Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 20111 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #180 vào: 21/03/2019, 17:18:14 »
Kim tự tháp bảo tàng Louvre: “viên kim cương” trong lòng Paris

Ngày 30/03/2018 là kỷ niệm 30 năm khánh thành kim tự tháp kính bảo tàng Louvre, một viên kim cương trong lòng Paris, tác phẩm thu hút đông khách thăm quan bảo tàng, chỉ sau bức tranh Nàng Mona Lisa của danh họa Léonard De Vinci và tượng thần vệ nữ Milo trứ danh. Nhưng có mấy ai biết “viên kim cương” đó đã từng là một đề tài gây tranh cãi khiến báo chí “tốn biết bao giấy mực”, thể hiện sự đối đầu giữa phe bảo thủ và những người theo khuynh hướng hiện đại, thậm chí là một đề tài “đấu đá chính trị” giữa cánh tả và cánh hữu Pháp trong những năm 1980, dưới thời tổng thống François Mitterrand.

Kim Tự Tháp Louvre, Paris

FRANÇOIS MITTERRAND nhậm chức tổng thống Pháp vào năm 1981. Ông là tổng thống cánh tả đầu tiên của nền Đệ Ngũ Cộng Hòa. Vốn là người đam mê văn hóa, chỉ ít lâu sau trở thành ông chủ điện Elysée, François Mitterrand đã yêu cầu bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang thực hiện hai việc: Trình ngay lập tức danh sách các dự án lớn về cải tạo Paris và vùng phụ cận, trong đó kiến trúc phải đi đôi với nghệ thuật; xây dựng trên toàn nước Pháp các “puits de vie”, tạm dịch là “giếng khơi cuộc đời”, có nghĩa là các trung tâm nghệ thuật và sáng tạo.
            Trong số các đề xuất của bộ trưởng Jack Lang, dự án gây nhiều chú ý nhất là hiện đại hóa và mở rộng diện tích bảo tàng Louvre bằng cách di dời trụ sở bộ Tài Chính khỏi tòa nhà cánh Rivoli sang khu phố Bercy và giải tỏa sân Napoléon, vốn thời đó được dùng làm bãi đậu xe.
            Ngày 27/07/1981, trong tờ trình gửi tổng thống François Mitterrand, bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang viết “Louvre sẽ trở thành bảo tàng lớn nhất thế giới”. Tổng thống Mitterrand trả lời ngắn gọn bằng vài từ ghi bên ngoài lề tờ giấy, theo như thói quen vốn có của ông: “Ý tưởng hay nhưng khó thực hiện (cũng giống như mọi ý tưởng tốt đẹp khác).” Điều này có nghĩa là “Hãy bắt tay vào việc đi nào!” Sau này, tờ trình của Jack Lang được coi như hòn đá đầu tiên đặt nền móng cho dự án Grand Louvre.
            Kiến trúc sư được tổng thống Pháp đích thân mời phụ trách thiết kế là ông Ioeh Ming Pei. Ông François Mitterrand, vào năm 1978, trên cương vị chủ tịch đảng Xã Hội Pháp, trong chuyến thăm Mỹ và làm việc với tổng thống Mỹ Ronald Reagan, đã có dịp chiêm ngưỡng Bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở Washington (National Gallery of Art), công trình có phần đóng góp của kiến trúc sư Ming Pei. Ngay lập tức, ông Mitterrand thấy ngưỡng mộ tài năng của vị kiến trúc sư người Mỹ gốc Hoa. Ming Pei cũng là nhà thiết kế nhiều công trình lớn nổi tiếng trên thế giới như John Hancok Tower, John F. Kennedy Library ở Boston, Bank of China Tower ở Hồng Kông…
            Nhận được lời mời của tổng thống Pháp, kiến trúc sư Ming Pei sau bốn tháng nghiền ngẫm cẩn trọng, cuối cùng đã nhận lời thiết kế công trình. Điểm nhấn trong bản thiết kế của ông Pei để hiện đại hóa điện Louvre là xây dựng ngay tại sân Napoléon một kim tự tháp bằng kính trong suốt, cao 21,64m, mỗi cạnh có kích thước 35,24m, theo tỉ lệ thu nhỏ từ kim tự tháp nổi tiếng Kheops của Ai Cập. Cửa vào kim tự tháp là cửa chính dẫn xuống khu đón tiếp, bán vé để từ đó du khách bắt đầu hành trình tham quan bảo tàng.


Kim tự tháp kính thu hút rất đông khách thăm quan bảo tàng,
chỉ sau bức tranh Nàng Monalisa của danh họa Léonard De Vinci và tượng thần vệ nữ Milo

Trận chiến Kim Tự Tháp
            Thiết kế của Ming Pei được tổng thống Pháp François Mitterrand đánh giá là “hợp lý nhất, tốt nhất và đẹp nhất”. Nhưng cũng giống một số công trình lớn khác ở Paris như tháp Eiffel, trung tâm văn hóa Pompidou, dự án kim tự tháp kính tại điện Louvre khi mới ra đời đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của công luận.
            Nếu như tháp Eiffel bị ví như “một ống khói nhà máy khổng lồ”, “vô ích” và “nực cười”, trung tâm văn hóa Pompidou bị bêu riếu là “cái mụn cóc xấu xí”, “con quái vật gớm ghiếc”, “một sai lầm thế kỷ”, thì kim tự tháp Louvre lại bị coi là một tác phẩm chỉ đạt điểm 0 về kiến trúc, thô kệch, từ hình dáng đến chất liệu thiết kế đều phá vỡ cảnh quan, phong cách kiến trúc cổ điển vốn có và làm hỏng cái hồn của điện Louvre, thậm chí kim tự tháp Louvre còn bị gọi là “ngôi nhà của người chết”…
            Bộ trưởng Văn Hóa Pháp thời đó, ông Jack Lang, sau này trong cuốn sách “Những trận chiến về Grand Louvre” (2010) về lịch sử dự án mở rộng bảo tàng Louvre – đã nói rằng ông “rất ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội, kịch liệt của những người phản đối” kế hoạch xây kim tự tháp kính. Thậm chí, kim tự tháp Louvre còn bị phản đối dữ dội hơn nhiều so với dự án xây trung tâm văn hóa Pompidou dưới thời tổng thống Pháp Georges Pompidou trước đó.
            Còn đối với kiến trúc sư Ieoh Ming Pei, thời điểm khó khăn nhất với ông là tháng 01/1984, khi ông phải trình dự án trước Ủy ban cao cấp phụ trách các công trình lịch sử của Pháp, trong tiếng phản đối la ó, thậm chí cả sự kỳ thị nhắm vào gốc gác Trung Quốc của ông. Ieoh Ming Pei hồi tưởng: “Đó là một phiên họp kinh khủng!” thậm chí ông còn không thể nào giới thiệu được bản thiết kế như đã định. Khi Ủy ban bỏ phiếu, thiết kế của Ieoh Ming Pei chỉ được thông qua với số phiếu sít sao.


Sự giao hòa giữa kiến trúc hiện đại và phong cách cổ điển

            Ngay ngày hôm sau, bản phác họa kim tự tháp Louvre được giới thiệu trên trang nhất nhật báo France-Soir, nhà văn Jean Dutourd, viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp có bài xã luận với tiêu đề “Nước Pháp khốn khổ”. “Trận chiến kim tự tháp” chính thức bắt đầu… Nhiều khiếu nại, kiến nghị, thư ngỏ phản đối kim tự tháp Louvre được gửi đi tới tấp. 7 hiệp hội bảo tồn di sản Pháp đã gửi thư phản đối tới bộ trưởng Văn hóa Jack Lang.
            Nhiều tờ báo như Le Figaro, Le Quotidien de Paris… và nhiều chính trị gia, nghệ sĩ cũng lên tiếng phản đối dự án của kiến trúc sư Ming Pei. Thậm chí, vào năm 1984, ca sĩ nổi tiếng Yves Montand của Pháp đã thu âm một ca khúc bông lơn về dự án của Ming Pei. Bài hát “Lettre anonyme à monsieur du musée du Louvre” (Bức thư vô danh gửi ông quản đốc bảo tàng Louvre) mở đầu bằng câu “Có những điều quái đản đang xảy ra ở bảo tàng Louvre…
            Tuy nhiên, theo các thăm dò ý kiến người dân, phần thắng lại nghiêng về Ming Pei, tổng thống Mitterrand cũng rất kiên định trong việc cho triển khai dự án. Thêm vào đó, bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang đã khôn khéo tránh để thị trưởng Paris Jacques Chirac phật ý mà phản đối kế hoạch xây kim tự tháp. Vì thế, dự án vẫn được tiếp tục. Sau này, ông Jacques Chirac đắc cử kỳ bầu cử tổng thống Pháp 1995, trở thành người kế nhiệm tổng thống François Mitterrand. Nhân 10 năm kỷ niệm ngày khánh thành kim tự tháp điện Louvre, Jack Lang tiết lộ ông đã thuyết phục thị trưởng Chirac như thế nào:

             “Khi mọi người đều biết về dự án xây kim tự tháp, tôi đã tự nhủ: “Phải tránh việc ông Chirac nhảy dựng lên như một con bò tót nhìn thấy chiếc khăn màu đỏ và phải cố gắng né tránh để ông ấy không gây trở ngại. Và tôi đã cố gắng huy động bạn bè, những người được ông ấy đánh giá cao. Chẳng hạn, Jean Prouvé, chủ tịch hội đồng giám khảo cuộc thi thiết kế Trung tâm văn hóa Pompidou, phu nhân cố tổng thống tiền nhiệm Georges Pompidou, và vài người khác nữa, để họ nói với ông Chirac rằng “Thưa thị trưởng, ông đừng quyết định quá nhanh, hãy đón tiếp và trao đổi với kiến trúc sư Pei, hãy xem bản mẫu maket rồi từ từ quyết định”.


Ngoài kim tự tháp chính, còn có ba kim tự tháp nhỏ và
một kim tự tháp treo ngược nằm dưới lòng trung tâm thương mại Carrousel de Louvre

Thủy tinh kim cương – Thách thức kỹ thuật
            Công cuộc xây dựng kim tự tháp kính của Ioeh ming Pei là một cuộc chạy đua với thời gian, trên một công trường khổng lồ, với nhiều thách thức về kỹ thuật. Thủy tinh làm kính phải là loại “thủy tinh kim cương” trong suốt gần như tuyệt đối và không mầu để kim tự tháp không ngả màu xanh dưới ánh mặt trời và dù đứng từ sân nhìn xuống hay đứng từ dưới nhìn lên thì lớp kính đều phải phản chiếu đúng màu vàng óng như mật của các bức tường điện Louvre. Thêm vào đó, phải là kính hai lớp đủ dày nhưng nhẹ và có độ bền, đảm bảo an toàn lâu dài, mặt kính cũng phải được mài phẳng đến tuyệt đối.
            Bộ khung kim tự tháp làm bằng 95 tấn thép và 105 tấn nhôm phải thanh mảnh, nhẹ nhàng, nhưng đủ chắc chắn để gánh đỡ 95 tấn kính. Nhiều lời đồn đại cho rằng có tổng cộng 666 miếng kính, và con số 666 là con số của quỷ Satan, nhưng thực ra kim tự tháp được ghép từ 673 tấm kính hai lớp (603 miếng kính hình thoi và 70 miếng kính hình tam giác).
            Mặc dù người ta hay gọi là kim tự tháp điện Louvre, nhưng thực ra có tổng cộng 5 kim tự tháp, ngoài kim tự tháp chính, còn có 3 kim tự tháp nhỏ cao 4.92m nằm ở ba phía bao lấy kim tự tháp lớn và một kim tự tháp nhỏ treo ngược, có chóp nằm dưới lòng trung tâm thương mại Carrousel de Louvre. Tất cả đều bằng “kính kim cương”.
            Với loại cát trắng mịn chỉ có trong rừng Fontainebleau ở ngoại ô phía nam Paris, với công nghệ sản xuất ít thấy, những lò nung thủy tinh đặc biệt, kiến trúc sư Ming Pei và hãng sản xuất kính Saint-Gobain hàng đầu của Pháp đã hợp tác tạo ra một loại kính đặc biệt, hoàn hảo và chưa từng xuất hiện trên trị trường.
            Trong những năm 1990, loại “kính kim cương” cao cấp dùng để xây kim tự tháp Louvre đã trở thành loại kính hạng nhất được các cửa hiệu thời trang, kim hoàn xa hoa săn lùng để làm cửa kính trưng bày hàng. Bên cạnh kim tự tháp là 7 bồn nước để phản chiếu bầu trời và bóng hình những tòa kim tự tháp trong suốt, tăng thêm vẻ lung linh, huyền ảo cho điện Louvre, nhất là khi màn đêm buông xuống.


Kim tự tháp trong suốt, không màu,
phản chiếu đúng màu vàng óng như mật của các bức tường điện Louvre

“Viên kim cương hoàn hảo” của điện Louvre và thành phố Paris
            Kim tự tháp điện Louvre được khánh thành năm 1989 và gây tiếng vang lớn, tạo một bước ngoặt cho lịch sử bảo tàng Louvre. Vào năm 1999, nhân kỷ niệm 10 năm khánh thành kim tự tháp Louvre, kiến trúc sư Ming Pei, có mặt trước công trình nổi tiếng của mình, đã tự hào phát biểu: “Hôm nay là một ngày rất trọng đại đối với tôi. Tôi vô cùng hạnh phúc khi thấy kim tự tháp đã trở thành một nơi sống động”.
            10 năm sau khi ra đời, kim tự tháp vẫn nhận được những nhận xét trái chiều từ các du khách, có người thích thú, tán dương, có người chê bai: “Đâu phải là không hợp lý. Nó không hề làm ảnh hưởng tới vẻ đẹp của công trình xung quanh. Kim tự tháp trong suốt mà”; “Theo tôi, kim tự tháp bị đặt nhầm chỗ, nó không hợp với các tòa nhà quanh đây”; “Bảo tàng Louvre thì không thể thiếu kim tự tháp được”; “Mọi người cần làm quen với nó, tôi cũng sẽ quen thôi”.
            Sau 20 năm, kim tự tháp đã góp phần đưa số du khách tới thăm Louvre tăng gần gấp ba lần, từ 3 triệu lượt khách/năm lên thành 8,5 triệu lượt khách/năm. Giờ đây, sau gần 30 năm tồn tại, kim tự tháp bằng kính tại sân điện Louvre vẫn được coi là một trong những biểu tượng không thể thiếu của Paris, bên cạnh tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà Notre Dame de Paris… Viên kim cương đó là một minh chứng cho thấy sự kết hợp giữa kiến trúc hiện đại và phong cách cổ điển không phải là điều không thể tồn tại giữa lòng Paris.


THÙY DƯƠNG
Tháng 3/2018



http://vi.rfi.fr/phap/20180330-kim-tu-thap-bao-tang-louvre-%E2%80%9Cvien-kim-cuong%E2%80%9D-trong-long-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #181 vào: 26/03/2019, 19:10:55 »
Một tác phẩm của George Orwell đột ngột trở thành “bestseller” của Amazon

George Orwell mất năm 1950, tức là cách đây 67 năm. Ấy thế mà một trong những tác phẩm của ông mới đây, Tháng Giêng 2017, đột ngột nằm ở hàng đầu trong danh sách “bestsellers” của Amazon.

“1984” nằm ở hàng đầu trong danh sách “bestsellers” của Amazon

GEORGE ORWELL LÀ AI? Ông là tác giả của tập truyện hư cấu nổi tiếng toàn thế giới: Trại Súc Vật (Animal Farm). Tác phẩm này đã từng được đài BBC dịch ra tiếng Việt và đọc vào chương trình phát thanh hàng đêm khoảng thập niên 1980. Nó cũng đã được xuất bản ở trong nước nhưng dưới một cái tựa đề rất “vô duyên”, “Chuyện ở Nông Trại”.
            Tác phẩm “bestseller” này là gì? Là Nineteen Eighty-Four, sau này được đổi thành “1984” cho gọn, được Amazon đặt in lại 75 ngàn ấn bản. Xin lưu ý: Con số 1984 ở đây chỉ là cách nói ngược với năm 1948, năm hoàn tất tác phẩm, nhằm mục đích đưa ra một khái niệm về tương lai. Tác phẩm này chưa hề được dịch ra tiếng Việt. Truyện mô tả một thế giới bị chi phối bởi ba siêu cường quốc: Eurasia, Eastasia và Oceania. Oceania luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh với hai siêu cường kia, đẩy toàn thế giới ở trong một tình trạng thù hận, cô lập và sợ hãi. Xứ sở này được cai trị bởi nhà lãnh tụ nắm giữ quyền hành tuyệt đối có tên là “Big Brother” (Ðại Ca), mà khuôn mặt của ông ta hiện diện khắp nơi trên các tấm pa-nô tuyên truyền lớn với dòng chữ “Big Brother Is Watching You” (Big Brother Ðang Theo Dõi Bạn). Người dân không có bất cứ một thứ quyền riêng tư nào, “ngoại trừ một ít phân khối nằm bên trong cái sọ của anh”, theo cách mô tả trong truyện.
            “Ðại Ca” kiểm soát đất nước bằng bốn bộ: Hòa Bình, Tình Yêu, Thịnh Vượng và Sự Thật. Chức năng của bốn bộ này là một nghịch lý: Bộ Hòa Bình thì đảm nhiệm chiến tranh, Bộ Tình Yêu thì phụ trách chuyện hành hạ, Bộ Thịnh Vượng thì chuyên lo về bỏ đói, chuyên môn công bố những bản thống kê hoang đường và Bộ Sự Thật thì đảm trách chuyện nói láo. Nhân vật chính là Winston Smith, 39 tuổi, một nhân viên làm việc cho Bộ Sự Thật. Tất cả những gì lưu trữ trong bộ này đều không mảy may liên hệ gì đến thực tại bên ngoài. Chúng được hoàn toàn dựng nên, nghĩa là bằng sự dối trá. Bộ Sự Thật không những chỉ lo thay đổi hiện tại mà còn tiêu hủy cả quá khứ.
            Một trong những phương cách thống trị quần chúng hữu hiệu là sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ mới gọi là “Newspeak”, bắt buộc tất cả mọi người đều phải sử dụng. Rất nhiều từ sẽ không còn hiện hữu như “tự do”, “dân chủ”, “công bằng”, “tôn giáo”, “danh dự”, vân vân… Mục đích của việc tạo ra thứ chữ mới là giới hạn “tầm tư tưởng” (range of thought) của con người và đồng thời nhằm mục đích xóa bỏ tất cả ký ức về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Xin nêu một vài từ điển hình trong tự điển này:
            – duckspeak/nói như vẹt: nói mà không suy nghĩ; nói như con vịt kêu quạc quạc.
            – blackwhite/đen-trắng: cùng một vật mà nói đen cũng được, trắng cũng được.
            Không chịu đựng nổi một nhà nước như thế, Winston âm thầm chống đối. Anh liên kết với một người tên là Charrington và O’Brien, người làm cùng sở với anh. Ngoài ra, anh còn lôi kéo cô tình nhân Julia. Họ gặp nhau và thảo luận về việc gia nhập tổ chức bí mật “Brotherhood” có mục đích lật đổ nhà độc tài. Chưa làm được gì thì anh đã bị bắt. Hóa ra, Charrington là một cảnh sát tư tưởng còn O’brien là thành viên cao cấp. Winston và Julia bị bắt. Nàng thú nhận rằng nàng cũng đã phản bội anh. Sau khi bị tra tấn và tẩy não, Winston hoàn toàn bị khuất phục.
            Cốt truyện không có gì gay cấn. Tác giả chỉ muốn đẩy ý niệm về một nhà nước toàn trị đến chỗ tuyệt đối của nó. Trong ý niệm đó, nhà nước toàn trị là một xã hội hoàn toàn mới, trong đó, là Thượng Ðế. Xã hội đó sẽ như thế nào? Ðó là một xã hội, “Sẽ không còn sự trung thành nào khác ngoài trung thành với Big Brother. Sẽ không còn tình yêu nào ngoài tình yêu đối với Big Brother. Sẽ không còn nụ cười nào ngoài nụ cười mừng chiến thắng khi kẻ thù bại trận. Sẽ không còn nghệ thuật, không còn văn chương, không còn khoa học. Khi chúng ta có quyền năng vô biên thì chúng ta đâu có cần gì đến khoa học. Sẽ không còn phân biệt giữa đẹp và xấu. Sẽ không còn sự tò mò, không còn cái thú hưởng thụ cuộc sống. Tất cả những lạc thú sẽ bị hủy diệt. (…) Nếu anh muốn có một hình ảnh về tương lai thì hãy tưởng tượng đó là một chiếc giày ống đạp lên trên một khuôn mặt người – mãi mãi”.
            Khác với “Trại Súc Vật” đề cập đến một cuộc cách mạng và sự phá sản của nó, 1984 mô tả một thế giới trong đó hình thức nhà nước toàn trị đã đạt đến giai đoạn ổn định và đang trên đường hoàn chỉnh lý tưởng mà nó đã đặt ra. Ðó là một nhà nước mà quyền lực đạt mức cao nhất đến độ trở thành vô chính phủ. Xã hội đó hầu như vô luật pháp, vì không có gì còn được gọi là bất hợp pháp nữa. Một xã hội nghịch đảo.


▪ ▪ ▪

            Tại sao “1984” lại trở thành “bestseller” lúc này? Theo nhận định của Peter Stansky, người viết tiểu sử Orwell, thì sự gia tăng số lượng sách bán ra xuất hiện từ sau khi nữ cố vấn của Trump, Kellyanne Conway, sử dụng từ “alternative facts” để biện hộ cho phát ngôn viên tòa Bạch Ốc Sean Spicer khi ông này nhất quyết cho rằng số lượng người tham dự buổi lễ nhậm chức của Tổng Thống Trump nhiều hơn Obama trước đây, mặc dù các hình ảnh và số thống kê cho thấy điều ngược lại. “Alternative facts” có nghĩa là “những sự kiện chọn lựa”. Nghĩa là, theo ý Conway, Spicer vẫn đúng dù không phù hợp với những gì diễn ra trong thực tế. Ðiều đó nhắc người ta nhớ đến loại từ vựng trong tự điển “Newspeak” mà Orwell nêu ra trong 1984, “whiteblack”, “duckpeak”, nghĩa là nói sao cũng được miễn phù hợp với ý định của nhà cầm quyền. Ý kiến này được dư luận trên mạng xã hội và nhiều cơ quan truyền thông như CNN, New York Times, USA Today, Quarzt, vân vân – cái mà ông Trump cho là chuyên môn đưa tin giả (fake news) và nặng nề hơn, bị ông kết án là “kẻ thù của nhân dân Mỹ” (Media is the enemy of the American People) – chia sẻ.
            Thực ra, “1984” đã bắt đầu bán chạy kể từ khi Trump đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, 8 Tháng Mười Một 2016 và đạt đến cao điểm sau khi bà Conway phát biểu từ “alternative facts”. Ðây là một phản ứng với một Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Cách vận động tranh cử bất thường cũng như các sử dụng ngôn ngữ không nhất quán (flip-flop) để hạ bệ và vượt thắng các đối thủ cũng như để tấn công và bôi nhọ truyền thông của Trump khiến người ta lo sợ một Trump-tổng-thống sẽ thao túng sự kiện và ngôn ngữ và do đó, có nguy cơ đưa Hoa Kỳ đến một sự khủng hoảng chính trị tệ hại. Hiện tượng “bestseller” của “1984” có vẻ như là một lời cảnh cáo của công luận về một chế độ độc tài toàn trị có thể thoát thai từ cơ chế dân chủ. Ðây không phải là lần đầu tiên, 1984 gia tăng số lượng bán. Thời Tổng Thống Reagan mới lên cầm quyền năm 1981, sách cũng bán chạy vì người ta sợ rằng Reagan có thể trở thành độc tài. Và gần đây nhất vào năm 2013, lúc Edward Snowden, nhân viên hợp đồng của của cơ quan National Security Agency, tiết lộ chương trình dò thám cá nhân quy mô của chính phủ Hoa Kỳ, sách cũng bán rất chạy.
            Nhưng Stansky đồng thời cũng cho rằng, chính Internet cũng đã góp phần khiến cho các sự kiện bị bóp méo. Ðó là nơi chồng chất thông tin, đúng lẫn sai vì là nơi “cha chung không ai khóc”, người ta có thể điều chỉnh, sửa đổi, ngụy tạo tin tức và sự kiện một cách dễ dàng để ảnh hưởng đến công luận.
            Tóm lại, một lần nữa, “1984” của George Orwell lại xuất hiện đúng lúc như một lời cảnh báo đến các nước dân chủ về nguy cơ của một chế độ toàn trị được khởi đầu bằng những lời lẽ mỵ dân và gây xúc động.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 04/2017

____________________________________________________________________
Tham khảo:
– “Nineteen Eighty-Four”, George Orwell, nxb Hatcourt, Brace and Company, New York, 1949
– USA Today, CNN, New York Times, Quarzt… các ngày 25, 26/1/2017

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/mot-tac-pham-cua-george-orwelldot-ngot-tro-thanh-bestseller-cua-amazon/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #182 vào: 30/03/2019, 11:56:30 »
Nhạc sĩ Ngọc Chánh, từ soạn sách nhạc tới phát hiện ca sĩ Minh Hiếu

 Trong sinh hoạt âm nhạc suốt 20 năm (1954-1975) tại miền Nam Việt Nam, rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh. Ông không chỉ là tác giả của hai trong số nhiều ca khúc nổi tiếng là “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” và “Bao Giờ Biết Tương Tư”;(1) mà ông còn là người điều hành trung tâm sản xuất băng nhạc uy tín Shotguns nữa.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh

NHƯNG, TÔI NGHĨ, nhiều người (ngay cả những nhân vật trong giới âm nhạc cùng một thời với nhạc sĩ Ngọc Chánh) cũng không hề biết rằng năm 1952, khi mới 15 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã soạn bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm”, bán cho ông Mỹ Tín, chủ tiệm đàn Mỹ Tín ở Sài Gòn, với giá 24.500 đồng.
            Bản chất nhã nhặn, ân cần với tất cả mọi người, lại thêm tính khiêm cung, lần đầu tiên tác giả ca khúc “Bao Giờ Biết Tương Tư” cho biết, ông yêu nhạc từ tấm bé. Khi mới lên 9, ông đã theo học guitar với một ông thầy người Phi Luật Tân. Cùng lúc ông cũng học thêm piano, từ chiếc đàn piano ở nhà người chị dâu của ông.
            Sáu năm sau, cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh đã soạn bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm”, mang đến cho ông Mỹ Tín, đề nghị ông chủ tiệm đàn Mỹ Tín xuất bản thành sách.(2)
            Tôi nghĩ, nhiều phần ông Mỹ Tín bị ngỡ ngàng, không tin tưởng bao nhiêu về khả năng cũng như kiến thức chuyên môn của cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kia… Nhưng là người quý trọng tài năng của bất cứ ai, nhất là những người trẻ, nên ông Mỹ Tín trả lời cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh rằng, cho ông hai ngày để đọc trước khi quyết định có nhận xuất bản hay không.
            Tác giả ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” (sau này), thú nhận, trong hai ngày chờ đợi đó, ông rơi vào tình trạng thấp thỏm, hồi hộp cực kỳ: Không biết ông Mỹ Tín đánh giá tác phẩm của mình ra sao, thế nào?
            Đúng hai ngày sau, trở lại gặp ông Mỹ Tín, cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh đã không thể hân hoan, mừng rỡ hơn, khi được ông Mỹ Tín cho hay nhận xuất bản tác phẩm âm nhạc đầu tay này. Ông Mỹ Tín cũng cho biết sẽ chia cuốn sách của Nguyễn Ngọc Chánh thành hai phần. Phần một: Hướng dẫn cách chơi Tây Ban Cầm. Phần hai: Các hợp âm của Tây Ban Cầm…
            Khi được hỏi tiền bản quyền của cuốn sách là bao nhiêu, thì cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh nói, cậu muốn bán với giá 24.500 đồng.
            Ông Mỹ Tín đồng ý, không trả giá, không kỳ kèo thêm bớt gì hết. Khi đó, ông Mỹ Tín chỉ nói, ông không đủ tiền mặt để trả một lần cho tác giả. Nếu bằng lòng, ông sẽ trả làm nhiều kỳ.
            Cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kể, mặc dù tiệm đàn Mỹ Tín nổi tiếng là tiệm chuyên sản xuất đàn Tây Ban Cầm; nhưng ông cũng thấy trong tiệm có trưng một số đàn piano cũ – mà piano vốn là mơ ước thầm kín từ nhiều năm tháng trước của Nguyễn Ngọc Chánh. Cậu bèn đề nghị với ông Mỹ Tín cho cậu được mua một chiếc đàn piano cũ, bằng vào tiền bản quyền của cuốn sách nhạc.
            Cuộc “thương lượng” kết thúc một cách chóng vánh với giá 22.000 đồng cho cây đàn piano mà cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh chọn được. Phần còn lại 2.500 đồng ông Mỹ Tín trả ngay cho cậu.


Ca sĩ Minh Hiếu

            Cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kể, cậu đã trích ngay một khoản trong số tiền này, biếu mẹ cậu. Phần còn lại đãi bạn, ăn mừng bán được sách.
            Nhưng “vấn nạn” lớn nhất của tác giả bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm” sau đó là khi đã có piano rồi, cậu lại không biết tìm đâu ra tiền để đóng tiền học dương cầm?
            Nhạc sĩ nói, thời đó, Sài Gòn chưa có trường Quốc Gia Âm Nhạc. Lớp dạy piano tư cũng rất hiếm…
            “Tôi biết mình là con nhà nghèo, mẹ tôi sẽ không thể đài thọ tiền học đàn cho tôi. Nên tôi phải nói dối mẹ tôi rằng, tôi muốn đi học thêm Anh Văn. Nghe tôi nói muốn đi học tiếng Anh, mẹ tôi thích lắm, cho rằng con mình hiếu học, nên đã đồng ý cho tôi tiền để đi học thêm…”, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh, trong một buổi sáng ở cà phê Tài Bửu, đường Westminster, thuật lại.
            Ông nói, với số tiền mẹ cho, ông ghi tên học piano với thầy Dung – thầy Nguyễn Văn Dung – ở Sài Gòn.
            Bốn năm sau, năm 19 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh bị gọi động viên Thủ Đức, cùng một lượt với người bạn thân của ông thời đó, tên là Cổ Tấn Tinh Châu.(3)
            Nhưng, có dễ số của tác giả “Bao Giờ Biết Tương Tư” không thuận hợp với đời binh nghiệp, cho nên, một ngày trước khi phải nhập ngũ, thì ông được Bộ Công Dân Vụ (thời ông Kiều Công Cung) tuyển dụng vào Ban Văn Nghệ của bộ này. Vì vậy, ông được hoãn dịch.
            Nhạc sĩ Ngọc Chánh nhớ lại, thời gian phục vụ trong Ban Văn Nghệ của Bộ Công Dân Vụ, ông đã gặp một vài người bạn đặc biệt, như ông Nguyễn Văn Cảnh, trong Ban Kịch. Ông Cảnh sau này là chủ tiệm phở Nguyễn Huệ nổi tiếng, ở Orange County, và kịch sĩ Thanh Việt, trước khi nổi tiếng là hề Thanh Việt.
            Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của nhạc sĩ Ngọc Chánh khi còn là thành viên của Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ, là một trong những chuyến lưu diễn tới Ban Mê Thuột của ông, đã rơi đúng vào ngày cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt… Sự kiện ấy, là một ấn tượng quá dữ dội, khiến ông không thể quên!
            Rời Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ sau ít tháng phục vụ, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhận làm trưởng ban nhạc cho phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa, ở đường Lê Văn Duyệt cũ. Tại đây, do sự giới thiệu, gửi gấm của một người bạn tên Tư, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã nhận lời tuyển dụng một thiếu nữ tham gia ban nhạc của ông. Đó là ca sĩ Minh Hiếu. Thời gian đó, gia đình ca sĩ Minh Hiếu còn ở Bình Long. Cô lên Sài Gòn, ở nhà người quen để học may…
            Có hai mẩu chuyện mà nhạc sĩ Ngọc Chánh vẫn nhớ mãi, đó là khi ông Hoành (chủ phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa), được thông báo nhạc sĩ Ngọc Chánh đã tuyển thêm một nữ ca sĩ mới… Thay vì phải hỏi người đó hát được không? Thì, vì là người Tàu, nên ông Hoành chỉ hỏi: “Nó có đẹp không?” Câu trả lời của nhạc sĩ, đương nhiên là… “đẹp lắm”.
            Và mẩu chuyện thứ hai: Khi nhạc sĩ Ngọc Chánh đưa cho ca sĩ Minh Hiếu danh sách các ca khúc mà ban nhạc của ông thường trình diễn hàng đêm, thì Minh Hiếu cho biết, cô chỉ biết hát có hai ca khúc: Bài “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh, và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long.
            “Tuy nhiên chỉ vài tháng sau, Minh Hiếu đã thuộc thêm rất nhiều ca khúc mới và nổi tiếng ngay chỉ trong vòng nửa năm thôi”, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.
            Một sự kiện cũng đáng ghi nhận nữa vẫn theo tác giả ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” là: “Ở hải ngoại, trong một dịp gặp lại nữ ca sĩ Thanh Lan (dân trong nghề, gọi là Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ) đã rất chân thật khi kể lại rằng, thời còn cộng tác với phòng trà Hồ Tắm Cộng Hòa, cô rất ghét nhạc sĩ Ngọc Chánh. Cô thú thật rằng, cô đã mách ông Hoành về việc nhạc sĩ Ngọc Chánh cho “con nhỏ” Minh Hiếu hát một số ca khúc trước đó, vẫn được coi là của riêng Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ.(4)


DU TỬ LÊ
Tháng 05/2018

_____________________________________________
(1) Cả hai ca khúc này đều có sự tiếp tay, đóng góp vào phần ca từ của cố nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013). Riêng ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” vốn là nhạc phim của bộ phim cùng tên, dựa theo truyện dài của cố nhà văn Duyên Anh (1935-1997). Phim do Lê Hoàng Hoa đạo diễn. Hãng Mỹ Vân Phim sản xuất. Chính đạo diễn Lê Hoàng Hoa đã tìm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh để nhờ ông soạn một ca khúc riêng cho cuốn phim ấy.
(2) Đó là năm 1952.
(3) Cựu Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Cổ Tấn Tinh Châu thời trẻ nổi tiếng với ngón đàn guitar classic. Và nhạc sĩ Ngọc Chánh từng có thời gian học thêm Tây Ban Cầm cổ điển, từ người bạn này, của ông.
(4) Khoảng đầu thập niên 1970, trong sinh hoạt tân nhạc miền Nam, xuất hiện thêm một ca sĩ cũng có tên là Thanh Lan. Để phân biệt, dân trong nghề gọi Thanh Lan nổi tiếng từ những năm đầu thập niên 1960 là “Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ” – vì phu quân của ca sĩ Thanh Lan này là một nhân vật được rất nhiều người biết tới, ông là tổng giám đốc Thanh Niên Đệ Nhất Cộng Hòa. Ở hải ngoại giữa thập niên 1980, ca sĩ Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ lại nổi tiếng một lần nữa với trung tâm sản xuất băng nhạc Thanh Lan…


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhac-si-ngoc-chanh-tu-soan-sach-nhac-toi-phat-hien-ca-si-minh-hieu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #183 vào: 04/04/2019, 22:43:14 »
Nhà thơ Nguyên Sa và sự thay đổi cảm nhận thi ca Việt Nam

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại, thơ Nguyên Sa đã góp phần làm bản hòa tấu đa âm của thi ca Việt Nam thêm những rung động lạ lẫm cuốn hút người đọc mà Thơ Mới tỏ ra không còn đủ sức hấp dẫn như lúc khởi đầu.

Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ ở Paris năm 1954

                         Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
                        Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
                        Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
                        Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
                        Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
                        Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
                        Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
                        Bày vội vã vào trong hồn mở cửa
                        . . . . . .
                        Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
                        Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
                        Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
                        Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


            Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từng lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái, thủ đô của những giòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới.
            Nguyên Sa đem cái hồn phách của châu Âu tái sinh sau khi thế chiến thứ II chấm dứt về Sài Gòn và nhanh chóng chiếm trọn sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh. Ông đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang theo hơi hám của sông Seine của nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.
            Về tới Sài Gòn ông lại hỏi thăm Paris. “Paris có gì lạ không em?” Hỏi nhưng ông biết Paris vẫn thế, vẫn những quán café nho nhỏ xinh xinh trên đường phố Montmartre thuộc quận 18 của Paris. Vẫn giòng sông Seine cuốn hút gợi tình. Câu hỏi của Nguyên Sa về Paris đã làm thanh niên học sinh Sài Gòn thổn thức như chính họ đã từng ở Paris nay về lại quê hương mà lòng không tránh được nhớ nhung một thuở.
            Thanh niên Sài Gòn nhớ cái mà họ chưa từng trải nghiệm qua thơ Nguyên Sa. Bắt đầu từ đây ông bước vào lãnh thổ khép kín của nhiều người. Ông cùng với họ thở hơi thở thi ca bằng những ngôn từ mới, rất mới, cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn mới tinh. Paris có gì lạ không em?

                                    Paris có gì lạ không em?
                       “Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về em có còn ngoan
                        Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
                        Em có tìm anh trong cánh chim

                        Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về giữa bến sông Seine
                        Anh về giữa một giòng sông trắng
                        Là áo sương mù hay áo em?
                        . . . . . .
                        Anh sẽ chép thơ trên thời gian
                        Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
                        Vì em hay một vừng trăng sáng
                        Đã đắm trong lòng cặp mắt em?


Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ tại Pháp

            Paris không những là kinh đô của ánh sáng mà nó còn là thủ phủ của tình yêu. Có lẽ yếu tố tình yêu của Paris dính liền với lứa tuổi học trò Việt Nam thời đó. Thời của những trang lưu bút, những cánh hoa ép vào trong vở học, những hò hẹn ngây thơ và đầy tiếng ve, xác phượng là khoảng thời gian đẹp nhất trong một đời người. Trong lứa tuổi ấy tình yêu bắt đầu với những giai điệu mong manh và huyền ảo nhất.
            Nguyên Sa nói đó là sự cần thiết, là điều không thể thiếu của con người. Xác quyết ấy của Nguyên Sa nhanh chóng được giới trẻ gật đầu thừa nhận, và vì thế, thơ ông từ đó có mặt trong lưu bút, trong sân trường thời trẻ dại và ngay cả sau này khi họ đã thành gia thất.

                                    Cần thiết
                       “Không có anh lấy ai đưa em đi học về
                        Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
                        Ai lau mắt cho em ngồi khóc
                        Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
                        Những lúc em cười trong đêm khuya
                        Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
                        Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
                        Lúc sương mờ ai thở để sương tan
                        Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
                        Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…


            Thơ Nguyên Sa không những trau chuốt về ngôn ngữ nó còn lấn sâu tới một vùng khác đầy hấp dẫn nhưng cũng rất nguy hiểm đối với thể loại văn học dễ làm nhưng khó hay và nhất là khó nổi tiếng: thơ tự do.
            Trước đây hơn nửa thế kỷ, một câu thơ đẹp sẽ bị quay lưng khi nó thể hiện hình ảnh, ý tưởng có vẻ “nhạy cảm” đối với người yêu thơ. Trong mỗi cá nhân có thể không giống nhau cách chia sẻ một bài thơ hay nhưng rất giống nhau khi nhìn thấy một câu thơ kỳ khôi, vượt lên trên cảm nhận bình thường của thi ca.
            Cảm giác đó vẫn còn đầy đối với người đọc thơ đương đại vậy mà Nguyên Sa làm cho người đọc thơ ông cách đây hơn nửa thế kỷ phải mỉm cười, dù cách so sánh của ông lập dị đến nỗi không ai có thể nghĩ tới. Trong một bài thơ có tên người yêu và cũng là vợ ông sau này, ông viết:

                                    Nga
                       “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
                        Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
                        Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
                        Ðể anh giận sao chả là nước biển!…


            Hình ảnh đôi mắt cá ươn thật sự gây thích thú cho sinh viên học sinh Việt Nam ngay cả cái mùi không dễ chịu của nó cũng làm họ ngây ngất. Ẩn dụ của Nguyên Sa làm học trò tròn mắt và người lớn mỉm cười. Từ đôi mắt cá ươn, đỏ lên sự nhớ nhung, cho tới cách mà hai con chó ốm quấn quýt nhau đã nâng Nguyên Sa lên bệ của thần tượng trong lòng họ:

                       “Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
                        Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
                        Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
                        Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
                        Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!…
                        . . . . . .
                        Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc
                        Bước chân lê trên những hè phố không quen
                        Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim
                        Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới, lễ xin
                        Và em nhớ không, chúng mình đã hỏi nhau:
                        Tại sao phải làm lễ tơ hồng
                        Tại sao phải nhờ người ta buộc chỉ vào chân
                        Khi tay em đã vòng ra đằng sau lưng anh
                        Khi tay anh đã vòng ra đằng sau lưng em
                        Người ta làm thế nào cắt được
                        Bốn bàn tay chim khuyên!…


             “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” Có lẽ là hai câu thơ làm thành tên tuổi Nguyên Sa. Cảm xúc ngây ngô của chàng thanh niên trong lứa tuổi 16 nói với em, một cô học trò 13 tuổi. Những lời lẽ nếu xuất hiện hôm nay có lẽ cuộc đời sẽ giảm bớt biết bao nhiêu bụi bặm của thời đại.
            Em Mười ba tuổi của thời Nguyên Sa rất nguyên sơ và thánh thiện. Chàng thư sinh Nguyên Sa không hề dám tơ tưởng vóc hình em mà chỉ dám chạm đến nhè nhẹ một màu áo, một sân cỏ nơi em bước qua. Đẹp và lãng mạn đến thế là cùng.

                                    Tuổi 13
                       “Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
                        Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
                        Tôi phải van lơn ngoan nhé, đừng ngờ…
                        Tôi phải dỗ như là… tôi đã nhớn
                        . . . . . .
                        Và đôi mắt nhìn tôi ngập ngừng chim sẻ
                        Đôi mắt nhìn trời nhè nhẹ mây nghiêng
                        Tôi biết nói gì? Cả trăm phút đều thiêng
                        Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng
                        Chân díu bước và mắt nhìn vương vướng
                        Nàng đến gần tôi chỉ dám… quay đi
                        Cả những giờ bên lớp học, trường thi
                        Tà áo khuất thì thầm: “chưa phải lúc…”

                        Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
                        Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
                        Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
                        Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…


            Trở về Việt Nam trong hoàn cảnh miền Nam đang hít thở bầu không khí chính trị mới, Nguyên Sa đóng góp vào nền văn học Việt Nam trên nhiều lãnh vực. Ngoài thơ, ông còn là một nhà báo, một cây viết phê bình văn học, một nhà lý luận và còn là một nhà giáo dục.
            Là Hiệu trưởng trường Văn Học, dạy môn Triết tại trường Chu Văn An cũng như đại học Văn Khoa và nhiều trường trung học nổi tiếng khác tại Sài Gòn như Văn Lang, Hưng Đạo, Thủ Khoa, Thượng Hiền, Nguyễn Bá Tòng… ông có cơ hội tiếp cận với học sinh, sinh viên và để lại trong lòng nhiều lớp người ký ức đẹp đẽ khi theo học thầy Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.
            Nguyên Sa, Hạt cát nguyên sơ ấy đã theo chân học trò và người yêu thơ ông góp vào hành trang của họ những luận lý Tây phương cũng như cảm nhận cái đẹp với ý thức hoàn toàn vượt ra khỏi sự cũ kỹ nhàm chán của một nền Hán học vẫn đậm đặc trong xã hội. Thầy Trần Bích Lan không giảng bài mà ông thầm thì với học trò của ông những vần thơ tuyệt đẹp để từ đó nhiều người nhận ra rằng thơ có khả năng mở sáng trí tuệ chứ không chỉ là giai điệu hay những nỗi buồn, niềm vui bình thường của con người.
            Giống như hầu hết văn thi sĩ miền Nam, thơ Nguyên Sa trong những năm chiến tranh có thay đổi tuy không lớn và máu lửa như nhiều nhà thơ khác. Trong những bài thơ mang tính thời cuộc ấy vẫn thoang thoảng cá tính Nguyên Sa, một thiên sứ tình yêu, một cung bậc mới trong cảm nhận văn học.
            Nguyên Sa đốt lên ngọn lửa trong “Bài hát Cửu Long” nhưng không phải là lửa chống quân thù mà là lửa soi đường cho thanh niên, lửa tin yêu của những chàng trai cô gái hội tụ bên nhau trước vận mệnh mới của dân tộc.

                                    Bài hát Cửu Long
                       “Có gì đâu em: có một đoàn người
                        Có một đoàn người góp sức góp vai
                        Cùng rủ nhau về góp một thành hai
                        Những bước chân góp đi làm đến!
                        Họ không dại khờ: góp trăng làm nến!
                        Chỉ những miệng cười góp lạ thành quen
                        Góp những giọng hò làm trống ngũ liên
                        Góp những bàn tay dựng thành đại hội
                        Cánh tay chắp cánh tay cho dài thêm nửa với
                        Gạo quanh nồi góp lại bữa cơm chung
                        Họ cùng đi cùng góp tháng, góp năm…
                        Để sáng ngày mai làm sông làm biển
                        Có gì đâu, có một đoàn người
                        Bên bờ Cửu Long gõ nhịp
                        Cả giòng sông gõ nhịp vịn bờ sông
                        Họ rủ nhau về sương gió vui chung
                        Dù có phút nước mắt chạy quanh
                        Hay miệng cười hớn hở
                        Vẫn bát gạo Hậu Giang, vẫn nụ cười huynh đệ
                        Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam
                        Màu nắng vàng không màu nhiệm hào quang
                        Nhưng dù má bừng lửa cháy
                        Trán đổ mồ hôi
                        Họ cùng không đóng cửa mừng vui
                        Những bàn tay ngượng ngập díu môi cười
                        Không phải khóc
                        Một đời người tầm gửi


            Thủy chung Nguyên Sa vẫn yêu tận tình con người, yêu như trai gái yêu nhau, như những cặp tình nhân bất tử. Có lần ông giật mình khi nhìn lại chung quanh và chính bản thân để rồi thở dài cho đời người sao quá nhiều cay đắng, đặc biệt những con người trong thế hệ bị bộ máy chiến tranh bào mòn, nghiến nát:

                                    Bây giờ
                       “Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
                        Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
                        Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát
                        Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa

                        Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
                        Phải vác theo trăm tuổi đường dài
                        Nên có gửi cho ai vài giọng nói
                        Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

                        Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
                        Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
                        Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
                        Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào


            Nhà thơ của chúng ta cuối cùng rồi cũng không ra khỏi chiếc vòng tròn tự vấn. Trong bài thơ Sám hối, cái tựa trước tiên gây cảm giác tê tái và lạnh căm, nhưng qua bài thơ này Nguyên Sa phủ trùm lên nó thứ ánh sáng tái sinh của sự tận hiến. Chàng trai xưng tội với một người đàn bà, biểu tượng lòng thành mà một đời chàng trân trọng.
            Chàng không sám hối điều chàng đã làm cho nàng. Những điều mà chàng thốt ra thật khó hình dung, diễn đạt lại vì thế cái cảm giác ăn năn, tự trách vẫn bồng bềnh trong bài thơ khiến chúng ta không thể hiểu tại sao.
            Bài thơ này có lẽ mang tính triết học đậm đặc nhất trong toàn bộ cuộc đời làm thơ của ông. Sám hối, trở về với nguyên ủy sự sống. Vòng quay bất tận của tái sinh hay sự trở về gục đầu vào lòng người nữ vẫn luôn là đớn đau bất tận của nhân loại.

                                    Sám hối
                       “Khi nắng mở cửa một bầu trời nạm bạc,
                        anh sẽ trở về trên con đường không có mùi cỏ ải
                        mà chỉ có nắng vàng hanh.

                        Anh sẽ trở lại bên em – mà cúi đầu – mà quỳ gối –
                        mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh.

                        Anh sẽ quỳ gối bên em nhưng không dám nói chuyện trần gian.

                        Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ
                        nói với người giang hồ về những chuyện quê hương.

                        Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối.

                        Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.
                        . . . . . .
                        Anh không dám nhắc đến cuộc đời xa cũ.
                        E sợ rằng lời lẽ chua cay sẽ biến thành bốn con ngựa già
                        kéo linh hồn anh chạy về bốn phía chân trời
                        trong những ngày giá lạnh.

                        Anh cũng không dám khóc. Nước mắt em ơi, đã đóng đinh
                        vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu…

                        Anh chỉ ngồi nhìn sao khuya rung động.
                        Nghe bờ môi tát cạn nhưng hơi thở yếu dần.


            Nhắc đến Nguyên Sa người yêu thơ ông vẫn tưởng nhà thơ đang rong chơi đâu đó vì ngôn ngữ vẫn sát với khung cảnh thường nhật hôm nay. Mặc dù nhà thơ đã từ trần vào ngày 8 tháng Tư năm 1998, cách đây đã mười sáu năm, nhưng thơ ông vẫn được nhiều người nhắc tới như xưa, đặc biệt trong hoàn cảnh tình yêu tuổi học trò ngày một biến mất để thay vào đó là những trò chơi tình cảm nhục dục của thanh niên trong thời đại mới.
            Mỗi tiếng thở dài tiếc nuối quá khứ là một câu thơ của Nguyên Sa. Mỗi câu thơ của ông có khả năng làm mới tâm hồn để biết rằng trong bất cứ thời đại nào nhịp đập tình yêu vẫn là suối nguồn sự sống.


MẶC LÂM
Tháng 8/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/nguyen-sa-a-legendary-poet-ml-08012014145524.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #184 vào: 11/04/2019, 21:43:26 »
Tản mạn về chữ nghĩa

Còn nhớ thời 20 năm ở miền Nam Việt Nam, năm nào cũng cứ đến khoảng cuối năm là trong quán xá văn nghệ người ta gặp nhau, đề tài được bàn tán là các giải thưởng văn nghệ. Như các câu hỏi năm nay ai sẽ được giải Thanh Tâm? Ai có hy vọng lãnh 400 ngàn giải Văn Chương Toàn Quốc?…

Văn Miếu ở Hà Nội, nơi có cả ngàn tấm bia tiến sĩ nước Nam

1.– Ðã lâu lắm không nghe thấy hay không trông thấy một tác phẩm thơ văn nào gây sôi nổi trong dư luận, không hiểu vì sao? Chỉ biết trước hết là không nghe không thấy.
            Tại vì các tác giả (nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo…) không một ai còn in sách nữa? Hay họ vẫn viết mà không in thành sách, không in ra giấy, mà viết rồi đem lên trời? Lên mạng lưới không gian?
            Trong cuộc sống ở đâu người viết bài này không biết, song ở nơi đây, ở Little Saigon “thủ đô văn nghệ” như khoảng mươi mười năm, hay hai ba mươi năm trước báo chí nói đến, không hề thấy một sinh hoạt văn chương tập thể nào tạo được một tiếng vang.
            Nhưng có phải lỗi ở các nhà văn nhà thơ, các tác giả, hay nguyên do là ở những chỗ khác? Ở các ông chủ bút, không có một ông chủ bút lớn nào làm chủ được ngọn bút của mình, biết nghề của mình, và do đó, không có một tờ báo nào làm được cái vai trò ta thường nghe nói: “hướng dẫn dư luận?” Hay lỗi ở các tờ báo, nơi phản ảnh dư luận: không có cơ quan ngôn luận nào gây được một dư luận trong sinh hoạt văn hóa? (Xin miễn nói đến sinh hoạt của các ngành khác.)
            Từ lâu lắm người viết bài này từng biết chỉ khi nào có một giải thưởng văn chương, hay một đối tác xứng đáng (như từ đối tượng hay môi trường), thì mới có thi đua, xúc động, sáng tác. Mà cả chục năm nay không có một giải văn chương nào!
            Còn nhớ thời 20 năm ở miền Nam Việt Nam, năm nào cũng cứ đến khoảng cuối năm là trong quán xá văn nghệ người ta gặp nhau, đề tài được bàn tán là các giải thưởng văn nghệ. Như các câu hỏi năm nay ai sẽ được giải Thanh Tâm? Ai có hy vọng lãnh 400 ngàn giải Văn Chương Toàn Quốc?…
            Nhưng trước hết, sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại còn không, hay đã chết rồi? Ở hải ngoại bây giờ còn các độc giả Việt Ngữ không? Hay các độc giả Việt Ngữ đã lãng đãng cả rồi? Câu hỏi liên hệ là còn tờ báo Việt Ngữ nào hướng dẫn được dư luận không, hay làm gì còn dư luận nữa mà hướng dẫn?
            Liên hệ hồi xưa giữa người viết-người đọc gắn bó là thế, báo nào cũng có “hộp thư tòa soạn”, nay đọc báo không hề thấy hộp thư tòa soạn đâu, thế là vì sao, tại sao? (Câu hỏi có nghĩa là độc giả không phản ứng trước tác phẩm hay độc giả có phản ứng mà báo chí không tường thuật, hay không biết đến…)
            Ðoạn trên nói đến các nhà văn, các chủ bút, là con người, song nếu lỗi không ở con người, thì vì sao có sự trầm đọng ấy? Vì độc giả, độc giả cũng là con người, vậy con người độc giả vẫn còn, nhưng họ không đọc báo giấy nữa, mà đọc báo không gian.
            Ðó có phải là nguyên do khiến cho sinh hoạt người viết-người đọc không còn nữa, vì người đọc báo mạng và người viết báo mạng không có cái gắn bó đầm ấm như thuở xa xưa nữa? Ðiều này hình như có thể là một trong những nguyên do: sự tha hóa bao la và mênh mông, không còn gắn bó gì nữa.
            Và trước hết: quên chữ tị nạn đi. Bốn mươi năm rồi sau 30 Tháng Tư, 1975, tị nạn không còn ý nghĩa gì nữa. Người đọc, người viết bây giờ nếu còn một liên hệ nào, thì đó là ở nội dung nội tại của các bài viết và ngoại cảnh của cộng đồng của người đọc: Người viết bây giờ và người đọc bây giờ ở những chân trời xa lạ cách biệt. Một thời kỳ đã qua. Nhiều giai đoạn đã chấm dứt.
             “Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?” (thơ Thế Lữ). Vậy vấn đề đặt ra là phải tìm câu trả lời để tìm lối giải quyết. Ai tìm?
            – Chính các tác giả phải tìm câu trả lời? Tại tác phẩm của mình? Tại độc giả không có?
            – Các nhà xuất bản phải tìm câu trả lời? Trước hết, nhà xuất bản là những ông bà nào, nghề xuất bản có thích hợp tương xứng không? Người in sách có nhằm đúng đối tượng độc giả là người đọc không?
            – Vấn đề sản xuất và vấn đề phát hành. Ai sản xuất? Ai phát hành?

2.– Tần Thủy Hoàng đã có lý khi nghe theo ý kiến của thừa tướng Lý Tư ra lệnh nổi lửa đốt sách.
             Tần Thủy Hoàng là con của Trang Tương Vương nước Tần. Trang Tương Vương làm con tin của Tần ở nước Triệu, lấy người thiếp của Lã Bất Vi (lúc bấy giờ đã mang thai). Sau người thiếp này sinh ra Thủy Hoàng ở Hàm Ðan, đặt tên là Chính họ Triệu. Vậy thật ra Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi. Trang Tương Vương mất, ông được lập làm Tần Vương, lúc đó mới 13 tuổi (247 Trước Công Nguyên). Lã Bất Vi được làm thừa tướng.
            Thủy Hoàng là người có hùng tài, thôn tính sáu nước, thống nhất thiên hạ, phía Bắc đuổi Hung Nô ra khỏi nước, phía Nam thâu Mân, Việt, tứ phương quy phục, cương thổ mở rộng. Phế bỏ chế độ phong kiến, lập ra quận huyện, xây trường thành, thống nhất đo lường, pháp luật, chữ viết, các trục xe đều dài bằng nhau (trước kia xe trận trục dài ngắn khác nhau, và mỗi nước làm đường vừa đủ cho xe của mình chạy, xe nước khác trục dài hơn, không dùng được).
            Theo đề nghị của Lý Tư cho đốt tất cả sách sử, trừ sách sử của nhà Tần. Ai cất giấu “Kinh Thư, Kinh Thi” hoặc sách của Bách-Giả chư tử thì phải đem nộp cho các quan địa phương để được đốt đi (phần thư). Ai trái lệnh, hoặc dám bàn với nhau về “Kinh Thư, Kinh Thi” hoặc các sách đạo Nho, thì bị đem ra chém giữa chợ.
            Lệnh ban ra, trong 30 ngày mà chưa thi hành, thì viên quan chịu trách nhiệm bị khắc vào mặt, cho đi xây cất Trường Thành. Riêng các sách thuốc, bói, trồng cây thì được giữ lại. Tự cho mình có công bao trùm cả Tam Hoàng, đức thì vượt cả Ngũ Ðế, vì vậy tự xưng là Hoàng Ðế. Bỏ thụy danh, cho mình là Thủy Hoàng Ðế, các đời sau cứ theo số mà tính: Nhị Thế, Tam Thế…
            Không những đốt sách Nho, ông còn cho lệnh chôn sống các nho sĩ nào tỏ ý chống đối. Sợ thiên hạ làm phản, ông ra lệnh cho các nước phải nộp binh khí tại Hàm Dương rồi đúc thành chuông. Phái bọn Từ Phúc đi tìm thuốc trường sinh, tốn công quỹ rất nhiều mà chẳng được kết quả gì là lẽ dĩ nhiên. Trong một cuộc tuần tra, ông mắc bệnh và tạ thế ở Sa Khâu, ở ngôi vị được 37 năm.

                        Thai nghén trong khi ở nước người
                        Nhờ tay họ Lã khéo tìm moi.
                        Ðem vàng muôn lạng buôn vua chúa
                        Vận óc đa mưu chuyển thế thời
                        Sáu nước gồm thâu chung một mối
                        Ngôi vua chiếm đoạt, chép muôn đời
                        Ngăn hổ, chôn sĩ lưu truyền mãi
                        Nhưng diệt Tần xong, ai đoạt ngôi?

                        Thái Cuồng (Từ điển BS. Hoàng Xuân Chỉnh)

3.– Trên đây là hai đoạn ghi chép nhằm bày tỏ cùng bạn đọc về một thời khắc bất định trước trang giấy trắng. Không phải lúc nào ngồi trước bàn viết người ta cũng viết ra được những điều ưng ý. Mà cho dù văn hay chữ tốt đến đâu, chữ nghĩa cũng có định mệnh của nó, nhất là trong một cuộc hỏa thiêu từ một tâm trí cực đoan, hay dẫu từ một ngọn lửa vô tình.


VIÊN LINH
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vhnt-tan-man-ve-chu-nghia/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #185 vào: 16/04/2019, 20:28:03 »
Tháp Eiffel – “bà đầm sắt” 130 tuổi và những điều ít được nói tới

“Bà Đầm Sắt” năm nay tròn 130 tuổi, nhưng không hề có một nếp nhăn nào. Người Pháp hài nước nói với nhau như vậy. Nhưng “Bà Đầm Sắt”là ai? Đó chính là tháp Eiffel, khánh thành vào năm 1889, nhân Triển Lãm Hoàn Cầu lần thứ 10 được tổ chức tại kinh đô Paris. “Bà Đầm Sắt” Eiffel, một thời là công trình cao nhất thế giới, được tôn vinh thành biểu tượng không chỉ của Paris phồn hoa đô hội mà còn là biểu tượng của cả nước Pháp, với những con số ấn tượng, những hình ảnh đẹp lung linh trên các tấm bưu thiếp, những bức hình được chia sẻ nhiều vô kể trên các mạng xã hội.

Tháp Eiffel khi hoàng hôn buông xuống

Khởi đầu với những lời miệt thị
            Cũng như nhiều công trình nổi tiếng sau này tại Paris, vào buổi ban đầu, cách nay 130 năm, ngay từ khi còn nằm trên bản vẽ, tháp Eiffel đã vấp phải thái độ phản đối kịch liệt, những lời chỉ trích nặng nề từ công chúng, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, từ các họa sĩ, thi sĩ, cho tới nhà văn, nhà thơ, kiến trúc sư nổi tiếng nhất như Guy de Maupassant, Charles Garnier, Emile Zola, Alexandre Dumas con, Paul Verlaine…, vốn si mê nét yêu kiều, cổ kính và vẻ đẹp văn hóa lịch sử của kinh thành Paris.
            Nếu như sau này Trung tâm văn hóa Pompidou bị gọi là “cái mụn cóc xấu xí”, “con quái vật gớm ghiếc”, “một sai lầm thế kỷ”; Kim tự tháp kính bảo tàng Louvre bị chế giễu là “nhà xác”, “hầm mộ”, thì tháp Eiffel lại bị miệt thị là “giấc mộng kinh hoàng”, “cột đèn đường dị dạng”, “ống khói nhà máy khổng lồ đen sì”, “bộ xương gớm ghiếc”, là điều sỉ nhục đối với các công trình và kiến trúc của Paris.
            Ông Savin Yeatman-Eiffel, cháu ba đời của Gustave Eiffel giải thích: “Đó gần như là một cú sốc về văn hóa và thị giác. Gustave Eiffel không phải là kiến trúc sư mà là kỹ sư. Vì thế, tòa tháp không được thiết kế theo phong cách gothic hiện đại. Hình dáng của tháp phải tuân theo các quy tắc toán học. Và người ta cho rằng là ống khói nhà máy khổng lồ đen sì sẽ phá hủy các di sản văn hóa ngàn năm tuổi của Paris”.
            Không những vậy, người ta còn lo sợ là tòa tháp sẽ không chống chịu được sức gió. Nhưng vốn là một kỹ sư tài ba, Eiffel tự tin là các đường cong của bộ khung được thiết kế theo các phép toán sẽ tạo ấn tượng về độ chắc chắn và vẻ đẹp cho công trình.

Ban đầu, tháp Eiffel được sơn màu đỏ.
Rồi sau này chuyển sang màu nâu đỏ và bây giờ tháp có màu đồng

Công trường thế kỷ
            Bất chấp sự phản đối ồ ạt của giới văn nghệ sĩ, tòa tháp cao 312m bằng sắt nguyên chất được xây dựng với tốc độ nhanh kỷ lục – 2 năm, 2 tháng và 5 ngày – và được khánh thành vào ngày 31/03/1889. Thành tựu này có được còn nhờ quyết tâm sắt đá của Eiffel. Ông đã đặt cược tài sản cá nhân của mình vào công trình. Ba tháng trước ngày khai trương Triển Lãm Hoàn Cầu, phong trào đình công của công nhân trên công trường nổ ra. Ông chủ Gustave Eiffel gây áp lực cho công nhân bằng câu nói: “Những ai không muốn làm việc vào ngày mai sẽ không bao giờ được phép đặt chân trở lại tháp Eiffel, còn những ai quay lại làm việc vào ngày mai sẽ có thưởng”. Bị đánh vào lòng kiêu hãnh, 99% công nhân quay trở làm việc trên “công trường thế kỷ”.
            Nhiều chuyên gia đánh giá ngay cả vào thời buổi bây giờ, với công nghệ hiện đại, chưa chắc một công trình đồ sộ như tháp Eiffel có thể được hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn đến như vậy. Một điều đáng nể khác là thời đó các điều kiện đảm bảo an toàn cho người lao động không hề có, nhưng không có một tai nạn lao động nào xảy ra trên công trường.
            Hôm khánh thành tháp, đích thân Gustave Eiffel, ông chủ công ty xây dựng Eiffel trèo bộ 1.789 bậc thang lên cắm quốc kỳ Pháp trên đỉnh công trình cao nhất thế giới thời đó. Con số bậc thang bộ đó tượng trưng cho năm ra đời nền Cộng Hòa Pháp 1789. Cũng chính trên đỉnh tháp, Eiffel được trao Bắc Đẩu Bội Tinh, huân chương danh giá nhất nước Pháp.
            Cũng cần nói thêm là tòa tháp mang tên Eiffel nhưng thực ra Gustave Eiffel không phải công trình do chính ông người trực tiếp thiết kế mà là thành quả của hai kỹ sư Emile Nouguier và Maurice Koechlin làm việc cho công ty của ông và kiến trúc sư Stephen Sauvestre. Nhà sử học Pascal Vareijka, chuyên gia về lịch sử Paris giải thích trên đài France 24 ngày 01/04/2019: “Đây là dự án của ba người và Eiffel đã mua thiết kế của họ. Chính vì thế mà công trình được gọi là tháp Eiffel. Ông ấy đã mua thiết kế và nó là của ông ấy. Theo các điều khoản hợp đồng, ông ấy có quyền khai thác tháp Eiffel”.

Tháp Eiffel là công trình thu hút du khách toàn thế giới đến Paris

Thành công ngoài sức tưởng tượng
            Gustave Eiffel từng quả quyết rằng tháp sẽ có một nét đẹp quyến rũ riêng mà các thuyết về nghệ thuật thông thường không thể áp dụng để đo lường. Quả đúng như vậy, ngay ngày đầu mở cửa đón khách ngày 15/05/1889, nhân khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu, tháp Eiffel đã thu hút rất đông du khách đổ về từ khắp nơi trên thế giới, trở thành tâm điểm trong suốt sáu tháng triển lãm. Mỗi ngày có gần 12.000 người trèo lên tháp. Ngay trong tuần đầu tiên, dù thang máy chưa hoạt động, đã có tới gần 300.000 người trèo bộ hơn 1.700 bậc thang lên đỉnh kiệt tác kiến trúc. Từ đỉnh tháp, du khách có thể ngắm không chỉ toàn cảnh Paris mà tầm nhìn có thể xa tới 60km.
            Một trong những yếu tố đưa tháp Eiffel thành niềm tự hào của ngành công nghiệp, kiến trúc và vật liệu cuối thế kỷ XIX là độ chính xác tính đến 1/10mm của hơn 18.000 tấm sắt có độ dài trung bình 5m/tấm và 2,5 triệu chiếc đinh tán. Tổng cộng 7.300 tấn sắt nguyên chất đã được sử dụng để chế tạo tháp.
            Một điều lạ là tháp Eiffel biết “cử động” theo thời tiết. Ông Eric, thợ máy phụ trách thang máy trên tháp, giải thích trên đài France 3 ngày 29/03/2019: “Tất cả các thiết bị được gắn vào cấu trúc của tháp Eiffel đều chịu sự thay đổi, độ giãn nở của sắt và chúng tôi phải lựa để thích nghi với hiện tượng này. Gustave Eiffel đã lựa chọn vật liệu sắt chứ không phải thép. Sắt có độ mềm dẻo hơn thép, nhưng hệ số giãn nở nhiệt của sắt lại khá cao. Vì thế, khi nhiệt độ thay đổi nhiều, tháp lại “nhúc nhích”. (…) Trên đỉnh tháp, chóp tháp “chạy trốn” ánh mặt trời. Có nghĩa là độ giãn nở nhiệt của sắt khiến tháp nở ra và tháp ngả về phía ngược hướng mặt trời. Khi mặt trời chuyển hướng theo thời gian trong ngày, thì hướng ngả của tháp cũng thay đổi. Như vậy, tháp ngả trong ngày theo đường tròn có đường kính 18cm. Và chúng ta không thể cảm nhận được điều đó khi đứng trên tháp”.
            Ban đầu, tháp Eiffel được sơn màu đỏ. Rồi sau này chuyển sang màu nâu đỏ và bây giờ tháp có màu đồng. Mỗi lần sơn cần tới 60 tấn sơn. Cứ bảy năm một lần, các thợ sơn mất một năm rưỡi để sơn lại 250.000m2 bề mặt tháp.

Tháp Eiffel – Paris trong tuyết trắng, ảnh chụp ngày 07/02/2018

Eiffel “dấn thân” phục vụ khoa học và quân đội
            Bà Đầm Sắt là thành quả nổi bật nhất giúp Gustave Eiffel được “lưu danh sử sách”, nhưng đây cũng là công trình cuối cùng trong sự nghiệp chủ doanh nghiệp của ông. Chính trong năm 1889, Gustave Eiffel dính vào một vụ bê bối liên quan đến dự án kênh đào Panama, khiến ông mất một phần tài sản. Cho dù đã được tuyên vô tội, nhưng Eiffel cảm thấy cả uy tín và nhân phẩm đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nên ông quyết định rút lui khỏi giới làm ăn và dành 30 năm cuối đời cho sự nghiệp khoa học, đặc biệt là các thử nghiệm về khả năng chống đỡ của các công trình xây dựng trước sức gió.
            Phòng thí nghiệm của Gustave Eiffel nằm trên tầng 3 của tòa tháp mang tên ông và cho đến nay vẫn còn hoạt động. Eiffel cũng cho lắp đặt dưới chân tháp một máy tạo gió lớn nhất thế giới để thử nghiệm về lực cản của gió, phục vụ nghiên cứu về khí động học. Còn trên đỉnh tháp, Eiffel cho đặt một đài quan sát khí tượng và một dàn ăng ten làm trạm thu phát điện tín không dây phục vụ quân đội. Và như vậy, thay vì chỉ để tháp Eiffel tồn tại 20 năm rồi tháo dỡ như kế hoạch ban đầu, kỹ sư Gustave Eiffel đã khiến tòa tháp trở nên có ý nghĩa khoa học và có lý do để tồn tại lâu dài.
            Ông Bertrand Lemoine, kiến trúc sư, kỹ sư và cũng là nhà văn, sử gia, giám đốc nghiên cứu Viện Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp CNRS, tác giả nhiều cuốn sách về tháp Eiffel và kỹ sư Gustave Eiffel, giải thích cụ thể trên đài France 24: “Đó là một công trình được xây dựng phục vụ Triển lãm Hoàn Cầu 1889, sự kiện đánh dấu 100 năm Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, vì thế mà người ta muốn có một công trình đồ sộ, một tòa tháp cao nhất thế giới, đơn giản là với 300m chiều cao. Eiffel là một tòa tháp được dựng tạm thời và dự kiến chỉ tồn tại 20 năm. Sau 20 năm đó, người ta không biết số phận ngọn tháp sẽ ra sao, nếu Eiffel không muốn tòa tháp tiếp tục sống mãi.
            Ông ấy đã tiến hành nhiều thí nghiệm khoa học, các phép đo lường, nhất là về lực cản của không khí, thông qua việc cho các vật thể rơi dọc theo những sợi dây cáp ở trên tháp. Gustave Eiffel cũng thiết kế một máy tạo gió ở chân tháp, và đặc biệt là các thử nghiệm về phát thanh. Tòa tháp được dùng làm trụ đỡ cột ăng ten đài radio. Độ cao 300m cho phép thu phát tín hiệu từ khoảng cách rất xa, nhất là cho quân đội Pháp. Nhờ thế, tháp có giá trị chiến lược quân sự. Điều đó cho phép tháp Eiffel được bảo tồn”.

            Là nơi đặt trạm thu phát điện tín không dây cho quân đội Pháp, tháp Eiffel có công lớn với nước Pháp trong Đệ Nhất Thế Chiến. Ông Savin Yeatman-Eiffel, cháu đời thứ ba của kỹ sư Gustave Eiffel tự hào giải thích: “Nhờ có ăng ten khổng lồ tỏa từ đỉnh tháp tới tận Champs de Mars, tướng Ferrié bắt được tín hiệu của quân Đức theo đó binh lính Đức sẽ tạm dừng chân nghỉ ở Champs de Mars. Nhờ thế, tướng Ferrié đã điều quân đến bao vây mặt trận Champs de Mars. Không có tháp Eiffel, quân Đức đã tiến vào Paris trong những năm 1914-1918”.
            130 năm sau khi ra đời, dù không còn là công trình cao nhất thế giới, thậm chí cũng phải nhường danh hiệu công trình cao nhất của nước Pháp cho cây cầu Millau, nhưng tháp Eiffel vẫn có sức hút mãnh liệt. Người dân khắp nơi trên thế giới vẫn không ngớt đổ về Paris chiêm ngưỡng kiệt tác kiến trúc có từ cuối thế kỷ XIX. Tháp Eiffel là công trình tham quan phải trả tiền được du khách tới thăm nhiều nhất trên Trái đất. Trung bình, mỗi ngày có 25.000 khách, mỗi năm có 7 triệu người có may mắn được lên thăm tòa tháp, trong đó 80% là người nước ngoài. Năm 2017, trên trang mạng Instagram, Bà Đầm Sắt là một trong những “siêu sao” được yêu thích nhất.


THÙY DƯƠNG
Tháng 4/2019


http://vi.rfi.fr/phap/20190412-thap-eiffel-130-nam-va-nhung-dieu-it-duoc-noi-toi