự… Còn bà Kim Cúc thì cũng đi theo ông chồng vài năm sau đó.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 20/04/2017, 18:11:28
Vài mẩu chuyện về nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Hôm nay tôi xin nói vài mẩu chuyện có liên quan đến nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Thật ra muốn đề cập đến nữ hoàng sân khấu Thanh Nga thì phải viết vài cuốn sách, như trong bộ truyện tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga của Ngành Mai, tức của tôi, quyển 1 phát hành năm 2005. Do đó mà hôm nay tôi chỉ đề cập đến vài mẩu chuyện nho nhỏ về người nữ nghệ sĩ lừng danh này.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/Vietnamese_Traditional_Music_ThanhNga-20061028.html/ThanhNga150.jpg/image)
Cố nghệ sĩ Thanh Nga

Ăn ảnh
            Trước hết xin nói về việc Thanh Nga ăn ảnh khi lên truyền hình. Trong làng cải lương có những nghệ sĩ, phần nhiều là giới nữ, họ có gương mặt rất kiều diễm dưới ánh đèn sân gỗ, duyên dáng tuyệt vời trong bất cứ vai tuồng nào tại hí viện, nhưng khi ra trước màn ảnh nhỏ vô tuyến truyền hình, các nữ nghệ sĩ dễ mến kia lại mất đi ít nhiều những nét khả ái đã từng được in sâu trong lòng khán giả mộ điệu. Tại họ khớp trước ống ảnh của phim trường chăng? Không! Họ vẫn giữ nguyên những động tác của lúc thi thố trên sân khấu, không sơ xuất chút nào về phương diện diễn xuất. Ấy thế mà chỉ cái tội là, nói theo nhà nghề là họ không ăn ảnh.
            Và cũng có những nữ nghệ sĩ mà trên sân khấu ít ai thấy hết cái duyên dáng và diễn xuất thần tình của họ. Nhưng lên màn ảnh nhỏ truyền hình, họ có những nét đặc biệt làm cho người xem ngạc nhiên hơn nhiều. Đó là trường hợp của nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Tôi xin trình bày sau đây…
            Đứng trên sân khấu, trong những pha phải bộc lộ sự buồn rầu, chán nản, Thanh Nga đã làm cho khán giả phải mềm lòng, thổn thức từng cơn rồi. Lên màn ảnh truyền hình, sắc diện ấy càng bộc lộ trọn vẹn ở vành môi, khóe mắt, ở từng một bước đi, từ cử động nhẹ ở đôi tay. Cái buồn muôn thuở của nàng Giáng Hương trong vở hát “Sân Khấu Về Khuya”, của Nguyễn Thành Châu, và giọt lệ thật sự chân thành long lanh trong khóe mắt sâu thẳm gợi buồn mênh mông để từ từ lăn trên đôi má.
            Cũng như cái buồn uất nghẹn của cô nữ sinh “con gái chị Hằng” đã tạo cho Thanh Nga một khuôn mặt bất hủ trên màn ảnh Tivi vậy.

Đào con
            Tiếp sau đây xin nói về Thanh Nga lúc 10 tuổi làm đào con trên sân khấu đoàn Thanh Minh, do dưỡng phụ của cô là nghệ sĩ Năm Nghĩa làm bầu gánh. Hồi ấy, đoàn Thanh Minh nhân dịp Tết chia ra hai gánh, nói cho đúng là chia thành hai nhóm hát ở hai rạp khác nhau. Một ở rạp Thuận Thành, Đa Kao và một ở bên Chánh Hưng (phía bên kia cầu chữ Y). Mới 10 tuổi nên Thanh Nga được thủ vai “đào con” ở cả hai bên. Thời đó gánh hát còn nghèo, Thanh Nga và gánh hát đâu có xe hơi riêng, thành thử cô phải đeo xe cam nhông không mui để chạy rạp cho kịp tuồng. Thời ấy ở Sài Gòn, Chợ Lớn có loại xe vận tải không có mui mà người ta gọi là xe thớt.
            Năm ấy một bên hát tuồng “Con Vật Giữa Chợ Người” và bên kia diễn vở “Đảng Ó Biển”. Thanh Nga còn nhỏ, chạy rạp, đeo xe hoài nên mệt. Trong khi chờ đợi đến lượt ra sân khấu, cô ngồi sau cánh gà rồi… lơ mơ ngủ lúc nào không biết. Mãi đến lúc người nào đó kêu to lên:
            – Con nhỏ ngủ sao? Ra sân khấu đi chớ, tới lớp rồi.
            Thanh Nga giựt mình choàng dậy, chạy đại ra sân khấu. Người ta đang hát tuồng “Con Vật Giữa Chợ Người”, nhưng mới ngủ dậy có biết gì đâu, bèn hát ngay mấy câu trong tuồng “Đảng Ó Biển”!
            Đến lúc biết mình hố, vội vàng sửa cái rụp! May là vì khán giả chưa kịp nhận ra. Từ ấy về sau mỗi dịp Tết đến, Thanh Nga không thể nào quên được kỷ niệm vui tươi ngộ nghĩnh ấy.

Tình nghệ sĩ
            Một câu chuyện nữa là Thanh Nga đi xích lô mà người đạp xích lô là nghệ sĩ thuộc lớp đàn anh.
            Thanh Nga hối hả đi trên đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn. Cô nhìn lại phía sau, thấy có chiếc xích lô vắng khách, cô vội vàng vẫy tay để xe ngừng lại chở cô đi công việc gấp. Xe vừa ngừng, Thanh Nga bước tới, bỗng cô nhìn thấy người đạp xe xích lô rồi dừng chân lại không đám bước lên xe. Có tiếng người đạp xích lô:
            – Cô Nga lên xe đi!
            Giọng của Thanh Nga bỗng run run:
            – Trời ơi! Khổ sở như thế này sao?
            Rồi Thanh Nga cũng bước lên xe. Chiếc xích lô lăn bánh. Thanh Nga trân mình ngồi trên xích lô mà lòng như tê lạnh. Bọn trẻ nít hai bên đường chỉ chỏ: “Thanh Nga kìa tụi bây ơi”, chớ bọn chúng nào có để ý đến người đạp xích lô đã kéo chiếc nón xuống che gần kín đôi mắt. Im lặng nặng nề kéo dài một lúc… Thanh Nga nói:
            – Người ta đồn anh đạp xích lô, Nga không tin, ai dè là sự thật
            – Chẳng có gì quan trọng đâu. Như thế này tôi mới đủ tiền nuôi sống cả gia đình.
            Rồi người đạp xích lô như muốn lảng sang chuyện khác:
            – Thế này cũng giống như chúng ta diễn trong một vở tuồng xã hội có xích lô, có xe đạp
            Xe xích lô dừng lại, Thanh Nga bước xuống, mặt đầy vẻ xúc động nói:
            – Anh phải trở lại sân khấu chớ không thể đạp xích lô. Để tôi xin Má Bảy Phùng Há đem vợ chồng anh trở lại sân khấu cải lương.
            Và sau đó quả đúng như thế. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga đã báo cho nữ nghệ sĩ Phùng Há sự việc, và Má Bảy đã nhận người đạp xích lô đó – nghệ sĩ Văn Khoe – và vợ là nữ nghệ sĩ Hoài Mỹ vào trong nhóm “Đời Cô Lựu”. Và nhóm lúc ấy có các nghệ sĩ: Phùng Há, Út Trà Ôn, Thanh Nga, Hoàng Giang, Kim Giác, Ngọc Nuôi, Hoàng Ấn, Nam Hùng, Thanh Thanh Hoa, Văn Khoe, Hoài Mỹ…
            Nữ nghệ sĩ Phùng Há, và Thanh Nga đã mang lại cuộc sống vật chất cho gia đình Văn Khoe – Hoài Mỹ là việc nhỏ, mà cái lớn hơn là sự giúp đỡ đồng nghiệp trở lại với nghề, cho người nghệ sĩ sân khấu trở lại với sân khấu.
            Kép Văn Khoe và đào Hoài Mỹ nổi tiếng một thời ở gánh Hoài Dung – Hoài Mỹ. Và trong tuồng “Người Mẹ Tội Lỗi” của Nguyễn Huỳnh, sau đổi tên là tuồng “Tướng Cướp Bạch Hải Đường”. Văn Khoe đóng vai ông Cò sở mật thám, bạn của chàng Minh, tức tướng cướp Bạch Hải Đường.

Ái mộ
            Có lần đoàn cải lương Việt Nam trình diễn tại rạp Minh Phụng ở Chợ Lớn, sau khi vãn hát ra về Thanh Nga được một số khán giả ái mộ chạy theo nắm tay níu áo. Ông xã cô là ông Đổng Lân biết nguy đến nơi nên vội vàng đến xe trước để mở cửa cho vợ lên xe, mong thoát khỏi đám đông đang vây quanh Thanh Nga.
            Nhưng trong lúc Đổng Lân loay hoay mở cửa xe thì Thanh Nga bị một trong số người ái mộ nắm tóc giựt xuống khiến cô đau điếng thiếu điều muốn la làng.
            Lên xe rồi mà cô vẫn còn bị người ta rị tóc lại đau đến nỗi cô phải khóc lên. Qua ngày sau đầu Thanh Nga bị u một cục và nghe rêm cả mỏ ác. Ái mộ cái kiểu này chắc chẳng ai ham.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/actress-thanh-nga-nmai-06262011112530.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 22/04/2017, 08:20:35
Giải Thanh Tâm 1960

Trước khi đề cập đến giải Thanh Tâm 1960, tôi xin nói thêm vài sự việc liên quan đến giải Thanh Tâm 1959. Số là sau khi nghe tin hai nghệ sĩ Lan Chi và Hùng Minh trúng tuyển giải Thanh Tâm 1959 thì rất nhiều người trong giới cải lương, và giới ký giả kịch trường đều đinh ninh rằng năm nay lễ phát giải cũng sẽ được tổ chức ở tửu lầu như giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/1960-thanhtam-award-nmai-09042011084845.html/ngoc-giau-bich-son-305.jpg/image)
Những nữ nghệ sĩ nhận giải Thanh Tâm.
Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

MÀ NẾU NHƯ tổ chức ở tửu lầu Bồng Lai hay một nhà hàng Tàu nào đó thì những ai có giấy mời ắt sẽ được một bữa ăn cơm Tàu với những món ăn cầu kỳ, cao lương mỹ vị…
            Nhưng không, những người có giấy mời tham dự lễ phát giải Thanh Tâm 1959 đã vỡ mộng, bởi năm nay giấy mời do ông Trần Tấn Quốc ký tên đã ghi rõ rằng là giải phát ở hội trường Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tuy vậy người có giấy mời cũng hy vọng là thức ăn sẽ có thể được mang đến, và hy vọng này cũng tiêu tan luôn, do bởi năm nay ban tổ chức chỉ cho khách tham dự uống nước đá chanh và ăn kẹo đậu phọng.
            Tại sao chỉ cách có một năm mà công cuộc tổ chức lại cách biệt quá xa đến như thế chứ? Đây là vấn đề mà ai cũng thắc mắc tìm hiểu và người ta chỉ đoán già đoán non rồi nói chớ ông Trần Tấn Quốc thì tuyệt nhiên chẳng hề tiết lộ là tại sao. Riêng tôi thì góp nhặt được nhiều sự kiện trong hai lần phát giải này và cũng có suy đoán riêng. Trong một dịp khác tôi sẽ trở lại vấn đề này. Và bây giờ xin nói về giải Thanh Tâm 1960.

Giải Thanh Tâm 1959 bị mang tiếng
            Sau hai lần phát giải Thanh Tâm mà phương thức tổ chức khác xa nhau, cũng như đối tượng được phát thì lần đầu không thấy ai thắc mắc gì về người nhận giải, tức Thanh Nga, mà báo chí lúc ấy chỉ tập trung phê bình về ban tuyển chọn, rằng tại sao ban tuyển chọn quá ít người, cũng như có nhiều nữ nghệ sĩ trẻ đã không hay biết…
            Còn lần thứ hai thì lại nhắm vào nghệ sĩ nhận giải tức Hùng Minh và Lan Chi để chỉ trích, dù rằng giải Thanh Tâm 1959 này ban tuyển chọn mở rộng có đến 13 thành viên, coi như tăng gần gấp ba, thay vì giải Thanh Tâm 1958 chỉ có 5 thành viên.
            Ban tuyển chọn này gồm: Bà Phùng Hà, Nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Nghệ sĩ Duy Lân (3 nghệ sĩ kỳ cựu); các soạn giả: Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu (3 soạn giả); các ký giả kịch trường: Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Hoài Ngọc, Bạch Tùng Hương, Trần Tấn Quốc (7 ký giả). Như vậy còn số ký giả kịch trường nhiều hơn con số soạn giả và nghệ sĩ cộng lại.
            Giải Thanh Tâm 1959 bị mang tiếng nhiều, một phần lớn là do Hùng Minh nhận giải chẳng bao lâu thì xảy ra vụ Hùng Minh – Văn Chung – Thanh Hương mà tôi đã nói qua rồi. Một phần nhỏ hơn là đào Lan Chi sau ngày nhận giải thì cô này theo đoàn Phước Chung đi hát tận nơi xa xôi mà ít người biết đến. Do đó mà giới mộ điệu cải lương trông chờ xem năm thứ ba, tức năm 1960 này ông Trần Tấn Quốc sẽ làm như thế nào đây, có gây được niềm tin trở lại, hay là bị thiên hạ phàn nàn như kỳ vừa qua, mà những tờ báo đồng nghiệp đã không nương tay, đã triệt để khai thác những nhược điểm, và đưa ra sự suy đoán rằng giải Thanh Tâm khó thể nào được tiếp tục tổ chức, sẽ bị tẩy chay v.v…


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/1960-thanhtam-award-nmai-09042011084845.html/ngocgiau180.jpg/image)
Nghệ sĩ Ngọc Giàu

Ngọc Giàu và Bích Sơn đoạt giải
            Vậy thì ông Trần Tấn Quốc tức ký giả Thanh Tâm đối phó ra sao với tình hình ấy. Xin mời quí vị theo dõi…
            Đối với một nhà báo có nhiều kinh nghiệm, và với lợi thế là có tờ báo Tiếng Dội trong tay nên mọi chuyện thị phi, mọi bàn tán bất lợi cho giải đã bị tờ Tiếng Dội phá tan đám mây mù, đồng thời nhờ số độc giả yêu thích cải lương ủng hộ, do đó mà ông Quốc vẫn trầm tĩnh “đường ta ta cứ đi”, có nghĩa là vẫn loan báo mỗi tuần hai lần trên trang kịch trường rằng giải Thanh Tâm đang xúc tiến việc mời ban tuyển chọn, đang họp hành để chấm điểm…
            Một mặt thì ông Quốc tiếp xúc riêng rẽ với từng người mời vào thành phần ban tuyển chọn, và không quên mời họ sau ngày phát giải đi ăn cơm Tàu ở Chợ Lớn. Về kế hoạch tổ chức thì năm nay sẽ phát giải tại rạp hát có bán vé như là một buổi hát tuồng cải lương vậy.
            Thành phần ban tuyển chọn giải Thanh Tâm được thành lập gồm 15 thành viên: Bảy Nhiêu, Duy Lân (2 nghệ sĩ kỳ cựu); các soạn giả Điêu Huyền, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu (4 soạn giả cải lương); và các ký giả kịch trường Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Việt Định Phương, Sĩ Trung, Bạch Tùng Hương, Hoài Ngọc, nếu tính luôn ông Trần Tấn Quốc chủ giải thì nhà báo 9 người, chiếm quá nửa con số thành viên năm đó. Và giải Thanh Tâm 1960 ban tuyển chọn quyết định phát cho hai nữ nghệ sĩ Bích Sơn và Ngọc Giàu (hai nữ, không có nam). Khi hai nữ nghệ sĩ trên được tuyển chọn thì cũng có kẻ khen người chê, chớ không có phản đối chỉ trích nhiều như năm 1959.
            Ba tháng sau thì lễ phát giải Thanh Tâm 1960 được tổ chức tại rạp Hưng Đạo, người tham dự nếu không có giấy mời thì phải mua vé coi như một buổi trình diễn tuồng cải lương, nhưng đặc biệt hơn là có các nghệ sĩ đoạt huy chương vàng của của năm trước xuất hiện.
            Để thực hiện lời mời, tối ngày hôm sau ông Quốc mời ban tuyển chọn đi ăn cơm Tàu ở nhà hàng Ái Huê trong Chợ Lớn. Các nghệ sĩ trúng giải kể cả hai năm trước cũng được mời dự tiệc và người ta thấy có mặt Thanh Nga, Lan Chi, Bích Sơn, Ngọc Giàu. Riêng Hùng Minh thì không biết ban tổ chức có mời hay không mà hôm lễ phát giải cũng như buổi tiệc người ta đã không thấy nam nghệ sĩ này có mặt tham dự, bởi lúc bấy giờ đoàn Thanh Hương – Hùng Minh đang bị tẩy chay ở khắp nơi mà chưa thấy có dấu hiệu nào giảm bớt.
            Phát giải cho hai nữ nghệ sĩ Ngọc Giàu và Bích Sơn, coi như giải Thanh Tâm đã lấy lại được niềm tin của khán giả, bởi hai nữ nghệ sĩ này rất nổi tiếng về sau. Bích Sơn lúc mới vào nghề, dì của nàng là nữ nghệ sĩ Bích Thuận lập đoàn hát. Lúc ấy thi sĩ Kiên Giang, cũng là soạn giả Hà Huy Hà viết tuồng cho đoàn Bích Thuận, anh đã bỏ vai cho Bích Sơn đóng vai nàng tiên nữ xuống trần tắm suối để quên cặp cánh không còn về Bồng Lai được nữa. Thấy cô Bích duyên dáng và thanh tao như tiên… thật, Kiên Giang bèn tự viết báo ca ngợi nàng là kiều nữ! Ấy thế rồi kiều nữ chóng lớn danh với mọi người để rảo bước qua các sân khấu lớn với mái tóc thề gói trọn tâm tư.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/1960-thanhtam-award-nmai-09042011084845.html/bichson180.jpg/image)
Kiều nữ Bích Sơn

            Thi sĩ nhà ta làm lu bù thơ khen tặng kiều nữ đã trở nên một giai thoại trong làng sân khấu. Thế nhưng, kiều nữ Bích Sơn là người theo đạo Thiên Chúa, còn thi sĩ thì không, vậy mà chàng ta đã thành khẩn đề thơ: Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ở trên trời…
            Khi nghe tin đồn kiều nữ sắp đi lấy chồng, chàng đã làm thơ rằng: Hoa trắng thôi cài lên trên mái tóc. Ôi còn đâu nữa tấm băng trinh. Lúc ấy thiên hạ nói rằng nếu như Bích Sơn mà chưa đi lấy chồng thì chàng thi sĩ Kiên Giang chắc còn làm cả “lố” thơ nữa.
            Sau 1975 người ta không thấy Bích Sơn đi hát, và kiều nữ đã ra hải ngoại nhưng không lần nào xuất hiện trên sân khấu, coi như từ giã nghiệp cầm ca luôn. Có lần vào năm 2002, trong lúc đang thành lập ban giám khảo giải Phụng Hoàng, tôi với tư cách là hội trưởng Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại kiêm trưởng ban tổ chức, tôi có liên lạc được với kiều nữ Bích Sơn trên điện thoại (số điện thoại do nữ nghệ sĩ Kiều Mỹ Loan cho). Tôi có mời Bích Sơn tham gia ban giám khảo, nhưng kiều nữ từ chối, và từ ấy đến nay tôi không có liên lạc nữa và cũng không biết kiều nữ ở đâu.
            Về phần Ngọc Giàu thì liên tục hát trên nhiều sân khấu, về sau còn được theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Tây, và sau 1975 Ngọc Giàu vẫn còn hát. Những năm trước đây ở hải ngoại có phong trào mời nghệ sĩ cải lương ở trong nước từng nổi tiếng khi xưa ra trình diễn, trong đó có Ngọc Giàu.
            Lúc đầu thì khán giả đi coi rất đông, các bầu sô cũng kiếm khá tiền, nhưng mấy năm gần đây khán giả ở Mỹ cũng không còn tha thiết với những sô hát này nữa.
            Do bởi các nghệ sĩ thần tượng năm xưa giờ đây đã già đi nhiều, sắc vóc đã không còn dễ nhìn mà hơi hám cũng đâu còn nữa để mà hát. Có còn chăng là cái dư âm, tên tuổi của ngày xưa. Một khi không còn thu hút được khán giả, nếu tổ chức hát thì lỗ lã, thành thử ra các bầu sô chạy dài luôn.
            Giờ đây coi như cái thời kỳ mà bầu sô hải ngoại hốt bạc đã qua rồi. Mang nghệ sĩ tên tuổi trước 1975 ra hát đã chẳng còn bán vé được nữa, nếu còn tổ chức sô hát thì từ chết tới bị thương thôi!
            Tóm lại là hai nữ nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm 1960 được coi như xứng đáng, nếu có bị chỉ trích vấn đề nào đó thì là việc đương nhiên, bởi giải nào mà không bị chỉ trích ít nhiều.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/1960-thanhtam-award-nmai-09042011084845.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 24/04/2017, 11:19:49
Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn

Trong số những dĩa hát cổ nhạc phát hành từ thời xa xưa cho đến sau này, một trong những dĩa được thiên hạ ưa chuộng nhứt, phải kể là 6 câu vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu”, của soạn giả Viễn Châu do Út Trà Ôn ca – Út Trà Ôn là một danh ca vọng cổ mà tên tuổi lẫy lừng không những giới yêu thích cổ nhạc cải lương, mà luôn cả nhiều giới khác cũng nghe danh.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ut-tra-on-singer-09102012130607.html/chuong-trinh-buoi-hat-cua-danh-ca-ut-tra-on-dang-tren-quang-cao/image)
Chương trình buổi hát của danh ca Út Trà Ôn đăng trên quảng cáo

Đỉnh cao danh vọng của một nghệ sĩ cải lương
            Nghệ sĩ Út Trà Ôn đã đóng góp rất nhiều vào kho tàng nghệ thuật sân khấu cải lương cũng như cho đĩa hát, mà các thế hệ sau này chẳng một ai so sánh được.
            Từ một nông dân ở quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (khi xưa Cần Thơ là một trong 20 tỉnh Nam Kỳ dưới thời thuộc địa Pháp, sang thời Đệ Nhứt Cộng Hòa tỉnh Cần Thơ đổi tên Phong Dinh, quận Trà Ôn vẫn còn ở tỉnh này, và bây giờ Trà Ôn thuộc Vĩnh Long).
            Từ miền Lục Tỉnh, Út Trà Ôn lên Sài Gòn với số vốn liếng hành trang mang theo chỉ là giọng ca thiên phú, để rồi từ đó bắt đầu một sự nghiệp lớn lao về nghệ thuật cũng như về đời sống vật chất.
            Do tiếng ca thu hút được người nghe, nên một phần lớn khán giả đi coi hát đã tập trung vào thưởng thức tiếng ca vọng cổ của Út Trà Ôn, và rồi dần dà thiên hạ, khán giả, người đời đã tặng cho Út Trà Ôn biệt danh “đệ nhứt danh ca”.
            Ngôi vị tuy không văn bản nào xác nhận, nhưng chẳng nghe ai công khai lên tiếng phản đối, do đó coi như mọi người đã ngầm chấp nhận vậy! Cũng như trong suốt nhiều thập niên chưa có nghệ sĩ nào giành được ngôi vị đặc biệt đó.
            Với một thế đứng vững vàng ở lãnh vực sân khấu cải lương trong suốt nhiều thập niên, Út Trà Ôn đã tạo cho mình một sự nghiệp lớn lao mà bất cứ ai vào nghiệp cầm ca cũng rất thèm thuồng cái ân sủng mà Tổ nghiệp cải lương đã ưu đãi Út Trà Ôn.
            Bên địa hạt đĩa hát cũng thế, chưa có nghệ sĩ nào vô đĩa nhiều như Út Trà Ôn, vì thế nên lời ca tiếng hát của ông đã được phổ biến cùng khắp. Người ta đã thử so sánh số tiền lương được lãnh mà ông bầu gánh hát Thủ Đô đã phát cho nghệ sĩ của đoàn vào năm 1960 thì biết Út Trà Ôn “đế vương” đến cỡ nào.
            Lúc bấy giờ kịch đoàn Thủ Đô là một đoàn hát lớn hoạt động rất mạnh ở Sài Gòn, và là đoàn hát có tiếng trả lương cao, đã trả tiền lương mỗi xuất hát của từng nghệ sĩ như sau: Kép chánh Thanh Hải năm trăm đồng, đào chánh Ngọc Hương năm trăm đồng, kép độc Hoàng Giang hai ngàn đồng và Út Trà Ôn thì lãnh xỉu xỉu có… năm ngàn đồng thôi! Với số tiền trả lương của đoàn Thủ Đô như trên cho thấy rằng Út Trà Ôn lãnh lương gấp hai lần rưỡi Hoàng Giang và gấp 10 lần Ngọc Hương, Thanh Hải.
            Còn nếu như so sánh với lương bổng của giới khác thì thời điểm 1960 lương lính binh nhì là 514 đồng mỗi tháng. Lúc bấy giờ có câu thơ “Anh đây là lính binh nhì, năm trăm mười bốn lấy gì nuôi em”. Không biết ai là tác giả bài thơ nhưng rất phổ biến trong giới nhà binh mà hầu như người lính nào cũng biết, cũng thuộc lòng. Như vậy lương lính một tháng chỉ khoảng một đêm lương của Thanh Hải, Ngọc Hương, hoặc 10 tháng lương của người lính chỉ bằng một đêm lương của đệ nhứt danh ca. Nói một cách khác là tiền của khán giả cải lương, thay vì đem nuôi một Út Trà Ôn, lấy tiền đó nuôi được hai đại đội binh sĩ chiến đấu. Đó là chưa kể còn những món tiền khác như ký hợp đồng lấy khơi khơi vài triệu, tiền hát xuất ban ngày, tiền vô đĩa v.v… Tóm lại là số tiền Út Trà Ôn lãnh vào thời đó nghe qua ai cũng ngộp!


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ut-tra-on-singer-09102012130607.html/de-nhat-danh-ca-ut-tra-on/image)
Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn

Cậu Mười không biết đọc cũng như viết
            Thế nhưng, có ai biết rằng Út Trà Ôn từng xuất thân là nông dân, dốt đặc hoàn toàn, tức là không biết luôn cả các chữ mẫu tự A B C… Có người nói Út Trà Ôn xuất thân từ chăn trâu, thời kỳ mà ông còn ở tỉnh chưa lên Sài Gòn. Thật ra thì người làm ruộng nào lại không chăn trâu, chớ như Minh Cảnh thuở thiếu thời đi lượm rác thì có sao đâu! Nói về thời gian cộng tác với các đoàn hát thì gánh Thanh Minh được coi như Út Trà Ôn có mặt lâu dài nhứt, mà Thanh Minh thì thường hoạt động quanh quẩn vùng Sài Gòn, Chợ Lớn chớ ít khi đi lưu diễn xa nên rất nhiều người được biết rõ về việc Út Trà Ôn trong vấn đề học tuồng. Vào khoảng các năm 1950-1951, mỗi khi nhận vai trò trong một vở tuồng (hầu hết là vai chánh) thì có người đọc role tuồng cho ông ta học, lý do không biết chữ nhứt một thì đọc thế nào được chứ! Lúc đó bầu gánh Năm Nghĩa phải mướn người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học với phương pháp đọc đi đọc lại nhiều lần cho ông nghe trong lúc ngồi ăn cơm, hoặc trước khi ngủ. Người đọc cứ tự nhiên đọc, đọc hoài chừng nào thấy ông ngáy ngủ thì ngưng đọc (phải chi lúc ấy có máy cassette, băng đĩa thì đỡ biết mấy).
            Vậy mà ai thuộc tới đâu thì Út Trà Ôn thuộc tới đó, và đến khi lên tập tuồng ông ta nhớ hết tất cả lời ca không vấp chữ nào, cũng như lời đối thoại đúng y như soạn giả viết và diễn thì ăn khớp với vai trò đã đảm trách. Thời gian có người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học kéo dài suốt cả chục năm, tính thời gian từ lúc ông ở đoàn Thanh Minh của Năm Nghĩa khoảng 1952, cho đến khi ông về đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản năm 1960-1961. Đó là chỉ tính từ ngày ông có mặt trong mấy gánh hát hoạt động ở Sài Gòn mà thôi, chứ lúc còn ở tỉnh ông học bài ca từ hồi nào và cách học ra sao thì không nghe ai nói, và chắc ông cũng không hề tiết lộ với ai vấn đề, trừ phi có người biết rõ hồi ông còn ở dưới quê.
            Cũng bởi do tiếng ca quá thu hút người nghe, lôi cuốn mọi lớp tuổi, mọi thành phần khán giả và yêu cầu chính yếu của người mua vé đi coi cải lương lúc bấy giờ là nghe tiếng ca vọng cổ của Út Trà Ôn. Do vậy nên dù phải chi thêm tiền mướn người đọc tuồng cho Út Trà Ôn học, bầu gánh hát cũng vui vẻ chấp nhận thôi, chứ bằng như Cậu Mười không lên sân khấu được thì đoàn hát sẽ lâm nguy, đói hết cả đám! (Hầu hết trong đoàn hát đều gọi Út Trà Ôn bằng Cậu Mười).
            Tuy rằng chẳng đọc được chữ nhứt một, nhưng mục tiêu mua vé của khán giả là Út Trà Ôn, nên không ai dám nói động đến vấn đề dốt chữ của Cậu Mười, vì hễ nói ra chẳng lợi lộc gì hết, lại rủi ai đó tọc mạch, Cậu Mười biết được sẽ phàn nàn với bầu gánh, tức thì người nói ấy bị đuổi việc ngay, bởi tính toán của bầu gánh thà hy sinh người đó chứ không thể để mất số tiền thu vô hằng đêm nhờ giọng ca Út Trà Ôn. Còn nói về thu đĩa hát ở hãng đĩa Hoành Sơn thì vấn đề dốt đặc của Út Trà Ôn đã làm khổ tâm cho hãng đĩa, làm phiền phức cho nghệ sĩ cùng thu thanh chung tuồng.
            Do bởi khi thu đĩa mà ông quên tuồng, quên lời ca thì coi như bỏ hết, ngày khác thu lại, và chuyện Út Trà Ôn quên tuồng xảy ra hầu như đĩa nào cũng bị thu thanh trở lại không nhiều thì ít. Nếu như người biết chữ thì dù không thuộc tuồng thì họ cầm role tuồng coi đó mà ca mà nói thì có phải đỡ khổ cho hãng đĩa lắm không...


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/famous-cailuong-actor-nm-10242011130407.html/uttraon-phapluat-250.jpg/image)
Bìa dĩa “Tình anh bán chiếu” với hình ảnh Út Trà Ôn (giữa)

“Tình anh bán chiếu” lên ngôi
            Út Trà Ôn là một danh ca vọng cổ mà tên tuổi lẫy lừng không những giới yêu thích cổ nhạc cải lương, mà luôn cả nhiều giới khác cũng nghe danh. Căn cứ vào những sự kiện nào để đánh giá như thế? Muốn biết rõ ta phải ngược thời gian trở về những năm cuối của thập niên 1940 và trọn hai thập niên 1950-1960 để mà so sánh thì sẽ có câu trả lời xác đáng.
            Thật vậy, nếu như tính hết những tuồng cải lương và bài ca vọng cổ do Út Trà Ôn thu thanh dĩa hát thì có đến hàng trăm bộ dĩa được phát hành phổ biến cùng khắp. Thế nhưng, nếu nói có bao nhiêu bài ca do đệ nhứt danh ca thu dĩa mà được thiên hạ biết đến, thì con số chắc không nhiều.
            Lý do phần lớn những dĩa hát do Út Trà Ôn ca đã không được giới đờn ca tài tử học thuộc lòng để ca trong các buổi sinh hoạt tiệc tùng, hoặc đình đám mà họ đã có những bài ca khác như “Bóng Người Kỵ Sĩ” do Thành Công ca, bài “Điên Vì Khói Lửa” do Minh Chí ca v.v…
            Đến khoảng giữa thập niên 1950 thì các hãng dĩa hát sau khi phát hành bộ dĩa nào thì cho in cuốn bài ca nhỏ của bộ dĩa ấy, rồi mang về nông thôn bán ở các chợ làng quê. Nhờ vậy nên lúc bấy giờ một số bài vọng cổ do Út Trà Ôn ca độc chiếc cũng được dân đờn ca tài tử mua về học, nhưng dân đờn ca tài tử có người học, có người không, họ đã chẳng mặn mòi bao nhiêu với các bài vọng cổ này.
            Và nếu như người nào đó thuộc các bài ca trên thì khi mang ra ca người nghe cũng lơ là chẳng mấy ai thích.
            Đến giữa thập niên 1960 thì dĩa hát “Tình Anh Bán Chiếu” cũng do Út Trà Ôn ca được phát hành, người bán bài ca ở chợ vừa bán vừa hát, chợ chưa tan thì bài ca đã bán hết. Thế là một số lớn dân đờn ca tài tử đã học thuộc lòng và thiên hạ được nghe. Có thể nói “Tình Anh Bán Chiếu” đã thâm nhập hầu hết các nhóm đờn ca tài tử ở miền Nam, đi tới đâu cũng nghe bài vọng cổ này.
            Thời ấy không riêng gì ngoài dân chúng, mà trong giới nhà binh người ta cũng nghe hát “Tình Anh Bán Chiếu”. Các ca sĩ tài tử nhập ngũ đã mang bài ca này vào quân trường, rồi khi ra đơn vị lại mang theo đi khắp các đồn trại từ Nam ra Trung. Các tài tử mặc áo lính rất nhiều người thuộc lòng bài “Tình Anh Bán Chiếu”, lắm lúc không có người đờn, họ vẫn một mình hát khơi khơi vậy.
            Rồi sau 1975 “Tình Anh Bán Chiếu” cũng vào trại cải tạo, dân đờn ca tài tử gặp nhau trong trại là trở thành nhóm, giờ nghỉ sinh hoạt của họ là các bạn cùng trại lại được nghe bài ca ấy.
            Đến khi ra hải ngoại thì bài ca này cũng có mặt nhiều nơi. Thế nhưng, do đâu mà “Tình Anh Bán Chiếu” lại được dân tài tử ưa thích, được người nghe mến mộ?

Đi vào lòng người
            Nhờ yếu tố nào mà thiên hạ lại yêu thích bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu? Đó là câu hỏi mà thời gian qua đã có rất nhiều câu giải đáp, nhưng phần nhiều chỉ là những câu trả lời có tính cách chung chung, cho rằng đó là bài ca hay, chớ ít ai nói rõ ràng chi tiết. Sau khi thu thập nhận xét của nhiều người thì người ta có thể kết luận rằng:
            “Bài ca vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” chứa đựng một câu chuyện trữ tình, đi đôi với bối cảnh, địa danh có thật ở miền Tây. Bài ca nói lên tâm trạng si tình của một gã bán chiếu gốc ở Cà Mau, một mối tình đơn phương tuyệt vọng mà ai nghe qua cũng cảm thương, đồng thời cũng trách anh ta sao lại si tình một cách vô lý như thế.”
            Cái tài tình của soạn giả Viễn Châu là sử dụng nghề nghiệp của anh chàng bán chiếu, đưa chàng ta vào phòng loan của cô gái con nhà khá giả một cách hợp pháp. Chiếc giường sơn gõ đỏ đủ nói lên nếp sống con nhà giàu của cô gái miền sông nước Hậu Giang.
            Mùi hương cùng bày biện trang hoàng phòng loan của cô gái đã làm cho gã bán chiếu mê mẩn tâm thần, và đầu óc đã suy nghĩ vu vơ quá trớn. Thấy người đó, cảnh đó rồi âm thầm thương nhớ, chứ có ai nghĩ gì đến anh chàng đâu? Anh ta kể lể: “Cô ơi! Đôi chiếu này tự tay tôi dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lát sợi gai…” Anh chàng vừa dệt chiếu vừa dệt mộng, lại càng vô lý hơn qua lời than vãn: “Khi họ cất bước theo chồng đã không một lời hỏi han từ giã…” Không lẽ mỗi khi một cô gái về nhà chồng, lại đi tìm người bán chiếu để từ giã? Thật là ngớ ngẩn!
            Cái hay của người sáng tác bài ca đã lấy bối cảnh, địa danh có thật để tô điểm làm đậm đà cho câu chuyện. Con sông Phụng Hiệp, bờ kinh Ngã Bảy đâu có lạ gì với người dân ở Cần Thơ hay miền Lục Tình. Chỉ nội người dân ở địa phương thắc mắc bàn tán hỏi han nhau, rằng cô gái mặc chiếc áo bông hường kia là ai? Và anh chàng bán chiếu với chiếc áo nhuộm bùn lấm tấm giọt mồ hôi kia là chàng nào, cũng đã làm cho bài ca nổi tiếng.
            Tóm lại bài ca vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” đã có một hấp lực mạnh mẽ thu hút giới đờn ca tài tử lẫn người nghe, do đó nó được phổ biến thật rộng rãi. Bạo phát mà không bạo tàn, trái lại còn lâu bền, và biết đâu nó sẽ sống mãi với thời gian.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/famous-cailuong-actor-nm-10242011130407.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 26/04/2017, 08:47:54
Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”

Trong Làng cải lương, không ai không biết đến nghệ sĩ Út Bạch Lan với giọng ca được mệnh danh là “Sầu nữ”. Không phải những giọng ca nữ khác không u buồn, nhưng nói về độ mùi mẫn bi ai thì rõ ràng không ai vượt qua được Sầu nữ Út Bạch Lan. Còn nếu nhìn vào các giọng ca nam, ca mùi thì có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” thì có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang còn để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.

(https://dantricdn.com/thumb_w/640/2017/photo-1-1491661608015.jpg)
Cố nghệ sĩ Thanh Sang (1943-2017) và nghệ sĩ Thanh Tú trong vở Bên Cầu Dệt Lụa

Bỏ đời ngư phủ theo nghiệp cầm ca
            Nghệ sĩ Thanh Sang tên thật Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Gia đình ông làm nghề chài lưới, rất nghèo khổ, lại đông con, mà ông lại là con trai một, nên cái gánh nặng gia đình tự nhiên trở thành một áp lực vô hình đè nặng lên ông, để phải tìm mọi cách đổi đời cho gia đình bớt khổ.
            Nếu ai có dịp về Phước Hải sẽ không khỏi ngậm ngùi khi nói tiếng chia tay với vùng duyên hải thơ mộng này. Núi non hùng vĩ đứng bên bờ biển bao la của vùng Phước Hải đã kết tinh thành một giọng ca buồn miên man nhưng đầy khí khái của cậu bé tên Thu.
            Thuở nhỏ, Thanh Sang học ca vọng cổ theo tiếng đờn của danh cầm Văn Vĩ trên đài phát thanh, 12 giờ khuya hằng đêm mà ông nghe ké được từ nhà hàng xóm. Khi biết ca rồi, ông bèn năn nỉ mấy thầy đờn tập giùm những lúc họ rỗi rảnh. Về diễn xuất cũng vậy, vẫn theo đà của thế hệ vàng, nghề ca hát được truyền theo kiểu nghề dạy nghề, Thanh Sang ngồi cánh gà coi riết rồi thuộc hết thảy các vai tuồng, kể cả vai nữ. Để rồi lại “trông mong” có nghệ sĩ nào bị đau ốm để được lên đóng thế.
            Mới hơn 14 tuổi ông đã bắt đầu theo nghiệp tổ. Cái áp lực khi ấy đối với ông nặng lắm, bởi đã bỏ nghề cá và bỏ xứ theo nghiệp hát ca thì phải làm sao có chút đỉnh thành công, nếu không thì còn mặt mũi nào dám trở lại nhìn mặt xóm làng. Áp lực nặng đến mức mà Thanh Sang từng ví chuyến đi của mình như: “Kinh Kha qua sông Dịch”.
            Con đường khởi nghiệp của Thanh Sang cũng lắm gian nan. Ông kể, chờ hoài mà mấy anh kép chánh không chịu bệnh, chỉ có kép phụ bị làm khó làm dễ rồi xin nghỉ để mới được cho đóng thế vai phụ. Những vai phụ đầu tiên của chàng trai tuổi đôi mươi lại là vai lão. Lúc trẻ tên tuổi Thanh Sang gắn với vai lão nhiều hơn.
            Đúng như câu “Tái ông thất mã”, cuộc đời mà, trong cái rủi thì ắt hẳn có cái may, cũng chính nhờ đóng vai lão mà Thanh Sang đã đạt đến đỉnh cao vinh quang khi đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm vào năm 1964, giải thưởng cải lương danh giá nhất tính đến hiện tại. Vai diễn đưa Thanh Sang đến với giải thưởng cao quí này là vai Tạ Tốn trong vở “Cô Gái Đồ Long”.
            Đây là một vai diễn rất khó, vì người diễn bị mất đi một vũ khí diễn xuất lợi hại nhất của người nghệ sĩ trên sân khấu, đó là đôi mắt, do Tạ Tốn là một nhân vật mù. Hơn nữa đây là một nhân vật có tuổi, mà lại cùng với bao sóng gió của cuộc đời, Tạ Tốn lại càng trở nên già nua với ngổn ngang tâm sự. Như tổ nghiệp đã cố tình sắp đặt, giọng ca của Thanh Sang rất hợp với nhân vật Tạ Tốn này: giọng ca u buồn, đong đầy tâm sự, nhưng luôn có một xung lực phi thường, cách diễn của Thanh Sang lại rất chừng mực, nên đã thể hiện xuất sắc vai diễn này.
            Có vẻ ban tổ chức của giải Thanh Tâm đã có lý khi quyết định trao huy chương vàng cho Thanh Sang, vì đến hiện tại vai Tạ Tốn vẫn được xem là “vai của Thanh Sang”, bởi chưa thấy ai đóng qua được. Sự có lý của ban tổ chức giải Thanh Tâm còn được khẳng định thêm, khi năm 1964 cùng với Thanh Sang thì nữ nghệ sĩ Lệ Thủy cũng nhận giải thưởng cao quí này. Và đến hiện tại, hai nghệ sĩ này đã thật sự vượt mong đợi của những người trao giải với những thành công không thể nào rực rỡ hơn nữa trên sân khấu cải lương.


(http://vannghetiengiang.vn/uploads/news/2012_06/1339469854.gif)
Nghệ sĩ Bạch Tuyết chúc mừng ba nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm năm 1964: Diệp Lang, Thanh Sang, Lệ Thủy (từ trái sang)

Thanh Sang – Thanh Nga: Đôi bạn diễn “xưa nay hiếm”
            Thanh Sang từng tâm sự rằng, khi còn trẻ thì được giao đóng vai già, còn khi lớn tuổi lại được chọn đóng vai kép trẻ. Quả thật vậy, và sự chọn lựa này của các đạo diễn dành cho Thanh Sang không phải là không có lý, bởi cái vai già ông đóng khi trẻ cũng thành công, mà cái vai trẻ ông đóng khi già cũng lại rất thành công.
            Nói về vai kép chính trẻ trung đầu tiên của Thanh Sang phải nhắc đến vai Đông Nhật trong vở Tuyết Phủ Chiều Đông. Đây cũng là một cơ duyên, bởi khi ấy ở đoàn Ngọc Kiều của ông bầu Hoàng Kinh, anh kép chánh Hùng Cường vừa đánh người phải đi hầu tòa, nên Thanh Sang được chọn thế vai cho Hùng Cường, và con đường kép chánh của Thanh Sang bắt đầu từ đó.
            Thế nhưng, để gọi là thành công rực rỡ, tức tạo được dấu ấn trong lòng người mộ điệu cải lương, thì phải chờ đến khi Thanh Sang về đoàn Thanh Minh – Thanh Nga của bà Bầu Thơ, mẹ của cố nghệ sĩ Thanh Nga. Ở đó, tổ nghiệp dường như đã có ý đền đáp cho thái độ làm nghệ thuật nổi tiếng nghiêm túc của bà Bầu Thơ bằng cách ban cho đoàn hát của bà một đôi Kim Đồng Ngọc Nữ: Thanh Sang – Thanh Nga.
            Đôi bạn diễn thành công đến mức mà đến hiện tại, dù có bình luận thế nào, tranh cãi ra sao, thì hễ nhắc đến Thanh Sang người ta lập tức nghĩ ngay đến Thanh Nga, mà hễ bàn về Thanh Nga thì lại nghĩ ngay đến Thanh Sang. Cả hai đều có giọng trầm buồn, đầy nội lực, cách ca cách diễn rất chừng mực, cách làm nghệ thuật rất nghiêm túc, nên sự ăn ý trên sân khấu đã đạt đến mức hoàn hảo.
            Năm 1978, Thanh Nga bất hạnh qua đời, sự ra đi này là một tổn thất không gì bù đắp nổi đối với sân khấu cải lương, bởi đó là sự ra đi của một nữ nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu. Thế nhưng mất mát cho cải lương còn ở chỗ: sự ra đi của Thanh Nga cũng khiến cho sân khấu cải lương mất một đôi bạn diễn thuộc hàng “xưa nay hiếm”.


(https://vcdn-giaitri.vnecdn.net/2017/04/21/thanh-sang-va-thanh-nga-5972-1492745028.png)
Nghệ sĩ Thanh Nga và Thanh Sang trong vở Bên cầu dệt lụa

Trần Minh – Thanh Sang: Ca nội tâm, diễn chân phương
            Vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa đã mang đến hai hình tượng thuộc hàng đẹp nhất cho sự thủy chung son sắt. Nếu Thanh Nga xuất sắc với vai nàng tiểu thư Quỳnh Nga dám vượt khuê môn đến chăn tằm dệt vải bên cầu để lấy tiền cho người chồng hứa hôn lên kinh ứng thí, thì Thanh Sang cũng đáp lại bằng vai diễn để đời với một hàn sĩ Trần Minh, bị nhạc trượng tương lai ruồng bỏ do chê gia thế bần hàn, đến độ mẹ ruột bị hành hạ đến uất ức mà mang bệnh chết.
            Trong nghịch cảnh ấy, lòng thù hận của Trần Minh đối với nhạc trượng đã được hóa giải bằng tấm chân tình của người vợ hứa hôn Quỳnh Nga. Để rồi, khi đỗ trạng nguyên, bị vua dùng quyền uy tối thượng ép chàng phải cưới công chúa, Trần Minh đã từ chối cái ngôi phò mã cao sang, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết để giữ cho vẹn thủy toàn chung với người vợ tào khang Quỳnh Nga ở quê nhà.
            Lớp diễn Trần Minh đối đáp với vua và công chúa giữa trào đình là một lớp diễn xuất thần của Thanh Sang. Nét khẳng khái, sự quyết liệt, cách đối đáp chân thật mà uyên bác, thâm thúy mà giản đơn đã được Thanh Sang thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế: nhẹ nhàng vì Thanh Sang có lối diễn chừng mực không phô trương, tinh tế vì Thanh Sang biết khai thác tối đa thế mạnh của giọng ca đầy nội tâm để biểu đạt hết cái thần của nhân vật.
            Một nét đáng chú ý trong lớp diễn này, nhất là đoạn Trần Minh ca hai câu vọng cổ đối đáp với vua khi vua mang gươm lệnh ra dọa nếu Trần Minh từ chối ngôi phò mã thì sẽ phải mất đầu: đây là một lớp diễn rất khó. Khó trước tiên là về cách diễn xuất phải làm sao bộc lộ được sự quyết liệt từ chối nhưng phải giữ được đạo quân thần, chứ không phải từ chối của một kẻ bình dân, mà là từ chối của bậc trạng nguyên có ăn có học.
            Cái khó thứ hai mà cũng là cái khó chính, đó là lời bài ca trong lớp diễn. Hai câu vọng cổ mà Trần Minh ca đối đáp với vua hàm chứa rất nhiều điển tích, mà phải chi điển tích là những câu chuyện dài thì còn có thể nắm cốt chuyện mà nhớ, đằng này lại liên quan đến một loạt các tên tuổi lấy từ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu. Chẳng hạn như đoạn đối thoại có những lời như sau:
             “Muôn tâu, thánh như Ngũ đế, nhân như Tam Vương, mạnh như Ô Hoạch, dõng như Mạnh Bôn Hạ Dục mà còn phải chết, trên đời có ai thoát khỏi chết đâu mà thần phải sợ”.
            Chúng ta thấy, dẫu là người có học cao, khi ca đoạn này cũng phải học thật kỹ, nếu không khi đang ca trong lòng bản vọng cổ, không có thời gian đâu mà suy nghĩ nhiều, nên việc nói nhanh mà nhầm lẫn tên là rất khả dĩ. Ấy thế nhưng ở Thanh Sang cách diễn xuất rất tự nhiên, cách ca rất trôi chảy, lời ca trong nét diễn, nét diễn trợ lời ca, cho thấy đó thật sự là một Trạng Nguyên thuộc lào kinh sử, chứ không phải là một anh kép hát đang vừa ca vừa vắt óc nhớ lời hoặc ca một cách vô hồn, không hiểu gì về tên những nhân vật mà mình đề cập.
            Xuất thân hàn vi nên Thanh Sang không được ăn học nhiều, nhưng Thanh Sang luôn chịu khó tự trao dồi kiến thức, và khi ca diễn ông có thể hiểu trọn vẹn những tích tuồng mà mình tham gia đóng. Trong giới cải lương, Thanh Sang được mệnh danh là người có hiểu biết rộng, thông tuệ nhiều thứ. Thế mới thấy được sự phấn đấu phi thường đáng trân trọng của nghệ sĩ Thanh Sang, một sự phấn đấu mà không phải những người được xem là trí giả đôi khi còn không có. Thế mới thấy thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này nên soi vào đó để tự trao dồi, trao dồi không chỉ kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức sử xanh cần thiết.
            Lớp diễn để đời khác trong tuồng Bên Cầu Dệt Lụa là đoạn Trần Minh đỗ trạng nguyên xong về lại quê xưa, nhưng xin phép vua không làm lễ vinh quy bái tổ rình rang như thông lệ, mà lại chọn cách xếp cờ êm trống, mặc áo cơ hàn mang bầu rượu nhạt đến tìm gặp người bạn tri giao là hàn sĩ Nhuận Điền. Nghệ sĩ Thanh Tú thủ vai Nhuận Điền đã cùng Trần Minh – Thanh Sang để lại cho đời một tình bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa.
            Đặc biệt, khi Nhuận Điền ngạc nhiên thấy Trần Minh đã là trạng nguyên mà còn mang rượu mua ở quán nghèo tại quê hương đến mời bạn, Nhuận Điền hỏi: “Giờ đã là trạng nguyên rồi mà còn uống được rượu quán nghèo nơi xóm cũ à?”, Trần Minh – Thanh Sang vô vọng cổ câu 5 để trả lời: “Uống chớ đại huynh, tuy rượu quán nghèo mà nồng nàn hương vị, xin kính cẩn nâng ly mời tri kỷ, mượn chén rượu ngày xưa cho tròn vẹn… thâm… tình”. Giọng ca Thanh Sang trầm ấm, trữ tình, chứa đầy tâm sự, nên chỉ với bốn chữ: “Uống chớ đại huynh” thôi thì người nghe cũng có thể hiểu được trọn vẹn nổi lòng của nhân vật rồi. Chỉ bốn chữ đơn giản như thế mà đến giờ phút này, đã có không ít nghệ sĩ trích lại đoạn nói trên, nhưng chưa thấy ai đạt đến trình độ: “Bốn chữ nói lên tất cả” như Thanh Sang.
            Thế nhưng, trong vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa, khi nhắc đến Quỳnh Nga – Trần Minh, người mộ điệu nghĩ ngay đến đoạn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên đường lai kinh ứng thí. Nàng mang đến cho chàng gói hành trang, lộ phí, mà điều đáng quý là tất cả những thứ đó đều do tự tay nàng làm ra sau khi rời khỏi lầu son gác tía trong phủ quan huyện của cha nàng để đến dựng quán bán vải bên cầu. Ý nghĩa nhất lúc này đó là chiếc áo ngự hàn mà nàng đã thức suốt bao đêm để dệt bằng “tơ tâm sự”. Thanh Nga ca hai câu vọng cổ để trao gói hành trang, thì Thanh Sang sau đó cũng ca hai câu vọng cổ đáp tạ chân tình. Đoạn ca này cả hai đã thật sự đạt trình độ thượng thừa về ca diễn. Đặc biệt về ca, tất cả những tình cảm cần thể hiện đã được đôi nghệ sĩ ngọc ngà này của sân khấu cải lương đưa hết vào trong lời ca.
            Đáp lại Quỳnh Nga – Thanh Nga, Trần Minh – Thanh Sang đã ca như vầy: “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc, rừng rực lửa yêu đương ta nguyện cùng ai thề giữ vẹn chữ… chung… tình”. Những chữ “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc” được Thanh Sang đưa hết tình cảm vào đó. Với giọng ca đầy nội lực và nội tâm của Thanh Sang, chỉ với mấy chữ mở đầu này cũng đủ để khán giả cảm được sự rưng rung nước mắt trong lòng của bậc trượng phu Trần Minh, không cần phải xem thêm động tác gì nữa.
            Giọng ca của Thanh Sang rất thích hợp cho những vai nội tâm cao, đây là một ưu thế của ông, nên ông đã triệt để khai thác, và khai thác một cách xuất sắc cho đoạn ca này. Nhiều nghệ sĩ thế hệ sau ca diễn lại đoạn này, nhưng do giọng ca thiếu nội lực, do không có được làn hơi đầy nội tâm như Thanh Sang, hoặc do diễn hơi bị lố, nên chưa thấy có ai thể hiện xuất thần đoạn này như Thanh Sang.
            Thành công của Thanh Sang trong Bên Cầu Dệt Lụa đến mức mà khán giả miền Tây thường biết đến tuồng cải lương này qua tên Trần Minh Khố Chuối, và hình tượng một Trần Minh nghèo khổ hiếu học, vẹn thủy toàn chung đã đi vào đời sống thường nhật của người Nam Bộ, bởi rất thường khi gặp một người nam nghèo khổ có chí học hành thì nhiều người gọi ngay đó là “Trần Minh khố chuối”.


(http://nld.vcmedia.vn/2017/vf-1485231352600.jpg)
Nghệ sĩ Thanh Sang và Thanh Nga trong vở Tiếng trống Mê Linh

Thi Sách – Thanh Sang: Đỉnh cao của nét diễn bi hùng
            Một vai diễn để đời nữa của Thanh Sang là vai Thi Sách trong vở Tiếng Trống Mê Linh cũng đóng cặp với Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Nếu trong vai Trưng Trắc, Thanh Nga đã tạo ra những đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến giờ này chưa nữ nghệ sĩ cải lương nào vượt qua, thì Thanh Sang cũng đã “gây khó dễ” cho thế hệ sau với vai Thi Sách, bởi đến hiện tại chưa thấy ai tiếp bước một cách xứng tầm cho vai diễn này. Và hễ nhắc đến Thi Sách trong Tiếng Trống Mê Linh là người mộ điệu nghĩ ngay đến Thanh Sang.
            Lớp diễn để đời cho cả hai nghệ sĩ bậc thầy này là lớp Trưng Trắc – Thanh Nga tế sống Thi Sách – Thanh Sang trước cửa thành Luy Lâu. Số là Thi Sách bị Tô Định bắt đem lên giàn hỏa để uy hiếp buộc Trưng Trắc lui quân. Thế nhưng, vận mệnh non sông chỉ còn ở trận đánh đó thôi, chỉ còn ở thời cơ đó thôi. Nợ nước tình nhà đè nặng lên vai Trưng Trắc. Thanh Nga đã xuất thần trong lớp diễn tế sống chồng với hai câu vọng cổ thuộc hàng “quỷ khốc thần sầu”. Thi Sách – Thanh Sang cũng không hề lép vế với bạn diễn. Trên giàn hỏa, Thi Sách – Thanh Sang khảng khái khuyên vợ đặt việc nước trước tình nhà để tấn binh diệt giặc. Thanh Sang cũng đã ca hai câu vọng cổ thuộc hàng “thần sầu quỷ khốc”.
            Cả hai đã gặp nhau ở một điểm, mà lại là điểm quyết định cho giá trị thật sự của vai diễn, đó là: sự bi hùng. Trưng Trắc – Thanh Nga tế sống chồng trước ba quân nên không thể “bi lụy” được, còn Thi Sách – Thanh Sang lên tiếng khuyên vợ trước ba quân cũng phải dằn niềm riêng mà quyết chí vì nghĩa lớn của dân tộc.
            Như đã nói, thế mạnh của Thanh Sang là có một giọng ca biểu lộ nội tâm rất tốt, bởi vậy Thanh Sang đã vận dụng thế mạnh này một cách tuyệt vời cho vai Thi Sách và đặc biệt là cho đoạn trên giàn hỏa.
            Trong đoạn ca kêu gọi Trưng Trắc – Thanh Nga tiến quân, Thi Sách – Thanh Sang ca như vầy: “Ta cám ơn tất cả đã tạm đình binh để kéo dài mạng sống cho ta dù trong phút giây ngắn ngủi. Nhưng nàng hãy ra lệnh cho nghĩa binh anh dũng hãy nổi trống đồng lên. Hãy nổi trống tấn công đi…” Sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” của Thi Sách – Thanh Sang âm vang, uy vũ, nhưng lại rất chan chứa tâm tình. Uy vũ vì là lời ra lệnh với tư cách chủ tướng dành cho thuộc cấp, chan chứa thâm tình vì thuộc cấp chẳng ai khác là người vợ tào khang, bảo vợ tấn binh tức đồng nghĩa với việc âm dương hai ngã, nhưng biết làm sao hơn khi mà “Sống thác là chuyện đi về, hợp tan là trò dâu bể. Tất cả đều không có đáng kể. Mà điều đáng lo là sự trường tồn của dòng dõi Hùng Vương”.
            Nội tâm bi hùng đó đã được thể hiện một cách trên cả tuyệt vời qua giọng ca đầy nội tâm của Thanh Sang. Và sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” thật đơn giản, dễ ca, nhưng mỗi khi nghe Thanh Sang ca sáu chữ này, người nghe ắt hẳn không khỏi giật mình về “độ bi hùng” trong giọng ca Thanh Sang. Để đạt được trình độ bi hùng thượng thừa như Thanh Sang trong vai Thi Sách thì đến hiện tại chưa thấy có ai.


(https://i.ytimg.com/vi/ApmabX_Tn_k/maxresdefault.jpg)
Giai phẩm Giải Thanh Tâm 1964

Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
            Thanh Sang có giọng trầm, đầy nội lực, man mác u buồn nhưng không bi lụy. Như đã nói, đây là một giọng ca rất thích hợp cho các vai có nội tâm cao. Nói về ca vọng cổ, thì giọng ca này cũng đúng cái bản chất của bài ca vọng cổ: “Chân phương hoa lá”. Tức ca vọng cổ là phải ca chân phương, không điệu đà thái quá, không làm dáng dư thừa, mà phải có sao ca vậy, giống như câu hò lời ru Nam Bộ, mộc mạc mà ngọt ngào, ru hồn người nghe một cách dịu êm. Thế nhưng, chân phương không có nghĩa chết cứng, mà phải biết dùng giọng ca trời cho và sự điêu luyện trong nhịp nhàng, cùng với cách sắp chữ, nhấn nhá để tạo hoa lá cho bài hát, qua đó tạo dấu ấn riêng cho mình.
            Đâu phải ngẫu nhiên mà giọng ca Út Trà Ôn đi vào huyền thoại. Nghe Út Trà Ôn ca, ta thấy ngay đó là một giọng ca chân phương, nhưng những cung bậc tình cảm đa dạng của cuộc đời đã được nghệ sĩ bậc thầy này đưa vào bài ca trọn vẹn. Bởi thế mà, đến hiện tại, cái mỹ danh Vua ca vọng cổ vẫn thuộc về Út Trà Ôn.
            Lúc thiếu thời, Thanh Sang mê giọng ca Út Trà Ôn và thường bắt chước ca theo. Khi theo nghề, lối ca Thanh Sang bị ảnh hưởng nhiều bởi Út Trà Ôn, từ cách sắp chữ, đưa hơi, nói chung là rất chân phương và hoa lá. Thế nhưng, Thanh Sang được trời phú cho một giọng ca rất riêng, cùng với sự phấn đấu không ngừng, Thanh Sang đã tạo được nét riêng cho mình. Cũng như các nghệ sĩ thành danh thế hệ vàng của sân khấu cải lương, giọng ca của Thanh Sang không nhầm lẫn với ai được, không cần nhìn, chỉ cần nghe cất hơi là người mộ điệu biết ngay đó là Thanh Sang.
            Giọng Thanh Sang trầm, buồn man mác, một cái buồn mà người nghe không cảm thấy bị ngột mà là bị lây từ từ, để rồi càng nghe càng thấy thấm, mà thấm từ từ, nói chung là buồn, buồn lắm. Đây là một điểm đáng chú ý nhất trong giọng ca Thanh Sang, mà thiết nghĩ trong giới nam nghệ sĩ, chỉ có Thanh Sang mới được trời phú cho một giọng ca đạt đến “độ sầu” như vậy. Nghe Thanh Sang ca vọng cổ ta dần cảm được cái gọi là “trời sầu đất thảm”.
            Nếu nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan được mệnh danh là”Sầu Nữ”, thì xin tặng cho Thanh Sang hai chữ: “Sầu nam”. Sầu nam ở đây không có nghĩa là Thanh Sang chuyên đóng vai bi, vai sầu, mà là giọng ca của Thanh Sang cũng giống như giọng ca Út Bạch Lan, dù rằng một nam một nữ, nhưng cả hai giọng ca đều có một “ma lực” gieo rắc u sầu để người nghe không sầu theo cũng không được.
            Thanh Sang không ca lẻ vọng cổ nhiều, nhưng đã ca thì ca lấy chắc. Chúng ta chỉ cần nghe lại một số bài cũng đủ thấy được độ sầu của giọng ca Thanh Sang: Mồ em Phượng (Viễn Châu), Nhớ mẹ hiền (Viễn Châu), Người đánh đàn trên bắc Mỹ Thuận (Viễn Châu).
            Năm 2001, Thanh Sang bị bệnh nặng tưởng không qua khỏi, sau đó phải vắng bóng trên sân khấu sáu bảy năm trời. Đến năm 2007, được bạn bè và đồng nghiệp cổ vũ, giúp đỡ, Thanh Sang đã tổ chức live show mang tên: “Năm mươi năm một tình yêu nghệ thuật” tại Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, do Cải lương chi bảo Bạch Tuyết làm đạo diễn. Lần “tái xuất giang hồ này” của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn càng khẳng định tính nghiêm túc trong nghề nghiệp của Thanh Sang. Được biết, khi ấy dù mọi người lo lắng sức khỏe không cho phép ông hát được trọn vẹn trên sân khấu, nhưng ông kiên quyết không hát nhép, và tuyên bố ca trực tiếp thì dù có chết trên sân khấu cũng được.
            Ôi đáng kính thay một tấm lòng vì nghệ thuật! Nếu tất cả nghệ sĩ đều có một tấm lòng như thế thì cải lương chắc hẳn sẽ không bị cho là khủng hoảng như bây giờ, bởi như không ít người thường nói, không phải khán giả bỏ cải lương, mà có nhiều nghệ sĩ đang bỏ và đang giết lần mòn cải lương vậy.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120929-thanh-sang-mot-giong-ca-%E2%80%9Ctroi-sau-dat-tham%E2%80%9D

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 28/04/2017, 10:18:15
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và Giải Thanh Tâm 1961

Vào thời kỳ hoàng kim của cải lương, nhiều gánh hát lớn ra đời phục vụ khán giả sân khấu, nên khi nghe nói có phát giải thì rất dễ gây sự chú ý theo dõi của nhiều người, nhưng giải Thanh Tâm 1961 đã gây bất ngờ cho giới hâm mộ cải lương, với khán giả và đặc biệt là những người theo dõi hoạt động của giải Thanh Tâm của thời bấy giờ. Do bởi giải chỉ phát cho mỗi mình nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa, đào chánh của đoàn Thủ Đô, thay vì một nam một nữ như trong điều lệ.

(http://i.imgur.com/PfKMj6j.jpg)
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa, huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1961

CŨNG NHƯ năm trước đó giải đã phát Ngọc Giàu và Bích Sơn, tức hai nữ chứ không có nam. Như vậy cũng sai điều lệ, do đó gây thắc mắc, xôn xao một dạo cho những người đoán mò. Chỉ có giải Thanh Tâm 1959 là đi đúng, vì năm đó phát cho nữ nghệ sĩ Lan Chi và nam nghệ sĩ Hùng Minh. Và giải Thanh Tâm 1961 này ban tuyển chọn một lần nữa đã không đi đúng điều lệ. Những riêng nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa thì cô rất vinh dự vậy.

Đi hát từ năm 14 tuổi
            Thanh Thanh Hoa sinh năm 1943, gốc ở Cai Lậy, Mỹ Tho, bắt đầu đi hát năm 14 tuổi, nhờ người cô gởi cho bà Bầu Thơ vào làm đào con ở gánh Thanh Minh, và được đặt nghệ danh là Thanh Hoa để học nghề chứ chưa có lương. Được khoảng hơn một năm thì có sự thương lượng ngầm giữa Bầu Cang (bầu gánh Tiếng Chuông) và thân phụ cô, nên sau đó cô về đoàn này với giao kèo đàng hoàng: Lương suất hát 50 đồng, cộng với 5 ngàn đồng tiền giao kèo.
            Gặp lúc đào chánh Kim Nương đấu kiếm bị tai nạn nghề nghiệp nghỉ hát nên Thanh Hoa được đóng thế vai chánh, coi như nghiệp cầm ca bắt đầu đi lên. Đến năm 1959 Thanh Hoa về đoàn Hương Hoa của Bầu Sinh (chung đoàn với nghệ sĩ Nam Hùng chồng của cô sau này). Ở đoàn Hương Hoa được một năm, cô lại đi gánh Kim Hoàng – Như Mai trước khi về đoàn Thủ Đô năm 1961, và sự nghiệp rạng rỡ trên sân khấu này.
            Ở sân khấu đoàn Thủ Đô cô đổi nghệ danh là Thanh Thanh Hoa. Cô về đoàn Thủ Đô lúc mới thành lập, tập dượt tuồng “Tiếng Trống Sang Canh” của Thu An để khai trương bảng hiệu. Thanh Thanh Hoa đóng vai Tuyết Vân (đào độc), trong vở tuồng nói trên cô ca hai câu vọng cổ (câu 4 và 6). Với làn hơi ca khan, không mùi, nhưng được cái là kỹ thuật ca rất điêu luyện và chắc nhịp. Riêng về bài bản Bắc thì Thanh Thanh Hoa ca rất “nghề” như Xuân Tình lớp chót hoặc Xàng Xê lớp 1 ca chung với Út Trà Ôn.

Đoạt giải Thanh Tâm năm 1961
            Gần cuối năm Thanh Thanh Hoa được giao cho vai Cát Dung Phương Tử trong vở hát “Cát Dung Phương Tử”. Với vai này Thanh Thanh Hoa đoạt giải Thanh Tâm 1961. Và việc phát giải trong điều kiện tốt đẹp nào? Tôi sẽ trình bày tiếp sau đây, mời quí vị theo dõi…
            Do Thanh Thanh Hoa đang cộng tác cho đoàn Thủ Đô, nên việc tổ chức phát giải Thanh Tâm 1961, ông Trần Tấn Quốc đã đỡ lo nhiều bởi chủ nhân đoàn Thủ Đô là ông Ba Bản, một nhà tư bản ở Sài Gòn thời bấy giờ, ông làm bầu gánh hát là do tiền dư bạc để, thích mà làm chớ phải là nghề nghiệp chi đâu.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/thanh-thanh-hoa-nmai-12112011075254.html/thanhthanhhoa2150.jpg/image)
Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa

            Ông Ba Bản đã bỏ tiền ra cho nghệ thuật cải lương phát triển, thuê rạp chiếu bóng Thanh Bình suốt hai năm liền cho cải lương hoạt động. Do vậy mà khi đào chánh đoàn hát của mình được giải Thanh Tâm, thì ông chấp thuận ngay sự yêu cầu của ông Trần Tấn Quốc là cho mượn rạp Thanh Bình để làm lễ phát giải mà không phải trả tiền rạp như năm vừa qua ở rạp Hưng Đạo.
            Nhờ không phải trả tiền rạp lại còn có thêm nghệ sĩ tên tuổi ủng hộ, những cô đào trúng giải các năm vừa qua trong đó có Thanh Nga góp mặt trong buổi lễ, nên buổi hát phát giải vé bán không còn chỗ trống, khiến cho ông Quốc mừng vui ra mặt, như trúng số nho nhỏ vậy. Dĩ nhiên năm đó ban tuyển chọn được ông Quốc mời đi đãi đằng, ăn cơm Tàu ở tửu lầu trong Chợ Lớn, và nghe nói mỗi vị đều có bao thơ lì xì tiền cà phê gọi là “thông cảm” nên ai nấy đều vui.
            Con số ban tuyển chọn Giải Thanh Tâm 1961 lên đến 18 thành viên: Bà Phùng Há (1 nghệ sĩ kỳ cựu); Các soạn giả Điêu Huyền, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu, Bạch Diệp, Tứ Lang (6 soạn giả); Và 11 ký giả kịch trường: Ngọc Linh, Thiên Hương, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Hoài Ngọc, Việt Định Phương, Sĩ Trung, Bạch Tùng Hương, Ngọc Đỉnh và ông Trần Tấn Quốc. Năm này cạnh ban tuyển chọn còn có thêm ban cố vấn, và các vị sau đây được đề cử: Nghệ sĩ Bảy Nhiêu, Năm Châu, Duy Lân.
            Sau ngày lãnh giải Thanh Tâm 1961 Thanh Thanh Hoa như một ngôi sao sáng rực và vẫn hát cho đoàn Thủ Đô, bởi ở đoàn này thì tên tuổi ngày một sáng chói thêm, mà tiền lương thì cũng không có đoàn nào cao như đoàn Thủ Đô lúc ấy. Thời gian sau thì Thanh Thanh Hoa kết hôn với nghệ sĩ Nam Hùng một kép độc khá nổi tiếng ở đoàn Thanh Minh. Năm 1969 Nam Hùng từng theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp.
            Con người ta bôn ba gì cũng không qua thời vận, Thanh Thanh Hoa đã có bao nhiêu nơi dạm hỏi nhưng nàng đều từ khước, để rốt cuộc gặp Nam Hùng, và từ ấy cho đến nhiều năm sau họ như chim liền cánh, cây liền cành. Có ai bàn đến cái duyên kỳ ngộ của Nam Hùng – Thanh Thanh Hoa thì Nam Hùng cười bảo: “Tụi này thề sống với nhau cho tới ngày răng long đầu bạc mà, và nhờ lời thề đó mà Thanh Thanh Hoa mới ưng tôi đó chớ”.
            Đôi vợ chồng nghệ thuật và ngoài đời này sống hạnh phúc trong nhiều năm. Nhưng rồi sau 1975 trong lúc không còn hát xướng bao nhiêu thì họ chia tay nhau. Không nghe thấy Thanh Thanh Hoa có chấp nối với ai, cũng không thấy hát ở đâu hết, có lẽ đã chuyển nghề. Riêng kép Nam Hùng thì về với đào trẻ Tô Kim Hồng, cả hai cũng không còn hát xướng gì nữa, mà chuyển nghề mở tiệm “Phở Nam Hùng” ở đường Nguyễn Duy Dương gần Ngã Bảy Sài Gòn.
            Cách đây hai năm Má Bảy Phùng Há về với Tổ nghiệp cải lương, thì vài tuần sau nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa cũng vĩnh viễn ra đi ở tuổi 66.
            Giới cải lương nói rằng Thanh Thanh Hoa được Má Bảy rủ đi theo bà, thầy trò cùng về bên kia thế giới hát tuồng cổ cho Tổ nghiệp coi.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/thanh-thanh-hoa-nmai-12112011075254.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 01/05/2017, 09:40:23
“Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương

Thập niên 1960 lúc thịnh thời của cải lương, đào kép nghệ sĩ đêm nào cũng lên sân khấu, và ngày Chủ Nhựt lại có thêm xuất hát ban ngày lúc 3 giờ chiều, nên đời sống giới cải lương thời này rất thoải mái. Trong khi đó bên tân nhạc thì lại khó sống.

(http://i2.wp.com/ilovesaigon.net/wp-content/uploads/2016/11/Tam-dan_and_Phuong-dung.jpg?resize=696%2C522)
Danh ca Phương Dung và Tâm Đan

PHÍA BÊN tân nhạc phải một, hai tuần, có khi cả tháng mới tổ chức đại nhạc hội một lần thì người ca sĩ sống thế nào được chớ! Do đó mà có thời kỳ những ca sĩ tân nhạc đã âm thầm gia nhập làng cải lương, và trong số ấy có cả nhạn trắng Gò Công Phương Dung.
            Có lẽ thấy Hùng Cường bước sang cải lương đã thành công mỹ mãn, nên rất nhiều ca sĩ tân nhạc đã tìm đến các lò cổ nhạc để học ca, học nhịp với hy vọng sẽ được trở thành nghệ sĩ đi xe hơi như Hùng Cường. Do đó mà vào thời ấy những lò đào tạo cổ nhạc đã tiếp nhận khá nhiều học trò vốn là ca sĩ tân nhạc đến thọ giáo (Trong dân gian người ta gọi các lớp dạy cổ nhạc là “lò”).
            Lúc bấy giờ chỉ nội ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 20 lò cổ nhạc, đó là chưa kể ở các tỉnh có rất nhiều nơi dạy và tỉnh nào cũng có. Một trong những lò cổ nhạc ở Sài Gòn được nhiều ca sĩ tân nhạc đến thọ giáo, người ta phải kể là lò Út Trong.
            Do bởi nhiều năm trước đó nhạc sĩ Út Trong từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu cho đến khi trở thành ngôi sao sân khấu. Nữ ca sĩ tân nhạc Thanh Tuyền cũng từng có thời gian đến với lò Út Trong để học ca vọng cổ.
            Ngoài ra còn có những lò của các nhạc sĩ: Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v… cũng đều có ca sĩ tân nhạc đến học thời gian dài hoặc ngắn. Thế nhưng, đa số học viên có gốc từ tân nhạc đã thất vọng bởi nhiều lý do, mà trong đó lý do chính là họ không có giọng ca vọng cổ trời cho, nói rõ hơn là làn hơi ca không mùi, không thu hút được người nghe, thành thử ra đa số đã bỏ cuộc.
            Theo một số người từng tham gia đờn ca tài tử lúc còn nhỏ, thì họ có thêm một nhận xét rằng, ngoài làn hơi ca vọng cổ hay, mùi, còn phải có tinh thần đam mê cổ nhạc thì mới được, tức là cổ nhạc đã thâm nhập vào trong máu trong tim từ thuở bé thì mới đủ yếu tố để thành công ở địa hạt cải lương.
            Nói theo vô vi thì phải có căn nghiệp với cổ nhạc, với cải lương thì mới được gia nhập, chớ còn từ nhỏ đã không thích âm điệu của cây đờn kìm, đờn cò, hay cây lục huyền cầm, mà lại đi chơi cây đàn mandoline, dương cầm, cùng những nhạc cụ của tân nhạc đến rành rẽ trở thành ca sĩ tân nhạc. Rồi giờ đây vì cuộc sống bấp bênh mới ngả sang cổ nhạc hát cải lương thì rất khó mà thành công, như trường hợp ca sĩ Phương Dung.
            Có điều là trong giới tân nhạc cũng như khán giả của cả hai môn tân cổ hầu như phần lớn người ta đều tưởng rằng cô ca sĩ gốc ở biển Tân Thành, Gò Công chỉ biết ca tân nhạc mà thôi, họ đâu có ngờ rằng Phương Dung đã biết ca vọng cổ trước khi nổi danh bên tân nhạc, và từng hát cải lương đảm trách vai trò đào thương của một đoàn hát lớn.
            Vậy chớ Phương Dung học cổ nhạc bao giờ, hát cải lương trên sân khấu nào, vai trò và tuồng gì? Tôi xin trình bày tiếp sau đây. Mời quí vị theo dõi…

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html/phuong-dung-1960s/image)
Phương Dung, thập niên 1960

            Người ta nói nếu như một Hùng Cường từ tân nhạc bước qua cải lương thành công, đã là động lực cho nhiều ca sĩ tân nhạc nhảy vào địa hạt cổ nhạc. Và cũng một Phương Dung thất bại ở lãnh vực cải lương đã làm chồn chơn bao nhiêu người khác, khiến họ e ngại đã không dám nhảy vào cải lương.
            Nói về ca sĩ Phương Dung thì khoảng năm 1962 người ta chưa biết cô nàng là ai. Cô đến tòa soạn của một tờ nhựt báo đề nghị ca tân nhạc cho các “chú” nghe… chơi. Và lúc ấy anh chàng thi sĩ Kiên Giang nhiều mơ mộng, tức ký giả Hà Huy Hà đã gọi Phương Dung là “con nhạn trắng Gò Công” trên mặt báo từ đó, và đã trở thành biệt danh cho sau này.
            Rồi Phương Dung đi vào làng tân nhạc ca hát ở các vũ trường, các phòng trà, lần lần nổi danh được mời ca hát ở nhiều đại nhạc hội, ở đài phát thanh. Tuy ca hát ở nhiều nơi, nhưng hằng đêm Phương Dung vẫn ca hát ở vũ trường và phòng trà, vì những nơi này là miếng đất mầu mỡ và thường trực của các ca sĩ tài danh ở Sài Gòn.
            Nhưng rồi, thời gian sau có lẽ các phòng trà chuyển hướng làm ăn, đưa loại nhạc kích động vào chương trình hằng đêm có vẻ hợp thời hơn. Vả lại lúc ấy nhiều ca sĩ trẻ tấn lên sẵn sàng đi hát cho các phòng trà, vũ trường với tiền thù lao tượng trưng, hoặc là hát mà không nhận tiền, có nghĩa là phòng trà khỏi phải trả đồng nào hết. Hơn nữa thành phần hát “chùa” này lại dẫn theo bạn bè khá đông ngồi chật bàn.
            Đã không phải trả tiền cho ca sĩ mà lại thêm nhiều khách thì phòng trà nào lại không chọn làm ăn kiểu này, do đó mà Phương Dung và những ca sĩ khác bị mất việc làm, giảm bớt sô. Thật ra thì dù bị bớt sô hát cũng có thể kiếm sống được, nhưng không thể khá bằng nghệ sĩ cải lương, chỉ thời gian ngắn là ký giao kèo, đi xe hơi. Do đó mà con nhạn trắng Gò Công Phương Dung dù đã nổi danh bên tân nhạc, đã có lúc bay sang đậu cành cây cải lương.
            Chuyện nhạn trắng Gò Công đi hát cải lương rất hiếm người biết, nói ra có thể nhiều người sẽ không tin. Nhưng đó lại là sự thật, mà nếu như không phải là người theo dõi hoạt động cổ nhạc cải lương từ lâu năm thì không thể nắm vững vấn đề.
            Có lẽ Phương Dung cũng không muốn thiên hạ biết mình từng là đào cải lương chăng? Hầu như cô ca sĩ chẳng tiết lộ vấn đề ấy với ai từ lúc nổi tiếng cho đến mấy lúc sau này.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html/phuong-dung-1960s-2/image)
Phương Dung, thập niên 1960

            Số là Phương Dung bước vào làng cải lương, mà cô không phải tìm đến lò cổ nhạc nào để học ca, học nhịp, do bởi trước khi nổi tiếng ở tân nhạc, Phương Dung đã từng học ca vọng cổ từ đầu thập niên 1960, nên khi bước vào làng tân nhạc thì những bản nhạc đầu tiên người ta nghe được trên đài phát thanh Sài Gòn như: Nỗi Buồn Gác Trọ, Những Đồi Hoa Sim… thì hơi hướng tân nhạc của cô ca sĩ này vẫn còn vương quyện hơi ca vọng cổ, nó không dứt khoát, nhưng lại khiến cho người ta cảm thấy một nét ngồ ngộ lý thú vậy.
            Thật ra thì trước khi hát cải lương, Phương Dung đã có sự chuẩn bị dọn đường bằng cách tập sự đóng kịch mà trước đây cô đã thủ vai Lượm trong vở trường kịch Sông Dài của Hà Triều Hoa Phượng, đã từng diễn ở miền Tây. Và đến năm 1965 thì Phương Dung chính thức đi vào làng cải lương, gia nhập đoàn Thống Nhứt của Út Trà Ôn, nhận vai trò đào thương hát tại rạp Hưng Đạo mỗi cát xê lãnh ba ngàn đồng.
            Trong vai Sử Mộng Hoàng gái Mông Cổ, Phương Dung đóng cặp với Út Trà Ôn, người ta thấy chất nghệ thuật già trẻ phân định rõ rệt. Một Út Trà Ôn không che giấu được tuổi trời bên cạnh một Phương Dung quá trẻ và bé bỏng. Không có sự trợ hứng của bạn đồng diễn dù Phương Dung cố gắng cũng khó mà có những pha ca diễn xuất thần.
            Có điều là một ca sĩ từng hát trước hàng trăm, hàng ngàn khán giả của tân nhạc, thành phần trẻ nhiều, họ càng phá, càng làm ồn lên bao nhiêu thì càng gây phấn khích cho người hát bấy nhiêu, càng hứng thú để hát. Song lần đầu tiên đứng trước khán giả cải lương vốn trầm lặng, ca nữ tân nhạc Phương Dung có vẻ hơi ngỡ ngàng khiến cho người coi có cảm giác cô như cá nước mặn vào vùng nước ngọt vậy.
            Mang cảm giác mọi người chú ý đến mình, để ý đến mình từng cử chỉ, động tác tay chân, do đó Phương Dung dù vững vàng với tân nhạc, vẫn không khỏi ngượng ngập khi trình diễn cải lương. Đó là chuyện rất dĩ nhiên của Phương Dung hay của bất cử ca sĩ tân nhạc nào lần đầu tiên làm quen với cải lương.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html/phuong-dung-305/image)
Phương Dung, thập niên 2000

            Trong lúc bộ môn cải lương đang trong thời kỳ hưng thịnh, Phương Dung lên sân khấu với vai trò đào thương sao lại bỏ nghề? Có người cho rằng bởi sau khi đoàn Thống Nhứt diễn tuồng nói trên thì bị rã gánh, Phương Dung mất đất đứng, chán quá nghỉ chơi với cải lương luôn! Cũng có người nói có lẽ do thấy được địa hạt này rất “khó ăn” nếu như giọng ca vọng cổ không được “mùi”, mà Phương Dung thì ngay cả hát tân nhạc có hay thật, nhưng không truyền cảm. Vì yếu tố để trở thành cô đào chánh, được ký giao kèo với món tiền lớn thì làn hơi ca vọng cổ phải ru hồn người ta, phải thu hút khán giả thì mới được.
            Thật ra Phương Dung gia nhập đoàn Thống Nhứt trong tình trạng đoàn này kiệt sức, sắp rã gánh, sống ngày nào hay ngày nấy. Lúc ấy thiên hạ nói phải chi Phương Dung chọn một sân khấu khác thì chắc không đến đỗi bỏ nghề cải lương sớm như vậy. Bởi người ta ví đoàn Thống Nhứt của Út Trà Ôn lúc đó như ông Phán già mà nghệ thuật không có chiều hướng đi lên.
            Cậu Mười cố cầm cự và có sáng kiến mời những người ca sĩ tên tuổi bên phía tân nhạc để cứu vãn tình hình, và đã mời Phương Dung, Tùng Lâm, Việt Ấn vào nhận vai trò trong tuồng, có nghĩa là gia nhập làng cải lương chớ không phải phụ diễn tân nhạc. Những rồi cũng không làm gì hơn được, ba ca sĩ tân nhạc chỉ tham gia hát cải lương được khoảng một tuần thì Út Trà Ôn tuyên bố rã gánh.
            Rõ ràng Phương Dung, Tùng Lâm, Việt Ấn không có số với cải lương vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 2/2012

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: huhu vào 01/05/2017, 10:54:27
Trích dẫn
...
Có điều là một ca sĩ từng hát trước hàng trăm, hàng ngàn khán giả của tân nhạc, thành phần trẻ nhiều, họ càng phá, càng làm ồn lên bao nhiêu thì càng gây phấn khích cho người hát bấy nhiêu, càng hứng thú để hát.
Song lần đầu tiên đứng trước khán giả cải lương vốn trầm lặng, ca nữ tân nhạc Phương Dung có vẻ hơi ngỡ ngàng khiến cho người coi có cảm giác cô như cá nước mặn vào vùng nước ngọt vậy.

 Tác giả dùng tỷ dụ: " Ca sĩ như cá nước mặn" để so sánh với " nghệ sĩ cải lương như cá nước ngọt " thì thật là mới lạ, nhưng lại thú vị và chính xác.
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 03/05/2017, 08:36:08
Hát bội miền Nam và hát bội miền Trung

Hát bội có trước cải lương hằng trăm năm nhưng đâu ai biết rõ từ lúc nào. Đó là lời của nhiều khán giả cao tuổi từng theo dõi và biết qua về hoạt động của hai bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html/classic-opera-3/image)
Một màn hát bội trên sân khấu trong nỗ lực bảo tồn nghệ thuật cổ

Vân Hạc, ban hát bội tiên phong
            Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những xuất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn”, đó là những xuất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách.
            Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc vui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Mãi đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi, và Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng hát thường trực ở Đình Cầu Quan, gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.
            Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chính đến phụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trực của Ban Vân Hạc.
            Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của ban suốt thời gian dài, đó là các nam như nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, yêu nghề nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.
            Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn… tức là ngồi một chỗ chứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không có áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe Radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phục và đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html/classic-opera-in-the-central/image)
Hát bội Bình Định

            Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quí chinh Đông, Tiết Đinh San chinh Tây, Phản Dường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm… người ta vẫn mở Radio nghe tuồng nối tiếp từ hồi nọ đến hồi kia, có nghĩa là một buổi hát chỉ vài đoạn nào đó trong bộ truyện mà thôi.
            Từ đầu thập niên 1960 trở về sau, diễn viên Ban Vân Hạc nhiều người già không còn hát nổi nữa, cũng như đã có những người qua đời.
            Ở trong Nam với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Đinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc.

Hát bội miền Trung
            Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Định”, cả hai môn nghệ thuật đặc thù trên đã một thời được khán giả mến chuộng.
            Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Đồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Định cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng… Thế nhưng, trong thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Định cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.
            Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một. Cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972, phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa đã tổ chức 3 đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và Trung”.
            Đêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Định, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Đêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ miền Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn. Và đêm sau cùng thì nghệ sĩ Bình Định trở lại trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần”. Khán giả trong lúc xem một số người nói rằng hát bội Bình Định thì rất nghề, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội trong Nam.
            Thời điểm 1972 ấy hát bội miền Nam sống không ra sống, chết không ra chết. Vậy hát bội miền Trung – hát bội Bình Định thế nào?
            Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam-Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Định là Long Trọng-Thu An. Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban”, tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì nghệ sĩ Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi”.
            Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng-Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. (Thu An ở đây là đào hát bội Bình Định, chớ không phải soạn giả Thu An).


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html/classic-opera/image)
Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi

Gánh “Tấn Thành Ban”
            Nếu như người ta ngược thời gian trở về thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh.
            Hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ tháng Hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An.
            Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.
            Thời điểm này khán giả đi coi hát bội còn nhiều, đào kép có thể sống với nghề được. Thế nhưng, đến gần cuối thập niên 1950 thì số người coi hát bội ngày một giảm sút. Và theo như nhận định của những người am tường vấn đề thì số khán giả lớn tuổi lần lượt trước sau qua đời, hoặc già yếu không đến rạp được. Còn khán giả trẻ thì phần lớn đã chuyển sang đi coi cải lương, để thưởng thức tuồng tích mới lạ, thay vì coi hát bội chỉ hát đi hát lại mãi những tuồng dựa theo truyện Tàu.
            Những năm hát bội còn thịnh hành thì đào kép đêm hát ngày tập tuồng, dù rằng họ thuộc lòng từng chữ từng câu, từ điệu bộ cho đến đối thoại họ rành như ăn cơm bữa vậy. Thế mà họ lại siêng tập tuồng, họ tập những lớp diễn mà thường hay được thưởng trống chầu và cây quạt giấy kẹp tiền liệng lên sân khấu.
            Theo lời ông bầu gánh Trần Khiêm Cung thì lớp tuồng thường hay được vị cầm chầu đánh trống khen tặng, cũng như quạt giấy được quăng lên nhiều nhứt là lớp Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân trong tuồng San Hậu. Trong tuồng có lớp linh hồn Khương Linh Tá đưa Đổng Kim Lân qua núi. Kim Lân và Linh Tá phò trợ hoàng tử Tề bang đi lánh nạn. Bọn soán ngôi là anh em Tạ Ôn Đình, Lôi Nhước đuổi theo tìm bắt. Khương Linh Tá chặn đường giặc, Kim Lân ôm hoàng tử thoát thân.
            Lớp diễn mà khán giả hồi hộp, tán thưởng nhiều nhứt, cũng như trống chầu đánh liên tục, quạt giấy quăng lên sân khấu không ngớt là lúc Tạ Ôn Đình chém Khương Linh Tá rụng đầu, nhưng khi chúng nhìn thấy Linh Tá mò mẫm tìm kiếm chiếc đầu rơi chụp gắn vào cổ, chúng sợ quá lui binh không dám đuổi theo Đổng Kim Lân. Hồn nghĩa sĩ Khương Linh Tá thương bạn Kim Lân, bèn hóa thành ngọn đèn hồng, đưa đường Kim Lân và hoàng tử qua núi trước khi trời rạng sáng.
            Đây là một trong những nét đặc trưng của sân khấu hát bội, đã đem lại sức suy tưởng phong phú đầy thú vị cho khán giả.
            Hiện nay ở trong nước hát bội vẫn còn. Hằng năm nhân ngày giỗ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt là có diễn tuồng San Hậu ở Lăng Ông Bà Chiểu. Riêng ở hải ngoại thì Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) cũng có đào kép hát bội ngày xưa truyền dạy cho lớp trẻ bộ môn nghệ thuật này.
            Rõ ràng là nghệ thuật không nuôi sống nổi con người chuyên nghiệp. Ai đã làm cho sân khấu cổ truyền sụp đổ như vậy?

“Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?”
            Câu chuyện xảy ra trong làng hát bội. Khoảng đầu thập niên 1970 đoàn hát bội của ông bầu Ba Luông hát tại Lăng Ông Thủy Tướng, thuộc xã Thắng Nhì (Vũng Tàu), và do hát cúng, không bán vé, bà con đi coi đông đảo. Đêm ấy đoàn trình diễn vở tuồng “Triệu Hường Lan Đả Hổ”, có lớp bà mẹ chồng cùng nàng dâu đi xin ăn, sau đó bà mẹ chồng chết dọc đường bỏ lại nàng dâu bơ vơ.
            Trong vai mẹ chồng do đào mụ là bà Tám Ngàn thủ diễn, bà hát mấy câu Nam, bi ai thảm thiết làm khán giả xúc động, họ ném tiền lên ào ạt thưởng cho bà. Hát bội thời xưa có thông lệ khán giả thưởng tiền cho đào kép đang hát bằng cách kẹp tiền vào chiếc quạt giấy liệng lên sân khấu, và diễn viên khi hết lớp tuồng thì lượm tiền, cám ơn xong mới đi vô.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html/classic-opera-2/image)
Một nghệ sĩ chăm chút những phục trang cho nền nghệ thuật e rằng đang mai một

            Thế nhưng, bà Tám Ngàn chưa kịp lấy tiền, mới vừa hát dứt câu Nam chót, thì bà trợn mắt rồi… đi luôn. Cô đào đóng vai nàng dâu kinh hoàng kêu thét lên:
            – Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?
            Khán giả đâu có biết, tưởng lớp tuồng là như vậy, hay quá, nên cứ tiếp tục quăng quạt giấy lên thưởng, cho tới khi cô đào la lên bài hãi:
            – Ông bầu ơi, bà Tám chết rồi nè!
            Mọi người giựt mình trở về thực tại, bàng hoàng trước cái chết thật của một nữ nghệ sĩ già, lẽ ra chỉ làm bộ chết mà thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 4/2012


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vietnamese-classical-theater-in-the-south-and-the-central--04232012111231.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 05/05/2017, 12:19:03
Thầy tuồng bị xem là “tớ tuồng”

Cải lương ngày xưa, dù cho ai có tính cao ngạo đến đâu cũng phải nhìn nhận soạn giả hay người thầy tuồng là linh hồn của một đoàn hát. Thầy tuồng bỏ ra nhiều công phu đôi ba tháng, hoặc năm, sáu tháng và có khi cả năm, để chọn từng câu văn, từng chi tiết phổ biến thành một ca kịch phẩm để cho một nhóm nam nữ nghệ sĩ diễn đạt lại trong vòng ba tiếng đồng hồ, dưới sự theo sát và chỉ dẫn từng cá nhân của người cha đẻ ra soạn phẩm.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-folk-art-87-nm-01042013124340.html/conhacvn.com-305.jpg/image)
Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng,
với Tám Vân – Thanh Nga – Hữu Phước

Cha đẻ của tác phẩm
            Công trình tim óc nhọc nhằn đó không ngoài mục đích làm sống gánh hát, tức nhiên làm sống chủ nhân và tất cả nghệ sĩ trong đoàn, nên ngày xưa vai trò quan yếu của ông thầy tuồng mặc nhiên được đặt để ở hàng đầu, và được sự nể trọng của mọi người trong đoàn hát.
            Cái uy quyền của các cụ soạn giả tiền bối như: Mộc Quán, Nguyễn Công Mạnh, Mười Vảng và kế đó là quý ông Nguyễn Thành Châu, tức nghệ sĩ Năm Châu, ông Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi mà nhứt là ông Hai Trung tự Mộng Vân thì quả thật là tuyệt đối.
            Ông Mộng Vân quê quán ở Bạc Liêu, là bầu gánh hát Mộng Vân kiêm soạn giả, ông được hầu hết người trong giới nể trọng. Rất nhiều kịch bản thời xưa do ông soạn cho nhiều đoàn trình diễn, mỗi khi ông đến thăm đoàn hát nào thì bầu gánh và cả nhóm nghệ sĩ đã đón rước ông thật rình rang, long trọng không kém cuộc đón rước Thần về làng.
            Những lúc ông tập tuồng (dĩ nhiên là tuồng của ông viết) được loan báo trên tấm bảng đen khởi sự tập 9 giờ, sau ba hồi chuông báo hiệu, các nghệ sĩ có tuồng kể cả đào kép chánh đều phải lo chuẩn bị hội tụ đủ mặt trên sân khấu luôn trước giờ ấn định, dù cho là hàng gạo cội trong đoàn mà trễ một vài phút thôi cũng bị cúp lương rồi.
            Còn mấy lúc sau này, tức thập niên 1960 trở về sau, trừ một số rất ít soạn giả tên tuổi, chớ phần nhiều thì vai trò của soạn giả không còn được coi như gọi là thầy tuồng nữa, mặc nhiên đã bị xuống cấp, bị một số đào kép chánh đè xuống hàng thứ yếu. Vai tuồng nào họ không thích, họ ngang nhiên quăng trả lại cho thầy tuồng ngay bữa ráp đầu tiên, không thì họ làm áp lực với bầu gánh, rồi bầu gánh áp lực lại thầy tuồng phải sửa vai tuồng lại theo ý muốn của họ. Như vậy thầy tuồng đã trở thành “tôi tớ” của đào kép chánh rồi!
            Còn nói đến chuyện tập tuồng mỗi buổi sáng thì thầy tuồng phải đến sân khấu trước hơn ai hết, và đào kép chánh phần đông đến trễ hơn ai hết, bao nhiêu người có mặt buộc lòng phải lóng nhóng ngồi chờ họ. Chỉ trừ một số ít như trên đã nói như Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Yên Ba, Loan Thảo, Mộc Linh là còn được đào kép chánh nể nang thôi, như soạn giả Hoa Phượng thì không đào kép chánh nào dám ra mặt phản đối.

Soạn giả Hoa Phượng
            Có lần tôi thấy một buổi trao vai tuồng cho các nghệ sĩ có vài trò mà trong đó có kép chánh Hùng Cường, một nghệ sĩ gạo cội, thì Hoa Phượng tay cầm cuốn tuồng, tay kia vừa vỗ lên vừa nói: “Tuồng nầy đã kiểm duyệt rồi, các anh chị em không được sửa một chữ, biết không? Nếu đồng ý thì nhận, bằng không thì trả lại ngay!” Rồi ông cầm cuốn tuồng đi đi lại lại không nói thêm lời nào nữa, cả sân khấu cũng lặng yên. Độ vài phút không thấy ai hó hé gì, ông mới vui vẻ trao vai tuồng cho từng người và gương mặt người nào cũng hân hoan.
            Soạn giả Hoa Phượng liên danh với Hà Triều (Hà Triều – Hoa Phượng) từng soạn các tuồng cải lương nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Khi Hoa Anh Đào Nở… Hoa Phượng cũng từng hợp soạn với soạn giả Ngọc Điệp cho ra đời vở tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận 9. Thành tích như Hoa Phượng thì nghệ sĩ nể trọng là lẽ đương nhiên, ông mới đúng là “thầy tuồng”, chớ nhiều soạn giả khác thì thuộc về “tớ tuồng” thôi!


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-folk-art-87-nm-01042013124340.html/con-gai-chi-hang-250.jpg/image)
Từ trái sang: Thanh Nga – Hữu Phước – Thành Được
trong vở Con Gái Chị Hằng

Gian nan thầy tuồng
            Thời gian cải lương còn hoạt động hầu như lúc nào cũng nghe nói thiếu tuồng mới, vậy mà có thiếu thật hay không chớ! Đây là sự thật của vấn đề mà soạn giả cải lương phải chấp nhận do bởi họ yêu nghề viết tuồng.
            Khi còn nằm trong bản thảo, kịch bản văn học sân khấu cải lương chưa đi trọn cái kiếp, có nghĩa chưa thể được gọi là tuồng, mà phải được dàn dựng, phải được diễn trên sân khấu thì mới gọi là tuồng. Nói một cách khác là nhân vật do soạn giả tạo thành, được đặt tên phải thoát ra khỏi những dòng chữ trên giấy, nói năng ca hát… chừng ấy mới gọi là tuồng. Do đó không thể biết được tuồng hay, dở khi nó còn trong giấy.
            Đã không ít những tuồng khi viết xong, đã chịu nằm chết trong học tủ, trong ngăn kéo của soạn giả cả chục năm, có khi suốt cả đời chẳng ai ngó tới. Những nhân vật mà soạn giả đã lao tâm, khổ trí tạo ra đã không có cơ hội chào đời, không có dịp xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu. Tại sao vậy? Tại sao các đoàn hát than thiếu tuồng, mà tuồng soạn giả viết xong phải nằm một chỗ chờ chết?
            Sau đây là tâm sự của một soạn giả mà người ta nêu lên, coi như một câu trả lời: “Mình đã chán cái cảnh mang kịch bản đi chào hàng lắm rồi! Đến các đoàn hát lớn thì đã có soạn giả thường trực đầy uy thế trong đoàn “trấn ải”. Len lỏi đến các đoàn hát nhỏ thì đa số chỉ thu băng thu đài, chép lại rồi phân role đem ra diễn, chả tốn hao gì. Đến phòng văn nghệ các đài thì càng lắm gian nan. Muốn các anh các chị chiếu cố đến mình cũng cực lắm!”
            Trên thực tế cho thấy nhiều đoàn cứ lôi tuồng cũ, mấy mươi năm về trước, đem sửa chữa, đánh bóng lại, rồi trình diễn với một tựa tuồng mới. Trong khi đó biết bao nhiêu vở hát viết xong phải nằm chờ.
            Từ nhiều năm nay cải lương xuống dốc thê thảm, gần như tê liệt hoàn toàn, và điều đó ai cũng biết. Nhưng tìm cách nào để sống trở lại thì vẫn chưa có giải pháp. Nhưng hễ có ai chê bai sân khấu thì y như rằng, người ta sẽ đổ lỗi cho soạn giả.
            Thời kỳ cải lương thịnh hành, người làm nghệ thuật sân khấu kiếm ăn được, vậy mà các soạn giả phải trải qua 6 cái “sợ”. Do đó mà khi cải lương ngất ngư, nói theo soạn giả Yên Lang là như cái “thi hài biết thở”, thì thử hỏi có thầy tuồng nào hăng hái viết kịch bản. Vậy 6 cái sợ ấy là gì?
            Đầu tiên kịch bản đưa vào đoàn hát, soạn giả phải sợ bầu gánh trước nhất, kịch bản dù hay dù dở mà ông hoặc bà bầu nhà ta lắc đầu hay ngâm tôm ở đó nghiên cứu thì kể như dẹp. Kế đến là sợ các diễn viên chánh có vai không vừa ý là bắt đầu chê kịch bản này nọ, kế tiếp đó là sợ đạo diễn chưa bằng lòng kịch bản, rồi đề nghị sửa tới sửa lui mãi, tinh thần soạn giả cũng đủ bèo nhèo như cái mền rách rồi. Muốn vượt khỏi ba điều sợ này thì phải chịu mẻ tiền bản quyền.
            Sau khi kịch bản được thông qua cho đào kép tập dượt, soạn giả lại còn phải trải qua ba điều sợ nữa. Thứ nhất là sợ khán giả xem không đông thì mọi việc đều đổ trút vào soạn giả, cho rằng tuồng không hay, tuồng không ăn khách. Thứ nhì là sợ các đồng nghiệp trong cái thế chen lấn mần ăn khó khăn sẽ có đủ trò làm người viết tuồng không yên tâm được. Thứ ba là sợ những kẻ tự cho mình cái quyền phê phán rồi nhận xét, tạo dư luận theo cảm tính cá nhân, khoác lên bằng thứ lập luận chê khen cũng bằng tình cảm riêng tư.
            Chỉ mới có 6 cái sợ đó cũng đã làm giảm sút lòng tự tin tự hào của soạn giả rồi, còn nói chi đến trọng trách cao cả nữa chứ!


NGÀNH MAI
Tháng 1/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-folk-art-87-nm-01042013124340.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 08/05/2017, 14:59:12
Ông Bầu Xuân và đoàn Dạ Lý Hương

Có những người mà trong cuộc đời họ không hề nghĩ đến nghề ca hát, cũng không hề đi coi cải lương, vậy mà về sau họ lại là những người có công lớn đối với cải lương, đóng góp một cách thiết thực cho bộ môn nghệ thuật sân khấu. Do tình thế đưa đẩy họ đứng ra làm bầu gánh cải lương, mà lại là đoàn hát lớn, danh tiếng lẫy lừng, và ông Bầu Xuân là một trong những nhân vật ấy.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/bau-xuan-and-da-ly-huong-nm-03182013095229.html/gal_103190_50f97f3d94c5f-305.jpg/image)
Bìa đĩa cải lương Yêu Người Điên, soạn giả Thiếu Lĩnh, đoàn cải lương Dạ Lý Hương

Vượt qua khó khăn
            Về tiểu sử của Bầu Xuân thì người ta được biết ông là người sinh trưởng ở Bình Trị Đông gần Chợ Lớn, thuở nhỏ học ở trường Phú Lâm, nhà nghèo vừa đi học vừa đội bánh bò đi bán. Rồi thì thời gian sau thân phụ ông kinh doanh dầu ở Chợ Lớn trở nên phát đạt nên đã gởi Bầu Xuân sang Hồng Kông học chữ Anh và chữ Trung Hoa đến hết trình độ trung học. Năm 24 tuổi (1958) Bầu Xuân trở về nước được cha cho theo tàu chở hàng buôn đường Sài Gòn, Nam Vang. Hai năm sau ông trở về Sài Gòn thành lập công ty xuất nhập cảng Nam Hiệp Công Thương ở đường Thái Lập Thành, sau dời về đường Nguyễn Công Trứ. Đồng thời ông cũng là nhà thầu xây dựng và chủ nhân hãng giấy Kiss Me.
            Hãng thầu của Bầu Xuân có một nhà kho trên mảnh đất một mẫu ở Tham Lương, ngang hãng dệt Vinatexco. Lúc bấy giờ Bầu Hiếu của đoàn Hoa Thủy Tiên (gia đình vốn quen biết với Bầu Xuân) gặp nguy nan vì đoàn Hoa Thủy Tiên rã gánh tại Bà Quẹo. Bầu Hiếu năn nỉ Bầu Xuân cho anh chị em đoàn hát dọn vào nhà kho ở tạm. Bầu Xuân bằng lòng và còn cung cấp gạo, tiền để nghệ sĩ sống tạm qua ngày.
            Mấy tháng sau, soạn giả Bạch Diệp, Minh Nguyên của đoàn gặp Bầu Xuân đề nghị ông bỏ ra số tiền lập lại đoàn hát, để anh chị em nghệ sĩ có dịp hành nghề sinh sống, tốt hơn là cứ nuôi mãi thì biết bao nhiêu tiền cho đủ. Bầu Xuân bằng lòng và bắt đầu làm bầu cải lương từ tháng 6 năm 1962. Trước tiên ông bỏ ra 300 ngàn đồng thành lập đoàn Hoa Mùa Xuân, khai trương vở “Tiếng Chuông Chùa Xá Lợi” của Bạch Diệp, Minh Nguyên tại rạp Thuận Hóa, Sóc Trăng. Đoàn lưu diễn lần về Sài Gòn qua Vĩnh Long, Mỹ Tho đều thất bại, hết vốn 300 ngàn đồng. Bầu Xuân làm lại đoàn Hoa Mùa Xuân đợt mới với Tấn Tài, Như Ngọc diễn vở Lòng Mẹ của Thiếu Linh và rồi cũng thất bại luôn lần thứ nhì.
            Lúc bấy giờ nơi công ty hãng thầu nhiều người phản ứng yêu cầu Bầu Xuân nghỉ không làm đoàn hát nữa, vì như thế ông mất nhiều thì giờ làm thiệt hại cho hãng thầu; hãy xem hai lần thất bại như là đánh bài thua một canh bạc thế thôi.
            Về vấn đề này Bầu Xuân cảm thấy buồn và tự ái. Buồn vì cả đoàn hát anh chị em nghệ sĩ thất nghiệp đang kỳ vọng nơi ông. Tự ái vì ông là người hoạt động thành công nổi tiếng ở thương trường mà không làm thành công được một đoàn hát hay sao? Ông tâm sự với Tư Hiếu, phó giám đốc đoàn như vậy.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/bau-xuan-and-da-ly-huong-nm-03182013095229.html/imagecl-250.jpg/image)
Poster quảng cáo vở cải lương Nửa Đời Hương Phấn với Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan

Đổi mới
            Sau hai lần làm bầu cải lương đã có kinh nghiệm, Bầu Xuân có ý muốn đổi mới sân khấu cải lương nên đã mời nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Thiếu Linh họp bàn, đi đến quyết định thành lập đoàn Dạ Lý Hương. Bàn cách xóa bỏ lề lối phong kiến lâu đời ở đoàn hát, người nghệ sĩ được tôn trọng đúng mức và không phải khúm núm đối với bầu. Tất cả thành viên đoàn hát đều ký hợp đồng với số tiền tùy theo tên tuổi của nghệ sĩ và sự thỏa thuận của đôi bên. Khi mãn hợp đồng được tặng luôn số tiền, còn bỏ đoàn ngang thì bồi thường đúng số tiền hợp đồng đã ký; bỏ ngang đêm hát phải bồi thường cả xuất hát.
            Bệnh nghỉ phải có giấy bác sĩ chứng nhận. Tập tuồng đến trễ phải phạt một cữ nước uống cho tất cả anh em. Biểu diễn cương ngoài kịch bản, cợt đùa lố bịch bị khán giả chê nghệ thuật của đoàn thì diễn viên phải đến bồi danh dự thương mại cho bảng hiệu. Về ăn ở thì đoàn hát lo hết cho nghệ sĩ. Mỗi đêm hễ mở màn hát là phát lương đủ chớ không có vấn đề phát phân nửa hoặc một phần tư lương, v.v… Tóm lại Bầu Xuân đã làm cuộc cách mạng sân khấu, và đó cũng là yếu tố đem lại sự thành công cho đoàn Dạ Lý Hương sau này.
            Trên cơ sở đó đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân được thành lập với số vốn được bỏ ra ban đầu là 3 triệu đồng. Với một doanh nhân thành đạt như ông, số vốn lớn đó vẫn là “chuyện nhỏ”. Đoàn Dạ Lý Hương ra đời năm 1963 là một đại ban vững mạnh. Giám đốc là Bầu Xuân, phó giám đốc đoàn là ông Nguyễn Văn Hiếu, giám đốc nghệ thuật là nghệ sĩ Ba Vân, đài trưởng là đạo diễn Hoàng Việt. Soạn giả thường trực: Thiếu Linh, Hà Triều, Hoa Phượng. Coi như mãi đến lần thứ ba thành lập đoàn hát Bầu Xuân mới thành công và đoàn Dạ Lý Hương trở thành một trong năm đoàn loại A thời bấy giờ.
            Năm 1964, Dạ Lý Hương cải tiến có mời thêm những nghệ sĩ về đoàn như Út Trà Ôn, Ngọc Bích, Hoàng Giang, Văn Chung, Bạch Tuyết, Hùng Cường. Sau này còn có Viễn Châu về làm soạn giả thường trực. Đoàn cho ra đời những kịch bản xã hội ăn khách như: Tuyết Tình Ca (ông cò Quận 9), Nỗi Buồn Con Gái, Thảm Kịch Tuổi Xanh, Trường Kịch 20 Năm, Lấy Chồng Xứ Lạ…
            Đoàn Dạ Lý Hương oai trùm suốt thời gian gần 5 năm, thì bị cái Tết Mậu Thân, cải lương khủng hoảng, xuống dốc trầm trọng, nhiều đoàn hát rã gánh, đoàn nào còn sống cũng tình trạng ngất ngư, một đêm hát vài ba đêm nghỉ. Dĩ nhiên đoàn Dạ Lý Hương cũng không tránh khỏi tình trạng bấp bênh. Tuy vậy nhờ có vốn nhiều, đoàn cũng sống cầm chừng chớ không cho rã gánh.
            Đến tháng 10-1974 đoàn Dạ Lý Hương diễn vở hát cuối cùng là “Người Thua Cuộc” của soạn giả Nguyên Thảo tại rạp Quốc Thanh có mặt nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Đêm ấy đoàn có 300 khán giả đến xem, Thanh Nga từ chối không lãnh lương. Cô nói vì “khán giả chỉ có 300 người, khán giả ít lắm, nghệ sĩ lãnh lương kỳ quá”… Sau đó đoàn Dạ Lý Hương giải thể sau 12 năm hoạt động.
            Sau 30-4-1975 ông Bầu Xuân thành lập trở lại đoàn Dạ Lý Hương (Tỉnh Sông Bé). Đến năm 1978, Bầu Xuân định dàn dựng vở “Kiều” trên sân khấu của ông và hỏi ý kiến nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu. Năm Châu đã khuyên Bầu Xuân không nên dựng diễn vở “Kiều” vì sẽ gặp chuyện không may, ông nêu trường hợp đoàn Bạch Tuyết Hùng Cường diễn “Kiều” rồi liền sau đó đoàn hát này bi rã gánh. Bầu Xuân có vẻ không tin điều này. Sau này khi nghệ sĩ Năm Châu qua đời, giữa năm 1978, Bầu Xuân nhờ đạo diễn Hoàng Sa dựng vở “Kiều” diễn tại Miễu Quốc Công (Vĩnh Long) khán giả đầy rạp suốt một tuần lễ. Đến đêm chót tại đây, Bầu Xuân bị tai nạn phải đi học tập nơi xa suốt thời gian 3 năm 9 tháng.


NGÀNH MAI
Tháng 3/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/bau-xuan-and-da-ly-huong-nm-03182013095229.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 10/05/2017, 12:58:01
“Nghiệp báo” của người sáng lập giải Thanh Tâm

Người ta có thể nói rằng trong giới cải lương và những người yêu thích bộ môn nghệ thuật sân khấu thời thập niên 1950-1960 nếu không thấy mặt ông Trần Tấn Quốc thì cũng nghe danh cái bút hiệu Thanh Tâm của ông. Do bởi chữ “Thanh Tâm” được đặt tên cho một giải thưởng hằng năm của bộ môn sân khấu cải lương.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/founder-of-thanh-tam-award-nm-04012013151502.html/4d4d025fd6292c83a2fbe2aeebafc29e-305.jpg/image)
Ông Trần Tấn Quốc (phải)

NĂM 1950 khi vừa làm chủ nhiệm tờ báo Tiếng Dội thì ông Trần Tấn Quốc liền mở ngay “Trang Kịch Trường” nói về hoạt động cải lương, để rồi về sau rất nhiều tờ báo cũng theo chân mở trang kịch trường với đường lối gần giống như ông chủ trương.

Suốt cuộc đời dấn thân
            Trước khi nói về hoạt động cùng thành tích đạt được của trang kịch trường trên báo Tiếng Dội, tôi sơ lược qua về tiểu sử ông Quốc, cũng như cơ duyên nào đưa đẩy ông vào nghiệp báo chí để rồi suốt cuộc đời dấn thân vào trong cái nhục vinh của “nghiệp báo” này.
            Ông Trần Tấn Quốc sinh năm 1914 tại Cao Lãnh, học thi đậu bằng Sơ Học (Certificat d’Etudes Primaires). Theo lời ông kể thì ông yêu thích nghề làm báo từ lúc còn ngồi ghế nhà trường. Hai nhà báo mà ông ngưỡng mộ nhứt là: Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, và ông Diệp Văn Kỳ chủ bút tờ nhựt báo Thần Chung.
            Ông Diệp Văn Kỳ là người Huế, thân mẫu là một bà công chúa em gái Vua Thành Thái. Từng du học bên Pháp đậu bằng Cử Nhân Luật, ông Kỳ về nước không chen chân vào đường quan lộ mà chọn nghề làm báo. Là người miền Trung nhưng ông lại lọt vào “hũ nếp” ở đồng bằng sông Cửu Long, (vợ ông Kỳ là bà Lê Thị Hạnh, con của một đại điền chủ giàu có số một ở Cao Lãnh).
            Lúc ông Quốc đang học ở trường tiểu học Cao Lãnh thì ông Diệp Văn Kỳ nhân dịp về thăm quê vợ có đến thăm trường ông. Trước khi ra về, ông Diệp Văn Kỳ nói thẳng đám học sinh:

            “Các em ráng học, để sau này giúp ích cho nước nhà. Chắc thầy các em đã nói cho các em biết tôi là ai hỉ? Có người lại bảo, tại sao tôi không ra làm quan? Nhưng làm quan để mà chi? Khi ta chỉ sung sướng một mình còn bao nhiêu đồng bào ta cực khổ, thì làm quan có ích gì? Tuy nhiên, về sau muốn làm nghề gì, thì lúc còn nhỏ cũng phải ráng học cái đã. Vậy tôi khuyên các em ráng học…”

            Ông Quốc kể lại:

            “Lời khuyên bảo của ông Kỳ thật là ngàn vàng, nhưng thay vì đây càng ráng học để sau này giúp ích cho nước nhà như lời ông khuyên bảo, thì bắt đầu từ đó, tôi muốn… làm báo! Để làm gì? Thật ra tôi chưa biết làm báo để làm gì, điều chắc chắn làm báo để… thành ông chủ bút, như… ông chủ bút Diệp Văn Kỳ”.

            Năm 1930 ở Cao Lãnh có phong trào người dân biểu tình chống nhà cầm quyền thuộc địa Pháp. Ông Quốc mới 17 tuổi tham gia biểu tình bị bắt kêu án 5 năm đày đi Côn Đảo, vì tội “hoạt động phá hoại chống Nhà Nước”. Thọ án 4 năm thì được “phóng thích có điều kiện” về quê nhà ở Cao Lãnh, mỗi tuần phải đi trình diện chính quyền sở tại.
            Về nhà được một thời gian thì ông Trần Tấn Quốc lại bị thêm một tai nạn nữa, do bài cảm tưởng dưới đây gởi đăng báo:

            Lâu lắm rồi, từ ngày được trở về, tôi mới có dịp đi chợ quận chỉ cách nhà tôi một ngàn thước. Tôi đi xem lễ “14 Juillet” nghe nói năm nay được tổ chức lớn lắm theo lịnh của quan chủ quận:
            Trong lúc nhiều người vui vẻ nô đùa với các trò chơi của buổi lễ, riêng tôi cảm thấy buồn thấm thía. Buồn cho đồng bào mình chưa thức tỉnh và tủi cho một dân tộc bị trị đã quên mất cái quá khứ oanh liệt. Ngoài đua thuyền, chạy bộ, kéo dây là những trò biểu diễn thể thao cần ích, đến cạp chảo, đập tĩn, leo cột thoa mỡ bò… là những trò khỉ vô bổ vô duyên không thể chấp nhận.
            Người ta gắn dính một cắc bạc vào đít cái chảo đầy lọ đen rồi treo chảo lên một hàng năm cái. Ai muốn lấy cắc bạc ấy phải dùng răng mà cạp và không được làm rơi đồng tiền xuống đất. Dù lấy được hay không mặt mày người nào người nấy cũng dính đầy lọ chảo, trông không còn là mặt con người. Vậy mà cũng có nhiều người tranh nhau cạp để… giúp vui thiên hạ!
            Một hàng tĩn sáu cái (thứ tĩn đựng nước mắm hồi trước) treo lên cao ngang đầu người, cách khoảng một thước một cái. Trong mỗi tĩn có một cắc bạc. Sáu người đều bịt mắt, mỗi người cầm một khúc cây, đứng xa hàng tĩn bốn thước. Quay tròn bốn vòng thật nhanh rồi tự mình nhắm tìm hàng tĩn mà đập. Tĩn bị đập bể, cắc bạc rớt ra thì lượm lấy. Nhưng không dễ gì! Những đòn đập gió, thiên hạ cười ồ. Người nầy ra sức đập vào… đầu người nọ, đôi khi đến phun máu, thiên hạ cũng… cười…!

            Sau cuộc cách mạng 1789, mỗi năm đến 14 Juillet, nhân dân Pháp kỷ niệm ngày dân chúng nổi dậy phá ngục Bastille, đạp đổ đế quyền chuyên chế bằng tổ chức mít tinh, biểu tình nêu cao tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái: Còn ở nước ta, từ khi Pháp xâm chiếm và thống trị, đa số dân chúng không biết ý nghĩa ngày 14 Juillet ra sao? Bình dân gọi là “Lễ Chánh Chung”, người có học Pháp thì gọi “Lễ 14 Juillet”. Dịp này, mỗi địa phương đều tự động tổ chức những trò vui theo sáng kiến của nhà cầm quyền, trong đó có bày ra nhiều trò vô ý thức, hạ thấp phẩm cách con người, làm tổn thương truyền thống oai hùng của một dân tộc.
            Những đoạn trên là nội dung bài “cảm nghĩ khi xem Lễ 14 Juillet tại Cao Lãnh” ký tên CT (trong giấy tờ hộ tịch ông Quốc tên là Trần Chí Thành) đăng trên một nhật báo ở Sài Gòn. Bài báo này làm cho quan chủ quận T. nổi trận lôi đình khi điều tra biết tôi là tác giả và lúc bị quận đòi hỏi tôi cũng xác nhận như vậy, quan liền áp dụng biện pháp trừng phạt thật nghiêm khắc.
            Kể từ đây, tuyệt đối tôi không được đến chợ và cũng không được đi ra khỏi làng đang cư ngụ bất cứ vì lý do gì; ngoài ra, mỗi ngày phải đến công sở xã Hòa An ký tên vào sổ hiện diện. Cò bót và làng xã trong toàn quận đều được thông báo quyết định của quan đối với tôi để nghiêm chỉnh thi hành.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/tradi-vietn-12-26-2014-12262014121116.html/Thanh-Nga-cailuong-1960.jpg)
Những nữ nghệ sĩ nhận giải Thanh Tâm. Từ trái qua: Thanh Nga - Ngọc Giàu - Lan Chi - Bích Sơn

“Bỏ xứ… đi làm báo”
            Trong cái cảnh bị giam lỏng như thế với nguy biến không biết xảy ra lúc nào, nên một hôm thừa dịp con nước ròng, tối trời, mẹ và em ông Quốc âm thầm bơi xuồng xuôi dòng sông Cửu Long xuống Sa Đéc, đưa ông lên chiếc xe đò sớm nhứt đi Sài Gòn. Lần ra đi này ông Quốc gọi là “bỏ xứ… đi làm báo”.
            Những bước chân đầu tiên đặt lên vùng đất lạ Sài Gòn, thủ phủ của xứ Nam Kỳ nên ông Quốc không sao tránh khỏi những bỡ ngỡ trước cuộc đời mới. Mộng làm báo vẫn đeo đẳng bên mình. Đứng trước thực tế vô vàn khó khăn không giống như những điều mơ ước của cậu học trò năm xưa, khiến ông phải nhiều suy nghĩ để quyết tìm cho mình một chí hướng.
            Nhắc lại những ngày dấn thân ấy, ông kể tiếp:

            Lúc còn đi học, mình tha thiết nghề viết báo bao nhiêu, giờ đây đứng trước thực tế, thấy khó gia nhập làng báo bấy nhiêu. Viết báo chẳng những giỏi Việt văn mà còn phải có một số vốn liếng Pháp văn ở mức nào đó, dầu là một phóng viên đi lượm tin nơi các nhà thương và cò bót. Một anh phóng viên cầm cuốn sổ tay đến bót cảnh sát, thì từ anh Biện đến ông Cò, là những người có quyền cho tin nhà báo, đều là người Pháp; vào nhà thương thì gặp bác sĩ người Pháp, mà dầu bác sĩ người Việt, họ cũng nói tiếng Pháp. Lên Tòa án từ ông chánh án đến công tố viện và luật sư đều dùng tiếng Pháp trong việc hỏi cung, buộc tội và biện hộ.
            Vấn đề mộng và thực đã đặt ra trước mắt tôi. Lúc ở trường, mình viết bài gởi đến báo đăng chơi, hoặc tạo cho mình một cái bút hiệu để “làm tàng với chúng bạn”, bây giờ viết bài đem bán cho nhà báo để lấy tiền sống lại là việc khác.
            Lúc bơ vơ giữa chợ đời với muôn nẻo sáng, tối thì may quá, tôi gặp một giáo sư tư thục, thương tình cám cảnh dẫn về ở với ông, vừa nuôi ăn, vừa cho theo ông vào lớp để học ké với nhóm học sinh có đóng học phí hẳn hòi. Đó là giáo sư sống độc thân chuyên dạy Pháp văn mà tên Đinh Nho Hàng của ông đã khắc sâu vào tâm khảm tôi từ đó.
            Theo ăn ở và học với ông Đinh Nho Hàng hơn một năm, thầy trò rất tương đắc, một hôm có việc riêng ông đi tỉnh. Ở nhà buồn quá, tôi ra bồn binh Sài Gòn ngồi trên băng đá nghĩ chuyện đời và đếm từng chiếc xe hơi chạy qua cho đến khuya. Bỗng có hai người đàn ông tuy còn nhỏ tuổi mà nét phong trần lộ lên khuôn mặt có vẻ dạn dày, với bộ điệu nhanh nhẹn, xề xuống ngồi chung một băng đá với tôi và bắt đầu nói một “thứ tiếng” lạ tai khó hiểu.
            Một người nói:
            – Khứa tứ bị cội múm.
            Người thứ hai chắt lưỡi và mặt đượm ngay nét buồn. Đoạn người này ngó tôi nói với người nọ:
            – Coi khứa ni là khứa ăn bay hay khứa 77?
            Người nọ liếc tôi, rồi nói với người kia:
            – Hừ, khứa nhủ.
            Sáng hôm sau, tôi đem chuyện này thuật lại với một ông cảnh sát truy tầm (Agent de recherche) ở gần nhà giáo sư Đinh Nho Hàng để nhờ ông giải thích.
            Ông ta cười ha hả mà nói:
            – Chú em gặp mấy thằng “ăn hồ” rồi!
            – Nữa, “ăn hồ” là gì?
            – Là bọn móc túi.
            Những tiếng “khứa tứ”, “cội múm”, “khứa nhủ” là tiếng lóng của đám móc túi. Như “khứa” có nghĩa là thằng, hay anh, “khứa tứ” là anh tư, “khứa nhủ” là thằng nhỏ, “cội” là lính, “khứa 77” là lính kín, “múm” là bắt, “ăn bay” là ăn cắp vặt, “ăn hồ” là móc túi v.v…
            Thằng này nói với thằng kia “khứa tứ bị cội múm” có nghĩa là thằng này báo tin cho thằng kia hay “Anh Tư đã bị lính bắt”. Sau khi được ông cảnh sát truy tầm giải thích những tiếng lóng của bọn móc túi, một ý nghĩ nảy sanh trong đầu óc tôi: Viết một phóng sự về bọn móc túi ở Sài Gòn.
            Qua một cuộc vận động và năn nỉ và cũng nhờ ông cảnh sát truy tầm sẵn lòng thương. Kế đó được thầy tôi cho phép, tôi bèn theo bén chân ông cảnh sát trong công tác bài trừ bọn móc túi. Như vậy, trong gần ba tháng, tôi được biết những ổ của bọn bất lương, biết rõ từ cách tổ chức đến hoạt động, từ những tiếng lóng đến mánh lớn “làm ăn” của bọn móc túi Sài Gòn.
            Nghe tôi thuật chuyện, giáo sư Hàng bảo:
            – Anh viết phóng sự đi: Đó là cách mở ngõ cho anh vào làng báo.
            Tôi cắm đầu viết thiên phóng sự “Những hoạt động và mánh lới của bọn móc túi Sài Gòn” rồi tự mang đến bán cho ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm nhựt báo Việt Nam.
            Với tác phẩm đầu tay nầy, tôi được trả bút phí 20 đồng, nhưng nỗi vui mừng lớn nhứt của tôi là sau khi đăng dứt thiên phóng sự vừa nói trên (đăng mỗi ngày và trên một tuần) tôi liền được ông chủ nhiệm nhựt báo Việt Nam cho tôi một chân phóng viên của báo nầy với số lương tháng 30 đồng và chánh thức gia nhập đội ngũ báo chí Sài Gòn từ tháng 6 năm 1936
.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/founder-of-thanh-tam-award-nm-04012013151502.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 12/05/2017, 13:16:51
Ông Trần Tấn Quốc và trang kịch trường trên tờ báo Tiếng Dội

Khởi đầu chỉ làm anh phóng viên đi xe đạp lượm tin hàng ngày gọi là tin local (tin vặt – địa phương) mà có kẻ xấu mồm gọi là tin “xe cán chó”. Tuy vậy với số lương đầu tiên trong nghề cũng có thể sống được để theo đuổi cái “nghiệp báo” hay là “nghiệp chướng” mà khi vào nghề mới thấy.

(http://www.rfa.org/vietnamese/tran-tan-quoc-305.gif/image)
Nhà báo Trần Tấn Quốc

LÚC ẤY mỗi tháng ông Quốc lãnh 30 đồng tiền Đông Dương, gởi về cha mẹ 10 đồng, ăn ở 6 đồng, tiền học lớp đêm 3 đồng, còn lại những 11 đồng để sắm quần áo, xài vặt phủ phê, vì lúc đó chưa biết hút thuốc lá, và chưa quen uống cà phê đen. Hai năm sau ông Quốc về cộng tác với tờ báo khác mang tên Nhựt Báo của ông Nguyễn Bảo Toàn, và những năm kế tiếp làm cho các tờ Công Luận, Điển Tín cùng vài tờ báo nào đó nữa.

Đích thân chăm lo trang kịch trường
            Đến năm 1950 ông Phan Văn Thiết là người bạn cùng quê Cao Lãnh với ông (người ta thường gọi là ông Tòa Thiết, do bởi ông đậu Luật khoa cử nhân từ đầu thập niên 1930, từng làm chánh án, luật sư) nhường tờ Tiếng Dội cho ông Trần Tấn Quốc khai thác với danh nghĩa chủ nhiệm có sự chấp thuận của nhà cầm quyền.
            Với tờ Tiếng Dội của ông Thiết, Trần Tấn Quốc bắt đầu làm chủ báo từ đây. Trong làng báo miền Nam ai cũng biết Trần Tấn Quốc là một ký giả, đồng thời là chủ báo mạnh dạn chủ trương mở riêng biệt một trang kịch trường đầu tiên trên tờ Tiếng Dội, nhằm thúc đẩy sự tiến triển liên tục của ngành sân khấu cải lương.
            Là chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhưng ông Quốc đích thân chăm lo trang kịch trường chớ không giao cho một biên tập viên nào. Lý do vì đây là công việc đòi hỏi người phụ trách phải am tường, phải hiểu biết sâu rộng về cải lương. Nói một cách khác là phải theo dõi liên tục hoạt động sân khấu với một trình độ căn bản về thu thập, chứ không phải hiểu biết cách lơ tơ mơ mà làm được. Ông Quốc đã nghĩ rằng không ai rành rẽ bằng ông trong vấn đề này. Nhưng vì sao mà ông Quốc lại đặt nặng trang kịch trường đến như thế?
            Để trả lời câu hỏi trên, thì đây là lời của nghệ sĩ Năm Châu thường nói với các ký giả kịch trường ở Ngã Tư Quốc Tế:

            “Ở Sài Gòn này có trên 10 rạp cải lương, đêm nào cũng có hát, chưa kể miền Lục Tỉnh từ Mỹ Tho dài xuống Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá… nơi nào cũng có rạp hát và gần như lúc nào cũng có các gánh cải lương lớn, nhỏ trình diễn. Cải lương hoạt động tất nhiên có nhiều tin tức liên quan đến bộ môn nghệ thuật mà đa số người miền Nam ưa thích. Nếu tin lên báo thì không riêng gì khán giả mua báo theo dõi chuyện cải lương, mà rất nhiều thành phần khác có liên hệ làm ăn với nghệ thuật sân khấu, họ cũng cần có tờ báo để nắm bắt tình hình, hầu tính toán công cuộc làm ăn. Ông Quốc chăm lo kỹ lưỡng trang kịch trường là do vấn đề thương mại, chỉ nội người ham mê cải lương mua báo, ông Quốc cũng bỏ tiền nặng túi rồi!

            Lời nhận định của nghệ sĩ lão thành Năm Châu rất thực tế vào thời đó, vì đa số độc giả của Tiếng Dội là những người hâm mộ cải lương.
            Năm 1950 lúc ông Quốc mới làm chủ nhiệm, tờ Tiếng Dội chỉ đăng vài tin hoạt động cải lương nơi trang 2, không nhứt thiết ngày nào trong tuần. Thế rồi dần dần thì ở trang 2 này kịch trường chiếm trọn, nhưng mỗi tuần chỉ có một ngày thứ Năm. Đến 1953 thì mỗi tuần tăng lên hai ngày thứ Tư và thứ Bảy. Tuy vậy vẫn không đáp ứng được số độc giả ham đọc tin tức cải lương, họ muốn đọc mỗi ngày.
            Có người hỏi ông Quốc tại sao không đăng luôn tin tức cải lương mỗi ngày? Ông trả lời: “Mỗi tuần hai ngày mà tôi còn muốn điên cái đầu đây rồi, nếu làm suốt cả tuần chắc tôi phải vô Chợ Quán hay lên Biên Hòa thôi!” (Có hai nhà thương điên: một ở Chợ Quán và một trên Biên Hòa).
            Là người nắm vận mạng tờ Tiếng Dội, ông Trần Tấn Quốc quan niệm tờ báo như món hàng, món hàng ấy phải trình bày thế nào đập vào nhãn quang của người đọc. Có lần vào tháng 6 năm 1954 cô đào Năm Phỉ chết trong lúc đang coi chiếu bóng ở rạp Nam Quang, Chợ Đũi. Tờ Tiếng Dội của ông Quốc đã đăng tin ấy với cái tựa sắp bằng chữ lớn nhứt của nhà in, kéo dài 8 cột đặt trên đầu trang nhứt. Mới nhìn qua có người cho là “chướng quá” và đặt câu hỏi mỉa mai: “Cô Năm Phỉ có phải là một nhân vật quốc tế? Cái chết của cô phải chăng như cái chết của Staline?”
            Nhưng con mắt những ký giả nhà nghề đã thấy rõ dụng tâm của đồng nghiệp Tiếng Dội: Quần chúng miền Nam rất ưa thích cải lương, mà cô Năm Phỉ là thần tượng của tri kỷ mộ điệu muôn phương. Cô Năm đã thu hút được tình cảm của bao nhiêu triệu khán giả ái mộ trên 30 năm nay. Tờ Tiếng Dội đăng lớn tin cô từ trần là có dụng ý làm cho báo bán chạy…
            Lẽ dĩ nhiên ngoài phần hình thức, ông luôn luôn quan tâm đến giá trị nội dung của bài vở trang ngoài cũng như trang trong, vì đó là chính yếu để tờ Tiếng Dội có thế đứng vững vàng trong làng báo.

Thời kỳ vàng son
            Theo nhận xét riêng của tôi thì tờ Tiếng Dội làm ăn khá nhứt là thời kỳ 1953 lúc đoàn Hoa Sen khai trương lần thứ hai tại rạp Nguyễn Văn Hảo, với những máy bay, xe tăng cùng phim ảnh lên sân khấu. Thời kỳ mà đoàn Hoa Sen oai trùm với những tuồng chiến tranh, thì trang kịch trường của tờ Tiếng Dội cũng tràn ngập tin… chiến tranh cải lương. Lúc bấy giờ hàng đêm ông Quốc đi coi tuồng chiến tranh, rồi về viết phóng sự ngoài việc tường thuật cái mới lạ của sân khấu Hoa Sen, còn nói về cảnh chen lấn mua vé, hôm nào cũng vé bán hết từ chiều, đã vô tình quảng cáo thêm cho đoàn Hoa Sen vậy.
            Có điều là thời này vé hát mua trễ là hết, nếu như tuồng hay, nhưng lại không có cái nạn vé chợ đen. Còn mấy lúc sau này, vé hát thường bị ế, ghế trống hơn nửa rạp. Vậy mà muốn có “ghế tốt” khán giả phải mua vé chợ đen mới có. Thế mới ngược đời!
            Khi xưa 1954 trở về trước chưa có nhà phát hành báo chí, ra báo thì tờ nào cũng tự bán lấy, do đó người chủ báo ngoài sự hiểu biết, kinh nghiệm về báo chí, mà còn phải có khả năng về thương mại thì mới dám ra báo. Khi tờ báo đã có con số độc giả rồi như tờ Tiếng Dội thì từ lúc 4, 5 giờ khuya trời chưa sáng, thiên hạ còn ngủ thì ở trước các báo quán đã sinh hoạt náo nhiệt. Người của những sạp báo ở Đô Thành và phụ cận đã có mặt để lấy báo về bán cho kịp buổi sáng trước khi công tư chức vào sở làm việc. Giới thầy chú này có thói quen là trước khi vô sở, họ thường ngồi tiệm cà phê vừa đọc báo vừa nhâm nhi ly cà phê, phì phà điếu thuốc lá.
            Trong thời gian trang kịch trường nói về đoàn Hoa Sen với những tuồng sấm sét: Đoàn Chim Sắt, Mộng Hòa Bình, Nợ Núi Sông… thì tại trước báo quán Tiếng Dội ở đường Lagrandière (đường Gia Long sau này) cảnh giành giựt lấy báo thường diễn ra, do bởi chiếc máy in của báo Tiếng Dội là máy thường, ra báo có hạn, số cung không đủ cho số cầu.
            Lúc đó mấy sạp báo quanh vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có khi mua trễ là hết tờ Tiếng Dội. Còn ở các tỉnh thì dân ghiền cải lương cũng mỗi ngày coi cải lương hàm thụ bằng cách tập trung tại địa điểm bán báo, chờ chiếc xe đò mang báo về, mua tờ Tiếng Dội để đọc bài tường thuật đêm hát của đoàn Hoa Sen.
            Tóm lại là ông Trần Tấn Quốc mở trang kịch trường trên tờ Tiếng Dội đã đưa đến sự tiến triển bộ môn nghệ thuật sân khấu cải lương, thì ngược lại cải lương sân khấu cũng gián tiếp nuôi sống tờ Tiếng Dội. Có nhiều người mua báo thì tờ Tiếng Dội mới sống vững, mới tồn tại, mới có tiền trả lương cho biên tập, cho nhân viên tòa soạn, cho in ấn… Chớ không như bây giờ ở hải ngoại có nhiều tờ báo tốn tiền in ra rồi đem… bỏ ở các chợ. Báo bỏ chồng đống mạnh ai nấy lấy, một tờ cũng được mà mười tờ cũng chẳng sao, có khi hốt cả xấp mang về mà không biết có đọc hay chăng nữa? Khi xưa mà ông Quốc ra báo cái kiểu này thì từ chết tới chết, chớ không phải bị thương đâu!


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/trtanquoc-and-stage-page-04072013141028.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 15/05/2017, 13:10:25
Chuyện kép hát cải lương đóng vai nhà sư

Từ những nhân vật thời xa xưa do trong truyện sách ghi lại, mà người ta hình dung ra cách họ ăn mặc rườm rà, cờ quạt mang đầy mình, cùng binh khí đánh trận để dựng lên sân khấu như: Vua chúa, hoàng hậu, thứ phi, nguyên soái, văn võ bá quan… đã một thời làm say mê khán giả hát bội, và cải lương hồ quảng. Rồi đến khi diễn tuồng xã hội thời cận đại thì sân khấu có Quan Huyện, Quan Tòa, Hội Đồng, phú hộ, nông dân tá điền… và dĩ nhiên nhân vật “nhà sư” cũng lên sân khấu luôn, bởi các thầy cũng là một thành phần trong xã hội.

(http://www.rfa.org/vietnamese/bay-nhieu-305.gif/image)
Nghệ sĩ Bảy Nhiêu và hai cô con gái Kim Cúc, Kim Lan.
Ðào Kim Cúc là vợ của nghệ sĩ Năm Châu, và đào Kim Lan từng đóng vai Thị Kính trong cuốn phim
 Quan Âm Thị Kính, do Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân thực hiện năm 1956

Trong Quan Âm Thị Kính
            Nhà sư trong cải lương trước tiên có lẽ là vị sư ở chùa Vân trong tuồng Quan Âm Thị Kính. Lúc chú tiểu Kỉnh Tâm, tức bà Thị Kính bị Thị Mầu vu oan giá họa, nên bị nhà Làng tra khảo. Dù chưa biết oan hay ưng, cũng như không biết Kỉnh Tâm là bà Thị Kính giả trai, nhưng thấy cảnh đánh đập khảo tra ấy, nhà sư đau lòng, ông đã lãnh Kỉnh Tâm về chùa.
            Cũng vai vị sư ở chùa Vân này, mà nghệ sĩ lão thành Bảy Nhiêu kiếm được món tiền khá lớn, dù rằng ông đã nghỉ hát từ lâu. Năm 1956 nghệ sĩ Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân quay cuốn phim Quan Âm Thị Kính. Cuốn phim có tựa đề dễ ăn khách này Năm Châu chủ trương “gia đình trị”. Nói rõ hơn là gia đình ông đảm trách hầu hết các vai quan trọng:
            Đào Kim Lan (cô em vợ trẻ đẹp của Năm Châu) đóng vai Thị Kính; bà xã Kim Cúc của ông đóng vai Thị Mầu; ông già vợ là nghệ sĩ Bảy Nhiêu vai sư cụ; con gái của Năm Châu tức đào Nguyệt Thu năm đó mới 9 tuổi đóng vai Đạo Đồng (Đạo Đồng là con của Thị Mầu nhưng lại là con nuôi của bà Thị Kính); và bản thân Năm Châu thì đóng vai Thầy Hương Giáo. Như vậy gia đình Năm Châu nắm hầu hết vai trò quan trọng trong phim.
            Đóng cuốn phim ấy “nhà sư” Bảy Nhiêu hy sinh bộ tóc mây đẹp để nhận mười ngàn đồng. Mười ngàn thời điểm đó Bảy Nhiêu mua được chiếc Mobylette mới tinh và hai lượng vàng y.

Trong Lan và Điệp
            Kế tiếp là vị sư trong vở hát Lan và Điệp của soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang, phóng tác theo tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan. Tình tiết vở hát Lan và Điệp hầu như khán giả cải lương ai cũng biết qua, do bởi tuồng hát đi hát lại không biết bao nhiêu lần rồi, các gánh lớn, nhỏ đều có diễn qua tuồng này, bởi có hát là có khán giả; bảy thập niên qua rồi vở tuồng vẫn còn giá trị (riêng tôi coi tuồng Lan và Điệp trên cả chục lần).
            Nhà sư, tức vị hòa thượng trong Lan và Điệp đã gây xúc động cho khán giả, lúc ông trao chiếc áo cà sa cho Điệp, để Điệp giả dạng hòa thượng vào chốn hậu liêu chứng minh cho Lan trao gởi nỗi niềm tâm sự.
            Hai chú tiểu dẫn Điệp vào. Lan mệt nhọc trăn trối một lúc thì hấp hối… Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa trao nhanh cho chú tiểu rồi chạy tới ôm Lan, và Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp. Soạn giả Tư Trang đã làm cho hàng vạn khán giả rơi lệ ở cảnh này.

Nhà sư Giác Minh
            Ngoài hai nhà sư trong hai tuồng nói trên, thời kỳ trước 1975 thỉnh thoảng cũng có tuồng mà soạn giả cho nhà sư xuất hiện, nhưng với vai trò khiêm nhường, vai phụ không gây được ấn tượng cho người xem nên người ta rất khó nhớ hình ảnh cũng như hành động của các sư, trừ vai trò chính yếu của nhà sư Giác Minh.
            Số là, một đoàn hát nhỏ dạng “C” hát tại một xã thuộc tỉnh Phú Yên ở ngoài Trung. Đêm ra mắt vở tuồng mới “Bí Ẩn Thiếu Lâm Tự”, khán giả rủ nhau đi xem hát thật đông, trong đó có nhiều vị sư ở các chùa cũng đi coi.
            Câu chuyện trong kịch bản tập trung vào nhân vật chính là một vị hòa thượng pháp danh Giác Minh do kép Thanh Hậu đóng. Giác Minh xuất thân từ một ngư phủ… Đêm ấy, ông và một người bạn thân rủ nhau xuôi thuyền ra biển đánh cá. Giữa đường người bạn của Giác Minh có chuyện phải quay về, Giác Minh đành đi một mình. Trời bỗng nổi giông gió, Giác Minh phải quay thuyền cập bến. Ông về nhà lúc nửa đêm chợt thấy một chuyện động trời:
            Người bạn thân cùng đánh cá với ông hằng ngày và vợ ông đang ngoại tình. Giác Minh giận quá chỉ vào mặt đôi gian phu dâm phụ chửi mắng thậm tệ. Quá hổ thẹn, cả hai người này đều tự sát. Lòng ông cảm thấy ăn năn nên quay đầu quy y cửa Phật, hòng quên chuyện hồng trần.
            Mười mấy năm trôi qua ông trở thành một cao tăng, võ công thâm hậu nhưng vẫn không màng lợi danh. Trái lại ông hết lòng hướng thiện, cứu giúp đời. Nhưng oan gia vẫn không tha sư Giác Minh. Hai người con của bạn ông vẫn tìm ông để trả thù. Do nóng nảy thù chưa trả được mà một người đã bị nạn tai đến mù đôi mắt. Nhà sư Giác Minh đã ra tay cứu giúp bằng sự hy sinh đôi mắt của mình. Thế rồi từ chỗ bị xem là kẻ tử thù, giờ đây Giác Minh đã trở thành người ân của họ.
            Nhân vật sư Giác Minh đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả, nên khi tuồng hát đã vãn mà nhiều người vẫn không chịu về. Ai nấy đều lấy tay hoặc vạt áo để lau nước mắt. Dưới khán giả bỗng có tiếng nói to:
            – A Di Đà Phật, lành thay, lành thay!
            Hầu hết mọi người đều hướng mắt về nơi phát ra âm thanh đó. Rất nhiều nhà sư mặc áo vàng đi chân đất, dẫn đầu là một vị sư đã có tuổi tay chống thiền gậy đang tiến lên sân khấu. Trên tay vị sư nào cũng có một bó hoa. Vị cao tăng bước tới trước mặt sư Giác Minh (do Thanh Hậu đóng) tặng hoa rồi ông vỗ lên đầu Thanh Hậu:
            – Con hát vai này đạt lắm, hay lắm. Các sư đây ai cũng khóc cả.
            Sau đó vị cao tăng mời Thanh Hậu cùng toàn thể anh chị em trong đoàn đến viếng chùa của mình và thiết đãi cơm chay. Nhiều đồng nghiệp trong đoàn thấy vậy mới trêu ghẹo Thanh Hậu: “Sư giả mà được sư thật khen ngợi thì hên lắm đó! Mai nhớ đãi tụi này một chầu ăn sáng nghen hôn!”
            Cải lương cũng có những tuồng mà người nghệ sĩ phải chấp nhận xuống tóc mới được đảm trách vai trò, có nghĩa là phải bằng lòng thí phát cạo đầu như qui y thật sự vậy.


(http://www.rfa.org/vietnamese/quoc-kiet-200.gif/image)
Nghệ sĩ Quốc Kiệt đóng vai Trì Địa Bồ Tát

Nhà sư “Quốc Kiệt”
            Về câu chuyện “nghệ sĩ nhà sư” thì có lần quay video cảnh ở chùa Trúc Lâm mà nghe qua ai cũng buồn cười. Hôm bữa đó trời mưa nên cả đoàn đứng bên hiên chùa chờ cơn mưa tạnh để quay tiếp. Khách đến lễ chùa thấy nghệ sĩ Quốc Kiệt trong bộ áo nhà sư nên hỏi:
            – Chào thầy, thưa ở đây có sư phụ. (hỏi vị sư nào đó)
            Quốc Kiệt chắp hai tay đáp lễ:
            – Bạch thí chủ, tui mới tới đây chưa quen, thí chủ cứ vào thẳng bên trong sẽ gặp sư phụ.
            – Cám ơn.
            Đợi khách đi khuất cả đoàn làm phim cười rần lên vì lớp “diễn” ngoài vở tuồng của Kiệt.
            Hết cảnh quay, Quốc Kiệt đi vòng vòng rồi lọt vô một nơi cây cảnh thật đẹp. Đang thả hồn lơ mơ, bỗng có bốn cô sư nữ xuất hiện. Một cô khoảng gần 40 và ba cô trẻ hơn, mặt trắng hồng xinh đẹp (nói vậy chớ người ta đi tu rồi, Quốc Kiệt không có cảm giác gì đâu).
            Vị sư nữ lớn tuổi đầy vẻ nghiêm chỉnh khuyên Kiệt:
            – Số cậu không tu trước cũng tu sau, nên tu trước tốt hơn.
            – Không được đâu! Con còn nặng nợ hồng trần, chưa dứt được.
            – Nãy nghe nói cậu là nghệ sĩ? Trong chùa có ông Thần Hộ Pháp chấm cậu rồi đó. Sau này cậu khó ra khỏi chỗ nầy, chẳng đi đâu lâu được đâu

            Quốc Kiệt hoảng hồn, nhớ tới mẹ. Hồi Kiệt mới cạo đầu thấy mẹ lo, vì có lần mẹ đi chùa có vị sư tiên đoán số mạng của Kiệt sau này theo đường tu…
            Bỏ đi, mà Kiệt cứ ngoái đầu nhìn lại. Thấy họ ngó theo, cười. Kiệt tự hỏi: Có phải mấy sư nữ tinh nghịch chọc ghẹo mình chăng? Hay thực sự mình có duyên với nhà Phật? Trời ơi! Con còn nhiều việc chưa làm…
            Bộ dĩa Quan Âm Thị Kính được hãng Asia thu thanh phát hành vào thập niên 1930, những người đóng vai đều qua đời, nhưng tiếng ca còn lưu lại.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/cailng-stars-act-asamonk-04142013131754.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 17/05/2017, 17:07:29
Các “dượng đào” trong làng cải lương

Trong làng sân khấu có những từ ngữ để gọi cho từng nghiệp vụ chuyên môn mà ai đó rơi đúng vào, thì y như rằng trong một sớm một chiều sẽ mang danh ngay. Những ngôn từ hầu như bất di bất dịch, hễ nói ra là người ta hiểu ngay người đó thuộc thành phần nào trong làng cải lương như: Đào thương, đào lẳng, đào mụ, đào con, kép mùi, kép độc, kép lão, hề, thầy đờn (tức nhạc sĩ), thầy tuồng (tức soạn giả), công nhân, dàn cảnh, và có cả… dượng đào.

(http://www.rfa.org/vietnamese/thanh-nga-dong-lan-305.gif/image)
Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân

TRONG BUỔI nói chuyện này, tôi nói riêng về dượng đào, cũng là một thành phần trong cải lương mà từ lâu nay ít ai để ý đến, do bởi dượng đào chỉ ở hậu trường sau bức màn nhung, nhưng lại thường hay gây sóng gió cho đoàn hát, xưa nay phần nhiều là vậy.

Ngoài giới
            Nếu như có những cuộc hôn nhơn của người trong giới với nhau thì ngôn từ để gọi người chồng không có gì thay đổi. Thí dụ như Út Bạch Lan kết hôn với Thành Được thì thiên hạ vẫn gọi Thành Được là kép mùi; đào Thanh Nguyệt lấy chồng là soạn giả Mộc Linh, hoặc đào Kiều Oanh kết hôn với soạn giả Yên Lang thì người ta vẫn gọi hai chàng này là soạn giả như thường. Còn như bầu gánh lấy vợ đào hát như trường hợp bầu Hoài Nhân của đoàn Sao Ngàn Phương có vợ là đào Kiều Hoa, thì người đời vẫn gọi Hoài Nhân là ông bầu, chứ không gọi thêm danh từ nào khác. Tóm lại các cô đào mà lấy chồng người trong giới là chuyện thường tình, chẳng có gì lạ, và danh từ để gọi người chồng vẫn giữ nguyên như nghiệp vụ của các chàng ta.
            Thế nhưng, các đào hát mà lấy chồng không phải người trong giới thì đức lang quân của nàng được phong chức “dượng đào” ngay liền để gia nhập làng cải lương. Đó là quy luật bất thành văn, chạy trời không khỏi nắng, các dượng đào nhà ta dù muốn dù không cũng phải lãnh chức. (Vấn đề nầy chỉ ngầm hiểu mà thôi, nhưng ai cũng biết.)
            Một khi được phong chức rồi thì dượng đào mặc nhiên là thành viên của gánh hát mà đào ta đang cộng tác. Dù rằng chẳng làm lợi ích gì cho đoàn hát, cho nghệ thuật nhưng đoàn hát đi đâu thì chàng đi theo đó, chẳng một ai thắc mắc gì cả, chỉ có cái là không được trả lương. Người ta nói có lẽ do vấn đề không được trả lương này mà dượng đào Trọng Viễn bị đào Ngọc Loan Anh cho ra rìa luôn chăng?
            Thiên hạ nói “cưới đào hát là cầm chắc sự đau khổ trong tay”, và đó cũng là ý kiến hay thành kiến của nhiều người đã trải đời khá nhiều. Vậy mà cũng có người trong giới ký giả đã “cả gan” cưới đào hát, để rồi sau đó khổ tâm không ít như trường hợp Trọng Viễn cưới cô đào hát Ngọc Loan Anh, mà một dạo đã là đề tài bàn tán cho người trong giới.
            Năm 1965 đoàn Hoa Thủy Tiên hát ở Sài Gòn, cô đào chánh trẻ Ngọc Loan Anh có nhan sắc và hình vóc của cô đào đại ban, nổi danh nhờ báo chí thời đó đăng ảnh đề cập đến khá nhiều. Và người ta cũng biết người lăng xê cho cô mạnh nhứt là ký giả kịch trường Trọng Viễn (em của nhà báo Việt Định Phương), do đó mà Ngọc Loan Anh đã phải lòng anh chàng ký giả này. Thế nhưng, mối tình của họ hình như bị người cha nuôi ngăn cản, nên có một lần đoàn Hoa Thủy Tiên dừng bước giang hồ lưu diễn ở Sa Đéc, thì đào trẻ Ngọc Loan Anh cắt tóc gởi cho chàng (cắt ngắn thôi chớ không phải cạo trọc như ni cô), xong cô vào ngôi chùa ở thị trấn ấy. Nhưng rồi, nàng còn ở tuổi vị thành niên, nhà chùa không nhận vì không có cha mẹ thuận ưng cho tu hành nên cô trở về với đoàn hát.
            Nàng đã có gởi thơ cho chàng rằng: “Em yêu anh mãi. Năm ngoái ở Sa Giang vì phiền cha mẹ nuôi ngăn cản, em đã cắt tóc vào chùa…”
            Nàng nặng tình đến thế, tưởng đâu sẽ lâu dài, nhưng chẳng bao lâu thì có chuyện. Sau vụ đó vài tháng thì gia đình đào Ngọc Loan Anh chấp thuận cho cô thành hôn với Trọng Viễn. Việc đầu tiên là… tiền, chàng ta lo chạy tiền, có người nói có lẽ chàng ta bán đất của ông cụ để lại ở Rạch Giá?

Cuốn gói theo đào
            Đám cưới rỡ ràng, hai họ dự đám khá đông. Chàng ký giả kịch trường Trọng Viễn đang làm việc cho tờ báo Tia Sáng, nhưng khi cưới được cô đào Ngọc Loan Anh thì chàng ta nghỉ làm báo, mà cuốn gói theo nàng để rày đây mai đó, gạo chợ nước sông. Vất vả như thế nhưng dượng đào nhà ta cũng vui vẻ chấp nhận, ráng đi theo để canh chừng, vì e rằng sẽ bị anh kép nào đó cuỗm mất cô vợ trẻ đẹp mới cưới của mình.
            Những người trong đoàn Hoa Thủy Tiên kể lại rằng, hằng đêm đào Ngọc Loan Anh diễn ngoài sân khấu, thì dượng đào Trọng Viễn luôn ngồi phía sau cánh gà nhìn ra đã tỏ vẻ khó chịu, bực bội, nhứt là những lúc đào ta mùi mẫn với chàng kép chánh. Vì vậy cho nên có những lúc tấm màn nhung vừa buông xuống vãn hát là vợ chồng hục hặc một lúc mới yên.
            Nhưng sự việc trên chỉ một phần nhỏ thôi, mà vấn đề chính là trong khi mọi người trong đoàn hát ai cũng có lương đêm, chỉ một Trọng Viễn là không có. Không còn lãnh tiền ở nhà báo, mà tiền gánh hát cũng không thì lấy chi đây để sống chứ? Bởi vậy suốt mấy tháng đi theo đoàn chàng ta phải sống nhờ tiền lương của vợ, một gánh nặng cho đào ta.
            Khi đoàn Hoa Thủy Tiên lưu diễn vùng Cao Nguyên, từ Dakto dọn xuống Kontum thì Ngọc Loan Anh lại phát cơn điên loạn, kêu khóc thảm thiết và gọi đích danh chồng là Trọng Viễn, đuổi anh này hãy về Sài Gòn tự do lấy vợ để cho cô ta thong thả hát xướng.
            Trọng Viễn nghĩ rằng trong việc này có người chia rẽ vợ chồng anh. Và anh cả quyết rằng ông cha nuôi của Ngọc Loan Anh đã dùng bùa ngải làm cho vợ anh điên loạn, nên chi anh đã tống cho cha vợ nuôi mấy loi rồi thu xếp đồ đạc ra phi trường bay ngay về Sài Gòn.
            Về đến Sài Gòn chàng ký giả Trọng Viễn buồn khổ, không đến hậu trường các rạp hát như mọi khi, cũng không đến nhà báo Tia Sáng mà anh ta cộng tác. Rồi đến một ngày nọ không lâu lắm, người ta thấy anh chàng xuất hiện ở Ngã Tư Quốc Tế với thân hình tiều tụy, mặt mày ủ rũ, đầu cổ tóc tai bù xù… Gặp người quen hỏi cũng không buồn trả lời.
            Có lẽ để dứt luôn với quá khứ hay sao, mà thời gian sau đó đào Ngọc Loan Anh đổi tên là Trang Đài lên truyền hình, đóng kịch, đóng phim, ca tân nhạc v.v… Nàng đã dứt khoát hẳn với Trọng Viễn. Thế là xong, coi như mất chức dượng đào.

Ăn theo
            Dượng đào cũng đặc biệt được hưởng quyền lợi của nghệ sĩ, như trường hợp chồng của cô đào Trang Kim Nga. Thời kỳ trước 1975 trong phái đoàn nghệ sĩ xuất ngoại nọ, có cái tên nam nghệ sĩ Huỳnh Xuân Thưởng, người trong giới không rõ đó là kép nào nên xôn xao lên dữ dội.
            Giữa lúc mọi người đang đánh cá với nhau tưng bừng thì lão soạn giả Điêu Huyễn cho biết: Nó là thằng Thưởng, chồng già khú của nàng Trang Kim Nga đó. Chẳng là nó trước đây khoái cải lương lắm, nên mới vung tiền ra mà cưới đào hát để nó được là dượng đào. Rồi lấy hơi đào, nó tự xưng là nghệ sĩ tháp tùng đi Tây chơi đó mà.
            Nhờ lãnh chức dượng đào mà tên chàng ta được nằm trong danh sách phái đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi Âu châu vào đầu thập niên 1970.
            Và sau đây một dượng đào nữa, đó là dượng đào Đổng Lân chồng nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
            Mối tình của Thanh Nga với Đại Úy Mẫn khoảng hơn một năm thì tan vỡ, Thanh Nga như một chiếc lá trong cơn bão lốc của tình trường, dư luận được dịp đồn đãi lung tung, gán cho nàng đủ các nhân vật, từ ngài đại sứ cho đến cậu công tử con nhà buôn hột xoàn danh tiếng nọ…
            Thời gian sau Thanh Nga lại xuất hiện chung với ông Luật Sư Phạm Duy Lân, nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin, mà người ta gọi là Đổng Lân.
            Ông Đổng Lân cưng Thanh Nga hết cỡ, nàng đi đóng phim ở đâu cũng có chàng theo bên cạnh, tay che dù, tay quạt mát, thật hạnh phúc vô cùng, thấy nàng ngồi nắng là ông chịu không nổi. Song phải có nắng như vậy thì mới đủ ánh sáng quay phim…
            Ông phàn nàn: “Điện ảnh của mình còn thiếu phương tiện quá, không có một dàn đèn nào đủ dùng để quay phim ngoài trời…”
            Thế rồi ông cầm dù che nắng cho Thanh Nga, và khi nào bắt đầu quay, đạo diễn hô “cho đèn nhé” thì ông mới kéo nghiêng dù qua một bên nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa, để đủ sức sáng thu hình vào ống kính. Tiếng đạo diễn vừa hô “cắt” là ông đã che ngay dù như cũ cho Thanh Nga khỏi bị “nắng ăn, vừa sợ nàng đen mà vừa ngại nàng sổ mũi, nhức đầu lại nhõng nhẽo…
            Lúc tạm nghỉ, Thanh Nga và ông Lân vào nơi có bóng mát tâm sự với nhau, ông Lân cầm quạt và… quạt lia.
            Rồi ông vui miệng kể chuyện cho anh em nghe về những ngày ông cùng Thanh Nga ra Huế, nàng đóng phim “Nắng Chiều” cho hãng Lido. Ông nói, “Nắng chiều” là phim màu, nhưng cũng trông vào ánh sáng mặt trời như những phim khác. Thành thử có hôm Nga và tôi cùng với đoàn quay phim tới địa điểm ngồi chơi, xơi nước, tán dóc thả đàn rồi lại vui vẻ… đi về, vì không có nắng.
            Mỗi ngày, ông Lân lái chiếc xe hơi hiệu Honda xinh xắn chở người đẹp Thanh Nga đi chỗ này, chỗ nọ, Thanh Nga tươi cười nói chuyện vui vẻ ríu rít như chim…
            Tùy theo vị thế của cô đào mà các dượng đào cũng được ăn theo, như trường hợp dượng đào Đổng Lân nhờ Vương Hậu Thanh Nga lừng danh tên tuổi mà Đổng Lân cũng nổi tiếng hơn tất cả các người cùng cảnh ngộ.
            Dượng đào Đổng Lân luôn bám sát Thanh Nga như hình với bóng, riết rồi người ta không còn phân biệt ông là người trong hay ngoài giới, mà điển hình là trong một cuộc bầu bán ở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, dượng đào Đổng Lân cũng được bầu vào một chức vụ trong ban chấp hành.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/actress-husband-stories-04272013144134.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 19/05/2017, 14:00:14
Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp

Khoảng sau cái Tết Mậu Thân độ một năm, trong lúc tình trạng cải lương bi thảm, ngày một kiệt quệ thì một ngọn gió mát thổi vào làm dễ thở cho một số ít người trong giới sân khấu, đó là một đoàn hát cải lương được đi Pháp trình diễn.

(https://haibatrung12e1985.files.wordpress.com/2013/09/doan-thanh-minh-thanh-nga.jpg?w=824)
Sân khấu Thanh Minh Thanh Nga

Vui mừng
            Người ta còn nhớ trong lúc Hòa Đàm Ba Lê đang diễn ra thì Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Paris đánh điện về kêu cứu, rằng phải cho một đoàn cải lương sang gấp, chớ không thôi sẽ bị thua thiệt nhiều, do bởi có một đoàn văn công Bắc Việt được đưa sang Paris trình diễn và kiều bào rất hoan nghinh.
            Thật vậy, kiều bào người Việt lâu năm xa xứ, nhớ nhà, giờ đây có đoàn văn nghệ đến tận nơi phục vụ, người ta cảm thấy như là được gần gũi với quê hương vậy. Đối với kiều bào lúc bấy giờ, họ chẳng chú ý tới vấn đề đoàn văn nghệ xuất phát từ Nam Việt hay Bắc Việt, mà trước mắt họ là hình ảnh của quê hương đã đến với họ, thành thử ra số người đi coi rất đông. Các buổi trình diễn văn nghệ đã tác động tâm lý kiều bào, tiếp trợ cho cái thế của hai phái đoàn Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Hòa Đàm Ba Lê.
            Do tình hình như thế, nên Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy đã quyết định cho cải lương sang Pháp, và đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn. Thế là nước Pháp được coi như bãi chiến trường của văn nghệ của hai miền Nam Bắc Việt Nam. Đào kép cải lương dù muốn dù không cũng trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Như vậy, Hòa Đàm Paris ngoài việc trực tiếp ảnh hưởng đến vận mạng đất nước, nhưng cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động cải lương.
            Ở đây, trong phạm vi chương trình cổ nhạc, tôi không bàn thêm về cuộc chiến văn nghệ của hai miền Nam Bắc nói trên, mà chỉ nói về nội tình của đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong cuộc đi lưu diễn bên trời Âu lúc bấy giờ. Và do yếu tố nào mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn đi?
            Bộ Thông Tin là cơ quan trách nhiệm trong việc gởi đoàn cải lương đi Pháp, và Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin lúc đó là ông Phạm Duy Lân đã trình lên chính phủ, thực lực cùng sắc thái của các đoàn hát đang hoạt động tại Thủ Đô Sài Gòn. Có ba đoàn cải lương được đưa lên bàn mổ là Kim Chung, Dạ Lý Hương và Thanh Minh Thanh Nga.
            Đoàn Kim Chung của ông Bầu Long giàu nhứt, coi như có đầy đủ phương tiện nếu như đoàn hoạt động bên Tây (ông Bầu Long có nhà cửa, con cái ở Pháp), nhưng Kim Chung bị loại do bởi chỉ hát tuồng “hương xa” tuy ăn khách, nhưng cốt chuyện từ đâu đâu chẳng nói lên ý nghĩa gì hết. Kế đến là đoàn Dạ Lý Hương cũng bị loại, do bởi lúc đó chẳng có tuồng tích gì đặc sắc, thành ra ông Bầu Xuân dù là nhà tư bản, là giám đốc công ty xuất nhập cảng vẫn bị loại.
            Thế là đoàn Thanh Minh Thanh Nga dù đang yếu thế, bà Bầu Thơ luôn mang nợ lại được chọn đi Tây nhờ hai yếu tố: Thứ nhất là đoàn có thành tích hát tuồng xã hội như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển… là những tuồng phản ảnh thực tế xã hội, mang nhiều ý nghĩa xây dựng mà tình tiết lại hấp dẫn, dễ lôi cuốn khán giả.
            Yếu tố thứ hai là thành phần nghệ sĩ, Út Trà Ôn là đệ nhứt danh ca, là vua vọng cổ, giọng ca Út Trà Ôn đã làm say mê hàng triệu người nghe. Kiều bào ta ở bên Tây có những ra đi từ thời Nam Kỳ còn là thuộc địa của Pháp. Sau chiến tranh Đông Dương một số đông hơn cũng đã được rước sang Pháp định cư luôn cho đến sau này, thành thử ra cái tên Út Trà Ôn rất quen thuộc với họ. Còn như những lớp nghệ sĩ trẻ nổi tiếng sau này như Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương v.v… thì lại rất xa lạ với kiều bào. Do đó mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga đến Paris rất được người Việt ở đây hoan nghinh.
            Kế đến là Hữu Phước cũng là nghệ sĩ hữu danh, và với vai trò Cậu Tư Kiên đầu tóc bới kiểu mấy ông già ở Lục Tỉnh, cộng với bộ đồ bà ba đen sẽ xuất hiện trong tuồng Con Gái Chị Hằng, chắc chắn sẽ đem lại cho kiều bào một hình ảnh quê hương đặc biệt. Ngoài ra Hữu Phước lại có quốc tịch Pháp, dân pháp mà về Tây thì quá hợp tình hợp lý. Về phía bên đào thì Thanh Nga được coi như là nữ nghệ sĩ có nhiều người ái mộ, được cảm tình nhứt đối với khán giả, và Ngọc Giàu cũng là nữ nghệ sĩ từng đoạt giải Thanh Tâm 1960 cùng một năm với Bích Sơn.


(http://3.bp.blogspot.com/-JEOghcAy2Jg/U_YA8bWpgbI/AAAAAAAAEwE/xPGoYKPdi5Q/s1600/ThanhNga12.jpg)
Nghệ sĩ Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm (năm 1958)

Xuất ngoại khó khăn
            Trong danh sách đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Tây có trên 20 người, tính luôn vừa bầu gánh, vừa đào kép, nhạc sĩ, soạn giả. Cũng cần nói thêm vào thời điểm đó việc xuất ngoại rất khó khăn, nhứt là nam giới, hồ sơ xuất ngoại trước khi được cấp pasport phải gởi qua Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng duyệt xét xem người xin đi có hợp lệ quân dịch hay không. Theo danh sách của đoàn Thanh Minh thì người ta thấy Út Trà Ôn đã ngoài tuổi bị chi phối bởi luật tổng động viên. Còn Hữu Phước thì quá “hợp lệ quân dịch”, bởi trên giấy tờ anh là dân Pháp. Lúc ấy nghệ sĩ Năm Châu nói rằng đối với phần đông nghệ sĩ thì gọi là xuất ngoại, nhưng riêng Hữu Phước thì phải nói là… về nước mới đúng.
            Chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại, trước tiên nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận đi trước sang Ba Lê để nghiên cứu về thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tiếp đến là Thanh Nga sang ký hợp đồng trình diễn 12 đêm tại hai rạp Maubert Mutualité và Fleyel. Tất cả 12 đêm hát đều được mua giàn, vé bán tại các tiệm cơm Việt Nam trong khu Quartier Latin ở Paris. Đó là chính thức trên giấy tờ, chớ thời gian còn lại đoàn đi diễn nhiều nơi khác, đúng hai tháng mới về nước, và ký hợp đồng xong Thanh Nga về Sài Gòn để cùng với đoàn sang Ba Lê một lượt.
            Trong lúc cải lương chết lên chết xuống, mà Thanh Nga mang tờ hợp đồng nói trên về chẳng khác nào liều thuốc hồi sinh cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Lúc ấy nhiều người đã cho rằng Thanh Nga có “chơn mạng” giúp cho đoàn hát nhà tiếp tục sống, chớ theo sự đồn đãi thì lúc đó bà Bầu Thơ có ý định cho rã gánh, do bởi đang mang nợ quá nhiều. Cũng như chịu không nổi với cái lệnh giới nghiêm ban đêm, hát xướng thế nào được.
            Với tư cách Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin phụ trách vấn đề, ông Đổng Lân đã trình lên chính phủ rằng việc đi Tây của đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngoài việc hành nghề, kinh doanh nghệ thuật, còn là “công tác kiều vận”, do vậy ông trình xin ngân sách quốc gia tài trợ cho đoàn chi phí di chuyển, ăn ở trong thời gian công tác. Được chuẩn thuận, số tiền tài trợ được đưa sang Viện Hối Đoái Quốc Gia đổi thành đồng phật lăng của Pháp.
            Riêng con số hơn 20 người được đi thì người nào cũng được đổi một số ngoại tệ với hối xuất chính thức, khiến cho đào kép ai nấy mừng vui ra mặt bởi được gấp đôi. Thí dụ hối xuất chính thức 35 đồng Việt Nam đổi một đô la, còn hối xuất tự do thì phải 72 đồng đổi một đô la. Đa số nghệ sĩ xuất ngoại dù được đổi tiền nhưng chẳng mấy người mang đi, bởi sang bên đó tiền lương hát được trả bằng tiền France của Pháp. Vậy mà khi về nước va li của người nào cũng nặng trĩu đồ vật, máy móc, mỹ phẩm không phải chịu thuế.
            Qua sự việc trên thiên hạ nói rằng tổ nghiệp cải lương ưu đãi ai thì nấy nhờ, người được đi thì mừng vui hớn hở, có dịp đi du lịch nước ngoài, lại có tiền mua sắm. Còn kẻ không được đi thì buồn tủi, than thân trách phận, có người than thở gần như muốn vô vọng cổ vậy. Lúc đó ai cũng tiếc cho kép Thành Được, bởi anh rời gánh Thanh Minh Thanh Nga chẳng bao lâu thì đoàn được chọn đi Tây, thành ra không còn dịp hát đóng cặp với Thanh Nga, lại vừa mất một dịp bằng vàng ngàn năm một thuở mới có.
            Vấn đề đi Tây của đoàn Thanh Minh Thanh Nga có ba mối lợi ngó thấy. Thứ nhất là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không cần phải sử dụng chuyên viên chiến tranh chính trị gì hết, các đào kép cải lương lúc ấy coi như làm công tác tâm lý chiến.
            Mối lợi thứ hai là bà Bầu Thơ có tiền trang trải nợ nần, để cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga sống thêm một thời gian nữa, đến năm 1972 mới thực sự rã gánh. Còn mối lợi thứ ba là giúp cho ông Đổng Lân có được vợ đẹp tài sắc, tên tuổi. Ai cũng biết trong thời gian bà Bầu Thơ lo thủ tục xuất ngoại thì mọi thứ đều một tay ông Đổng Lân lo, bà nằm nhà không phải đến cơ quan nào hết mà vẫn đủ giấy tờ xuất ngoại.
            Cũng nhờ hết lòng giúp đỡ đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong chuyến đi Tây nên sau ngày đoàn về nước, ông Đổng Lân lui tới nhà bà Bầu Thơ mỗi ngày và cuối cùng thì làm chủ được trái tim người đẹp Thanh Nga. Kể từ đó Đổng Lân luôn đi sát Thanh Nga như hình với bóng, cho đến một ngày nọ thì về bên kia thế giới cùng một ngày, một giờ với Thanh Nga.
            Người xưa có câu “sống thì đồng tịch đồng sàn, thác thì đồng quan đồng quách”, câu này rất đúng với Đổng Lân, bởi trong đám tang dù hai chiếc quan tài, người ta chỉ dùng chung một lư hương. Ban tổ chức đám tang sợ rằng nếu hai lư hương trước hai quan tài thì người ta chỉ đốt nhang lư hương của Thanh Nga mà thôi. Và an táng tại Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp, ông Đổng Lân cũng nằm cạnh Thanh Nga trong ngôi mộ song phần.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-05042013-05042013132857.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 22/05/2017, 13:08:16
Nội tình đoàn Thanh Minh Thanh Nga và chuyện Út Trà Ôn đi Tây

Nhờ có làn hơi ca vọng cổ trời cho mà từ một nông dân làm ruộng chăn trâu ở miền Lục Tỉnh, Út Trà Ôn đã cởi lớp áo nhà quê tay lấm chân bùn để trở thành nghệ sĩ đi xe hơi, được người đời tặng cho danh hiệu “đệ nhứt danh ca” tên tuổi vang lừng ca nước. Do được hàng triệu người ái mộ, tiền vô như nước đã đưa ông ta đến đỉnh vinh quang, một cuộc sống sung túc, và luôn có người vợ đẹp trẻ măng bên cạnh. Cô vợ trẻ là đào Ngọc Bích sống chung với nhau ngót hơn 10 năm nhưng cả hai đều nói họ chỉ là “thầy trò”. Sau 1975 thì Út Trà Ôn mới xác nhận thì cũng là lúc họ chia tay với nhau.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ut-tra-on-singer-09102012130607.html/chuong-trinh-buoi-hat-cua-danh-ca-ut-tra-on-dang-tren-quang-cao/image)
Chương trình buổi hát của danh ca Út Trà Ôn đăng trên quảng cáo

RỒI ĐẾN KHI “quá niên tuổi trạc tứ tuần” thì Út Trà Ôn “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” lên máy bay đi Tây, trước sự thèm thuồng của hằng bao nghệ sĩ cải lương cùng chung Tổ nghiệp nhưng kém may mắn.
            Câu chuyện đi Tây của Út Trà Ôn là “chuyện bên lề” nhưng lại tác động mạnh vào trung tâm của nghệ thuật, không kém phần quan trọng, nếu giải quyết không xong sẽ trở thành chuyện lớn và hậu quả khôn lường.
            Buổi nói chuyện hôm nay tôi nêu lên một số sự việc từng xảy ra trong nội tình của đoàn Thanh Minh Thanh Nga từ lúc chuẩn bị cho đến khi đoàn sang đến nước Pháp mà từ lâu ít ai biết đến.

Kẻ vui người buồn
            Lúc bấy giờ tin tức đoàn Thanh Minh Thanh Nga được chọn đi Tây, ai nấy trong đoàn đều vui mừng, bởi lúc đầu tưởng đâu người nào cũng được đi giống như là những lần lưu diễn ở miền Tây hay miền Trung vậy. Nhưng sau đó biết chắc là số người đi bị hạn chế chỉ trên dưới 20 người được đi mà thôi, tức là dưới phân nửa số người của đoàn, thành ra có kẻ vui người buồn.
            Chỉ thành phần nghệ sĩ gạo cội như Út Trà Ôn, Hữu Phước thì cầm chắc trong tay là có tên mình, số còn lại ai cũng trông chờ sự quyết định của bà Bầu Thơ, và nếu như chọn một cách trung thực thì người ta phải nói rằng có những người không thể có tên trong danh sách được, như trường hợp kép Hữu Thìn trong quá khứ chẳng có vai trò nào đáng kể, tên tuổi cũng chẳng mấy người biết, thế mà lại có tên vì Hữu Thìn là con của bà Bầu Thơ và là anh của Thanh Nga.
            Còn như Ngọc Bích thì lúc ấy cũng chẳng có gì sáng chói, thỉnh thoảng mới lên sân khấu, nhưng nhờ là học trò của Út Trà Ôn, thầy đâu thì trò đó chớ! Vấn đề Ngọc Bích đã xảy ra tranh chấp về số người ai đi ai ở, bà Bầu Thơ đã loại Ngọc Bích, bởi lúc đó trong đoàn có những nữ nghệ sĩ nổi tiếng và ăn khách hơn Ngọc Bích nhiều. Sự việc đưa đến gây gỗ và Út Trà Ôn từ chối đi Tây, nếu như không có Ngọc Bích trong đoàn.
            Thế là bà Bầu Thơ trước tiên phải chịu thua một keo, bởi trong tờ hợp đồng mà Thanh Nga ký với nhà tổ chức bên Pháp là phải có Út Trà Ôn, thiếu người nào thì còn thay thế được, chớ như thiếu đệ nhứt danh ca thì có thể bị hủy hợp đồng, mà một khi hợp đồng bị hủy bỏ thì sẽ có đoàn hát khác sẵn sàng thay thế ngay, trước nhu cầu tâm lý chiến ở Paris đòi hỏi.
            Đó là rắc rối lúc đoàn sắp sửa chuẩn bị đi, và lúc vừa qua tới nước Pháp thì xảy ra liền một chuyện lẩm cẩm, nhưng nó sẽ nổ bùng thành chuyện lớn dễ dàng nếu như giải quyết không ổn thỏa. Vậy chuyện lẩm cẩm ấy là gì?
            Số là khi đoàn vừa xuống chiếc phi cơ Air France tại phi trường Orly, tất cả lên xe buýt về khách sạn ở Paris (trừ Thanh Nga có xe riêng của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Paris đón).
            Ở Paris khách sạn giá đắt đỏ, bà Bầu Thơ vì tiết kiệm, tránh chi phí nhiều nên trong thời gian đoàn ở khách sạn, bà cho nam ở chung với nam, nữ ở với nữ, như vậy chỉ cần thuê vài phòng lớn là đủ rồi. Thế nhưng Út Trà Ôn nào đâu có chịu, mà đòi phải có một phòng riêng cho ông và Ngọc Bích, việc đó đã đưa đến cải vả ngay từ lúc ở phi trường vừa về tới khách sạn.
            Trong đoàn ai cũng nể nang Út Trà Ôn và gọi ông bằng Cậu Mười, Anh Mười hoặc Cậu Út, Anh Út, chỉ riêng bà Bầu Thơ thì gọi bằng “Chú Út” mà trước đây Năm Nghĩa thường gọi, bà năn nỉ:
            – Ở đây mướn phòng mắc quá đó Chú Út! Ăn nhiều chớ ở bao nhiêu, chú chịu khó ở chung với anh em đi.
            Không do dự suy nghĩ gì hết, Út Trà Ôn phản kháng ngay:
            – Đâu có được chị Năm, hồi nào tới giờ đi lưu diễn tới đâu tui cũng ở phòng riêng, mà bây giờ chị “phá lệ” coi sao cho được chớ!
            – Ở bên Tây nầy giá phòng ngủ mắc gấp mười bên mình, tôi mướn sao nổi chớ Chú Út?
            – Tui biết chị lời quá trời rồi! Đâu chị đưa tờ hợp đồng ra tôi nhờ người đọc cho anh chị em nghe coi có phải như vậy không?
            Đoán chừng mà nói thế, chớ Út Trà Ôn nào đâu biết được trong tờ hợp đồng ghi những gì. Từ ngày Thanh Nga mang tờ hợp đồng về đâu có ai thấy được, chỉ nghe nói mà thôi, bởi trong tờ giao kèo có ghi rõ thành phần nghệ sĩ phải có Út Trà Ôn. Do vậy mà bà Bầu Thơ đã giấu kỹ, ngoài bà và Thanh Nga chẳng một ai biết. Rất may mà Cậu Mười chưa thấy, chớ nếu như biết rõ như thế, chắc rằng cậu sẽ yêu sách, sẽ hoạnh hẹ khó dễ nhiều thứ khác nữa chớ không riêng gì chuyện mướn phòng khách sạn.
            Thấy bà Bầu Thơ còn lưỡng lự chưa dứt khoát vấn đề mướn phòng riêng cho ông, Út Trà Ôn lớn tiếng tuyên bố thẳng thừng:
            – Nếu không cho ở riêng một phòng tôi đi về Sài Gòn ngay!
            Thế là bà Bầu Thơ thua thêm một keo nữa, phải móc hầu bao thuê riêng cho Út Trà Ôn một phòng, bởi đệ nhứt danh ca mà không có mặt thì coi như vi phạm hợp đồng, ăn nói làm sao đây với nhà tổ chức, bởi 12 đêm hát vé đã bán hết và vé nào cũng có ghi tên Út Trà Ôn đứng đầu.

Bà con mến mộ
            Còn một vấn đề nữa liên quan đến Cậu Mười cũng gây thêm một rắc rối. Theo như quy định xưa nay của đoàn thì nghệ sĩ đêm hát, ngày tập tuồng, dù là tuồng cũ hay mới để nghệ thuật được nhuần nhuyễn. Do đó mà khi đoàn đi Pháp bà Bầu Thơ cũng áp dụng nội quy này, bà mướn một phòng rộng nhứt của khách sạn cho phái nam ở, đồng thời cũng dùng làm nơi tập tuồng.
            Sau cuộc hành trình từ Á sang Âu, tất cả ai nấy cũng mỏi mệt, nên ngày hôm sau cả đoàn được nghỉ. Ngày thứ ba mọi người phải thức dậy sớm ăn điểm tâm xong, đúng 9 giờ sáng thì tập tuồng. Bữa nay được coi như quan trọng nhứt, bởi tối đến là buổi hát đầu tiên, mà nghe nói thì người tổ chức mua giàn đã bán hết vé từ mấy ngày trước.
            Thế là tất cả đào kép đều có mặt để tập tuồng, kể cả kép chánh Hữu Phước, nhưng lại thiếu vắng thầy trò Út Trà Ôn, Ngọc Bích. Tưởng đâu hai người còn ngủ, ai ngờ cô Minh người hầu của Thanh Nga vào nói rằng sáng nay có xe du lịch đến rước hai thầy trò Cậu Mười đi đâu đó chẳng biết, và Út Trà Ôn có nhắn lại bà bầu cứ cho anh chị em tập tuồng, tối nay ông sẽ đến rạp trước giờ hát. Cô Minh nói thêm không phải mới bữa nay, mà sáng hôm qua lúc mọi người còn ngủ thì chiếc xe du lịch ấy đã đến rước hai thầy trò Út Trà Ôn đi ăn đến trưa mới về.
            Bà Bầu Thơ không ngờ lại có sự kiện như vậy, hôm bữa mới tới cái vụ mướn phòng, Cậu Mười nói rằng bà “phá lệ”. Bà đành chịu thua, và giờ đây thì chính Cậu Mười phá lệ mà chắc chắn phía bị thua cũng là bà. Dù quá bực tức nhưng bà Bầu Thơ vẫn trầm tỉnh, chỉ huy anh chị em tập tuồng.
            Có điều mà ai cũng thắc mắc là mới đến Paris chỉ một ngày, mà Út Trà Ôn quen với ai nhanh thế, mà lại còn đem xe du lịch đến rước đi?
            Số là vài tuần trước ngày đoàn Thanh Minh Thanh Nga đến Paris thì tờ quảng cáo dán đầy ở các tiêm cơm Việt Nam, nên tin tức loan truyền bàn tán rần rộ trong cộng đồng người Việt ở Pháp. Không phải chỉ ở Thủ Đô Paris mà các thị trấn xa hằng trăm cây số người Việt mình cũng biết và chờ đi coi cải lương, món ăn tinh thần đặc thù độc đáo của miền Nam nước Việt, mà lâu lắm rồi đã không có.
            Cái đêm hát đầu tiên ấy, khi xe chở nghệ sĩ đến rạp thì bà con khán giả đã đứng đầy ở đây chờ xem mặt đào kép cải lương từ bên nhà sang, mà đặc biệt là nhắm vào Thanh Nga và đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn. Tiếng ồn ào vang rền là lúc Thanh Nga vừa mở cửa xe bước xuống. Cô nhanh nhẹn đi vào bên trong, sợ rằng sẽ bị bao vây khó thoát. Và vài phút sau thì đệ nhứt danh ca cũng xuất hiện. Danh bất hư truyền! Bà con ở Pháp vấy quanh Út Trà Ôn, ông phải khó khăn lắm mới vượt qua được rừng người mến mộ.
            Về phần bà Bầu Thơ thì tuy rằng bực tức về thái độ của Út Trà Ôn, nhưng khi thấy cảm tình của khán giả dành cho ông, thì bà cũng tan biến đi cái giận, và đổi lại bằng cái tươi cười. Bởi nói cho cùng thì dầu gì đi nữa Út Trà Ôn cũng đem lại nguồn lợi cho bà, mà cụ thể là nếu như không có Út Trà Ôn thì chưa chắc gì đoàn Thanh Minh Thanh Nga có được điều kiện được đi Paris.
            Thời gian ở Pháp ngoài việc chính thức hát cho đoàn, ngày nào Út Trà Ôn, Ngọc Bích cũng có xe đưa đi ca hát ở các tiệm ăn Việt Nam, ở các buổi họp mặt của người Việt tại Pháp, nghe nói thì số tiền kiếm thêm kiểu này còn nhiều hơn cả tiền lương phát cho ông sau mỗi buổi hát.
            Tóm lại thời gian ở Pháp tuy là đi chung đoàn, nhưng nhiều ngày gần hát người ta mới thấy xe du lịch của người nào đó đưa Út Trà Ôn, Ngọc Bích tới, và lúc vãn hát hát thì xe chạy lại rước đi. Tuy vậy, dù không tập tuồng nhưng mỗi lần Út Trà Ôn vô vọng cổ thì tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp, tiếng ca Cậu Mười thu hút người ta bỏ tiền mua vé từ trong nước đến hải ngoại.
            Như đã nói, Thanh Nga ngay từ lúc xuống máy bay đã được xe “chiến” của Sứ Quán đón về, sau đó thì ngày nào cũng có xe rước đi, không một lần nào đi chung với đoàn. Số còn lại cũng chỉ đi chung có mấy ngày đầu, sau một tuần thì hơn phân nửa đoàn không còn đi ngoạn cảnh tập thể mà mạnh ai nấy có mục tiêu riêng.
            Đệ nhứt danh ca cũng không quên vào thăm mấy Casino ở Paris, bởi kể từ ngày Đại Thế Giới bị dẹp tiệm không có nơi nào đánh bạc công khai như ở Pháp, do đó mà dù kiếm được nhiều tiền, thì đồng phật lăng của Pháp cũng trả về Tây. Ngày về của Út Trà Ôn cũng chẳng có dư được bao nhiêu tiền phật lăng mang về nước.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-05112013-05112013122940.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 24/05/2017, 16:41:01
Tiền đạo Nguyễn Văn Quận và chuyện xem một đêm hát cải lương

Trong hoạt động cải lương, một đoàn hát hạng A hạng B là luôn luôn có người tiền đạo, và người này đã giữ vai trò khá quan trọng, đoàn hát có làm ăn khá hay không, sống hay chết một phần lớn là do người này.

(http://maskonline.vn/files/2017/05/con-gai-chi-hang5-2-640x480.jpg)
Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng, với Tám Vân – Thanh Nga – Hữu Phước

Vai trò người tiền đạo
            Khi một đoàn hát muốn dọn đến tỉnh nào thì người tiền đạo phải đi đến đó trước vài tuần hoặc ít nhứt cũng bốn, năm ngày để nghiên cứu tình hình ở địa phương rồi đề nghị về đoàn để bầu gánh quyết định xem có nên di chuyển đoàn đến nơi đó. Không phải chỉ ở trong nước, mà khi đi trình diễn ở nước ngoài, cải lương cũng phải có người tiền đạo, mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp là một trường hợp. (Chuyện “tiền đạo” dài dòng lắm tôi sẽ có bài nói riêng về vấn đề này). Và hôm nay xin nói về nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận.
            Tôi, Ngành Mai người phụ trách trang Cổ Nhạc Kịch Trường nhật báo Người Việt từ tháng 3-2000 tính đến nay đã hơn 13 năm rồi, và vẫn đang tiếp tục hàng tuần phục vụ độc giả tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại này. Đồng thời tôi cũng đang phụ trách tạp chí cổ nhạc Đài RFA từ hai năm nay mà quí vị đang nghe đây.
            Đài RFA phát đi từ Thủ Đô Washington, buổi phát thanh lúc 6 giờ 30 sáng Chủ Nhựt ngày 5 tháng 5 – 2013, trong chương trình cổ nhạc với bài “Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp” tôi có đề cập đến nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận đi trước sang Ba Lê để nghiên cứu về thiên thời, địa lợi, nhân hòa trước khi Thanh Nga sang ký hợp đồng trình diễn tại Pháp.
            Sau đó thì người con của ông Quận tên Đoàn Anh Loan (không thấy nói cư ngụ ở quốc gia nào) đã e-mail về đài với nội dung:

            “Hôm qua gia đình chúng tôi nghe đài RFA, tin về “Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga” đi Pháp biểu diễn của thông tín viên Ngành Mai. Như những bài viết khác rất hay của tác giả này, bài về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp cũng cung cấp nhiều thông tin quí báu và chính xác, cùng những nhận định sâu sắc, chi tiết về tình hình hoạt động và diễn biến việc đi Pháp của đoàn. Trong đó, có thông tin về người đi tiền đạo qua Pháp là ông “Nguyễn Văn Quận”. Người này chính là thân phụ quá cố của chúng tôi. Tuy nhiên, tên ông chính thật là Đoàn Kỳ Quận, chứ không phải Nguyễn Văn Quận. Có lẽ thời gian quá lâu và chi tiết này không phải là quan trọng nhất, nên tác giả bài viết nhớ chưa chính xác. Vậy, nếu không có gì khó khăn, xin quý vị chỉnh sửa dùm.
            Bài viết này gợi lại cho gia đình chúng tôi những kỷ niệm khó quên về một cột mốc quan trọng trong đời của người cha quá cố, đã góp phần nhỏ cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga, đồng thời đóng góp vào hoạt động nghệ thuật của nước nhà ở Pháp vào thập niên 60. Xin chân thành cảm ơn ông Ngành Mai, cô Hòa Ái cùng đài RFA đã cho cộng đồng người Việt nhiều thông tin bổ ích
”.

            Tuy là vấn đề không quan trọng lắm, nhưng sự việc lên tiếng của cô Đoàn Anh Loan cũng giảm đi mức độ chính xác của bài viết, bài nói chuyện của mình, trên làn sóng phát thanh một đài có nhiều người nghe, thành thử ra tôi đã e-mail về đài RFA để trả lời cho cô Đoàn Anh Loan, mà tôi sẽ trình bày tiếp ở phần sau.
            Khi xưa thời thập niên 1960 có lần ban tuyển chọn giải Thanh Tâm họp tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, ông Trần Tấn Quốc người sáng lập giải Thanh Tâm, có nói chuyện với các thành viên trong ban (mà đa số là ký giả kịch trường) như sau:

            “Người phụ trách trang kịch trường của tờ báo phải am tường, phải hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật cải lương. Nói một cách khác là phải theo dõi liên tục hoạt động sân khấu thời gian lâu dài với trình độ căn bản về thu thập. Đồng thời ít nhiều gì cũng phải có tài liệu liên quan đến hoạt động cải lương để tham khảo và để chứng minh khi cần. Chứ không phải chỉ hiểu biết cách lơ tơ mơ, rồi mang máy chụp hình đến Ngã Tư Quốc Tế, hoặc đi vào hậu trường rạp hát để làm ký giả kịch trường…”

            Lời của ông Trần Tấn Quốc quả đúng không sai, đã rơi vào trường hợp của tôi hiện giờ. Nếu như không có tài liệu thì rất khó giải thích, bởi cô Đoàn Anh Loan là con của nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận, hay Đoàn Kỳ Quận (theo như cô Đoàn). Người con nói tên họ của cha mình thì ai lại không tin là đúng.
            Thế nhưng, đối với tôi lại là người có tài liệu chứng minh, và để trả lời cô Đoàn Anh Loan, tôi scan bản tin của Việt Tấn Xã hồi 44 năm về trước được đăng trên tờ báo Chính Luận ngày 22-1-1969 có ghi rõ nhà tiền đạo là Nguyễn Văn Quận, gởi về đài RFA để thông báo trả lời cho cô Đoàn trong mục Thư Tín của đài.


(https://i.ytimg.com/vi/2pIdSDd_MJs/hqdefault.jpg)
Hình ảnh Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp

Một đêm hát cải lương
            Đến rạp để xem một vở tuồng, khán giả thật tâm muốn thưởng thức nghệ thuật phải chú trọng những gì diễn trên sân khấu, do đó người xem phải tập trung tư tưởng, tinh thần để theo dõi lời ca, câu hát. Có vậy mới bổ ích cho mình và cũng không hoài công sự cố gắng của diễn viên và soạn giả. Nhưng khốn nỗi, trong lúc khan giả thật tâm muốn thưởng thức nghệ thuật lại gặp bao nhiêu bực dọc phiền toái ở cạnh mình, giữa bầu không khí ồn ào mà phần lớn cũng là do đa số khán giả gây ra.
            Có lần nọ vào giữa thập niên 1960, một ông công chức cùng bà xã đi coi cải lương, sáng hôm sau vào sở ông kể lại rằng, tuồng hát bắt đầu, lúc tấm màn nhung vén lên khởi diễn thì khán giả ở ngoài mới chịu ùn ùn kéo vào.
            Đáng lý khán giả vào trước lối 5 hay 10 phút để biết chỗ nào mình ngồi, và để cho tâm trí được thong thả nhẹ nhàng đặng chút nữa xem hát nghe ca. Nhưng không, số bà con khán giả khá đông đó đợi mở màn rồi mới chen lấn vào. Cảnh tượng, không khí bên trong rạp lúc bấy giờ thật là rối loạn huyên náo. Những người vào trước phải co giò nép mình cho những người vào sau tìm số ghế.
            Khi mấy bạn chỉ dẫn tìm đúng số ghế, lại thấy có người chiếm rồi. Anh ta năn nỉ người ngồi lầm ghế trả lại chỗ ngồi, nhưng khán giả ấy không chịu đi, do bởi nhân viên ở quày vé bán “đúp lê” chiếc ghế tốt này. Thế là cả một vấn đề gay go, giải thích và xin lỗi đủ điều của anh chỉ dẫn. Không khí đã ồn ào lại càng ồn ào hơn bởi sự cãi vã to tiếng.
            Tội nghiệp cho khán giả ngồi phía sau vì sự chàng ràng của mấy ông bà khán giả đi tìm số ghế, cho đến cả mấy chú chỉ dẫn lom khom năn nỉ, nên họ phải nghiêng đầu qua, nghiêng đầu lại để nhìn lên sân khấu.
            Chờ cho xong cuộc “đổ bộ” như thế, những người vào trước và thật sự muốn xem hát vô tình bị “tước” hết một đoạn đầu của màn nhứt. Tuồng tích lần hồi đến mức éo le gay cấn, tưởng đâu ai nấy đều chăm chú theo dõi những diễn biến trên sân khấu, thì ở đầu nầy có hai chị đàn bà hàn huyên, kể lể bằng một giọng rang rảng về hụi hè, về vé số và luôn cả vụ vừa mới đánh ghen với đức ông chồng ở đâu đó. Tiếng nói của hai chị khán giả nầy nổ như pháo Tết làm át mất tiếng hát của nghệ sĩ.
            Trong lúc ấy thì ở góc bên kia, một bà khán giả khác bồng theo một em bé độ hai tuổi, vì nóng nực đòi uống nước thế nào đó, lại ré lên. Khi đó, thay vì dịu dàng dỗ con hay nếu không cũng chịu khó đứng dậy bồng đứa bé ra ngoài trong chốc lát để tránh sự phiền phức cho những người ngồi chung quanh. Trái lại, bà này lại “xáng” cho cậu bé mấy tát tai… Thế là thằng nhỏ đau điếng khóc thét rùm cả rạp. Đã vậy, bà khán giả nói trên lại rống miệng đem đủ danh từ không đẹp chút nào để mắng cho thằng bé một trận đã nư, khiến cho bao nhiêu khán giả ngồi gần phải buộc lòng… nghe ráo.
            Nếu là khán giả cải lương của thời thập niên 1950-1960 chắc chẳng một ai mà không biết qua vấn đề trẻ em gây ồn ào trong rạp hát, rất phiền hà cho khán giả. Có lần nọ vào khoảng 1956 gánh hát bầu tèo trình diễn ở Mỹ Tho, đêm đó đang diễn tuồng Phàn Lê Huê giả chết. Màn nhứt vừa bỏ xuống, bỗng kéo lên liên, và người thấy ông bầu đứng nghiêm chỉnh, trịnh trọng nói:
            – Kính thưa quí vị nít nhỏ, xin quí vị cảm phiền bước xuống khỏi sân khấu tui mới cho hát tiếp…
            Khán giả cười ầm lên. Thì ra hôm bữa đó con nít vô rạp quá nhiều, đứng chật đường đi, không còn chỗ đứng và tràn lên sân khấu. Lại còn thêm phía trong cánh gà còn nghịch ngợm hơn, một đứa vô nằm trong chiếc hòm của Phàn Lê Huê để cho mấy đứa khác khiêng và cười rần lên…
            Trong đám con nít ấy có con của các khán giả, và những đứa bé vô cọp cũng có. Có lần nọ đi xem đoàn Hoa Thủy Tiên khai trương ở rạp Biên Hùng, Biên Hòa gặp “hằng hà sa số” con nít đứng trên bệ trước giàn kèn, rồi tràn lên mí sân khấu. Đến đoạn một cô đào sắp diễn lớp cô ta tự tử ở trước tấm đề co phít, thì “quí vị nít nhỏ” bu cô ta, khiến cô ta mắc cỡ, diễn… tắt ngang cái lớp đó, để tắt đèn đổi cảnh…
            Có đêm đông đảo con nít đến đứng cà rà ở dàn nhạc khiến khán giả ngồi ở phía sau hết sức bực mình. Rồi thỉnh thoảng các nhân viên soát vé đến lùa đám trẻ nít đi. Rồi một chút thôi, chúng lại tụ tập đến nơi ấy nữa. Rồi các anh soát vé đến đuổi xô. Diễn mãi như thế… Hoặc là một chị nọ dẫn theo ba, bốn đưa con nít ngồi đứng lăng xăng cạnh mẹ nó, làm cho khán giả ở hai bên và ở phía sau khó xem được tuồng hát. Cái lào xào, lộn xộn ở các rạp hát do con nít tạo ra rất thường thấy. Nhiều người xem hát, dẫn theo con nít từ còn bé đến con nít biết chạy giỡn. Người ta hằng được chứng kiến cảnh con của một nữ khán giả khóc ré lên, rồi nữ khán giả ấy vạch vú cho con bú – thằng “oắt con” hay con “oắt con” có lẽ vì nực nội, cứ khóc mãi, khiến cho má nó giận đánh cái chát rồi chửi um lên.
            Còn rất nhiều chuyện lào xào lộn xộn nữa, mà thường do con nít “chủ động”. Các đoàn hát cần khán giả nên vẫn cho các bà mẹ dẫn con theo hay bồng con theo coi. Vì một số nữ khán giả thuộc lớp lao động, không có mướn người giữ con, nên đi xem hát là phải dẫn con theo. Nếu cấm ngặt con nít đi theo mẹ, thì chắc chắn các đoàn hát mất một số lớn khán giả vậy.
            Trên đây là một vài vấn đề “đặc thù” của sân khấu cải lương ở nước ta. Và những chuyện như vầy chắc rằng khán giả cải lương sẽ hình dung được ngay. Còn bao nhiêu vấn đề khác nữa mà trong một buổi nói chuyện làm sao nói cho hết được!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-05182013-05182013120525.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 26/05/2017, 18:31:34
Chuyện vui làng sân khấu: Tú Trinh và Huỳnh Thanh Trà

Khán giả truyền hình thời kỳ trước 1975 quá quen thuộc với hình ảnh của nữ kịch sĩ Tú Trinh và tài tử chiếu bóng Huỳnh Thanh Trà, bởi cả hai thường xuất hiện trên màn ảnh nhỏ này. Thế nhưng có mấy ai rõ được đã có một chuyện xảy ra liên quan đến hai người, chẳng khác gì một màn kịch sống động, và thiên hạ nói nếu như câu chuyện thật này được đưa lên sân khấu, trên sàn quay của đài truyền hình thì chắc rằng cả hai sẽ nổi tiếng nhiều hơn gấp bội. Vậy trước khi đề cập đến câu chuyện kia, cũng cần biết qua về quá trình hoạt động văn nghệ của hai kịch sĩ đã một thời được khán thính giả ái mộ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-052413-05242013171643.html/ttt-305.jpg/image)
Một cảnh trong phim “Trống Mái” 1971. Tài tử Huỳnh Thanh Trà (trái)
và kép Thanh Tú vai thằng Vọi. Ảnh do Ngành Mai sưu tập

Nữ kịch sĩ Tú Trinh
            Trước hết nói về Tú Trinh, nữ diễn viên thoại kịch và điện ảnh có tiếng nói sang cả dễ thương, cô đã cho báo chí biết rằng sở dĩ có được nghề là nhờ thời gian học ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ.
            Trước tiên người ta thuê cô chuyển âm phim, và về thoại kịch thì Tú Trinh đã lên sân khấu lần đầu tiên trong đại nhạc hội Kim Cương, và sau đó gia nhập ban kịch “Sống” của Túy Hồng.
            Nữ kịch sĩ Tú Trinh là con của nhạc sĩ Chín Trích, (một danh cầm đờn cò), cô có nước đã đen gần như Chà Và, song nàng lại có duyên và đóng kịch rất khá, được thiên hạ tặng cho biệt danh “nàng Công Chúa Ấn Độ”. Tú Trinh không buồn gì trước cái biệt danh đó, trái lại nàng còn nói:
            “Chính người yêu của em cũng bảo là ảnh yêu em tại nước đa đen ngòm của em đó…”
            Tú Trinh đã có lần tiết lộ chính nhờ màu da bánh mật ấy mà người yêu của cô cưng như trứng mỏng. Khi xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, Tú Trinh thường hay đóng vai những cô gái tuổi vừa tròn mộng với bộ bà ba rất là mộc mạc. Với dáng dấp ấy và nụ cười quyến rũ ấy, Tú Trinh đã khiến nhiều chàng ái mộ, si mê. Thế nhưng, người ta vỡ mộng khi gặp con người thật của Tú Trinh ngoài đời rất “chì”. Ra đường Tú Trinh thích mặc đầm mà đầm mi ni mới ác, chớ không hề thấy nàng khép nép trong bộ bà ba như trên TV bao giờ.
            Thỉnh thoảng Tú Trinh cũng có hát cải lương. Có lần trên truyền hình nàng đóng một vai khá quan trọng trong vở hát “Kẻ Đội Mồ” do Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu thực hiện. Người xem trông đợi và lắng nghe Tú Trinh ca cổ nhạc như thế nào. Nhưng rất tiếc, vai trò của Tú Trinh diễn bằng… nước mắt nhiều hơn ca. Cô khóc nhiều quá! Hễ xuất hiện là khóc, có thể nói đụng tới là… khóc.
            Kể ra Tú Trinh khóc cũng hay lắm, cô khóc sướt mướt, nước mắt nước mũi đổ giọt. Do đó, vai tuồng của Tú Trinh có ca nhiều trong đó có vọng cổ nữa, song vì khóc bù lu bù loa, mà ca không ra bài bản nào, và khán giả cũng không nghe được gì để nhận xét Tú Trinh ca cổ nhạc ra sao?
            Vai tuồng bắt buộc diễn viên phải khóc. Phần khác, Tú Trinh là cô gái nhạy cảm và đa cảm, nên đóng vai trò mà phải khóc là cô khóc thật tình, nước mắt ràn rụa. Khi gặp vai tuồng gay cấn làm xúc động diễn viên như vai Mai trong “Kẻ Đội Mồ”, Tú Trinh khóc đến can không nổi. Có một bà khán giả xồn xồn lên tiếng:
            “Cái cô này “mít ướt” quá xá ta!
            Một bà khác nói:
            “Nếu thi khóc tay đôi với Kim Cương, chắc Tú Trinh về… hạng nhì.”
            Câu nói đùa của bà này khiến cho khán giả truyền hình hôm bữa đó cười rần lên.
            Sau 1975 trong một video tuồng Tô Ánh Nguyệt, Tú Trinh đóng vai vợ chàng Minh cũng có ca một, hai câu vọng cổ gì đó cũng khá.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-052413-05242013171643.html/203522262-250.jpg/image)
Nghệ sĩ Tú Trinh và Cao Phi Long vào đầu thập niên 80

Diễn viên Huỳnh Thanh Trà
            Đó là sơ qua về tài nghệ của Tú Trinh, còn Huỳnh Thanh Trà thì sao? Chàng này cũng nổi tiếng không kém. Nếu như có ca sĩ tân nhạc bước sang qua địa hạt cải lương để rồi nổi tiếng nhờ bộ môn nghệ thuật này như trường hợp Hùng Cường, thì cũng có người theo học cải lương, xuất thân từ trường đào tạo cải lương thì lại nên danh nhờ… điện ảnh, đó là Huỳnh Thanh Trà, tài tử chánh đóng cặp với Thanh Nga trong phim “Loan Mắt Nhung”.
            Nhưng lúc bấy giờ có nhiều người tự hỏi Huỳnh Thanh Trà xuất thân từ đâu, học trường lớp nào mà lại nhảy vô làm tài tử chánh trong cuốn phim, mà theo dư luận lúc bấy giờ thì số thu rất cao ở nhiều rạp trong đô thành và các tỉnh.
            Khi phim “Loan Mắt Nhung” ra đời, cái tên của Huỳnh Thanh Trà cũng theo đó mà lên, chớ trước đó thiên hạ đâu có biết Huỳnh Thanh Trà là ai, báo chí cũng không nói tới tên bao giờ, do vậy mà đã không ít người cho rằng Huỳnh Thanh Trà may mắn giống như trúng số vậy. Tóm lại là khán giả chưa đánh giá cao tài năng của anh.
            Thế nhưng, nếu ngược về quá khứ để tìm hiểu Huỳnh Thanh Trà thì người ta sẽ thấy bước đường nghệ thuật mà anh đạt được không phải là do một sự may mắn tình cờ, mà là cả một quá trình học tập nghề nghiệp có căn bản vững vàng, chớ không phải khơi khơi mà nhảy vô làm tài tử điện ảnh như nhiều người lầm tưởng.
            Cũng như Tú Trinh, những năm đầu của thập niên 1960, Huỳnh Thanh Trà là học viên của trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn và tốt nghiệp lớp đào tạo nghệ sĩ sân khấu cải lương ở đây, có nghĩa là anh xuất thân là môn đệ của những Năm Châu, Duy Lân, Năm Nở…
            Năm 1966 lúc Huỳnh Thanh Trà ra trường lại là lúc có đoàn Ánh Chiêu Dương của Năm Châu ra đời, và Huỳnh Thanh Trà lúc bấy giờ với cái nghệ danh Dạ Khách đã gia nhập đoàn hát ngay từ buổi đầu mới thành lập, và chỉ đóng vai phụ, nhưng rồi đoàn này chẳng sống được bao lâu thì rã gánh. Kế đó Dạ Khách lại đi gánh Thiên Hương, rồi thì cũng bị cảnh gánh hát rã.
            Người ta nói có lẽ Huỳnh Thanh Trà không có duyên với cải lương hay sao, chớ trước đó đào Phương Ánh cũng xuất thân từ trường lớp này, và được lên sân khấu lớn Thanh Minh Thanh Nga, đóng vai chánh gái bán ba, trong tuồng “Gái Bán Ba”. Nhưng rồi cũng do lận đận với cải lương, anh đổi tên là Huỳnh Thanh Trà. Nhờ đam mê nghệ thuật, dù cải lương hay điện ảnh, ai mời đâu đóng đó.
            Một ngày đẹp trời nọ Huỳnh Thanh Trà lọt vào cặp mắt nghề nghiệp của đạo diễn Lê Dân, và bước đường nghệ thuật của anh ta đã có dịp đi lên. Đạo diễn Lê Dân đã chọn Huỳnh Thanh Trà thủ vai chính trong phim Loan Mắt Nhung rồi nổi tiếng luôn, và cũng kể từ đó cái tên Dạ Khách đã lui về dĩ vãng.
            Như đã nói Huỳnh Thanh Trà và nữ kịch sĩ Tú Trinh là bạn đồng môn ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Thời gian sau Huỳnh Thanh Trà gia nhập cán bộ xây dựng nông thôn, và cùng phục vụ trong ban văn nghệ với Tú Trinh, do vậy mà họ rất thân với nhau. Lúc cộng tác với đài truyền hình thì có một câu chuyện xảy ra khiến ai nghe qua cũng cười.
            Số là có một hôm tại đài truyền hình bỗng rần lên xôn xao, do cái tát tay của Tú Trinh giáng vào mặt Huỳnh Thanh Trà là người ta đồn ầm lên rằng là tại Tú Trinh ghen Huỳnh Thanh Trà mới ra nông nỗi. Họ có yêu nhau hay không thì mấy ai hiểu cho thấu đáo. Thiên hạ nói hễ ghen là có yêu, vậy thì Huỳnh Thanh Trà có yêu Tú Trinh không và Tú Trinh ghen với ai đây? Thế nhưng, Tú Trinh thì bảo rằng sở dĩ cô tát tay Huỳnh Thanh Trà, chỉ vì anh này đã dám công khai bảo với mọi người rằng cô đã có lần sexy trăm phần trăm cho các tay tổ nào đó xem chơi. Tình thật, theo giới am hiểu đầu đuôi câu chuyện thì bảo rằng hôm đó Tú Trinh thay đồ trong, Huỳnh Thanh Trà vô tình nên đã thấy…
            Nếu như thấy rồi mà im luôn một mình biết mà thôi thì đâu có chuyện gì. Đằng này chàng ta lại đem nói với người nào đó, rồi thì một đồn mười, mười đồn trăm và rồi cả đài truyền hình ai cũng biết. Thiên hạ suy diễn thêm bớt đủ thứ về cái chuyện sexy ấy, do đó Tú Trinh tức quá, nổi nóng giáng cho anh chàng xấu miệng Huỳnh Thanh Trà một tát tay đau điếng.
            Lúc ấy tại quán cà phê gần đài truyền hình, thiên hạ không ngớt bàn tán về cái “thấy” của Huỳnh Thanh Trà. Có người chê Huỳnh Thanh Trà quá dở, nếu đã thấy thì coi như có dịp được xem một màn vũ sexy do nữ kịch sĩ nổi danh đóng thì còn gì hơn chớ! Dễ gì được coi, lại coi không mất tiền nữa…
            Rồi người khác lại nói bởi thấy cái đó nên xui xẻo, bị ăn tát tay cũng đúng thôi! Nhưng ngược lại cũng có người cho rằng “hên” lắm lắm. Nhưng không biết chàng ta thấy được sexy bao nhiêu phần trăm? Nếu như chỉ thấy chút chút mà ăn tát tay thì có hơi đắt. Còn như thấy… hết trơn trọn gói thì đáng đồng tiền bát gạo, ăn một tát tay cũng còn rẻ chán!
            Cách đây khoảng hai năm, Tú Trinh từ Việt Nam ra hải ngoại tham gia văn nghệ, do được ban kịch “Sống” của Túy Hồng mời góp mặt trong vở “Đoạn Tuyệt” phỏng theo tác phẩm cùng tên của văn hào Nhất Linh. Tôi có gặp Tú Trinh ở Little Sài Gòn, miền Nam California tại một buổi tiệc do kịch sĩ Túy Hồng mời. Thế nhưng, lúc ấy tôi lại quên hỏi Huỳnh Thanh Trà hiện nay ra sao? Có còn làm nghệ thuật gì nữa không? Nếu hỏi thì chắc gì được trả lời!


NGÀNH MAI
Tháng 5/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nganh-mai-052413-05242013171643.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 29/05/2017, 18:52:21
Điều kỳ diệu của bài vọng cổ

Trong nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ, có nhiều mỹ danh gắn liền với những nghệ sĩ tài hoa: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Vua xàng xê Minh Chí, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn tài, Nữ vương sầu nữ Út Bạch Lan, Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, Nữ hoàng kiếm hiệp Mỹ Châu… Đối với tất cả các nghệ sĩ thành danh này, một trong những thước đo chính để trao vương miện cho họ chính là tài năng ca vọng cổ. Nói cách khác, trên sân khấu cải lương, bản vọng cổ được xem là bài bản “xương sống”. Ra đời cách đây hơn 90 năm, đến hiện tại dù cải lương đang hồi khó khăn, nhưng bản vọng cổ dường như vẫn khỏe mạnh và tiếp tục phát triển. Vì sao thế? Bởi vì bản vọng cổ có những điều kỳ diệu của nó.

(http://media.baotintuc.vn/2014/08/13/09/55/daco.jpg)
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu năm 1960

Từ cuộc tình chung thủy đến bản Dạ cổ hoài lang
            Bài tổ của bản vọng cổ chính là bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Sự ra đời của bài ca này gắn với một cuộc tình son sắt.
            Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) sinh năm 1892 tại rạch Cây Cui, thôn Thuận Lễ, tổng Thạnh Hội Hạ, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, bây giờ là Mỹ Thuận, Tân An, Long An. Năm lên 6 tuổi, gia đình của cậu bé Sáu Lầu cùng với 19 gia đình khác dắt dìu nhau về lập nghiệp tại Gia Hội, Bạc Liêu. Ở đó, cậu bé Sáu Lầu đã thọ giáo với nhạc sĩ Hai Khị, một nhạc sĩ đàn ca tài tử có tiếng khắp lục tỉnh Nam Kì lúc bấy giờ.
            Năm 21 tuổi, chàng thanh niên Sáu Lầu được mai mối kết hôn với cô Trần Thị Tấn. Dù trong cảnh nghèo khó, nhưng đôi vợ chồng son vẫn yêu thương nhau rất mực. Số phận trớ trêu, tám năm ân ái mà họ vẫn chưa có được mụn con nào. Theo đúng truyền thống phong kiến “Tam niên vô tử bất thành thê” (cưới nhau đã ba năm mà không thể sinh con thì không được xem là vợ nữa), mẹ ông đã buộc ông phải trả vợ.
            Nếu phải chìu lòng thân mẫu vì cái câu ác nghiệt “Tam niên vô tử”, thì chàng thanh niên Sáu Lầu cũng hiểu rõ cái câu “Nhất nhật phu thê bá dạ ân” (Một ngày là vợ chồng thì trăm năm ân nghĩa). Bởi thế, Sáu Lầu ngày đêm thương nhớ vợ hiền, mong mỏi ngày đoàn tụ. Trong tâm trí, ông nghĩ rằng vợ ông chắc cũng đang chịu cảnh sầu thảm nhớ nhung giống như ông. Cám cảnh thay cho người vợ tuổi mới đôi mươi buộc phải xa chồng, chịu bao tiếng đời ác nghiệt, để rồi đêm đêm mong ngóng chồng mòn mỏi như thiếu phụ trông ngóng chinh phu ngoài vạn lý xa xôi.
            Tức cảnh sinh tình, người chồng Sáu Lầu đã viết nên một bài ca mang tên là “Hoài Lang” (Trông chồng), như để nói dùm nỗi lòng của người vợ tào khang. Sau đó ông Bảy Kiên đề nghị thêm vào chữ “Dạ cổ” (Tiếng trống đêm khuya). Và thế là bài “Dạ cổ hoài lang” (Đêm nghe tiếng trống nhớ thương chồng) đã ra đời.
            Nỗi lòng ông đã được người mẹ vợ cảm thông nên bà âm thầm tạo điều kiện cho hai người được bí mật gặp nhau. Trời như thương kẻ có lòng, chính những lần gặp gỡ âm thầm đó, vợ ông đã có mang. Gia đình ông Sáu Lầu vui mừng đến đón dâu trở lại. Vợ chồng đoàn tụ trong niềm hân hoan. Sau đó bà sinh cho ông đứa con trai đầu lòng trong tổng số bảy người con, năm trai, hai gái sau này.
            Ông Sáu Lầu mất ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại Bạc Liêu. Mộ hai vợ chồng ông hiện được đặt cạnh nhau như một minh chứng cho cuộc tình thủy chung gắn bó của đôi vợ chồng nghèo dẫn đến sự ra đời một bài bản bất hủ của sân khấu cải lương Nam Bộ.

Từ tác phẩm cá nhân trở thành sáng tác tập thể
            Bài “Dạ cổ hoài lang” được nhạc sĩ Sáu Lầu viết vào năm 1919. Khi ấy bài này có 22 câu nhịp đôi. Theo soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá, ông Sáu Lầu đã bỏ hai câu cuối để còn 20 câu nhịp đôi. Từ nhịp đôi lúc mới vừa được sáng tác, bài “Dạ cổ hoài lang” dần phát triển theo thời đại để đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức của khán giả.
            Theo giáo sư Trần Văn Khê, năm 1922, ông Phạm Công Bình đặt vở tuồng “Tối độc phụ nhân tâm” trong đó có bài “Dạ cổ hoài lang” nhịp hai. Năm 1925, ông Huỳnh Thủ Trung, tức Tư Chơi, sáng tác lời ca cho bài “Vọng cổ” nhịp tư mang tên “Tiếng nhạn kêu sương” trong đó có đoạn:
                        “Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc
                        Én cam khóc hận dưới trời Nam”
.
            Đến năm 1935, ông Lư Hòa Nghĩa, tức nghệ sĩ Năm Nghĩa, ca bài “Văng Vẳng tiếng chuông chùa” vọng cổ nhịp 8. Năm 1938, nhạc sĩ Vĩnh Bảo đàn cho cô năm Cần Thơ ca vọng cổ nhịp 16. Đĩa Beka thâu vọng cổ nhịp 8, nhịp 16. Khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã khởi đầu ca bài vọng cổ nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Vọng cổ nhịp 64 và 128 cũng bắt đầu phát triển, nhưng không mấy phổ biến.
            Đi vào chi tiết về ngày tháng, tên họ của các nhạc sĩ, nghệ sĩ góp phần phát triển cho bản vọng cổ từ nhịp 2 đến nhịp 128, hiện còn khá nhiều điểm chưa tương đồng giữa các nhà nghiên cứu cổ nhạc. Thế nhưng, có một điều chắc chắn là, bản “Dạ cổ hoài lang” của cụ Sáu Lầu ngày ấy đã không ngừng lớn lên theo năm tháng, đặc biệt là có biết bao nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đóng góp cho việc định hình một bài vọng cổ nhịp 32 hoàn hảo cho người mộ điệu thưởng thức như ngày nay.

Bài ca vua của sân khấu cải lương
            Bản vọng cổ được xem là “Bài ca vua” của sân khấu cải lương. Có nhiều lí do để giải thích cho “cái vị thế” đó. Trước tiên, bài vọng cổ được xem là thước đo chính để khán giả đánh giá nghệ sĩ, các nghệ sĩ muốn được nổi tiếng và thành công thì phải hát thật mùi bài vọng cổ. Nó giống như cái dáng vẻ bên ngoài của một con người, dù chưa biết tâm tính thế nào, lòng dạ ra sao, nhưng nếu có dáng vẻ bên ngoài dễ nhìn, thì tất nhiên đó là một lợi thế để lấy được thiện cảm của người khác. Đối với nghệ sĩ, nếu ca vọng cổ mà khán giả nghe mùi, thì nghệ sĩ sẽ dễ dàng chiếm được cảm tình của khán giả. Nếu ca vọng cổ mà được khán giả chấp nhận, thì tức là người nghệ sĩ đã có được một giấy thông hành loại ưu tiên để tiếp tục con đường chinh phục trái tim người mộ điệu. Bởi vậy mà tất cả các đào kép chánh đều buộc phải ca vọng cổ cho hay. Và hầu như tất cả những nghệ sĩ thành danh, khán giả nhớ đến họ trước hết là nhớ đến một giọng ca vọng cổ đặc sắc nào đó.
            Còn khi đến rạp xem diễn cải lương trực tiếp, trên sân khấu, nghệ sĩ ca, múa biết bao nhiêu bài bản cải lương. Nhưng lạ thay, như một luật bất thành văn, hễ nghệ sĩ trên sân khấu vô vọng cổ, là lập tức khán giả im phăng phắt để lắng nghe từng câu, từng lời, từng cách nhả chữ, luyến láy, đến khi nghệ sĩ xuống vọng cổ thì lập tức cả khán phòng vỗ tay tán thưởng. Trong khi các bài bản cải lương khác, dù nghệ sĩ có ca thật hay, thật mùi, cũng không hề được ưu ái dành cho một luật bất thành văn như vậy.
            Một thế mạnh nữa của bài vọng cổ để giúp nó ngồi vững trên ngai vàng, đó chính là tính phổ biến của nó trong xã hội, đối với người mê cải lương cũng như người thích tân nhạc. Trong xã hội hiện đại ngày nay, cái thời mà hằng ngày bằng phương tiện này hoặc phương tiện khác, người ta đều nghe nói đến cái gọi là “cải lương xuống dốc”, “cải lương suy thoái”… nói chung là những từ ngữ chỉ sự suy yếu của cải lương trước những loại hình giải trí hiện đại khác. Ấy thế mà, dù mê cải lương hay không, có mấy ai ở Miền Nam Việt Nam khi nghe nói đến từ “vọng cổ” lại không biết đó là cái gì. Còn khi nghệ sĩ cải lương phải chạy sô cho các chương trình tân nhạc, thì khi nhìn thấy họ trên sân khấu, khán giả có mấy ai yêu cầu họ ca một bản Nam ai hay một bài Trường tương tư, mà hầu như chỉ yêu cầu duy nhất vọng cổ và vọng cổ.

Sáu câu vọng cổ nghe hoài không chán
            Nhờ bài vọng cổ mà biết bao giọng ca đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Sang, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng, Tấn Tài, Hà Bửu Tân, Út Bạch Lan, Thanh Hương, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Mộng Tuyền, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ… và còn biết bao giọng ca bất tử khác nữa. Thế nhưng mà lạ thay, trong rất nhiều giọng ca nổi danh ấy, không giọng nào giống giọng nào, mỗi giọng có một nét rất riêng mà hễ vừa nghe là khán giả nhận ra ngay, không nhầm lẫn vào đâu được.
            Dù nhiều nhà nghiên cứu cố gắng xếp nhiều nghệ sĩ vào trong một trường phái ca vọng cổ cụ thể, thế nhưng sự phân chia đó vô cùng tương đối, bởi cái tính đa dạng trong giọng ca giữa những nghệ sĩ qua cách nhấn nhá, vô vọng cổ, xuống xề, xấp chữ… Ngay cả đối với bản thân nghệ sĩ, thì trong mỗi bài vọng cổ, tùy theo nội dung và tâm trạng họ cũng có những cách nhấn nhá khác nhau. Thế mới biết, chỉ có sáu câu vọng cổ nhưng lại hàm chứa muôn hình vạn trạng kiểu ca, cách hát: Như cách xấp chữ và ca chẻ nhịp của nghệ sĩ Út Trà Ôn đến hiện tại vẫn chưa có ai kế thừa, hay lối xuống xề ở cuối câu 5 và 6 của Sầu nữ Út Bạch Lan cũng là có một không hai, hoặc cách dứt câu 2 ngân dài của nghệ sĩ Mộng Tuyền cũng là độc nhất vô nhị trong làng cổ nhạc Miền Nam.
            Nhờ sự đa dạng này, mà bản vọng cổ chỉ có 6 câu ca tới ca lui từ xưa đến giờ với biết bao ngàn bài, thế mà mỗi lần nghe, là người ta có cảm giác như mới vậy. Khi một soạn giả viết ra một bài ca vọng cổ mới, thì cái mới ở đây chỉ là lời ca, chứ còn bản đờn 6 câu vọng cổ vẫn y vậy, không có gì thay đổi. Tuy nhiên, với lời ca mới, khán giả khi nghe không hề thấy nhàm chán với 6 câu đờn, mà lời ca mới đã khiến cho cả bản vọng cổ trở nên hoàn toàn mới. Hơn nữa, cùng một bài vọng cổ, nhưng mỗi nghệ sĩ có cách thể hiện khác nhau, bởi thế nó vẫn luôn như mới.

Vọng cổ đâu chỉ có u buồn!
            Khán giả tìm đến với cải lương bởi ở đó là một cuộc đời thu nhỏ. Các bài bản cải lương rất đa dạng, có thể diễn tả được đủ loại thất tình lục dục của con người. Thường thì sân khấu cải lương có 20 bài bản tổ bao gồm:
            – Ba bài Nam: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái, Đảo Ngũ Cung + Song Cước.
            – Sáu bài Bắc: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
            – Bảy bài Lễ: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
            – Bốn bài Oán: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.
            – Bốn bài Oán phụ: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ.
            Hai mươi bản tổ này chia ra bốn loại theo bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và bốn hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), được sử dụng biểu đạt những cung bậc tình cảm khác nhau. Chẳng hạn như để diễn tả tình cảm vui tươi rộn rã thì sử dụng bài Xuân Tình, sự hùng tráng uy nghi thì có điệu Xàng Xê, buồn ảo não thì có Phụng Hoàng, Tứ Đại Oán hay Nam Ai, biểu lộ sự sảng khoái thì dùng điệu Nam Xuân, thổ lộ tâm tình trong tâm trạng u hoài thì có Văn Thiên Tường…
            Thế còn bài vọng cổ thì sao? Vọng cổ có thể diễn tả được hết thảy các loại tình cảm đó.
            Trước tiên, vọng cổ là u buồn ảo não. Bản “Dạ cổ Hoài Lang” vốn là một bài buồn tê tái, thì bản vọng cổ ngày nay đương nhiên phải đượm nét u sầu. Đã có biết bao bài vọng cổ kể lể chuyện thương đau làm rung cảm biết bao con tim mộ điệu: Tình anh bán chiếu – Út Trà Ôn, Tiếng Ve Sầu – Út Bạch Lan, Cô gái bán đèn hoa giấy – Thanh Hương, Bạch Thu Hà – Lệ Thủy, Bông Ô Môi – Tấn Tài, Hòn Vọng Phu – Mỹ Châu, Tình là dây oan – Hữu Phước + Thanh Nga, Tình mẫu tử – Ngọc Giàu…
            Thế nhưng, bài vọng cổ không chỉ có u sầu, mà còn có thể khiến người nghe cười ra nước mắt. Người mê vọng cổ làm sao quên được giọng ca độc nhất vô nhị của vua vọng cổ hài Văn Hường, với hàng loạt các bài vọng cổ để đời: Vợ tôi nói tiếng Tây, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Văn Hường đi Suzuki, Tề Thiên đại thánh, Văn Hường đi hớt tóc, Tư ếch lên sài Gòn, Tư Ếch đại chiến Văn Hường… Hay giọng ca Hề Minh trong bài Tôi mến làng tôi, Hề Sa với bài Pháp sư giải nghệ.
            Trong cuộc sống, những bậc anh hùng có khi cũng phải lệ rơi vì một hoàn cảnh trái ngang nào đó. Giọt nước mắt ở đây không phải là giọt nước mắt “bi lụy” mà là giọt lệ “bi hùng”. Cũng vẫn là những câu vọng cổ quen thuộc, nhưng người ca đòi hỏi phải cho khán giả cảm được nỗi u buồn, nhưng buồn với khí khái anh hùng. Những bài vọng cổ cho thể loại này cũng không hiếm: Nguyễn Trãi – Út Trà Ôn, Phàn Lê Huê – Út Bạch Lan, Hận Kinh Kha – Tấn Tài, Trống Loạn Thăng Long thành – Minh Cảnh, Men Rượu Sa Kê – Hữu Phước…

Cái hồn của bài vọng cổ
            Bài vọng cổ được xem là một bản nhạc cho người ca nhiều tự do nhất. Ví dụ như đối với bản vọng cổ 6 câu nhịp 32, người ca chỉ cần giữ đúng nhịp ở cuối câu, còn trong lòng bản thì hoàn toàn tự do nhấn nhá, luyến lái, xấp chữ… Chính nhờ có tự do mà các nghệ sĩ tha hồ sáng tạo ra cái riêng để người nghe không nhàm chán. Thế nhưng, cũng như khi nấu một nồi canh chua Nam Bộ, tùy ý thích mà người ta có thể nêm gia vị chua nhiều hoặc ngọt nhiều, nhưng phải nêm nếm làm sao để cho nồi canh chua còn là nồi canh chua, chứ để nhiều đường quá cũng không được mà bỏ nhiều me quá cũng không hay. Bản vọng cổ cũng vậy, nó “tự do” mà không “vô lối”, tức dù có tự do, nhưng phải giữ những điểm cơ bản nhất của nó, nếu không nó sẽ không còn là vọng cổ nữa.

Những điểm cơ bản nào?
            Vọng cổ trước tiên là “tự sự”, tức “kể chuyện lại cho người ta nghe”. Trong câu chuyện dĩ nhiên tùy lúc sẽ có Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Cụ, Dục (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn). Như vậy, mỗi bản vọng cổ đòi hỏi người viết phải cho nó một cốt truyện, người nghệ sĩ phải dùng lời ca để truyền tải cho được nội dung và tinh thần của cốt truyện đó đến người nghe.
            Thứ hai, phải hiểu rằng nhiệm vụ chính của người thể hiện bài vọng cổ là “ca”, và cái đích chính đó là làm thỏa mãn sự “nghe” của người thưởng thức. Bởi vậy mà người ta thường nói “ca vọng cổ”, nhưng “hát cải lương”. “Ca”, tức là người nghệ sĩ phải sử dụng giọng ca của mình để biểu đạt nội dung và sắc thái tình cảm của bài vọng cổ, làm sao để cho người thưởng thức chỉ nghe giọng ca cũng cảm được những cung bậc tình cảm mà người viết bài ca gửi gắm. Trong khi đó, cái chính của cải lương là “hát”, tức “biểu diễn” để cho khán giả “xem”, lời ca khi ấy đóng vai trò bổ trợ cho động tác diễn. Hồi trước, trong rạp hát, khi nghệ sĩ trên sân khấu chuẩn bị vô vọng cổ là lập tức hệ thống chiếu sáng được tắt bớt, ánh sáng chỉ còn giữ đúng cho khán giả nhìn thấy người nghệ sĩ đang vô vọng cổ. Trong bóng đêm, âm thanh của câu vọng cổ ngân vang, người nghe tập trung vào âm thanh đó, lời vọng cổ bổng nhiên trở nên trang trọng và hay làm sao! Thế mới biết các bậc tiền bối coi trọng việc “nghe” vọng cổ đến dường nào.
            Vọng cổ là “bình dị” bởi nó xuất phát từ nơi thôn dã, bởi nó giống như câu hò điệu lí của Miền Nam. Chính vì thế mà nó mới được công chúng yêu thương đến như vậy. Do đó, phải ca làm sao cho đúng cái thần của âm nhạc miền nam là “Chân phương hoa lá”. Tức khi ca vọng cổ là phải ca chân phương, nhưng không phải để bài ca chết khô, mà phải dùng chất giọng riêng tô điểm thêm hoa lá cho bài ca được tươi, được đẹp.
            Ngày nay, có nhiều người lạm dụng quá mức các màn múa bổ trợ cho bài vọng cổ. Đến mức mà, khi nghệ sĩ đang vô vọng cổ trên sân khấu, người ta vẫn để đèn đuốc sáng trưng, nghệ sĩ ca đứng giữa, các nghệ sĩ múa chạy qua chạy lại tấp nập. Trong điều kiện như vậy, khán giả bị phân tâm, không thể tập trung vào việc “nghe” được, còn nghệ sĩ biểu diễn thì cũng không thể tập trung chăm sóc tối đa cho giọng ca của mình do bị chi phối bởi việc kết hợp cùng đội múa. Và kết quả là: người ca thì không thể “ca” hết mình, mà người nghe thì cũng không thể “nghe” hết sức.
            Nhận định về thế hệ ca vọng cổ ngày nay qua các cuộc thi vọng cổ, Vua soạn lời vọng cổ Viễn Châu cho biết: “Hầu hết các cuộc thi tôi đều theo dõi, cảm thấy vô cùng vui mừng khi bộ môn cải lương vẫn còn nhiều người trẻ nối tiếp kế tục, sẵn sàng dấn thân đeo đuổi. Nhưng thú thật, có nhiều nghệ sĩ trẻ hát vọng cổ điệu đà, làm dáng quá đáng không đúng với cái chất của vọng cổ lắm. Theo ý kiến riêng của tôi, thể hiện bài hát vọng cổ cần phải thật giản dị, nhẹ nhàng giống như những lời mẹ ru, ngọt ngào và êm ái đưa con trẻ vào giấc ngủ say”. Đấy có phải chăng là lời cảnh báo cho thế hệ nghệ sĩ hiện tại đừng rời bỏ “cái hồn” của bản vọng cổ, để bảo tồn và phát huy “Bài ca vua của sân khấu cải lương”?


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120808-dieu-ky-dieu-cua-bai-vong-co

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: huhu vào 29/05/2017, 23:25:16
Đọc bài < Điều kỳ diệu của bài vọng cổ>: bài viết công phu và khá hay.
Tuy nhiên trong bài viết có vài chi tiết sai sót:
 *Chưa phân biệt giữa 2 tên gọi "bản" và "bài" :
  - Bản Vọng cổ (bản đờn): dùng để gọi bài ghi các ký âm (chữ : hò, xự, xang..) dùng để đờn.
  - Bài Vọng cổ (bài ca):  dùng để ghi lời ca dựa theo bản đờn Vọng cổ.
* Nên dùng từ " nhịp hai" thay cho từ "nhịp đôi" :
  - Nhịp hai : là để chỉ mỗi câu của bài "Dạ cổ hoài lang" gồm có 2 nhịp.
  - Nhịp đôi : là Mỗi câu hát bao gồm cả 2 loại nhịp đi đôi nhau. (thực tế trong cải lương không có loại nhịp đôi).
* Đoạn văn <Bài vọng cổ được xem là một bản nhạc cho người ca nhiều tự do nhất. Ví dụ như đối với bản vọng cổ 6 câu nhịp 32, người ca chỉ cần giữ đúng nhịp ở cuối câu, còn trong lòng bản thì hoàn toàn tự do nhấn nhá, luyến lái, xấp chữ… > :
   - Không phải câu nào trong "bài Vọng cổ " cũng chỉ cần giữ nhịp ở cuối câu cả đâu, mà tùy theo câu.
 Cụ thể,  ở câu 2 và câu 5 (bài VC 6 câu), ngoài việc ca đúng nhịp ở cuối câu, người ca còn phải xuống đúng nhịp ở chữ " hò " của khuôn đờn thứ 4 và thứ 5 của câu đó. Ở nhịp của chữ đờn " hò " này mà người ca tự do, luyến láy, chẻ nhịp, v.v  thì.. chết bài Vọng cổ !
     
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 31/05/2017, 21:47:34
Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương

Trong lịch sử hình thành và phát triển hơn 90 năm của sân khấu cải lương, có một nghệ sĩ có đến 70 năm cống hiến với những thành công rực rỡ trong cả hai lĩnh vực: đàn và sáng tác lời vọng cổ. Ông cũng chính là người góp phần to lớn cho thành công của đại đa số nghệ sĩ cải lương thời hoàng kim. Đó chính là soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá.

(http://image.thanhnien.vn/Uploaded/congthang/2016_02_02/anh1_NDZN.jpg?width=1600&encoder=wic&subsampling=444)
Soạn giả Viễn Châu (1924-2016)

Đệ nhất thập lục huyền cầm
            Nhắc đến ông, trước tiên là nhắc đến người được mệnh danh “Đệ nhất thập lục huyền cầm” Bảy Bá. Trong những năm 1960, thời vàng son của sân khấu cải lương, có một bộ ba đờn cổ nhạc được mệnh danh là “Tam hùng” bao gồm: Năm Cơ đàn sến, Văn Vĩ đàn guitar phím lõm và Bảy Bá đàn tranh. Đến hiện tại, chưa thấy có tay đờn nào vượt qua được bộ ba kiệt xuất này.
            Ông tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21/10/1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Trong gia đình ông là người con thứ Sáu, nên ông lấy nghệ danh Bảy Bá đúng theo cách gọi của người miền Nam.
            Năm 12 tuổi ông đã thành thạo đàn tranh và đàn guitar phím lõm. Tuy nhiên ngón đàn tranh của ông đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng đồng nghiệp và người mộ điệu. Một ngón đờn mượt mà qua từng âm thanh đầy gợi cảm, lúc thì du dương, lúc thì róc rách như tiếng của dòng suối thì thầm, lúc véo von như tiếng sơn ca, lúc thì trầm lắng như tiếng lòng người mang nhiều tâm sự.
            Ông đã có công khai phá nhiều lối chơi, tạo thêm nhiều bài học kinh nghiệm cho dàn nhạc cổ trong sinh hoạt đờn ca tài tử và sân khấu cải lương chuyên nghiệp của Nam Bộ.
            Soạn giả Kiên Giang từng ca ngợi: “Ngón đờn tranh điêu luyện của anh Bảy Bá như rót vào hồn bài vọng cổ những rung động con tim của người nghệ sĩ đã có nhiều vốn sống”.

Ông vua viết lời vọng cổ
            Đến hiện tại, sân khấu cải lương biết đến một số ít các ông vua: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn Tài. Thế nhưng, người góp phần quan trọng đưa các vị vua nói trên lên ngôi báu chính là Viễn Châu, người được mệnh danh là “Vua viết lời vọng cổ”.
            Nghệ danh Viễn Châu có từ năm 1950, khi ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng”. Từ “Viễn Châu” hàm ý chữ đầu của “Viễn xứ”, cộng với chữ cuối trong tên xã Đôn Châu quê hương ông, một cách để ông nhớ về quê hương nguồn cội.
            Bảy mươi năm tay viết tay đàn, ông đã sang tác gần 70 vở cải lương lớn nhỏ. Tuy nhiên, ông được biết đến nhiều nhất với tài viết lời vọng cổ với hơn 2000 bài, lập kỷ lục trong làng sân khấu cải lương.
            Những sáng tác theo kiểu “đo ni đóng giày” của ông đã góp phần làm nên nhiều tên tuổi: Tình anh bán chiếu – Út Trà Ôn, Hoa lan trắng – Út Bạch Lan, Áo tình đắp mộ người yêu – Ngọc Giàu, Tiếng trống tàn canh – Thành Được, Bạch Thu Hà – Lệ Thủy, Tu là cội phúc – Minh Cảnh, Lắng tiếng chuông ngân – Thanh Nga, Hòn vọng phu – Mỹ Châu, Hận Kinh Kha – Tấn Tài, Lòng dạ đàn bà – Minh Vương…
            Nghệ sĩ Ngọc Giàu khẳng định: “Không có Viễn Châu là không có Ngọc Giàu cũng như gần hết các tên tuổi cải lương nổi tiếng của cải lương thời hoàng kim. Hồi mới 12-13 tuổi ông đã viết cho tôi bài Áo tình đắp mộ người yêu để tôi thu dĩa và nổi tiếng từ đấy. Nhiều nghệ sĩ khác thời còn con nít như tôi cũng được nổi tiếng nhờ những bài ca của chú Bảy đo ni đóng giày…”

Ông tổ của Tân Cổ giao duyên
            Ông được xem là người tiên phong kết hợp tân nhạc với cổ nhạc thành ra một thể loại vọng cổ mới mà ông đặt tên là “Tân cổ giao duyên”. Số là vào năm 1958, sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, nhờ biết chơi đàn guitar và đàn tranh, ông đã đem bài tân nhạc Chàng là ai? của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết hòa với bài vọng cổ. Ông mạnh dạn bỏ hai câu 3 và 4 vì dễ bị trùng lắp, để đưa tân nhạc vào, tạo thành một bài tân cổ giao duyên hoàn chỉnh.
            Sau đó đưa cho hãng đĩa thu âm và phát hành. Hãng đĩa Hồng Hoa phát hành đĩa tân cổ giao duyên với giọng ca Lệ Thủy, lập tức bài tân cổ giao duyên được đông đảo thính giả đón nhận. Dù bị báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đả kích kịch liệt, nhưng ông vẫn quyết tâm tiếp tục thể nghiệm. Kết quả là, thể loại tân cổ giao duyên đã thành công ngoài mong đợi, và đến hiện tại vẫn được người mộ điệu tiếp tục đón nhận.

Cha đẻ của Vọng cổ hài
            Thường khi nói về vọng cổ, người ta nghĩ ngay đến một cái gì đó buồn thảm, bi ai. Thế mà, soạn giả Viễn Châu đã “lật ngược” một cách ngoạn mục lối suy nghĩ đó. Năm 1960, ông viết bài vọng cổ hài đầu tiên mang tên “Đêm tân hôn” cho danh hài Văn Hường ca.
            Bài ca đã đưa Văn Hường đến với con đường chinh phục vọng cổ hài. Tiếp sau đó, ông viết một loạt các bài ca hài hước khác cho Văn Hường: Vợ tôi nói tiếng Tây, Tôi mến làng tôi, Sợ vợ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Tề Thiên Đại Thánh… Nhờ vào những bài “đo ni đóng giày của ông”, Văn Hường đã đạt đến đỉnh cao vinh quang khi được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ hài”.

Biệt tài viết vọng cổ ngay tại phòng thu
            Nói về cái tài viết vọng cổ, Viễn Châu là người có khả năng “xuất khẩu thành… vọng cổ”. Ông có thể cầm bút viết ngay tại phòng thu. Anh em trong nghề vẫn hay kể nhau nghe về hai bài hát viết chưa ráo mực đã được thu đĩa của ông.
            Vào khoảng năm 1964, ngay tại phòng thu, ông được yêu cầu viết một bài vọng cổ để nghệ sĩ Hữu Phước ca thu đĩa tại chỗ. Tình thế cấp bách, ông nhận lời viết liền. Thế là khi mọi người đi rước hai nhạc sỹ Văn Vĩ và Năm Cơ tới, ông đã viết xong 3 câu đầu của bài vọng cổ “Nhớ mẹ”. Hữu Phước vào phòng thu ca xong ba câu đó, thì Viễn Châu cũng vừa hoàn tất ba câu vọng cổ còn lại.
            Một thời gian sau, cũng tại phòng thu, ông lại được yêu cầu viết ngay một bài cho nghệ sĩ Thanh Nhàn ca. Thế là ông viết liền bài “Trái khổ qua”, lấy cảm hứng từ việc nhìn thấy một anh đầu bếp đi chợ mua về một thúng đồ ăn, trong đó có đựng mấy trái khổ qua.
            Điều đáng chú ý là dù được viết vội vã, nhưng đây lại là hai bài vọng cổ thuộc hàng kiệt tác.

Nét đặc sắc trong phong cách Viễn Châu
            Ông được mệnh danh là Vua viết lời vọng cổ không phải chỉ vì ông viết được đến hơn 2000 bài ca, mà còn vì ông đã tạo ra cho những bài vọng cổ của mình một phong cách rất riêng, “rất Viễn Châu”. Sau đây là một vài nét nổi bật trong phong cách đó:
            – Dễ ca, dễ nhớ: Do có lợi thế là thông thạo đàn tranh và đàn guitar phím lõm, Viễn Châu đã uốn lời bài hát một cách uyển chuyển, mượt mà với cách phân chữ rất “vô khuôn”, nên rất dễ ca. Đặc biệt các bài vọng cổ của ông có bố cục rõ ràng, nói theo trong nghề là “không lan man”, nên rất dễ nhớ. Có lẽ đó cũng chính là một yếu tố quan trọng khiến bài ca vọng cổ của Viễn Châu trở nên rất đại chúng.
            – Một lượng kiến thức sâu rộng: Dù dễ ca dễ nhớ, nhưng các bài vọng cổ của Viễn Châu hàm chứa một lượng kiến thức rất sâu rộng. Ông đưa vào bài hát từ dân ca, tục ngữ đến các điển tích xa xưa, mà cái hay là ông đưa những kiến thức đó vào trong bài ca một cách “rất ngọt”.
            Chẳng hạn như trong bài vọng cổ “Hoa Đào năm ngoái” viết về mối tình của Thúy Kiều và Kim Trọng, ta tìm thấy hai câu thơ trứ danh của nhà thơ Đỗ Phủ:

                        “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
                        Cô chu nhất hệ cố viên tâm”

                        (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
                        Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
           
            Hay hai câu thơ bất hủ của Thôi Hộ:

                        “Nhân diện bất tri hà xứ khứ
                        Đào hoa y cựu tiếu đông phong”

                        (Người đẹp năm xưa đâu rồi nhỉ,
                        Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông)

            Hoặc thơ của vua Tự Đức trong bài “Khóc Bằng Phi”:

                        “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
                        Xếp tàn y lại để dành hơi”


            Và còn biết bao điển tích, thơ văn khác nữa…

            – Một nhà thơ lớn: Trong nhiều bài vọng cổ của Viễn Châu, ta thấy có những bài thơ thuộc hàng kiệt tác, đủ để khẳng định rằng Viễn Châu cũng là một nhà thơ lớn. Chẳng hạn như bốn câu thơ nối lối trong bài vọng cổ “Gánh nước đêm trăng”, kể về tâm sự của một anh nông dân nghèo phải đi làm ăn xa xứ, ba năm sau khi trở về thì người yêu gánh nước đêm trăng với mình thuở nào đã sang ngang:

                        “Năm tháng dãi dầu nơi đất khách
                        Nhớ em tôi trở lại quê nghèo
                        Đêm khuya vắng bóng người thôn nữ
                        Sương nhỏ trên cành lệ nhỏ theo”


            Hay bốn câu nối lối trong bài “Xuân đất khách” (Tâm sự kẻ ly hương) viết về tâm sự của người xa xứ:

                        “Đất khách bơ vơ lạ bốn bề
                        Nên lòng cứ mãi nhớ thương quê
                        Màu xuân về nữa xuân về nữa
                        Tuyết trắng rơi nhiều dạ tái tê”


            – Lối kết thúc bài hát rất dễ nhớ: Một nét đặc biệt nữa trong phong cách Viễn Châu, đó là đa số bài ca của ông đều được kết thúc bằng hai câu thơ lục bát, một lối kết thúc rất ngọt, rất trữ tình và rất dễ nhớ. Chẳng hạn như cuối bài vọng cổ “Lá Bàng Rơi”, ông viết:

                        “Lá bàng rơi rụng về đâu
                        Lá thu rụng hết đoạn sầu còn đây”
.

            Hay trong bài “Tình anh bán chiếu”, hai câu kết cũng là hai câu thơ rất ngọt:

                        “Sông sâu bên lở bên bồi,
                        Tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”


            Hoặc hai câu kết trong bài “Lá Trầu Xanh”:

                        “Mưa rơi lạnh buốt khung trời,
                        Anh phụ em rồi, em (còn) biết tin ai”


            Hai câu kết trong bài “Lòng dạ đàn bà” cũng rất độc đáo:

                        “Cho hay trong đạo vợ chồng,
                        Biết ai chung thủy, ai lòng bạc đen”


Bí quyết sáng tác của Viễn Châu
            Nói về bí quyết sáng tác của mình, nghệ sĩ Viễn Châu cho rằng, khi viết, không phải mực trào ra đầu ngòi bút mà đó là tim óc, trí não của ông đang đặt hết vào đầu bút để tuôn thành lời!
            Thật vậy, để viết thành công, khi viết, người viết phải tạm quên mình đi và hóa thân vào nhân vật mình đang viết. Như vậy, Viễn Châu đã hóa thân thành công trong hàng ngàn vai diễn với hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải lương. Viễn Châu thật sự là “Một soạn giả ngoại hạng”, bởi trong lịch sử hình thành và phát triển của sân khấu cải lương hơn 90 năm nay, rõ ràng chưa có một soạn giả cổ nhạc nào đạt được nhiều thành công rực rỡ như ông.
            Viễn Châu được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú vào năm 1988. Năm 2012, ông được đặc cách phong Nghệ sĩ nhân dân cùng với ba cô học trò của mình: Ngọc Giàu, Bạch Tuyết và Lệ Thủy.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120801-vien-chau-soan-gia-ngoai-hang-cua-san-khau-cai-luong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 03/06/2017, 06:02:44
Nghệ sĩ Lệ Thủy: Thinh sắc lưỡng toàn

Trong nghệ thuật cải lương, để thành công, một nghệ sĩ đòi hỏi phải có một trong hai yếu tố tiên quyết: thinh và sắc. Thinh tức là giọng ca, sắc ý muốn nói đến cái đến vóc dáng bên ngoài, đến khuôn mặt có “làm sáng sân khấu” hay không. Trong hai yếu tố này, cái thinh luôn đi trước cái sắc, và thực tế đã chứng minh, có nhiều nghệ sĩ không may mắn có được sắc vóc bằng chị bằng em, nhưng nhờ sở hữu một giọng ca đặc sắc nên đã được thành công vang dội. Nói như vậy để khẳng định rằng, nghệ sĩ mà có được một trong hai yếu tố kể trên đã là quý rồi. Thế nhưng, trong sân khấu cải lương, thỉnh thoảng cũng có một vài nghệ sĩ được trời ban cho cả thinh và sắc. Trong số lượng ít ỏi đó có nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, một nghệ sĩ “thinh sắc lưỡng toàn”.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Le%20Thuy.JPG)
Lệ Thủy tái ngộ khán giả Paris sau 27 năm, trong trích đoạn Tô Ánh Nguyệt – Paris-2011

Tài không đợi tuổi
            Lệ Thủy tên thật là Trần Thị Lệ Thủy, sinh ngày 20/05/1948, là con cả của một gia đình nông dân nghèo có 8 người con tại làng Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ cái trách nhiệm “chị hai” (gọi theo kiểu miền Nam) đã sớm đè nặng lên đôi vai Lệ Thủy. Do cuộc sống khó khăn, nên từ nhỏ cô đã theo gia đình bôn ba đến Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Được phát hiện tài năng ca cổ từ năm mới lên 10 tuổi. Lúc đó các em của Lệ Thủy liên tục đau ốm, gia đình nợ nần tứ phía, Lệ Thủy phải nghỉ học đi làm việc để phụ giúp gia đình và quyết định xin đi theo gánh Trâm Vàng ở Biên Hòa Đồng Nai để đỡ gánh nặng cho ba má.
            Cũng như nhiều nghệ sĩ thành danh khác, “vai diễn” đầu tiên của Lệ Thủy trên sân khấu là ngâm thơ hậu trường, rồi có khi được đóng thế những vai kép con, và rồi đóng đào nhì trên sân khấu đoàn Trâm Vàng… Sau đó, Lệ Thủy về công ty Kim Chung của ông bầu Trần Viết Long, một đại bang có đến 7 đoàn hát. Tại sân khấu Kim Chung, Lệ Thủy bắt đầu tỏa sáng với vai trò đào chính.
            Năm 15 tuổi, tức năm 1963, Lệ Thủy được ban tuyển chọn giải Thanh Tâm quyết định trao “Huy chương vàng triển vọng”. Thế nhưng, sau đó ban tuyển chọn mới biết Lệ Thủy 15 tuổi, chưa đủ tuổi theo điều lệ giải. Vì thế, phải đợi đến năm 1964, Lệ Thủy mới chính thức nhận giải thưởng cao quý này cùng với nam nghệ sĩ Thanh Sang. Trong tổng số 24 nghệ sĩ qua 10 đợt phát giải của giải Thanh Tâm, Lệ Thủy là nghệ sĩ có tuổi đời trẻ nhất khi nhận giải.

Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy: đỉnh cao của nghệ thuật ca diễn
            Ở đoàn Kim Chung, Lệ Thủy đã có dịp đóng cặp với “kép đẹp” Minh Phụng, và đã tạo nên một đôi bạn diễn được khán giả ái mộ, đến mức mà báo chí khi ấy gọi họ là “Cặp bão biển đang lên”. Giai đoạn này, Lệ Thủy đã ghi đậm dấu ấn trong lòng người mộ điệu qua hàng loạt các vở cải lương: Xin một lần yêu nhau, Đêm lạnh chùa hoang, Kiếp nào có yêu nhau, Người phu khiêng kiệu cưới, Áo vũ cơ hàn, Hoa Mộc Lan, Chung Vô Diệm, Mạnh Lệ Quân, Máu nhuộm sân chùa, Tây Thi, Tiêu Anh Phụng, Kiếm Sĩ Dơi, Manh áo quê nghèo, Mỹ nhân và loạn tướng… Trong các vở đó, có lẽ Đêm lạnh chùa hoang là vở mà Lệ Thủy được khán giả nhớ đến nhiều nhất.
            Lệ Thủy sở hữu một ngoại hình có thể nói là thuộc hàng ”bắt mắt nhất” trong số các nữ nghệ sĩ cải lương. Trên sân khấu, dù vào bất cứ vai nào, ở Lệ Thủy cũng toát lên một vẻ đẹp “chân phương” khó tả, nói chung là một vẻ đẹp rất đỗi “Nam Bộ”. Có lẽ đó cũng chính là một ưu thế giúp cô dễ dàng lấy được thiện cảm của khán giả miền đồng bằng sông nước Cửu Long.
            Nói về diễn xuất, Lệ Thủy có một phong cách diễn “chân phương” tương đồng với vẻ đẹp “chân phương” của cô. Ở Lệ Thủy, ta thấy cô thể hiện nhân vật lúc nào cũng “rất vừa đủ”, không bao giờ diễn quá lố, mà cũng chẳng khi nào có chuyện diễn “không tới”. Đây là một cách diễn rất khó, vì nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải nghiên cứu rất kỹ kịch bản, nhất là phải là “chân tài thực học” thì mới có đủ khả năng ước lượng chính xác cách diễn thế nào là “vừa đủ”, bởi diễn quá một chút là “dư”, mà diễn non một chút là “thiếu”, trong khi trên sân khấu cải lương, “thiếu” hay “dư” gì cũng đều không tốt. Hơn nữa, cách diễn “chân phương”, nói cách khác là “có sao diễn vậy”, góp phần đưa sân khấu gần hơn với đời thường, gần hơn với khán giả, khác hẳn với những nghệ sĩ bị chi phối bởi trường phái “ước lệ tượng trưng” của nghệ thuật hát bội.
            Cải Lương chi bảo Bạch Tuyết nhận định: “Hiếm ai cùng một lúc hội đủ cả hai yếu tố ca-diễn nhưng Lệ Thủy đã làm được, và đã làm trên cả tuyệt vời”. Trong tuồng Đêm lạnh chùa hoang, với vai quận chúa Mông Cổ Hồ Bảo Xuyên, Lệ Thủy đã thật sự đạt đến trình độ “ca trong diễn, diễn trong ca”.
            Cái vai quận chúa Hồ Bảo Xuyên như viết ra là chỉ để dành cho Lệ Thủy, bởi cô có một sắc diện “sáng sân khấu”, rất hợp làm một “lá ngọc cành vàng”, cô cũng có một giọng ca kim pha thổ, trong trẻo mà có pha chút trầm lặng, rất hợp để biểu hiện cho tâm trạng “buồn nhưng không thảm”, “bi nhưng không lụy”, một tâm trạng bi hùng của nàng quận chúa Mông Cổ. Hồ Bảo Xuyên của Lệ Thủy là một quận chúa Mông Cổ uy nghi, oai phong lẫm liệt, lấy sát phạt làm niềm vui, lấy xâm lăng làm lẽ sống, thế nhưng đã bị tiếng sét ái tình đánh trúng khi gặp chàng trai đất Trung Nguyên tên Tần Lĩnh Sơn. Thế là tình yêu đã sinh ra trong chiến tranh và loạn lạc, giữa một kẻ trong tư thế xâm lăng, và một người quyết chí bảo vệ quê hương đất nước.
            Đoạn hay nhất trong vở tuồng này là đoạn cuối, lúc Tần Lĩnh Sơn vào ngôi chùa hoang lấy được nửa bức mật đồ, và sau đó bị quân của quận chúa Hồ Bảo Xuyên bao vây. Trước tình thế trái ngang phải chọn lựa giữa tình yêu và đất nước, Hồ Bảo Xuyên đã chọn cách hy sinh thân mình để cứu người yêu. Đến lúc đó, khán giả bổng dưng rơi lệ xót xa cho số phận của nàng quận chúa Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy trên sân khấu. Đoạn ca diễn lúc Hồ Bảo Xuyên và Tần Lĩnh Sơn uống rượu chia tay trong ngôi chùa hoang trước khi quyết đấu sinh tử là đoạn ca diễn “trên cả tuyệt vời”, làm cho người xem được “sướng con mắt”, còn người nghe thì được “đã cái lỗ tai”.
            Năm 2007, trong kỉ niệm 45 năm nghiệp cầm ca tổ chức tại nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, một Lệ Thủy tuổi lục tuần đã vào vai một Hồ Bảo Xuyên tuổi đôi mươi một cách “ngọt lùi”. Nhất là đến đoạn trong ngôi chùa hoang nói trên, khi Tần Lĩnh Sơn – Minh Phụng đang chợp mắt sau khi lấy được nửa bức mật đồ mà không hề biết quân Mông Cổ đến bao vây, Hồ Bảo Xuyên – Lệ Thủy ca một đoạn Lý Con Sáo: “Sầu đêm này và ngàn đêm nữa đi, em vẫn yêu chỉ yêu một mình anh. Dù chia lìa tình đôi nơi cách xa, ngủ đi anh một giấc mơ thần tiên”, rồi vô vọng cổ: “Ngủ đi anh một giấc ngủ thần tiên trên trăm miền hoa cỏ, rồi rạng sáng ngày mai mình chia tay vĩnh viễn, người ở đầu sông kẻ cuối chân trời”, nghe Lệ Thủy ca, xem Lệ Thủy diễn trên sân khấu, khán giả chợt thốt lên: “Đúng là gừng càng già càng cay”, bởi ca ngọt quá, mà diễn cũng hay quá.

Tô Ánh Nguyệt – Lệ Thủy: một hình mẫu kinh điển của sân khấu cải lương
            Nhìn lại những thập niên 1960-1970, Lệ Thủy “tung hoành” chủ yếu trong các tuồng kiếm hiệp. Bắt đầu những thập niên 1980, cô mới thật sự chinh phục khán giả trong các vai xã hội. Giai đoạn đoạn này, tên tuổi Lệ Thủy được gắn nhiều nhất với đoàn 2-84. Số là váo tháng Hai năm 1984, Lệ Thủy cùng với một số nghệ sĩ gạo cội như Diệp Lang, Minh Vương, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu… theo đoàn nghệ sĩ của nhà nước Việt Nam đi biểu diễn ở Tây Âu, đây được xem là lần đầu tiên cải lương Việt Nam đem chuông đi đánh xứ người.
            Sau chuyến lưu diễn ấy, các nghệ sĩ trong đoàn hợp lại thành lập nên đoàn nghệ thuật 2-84. Ở đoàn 2-84, Lệ Thủy để đời với các vai diễn trong nhiều vở cải lương đặc sắc như Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa, Kiếp chồng chung, Lôi vũ… Trong các vở đó, vai diễn làm bất tử hình ảnh Lệ Thủy trong lòng người mộ điệu là vai Nguyệt trong tuồng Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang. Từ đó đến nay, mỗi khi nhắc đến Lệ Thủy là người mộ điệu cải lương lập tức nghĩ trước tiên đến Tô Ánh Nguyệt, mà mỗi khi nhắc đến Tô Ánh Nguyệt là nghĩ ngay đến Lệ Thủy.
            Bàn về vai Nguyệt, trước Lệ Thủy, đã có khá nhiều nữ nghệ sĩ bậc thầy thủ diễn thành công. Bởi vậy, nhận đóng vai này quả thật là một “sự liều lĩnh” đối với Lệ Thủy. Ấy thế mà, chính “sự liều lĩnh” kia đã thật sự làm bất tử tên tuổi Lệ Thủy trong nghệ thuật sân khấu cải lương.
            Cái hay của Lệ Thủy là cô đã không rập khuôn theo các nghệ sĩ đi trước, mà cô đã diễn vai Nguyệt đúng theo phong cách “chân phương” của riêng mình. Lệ Thủy đã thành công khi lột tả được một cô Nguyệt “kiên cường và bản lĩnh”: kiên cường vượt qua vòng lễ giáo phong kiến để lựa chọn tình yêu cho chính mình, kiên cường vượt qua sóng gió cuộc đời để bảo vệ bào thai là kết quả của một mối tình thơ mộng, kiên cường bứt ruột giao con cho vợ chồng Minh để theo cha về nhà phụng dưỡng mẹ già đang lâm trọng bệnh, kiên cường tỏ vẻ lạnh nhạt với Minh để bảo vệ hạnh phúc cho người mình yêu và cho đứa con khờ, kiên cường ôm đau khổ về quê sau khi bị chính đứa con ruột của mình tìm đến xua đuổi…
            Thế nhưng, cô Nguyệt của Lệ Thủy không chỉ có kiên cường, mà vẻ kiên cường đó là sự cố gắng bên ngoài, còn trong cõi lòng thì đầy phong ba bão táp. Đoạn thể hiện tâm lí nhân vật hay nhất là đoạn gần hai mươi năm sau, lúc ấy Minh đã có vợ, con của Minh và Nguyệt là Tâm thì được vợ chồng Minh nuôi dưỡng, còn Nguyệt thì âm thầm tìm đến sống gần đó để được phần nào có cảm giác gần con. Thế là Minh thường xuyên lui tới thăm Nguyệt và van nài Nguyệt nối lại tình xưa. Nguyệt kiên quyết không chấp nhận vì hạnh phúc của Minh và của con mình. Bởi vậy, trước mặt Minh, Nguyệt phải tỏ ra lạnh lùng, kiên quyết từ chối, thậm chí còn nặng lời xua đuổi Minh, ấy thế nhưng trong lòng thì cô còn yêu Minh nhiều lắm.
            Hay lắm đoạn Minh – Minh Vương van nài Nguyệt – Lệ Thủy nối lại tình xưa, Nguyệt – Lệ Thủy nói: “Chúng ta hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con”. Minh – Minh Vương hỏi khó: “Còn chúng ta?”, thì Nguyệt – Lệ Thủy trả lời: “Hãy sống như loài chim Uyên Ương khi thời tiết đổi thay, một con chẳng may bị cuốn vào sóng dữ, thì con còn lại một mình đương sức gió, vẫn tháng tháng ngày ngày gào to trên sóng dữ”. Minh – Minh Vương chỉ vào cập gối thêu chim Uyên Ương hỏi tiếp: “Nhưng đã từ lâu rồi em…?!”, trong dụng có ý nhắc Nguyệt rằng: “Em vẫn còn yêu anh, và bằng chứng là cặp gối thêu chim Uyên Ương này”, thì Nguyệt – Lệ Thủy trả lời: “Giấc xuân mộng từ lâu cam trống trải. Tình gối chăn nay vẫn chịu lạnh lùng. Nghĩa mẹ con xin có lúc được trùng phùng. Duyên can lệ…
            Đến chữ “Duyên can lệ”, Nguyệt – Lệ Thủy đưa mắt nhìn Minh – Minh Vương nói tiếp: “…không thể nào tái hợp”. Ánh mắt của Nguyệt – Lệ Thủy khi ấy thể hiện sự dứt khoát cho người kia thấy rõ rằng: câu chuyện bắt buộc phải giải quyết như vậy, và không còn cách nào khác. Ấy thế nhưng, trong sự dứt khoát đó, Lệ Thủy lại để trong ánh mắt cô Nguyệt đượm nét u buồn đong đầy tình cảm, một nổi u buồn sâu thẳm miên man, một ánh mắt không phải chỉ để thể hiện sự quyết liệt từ chối của mình, mà còn để cho người kia biết rằng: “Em còn yêu anh lắm, bởi thế đến nay vẫn không bước thêm bước nữa. Nhưng thôi anh ơi, chúng ta hãy sống vì hạnh phúc của con. Anh hãy hiểu và xẻ chia với em điều đó”. Cái ánh mắt dứt khoát nhưng tình cảm để tìm kiếm sự cảm thông kia thật sự đã khẳng định trình độ diễn xuất thượng thừa của Lệ thủy, nó đã “ám ảnh” người xem suốt suốt mấy chục năm qua.
            Rồi đến khi Minh từ biệt ra về, lúc ấy Minh – Minh Vương – đang bệnh nặng, nên phải lê bước rất nặng nề và cất tiếng ho, ở sau lưng, Nguyệt – Lệ Thủy ứa nước mắt len lén nhìn theo, khi thấy Minh – Minh Vương toan ngoái đầu lại, lập tức Nguyệt – Lệ Thủy cuối đầu làm mặt lạnh trong nước mắt, rồi khi Minh – Minh Vương vừa bước chân đi khỏi, thì Nguyệt – Lệ Thủy mới khóc òa lên. Có hay đâu khi giọt nước mắt của Nguyệt – Lệ Thủy đang âm thầm trên sân khấu, thì khán giả dưới kia chợt thấy con tim khó thở, đến khi cô Nguyệt – Lệ Thủy khóc òa, thì cũng là lúc nước mắt khán giả bỗng tuôn trào lai láng.
            Đoạn này tuy rất đời thường, diễn biến tâm trạng không mấy phức tạp, nhưng lại rất khó diễn, bởi như người ta thường nói: “Vẽ ma thì dễ chứ vẽ người thì khó”, do đó diễn xuất một cái gì càng gần với đời thường chừng nào thì càng khó diễn chừng ấy, diễn dư hay thiếu một chút là bị phát hiện ngay. Trong vai Tô Ánh Nguyệt, quả thật là Lệ Thủy đã diễn rất “vừa đủ”, một sự vừa đủ chuẩn mực, diễn quá một chút nữa cũng không được, mà diễn non một chút nữa cũng không hay.
            Cuối năm 2011, Lệ Thủy đã được tái ngộ khán giả Paris sau 27 năm kể từ khi cải lương Việt Nam đem chuông đi đánh xứ người vào năm 1984. Xem Lệ Thủy diễn lại vai Tô Ánh Nguyệt trên sân khấu, khán giả mới chợt nhận ra rằng: không còn ranh giới giữa nhân vật và nghệ sĩ nữa. Lệ Thủy đã thật sự biến thành cô Nguyệt, và cô Nguyệt cũng đã thật sự “nhập” vào Lệ Thủy. Tất cả những động tác trên sân khấu, từ nói, ca, đi, đứng, khóc, cười của cô Nguyệt – Lệ Thủy khi ấy đã trở thành một cái gì rất tự nhiên, rất vừa đủ, rất chân phương và rất Lệ Thủy.
            Có thể nói rằng, Lệ Thủy đã tạo nên một hình mẫu cho nhân vật Tô Ánh Nguyệt. Thành công của Lệ Thủy trong vai diễn này lớn đến mức mà đã có khuynh hướng làm lu mờ các thế hệ sau khi diễn vai Tô Ánh Nguyệt, bởi khi nghe nói Tô Ánh Nguyệt, là người mộ điệu nghĩ ngay đến Lệ Thủy.

Giọng ca Lệ Thủy: Vang mãi tiếng chuông ngân
            Cái duyên sân khấu của Lệ Thủy rất lớn, bởi vậy dường như vừa xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã “cảm thấy thương rồi”. Bên cạnh đó, giọng ca của Lệ Thủy cũng có cái duyên đặc biệt khó tả, một giọng ca cũng được xem là “vừa nghe đã thấy thương rồi”.
            Đi vào kỹ thuật một chút thì ta thấy rằng giọng ca Lệ Thủy sang sảng, trong như pha lê, nhưng lại có pha một chút trầm buồn. Đó là “giọng kim pha thổ”, lảnh lót, sâu lắng, rất ngọt, rất giòn. Ở ngoài đời, giọng nói Lệ Thủy nghe khàn khàn, thế mà khi lên sân khấu bổng nhiên trở nên trong trẻo, lảnh lót.
            Trong một lần diễn chung với cô, trước khi lên sân khấu, thấy giọng cô khàn khàn nên tôi hơi lo vì sợ một chốc lên sân khấu cô sẽ không hát được, nhưng cô cười và cho tôi biết, giọng cô ngoài đời và trên sân khấu xưa nay rất khác nhau, ngoài đời giọng cô khàn khàn, có khi bị bệnh lại càng khàn hơn, nhưng mà lạ thay, khi lên sân khấu thì lập tức cái giọng khàn khàn ấy trở nên trong trẻo ngọt ngào. Và quả đúng như vậy, lần ấy khi cô lên sân khấu, tôi chợt giật mình vì cái giọng khàn khàn đã biến đi đâu mất, mà thay vào đó là một giọng ca lảnh lót đến khó tả. Đúng thật là “lạ thay”, cái “lạ thay này” này chính là “cái duyên sân khấu” của Lệ Thủy.
            Giọng Lệ Thủy rất tương đồng với giọng hát của nữ danh ca Thanh Hương: cả hai đều được cho là có “giọng kim pha thổ”, ngoài ra cả hai điều cùng một trường phái “ca chân phương”, nói nôm na là “có sao ca vậy”. Mà “chân phương” lại chính là cái hồn của bài vọng cổ, bởi vậy mà hai cô đều đã để đời với nhiều bài vọng cổ đặc sắc. Lệ Thủy từng tâm sự là cô thần tượng giọng ca Thanh Hương, người thuộc hàng tiền bối của cô, bởi khi Lệ Thủy mới chập chững vào nghề thì giọng ca Thanh Hương đã nổi đình nổi đám trong làng cải lương Nam Bộ.
            Lệ Thủy cho biết: “Nghệ sĩ trẻ thường hay nghe rồi bắt chước cách luyến láy, sắp xếp nhịp của nghệ sĩ đi trước nhưng nó chỉ là cái nền, còn phát triển theo hướng nào phải tùy vào nỗ lực của mình”. Và Lệ Thủy đã làm được điều đó: cũng là lối ca chân phương, nhưng với sự rèn luyện không ngừng, giọng ca Lệ Thủy đã dần thoát khỏi ảnh hưởng của Thanh Hương ở cái gọi là “hoa lá”, tức cách nhấn nhá, luyến láy, xấp chữ đã tạo thành nét riêng của Lệ Thủy.
            Thậm chí đến giọng ca, dù là cùng giọng “kim pha thổ”, nhưng Lệ Thủy đã tạo được một giọng ca rất riêng mà hễ vừa cất lên thì người nghe biết ngay là Lệ Thủy, không thể nhầm lẫn vào đâu được. Lệ Thủy đã khẳng định mình thành công đến mức mà đã được nhiều nhà chuyên môn xếp cô thành một trường phái ca cổ riêng: “Trường phái Lệ Thủy”, tức tách biệt hẳn với “Trường phái Thanh Hương”.
            Giọng ca Lệ Thủy lảnh lót, trong trẻo lại có chút trầm buồn nhưng không quá bi lụy, giống như tiếng chuông chiều ngân nga trong gió, nó vang rất xa nhưng lại được truyền đi một cách nhè nhẹ mơ hồ, nó không chói tai khi nghe gần mà rất rõ khi ở xa, nó không quá ồn ào nhưng lại đầy đủ âm điệu và hơi thở. Bởi vậy mà người nghe có được cái cảm giác “nhẹ nhàng” để rồi mới nghe xong lại muốn tiếp tục nghe nữa, để rồi thấy tiếng ca duyên dáng, chân tình biết bao nhiêu, để rồi nhắm mắt lại thả hồn theo tiếng ca như thả hồn nương theo tiếng chuông chiều ngân nga trong cơn gió nhẹ lướt trên con sóng nhấp nhô của những dòng sông hiền hòa miền Châu Thổ Cửu Long. Đó chính là nét độc đáo của giọng ca Lệ Thủy, một giọng ca mà người mộ điệu cải lương không chỉ còn ái mộ ở mức thông thường, mà đã lên đến mức “yêu thương say đắm”.
            Khán giả mãi không bao giờ quên giọng ca Lệ Thủy qua hàng loạt các bài vọng cổ trứ danh: Cô gái bán đèn hoa giấy, Tiền và lá, Anh đi xa cách quê nghèo, Bạch Thu hà, Chàng là ai, Quán gấm đầu làng với Minh Cảnh, Chuyện tình Lan và Điệp với Trọng Hữu, Bánh Bông Lan với Minh Vương, Dòng sông quê em với Thanh Tuấn, Con gái của mẹ với Phượng Liên… Năm 2007, trong Live Show 45 năm nghiệp cầm ca của mình, Lệ Thủy đã cùng hai giọng ca nữ quí báu khác còn sót lại của sân khấu cải lương là Sầu nữ Út Bạch Lan và Cải lương chi bảo Bạch Tuyết khẳng định một lần nữa nét đẹp của bản vọng cổ khi cả ba ru hồn khán giả qua bài Tình quê hương của nghệ sĩ Bạch Tuyết dưới bút danh là Nguyễn Thị Khánh An.

Nghệ sĩ được sự yêu mến ngoại hạng của khán giả
            Đóng góp nghệ thuật của nghệ sĩ Lệ Thủy đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng cao quý: Giải Thanh Tâm năm 1964, Giải Kim Khánh năm 1974, “Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất” năm 1989 do báo Sân khấu TP.HCM tổ chức, Danh hiệu nghệ sĩ ưu tú năm 1993, “Kỷ lục Guiness Việt Nam 2008 cho Đôi bạn diễn lâu năm và ưng ý nhất” (cùng với nghệ sĩ Minh Vương), Giải Mai vàng cho hạng mục “Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất” do báo Người Lao Động tổ chức năm 2008 và 2009, Danh hiệu nghệ sĩ nhân dân năm 2012. Thế nhưng, còn một giải thưởng không thể không nhắc đến, một giải thưởng cực kì quý giá mà bất kì nghệ sĩ nào cũng mơ ước, đó là sự ái mộ đặc biệt của khán giả Nam Bộ dành cho nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, một sự ái mộ “chưa từng thấy”.
            Từ những năm 1990, Lệ Thủy là một trong những nghệ sĩ thuộc hàng “cây đa cây đề” về lưu diễn ở các tỉnh Miền Nam, đem lời ca tiếng hát đến cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Những câu chuyện “thật như đùa” về sự ái mộ “không thể tưởng nổi” của khán giả dành cho Lệ Thủy cũng bắt đầu xuất hiện.
            Còn nhớ ngày ấy lần đầu tiên Lệ Thủy về biểu diễn ở quê tôi, một xã vùng sâu thuộc Miền Tây Nam bộ, vì xã không có rạp hát nên nhà tổ chức phải dùng lưới sắt và vải bao thành một vòng tạo ra “rạp hát ngàn sao” trước sân ủy ban xã. Nghe nói 5 giờ chiều là Lệ Thủy sẽ lên đến “rạp”, thế là bà con không kể già, trẻ, lớn, bé từ 3 giờ chiều đã đứng chật cứng cổng “rạp” để chờ Lệ Thủy.
            Cuối cùng, khoảng 5 giờ xe hơi chở Lệ Thủy đã đến trước cổng “rạp”, nhưng không cách nào chạy vào trong được vì bà con hò hét đòi gặp Lệ Thủy. Không hiểu sao lúc đó trời bắt đầu mưa như trút nước như là để “giải vây” cho Lệ Thủy, thế nhưng lạ thay, lạ kỳ thay: bà con không ai chạy đi tránh mưa, tất cả vẫn “bám trụ vị trí chiến đấu” mặc cho cơn mưa xối xả. Đến mức mà Lệ Thủy phải cầm dù (ô) bước ra khỏi xe chào bà con, thế là bà con mới “tha” cho xe chở Lệ Thủy vào.
            Khi một nghệ sĩ lớn về quê biểu diễn thì lúc nào cũng có phần giao lưu trực tiếp với khán giả: nghệ sĩ đứng trên sân khấu nói chuyện với khán giả, khán giả được phát micro để tâm tình công khai với nghệ sĩ trên sân khấu. Qua những lần giao lưu như thế, mới càng thấy rõ cái lòng ái mộ không thể tưởng nổi của khán giả nông thôn dành cho Lệ Thủy. Nào là chuyện một bà lão cầm micro tâm sự: “Mỗi ngày đi mần (làm) về, nghe tiếng con ca là má hết mệt liền”, rồi chuyện có một nữ khán giả tuổi gần ngũ tuần, đứng dậy cầm micro hỏi tuổi Lệ Thủy, khi nghe Lệ Thủy cho biết tuổi, khán giả nữ nọ tỉnh bơ: “Vậy là con lớn hơn má hai tuổi”. Thế đấy, trong lòng bà con mê cải lương Nam Bộ, Lệ Thủy vẫn mãi trẻ trung như giọng ca lảnh lót ngọt ngào của cô vậy.
            Rồi đến chuyện có một cụ bà mới 2 giờ chiều đã lụ khụ mang chiếu đến “rạp ngàn sao” chọn chỗ gần sân khấu để trải chiếu ngồi chờ đến tối khi Lệ Thủy diễn thì được nhìn rõ mặt Lệ Thủy hơn. Đến khi vãn hát, cụ bà về nhà mới phát hiện… ăn trộm đã vét hết lu gạo rồi. Còn nghe kể có cụ bà khi hấp hối còn kêu con cháu bật máy cassette để nghe tiếng hát Lệ Thủy.
            Có khi trên đường đến chỗ hát, đoàn xe chở Lệ Thủy phải qua phà. Thế là nhiều lần xe chở Lệ Thủy lên phà rồi, phà chạy đến giữa kênh đào thì không tài nào cặp bến bên kia được: vì bà con hay tin tập trung dầy đặc cả hai bên bờ kênh. Còn việc về Miền Tây mà thấy có những gia đình vì quá yêu Lệ Thủy nên đặt tên cho con gái mình là Lệ Thủy cũng là chuyện rất phổ biến… và còn nhiều câu chuyện “thật như đùa” như vậy lắm, đúng là “kể đến sáng cũng chưa hết”…
            Trong lịch sử cải lương Nam Bộ từ gần một thế kỉ nay, thật sự khó mà tìm được một nghệ sĩ được khán giả nông thôn ái mộ đến mức như thế. Giải thích nguyên nhân thì có nhiều lắm: có người cho rằng do giọng ca Lệ Thủy chân phương, mộc mạc nên dễ tiếp cận người nông thôn, có người lại bảo là do Lệ Thủy có một vẻ đẹp rất bình dị, lại có một lối sống bình dân nên được bà con thương mến… Ai cũng có lý riêng của mình, nhưng để giải thích đến nơi đến chốn một sự ái mộ “đến khó hiểu” như vậy thì thật là không thể, chỉ còn biết bảo rằng: “cái duyên sân khấu” của Lệ Thủy quá lớn, cô đã được tổ nghiệp ưu ái và đã đền đáp cho sự rèn luyện, cống hiến của cô bằng phần thưởng cao quý đó, một phần thưởng mà “có vàng cũng không mua được”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120829-nghe-si-le-thuy-thinh-sac-luong-toan

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 05/06/2017, 14:45:01
Tấn Tài: Vị hoàng đế có giọng ca liêu trai

Sân khấu cải lương thời hoàng kim đã tạo nên một phong trào “trăm hoa đua nở” với sự thành danh của nhiều nghệ sĩ bậc thầy. Cái đặc sắc nhất của các nghệ sĩ thuộc thế hệ này, là dù tất cả đều hay, đều nổi tiếng, đều được khán giả ái mộ, nhưng lạ thay, từ giọng ca đến phong cách biểu diễn, không ai trùng lắp với ai.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/zzzzz%20TAN%20TAI%20BEST.jpg)
Giọng ca Tấn Tài để đời với Hận Kinh Kha và Phạm Lãi biệt Tây Thi

ĐẶC BIỆT là giọng ca, khi nghệ sĩ vừa cất giọng, dù chưa nhìn thấy mặt, thì người mộ điệu cũng lập tức biết ngay đó là giọng ca của nghệ sĩ nào. Trong những giọng ca đặc sắc đó có giọng ca liêu trai của “Hoàng đế đĩa nhựa” Tấn Tài. Với giọng ca ngọt nhẹ và kiểu nhấn nhá rất đặc trưng, giọng ca Tấn Tài đã tạo được một trường phái ca cổ riêng trong làng sân khấu cải lương. Đến giờ phút này, giọng ca và lối ca của Tấn Tài vẫn thuộc hàng “độc bộ thiên hạ”.

Nhà giáo mê nghiệp cầm ca
            Nhắc đến Tấn Tài, trước tiên là nhắc đến một người có tâm hồn yêu cải lương tha thiết, đến mức mà bỏ cả nghề giáo để theo nghiệp cầm ca. Nghệ sĩ Tấn Tài tên thật là Lê Tấn Tài, sinh năm 1938 tại xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, tỉnh An Giang. Cha mẹ ông làm nghề buôn bán. Sau khi thi đậu trung học đệ nhất cấp ở An Giang, ông ra làm thầy giáo dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu. Khi ấy, ông thường xuyên tham gia đờn ca tài tử. Sân chơi tài tử ấy đã làm cho ngọn lửa yêu cải lương ngày càng bùng lên dữ dội trong lòng nhà giáo trẻ. Thế là vào năm 1959, ông khăn gói lên Sài Gòn theo gánh hát. Gia đình đã nhiều lần đến bắt ông về, nhưng ông vẫn quyết chí theo đuổi nghiệp cải lương.
            Trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, cái nghề ca hát dù được nổi danh, dù kiếm được nhiều tiền, nhưng vẫn còn phải hứng chịu cái quan niệm cổ hủ “Xướng ca vô loài”. Trong khi đó, thì từ bao đời nay, nhà giáo luôn được xã hội quí trọng dù nghèo khổ về bề vật chất. Thế mới thấy quyết định bỏ nghề giáo theo nghiệp cầm ca của Tấn Tài quả là một quyết định táo bạo, cho thấy cái lòng yêu cải lương của Tấn Tài mới mãnh liệt làm sao! Chẳng bao lâu khi rời quê lên Sài Gòn, nhà giáo trẻ ngày nào đã trở thành anh kép chánh Tấn Tài, được các đoàn cải lương và các hãng đĩa lớn săn đón, được khán giả mến mộ.

Anh kép không biết kén đào
            Nghệ thuật cải lương có một điều kì diệu, đó là “cái duyên sân khấu”. Trong nghề hát ca, không phải nghệ sĩ tài năng nào cũng được nổi tiếng, cũng được mến mộ. Sự yêu ghét của khán giả dành cho một nghệ sĩ thật không thể lí giải được theo lô gích thông thường, mà khi một nghệ sĩ được thành công, tức được khán giả yêu mến thì người ta cho rằng nghệ sĩ đó “có duyên sân khấu” và “được tổ đãi”. Trên thực tế, có nhiều trường hợp nghệ sĩ có tài có sắc thật sự, nhưng rốt cuộc lại không được nổi danh bằng chị bằng em, đành phải chấp nhận số phận và tự nhủ là “tổ nghiệp không thương”, tức thiếu “cái duyên sân khấu”.
            Bên cạnh đó, “cái duyên sân khấu” còn có thể được hiểu là “cái duyên đóng cặp” của một đôi nghệ sĩ trên sân khấu. Không phải đào kép nào đóng cặp cũng được khán giả đón nhận. Có khi cả đào lẫn kép đều là nghệ sĩ tài năng, nổi tiếng, nhưng “không có duyên diễn chung”, cho nên dù cố gắng đóng cặp cũng không tạo được dấu ấn trong lòng khán giả.
            Về vấn đề này, có lẽ Tấn Tài là một trường hợp ngoại lệ bởi ông được mệnh danh là “Kép không kén vai nữ”. Năm 1964, Tấn Tài là kép chánh của đoàn Dạ Lý Hương bên cạnh Cải lương chi bảo Bạch Tuyết. Có thể nói đây là một trong những đôi bạn diễn thành công nhất của sân khấu cải lương, từ sự tương đồng về giọng ca, cách nhả chữ, đến nghệ thuật biểu diễn điêu luyện. Ngoài Bạch Tuyết, Tấn Tài còn đóng cặp thành công với nhiều nữ diễn viên cải lương gạo cội khác như Út Bạch Lan, Thanh Nga, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Mộng Tuyền, Mỹ Châu…
            Không chỉ thành công trong các vở tuồng xã hội, mà Tấn Tài còn để đời với nhiều vai diễn kiếm hiệp đặc sắc. Có lẽ do xuất thân nhà giáo, nên cái nét chững chạc cũng đeo bám anh trên sân khấu. Tấn Tài có một lối diễn đơn giản mà chững chạc, diễn mà như không diễn, không quá ồn ào cũng không quá trầm lặng. Nói chung, anh diễn rất tiết độ với biểu hiện vừa đủ cho tâm trạng nhân vật. Cách diễn này tưởng dễ mà quá ra lại rất khó, bởi nó đòi hỏi người nghệ sĩ không được ỷ lại vào tài năng để hát cương, mà phải nghiên cứu kỹ lưỡng nhân vật để điều tiết cách ca diễn cho vừa đủ. Lối diễn này có vẻ đang thiếu ở thế hệ nghệ sĩ cải lương hiện tại, bởi có người thì không chịu nhập vai nên cái tính “giả bộ”, cái tính “đóng cải lương” lộ rõ trên sân khấu, có người nhập vai nhưng lại thể hiện thái quá tâm lí nhân vật.
            Trong vô số vở cải lương có Tấn Tài tham gia biểu diễn, có lẽ Chuyện Tình An Lộc Sơn là vở diễn minh chứng rõ ràng nhất cho đỉnh cao nghệ thuật ca diễn của Tấn Tài. Bên cạnh Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga trong vai Dương Quí Phi, Tấn Tài thể hiện vai An Lộc Sơn một cách xuất thần, cả về diễn xuất lẫn kỹ thuật ca. An Lộc Sơn của Tấn Tài là một vị võ tướng uy phong lẫm lẫm, nhưng khi yêu thì trở nên rất dịu dàng và yêu say đắm. Tấn Tài đã tạo ra một An Lộc Sơn rất lịch lãm trong tình yêu, nhưng cũng rất thiện chiến trên sa trường. Cách biểu diễn của Tấn Tài đã khiến cho người xem không thấy rằng An Lộc Sơn yêu Dương Quí Phi một cách mù quáng đến mức phải khởi binh tạo phản, mà là một An Lộc Sơn được khán giả cảm thông bởi vì đã sẵn sàng đánh đổi tất cả nhằm bảo vệ tình yêu chân thật của mình. Đến hiện tại, vai An Lộc Sơn của Tấn Tài vẫn chưa thấy có người thay thế xứng tầm.

Một giọng hát liêu trai
            Nhắc đến Tấn Tài là nhắc đến một giọng ca “lạ”, và đến hiện tại giọng ca này vẫn thuộc loại “độc bộ thiên hạ”. Xuất thân là nhà giáo, nên ông rất nghiêm túc trong mọi việc. Mỗi nhân vật, mỗi lời ca ông đều tìm hiểu kỹ lưỡng, bởi thế ông biết nhấn nhá, luyến láy đúng nơi đúng chỗ, biết chọn “vuốt” những từ cần thiết để khơi dậy xúc cảm của khán giả.
            Về mặt này, soạn giả Viễn Châu – danh cầm Bảy Bá nhận định: “Tấn Tài xuất thân là một nhà giáo nên cách ca và luyến láy của anh đầy tính văn học. Chính anh đã góp phần làm sang trọng thêm bài vọng cổ. Về kỹ thuật ca, người trong nghề nói vui với nhau rằng, Tấn Tài ca dường như muốn đùa giỡn với dàn đờn. Bởi người nghệ sĩ phải nắm vững niêm luật, cách chơi mới dám đùa giỡn với nhịp. Nghe anh Tấn Tài ca cứ tưởng anh sẽ bị rớt nhịp và dàn đờn sắp vớt anh, thế mà không bao giờ anh rớt. Nghe anh ca vọng cổ vì thế mà sướng trong sự cảm nhận, bởi chất nam tính trầm hùng, chất lãng mạn liêu trai như quyện chặt vào bài vọng cổ”.
            Tấn Tài có một làn hơi rất riêng khiến người nghe không thể nhầm lẫn với bất kì giọng ca nào khác. Lối ca của Tấn Tài vừa ngọt, vừa cao, vừa nhẹ. Cái mà khán giả dễ nhận ra nhất ở Tấn Tài đó chính là cách ông “nhấn kéo dài”những chữ mang dấu sắc nói riêng và cách ông “vuốt” những chữ mang thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) nói chung. Ông thả hơi cho những chữ này rất nhẹ và “mỏng như lá lúa”. Ví dụ như ba tiếng “Thái Chân ơi” mà ông ca trong vở Chuyện tình An Lộc Sơn, ông ca thành “Th… á… i… (thả hơi)… Chân ơi”. Tức thay vì ca liên tục ba chữ như những người khác, Tấn Tài kéo dài chữ “Thái” và ca liên tục hai chữ còn lại. Khi ông kéo dài, giữa chữ “Thái” và chữ “Chân” không đứt quãng hẳn, mà vẫn còn được kết nối bằng một làn hơi thật mỏng, và chính cái làn hơi thật mỏng này là nét rất riêng của Tấn Tài.
            Hay như trong bài vọng cổ Hận Kinh Kha, trong câu thơ nói lối: “Tân khách muôn người lệ chứa chan”, Tấn Tài đã xử lí bằng cách ca kéo dài giữa hai chữ “chứa” và “chan”, khiến cho giữa hai chữ này chỉ còn tồn tại một làn hơi thật mỏng, thật nhẹ, và thật độc đáo. Hoặc như trong bài Bên rặng ô môi, đoạn vô vọng cổ câu một: “Bến nước năm xưa chỉ còn cội đa già chơ vơ rũ bóng”, Tấn Tài cũng vuốt mỏng hai chữ “Bến… nước” thật ngọt ngào. Ngay cả trong lòng bản ca vọng cổ, Tấn tài cũng có cách vuốt rất nhẹ, rất mỏng, có thể nói là một kiểu vuốt “đứt dây đờn”.
            Làn hơi mỏng đó kết hợp với giọng hát “nhẹ bổng” đã tạo thành một lối ca “rất mỏng” và “rất nhẹ”, mỏng và nhẹ đến mức mà nó có thể len lỏi một cách dễ dàng vào tận cùng sâu thẳm con tim người mộ điệu. Nghe Tấn Tài ca, ta không hề thấy người ca phải “ca ráng hơi”, mà ta lại có cảm giác là ông ca rất nhẹ nhàng, bởi vậy người nghe cũng tìm được cái cảm giác nhẹ nhàng, mới thật sự được “sướng cái lỗ tai”. Nghe Tấn Tài ca, ta có cảm giác như tiếng ca đang văng vẳng từ xa nhưng lại rất gần ở đâu đó, thật đúng là một giọng hát “liêu trai”.

Nhà giáo làng lên ngôi “Hoàng Đế”
            Hồi những thập niên 60 của thế kỷ trước, giọng ca Tấn Tài đã làm khuynh đảo thị trường băng đĩa cổ nhạc ở Sài Gòn, nhiều hãng đĩa lớn tranh nhau mời Tấn Tài thu âm. Được biết, khi ấy mỗi ngày ông thu khoảng 5-6 bài, thù lao cho mỗi bài khi ấy tương đương một lượng vàng. Chỉ tính từ năm 1962 đến 1975, ông đã thu âm khoảng 1.000 bài vọng cổ và chừng 500 trăm vở cải lương lớn nhỏ. Đó là một con số kỷ lục mà cho đến nay chưa có nghệ sỹ nào vượt qua. Thành quả nghệ thuật đó cũng chính là nguyên nhân để khán giả và báo giới Sài Gòn khi ấy phong tặng Tấn Tài danh hiệu “Hoàng đế đĩa nhựa”.
            Năm 1963, khi về cộng tác với đoàn Thủ Đô, với vai Điệp Nhứt Lang trong vở Cát Dung Phương Tử của soạn giả Thiếu Linh, Tấn Tài đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm (cùng năm với các nghệ sỹ Diệp Lang, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Mộng Tuyền và Trương Ánh Loan), một giải thưởng danh giá nhất của sân khấu cải lương tính đến hiện tại. Năm 2011, trên bầu trời nghệ thuật cải lương Nam Bộ, một trong những ngôi sao sáng nhất đã vụt tắt khi nghệ sĩ Tấn Tài vĩnh biệt người mộ điệu ở tuổi 74.
            Ông mất đi, nhưng để lại cho đời nhiều vai diễn ấn tượng, đặc biệt là một giọng hát liêu trai “độc nhất vô nhị”. Với tất cả những gì ông thể hiện trên sân khấu cải lương, nhất là trong các bài vọng cổ, ta có thể mạnh dạn nói rằng, Tấn Tài là một trong những giọng ca hàng đầu góp phần khẳng định rằng: “ca vọng cổ” không chỉ đơn giản là “ca”, mà đó là cả “một nghệ thuật có tính hàn lâm”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120822-tan-tai-vi-hoang-de-co-giong-ca-lieu-trai

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 07/06/2017, 08:37:35
Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu

Dù ghiền hay không ghiền vọng cổ, ở miền Nam hễ nhắc đến vọng cổ thì người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán Chiếu, tới Út Trà Ôn và tới Viễn Châu. Đây là một bài ca ngoại hạng của làng vọng cổ, ngoại hạng vì nó được xem như bài phổ biến nhất trong tất cả các bài vọng cổ, và đặc biệt là vì bài ca này đã đưa hai người lên ngôi báu: “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn” và “Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu”.

(http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s626/2016/02/02/vien-chau-qua-doi-1454383816.jpg)
Nghệ sĩ Út Trà Ôn và soạn giả Viễn Châu

SOẠN GIẢ Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Ông thành thạo từ nhỏ đàn tranh và đàn guitar phím lõm, đặc biệt tuyệt kỷ đàn tranh của ông đã được xem là độc nhất vô nhị, và đến hiện tại chưa có người thế nổi. Nếu với nghệ danh Bảy Bá ông được xem là nhạc sĩ bậc thầy, thì với nghệ danh Viễn Châu ông đã leo lên ngôi báu với vương hiệu là “Vua viết lời vọng cổ”.

Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu
            Tài năng đo ni đóng giày của ông cũng xếp hàng thượng thừa, vì nhờ những bài vọng cổ của ông mà rất nhiều nghệ sĩ thời vàng son của cải lương đã thành danh như: Út Bạch Lan, Thanh Hương, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Minh Cảnh, Thanh Sang, Phương Quang, Minh Vương…
            Viễn Châu là một soạn giả cổ nhạc hi hữu. Hi hữu vì đến hiện tại ông đã là tác giả của gần 70 vở cải lương lớn nhỏ và trên dưới 2000 bài vọng cổ, lập kỷ lục chưa ai phá nổi trong làng sân khấu cải lương! Hi hữu là vì khán giả cải lương xưa nay có thói quen là chỉ quan tâm đến nghệ sĩ, tên tuồng hay tên bài ca mà ít quan tâm đến tên soạn giả, thậm chí nghệ sĩ biểu diễn có khi còn không biết mình đang ca bài của soạn giả nào, ấy vậy mà người mộ điệu cải lương Miền Nam từ già đến trẻ ai mà không biết soạn giả Viễn Châu!
            Nếu soạn giả Viễn Châu là hi hữu thì bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu của ông lại càng hi hữu. Hi hữu vì Viễn Châu có đến 2000 bài vọng cổ, ấy thế mà khi nhắc đến Viễn Châu là người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán chiếu. Hi hữu là vì bài ca này không chỉ làm bất tử tên tuổi của ông, mà còn đưa vào huyền thoại người được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn”.

Lãng du cùng Tình Anh Bán Chiếu
            Bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu có nội dung đơn giản. Bài ca là tâm sự của một thanh niên đến từ Cà Mau làm nghề bán chiếu, khi ghe chiếu anh cặp bến ở Ngã Bảy Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang, anh được một cô gái đặt làm đôi chiếu, được cô dẫn vào tận phòng riêng để đo ni chiếc giường. Thời gian trôi qua, khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang. Cô sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ, và anh cảm thấy tủi cho thân phận bán chiếu của mình.
            Có nhiều câu chuyện được thêu dệt xung quanh chuyện tình anh bán chiếu. Có người còn mạnh dạn cho rằng, soạn giả Viễn Châu một lần nọ khi ghé qua Ngã Bảy Phụng Hiệp đã gặp anh bán chiếu thất tình, ông đến trò chuyện và biết được câu chuyện tình dở dang của anh nên đã viết nên bài ca Tình Anh Bán Chiếu. Thế nhưng, theo soạn giả Viễn Châu, thì vào năm 1959, nghệ sĩ Út Trà Ôn về ký hợp đồng với hãng dĩa Hồng Hoa. Bà chủ hãng đĩa mới đề nghị Viễn Châu viết gấp một bài đặc biệt cho Út Trà Ôn ca với mục đích là “làm náo động thị trường”.
            Viễn Châu tìm trong trí nhớ và nhớ ra có một lần ông đi từ Bạc Liêu về Sài Gòn, tới khu chợ nổi Phụng Hiệp thì xe hơi bị chết máy, phải đậu lại sửa, khi ngồi nghỉ, Viễn Châu chợt thấy một anh chàng tay ôm đôi chiếu bông đứng mệt nhọc giữa trưa nắng như chờ ai trước một căn nhà đóng kín, xa xa lại có một đám cưới. Hình ảnh đó đã gây ấn tượng mạnh trong lòng một nghệ sĩ đầy cảm xúc như Viễn Châu và ông đã hóa thân thành anh bán chiếu nọ để được yêu, được tâm sự. Thế là bài ca Tình Anh Bán Chiếu đã ra đời.
            Nội dung bài ca khá đơn giản. Có người còn cho rằng, khi nghe kỹ rõ ràng thấy tình tiết câu chuyện phi lý, vì anh bán chiếu có cớ gì để thất tình, anh và cô gái nọ chưa từng hò hẹn với nhau mà chỉ là quan hệ người bán chiếu và người đặt mua chiếu mà thôi. Thế thì tại sao bài ca lại đi sâu vào lòng người đến thế? Lại được người mộ điệu say mê đến thế? Đến mức trở thành bài vọng cổ được phổ biến nhất đến thế? Đến mức làm bất tử tên tuổi hai ông vua của làng cổ nhạc Miền Nam đến thế?
            Câu trả lời có lẽ trước tiên nằm ở cái gọi là “tâm hồn nghệ sĩ”. Tình yêu vốn không có qui luật nên yêu đơn phương cũng không có qui luật, mà tình yêu của nghệ sĩ lại càng không có qui luật. Tâm hồn nghệ sĩ vốn dễ xao động và dễ đồng cảm với những cung bậc hỉ nộ ái ố của cuộc đời, huống chi đối với một nghệ sĩ lớn như Viễn Châu, với 2000 bài ca và được người mộ điệu yêu thích, thì thử hỏi cái tâm hồn nghệ sĩ đó ở Viễn Châu nó mới “mong manh” đến dường nào.
            Còn nói về nội dung thì chính cái nội dung đơn giản của bài Tình Anh Bán Chiếu đã khiến nó dễ dàng đi vào lòng người, nhất là người miền sông nước Nam Bộ vốn mộc mạc và giàu tình cảm. Có một điều ta có thể khẳng định chắc chắn rằng, một bài ca muốn được người mộ điệu yêu thương và ghi nhớ đòi hỏi trước hết phải “chạm” được cảm xúc của người mộ điệu, tức phải tìm được sự đồng cảm của người mộ điệu, nói cách khác là người nghe tìm được chính mình trong bài vọng cổ. Sự phổ biến “kỳ lạ” của Tình Anh Bán Chiếu suốt hơn nửa thế kỉ nay là một minh chứng hùng hồn rằng Viễn Châu đã “chạm” được cảm xúc của người Nam Bộ, tức đến cái tính mộc mạc trong cuộc sống đời thường nhưng không kém “sự dạt dào cảm xúc” trong tình yêu đôi lứa.

Vua ca vọng cổ – Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn
            Út Trà Ôn sinh năm 1919 tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ mười trong gia đình và cũng là cuối cùng, tức thứ Út theo cách gọi của người Nam Bộ. Năm 1937, ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh là Út Trà Ôn, một kiểu lấy tên vừa để nhớ gia đình vừa để nhớ quê hương Trà Ôn của ông.
            Xuất thân nhà nghèo nông thôn, Út Trà Ôn bắt đầu một sự nghiệp lẫy lừng trên sân khấu cải lương từ năm 18 tuổi. Cách diễn xuất của ông mộc mạc, chân phương, lại là người rất khó tính trong nghề, luôn có chí cầu tiến học hỏi, bởi vậy ông là một bậc thầy trong diễn xuất. Vỡ tuồng ghi đậm dấu ấn nhất trong lòng người mộ điệu là vỡ “Tuyệt Tình Ca” ông đóng cặp với Sầu nữ Út Bạch Lan, Bạch Tuyết và Thanh Sang thì đóng vai hai đứa con là Trường An và Long Hồ.
            Lớp ca diễn để đời là lớp ông tái ngộ vợ hiền sau nhiều năm xa cách, Út Trà Ôn ca với Út Bạch Lan ba câu vọng cổ, đây là ba câu vọng cổ để đời của hai nghệ sĩ bậc thầy này. Út Trà Ôn mở đầu bằng 4 câu nói lối như sau: “Tôi đứng đây tưởng chừng như đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, lúc mình quay xuồng trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn, con nước lớn lục bình trôi rời rạc”, Cải lương chi bảo Bạch Tuyết nhận xét: khi nghe ông ngâm đoạn này, cô cảm thấy được ngay trước mắt cảnh rời rạc của lục bình trôi trên sông Mỹ Thuận. Quả thật như vậy, đúng là ông đã đưa trọn tình cảm và nghệ thuật ca cổ thượng thừa vào lời ca để nó trở nên truyền cảm một cách thần sầu đến như vậy.
            Ấy thế nhưng khi nhắc đến Út Trà Ôn người mộ điệu nghĩ ngay đến cái tài ca vọng cổ của ông, một giọng ca và một cách ca mà đến hiện tại vẫn chưa có người kế tục xứng đáng. Năm 1960, ký giả Trần Tấn Quốc, người lập giải Thanh Tâm danh giá cho sân khấu cải lương, đã mở cuộc thăm dò ý kiến độc giả, và Út Trà Ôn đã được chọn là “Đệ nhất danh ca”. Báo chí, đồng nghiệp và người mộ điệu phong cho ông là “Vua ca vọng cổ”. Danh hiệu “đệ nhất danh ca” thì dù đã có đôi lần báo chí sau này tổ chức bầu chọn cho những nghệ sĩ thế hệ sau ông, nhưng đến hiện tại hễ nhắc đến “Đệ nhất danh ca” thì không hiểu sao người ta lại nghĩ ngay đến Út Trà Ôn.
            Còn cương vị “Vua ca vọng cổ” thì hầu như vẫn nghiễm nhiên được người mộ điệu dành cho Út Trà Ôn.
            Đi vào kỹ thuật ca, ta thấy Út Trà Ôn có giọng đồng, trầm. Kiểu ca và giọng ca của ông đã được xếp thành một trường phái ca vọng cổ riêng và luôn được xếp hàng đầu khi có người tìm hiểu về các trường phái ca vọng cổ. Ông được xếp đầu cũng đúng thôi vì trước Út Trà Ôn rõ ràng chưa có giọng ca nào được nổi danh như ông. Út Trà Ôn cũng chính là nghệ sĩ tiên phong trong việc phổ biến vọng cổ nhịp 32, một bài bản phổ biến nhất hiện nay.
            Út Trà Ôn ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ” đúng chất tài tử, phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Đây là trường phái ca mẫu mực, không lạng bẻ, kiểu cọ. Giọng ca này hoàn toàn tương thích với bản chất của bài vọng cổ là “tự sự”, là “chân phương hoa lá”. Nghe Út Trà Ôn ca ta không cần nhìn ông diễn cũng có thể cảm nhận được rõ ràng sắc thái tình cảm mà người viết gửi gắm, người nghe không còn chú ý đến nhịp nhàng tới câu mấy nữa, mà bị ru hồn bởi nội dung bài hát mà ông “tự sự” và bởi kỹ thuật ca điêu luyện, cách xấp chữ và ca chẻ nhịp độc nhất vô nhị.
            Thế hệ sau cũng có nhiều người theo trường phái ca này, nhưng để gọi là kế thừa xứng đáng thì quả thật chưa có ai. Soạn giả Viễn Châu nhận xét về giọng ca Út Trà Ôn như sau: “Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm được tròn vành rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp… Nếu lắng nghe Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã chất chứa sự giàu có của làn hơi”.

Út Trà Ôn bất tử cùng Tình Anh Bán Chiếu
            Nếu nhắc đến Vọng Cổ lập tức người yêu thích hay không yêu thích cổ nhạc đều nghĩ ngay đến bài Tình Anh Bán Chiếu, mà hễ nhắc đến Tình Anh Bán Chiếu thì lập tức nghĩ đến Út Trà Ôn và Viễn Châu. Tên tuổi Út Trà Ôn trước khi đến với bài Tình Anh Bán Chiếu cũng đã có tiếng rồi, thế nhưng với bài Tình Anh Bán Chiếu thâu ở hãng dĩa Hồng Hoa, giọng ca Út Trà Ôn đã thật sự làm chấn động làng cổ nhạc, và bài ca này đã làm bất tử tên tuổi của ông.
            Sau Út Trà Ôn đã có nhiều nam nghệ sĩ thuộc hàng “đại gia” trong sân khấu cải lương ca lại bài Tình Anh Bán Chiếu, dù rằng mỗi người mỗi vẻ, mỗi người có cái hay riêng, thế nhưng không hiểu sao hễ nghe Út Trà Ôn ca Tình Anh Bán Chiếu thì người nghe mới thấy “đã cái lỗ tay”. Vì sao thế, có lẽ bởi vì giọng ca Út Trà Ôn là chân phương, buồn bã nên hoàn toàn thích hợp để thể hiện một bài vọng cổ chân phương buồn bã như Tình Anh Bán Chiếu, còn những kiểu ca lạng bẻ, kiểu cọ rõ ràng là không thích hợp với bài hát này. Nói cách khác, ta có thể tìm thấy tất cả những đặc trưng của giọng ca Út Trà Ôn qua Tình Anh Bán Chiếu.

Chiếu Cà Mau, Ngã Bảy Phụng Hiệp và Tình Anh Bán Chiếu
            Chỉ một bài vọng cổ chưa đầy mười phút nhưng đã đưa hai người lên “ngôi báu”, đồng thời còn làm bất tử một “người” khác đó là “chiếu Cà Mau”. Mới mở đầu bài ca Viễn Châu đã viết: “Chiếu Cà Màu nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu, chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm”. Ta bàn thêm một chút về “Chiếu Cà Mau” để hiểu rõ thêm bài Tình Anh Bán Chiếu.
            Xưa kia, tại làng Tân Thành (nay là xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau) đã hình thành làng chiếu Tân Thành, trải dài gần chục cây số dọc bờ sông Cái Nhúc bởi một số quân binh của vua Gia Long trên đường đi cầu Xiêm đã chán ghét chiến tranh, tìm đến lập nghiệp. Thời kỳ cực thịnh, chiếu Tân Thành đã vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh, ghe xuồng xuôi ngược trên dòng sông Cái Nhúc, lớp mang hàng ra chợ Cà Mau bỏ cho vựa, lớp xuôi về Ngã Bảy ra Phụng Hiệp, Phong Điền bán. Bởi vậy chiếu Tân Thành cũng là đại diện cho chiếu Cà Mau.
            Nhờ Tình Anh Bán Chiếu mà vùng Ngã Bảy Phụng Hiệp cũng trở nên nổi tiếng ngoài sức tưởng tượng, đến mức mà một lãnh đạo của Huyện Phụng Hiệp thốt lên: “Nhờ bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu mà Ngã Bảy Phụng Hiệp được nổi danh khắp vùng Nam Bộ”. Ngã Bảy Phụng Hiệp là một vùng kinh sáng thuộc huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang. Tại đây có Chợ Nổi Phụng Hiệp nổi tiếng được đề cập trong bài Tình Anh Bán Chiếu. Chợ Nổi Phụng Hiệp từng một thời là đầu mối giao thương lớn của miền cực nam, và hiện tại là một địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng đất này. Đây là một nơi giữa đồng quê sông nước đầy ấp phù sa dễ gây xúc cảm tâm hồn nghệ sĩ:

                       “Bảy sông dồn nước, cuồn cuộn nước
                        Phù sa lớp lớp, quyện phù sa”

                        (Ca dao)

            Và nhờ có Viễn Châu và Út Trà Ôn mà miền đất này bên cạnh phù sa trĩu nặng còn chất chứa thêm nỗi lòng của Tình Anh Bán Chiếu:

                       “Sông sâu bên lỡ bên bồi,
                        tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”

                        (Hai câu kết bài Tình Anh Bán Chiếu)

            Như vậy, ở Tình Anh Bán Chiếu, ta có thể tìm thấy trọn vẹn những tinh hoa trong làn hơi điêu luyện, cách ca chân phương với lối nhấn nhá chẻ nhịp thần sầu của Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, tìm thấy trọn vẹn lối viết vọng cổ đảm bảo được cái hồn “tự sự” của bản vọng cổ với bố cục rõ ràng khúc chiết, lời văn rất nên thơ và rất “vô khuôn” của Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu.
            Một bài ca vọng cổ chỉ có 6 câu với chưa đầy mười phút nhưng đã đưa người ca là nghệ sĩ Út Trà Ôn và người viết là soạn giả Viễn Châu lên “ngôi báu” và đã làm bất tử tên tuổi của hai ông cùng với nghề chiếu Cà Mau và Ngã Bảy Phụng Hiệp.
            Cái “liên danh” Tình Anh Bán Chiếu-Út Trà Ôn-Viễn Châu-Chiếu Cà Mau-Ngã Bảy Phụng Hiệp đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu cải lương nói chung và vọng cổ nói riêng. Bấy nhiêu thôi cũng đủ khằng định rằng, bài Tình Anh Bán Chiếu Xứng đáng là “Bài vọng cổ vua” của làng cổ nhạc Miền Nam.
            Ngày nay, số lượng bài ca vọng cổ ra đời nhiều vô kể, thế mà đa phần đều làm thất vọng người nghe. Trong khi đó, đến hiện tại, người yêu cổ nhạc ai mà không mê Tình Anh Bán Chiếu và giọng ca Út Trà Ôn. Điều đó khẳng định rằng, nếu biết khai thác cái chất tự sự, mộc mạc và chân phương của bản vọng cổ thì bản vọng cổ vẫn luôn có sức hút phi thường.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121124-tinh-anh-ban-chieu-bai-vong-co-vua

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: huhu vào 07/06/2017, 12:31:00
Đọc "Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu": Bài viết có nội dung khá hay, tiếc rằng trong bài có nhiều lỗi về từ ngữ.
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 09/06/2017, 12:11:42
Ngọc Giàu: Viên kỳ ngọc của làng sân khấu cải lương

Trong làng cải lương, mỗi nghệ sĩ có sở trường riêng: có người nổi tiếng với vai ác, có người chuyên trị vai hiền, có người thiên bẩm vai mùi, có người chỉ hợp với loại vai hài hước. Nhưng thỉnh thoảng có một vài nghệ sĩ thành công với hầu hết tất cả các loại vai. Trong đó, đứng đầu có lẽ là cô Ngọc Giàu, người được mệnh danh là “nghệ sĩ đa năng” của sân khấu cải lương.

(http://i294.photobucket.com/albums/mm81/kinh08/DSC_0495.jpg)
Nghệ Sĩ Ngọc Giàu vai Phàn Lê Huê trong vở diễn Thần Nữ dưng Ngũ Linh Kỳ ở Pháp

NGHỆ SĨ Ngọc Giàu tên thật là Phong Thị Ngọc Giàu, sinh năm 1945, trong một gia đình lao động nghèo ở Thủ Thiêm (Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh). Ký ức tuổi thơ của Ngọc Giàu là những chuỗi ngày bần hàn, cơ cực. Mê ca hát nên những lúc rảnh rỗi cô bé Ngọc Giàu thường học ca vọng cổ qua đài phát thanh. Mới bảy, tám tuổi đầu, Ngọc Giàu đã phải đi làm thuê làm mướn, ca hát giúp vui để chủ bán hàng. Năm lên 9 tuổi, cô cùng anh trai mình gia nhập một nhóm sơn đông mãi võ nhào lộn, phụ bán thuốc để nuôi sống gia đình.
            Năm 12 tuổi, Ngọc Giàu bắt đầu xuất hiện trên sân khấu với vai tỳ nữ, ngâm thơ hậu trường. Sau đó một năm, Ngọc Giàu được đóng đào nhì rồi lên đào chánh. Năm 1958 là năm tạo mốc son cho sự nghiệp của Ngọc Giàu: cô được Vua Xàng xê Minh Chí giới thiệu cho hãng đĩa Asia nổi tiếng lúc bấy giờ (hãng đĩa Hồng Hoa sau này). Người viết bài ca cho Ngọc Giàu lần đó là “tổ sư đo ni đóng giày” Viễn Châu. Ông viết cho cô bé 14 tuổi Ngọc Giàu bài vọng cổ “Áo Tình Đắp Mộ Người Yêu”.
            Bài ca nhanh chóng chinh phục khán giả mộ điệu bốn phương, chinh phục cả đôi soạn giả cải lương hàng đầu lúc bấy giờ: Hà Triều-Hoa Phượng. Thế là Hà Triều-Hoa Phượng đã giới thiệu Ngọc Giàu về đoàn hát Thanh Minh-Thanh Nga để đứng chung sàn diễn với Nữ hoàng sân Khấu Thanh Nga. Từ đó, bước đường vinh quang của Ngọc Giàu bắt đầu rực rỡ.
            Có lẽ cái tuổi thơ gian khổ cùng với những tháng ngày gạo chợ nước sông, ăn quán ngủ đình, bôn ba tứ xứ cùng các đoàn hát đã giúp cho Ngọc Giàu có được nhiều trải nghiệm cuộc sống quý giá. Chính nhờ cái thực tế cuộc sống đó đã giúp cho vai diễn của Ngọc Giàu mang đậm dấu ấn của đời thường, và chính bởi Ngọc Giàu, mà đời thường đã bước lên sân khấu một cách rất tự nhiên.
            Đó chính là đặc trưng trong phong cách ca diễn của Ngọc Giàu: không quá “hoa lá cành”, không màu mè kiểu vẽ, mà rất chân thật, dung dị, và chính cái chân thật dung dị ấy đã khiến cho nhân vật trên sân khấu do Ngọc Giàu thể hiện trở nên gần gũi, dễ dàng nhận được sự đồng cảm của khán giả.
            Nói cách khác, Ngọc Giàu đã thành công trong việc vận dụng kinh nghiệm thực tiễn vào vai diễn. Với Ngọc Giàu, “cuộc đời sân khấu” và “sân khấu cuộc đời” đã quyện làm một. Bởi thế cô là một nghệ sĩ hiếm hoi của sân khấu cải lương có phong cách diễn đa dạng, thành công với nhiều loại vai. Trên thực tế, Ngọc Giàu đã có nhiều vai diễn để đời với đủ thể loại: đào mùi, đào lẳng, đào hài, giả trai, giả lão…
            Trong nghệ thuật ca diễn, diễn quá mức cũng không hay, mà đứng chết bộ lại càng dở. Bởi thế, các bậc thầy trong giới cải lương thường khuyên là: “Đã bước ra sân khấu thì phải diễn, nhưng mà đừng có diễn”. Tức là, khi bước ra sân khấu thì phải diễn xuất, nhưng hãy cố gắng diễn sao cho thật tự nhiên đến mức như là không có diễn: Ngọc Giàu đã đạt được trình độ diễn xuất đó.

Thị Lộ, Đào mùi
            Trong số vô vàn các vai đào mùi mà Ngọc Giàu thể hiện, thành công nhất có lẽ là vai Thị Lộ trong Rạng Ngọc Côn Sơn và vai Phàn Phụng Cơ trong vở tuồng San Hậu. Hình tượng Thị Lộ của Ngọc Giàu trong Rạng Ngọc Côn Sơn, bên cạnh nghệ sĩ Minh Vương trong vai Nguyễn Trãi, thật gần gũi và dễ cảm.
            Lớp diễn hay nhất là lớp tâm tình của Nguyễn Trãi và Thị Lộ trong tưởng tượng của bà sau vụ án Lệ Chi Viên, khi bà đang bị giam cầm trong ngục thất. Chỉ với hai tiếng “Đại phu!” thật ngọt ngào chậm rãi, Ngọc Giàu đã khiến cho con tim người nghe không khỏi ngậm ngùi, quặn thắt. Rồi khi hồi tưởng buổi sơ ngộ với Nguyễn Trãi, đáp lại bài thơ thất ngôn tứ tuyệt qua giọng ngâm của Nguyễn Trãi – Minh Vương:

                        “Ả ở nơi nào bán chiếu gon
                        Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
                        Xuân xanh phỏng độ bao nhiêu tuổi
                        Đã có chồng chưa? Được mấy con?”


            Thị Lộ – Ngọc Giàu đáp lại:

                        “Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
                        Can chi ông hỏi hết hay còn
                        Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ
                        Chồng còn chưa có, hỏi chi con!”


            Ngọc Giàu có giọng thổ thâm trầm, lại có chút hơi hướng Huế, nên cô đã ngâm bốn câu thơ đáp lời nói trên một cách “ngọt lịm”, êm như ru vậy. Bên cạnh đó, Ngọc Giàu đã chọn cách ngâm bài thơ không quá ướt át bi lụy, mà vừa có chút lãng mạn hòa với nỗi u buồn.
            Đó là một cách diễn tinh tế, bởi nó thể hiện rất lô-gích tâm trạng của Thị Lộ đang ở trong tù, đau buồn vì toàn gia Nguyễn Trãi lâm tai kiếp, nhưng đoạn đối đáp trên thật sự là một kỷ niệm tình yêu tuyệt đẹp, đã khắc sâu vào tâm trí của Thị Lộ và Nguyễn Trãi, nên nó không thể nào không mang chút lãng mạn cho được!
            Đến với vai Phàn Phụng Cơ trong vở tuồng San Hậu. bên cạnh nghệ sĩ Thanh Nga trong vai Nguyệt Kiểu, Ngọc Giàu đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật ca diễn. Khi nghe Ngọc Giàu và Thanh Nga ca trong vở tuồng này, Người mê cải lương ắt hẳn không thể nào không thốt lên: “Nghe đã làm sao!”

Bà Hai Hương – Vai Lão
            Ngọc Giàu bắt đầu vào vai lão khi mới 15 tuổi và đã để đời với nhiều vai lão. Hình tượng lão bà của Ngọc Giàu rất đôn hậu, chân thật, gần gũi. Vai lão ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng khán giả của Ngọc Giàu là vai bà Tư trong vở Bông Hồng Cài Áo. Ngọc Giàu đã để đời trong vai một người mẹ suốt đời tần tảo nuôi con. Ấy vậy mà hai đứa con của bà đã không hiểu được nỗi lòng người mẹ nên bỏ về ở với bà Nội giàu sang.
            Để rồi ngày lại ngày, với gánh chè nặng trĩu trên vai, người mẹ ấy lại đến len lén nhìn con cho đỡ nhớ. Cái dáng đi chầm chậm, lầm lũi của người mẹ Ngọc Giàu cùng với tiếng rao hàng nghẹn ngào đứt quãng đã khiến cho khán giả… khóc lúc nào cũng không biết.
            Khán giả vẫn mãi thổn thức với câu vọng cổ mà người mẹ Ngọc Giàu tâm sự cùng hai con khi đến từ giã chúng lên đường về quê ẩn cư: “Nhớ hồi chúng còn bé, mình cho chúng cục kẹo chúng cũng mừng, đi đâu chúng cũng đòi theo. Còn bây giờ mình cho chúng cả cuộc đời chúng cũng không thèm nhận. Và sắp đi một chuyến không về nữa, mà chúng cũng chẳng thèm để ý và không muốn được cùng theo”. Ngọc Giàu không ca hết nguyên câu dài, mà chọn cách ca đứt quãng thành từng đoạn ngắn, ấy như tiếng nấc, tiếng nghẹn ngào, thể hiện một nỗi lòng quặn thắt, nhưng phải cố kiềm nén trước mặt các con để cho chúng bớt phần ái ngại và lo lắng.
            Với cách diễn không ồn ào, không khóc than thảm thiết, mà trái lại rất thâm trầm, chủ ý là để cho khán giả cảm nhận được từ nơi nhân vật sự uất nghẹn trong tâm hồn, sự quặn thắt con tim, cảm nhận được vô vàn giọt lệ đau thương đang ồ ạt chảy về tim, để rồi khán giả khóc cùng Bà Tư Ngọc Giàu lúc nào cũng không hay, để đến khi thấy lòng mắt cay cay, thì khán giả mới chợt nhận ra dòng lệ của mình đang lăn dài trên má để đồng cảm với Bà Tư Ngọc Giàu trên sân khấu. Đó chính là “tuyệt chiêu” lấy nước mắt khán giả của Ngọc Giàu.
            Cũng không thể không nhắc đến vai bà Hai Hương trong vở cải lương Đời Cô Lựu. Cải Lương Chi Bảo Bạch Tuyết từng nhận xét về vai diễn này của Ngọc Giàu như sau: “Vai Bà Hai Hương trong Đời cô Lựu là một chuẩn mực của nghệ thuật ca diễn Ngọc giàu. Chất đôn hậu, chân chất mà dí dỏm được thể hiện cả trong đường kim mũi chỉ, cho đến cái dáng điệu lúi húi, nụ cười thật thà mà chua chát, bàn tay run rẩy tìm cho ra chai dầu xanh”.

Hoạn Thư, Đào độc
            Nhắc đến Ngọc Giàu, người mộ điệu cải lương còn nhớ đến những vai diễn “vô cùng đáng ghét”, tức những vai đào độc. Ngọc Giàu đã đưa nhân vật Hoạn Thư từ trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du bước lên sân khấu cải lương một cách tuyệt diệu. Dường như đến giờ phút này, chưa nghệ sĩ nào đóng vai Hoạn Thư đạt đến trình độ diễn xuất của Ngọc Giàu.
            Hoạn Thư – Ngọc Giàu đã cho khán giả “Tận mục sở thị” thế nào là “Bề ngoài phơn phớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Vai diễn Hoạn Thư của Ngọc Giàu thành công đến mức có lúc khán giả ngồi bên dưới quên mình đang xem cải lương, nên đã ném giày dép vào cô Hoạn Thư – Ngọc Giàu trên sân khấu.
            Ngọc Giàu đã khắc họa nhân vật này một cách rất tinh tế: không ồn ào trong cách diễn nhưng lại vô cùng khốc liệt trong diễn biến tâm trạng. Ngọc Giàu đã để cho nhân vật Hoạn Thư khóc khi nghe Thúy Kiều và Thúc Sinh hát đối đáp Chiêu Quân Khúc với nhau. Giọt nước mắt âm thầm lặng lẽ ấy của Hoạn Thư – Ngọc Giàu đã bộc lộ được nỗi đau đớn tột cùng trong một tâm hồn rất ư là… phụ nữ.
            Đến lúc đó, khán giả mới bắt đầu cảm thấy thương cho số phận của người vợ Hoạn Thư phải chịu cảnh chồng chung. Đến lúc đó khán giả mới chợt hiểu ra rằng: “Ghen tuông vốn chuyện người ta thường tình”. Lối diễn xuất này đã góp phần làm cho cải lương trở nên chân thật, gần gũi hơn với cuộc sống, một cách diễn đến hiện tại trong làng cải lương hiếm có nghệ sĩ thể hiện được trọn vẹn.
            Một vai đào độc nữa không kém phần đặc sắc đó là vai Hoàng Hậu Thượng Dương trong vở cải lương Câu Thơ Yên Ngựa. Vở tuồng kể lại việc giặc Tống sang xâm lấn nước ta, võ tướng Lý Thường Kiệt lo trấn thủ biên cương, văn quan Lý Đạo Thành lãnh nhiệm vụ lo bề chính trị trong nước, dưới sự nhiếp chính của thái hậu Ỷ Lan. Trong bối cảnh ấy, tức giận vì mất ngôi thái hậu, hoàng hậu Thượng Dương đã cấu kết với gián điệp phương Bắc để phá rối triều đình. Ngọc Giàu thủ vai này xuất sắc, khiến cho người xem “không ghét cũng không được”.
            Độc đáo nhất là đoạn khi âm mưu bại lộ, giữa trào đình, Lý Đạo Thành đề nghị xử tội chết, thái hậu Ỷ Lan thì đang phân vân, lúc đó Thượng Dương – Ngọc Giàu nài nỉ van xin thái hậu tha chết, nhưng qua ánh mắt, giọng nói, Thượng Dương – Ngọc Giàu đã cho khán giả thấy rằng: Ôi, đó là một vị hoàng hậu thâm hiểm đến mức không thể nào thâm hiểm hơn được nữa!

Đại náo làng hài
            Nhắc đến Ngọc Giàu còn nhắc đến một tài năng hài kiệt xuất. Ngọc Giàu bắt đầu đến với hài vào năm 1984 khi lần đầu tiên cải lương Việt Nam “đem chuông đi đánh xứ người” trên đất Pháp. Trong vở Đời Cô Lựu của cố soạn giả Trần Hữu Trang, Ngọc Giàu đã kiến trúc thành công một vai diễn để đời: Vai Cô Bảy Cán Vá.
            Số là trong nguyên tác của cụ Trần Hữu Trang, đây chỉ là vai người ở, một vai “vô cùng phụ”, chỉ chiếm có vài dòng trong kịch bản. Ngọc Giàu đã phải thủ vai bà Hai Hương, là một vai lão mùi, vậy mà cô đã xông xáo nhận luôn vai “con sen”. Cái vai phụ bé nhỏ ấy qua tay Ngọc Giàu bỗng nhiên không còn bé nhỏ nữa: Ngọc Giàu đã sáng tạo thêm cái tay cán vá cho nhân vật, cùng nhiều mảng miếng hài hước độc đáo khác.
            Chỉ mới trong màn trước với vai bà Hai Hương, Ngọc Giàu vừa lấy xong nước mắt khán giả, vậy mà ngay màn sau khán giả lại được một phen cười nghiêng ngã khi Cô Bảy Cán Vá – Ngọc Giàu đại náo trên sân khấu. Đạo diễn tuồng lúc bấy giờ là Nghệ sĩ Huỳnh Nga còn phải công nhận tài năng sáng tạo nghệ thuật hiếm có của Ngọc Giàu và cho rằng: “Ngọc Giàu là người có tài biến không thành có”.
            Cái hay của Ngọc Giàu đó là, với cánh tay cán vá, người xem không cảm thấy một dị tật bị đem lên làm trò hề trên sân khấu, mà trái lại, sau khi xem cô Bảy cán vá của Ngọc Giàu, người ta bắt đầu cảm thấy cái tay cán vá nó duyên dáng làm sao.
            Thêm vào đó, một sáng tạo khác của Ngọc Giàu không chỉ đặc sắc trong nghệ thuật, mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Khi bị ông chủ là chồng cô Kim Anh la mắng, “con sen” Bảy Cán Vá – Ngọc Giàu khóc tức tưởi. Cô Bảy khóc bù lu bù loa trên sân khấu trong khi bên dưới khán giả lại cười nghiêng ngửa thế mới hay! Và cô Bảy tự than thân: “Trong cái nhà này, có một chút vui vẻ cũng không được với người ta!”
            Rõ ràng là “ở trong cái nhà này”, cô Bảy là người ở đợ, mà cái vị thế của người ở đợ trong bối cảnh lịch sử đó thì làm sao tìm thấy niềm vui cho được. Bởi thế, cô Bảy ở đợ Ngọc Giàu nói với cô chủ Kim Anh khi cô này về đến nhà và nghe cô Bảy kể việc vừa bị chửi: “Dù em ở đợ, nhưng em còn có cái cương vị của em chớ”.
            Khi Ngọc Giàu nói câu này, khán giá không hề thấy một cái gì nặng nề về chính trị, nhưng càng nghĩ lại thì thấy sâu sắc, càng thấy hay và càng thấy thương cho số kiếp tôi đòi! Như vậy, cái hài của Ngọc Giàu không phải là cái hài dễ dãi, kiểu chọc cười rẻ tiền, mà là cái hài có trình độ, có nghệ thuật.

Lục Vân Tiên – vai giả trai
            Vóc dáng Ngọc Giàu không to cao, tướng tá không lớn, tức không có ưu thế để đóng vai nam. Ấy thế mà cô vào vai nam rất ngọt và đã có nhiều vai diễn để đời. Trong các vai đó, vai diễn gắn liền với tên tuổi Ngọc Giàu là vai Lục Vân Tiên trong tuồng Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga, bên cạnh nghệ sĩ Bạch Tuyết thủ vai nữ chính.
            Có thể nói, hình tượng Lục Vân Tiên qua nét diễn xuất của Ngọc Giàu vừa oai phong, lẫm liệt, vừa đa tình, tài hoa… đã trở thành một chuẩn mực cho vai diễn này. Dù đã diễn đi diễn lại nhiều lần nhưng cứ hễ đến lớp tương phùng, khi Lục Vân Tiên – Ngọc Giàu vừa ôm Kiều Nguyệt Nga – Bạch Tuyết là khán giả lại vỗ tay vang dội bởi đó là một khoảnh khắc nghệ thuật tuyệt đẹp – đẹp bởi cái tình son sắc thủy chung của hai nhân vật, và đẹp vì thế tạo hình hoàn mỹ của hai nghệ sĩ bậc thầy trên sân khấu.
            Bên cạnh một quốc trạng lẫm liệt oai phong, Ngọc Giàu cũng mang đến cho khán giả một Lục Vân Tiên có tình có nghĩa với nét diễn bi hùng xuất thần. Khi vị khách quốc trạng lần đầu tiếp chuyện với người phụ nữ góa chồng là con gái của gia chủ, mà chẳng ai khác hơn đó chính là Kiều Nguyệt Nga, người mà Vân Tiên ngày thương đêm nhớ, quốc trạng – Ngọc Giàu đã mở lời: “Thưa chị, người tiết hạnh thật là cao quí, mong rằng những lời thô thiển không làm vẫn đục tấm lòng trinh, xin người quá phụ nể tình bỏ lỗi”. Ngọc Giàu chọn cách nói chậm rãi, nhấn từng chữ một, qua đó người nghe có thể cảm nhận được một vị quốc trạng đang đong đầy tâm sự.
            Đến đoạn: “Xin người góa phụ”, Ngọc Giàu lại xử lí bằng cách nói lớn tiếng, và sau đó đến những chữ “nể tình bỏ lỗi” thì Ngọc Giàu nói nhỏ lại bình thường, như thể nổi niềm tâm sự kia chợt dâng trào mãnh liệt, toan vỡ òa ra bên ngoài, thế nhưng đấng trượng phu không thể ủy mị khóc than, nước mắt đàn ông không thể chảy bên ngoài, bởi vậy vị quốc trạng đã kịp thời ngăn cảm xúc.
            Dù không để cảm xúc bộc phát ra ngoài, nhưng qua cách diễn, cách nhấn chữ của Ngọc Giàu, người xem có thể cảm nhận được vị quốc trạng oai phong kia đang cố gắng kiềm nén tâm sự của mình. Nói chung, Ngọc Giàu đã thể hiện chất bi hùng của nhân vật một cách rất tinh tế. Nghệ sĩ Bạch Tuyết từng nhận định: “Hình tượng Lục Vân Tiên qua phong cách Ngọc Giàu vẫn là một chuẩn mực không một ai thay thế. Những hình tượng Lục Vân Tiên đến nay hầu như chưa làm nổi bước cách tân, so với Lục Vân Tiên – Ngọc Giàu ngày ấy”.

Lụa trải Nhung Căng
            Ngọc Giàu không chỉ nổi danh qua tài diễn xuất trong các tuồng cải lương, mà cô cũng đã để đời nhiều bài vọng cổ đặc sắc, từ tuổi học trò đến tâm sự tuổi già, từ xã hội đến kiếm hiệp. Giọng ca của Ngọc Giàu được cho là “Lụa trải Nhung Căng”: một giọng ca ngọt ngào, nhẹ nhàng, êm dịu như lụa như nhung.
            Ngọc Giàu có một lối ca đúng với bản chất của âm nhạc miền nam là “Chân phương hoa lá”, tức ca một cách rất chân phương, nhưng không để bài ca chết khô, mà cô dùng giọng trời phú “lụa trải nhung căng” cùng với lối luyến láy điêu luyện, khiến cho bài hát có đủ hoa lá cành tươi tốt.
            Ngọc Giàu có một giọng thổ đặc biệt, khó ai có thể bắt chước, lại thêm vào đấy một chút hơi hướng của sông Hương núi Ngự, khiến cho làn hơi trầm trầm của cô chứa đầy nhạc điệu, là lạ khó quên. Người mê vọng cổ làm sao quên được giọng ca Ngọc Giàu trong hàng loạt bài vọng cổ đặc sắc: Áo Tình đắp mộ người yêu, Tình mẫu tử, Đời nghệ sĩ, Dương Quý Phi, Khúc nhạc từ ly, Trọng Thủy Mỵ Châu, Kiều Phong A Châu…
            Trong làng sân khấu cải lương, thỉnh thoảng cũng có một vài nghệ sĩ có thể diễn được nhiều tính cách nhân vật, nhưng để đạt được thành công như Ngọc Giàu thì quả thật đến hiện tại vẫn chưa thấy có ai. Nghệ sĩ Ngọc Giàu thật sự là “một hiện tượng lạ”, “một viên kỳ ngọc” của sân khấu cải lương.
            Năm 16 tuổi, Ngọc Giàu đoạt “huy chương vàng triển vọng” giải Thanh Tâm. Năm 1963 cô nhận “huy chương vàng xuất sắc” giải Thanh Tâm, là một trong sáu nghệ sĩ hiếm hoi đạt được giải thưởng cao quí này. Năm 1979, Ngọc Giàu được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và năm 2012 được đặt cách phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân cùng với người thầy của mình là soạn giả Viễn Châu, và hai người bạn diễn thâm niên là nghệ sĩ Lệ Thủy và nghệ sĩ Bạch Tuyết.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120815-ngoc-giau-vien-ky-ngoc-san-khau-cai-luong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 12/06/2017, 08:58:12
Hà Mỹ Xuân: Cải lương đã thấm vào huyết quản

Một nghệ sĩ sống bằng nghề hát cải lương tận tụy với cải lương đã là đáng quí, nhưng có những nghệ sĩ phải làm nghề khác để sinh nhai nhưng lại hết lòng hết dạ với cải lương, thì điều đó thật sự còn đáng quí biết dường nào. Và trong thực tế, những trường hợp như vậy rất hạn hữu.

(http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/133/160/603/450/344/257/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Ha%20My%20Xuan.jpg)
Hà Mỹ Xuân trong vai thái hậu Dương Vân Nga (trái), Tết 2012 – Trụ sở UNESCO Paris

TRONG CÁI số lượng rất hạn hữu đó đầu tiên phải kể đến nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân, một nghệ sĩ tài danh vang bóng một thời hồi những thập niên 1960, 1970, có nhiều đóng góp cho sân khấu cải lương sau 1975, và dù đã hơn 20 năm sống nơi đất khách, nghệ thuật cải lương vẫn luôn chảy trong huyết quản của cô.

Một thời vang bóng
            Nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tên thật là Nguyễn Thị Tiết Xuân, sinh ngày 10/10/1950 tại Long Xuyên, An Giang. Hà Mỹ Xuân bắt đầu đi hát từ năm 13 tuổi dưới sự dìu dắt của người anh ruột là nghệ sĩ Thanh Điền và người chị ruột là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên. Nghệ danh Hà Mỹ Xuân là do Hà Mỹ Liên đặt. Ngoài anh chị của mình, Hà Mỹ Xuân còn được may mắn thọ giáo với những bậc thầy của giới cải lương: cô được nghệ sĩ Diệu Hiền dạy ca và nghệ sĩ Ba Vân dạy diễn xuất.
            Năm 15 tuổi, Hà Mỹ Xuân bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh vị tiền bối của mình là nghệ sĩ Minh Cảnh trong vở Công Chúa Rừng Xanh tại đoàn Kim Chung, một đoàn hát lớn mà hầu hết nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ đều ước mơ được về hát. Hà Mỹ Xuân đã hát cho nhiều đoàn như Kim Chung, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu…
            Năm 1972, Hà Mỹ Xuân cùng với anh chị mình là nghệ sĩ Thanh Điền và nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thành lập đoàn hát Xuân Liên Hoa, qui tụ nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng lúc bấy giờ: Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Hà Bửu Tân, Giang Châu…

Kiếp tầm nhả tơ
            Sau năm 1975, trước làn sóng quốc hữu hóa các đoàn hát, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục theo nghiệp cải lương ở nhiều đoàn khác nhau đi lưu diễn khắp nơi như đoàn Long Giang (Long Xuyên), đoàn Long An, đoàn Vũng Tàu Côn Đảo, đoàn Sài Gòn 2, đoàn Sài Gòn 3, đoàn Tiền Giang, đoàn Thanh Nga… Đặc biệt ở đoàn Tiền Giang, Hà Mỹ Xuân đã có nhiều đóng góp quan trọng, nhất là một nghệ sĩ lớn có danh vọng như Hà Mỹ Xuân mà chấp nhận về làm quản lí và nghệ sĩ biểu diễn cho một đoàn hát tỉnh lẻ thì quả thật là một sự hy sinh đáng ghi nhận.
            Đóng góp của Hà Mỹ Xuân cho nghệ thuật cải lương sau 1975 đã được ghi nhận bằng những giải thưởng lớn: huy chương vàng toàn quốc năm 1985 với vai Nguyễn Thị Hạnh trong tuồng Đất và Hoa của soạn giả Minh Khoa, huy chương vàng khu vực Vũng Tàu-Côn Đảo năm 1986 với vai Thứ phi Phi Yến trong vở tuồng cùng tên của soạn giả Nhất Tâm, huy chương vàng khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 1987 với vai vợ chàng họa sĩ mù trong Đôi Mắt Tình yêu của soạn giả Lưu Quang Vũ.
            Năm 1988, Hà Mỹ Xuân sang định cư tại Pháp. Nơi đất khách quê người, cô không còn có thể sống bằng nghề hát cải lương, nhưng niềm đam mê cải lương trong cô vẫn luôn cháy bỏng. Trên đất khách, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục hát mỗi khi có cơ hội, hát không phải để kiếm tiền mà để thỏa cái lòng thương nhớ cải lương, để góp phần “đem chuông đi đánh xứ người”. Báo chí Pháp và Đức đã từng có bài ghi nhận về những đóng góp của cô cho nghệ thuật cải lương.

Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân: Đôi bạn diễn xưa nay hiếm
            Hà Mỹ Xuân rất tâm đắc cách diễn và giọng ca của Nữ Hoàng Sân Khấu Thanh Nga, nên mỗi khi nói về Thanh Nga cô nói với một sự say sưa bất tận. Hà Mỹ Xuân từng có một thời đứng chung sân khấu với nghệ sĩ Thanh Nga: Hà Mỹ Xuân là đào nhì còn Thanh Nga là đào chánh. Thường thì trong nghệ thuật cải lương người ta hay nói về “đôi bạn diễn” hay “đóng cặp” thì người ta nghĩ ngay đến đôi đào kép chánh, tức một nam một nữ. Thế nhưng, Thanh Nga và Hà Mỹ Xuân trong vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh đã góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc chọn lựa “đôi bạn diễn” đào chánh và đào nhì trong một vở cải lương.
            Trên thực tế, việc chọn đào nhất và đào nhì cũng rất quan trọng. Nói về các vai đào trong một vở tuồng thì đây là hai cô đào xuất hiện nhiều nhất, ca diễn nhiều nhất, có khi đóng vai là người thân của nhau, có lúc lại là kẻ thù của nhau. Thế nhưng người thân hay kẻ thù gì thì cũng phải diễn sau cho “khớp”, phải biết nương nhau, tung hứng cho đúng lúc đúng nơi để góp phần giúp nhau thành công trong vai diễn. Trong lô gích đó thì đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân có thể được xem là “đôi bạn diễn” xưa nay hiếm.
            Trong tuồng cổ trang lịch sử Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc và Hà Mỹ Xuân trong vai Trưng Nhị. Thanh Nga có giọng ca trầm buồn còn Hà Mỹ Xuân thì có giọng cao, mạnh mẽ, cả hai lại có cách diễn chững chạc, khai thác triệt để nội tâm nhân vật, vì thế sự khác biệt trong giọng ca đã giúp hai giọng ca này bổ sung cho nhau, sự tương đồng trong cách diễn đã giúp đôi bạn diễn này tung hứng một cách đúng lúc, đúng nơi, có tiết độ và rất ăn ý. Nếu Thanh Nga để đời với vai Trưng Trắc thì Hà Mỹ Xuân cũng làm khó cho thế hệ sau với vai Trưng Nhị, bởi sau cô, đến hiện tại chưa thấy có ai thủ vai Trưng Nhị đạt được như cô, cũng chưa thấy có đôi bạn diễn Trưng Trắc – Trưng Nhị nào được như đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân.
            Lớp hay nhất trong Tiếng Trống Mê Linh của Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân là lớp Tào Uyên được cử làm sứ giả đến thăm dò thực hư của quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong buổi tiếp, Trưng Trắc đã dụng kế ly gián Tào Uyên với thái thú Tô Định, và thả Tào Uyên về để giúp bà thực hiện mưu kế đó. Thế nhưng, Trưng Nhị chưa hiểu được cơ mưu, cứ ngỡ rằng chị mình đã nhân từ với kẻ thù mà quên đi mối hận nước non và mối thù bắt giữ Thi Sách, nên Trưng Nhị đã lớn tiếng trách chị mình.
            Giọng ca của Hà Mỹ Xuân mạnh mẽ, lối diễn xuất chững chạc, điệu bộ thể hiện sự oai phong rất điêu luyện, nên rất thích hợp với vai nữ tướng. Thêm vào đó, Hà Mỹ Xuân có cách diễn xuất khai thác triệt để nội tâm, nên lời trách cứ của Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân thật sự rất bi hùng, rất oai phong và cũng rất tình cảm. Tiếp theo đó, Trưng Trắc – Thanh Nga đã nhẹ nhàng khuyên em mình, và cả hai người ca ba câu vọng cổ. Cách diễn tương đồng, cách ca bổ trợ cho nhau đã thể hiện xuất thần tính cách của nhân vật và điều mà tác giả cần gửi gấm, đúng như lời của cụ Đô Trinh nhận xét sau đó: “Thật không thấy tình chị em nào thắm thiết như thế”. Đôi bạn diễn Thanh Nga – Hà Mỹ Xuân đã làm cho lớp tuồng vốn rất nhỏ bé này trở nên to lớn, tạo thành một trong những điểm nhấn của vở diễn.
            Chưa hết, lớp Trưng Trắc đánh trống tiến quân sau khi đã tế sống chồng cũng là một lớp diễn để đời. Trưng Trắc – Thanh Nga đánh ba tiếng trống ra quân với một sự cố gắng tối đa của lý trí, với một niềm đau khổ tột cùng, nhưng trước nghĩa lớn của dân tộc nên đành phải hy sinh tình nhà. Thanh Nga đã xuất sắc trong cách diễn khi đánh ba tiếng trống này. Mỗi khi dùi của Trưng Trắc – Thanh Nga chạm vào mặt trống thì người xem cũng tan lòng nát dạ.
            Bên cạnh Thanh Nga, Hà Mỹ Xuân cũng không kém phần xuất thần. Khi Trưng Trắc – Thanh Nga cầm dùi chuẩn bị đích thân đánh trống tiến quân, Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân nắm tay chị nói: “Xin chị để cho em nổi trống tấn công”. Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân nói trong nghẹn ngào, thể hiện được sự cố gắng tối đa của lý trí, cố vượt qua tình nhà vì nợ nước. Nếu mối tình nhà của Trưng Trắc lúc này chỉ là khóc thương chồng, thì mối tình nhà của Trưng Nhị lại nhân đôi, tức vừa khóc thương cho anh rể, vừa khóc thương cho hoàn cảnh của chị mình. Giọng nói của Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân khi ấy bên cạnh nỗi đau thương còn cho khán giả cảm nhận được một niềm uất hận tột cùng, uất hận kẻ thù đã gây cảnh nước mất nhà tan. Chỉ mấy từ đơn giản như trên, nhưng thật sự Trưng Nhị – Hà Mỹ Xuân đã thể hiện được sự thượng thừa trong diễn xuất.

Cải lương đã hòa trong huyết quản
            Năm 1978, nghệ sĩ Thanh Nga qua đời, Hà Mỹ Xuân được xem là người thế Thanh Nga thành công nhất trong các vai diễn Trưng Trắc (Tiếng Trống Mê Linh), Quỳnh Nga (Bên Cầu Dệt Lụa), Thái Hậu Dương Vân Nga (Vở tuồng cùng tên).
            Hồi tết năm 2012, trong chương trình mừng xuân của người Việt Nam tại Pháp tổ chức ở trụ sở Tổ chức UNESCO tại Paris, Hà Mỹ Xuân đã tái hiện lại vai Thái Hậu Dương Vân Nga và vai Quỳnh Nga với sự góp mặt của nghệ sĩ Lý Kim Thành. Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga, người xem không khỏi giật mình về tính chuyên nghiệp của cô, nhịp nhàng điêu luyện, động tác chuẩn mực.
            Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga ta chợt nhận ra rằng những động tác của bà Thái Hậu Dương Vân Nga – Hà Mỹ Xuân trên sân khấu dư một chút cũng mất hay mà thiếu một chút cũng không được. Nhất là lớp thoại trên sân khấu khi trên tay cầm tấm long bào. Đoạn này vị thái hậu nói gần như là độc thoại với một số vị quan muốn làm hòa với giặc.
            Đây là một đoạn rất khó diễn bởi là đoạn cao trào nên khán giả tập trung chú ý từng cử chỉ của bà thái hậu để xem bà quyết định thế nào cho vận mệnh non sông, mà cụ thể là xem bà thái hậu có quyết định giao nạp long bào cho giặc Tống hay không. Phải làm sao thể hiện được sự thuyết phục tuyệt đối trong lời nói đối với các quan, mà muốn thuyết phục thì trước tiên bản thân vị thái hậu phải thể hiện một sự quyết tâm cao độ, một ý chí sắt đá trước đe dọa của cường địch. Hà Mỹ Xuân đã thỏa mãn hoàn toàn những yêu cầu đó với lối diễn xuất chuẩn mực, với giọng nói mạnh mẽ âm vang đầy tâm trạng, Nếu không phải một nghệ sĩ bậc thầy thì không thể đạt nổi trình độ diễn xuất đó.
            Vai Quỳnh Nga cũng vậy, ngược lại hoàn toàn với vai một bà thái hậu uy nghi, Hà Mỹ Xuân ngay sau đó vào vai một nàng Quỳnh Nga dịu dàng, chịu thương chịu khó nuôi tằm dệt lụa lo cho Trần Minh ăn học. Với lớp diễn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên kinh ứng thí, Hà Mỹ Xuân đã thật sự làm sống lại cái không khí chuyên nghiệp đỉnh cao của nghệ thuật cải lương.
            Hà Mỹ Xuân đã xa quê hương trên 20 năm, đã sống trong văn hóa Tây trên 20 năm, thế mà lại không hề xuống phong độ trong cách diễn xuất, trong sự điêu luyện về lối ca, thì quả thật là một điều đáng quí. Điều đó chỉ có hai cách giải thích. Thứ nhất đó là vì cải lương đã trở thành máu, thành hơi thở của Hà Mỹ Xuân nên dù ở trong môi trường nào, khi cần hát là cô hát được ngay, mà hát một cách rất điêu luyện.
            Cách giải thích thứ hai liên quan đến sự rèn luyện của người nghệ sĩ. Người xưa thường nói “Văn ôn võ luyện”, đối với nghệ sĩ cải lương câu nói này có giá trị hơn ai hết. Là một nghệ sĩ, để ca điêu luyện, để diễn cho hay, thì đòi hỏi phải trau dồi không ngừng, phải tập luyện hằng ngày, làm sao cho sự ca và sự diễn trở thành như quán tính tự nhiên, thì khi diễn trên sân khấu mới hay được.
            Như giọng ca chẳng hạn, nếu nghệ sĩ không ca hát, không luyện hơi thường xuyên hằng ngày thì giọng ca sẽ nhanh chóng bị xuống và lối ca sẽ nhanh chóng không còn điêu luyện nữa. Theo cách lý luận đó, thì ta có thể khẳng định rằng, Hà Mỹ Xuân giữ được phong độ ca diễn như vậy là nhờ sự tự trau dồi thường xuyên, nói cách khác là trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến cải lương.
            Hà Mỹ Xuân đến Pháp trên 20 năm và từ ấy đến nay cải lương không còn là nghề kiếm sống của cô, mà cô phải làm nhiều nghề khác, còn cải lương thì thỉnh thoảng dịp lễ tết mới hát đôi ba trích đoạn. Nếu cải lương là nghề kiếm sống mà nghệ sĩ không ngừng trau dồi thì đã là quí, còn ở đây đối với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân cải lương tuyệt đối không phải là nghề để kiếm sống mà cô còn đặt toàn tâm toàn ý cho cải lương thì thật là cao quí lắm thay!

Một nghệ sĩ “khó tính”
            Ở Pháp, Hà Mỹ Xuân nổi tiếng là một nghệ sĩ khó tính. Khó tính ở đây không phải là cô đòi hỏi cát sê cao hay yêu cầu này nọ bởi như đã nói cô không kiếm sống bằng cải lương từ hơn 20 năm nay, mà thật ra cô rất khó tính trong việc ca diễn và khâu tổ chức. Cô yêu cải lương nên cô biết trân trọng cải lương. Hà Mỹ Xuân không thích biến cải lương trở thành một vật mua vui tầm thường, nên chỗ nào tổ chức có vẻ xô bồ là cô từ chối không hát.
            Còn trong ca diễn, đã bước lên sân khấu thì dù là sân khấu lớn hay nhỏ, Hà Mỹ Xuân cũng ca diễn hết mình, ca diễn một cách chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trong một buổi cơm xã hội gần đây của một ngôi chùa Việt Nam ở ngoại ô Paris, Hà Mỹ Xuân có tham gia trong chương trình văn nghệ phục vụ thực khách đến ủng hộ chùa. Hà Mỹ Xuân cùng chị mình là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên và nghệ sĩ Lý Kim Thành diễn trích đoạn tuồng Bông hồng Cài Áo. Sân khấu thì nhỏ, thực khách thì đông nên có đôi khi mọi người say sưa nói chuyện mặc cho nghệ sĩ ca hát trên sân khấu, tạo ra cảnh người nói chuyện phía dưới người ca hát phía trên, chẳng ai quan tâm để ý đến ai.
            Trong tiết mục của mình, sau phần giới thiệu của người dẫn chương trình, trước khi xuất hiện trên sân khấu, Hà Mỹ Xuân đã cầm micro nói từ hậu trường: “Xin quí khán giả giữ yên lặng, tập trung theo dõi trích đoạn vì lời thoại rất hay”. Không phải Hà Mỹ Xuân quan trọng hóa lớp diễn của mình mà là cô muốn hễ có kẻ hát thì phải có người thưởng thức, tức là khán giả và nghệ sĩ phải tôn trọng lẫn nhau, đấy mới là thái độ làm nghệ thuật nghiêm túc. Bằng chứng cho sự nghiêm túc của Hà Mỹ Xuân là khi bước ra sân khấu, cô đã ca diễn hết mình, như thể cô đang hát trước hội đồng giám khảo trong một cuộc thi tranh huy chương vàng vậy.

Bông tai nhỏ – tình cảm lớn
            Như đã đề cập bên trên, hồi tết rồi, Hà Mỹ Xuân có tham gia biểu diễn cho bà con Việt Kiều tại Pháp trong chương trình chào xuân tổ chức tại trụ sở UNESCO ở Paris. Trong trích đoạn Thái Hậu Dương Vân Nga, nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân mặc bộ y phục thái hậu mà cô diễn vai này sau khi Thanh Nga mất hồi những năm 1980. Khi sang Pháp cô đã mang theo nhiều y phục cải lương, trong đó có bộ y phục này.
            Trong hậu trường, mọi người đang hóa trang cho vai diễn của mình, bỗng nhiên tôi thấy Hà Mỹ Xuân tìm một vật gì đó, mà trông dáng vẻ của cô tôi đoán rằng đó là một vật rất quí giá và quan trọng lắm. Khi hỏi ra tôi mới biết rằng cô đang tìm một chiếc bông tai của bộ y phục thái hậu Dương Vân Nga nói trên. Bộ y phục tuổi đời đã trên dưới 30 năm, đã sờn, đôi bông tai cũng đã cũ lắm rồi. Với khả năng hiện tại Hà Mỹ Xuân có thể đặt làm lại những bộ khác sặc sỡ hơn, lộng lẫy hơn, đắt tiền hơn. Thế nhưng, cô vẫn tiếc một chiếc bông tai cũ kĩ vì nó gắn liền với một thời làm nghệ thuật sôi nổi của cô. Thế mới biết Hà Mỹ Xuân yêu cải lương và nhớ cải lương đến dường nào.
            Thời đại ngày nay, cải lương đang lúc khó khăn, mà nghệ sĩ cải lương thì cũng có người sống bằng cải lương nhưng không biết quí trọng cải lương, không yêu cải lương hết mình, luôn mang bệnh ngôi sao, làm nghệ thuật không nghiêm túc, diễn xuất thì ngày càng hời hợt. Trong bối cảnh đó, câu chuyện chiếc bông tai nói trên quả thật là lời nhắc nhở quí giá, bởi vì nếu chính nghệ sĩ cải lương mà cũng không trân trọng cải lương thì làm sao cải lương không xuống dốc cho được.


LÊ PHƯỚC
Tháng 10/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121027-ha-my-xuan-cai-luong-da-tham-vao-huyet-quan

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 14/06/2017, 14:06:17
Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy”

Nếu “Tình anh bán chiếu” được mệnh danh là bài “vọng cổ vua” ở miền nam, thì “Cô bán đèn hoa giấy” có thể được xem là “bài vọng cổ hoàng hậu”. Như một định mệnh, bài “Tình anh bán chiếu” gắn liền với tên tuổi của “Đệ nhất nam danh ca vọng cổ” Út Trà Ôn, còn “Cô bán đèn hoa giấy” thì lại là bài để đời của nữ nghệ sĩ Thanh Hương, người giữ danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ “.

(http://music.quehuong.org/ns2/92.jpg)
Nữ nghệ sĩ Thanh Hương

TÁC GIẢ của bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” là soạn giả Quy Sắc. Ông sinh năm 1924 tại Thủ Dầu Một-Bình Dương. Tên thật của ông là Nguyễn Phú Quý, mà chữ Quý thì được đánh vần là “quy sắc quý”, bởi vậy nghệ danh Quy Sắc chính là cách chơi chữ tên thật của ông. Ông đỗ bằng thành chung của Pháp (Tức bằng Cao đẳng tiểu học – Diplôme d’études primaires supérieures franco-indigènes, tương đương tốt nghiệp cấp hai ở Việt Nam ngày nay), và trước khi đến với cải lương thì ông theo nghiệp giáo.
            Khi đi làm gia sư cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga, Quy Sắc đã gặp soạn giả-nhà thơ Kiên Giang và từ đó ông bắt đầu bước vào nghiệp viết cải lương. Ông đã cùng với Kiên Giang viết chung nhiều tuồng có giá trị. Vở tuồng đầu tiên của liên danh này là Người vợ không bao giờ cưới (Tức Sơn nữ Phà Ca). Đây là vở tuồng giúp nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958 khi mới 16 tuổi. Tính đến khi ông tạ thế năm 2010, Quy Sắc đã có đến 70 vở tuồng cải lương lớn nhỏ. Bên cạnh đó, ông cũng để lại nhiều bài vọng cổ đặc sắc trong đó đặc sắc nhất là bài Cô bán đèn hoa giấy.
            Bài vọng cổ Cô gái bán đèn hoa giấy gồm có 6 câu nhịp 32. Bài ca là tâm tình của một thiếu nữ làm nghề bán đèn hoa giấy. Năm 14 tuổi, trong lúc bán đèn hoa giấy như mọi khi trong dịp xuân về, cô gái đã gặp gỡ một vị khách đặc biệt của cuộc đời cô: một chàng thư sinh trẻ tuổi. Thấy thiếu nữ bán đèn dễ thương, chàng trai vuốt má và tặng cho cô nàng một chiếc lược. Có ngờ đâu buổi sơ ngộ đã khiến cho cô gái bán đèn hoa giấy tương tư, đêm ngày mong nhớ.
            Năm cô 16 tuổi, chiến tranh xảy đến, làng xóm tan hoang, cô gái phải theo cha mẹ chạy lánh nạn ở nơi thành thị nên không còn bán đèn nơi xóm cũ khi xuân về. Năm 20 tuổi, theo lệnh mẹ cha cô gái đã cất bước sang ngang.
            Một thời gian sau, cô dẫn con thơ trở lại bán đèn dưới bóng dừa như thuở trước, và mong ngóng gặp lại người xưa. Cuối cùng, người khách năm xưa trở lại tìm cô. Khi biết được cô đã có chồng, khách buồn bã lê bước ra đi. Kỷ niệm trào dâng, cô bán đèn hoa toan chạy theo tiếng gọi con tim, nhưng chợt đứa con tuổi ngây thơ của cô cất tiếng gọi, thế là cô đành nuốt nước mắt gạt tình riêng mà ở lại với con.
            Ta thấy nội dung bài ca là một chuyện tình lãng mạn, u buồn. Cái hay của bài ca là nó có vẻ rất liêu trai, nửa hư nửa thật, chợt đến chợt đi, nói chung là rất khó giải thích cũng giống như tình yêu vậy. Cái hay của bài ca là đượm buồn, nhưng là buồn man mát, không ồn ào nhưng thoang thoảng, không bị lụy nhưng dai dẳng, nó khiến cho người ta không thể nào quên hẳn cho được. Cái hay của bài ca là lời văn đậm chất văn học, mượt mà, trong sáng.
            Như trong lần gặp gỡ đầu tiên, vị khách thư sinh hỏi cô gái có chồng chưa, nhưng hỏi một cách nên thơ và tế nhị như thế này: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, đèn hồng cô bán (chứ) má hồng bán chăng”. Cô nàng đáp lại cũng rất nên thơ: “Má hồng hãy hỏi song thân, em đây chỉ bán cho anh đèn hồng”. Lúc gặp lại nhau khi cô gái đã có chồng, chàng trai hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cô đã có chồng hay chưa”. Cô gái nghẹn ngào: “Đèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi”. Chúng ta thấy, lời văn rất trong sáng, rất nên thơ, đạt đến đỉnh điểm của cái đẹp văn học.
            Một điểm nhấn nữa của Cô bán đèn hoa giấy, đó là bài ca có cốt truyện rõ ràng, đúng chất tự sự của bài vọng cổ, khiến người ca và người nghe đều dễ theo dõi, dễ nhớ, không bị lan man. Nói chung là dễ đi vào lòng người.

Đệ nhất nữ danh ca Thanh Hương
            Đầu những năm 1950, Cô bán đèn hoa giấy đã làm say mê biết bao con tim người mộ điệu. Công của người viết thì đương nhiên thuộc về soạn giả Quy Sắc, còn công của người thể hiện, tức người ca, người đưa bài hát đến công chúng, người giúp bài hát len lỏi được vào trái tim người mộ điệu, đó chính là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Hương.
            Thanh Hương vốn là con nhà nòi: cha là nghệ sĩ bậc thầy Năm Châu, mẹ là giọng ca nữ nổi danh một thời, cô Tư Sạng. Có lẽ cha mẹ đều là bậc thầy trong làng cổ nhạc, nên bài vọng cổ đã thấm tận xương tủy của Thanh Hương. Thanh Hương thành danh cùng thời với Sầu nữ Út Bạch Lan. Hai giọng ca này đã từng song hành làm nghiêng ngửa thị trường băng đĩa những năm 1950-1960 và cả 1970.
            Làn giọng Thanh Hương đặc chất thổ có pha chút kim, âm vực rộng và mạnh. Thanh Hương ca vang vọng, ở xa vẫn nghe rõ mồn một. Sức hấp dẫn của giọng ca Thanh Hương là âm vực cao, tiếng rất trong trẻo, vang lộng, ngọt ngào, khi ca những đoạn lâm ly thì nghe rất mùi, rất êm tai, Thanh Hương ca vọng cổ đúng chất tự sự: mộc mạc, chân phương nhưng đủ đầy hoa lá.
            Bộ nhịp của Thanh Hương rất vững và chuẩn, bởi vậy cô ca như đùa giỡn với cung đàn, người trong nghề thì nói là cô có biệt tài “nhảy múa trên dây đàn”. Cô ca rất xôm và rất tươi, rất rộn ràng sôi động. Theo các nhà phân tích, chỉ có một số nghệ sĩ có nghệ thuật ca thượng thừa như Út Trà Ôn hay Út Bạch Lan mới dám thi triển lối ca nhảy múa này.
            Cuối thập niên 1950, trong cuộc bầu chọn của khán giả trên tờ báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ biên, về phía nam nghệ sĩ, danh hiệu “Đệ nhất nam danh ca vọng cổ” thuộc về Út Trà Ôn, còn danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ” thì thuộc về nghệ sĩ Thanh Hương. Từ đó đến nay, đã bao lượt trăng tàn rồi trăng khuyết, đã có biết bao nữ nghệ sĩ cải lương nổi danh làm xao động làng cổ nhạc, thế nhưng, không hiểu sao, cứ nhắc đến danh hiệu “Đệ nhất nữ danh ca” thì người mộ điệu nghĩ ngay đến nghệ sĩ Thanh Hương.


(https://i.ytimg.com/vi/itQ3edASU1M/maxresdefault.jpg)
Cô bán đèn hoa giấy – CD ca cổ, cải lương – Thanh Hương, Tấn Tài, Thanh Sơn

Thanh Hương bất tử cùng Cô bán đèn hoa giấy
            Nếu nhắc đến danh hiệu “đệ nhất nữ danh ca” là nhắc đến Thanh Hương, thì mỗi khi nhắc đến Thanh Hương, người mộ điệu nghĩ ngay đến bài vọng cổ Cô bán đèn hoa giấy. Vào thập niên 1950, khi hãng dĩa Hồng Hoa (tức hãng dĩa Asia trước kia) tung ra thị trường đĩa vọng cổ Cô Bán đèn hoa giấy, cái liên danh Thanh Hương – Cô bán đèn hoa giấy trở thành “tuyệt phẩm vọng cổ”, tuyệt về lời ca, tuyệt về giọng ca. Từ đó, cái tên Thanh Hương bắt đầu gắn liền với Cô bán đèn hoa giấy.
            Bài Cô bán đèn hoa giấy mang chất tự sự, hoàn toàn phù hợp với giọng ca Thanh Hương. Thanh Hương có giọng đặc thổ có pha chút kim nên tiếng ca nghe vang vọng nhưng đượm u buồn, rôm rả nhưng đầy tâm sự, nó như tiếng lòng đang thổn thức, như con tim yêu đang loạn nhịp, buồn man mác mà không bi lụy. Thêm vào đó, như đã nói, Thanh Hương có kỹ thuật ca vọng cổ thượng thừa: bộ nhịp vững chắc, chính xác như đổ khuôn, sử dụng ca từ như nhảy múa trên cung đàn. Đặc biệt, Thanh Hương đã đạt đến trình độ “diễn xuất trong giọng hát”, tức cũng giống như Đệ nhất nam danh ca Út Trà Ôn, chỉ cần nghe Thanh Hương ca, không cần nhìn cô diễn tả bằng động tác, người nghe cũng cảm được những cung bậc tình cảm của nhân vật trong bài ca.
            Với giọng ca đó, với cách ca đó, Thanh Hương đã thể hiện trọn vẹn tâm tình của Cô bán đèn hoa giấy: buồn man mác, không đủ mạnh để làm gục ngã cô gái, nhưng nó cứ thoang thoảng đâu đó để đeo đuổi theo cô gái suốt cuộc đời. Đoạn hay nhất của bài ca, hay vì tính văn học và về độ sâu tình cảm, đó là lúc cô bán đèn hoa giấy và vị khách thư sinh đối đáp như đã nói ở trên.
            Trong buổi sơ ngộ, chàng thư sinh chắc cũng bắt đầu có cảm tình với cô bé bán đèn nên mới hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, đèn hồng cô bán, má hồng bán chăng?”, và cô bán đèn – Thanh Hương đáp “Má hồng hãy hỏi song thân, em đây chỉ bán cho anh đèn hồng”. Khi hay người gặp lại, chàng trai hỏi: “Hỡi cô bán đèn giấy hồng, năm nay cố đã có chồng hay chưa?”, cô bán đèn – Thanh Hương đáp: “Đèn hồng đã có người mua, má hồng đã bị nắng mưa phai rồi”. Ta thấy, Thanh Hương ca ngâm hai đoạn này thật tuyệt vời, người nghe cảm nhận được trong lời ca sự nặng trĩu của tâm tình và một nỗi buồn man mác.
            Một câu hỏi đặt ra: Khi gặp lại, vì cô gái đã có chồng nên cô buồn là đúng, chứ còn trong buổi sơ giao thì đang lúc tươi vui sao lại u buồn? Thưa rằng, bài ca là một câu chuyện có cốt truyện hẳn hoi, do cô gái, tức người trong cuộc kể. Vì thế, cô đang kể tức là cô đang hồi tưởng lại từng chi tiết của câu chuyện, và dĩ nhiên đây là kỉ niệm về một mối tình đã lỡ, đương nhiên người kể phải u buồn, thế nhưng sự việc đã qua, và mối tình kia chỉ là kỉ niệm, nếu có còn chăng thì cũng ở tận cùng đáy tâm hồn, vì thế nó mới man mác, không ồn ào, và dĩ nhiên người kể không thể nào kể sướt mướt cho được.
            Theo lô gích đó, ta thấy đoạn đẹp nhất, giàu chất văn học nhất của bài ca, tức tám câu thơ lục bát đối đáp, tưởng dễ ca nhưng thực chất lại là đoạn khó ca nhất. Bởi người ca không thể ngân nga cho điệu thơ được du dương, không thể lê thê cho sự u buồn trở nên bi lụy, mà phải làm sao thể hiện được chất tự sự trong lời ca, đưa được trọn vẹn tâm tình của Cô bán đèn hoa giấy vào lời ca, phải làm sao cho người nghe cảm nhận được sự trĩu nặng của tâm hồn, sự sâu xa của mối tình đầu và sự man mác của cuộc tình vừa chớm đã vội tan. Nét đặc sắc này đã được Thanh Hương thể hiện một cách tuyệt vời, khiến cho người nghe cũng bị cái buồn man mác len lỏi vào trong tim lúc nào mà không biết.

Lệ Thủy kế tục xứng đáng Cô bán đèn hoa giấy
            Khi nghệ sĩ Thanh Hương đã thành danh vang dội trong làng cải lương nam bộ, thì tổ nghiệp có lẽ đã hậu ái khi chuẩn bị người kế thừa cho giọng hát của cô, đó chính là nữ nghệ sĩ tài danh Lệ thủy. Hồi Lệ Thủy còn nhỏ, gia đình Lệ Thủy phải dắt dìu nhau lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Vì nhà nghèo nên ngoài giờ học, Lệ Thủy phải bồng em để cho mẹ làm việc kiếm tiền. Hàng ngày Lệ Thủy bồng em ra ngang hông chợ Khánh Hội chơi, nên thường nghe được bài Cô bán đèn hoa giấy do Thanh Hương ca, phát ra từ một tiệm sửa radio trong chợ.
            Lệ Thủy nghe rồi bắt đầu thích, thích rồi mê quá giọng ca Thanh Hương. Ai có ngờ đâu, Cô bán đèn hoa giấy sẽ là bài gắn liền với tên tuổi Lệ Thủy bởi vì trong vố số các bài vọng cổ mà Lệ Thủy đã thể hiện, có thể nói tất cả những cái gì biểu trưng cho giọng ca điêu luyện của Lệ Thủy điều được tìm thấy trong Cô bán đèn hoa giấy.
            Được biết, thuở thiếu thời, Lệ Thủy thần tượng giọng ca Thanh Hương. Nếu nghe Lệ Thủy ca khi cô còn trẻ, ta thấy từ giọng ca đến cách ca của cô rất giống Thanh Hương. Lệ Thủy chịu ảnh hưởng nhiều của Thanh Hương trong cách ca, cách phát âm, cách nhã chữ, cách sắp chữ. Nét thu hút trong giọng ca hai nữ nghệ sĩ này là: âm vực rộng, ca chân phương không cầu kỳ, ca mộc mạc, sắp chữ nằm gọn trong khuôn. Đây là trường phái ca vọng cổ thuộc hàng mẫu mực, thể hiện được cái tinh thần “chân phương hoa lá” của bài vọng cổ.
            Khi thể hiện bài Cô bán đèn hoa giấy, Lệ Thủy có thể nói là đã có chút mạo hiểm, bởi vì bậc tiền bối của cô là nghệ sĩ Thanh Hương đã để lại cái bóng quá lớn trong bài hát này, bởi vì Lệ Thủy là người chịu ảnh hưởng của giọng ca Thanh Hương. Ấy thế nhưng, do giọng ca Lệ Thủy có chút khàn khàn rất riêng, lại là giọng kim pha thổ, nên Lệ Thủy đã tạo được nét riêng của mình trong bài hát. Không chỉ có thế, Lệ Thủy cũng đã tìm tòi sáng tạo trong cách ca để không bị rập khuôn người đi trước, do đó cô đã tạo được dấu ấn riêng cho bài hát, được người mộ điệu tán thưởng.
            Như đã nói, điểm nhấn của Cô bán đèn hoa giấy là hai đoạn đối thoại bằng thơ lục bát trong hai lần gặp mặt của cô bán đèn hoa giấy và vị khách thư sinh. Lệ Thủy đã thể hiện trọn vẹn tâm sự nặng trĩu của cô gái trong đoạn ca ngâm này: nổi buồn không nức nở nhưng man mác. Có thể nói Lệ Thủy đã kế tục xứng đáng Thanh Hương trong bài ca Cô bán đèn hoa giấy, một sự kế tục có sáng tạo, vì thế tên tuổi Lệ Thủy cũng đã bất tử với bài ca này. Sau Lệ Thủy, chưa thấy có nữ nghệ sĩ nào nổi bật với bài hát này.

Bài ca khẳng định cái hồn vọng cổ
            Ở đây, ta thấy có những sự trùng hợp rất kỳ diệu. Bài Cô bán đèn hoa giấy dù không phổ biến bằng Tình anh bán chiếu, nhưng nếu Tình anh bán chiếu được xem là “Bài vọng cổ vua”, thì Cô bán đèn hoa giấy cũng được xem là “Bài vọng cổ hoàng hậu”. Lạ kỳ thay, người thể hiện thành công nhất bài Tình Anh bán chiếu chính là Út Trà Ôn, người được danh hiệu “Đệ nhất nam danh ca” trong cuộc bình bầu của những năm 1950. Danh hiệu đệ nhất nữ danh ca năm ấy thuộc về Thanh Hương, người thể hiện thành công nhất bài Cô bán đèn hoa giấy.
            Một nét trùng hợp nữa là cả hai bai ca này đều mang chủ đề về tâm tình của một người bán hàng bình dân, một người là nam làm nghề bán chiếu và một người là nữ chuyên bán đèn hoa giấy mỗi dịp xuân về.
            Thế nhưng, những nét trùng hợp đáng chú ý nhất có lẽ là về nội dung bài ca và về giọng ca thể hiện. Về nội dung, Tình Anh bán chiếu và Cô bán đèn hoa giấy đều là những bài vọng cổ thuộc hàng mẫu mực: giàu chất tự sự, lời ca đầy tính văn học, tình cảm nhân vật mộc mạc, chân phương, u buồn nhưng không sướt mướt bi lụy. Về giọng ca thể hiện: Út Trà Ôn và Thanh Hương đều có lối ca chân phương, mùi mẫn, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ”. Đặc biệt hai người đều có bộ nhịp rất vững, cách phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn.
            Nói chung, hai người thuộc trường ca mẫu mực, không lạng bẻ, không kiểu cọ, thể hiện được trọn vẹn tính tự sự, tính chân phương – cái thần của bài vọng cổ. Hai giọng ca chân phương, tự sự đã thành công với hai bài ca cũng mẫu mực về tính chân phương, tự sự: Cô bán đèn hoa giấy và Tình anh bán chiếu.
            Mấy mươi năm đã trôi qua, cải lương đã trải qua bao nỗi thăng trầm, và hiện tại bị xem là đang tuột dốc, ấy thế mà giọng ca Út Trà Ôn và Thanh Hương vẫn chưa có ai vượt nổi, vẫn làm say đắm người mộ điệu. Và cứ nhắc đến tài ca vọng cổ, thì người ta nghĩ ngay đến Út Trà Ôn và Thanh Hương, hễ nhắc đến danh hiệu “đệ nhất danh ca”, thì người ta nghĩ ngay đến Út Trà Ôn và Thanh Hương. Và cứ nhắc đến Út Trà Ôn thì người ta nghĩ đến Tình anh bán chiếu, còn nhắc đến Thanh Hương thì người ta nghĩ ngay đến Cô bán đèn hoa giấy. Đó là một minh chứng hùng hồn cho thấy, sức hấp dẫn lớn nhất của bài vọng cổ cũng chính là cái thần hồn của nó: đậm chất tự sự, và chân phương nhưng hoa lá.


LÊ PHƯỚC
Tháng 1/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130126-lag-du-cung-voi-bai-vong-co-co-ban-den-hoa-giay

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 16/06/2017, 13:44:16
Nghệ sĩ Diệu Hiền: Đệ nhất đào võ sân khấu cải lương

Trên sân khấu cải lương miền Nam, tài năng ca diễn của một số nghệ sĩ đã mang đến cho họ những mỹ danh bất tử, mà mỗi khi nhắc đến mỹ danh này, thì người ta không thể nghĩ đến một nghệ sĩ nào khác. Như danh hiệu “vua ca vọng cổ” thì dành cho Út Trà Ôn, “Nữ vương Sầu Nữ” dành cho Út Bạch Lan, “Nữ hoàng sân khấu” dành cho Thanh Nga…

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/ZZZZZ%20NSUT-Dieu-Hien-3.jpg)
Nghệ sĩ Diệu Hiền và soạn giả Viễn Châu

TRONG THẬP NIÊN 1960, đã xuất hiện một phong cách ca diễn cũng tạo được “thương hiệu” riêng cho mình, đó là nữ nghệ sĩ Diệu Hiền. Với lối ca diễn mạnh mẽ rất “võ tướng”, Diệu Hiền có thể được xem là “Đệ nhất đào võ của sân khấu cải lương”.

Từ tuổi thơ gian khó…
            Tuổi thơ của Diệu Hiền cũng giống như đa số nghệ sĩ cải lương thế hệ vàng, là “ba chìm bảy nổi”. Tuy nhiên, trường hợp của Diệu Hiền có thể được xem là đứng đầu trong cái gọi là “ba chìm bảy nổi” đó. Diệu Hiền tên thật là Lâm Thị Hiền, sinh năm 1945 tại Bạc Liêu, trong một gia đình có 7 người con. Diệu Hiền là con thứ năm trong gia đình theo cách gọi của người miền Nam. Người ta nói giọng ca của Diệu Hiền “lạ”, nhưng khi tìm hiểu về cuộc đời cô, ta thấy rằng cái “lạ” đã xuất hiện khi bé Hiền mới chào đời, đó là: bé Hiền đặc biệt khóc nhiều.
            Chưa đầy 5 tuổi, Hiền đã mất cha. Mẹ Hiền muốn lên Sài Gòn kiếm sống, nên đã định gửi các con lại cho hai bên nội ngoại nhờ nuôi dưỡng. Nhưng vì bé Hiền khóc nhiều quá nên không ai dám nhận, và thế là nhờ khóc nhiều mà Hiền được theo mẹ lên Sài Gòn.
            Nhưng lên Sài Gòn nào có sung sướng gì với cái cảnh mẹ góa con côi tha phương cầu thực. Mẹ con Hiền phải lang thang làm mướn làm thuê kiếm sống. Nhưng, mỗi khi xin vào giúp việc cho một gia đình nào đó, thì mấy bữa mẹ con Hiền lại bị đuổi vì Hiền khóc dữ quá chủ nhà không chịu được. Thế là hai mẹ con dắt dìu nhau ngày đi làm thuê làm mướn, tối ngủ dạ cầu. Mà ngủ dạ cầu cũng nào có yên đâu, bởi phần thì bị chính quyền nhắc nhở, phần thì bị những người lang thang khác giành chỗ ngủ. Diệu Hiền kể có khi mẹ cô còn bị nắm đầu đánh bởi những người cùng cảnh ngộ mà không biết đùm bọc lẫn nhau.
            Thế rồi, số phận đẩy đưa, mẹ Hiền chấp nối với một người đàn ông nghèo góa vợ. May mắn cho bà, người này thương bà thật lòng, nên đã không ngại nuôi dưỡng các con bà. Mẹ Hiền rất mê cải lương, mỗi tối bà ngồi nghe ké đài phát thanh phát ra từ hàng xóm. Ba dượng của Hiền thương vợ, mới dành dụm tiền mua cho bà một chiếc vé hạng chót (mà hồi trước gọi là hạng cá kèo) để đi coi cải lương. Năm đó được 9 tuổi, Hiền theo mẹ đi coi hát. Lần đó hai mẹ con xem tuồng “Lòng mẹ Việt Nam”, sau này gọi là “Tình Mẫu Tử”, với hai giọng ca trứ danh của thập niên 1950 là Út Trà Ôn và Cô Ba Kim Anh. Và như vậy, Hiền bắt đầu thấy thích cải lương, và bắt đầu nuôi mộng đi hát cải lương.

… Đến nghệ danh Diệu Hiền
            Từ năm 9 tuổi, Hiền bắt đầu ngày nào cũng xin mẹ đi theo đoàn hát, nhưng người mẹ vốn không muốn xa con nên không đồng ý. Hiền kiên trì xin mẹ đến năm 14 tuổi. Một hôm, mẹ Hiền giận quá mới lấy quần áo đuổi Hiền theo gánh hát. Sau này, Diệu Hiền tâm sự, khi ấy, cô biết do mẹ giận lẫy mới làm vậy, nhưng cô đã tranh thủ cơ hội đó lấy quần áo vội vàng chạy đi vì sợ chậm tay mẹ sẽ đổi ý. Thế là cô bé Lâm Thị Hiền bắt đầu cắn răng xa mẹ để theo đuổi niềm đam mê cải lương, cũng là hy vọng kiếm tiền giúp mẹ đỡ bề cực khổ.
            Hồi trước, các đoàn hát thường đi lưu diễn ở khắp nơi. Khi ấy người ta gọi là “Gánh hát” hay “Ghe hát”, bởi đoàn hát nào cũng di chuyển bằng ghe trên sông, nơi nào có chợ là dừng bến dựng rạp, có hát thì mới có tiền mua gạo cho anh em nghệ sĩ và công nhân hậu đài ăn, sau khi hát xong thì các vị “vua chúa công hầu” trên sân khấu cởi bỏ trang phục treo võng tòng teng dưới sân khấu mà ngủ. Thế là, cô bé Lâm Thị Hiền đã bắt đầu sống cái cảnh gạo chợ nước sông như vậy từ năm 14 tuổi.
            Nghệ danh Diệu Hiền không phải do cô tự chọn mà là do khán giả tặng cho, nó đánh dấu tên tuổi của nghệ sĩ Diệu Hiền được khẳng định trong lòng người mộ điệu. Số là, khi mới đi hát, vì mê giọng ca của Vua Xàng Xê Minh Chí, nên Lâm Thị Hiền xin được đặt nghệ danh là Minh Hiền. Vào khoảng năm 1960, tại đoàn hát Hoa Sen của ông bầu Cao, trong một lần diễn ở Đà Lạt với vở Hoa Tàn Trong Am Vắng, anh kép Mộng Vân (con trai của soạn giả Mộng Vân Tử) đến giờ diễn mà chưa có mặt, nên soạn giả Hoàng Khâm mới đề nghị cho Minh Hiền thế vai. Và soạn giả Hoàng Khâm đã sửa vai chú tiểu của Mộng Vân thành ni cô Diệu Hiền để cho Minh Hiền thủ diễn. Không ngờ, sau xuất diễn đó, khán giả không còn nhớ đến cái tên Minh Hiền mà bắt đầu gọi cô là Diệu Hiền. Thế là ông bầu Cao mới treo băng rôn quảng cáo tên cô với nghệ danh Diệu Hiền, và nghệ danh đó gắn với cô cho đến bây giờ.

Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân: Hai vai đào võ để đời
            Diệu Hiền đã từng đứng chung sân khấu với hầu hết các kép chánh tên tuổi như Út Trà Ôn, Thanh Hải, Minh Cảnh, Tấn Tài, Út Hiền, Minh Phụng, Minh Vương, Hoài Thanh… qua nhiều đoàn hát như: Hoa Lan – Xuân Liễu, Thống Nhất, Kim Chung, Hương Tràm, Tháp Mười, Sài Gòn 2, Phước Chung… Trên bước đường ca hát, Diệu Hiền may mắn được thụ giáo với những bậc tông sư của cải lương như: Bảy Nhiêu, Năm Châu, Ba Vân, Phùng Há, Tám Vân, Hoàng Nô, Út Trà Ôn, Hoàng Giang… Tuy nhiên, Diệu Hiền đã biết học mỗi “Thầy” một chút, và biến thành cái riêng của mình.
            Diệu Hiền cho biết là thường theo dõi, học hỏi cách ca diễn của các nam nghệ sĩ nhiều hơn các nữ nghệ sĩ đi trước. Xem kỹ lại cách ca diễn của Diệu Hiền, ta thấy cô có lối ca hơ hơ ngắt hơi ảnh hưởng của nghệ sĩ Bảy Cao, nhưng cô không ca hơ hơ nguyên xi như ông, mà chất nữ vốn có trong giọng ca của cô đã tạo thành lối vuốt nhẹ, êm, truyền cảm hơn, tạo được nét lạ không trùng lắp. Ta cũng thấy ở Diệu Hiền có lối ca diễn hùng tráng, uy nghi của Vua Xàng Xê Minh Chí, rồi cách vô vọng cổ chồng vút lên của Út Trà Ôn, rồi bộ chân, bộ tay thì Diệu Hiền chịu ảnh hưởng nhiều của nghệ sĩ Hoàng Giang. Như vậy, Diệu Hiền đã biết “rút tỉa” tinh hoa của người đi trước, và đã trui luyện, sáng tạo, bổ sung theo cách riêng để biến thành cái riêng của mình, tức thành cái “rất Diệu Hiền”, và chỉ có thể tìm thấy ở Diệu Hiền.
            Có lẽ vì cô bị ảnh hưởng nhiều bởi các nam nghệ sĩ, nên phong cách ca diễn của Diệu Hiền rất mạnh mẽ, oai phong, phù hợp với vai đào võ. Thêm vào đó, ta thấy có một điều mà có lẽ tổ nghiệp đã sắp đặt ban cho cô: Diệu Hiền có một bộ dạng mạnh mẽ và một chất giọng bi hùng rất phù hợp với vai đào võ, tức là chỉ mới nhìn bộ tướng, chỉ mới nghe tiếng ca là người ta đã thấy cái chất võ tướng trong đó rồi. Diệu Hiền đã không phụ lòng tổ nghiệp khi đã rất thành công các vai đào võ trong đó có hai vai để đời là vai Triệu Thị Trinh trong vở Nhụy Kiều Tướng Quân, và vai Bùi Thị Xuân trong vở Nữ Tướng Cờ Đào.
            Vai nữ tướng Bùi Thị Xuân là một vai khó diễn, khó là bởi vì dù là vai nữ chính, nhưng xem kỹ lại thì rõ ràng là Bùi Thị Xuân hầu như thiếu đất diễn. Không hề có một cảnh tình bi lụy ướt át để khiến khán giả thương hại, hay một trường đoạn kết hợp nhiều bài ca diễn để diễn viên có dịp trổ tài. Hơn nữa, đây lại là một tuồng lịch sử, ca ngợi hai danh tướng Bùi Thị Xuân và chồng bà là tướng Trần Quang Diệu, hai vị đại tướng của Hoàng đế Quang Trung, đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng sau khi Quang Trung mất, và cả gia đình đã bị Nguyễn Ánh xử tử để báo thù. Thường thì các tuồng lịch sử thể loại như thế rất bị bó buộc về nội dung nên thiếu chất lãng mạn, lâu lâu mới có một tuồng lịch sử có đủ chất “mùi” của cải lương như Tiếng Trống Mê Linh hay Nhụy Kiều Tướng Quân. Còn Nữ Tướng Cờ Đào thì ngược lại, thiếu hẳn những tình tiết trữ tình, mà vận hành theo những tình tiết lịch sử có vẻ khô khan.
            Bề ngoài là vậy, nhưng nếu người diễn biết đào sâu lịch sử, biết nghiên cứu kỹ tâm lý nhân vật, và đặc biệt là có năng lực ca diễn thật sự, thì những vai như Bùi Thị Xuân lại chính là những vai dễ lấy lòng công chúng bởi đó là vai của một nữ tướng được xem là anh hùng dân tộc. Và có lẽ là tổ nghiệp đã tạo ra một nữ nghệ sĩ Diệu Hiền để cho những loại vai khó diễn như Bùi Thị Xuân.
            Với phong cách diễn oai phong, bộ tịch uy nghi tự nhiên, Diệu Hiền đã không bỏ sót một chi tiết nào dù là nhỏ nhất để gửi hết tâm hồn vào đó và đã tạo ra một nhân vật Bùi Thị Xuân trên sân khấu oai phong lẫm liệt và hết sức tự nhiên, không hề thấy có sự gượng ép hay cố gắng tỏ ra oai phong nào trong cách diễn. Cái oai phong ở đây được tìm thấy từ những cái phất tay, từ ánh mắt nhìn, và đặc biệt từ giọng nói trời cho đầy sinh lực. Với giọng ca oai hùng nhưng man mác niềm tâm sự đã tạo ra nét bi hùng, và khi cần thiết, Diệu Hiền đã đẩy mạnh chất bi trong giọng ca để tạo ra một Bùi Thị Xuân đầy tình cảm làm rung động lòng người.
            Như trong lớp diễn Bùi Thị Xuân một mình qua sông đến trung quân của tướng Vũ Văn Dũng khi tướng này mang quân bao vây kinh thành Phú Xuân và giết chết quan Thái Sư Bùi Đắc Tuyên. Đắc Tuyên vốn là cậu ruột của vua Cảnh Thịnh (Con trai vua Quang Trung), và là chú của Bùi Thị Xuân. Nên khi hay tin bà đến, võ tướng Vũ Văn Dũng không tin là bà đến để giảng hòa, vì ngại bà còn giữ trong lòng mối thù giết chú. Đây là lớp diễn thể hiện tài diễn xuất thượng thừa của Diệu Hiền.
            Trong lớp diễn này, Diệu Hiền đã đẩy mạnh chất bi trong giọng ca để tạo ra một cách nói, cách ca đầy tâm sự, chan chứa tình cảm, với mục đích là để cho tướng Vũ Văn Dũng hiểu được tâm ý của bà là vì nghĩa lớn của Tây Sơn mà bỏ qua mọi hiềm khích, tránh chia rẽ để cùng nhau đánh dẹp Nguyễn Ánh.
            Diệu Hiền có một giọng cười rất đặc biệt, và khi ca diễn ba điều trách cứ đối với Vũ Văn Dũng, ta thấy Diệu Hiền đã kết hợp nhuần nhuyễn chất oai hùng để thể hiện sự dứt khoát trong cách suy nghĩ, sự chan chứa thâm tình để thể hiện tình đồng đội dưới lá cờ Tây Sơn. Diệu Hiền đã làm cho vai diễn thêm phần sống động với những tiếng cười rất bi hùng và rất “Diệu Hiền”. Tất cả đã khiến cho tướng Vũ Văn Dũng không thể nào không bị thuyết phục cho được.
            Qua phân tích bên trên, ta thấy rằng, Diệu Hiền đã thể hiện xuất sắc điều mà tác giả gửi gấm trong vai Bùi Thị Xuân, một cách diễn “rất Diệu Hiền”. Người dàn dựng tuồng này trong những năm 1980 là nghệ sĩ Thanh Tòng đã nhận định: “Bùi Thị Xuân là một vai bình thường, nhưng khi vào tay Diệu Hiền thì nó không còn bình thường nữa”.
            Đến với vai Triệu Thị Trinh trong vở Nhụy Kiều Tướng Quân, có thể nói rằng, đây là vai khẳng định vị trí số một của Diệu Hiền trong nghệ thuật ca diễn vai đào võ. Tất cả những cái gì đặc trưng của “phong cách ca diễn Diệu Hiền” đều được tìm thấy trong vai diễn này. Đoạn hay nhất trong vở tuồng này được người mộ điệu ngày nay yêu cầu Diệu Hiền diễn đi diễn lại là đoạn Triệu Thị Trinh khóc thương và tuyên thề tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hương trước thi thể của người bạn cũng là thuộc tướng tên là Lê Minh. Vai Lê Minh diễn ăn ý nhất với Diệu Hiền là nam diễn viên Hoài Thanh.
            Trước thi thể của Lê Minh, Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền đã ca hai câu vọng cổ một cách đặc sắc. Trước tiên, Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền lạy ba lạy và sau đó là thề tiếp tục chiến đấu. Diệu Hiền diễn lúc này không bi lụy, mà trái lại từng ánh mắt, từng điệu bộ, từng cái vẫy tay, từng cái lạy… tất cả điều rất oai phong và uy nghi, nói chung là rất “đào võ”. Bên cạnh sự oai phong đó, Diệu Hiền đã thể hiện nỗi niềm tiếc thương vô hạn đối với tướng Lê Minh bằng một giọng ca được phát huy tối đa chất bi hùng, bằng một giọng cười đầy uất hận. Có thể nói, đây là cách cười độc nhất vô nhị của Diệu Hiền. Người xem cũng cảm thấy con tim quặn thắt cùng Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền trên sân khấu, nhưng người xem đồng thời cũng được Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền truyền sang một ngọn lửa sôi sụt câm thù chống ngoại xâm.
            Ở đây ta thấy có một sự trùng hợp rất thú vị, đó là Triệu Thị Trinh và Bùi Thị Xuân cả hai đều là nhân vật nữ lịch sử nổi tiếng của Việt Nam, hai vai này lại “lọt vào tay” của cô đào diễn vai đào võ xuất sắc nhất của làng sân khấu cải lương là nghệ sĩ Diệu Hiền, bởi vậy mà hình ảnh đầy thiện cảm của hai vị nữ tướng đã giúp cho Diệu Hiền dễ dàng lấy cảm tình của khán giả, nhưng hai nhân vật quá được lòng dân này cũng gây khó khăn cho Diệu Hiền bởi ca diễn mà không cẩn thận chẳng những không tròn vai diễn, mà còn dễ gây phản cảm đối với khán giả. Thế nhưng, bằng tài năng ca diễn đặc biệt của mình, Diệu Hiền đã thật sự trở nên rất “Diệu Dữ” khi đã biến hai vai diễn nói trên thành vai diễn để đời. Có thể nói rằng, hai nhân vật lịch sử Triệu Thị Trinh và Bùi Thị Xuân đã làm bất tử Diệu Hiền trong lòng người mộ điệu, và chính Diệu Hiền đã làm bất tử hai vai diễn về hai vị nữ tướng này trên sân khấu cải lương.

Một giọng ca “lạ” và “Trường phái Diệu Hiền”
            Bàn về giọng ca của Diệu Hiền, ta thấy rằng đây là một giọng ca “lạ”. Ông vua viết lời vọng cổ Viễn Châu cho rằng: “Khi khen một giọng ca, người ta thường khen là giọng ca mùi, ca hay, ca ngọt ngào, ca truyền cảm, nhưng đối với Diệu Hiền thì đây là một giọng ca lạ. Cô ca có vẻ ẩn ức, uất nghẹn, cô đóng rất đạt các vai võ tướng”. Soạn giả Viễn Châu đã rất chính xác khi dùng từ “lạ”, bởi không chỉ đến thời điểm 1960, mà ngay cả đến hiện tại, giọng ca của Diệu Hiền vẫn là độc nhất vô nhị.
            Đó là một giọng ca cao vút trong trẻo, ca như tiếng nấc, tiếng khóc bật ra từ đáy lòng, những dấu nhấn sắc, hỏi, ngã được Diệu Hiền ca vút lên thật ngọt, thật chín, đặc biệt là những đoạn ngân cuối câu Diệu Hiền hơ hơ một cách “đứt mà không đứt” nghe rất lạ, tạo thành sắc thái riêng của Diệu Hiền.
            Trong giọng ca Diệu Hiền, có mấy điểm sau đây cần nhấn mạnh. Thứ nhất, ta thấy nét dễ nhận ra nhất trong lối ca của Diệu Hiền chính là cách ca ngắt chữ trong cách ngân, cách vuốt “đứt dây đờn” những chữ mang dấu sắc, hỏi, nặng, và chính cách ca đánh mạnh vào các dấu này đã tạo nên một cung bậc bổng trầm rõ rệt, nghe thật du dương và rất êm tai. Muốn ca như Diệu Hiền là rất khó, đòi hỏi phải có giọng cao, hơi khỏe và ca ngọt, mùi, đặc biệt là phải chắc nhịp. Về điểm này, ta thấy Diệu Hiền có cách sắp chữ rất đều và chắc nhịp.
            Thứ hai, ta thấy rằng, Diệu Hiền vuốt chữ mang dấu nặng khi xuống vọng cổ rất tuyệt. Không phải chỉ có Diệu Hiền mới vuốt dấu nặng khi vô vọng cổ, mà vì cô có chất giọng mạnh mẽ, lạ, nên cô vuốt dấu nặng khi xuống giọng cổ nghe cũng rất lạ, rất hay, nghe rồi không mê là không được. Chẳng hạn như, trong bài vọng cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn, khi vô vọng cổ câu 4, Diệu Hiền vuốt chữ “bạn” rất hay: “La Thành ơi, anh trách em ở ăn chi quá nghiệt, nỡ vun gươm giết thác bạn (vuốt)… anh hùng”.
            Một điểm đáng chú ý nữa là lối vô vọng cổ rất “lạ” của Diệu Hiền. Như Diệu Hiền đã nói là học cách vô vọng cổ của nghệ sĩ Út Trà Ôn, thế nhưng ta thấy với giọng ca mạnh mẽ, và lối ca nhấn dấu, Diệu Hiền đã tạo được một trường phái riêng của mình, đó là vô vọng cổ tưởng không ngọt mà rất ngọt. Tức là, khi nghe Diệu Hiền vô vọng cổ, ta có cảm giác sợ cô bị nghẽn không xuống ngọt được câu vọng cổ, thế nhưng cô đã điều hơi một cách thần sầu và xuống vọng cổ một cách ngọt như mía lùi.
            Trường phái ca nhấn nhá dấu đặc biệt này, lối xuống vọng cổ đặc biệt này ta thấy hậu duệ của Diệu Hiền đến hiện tại có hai người: Trước có Hà Mỹ Xuân, sau có Vũ Linh. Nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân trong những ngày chập chững vào nghề đã được sự chỉ dẫn của nghệ sĩ Diệu Hiền, và Hà Mỹ Xuân cũng có lối ca mạnh mẽ nhấn dấu rất lạ. Còn Vũ Linh cũng đã được Diệu Hiền dìu dắt vào nghề, và anh đã chịu ảnh hưởng nhiều của Diệu Hiền trong cách vuốt những dấu sắc, hỏi, nặng rất tuyệt. Càng về sau, ta thấy Vũ Linh càng áp dụng cách vuốt “đứt dây đờn” này khi ca diễn.

Chấn động làng cổ nhạc với Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình
            Mấy năm nay, giọng ca Diệu Hiền lại gây chấn động trong làng cổ nhạc với hai bài vọng cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình của soạn giả Viễn Châu. Bài Tần Quỳnh Khóc Bạn thì kể lại việc Đơn Hùng Tín đi hành thích vua nhà Đường là Lý Thế Dân, bị bắt và xử tử bởi chính những người anh em kết nghĩa mà ông đã từng một thuở cưu mang. Người trực tiếp chém đầu Đơn Hùng Tín lại là võ tướng La Thành, người mà trước đây họ Đơn phải vất vả cưu mang nhiều nhất. Lúc chém Đơn Hùng Tín, thì một trong số những người anh em kết nghĩa là Tần Quỳnh có việc công cán ở xa, nên khi trở về thì Đơn Hùng Tín đã bị giết rồi.
            Viễn Châu viết bài Tần Quỳnh Khóc Bạn là để bày tỏ tâm tình của Tần Quỳnh trước cái chết của Đơn Hùng Tín. Đây là một bài ca hay, dù lấy đề tài cổ xưa nhưng rất được yêu thích bởi nó chạm đến một đề tài muôn thuở đó là tình bằng hữu, thêm vào đó là cách hành văn, sắp chữ rất dễ hiểu, dễ ca. Trong bài ca này có hai câu mà soạn giả Viễn Châu và người mộ điệu rất tâm đắc, đó là: “Dù không thương cũng đừng nên hạ thủ, giết kẻ thù chớ giết bạn đành sao?”
            Còn bài Trụ Vương Thiêu Mình thì đề cập đến việc Trụ Vương hoang dâm vô đạo mê đắm Đắc Kỷ dẫn đến họa diệt vong. Viễn Châu nói về tâm tình của vua Trụ khi bị quân khởi nghĩa tứ phía bao vây và phải tự thiêu ở Trích Tinh Lầu.
            Cũng như Viễn Châu xác nhận, là hai bài ca này được ông viết để cho những giọng ca nam. Mà dù là giọng ca nam đi nữa, thì thật sự mà nói cần phải có một giọng có đủ chất bi hùng. Ở đây, ta nhấn mạnh từ “có đủ”, bởi dư một chút “bi” cũng không được, mà thừa một chút “hùng” cũng chẳng hay. Một cái khó khác là hai bài ca này bàn đến một câu chuyện quá xa xưa, mà thường thì những đề tài cổ hay được soạn giả chọn cho những từ ngữ và điển tích cổ, rất khó thu hút người nghe, nhất là giới trẻ.
            Đối với Diệu Hiền, khi thể hiện hai bài ca này, cô chẳng những gặp những cái khó nêu trên, mà cô còn chịu một thử thách khác cũng rất hóc búa, đó là bài Trụ Vương Thiêu Mình là bài ruột của Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, còn bài Tần Quỳnh Khóc Bạn là bài ruột của danh ca Thanh Hải. Hai cái bóng này quả thật quá lớn để khán giả có thể mở lòng chấp nhận một giọng ca khác.
            Ấy thế mà Diệu Hiền đã làm được. Với bộ nhịp chắc chắn, với lối ca điêu luyện, với giọng ca và cách ca “lạ” oai hùng mà chứa chan tình cảm, Diệu Hiền đã thể hiện thành công hai bài ca nói trên, được người mộ điệu hoan nghênh nhiệt liệt. Như đã nói, trong bài Tần Quỳnh Khóc Bạn, chỉ nghe Diệu Hiền vuốt chữ “bạn” khi xuống vọng cổ câu 4 là người nghe đủ “lạnh xương sống”. Hay như khi xuống vọng cổ câu 1 của bài Trụ Vương Thiêu Mình, Diệu Hiền cũng vuốt “đứt dây đờn” chữ “vội”: “Trời ơi đám tôi trung đã phản Trụ đầu Châu, kéo binh về đây vấn tội. Trong khi Hoàng hậu Tô Nương đã bỏ ta mà vội (vuốt) bôn… đào”. Đặc biệt, trong hai bài ca, Diệu Hiền đã sử dụng rất thành công giọng cười bi hùng rất riêng của cô. Có thể nói, trong làng sân khấu cải lương, chưa thấy có cô đào nào có một kiểu cười và giọng cười đầy chất bi hùng đến như vậy.
            Đến hiện tại, sau Út Trà Ôn và Thanh Hải, Diệu Hiền không phải là nghệ sĩ duy nhất thể hiện hai bài ca này. Ấy thế nhưng, để đạt được độ bi hùng già dặn trong giọng ca và điệu bộ thể hiện oai phong như Diệu Hiền thì chưa thấy ai. Nhiều giọng ca khác cũng đã chọn ca bài này, nhưng không phải là họ ca không hay, mà là có người thì ca diễn buồn quá khiến cho người nghe có cảm giác bi lụy, có người thì oai hùng quá mức làm mất chất bi trong bài ca. Với Diệu Hiền thì khác, hai bài ca đã được thể hiện một cách bi mà không lụy, oai phong mà tình cảm.
            Và hiện tại, đối với khán giả, mà đặc biệt là giới trẻ, hễ nhắc đến hai bài Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình là nghĩ ngay đến Diệu Hiền, mà hễ nhắc đến giọng ca Diệu Hiền thì nghĩ ngay đến Trụ Vương Thiêu Mình và Tần Quỳnh Khóc Bạn. Chia sẻ về thành công này của Diệu Hiền, soạn giả Viễn Châu cho biết: “Tôi phục tài nghệ của Diệu Hiền khi cô thể hiện 2 bài ca cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình. Thật ra, 2 bài này tôi viết cho kép ca. Thanh Hải và anh Mười Út Trà Ôn là hai nghệ sĩ thể hiện xuất sắc tâm can bài này. Song một ngày, tôi nghe điện thoại của Diệu Hiền: “Thưa thầy, con xin được ca 2 bài đó”. Tôi hỏi: “Cô có kham nổi không?” Diệu Hiền quả quyết: “Con sẽ ráng”. Quả nhiên, sự mạnh mẽ của Diệu Hiền đã làm tôi kinh ngạc khi nghe những trường độ, cao độ mà cô sắp xếp để nhả chữ, lấy hơi và đưa khí tiết dũng mãnh vào từng câu hò, câu xề của bài vọng cổ”.

Trao gửi nghiệp cầm ca
            Tóm lại, nói về Diệu Hiền, ta có thể khẳng định rằng, cô là “Đệ nhất đào võ” của sân khấu cải lương. Chữ “Đào võ” ở đây không hạn chế trong việc đóng vai nữ tướng trên sân khấu, mà ở Diệu Hiền còn được thể hiện qua bộ tướng và giọng ca. Có thể nói rằng, trong hình dáng của cô và giọng ca của cô đã có đầy đủ tố chất nữ võ tướng. Đặc biệt là giọng ca được cho là “lạ” của cô.
            Hơn 50 “ăn cơm tổ”, và đến hiện tại Diệu Hiền cũng vẫn còn tiếp tục “ăn cơm tổ” khi thường xuyên tham gia ca hát ở nhiều địa điểm mà không ngại xa xôi. Trong hơn nửa thế kỷ đó, đóng góp của Diệu Hiền cho sân khấu cải lương là vô cùng to lớn, trong đó có hai điểm cần nhấn mạnh: Thứ nhất, Diệu Hiền đã tạo một trường phái riêng góp phần làm phong phú cho sân khấu cải lương, trường phái xin được gọi là “Trường phái Diệu Hiền”, một trường phái rất riêng về giọng ca và cách ca nhấn dấu bổng trầm độc đáo; Thứ hai, đó là Diệu Hiền đã thể hiện được tinh thần “Tre tàn măng mọc” khi luôn có ý thức đào tạo thế hệ kế thừa, mà trong đó hai “đệ tử” thành công nhất của Diệu Hiền, đó là nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân và nam nghệ sĩ Vũ Linh.
            Tấm lòng này của Diệu Hiền rất đáng được trân trọng bởi nó cần thiết hiện diện ở tất cả nghệ sĩ xưa cũng như nay trong việc trao truyền nghiệp cầm ca. Tinh thần đó của Diệu Hiền có thể được tóm lược qua lời tâm sự của một nhân vật mà Diệu Hiền thủ diễn trong vở cải lương Người Đưa Đò của soạn giả Hoàng Song Việt: “Cha mẹ cho hình hài, những bậc thầy bậc anh bậc chị mỗi người cho một chút nghề là để phục vụ cho khán giả. Chứ đó không phải là tài sản của riêng người nghệ sĩ mà muốn hủy diệt khi nào thì hủy diệt”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 4/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130420-nghe-si-dieu-hien-de-nhat-dao-vo-san-khau-cai-luong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 19/06/2017, 11:40:37
Hà Mỹ Liên: Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ

Trong làng sân khấu cải lương Nam Bộ, có không ít trường hợp nhiều người cùng một gia đình đi hát cải lương, nhưng có ít trường hợp tất cả những người hát cải lương cùng một gia đình thật sự khẳng định được tài năng. Tiêu biểu cho trường hợp số ít đó là ba anh em nghệ sĩ Thanh Điền – Hà Mỹ Liên – Hà Mỹ Xuân.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/2013%20Ha%20My%20Lien.jpg)
Hà Mỹ Liên biểu diễn tại Toulouse mùa xuân 2013

ĐÂY LÀ ba nghệ sĩ “có tâm và có tầm” trong nghệ thuật ca diễn. So với anh trai và em gái mình thì nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Liên ít được các phương tiện truyền thông nhắc đến. RFI Việt Ngữ hôm nay xin bàn đôi điều về nữ nghệ sĩ một thời vàng son này, một người mà dù sống ở đâu và làm gì cũng không bao giờ quên mình là “nghệ sĩ cải lương”.

Một thời vàng son…
            Nghệ sĩ Hà Mỹ Liên tên thật là Nguyễn Thị Thu Hà, sinh ngày 04/12/1948 tại Long Xuyên, An Giang. Trong gia đình, Thanh Điền thứ Sáu, Hà Mỹ Liên thứ Bảy và Hà Mỹ Xuân thứ Tám (theo cách gọi của người Nam Bộ). Năm 12 tuổi, cô bé Thu Hà cùng anh Sáu mình bắt đầu cuộc đời gạo chợ nước sông.
            Đoàn hát đầu tiên trong sự nghiệp của hai anh em là đoàn Kim Hoàn-Như Mai. Tại đoàn này, Thu Hà được đặt nghệ danh là Thu Hà còn anh trai được đặt tên là Ngọc Chiếu – tức nghệ sĩ Thanh Điền sau này. Vở tuồng đầu tiên mà hai anh em tham gia là vở Phạm Công Cúc Hoa. Và một điều trùng hợp thú vị là trong vở tuồng này hai anh em Hà Mỹ Liên lại vào vai hai anh em Nghi Xuân-Tấn Lực, con của Phạm Công và Cúc Hoa.
            Một thời gian sau, Thu Hà về đầu quân cho đoàn Bạch Vân, rồi sau đó về đoàn Kim Chung vào khoảng những năm 1962-1963. Tại đoàn Kim Chung, Thu Hà bắt đầu mang nghệ danh Hà Mỹ Liên. Cũng ở Kim Chung, Hà Mỹ Liên bắt đầu vào các vai đào trẻ trong những vở Chiêu Quân Cống Hồ, Ba Con Nhền Nhện, Thương Về Quê Mẹ. Lúc đó, đào trẻ của Kim Chung có Hà Mỹ Liên, Lệ Thủy, Mộng Tuyền và Kim Nga. Được biết, Hà Mỹ Liên và Lệ Thủy ở ngoài đời là đôi bạn chí thân, hai người từng chia vai trong vở Thương Về Quê Mẹ trên sân khấu Kim Chung.
            Ở Kim Chung được khoảng 2 năm, Hà Mỹ Liên về đoàn Thủ Đô 2 và bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh các nam nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ như Dũng Thanh Lâm, Minh Đức, Minh Phụng… Sau đó, Hà Mỹ Liên đầu quân cho Trăng Mùa Thu đóng cặp với Hoài Trúc Phương.
            Như vậy, bắt đầu bước chân theo hát vào năm 12 tuổi, đến năm chưa đầy 15 tuổi, cô bé Thu Hà của miền quê An Giang ngày nào đã trở thành đào chánh. Những năm 1960 là giai đoạn “trăm hoa đua nở” của sân khấu cải lương Nam Bộ với việc các đoàn hát thi nhau ra đời và mỗi đoàn hát đều có những nghệ sĩ riêng để tạo được lượng khán giả riêng của mình, đào kép chánh của mỗi đoàn hát phải thật sự có tài năng để có thể thu hút được khán giả. Và dĩ nhiên, Hà Mỹ Liên phải có “chân tài thực học” mới có thể được chọn làm đào chánh trong cái bối cảnh “trăm hoa đua nở” ấy.

Con tằm lặng lẽ nhả tơ
            Năm 1965, Hà Mỹ Liên lập gia đình với một người Pháp làm việc tại Việt Nam. Vì nhiều lý do khác nhau, cô đã phải rời xa sàn diễn. Tuy vậy, trong những nỗ lực tối đa của bản thân, cô đã cố níu kéo cái sợi dây ràng buộc với cải lương bằng cách lập đoàn hát Sao Ngàn Phương, rồi sau đó cùng với người em gái là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân lập đoàn Xuân Liên Hoa.
            Đến năm 1976, Hà Mỹ Liên theo chồng rời Việt Nam đến định cư tại Pháp. Rồi vào năm 1978, anh em nghệ sĩ cải lương tại Pháp đã liên lạc được với cô và từ đó cô bắt đầu trở lại sàn diễn. Gần đây, khi trao đổi với cô về giai đoạn này, Hà Mỹ Liên tâm sự là khi ấy cô “nhớ nghề không chịu được” nên đã cố gắng hết sức để trở lại với cải lương.
            Trên đất Pháp, nghệ sĩ cải lương đi hát chủ yếu là để thỏa lòng mong nhớ cải lương và để mang lại một chút hơi ấm quê hương cho bà con xa xứ, chứ đâu có được những sân khấu chuyên nghiệp dành cho cải lương như cái thuở vàng son của sân khấu cải lương. Thế mà, Hà Mỹ Liên đã tham gia hát cải lương một cách không mệt mỏi.
            Cô đã tham gia nhiều vở tuồng như Chiều Về Trên Sông Lạnh, Nước mắt Người Đi, Thuyền Ra Cửa Biển, Biên Giới Một Chiều Mưa, Huyền Trân Công Chúa, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Đi Biển Một Mình, Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng, Bông Hồng Cài Áo, Ông Cò Quận 9, Mạnh Lệ Quân, Máu Nhuộm Sân Chùa, Tây Thi Gái Nước Việt, Khi Hoa Anh Đào Nở… Với các nghệ sĩ thuộc hàng gạo cội như Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Phương Thanh, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hương Lan, Chí Tâm, Phượng Mai, Tài Lương… và dĩ nhiên và còn với người em gái thân thương của cô là nữ nghệ sĩ tài danh Hà Mỹ Xuân.
            Có một điều đáng trân trọng ở Hà Mỹ Liên là cô không bao giờ kén vai. Cô mê cải lương nên được giao vai nào cô cũng nhận mà không câu nệ vai lớn hay vai nhỏ. Và đáng chú ý là cô nhận vai, nhưng không phải nhận cho có mà là nhận để hát rất nghiêm túc. Cô đóng đủ các vai từ chánh đến phụ, từ đào lẳng đến đào thương, từ đào võ đến vai tiểu thơ đài các, từ vai hài quậy tung sân khấu đến những bà mẹ thân phận đau thương lấy nước mắt khán giả… Và cứ thế, mấy chục năm nay trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên vẫn cứ đóng cải lương một cách “không kèn không trống”, với một tấm lòng yêu cải lương ngày một mãnh liệt, cứ như một con tằm cứ miệt mài lặng lẽ nhả tơ.

Sân khấu nhỏ, tình cảm lớn
            Trên đất Pháp gần 40 năm nay, cải lương tuyệt đối không phải là cái nghề kiếm sống của Hà Mỹ Liên. Để tìm kiếm cuộc mưu sinh, cô đã phải làm nhiều việc khác, từ kinh doanh nhà hàng, làm MC, đóng hài kịch, ca tân nhạc… Thế nhưng, khi nói về mình, Hà Mỹ Liên bao giờ cũng khẳng định rằng cô là nghệ sĩ cải lương. Cô khẳng định “chắc nịch” như thể như là cái nghề hát cải lương đã là máu, là hơi thở, là cái không bao giờ cô thiếu được. Thế mới biết Hà Mỹ Liên tự hào về cái nghiệp cải lương đến dường nào.
            Gần đây có dịp thấy chị em Hà Mỹ Liên-Hà Mỹ Xuân tập dợt chuẩn bị cho buổi Lễ Phật Đản tại một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Được biết, sân khấu cho buổi trình diễn là một sân khấu “dã chiến” ngoài trời do điều kiện vật chất của nơi biểu diễn còn thiếu thốn. Thế nhưng, khi theo dõi quá trình tập dợt của chị em Hà Mỹ Liên thì chắc có lẽ ai cũng nghĩ rằng hai cô đang chuẩn bị cho một sân khấu đại bang hay một chương trình thi cải lương quy mô nào đó.
            Trong buổi Lễ Phật Đản nói trên, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân sẽ tham gian một trích đoạn trong vở Quan Âm Thị Kính, trong đó Hà Mỹ Liên sẽ thủ hai vai: Mẹ chồng nàng Thị Kính và vai Thị Mầu. Trích đoạn tuy không dài, nhưng có khá nhiều tình tiết cùng với lời văn rất khó nhớ, đòi hỏi người nghệ sĩ phải bỏ nhiều công sức để học tuồng. Ở cái tuổi trên 60, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dĩ nhiên không dễ dàng gì để có thể học thuộc một kiểu tuồng như vậy. Thế nhưng, hai cô đã không ngại tuổi tác và đã cố gắng đến mức đáng nể trong việc học tuồng.
            Chưa hết, chỉ một trích đoạn ngắn như vậy, thật lòng mà nói, với tuổi nghề của hai cô, thì chỉ cần học tuồng sơ sơ rồi có người nhắc tuồng là hát được ngay. Ấy thế mà, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân đã bất chấp tuổi tác để bỏ công bỏ sức cùng đến tập với anh em nghệ sĩ liên tục hàng tháng trời. Mà mỗi lần đến tập thì hai cô phải vượt 70 cây số tính cả đi lẫn về để có thể đến nơi tập.
            Trên sân khấu khi tập tuồng, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dường như quên đó là sân khấu tập. Hai cô không hề ỷ vào thâm niên nghề nghiệp để hát qua loa, mà hai cô tỉ mỉ từng nét diễn, từng lời thoại, từng cách nhả chữ, từng cách lấy hơi. Mỗi khi ca “chinh dây” một chút là hai cô yêu cầu được ca lại ngay.
            Hiện tại, ngay cả nghệ sĩ trẻ trong nước, những người sống bằng nghề hát cải lương, mà khi tập tuồng cũng hiếm thấy có ai tập cho nghiêm túc đến mức như vậy. Thế mà, đối với chị em Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân, đây là đi hát cho chùa, mà hát cho chùa thì làm công đức là chủ yếu, thế mà hai cô lại phải bỏ nhiều công sức đến như vậy. Điều đó chỉ có thể lý giải bằng một niềm đam mê không bờ bến đối với cái nghiệp cải lương.

Thần nữ Hà Mỹ Liên ngày ấy
            Bàn về nghệ thuật ca diễn của Hà Mỹ Liên, ta thấy cô có một bộ nhịp thuộc hàng thượng thừa. Một điểm đáng chú ý là có những bài bản lâu quá rồi cô không có dịp ca, thế mà khi tập tuồng, nhạc sĩ chỉ cần đàn cho cô nghe qua là lập tức cô bắt vào ca ăn song lang “cốp cốp”. Điều đó cho thấy các bài bản cải lương hoặc là đã thấm vào máu của cô hoặc là lúc nào cũng được cô nhớ thương da diết.
            Hà Mỹ Liên tâm sự, thế mạnh của cô là diễn xuất, thế nhưng nghe cô ca thì mới thấy được cô không chỉ giỏi diễn mà ca cũng thuộc hàng điêu luyện. Trước đây, giọng ca Hà Mỹ Liên khỏe lắm. Cô có giọng rất cao, và ca rất mùi. Bộ nhịp của cô thì khỏi phải chê, cô ca rất chắc nhịp. Cô đặc biệt ca hay các bài bản lẻ, và tôi đặt biệt thích nghe cô ca bài Phú Lục, nghe mà sướng tai.
            Nói về bản vọng cổ, Hà Mỹ Liên ca vọng cổ không sắp chữ theo khuôn, cô có lối ca rải đều chữ, người nghe không biết là cô đã đi tới đâu, đôi khi sợ cô rớt nhịp, thế mà cô về cuối câu vọng cổ hồi nào mà người nghe cũng không hay, khi chợt nhận ra cô về cuối câu thì nhịp nhàng lại đâu vào đó, cứ đúng song lang như đặt sẳn vậy. Phải chắc nhịp và điêu luyện lắm thì người nghệ sĩ mới dám ca theo lối này.
            Nói về diễn xuất, Hà Mỹ Liên diễn theo lối tự nhiên, không màu mè kiểu vẽ, có sao diễn vậy. Bởi thế, cô đi vào nhân vật rất tự nhiên. Được biết khi mới vào nghề, cô nổi tiếng với các vai đào võ. Hồi ấy, cô từng lừng danh với vai Thần Nữ trong vỡ tuồng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, đến mức mà đoàn Trăng Mùa Thu đăng bảng quảng cáo trước rạp Hưng Đạo ở Sài Gòn là “Thần Nữ Hà Mỹ Liên” bên cạnh “Kiều Nữ Bích Sơn”.
            Trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên thành công với các vai người mẹ bất hạnh trong Bông Hồng Cài Áo, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển. Cô diễn các vai này cũng theo lối tự nhiên, nhẹ nhàng và thiên về thể hiện nội tâm, một lối diễn xuất rất có chiều sâu như của Thanh Nga hay Ngọc Giàu vậy.
            Năm ngoái được dịp xem cô diễn vai bà mẹ trong Tấm Lòng Của Biển với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tại một sân khấu dựng tạm ngoài trời trong một buổi cơm kiến thiết của một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Thường thì khi hát cải lương ở những sân khấu như vậy, nghệ sĩ rất khó lấy được nước mắt khán giả bởi mọi người bị chi phối bởi nhiều thứ khác. Ấy thế mà, hôm ấy, không ít khán giả đã phải bỏ đũa hướng mắt về sân khấu và để cho những giọt nước mắt lăn dài. Thế mới biết, nếu người nghệ sĩ ca diễn hết lòng thì khán giả cũng đáp lại bằng cách thưởng thức hết lòng vậy.
            Để tìm hiểu thêm về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thuở vàng son của sân khấu cải lương, RFI Việt Ngữ trao đổi với nghệ sĩ Lệ Thủy tại Việt Nam – người từng chia sân khấu với Hà Mỹ Liên hồi những năm 1960 tại đoàn Kim Chung. Sau đây là tâm tình của Lệ Thủy về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên:

             “Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên vừa là bạn đồng nghiệp vừa là đôi bạn thân. Hai đứa có cùng tuổi. Hồi về đoàn Kim Chung thì cũng còn nhỏ chừng 15-16 tuổi, nên rất thân thiết. Sau giờ tập tuồng hay giờ diễn thì thường rủ nhau đi chợ Sài Gòn chơi, đi mua sắm, đi xem phim… Lúc về đoàn Kim Chung, Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên hát chung một vai trong vở tuồng Thương Về Quê Mẹ, Hà Mỹ Liên đóng màn đầu còn Lệ Thủy đóng màn sau.
             Rất tiếc là Hà Mỹ Liên do có gia đình và phải đi xa nên không hát nhiều như Lệ Thủy. Nhưng phải nói về nghệ thuật thì Hà Mỹ Liên diễn đào võ rất hay, rất duyên dáng trên sân khấu. Gia đình Hà Mỹ Liên toàn là nghệ sĩ, như anh Thanh Điền hay Hà Mỹ Xuân cũng đều là những tay diễn rất hay. Lệ Thủy thấy rằng, Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất duyên dáng trên sân khấu, đẹp và diễn hay. Tiếc là một thời gian dài không đi hát, nên bà con như muốn quên Hà Mỹ Liên, chứ thật ra Hà Mỹ Liên cũng là một nhân tài đó
”.

            Cùng sống và hoạt động nghệ thuật trong mấy mươi năm qua trên đất Pháp với Hà Mỹ Liên là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân. Sau đây là đôi điều nhận xét của Hà Mỹ Xuân về người chị và người đồng nghiệp Hà Mỹ Liên của mình:

             “Nói về nghề, thì chị Hà Mỹ Liên cũng có tầm cỡ lắm. Hồi trước chị Liên ca hay lắm, bây giờ thì ca không còn như hồi xưa nữa, nhưng về diễn xuất thì như dân trong nghề hay nói là chị Liên là người rất “rộng xài”, vì chị có thể diễn được nhiều loại vai, từ đào mùi, đào đào độc, đào lẳng… Loại vai nào chị diễn cũng trọn vẹn. Chị Liên diễn xuất rất có chiều sâu. Chị Liên ca rất chắc nhịp. Nói về ca quăng bắt nhịp nhàng thì chị Liên hơn Hà Mỹ Xuân rất nhiều. Thêm vào đó, chị Liên đạt rất cao về độ tự nhiên trên sân khấu. Chị Lệ Thủy và các chị nghệ sĩ lớn cùng thời, thì chị Liên có tầm cỡ như các chị em lúc đó.
            Về đóng góp của Hà Mỹ Liên trên đất Pháp, phải nói là chị Liên đóng góp rất nhiều, nhiều hơn Hà Mỹ Xuân. Chị Liên có chồng sớm nên việc hát bị gián đoạn. Nhưng sau khi sang Pháp chị đã hát trở lại và chị đóng góp cho cải lương trên đất Pháp rất nhiều. Hà Mỹ Xuân còn nhớ, anh Thanh Điền và chị Hà Mỹ Liên đi theo hát trước, sau đó mới tới Hà Mỹ Xuân. Và chính chị Liên đã đặt nghệ danh cho Hà Mỹ Xuân
”.

Ai ơi đừng có phụ nghề
            Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất nghiêm túc và yêu nghề. Khi có dịp trò chuyện với cô, thì lúc nào cũng vậy, một niềm sung sướng luôn hiện rõ trong đôi mắt của cô mỗi khi cô kể về những tháng ngày gạo chợ nước sông ở cái thời vàng son của sân khấu cải lương. Cô không ngại xa xôi hay vất vả để được hát cải lương như trường hợp tập tuồng vừa kể bên trên.
            Trong đôi lần đi hát vất vả nhưng thù lao thì chẳng bao nhiêu, có người trong nhóm diễn phàn nàn và tỏ ra chán nghề, thì lập tức Hà Mỹ Liên không ngại mất lòng mà nói ngay: “Bây ơi đừng có phụ nghề”. Một câu nói ngắn như thế nhưng tưởng chừng không còn có gì có thể cho thấy rõ ràng hơn tấm lòng tha thiết đối với cải lương của nghệ sĩ Hà Mỹ Liên.


LÊ PHƯỚC
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130518-ha-my-lien-kiep-tam-lang-le-nha-to

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: Maiquangbp vào 19/06/2017, 20:24:00
Tôi quá trân trọng những bài viết của anh Tài , mong anh sẽ tiệp tục đăng những bài viết có giá trị . Thành thật quí mến
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 21/06/2017, 12:26:29
Vọng Cổ Hài: Thiếu cả người viết lẫn người ca

Trong làng vọng cổ, không chỉ có những bài ca mùi với những chuyện tình lâm ly bi đát làm rơi nước mắt, mà người mộ điệu có khi cười ra nước mắt với những bài vọng cổ vui nhộn thường được gọi là “Vọng cổ hài”. Một vở cải lương dài mà cứ khóc than hoài thì cũng không được. Bên cạnh cái mùi, cải lương cũng cần cái hài.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/lephuoc.jpg)
Hài cải lương Văn Hường

GẦN 100 năm hình thành và phát triển, vọng cổ mùi đã biết đến rất nhiều giọng ca đặc sắc như Út Trà Ôn, Thanh Hương, Út Bạch Lan, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Cảnh, Tấn Tài, Thành Được, Minh Vương… Thế nhưng vọng cổ hài thì chỉ vỏn vẹn có Hề Minh, Văn Hường và Hề Sa là thật sự khẳng định được tài năng trong lĩnh vực ca vọng cổ. Sau ba giọng ca hài đặc sắc này, theo thời gian vọng cổ hài dần bị mai một.

Hề cải lương và hề ca vọng cổ
            Trước tiên cần phân biệt giữa Hề cải lương và Hề ca vọng cổ. Trên sân khấu cải lương, các đào kép chánh thường là những đào kép mùi, thủ những vai bất hạnh bi thương để lấy nước mắt và sự cảm thông của khán giả. Thế nhưng, xem một vở cải lương mấy tiếng đồng hồ nếu mà cứ cảnh khóc than hoài thì cũng không được. Bởi vậy, bên cạnh cái mùi, sân khấu cải lương cần có cái hài.
            Trách nhiệm của các vai hài là làm sôi động sân khấu để phá tan đi cái ngột ngạt của những tình tiết lâm ly bi đát, nhằm mang lại tiếng cười cho khán giả. Những cây hài nổi danh của thể loại này có thể kể đến: Quái Kiệt Ba Vân, Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Cũi, Hề Tư Rọm, Hề Kim Quang, Hề Văn Hường, Hề Minh, Hề Quới, Hề Sa, Hề Vui, Hề Văn Chung.
            Sau đó có thể kể đến Trường Xuân và Giang Châu. Thật ra thì Trường Xuân xưa kia chuyên trị vai kép độc, còn Giang Châu thì là kép mùi, nhưng cả hai khi tham gia vở cải lương Ngao Sò Óc Hến của soạn giả Nguyễn Thành Châu trong vai Bác Ngao và Trùm Sò, cái tài hài hước của họ đã được khẳng định. Sau đó, hài cải lương có thể kể đến Phú Quý, Duy Phương, Thanh Nam, Tấn Beo, Bảo Chung…
            Thể loại hài vừa kể trên là hài cải lương, tức tham gia ca diễn trong một vở cải lương. Vào thời vàng son của cải lương, tiếng tăm và tiền cát sê của một số anh hài cải lương không thua kém gì đào kép chánh. Cũng có khi khán giả mua vé đến xem một đoàn hát không phải vì yêu mến cặp đào kép chánh mà là vì ái mộ anh hài của đoàn. Hài thể loại này phải biết diễn xuất cải lương, phải biết ca các bài bản cải lương, tức cũng là một diễn viên cải lương thực thụ nhưng chuyên trị các vai gây cười. Vai trò của họ rất quan trọng: Nếu anh kép chánh mang lại sự cảm thông và làm rơi nước khán giả, thì anh kép hài có nhiệm vụ làm cho khán giả lấy lại sự cân bằng cảm xúc, được dịp vui cười.
            Vọng cổ là bài ca vua của sân khấu cải lương. Không chỉ vậy, ở các sân chơi đàn ca tài tử, vọng cổ luôn là bài ca chủ đạo. Về phần khán giả, khi đánh giá phần ca của nghệ sĩ cải lương, đa phần đều để ý đến cách vô vọng cổ có được ngọt không, giọng ca có mùi không. Thậm chí mấy ông bà bầu xưa kia khi muốn nhận một ai đó vào làm nghệ sĩ cho đoàn mình, thì việc thử giọng đều nhắm vào bài vọng cổ. Bởi thế, các nghệ sĩ thành danh của làng sân khấu cải lương Nam Bộ, tuyệt đại đa số đều ca vọng cổ rất hay và rất mùi.
            Nếu sân khấu cải lương cần có những vai hài, thì bài vọng cổ cũng cần có những giọng ca hài. Làm hề cải lương thì tập trung vào diễn, còn ca chỉ là động tác hỗ trợ cho vai diễn mà thôi. Đối với ca vọng cổ hài, anh hài tập trung vào động tác ca là chính. Tức là, trên sân khấu cải lương, một anh hài cải lương có giọng không hay và nhịp không chắc cũng không sao, cái quan trọng là anh ta diễn xuất trọn vai để lấy tiếng cười của khán giả.
            Còn trong ca vọng cổ hài, thì động tác chính của người nghệ sĩ hài là ca, còn động tác chính của người mộ điệu là thưởng thức bằng cách nghe, bởi thế anh hài ca cổ đòi hỏi phải có bản lĩnh ca vọng cổ thật sự. Đòi hỏi này cũng giống như đối với những giọng ca vọng cổ mùi thực thụ, nhưng cái khác là ở đây người nghệ sĩ hài ca những bài vọng cổ hài. Nói như vậy thì hề ca cổ phải có giọng tốt và nhịp nhàng vững chắc, cùng với kỹ thuật ca và phong cách ca tạo được dấu ấn riêng.

Ba tay cự phách trong làng vọng cổ hài
            Những nghệ sĩ hài đã khẳng định tên tuổi trong làng vọng cổ hài có thể nhắc đến là Hề Minh, Văn Hường và Hề Sa. Trong ba cây hài nói trên, Hề Minh là bậc tiền bối. Tên thật của Hề Minh là Nguyễn Văn Minh. Vào khoảng năm 1955, Nguyễn Văn Minh được nhận vào đoàn cải lương Kim Thoa của ông bầu Nguyễn Huỳnh Phước và được đặt cho nghệ danh Hề Minh. Sự nghiệp Hề Minh bắt đầu từ đó.
            Hề Minh có khả năng vừa diễn xuất tốt vai hài trong các vở cải lương, vừa ca vọng cổ hài rất hay. Hề Minh có giọng trầm, chân phương, và hơi không dài. Bởi vậy anh ca như nói, rất chân phương, rất gần gũi với bà con nông dân vùng sông nước Cửu Long. Bộ nhịp của Hề Minh rất chắc, anh ca như làm xiếc trên dây đờn.
            Đặc trưng của bản vọng cổ hài là thường có rất nhiều chữ, vì thế người ca phải ca chạy chữ thật nhanh để cho kịp nhịp. Mà ca chạy chữ làm sao để người nghe vẫn nghe được rõ ràng lời ca để có thể hiểu được lời văn và nội dung bài ca. Vì làn hơi không dài nên Hề Minh không chọn cách luyến láy, mà anh có cách sắp chữ thần sầu phù hợp với giọng ca và làn hơi của anh.
            Đặc trưng lớn nhất của Hề Minh là anh ca rải đều chữ, ca như nói, người nghe nếu không để ý sẽ không biết anh ca gần tới song lang cuối câu chưa, nhưng Hề Minh ca bình bình rồi xuống song lang cuối câu lúc nào cũng thật ngọt thật hay. Hề Minh nổi tiếng nhất với các bài vọng cổ: Tôi Mến Làng Tôi, Bức Thư Tình, Mèo Lại Hoàn Mèo…
            Thế nhưng, phải chờ đến Văn Hường thì vọng cổ hài mới có thể nói là thật sự làm mưa làm gió trên thị trường cổ nhạc. Văn Hường tên thật là Nguyễn Văn Hường, sinh năm 1934 tại Thủ Đức, Sài Gòn. Tài năng của anh được phát hiện vào năm 1960 tại quán Lệ Liễu ở Sài Gòn. Số là một hôm, ông bầu Bảy Cao của đoàn Hoa Sen – một đoàn hát đình đám lúc bấy giờ ở Sài Gòn, đến giải trí tại quán Lệ Liễu, và phát hiện ra chất hài trong giọng ca Văn Hường, nên đã lập tức đề nghị ký giao kèo với anh.
            Thế là Văn Hường về hát cho đoàn Hoa Sen. Thật ra lúc đầu Văn Hường chuyên ca vọng cổ mùi. Về đoàn Hoa Sen anh cũng ước được leo lên hàng kép chánh. Thế nhưng, ông bầu Bảy Cao đã đề nghị anh tập trung vào ca diễn hài. Và trong vở tuồng đầu tiên, Văn Hường đóng cặp với Diệu Hiền trong vai cặp ở đợ và nữ tỳ. Đêm diễn thành công ngoài mong đợi, Văn Hường đã bắt đầu khẳng định tên tuổi của mình trên làng hài cải lương.
            Thế nhưng, lợi thế của Văn Hường không phải là diễn, mà là ca. Văn Hường lúc đầu ái mộ Hề Minh vì ca vọng cổ hài trước Văn Hường thì có thể nói chỉ có Hề Minh. Văn Hường cũng rất thích giọng ca của bậc tiền bối Tám Thưa với lối ca “ơ… ơ…” rất Tài Tử Nam Bộ. Thế là Văn Hường nghiền ngẫm cách sắp chữ của Hề Minh để tạo cho mình một lối sắp chữ không kém phần thượng thừa đối với người đi trước. Đặc biệt, Văn Hường đã thay cái “ơ… ơ…” của Tám Thưa thành “ự…ự” rất riêng, rất Văn Hường. Và cái lối ca “ự…ự” đó đã trở thành thương hiệu riêng của Văn Hường, làm say đắm không biết bao nhiều con tim người mộ điệu.
            Đi sâu vào kỹ thuật ca vọng cổ của Văn Hường, ta thấy anh có giọng đối lập với giọng ca của Hề Minh: Hề Minh có giọng trầm còn Văn Hường có giọng trong trẻo và cao vút. Hề Minh thì hơi không dài chứ Văn Hường thì có hơi dồi dào mặc sức tung hoành luyến láy. Đặc biệt hơn hết bộ nhịp của Văn Hường thuộc hàng thượng thừa. Nhờ có bộ nhịp thượng thừa, Văn Hường mặc sức tung hoành trên dây đờn. Có thể nói rằng, anh thuộc hàng “sư phụ” của kỹ thuật “làm xiếc trên dây đờn”.
            Như đã nói bên trên, các bài vọng cổ hài thường có rất nhiều chữ, nghệ sĩ hài ca phải chạy chữ cho kịp nhịp. Về vấn đề này, Văn Hường ca chạy chữ thuộc hàng sư phụ. Có nhiều bài chữ nhiều lắm, nhưng anh ca rất rõ ràng, rất cảm xúc và về song lang chính xác “như để” vậy.
            Soạn giả chấp cánh cho Văn Hường là “ông vua” Viễn Châu. Thử làm một thống kê nhỏ ta sẽ thấy rằng hầu hết các bài vọng cổ hài nối tiếng nhất của soạn giả Viễn Châu đều được viết theo kiểu “đo ni đóng giày” cho Văn Hường. Vào năm 1960, Viễn Châu cũng đã phát hiện ra giọng ca Văn Hường và giới thiệu cho hãng dĩa thu âm với bài vọng cổ hài đầu tiên là Đêm Tân Hôn. Rồi sau đó là trên một trăm bài vọng cổ dành cho Văn Hường: Tư Ếch Đi Hội Chợ, Tư Ếch Đại Chiến Văn Hường, Lá Sớ Táo Quân, Vợ Tôi Tôi Sợ, Tề Thiên Đại Thánh, Tào Tháo Cháy Râu… Nhiều lắm, không thể nào kể hết được.
            Ta thấy rằng, trong đời nghệ sĩ, một nghệ sĩ tạo dấu ấn trong vài bài vọng cổ đã là quý, còn đối với Văn Hường, anh đã thật sự thành công trong quá nhiều bài vọng cổ hài. Những bài vọng cổ hài của Viễn Châu đã đưa Văn Hường đạt được vương vị “Vua Ca Vọng Cổ Hài”, bên cạnh “Vua Viết Lời Vọng Cổ” Viễn Châu và “Vua Ca Vọng Cổ” Út Trà Ôn.
            Thủ Đức đã sinh ra Văn Hường vào năm 1934, thì vào năm 1941 lại tặng thêm cho làng vọng cổ hài một giọng ca hài điêu luyện khác, đó là Hề Sa. Từ nhỏ, Hề Sa đã mê vọng ca Văn Hường qua sóng phát thanh. Cảm thấy giọng ca của mình rất giống Văn Hường, nên Hề Sa luôn tập ca theo thần tượng.
            Và quả thật, Hề Sa có giọng cao và trong như Văn Hường. Hề Sa đã kế tục Văn Hường lối vô vọng cổ theo kiểu “ự… ự” rất đặc sắc. Anh cũng có một bộ nhịp thượng thừa và một lối sắp chữ thuộc hàng cao thủ. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Sa bắt đầu cuốn gói theo gánh hát. Năm 21 tuổi anh đầu quân cho đoàn Thủ Đô, rồi sau đó là đoàn Kim Chung, Thanh Nga… Và cái tên Hề Sa bắt đầu trở nên lẫy lừng. Có thể nói rằng, sau Văn Hường thì Hề Sa kế tục xứng đáng người đi trước trong lĩnh vực vọng cổ hài dù rằng sự nghiệp của anh không lừng lẩy bằng “sư phụ” Văn Hường.
            Đến hiện tại, trong khi Hề Minh đã về với tổ nghiệp vào năm 1985 ở cái tuổi 58, Văn Hường do tuổi cao không còn hát nữa, thì Hề Sa vẫn đi biểu diễn thường xuyên. Hề Sa nổi tiếng với các bài Pháp Sư Giải Nghệ, Trời Sinh Voi Sinh Cỏ, Tôi Đi Lính…

Đặc trưng của bài vọng cổ hài
            Viễn Châu được mệnh danh là “Ông vua viết lời vọng cổ” với hơn 2000 bài vọng cổ. Ông là soạn giả “đo ni đóng giày” thành công nhất bởi chính bài ca của ông đã chấp cánh cho hầu hết các tên tuổi hàng đầu của thế hệ nghệ sĩ vàng: Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Phượng Liên, Thành Được, Tấn Tài, Minh Cảnh, Thanh Sang, Minh Vương…
            Còn trong làng vọng cổ hài thì Viễn Châu cũng đã đo ni đóng giày thành công cho giọng ca Văn Hường. Và nếu Văn Hường là “Vua Ca Vọng Cổ Hài”, thì Viễn Châu phải là “Vua Viết Lời Vọng Cổ Hài”. Ông viết riêng cho Văn Hường trên 100 bài vọng cổ hài. Chưa kể là các bài ông viết cho Hề Minh và Hề Sa ca như Tôi Mến Làng Tôi hay Pháp Sư Giải Nghệ.
            Bên cạnh Viễn Châu, còn có một số soạn giả vọng cổ hài ăn khách khác là Quy Sắc, Loan Thảo… Ta thấy rằng, chẳng những nghệ sĩ ca vọng cổ hài đã hiếm, mà soạn giả viết vọng cổ hài thành công cũng không nhiều.
            Nhìn vào các bài vọng cổ hài đã được khán giả chấp nhận, ta thấy có mấy đặc điểm sau:
            – Nội dung bài hát thường là châm biếm thói hư tật xấu hay những hủ tục trong xã hội. Nó đưa được đời sống thường nhật lên sân khấu, để người nghe cảm nhận được điều châm biếm trong bài hát cũng thật sự tồn tại đâu đó, hoặc dã là tồn tại ở chính bản thân người nghe. Để từ đó, mỗi người tự ý thức mà sửa chữa lỗi lầm bản thân hay giúp người khác sửa chữa, nhằm làm cho con người được hoàn thiện hơn, xã hội được tốt đẹp hơn, đúng với tinh thần chung của cải lương Nam Bộ.
            – Sự châm biếm phải thật nhẹ nhàng và tế nhị. Lời văn phải được chọn lựa kỹ càng, phải dí dỏm và phải được đặt đúng nơi đúng chỗ.
            – Nghệ sĩ hài biểu diễn phải thật sự có năng lực ca vọng cổ, tức phải có giọng ca, phải có bộ nhịp cho vững để có thế tung hoành trong bài hát một cách dí dỏm nhằm gây cười cho khán giả, phải có sự tập luyện bài bản và kiên trì để có được một lối ca điêu luyện.

Vọng cổ hài hiện tại: thiếu người viết lẫn người ca
            Nhìn vào hiện tại, vọng cổ hài thiếu nghiêm trọng, thiếu người ca lẫn người viết. Soạn giả Viễn Châu thì tuổi già sức yếu không thể cầm bút được nữa, những bài vọng cổ của ông nói chung và vọng cổ hài nói riêng được hát đi hát lại mãi.
            Gần đây, trong chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Hề Sa phải ca lại bài Văn Hường Đi Suzuki của Viễn Châu. Để giới thiệu cho bài ca này, người dẫn chương trình khi ấy giới thiệu rằng, đó là bài mà Viễn Châu viết từ cảm nhận hiện tượng tai nạn giao thông trong hiện tại. Cách giới thiệu này có phần không tôn trọng khán giả vì ai mê vọng cổ hài mà không biết rằng Văn Hường đã ca thu đĩa bài này mấy chục năm trước rồi.
            Thế nhưng, ở đây muốn nhấn mạnh rằng, trong hiện tại cuộc sống có quá nhiều việc cần lên án, cần châm biếm, thế mà không hiểu tại sao lại không hề thấy một bài vọng cổ hài có chất lượng nào được ra đời?!
            Đó là về phần soạn giả, còn phần của nghệ sĩ ca vọng cổ hài thì sao? Ta thấy rằng, sau Hề Minh thì có Văn Hường, và Văn Hường đã làm được cái câu “sóng sau dồn sóng trước”.
            Sau Văn Hường thì có Hề Sa. Dù tự nhận là bản sao của Văn Hường, nhưng rõ ràng Hề Sa đã tạo được cho mình một phong cách riêng, một giọng ca riêng. Người nghe dễ dàng phân biệt được giọng ca Hề Sa với Văn Hường. Dù không vượt được “thầy”, nhưng Hề Sa cũng đã kế tục được vọng cổ hài một cách xứng đáng.
            Sau Hề Sa thì cũng có một số giọng ca hài đáng chú ý như Giang Châu hay Hề Thanh Nam. Thế nhưng, hai người này gắn bó với cải lương nhiều hơn, tức là chỉ tập trung đóng hài trong các vở cải lương chứ chưa tách hẳn ra gia nhập vào sân chơi vọng cổ hài độc lập với cải lương như trường hợp của Hề Minh, Văn Hường hay Hề Sa.
            Sau những người này, thì thế hệ hiện tại ta thấy có rất nhiều hài, nhưng hầu hết là hài cho các tiểu phẩm hài theo lối kịch, còn trong cải lương thì quả thật hiện tại không thấy có danh hài nào có thể ca diễn bài bản theo lối cải lương cho các vở cải lương. Hài cải lương đã thiếu, hài vọng cổ còn thiếu hơn, thiếu đến mức nghiêm trọng. Trong quá nhiều danh hài hiện tại, rõ ràng là không thấy ai có khả năng kế tục được vọng cổ hài.
            Cần nhắc lại rằng, vọng cổ hài từ thuở Văn Hường đã thật sự trở nên độc lập với cải lương và với vọng cổ mùi. Tức là, nó đã trở thành một lĩnh vực có thể một mình thu hút khán giả, có được lượng khán giả riêng. Trong hiện tại, văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và cải lương nói riêng đang gặp nhiều khó khăn do phải chia khán giả với quá nhiều loại hình giải trí ngoại nhập khác.
            Mọi người dù thích cải lương nhưng thật sự khó sắp xếp được thời gian để ngồi xem, thậm chí là nghe trọn vở tuồng dài đến mấy tiếng đồng hồ. Trong bối cảnh đó, vọng cổ thật sự trở thành một cứu cánh quan trọng cho nghệ thuật cải lương, bởi một bài vọng cổ 4 câu thì ca độ chừng 6 phút, tức tương đương với một bài tân nhạc. Các nghệ sĩ cải lương khi chạy sô ở các chương trình văn nghệ tổng hợp cũng thường chỉ ca vọng cổ mà thôi.
            Nhưng vấn đề là, vọng cổ thì thường buồn bã bi ai, mà có một bộ phận người thì sau những bộn bề của cuộc sống, khi rảnh rang họ muốn thư giãn thần kinh bằng những cái gì vui nhộn, tạo được tiếng cười. Bởi vậy, bên cạnh vọng cổ mùi, cần phát triển vọng cổ hài trong hiện tại, vừa để góp phần gìn giữ vọng cổ-cải lương, vừa để góp phần làm cuộc sống bớt căng thẳng, vừa có thể thu hút được bộ phận giới trẻ yêu thích sự sôi động và vui nhộn. Thế nhưng, nhìn đi nhìn lại, như đã nói bên trên, vọng cổ hài trong hiện tại đang thiếu nghiêm trọng cả về người viết lẫn người ca?


LÊ PHƯỚC
Tháng 6/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130615-vong-co-hai-thieu-nguoi-viet-lan-nguoi-ca

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 23/06/2017, 14:15:40
Diệp Lang: Bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên

Trong làng sân khấu cải lương, có nhiều trường phái diễn xuất, trong đó ta thấy nổi lên hai loại: Diễn xuất thiên về tượng trưng ước lệ và diễn xuất thiên về tự nhiên. Trường phái tượng trưng ước lệ thì chịu ảnh hưởng của cách diễn xuất xem trọng điệu bộ như trong hát bội, còn trường phái tự nhiên thì nghiêng về cuộc sống thường nhật, tức có sao diễn vậy, diễn giống như ngoài đời vậy.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/dieplang.jpg)
Nghệ sĩ Diệp Lang trong trích đoạn “Khi người điên biết yêu”

MỘT TRONG những bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên là nghệ sĩ Diệp Lang, người được mệnh danh là “Ông Hội Đồng” của sân khấu cải lương.
            Diệp Lang tên thật là Dương Công Thuấn, sinh năm 1941, tại làng Bình Tiên huyện Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Cha của Diệp Lang là ông Ba Diệp, một tay đờn kìm có tiếng trong làng cải lương lúc bấy giờ. Thuấn mồ côi mẹ thuở lên mười và sống với ông nội ở quê nhà, còn ông Ba Diệp thì bôn ba theo các đoàn hát. Khoảng năm 13 tuổi, Thuấn theo cha lên Sài Gòn theo đoàn cải lương Kim Thoa.

Con nhà nòi
            Ông Ba Diệp hướng con theo nghề hát vì nghĩ rằng nghề đờn phải suốt đời ngồi sau cánh gà chẳng ai nhìn đến. Mới theo nghề mà Thuấn đã không may, vì vở tuồng đầu tiên tham gia là vở Lấp sông Gianh của soạn giả Kinh Luân, khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân). Vở tuồng này nói lên nguyện vọng xóa bỏ ranh giới chia cắt non sông.
            Trong đêm khai trương, có người quăng lựu đạn lên sân khấu, gây thương vong khá nhiều người. May mắn thay, hai cha con ông Ba Diệp đều bình an vô sự. Sau đó, hai cha con về đoàn Minh Chí – Việt Hùng. Được một thời gian, ông Ba Diệp bị bệnh nặng phải trở về quê và sống ở đó cho đến ngày cuối đời. Thuấn thì tiếp tục theo nghề hát. Khi cha mất mà Thuấn cũng không về thọ tang được vì không có tiền. Năm ấy Thuấn được 16 tuổi.
            Có thể nói nhờ “cái bóng” của cha, Thuấn đi xin vào đoàn hát nào cũng được sự ưu ái. Cái tên Diệp Lang bắt đầu xuất hiện khi Thuấn về đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ năm 17 tuổi. Ông bầu đoàn này đặt cho Thuấn cái tên Diệp Lang với ý nghĩa là: “Con trai ông Ba Diệp”. Một hôm anh kép chánh có việc, Diệp Lang được chọn lên thế vai trong vở “Chiếc Nhẫn Kim Cương”. Tên tuổi anh kép chánh Diệp Lang bắt đầu được chú ý. Năm 1960, Diệp Lang được mời về hát cho đoàn Hữu Tâm – một đoàn hát tên tuổi lúc bấy giờ, đúng là một điều mơ ước đối với anh thanh niên nghèo khó 19 tuổi.

Con đường đến kép độc
            Đi hát ai mà không mong đóng vai chánh để được nổi tiếng, để được nhiều tiền. Thế nhưng, trên sân khấu cải lương không chỉ có một mình anh kép chánh, mà còn cần có một ê kíp với đầy đủ thành phần bao gồm đủ loại vai thì mới thành một vở tuồng trọn vẹn được. Và có lẽ như tổ nghiệp đã nhìn thấy ở Diệp Lang tiềm năng đặc biệt đóng kép độc nên mới khiến xuôi khi Diệp Lang vừa được chọn đóng vai chánh thì ông đã bị bệnh và mất giọng.
            Đi hát mà mất giọng thì kể như rồi. Nhưng không, Diệp Lang đã khéo léo tập trung vào diễn xuất. Số là Diệp Lang đã nghe lời khuyên của đồng nghiệp chuyển sang đóng kép độc. Làm kép độc thường là vai phụ, lương ít hơn. Thế nhưng, có một điều cần nhấn mạnh rằng, đào kép chánh ăn khách nhờ đẹp, nhờ ca hay, chứ còn diễn xuất thì chưa chắc đã hơn diễn viên phụ.
            Nói như vậy để thấy rằng, để đóng kép độc thành công, đòi hỏi người diễn viên phải có tài năng diễn xuất thực sự. Có lẽ vì thế mà Diệp Lang đã ra sức khổ luyện, cùng với sự chỉ bảo tận tình của các bậc tiền bối như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu… Thế mạnh của Diệp Lang đến giờ phút này chính là tài diễn xuất thượng thừa của ông.
            Vai kép độc ghi dấu ấn đầu tiên của Diệp Lang là ở đoàn Kim Chưởng, vai Thống Tướng Bát Lộ Kỳ trong vở Hai Chiều Ly Biệt. Bấy giờ, đoàn Kim Chưởng là một đại bang, bà bầu Kim Chưởng lại nổi tiếng khó tính với nghề, vì thế kịch bản của đoàn luôn có chọn lọc, có đạo diễn dàn dựng đàng hoàng, với dàn nghệ sĩ tài năng tên tuổi, có đủ những người phụ trách có năng lực về âm thanh, ánh sáng, cảnh trí… Ở đây, Diệp Lang được dịp trau dồi tác phong chuyên môn.
            Số phận đã đưa anh kép chánh Diệp Lang vào vai kép độc. Rồi ở đoàn Kim Chưởng, số phận lại đưa anh kép trẻ Diệp Lang vào vai lão. Và vai độc và vai lão là hai loại vai mà Diệp Lang thành công nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông. Số là ở đoàn Kim Chưởng, ông được giao vai một ông lão 70 tuổi bất hạnh trong vở Người Anh Khác Mẹ. Vai diễn đã giúp Diệp Lang đoạt Giải Thanh Tâm năm 1960 và Bằng danh dự Giải Thanh Tâm năm 1964. Giải Thanh Tâm được xem là giải thưởng danh giá nhất của cải lương Nam Bộ tính đến hiện tại.

Đỉnh cao sự nghiệp
            Sự nghiệp Diệp Lang đang đầy hứa hẹn, thì cũng tại đoàn Kim Chưởng, ông bị bắt quân dịch vào năm 1965. Thế là từ đó, suốt 10 năm trời, 1965-1975, Diệp Lang phải xa sân khấu. Giai đoạn sau 1975, sự nghiệp cải lương của Diệp Lang mới thật sự đạt tới đỉnh cao. Dấu ấn của Diệp Lang được thể hiện ở đoàn Sài Gòn 2, đoàn 2-84, trong nhiều vai trò từ diễn viên, chỉ đạo nghệ thuật đến trưởng đoàn.
            Giai đoạn này, Diệp Lang đã để đời với các vai: Hội Đồng Dư (Tiếng Hò Sông Hậu), Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt), Hải Lâm cha của Tô Châu (Áo Cưới Trước Cổng Chùa), Ông Tư (Lời Ru Của Biển)… Và cũng chính giai đoạn này ông đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo thế hệ cải lương tiếp nối với những tên tuổi lớn như Tuấn Thanh và Châu Thanh. Để ghi nhận những cống hiến của Diệp Lang, nhà nước Việt Nam đã phong tặng cho ông danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và sau đó là Nghệ sĩ Nhân dân.

Đệ nhất “kép độc mùi”
            Có thể nói, đến hiện tại, Diệp Lang được xếp vào hàng các kép độc hay nhất của sân khấu cải lương. Trước Diệp Lang, sân khấu cải lương đã có những tay kép độc cự phách như Văn Ngà, Hoàng Giang hoặc Trường Xuân. Thế nhưng, Diệp Lang đã tạo được những vai kép độc để đời mang dấu ấn riêng, những vai diễn mà kể từ khi được Diệp Lang thể hiện, đến nay vẫn chưa thấy có ai diễn đạt đến trình độ như vậy. Thế thì ắt hẳn Diệp Lang phải có cái hay riêng so với những kép độc tiền bối. Cái riêng ở đây có thể nói rằng: Diệp Lang là người thể hiện các vai “kép độc mùi” hay nhất.
            Kép độc là người đóng các vai ác. Nếu bàn về vai ác, thì ở đây ta thấy có một vai ác theo kiểu: lúc đầu thì ác nhưng về sau bị quả báo và hối hận ăn năn; hoặc dã là kép độc tuy luôn hung dữ và ác độc, nhưng đâu đó vẫn thấy họ cũng đang sống trong nghịch cảnh. Loại vai này có thể tạm gọi là “kép độc mùi”. Để đóng thành công “kép độc mùi”, thì ngoài tài năng diễn xuất ra, diễn viên còn cần có một giọng ca hay. Kép độc ca hay không phải là có giọng ca mùi như mấy anh kép chánh, mà ca hay ở đây là ca phải thể hiện được tâm trạng nhân vật, phải làm sao thể hiện được độ mùi khi cần thiết để làm người xem bỗng thấy chạnh lòng mà có chút cảm thông với số phận nhân vật. Diệp Lang là người có đủ tài năng và giọng ca mùi như vậy để thể hiện đặc sắc vai kép độc mùi. Các vai kép độc mùi để đời của Diệp Lang có thể kể đến: Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt) và Phê (Khi Người Điên Biết Yêu).
            Vai Ông Hương Cả trong vở Tô Ánh Nguyệt do chính Diệp Lang làm đạo diễn là một vai rất khó đóng. Đây là một kép phản diện, nhưng không phải lả người độc ác, mà chỉ là một nhà Nho quá bảo thủ, quá độc tài với vợ con. Ông Cả tỏ ra hung dữ và khắc khe với mẹ con Nguyệt, suy cho cùng là cũng vì ông muốn hành xử đúng theo những gì bảo thủ nhất của Nho Giáo. Tức là đúng với cái câu mà khi gặp ba của Minh ông đã nói: “Xin lỗi ông, tôi thủ cựu bài tân”, tức là “tôi giữ cái cũ và bài bác cái mới”. Trong khi đó thì ba của Minh lại nói: “Xin lỗi ông, tôi đả cựu nghinh tân”, tức là “tôi đuổi cái cũ đi mà rước cái mới vào”. Ông Cả cha của Nguyệt và cha của Minh thể hiện hai quan điểm cực đoan của một xã hội đang lúc giao thời lúc bấy giờ: người thì quá bài ngoại còn người thì quá vọng ngoại. Và kết quả là cả hai đều phải trả giá cho sự cực đoan đó.
            Về phần Ông Cả, ta thấy rằng, sau cảnh ông khắc khe với vợ con khiến khán giả ghét cay ghét đắng ở màn trước, thì khi ông tìm đến thăm Nguyệt, là một cảnh đầy xúc động. Khi ấy, sau khi Nguyệt đã trốn nhà ra đi và sinh con trong nghèo khổ, Ông Cả cha Nguyệt đã tìm đến nơi Nguyệt ở để cho cô hay là mẹ cô đang bệnh nặng. Chứng kiến cảnh con gái phải sống trong khổ cực, trong khi vợ thì đang hấp hối, lại vừa lo sợ nếu Nguyệt mang con về quê thì danh giá gia đình sẽ bị hủy hoại, tất cả đã khiến Ông Cả từ người ác độc trở thành người hết sức khổ sở. Cảnh này, Diệp Lang đã thật sự đã khiến khán giả từ căm ghét ở màn trước trở nên bất chợt cảm thông ở màn sau. Có thể nói rằng, tới giờ phút này, chưa thấy ai diễn qua Diệp Lang trong vai diễn đó.
            Đến với vai Hội Đồng Thăng trong vở Đời Cô Lựu, ta thấy đây là vai số một của Diệp Lang. Hội Đồng Thăng là một cường hào địa phương hết sức hiểm độc. Ông đã dùng mưu đẩy anh tá điền Võ Minh Thành vào tù rồi ở nhà dụ dỗ vợ của anh ta là cô Lựu. Suốt mười mấy năm dài, dù chiếm được thân xác Cô Lựu, nhưng Hội Đồng Thăng vẫn không thể nào chiếm được con tim của cô bởi lẽ cô luôn u sầu thương nhớ người chồng cũ. Thế là, Hội Đồng Thăng trả thù bằng cách hành hạ Cô Lựu từ việc kiểm soát gắt gao tiền bạc đến những lời lẽ cay đắng nặng nề.
            Màn Hội Đồng Thăng sai Cô Lựu vào trong lấy cây ba-toong là màn hay nhất. Diệp Lang đã diễn xuất thượng thừa ở màn này. Khi mắng Cô Lựu, Hội Đồng Thăng nói: “Đứng lên, làm gì uể oải”, “Đồ lì, lì lợm”. Diệp Lang gằn giọng từng tiếng, đến khán giả ngồi dưới cũng cảm thấy tâm lý nặng nề. Rồi đến khi Hội Đồng Thăng – Diệp Lang thốt lên: “Tôi hông thích ở trong cái nhà này, tối ngày hông ai nói với ai tiếng nào, tối ngủ quay mặt vô vách. Làm sao tôi chịu nổi? Tôi là con người mà, con người…” Vì lúc này Hội Đồng Thăng say rượu nên mới để lộ tâm sự như vậy. Hội Đồng Thăng – Diệp Lang vừa nói vừa gằn giọng, vừa vỗ tay vào ngực mình với vẻ uất ức. Đến đây, người xem chợt giật mình nhận ra rằng: Ồ, thì ra ông hội đồng ác độc kia cũng có nỗi khổ. Và thế là, người xem cũng cảm thấy xót xa cho tình cảnh của ông dù rằng đó là quả báo mà ông phải nhận. Ở đây, cái độc và cái mùi đã được Diệp Lang thể hiện xuất sắc, đến mức mà đến hiện tại, chưa thấy có ai thế vai này được.

Ca trong diễn, diễn trong ca
            Giọng ca và hơi của Diệp Lang không được phong phú. Thế nhưng, không phải gì thế mà ông ca không hay. Điểm mạnh nhất của Diệp Lang là ông biết diễn xuất bằng cả giọng ca, ông đưa giọng ca vào đúng với tâm trạng nhân vật, đúng với động tác biểu diễn. Nói cách khác là Diệp Lang đã đạt đến trình độ “ca trong diễn, diễn trong ca”, ca diễn phụ trợ lẫn nhau để thể hiện tính cách nhân vật.
            Bàn về bộ nhịp, Diệp Lang có bộ nhịp thượng thừa. Ông ca sắp chữ trong lòng bản. Do làn hơi không dài, nên ông chọn cách sắp chữ qua những câu ngắn. Tuy nhiên, nghe Diệp Lang ca, người nghe không thể nào không thán phục cách sắp chữ và nhịp nhàng rất chắc của ông. Và đặt biệt hơn hết là ông ca rất đúng nhân vật, dữ ra dữ, mùi ra mùi, vui ra vui mà buồn ra buồn.
            Minh chứng rõ nhất có lẽ là vai Phê trong vở Khi Người Điên Biết Yêu. Khán giả đã có dịp xem vai này trong chương trình Những Cảnh Chim Không Mỏi dành cho nghệ sĩ Diệp Lang sau khi ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, cách nay độ 10 năm. Nhân vật tên Phê, do yêu người em gái nuôi của mình, đã giết hại cha nuôi và vu oan cho người yêu của em gái. Sau đó, lại nói xấu người yêu của em gái để cho cô em gái phải thổ huyết chết.
            Năm tháng trôi qua, Phê lâm vào cảnh sống nghèo khổ, thân thể xác xơ, lương tâm dằn dặt. Ngày cuối cùng ở nơi trần thế là ngày Phê tìm trở lại mảnh đất xưa của cha nuôi mình. Nơi ấy đã mọc lên một ngôi chùa. Phê vào chùa đối đáp với hòa thượng và phát hiện ra vị hòa thượng kia chính là người yêu của em gái bị mình vu oan năm xưa. Phê mới thổ lộ hết nỗi lòng và trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay và sự tha thứ của hòa thượng.
            Diệp Lang đã trích lại màn cuối của vở tuồng trên. Màn này, nhân vật Phê vừa phải diễn xuất bằng các câu thoại, vừa bằng các đoạn ca. Diệp Lang đã xuất thần, khi nói thì giọng chất chứa đầy tâm sự, khi ca thì ca rất mùi. Nghe Diệp Lang thoại ở đoạn này, người xem không thể không thừa nhận rằng, nếu không phải là bậc thượng thừa trong diễn xuất thì không thể nào diễn xuất qua lời thoại xuất thần đến như vậy. Nên nhớ rằng, nói về diễn xuất cải lương, thì diễn xuất qua các câu thoại là một động tác rất khó, đòi hỏi trình độ và khả năng diễn xuất rất cao của người nghệ sĩ.
            Còn khi nghe Diệp Lang ca ba câu vọng cổ trong đoạn này, khán giả không khỏi giật mình nhận ra rằng, Diệp Lang không chỉ diễn xuất thượng thừa, mà ca cũng quá hay, nhịp nhàng quá chắc, cách ca quá điêu luyện, cách sắp chữ quá thần sầu. Người xem khi ấy không còn thấy trước mặt mình là một kẻ ác nữa, mà là một người bị lương tâm dằn dặt, một số phận đáng thương. Có thể nói rằng, với vai Phê, Diệp Lang đã thể hiện xuất sắc tài năng “ca trong diễn, diễn trong ca”, một điều mà không có nhiều nghệ sĩ cải lương đạt được.

Ông già Nam Bộ
            Nhắc đến Diệp Lang không thể nào không nhắc đến các vai ông già Nam Bộ. Bắt đầu vào vai lão ở tuổi đôi mươi, Diệp Lang đã để lại nhiều vai lão ấn tượng. Có thể kể đến vai Ông Tư trong Lời Ru Của Biển, Hải Lâm trong Áo Cưới Trước Cổng Chùa, hay như vai một lão nông Đồng Tháp trong vở Người Giữ Mộ. Rồi các vai đã kể trên cũng là vai lão: Ông Hương Cả, Hội Đồng Thăng, hay như vai được nhiều bà con Nam Bộ yêu thích là vai Hội Đồng Dư trong vở Tiếng Hò Sông Hậu.
            Điều đáng chú ý là, tất cả các vai đó đều là “ông già Nam Bộ” cả. Và Diệp Lang đã thể hiện rất thành công. Có thể nói rằng, nếu nói Sơn Nam là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Miền Nam, thì Diệp Lang là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực cải lương. Có lẽ do cách diễn xuất tự nhiên, gần gũi với cuộc sống, nên các vai Ông già Nam Bộ của Diệp Lang đã rất thành công và dễ dàng được sự chấp nhận của bà con Nam Bộ.
            Tóm lại, dù là vai ác hay vai lão, thì có một điều cần nhấn mạnh, đó là: Diệp Lang đã để đời các vai diễn nhờ vào tài “ca trong diễn, diễn trong ca”, nhờ vào lối diễn tự nhiên, chân phương, “diễn như không diễn”. Như đã nói, kép độc thì nặng về diễn xuất, và thường các nghệ sĩ đóng kép độc ca vọng cổ không mùi, trái hẳn với mấy anh kép chánh bắt buộc phải ca vọng cổ cho hay cho mùi. Do mất giọng ca, nên Diệp Lang đã đổi hướng sang kép độc, nhưng cái dấu ấn của Diệp lang là “kép độc mùi”. Có thể nói rằng, Diệp Lang là kép độc mùi số một của sân khấu cải lương Nam Bộ nhờ vào sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn.
            Diệp Lang rất tâm đắc lời dạy của nghệ sĩ lão thành Năm Châu là: “Đã ra sân khấu thì phải diễn, nhưng đừng diễn”. Ra sân khấu thì phải diễn xuất chứ, vì đó là tuồng hát không phải cuộc đời, thế nhưng cái khó là người nghệ sĩ phải diễn xuất chân thật như thế nào để cho người xem không còn nhận ra đó là đang diễn mà là sự thật cuộc đời. Tức là diễn xuất phải tự nhiên, phải chân thật, phải làm sao cho cuộc đời sân khấu và sân khấu cuộc đời hòa quyện vào nhau. Và Diệp Lang đã đạt được trình độ diễn xuất đó.
            Phong cách diễn xuất của Diệp Lang là một bài học quý cho thế hệ cải lương hiện tại, vì rõ ràng là, một trong những nguyên nhân chính khiến cải lương hiện tại mất dần sự hấp dẫn, đó là có không ít nghệ sĩ có lối diễn xuất xa rời thực tế.


LÊ PHƯỚC
Tháng 7/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130720-diep-lang-bac-thay-cua-truong-phai-dien-xuat-tu-nhien

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 26/06/2017, 15:10:51
Kiên Giang: Lối viết cải lương mang đậm chất thơ

Miệt U Minh đã sản sinh ra hai cây bút lừng danh trong đời sống văn hóa Nam Bộ, đó là nhà văn-nhà nghiên cứu Sơn Nam và nhà thơ-soạn giả Kiên Giang. Nếu Sơn Nam là nhà văn “rặc ròng” Nam Bộ, thì Kiên Giang cũng là nhà thơ Nam Bộ “rặc ròng”.

(https://cailuongvietnam.vn/uploads/news/2014_10/kgiang.jpg)
Nhà thơ kiêm soạn giả Kiên Giang

CHẤT THƠ và chất Nam Bộ đã thấm sâu trong tâm hồn Kiên Giang, để khi ông bước vào lĩnh vực sáng tác cải lương, ông đã tạo được cho mình một lối sáng tác rất riêng: lối sáng tác mang đậm chất thơ.
            Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh năm 1929, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông lấy tên quê hương để làm bút danh cho mình. Kiên Giang là bút danh khi ông làm thơ, còn khi viết báo và soạn tuồng, thì ông lấy tên là Hà Huy Hà.
            Tuy vậy, cái tên Kiên Giang đã trở nên quen thuộc và mọi người vẫn quen gọi ông là Kiên Giang – Hà Huy Hà, hay chỉ đơn giản là Kiên Giang. Tuổi thơ của Kiên Giang trải qua những nhọc nhằn ở vùng U Minh Thượng, nơi cha mẹ ông phải tảo tần gian khó để nuôi ông ăn học.

Nhà thơ chân quê Nam Bộ
            Cái tên Kiên Giang bắt đầu được biết đến trên thi đàn miền Nam Việt Nam từ năm 1955. Kiên Giang đã để lại cho đời nhiều bài thơ thuộc hàng tuyệt tác. Nét đặc sắc ở thơ Kiên Giang, đó là nó “rặc ròng” Nam Bộ. Lời thơ chân chất, bình dị, nhưng rất diễm tình, rất nên thơ. Thử đọc lại mấy câu sau đây:

                        Chiều chiều gió đẩy gió đưa,
                        Nhìn xem lá mạ mà mơ duyên nồng

                        (Quán giữa đồng)

            Hay là:

                        Ngày thơ xé mắm ăn bần chín
                        Bóng mát lung linh chở khẳm xuồng

                        (Chậu nhỏ đựng đầy hồn cố thổ)

            Thật không thể nào Nam Bộ hơn được nữa! Và cũng thật không thể nào tả những điều bình dị mà nên thơ hơn được nữa! Trong rất nhiều bài thơ của Kiên Giang, mỗi khi nhắc về ông, người ta nghĩ ngay đến hai tuyệt tác: Hoa trắng thôi cài trên áo tím và Tiền và Lá. Đây là hai chuyện tình buồn, rất buồn, nhưng đẹp và rất đẹp. Người mộ điệu làm sao khỏi thấy lòng tê tái khi đọc những vần thơ:

                        Xe tang đã khuất nẻo đời
                        Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
                        Từ đây tóc rũ khăn sô
                        Em cài hoa trắng lên mồ người xưa

                        (Hoa Trắng thôi cài trên áo tím)

            Hay như:

                        Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
                        Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
                        Tiền không là lá em ơi!
                        Tiền là giấy bạc của đời in ra.
                        Người ta giấy bạc đầy nhà,
                        Cho nên mới được gọi là chồng em.

                        (Tiền và lá)

            Cả hai bài thơ này đều đã được phổ nhạc và được nhiều thế hệ ca sỹ thể hiện. Riêng về cổ nhạc, hai bài thơ cũng đã được chuyển lời vọng cổ và được nhiều người yêu mến.

Soạn giả cải lương: Thơ trong nhạc, nhạc trong thơ
            Bên cạnh sự nghiệp thi ca, Kiên Giang còn là một soạn giả lừng danh một thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều – Hoa Phượng, Quy Sắc. Đặc biệt, hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng được xem là đệ tử của ông.
            Cũng giống như các soạn giả khác, những vở cải lương của Kiên Giang thường là những chuyện tình buồn. Thế nhưng, nét đặc sắc của Kiên Giang đó là, lời văn trong các vở tuồng lúc nào cũng đơn giản, mộc mạc, gần gũi với bà con Nam Bộ. Một điều đặc biệt hơn cả, mà mỗi khi người ta nghe là biết ngay tuồng tích của Kiên Giang, đó là: lời văn chân phương mộc mạc nhưng thấm đẫm chất thơ, những chuyện tình buồn gần gũi với đời thường nhưng lại rất thi vị.
            Trong nhiều vở tuồng thành công của Kiên Giang, nổi tiếng nhất là hai vở Người vợ không bao giờ cưới và Áo cưới trước cổng chùa. Người vợ không bao giờ cưới hay còn được gọi là Sơn nữ Phà Ca, là câu chuyện tình của một công tử miền xuôi tên là Mộng Long cùng với cô sơn nữ kiều diễm Phà Ca. Chàng trai miền xuôi trong một chuyến đi săn đã gặp gỡ và phải lòng cô sơn nữ.
            Thế nhưng, do sự phân chia giai cấp và những mưu tính lợi danh mẹ cha, mà hai người không được trọn chữ đá vàng. Phà Ca nuốt lệ vào lòng để nhìn người yêu đi cưới cô vợ giàu sang. Người mộ điệu vẫn còn thấy lâng lâng với những câu thơ khi hai người hội ngộ:

                        Đói lòng ăn nửa trái sim,
                        Uống lưng bát nước đi tìm người thương.


            Hoặc còn nghe văng vẳng đâu đây lời than xé lòng của Phà Ca khi Mộng Long đi lấy vợ:

                        Ngày mai đám cưới người ta,
                        Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn.


            Trái sim là một loại trái rừng, có vị ngọt nhưng hơi chát. Ăn Sim xong là phải uống nước ngay để tránh bị nghẹn. Một điều bình thường và bình dị như thế mà khi đã vào tay Kiên Giang rồi nó trở nên lung linh quá, nên thơ quá, đẹp đẻ quá.
            Còn những câu than thở của cô sơn nữ khi người yêu lấy chồng cũng vậy, nó quê mùa lắm, nhưng đã trở nên thi vị và diễm tình qua ngòi bút của Kiên Giang. Mấy mươi năm trước, lời ngâm này đã làm đau xé không biết bao nhiêu con tim người mộ điệu qua giọng ca bi ai của Sầu Nữ Út Bạch Lan. Đây là một vai diễn để đời của Út Bạch Lan, đến mức mà người mê cải lương vẫn thường hay gọi cô là Sơn Nữ Phà Ca. Vai diễn Phà Ca cũng là một vai để đời của Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Vai diễn này đã giúp cho Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958, mở đầu cho một sự nghiệp chói lọi sau này.
            Vở tuồng đã ra đời trên nửa thế kỷ, thế mà sức sống hiện tại vẫn còn mạnh. Bà con mê cải lương Nam Bộ, dù già dù trẻ, hầu như ai cũng biết đến Sơn Nữ Phà Ca. Mấy mươi năm nay, mỗi lần cầm cây đờn ghi ta phím lõm lên, là ông cụ nhà tôi tay đờn miệng cứ ca một khúc Sương Chiều trong Sơn Nữ Phà Ca: “Mộng Long ơi anh có thấy chăng đóa hoa rừng, nở giữa đồi sim…”
            Áo cưới trước cổng chùa cũng là một tuyệt tác đậm chất thơ của Kiên Giang. Vở tuồng này ông viết về một ngôi chùa ở quê hương Kiên Giang của ông, đó là chùa Phù Dung. Bên cạnh ngôi chùa hiện vẫn còn ngôi mộ của một người phụ nữ tên là Dì Tự, người được cho là thứ thiếp của tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích. Soạn giả Kiên Giang đã dựa vào một giai thoại về người phụ nữ này để viết vở cải lương Áo cưới trước cổng chùa.
            Nội dung vở tuồng Áo cưới trước cổng chùa kể về mối tình thơ mộng của cô gái miền biển Kiên Giang tên là Xuân Tự với anh thanh niên cùng xóm tên gọi Tô Châu. Cha của hai người là tri kỷ của nhau, nên đã chỉ phúc giao hôn cho Xuân Tự và Tô Châu từ nhỏ.
            Cha của Xuân Tự mất sớm, cha của Tô Châu là Hải Lâm cố gắng lo liệu đám cưới cho hai người để trọn lời hứa với người đã khuất. Thế nhưng, số trời xui khiến, Xuân Tự được tổng trấn yêu thương. Rồi sau đó bao giông bão cuộc đời ập đến, Xuân Tự trở nên tật nguyền và phải giấu mẹ đi tu tại chùa Phù Dung.
            Xuân Tự có một người chị nuôi cùng lớn lên từ nhỏ là Phương Thành. Do Xuân Tự đã quy y, nên mọi người mới bàn nhau gạt mẹ của Xuân Tự mà đem Phương Thành thay thế Xuân Tự để tổ chức đám cưới đúng ngày hai bên đã dự kiến, vừa để an ủi vong linh người quá cố, vừa để có người chăm sóc cho mẹ của Xuân Tự vốn bị mù lòa và đau yếu.
            Màn cuối là màn hay nhất của vở tuồng này. Ngày đó, Xuân Tự tay nương gậy trúc từ chùa trở về nhà dự đám cưới chị, và mang cho chị chiếc áo cưới màu xanh nước biển mà cô đã chuẩn bị từ lâu cho đám cưới của mình. Tuy nhiên với linh cảm của một người mẹ, cuối cùng mẹ của Xuân Tự đã phát hiện ra sự thật. Mẹ con ôm nhau mà nứt nở. Đám cưới cuối cùng cũng diễn ra, Xuân Tự lạy từ biệt mẹ già trở lại chùa Phù Dung tiếp tục đời kinh kệ.
            Thật đúng là “Áo cưới trước cổng chùa”. Ta thấy chỉ cái tên tuồng cũng đã rất thi vị và đầy hình ảnh. Lời văn trong vở tuồng thì cũng rất nên thơ và mộc mạc theo kiểu Kiên Giang. Người mộ điệu vẫn còn nhớ như in câu ngâm của chị em Xuân Tự khi lên chùa:

                        Tay bưng quả nếp lên chùa,
                        Thắp hương lễ phật xin bùa cầu duyên.


            Hai câu thơ này phổ biến đến mức mà có người còn lầm tưởng là ca dao. Hay như hai câu ca trong màn kết Xuân Tự nói với mẹ già, cũng thấm đẫm nước mắt và nhưng đầy ý thơ:

                        Mẹ tin con đã vu quy,
                        Dẫu rằng Xuân Tự quy y lâu rồi.


            Xuân Tự là một trong những vai diễn ấn tượng của Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Lệ Thủy cũng tỏa sáng với vai Xuân Tự tại đoàn 2-84. Ngoài ra, vở tuồng này còn góp phần làm tỏa sáng nhiều tên tuổi khác: Tô Kim Hồng (vai Phương Thành), Lương Tuấn (vai Tô Châu), Diệp Lang (vai Hải Lâm), đặc biệt là nữ nghệ sĩ Thanh Nguyệt đã xuất thần với vai diễn mẹ của Xuân Tự.

Những bài vọng cổ lai láng tình thơ
            Ngoài cải lương, Kiên Giang còn nổi tiếng với nhiều bài vọng cổ đặc sắc, có thể kể ra: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây…
            Ta thấy những bài vọng cổ của Kiên Giang hầu hết lấy cẩm hứng từ cuộc sống nông thôn Nam Bộ. Tuy nhiên, lời văn thì hoàn toàn bình dị mà không quê mùa, người nghe cảm nhận được ở tác giả có một sự trau chốt ngôn từ rất cẩn thận. Tuy nhiên, do cái chất Nam Bộ đã thấm vào máu của Kiên Giang, nên lời vọng cổ của ông càng chọn lọc thì càng lộ rõ chất Nam Bộ. Và do cái chất thi vị đã thấm sâu trong tâm hồn Kiên Giang, nên lời vọng cổ của ông rất nên thơ, rất trữ tình.
            Hai bài vọng cổ được nhiều người biết đến nhất của Kiên Giang, đó là bài Trái Gùi Bến Cát và Tiền Và Lá.
            Bài Trái Gùi Bến Cát được ông viết từ một câu chuyện có thật của một người phụ nữ ở Lái Thiêu. Người phụ nữ này đi Lộc Ninh (Bình Phước) mua bán để nuôi con nhỏ và người chồng đang ốm đau. Ngày nào cũng vậy, sáng tinh mơ cô đón xe lửa lên đường đi buôn bán, tối mịt cũng trở về bằng xe lửa.
            Mỗi bận như vậy, cô thường mua mang về cho đứa con nhỏ thứ trái cây mà đứa con yêu thích: trái gùi ở Bến Cát Bình Bương. Thế nhưng, một hôm nọ, sau khi bán xong, do đói khát, cô vừa mua xong xâu gùi chín cho con, khi đón xe lửa trở về, cô bị trượt chân té xuống đường ray và bị xe lửa cán qua mà trên tay vẫn còn nắm chặt xâu gùi. Bài vọng cổ mở đầu bằng một lối vè rất dân dã Nam Bộ:

                        Nghe vẻ nghe ve, ai về Bến Cát
                        Nghe con trẻ hát: Sài Gòn, Lộc Ninh;
                        Tang tính, tang tình, trái gùi Bến Cát…


            Tiếp theo đó là bốn câu thơ cũng rất dân dã:

                        Mẹ đi chợ chớ ở lâu,
                        Bận về mẹ nhớ mua xâu trái gùi.
                        Con chờ xe lửa kéo còi,
                        Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi.


            Thật sự không còn có thể Nam Bộ hơn được nữa. Chưa hết, sau khi vợ mất, người chồng sống trong cảnh nhớ nhung triền miên. Đây là nỗi niềm của người chồng được Kiên Giang mô tả ở câu vọng cổ số 5:

                        Bao chiều tàu lại tàu qua,
                        Khói tàu vơ vẩn xót xa tiếng còi.
                        Khi nhìn khói quyện mây trời,
                        Ngỡ người vợ cũ về nơi chân thềm.


            Người nghe cảm nhận được ở đây một nỗi buồn tê tái nhưng là một nỗi buồn rất thi ca. Nghệ sĩ Minh Cảnh được xem là người thể hiện thành công nhất bài vọng cổ này. Trong sáng tác của Kiên Giang, từ thơ tới vọng cổ, ta thấy mẹ là chủ đề xuyên suốt. Hình ảnh người mẹ được ông nâng niu, trân quý. Khách thơ làm sao quên được những vần thơ về mẹ rất đặc sắc của Kiên Giang:

                        Chày khuya làm mỏi canh sương
                        Nện từng nhịp mạnh mở đường chữ thơm

                        (Cối khuya)

            Hay như:

                        Mẹ rắc hoàng hôn theo gạo trắng
                        Cám bay phương phất quyện hương cau
                        Nghiêng nghiêng bóng xế sau lưng Mẹ
                        Gạo trắng như màu tóc trắng phau

                        (Sàn gạo)

            Kiên Giang đã đưa thành công hình ảnh người mẹ trong những bài thơ của ông vào những bài vọng cổ do ông sáng tác, để có được những lời vọng cổ và những hình ảnh đẹp và đầy chất thơ ca, như bài Trái Gùi Bến Cát bên trên rõ ràng là một tuyệt tác về mẹ của Kiên Giang.
            Về tình yêu đôi lứa, Kiên Giang cũng có một tuyệt phẩm để đời, đó là bài Tiền Và Lá. Bài này ông phát triển từ bài thơ cùng tên của chính ông. Nội dung bài ca kể về một chuyện tình buồn của một đôi trai gái cùng lớn lên từ thuở ấu thơ: Hồi bé thơ, anh hay rủ em ra cất nhà chòi bên bờ giếng, anh lấy đất nắn tượng người để bán, em nhặt lá vàng rơi làm tiền để mua tượng. Khi lớn lên, em mới phát hiện ra rằng, tiền không phải là lá, và thế là ngày xưa em dùng lá để mua tượng hình nhân do anh nắn, còn bây giờ em đã bị người ta dùng tiền thật mua đi mất rồi.
            Chúng ta thấy, đó một chuyện tình buồn, nhưng đã được Kiên Giang thi vị hóa với những hình ảnh so sánh rất đỗi gần gũi đời thường mà lại rất nên thơ. Bài thơ đã hay, mà khi Kiên Giang viết thành vọng cổ lại càng hay. Bài thơ viết theo thể lục bát, với lời lẽ bình dị và chân quê. Có lúc người ta còn tưởng bài thơ Tiền Và Lá là của nhà thơ chân quê Bắc Bộ Nguyễn Bính. Nhưng rõ ràng, xem lại lời lẽ trong bài thơ, ta thấy rằng, nếu không phải một người sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, không lấy Nam Bộ làm cái chất trong tâm hồn và tính cách, thì không thể có được những lời thơ “rặc ròng” Nam Bộ như vậy được.
            Trở lại bài vọng cổ Tiền Và Lá, Kiên Giang đã khéo léo đưa được chất thơ vào trong bài vọng cổ. Và khi nghe, người mộ điệu có lúc thả hồn phiêu lãng để không còn biết là mình đang lạc vào thế giới của thi ca hay những cung bậc bổng trầm của bài vọng cổ. Chẳng hạn như Kiên Giang đã khéo léo đưa trọn vẹn 6 câu lục bát trong bài thơ vào bài vọng cổ, khiến người mê vọng cổ rất thích thú:

                        Tiền không là lá em ơi!
                        Tiền là giấy bạc của đời in ra.
                        Người ta giấy bạc đầy nhà,
                        Cho nên mới được gọi là chồng em.
                        Nhớ em những buổi chiều hôm,
                        Anh gom lá đốt khói lên tận trời.


            Kiên Giang hiện tại tuổi đã ngoại bát tuần. Những bài thơ, những vở cải lương hay những bài vọng cổ của ông vẫn có sức hút mạnh mẽ đối với các thế hệ người mộ điệu. Đến hiện tại, người mê thơ vẫn còn ngậm ngùi với Hoa trắng thôi cài trên áo tím, với Tiền Và Lá, người mê vọng cổ-cải lương vẫn còn xao xuyến với Sơn nữ Phà Ca, Chiếc Áo Trước Cổng Chùa, với Trái Gùi Bến Cát, với Tiền và Lá, hay với nhiều bài khác nữa.

Sáng tác đừng xa rời thực tế
            Dù nói về thơ ca hay vọng cổ-cải lương, thì lối sáng tác của Kiên Giang vẫn mang đậm chất bình dị, gần gũi và rất nên thơ. Đặc biệt, tinh hoa của Kiên Giang tập trung ở cái chất thuần Nam Bộ của ông. Có người còn so sánh: Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê Bắc Bộ còn Kiên Giang là nhà thơ chân quê Nam Bộ. Và Kiên Giang đã đưa được cái chân quê Nam Bộ này vào những tác phẩm của ông để tạo được nét đặc sắc riêng.
            Nói về vọng cổ-cải lương, ta thấy rằng nét đặc sắc của Kiên Giang thể hiện ở hai điểm: bình dị và thi vị. Ông đã vận dụng cái chất nông thôn Nam Bộ, vốn là bản chất của ông, để sáng tác, bởi thế lời văn rất bình dị. Ông đã chuyển tải thành công cái thi vị của cuộc đời, vốn đã ăn sâu trong tâm hồn của một nhà thơ như ông, để viết nên những lời ca đầy thi vị. Và chính cái bình dị đã khiến cho bài ca của ông trở nên gần gũi, chính cái chất thi ca đã khiến cho các tác phẩm vọng cổ-cải lương của ông trở nên đẹp và thơ mộng, làm say lòng người mộ điệu.
            Nhìn lại lịch sử cải lương 100 năm qua, có thể nói rằng, Kiên Giang là soạn giả điển hình cho lối sáng tác “thơ trong nhạc, nhạc trong thơ”. Lối sáng tác của Kiên Giang là một tấm gương sáng cho thế hệ soạn giả cải lương hiện tại. Bởi dù muốn dù không cũng phải thừa nhận rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho cải lương mất đi sức hấp dẫn, đó chính là các bài vọng cổ và những vở cải lương được sáng tác ngày nay hình như thiếu chút thi vị, và thường có lời văn quá bóng bẩy văn chương, mà lại còn đề cập đến những chủ đề quá xa vời đối với người mê cải lương vùng sông nước Nam Bộ.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130817-kien-giang-loi-viet-cai-luong-mang-dam-chat-tho

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 28/06/2017, 15:32:46
Bạch Huệ: Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là: cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm: Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ.

(http://nld.vcmedia.vn/yCCSzolwQcB25C5MUbls6UgOp7GpNI/Image/2013/09/bachhue75c96_8dd92.gif)
Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ

TRẢI QUA thời gian trên dưới một thế kỷ, trong làng Đờn ca tài tử đã xuất hiện nhiều “tay ca” cự phách. Và một trong những tay ca thuộc hàng cự phách nhất đó là nữ danh ca Bạch Huệ, người đã “ca tài tử” cho đến ngày nhắm mắt.

Con nhà tông…
            Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ sinh năm 1933 tại Cần Thơ. Cha cô là thầy đờn Sáu Tửng, một tay đờn kìm quán tuyệt, một danh cầm lừng lẫy thuộc hàng tiền bối của Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá (Ba người được mệnh danh là Tam Hùng trong làng đờn cổ nhạc hồi trước). Danh cầm Sáu Tửng, ngoài nổi tiếng trong lĩnh vực Đờn ca tài tử, còn tham gia đờn cho nhiều đoàn hát cải lương chuyên nghiệp. Bạch Huệ có một người anh trai là nhạc sĩ nổi tiếng Huỳnh Anh, tác giả của bài tân nhạc trứ danh Mưa Rừng (viết riêng cho Thanh Nga và đến hiện tại vẫn còn được nhiều người yêu thích).
            Từ nhỏ, Bạch Huệ đã sống trong cái không khí Đờn ca tài tử của vùng đất Cần Thơ. Tiếng Đờn, lời ca câu hát tài tử đã thấm vào tâm hồn của cô lúc nào không hay biết. Để rồi, dù thân phụ không cho, nhưng Bạch Huệ vẫn lén học ca tài tử. Đến năm 13 tuổi, Bạch Huệ đã được mời ca trên đài phát thanh Pháp Á ở Sài Gòn. Bạch Huệ ca đã có tiếng nhưng cha cô lại chưa hay biết. Đến năm Bạch Huệ 18 tuổi, khi danh cầm Sáu Tửng phát hiện con gái là một tay ca tài tử điệu nghệ thì chuyện đã rồi. Và ông phải chấp nhận cái cảnh: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.
            Tiếng tăm Bạch Huệ trở nên vang dội khi mà vào năm 1951, tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc – người chủ xướng giải Thanh Tâm, cho trưng cầu ý kiến độc giả, thì Bạch Huệ đoạt danh hiệu “Nữ đệ nhất danh ca”. Sau đó, nhiều đoàn hát đã mời Bạch Huệ cộng tác. Thế nhưng, có lẽ tổ nghiệp đã muốn cho “hai loài hoa trắng” trấn giữ mỗi người một lĩnh vực, nên mới cố tình sắp đặt cho “Hoa lan trắng” (Út Bạch Lan) “trấn” bên cánh nữ của cải lương, còn “Hoa huệ trắng” (Bạch Huệ) trấn bên cánh nữ của Đờn ca tài tử. Và có lẽ vì thế, sau khi tham gia một số đoàn hát cải lương chuyên nghiệp, Bạch Huệ đã không thu được thành công như khi còn ở bên Đờn ca tài tử. Cuối cùng, Bạch Huệ trở lại với lĩnh vực Đờn ca tài tử và hầu như đã “ngự trị” lĩnh vực này đến cuối đời.
            Mấy thập niên qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, sân khấu cải lương chuyên nghiệp đã dần mất khán giả. Thế hệ khán giả lớn tuổi đôi khi cũng không còn mặn mà với cải lương. Và dĩ nhiên, lượng khán giả trẻ đến với cải lương là rất ít. Đờn ca tài tử là bộ môn “xưa” hơn cải lương nên thu hút càng ít người trẻ tuổi.
            Thế nhưng, có một điều đặc biệt đối với Bạch Huệ, đó là giọng ca của cô lại được nhiều bạn trẻ biết đến và yêu thích. Từ năm 2008, Bạch Huệ bị tai nạn giao thông phải ngồi xe lăn, thế nhưng, người ta vẫn thấy cô xuất hiện ở hầu hết các chương trình Đờn ca tài tử từ Sài Gòn đến các tỉnh.
            Thời gian gần đây, người ta vẫn còn thấy một bà lão tóc bạc ngồi xe lăn ca trên sân khấu của một phòng trà có tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Mọi người cũng được chứng kiến một hình ảnh đáng ngạc nhiên: mấy chục sinh viên trẻ tuổi ngồi nghe say mê bài Dạ cổ hoài lang được thể hiện bởi một bà lão liệt hai chân phải bám hai tay vào thân cột nhà để ca. Bà lão tóc bạc phơ đó chính là nữ danh ca tài tử Bạch Huệ.

Từ Đờn ca tài tử đến Cải lương
            Bạch Huệ “chuyên trị” Đờn ca tài tử, chứ không phải là nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp. Đờn ca tài tử khác biệt với cải lương như thế nào? Đờn ca tài tử có phải là “quê mùa” như người ta thường nghĩ? Đờn ca tài tử có “dễ chơi” không? Xin lướt qua đôi chút về những vấn đề này để hiểu thêm và trân trọng hơn nữa “cái nghề” mà danh ca Bạch Huệ đã gắn bó suốt 70 năm.
            Tản mạn từ các tài liệu ghi chép có liên quan, có thể khái quát về tài tử và cải lương như sau: Người dân đồng bằng Nam Bộ từ bao lâu nay có một thú vui rất văn học, đó là hò đối đáp: Hò trên đồng ruộng khi gieo mạ hay cắt lúa, hò trên sông khi chèo thuyền, hò đêm trăng trong dịp lễ cúng đình…
            Từ đó mà bao câu hò điệu lý đã ra đời. Đương nhiên, cái hò không phải là do bà con Nam Bộ sáng tạo ra, mà là do ông cha ta đã du nhập vào Nam trong quá trình “Nam tiến”. Thế nhưng, những câu hò điệu lý của bà con Nam Bộ có cái rất riêng, và phải là giọng “rặc” miền Nam thì hò nghe mới hay.
            Đến cuối thế kỷ XIX, Nhã Nhạc Cung Đình Huế bắt đầu tiến xuống phương Nam và đương nhiên là được văn hóa Nam Bộ dung hợp như bản chất vốn có của nền văn hóa này. Sự hội ngộ giữa hai nền âm nhạc đã cho ra đời cái gọi là “Đờn ca tài tử”. Bà con nông dân Nam Bộ khi rảnh rỗi, hay nhân dịp trăng rằm, hẹn nhau tập trung lại một nhà, ngồi ngoài sân, cùng “ăn nhậu”, cùng ca hát. “Ăn nhậu” ở đây không mang nghĩa “rượu chè be bét”, mà là: mượn men rượu làm thắm men tình, làm nồng câu ca tiếng hát. Dần dần, người ta ngồi ca hoài cũng chán, trong khi có những bài ca mới khá dài, có chứa đựng những hành động hay những lời đối đáp. Thế là, người ca tài tử mới bắt đầu đứng dậy “ca” với những “cử chỉ” tay, mắt, mặt… để bổ trợ cho lời ca. Đương nhiên, những cử chỉ điệu bộ này hết sức “thô sơ”, thể hiện đúng như “rập khuôn” cái tình cảm mà bài ca muốn nói. Tức đúng với bản chất chân quê của người nông dân: nghĩ sao nói vậy. Đó là cách ca mà các nhà nghiên cứu sau này gọi là “Ca ra bộ”.
            Trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, người Việt Nam đã biết đến kịch nghệ của Pháp. Kịch cổ điển của Pháp được biểu diễn trên sân khấu, mỗi vở diễn thường được chia ra thành 5 màn, xoay quanh một cốt truyện nào đó. Loại hình này cũng đã ảnh hưởng đến những người ca tài tử Nam Bộ.
            Bởi có người nghĩ: Tại sao chỉ viết những bài ca vắn mà không viết thành hẳn một tuồng cùng một cốt truyện nhưng có nhiều tình tiết và đưa lên sân khấu biểu diễn. Trong ý tưởng đó, “Cải lương” đã ra đời.
            Như vậy, Cải lương nói một cách nôm na là Ca ra bộ được đưa lên trình diễn trên sân khấu. Thế nhưng, đã lên sân khấu hát nguyên tuồng thì phải “diễn xuất”. Tức là, người nghệ sĩ trên sân khấu lấy lời “ca” để bổ trợ cho động tác “diễn”. Người ta đến “xem” nghệ sĩ biểu diễn, còn người nghệ sĩ thì “hát” cho người ta “xem”. Bởi vậy mà, thường nghe ông bà ta nói là “hát cải lương”, nhưng lại là “Ca tài tử”. Bởi vì, trong Đờn ca tài tử, thì động tác “ca” là chính mà “ra bộ-diễn” là phụ.
            Và khi một nghệ sĩ cải lương và một người ca tài tử thể hiện cùng một bài ca, thì qua động tác thể hiện, người ta có thể phân biệt được đâu là dân cải lương mà đâu là dân tài tử: động tác của tài tử thì “thô sơ”, có sao làm vậy, còn động tác của nghệ sỹ cải lương thì có ít nhiều ước lệ trong đó, nên nó được thể hiện đúng mức và đẹp mắt, mang tính chuyên nghiệp.
            Vì cái trọng tâm là biểu diễn, cho nên người nghệ sĩ cải lương không phải bận tâm học đầy đủ bài bản tổ, mà thường chỉ học ca cái gì cần thiết cho vai tuồng mà thôi. Ví dụ như bản Phụng Hoàng 12 câu, trong vai tuồng soạn giả chỉ viết có 4 câu, thì người nghệ sĩ đóng vai tuồng đó chỉ tập trung học ca bốn câu đó mà thôi.
            Phụng Hoàng là bài bản khá quen thuộc nằm trong 20 bài bản tổ, nên dĩ nhiên nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp đều biết ca hết 12 câu, thế nhưng không phải ai cũng làu thông 20 bài bản tổ. “Làu thông” ở đây tức là hiểu rõ nhịp nhàng và ca đúng nhịp từ đầu đến cuối tất cả 20 mươi bài bản tổ.
            Chưa hết, mỗi bài bản đều thể hiện một tâm trạng cụ thể. Có bài bản thể hiện sự bi ai tột cùng, có bài bản thể hiện sự đau khổ vừa phải, có bài bản thể hiện sự bi hùng, có bài bản thể hiện sự tươi vui rộn rã… Trong từng bài bản, người ca phải làm sao sử dụng giọng ca thể hiện được tâm trạng cần thiết (đúng “cái thần” của bài bản) và đương nhiên cũng phải đúng nhịp nhàng.
            Đây là một yêu cầu rất khó mà nếu không phải nghệ sỹ cải lương bậc thầy thì khó lòng đạt đến được. Bởi vậy, nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, nhất là trong giai đoạn ngày nay, chỉ đạt được một điều là ca đúng nhịp thôi chứ chưa đạt đến mức thể hiện được “cái thần” của bài bản. Trong khi đó, như đã nói, dân ca tài tử “đúng điệu” là phải đặt trọng tâm cho việc “ca”, vì thế họ tập trung thể hiện được “cái thần” của bản ca.
            Như vậy, dù sinh ra và trưởng thành từ nơi thôn dã, nhưng Đờn ca tài tử thật sự là một nghệ thuật mang tính hàn lâm. Tức là, không phải khi ca tài tử là muốn ca thế nào thì ca, mà rất có khuôn phép, bài bản. Người ca phải ca làm sao cho đúng nhịp, đúng dây đờn. Hơn thế nữa, người ca phải hiểu được nét tinh túy của các bài bản tài tử, đó là: mỗi bài bản tài tử đều có ý thể hiện một tâm trạng cụ thể, đó là “cái thần” của Đờn ca tài tử.
            Người ca tài tử được xem là “đúng điệu” không chỉ biết ca đúng nhịp, mà còn phải biết sử dụng giọng ca để thể hiện đúng tâm trạng, đúng “cái thần” mà bài bản đòi hỏi. Nói cách khác là thể hiện tất cả những cung bậc tình cảm bằng giọng hát. Một nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp chưa chắc gì có nhịp nhàng và cách ca “chuẩn” như dân ca tài tử “đúng điệu”. Trên có sở đó, có thể nói rằng, người ca tài tử là những nghệ sĩ nhà nghề “chuyên trị” về “ca”. Đương nhiên, ở đây chỉ nói đến những dân ca tài tử “đúng điệu”, tức là những bậc thầy trong Đờn ca tài tử, chứ không nói đến Đờn ca tài tử đại trà trong quần chúng.
            Có người cho rằng, chữ “tài tử” trong Đờn ca tài tử có nghĩa là “dân chơi không chuyên nghiệp”. Thế nhưng, qua những điều phân tích bên trên, ta thấy không thể hiểu như vậy. Còn nhớ cụ Trần Văn Khê thường nói, chữ “tài tử” phải mang ý nghĩa của câu “Dặp dìu tài tử giai nhân” như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.
            Người ca tài tử là những bậc tài hoa, yêu thích môn nghệ thuật đờn ca Nam Bộ này, nhưng không phải lấy đó làm nghề để sinh nhai, mà lấy đó là một đam mê, một thú tiêu khiển không thể thiếu và sẵn sàng sống hết mình với thú tiêu khiển đó. Tức là, người ca tài tử lấy sự ca để nuôi dưỡng tinh thần và cũng biết “chết sống” với nó.
            Có lẽ đó cũng là lý do mà tại sao danh ca Ngọc Bảo bên tân nhạc suốt đời ông chỉ thích xưng là “Tài tử Ngọc Bảo” chứ không phải là “Ca sĩ Ngọc Bảo” trong khi giọng ca Ngọc Bảo thuộc đẳng cấp bậc thầy trong dòng nhạc của ông.
            Người ca tài tử “đúng điệu” không lấy tài tử làm kế sinh nhai còn có trình độ ca như vậy, thì huống gì là người lấy ca tài tử làm nghề, tức là ca tài tử chuyên nghiệp như Danh ca Bạch Huệ, thì trình độ ca còn “chuẩn” đến dường nào.

(https://cafevannghe.files.wordpress.com/2015/06/9-bach-hue-1.jpg)

Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ
            Bạch Huệ có giọng trong, có pha một chút khàn, là một giọng có thế mạnh để “ca mùi”. Tuy nhiên, điểm đặc trưng nhất trong giọng ca của Bạch Huệ đó là một giọng ca “đầy đặn”. Tiếng ca của Bạch Huệ rất khỏe. Thời gian gần đây, dù ở tuổi 80, Bạch Huệ vẫn ca “đầy đặn” như xưa. Nghe Bạch Huệ ca, người nghe không có cảm giác ráng hơi hay đuối hơi.
            Bạch Huệ ca rất “tròn vành rõ chữ”. Nhiều danh ca tài tử và nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp cũng đạt được tiêu chí tròn vành rõ chữ, thế nhưng điểm đáng lưu ý là có một số người quá lạm dụng kỹ thuật để được tròn vành rõ chữ. Ca mà có kỹ thuật là điều cần thiết, nếu tập luyện đúng mức và áp dụng thỏa đáng kỹ thuật thì giọng ca sẽ trở nên đẳng cấp hơn.
            Thế nhưng, nếu quá lạm dụng kỹ thuật hoặc tập luyện chưa đúng mức thì giọng ca sẽ trở nên “phô”, mất tự nhiên và thiếu hồn. Có những nghệ sĩ bậc thầy vận dụng kỹ thuật một cách thượng thừa vào giọng ca nên đã tạo được nét riêng và giọng ca đã đứng vững trong lòng người mộ điệu mấy chục năm qua. Bạch Huệ xếp trong số các nghệ sĩ thượng thừa này. Bạch Huệ ca tròn vành rõ chữ một cách hết sức tự nhiên và rất có hồn, người nghe không hề nhận ra được yếu tố kỹ thuật trong đó. Nói cách khác, Bạch Huệ đã đưa kỹ thuật vào giọng ca ở mức độ thượng thừa, để cho nó trở nên rất tự nhiên.
            Một điểm thu hút nữa trong giọng ca Bạch Huệ: dù là bậc thầy về ca tài tử chuyên nghiệp, nhưng Bạch Huệ khi ca luôn tỏ ra cố gắng, đầy tâm huyết, gửi hết tâm hồn cho bài ca. Nhờ đó, mà trong tiếng ca mạnh mẽ của Bạch Huệ, người nghe cảm nhận được sự trân trọng của người ca đối với bài ca, cảm nhận được ở đó cả tâm hồn, cả trái tim của người ca. Và chính điều đó đã làm cho giọng ca Bạch Huệ thêm quyến rũ, làm cho người nghe muốn thưởng thức trọn vẹn bài ca.
            Nói về nhịp nhàng, Bạch Huệ là “thợ sắp nhịp”. Tài sắp nhịp của Bạch Huệ thuộc hàng siêu đẳng, thuộc “đẳng cấp Út Trà Ôn”. Bạch Huệ không chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh, mà còn là bậc thầy của việc xử lý nhịp ngay trong lòng bản. Giữ nhịp trong lòng bản cũng là một đặc trưng của dân tài tử bởi nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp khi ca thì thường chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh mà thôi. Nhờ cách sắp nhịp đều cho các chữ, giữ đúng câu trong lòng bản, nên khi Bạch Huệ ca, người nghe luôn có cảm giác “yên tâm” không sợ cô rớt nhịp. Có thể nói, trong trường phái tạo được cảm giác “yên tâm” như vậy cho người nghe, Bạch Huệ là một bậc thầy.
            Mấy chục năm qua, bản vọng cổ được sử dụng phổ biến nhất là vọng cổ nhịp 32, gồm 6 câu. Thế nhưng, dần dần người ta chỉ sử dụng 4 câu để rút ngắn thời gian của bài vọng cổ. Tuy nhiên, vọng cổ thoát thai từ Dạ cổ hoài lang có đủ loại: nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64… Và không có nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, đặc biệt là thế hệ nghệ sĩ trẻ ngày nay, ca được các loại vọng cổ không phải nhịp 32.
            Thế nhưng, Bạch Huệ là người “chuyên trị” tất cả thể loại vọng cổ. Phải nói rằng, mỗi loại vọng cổ có cái hay riêng. Chẳng hạn như vọng cổ nhịp 4 mỗi câu rất ngắn, vì thế người nghe không có cảm giác chờ đợi, bởi vì vừa dứt câu này lại tới ngay câu khác. Đó có phải chăng cũng là một cách giúp người nghe giảm cảm giác “bị chán”?
            Đối với những bài bản không phải vọng cổ, thì ngoài 20 bài bản tổ còn có vô số bài bản tài tử khác. Gần 3/4 thế kỷ theo nghiệp ca tài tử, Bạch Huệ làm cho nhiều nghệ nhân ca tài tử và ngay cả nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp “kính nể”, vì cô ca sành điệu rất nhiều bài bản. Xin nhắc lại ca sành điệu ở đây tức là Bạch Huệ không chỉ ca đúng nhịp mà còn ca đúng “cái thần” của các bài bản. Điều đáng nói là nghe Bạch Huệ ca bất kỳ bài bản nào, người muốn học ca cảm thấy rất dễ theo dõi nhịp nhàng và có cảm giác dễ làm theo. Có lẽ vì thế mà Bạch Huệ đã là thầy dạy rất thành công của rất nhiều thế hệ học trò trong bộ môn Đờn ca tài tử.
            Một điểm nổi bật nữa ở Bạch Huệ, mà chính điểm nổi bật này đã đưa Bạch Huệ lên một đẳng cấp khó có người bì kịp. Trong nhiều sự khác biệt giữa cải lương và tài tử, nổi bật nhất đó là cách ca. Nghệ sĩ cải lương thường có cách ca “mướt” hơn dân tài tử, tức là nghệ sĩ cải lương có khuynh hướng ca “uốn éo, bay lượn, điểm tô” giọng ca, còn dân tài tử thì giữ giọng ca theo lối “chân phương” không “hoa lá”.
            Cái tính chân phương thuần túy này được thể hiện rất rõ trong cách ca tài tử theo kiểu xưa. Và một trong những cái dễ nhận biết nhất đối với dân tài tử là họ hay ca theo lối “hơ hơ”. Như Danh ca Tám Thưa, Cô Tư Sạng, Cô Năm Cần Thơ, Cô Ba Bến Tre, Chín Hòa, Tư Bé, Năm Phồi… những tay ca tài tử cự phách của miền Nam trước kia. Khi nghe những bậc tiền bối này ca, người nghe sẽ nhận ra ngay đó là ca theo lối tài tử kiểu xưa qua cách họ ca rất chân phương, lối hơ hơ rất đặc trưng của tài tử.
            Thế nhưng, theo thời gian, Đờn ca tài tử cũng phải dần thay đổi. Cái lối ca tài tử theo kiểu xưa vì thế cũng dần được các thế hệ sau cách tân. Bạch Huệ gắn bó với Đờn ca tài tử từ những ngày lối ca tài tử theo kiểu xưa còn được yêu mến đến khi nó dần được thay đổi để phù hợp với thời đại. Giọng ca Bạch Huệ là một minh chứng rõ nét nhất cho sự cách tân này. Ta thấy rằng, ca mà chỉ có “chân phương” thì có lẽ hợp với đời xưa hơn, và chọn lọc người nghe hơn, còn nếu như ca mà uốn éo, lạng bẻ quá mức thì cũng làm mất cái thần của tài tử. Bởi vì nên nhớ rằng, ca tài tử rất trọng cái “chân phương”. Chỉ có điều ca tài tử theo lối xưa quá thiên về tính chân phương, còn nhiều nghệ sĩ cải lương, nhất là thế hệ ngày nay, thì lại lạm dụng cái “hoa lá”.
            Bạch Huệ đã biết chan hòa đúng mức cái “chân phương” và “hoa lá” trong giọng ca. Và đương nhiên, Bạch Huệ ca “chân phương” nhiều hơn “hoa lá”, nhưng cô đã biết đưa cái “hoa lá” một lượng vừa đủ để cho giọng ca mượt mà hơn, “thời đại” hơn. Tức là, khi nghe Bạch Huệ ca, người nghe cảm nhận được đó là ca theo lối tài tử nhưng vẫn có sự mượt mà vừa phải. Bởi thế mà giọng ca Bạch Huệ giữ được nét chân phương của tài tử xưa nhưng cũng có nét “thời đại”, vì thế mà thu hút được người mộ điệu cả bên tài tử lẫn cải lương.
            Nếu Danh ca Minh Chí nổi tiếng là “Vua” ca bài Xàng Xê, thì Bạch Huệ cũng nổi tiếng là người ca tuyệt vời hơi Oán. Hồi đầu những thập niên 1990, khi phong trào Đờn ca tài tử bắt đầu được phục hồi, Bạch Huệ, Công Thành và Tấn Đạt đã tạo ra một “tam tuyệt” trong bài “Bùi Kiệm-Nguyệt Nga” theo điệu Tứ Đại Oán trong đó Bạch Huệ vai Nguyệt Nga, Tấn Đạt vai Bùi Kiệm và Công Thành vai Bùi Ông. Ba người ca bài này theo lối tài tử Nam Bộ một cách xuất thần: Chững chạc trong giọng ca, chuẩn mực trong nhịp nhàng, chuẩn xác trong việc thể hiện cái thần của bài Tứ Đại Oán.
            Có một điểm đặc biệt nữa mà không thể nào không nhắc đến khi bàn về tài ca của Bạch Huệ, đó là: Bạch Huệ có thể được xem là người ca hay nhất bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ Cao Văn Lầu. Đây là bài ca ra đời trong bối cảnh nông thôn Nam Bộ, nói lên nỗi lòng của người vợ quê mùa đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng ngoài biên ải (Dạ cổ hoài lang tức là: Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng).
            Nếu vọng cổ là bài bản “vua” của cả hai bên tài tử và cải lương, thì Dạ cổ hoài lang là bài bản tổ của bản vọng cổ. Trong bài Dạ cổ hoài lang mang tính chân phương, nhưng cũng có chút hoa lá lãng mạn. Bởi vậy mà ca bài này chân phương quá thì “khô” mà hoa lá quá thì “ướt”. Và giọng ca Bạch Huệ hoàn toàn phù hợp với bài Dạ Cổ Hoài Lang.
            Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được cái không khí xa xưa, cái u buồn man mác của người vợ nhớ chồng. Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được một sự nhớ thương trĩu nặng tâm hồn của người vợ quê nhà mong chồng ngoài vạn lý. Tuy nhiên, giọng ca Bạch Huệ mang đến một cảm giác không quá bi lụy mà có chút gì đó lãng mạn, một niềm hy vọng sum vầy. Đúng như tâm trạng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu khi viết bài này vì khi đó ông đang trong cảnh xa vợ và mong chờ đoàn tụ. Đến hiện tại, chưa thấy có người nào ca Dạ cổ hoài lang đạt đến trình độ như Bạch Huệ.
            Ngoài việc đóng góp bằng giọng ca, Bạch Huệ mấy chục năm qua còn được biết đến là người góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho Đờn ca tài tử và cải lương. Bạch Huệ được mời dạy ca cho các lớp đào tạo nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp ở Trường Sân Khấu Điện Ảnh TP.HCM. Các tỉnh cũng thi nhau mời Bạch Huệ tham gia các lớp đào tạo ca tài tử. Ngoài ra, Bạch Huệ cũng là một “giám khảo thường trực” của các chương trình giao lưu Đờn ca tài tử ở khắp nơi suốt mấy thập niên qua.
            Trong xã hội Việt Nam hiện tại, ít người trẻ tuổi yêu thích Đờn ca tài tử, mà một trong những nguyên nhân chính đó là do chưa hiểu được tinh hoa của bộ môn nghệ thuật này. Và như Giáo Sư Trần Văn Khê từng nói rằng: Hãy tìm hiểu đi rồi sẽ thấy thích. Bạch Huệ đóng góp bằng cả cuộc đời cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Những năm tuổi trên 70, Bạch Huệ vẫn rày đây mai đó ca tài tử. Bạch Huệ đóng góp rất lớn cho việc quảng bá tinh hoa của Đờn ca tài tử.
            Một điểm đáng quý nữa đó là, các nghệ sĩ cải lương khi nổi tiếng thì kiếm được rất nhiều tiền, chứ còn bên tài tử thì ngược lại. Dù là không kiếm được nhiều tiền, nhưng Bạch Huệ vẫn theo đuổi cái nghiệp Đờn ca tài tử suốt 70 năm với bao nỗi thăng trầm, để khi tuổi vượt hàng “thất thập cổ lai hy”, dù đi ca suốt, nhưng vẫn sống trong cảnh khổ nghèo. Tấm lòng yêu nghề này của Bạch Huệ thật đáng trân trọng.
            Năm 2007, Bạch Huệ được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”. Ngày 12/10/2013, Bạch Huệ đã về với tổ nghiệp. Sự ra đi của cô có thể được xem là sự ra đi của “Cây đại thụ cuối cùng” của làng Đờn ca tài tử Nam Bộ. Gần 3/4 thế kỷ góp phần bảo tồn và phát triển Đờn ca tài tử, với tài năng đó và với đẳng cấp đó, Bạch Huệ xứng đáng được xem là “Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131123-bach-hue-de-nhat-nu-danh-ca-tai-tu-nam-bo

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 30/06/2017, 16:05:46
Minh Cảnh, giọng ca “nhẹ như mây”

Vọng cổ được mệnh danh là “bài bản vua” của sân khấu cải lương. Mà một trong những nguyên nhân chính đó là: để đánh giá giọng ca một nghệ sĩ thì bản vọng cổ luôn được lấy ra làm tiêu chuẩn số một. Và có những nghệ sĩ đã đi vào bất tử nhờ cái tài ca vọng cổ.

(http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/47/53/344/257/344/257/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/minh%20canh%20ha%20my%20xuan%201327271597.nv_.jpg)
Nghệ sĩ cải lương Minh Cảnh và Hà Mỹ Xuân

SAU “vua vọng cổ” Út Trà Ôn, thì một trong những nghệ sĩ tiêu biểu nhất của trường hợp này là nghệ sĩ Minh Cảnh, một cái tên gắn liền với rất nhiều bài vọng cổ, một giọng ca thuộc hàng “vô tiền khoáng hậu”.
             “Em bé đánh giày” là một bài vọng cổ được nhiều người yêu thích. Bài hát này đã gắn liền với tên tuổi của nam nghệ sĩ Minh Cảnh. Nói “gắn liền” ở đây là muốn nhấn mạnh rằng, từ khi Minh Cảnh thể hiện bài ca này, chưa thấy có giọng ca nào thể hiện ngang bằng được chứ đừng nói chi là vượt hơn tiền bối. Thế nhưng, có mấy người biết rằng, Minh Cảnh đã gửi hồn trọn vẹn vào bài ca này với cảm giác hết sức chân thật bởi nội dung bài ca sao mà giống với cuộc đời Minh Cảnh quá. Không biết có phải soạn giả Viễn Châu đã cố ý lồng cuộc đời của Minh Cảnh vào bài hát này để cho anh thể hiện hay không?

Một bước lên mây nhờ giọng ca
            Cũng giống như hầu hết các nghệ sĩ cải lương thuộc thế hệ vàng, Minh Cảnh xuất thân hàn vi. Minh Cảnh tên thật là Nguyễn Văn Cảnh, sinh năm 1939 tại Sài Gòn. Do gia đình hết sức nghèo khó lại đông anh em, nên cậu bé Nguyễn Văn Cảnh đã phải nghỉ học sớm, và cái tuổi ấu thơ của Cảnh là những ngày tháng sống trên đống rác. Có thể nói như vậy cũng không quá, bởi vì lúc mới lên mười, cậu bé Cảnh đã phải suốt ngày lượm ve chai ở các bãi rác, chiều tối thì đi bán chuối chiên.
            Cũng chính nhờ chuối chiên đã đưa Cảnh đến với Út Trà Ôn. Số là, nơi chiên chuối mà Cảnh nhận về bán lại nằm ở gần sát nhà của Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn. Thế là, Cảnh có dịp được nghe giọng ca của ông. Càng nghe lại thấy càng lấy làm mê lắm, nhưng thuở ấy nào đâu dám mơ đến chuyện trở thành nghệ sĩ.
            Thời gian sau đó Cảnh học ca vọng cổ. Và điều đáng ngạc nhiên nữa là, người thầy đầu tiên dạy ca vọng cổ cho Cảnh lại là một anh thợ hớt tóc. Biết ca vọng cổ và có giọng ca hay còn chưa đủ, mà trong sân khấu cải lương có một điều rất khó giải thích, đó là phải có “duyên” với sân khấu, nếu không dù có ca hay ca giỏi đến đâu thì cũng khó lòng nổi tiếng chứ chưa nói là bị mai một. Thực tế của sân khấu cải lương gần 100 năm qua đã chứng minh được điều đó.
            Cái “duyên” đó đã đến với Cảnh khi mà vào dịp giỗ tổ năm 1960, chàng thanh niên 21 tuổi Nguyễn Văn Cảnh được ông thầy đờn Năm Được giới thiệu vào ca cho ông bầu của đoàn Kim Chung nghe. Sau khi nghe, ông bầu Kim Chung lập tức quyết định ký hợp đồng dài hạn với Cảnh. Kim Chung xưa kia là một đại bang đình đám nhất trong giới cải lương.
            Được về Kim Chung đó là mong ước của không ít nghệ sĩ dù đã nổi tiếng lúc bấy giờ. Thế mà, cái tài ca vọng cổ của Minh Cảnh đã lập tức “lọt vào mắt xanh” của ông bầu Kim Chung để bắt đầu bước lên đỉnh vinh quang. Thực tế đã chứng minh, con mắt nhà nghề của ông bầu Kim Chung quả thật chính xác, bởi vì quyết định tức thì của ông đã mang đến cho sân khấu cải lương một nghệ sĩ Minh Cảnh lừng danh, một anh kép chánh Minh Cảnh có tài ca vọng cổ thuộc hàng “sư phụ”.

Giọng ca “nhẹ như mây”
            Minh Cảnh là một nghệ sĩ ca diễn song toàn. Lối diễn xuất của ông theo kiểu “đơn giản hóa”, tức là những động tác phù hợp một cách rõ ràng với vai diễn, người xem không cần phải đau đầu suy nghĩ mới có thể hiểu được điều mà nhân vật muốn thể hiện.
            Điểm đáng chú ý nhất trong cách diễn của Minh Cảnh mà thế hệ nghệ sĩ cải lương trẻ cần học hỏi, đó là người xem cảm nhận rất rõ ông luôn sống hết mình với nhân vật trên sân khấu. Ngay cả những năm gần đây, khi tuổi đã thuộc hàng thất thập cổ lai hy, khi mà nghề nghiệp ca diễn đã thuộc hàng bậc thầy, nhưng mỗi khi Minh Cảnh lên sân khấu, là người ta luôn thấy ông ca diễn hết mình với nhân vật.
            Tuy nhiên, cái tài ca vọng cổ của Minh Cảnh thần sầu đến mức đã che mờ cái tài diễn xuất của ông, để mỗi khi người mộ điệu cải lương nhắc đến ông là lập tức nghĩ ngay đến một giọng ca và một cách ca vọng cổ thượng thừa.
            Trước Minh Cảnh đã có hai vị cao thủ ca vọng cổ là Út Trà Ôn và Hữu Phước. Út Trà Ôn là bậc thầy của lối ca chân phương đậm chất tài tử, không kiểu cọ. Giọng ca Út Trà Ôn có âm vực rất rộng, có một độ vang lộng khó tả, tạo chất trầm ấm bi hùng. Đặc biệt, Út Trà Ôn là có một bộ nhịp thượng thừa và một lối ca chẻ nhịp độc đáo. Nhịp nhàng vọng cổ thì nghệ sĩ nào cũng rành, nhưng để đạt được lối ca chẻ nhịp và cách xấp chữ điêu luyện như Út Trà Ôn thì quả thật chưa thấy có ai đạt đến được.
            Nói về nam danh ca Hữu Phước, đây là một giọng ca vàng. Dù xuất hiện sau Út Trà Ôn, nhưng Hữu Phước vẫn tạo được chỗ đứng riêng với lối ca điêu luyện bậc thầy. Có người cho rằng, cái khác biệt giữa Hữu Phước và Út Trà Ôn đó là Hữu Phước ca lạng bẻ, hoa lá, mùi mẫn. Thế nhưng, nếu nghe kỹ ta thấy rằng, lối ca của cả hai nghệ sĩ bậc thầy này đều thuộc lối chân phương, chuẩn mực, không lạng bẻ. Nói “không lạng bẻ” ở đây không phải là nói họ ca một cách khô khan thiếu uyển chuyển, mà họ ca rất mẫu mực thể hiện được trọn vẹn tính chân phương – cái hồn của bài vọng cổ. Thử nghe kỹ hai nghệ sĩ bậc thầy này ca, ta thấy họ ca lả lướt, điêu luyện, và đặc biệt họ rất chú ý “vuốt” chữ cho “ngọt”. Cái “lả lướt” ở đây là lả lướt trong chuẩn mực chân phương.
            Nói như vậy không phải giữa họ không có sự khác biệt, bởi nếu không có sự khác biệt thì làm sao có cái tên Hữu Phước như đã có. Thứ nhất, ta thấy giọng Hữu Phước hơi trong hơn giọng Út Trà Ôn, mà nói theo từ trong nghề thì Út Trà Ôn có giọng đồng, còn Hữu Phước có giọng kim pha thổ. Nhờ trong hơn, nên giọng ca Hữu Phước tạo được vẻ “mềm” hơn giọng Út Trà Ôn. Từ đó, Hữu Phước ca có phần “mềm, dịu” hơn Út Trà Ôn, tức là tạo được nét mới hơn, nhưng là cái mới trên nền sự chân phương.
            Đến với Minh Cảnh, giọng ca của ông đã có phần mạo hiểm khi đã dám tạo ra cái khác biệt với hai bậc tiền bối. Có người cho rằng, cái “mới” của Minh Cảnh mang đến cho bài vọng cổ đó là ông đã bắt đầu cho trường phái ca hơi dài (vô vọng cổ một mạch nhiều chữ) và đưa hò Huế vào trong bài vọng cổ. Điều đó cũng đúng, nhưng chưa đủ, bởi đóng góp đặc sắc nhất của Minh Cảnh cho bài vọng cổ đó là ông ca lả lướt, nhấn nhá, lạng bẻ.
            Dù rằng cái hồn của vọng cổ là chân phương, nhưng nếu trên nền của chân phương mà sáng tạo thêm một cách “điệu nghệ”, thì cũng chưa hẳn là không tốt. Và Minh Cảnh đã minh chứng được cái điệu nghệ, bản lĩnh và khả năng sáng tạo trong cách ca vọng cổ trên nền tảng của sự chân phương. Nếu nói Minh Cảnh ca chỉ có lạng bẻ mà không chân phương là không chính xác, bởi vì trong cách ca của Minh Cảnh ta vẫn thấy có sự chân phương, nhưng ông giữ một độ chân phương vừa phải, và bổ sung vào đó bằng sự nhấn nhá, lạng bẻ rất độc đáo. Minh Cảnh lạng bẻ ngay cả khi vô vọng cổ, tạo được một lối vô vọng cổ rất độc đáo, không nhầm lẫn vào đâu được.
            Cái lạng bẻ của Minh Cảnh không phải là vô lối, mà rất được trau chuốt, chăm sóc kỹ từng cách nhả chữ, cách phát âm. Cái độc đáo của sự lạng bẻ của Minh Cảnh là ông ca “tung tăng” trên dây đờn. Và chính sự “tung tăng” trên dây đờn này đã cho thấy Minh Cảnh có một bộ nhịp thượng thừa, một lối ca điêu luyện. Minh Cảnh xấp chữ rải đều ở các câu như Út Trà Ôn. Đặc biệt, Minh Cảnh thường ca chẻ song lang ở nhịp 24 nghe rất “đã tai”.
            Thế nhưng, đặc biệt hơn hết ở giọng ca Minh Cảnh mà trước và sau ông chưa ai có được, đó là ông có một phong cách ca và một giọng ca “nhẹ như mây”. Giọng ca Minh Cảnh cao vút, thế mà khi nghe Minh Cảnh ca người ta không có cảm giác ông ráng hơi hay ra sức vuốt chữ gì cả, mà chỉ thấy ông ca rất tự nhiên, rất nhẹ nhàng. Cộng với lối cảnh lả lướt, “tung tăng” trên dây đờn, giọng ca cao vút của Minh Cảnh tựa hồ một áng mây chiều trôi bồng bềnh trên nên trời xanh thẳm.
            Vì thế, giọng ca Minh Cảnh mang đến cho người nghe một cảm giác rất nhẹ nhàng và rất êm dịu. Người nghe như được “bay bổng” theo tiếng ca “nhẹ như mây” của Minh Cảnh, để thả hồn theo tiếng ca trầm bổng, lả lướt, lạng bẻ theo những cung bậc bổng trầm của tiếng đờn vọng cổ, để bị ru hồn lúc nào mà không biết.
            Ta thấy rằng, ca theo lối hò Huế hay ca hơi dài, hoặc ca chắc nhịp hay ca lạng bẻ, thì các thế hệ tiếp nối của Minh Cảnh cũng đã có người tiếp bước. Thế nhưng, để tạo được phong cách “nhẹ như mây” như Minh Cảnh thì đến hiện tại chưa thấy có người kế thừa. Ngay cả những nghệ sĩ thành danh nhờ vào cách học theo lối ca và giọng ca Minh Cảnh, có người còn ca rất giống Minh Cảnh, nhưng người nghe có cảm giác họ ca cao vút mà ra sức ráng hơi hoặc lạm dụng kỹ thuật chứ không đạt được trình độ ca tự nhiên, ca nhẹ nhàng của Minh Cảnh.

Để đời rất nhiều bài vọng cổ
            Xưa nay, đối với nghệ sĩ cải lương, tên tuổi “để đời” với một bài vọng cổ cũng đã là một việc không phải dễ dàng. Còn như để đời với nhiều bài vọng cổ cùng một lúc, thì cực kỳ hiếm. Ấy vậy mà, Minh Cảnh không chỉ thành công với một vài bài, mà đã để đời với rất nhiều bài vọng cổ.
            Số lượng bài ca vọng cổ mà hễ nhắc đến nó là nghĩ ngay đến Minh Cảnh, thật sự khó liệt kê cho hết: Tu là cội phúc, Võ Đông Sơ, Trái gùi Bến Cát, Sầu vương ý nhạc, Lưu Bình Dương Lễ, Tô Võ chăn dê, Hoa đào trước gió, Trống loạn Thăng Long thành, Người điên yêu trăng, Em bé đánh giày, Lương Sơn Bá, Trăng sáng vườn chè, Mưa trên phố Huế, Duyên quê…
            Điều đặc biệt ở đây đó là, tất cả những bài vọng cổ nêu trên, người ta có cảm giác rằng sau khi Minh Cảnh ca thì không còn ai thể hiện hay hơn nữa, bởi vậy mỗi lần muốn nghe những bài ca đó, người ta chỉ muốn nghe giọng ca Minh Cảnh. Đây thật là một điều mà Minh Cảnh đã “làm khó” cho thế hệ nghệ sĩ sau bởi những bài nêu trên đều là những bài vọng cổ thuộc hàng tuyệt tác.
            Ở đây có một điều đặc biệt nữa cần được nhấn mạnh: giọng ca Minh Cảnh gắn liền với sáng tác của soạn giả Viễn Châu. Ta thấy rằng, không chỉ có Minh Cảnh là nổi tiếng nhờ bài do Viễn Châu sáng tác, nhưng với rất nhiều bài làm nên tên tuổi Minh Cảnh mà bên trên mới liệt kê chỉ được một số bài, thì hầu hết đều là bài của Viễn Châu. Có thể nói rằng, sau Út Trà Ôn, Minh Cảnh là người thể hiện thành công nhiều bài vọng cổ do Viễn Châu sáng tác nhất.

Tu Là Cội Phúc: hơn nửa thế kỷ “độc tôn”
            Trong số rất nhiều bài để đời của Minh Cảnh, có thể xem hai bài sau đây là nổi tiếng nhất: Tu là cội phúc và Võ Đông Sơ. Năm 1961, soạn giả Viễn Châu đã cho ra đời một bài vọng cổ Phật giáo mang tên Tu là cội phúc. Nội dung bài ca tập trung vào hai câu:

                        Tu đâu cho bằng tu nhà
                        Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu


            Điều này rất phù hợp với triết lý Đại Thừa của Phật giáo, vốn có ảnh hưởng sâu rộng ở Việt Nam, và đặc biệt là phù hợp với truyền thống hiếu đạo của người Việt. Minh Cảnh đã bất tử bài ca này nhờ vào một giọng ca “nhẹ như mây” rất hợp để thể hiện những bài ca Phật giáo, nhờ vào nhịp nhàng điêu luyện, cách nhấn nhá mềm mại vừa phải.
            Nghệ sĩ Minh Cảnh đã thể hiện bài ca này vào năm 1961 với sự thành công rực rỡ, đến mức mà thế hệ danh ca sau ngại không dám ca bài này. Thậm chí đến ngày nay, hễ nhắc đến Tu là cội phúc, thì người mộ điệu lập tức nghĩ ngay đến Minh Cảnh. Chứng tỏ rằng, Minh Cảnh đã ngự trị Tu là cội phúc từ hơn nửa thế kỷ qua.
            Đối với bài Võ Đông Sơ cũng vậy, giọng ca Minh Cảnh đã trở nên “độc quyền” bài hát này mấy chục năm qua. Đây là một bài vọng cổ thuộc hàng tiên phong trong thể loại “tân cổ giao duyên” do Viễn Châu khởi xướng. Bài ca này nổi tiếng đến mức mà hầu như người nào thích nghe vọng cổ đều phải biết. Nội dung bài ca là lời vĩnh biệt của tướng Võ Đông Sơ trước phút lâm chung trên chiến trường sau khi trúng tên của kẻ thù.
            Với lối ca mềm mại và uyển chuyển, lả lướt, Minh Cảnh đã nhẹ nhàng đưa vào tận tâm hồn người nghe mối tình sắc son và lời tạ từ thống thiết của Võ Đông Sơ. Điều đặc biệt là Minh Cảnh đã xử lý bài ca này một cách bi hùng, tức đó là nỗi buồn của một danh tướng nên nó bi nhưng không lụy. Và người nghe cũng đã cảm nhận được điều đó.
            Khác với bài Tu là cội phúc, bài Võ Đông Sơ lại được nhiều nghệ sĩ thế hệ sau của Minh Cảnh thi nhau thể hiện. Thậm chí còn có những nghệ sĩ “lấy hơi” Minh Cảnh để ca. Thế nhưng, như có một phép mầu, giọng ca Minh Cảnh vẫn đứng vững với bài Võ Đông Sơ, và đến hiện tại, hễ nhắc đến Võ Đông Sơ là nhắc đến Minh Cảnh.
            Bên trên chỉ nói đến những bài vọng cổ mà chưa nhắc đến các vở cải lương. Giọng ca Minh Cảnh thật sự đã để đời trong nhiều tuồng cải lương đặc sắc, trong đó người mộ điệu không làm sao quên được Mùa thu trên Bạch Mã Sơn, Dốc Sương Mù, Hai chiều ly biệt, Bao Công tra án Quách Què, Máu nhuộm sân chùa, Cỗ xe độc mã…
            Đến đây ta có thể nói rằng, bằng sự bứt phá ngoạn mục, Minh Cảnh đã mang đến cho bài vọng cổ một trải nghiệm mới là: có thể ca lả lướt lạng bẻ, tức ca theo kiểu nhiều “hoa lá” trên cái nền tảng của “chân phương”. Trường hợp của Minh Cảnh cũng giống như trường hợp của Út Bạch Lan, khi Sầu Nữ đã ca theo kiểu “hoa lá cành”, mềm mại, lả lướt, tạo được nét riêng đối với lối ca thiên về chân phương của Đệ nhất nữ danh ca Thanh Hương.
            Nếu nói rằng Út Trà Ôn là chủ soái của trường phái ca thiên về chân phương bên cánh nam nghệ sĩ, thì Minh Cảnh là chủ soái của trường phái ca thiên về hoa lá. Và đặc biệt hơn hết, một điều có thể được xem là “vô tiền khoáng hậu” ở Minh Cảnh, đó là một giọng hát và phong cách ca “nhẹ như mây”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 12/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131228-minh-canh-giong-ca-%C2%AB-nhe-nhu-may-%C2%BB

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 03/07/2017, 16:37:02
Mỹ Châu: “Nữ hoàng” có chất giọng liêu trai

Một trong những đặc điểm của các nghệ sỹ thuộc thế hệ vàng của sân khấu cải lương, đó là mỗi giọng ca đều có cái riêng, không nhầm lẫn vào đâu được, mỗi khi vừa cất lên là người nghe nhận ra ngay. Và khi nhắc đến những giọng ca đặc biệt thuộc thế hệ này thì không thể nào không nhắc đến Mỹ Châu, một giọng ca và phong cách ca “lạ” mà đến hiện tại vẫn thuộc hàng “độc bộ thiên hạ”.

(http://nld.vcmedia.vn/thumb_w/540/2017/17361327-10207072049559865-1930055944-n-1-1489849233361.jpg)
Danh ca Minh Cảnh và Nữ hoàng Mỹ Châu

HỒI TRƯỚC, dù nghệ sỹ cải lương được nổi tiếng, được nhiều người ái mộ, thế nhưng cái định kiến “xướng ca vô loài” vẫn còn nặng lắm. Các bậc làm cha làm mẹ, nhất là ở miền quê, ngại cho con đi làm đào hát. Bởi thế, có nhiều nữ nghệ sỹ cải lương khi khởi nghiệp phải trốn gia đình theo gánh hát. Dù vậy, cũng có một số trường hợp đặc biệt mà ở đó cái nghiệp nghệ sỹ cải lương được sự chấp nhận và chọn lựa của mẹ cha. Nghệ sỹ Mỹ Châu thuộc trong số những trường hợp đặc biệt này.

Con đường mẹ chọn…
            Mỹ Châu tên thật là Nguyễn Thị Mỹ Châu, sinh năm 1950 tại làng quê Thủ Thừa tỉnh Long An. Cũng như hầu hết các nghệ sỹ cải lương nổi danh thời đó, Mỹ Châu xuất thân trong gia đình nghèo khổ. Cha mất sớm, mẹ của Mỹ Châu phải một thân một mình tảo tần nuôi đàn con thơ. Mẹ Mỹ Châu vốn rất mê cải lương. Bà đã sớm nhìn thấy tiềm năng của con gái nên quyết lòng cho con trở thành đào hát. Được biết, một hôm bà đã vào tận lớp học của Mỹ Châu để xin với cô giáo cho con bà nghỉ học theo gánh hát, khi cô bé Nguyễn Thị Mỹ Châu mới lên 11 tuổi. Cuộc đời gạo chợ nước sông của Mỹ Châu bắt đầu từ đó.
            Cũng như hầu hết nghệ sỹ nổi danh cùng thời, Mỹ Châu phải leo lên từng bậc thang của sự nghiệp. Tức là, buổi đầu khi tham gia sân khấu cải lương, Mỹ Châu chỉ được giao ngâm thơ hậu trường hay đóng vai phụ. Tổ nghiệp bắt đầu mỉm cười với Mỹ Châu khi mà vào năm 1962, Mỹ Châu đã tạo được dấu ấn qua bài vọng cổ Bá Nha-Tử Kỳ được phát trên đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó, Mỹ Châu được mời về làm đào chánh ở đoàn Thủ Đô 2 khi chưa đầy 13 tuổi.
            Tiếng tăm Mỹ Châu càng được vang dội khi vào năm 1965 cô về đóng cặp với nam nghệ sỹ Minh Cảnh ở đoàn Kim Chung. Khi ấy, Minh Cảnh đã là một nghệ sỹ trứ danh. Nhờ đó, Mỹ Châu cũng có cơ hội học hỏi và trưởng thành hơn trong nghề ca diễn khi đóng chung với một nghệ sỹ đàn anh tầm cỡ như thế.
            Nói về giọng ca, Minh Cảnh và Mỹ Châu là hai cái “lạ” thời đó. Giọng ca Minh Cảnh lả lướt, lạng bẻ, được xem là cách tân, khác biệt với lối ca chân phương của các bậc tiền bối như Út Trà Ôn hay Hữu Phước. Giọng ca Mỹ Châu trầm hơn mức bình thường, buồn man mác. Cả hai đều ca rất điêu luyện, du dương. Một trầm, một bổng đã cùng nhau ru hồn khán giả. Đến hiện tại, người mộ điệu vẫn còn say đắm với một Mỹ Châu trong vai tiểu thơ Phùng Cẩm Loan và một Minh Cảnh trong vai lãng tử Vương Hồ Vũ trong vở tuồng kiếm hiệp trứ danh Mùa Thu Trên Bạch Mã Sơn. Đây là hai vai để đời của đôi nghệ sỹ này, đến hiện tại mà chưa thấy có ai vượt qua.
            Công lao khó nhọc trau dồi của Mỹ Châu cuối cùng cũng đã được ghi nhận khi mà vào năm 1967, tức năm 17 tuổi, Mỹ Châu được trao giải Thanh Tâm, một giải thưởng do ký giả Trần Tấn Quốc chủ trì, được xem là giải thưởng danh giá nhất trong giới cải lương tính đến hiện tại.

Nữ hoàng hai ngôi
            Mỹ Châu có những vai để đời trong nhiều vở cải lương xã hội. Người mộ điệu hầu như không chấp nhận ai khác ngoài Mỹ Châu trong các vai Lan (Tìm lại cuộc đời), Hiếu (Khách sạn hào hoa), Nàng Hai (Nàng hai Bến Nghé)… Tuy nhiên, khi nhắc đến Mỹ Châu là người ta nghĩ ngay đến danh hiệu “Nữ hoàng kiếm hiệp” bởi cô đã thành công với rất nhiều tuồng thuộc thể loại này: Khi rừng mới sang thu, Tâm sự loài chim biển, Bóng hồng sa mạc, Kiếm sỹ dơi, Sở vân cứu vợ, Tiêu Anh Phụng, Thanh Xà Bạch Xà, Trang tử thử vợ, Võ Tòng sát tẩu, Anh hùng xạ điêu, Giữa chốn bụi hồng, Kiếp nào có yêu nhau, Mùa thu trên Bạch Mã Sơn, Băng Tuyền nữ chúa, Trăng nước Lạc Dương thành, Người tình trên chiến trận, Trảm Trịnh Ân… Nhiều lắm không thể nào kể hết được. Và gần đây nhất, Mỹ Châu cũng đã thêm vào “bộ sưu tập” những vai diễn tuồng cổ, kiếm hiệp của mình bằng hai vai Võ Tắc Thiên và vai Ngọc Hân công chúa…
            Có lẽ tổ nghiệp đã tạo ra một Mỹ Châu dành cho các vai kiếm hiệp. Mỹ Châu ngoài đời dịu dàng bao nhiêu thì khi xuất hiện trên sân khấu lại oai phong bấy nhiêu. Một cái liếc mắt, một cái chỉ tay của Mỹ Châu trên sân khấu đều rất oai phong, mà lại là oai phong rất tự nhiên, không gượng ép. Bởi thế, Mỹ Châu rất thích hợp cho các vai cổ trang, kiếm hiệp. Trên thực tế, có những nghệ sỹ có bộ dáng không thích hợp với vai kiếm hiệp, nên dù có cố gắng tỏ ra oai phong cũng không khỏi để lộ chút gượng ép. Còn Mỹ Châu thì giỏi vũ đạo, có tướng oai phong một cách rất tự nhiên. Nhờ dáng vẻ oai phong đó, Mỹ Châu đóng vai giả trai cũng hết chỗ chê.
            Những vai diễn cổ trang, kiếm hiệp của Mỹ Châu thì có rất nhiều. Đó là một Tiêu Anh Phụng oai hùng, hết lòng vì nước vì tình trong vở diễn cùng tên. Đó là một tiểu thư Phùng Cẩm Loan trang đài, gặp nghịch cảnh tình yêu nhưng phải kiên cường chịu đựng để giữ đúng nghĩa tình nhân thế, trong vở Mùa thu trên Bạch Mã Sơn. Đó là một người đẹp Cát Mộng Thùy Dương lận đận với tình yêu trong vở Tâm sự loài chim biển. Đó là một Lý Thần Phi sống lây lất trong cảnh đui mù để chờ ngày được minh oan trong vở Bao Công tra án Quách Què. Đó là một Công chúa Ngọc Hân kiên cường vượt bao trở ngại bên cạnh anh hùng Nguyễn Huệ, trong vở Tâm sự Ngọc Hân…
            Đặc biệt, vai Ngọc Hân công chúa, có thể nói, đây là vai diễn thể hiện đầy đủ nhất những nét đặc trưng của Mỹ Châu. Theo kịch bản, thì khi về làm vợ Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Công chúa Ngọc Hân bị vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc nghi ngờ là gián điệp của nhà Lê. Màn hay nhất là lúc Nguyễn Nhạc dẫn quân đến tư dinh Nguyễn Huệ để bắt tội Ngọc Hân. Khi ấy, người đóng vai Ngọc Hân thường mặc bộ áo dài Việt Nam theo kiểu xưa. Kiểu áo dài này rất sang trọng quý phái. Những nữ nghệ sỹ khác khi đóng Ngọc Hân, thì thường chỉ có thể tận dụng được nét quý phái của chiếc áo dài để có cách diễn sang trọng quý phái.
            Còn Mỹ Châu thì khác. Với phong cách diễn oai phong một cách tự nhiên, Mỹ Châu thể hiện được sự oai vệ kiên cường bên cạnh nét quý phái của nàng công chúa. Với giọng ca trầm buồn nhưng không bi lụy, Mỹ Châu đã thể hiện được bản lĩnh của một Ngọc Hân công chúa: dù vô cùng đau khổ nhưng vẫn kiên cường vì chồng, vì đại nghĩa. Đây là một lớp diễn rất khó, và Mỹ Châu đã thành công. Cách diễn của Mỹ Châu đã tạo được khuôn mẫu cho vai diễn này: một người phụ nữ sang trọng, dịu dàng có một tinh thần kiên cường không kém bậc nam nhi.
            Một vai diễn để đời khác của Mỹ Châu mà không thể nào không nhắc đến: A Khắc Thiên Kiều trong vở Người tình trên chiến trận. Câu chuyện xoay quanh cuộc chinh phạt nước Tây Hạ của người Mông Cổ. Là con gái của viên đại tướng A Khắc Lữ, A Khắc Thiên Kiều cũng là một viên tướng chinh phạt kiêu hùng. Thế nhưng, khi đến xâm lăng Tây Hạ, A Khắc Thiên Kiều đã chịu một lúc hai nỗi đau lớn. Về huyết thống, Thiên Kiều phát hiện ra rằng mình là người Tây Hạ, và giờ đây cô đã cùng đoàn quân Mông Cổ ngoại bang về tàn phá quê cha đất tổ. Còn trong tình yêu, Thiên Kiều cũng gặp bất hạnh khi không được trọn vẹn mối tình với chàng trai Tây Hạ tên Cổ Thạch Xuyên.
            Thế nhưng, là một nữ tướng quen chinh chiến, quen cuộc đời “Ngày chinh phạt đêm ngủ trên yên ngựa”, A Khắc Thiên Kiều dẫu có đau khổ thì cũng không thể bi lụy như nhi nữ thường tình. Với phong cách diễn oai vệ và giọng ca truyền cảm đầy chất bi hùng, Mỹ Châu đã cho khán giả cảm nhận được nỗi đau xé lòng nhưng không yếu đuối thường tình của một viên nữ tướng. Có thể nói, trong vở Người tình trên chiến trận, giọng ca Mỹ Châu đã “tung hoành” một cách ngoạn mục.

(http://i42.servimg.com/u/f42/11/72/94/68/cnx-f110.jpg)

Nữ hoàng tân cổ giao duyên
            Mỹ Châu có một giọng ca và phong cách ca “lạ”. Mỹ Châu có giọng đồng pha kim, trong đó đồng nhiều kim ít. Bởi thế, giọng của Mỹ Châu trầm. Nhưng cái đáng nói là, Mỹ Châu không có làn hơi dồi dào, nên khi ca giọng Mỹ Châu có vẻ trầm hơn mức bình thường. Trong ca vọng cổ, để ca hay, người nghệ sỹ đòi hỏi phải có chất giọng trời cho, làn hơi dồi dào. Mỹ Châu chỉ có chất giọng trời ban mà thiếu làn hơi dồi dào. Thế mà, chính từ cái thiếu đó Mỹ Châu đã làm nên chuyện. Mỹ Châu đã thành công khi tạo được cái riêng độc nhất của mình.
            Cái riêng đầu tiên của Mỹ Châu đó là cách vô vọng cổ. Thường thì các danh ca vọng cổ xưa nay, dù hơi dài hơi ngắn, cũng cố gắng vô vọng cổ một cách thật ngọt. Người học ca vọng cổ cũng vậy, cũng phải làm sao vô vọng cổ cho ngọt, cho mướt. Giọng ca Mỹ Châu thuộc hàng được yêu mến nhất, thành công nhất, nhưng cái lạ là cách vô vọng cổ của Mỹ Châu có vẻ hơi “chướng”.
            Chẳng hạn như trong vở tuồng “Người tình trên chiến trận”, khi vô vọng cổ: “Cũng như anh em là kẻ ngày chinh phạt, đêm ngủ trên yên ngựa. Vào hiểm ra nguy chưa bao giờ biết sợ, sao bỗng nhiên nghe lạnh buốt cả… tâm… hồn”. Thường để vô vọng cổ cho ngọt, thì nghệ sỹ lên cao chữ “cả” rồi hạ dần xuống chữ “tâm” để xuống thấp hơn ở chữ “hồn”. Thế nhưng, Mỹ Châu thì lại khác.
            Ở câu vọng cổ này, Mỹ Châu vô một cách “ngang ngang”, không hạ từ cao độ dần thấp xuống như mọi người. Chưa hết, thường thì khi xuống vọng cổ câu như trên, giữa chữ “cả”, chữ “tâm” và chữ “hồn” phải có một khoảng cách để người nghệ sỹ “ơ ơ” rồi dần dần hạ xuống. Khoảng cách này dài ngắn tùy vào làn hơi và cách ca của mỗi người. Thế nhưng, phải làm sao không cho ngắn quá để tránh tạo cảm hát “chướng” tai, cảm giác “hụt hơi”.
            Thế mà Mỹ Châu lại vô vọng cổ theo kiểu giữa ba chữ “cả tâm hồn” dường như không có khoảng cách. Nếu một giọng ca khác mà xuống vọng cổ kiểu này thì nghe cụt hứng ngay. Thế mà không hiểu tại sao, với giọng ca Mỹ Châu thì kiểu xuống đó nghe rất ngọt và rất lạ tai. Điều đó cho thấy một sự luyện tập rất công phu và trình độ ca thượng thừa của Mỹ Châu. Và cũng cho thấy, cái lạ, cái sáng tạo nghiêm túc luôn được đòi hỏi trên sân khấu cải lương.
            Một điều đặc biệt nữa ở Mỹ Châu, đó là cô đã góp thêm một loại dây nữa cho sân khấu cải lương: “dây Mỹ Châu”. Số là, trong những năm 1980, khi đạo diễn Huỳnh Nga dựng vở Khách sạn hào hoa, Mỹ Châu đóng đào chánh tên Hiếu. Khi xuống vọng cổ: “Bước lênh đênh trôi dạt đến… đô… thành”, thì Mỹ Châu ca thành “Bước lênh đênh trôi dạt đến… Sài… Gòn”. Xuống vọng cổ mà có hai chữ cuối là hai dấu huyền thì cực kỳ khó ca. Nhưng với Mỹ Châu thì khác bởi giọng ca và cách ca của cô hoàn toàn phù hợp để xuống ngọt và lạ hai dấu huyền ở cuối câu như vậy.
            Và khi tập tuồng, như lời Mỹ Châu tâm sự, do muốn dưỡng hơi, nên Mỹ Châu không ca hết sức như bình thường. Vì thế, giọng ca của Mỹ Châu khi ấy thấp hơn dây “hò tư” (Dây chánh đào) mà cũng chẳng phải “hò ba”. Cái giọng “lỡ ba lỡ tư” này đã buộc thầy đờn phải xuống dây cho phù hợp. Danh cầm Hoàng Thành khi ấy bèn chế theo kiểu hết sức thủ công một dụng cụ kèm thêm vào phím đờn ghi ta phím lõm để đờn giọng phù hợp với Mỹ Châu. Nghe lạ tai, đạo diễn Huỳnh Nga đã đề nghị cả Mỹ Châu và Hoàng Thành giữ luôn tông nhạc đó. Và thế là, “dây Mỹ Châu” xuất hiện, được khán giả chấp nhận và tồn tại đến ngày nay.
            Bên cạnh ca cổ nhạc, Mỹ Châu ca tân nhạc cũng rất hay, rất lạ. Thêm vào đó, với giọng trầm, Mỹ Châu hò nghe rất êm tai như hò Huế vậy. Tất cả đã tạo nên một giọng ca Mỹ Châu độc nhất vô nhị. Và giọng ca cũng chính là thế mạnh của Mỹ Châu, một thế mạnh mà Mỹ Châu đã biết khai thác đúng mức và có hiệu quả, nhất là trong các bài tân cổ giao duyên.
            Tóm lại, khi nhắc đến giọng ca Mỹ Châu, người mộ điệu trước tiên nhớ đến một giọng ca lạ, trầm buồn, nỉ non, điêu luyện và có độ thẩm thấu cao. Với giọng ca này, Mỹ Châu đã được mời thu âm và ghi hình không biết bao nhiêu bài vọng cổ, đặc biệt là thể loại tân cổ giao duyên.
            Có thể kể ra một số bài tiêu biểu sau: Trương Chi Mỵ Nương, Bà Mẹ Gò Công, Chuyện Tình Hoa Muống Biển, Cô lái đò, Tình đôi ta, Đêm tàn bến ngự, Đồi tím hoa sim, Đừng nói xa nhau, Ga chiều, Giận hờn, Hàn Mặc Tử, Hòn vọng phu, Kiếp cầm ca, Lỡ yêu rồi, Lối về xóm nhỏ, Lòng mẹ, Một người đi, Mưa nửa đêm, Nếu hai đứa mình, Người em Vĩ Dạ, Ở hai đầu nỗi nhớ, Sầu Lẻ Bóng, Sợi nhớ sợi thương, Bông hồng cài áo… Nhiều lắm, không thể nào kể hết được.
            Chỉ riêng trang tự điển mạng Wikipedia Tiếng Việt đã liệt kê gần 400 bài tân cổ giao duyên do Mỹ Châu thể hiện. Đây là một liệt kê dài nhất đối với tất cả các nghệ sỹ cải lương được trang mạng này ghi nhận, tính đến hiện tại. Với tất cả những điều đó, Mỹ Châu xứng đáng được mệnh danh là “Nữ hoàng tân cổ giao duyên”.
            Mỹ Châu không có làn hơi dồi dào, giọng không mạnh, nhưng đã biết rèn luyện để biến điểm yếu thành cái hay, cái lạ riêng của mình. Và Mỹ Châu đã thành công, đã đóng góp thêm một trường phái ca, phong cách ca mới cho sân khấu cải lương. Trường phái ca Mỹ Châu hiện chưa có người kế thừa.
            Thành công của giọng ca Mỹ Châu đến mức mà, mỗi khi nhắc đến các giọng ca nữ bậc nhất của sân khấu cải lương thời vàng son, thì người ta không thể nào không nhắc đến Mỹ Châu. Trường hợp của Mỹ Châu là một tấm gương cho các thế hệ nghệ sỹ trẻ ngày nay trong việc tìm tòi sáng tạo ra cái lạ, cái hay riêng, chứ không chỉ rập khuôn sáo mòn, bắt chước người đi trước.


LÊ PHƯỚC
Tháng 1/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140125-my-chau-vi-%E2%80%9Cnu-hoang%E2%80%9D-co-chat-giong-lieu-trai

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 05/07/2017, 15:51:12
Minh Vương: 50 năm trạng nguyên vọng cổ

Cách đây tròn 50 năm, Ban cổ nhạc Trường Giang của thầy đờn Út Trong đã đứng ra tổ chức cuộc thi ca vọng cổ mang tên “Khôi nguyên vọng cổ”. Trong vòng chung kết diễn ra tại rạp hát Quốc Thanh (Sài Gòn), thí sinh Nguyễn Văn Vưng đoạt giải nhất, Diệu Nga đạt giải nhì và Xuân Lan giải ba.

(http://i1306.photobucket.com/albums/s567/huynhcongtin/minhvuong%2022_zpsw4dyq7lq.jpg)
Nghệ sĩ Minh Vương trong Rạng Ngọc Côn Sơn

NÓI NÔM NA thì giải nhất tức là “Trạng nguyên” của Khôi nguyên vọng cổ năm 1964. Vị trạng nguyên năm đó chẳng ai xa lạ mà chính là giọng ca trứ danh Minh Vương của làng tài tử-cải lương Nam Bộ. Nghệ sỹ Minh Vương tên thật là Nguyễn Văn Vưng, sinh năm 1950 tại Cần Giuộc-Long An. Năm lên 10 tuổi, Vưng theo cha mẹ lên Sài Gòn sinh sống ở khu vực cầu Chữ Y.
            Hồi những năm 1950-1960, cải lương ở thời cực thịnh. Làng giải trí hầu như bị cải lương thống trị với rất nhiều đoàn hát từ lớn tới nhỏ, hoạt động từ trong Nam ra ngoài Bắc. Những đại ban như Kim Chưởng, Kim Chung, Thanh Minh-Thanh Nga, Dạ Lý Hương… đã đưa lên bầu trời nghệ thuật cải lương không biết bao nhiêu ngôi sao sáng.

Một bước chiếm bảng vàng
            Trong bối cảnh đó, nhiều “lò” dạy ca cổ nhạc cũng nổi lên. Những lò này do các tay đờn cổ nhạc có tiếng tự dựng, qua quen biết hoặc nhờ tiếng tăm mà nhiều người đến học. Các lò của những danh cầm như Văn Vĩ, Út Trong hay Bảy Trạch đều thuộc hàng trứ danh.
            Lò của danh cầm Bảy Trạch nằm gần cầu Chữ Y, nơi gia đình cậu bé Nguyễn Văn Vưng trú ngụ. Mỗi ngày khi đi hớt lăng quăng về nuôi cá lia thia, Vưng bị “mê hoặc” bởi tiếng của lò Bảy Trạch. Vào năm 1963, tức năm Vưng được 13 tuổi, Vưng đã chính thức được nhận vào lò Bảy Trạch học ca miễn phí.
            Vào thời điểm đó, như tổ nghiệp đã cố tình sắp đặt để ban tặng cho sân khấu cải lương một giọng ca mới lạ, nên mới khiến xui cho nhóm của danh cầm trứ danh gốc Bến Tre Út Trong thành lập một nhóm đờn ca cổ nhạc tên Trường Giang trên đài phát thanh Sài Gòn. Rồi vào cuối năm 1964, nhóm Trường Giang đứng ra “chủ xị” tổ chức một cuộc thi vọng cổ mang tên “Khôi nguyên vọng cổ”. Có lẽ khi ấy, danh hiệu “Vua vọng cổ” đang nằm trong tay Út Trà Ôn, nên cuộc thi chỉ dám gọi là “Khôi nguyên”, tức người đỗ đạt cao nhất thì cũng chỉ là “Trạng nguyên” mà thôi.
            Khôi nguyên vọng cổ năm 1964 thu hút hàng ngàn thí sinh tham dự đến từ đủ các lò cổ nhạc ở khắp mọi nơi. Vòng chung kết diễn ra tại rạp hát Quốc Thanh, Sài Gòn. Ba người đỗ giải đầu xếp vị trí như sau: Nguyễn Văn Vưng giải nhất, Diệu Nga giải nhì, và Xuân Lan giải ba. Nói nôm na, thì Vưng đoạt danh hiệu “Trạng nguyên”, Diệu Nga đoạt danh hiệu “Bảng nhãn”, và Xuân Lan đoạt danh hiệu “Thám hoa”.
            Ba vị khôi nguyên này lập tức được các đoàn hát “bắt đi”: Diệu Nga được mời về đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, Xuân Lan về đoàn Kiên Giang, còn Nguyễn Văn Vưng thì được đại ban Kim Chung mời ký hợp đồng giá trị cả trăm ngàn. Ông bầu Long của đại bang Kim Chung đã đặt nghệ danh Minh Vương cho Vưng, và con đường gạo chợ nước sông của Minh Vương bắt đầu từ giải “Khôi nguyên vọng cổ” năm ấy.

Những vai diễn để đời
            Khôi nguyên vọng cổ là một một cuộc thi tuyển chọn giọng ca chứ không phải là tuyển chọn nghệ sỹ chuyên nghiệp ca hay diễn giỏi như Giải Thanh Tâm của nhóm ký giả Trần Tấn Quốc. Bởi vậy, những người đoạt Khôi nguyên vọng cổ không thể nào ca không hay, nhưng để trở thành một nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp thành thạo cả ca lẫn diễn thì đòi hỏi còn phải trau dồi thực tiễn sân khấu rất nhiều.
            Cũng như hầu hết các nghệ sỹ cải lương thế hệ vàng, Minh Vương bước dần trên con đường tiến tới đỉnh cao nghệ thuật. Sau khi đoạt giải Khôi nguyên vọng cổ, Minh Vương được đưa về một đoàn trong đại ban Kim Chung đóng kép nhì cho cặp đào kép Minh Phụng-Lệ Thủy. Hồi ấy, khi Minh Vương mới chập chững vào nghề, thì Minh Phụng-Lệ Thủy đã là cặp đào kép chánh nổi tiếng vang dội được báo chí gọi là “Cặp bão biển đang lên”. Nói riêng về kép thì khi ấy, Minh Phụng nổi tiếng là kép đẹp ca hay. Rồi bây giờ Minh Vương xuất hiện, Kim Chung có thêm một kép đẹp ca hay nữa. Bởi dù muốn dù không, thì thế mạnh của Kim Chung hồi đó vẫn là ca. Thời đó, khi quảng cáo, thì Kim Chung thường câu khách bằng liên danh kép đẹp Minh Phụng-Minh Vương.
            Ở đoàn Kim Chung, Minh Vương vất vả trau dồi một thời gian dài, và mãi đến đầu những năm 1970, Minh Vương mới thật sự trở thành anh kép chánh, tạo được chỗ đứng riêng trên sân khấu cải lương. Các hãng dĩa thi nhau mời Minh Vương thu âm. Hãng dĩa Việt Nam của bà Sáu Liễu mời Minh Vương thu âm nhiều vai tuồng mà các bậc nghệ sỹ tiền bối của Minh Vương đã thành công trên sân khấu trước đó.
            Từ đó, giọng ca Minh Vương thật sự trở thành một làn gió mới ru hồn khán giả, để đến hiện tại người mộ điệu vẫn còn có thể thưởng thức giọng ca Minh Vương trong một loạt các tuồng nổi tiếng: Máu nhuộm sân chùa, Mùa xuân ngủ trong đêm, Đêm lạnh chùa hoang, Kiếp nào có yêu nhau, Tâm sự loài chim biển, Người tình trên chiến trận, Tô Ánh Nguyệt, Đời Cô Lựu, Rạng ngọc Côn Sơn và Đường gươm Nguyên Bá…
            Nói về hai vở Tô Ánh Nguyệt và Đời Cô Lựu, thì đây là hai vở xã hội hiện thực kinh điển của soạn giả Trần Hữu Trang, được viết và trình diễn mấy chục năm trước khi Minh Vương ra đời. Các thế hệ bậc thầy của Minh Vương như Tư Sạn, Tám Thưa, Năm Nghĩa, Phùng Há, Năm Châu, Út Trà Ôn… đã để lại cái bóng quá lớn trong các vở này. Bởi vậy, muốn làm mới và để cho khán giả chấp nhận quả thật không phải là chuyện dễ.
            Tuy nhiên, các nghệ sỹ thế hệ sau đã không làm thất vọng người đi trước khi đã tạo được ấn tượng mới trong hai vở tuồng này với nhiều gương mặt trở thành bất tử như: Diệp Lang, Thành Được, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Thanh Tòng, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết…
            Riêng đối với hai cô đào Lệ Thủy và Bạch Tuyết, thì mỗi người tên tuổi gắn liền với một tuồng: Bạch Tuyết với Đời Cô Lựu, Lệ Thủy với Tô Ánh Nguyệt. Ngọc Giàu thành công rực rỡ trong Đời Cô Lựu với vai Bà Hai Hương và Cô Bảy Cán Vá, nhưng lại không tham gia Tô Ánh Nguyệt. Diệp Lang thì để đời trong cả hai tuồng với vai Ông Hương Cả (Ba của Nguyệt) và Hội Đồng Thăng (Chồng sau của Cô Lựu). Minh Vương, trong vai trò là kép chánh trẻ, cũng đã để đời trong cả hai tuồng với vai Minh trong Tô Ánh Nguyệt, và Võ Minh Luân trong Đời Cô Lựu.
            Minh Vương biết khai thác tối đa thế mạnh về giọng ca, và hỗ trợ hết sức đắc lực cho các vai diễn. Chẳng hạn như trong vở cải lương Đường gươm Nguyên Bá, Minh Vương đã ru hồn khán giả bằng một lối vô vọng cổ điêu luyện mà chỉ có những giọng ca khỏe, cao, có lực, và trữ tình cộng với một kỹ thuật điều hơi thượng thừa thì mới dám “đùa”. Đó là khi dứt bản Lý Con Sáo: “Càng buông lời lòng thêm xót xa, một mũi gươm nát tan đời hoa…”, Minh Vương lập tức chồng hơi vô vọng cổ: “Nhưng Nguyên Bá tôi đã cho mình đáng chết khi dùng đường gươm oanh liệt để tạo nên tì vết cho một đóa… hoa… hồng…” Thật ngọt, thật đẹp, thật sang trọng, tạo được một phong thái ung dung đĩnh đạc nhưng có chút đa tình của viên tướng trẻ Nguyên Bá lừng danh.
            Chúng ta cũng có thể tìm thấy lối chồng hơi độc đáo của Minh Vương trong vở Đời cô Lựu với vai Võ Minh Luân. Ở màn gặp lại cha là Võ Minh Thành sau 19 năm gia đình ly tán, mẹ lấy ông hội đồng, còn cha thì bị lưu đày ngoài Côn Đảo. Tâm trạng một chàng thanh niên nhà quê ngày ngày đi câu cá nuôi mẹ già (Bà Hai Hương) vừa biết về quá khứ giông bão của gia đình đã được Minh Vương thể hiện trọn vẹn. Đến mức mà, thế hệ sau, dù có nhiều nghệ sỹ được mệnh danh là ngôi sao đóng, nhưng hễ nhắc đến Võ Minh Luân, là khán giả nghĩ trước tiên đến Minh Vương.
            Và cũng bởi thế mà, dù ở tuổi trên lục tuần, Minh Vương vẫn luôn được yêu cầu diễn đi diễn lại vai chàng thanh niên 19 mà người xem không thấy chán. Trong vai diễn này, ở màn gặp lại cha, Võ Minh Luân – Minh Vương đã bất ngờ chồng hơi vô bản Văn Thiên Tường lớp dựng dây xề kép rất độc đáo: “Ba… hỡi ba… ơi”, cao vút, vừa ngọt, như là tiếng kêu xé lòng, đã khiến cho khán giả nhớ hoài cách ca diễn thượng thừa đó của Minh Vương.
            Tuy nhiên, hai vai để đời mà ở đó hội tụ tất cả tinh hoa nghệ thuật ca diễn của Minh Vương là vai Nguyễn Trãi trong Rạng ngọc Côn Sơn, và vai Minh trong Tô Ánh Nguyệt. Rạng Ngọc Côn Sơn là một vở lịch sử Việt Nam ca ngợi tài đức của Nguyễn Trãi, người đã góp công quan trọng trong chiến thắng chống quân Minh để dựng nên nhà Hậu Lê, và cũng là người đã phải chết oan vì nhà Hậu Lê. Bối cảnh vở tuồng đề cập đến giai đoạn Nguyễn Trãi đã từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, tức lúc không còn trẻ nữa. Bởi vậy, kép đóng vai này đòi hỏi phải có giọng lão, và có một trình độ ca diễn thượng thừa mới có thể lột tả được thần thái của một nhân vật lịch sử văn hóa lớn như Nguyễn Trãi.
            Hồi đầu những năm 1980, khi dựng Rạng ngọc Côn Sơn, đạo diễn khi ấy định nhờ đến “sư phụ” Út Trà Ôn vào vai Nguyễn Trãi. Có thể nói, đây là một dự định rất phù hợp, vì Út Trà Ôn thừa khả năng để đảm đương vai này. Minh Vương khi ấy mới độ 30 tuổi, còn là một kép trẻ đẹp. Giọng ca Minh Vương lại là “giọng kép trẻ” chứ không phải giọng lão. Thế nhưng, Minh Vương đã bạo gan thử sức, và được sự tán đồng của đạo diễn và của bậc tiền bối Út Trà Ôn. Thực tế đã chứng minh, Minh Vương không phụ sự kỳ vọng của các bậc tiền bối khi đã làm bất tử vai Nguyễn Trãi trong cách diễn lẫn cách ca “rất Minh Vương”.
            Trong cách diễn, chàng kép trẻ tuổi 30 diễn vai một vị quan văn tuổi độ 60 rất thành công: không quá lụ khụ, nhưng động tác đủ chậm để thể hiện tuổi tác, đủ thanh thoát để thể hiện thần thái của một bậc ẩn sĩ. Minh Vương đã sử dụng hiệu quả giọng ca cao, trữ tình để thể hiện tâm trạng bi hùng của một vị công thần khai quốc trước vận mệnh của non sông, trước những đổi thay của thời cuộc. Minh Vương lại có tài cá nhấn nhá độc đáo, khiến các câu ca lời thoại mặc sức dễ dàng đi vào lòng người.
            Đến với vai Minh trong Tô Ánh Nguyệt, Minh Vương đã tạo ra một ranh giới cho vai diễn này mà thế hệ sau chưa thấy có ai bước tới. Trong Tô Ánh Nguyệt, ở những màn đầu Minh Vương thể hiện một vai Minh trẻ trung, hồn nhiên trong tình yêu đôi lứa. Nhưng, đến những màn 18 năm sau khi đã cưới vợ theo lệnh mẹ cha và phải lìa xa Nguyệt, Minh Vương đã xuất thần khi thể hiện xuất sắc hình ảnh một người đàn ông trung niên bị giày vò trong nỗi hối hận triền miên nên trở nên già trước tuổi, đến nỗi phải mắc bệnh trầm kha.
            Cái tâm trạng khổ đau, cái tình yêu trước sau như một dành cho Nguyệt, nỗi niềm bất mãn với những đổi thay bất chợt của cuộc đời, đã được giọng ca và cách diễn của Minh Vương thể hiện một cách “không thể nào hay hơn được nữa”. Và từ đó, hễ nhắc đến Tô Ánh Nguyệt là người mộ điệu nghĩ ngay đến Minh Vương-Lệ Thủy, và hễ gặp Lệ Thủy hát Tô Ánh Nguyệt mà không với Minh Vương là người xem cảm thấy thiếu một cái gì đó không thể giải thích được. Hai vai diễn này đã góp phần quan trọng cho Lệ Thủy và Minh Vương liên tục được xem là cặp đào kép cải lương đẹp nhất và ăn ý nhất.

(http://baomoi-photo-1-td.zadn.vn/w460x/16/07/17/24/19867431/3_335934.jpg)
Minh Vương đoạt giải “Khôi Nguyên Vọng cổ” năm 1964

Ca như dòng suối chảy
            Bàn riêng về giọng ca, Minh Vương là một trong những giọng ca bậc thầy của làng tài tử-cải lương. Ở đây nhắc đến chữ “tài tử” là bởi vì dù là nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp, nhưng giọng ca Minh Vương vẫn giữ được một lượng chân phương vừa đủ của tài tử, một lề lối ca đúng tinh thần của các bài bản cổ nhạc. Tức là ca điệu oán thì ra oán, mà điệu nam thì ra nam, chứ không chỉ có sự đúng nhịp mà thôi. Trong làng sân khấu cải lương, không có nhiều nghệ sỹ, dù là nổi tiếng, làm được chuyện đó. Chẳng những vậy mà có nghệ sỹ còn cách tân quá đà để khi ca thì ngày càng mất dần nét chân phương quý báu của tài tử-cải lương.
            Minh Vương xuất thân từ lò ca tài tử của danh cầm Bảy Trạch. Mấy tay đờn cổ nhạc thì phải biết, họ rất nghiêm khắc về cách ca sao cho đúng tinh thần của mỗi bài bản: như ca Nam Xuân thì phải hùng hồn, mà ca Nam Ai thì phải làm não lòng người khác… Minh Vương học ca được một năm và sau đó đi thi đoạt luôn giải nhất Khôi nguyên vọng cổ. Đây không phải là một điều dễ dàng, bởi khi ấy có biết bao nhiêu lò luyện, biết bao nhiêu giọng ca. Nếu Minh Vương không thực sự là một giọng ca có bản lĩnh riêng, thì không thể nào đứng đầu “bảng vàng” chỉ sau một năm học ca như vậy.
            Khôi nguyên vọng cổ đã tạo đà cho Minh Vương leo lên đỉnh cao của nghệ thuật ca diễn. Nên nhớ rằng, đại bang Kim Chung hồi trước có thế mạnh là có đào kép đẹp và những giọng ca mới lạ. Bởi vậy, về với Kim Chung là Minh Vương đã về đúng nơi cần đến để có điều kiện trau dồi, học hỏi nâng cao chất lượng giọng ca.
            Khi Minh Vương còn đang mài mò tìm lối riêng cho giọng ca của mình, thì phía trước Minh Vương đã có hai đàn anh nổi tiếng vang dội thời đó là Minh Cảnh và Minh Phụng. Nhờ đó, mà cái tên Minh Vương thường được gọi kèm chung với hai đàn anh là “Tam Minh”, tức “Minh Cảnh-Minh Phụng-Minh Vương”. Thế nhưng, đây cũng là một trở ngại lớn đối với Minh Vương vì hai ngôi sao Minh Cảnh và Minh Phụng quá sáng chói và Minh Vương khó có cơ hội sáng lên cho được.
            Thời gian trôi qua, Minh Vương đã dần chứng minh được bản lĩnh khi giọng ca Minh Vương đã “đủ cân đủ lượng” đứng độc lập ở một góc trời riêng. Có một số người xếp Minh Vương và Minh Phụng vào trường phái ca của Minh Cảnh. Thế nhưng, nghe kỹ lại, đây là ba chất giọng và ba kiểu ca rất riêng biệt.
            Trong thập niên 1960, Minh Cảnh được xem là một giọng ca “lạ”, cách tân với lối ca lạng bẻ, kiểu cọ, khác biệt với các bậc tiền bối ca lối thiên về chân phương như Út Trà Ôn hay Hữu Phước. Giọng ca Minh Vương có giống với Minh Cảnh là nghe rất nhẹ, rất mướt. Còn lại, thì Minh Vương ca thiên về lối chân phương của Út Trà Ôn. Tức là ca không cầu kỳ lạng bẻ mà thánh thoát nhẹ nhàng, bình dị, giữ được nét mộc mạc của đờn ca tài tử. Minh Vương có làn hơi khỏe khoắn, trong, âm vực rộng lên thật cao, xuống thật thấp vẫn tròn vành rõ chữ, có thể ca nhiều tông khác nhau mà không bị lạc giọng, không bị tù hơi. Giọng Minh Vương thanh thoát, chân phương, bình dị, có chút mùi mẫn, trữ tình, đầy nam tính và không bi lụy.
            Nói về nhịp nhàng, Minh Vương là một trong những nghệ sỹ bậc thầy về nhịp. Càng về sau, khi tài năng càng phát triển, Minh Vương ca không theo khuôn nữa, mà ca theo lối rải nhịp đều ở các câu như Út Trà Ôn. Minh Vương lại thường để nhiều chữ ở cuối câu rồi “ca lùa” rất hay. Cách ca này rất khó, bởi phải chắc nhịp lắm mới dám ca, nếu không sẽ tạo cảm giác vụng về ngay. Nghe Minh Vương ca, người nghe thật khó nhận biết đang ở nhịp nào, nhưng khi Minh Vương xuống nhịp cuối câu thì “y như để”.
            Tuy nhiên, nét “đắt giá” nhất ở giọng ca Minh Vương, đó là ca rất trọng sự nhấn nhá theo phím đàn. Nghe Minh Vương ca, người nghe có cảm giác giọng ca và tiếng đàn hòa quyện vào nhau, để có khi nghe tiếng đờn nâng nhẹ lời ca, và để có khi nghe lời ca nhảy nhót tung tăng trên phím đàn. Cách nhấn chữ của Minh Vương theo phím đàn nghe rất rõ chữ đàn, và nghe rất “đã tai”, giống như đang đứng xa xa vừa ngắm dòng suối vừa nghe tiếng nước suối chảy vậy. Phải có một tài năng ca thượng thừa mới có thể ca được như vậy.
            Giọng ca Minh Vương đã ghi dấu ấn qua vô số bài vọng cổ thuộc đủ thể loại. Minh Vương ca vọng cổ theo lối tự sự xưa rất hay, và người mộ điệu hiện tại vẫn còn “mê mẫn” với rất nhiều bài kinh điển như: Lòng Dạ Đàn Bà, Lá Bàng Rơi, Gánh Nước Đêm Trăng, Đội gạo đường xa, Người đánh đàn trên Bắc Mỹ Thuận…
            Những bài này thường dài đến 6 câu, viết theo lối kể chuyện tâm tình, nên rất kén giọng ca. Ca làm sao để không cho thấy buồn quá, không cho thấy dài dòng quá, để tránh tạo cảm giác nhàm chán cho người nghe. Với giọng ca Minh Vương, người mộ điệu nghe những bài trên, càng nghe thì càng thấy “đã”.
            Còn đối với tân cổ giao duyên, Minh Vương đã thể hiện thành công vô số bài với nhiều nữ nghệ sỹ đủ các thế hệ. Giọng ca Minh Vương có nét tươi trẻ, nên ca tân cổ giao duyên là một lợi thế. Có thể kể một số bài nổi nhất như: Trương Chi Mỵ Nương, Người em Vĩ Dạ, Đám cưới trên đường quê, Chuyến tàu hoàng hôn, Màu tím hoa sim, Thân phận, Mimosa, Áo em chưa mặc một lần, Cô bán sầu riêng…
            Thế nhưng, đặc biệt nhất là bài tân cổ giao duyên Bánh Bông Lan của soạn giả Loan Thảo. Đây là một bài ca theo kiểu đối đáp giữa một chàng trai đang theo đuổi một cô gái làm nghề bán bánh bông lan với lời văn rất dễ thương, nhưng rất khó ca vì hai người phải vừa ca vừa nói liên tục trong lòng bản. Bài hát này đã trở nên gắn liền với Minh Vương-Lê Thủy, tức nghe người khác ca người mộ điệu sẽ lập tức cảm thấy không được “đã”.

Xứng danh “Trạng nguyên vọng cổ”
            Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày đoạt Khôi nguyên vọng cổ, giọng ca Minh Vương vẫn trẻ trung, mượt mà, điêu luyện, và vẫn còn ru lòng người mộ điệu cải lương, kể cả thế hệ trẻ. Lối ca giữ được cái hồn mộc mạc và tinh thần bài bản của đờn ca tài tử là rất đáng quý ở Minh Vương. Giọng ca Minh Vương tựa như một dòng suối nhỏ: trong trẻo, không ồn ào mà âm thanh phát ra rất rõ, đủ để tưới mát những tấm lòng, đủ để ru hồn bằng những thanh âm nhấn nhá du dương, đủ để khiến người nghe được thả hồn theo lời ca tiếng đờn cổ nhạc. Nửa thế kỷ đã trôi qua, đến hiện tại, có thể nói rằng, Minh Vương luôn xứng danh là “trạng nguyên vọng cổ”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 3/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140301-minh-vuong-50-nam-trang-nguyen-vong-co

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 07/07/2017, 17:34:03
Gánh hát cải lương và chuyện Nam Vang đi dễ khó về

Những năm đầu của thập niên 1940 gánh hát Phụng Hảo do nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há thành lập đã đi diễn khắp cả ba miền đất nước. Sau thời gian lưu diễn trên nhiều tỉnh từ Nam ra Bắc, Má Bảy Phùng Há quyết định đưa đoàn Phụng Hảo sang xứ Chùa Tháp, phục vụ kiều bào ta ở Campuchia.

(http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm261-05202016221413.html/phungha-622.jpg)
Nữ nghệ sĩ Phùng Há

“Trai đi có vợ gái về dẫn con”
            Trước đây tôi có dịp tiếp xúc với Má Bảy Phùng Há ở Chùa Nghệ Sĩ Gò Vấp năm đó bà đã ngoài 90 nhưng còn minh mẩn. Tôi có đề cập đến việc khi xưa đoàn Phụng Hảo đi lưu diễn bên Campuchia, thì Má Bảy kể lại rất nhiều chi tiết về đoàn Phụng Hảo lúc đó. Má Bảy nói rằng thời kỳ ba nước Đông Dương với chính quyền là người Pháp, còn xài chung một thứ tiền (Banque de l’Indochine) việc đi lại giữa ba nước dễ dàng, nên cuối năm 1945 đêm chót hát tại Tân Châu, Châu Đốc bà cho dọn gánh Phụng Hảo xuống ghe (có tàu máy kéo) ngược dòng sông Cửu Long lên Nam Vang hát tại rạp Kim Phụng. Lúc đầu dự tính hát vài tháng rồi trở về, nhưng hễ bớt người đi coi sắp sửa dọn về thì khán giả đông đảo trở lại quá mức, thì hết cả gánh đâu còn ai muốn về nữa, cứ như thế mà lần lựa mãi đến gần 5 năm.
            Và bà cũng nói thiên hạ nói rằng “Nam Vang đi dễ khó về, trai đi có vợ gái về dẫn con” thì quả đúng như vậy đối với gánh Phụng Hảo lúc đó. Có mấy cô đào đóng vai phụ, vai tỳ nữ lên đây hát thời gian rồi có chồng ở Nam Vang, lúc về chỉ để thăm nhà rồi trở lại đất Campuchia. Còn kép hát thì mấy người có vợ bên đó rồi ở luôn không về nữa. Lần đó gánh Phụng Hảo đóng trụ luôn một rạp Kim Phụng cho đến 1950 mới đáo trở về Sài Gòn, như vậy kể như gần 5 năm mà đêm nào cũng có khán giả, người mình ở bên đó ham thích cải lương vô kể.
            Kiều bào ta ở Nam Vang phần đông là những người gốc từ các tỉnh Miền Nam, qua bên đó lập nghiệp rồi ở luôn, có người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba và có thể thứ tư, thứ năm, mà tổ tiên của họ đã rời đất nước Việt Nam từ lâu đời, như vậy không thể nói là họ thấm nhuần cải lương hơn ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long Xuyên, Rạch Giá vốn là những cái nôi của cải lương cổ nhạc. Thế nhưng do đâu mà họ lại mến mộ cải lương một cách mạnh mẽ, ủng hộ bộ môn nghệ thuật này còn nhiều hơn ở trong nước, dám “nuôi” một đoàn hát nằm một chỗ đến những 5 năm trời.
            Vấn đề trên thì người am hiểu thực trạng, tâm lý Việt kiều ở Campuchia, họ nói rằng kiều bào ở bên Campuchia tâm trạng chung của họ là buồn vì xa nhà, xa quê, xa bà con thân thuộc xóm giềng, nỗi buồn viễn xứ luôn luôn canh cánh bên lòng, mà nguồn an ủi của họ lúc bấy giờ không có gì hơn là cứ chiều chiều gom lại rạp hát cải lương gặp người đồng hương tâm sự chuyện trò. Ban ngày họ tỏa ra đi làm ăn tứ tán, tối đến thì tập trung ở rạp Kim Phụng là rạp hát duy nhứt ở Nam Vang có hát cải lương. Không khí ở đây làm cho họ bớt nhớ nhà, bởi ngoài rạp hát ra còn có cả phê hủ tiếu, tiệm tạp hóa buôn bán những món hàng từ Việt Nam đem sang, coi như ở khu vực quanh rạp hát này là địa điểm sinh hoạt của kiều bào ta vậy. Lâu ngày chày tháng thành thói quen, hôm nào không đến đây là coi như thiếu cái gì đó, và do số người tập trung đông đảo thì dĩ nhiên số người muốn coi hát cải lương cũng không ít, họ rủ nhau đi coi, không tiền mua vé thì có người thân bạn bè bao cho, bữa khác bao lại, cứ như thế mà gánh hát luôn luôn có khán giả.

Đất Nam Vang linh thiêng
            Cũng trong lần tiếp xúc đó tôi có hỏi Má Bảy có biết tại sao mà “Nam Vang đi dễ khó về”, có thật như vậy cho nhiều người không, và câu nói đó có từ bao giờ thì Má Bảy nói rằng câu nói đó đã có trong dân gian từ lúc nào đâu ai biết, nhưng rất nhiều người nhìn nhận như vậy, họ chứng minh bằng trường hợp của người này, hoàn cảnh của người kia. Người ta nói đất địa Nam Vang linh thiêng, nếu đã ăn cơm ở đó, làm ăn được ở đó thì không chuyện này thì chuyện khác xui khiến cho không rời khỏi được, mà phải ở lại thôi. Có người còn chỉ cho cách nếu muốn về nước, thì cứ âm thầm đừng nói ra, đừng tuyên bố gì hết, rồi bất ngờ ra xe, xuống tàu thì về được, chớ còn nói ra, từ giã bạn bè thân hữu trước khi đi thì coi như bị trở ngại gì đó bắt buộc phải ở lại.
            Đó là đối với những người bỏ quê hương xứ sở lên Nam Vang làm ăn, còn cải lương thì tình trạng khác với người lên đây lập nghiệp, người ta khi kiếm được số vốn thì muốn về thăm quê hương, còn gánh hát cải lương thì ngược lại, ngày nào có tiền vô là ngày đó còn người coi, thì lại càng muốn ở lại hơn, chỉ khi nào ít khán giả thì mới tính đến chuyện rời khỏi. Thế mà cải lương cũng bị Nam Vang đi dễ khó về.
            Má Bảy thuật lại rằng, người nọ làm ăn có dư tiền, dự tính về Việt Nam cả mấy tháng trước, đồ đạc quần áo vô sẵn vali, chỉ chờ ngày lên đường, nhưng vào giờ chót thì bị bệnh bất ngờ phải ở lại điều trị, đến khi hết bệnh thì tình hình đã đổi khác, công chuyên làm ăn phải ở lại giải quyết, thế là hết về! Một trường hợp khác, ông nọ làm ăn khá, dành dụm được nhiều tiền dự tính về Việt Nam cất nhà cho rỡ mặt với bà con xóm làng. Sửa soạn đâu đó xong xuôi đi từ giã bạn bè thì gặp sòng bài, lúc đầu định chơi vài ván cho vui, tới chừng thua thì muốn gỡ, càng gỡ lại càng thua, cuối cùng thì bao nhiêu tiền kiếm được ở Nam Vang phải trả lại đất Campuchia mà còn thêm nợ. Đó là nói sơ qua một vài trường hợp, chớ còn hằng trăm hằng ngàn trường hợp khác tùy theo hoàn cảnh riêng của mỗi người đâu thể kể hết được.
            Có lúc con số khán giả bị vơi, gánh hát chuẩn bị dọn về nước thì tự nhiên đông đảo người đi coi hát khiến cho phải ở lại tiếp tục hát. Vấn đề này đa số người trong gánh hát đều cho rằng đất Nam Vang linh thiêng giống như thiên hạ đồn đãi, nhưng riêng Má Bảy thì bà một phần cũng tin nơi vô vi huyền bí, nhưng phần khác thì cũng tìm hiểu thực tế như thế nào, và đã tìm ra căn nguyên của vấn đề.
            Bà nói số là kiều bào ta ở Nam Vang rất nhạy cảm với cải lương, lúc gánh hát mới dọn đến là thiên hạ rủ nhau đi coi, hầu như ai cũng muốn coi qua vài tuồng, ít nhứt cũng một lần thưởng thức hương vị quê hương. Họ không nhứt thiết phải coi đêm đầu mà mấy đêm sau cũng được, không bữa này thì bữa khác, bởi họ biết gánh hát còn ở đây lâu, chớ không lẽ mới lên lại dọn về.
            Thế nhưng, đến khi nghe đồn gánh hát sắp sửa dọn về nước thì thiên hạ lại ùn ùn đi coi, người ta có ý tưởng khó còn dịp, bởi một khi gánh hát quay về Việt Nam rồi thì khó mà lên đây trở lại, một hai năm sau chưa chắc có gánh hát nào dọn lên, do đó mà họ thu xếp công việc đi coi, chớ không thôi thì không còn dịp. Không riêng gì bà con ở Nam Vang mà kiều bào đang sinh sống ở những nơi xa xôi như Cần Ché tức tỉnh Kratié, trong đó có nhiều người gốc ở Long Xuyên lên đây làm nghề thợ mộc, mở trại mộc. Những người có nghề chài lưới họ tập trung ở Biển Hồ, cả những người ở Siêm Riệp và tận Battambang gần biên giới Thái Lan, cũng về Nam Vang mà mục đích là coi cải lương, thành ra suốt hơn hai tháng trời, rạp hát Kim Phụng khán giả chật ních.
            Sau đợt đó, người coi hát vừa giảm bớt thì lại gần Tết, mà Tết đến thì dù ở đâu gánh hát cũng hốt bạc, dọn đi làm chi cho tốn kém. Cũng giống như người Việt ở Mỹ hiện nay, phần đông ăn hai cái Tết: Tết Dương Lịch và Tết Nguyên Đán, ở Nam Vang người Việt mình cũng ăn tới hai cái Tết: Tết ta và Tết Campuchia. Mùa nước ở Campuchia thì ai nấy cũng đều nghỉ xả hơi, người Campuchia lẫn người Việt nghỉ ăn chơi cả tháng, bỏ tiền ra ăn xài, ở Campuchia dễ làm ăn họ xài tiền không biết tiếc. Đối với gánh hát cải lương thì Tết ai cũng được, miễn là có người đi coi là bán vé, bán càng nhiều càng vui vẻ cả làng Câu chuyện gánh hát Phụng Hảo hát suốt 5 năm tại một rạp Kim Phụng ở Nam Vang, cũng như chuyện bên lề còn dài.

Chuyện vui cải lương
            Người Việt Nam mà sao không biết ăn mắm kho?
            Soạn giả Thanh Cao khi còn là nghệ sĩ hát ở gánh Đồng Thinh của bầu Hai Liêm, lúc đoàn đang hát tại Giồng Trôm, Bến Tre, thì xảy ra biến cố Nhựt đảo chánh, ngày 9 tháng 3 năm 1945.
            Đoàn tạm ngưng hoạt động, nghệ sĩ Thanh Cao đi lang thang ngoài chợ, tướng anh cao lớn như Tây, mũi cũng cao lại mặc đồ Tây tươm tất. Thời này ở vùng quê đa số thiên hạ mặc đồ bà ba đen, hoặc trắng, mà Thanh Cao lại ăn diện như Tây, nên lính Nhựt thấy Thanh Cao nghi anh là Tây lai nên bắt đem về đồn. Tin này làm xôn xao cả chợ Giồng Trôm, hề Giáo Xe liền mang giấy tờ chứng minh Thanh Cao không phải là Tây lai, nhưng lính Nhựt không tin. Lính Nhựt còn dò biết Thanh Cao biết rành tiếng Pháp nên chúng càng nghi. Bởi vậy qua viên thông ngôn lính Nhựt hỏi anh:
            “Này, anh có biết ăn mắm kho không?
            Thanh Cao từ nhỏ đến lớn không ăn được mắm nên trả lời:
            “Dạ, tôi không biết ăn mắm kho
            Lính Nhựt cười, càng khẳng định anh là Tây lai và đem nhốt vào khám. Lúc vào nhà giam Thanh Cao tự trách mình là người Việt mà không tập ăn mắm kho như mọi người, nên mới khổ như vầy. Mãi đến mấy hôm sau ông bầu Hai Liêm đích thân đến đồn Nhựt làm giấy bảo lãnh Thanh Cao, anh mới được thả ra và đoàn tiếp lưu diễn.


***

Nếu như một đoàn hát cải lương mà nay hát chỗ này, mai dời đi hát chỗ nọ, thì vấn đề tuồng tích chẳng phải là việc bận tâm cho bầu gánh, nhưng nếu hát một chỗ lâu ngày suốt 5 năm chỉ một rạp như gánh hát Phụng Hảo của Má Bảy Phùng Há ở Nam Vang thì tuồng tích là cả một vấn đề, một khó khăn bắt buộc người bầu gánh phải quan tâm mỗi ngày.

(http://image.thanhnien.vn/665/uploaded/congthang/2017_05_06/p82_xcsd.jpg)
Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương. Ảnh tư liệu gia đình

Kỷ lục lưu diễn
            Người ta còn nhớ khoảng cuối thập niên 1950 gánh Hoài Dung Hoài Mỹ, vốn liếng chưa được mười vở hát, kể cả những tuồng không ăn khách ít khi được mang ra hát. Thế mà vẫn đủ dùng, bởi lẽ tuồng hát ở tỉnh này, khán giả coi qua rồi kể như cũ, nhưng đi chỗ khác thì mới trở lại, bởi ở đó người ta chưa coi. Do vậy mà ông bà bầu là soạn giả Nguyễn Huỳnh và đào Hoài Dung chẳng hề lo lắng.
            Lúc ấy đoàn có một vở hát mang tên tựa “Người Mẹ tội lỗi” của chính soạn giả Nguyễn Huỳnh là tuồng ăn khách, đoàn dọn đến đâu cũng hát tuồng chủ lực đó, có khi một địa điểm mà diễn đến hai, ba đêm, bởi khán giả còn mua vé đi coi thì tuồng lại tiếp tục hát, chắc ăn hơn là tuồng khác mà có thể ít người đi coi, xưa nay là thế.
            Tuồng “Người Mẹ tội lỗi” vừa hát đêm chót tại Bình Dương, hai hôm sau đã thấy dựng bảng hát ở Đồng Xoài, rồi vài hôm nữa thì thấy “Người Mẹ tội lỗi” lại xuất hiện ở Ban Mê Thuột. Khán giả ở đây vừa coi tuồng này được vài ngày, thì tài xế chiếc xe đò từ Kontum về, báo cho biết, ông vừa đưa đào kép của gánh hát lên đó, trong lúc còn đang xuống đồ đạc thì đã thấy đoàn mướn xe lam đi rao quảng cáo hát tuồng “Người Mẹ tội lỗi”. Và khi dọn xuống Qui Nhơn, đi dọc theo miền duyên hải ra Đà Nẳng, Quảng Trị, bất cứ địa điểm nào tuồng ăn khách nói trên cũng được diễn. Về sau đoàn Hoài Dung Hoài Mỹ rã gánh, soạn giả Nguyễn Huỳnh trao tuồng “Người Mẹ tội lỗi” cho ông bầu Xuân, đổi tên là “Tướng Cướp Bạch Hải Đường”, trình diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương cũng rất ăn khách. Các kỳ sau tôi sẽ có bài nói chuyện về tuồng “Tướng Cướp Bạch Hải Đường”.
            Giờ đây trở lại chuyện gánh hát Phụng Hảo của Má Bảy Phùng Há, lên hát ở Nam Vang vào cuối thập niên 1940, đã đạt một kỷ lục bám trụ, mà sau này nhắc lại người trong giới ai cũng thán phục, thèm thuồng. Và như đã nói nếu gánh hát rày đây mai đó, thì tuồng hát cũ chỗ này, nhưng lại mới chỗ kia, chớ như gánh hát nằm một chỗ suốt 5 năm như gánh Phụng Hảo thì dĩ nhiên Mà Bảy phải tìm cách nào đó có tuồng lạ để hát, chớ không lẽ cứ hát đi hát lại mãi những tuồng đã diễn qua nhiều lần rồi, ai coi lại không chán.
            Hát một rạp từ năm nầy sang năm khác thì bao nhiêu tuồng cũng đem ra xài hết, kể cả những tuồng ít ăn khách đã bỏ qua một bên từ lâu, cũng được chiếu cố. Người ta còn nhớ lúc đoàn Kim Chung vô Nam, năm đầu cũng đi lưu diễn như các gánh hát trong Nam thì thất bại, khán giả miền Nam không thích coi lối hát của đào kép miền Bắc dù rằng đào Kim Chung rất nổi tiếng. Do đó mà ông Bầu Long mới bỏ tiền vốn ra thuê mướn dài hạn rạp Aristo, cho đoàn bám trụ nằm thường trực tại rạp này.
            Có lúc Kim Chung hát cả tháng chỉ một tuồng mà vẫn có khán giả, do là nhờ tình hình lúc đó đồng bào miền Bắc mới di cư vào Nam, phần đông thất nghiệp trăm phần trăm. Buồn quá! Nhớ quê hương, nhớ người thân kẻ thuộc ở lại ngoài Bắc. Sẵn tiền trợ cấp của Phủ Tổng Uỷ Di Cư, họ bỏ ra chút ít đi coi hát giải buồn. Mà coi cải lương thì chỉ có đoàn Kim Chung là thích hợp đối với họ, nên Kim Chung hát cả tháng chỉ một tuồng vẫn có khán giả là vậy.
            Còn gánh Phụng Hảo ở Nam Vang thì không có ba yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như đoàn Kim Chung lúc đó, phải thay đổi tuồng mới có khán giả. Gánh hát của Má Bảy chuyên hát tuồng Tàu, các tuồng Lữ Bố Điêu Thuyền, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Thần Nữ dưng Ngũ Linh Kỳ, Đào Tam Xuân, Trảm Trịnh Ân, Mộng Hoa Vương, Kinh Kha thích khách Tần Thủy Hoàng, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, Tái Sanh Duyên, Mạnh Lệ Quân thoát hài v.v… nói chung tuồng nào cũng hát qua trên cả chục lần, khán giả đã nhàm chán, chưa biết xoay sở ra sao để giữ khán giả, thì một bữa nọ vợ chồng nghệ sĩ Năm Châu, Kim Cúc từ Sài Gòn lên thăm Má Bảy cùng anh chị em nghệ sĩ, và sẵn dịp thăm bạn bè người thân ở bên Miên. Khi đi Năm Châu mang theo một số tuồng như Sân Khấu Về Khuya, Vợ Và Tình, Khi Người Điên Biết Yêu, Đoạn Tuyệt v.v… nghệ sĩ Năm Châu đề nghị với Má Bảy hát tuồng xã hội, bà đồng ý ngay, bởi lý do gánh hát đã cạn tuồng, phải thay đổi khẩu vị cho khán giả, đồng thời cũng cho Năm Châu có số tiền bản quyền, chi phí trong thời gian ở Nam Vang. Các vai thì Năm Châu chia vai với kép chánh Tư Út, và đào Kim Cúc cũng có vai trò.

Kép chánh Tư Út
            Thay đổi tuồng tích khán giả đi coi đông không thể tưởng, chỉ nội tuồng Đoạn Tuyệt do soạn giả Năm Châu phóng tác theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nhất Linh, mà hát suốt ba tuần vẫn còn đầy nghẹt khán giả. Lên thăm Nam Vang lần đó Năm Châu dự tính có một tháng, mà ở luôn ba tháng, làm cho gánh Phụng Hảo tiền vô như nước, đào kép đi chợ Nam Vang mua sắm phủ phê, và vợ chồng Năm Châu Kim Cúc lúc ra về cũng nặng túi. Má Bảy cũng nói thêm rằng hai vở tuồng thu tiền nhiều nhứt ở Nam Vang là: Mộng Hoa Vương, tức “Một Đêm Trăng Trong Vườn Ngự Uyển”, và tuồng Đào Tam Xuân Báo Phu Cừu, tức “Trảm Trịnh Ân”. Nhưng hai tuồng này đã không còn hát từ năm 1948, tức kể từ ngày kép chánh Tư Út đột quỵ trên sàn diễn ở Nam Vang.


(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/0/02/Khucoanvoluong1931.JPG)
Từ trái sang: Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong Tuồng Khúc Oan Vô Lượng,
gánh Trần Đắc ở Cần Thơ diễn trên sân khấu khoảng năm 1931. Hình: Ngành Mai sưu tầm

            Nghệ sĩ Tư Út nổi tiếng cùng thời với Năm Châu, Năm Phỉ, Tư Chơi, Tư Sạng, Kim Thoa, Phùng Há, Hề Tỵ… ông từng đóng vai Điệp và cô đào tài sắc Năm Phỉ vai Lan, trong tuồng Hoa Rơi Cửa Phật. Trong tuồng Tái Sanh Duyên thì Tư Út đóng vai Hoàng Phủ Thiếu Hoa, Năm Châu vai Lưu Khuê Bích và Phùng Há vai Tô Ánh Tuyết. Tư Út đầu quân gánh Phụng Hảo, theo đoàn đi Nam Vang hát tại đây suốt mấy năm liền, và là kép chánh đóng cặp với nghệ sĩ Phùng Há nên khá nhiều người biết mặt.
            Tuồng Trảm Trịnh Ân, nghệ sĩ Tư Út đóng vai Trịnh Ân được khán giả ngợi khen đáo để, người ta xúc động nhứt là cảnh Trịnh Ân bị ngự lâm quân dẫn ra pháp trường, dàn nhạc trỗi lên bản Nam Ai lớp mái, khiến người coi hát rụng rời, họ oán trách Hàng Tố Mai và Hàng Phụng. Người ta cho rằng cái “trung” của Trịnh Ân thật là phi lý, quá đáng, bị người đời sau chê trách và lập luận của thiên hạ thì ít ra Trịnh Ân cũng phải chờ gặp vua để biết tự sự rồi có chết cũng được, đâu có muộn màng gì. Đằng nầy thấy chiếu của vua là chịu chết mà không một phản ứng nào hết, để cho sự thể xảy ra làm lớn chuyện luôn. Có đọc truyện Tàu ai cũng biết do Hàng Tố Mai phục rượu Triệu Khuôn Dẫn say mèm, không còn biết gì nữa rồi cầm tay cho ông vua phê chiếu đem Trịnh Ân xử trảm.
            Đến màn Đào Tam Xuân kéo binh về báo thù chồng cũng được khán giả cho là quá hay, nghệ sĩ Phùng Há trong vai Đào Tam Xuân, đã ra lệnh quân binh tướng sĩ lục soát tam cung lục viện, bắt được Hàng Tố Mai trốn ở dưới chiếc ngài vàng. Cái chẳng nể nang ông vua chút nào của Đào Tâm Xuân, kẻ khen người chê. Số đông khán giả thuộc lớp người “dân chủ” thì khen phải làm như vậy mới được, bằng không gian thần lộng quyền. Còn thiểu số theo “Quân chủ chuyên chế” thì nói rằng “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, họ chê Đào Tâm Xuân vì câu “phu phụ tình thâm” mà quên đi cái chữ “Quân thần nghĩa trọng”.
            Cảnh chót Đào Tam Xuân cho lập bàn hương án, và Hàng Tố Mai thì bị quấn chặt bằng vải tẩm dầu, làm cây đèn cho Đào Tam Xuân tế chồng. Cảnh này nghệ sĩ Phúng Há ca bài Nam Ai lớp mái có đoạn: “dầu tử sanh thì cũng liều thân vợ mà nguyện trả được thù chồng”. Vừa dứt tiếng “thù chồng” thì rạp hát vang dậy, khán giả chú tâm theo dõi cảnh đốt Hàng Tố Mai. Đèn sân khấu tắt, thay Hàng Tố Mai giả vào (hình nộm) đốt vừa cháy lên là hạ màn ngay để lấy mền trùm lại cho tắt.
            Kép chánh Tư Út được hoan nghinh nhiều nhứt là vai Trịnh Ân, và Má Bảy nói nếu như nghệ sĩ Tư Út chưa chết thì chắc rằng tuồng Trảm Trịnh Ân còn thu tiền dài dài ở Nam Vang. Do căn bệnh nào mà kép chánh Tư Út chết ở Nam Vang. Và cũng kể từ đó Má Bảy Phùng Há không hát trở lại tuồng Mộng Hoa Vương lần nào nữa. Tại sao vậy? Kỳ tới chúng tôi sẽ trình bày tiếp.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0615-nm-06152013123133.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 10/07/2017, 17:12:23
Gánh hát Phụng Hảo lưu diễn ở Nam Vang

Gánh hát lên Nam Vang ở lâu đến 5 năm, thì dĩ nhiên mọi người trong gánh hát ai cũng nhớ nhà, nhớ quê hương xứ sở Việt Nam, ai cũng có về thăm nhà, người có nhà cửa sự nghiệp ở Nam Vang họ còn muốn về, huống chi là gánh hát nơi nào cũng là tạm hết, mà một chỗ ở tới 5 năm trời thì họ cũng sắp xếp để về thăm, đặc biệt là họ về vào ngày giỗ ông bà cha mẹ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-062913-nm-06282013171724.html/mc-2-305.jpg/image)
Kim Cúc – Năm Châu – Phùng Há trong vở Tuyết Băng và bạo lực

Nhớ quê hương
            Lúc đi thì bằng ghe phải mất mấy ngày mới tới, nhưng khi về thăm nhà thì chẳng ai đi ghe tàu cả, mất thì giờ, mà đi bằng xe đò chỉ một buổi là tới nơi. Hồi đó có xe đò chạy đường Sài Gòn – Nam Vang, sáng khởi hành tại dốc cầu Sài Gòn, và khoảng 12 giờ trưa là đến bến xe Chợ Lớn. Ở Nam Vang có chiếc cầu không biết do ai đặt tên, mà lại mang tên “Cầu Sài Gòn”, người Việt cư ngụ ở đây khá đông nên xe đò đậu bến ngay ở chỗ dốc cầu, mỗi ngày đưa hành khách về Việt Nam và ngược lại. Nhờ đi xe đò dễ dàng, mau tới, nên trừ một số ít là họ không về hoặc không cần về, chớ phần đông anh chị em đào kép công nhân thì năm nào cũng về thăm quê hương, có người một năm về Việt Nam tới mấy lần, và khi đi như vậy thì vai trò nhờ người khác thay thế, những người không vai trò hát thay cho, hoặc một người đóng hai vai. Các vai phụ người ta ít chú ý, hơn nữa trang phục tuồng Tàu mang hia đội mão rất khó phân biệt đào kép thủ hai vai. Riêng Má Bảy Phùng Há là đào chánh, nếu không có mặt là khán giả biết ngay, do đó mà không lần nào về thăm Việt Nam mà ở quá hai đêm, có khi ở Sài Gòn một đêm thôi là phải trở lại Nam Vang ngay, vậy mà bà cũng về cả chục lần.
            Đối với một người mà tên tuổi gắn liền với nghệ thuật cải lương như Má Bảy Phùng Há, thì dĩ nhiên trong đời đi hát không biết bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn, nếu kể hết ra từng sự việc xảy ra trong gần tám thập niên, phục vụ nghệ thuật thì chắc phải viết thành cuốn nhựt ký nhiều trang. Do đó tôi chỉ xin Má Bảy kể lại kỷ niệm nào đáng ghi nhớ nhứt, ăn sâu vào tâm khảm nhiều nhứt, thì câu trả lời của Má Bảy là: Sanh nghề tử nghiệp.
            Câu chuyện sanh nghề tử nghiệp đã ám ảnh Má Bảy suốt nhiều thập niên, mà cho đến ngày đã gần đất xa trời rồi, mà khi nhắc tới cũng tưởng chừng như mới gần đây thôi, như vậy cho thấy rằng câu chuyện phải có gì đặc biệt lắm, chớ nếu không thì đâu có vương vào tâm trí lâu dài.
            Số là trong thời gian đoàn Phụng Hảo, đóng trụ tại rạp Kim Phụng ở Nam Vang suốt 5 năm, như đã nói qua ở mấy kỳ trước, mà lúc bấy giờ thành phần nghệ sĩ hầu hết đều còn trẻ, kể cả Má Bảy cũng còn ở tuổi thanh xuân, thì một chuyện đau buồn đưa đến không những làm rúng động trong đoàn hát, mà luôn cả khối người Việt đang làm ăn sinh sống ở Nam Vang, cũng xúc động bàng hoàng, đó là nghệ sĩ kép chánh Tư Út chết trên sàn diễn, trong lúc đang hát đóng cặp với nghệ sĩ Phùng Há trong tuồng Mộng Hoa Vương.

Chuyện chẳng lành
            Năm 1948 một đêm nọ trước mấy trăm khán giả, gánh Phụng Hảo đang diễn tuồng Mộng Hoa Vương, tức “Một Đêm Trăng Trong Vườn Ngự Uyển”, nghệ sĩ Phùng Há đóng vai Mộng Hoa Vương và kép Tư Út trong vai sứ giả Ngô Trung Cảnh. Buổi diễn đêm nay là lần diễn cuối cùng của Tư Út, hai màn đầu hào hứng đi qua, khán giả hồi hộp say mê với màn ba, cảnh đêm trăng huyền ảo, vườn ngự uyển đẹp như thiên thai, nhạc trỗi khúc giao duyên, sóng tình Mộng Hoa Vương xao động. Ngô sứ giả say cảnh đêm trăng, say hương người ngọc, chén quỳnh vơi cạn mấy lần.
            Trong vai Mộng Hoa, Phùng Há dịu dàng lộng lẫy, Ngô Trung Cảnh Tư Út lẫm liệt nhưng đa tình. Mộng Hoa Vương bước tới làm duyên:
            – Dù trẫm là một bậc chí tôn, cũng theo tiếng gọi của trái tim dịu dàng.
            Ngô sứ giả chợt ngây người, rồi ngồi sụm xuống đột biến ngã vào người Mộng Hoa Vương Phùng Há. Tưởng đâu kép chánh Tư Út quên tuồng hát cương cho qua lớp, đào chánh Phùng Há do phản ứng tự nhiên vội vàng đỡ lấy ôm chặt Ngô sứ giả vào người chớ không thôi té ngã, đồng thời kêu:
            – Ngô sứ giả chàng đã say rồi à!
            Không thấy trả lời, Mộng Hoa Vương kêu tiếp:
            – Ngô sứ giả chàng đã say rồi sao, thôi để thiếp đưa chàng vào trướng gấm.
            Nhưng Ngô Trung Cảnh không còn nghe lời yêu đương của nữ hoàng được nữa, chàng gục đầu xuống thiếp đi trong tiếng đàn réo rắc, giọng hát mê ly. Vẫn không thấy Ngô sứ giả động tịnh gì hết, Mộng Hoa Vương mới cuống cuồng lên, kêu các nhạc sĩ ngưng lại, nhưng do kêu tiếng nhỏ nên mấy ông thầy đờn có nghe gì đâu, vẫn tiếp tục hòa nhạc trổi khúc giao duyên. Mộng Hoa Vương day vào trong nói lớn:
            – Thôi đi mấy ông ơi, đờn cái gì nữa, anh Tư Út chết rồi đây nè!
            Giờ đây thì mấy ông thầy đờn mới buông đờn chạy ra tiếp cứu, còn về phía khán giả thì chẳng ai biết ất giáp gì cả, tưởng đâu lớp tuồng là như thế, đến chừng nghe Mộng Hoa Vương tức đào chánh Phùng Há kêu như vậy thì mới biết có chuyện chẳng lành.
            Trong số những người coi hát hôm bữa đó có bác sĩ Nguyễn Văn Minh, rời hàng ghế khán giả nhảy lên sân khấu, làm ngay công việc của một bác sĩ, ông định bệnh cho rằng kép chánh Tư Út bị đứt gân máu.
            Bác sĩ Nguyễn Văn Minh sinh quán ở Miền Nam Việt Nam, du học tốt nghiệp y khoa ở Pháp, cùng thời với bác sĩ Trương Ngọc Hơn, Trần Quang Đệ. Về nước ông qua Miên làm việc trong bệnh viện lớn ở Nam Vang, đồng thời mở phòng mạch tư. Ông có quốc tịch Pháp và ở luôn bên Nam Vang, đến lúc bên Miên “cáp duồn” người Việt, Má Bảy có hỏi thăm nhưng chẳng biết tin tức gì cả, không biết ông có thoát được bàn tay đẫm máu của Pon Pot, chủ trương tiêu diệt các nhà trí thức theo chính sách của Khờ Me Đỏ hay không.
            Nghệ sĩ Phùng Há hét lên, khán giả xôn xao, rạp hát bắt đầu hỗn loạn, tiếng bàn tán vang lên. Tuy vậy khán giả vẫn ngồi lại theo dõi, chớ chưa ai đi về dù là bức màn nhung đã được buông xuống. Phía sau hậu trường cô Phùng Há muốn điên vì không ai chịu thế vai Ngô Trung Cảnh, kép hề Ba Vân, kép Mười Bửu đều không thuộc tuồng. Đối cùng kép Bảy Khải xung phong lãnh vai trò để hát cặp với Phùng Há.
            Trước tai nạn bất ngờ của gánh hát, khán giả dễ dãi ngồi xem không đòi hỏi gì hơn. Xem là xem cho qua đêm diễn, chứ trong lòng họ còn nghĩ đến sinh mạng của Tư Út, người kịch sĩ tài danh đã làm cho họ say mê từ bao lâu nay.
            Tin nghệ sĩ Tư Út chết trên sàn diễn được loan ra nhanh chóng, bất cứ nơi nào có người Việt cư ngụ là có bàn tán, và có quá nhiều câu chuyện kỳ bí được tung ra, không biết những nguồn tin thất thiệt xuất phát từ đâu, mà người ta đồn đãi rằng, tại vì kép hát diễn không đúng bị nhân vật trong truyện về “bắt đi” hoặc là do hát hay quá nên bị Tổ nghiệp “đem về” hát cho Tổ coi ở bên kia thế giới, v.v…
            Thật ra thì lúc ấy kép Tư Út bị đột biến, nhưng có lẽ không trầm trọng lắm, nên sau khi được bác sĩ Minh tiêm cho một mũi thuốc khỏe, vài giờ sau ông tỉnh lại. Thế nhưng, cùng lúc ấy Tư Út lại vướng thêm chứng bệnh đậu mùa, là bệnh truyền nhiễm đáng sợ. Người ta còn nhớ năm 1948, là năm có dịch bệnh đậu mùa khắp cả Đông Dương, gây cho hàng vạn người tử vong, nhiều nhứt là miền thôn quê, hầu như thiên hạ chưa hề biết “trồng trái” là gì.
            Tư Út vướng phải chứng bịnh truyền nhiễm hiểm nghèo ấy, nhưng thật ra không ai ngờ. Những ngày đầu thì vẫn như thường, chỉ có buổi sáng là hanh nóng chóng mặt. Ai cũng tưởng Tư Út bị trúng gió độc trong đêm ấy, chỉ cần nghỉ vài đêm là khỏi ngay. Mỗi ngày bác sĩ đều có đến thăm bệnh và tận tình chăm sóc.
            Thật là một tin sét đánh làm run sợ tất cả mọi người. Bắt đầu ngày thứ tư, Tư Út lúc hôn mê, hay nức cục và làm nhiều triệu chứng đáng sợ. Mỗi lần mê là gọi nghệ sĩ Phùng Há:
            – Cô Bảy ơi! Cô van vái giùm tôi! Cô Bảy ơi!
            Giữa lúc ấy cô Phùng Há và các bạn nghệ sĩ đang lâm vào một tình trạng nguy ngập. Gánh hát đang ở nơi xứ lạ quê người mà Tư Út lại mắc phải bệnh truyền nhiễm, liệu rồi đây hậu quả sẽ ra sao?
            Đến ngày thứ năm, những mụt đen đã nổi có dề trong da, tối ngày anh cứ măn tóc. Cuộc tản cư đàn bà trẻ em trong gánh bắt đầu, ai có nhà quen thì ở tạm hoặc tìm nơi trú ngụ đỡ. Không khí hãi hùng ghê sợ bao trùm gánh hát.
            Ngày nay nhờ y học tìm ra phương pháp trồng trái, nên bệnh đậu mùa coi như bị đẩy lui trên quả địa cầu. Chớ khi xưa đậu mùa là chứng bệnh truyền nhiễm ghê sợ, làm chết người hàng loạt, mà kép Tư Út vướng phải ở Nam Vang. Người xưa có câu “vô đậu bất thành nhân” có nghĩa là người nào mà chưa bị bệnh đậu mùa một lần thì chưa chắc sống, bởi ai đã bị lên đậu rồi thì không có nữa.
            Nếu ai có đọc qua truyện Phong Thần, chắc khó quên một đoạn, lúc binh tướng của Nhà Châu do Nguyên Soái Khương Tử Nha thống lãnh đi dẹp Vua Trụ. Khi đến một thành nọ, bị tướng thủ thành tên là Dư Đức, dùng phép thuật, rải những hạt đậu, làm cho cả quân binh tướng sĩ của Khương Thượng đều bị bệnh đậu mùa. Chỉ có hai người không nhiễm bệnh là Na Tra (nhờ thân thể là bông sen tạo thành) và Dương Tiễn (nhờ thất thập nhị huyền công).
            Nhưng nếu xét theo khoa học thì lúc ấy có dịch đậu mùa, là bệnh truyền nhiễm lây nhanh, nên ai nấy đều bị bệnh vậy. Chớ còn chuyện dùng đậu làm phép cho bị bệnh thì rất khó tin.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-062913-nm-06282013171724.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: huhu vào 10/07/2017, 17:57:48
Trích dẫn
Gánh hát Phụng Hảo lưu diễn ở Nam Vang

Bài viết hay lắm, nhưng có một số từ ngữ không phù hợp.
Ví dụ:
* <..anh chị em đào kép công nhân thì năm nào cũng về thăm quê hương >: đáng lẽ là "Công nhân gánh hát"; (hoặc "anh chị em đào kép, công nhân")

* <Đối cùng kép Bảy Khải xung phong lãnh vai trò để hát cặp với Phùng Há..>:
      -Đối cùng: đáng lẽ dùng "Cuối cùng.."; (hoặc "sau cùng đuối quá ",..).
      -lãnh vai trò: đáng lẽ là : vai tuồng hát, vai hát, vai diễn,
* <Thật ra thì lúc ấy kép Tư Út bị đột biến, nhưng có lẽ không trầm trọng lắm..>: đáng lẽ là "bị đột quỵ" hoặc "bị biến chứng"
* <..những mụt đen đã nổi có dề trong da, tối ngày anh cứ măn tóc..>: "măn tóc " = không rõ nghĩa ?
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 12/07/2017, 15:42:35
Cải lương sanh nghề tử nghiệp

Ở Nam Vang Lúc kép chánh Tư Út vướng phải chứng bệnh đậu mùa truyền nhiễm đáng sợ, thì Má Bảy Phùng Há chạy chơn không bén gót, vì chủ mua giàn hăm đòi bồi thường, họ cho rằng thiếu Tư Út nên họ phải chịu lỗ lã. Chủ rạp hát cũng đòi đuổi Tư Út ra, bởi sợ Sở Vệ Sinh hay được có bệnh truyền nhiễm sẽ đốt rạp hát! Bao nhiêu chuyện dồn dập càng làm cho gánh Phụng Hảo xơ xác hơn lên.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0706-nganhmai-07052013163729.html/NamChauPhungHa-305.jpg/image)
Từ trái sang: Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong Tuồng Khúc Oan Vô Lượng,
gánh Trần Đắc ở Cần Thơ diễn trên sân khấu khoảng năm 1931. Ngành Mai sưu tầm

Đi Miễu Mới cầu may
            Lúc bấy giờ các nghệ sĩ cùng sống với Tư Út đến phút cuối cùng vẫn không hiểu Bà Cốt ở Miễu Mới (Nam Vang) đã lên “đồng” thật hay giả. Qua ngày thứ sáu, Tư Út cứ mê luôn, không còn biết trời trăng gì nữa, nằm cứ tuột gối. Mọi người mới rước Bà Cốt đến lên “đồng” xem cho. Không hiểu hồn “cô cậu” có nhập chăng mà bà cũng trùm khăn đỏ, run lên cầm cập cũng chắc lưỡi cũng khè khè. Một lúc sau, bà ứng lên nói thao thao bất tuyệt và quyết chắc rằng sẽ cứu Tư Út thoát chết. Hồn “cô cậu” bảo đem Tư Út vào miễu.
            Ngôi miễu mới cất, chưa từng được khách thập phương đến viếng, bỗng dưng được hân hạnh rước người kịch sĩ đệ nhất Việt Nam trong giờ hấp hối. Xe đưa Tư Út đến miễu, anh em vừa khiêng xuống để nằm ở nhà khói của miễu, thì Bà Cốt chủ ngôi miễu cũng về tới. Hồn “cô cậu” đã thoát xác nên Bà Cốt trở lại kiếp phàm và nhìn rõ Tư Út, bà hiểu hơn ai hết cái nguy cơ của ngôi miễu. Một khi nhà cầm quyền biết được người chết mắc bệnh truyền nhiễm, chắc chắn là ngôi miễu không thoát được ngọn lửa hung tàn.
            Quyền lợi bị va chạm, “cốt đồng” của “cô cậu” đã phản lại lệnh truyền của “cô cậu” là: “cứu nhân độ thế”. Bà Cốt nhất định đuổi Tư Út ra khỏi miễu. Trước tình cảnh ấy, anh em nghệ sĩ vô cùng đau xót, cô Phùng Há xin bà chủ miễu cho mua đứt cái nhà “khói” để Tư Út nằm, và cam đoan sẽ đền tiền nếu ngôi miễu vì Tư Út mà bị “hỏa thiêu”. Nhưng Bà Cốt nhứt định không nghe.
            Tư Út như hiểu được nỗi khổ tâm của hầu hết anh chị em nghệ sĩ trong giờ phút ấy, nên anh tắt thở tại miễu, để cho Bà Cốt không còn cớ gì để tống cổ một xác chết…
            Nhưng số Tư Út còn lận đận. Không hiểu ai đã rơi thơ cho nhà cầm quyền biết, anh đã đau bệnh “trái mùa” nên Sở Vệ sinh phái người đến điều tra. Thật là tai họa. Nhưng không biết nhờ một lý do gì khi người thừa hành nhiệm vụ giở mặt anh ra, anh vẫn lành lặn, không một vết tích gì chứng tỏ anh chết vì bệnh trái, bao nhiêu mụt đen đều lặn hết.
            Sau đó thì có tin đồn là nhờ cô đào Phùng Há tài sắc, làm say mê các đấng mày râu nam tử. Các người ở Sở Vệ Sinh muốn lấy lòng cô Phùng Há, nên đã chứng nhận Tư Út không phải bệnh đậu mùa truyền nhiễm, cho mọi chuyện được êm xuôi. Biết đâu nhờ vậy mà tạo được sự quen biết, kết thân với cô đào nổi tiếng tên tuổi lẫy lừng. Buổi chiều hôm ấy, gánh hát được quyền tẩn liệm Tư Út và chiếc quan tài được quàn ở nhà khói miễu Kim Biên. Vài ba người bạn công nhân ở lại với anh, tất cả phải trở về rạp Kim Phụng để sửa soạn đêm hát.
            Đêm ấy lại diễn tuồng “Trảm Trịnh Ân”, vở hát mà trước đây mấy tuần trong vai “Nhữ Nam Vương” Tư Út đã làm rơi lệ hàng ngàn khán giả. Mọi người ra sân khấu mà vẫn nhớ đến quan tài Tư Út, lù lù trong gian nhà khói, ngôi miễu đèn đuốc quạnh hiu.

Đào hoa vắn số
            Hôm sau, một ngày quang đãng, trời xanh, mây trắng, gió nhẹ nhàng qua những cành cây rậm, trong nghĩa địa Việt kiều Kim Biên. Một đoàn người đông không tưởng được, đến đưa Tư Út về nơi an nghỉ cuối cùng. Tất cả những nghệ sĩ có mặt ở Kim Biên vào ngày hôm ấy, không thiếu một ai. Một số đông Việt kiều chẳng ngại chứng bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo, tự động đến đưa Tư Út ra mộ phần. Và những vũ nữ từ Sài Gòn lên làm việc ở Kim Biên, Nam Vang, luôn theo cạnh quan tài, những tấm áo màu sặc sỡ bay trong gió, gợi nhớ đến những hình ảnh tươi đẹp một thời qua…
            Người ta bảo Tư Út có số đào hoa, anh yêu nhiều và cũng lắm người yêu. Trong đám tang hôm ấy, biết đâu không có mặt những người đã từng yêu anh, từng sống với anh những giờ phút êm đẹp nhất đời. Có chắc họ đến đưa tiễn anh lần cuối cùng chăng? Nào ai biết! Xe tang đi trong nắng đường về nghĩa địa lê thê… Nghệ sĩ tài danh Tư Út vắn số, thân xác gởi nơi xứ người, đến ngày gánh Phụng Hảo về nước Tư Út phải… ở lại. Hơn mười năm sau, năm 1961 vợ Tư Út lên Nam Vang cải táng cho chồng, cùng đi theo có ký giả Trần Tấn Quốc, người sáng lập Giải Thanh Tâm, chủ bút tờ báo Buổi Sáng, và nhà khảo cổ Vương Hồng Sển. Hài cốt Tư Út được đưa về Sài Gòn.
            Năm 1950 gánh hát Phụng Hảo dọn xuống tàu đò Nam Vang về nước (tàu chạy Nam Vang – Tân Châu), bà con đưa tiễn khá đông, nước mắt cũng khá nhiều, bởi ở lâu ngày ai cũng có kỷ niệm, người đi kẻ ở ai buồn hơn ai? Về lần đó coi như là về luôn, gánh Phụng Hảo và Má Bảy không có trở lại Nam Vang lần nào nữa.
            Về đến Việt Nam, thiên hạ, người quen hỏi đi Nam Vang lần đó gánh Phụng Hảo có khá hơn không, dư được bao nhiêu tiền Đông Dương, cũng như nghệ sĩ có ai làm giàu nhờ chuyến đi Nam Vang không? Má Bảy nói chỉ đỡ thôi chớ làm gì có dư nhiều, không mắc nợ là phước đức lắm rồi, bởi khi hát có tiền vô thì xây xài, mua này sắm nọ, may thêm đồ hát, mua thêm dụng cụ cho gánh hát. Còn đào kép cải lương thì cũng như lính vậy, “tiền lính tính liền” hát bữa nào trang trải bữa nấy, không thiếu nợ ấp lẫm là mừng rồi.
            Về nước hát ở quê nhà đào kép ai cũng mừng, khán giả cũng mừng, xa vắng thời gian lâu gánh Phụng Hảo về Sài Gòn, năm sau mới bắt đầu đi lưu diễn. Các tỉnh Miền Tây trước, kế đó là Miền Đông, Miền Trung, Miền Bắc. Lúc bấy giờ có xe lửa chạy từ Sài Gòn ra Hà Nội, mướn nguyên một toa vừa chở đồ đạc gánh hát vừa cho người ngồi luôn. Khi đoàn trở về thì tỉnh nào cũng dừng lại hát nên đi bằng tàu biển, có chỗ đi bằng xe, như vậy mà đi giáp vòng cũng hết cả năm trời.
            Hát được vài năm thì khán giả hằng đêm giảm xuống khá nhiều, Má Bảy xin giấy tờ đi Nam Vang lần nữa, nhưng chưa đi thì Hiệp Định Genève 1954 ra đời, hòa bình lập lại trên đất nước chỗ nào cũng yên, dân chúng nông thôn đổ ra thành thị coi hát đông quá nên chuyện đi Miên gác lại. Chừng một năm sau thì nhiều gánh hát mới ra đời chia bớt khán giả, tình trạng tài chánh khó khăn, Má Bảy lại lo giấy tờ đi Miên thì lúc bấy giờ tình hình đã đổi khác. Trước đây ba nước Đông Dương cũng như một, cùng một chính quyền thuộc địa, giấy tờ do chính quyền Pháp cấp đi lại dễ dàng. Giờ đây nước nào cũng có chủ quyền riêng, đi Nam Vang phải có thông hành. Kế đó Việt Nam và Miên đoạn giao, coi như không còn vấn đề đi Nam Vang nữa.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0706-nganhmai-07052013163729.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 14/07/2017, 21:58:39
Ca múa “Địa Nàng” ở miền Nam Việt Nam

Địa Nàng là một hình thức sinh hoạt nghệ thuật ca múa cổ truyền của người dân thôn quê miền Nam, là đặc thù của văn hóa dân tộc. Nếu như miền Tây, mà khi xưa gọi là Lục Tỉnh, là nơi xuất phát bộ môn nghệ thuật cải lương, để rồi phổ biến khắp cả nước, thì ở miền Đông Nam Việt là nơi xuất phát ca múa Địa Nàng. Và nghệ thuật này không phổ biến rộng rãi như cải lương, mà chỉ hoạt động quanh quẩn ở các tỉnh như: Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh, Gia Định, Bình Dương, cùng một vài nơi thuộc tỉnh Long An như Đức Hòa, Đức Huệ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-071313-nm-07112013143813.html/dia-nang-2-305.jpg/image)
Ca múa “Địa Nàng” trong Lễ hội Vía Bà Ngũ Hành ở Long Thượng – Cần Giuộc, Long An hôm 25-10-2011

“Lễ Vía Bà”
            Khi đề cập đến những nét văn hóa đặc thù dân tộc, người ta không thể bỏ quên môn nghệ thuật độc đáo này, do bởi Địa Nàng thường được trình diễn trong dịp “Lễ Vía Bà” tại các ngôi miễu ở miền thôn quê Nam Việt.
            Hằng năm vào khoảng Tháng Hai, Tháng Ba Âm Lịch thì những ngôi đình làng ở các tỉnh thuộc miền Đông có lệ cúng “Kỳ Yên” do ban hội tề, tức quí vị hương chức làng xã đứng ra tổ chức. Những năm dân làng trúng mùa thì có thêm phần rước hát bội về hát tạ ơn vị Thần đã phò trợ cho dân làng làm ăn khá. Người ta từng thấy những ngôi đình hằng năm đều có hát, và cũng những ngôi đình cả bảy, tám năm chỉ cúng mà thôi chớ không rước hát bội, do bởi dân chúng bị thất mùa.
            Song song với hát bội ở đình, thì tại các ngôi miễu trong làng cũng được quí bà tổ chức “Lễ Vía Bà”, tùy theo ngôi miễu đó thờ: Bà Nữ Oa, Bà Lê Sơn Thánh Mẫu, Bà Ngũ Hành, Bà Thủy, Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên…
            Thuở xưa đình làng là nơi sinh hoạt của nam giới, phụ nữ không được dự vào việc cúng tế ở nơi thiêng liêng này; ngược lại miễu là nơi sinh hoạt của quí bà, các đấng mày râu nam tử cũng không được đến đây. Thế nhưng, từ đầu thế kỷ 20, trước sự thăng tiến của phụ nữ ngoài xã hội “nam nữ bình quyền” thì vấn đề phân chia này đã không còn, có nghĩa là ngày cúng đình hay cúng miễu thì nam nữ đều chung lo việc cúng kiếng, tập trung hội hè rất đông.
            Cúng miễu thì không mời hát bội mà chủ yếu là mời Địa Nàng về hát, và người dân quanh năm suốt tháng làm lụng ngoài đồng, đã có dịp nghỉ đi xem buổi múa hát có tính cách truyền thống này. Vậy thì Địa Nàng là thế nào, hình thức trình diễn ra sao, có giống như cải lương, hát bội chăng?
            Thật ra thì ca múa Địa Nàng không phổ biến rộng rãi như hát bội, do bởi hát bội ngoài việc hát cúng Kỳ Yên, lại thêm phần trình diễn trên sân khấu rạp hát, bán vé như cải lương. Còn Địa Nàng thì không rườm rà và đông người như gánh hát bội, chỉ có hai nghệ sĩ và duy nhứt chỉ hát cúng miễu mà thôi, và người coi thì hoàn toàn miễn phí.
            Là một bộ môn nghệ thuật đặc thù của văn hóa dân tộc, rất nhiều người biết đến mà không hiểu sao trong sử sách nói về miền Nam người ta lại không thấy đề cập đến Địa Nàng, ngay cả những tác phẩm của các nhà văn rặt Nam Kỳ như: Sơn Nam, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc cũng không nói gì về Địa Nàng (hoặc có mà chúng tôi không có dịp đọc qua).
            Nghệ thuật ca múa Địa Nàng không trình diễn sân khấu đối diện với khán giả, mà chủ yếu là múa hát trước miễu, do đó người xem có thể coi được ba mặt, và như đã nói diễn viên Địa Nàng chỉ có hai người (một nam một nữ). Người nam thủ vai ông Địa và người nữ thủ vai nàng Tiên, thế thôi! Về cách gọi thì nam nghệ sĩ được kêu là “Ông Địa” như vai trò, còn nữ nghệ sĩ thì kêu là “Con Bóng”, nếu người gọi còn trẻ thì phải kêu là “Bà Bóng” (xin đừng lầm lẫn với những người đồng bóng, lên đồng, lên cốt, mê tín dị đoan). Cốt truyện Địa Nàng như sau:
            Tiên nữ Hằng Nga vâng lệnh Vương Mẫu xuống trần gian đến huê viên, nơi “cây huê giếng nước” hái lộc cầu an dân chúng, và bởi do không biết đường đến huê viên, nên tiên nữ đến nhờ cậy Thổ Địa dẫn đường. Thổ Địa sau một hồi vòi vĩnh, làm khó, rồi dẫn đường đưa tiên nữ đến huê viên để khai mạch giếng nước, tưới cây. Hành động này mang ý nghĩa việc mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Cốt truyện chỉ đơn giản như thế thôi, nhưng tùy từng cặp nghệ sĩ đóng vai Địa Nàng, có thể kéo dài từ 2 đến 5 giờ liền (có nhạc đệm đờn cò, đờn kìm).
            Sau phần chính “khai mạch giếng nước” mang ý nghĩa cầu mưa, (bởi tháng này đang là mùa nắng, nếu cái nắng kéo dài thì nông dân không thể làm mùa được). Tiếp đó Địa Nàng chuyển sang đối đáp bằng những câu vè, dân ca, bằng thơ lục bát, song thất, đôi khi dùng cả tục ngữ, ca dao. Riêng về lời văn đối thoại, thì gần như ngôn ngữ bình dân thông thường của người dân quê.
            Dù là ca múa hay đối thoại, sau phần cúng kiếng thiêng liêng là hài hước, gần như hết phần thêm này là vui, là chế diễu, liên tục gây nên những tràng cười của khán giả. Nghệ thuật Địa Nàng bắt buộc phải hài hòa tất cả những gì có thể gây nên tính cách châm biếm, cười cợt, vì đó là yêu cầu. Cặp Địa Nàng nào bị cho làm kém về hài hước thì năm sau khó mà được các miễu mời đi hát.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-071313-nm-07112013143813.html/dia-nang-1-250.jpg/image)
Ca múa “Địa Nàng” trong Lễ hội Miếu Bà Tây A, Phường Bình Trưng Tây, Quận 2

Ứng diễn
            Cái độc đáo của Địa Nàng là ứng diễn, tự chế ra lời diễn chớ không có kịch bản chính thức, những câu hát được lưu truyền từ nghệ nhân này đến nghệ sĩ khác, nối nghiệp từ đời này sang đời nọ và thêm bớt cho phong phú thêm, do vậy mà “kịch bản dân gian” này không biết ai là tác giả. Tùy theo trình độ, cặp diễn viên nếu trình độ nghệ thuật cao thì ứng diễn mạch lạc, đối đáp bằng câu vè, câu thơ, tục ngữ, ca dao rất đúng với nhân vật, tình huống được mang ra châm biếm, chế diễu.
            Như đã nói ca múa Địa Nàng chỉ phổ biến nhiều ở miền Đông, nghe nói miền Tây cũng có nhưng rất ít, riêng tôi chẳng thấy bao giờ. Còn ở miền Trung từ Phan Thiết đổ ra thì hầu như không có Địa Nàng. Tại sao? Tôi có tìm hiểu, thu thập một số sự kiện và có thể đi đến kết luận: Từ thời xa xưa, đất địa miền Đông Nam Việt, là những vùng đất không có sông ngòi, cũng không có hệ thống dẫn thủy nhập điền. Người nông dân làm mùa chủ yếu trông cậy vào trời mưa, năm nào mưa muộn, thì mùa màng ruộng lúa, hoa màu bị thất thu. Hoặc nếu như hạn hán không mưa chỉ một năm thôi, thì người dân nghèo đến ba năm (ông bà già xưa thường nói như vậy).
            Người dân trăm bề khổ sở do trời không mưa, nên mới phát sinh ra hiện tượng ca múa Địa Nàng, là một hình thức cầu mưa vậy! Sở dĩ ở miền Tây ca múa Địa Nàng không phổ biến, là do miền này thuộc đồng bằng sông Cửu Long với sông ngòi chằng chịt, nước đầy đủ để làm mùa nên đâu phải “cầu mưa”, do vậy mà người ở vùng này đa số không hề biết Địa Nàng là gì.
            Địa Nàng trình diễn có cặp, họ làm ăn chung, các Lễ Vía Bà người ta chỉ cần mời một trong hai người là xong hợp đồng, và trả tiền cũng thế, một người đại diện, thường là “Con Bóng” nhận tiền. Theo như truyền khẩu của thiên hạ thì “Con Bóng” hay “Bà Bóng” là những người bán nam bán nữ, mà người đời gọi họ là “lại cái” hay “loại cái” (không biết chữ nào đúng). Con Bóng không phải đồng tính bê đê, mà là do bộ phận sinh dục, nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ. Bà bóng suốt đời không có chồng con gì hết.
            Cặp Địa Nàng nào mà “Bà Bóng” như vừa nói thì đắt sô, được liên tục mời đi ca múa, tiền thù lao cũng cao. Còn như bà bóng là người nữ thiệt thọ thì lại ế hàng, có nghĩa là ít được mời đi hát. Thí dụ như hai ngôi miễu tổ chức Lễ Vía Bà cùng một ngày, chỗ nào kêu trước thì được bà bóng “lại cái”. Do con bóng hay bà bóng “lại cái” bị kẹt sô, nên ngôi miễu thứ hai đành phải chấp nhận mời bà bóng người nữ thiệt. Có còn hơn không.
            Số tiền thù lao cho Địa Nàng khá cao, thời điểm 1955-1956 bao gạo chỉ xanh 100 ký lô giá 300 dồng, mà một sô ca múa Địa Nàng phải trả mất 600 đồng. Ngoài số tiền thỏa thuận hợp đồng, (chỉ thỏa thuận bằng lời nói chứ không có giấy tờ, nhưng cả hai bên đều giữ đúng hợp đồng). Địa Nàng còn được quý bà cho thêm, nếu hát hay, người coi đông, cười nhiều, thời gian kéo dài đến một, hai giờ khuya thì tiền cho thêm có khi còn nhiều hơn tiền chính thức.
            Không như hát bội, khán giả cho tiền đào kép bằng cách kẹp tiền vào quạt giấy quăng liệng lên sân khấu. Cách cho tiền Địa Nàng lịch sự hơn nhiều, người đại diện để tiền vào dĩa trịnh trọng trao cho Nàng, chớ không trao cho Địa (biết rằng họ chia với nhau).
            Còn một cách cho tiền nữa, các bà góp tiền rồi bí mật cho riêng Nàng, dĩ nhiên là Nàng bỏ túi riêng, chứ không chia cho Địa. Tùy theo uy tín và sự ủng hộ của khán giả, của các nơi mời gọi, mà thỏa thuận làm ăn chung của Địa Nàng cũng kẻ cao người thấp, ít khi ngang bằng, mà thường chia tứ lục, hoặc tam thất, và Nàng thì lúc nào cũng cao giá hơn.
            Khi bắt đầu chuẩn bị lễ vía bà, là người ta đã lo đặt sô trước với cặp Địa Nàng nào đó, mà thiên hạ cho rằng ca múa hay. Do vậy mà trong lịch trình của Địa Nàng ít thấy chỗ trống vào mấy tháng có cũng miễu Bà. Hết thời gian mấy tháng cúng miễu thì Địa và Nàng trở lại đời sống bình thường người nông dân, nhà ai nấy ở, chỉ thỉnh thoảng hẹn gặp nhau ở ngôi miếu nào đó để tập dượt kịch bản nhân gian mới. Không tập dượt ở nhà Địa hay nhà của Nàng.
            Nếu Nàng là “lại cái” thì sống độc thân một mình, còn như Nàng là người nữ thiệt thì cũng có chồng con như mọi người nữ khác thôi. Về ông Địa thì ông nào cũng vợ con đùm đề, có ông có đến hai, ba bà vợ. Có lẽ nhờ hát hay, đâu thua gì danh hề sân khấu, nên Địa rất được mấy bà góa chồng chiếu cố.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-071313-nm-07112013143813.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 19/07/2017, 10:01:07
Thanh Tuấn “vua vọng cổ” bên con sông Trà

Nếu như vua vọng cổ Út Trà Ôn là người miền Nam, xuất thân từ vùng đất trù phú của giòng sông Hậu Giang, thì thế hệ sau ông cũng có một nghệ sĩ được mệnh danh “vua vọng cổ”, xuất thân từ miền Trung, Quảng Ngãi, vùng đất khô cằn, có con sông Trà chảy ngang qua.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ActorThanhTuan_NPhuong-07262008150907.html/ThanhTuan305.jpg/image)
Nghệ sĩ Thanh Tuấn. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

Giọng ca vọng cổ trữ tình
            Hai thập niên trước đó Út Trà Ôn bỏ quê hương lên Sài Gòn với hành trang mang theo là làn hơi ca vọng cổ trời cho để rồi nên sự nghiệp và tên tuổi lẫy lừng. Thì thế hệ sau Thanh Tuấn rời quê hương Quảng Ngãi, ra đi cũng chỉ mang theo làn hơi ca vọng cổ độc đáo, mà giới sành điệu gọi là làn hơi ngọt ngào, luyến láy đến… “chết người”.
            Thật vậy, Thanh Tuấn có giọng ca vọng cổ trữ tình, ca chân phương, truyền cảm rặt miền Nam, anh đã chọn cho mình lối đi riêng rẽ, không theo chân ai. Nói một cách khác giọng ca Thanh Tuấn có đường nét riêng biệt, không giống với lối ca của bất cứ ca sĩ cổ nhạc nào.
            Năm 1963 nước con sông Trà dâng lên, quê nhà của Thanh Tuấn bị một trận lũ lụt nặng và chiến tranh diễn ra, nên Thanh Tuấn rời bỏ quê hương, dù lúc ấy chỉ mới 15 tuổi. Và do hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành nghệ sĩ cải lương gắn chặt cuộc đời với nghiệp cầm ca.
            Thật ra thì lúc rời bỏ quê hương, Thanh Tuấn chưa biết ca cổ nhạc, mà anh chỉ biết ca tân nhạc lúc còn học ở trường. Lưu lạc vô Sài Gòn xin làm công cho tiệm thuốc Bắc ở đường Thuận Kiều, kế đó học nghề đan ghế mây ở đường Vĩnh Viễn. Một năm sau anh đi coi cải lương, đoàn Trăng Mùa Thu diễn tại rạp Thủ Đô, Chợ Lớn thì bắt đầu say mê cải lương, và quyết định đi học ca cổ nhạc. Ban ngày đi làm, tối đến đi học ca vọng cổ ở lò Út Trọn đường Sư Vạn Hạnh, sau đó học ca thêm với nhạc sĩ Bảy Trạch ở cầu chữ Y.
            Dịp may đưa đến, gánh hát nhỏ Bạch Liên Hoa đang tìm diễn viên, và nhạc sĩ Bảy Trạch giới thiệu Thanh Tuấn với đoàn hát. Có lẽ nhờ giọng ca thiên phú nên Thanh Tuấn được giao liền vai chánh. Thời gian sau Thanh Tuấn sang đoàn Minh Cảnh, rồi đi đoàn Hương Hoa Lan. Năm Mậu Thân đoàn này đang hát tại rạp Thăng Long, Banmêthuột. Ngay đêm giao thừa một trái đạn pháo rơi chỉ cách anh ba thước tây làm hai người thiệt mạng. Hoảng quá Thanh Tuấn ra nhà dân ở thì đêm hôm sau một trái đạn pháo nữa cũng rơi ở rạp hát. Đoàn nghỉ hát suốt nửa tháng, tiền trong túi hết sạch, anh quá giang xe đò đi Sài Gòn hát cho đoàn Hương Mùa Thu, kế đó sang đoàn Kim Chung 2 hát với Lệ Thủy và nổi tiếng luôn.
            Trong đời nghệ sĩ, Thanh Tuấn hai lần làm bầu gánh. Năm 1984 lập đoàn cải lương Cam Ranh. Do chưa có kinh nghiệm làm bầu, lại bị mưa bão tới tấp nên chỉ một mùa mưa là sạt nghiệp, lại phải làm lại từ đầu. Năm 1995 Thanh Tuấn làm bầu đoàn Cao Văn Lầu ở Cà Mau cũng gặp lúc mùa mưa, đoàn gặp khó khăn về nhân sự và tài chánh nên ngưng hoạt động, Thanh Tuấn về thành phố mở quán nghệ sĩ mang tên anh.
            Lâu nay, anh chị em trong giới cải lương ở miền Nam vẫn xem Thanh Tuấn như là “vua vọng cổ” nối gót đệ nhứt danh ca bởi từ sau Út Trà Ôn, giọng ca của anh nhiều năm sau đó và có thể luôn cả bây giờ chưa có ai thay thế được.
            Trước đây khi có dịp tiếp xúc với ông Ba Bản bầu gánh hát Thủ Đô, tôi có nghe ông kể một câu chuyện về Út Trà Ôn mà gần giống với trường hợp của Thanh Tuấn sau này. Ông nói cái hôm đệ nhứt danh ca rời đoàn nhảy ra thành lập đoàn Thống Nhứt, thì đêm ấy con số vé bán ra sụt giảm hơn phân nửa. Có nghĩa là họ chỉ nhắm vào một Út Trà Ôn để mua vé. Ông tính cho đoàn hát ngưng hoạt động, nhưng thấy khổ cho mấy chục người sẽ thất nghiệp, nên ông cố duy trì, đến khi giọng ca Thanh Hải được nhiều người ái mộ, đoàn Thủ Đô mới lấy lại phong độ.
            Và mấy chục năm sau, khán giả cũng chỉ nhắm vào một Thanh Tuấn để mua vé. Năm 1979, Thanh Tuấn hát ở đoàn Bình Minh, đoàn dọn đến hát ở Tiểu Cần huyện Cầu Kè, Trà Vinh. Đoàn quảng cáo nghệ sĩ Thanh Tuấn, Bích Hạnh diễn vở “Lửa Hồng Vạn Kiếp”. Vé đã bán hết buổi trưa hôm đó. Thanh Tuấn đến chiều mới đi xe hơi xuống hát. Thật là không may cho anh, chiếc xe cứ bị hư mấy lần trên đường đi không lăn bánh được. Tại Tiểu Cần, đoàn vắng mặt kép chánh Thanh Tuấn nên không mở màn hát được.
            Khán giả chờ đợi mãi đến 11 giờ khuya vẫn không thấy mặt Thanh Tuấn nên họ nổi giận xông vào hậu trường đập phá tan hoang, bảng hiệu bị hạ xuống, băng đơ rôn bị xé nát. Thật là một thảm cảnh đối với đoàn lưu diễn từ xưa đến nay. Đến 12 giờ khuya Thanh Tuấn mới mướn được xe kéo xe anh về đến Tiểu Cần. Hôm sau khán giả biết được tình trạng này nên đã hối tiếc hành động đêm qua. Rồi đoàn lại mướn đồ đạc để tối lại hát. Đêm đó đoàn diễn “xả giàn”, nghĩa là không thu tiền để đền bù lại đêm trước không hát. Rồi liên tiếp một tuần đoàn đều bán hết vé.
            Tuy là có trở ngại ngoài ý muốn, nhưng Thanh Tuấn cảm thấy hối hận cho trường hợp xảy ra. Đó cũng vì khán giả yêu thích mình mới ra nông nổi. Điều đó cũng giúp anh thêm kinh nghiệm, hễ càng được khán giả yêu mến thì phải cần thận trọng trong khi hành nghề.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/king-traditional-music-thanh-tuan-nm-07192013173716.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 21/07/2017, 09:27:25
Đào kép cải lương với điện ảnh

Thời kỳ trước 1975 có một dạo một số đào kép cải lương được các hãng phim mời đóng phim và tình trạng đã gây nên khủng hoảng cho nhiều đoàn hát, có một số đoàn phải chịu rã gánh, do bởi đào kép chánh rời khỏi đoàn. Ngay cả các anh hề của sân khấu cải lương và thoại kịch, chưa một kinh nghiệm nào trong lãnh vực điện ảnh, bỗng phút chốc trở thành tài tử đứng trên sàn quay. Vậy hiện tượng trên do đâu mà có? Người ta tìm hiểu và đi đến kết luận: Do lạm phát hãng phim!

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0727-nm-07262013133829.html/h-cuong-t-nga-305.jpg/image)
Nghệ sĩ Hùng Cường và Thanh Nga trong phim Nắng Chiều

Lạm phát hãng phim
            Thật vậy, lúc bấy giờ ở Sài Gòn và tính luôn cả nước có đến hơn 50 hãng phim được cấp giấy phép hoạt động, nhưng thực tế thì chỉ trên dưới 10 hãng là có sản xuất phim mà thôi. Lúc bấy giờ nhà sản xuất phim quá thừa, trong khi tài tử lại hiếm và lãnh “cát sê” quá thấp, đó là những điều ghi nhận được về tình trạng của nền điện ảnh Việt Nam lúc ấy.
            Chính sự lạm phát nhà sản xuất đã đưa đến việc tài tử cải lương nhảy sang điện ảnh, trong số khoảng chừng 40 tài tử chuyên nghiệp lúc đó so với con số hãng phim nhiều như vậy. Do đó các nhà sản xuất phim bắt buộc phải “mượn đỡ” đào kép cải lương qua điện ảnh rất có lợi, người ta có thể lợi dụng ngay tên tuổi của đào kép đó như Hùng Cường, Thanh Nga v.v… Dù vậy, với sự tranh nhau xin giấy phép rầm rộ cũng làm cho phong trào sản xuất phim ảnh vùng lên.
            Vấn đề diễn xuất tuy có sự khác nhau giữa “sân khấu” và “ống kính” nhưng nhiều đào kép thông minh chỉ cần nhắc sơ là có thể đóng phim ngay được. Thêm vào đó ở Việt Nam đa số dân chúng bình dân rất dễ dãi khi xem chiếu bóng, vì vậy sự có mặt của đào kép cải lương sẽ làm tăng số khán giả loại này rất nhiều.
            Nếu như gặp thời gặp vận thì đào kép hát cải lương rất dễ trở thành tài tử điện ảnh, sự nghiệp lên như diều, được người đời trọng vọng và đặc biệt là những lúc có dịp trở lại thăm đoàn hát cũ, thì được mọi người trong giới nhìn mình với cặp mắt thán phục, thèm thuồng…
            Do hiện tượng đào kép cải lương nhảy sang đóng phim, nên đầu thập niên 1970, vườn hoa điện ảnh nở rộ, phong trào sản xuất phim ảnh lên cao. Nhiều cuốn phim màu với màn ảnh rộng ra đời thu hút ngày một nhiều khán giả, khiến cho giới thương mại đã không bỏ lỡ cơ hội nhảy vào kinh doanh nghệ thuật điện ảnh.
            Nhận thấy làm phim kiếm ăn được nên có nhiều tay chẳng biết gì về điện ảnh cũng nhảy ra lập hãng phim để hốt bạc. Và đây tôi xin kể ra một trường hợp:
            Một trong số những người có vốn đã nhạy bén bước vào làm ăn thật sự là bà Nguyễn Thị Thân, bà đã nhanh chân đi xin giấy phép thành lập hãng Kim Thân Film. Dù chưa từng làm ăn trong lãnh vực điện ảnh bao giờ, bà Nguyễn Thị Thân đã dám bỏ ra số vốn lớn khai thác thị trường phim ảnh, một thị trường được coi như rất dễ có lời lúc bấy giờ. Kim Thân Film đã thực hiện một cuốn phim với các tài tử chánh là đào kép cải lương, hãng phim này đã thành công theo như nhận định của giới am tường về thị trường phim ảnh thời đó.
            Tuy nhiên, một thắc mắc được đặt ra về phương thức kinh doanh của Kim Thân Film là: căn cứ vào yếu tố nào để một người chưa từng có một kinh nghiệm gì trong địa hạt điện ảnh, lại dám bỏ ra số tiền lớn lao để làm phim? (Nghe nói thì trên cả chục triệu tiền vốn bỏ ra).


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0727-nm-07262013133829.html/h-cuong-k-chinh-250.jpg/image)
Kiều Chinh và Hùng Cường trong phim Chiếc Bóng Bên Ðường

Khán giả có cảm tình
            Báo chí lúc bấy giờ kéo nhau đi tìm hiểu, họ được một trong những người thân cận với bà chủ hãng phim tiết lộ rằng, bà Nguyễn Thị Thân là nhà thương mại, nên có cái nhìn thực tế. Bà đã quan sát thị trường một cách thận trọng trước khi bỏ vốn làm ăn. Sau vài lần đi coi phim “Loan Mắt Nhung” nhận thấy khán giả rất có cảm tình với Thanh Nga, mà phần lớn lại là khán giả cải lương, thành phần mà xưa giờ chẳng mấy khi coi hát bóng. Kế đó khi đi coi phim “Chân Trời Tím”, bà Thân biết rõ Hùng Cường là mục tiêu mua vé của số khán giả vẫn thường đến rạp Quốc Thanh coi các tuồng hát của đoàn Dạ Lý Hương, do đó mới quyết định làm phim và nhắm ngay vào hai nghệ sĩ cải lương đương thời nói trên để mời.
            Hợp đồng của Hùng Cường và Thanh Nga cao gấp đôi lần đóng phim trước, nên hai nghệ sĩ này mới khước từ tất cả các hãng phim đang mời mọc để về đóng phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” cho hãng Kim Thân Film. Muốn cho vững vàng thêm, hãng đã thương lượng mời ca sĩ thuộc hàng ngũ nhạc kích động Mai Lệ Huyền, bởi thời điểm đó Hùng Cường và Mai Lệ Huyền cũng là thần tượng của giới trẻ yêu nhạc rock. Còn các nghệ sĩ Bích Thuận, Việt Hùng, Tám Vân, Bà Năm Sa Đéc thì cũng một thời được khán giả biết tên biết mặt, cùng với những Lý Quốc Mậu, Vương Vũ, Mã Dũng, Việt Châu thì làm giàn bao. Đồng thời để gây sự hiếu kỳ cho khán giả, hãng Kim Thân đã không ngại tốn kém mời thêm một tài tử Mỹ chính cống tên Gardner có mặt trong phim cho nó lạ.
            Về chuyện phim thì chọn tiểu thuyết xã hội “Mãnh Lực Đồng Tiền” của nhà văn Anh Vũ – Lê Ngọc Lê, đang được đăng trên một tờ tuần báo có nhiều người đọc. Còn phần dàn dựng thì giao cho đạo diễn Lê Mộng Hoàng, một đạo diễn kỳ cựu có nghiên cứu tâm lý khán giả miền Nam.
            Tóm lại về phần nhân sự thì hãng Kim Thân đã không ngại việc nâng cao chi phí để có thể hội đủ càng nhiều yếu tố “ăn khách” càng tốt. Sợ để chậm trễ biết đâu tình thế sẽ đổi khác, nên kế hoạch đâu đó xong xuôi hãng Kim Thân xúc tiến ngay việc thu hình với thời gian kỷ lục, để phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” kịp ra mắt khán giả vào Tháng Chín, 1971.
            Từ ngày bắt đầu việc thu hình, hãng Kim Thân đã nghĩ ngay đến vấn đề quảng cáo. Cho nên họ đã nhanh chóng mời các ký giả kịch trường đến quan sát viết bài, và khi phim sắp sửa hoàn thành thì tung ra đợt quảng cáo mạnh mẽ với hình ảnh Hùng Cường, Thanh Nga, Mai Lệ Huyền xuất hiện trên nhiều tờ báo.
            Một tuần lễ trước ngày chiếu ra mắt, hãng đã mời quan khách cùng rất đông ký giả kịch trường tham dự. Nhiều nhựt báo, tuần báo đã cùng lúc viết bài nói về cuốn phim này, do đó mà trong tuần lễ khai trương phim “Mãnh Lực Đồng Tiền”, bốn rạp lớn ở Đô Thành: Rex, Đại Nam, Văn Hoa (Sài Gòn) và Văn Hoa (ĐaKao) đã đông nghẹt người đi coi. Hãng thu lại tiền vốn khá nhanh chóng.
            Cũng theo lời những người thân cận tiết lộ thêm thì Kim Thân Film hãng cũng nghiên cứu kỹ lưỡng vấn đề “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để chọn thời điểm cho ra mắt cuốn phim. Trước tiên, film được chiếu ở Sài Gòn vào Tháng Chín, tháng này hiếm khi mưa chiều và ban ngày, mà đến quá nửa đêm mới có mưa, do đó chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đối với người đi coi hát. Hai tháng sau thì phim được đưa đi tỉnh chiếu đúng vào mùa lúa đang thu hoạch, nhà nông rảnh tay ra chợ mua sắm thì rất khó bỏ qua việc coi phim, nếu như thấy những hình ảnh Thanh Nga, Hùng Cường được treo trước rạp. Rồi thì phim được chiếu ở những rạp từng đón tiếp các đoàn hát cải lương, và chiếu dài dài cho đến Tết Nguyên Đán là thời gian các gánh cải lương đều hốt bạc.
            Đây là một sự tính toán có kế hoạch hẳn hòi, và sự thành công của hãng Kim Thân đã lôi kéo theo sự thành công của số đào kép cải lương, gặp thời vừa tiếp tục làm nghệ thuật mà thu nhập lại còn nhiều hơn lúc còn phục vụ chỉ có sân khấu cải lương thôi. Phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” thời đó được coi là một trong những phim có chi phí cao, thành công về tài chánh, nhưng không phải là một phim thành công về nghệ thuật trong lãnh vực điện ảnh.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0727-nm-07262013133829.html/t-t-hang-250.jpg/image)
Thẩm Thúy Hằng trong phim Sóng Tình

Hãng phim Thẩm Thúy Hằng
            Và tiếp sau đây xin nói về hãng Việt Nam phim của Thẩm Thúy Hằng, cũng mời đào kép cải lương về hãng của mình.
            Giữa thập niên 1960, cái thời kỳ đất nước luôn trong tình trạng sôi động, xáo trộn với những cuộc đảo chánh, xuống đường, giới nghiêm… thì người ta thấy trên chính trường xuất hiện một chính khách được báo chí nói đến nhiều: Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh. Và đồng thời báo chí cũng trao tặng cho ông biệt danh “người đấm bóp thời cuộc”.
            Sang đầu thập niên 1970, ông Oánh lại thêm một lần nữa cũng nổi tiếng không kém, báo chí cũng đề cập nhiều, nhưng lần này thì ông đóng vai “đấm bóp người đẹp”. Ông thành hôn với nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng, cô đào chiếu bóng được người đời tặng cho mỹ danh “người đẹp Bình Dương”, dù rằng cô ta chẳng dính dáng gì đến cái tỉnh có nhiều trái cây sầu riêng, măng cụt ở vùng Lái Thiêu, hay đồn điền cao su ngút ngàn dọc theo Quốc lộ 13.
            Đám cưới của ông Nguyễn Xuân Oánh và minh tinh Thẩm Thúy Hằng tổ chức lớn tại nhà hàng khách sạn Caravelle, khách tham dự phần lớn là những nhân vật chính quyền tại chức, chính khách đương thời và giới điện ảnh có tầm cỡ. Có điều người ta không ngờ người đẹp Bình Dương từng thành danh nhờ điện ảnh, thế mà vừa được cấp môn bài làm chủ hãng phim, Thẩm Thúy Hằng lại nhắm vào việc mời đào kép cải lương đảm nhận các vai trong phim của mình, và người ta đã thấy một giàn nghệ sĩ cải lương: Năm Châu, Phùng Há, Bảy Ngọc, Thanh Tú xuất hiện trong cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”.
            Đây là cuốn phim với lời đối thoại do nghệ sĩ Năm Châu viết, chuyện phim ở mức tầm thường. Báo chí lúc bấy giờ phê bình rằng nội dung phim là chuyện xã hội Việt Nam không phản ảnh được gì nếp sống của người Việt Nam đương thời nên phim này không thành công về mặt nghệ thuật nhưng thành công về tài chánh. Lý do? Nhờ sự có mặt của các nghệ sĩ cải lương danh tiếng, phim đã lôi kéo số khán giả cải lương thuần túy đi coi do đó mà phim “Chiều Kỷ Niệm” hốt bạc khá nhiều, chiếu ra mắt tuần đầu đã thu vào trên mười triệu, Thẩm Thúy Hằng lời to!
            Người đẹp Bình Dương từng nói: Lấy tiếng cũng phải lấy tiền là vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0727-nm-07262013133829.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 26/07/2017, 10:35:48
Khi tiệm ăn mang tên đào kép cải lương

Chuyện đào kép cải lương thất thời nhảy ra làm tiệm ăn, đồng thời lấy nghệ danh đi hát của mình đặt tên cho cửa tiệm cũng là một vấn đề để cho khán giả, thiên hạ luận bàn, phê bình không ít, theo từng quan niệm riêng của mỗi người. Do vậy buổi nói chuyện này là phản ảnh “thiên hạ sự” mà tôi ghi nhận nêu lên đây để tùy quyền phê phán của thính giả, đặc biệt là thành phần hâm mộ cải lương, có ít nhiều theo dõi về hoạt động của bộ môn nghệ thuật này.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0831-nm-08292013104805.html/td-305.jpg/image)
Nghệ sĩ Thành Được

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh
            Người xưa nói “nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh”, nếu giờ đây đem ra áp dụng cho cải lương thì chắc là không khá, bởi cải lương ở thời này thì “nhất thân vinh” cái nỗi gì chớ! Từ sau cái Tết Mậu Thân cải lương ế ẩm, xuống dốc trầm trọng, đào kép thất nghiệp dài dài, nằm chờ mấy tháng vẫn không thấy dấu hiệu nào hát trở lại, thì trong làng cải lương nảy sinh ra hiện tượng đào kép đi làm nghề khác để kiếm sống, bởi không còn hy vọng gì ở sân khấu, ở tấm màn nhung mà thời gian qua đã là mảnh đất đào tạo sự nghiệp, tên tuổi của họ.
            Thật vậy, sau thời gian nhiều tháng chịu đựng mà tương lai vẫn mịt mờ, tiền vay bạc hỏi cũng không còn ai cho, nên gần như hầu hết nghệ sĩ cải lương nhà ta phải chạy tới chạy lui tìm sinh lộ. Lúc đầu thì ai nấy cũng nghĩ rằng làm nghề mới chỉ tạm thời gian thôi, chờ ngày lên sân khấu trở lại, nhưng chờ mãi từ tháng này sang năm nọ, chỉ thấy tình trạng ngày càng bi đát hơn thôi, do đó mà nghề tạm đã dần dà trở thành nghề chính từ lúc nào không hay.
            Lúc bấy giờ người ta thấy họ bung ra đi làm rất nhiều nghề như: Tài xế, đứng bến, sửa xe, hớt tóc, bán dạo, bán thuốc lá, làm thuê mướn, khuân vác… nói chung thượng vàng hạ cám gì cũng được, miễn là có cơm gạo sống qua ngày, đồng thời cũng có người giải nghệ luôn về quê làm ruộng rẫy, hoặc mua bán gì đó ở nông thôn.
            Có điều là trong thời gian chuyển sang nghề khác, có lẽ do mặc cảm nên đa số giấu đi nghề đi hát của mình, chỉ những người từng biết mặt biết tên, mới rõ biết họ là nghệ sĩ từng ở gánh hát này, đoàn hát kia, chớ hiếm khi họ tiết lộ cái nghề chính hằng đêm lên sân khấu trước đây.
            Thế nhưng, có một nghề họ không giấu giếm mà còn trương bảng hiệu nghệ danh của mình chẳng khác gì trương bảng đoàn hát, đó là: Nghề mở tiệm ăn! Không hiểu nghĩ sao mà họ lại lấy nghệ danh hát xướng của mình đặt tên cho cửa tiệm, mà vốn chẳng ăn nhập gì đến nghệ thuật sân khấu, cũng chẳng dính dáng gì đến cái nghiệp cầm ca của mình.
            Khi xưa, thời thập niên 1950 ở Sài Gòn đường Lý Thái Tổ có quán “Lệ Liễu” do nữ danh ca Lệ Liễu làm chủ, được giới yêu thích cổ nhạc hoan nghênh một thời. Về sau thì quán Lệ Liễu nằm trong Trung Tâm Giải Trí Trường Thị Nghè, và hề Văn Hường coi như xuất thân từ quán này.
            Cô Lệ Liễu, một danh ca đài phát thanh Sài Gòn thời đó, cô đã có mục tiêu rõ ràng khi lấy nghệ danh của mình đặt tên cho quán, bởi quán bán thức ăn song song với tổ chức đờn ca cổ nhạc tài tử. Quán mở mỗi ngày từ chiều cho đến quá nửa đêm, có sân khấu. Hợp tình hợp cảnh như thế nên cái tên quán “Lệ Liễu” chẳng ai thắc mắc gì.


(http://i.imgur.com/6bFVnUh.jpg)
Nghệ sĩ Ngọc Giàu, Thanh Nga và Thành Được

            Ở hải ngoại hiện nay có nghệ sĩ Thành Được, anh này mở nhà hàng dựng bảng hiệu “Thành Được Restaurant” ở San Jose miền Bắc California, và cách đây khoảng 10 năm lại mở thêm “Thành Được Restaurant” thứ hai ở khu Little Sài Gòn, Miền Nam California. Nhưng địa điểm này không thọ, chỉ thời gian ngắn là dẹp bảng không thấy nữa. Thọ sao được, quán đề tên Thành Được, mà anh kép này chỉ hiện diện có một ngày khai trương rồi biệt dạng luôn. Sao kỳ cục vậy hổng biết!
            Có người từng là khán giả đi coi hát nhiều năm qua đã nói rằng, cái tên Thành Được gắn liền với nghệ thuật, ăn sâu vào lòng khán giả, trương bảng “Thành Được” mà vào quán không thấy hơi hướng gì của rạp hát, của đờn ca cổ nhạc thì kể cũng lạ. Vào đây không thấy một kiếm sĩ Tô Điền Sơn, một tướng cướp Thy Đằng, mà chỉ thấy Thành Được làm những công việc của nhà hàng. Giờ đây có người nói rằng phải chi Thành Được tổ chức quán của mình như danh ca Lệ Liễu khi xưa thì hay biết mấy.
            Còn ở trong nước thì có nghệ sĩ Nam Hùng, anh kép độc này cũng lấy nghệ danh Nam Hùng của mình đặt tên cho tiệm phở ở đường Nguyễn Duy Dương, cũng khiến cho thiên hạ thắc mắc, rằng trong quán có ca hát gì không? Kép độc Nam Hùng nổi tiếng từ thời thập niên 1960, từng đóng vai chàng hiệp sĩ, ý trung nhân của cô gái mù do Thanh Nga đóng, trong tuồng “Tiếng Hạc Trong Trăng” của soạn giả Yên Ba.
            Nam Hùng và Thanh Thanh Hoa là đôi vợ chồng nghệ sĩ chung sống với nhau đến những hai thập niên, có lúc báo chí nói họ như “chim liền cánh, cây liền cành” nhưng về sau thì Nam Hùng “kết” với đào Tô Kim Hồng, và gặp lúc cải lương tê liệt, họ nhảy ra mở tiệm phở.
            Người ta nói rằng thấy quán Nam Hùng, vô ăn thử xem có thêm hát xướng gì không? Thật sự là chẳng hề thấy màn cảnh, áo mão, đờn trống gì hết. Thực khách nguyên là khán giả cải lương đến tiệm đã thất vọng, vì không thấy Thầy Đề (tuồng Ngao Sò Ốc Hến). Người ta nói nghệ thuật không có ở đây mà treo bảng cái tên của nghệ thuật thì quả thật là… tréo cẳng ngỗng.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0831-nm-08292013104805.html/namhungtkh-250.jpg/image)
Nghệ sĩ Nam Hùng và Nghệ sĩ Tô Kim Hồng

Bán quán cho đỡ buồn
            Trên đây là hai nghệ sĩ “tiêu biểu” đã lấy nghệ danh đặt tên cửa tiệm, dĩ nhiên còn nhiều nhưng khó mà biết rõ cho hết, chỉ nghe phong phanh ở nơi nào đó mà thôi. Đó là quán xá mang tên nghệ sĩ của thời kỳ sau 1975. Vậy thì trước 1975 có những đào kép nào mở tiệm ăn với bảng hiệu mang tên nghệ danh của mình? Tôi ôn lại hình ảnh xa xưa thì có đào Hà Mỹ Xuân, từng là đào chánh của đoàn “Thế Hệ Dũng Thanh Lâm”, Hương Mùa Thu, Kim Chung 6… và gặp lúc cải lương kiệt quệ thì đào Hà Mỹ Xuân về quê Long Xuyên mở tiệm nhậu lấy tên “Tri kỷ Hà Mỹ Xuân” (không biết ai là tri kỷ của cô đào này?)
            Người ta chẳng biết có phải do quán đẹp, ấm cúng, món nhậu ngon, hay là nhờ cô đào Hà Mỹ Xuân trẻ đẹp mà khách nhậu đông đảo, đều đều mỗi ngày. Tuy nhiên cô này bảo: Bán quán là bán cho đỡ buồn vậy thôi, chớ còn nhớ hát xướng quá, nên lúc nào buồn là vác rương đi hát nữa. Nói vậy chớ cải lương ngày một khốn đốn thêm lên, bởi gánh hát nào cũng sống dở chết dở, do đó mà quán nhậu “tri kỷ Hà Mỹ Xuân” vẫn còn sống nhưng không biết sống đến bao lâu.
            Một trường hợp nữa là đôi vợ chồng nghệ sĩ Phong Sắc, Lệ Hằng. Đã có một thời ai cũng biết một gánh hát nhỏ xuất xứ ở Bạc Liêu mang bảng hiệu Phong Sắc – Lệ Hằng, thường hay có mặt ở ngoại ô Đô Thành Sài Gòn, có khi cũng dám nhào vô rạp Aristo hay rạp Nguyễn Văn Hảo. Thế nhưng, sau cái đòn chỉ tử của năm Mậu Thân, gánh Phong Sắc – Lệ Hằng càng lúc càng xuống dốc, đành chịu rã gánh tại Bến Đình, Vũng Tàu.
            Thế là vợ chồng cặp đào kép này không làm sao hơn là che lều tại đây để bán cà phê sống đắp đổi, mong có ngày lập gánh lại như xưa, nhưng chừng như cái thời đã hết nên bao phen vận động mà vẫn không dựng lại nổi đoàn hát (có ai dám bỏ tiền ra cho gánh hát vay lúc này chớ!) Rồi thì sống mãi với nghề bán cà phê luôn. Anh này lấy tấm bảng gánh hát Phong Sắc – Lệ Hằng bôi bỏ chữ “đoàn ca kịch” viết lại chữ “quán cà phê”, khiến nhiều người lầm tưởng gánh hát còn, đến khi nhìn kỹ thì… thôi vô uống cà phê vậy!
            Còn trường hợp Bầu Quỳ sau khi cho giải tán đoàn Bạch Yến, anh ta ra Vũng Tàu làm quản lý cho khách sạn Ly Ly, rồi nhảy ra mướn quán Mỹ Hương ở Bãi Trước để bán cơm bán rượu. Và chỉ mấy tháng quán phát đạt quá nên trả lại quán cũ, xây lên được quán mới rộng rãi gần đó lấy tên là quán “Việt Nam – Bầu Quỳ” (làm như trong toàn cõi Việt Nam chỉ có quán anh ta là bảnh vậy). Bầu Quỳ được cái nước là chiêu hiền đãi sĩ rất tài tình, tiễn đưa rất niềm nở, và cũng nhờ cái miệng ngọt xớt như lưỡi dao lam, nên khách du lịch ai cũng thích ghé quán Bầu Quỳ để chiêm ngưỡng tài dùng dao cạo của anh.
            Bạn bè thân và khách thì ngày một nhiều hơn, những cuộc hội thảo cấp tỉnh, cấp quận nếu diễn ra ở Vũng Tàu, thì quán Bầu Quỳ là nơi hội họp đủ mặt anh hùng tứ phướng. Khách sành điệu Sài Gòn ra Vũng Tàu thì ít lắm trước hết cũng tấp vào quán Bầu Quỳ trước đã, người ta nói rằng nếu như tuồng cải lương mà Bầu Quỳ đóng vai chủ quán thì tuyệt, làm sếp nhà hàng là cái nghề của chàng! Lúc nào Bầu Quỳ cũng rất quý bạn bè, kính nể báo chí và với anh thì chẳng khi nào lại quên nhắc chuyện cải lương đã bao phen làm cho anh hoảng kinh hồn vía!
            Trên đây là một số trường hợp điển hình đào kép cải lương lấy cái tên đầy nghệ thuật đặt cho cửa hiệu, mà người ta đến đó chẳng thấy gì là nghệ thuật cả. Chỉ tội cho khách nguyên là khán giả, bởi khi vào quán thì ít nhiều gì họ cũng liên tưởng đến những màn cải lương khó quên, do người có tên trên bảng hiệu kia thủ diễn vai trò.
            Thiên hạ nói rằng bán tiệm ăn thì yếu tố để được đông khách lâu dài là phải “ngon”, chứ nếu như dùng cái tên nghệ thuật mà phục vụ không đúng mức, thì lại càng phản tác dụng thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 8/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0831-nm-08292013104805.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 26/07/2017, 10:54:02
Chuyện soạn giả cưới vợ đào hát

Lấy vợ đào hát là cả một vấn đề rắc rối, khổ tâm về sau mà người am tường về cải lương ai cũng nhận ra thế, nhưng đó là người ta muốn nói người ngoại giới xông vào lãnh chức “dượng đào”, chứ còn thì nếu như soạn giả mà lấy đào hát làm vợ thì không ai ngạc nhiên gì cả, mà người ta còn cho rằng hợp tình, hợp cảnh nữa là khác, do bởi cùng làm một nghề như nhau thì dễ thông cảm nhau hơn.

(http://baovinhlong.com.vn/dataimages/201706/original/images1921563_1.jpg)
Soạn giả Yên Lang và phóng viên Thanh Hiệp tại Mỹ

Cùng một nghề, dễ thông cảm
            Vả lại cuộc tình duyên nào giữa soạn giả và đào hát cũng bắt nguồn bằng một sự rung động, có thể là nàng cảm văn chương của chàng, còn chàng thì mến giọng ca ngâm, thích cái duyên dáng qua nghệ thuật diễn xuất của nàng. Thế nhưng, những cuộc tình duyên hợp tình, hợp cảnh ấy sẽ đi đến đâu? Theo như người ta ước lượng chừng có khoảng hai phần mười cặp vợ chồng như trên là ăn ở với nhau bền bỉ mà thôi, còn thì hầu hết đều sớm hoặc muộn cũng ra rời kim cải.
            Trước hết xin đề cập đến những ai có duyên lấy đào, chừng như cũng là cái số nên trong những người mà soạn giả Mộc Linh ăn ở chính thức chỉ toàn là đào hát, mà lại trước sau đều là đào nổi tiếng. Dạo cộng tác với đoàn Thống Nhứt, soạn giả Mộc Linh phải lòng Bạch Tuyết (lúc đó chưa có biệt danh cải lương chi bảo) và sống ra mặt vợ chồng được hơn một năm.
            Đến khi sang cộng tác với gánh Kim Chưởng thì Mộc Linh mê ngay đào Thanh Nguyệt, sau khi thất bại với một cô đào khác cùng sân khấu, và lễ thành hôn chính thức được tổ chức để sau đó Mộc Linh, Thanh Nguyệt sống êm ấm một thời gian dài. Họ đã có con cái với nhau, cho nên dầu Mộc Linh đã bỏ nghề viết tuồng để nhảy vào làng báo, và Thanh Nguyệt vẫn còn cố theo đuổi nghệ thuật sân khấu.
            Người ta tưởng đâu rằng đôi vợ chồng này sẽ ăn đời ở kiếp được, do sự ràng buộc chặt chẽ giữa họ với nhau là hôn lễ và con cái, nhưng rồi họ cũng xa nhau. Có cái ngộ là trước sau hai cô đào nên duyên với Mộc Linh đều có huy chương vàng Giải Thanh Tâm, vì thế người ta thường gọi Mộc Linh là “dượng huy chương vàng!”


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0914-nm-09122013135651.html/thanh-nga-pham-duy-lan-250.jpg/image)
Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng Phạm Duy Lân

            Kế đến là trường hợp soạn giả Thu An và đào Ngọc Hương, vụ này đã gây xôn xao trong làng cải lương một dạo, và khiến cho Thu An, Ngọc Hương phải rời bỏ đoàn Thủ Đô lánh mặt một thời gian, để rồi sang cộng tác với đoàn Kim Chưởng. Cuộc theo đuổi của Thu An đối với Ngọc Hương có phần hơi lâu và khá công phu, bởi lúc đầu nghe đâu gia đình Ngọc Hương không tán thành. Trong khi đó người vợ thứ nhì của Thu An cũng tích cực khuấy rối. Nhưng cuối cùng mọi trở ngại đều được san bằng để họ trở thành vợ chồng, đã có con cái, sự nghiệp với nhau.
            Người ta có lý do thể tin rằng họ sẽ ăn đời, ở kiếp với nhau được. Đôi khi có nghe những xích mích vụn vặt xảy ra giữa đôi vợ chồng này, nhưng đó chỉ là những cơn gió mùa Hè cho thêm mát mẻ, có nghĩa là có xích mích vậy để sau đó họ lại khắng khít với nhau hơn. Thật vậy, cặp Thu An, Ngọc Hương lâu bền mấy chục năm, và trước đây nhân dịp về nước thăm nhà, tôi có đến thăm Thu An lúc ông bệnh nặng, Ngọc Hương tận tình chăm sóc, và vài tháng sau thì nghe tin ông vĩnh viễn ra đi với tuổi đời ngoài 80 tại Gò Vấp.
            Nếu như soạn giả Mộc Linh có duyên lấy đào hát, thì ngược lại đào Trương Ánh Loan lại có duyên lấy chồng là soạn giả. Lúc đầu Trương Ánh Loan kết duyên với soạn giả Tây Giang Tử và qua một thời gian sống rất êm ấm có con cái vài đứa với nhau, thì soạn giả nhà ta vì bận binh nghiệp nên không còn viết tuồng nữa, thế là vợ chồng dần dần xa nhau để rồi sau cùng dứt khoát duyên nợ. Kế đó Trương Ánh Loan làm lại cuộc đời với soạn giả Viễn Hùng, người ta tưởng rằng cặp này sẽ lâu bền, không ngờ biến cố Mậu Thân xảy ra, chồng cộng tác một nơi, vợ cộng tác một ngả, để rồi Trương Ánh Loan rời bỏ luôn sân khấu đi làm nghề khác và cũng chào lui với Viễn Hùng, khiến anh này thở phào chán nản. Vậy là huề, và cũng từ đó Viễn Hùng thề không bao giờ kiếm vợ đào hát nữa, Viễn Hùng thường than vãn với bạn bè rằng: Khổ lắm đó các cha ơi! Khó lòng lắm, giải thích không nổi. Khổ thế nào thì chắc chỉ Viễn Hùng biết và các dượng đào biết mà thôi.

Ăn đời ở kiếp
            Giờ đây xin đề cập đến trường hợp soạn giả Yên Lang lấy vợ đào hát. Lúc cộng tác đắc lực với đoàn Song Kiều, soạn giả Yên Lang phải lòng cô đào chánh đoàn này là Kiều Oanh, thế rồi gia đình đôi bên ưng thuận mang về quê làm đám cưới rình rang. Có điều Kiều Oanh vĩnh viễn rời sân khấu để về nhà lo bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ, đó cũng là một cách đảm bảo hạnh phúc chắc chắn nhứt và họ đã có con đàn, con lũ với nhau. Duy chỉ có Yên Lang thì bám sát nghiệp viết tuồng, viết hăng say đến đỗi lúc bấy giờ có người chọc phá nói rằng anh hy vọng một ngày nào đó sẽ bợ được một cô đào chánh nữa, để rồi khi hòa bình trở lại anh sẽ đựng gánh như Thu An, Ngọc Hương.
            Thế nhưng, khi hết chiến tranh thì Yên Lang đi… cải tạo (bởi gốc là sĩ quan cảnh sát), và định cư Hoa Kỳ diện HO. Cặp này coi như ăn đời ở kiếp với nhau, bởi cho tới giờ này họ vẫn còn khắng khít, mỗi khi Yên Lang tham dự buổi hát đình đám nào thì hầu như đều có Kiều Oanh bên cạnh.
            Năm 2004 do biết rõ thành tích, Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại đã mời hai vợ chồng tham gia Ban Giám Khảo, Kiều Oanh chấm thi sơ khảo ở San Jose Miền Bắc California, và Yên Lang thì chấm thi chung kết ở San Diego Miền Nam California. Hiện không thấy Yên Lang viết tuồng nào nữa, mà chỉ có lần quy tụ đàn em làm sô ra mắt CD kiếm chút cháo thôi.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0622-nm-06212013122732.html/phungha04-305.jpg/image)
Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương. Ảnh tư liệu gia đình

            Đến đây thì dành thời gian để nói tới cái anh chàng soạn giả si đào vào bậc nhứt, mà khi nhắc đến thì người trong giới uống tàn buổi cà phê vẫn còn cười. Thật vậy, từ khi mới vào nghề, soạn giả nhỏ thó Tuấn Khanh mà người trong giới gọi là soạn giả “oắc con”, anh chàng đã si mê đào Kim Phụng (lúc bấy giờ là vũ nữ của gánh Thanh Minh) đến phải viết hằng loạt bài báo ca ngợi nàng này là thần tượng, là mỹ nhân, nhưng thần tượng mỹ nhân đã không ngó ngàng gì tới, khiến cho anh ta chết lên, chết xuống thiếu điều thổ huyết như Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Mối tình câm ấy vừa nguôi ngoai thì chợt Tuấn Khanh đâm ra si Thanh Nga, thế mới chết! Không hiểu tại sao anh ta có cao vọng ấy chớ, mà chẳng rõ Thanh Nga có hay biết hay không nữa?
            Cái thuở mà Thanh Nga đang lên đó, thì chẳng biết bao nhiêu người chạy theo tà áo của cô, nhưng gẫm ra thì chưa có ai can đảm cho bằng soạn giả Tuấn Khanh. Lúc đó thì Thanh Nga chưa phải lòng ai hết. Soạn giả Tuấn Khanh thì lần đầu tiên có vở hát “Xác Hoa Trên Tháp Đá” được đoàn Thanh Minh Thanh Nga vừa trình diễn thì anh ta luôn bám sát Thanh Nga. Lúc ấy ai cũng nghĩ rằng Tuấn Khanh, cái anh chàng soạn giả ốm tong ốm teo, lại nói tiếng mái ấy thì chẳng có nước mầu gì nên chẳng ai để ý. Vừa lúc có anh ký giả tên Văn Tài từ bên Tây mới về nước, chàng này mê mết Thanh Nga và nhờ Má Bảy Phùng Há mai mối giùm.
            Chưa biết là chuyện khởi đầu ra sao, nhưng có hôm Má Bảy đưa Thanh Nga đi coi hát bóng với anh chàng Văn Tài tại rạp Majestic. Và chẳng rõ Tuấn Khanh rình mò từ bao giờ mà biết ra chuyện đó, và khi ba người đang ngồi xem hát, thì bỗng nhiên anh chàng soạn giả Tuấn Khanh xuất hiện ngay trước hàng ghế của ba người ngồi, để rồi la ó ầm ỉ. La rằng:
            – Tại sao cô Bảy lại dụ Thanh Nga đi coi hát với trai? Tôi không bằng lòng chuyện thầm lén này.
            Thảm hơn thế là soạn giả nhà ta lại khóc ồ lên rằng:
            – Nga! Nga, tại sao em đi coi hát với người ta chớ?
            Dĩ nhiên là Má Bảy Phùng Há cười khì:
            – Cậu là cái gì của Thanh Nga? Còn tôi, tôi đưa Thanh Nga đi xem hát có xin phép với bà bầu Thơ rồi kia mà.
            Tuấn Khanh khóc lóc, than thở rồi đòi lao đầu vào xe nhà binh để chết cho rồi. Cũng may là anh ta thấy không ai có phản ứng gì nên lại thôi. Sau đó thì vắng biệt một thời gian không tới sân khấu Thanh Minh nữa. Người ta không hiểu tại sao Tuấn Khanh lại dám ghen kỳ cục như vậy.
            Chưa hết đâu! Đến khi cộng tác với đoàn Thúy Nga thì Tuấn Khanh lại si mê đào Ánh Hồng đến mất ăn mất ngủ, nhưng tội nghiệp cho anh ta là Ánh Hồng không ban bố đến một nụ cười. Trong chuyến Trung du của đoàn Thúy Nga, thì hai soạn giả trụ cột của gánh hát là Trần Hà và Hoài Ngọc không theo đoàn, mà để cho hai soạn giả đàn em là Tuấn Khanh và Phan Yến Thu bám sát để thu tiền bản quyền.
            Lúc đến Phan Thiết hát khá, Phan Yến Thu có được món tiền tuồng bỏ túi nên bao ăn, bao uống luôn cho Tuấn Khanh. Và một chiều nọ, hai soạn giả đi đạo phố, Phan Yến Thu thấy có chỗ bán dép Miên đẹp nên rủ Tuấn Khanh lựa mua, và dĩ nhiên trả tiền luôn cho. Phan Yến Thu chọn đôi dép có quai vàng, còn Tuấn Khanh thì đắc ý đôi dép quai xanh. Tối bữa đó hai soạn giả nhà ta lại ngủ rạp, mỗi người ngủ một nơi. Đào kép cũng ngủ ở rạp hết, trừ ông bầu Phước Trọng và bà bầu Thúy Nga thì ngủ khách sạn mà thôi.
            Đào chánh của đoàn Thúy Nga khi đó là Kim Lành và Ánh Hồng. Kim Lành thì dầu có chồng có con rồi, nhưng đã thôi chồng nên kể ra như chưa chồng. Còn Ánh Hồng thì chưa có mối, thân phụ cô là nhạc sĩ cũng theo đoàn, và tối thì uống trà với mấy ông thầy đờn rồi ngủ tại đây, rất xa con gái.
            Sau khi vãn hát, ăn uống xong, ai nấy tìm chỗ ngủ hết, rạp hát tắt đèn tối thui. Và chẳng rõ giờ đó là giờ nào, bỗng nhiên người ta nghe Ánh Hồng la lên tở mở: Ai? Ai đây? Bớ người ta… Và sau đó thì có tiếng chạy lạch cạch từ sân khấu ra cửa. Khi rọi đèn pin lên chỗ ngủ của Ánh Hồng thì người ta thấy có đôi dép mới tinh khôi nằm.
            Thân phụ Ánh Hồng nổ khí xung thiên thét lớn:
            – Đôi dép này của ai? Thằng nào đi đôi dép này?
            Phan Yến Thu cũng vừa thức dậy chạy tới, nhìn qua đôi dép và trố mắt đáp:
            – Đôi dép quai xanh. À, đôi dép quai xanh.
            Ông già của Ánh Hồng trừng mắt hỏi anh chàng soạn giả:
            – Nhưng mà nó là của ai chớ?
            Phan Yến Thu lấp vấp đáp lại:
            – Dạ, nó là của… của ai chẳng biết nữa.
            Dép quai xanh đây mà, Phan Yến Thu thừa nhớ đó là đôi dép của Tuấn Khanh, nhưng còn biết làm sao mà dám nói sự thật đây?
            Người trong đoàn nói rằng, mục tiêu của chàng ta là Kim Lành, vì cô đào này đã có một đời chồng, dễ chiếm hơn là Ánh Hồng còn con gái. Nhưng tôi hôm đó trước khi đi ngủ hai cô đào này lại đổi chỗ cho nhau. Nếu nói theo nhà quân sự thì do mục tiêu di động, xê dịch bất ngờ nên cuộc hành quân đột kích bị thất bại.
            Tưởng thế là mộng cưới đào hát đã tiêu tan, không ngờ khi ra ngoài Trung làm môn đệ cho soạn giả Hoa Phượng, thì Tuấn Khanh lại nhờ sự hỗ trợ của sư phụ mà cưới đào Mỹ Hạnh và có với nàng này được một con, nhưng rốt cuộc bị gia đình bên vợ tẩy chay luôn, thành ra Tuấn Khanh đâm ra chán đào. Sau đó mới có vụ cưới vợ không phải là đào hát, nhưng nàng này cũng là cháu kêu bà bầu Kim Chưởng bằng dì, và kể từ ấy Tuấn Khanh làm phò mã cho triều đình Kim Chưởng.
            Vẫn còn nhiều trường hợp soạn giả lấy đào hát làm vợ, những xin kể tới đây thôi, có dịp tôi sẽ kể tiếp vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0914-nm-09122013135651.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 02/08/2017, 12:17:44
Văn nghệ Nùng và tuần lễ văn hóa các dân tộc thiểu số

Tựa đề bài nói chuyện hôm nay mới nghe qua chắc “lạ tai” đối với nhiều người, bởi xưa giờ trừ một số rất ít có giao tiếp, hoặc làm ăn mua bán với người Nùng thì có thể hiểu phần nào, chớ đại đa số trong chúng ta chưa từng nghe qua từ ngữ “văn nghệ Nùng” bao giờ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0907-nm-09062013143312.html/cms_117454137-305.jpg/image)
Trang phục Lễ hội của người dân tộc Nùng

VẬY TRƯỚC KHI nói về văn nghệ Nùng, tôi xin ngược dòng thời gian nhìn lại một biến cố lịch sử, từng xảy ra cách đây nửa thế kỷ, mà có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ.

Những chuyến tàu di cư
            Số là vào năm 1955, một cuộc chiến ngay giữa Đô Thành Sài Gòn, Quân Đội Quốc Gia, các đơn vị người Nùng tác chiến dũng cảm, gan dạ đã đánh tan lực lượng võ trang Bình Xuyên ở vùng Chợ Lớn, đồng thời chiếm luôn tổng hành dinh của Bảy Viễn ở bên kia cầu chữ Y. Đặc biệt là người dân sống ở vùng Nancy Chợ Quán, và từ cầu Chữ Y dọc theo mé sông Bến Hàm Tử, chạy dài vô Chợ Lớn là biết rõ biến cố lịch sử của năm ấy. Đơn vị quân đội thiện chiến này nghe nói về sau là Sư Đoàn 5, có rất nhiều lính Nùng, một số mang cấp bậc lớn, thiếu tá, trung tá, và có cả đại tá.
            Lúc bấy giờ tuy nghe nói, nhưng rất nhiều người chưa rõ người Nùng có gì khác biệt với người Kinh về hình dạng, màu da, ngôn ngữ, đặc tính hoặc ăn mặc ra sao, có giống như người Thượng ở vùng núi Bà Rá, Phước Long ở phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một, hay miền cao nguyên Ban Mê Thuột, Kontum chăng? Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đã thắc mắc rồi, thì nói chi là văn nghệ Nùng thì người ta lại càng mù tịt. Và sau đây là sự kiện có liên quan đến công cuộc bảo tồn văn hóa dân tộc vào những năm cuối của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
            Nếu tính chung mọi hình thức văn nghệ thì Việt Nam ta cũng là quốc gia “đa văn hóa”, bởi ngoài môn nhạc của ba miền của đất nước mà ai ai cũng biết đó là cổ nhạc Bắc Phần, cổ nhạc Trung Phần và cổ nhạc Nam Phần (phát sinh ra cải lương) thì văn nghệ dân tộc đặc thù của các sắc tộc thiểu số, mà hầu như sắc dân nào cũng có âm nhạc riêng, và thường thể hiện trong các lễ hội đình đám, hoặc là được mùa. Ở đây tôi muốn đề cập đến “văn nghệ Nùng”, một sắc dân thiểu số miền Bắc, và họ đã hiện diện trong Nam sau ngày 20 Tháng Bảy 1954 sống hòa nhập với xã hội miền Nam.
            Năm 1954 Hiệp Định Genève ra đời chia đôi đất nước, theo làn sóng người Bắc di cư, sắc dân Nùng cũng có mặt trên những chuyến tàu đi vào Nam, và dĩ nhiên họ cũng mang theo văn nghệ đặc thù văn hóa. Lúc đầu họ cư ngụ rất nhiều ở vùng Song Mao, thuộc tỉnh Phan Rang, nhưng không thấy họ tổ chức văn nghệ ca hát, cũng đâu có ai nghe nói rằng người Nùng có văn nghệ! Có lẽ do cuộc sống mới định cư ở trong Nam, mà người Nùng mải miết lo làm ăn lập nghiệp trước cái đã, mà quên đi cái món văn nghệ, và khi đã thực sự ổn định cuộc sống rồi thì lại nhớ đến.
            Số là vào năm 1972, có nghĩa là sau 18 năm di cư vào Nam người Nùng mới nghĩ đến văn nghệ của mình, và vấn đề được đưa ra trong một buổi nói chuyện tại Bộ Phát Triển Sắc Tộc ở đường Nguyễn Du, Sài Gòn, với sự tham dự của viên chức chính quyền, đại diện các bộ môn văn nghệ trong đó có cải lương, điện ảnh v.v…


(http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0907-nm-09062013143312.html/hat-phun-2-250.jpg/image)
Một lớp dạy hát Phưng Nùng của Người dân tộc Nùng

Phát huy văn hóa Nùng
            Lúc bấy giờ ông Châu Thoại Tân, ủy viên báo chí đặc trách khối Nùng trong Ủy Ban Sắc Tộc, loan báo đã quyết định thành lập “Đoàn Văn Nghệ Nùng” để giới thiệu và phát huy văn hóa Nùng, và đoàn nầy sẽ bắt đầu sưu tập đề trình diễn những vũ bộ, những điệu hát, những nhạc bản cổ điển của sắc tộc này. Nếu tính vào thời điểm đó thì có đến gần hai thập niên sau, kể từ ngày vào Nam mới nghĩ tới một đoàn văn nghệ Nùng thì cũng quá trễ, nhưng trễ còn hơn là không.
            Những người tán thưởng quyết định của ông Châu Thoại Tân, là các ông Lý Thiều Quang, chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Sắc Tộc Hạ Viện, Trung Tá Wòng Đồng Phóng, nghệ sĩ Thanh Nga… là những người đã ký tên vào quyển sổ vàng cho Đoàn Văn Nghệ Nùng. Các nghệ sĩ cải lương tham dự buổi nói chuyện còn có nghệ sĩ Năm Châu, Duy Lân, Phùng Há, Bảy Nam, Bảy Cao, nhạc sĩ Chín Trích, Năm Cơ… Riêng Thanh Nga thì không biết cô tham dự với tư cách là nghệ sĩ cải lương hay tài tử điện ảnh, mà lại ngồi chung với nhóm điện ảnh, trò chuyện với đạo diễn Lê Hoàng Hoa, tức đạo diễn cuốn phim “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” do cô là tài tử chánh.
            Sau buổi loan báo thành lập Đoàn Văn Nghệ Nùng, tôi chưa có dịp rà lại xem đoàn này đã hoạt động đến đâu, có tiến triển hay tạo được thành tích gì chưa. Kế đến 30 Tháng Tư năm 1975 thì không nghe nói gì đến đoàn Văn Nghệ Nùng nữa. Không biết sau ngày ấy đoàn văn nghệ của một sắc tộc có tiếng thiện chiến kia có tồn tại được không, mà khi ra hải ngoại tôi cũng chưa một lần nghe ai nói tới.
            Nghe nói ở vùng Phú Hoa, Định Quán, đường đi Đà Lạt, cũng có rất nhiều người Nùng định cư lập nghiệp ở đây, mà người ta lầm lẫn họ với người Tàu. Không thấy họ tổ chức văn nghệ gì hết, mà chỉ thích coi cải lương, bởi thỉnh thoảng cũng có gánh hát hạng B, hoặc gánh bầu tèo về đây trình diễn. Nếu đúng như vậy, thì khó có dịp nào thiên hạ được đi coi văn nghệ Nùng.
            Trước đó hai năm có “Tuần Lễ Văn Nghệ” do phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa tổ chức vào Tháng Chín 1970, tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, dưới sự chủ tọa của Bác Sĩ Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, đại diện thủ tướng chính phủ, dân tộc thiểu số, gồm nhạc của các sắc tộc miền Cao Nguyên Trung Phần ở các tỉnh Darlac, Pleiku, Kontum, Phú Bổn, Tuyên Đức; ban nhạc “Chàm Hoa Phượng” của người Chàm ở Châu Đốc và ban Văn Lân ở Phan Rang. Ban nhạc Khmer ở Sóc Trăng, và cũng có nhạc của các dân tộc thiểu số miền Bắc: Nùng, Mán, Mèo, Thái được thực hiện với sự cộng tác của ban văn nghệ khối Đại Đoàn Kết các dân tộc thiểu số Việt Nam, do Thượng Nghị Sĩ Wòng A Sáng làm chủ tịch.


(http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0907-nm-09062013143312.html/nung-250.jpg/image)
Người dân tộc Nùng

            Ngay trong buổi đầu khai mạc, ban văn nghệ Hội Đông Phương Cổ Nhạc ở Chợ Lớn đã trình diễn vở tuồng ca vũ nhạc dã sử “Từ Lang Châu”, làm sống lại thời Tống mạt, giang sơn Trung Quốc bị quân Nguyên dày xéo. Trong mấy lời nói đầu, một đại diện Hội Đông Phương Cổ Nhạc đã nhắc lại cảnh khốn đốn của một số người Hoa, gặp cơn quốc nạn phải lìa bỏ quê cha đất tổ, tản mác khắp nơi tìm chỗ dung thân, lại may mắn được Việt Nam mở rộng vòng tay thân hữu đón nhận và giúp họ được an cư lạc nghiệp.
            Sau lời phát biểu của ông, khiến người ta ngược dòng lịch sử hơn 200 năm về trước kể từ lúc số người Tàu Minh Hương chạy trốn Mãn Thanh sang Việt Nam lánh nạn ở Đàng Trong, được Chúa Nguyễn chấp nhận cho tỵ nạn. Số người Minh Hương lập nghiệp luôn ở Việt Nam, họ sống qui tụ từng vùng, đặc biệt ở Chợ Lớn là đông đảo nhứt. Những người Hoa tỵ nạn này đã mang theo văn hóa hệ, họ gìn giữ luôn tới bây giờ. Họ đã hòa mình hội nhập trong nếp sống chung của Việt Nam, và cùng chung sức để xây dựng đất nước này trở thành quê hương của họ.
            Cũng giống như người Việt định cư ở Hoa Kỳ hiện nay, đã dần dần hội nhập vào đời sống ở Mỹ. Tuy nhiên, nằm trong khuôn khổ cộng đồng quốc gia Việt Nam, về mặt nghệ thuật, người Tàu vẫn có những sắc thái riêng biệt, những truyền thống đặc thù.
            Thời kỳ trước 1975 ở Chợ Lớn, người ta thấy nhạc cổ truyền của người Hoa ở Việt Nam, được coi như hình thức văn hóa đặc thù của một trong các dân tộc thiểu số, được thể hiện trong sinh hoạt hằng đêm tại các ngôi nhà Từ Đường, và ngày vía, ngày lễ, ngày Tết thì trình diễn ở các chùa Tàu. Ngoài ra cũng còn phục vụ ở các đám cưới, đám ma, sinh hoạt giống như đờn ca cổ nhạc tài tử của miền Nam vậy.
            Nhạc cổ truyền của Tàu có thể chia ra làm hai loại: Nhạc võ và nhạc văn. Nhạc võ thì rình rang với những trống lớn, trống nhỏ, cồng chiêng, chập chõa, đồng la, phách… Còn nhạc văn gồm: Đờn nguyệt (kìm), đờn gáo… kết hợp với thổi tiêu, sáo.
            Thời ấy ở Chợ Lớn có đến cả chục đội nhạc cổ truyền, mỗi đội trên dưới 50 người, và hầu như đội nào cũng có rất nhiều thiếu nữ Tàu xinh đẹp cộng tác. Không riêng gì ở Chợ Lớn, các tỉnh miền Nam có người Tàu làm ăn phát đạt, mỗi khi có đám cưới, đám ma (thường là đám ma) họ cũng rước đội nhạc cổ từ Chợ Lớn về, và người địa phương lại được dịp nghe trống, chập chõa rình rang ồn ào suốt cả mấy ngày có đám.
            Ngày nay không biết nhạc cổ của Tàu có còn hoạt động mạnh hay không, bởi lẽ cổ nhạc miền Nam cùng bộ môn cải lương gần như tê liệt, thì ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến nhạc cổ của Tàu.


NGÀNH MAI
tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0907-nm-09062013143312.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
Gửi bởi: nduytai vào 04/08/2017, 13:22:50
Danh phẩm Kim Vân Kiều lên sân khấu Trung Hoa

Tác phẩm Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du từng được đưa lên sân khấu thời thập niên 1930, được cả giới bình dân lẫn trí thức thời đó đi coi, và có người nói rằng đây là vở hát mà cốt truyện vượt mọi không gian và thời gian. Cũng trong thời kỳ này hãng phim Pháp Indochine Films et Cinemas đưa Kim Vân Kiều lên màn bạc, với các tài tử là đào kép cải lương ở rạp Quảng Lạc, Hà Nội. Phần diễn xuất chẳng khác hơn ở sân khấu, đào kép ăn mặc rườm rà như hát bội, cử chỉ như hát tuồng, cũng như có những sai lằm về nội dung nên phim bị thất bại.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0921-nm-09202013150554.html/kim-van-kieu-305.jpg/image)
Bìa đĩa hát cải lương Kim Vân Kiều

Thành công trên sân khấu
            Tuy thất bại bên điện ảnh, nhưng phía sân khấu thì thành công vượt bực, những cô đào nổi tiếng hầu như đều có đóng vai Thúy Kiều. Lớp nghệ sĩ tiền phong thì có các cô Năm Phỉ, Phùng Há, Sáu Nết, Thanh Loan và lớp thế hệ sau có Bạch Tuyết, Mộng Tuyền…
            Đoàn Kim Chung được thành lập ngoài Bắc, và đào Kim Chung trong vai Thúy Kiều được hoan nghinh nhiệt liệt. Thời đó từ Bắc chí Nam hễ nói đến cải lương trình diễn vở hát Kim Vân Kiều, là khách mộ điệu không thể nào quên được đào Kim Chung trong vai trò hồng nhan đa truân ấy. Người ta nói hát Kiều mà không có Kim Chung kể như không có gì lý thú nữa để mà xem. Trong hơn 20 năm trời Kim Chung lẫy lừng danh tiếng với điển hình ký thác của cụ Nguyễn Du.
            Không phải chỉ nghệ thuật Việt Nam khai thác danh tác của cụ Nguyễn Du, mà nghệ thuật màn bạc Trung Hoa cũng khai thác. Đầu thập niên 1950, hãng phim Tàu ở Hồng Kông đưa truyện Kiều lên màn ảnh rộng lần thứ hai, do cô đào Hồng Tuyến Nữ đóng vai Thúy Kiều, và kép Mã Sư Tăng vai Kim Trọng, và lần này thì thành công to. Sau thời gian chiếu ở Hồng Kông với số thu kỷ lục, khoảng năm 1954 phim được mang sang Việt Nam chiếu để hốt bạc tiếp. Phim cũng được các Chú Ba ở Chợ Lớn nhiệt liệt hoan nghinh Thúy Kiều Hồng Tuyến Nữ, chiếu suốt một tuần khán giả vẫn đông nghẹt rạp.
            Thừa thắng xông lên, chủ rạp cử người đi Hồng Kông mời gánh hát Đại Kim Long, tức gánh có đôi nam nữ nghệ sĩ nói trên sang hát ở Chợ Lớn để ăn thêm. Bởi chủ rạp biết chắc rằng cặp Mã Sư Tăng – Hồng Tuyến Nữ xuất hiện bằng xương bằng thịt thì sẽ thu hút khán giả nhiều hơn chiếu phim gấp bội.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0921-nm-09202013150554.html/kim-chung-5-250.jpg/image)
Vở cải lương Máu nhuộm sân chùa do đoàn cải lương Kim Chung 5 trình diễn

            Khán giả người Hoa ở Chợ Lớn rất quen thuộc và ái mộ Hồng Tuyến Nữ – Mã Sư Tăng, do bởi trước đó khoảng 1949-1950 cặp tài danh sân khấu ở Hông Kông này được giới tài phiệt người Hoa ở Chợ Lớn mời sang trình diễn. Và nhân cơ hội này, cặp nam nữ nghệ sĩ ở Hồng Kông đã đến hội quán Hội Nghệ Sĩ để tìm hiểu sinh hoạt của nghệ sĩ sân khấu ở đây. Ban Chấp Hành đương nhiệm lúc bấy giờ do ông huyện Trần Khiêm Cung (hội trưởng), nghệ sĩ Năm Châu (phó hội trưởng) và ông Nguyễn Văn Chỉ (tổng thư ký) đã vội vã báo tin cho hầu hết các gánh hát đang hoạt động ở Sài Gòn, Chợ L