Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 1611 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Tảnmạn... Vănnghệ...
« vào: 08/03/2017, 08:17:29 »
tảnmạn... vănnghệ...
______ ______  ______ ______

Hình bìa cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, với hình ảnh các nghệ sĩ lừng danh:
Nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há – Ðệ nhứt danh ca Út Trà Ôn – Vương Hậu cải lương Thanh Nga
.
(Hình: Sưu tập của Ngành Mai)

□□□  ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ 1916 □ 2016 ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□ ₪₪₪ □□□

ĐỂ CHỨNG MINH cải lương luôn gắn liền với nền văn hóa của dân tộc Việt, Giáo Sư Trần Văn Chi cho biết, cải lương mang tính đặc thù của Việt Nam, hay nói khác đi, đó là một nghệ thuật của bản địa, và vì có tính bản địa, cho nên nó chuyên chở sự gần gũi, cái vui, cái buồn được phát nguồn từ Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà ngày xưa còn gọi là đất Đàng Trong.
             Lúc bấy giờ, cư dân miền Bắc, có một số bỏ quê hương ra đi, thì họ mang theo tâm trạng của những người xa xứ. Khi vào miền Nam, cũng vì cưu mang những nỗi buồn xa xứ đó, họ thường hát hò những điệu hát của miền Bắc. Vì thế, từ lúc bấy giờ cho đến ngày nay, trong cải lương có ba làn điệu, gồm điệu Bắc, điệu Nam, và điệu nhạc lễ. Ba nền điệu này tạo ra những bài bản chánh của cải lương. Điệu Bắc thì rộn ràng, có tiếng trống và bộ gõ, còn nhạc lễ thì nghe có vẻ nghiêm túc hơn, nhưng khi vào trong Nam, thì nó mang thêm tính chất u hoài vì chuyên chở thêm nỗi buồn của những người xa xứ.
             Những người dân di cư vào Nam, phần nhiều là các dân từ Thanh-Nghệ tỉnh và ngũ Quảng, họ thấy miền Nam ruộng đồng bát ngát, và đi đến đâu cũng thấy chim cá đầy đàn, mà trong câu ca dao có nói, “Tới đây xứ sở lạ lùng/Con chim kêu cũng sợ, nghe cá vẫy vùng cũng lo.”
             Và cũng vì nỗi nhớ quê hương, nên họ đã làm ra những điệu hát hò, kết hợp với những điệu hò hát của miền Nam, qua hình ảnh của những cô gái chèo ghe thường hò những bài ca dao lục bát, tất cả những điệu hát hò ấy trở nên những bài ca cổ nhạc. Cho nên trong những làn điệu cổ nhạc Việt Nam thường mang những tâm trạng buồn, và mang tính bản địa để nói lên nỗi buồn của những người xa xứ.
             Soạn giả lão thành Yên Lang là người cha đẻ của rất nhiều tuồng cải lương có giá trị, và đã chiếm lĩnh sự ái mộ của hàng triệu con tim của khán giả trên rất nhiều sân khấu cải lương ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ông chia sẻ với mọi người về sự ràng buộc giữa soạn giả và các nghệ sĩ của sân khấu cải lương.
             Theo soạn giả, cải lương là một nghệ thuật tổng hợp, gồm kịch bản, đạo diễn, diễn viên, có âm thanh, có ánh sáng, có rạp hát, và âm nhạc, không chỉ có cổ nhạc mà còn có cả tân nhạc. Nếu tách rời một trong những yếu tố đó, thì cải lương không thể nào dựng thành một vở diễn được.
             “Kịch bản là tiền đề của sân khấu, diễn viên và yếu tố trọng tâm, do đó, sự ràng buộc giữa soạn giả và diễn viên và những bộ phận khác phải có, và bắt buộc phải có. Trong đó, quan trọng vô cùng là các nhạc sĩ cổ nhạc, vì nếu thiếu dàn cổ nhạc thì các diễn viên không biết làm sao phải ca hát được. Vì thế, thực hiện được một vở tuồng cải lương trên sân khấu hoàn chỉnh, thì phải tốn rất nhiều công phu để biên soạn và tập luyện,” soạn giả Yên Lang nói.



₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪

01.  Cuộc đời ngoại hạng của nghệ sĩ Phùng Há
02.  Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, giọng ca vang lộng sinh khí
03.  Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc
04.  Giỗ Tổ cải lương
05.  Tuổi thơ trôi dạt của Sầu nữ Út Bạch Lan
06.  Giọng ca vàng Hữu Phước theo lời kể của soạn giả Nguyễn Phương
07.  Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường
08.  Bích Thuận, nghệ sĩ tiền phong sân khấu cải lương
09.  Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam
10.  Thanh Tòng, người dày công Việt hóa cải lương hồ quảng
11.  Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga
12.  Giải Thanh Tâm năm thứ nhì 1959 bị xuống cấp
13.  Đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt
14.  Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”
               page 2
15.  Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng
16.  Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam
17.  Vài mẩu chuyện về nữ nghệ sĩ Thanh Nga
18.  Giải Thanh Tâm 1960
19.  Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn
20.  Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
21.  Nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và Giải Thanh Tâm 1961
22.  “Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương
23.  |  *
24.  Hát bội miền Nam và hát bội miền Trung
25.  Thầy tuồng bị xem là “tớ tuồng”
26.  Ông Bầu Xuân và đoàn Dạ Lý Hương
27.  “Nghiệp báo” của người sáng lập giải Thanh Tâm
28.  Ông Trần Tấn Quốc và trang kịch trường trên tờ báo Tiếng Dội
29.  Chuyện kép hát cải lương đóng vai nhà sư
               page 3
30.  Các “dượng đào” trong làng cải lương
31.  Giai thoại về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp
32.  Nội tình đoàn Thanh Minh Thanh Nga và chuyện Út Trà Ôn đi Tây
33.  Tiền đạo Nguyễn Văn Quận và chuyện xem một đêm hát cải lương
34.  Chuyện vui làng sân khấu: Tú Trinh và Huỳnh Thanh Trà
35.  Điều kỳ diệu của bài vọng cổ
36.  |  *
37.  Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương
38.  Nghệ sĩ Lệ Thủy: Thinh sắc lưỡng toàn
39.  Tấn Tài: Vị hoàng đế có giọng ca liêu trai
40.  Bài vọng cổ vua: Tình anh bán chiếu
41.  |  *
42.  Ngọc Giàu: Viên kỳ ngọc của làng sân khấu cải lương
43.  Hà Mỹ Xuân: Cải lương đã thấm vào huyết quản
44.  Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy”
               page 4
45.  Nghệ sĩ Diệu Hiền: Đệ nhất đào võ sân khấu cải lương
46.  Hà Mỹ Liên: Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ
47.  |  *
48.  Vọng Cổ Hài: Thiếu cả người viết lẫn người ca
49.  Diệp Lang: Bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên
50.  Kiên Giang: Lối viết cải lương mang đậm chất thơ
51.  Bạch Huệ: Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ
52.  Minh Cảnh, giọng ca “nhẹ như mây”
53.  Mỹ Châu: “Nữ hoàng” có chất giọng liêu trai
54.  Minh Vương: 50 năm trạng nguyên vọng cổ
...


TẠP CHÍ VĂN HÓA RFI

« Sửa lần cuối: 21/06/2017, 14:25:26 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #1 vào: 08/03/2017, 08:41:54 »
Cuộc đời ngoại hạng của nghệ sĩ Phùng Há

Nữ nghệ sĩ Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, huyện Châu Thành, Tỉnh Mỹ Tho, Việt Nam. Bà mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, tại nhà riêng xây trong khuôn viên chùa Nghệ sĩ Gò Vấp, Saigon, hưởng thọ 99 tuổi.

Nghệ sĩ Phùng Há, lúc 99 tuổi

SINH THỜI, bà kể, năm 12 tuổi, Phùng Há sống với bà ngoại mù và người mẹ thường đau yếu luôn nên Phùng Há phải đi mò lạch, kiếm cá, tép về làm cái ăn giúp mẹ. Một bà hàng xóm thương tình, dẫn Phùng Há đến làm công in gạch trong lò gạch của ông Bang Hoạch ở xóm cầu đúc lộ số 7, châu thành Mỹ Tho, tiền công in 100 viên gạch được ba xu. Phùng Há in gạch rất khổ nhọc mà chẳng được bao tiền, buồn nên vừa làm vừa hát nghêu ngao, không ngờ những người làm công gần đó nghe thích nên yêu cầu Phùng Há ca cho họ nghe, họ in gạch thế cho Phùng Há.
            Tiếng đồn cô xẩm lai trong lò gạch có giọng hát hay nên ông Hai Cu, bầu gánh hát tìm đến nghe. Ông bèn đề nghị với gia đình Phùng Há cho Phùng Há gia nhập gánh hát Tái Đồng Ban của ông. Ông cho mượn trước 50 đồng để lo thuốc thang cho bà ngoại và phát lương cho Phùng Há 8 cắc một suất diễn.
            Theo gánh hát, Phùng Há được ăn cơm hội, như vậy thì lương của Phùng Há nhiều gấp 10 lần khi đi in gạch. Về gánh Tái Đồng Ban, Phùng Há được nhạc sĩ kiêm soạn giả Tư Chơi dạy ca, nghệ sĩ Năm Châu và thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh dạy hát.
            Bà vào nghề hát từ năm 1924, lúc 13 tuổi, vai đầu tiên của bà hát trên sân khấu gánh hát Tái Đồng Ban là vai Giả Thị, tuồng Hoàng Phi Hổ Quy Châu của soạn giả Nguyễn Công Mạnh.
            Từ khi mới vào nghề hát năm 13 tuổi cho đến khi bà xa rời sân khấu vì tuổi già sức yếu, Phùng Há luôn luôn thủ diễn vai đào chánh các gánh hát Tái Đồng Ban, gánh hát Thầy Năm Tú, gánh hát Huỳnh Kỳ, Trần Đắc, Phụng Hảo, Tam Phụng, Con Tằm, đoàn Việt Kịch Năm Châu.
            Bà đã sáu lần lập gánh hát, một lần mang bảng hiệu gánh hát Huỳnh Kỳ và năm lần với bảng hiệu đoàn cải lương Phụng Hảo, bà vừa làm bầu gánh vừa là đào chánh. Bà đã có nhiều vai hát để đờì, như vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình, vai Manh Lệ Quân trong tuồng Mạnh Lệ Quân thoát hài, vai tướng An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận… và những vai tuồng xã hội trong các vở Tô Ánh Nguyệt, Đời Cô Lựu, Đêm Không Ngày, Sân Khấu Về Khuya, Vợ và Tình…
            Giới nghệ sĩ sân khấu cải lương và ký giả kịch trường đánh giá những vai hát để đời của nghệ sĩ Phùng Há có tính cách nghệ thuật hát kinh điển, từ một trăm năm qua chưa có nghệ sĩ nào hát những vai này hay hơn bà.
            Lúc làm bầu gánh hát Phụng Hảo, bà Phùng Há mời những nghệ sĩ bậc thầy người Trung Quốc, Hồng Kông sang Việt Nam, giảng dạy cho bà nghệ thuật hát, các đông tác vũ đạo theo đúng hí khúc Trung Quốc (múa khăn, sử dụng quạt của vai nam, vai nữ, cách thức dâng rượu, múa thương, múa kích, múa gươm của các nhân vật võ tướng, bộ quan văn, bộ võ tướng trong tuồng Tàu). Bà đã tiết chế bớt âm nhạc theo thể loại hí khúc Trung Quốc như loại bỏ các điệu đánh trống, mõ, đồng lố, chập chỏa minh họa theo từng động tác của diễn viên và giản lược động tác vũ đạo sân khấu để phù hợp với sân khấu cải lương Việt nam, đặt nền móng cho nghệ thuật hát cải lương tuồng dã sử, lịch sử Việt Nam trong các thập niên 1950, 1960.
            Nghệ sĩ Phùng Há sống gần 100 tuổi mà đã dành 86 năm của cuộc đời mình để góp phần xây dựng một nền nghệ thuật sân khấu độc đáo của dân tộc Việt Nam. Bà đã đào tạo hàng trăm nghệ sĩ cải lương tài danh trong ba thế hệ nghệ sĩ, đào tạo trực tiếp trên sân khấu khi tập tuồng, đào tạo tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, thời Việt Nam Cộng Hòa khi bà là giảng viên kịch nghệ.


Kim Cúc, Năm Châu và Phùng Há

            Bà cũng là giảng viên trường Nghệ Thuật Sân Khấu, trường đào tạo nghệ sĩ sân khấu của nhà hát Trần Hữu Trang sau năm 1975. Học trò của bà thành danh có các nghệ sĩ Thanh Nga, Thành Được, Thanh Thanh Hoa, Nam Hùng, Tô Kim Hồng, Thanh Thanh Tâm, Đỗ Quyên, Thanh Nguyệt, Quốc Nhĩ, Tú Trinh, Hoàng Trinh, Thúy Uyễn, Tuyết Sĩ, Phương Ánh, Hương Xuân, Minh Ngọc v.v…
            Nghệ sĩ Phùng Há được giới nghệ sĩ cải lương và các bậc thức giả khen là một bực minh sư trong ngành hát, một cây Đại Thụ của Cải Lương và được phong là Nghệ sĩ Nhân Dân.
            Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há đã được tưởng thưởng những huy chương, bội tinh của vua Bảo Đại, của quan Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương, của vua Miên, Lào, Thái Lan, của đại sứ Trung Hoa Dân Quốc ở Việt Nam, của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và của chánh phủ Việt Nam hiện tại.
            Năm 1964, bà đã có dịp xuất ngoại hát tại Pháp, tại Hungary (Budapest) được khán giả ngoại quốc nhiệt liệt ngợi khen, dù họ không hiểu tiếng Việt, nhưng thông qua diễn xuất của nghệ sĩ Phùng Há, họ hiểu được cốt chuyện và tâm tình nhân vật do bà thủ diễn.
            Nghệ sĩ Phùng Há còn được mọi ngành mọi giới xem bà Phùng Há là biểu tượng đoàn kết trong giới nghệ sĩ cải lương.
            Năm 1948, bà Phùng Há là một trong những nghệ sĩ tiền phong đứng ra thành lập Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ, đặt trụ sở tại số 133 đường Cô Bắc quận nhứt Saigon. Bà Phùng Há nhiều lần tái đắc cử Hội Trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ. Bà tổ chức hát Hội, quyên tiền lập quỹ giúp đỡ các nghệ sĩ bịnh hoạn, nghèo yếu neo đơn, bà vận động nghệ sĩ tiếp tay cứu trợ nạn nhân hỏa hoạn Khánh Hội, giúp đỡ các nạn nhân hỏa hoạn vì chiến cuộc ở khu Nancy năm 1955.
            Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ đã đại diện nghệ sĩ Việt Nam tiếp đón các phái đoàn văn nghệ các nước bạn Trung Hoa Dân Quốc, Ấn Độ, Pháp quốc, Hoa Kỳ trong các cuộc giao lưu văn hóa nghệ thuật với Việt Nam trong đầu thập niên 50 tại Saigon.
            Năm 1958, bà Phùng Há vận động sự tài trợ của Hội Đua Ngựa Phú Thọ giúp cho một ngày doanh thu của Hội đua ngựa để có tiền mua đất, lập chùa nghệ sĩ và khu nghĩa trang nghệ sĩ ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp. Tính từ năm 1958 đến năm 2008, Chùa Nghệ Sĩ và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ đã có 456 ngôi mộ nghệ sĩ cải lương và 500 lô cốt của nghệ sĩ cải lương được hỏa táng, thờ phượng trong Chùa Nghệ Sĩ ở huyện Gò Vấp.
            Năm 1997, bà Phùng Há cũng thay mặt cho Ban Ái Hữu Nghệ Sĩ xin với chánh quyền một khu đất ở đường Âu Dương Lân quận 8 để xây nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Đây là khu đất thuộc Viện Tế Bần cũ thời Việt Nam Cộng Hòa, bỏ hoang đã lâu. Được sự chấp nhận của chánh phủ, bà tổ chức hát Hội để lập quỹ xây dựng Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Nhiều nhà Mạnh Thường Quân, các chủ thương buôn ở chợ Bến Thành, chợ An Đông, chợ Bình Tây ái mộ cải lương, các chủ quán có ca nhạc, các nghệ sĩ tài danh và Nhà nước tiếp tay tài trợ, nên viện dưỡng lão đã được xây dựng rất khang trang và chung quanh có vườn cây cảnh đẹp. Bà Phùng Há và các quan chức thành phố, các nghệ sĩ tài danh đến tổ chức lễ khánh thành Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ vào ngày 07 tháng 3 năm 1998. Trong 13 năm qua, có 40 lão nghệ sĩ được nuôi dưỡng trong viện dưỡng lão nghệ sĩ, trong số đó có 18 lão nghệ sĩ đã qua đời.
            Nữ nghệ sĩ Phùng Há là người Việt Nam duy nhất không phải là người có quyền thế hay có gia tài sự nghiệp của cha mẹ để lại, bản thân của bà cũng không phải là người giàu có, dư ăn dư mặc, nhưng bà Phùng Há đã thực hiện được rất nhiều việc từ thiện giúp cho nhiều nghệ sĩ bịnh tật, nghèo yếu neo đơn và giúp cho đồng bào bất hạnh, nạn nhân của thiên tai, bão lụt. Tôi được biết bà là người nòng cốt trong việc Chùa Nghệ Sĩ và các nghệ sĩ vận động quyên tiền, tổ chức hơn 20 chuyến đi đến tận nơi bị thiên tai bão lụt để giúp đồng bào nạn nhân.
            Nghệ sĩ Phùng Há với tính cách là hội trưởng Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu và với uy tín cá nhân, bà đã cùng với Hội nghệ sĩ thực hiện được ba công trình có tầm vóc quốc tế: Đó là lập Chùa Nghệ Sĩ, Nghĩa Trang Nghệ Sĩ và Viện Dưỡng Lão Nghệ sĩ… Tôi dùng chữ tầm vóc quốc tế không phải ý muốn nói ba công trình đó được kiến trúc lớn rộng hay nguy nga, ngang tầm với những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là những việc như xây Chùa Nghệ Sĩ, lập Nghĩa Trang Nghệ Sĩ và Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ cải lương thì trên thế giới, chưa có nghệ sĩ nước nào làm, chưa có ngành nghề nào làm riêng cho ngành nghề của mình như giới nghệ sĩ cải lương đã làm được cho nghệ sĩ cải lương.
            Cố nữ nghệ sĩ Phùng Há mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, hưởng thọ 99 tuổi.
            Phùng Há không có điều gì mong ước riêng cho mình. Trong 86 năm cuộc đời nghệ sĩ, bà Phùng Há đã cống hiến trọn đời cho nghệ thuật, đã góp công sức để làm việc từ thiện giúp đồng bào nghèo, hoạn nạn, thiếu đói và giúp cho các thế hệ nghệ sĩ kém may mắn hơn mình.
            Có mấy ai trên cõi đời này đến tuổi gần 100 năm như bà Phùng Há mà lại có cuộc sống tràn đầy ý nghĩa và tình thương như bà?


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 7/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110731-cuoc-doi-ngoai-hang-cua-nghe-si-phung-ha

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #2 vào: 11/03/2017, 16:53:41 »
Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, giọng ca vang lộng sinh khí

Chương trình phát thanh cổ nhạc kỳ này xin giới thiệu cuộc đời của nghệ sĩ Út Trà Ôn, từng được giới hâm mộ tặng cho danh hiệu Vua Vọng Cổ. Lúc sinh tiền, giọng ca vang lộng đầy sinh khí và truyền cảm của Út Trà Ôn đã được thính giả Việt Nam nồng nhiệt tán thưởng.

Vua vọng cổ Út Trà Ôn

TRƯỚC KHI đề cập đến cuộc đời nghệ thuật của vua vọng cổ Út Trà Ôn, xin giới thiệu tóm tắt về bản vọng cổ, bản nhạc vua của sân khấu cải lương.
            Năm 1918, nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu, sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang (Đêm Khuya nghe tiếng trống nhớ chồng), bài Dạ Cổ Hoài Lang được giới cổ nhạc ưa thích, thường diễn tấu trong các cuộc đàn ca tài tử. Lúc đó, khi tấu nhạc hòa đàn, các nhạc sĩ đóng góp thêm sáng kiến, tăng nhịp thức, phong phú hóa nhạc điệu, bài Dạ Cổ Hoài Lang đổi tên gọi là Vọng Cổ Hoài Lang rồi Vọng Cổ, từ nhịp đôi đến nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu tăng lên thành nhịp ba mươi hai rồi nhịp sáu mươi bốn. Qua một thời gian lâu dài với sự đóng góp tâm huyết của bao thế hệ nhạc sĩ và ca sĩ, bản Vọng Cổ khẳng định giá trị của mình trong nền âm nhạc của sân khấu cải lương.
            Bản Vọng Cổ vừa có tính chất tự sự, vừa có tính chất trữ tình, với 32 nhịp hay 64 nhịp, lồng khung của bản nhạc vừa đủ dài để tác giả viết lời ca nhiều chữ, khiến cho bài vọng cổ có tính chất kể chuyện, tâm sự, nội dung chuyên chở một câu chuyện, một nổi lòng đầy đủ tính chất hỉ, nộ, ái, ố mà sân khấu cải lương thường diễn tả.
            Bài Vọng Cổ được dùng như một cái khung, gọi là lòng bản, tác giả có thể viết bằng văn xuôi, văn vần, bằng các loại thi thơ, có thể kết hợp với nhạc nên giúp cho ca sĩ nhiều phương tiện, nhiều hình thức để diễn tả trong khi ca vọng cổ, do đó ca sĩ có thể tạo một phong cách ca riêng biệt của mình. Cùng là một bài vọng cổ, không ai đàn giống ai, không ai ca giống ai nhưng tất cả vẫn biểu diễn đúng là âm điệu và tiết tấu của bản vọng cổ mà qua đó người danh ca có một lối ca riêng của mình, người đàn cũng có ngón đàn riêng.
            Từ thập niên 60, ký giả Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dội Miền Nam mở một cuộc trưng cầu ý kiến của đọc giả, khán thính giả ưa thích cải lương, bình chọn những nghệ sĩ được gọi là đệ nhất trong ngành sân khấu cải lương. Kết quả như sau:
            Nghệ sĩ Út Trà Ôn, với giọng ca hơi đồng trầm ấm, phong cách ca ngâm rõ ràng, truyền cảm, nên được phiếu bầu cao nhất và được tặng danh hiệu là Đệ Nhất Danh Ca Nam. Ông còn được các ký giả kịch trường và giới ái mộ cải lương tặng cho biệt danh Vua Vọng Cổ.



VUA VỌNG CỔ Út Trà Ôn tên thật là Nguyễn Thành Út, sanh năm 1919 tại làng Đông Hậu, quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông là người con thứ 10 trong gia đình nên được các bạn nghệ sĩ gọi là anh Mười Út.
            Năm 13 tuổi, anh Mười Út đi cày thuê cấy mướn, nhờ có giọng tốt, nên khi làng có Hội cúng Kỳ Yên, anh Mười Út được Ban Nhạc Lễ nhờ đứng ra xướng danh cho hương chức hội tề cúng lễ. Ông Năm Tồn, nhạc sĩ đờn tranh và ông Tư Hiệu, nhạc sĩ đờn cò dạy cho anh Mười Út ca hai mươi bài bản tổ của cổ nhạc.
            Năm 15 tuổi, Mười Út nổi danh trong Ban đàn ca tài tử của quận Trà Ôn.
            Năm 18 tuổi, Mười Út lên Saigon chơi đàn ca tài tử, gặp dịp hãng rượu Bình Tây tổ chức thi ca thưởng rượu, anh Út dự thi được giải nhất. Đài Pháp Á mời anh Út ca trên đài phát thanh và đặt nghệ danh cho anh là Út Trà Ôn khi giới thiệu anh ca các bài vọng cổ Thức suốt đêm đông, Sầu bạn chung tình và Tôn Tẩn giả điên. Giọng ca vang lộng đầy sinh khí và truyền cảm của Út Trà Ôn đã được thính giả nhiệt liệt tán thưởng.
            Năm 1943, anh Út Trà Ôn nổi danh trong vai Hoàng Tử Thủy Tề trong tuồng Lý Chơn Tâm cưỡi củi của gánh hát Hề Lập…
            Năm 1947, Út Trà Ôn được hãng đĩa Asia mời thu đĩa bài vọng cổ Thái Sư Văn Trọng gián thập điều và bài vọng cổ Trụ Vương thiêu mình. Hai bài vọng cổ này được Đài Pháp Á phát thanh trên làn sóng điện thì lập tức khắp Saigon, Chợ Lớn và các tỉnh miền Hậu Giang dấy lên một phong trào thưởng thức vọng cổ. Báo chí không ngớt viết bài ngợi khen giọng ca của Út Trà Ôn. Đĩa vọng cổ Thái Sư Văn Trọng gián thập điều phát hành chưa tới ba tháng mà đã bán hết sạch. Hãng đĩa Asia phải tái bản lần thứ hai, thứ ba mà vẫn không đáp ứng được số yêu cầu. Ông bầu Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh ký hợp đồng 50.000 đồng để mời nghệ sĩ Út Trà Ôn về hát cho gánh hát Tiến Hóa của ông. Đây là một số tiền rất lớn, lập kỷ lục trong hợp đồng giữa nghệ sĩ và chủ gánh hát trong thời điểm này. Nên nhớ là số trúng độc đắc của cuộc xổ số Đông Dương lúc đó là một trăm ngàn đồng.
            Năm 1951, Út Trà Ôn hát cho đoàn Mộng Vân với hợp đồng ký một trăm ngàn đồng tức là gấp đôi số tiền hợp đồng của anh ký với đoàn Tiến Hóa. Nghệ sĩ Út Trà Ôn rất nổi tiếng qua các tuồng Triều Tiên vong quốc sử, Đảng Chiếc lá vàng, Ba ngọn đèn xanh của tác giả Mộng Vân, mở màn cho một cao trào các tuồng cải lương kiếm hiệp rất ăn khách lúc bấy giờ.
            Năm 1954, Út Trà Ôn ký hợp đồng về hát cho đoàn Thanh Minh với giá tiền là 750.000 đồng, lương mỗi suất hát là một ngàn đồng. Nghệ sĩ Út Trà Ôn nổi danh qua các tuồng Con trai người ăn mày, Hoàng Tử của mùa xuân, Nẻo tắt Hoành Sơn, Hồi trống Vân Lâu…
            Soạn giả Viễn Châu, người chuyên sáng tác vọng cổ cho nghệ sĩ Út Trà Ôn ca, nhận xét về ông vua vọng cổ này: “Nghệ sĩ Út Trà Ôn có hơi đồng trầm ấm, phong cách ca ngâm khoan thai, chững chạc, thích hợp với tâm sự một ông lão chèo đò, sống ung dung tự tại cùng sông nước, không mãn chuyện thế thái nhân tình. Giọng ca không chân phương quá mà cũng không luyến láy kỹ thuật quá, người ca biết tôn trọng ý tứ của người viết và tìm cách thể hiện cho thật phù hợp với bài ca. Nghệ sĩ Út Trà Ôn còn được xem là bậc thầy về lối hành văn, sắp chữ, câu nhiều chữ ca vẫn hay, câu ít chữ kéo ra vẫn duyên dáng. Nhịp nhàng chắc chắn, cung bổng cung trầm đâu ra đó rõ ràng”.
            Soạn giả Viễn Châu đã sáng tác hai bản vọng cổ “Ông lão chèo đò” và “Tình anh bán chiếu”, có thể nói là danh ca Út Trà Ôn đã làm cho hai bản vọng cổ này nổi tiếng và cũng từ hai bản vọng cổ này mà danh hiệu Vua Vọng Cổ của Út Trà Ôn càng được khẳng định.
            Năm 1958, sau khi mãn hợp đồng hợp tác của bộ tứ chủ bầu Út Trà Ôn, Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, nghệ sĩ Út Trà Ôn trở về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh. Ông ký giao kèo với một số tiền kỷ lục là một triệu năm trăm ngàn đồng, lương mỗi suất hát là một ngàn năm trăm đồng.
            Năm 1961, nghệ sĩ Út Trà Ôn ký hợp đồng hát cho đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản. Năm 1962, Út Trà Ôn và Hoàng Giang hợp tác thành lập đoàn hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn.
            Năm 1964, ông theo đoàn hát Dạ Lý Hương của bầu Xuân và năm 1965, ông ký hợp đồng với bầu Long, hát cho đoàn Kim Chung 1, rồi Kim Chung 6.
            Năm 1968, ông trở về cộng tác với đoàn Thanh Minh Thanh Nga, sau đó ông có thời gian hát cho đoàn Thái Dương, đoàn Hoa Lan, đoàn Tiếng Hát Dân Tộc. Từ năm 1969 đến năm 1975, nghệ sĩ Út Trà Ôn hát tăng cường cho các đoàn hát Tấn Tài, Thanh Hải, Minh Cảnh.
            Sau năm 1975, nghệ sĩ Út Trà Ôn hát cho đoàn cải lương Saigon 1 đến năm 1979 rồi chuyển sang diễn cho nhà hát Trần Hữu Trang đến năm 1988 thì ông nghỉ, không trình diễn trên sân khấu nữa.
            Tuy nhiên vì ông vẫn nhớ nghề nên mãi đến khi đã 80 tuổi, ông thường được mời tham gia Ban Giám Khảo cho các cuộc thi tuyển lựa giọng ca cải lương ở các tỉnh, cho giải huy chương vàng Trần Hữu Trang và cho Hội Sân Khấu, góp phần đào tạo và tuyển lựa nghệ sĩ tài tử các thế hệ kế thừa và ông đi ca cổ nhạc giúp cho các chùa gây quỹ làm việc từ thiện.
            Út Trà Ôn mất lúc 7 giờ 30, ngày thứ hai 13 tháng 8 năm 2001 tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương Saigon, được quàn tại tư gia số 706 đường Điện Biên Phủ quận 10 Saigon và an táng ngày thứ sáu 17 tháng 8 năm 2001 tại nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp.
            Dân chúng và nghệ sĩ cải lương vĩnh biệt ông, người nghệ sĩ tài hoa đã cống hiến cả đời cho sân khấu. Ông đã để lại cho sân khấu cải lương một nghệ thuật ca vọng cổ chân phương với kỹ thuật ca chồng hơi độc đáo do ông sáng tạo, cách sử dụng hơi ca, ngân, luyến láy trầm bỗng, nhặt khoan, đã giúp cho bản vọng cổ trở thành bản nhạc vua của sân khấu cải lương.
            Ông đã hướng dẫn, truyền nghề cho những nghệ sĩ cùng đứng chung sân khấu với ông. Các nghệ sĩ tài danh Thanh Nga, Diệu Hiền, Út Hậu, Út Hiền, Phương Quang, Thanh Hải, Ngọc Ản, Thanh Sang đều xem ông như sư phụ của mình. Đến ngày ông mất, ông vẫn được giới nghệ sĩ và khán giả ái mộ tôn vinh ông trong ngôi vị Vua Vọng Cổ.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 10/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111030-vua-vong-co-ut-tra-on

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #3 vào: 17/03/2017, 12:04:25 »
Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc

Tiếp tục các bài viết về âm nhạc truyền thống Việt nam, soạn giả cải lương Nguyễn Phương giới thiệu về thân thế sự nghiệp và cuộc đời nghiệt ngã của nữ nghệ sĩ tài danh của sân khâu cải lương Việt nam Thanh Nga, người được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc.

Hai vợ chồng nghệ sĩ Phạm Duy Lân – Thanh Nga

ÔNG HỘI ĐỒNG quản hạt tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Lợi kết hôn với bà Nguyễn Thị Thơ, sanh được ba con, tại xã Thái Hiệp Thạnh, tỉnh Tây Ninh: Trưởng nam là Albert Nguyễn Hữu Thìn sanh năm 1940, tức là diễn viên Hữu Thìn của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Thứ nữ là Juliette Nguyễn Thị Nga, sanh ngày 31 tháng 7 năm 1942 tức là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga. Thứ nam, Michel Nguyễn, sanh năm 1944, tác giả một tuồng cải lương duy nhứt tựa là “Người đi trong ngõ tối”, từ trần năm 1970.
            Năm 1945, ông Hội Đồng Lợi bị sát hại tại tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thơ sợ sẽ bị giết hại như chồng, nên dắt ba đứa con còn nhỏ xuống Saigon lánh nạn. Năm 1948, Bà Thơ tái giá với ông Lư Hòa Nghĩa tức nghệ sĩ danh ca Năm Nghĩa, sanh được 5 con: Lư Bảo Quốc, tức danh hài Bảo Quốc. Lư Chí Bình, Lư Ánh Đào, Lư Ánh Mai và Lư Chí Tiên, không theo nghề nghệ sĩ sân khấu.
            Năm 1952, mới 10 tuổi, Thanh Nga được nghệ sĩ Năm Nghĩa dạy ca và đưa lên sân khấu đoàn Thanh Minh ca vọng cổ bài Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa, trước khi mở màn hát. Nhạc sĩ Út Trong nhạc trưởng của đoàn hát dạy cho Thanh Nga ca những bài bản cổ nhạc khác.
            Năm 1954, vai diễn đầu tiên của Thanh Nga là vai đào con Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa.
            Năm 1958, Thanh Nga 16 tuổi mới được đóng vai Sơn Nữ Phà Ca, vai chính trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới của soạn giả Kiên Giang và Qui Sắc. Qua vai hát Sơn Nữ Phà Ca, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được thưởng Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm, do ký giả Trần Tấn Quốc thành lập, giải thưởng cho diễn viên triển vọng xuất sắc nhất trong năm.
            Năm 1959, nghệ sĩ Năm Nghĩa, dưỡng phụ và là thầy của Thanh Nga mất. Năm 1960, Bà Bầu Thơ, thân mẫu của Thanh Nga trực tiếp điều khiển đoàn Thanh Minh, đổi bảng hiệu lại là Đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà rước những nghệ sĩ bực thầy về dạy cho Thanh Nga ca, diễn, như anh Năm Châu, cô Phùng Há, cô Ba Thanh Loan, cô Kim Cúc. Anh Ba Vân.
            Từ năm 1960 đến năm 1968 nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn những vai chánh, đóng cặp với những nam nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang và có lúc có anh Năm Châu, anh Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, bà Năm Sađec đóng chung tuồng với Thanh Nga.
            Thanh Nga là một ngôi sao sáng, với sắc đẹp thật dịu dàng, ngày càng quyến rũ. Thanh Nga vào vai nữ hoàng, công chúa, cô có nét đẹp lộng lẫy kiêu sa. Vào vai cô gái quê nghèo, Thanh Nga mang nét thôn quê bình dị với chiếc áo bà ba, với giọng ca truyền cảm đến lạ lùng, Thanh Nga đã có những vai để đời như vai Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa; Mã Nhi Nương Bửu (Gió ngược chiều), Giáng Hương (Sân khấu về khuya), Diệp Thúy trong tuồng Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong tuồng Bọt biển…
            Năm 1960 Thanh Nga được thưởng bằng danh dự diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm. Năm 1966, Thanh Nga lại được thưởng giải diễn viên xuất sắc nhất trong năm. Thanh Nga cũng thành công trong lãnh vực Điện ảnh qua các phim: Đôi mắt người xưa, Loan mắt Nhung, Lan và Điệp, Sau giờ giới nghiêm, Triệu phú bất đắc dĩ…
            Năm 1968, Tết Mậu thân, chiến tranh lan vô các thành phố, chánh phủ ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm, các đoàn hát cải lương không hát được, nhiều đoàn phải chịu rã gánh.
            Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được ông Phạm Duy Lân, Đổng Lý Văn Phòng bộ Thông Tin gợi ý xuất ngoại sang Pháp biểu diễn cho Việt Kiều xem nhân dịp Tết năm 1969. Đối với bộ Thông Tin, việc đưa đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp hát là một công tác tranh thủ tình cảm của Việt Kiều ở Pháp khi đang có hội nghị bốn bên ở thủ đô Paris. Đối với đoàn hát thì đây là lối ra duy nhứt để đoàn có doanh thu. Bà bầu Thơ đồng ý, vì vậy ông Phạm Duy Lân thường xuyên giúp đỡ bà bầu Thơ giải quyết mọi thủ tục liên quan tới việc đưa đoàn hát xuất ngoại, việc chọn tuồng và chọn diễn viên.
            Năm 1969, đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở Pháp trong vòng 2 tháng, hát ở rạp Maubert, Playel và các tỉnh miền Nam nước Pháp, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được khán giả Việt Nam ở Pháp nhiệt liệt khen ngợi qua các tuồng Con gái chị Hằng, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Hoa Mộc Lan, Giấc mộng đêm xuân.
            Sau chuyến lưu diễn ở Pháp về, nữ nghệ sĩ Thanh Nga thành hôn với ông Phạm Duy Lân. Năm 1972, đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngưng hoạt động, nữ nghệ sĩ Thanh Nga đi hát cho đoàn Việt Nam của bà bầu Thu hoặc đi đóng phim, thu truyền hình tuồng cải lương.
            Sau 30 tháng 4 năm 1975, bà bầu Thơ được phép thành lập gánh hát với bảng hiệu đoàn Thanh Nga. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga tiếp tục nhận được cảm tình nồng hậu của khán giả qua các tuồng Tấm lòng của Biển, Tiếng trống Mê Linh, Bài thơ trên cánh diều, Thái hậu Dương Vân Nga.
            Ngày 16 tháng 3 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh tại rạp Lao Động B gần cầu chữ Y thì có một kẻ vô danh liệng một quả lựu đạn lên sân khấu. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.
            Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Saigon. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).
            Sáng hôm sau hay tin, chúng tôi lập tức đến nhà bà bầu Thơ. Bà rất buồn, nói như lạc giọng: “Chú thiếm Ba, Thanh Nga bị bắn chết rồi. Chú thiếm ra bệnh viện Saigon thăm cháu!” Thanh Lệ, vợ của Hữu Thìn cùng đi với chúng tôi. Khó khăn lắm chúng tôi mới vô bệnh viện được vì dân chúng hiếu kỳ đứng nghẽn cả lối đi. Nhân viên bệnh viện đưa chúng tôi đến phòng lạnh, kéo hai hộc đựng xác ra để chúng tôi nhìn.
            Thanh Nga nằm hộc trên, khi kéo ra thì tóc cô đổ xõa dài xuống đất, đen mượt như một dòng suối đen. Thanh Nga đã được chị Ngọc Nuôi đánh phấn, thoa son, hóa trang như đang trình diễn. Nét mặt Thanh Nga vẫn đẹp, đôi mắt nhắm lại như đang trong giấc ngủ bình yên. Cô đã được chị Ngọc Nuôi và bà Sáu đồ hội thay cho mặc bộ y phục Thái Hậu Dương Vân Nga y như đã mặc trên sân khấu đêm rồi, trước khi bị sát hại. Ông Phạm Duy Lân, chồng của Thanh Nga nằm hộc dưới, nét mặt còn lộ vẻ kinh hoàng. Ông đã được thay bộ âu phục đen, thắt cà vạt sọc xanh trắng.
            Các nghệ sĩ Kim Cương, Ngọc Nuôi, Liễu Thuận, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, bà năm Hay (em bà bầu Thơ) và chúng tôi nghe anh tài xế của ông Lân (tên Cát) kể lại diễn biến thảm cảnh Thanh Nga bị sát hại.
            Anh Cát nói xe về tới nhà ở đường Ngô Tùng Châu, khi anh mở cửa xe bước ra thì bị một người lạ mặt đánh một báng súng vô ót rồi xô anh té chúi trở vô xe. Anh còn nghe tiếng cửa xe bên kia mở, tiếng khóc thét của Cúc Cu, tiếng la lớn của Thanh Nga: “Buông con tôi ra, buông con tôi ra” và tiếng của ông Lân la rất lớn: “Bớ người ta… cướp… cướp”, tiếp theo đó là hai phát súng chát chúa. Kẻ sát nhân bắn xong, phóng lên chiếc xe Honda đen, chạy mất…
            Ông Phạm Duy Lân chết liền tại chỗ, nằm gục dưới đất, gần cửa sau xe, vết đạn trúng tim. Thanh Nga bị bắn trên ngực phía trái gần tim. Cô được chở bằng xe cyclo đi bệnh viện Saigon cấp cứu, nhưng xe đến ngang ga xe lửa thì Thanh Nga tắt thở.
            Theo yêu cầu của Hội nghệ sĩ, lễ tang của Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân do Hội nghệ sĩ đứng ra tổ chức. Quan tài của Thanh Nga và chồng được quàng tại nhà Hội, số 81 đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Mac Mahon cũ) hai quan tài để song song, sát vào nhau và để một lư hương chung cho hai vợ chồng, tránh việc người vào viếng chỉ thắp hương cho Thanh Nga mà không thắp hương cho ông Lân. Khi liệm, Thanh Nga vẫn mặc y phục hát vai Thái Hậu Dương Vân Nga, y phục đẫm máu của Thanh Nga được để dưới đất ở đầu quan tài.
            Tôi còn nhớ số người ái mộ Thanh Nga quá đông, phải tổ chức cho xếp hàng 4, từ cổng vô ở đường Nguyễn Văn Trổi, nối đuôi trên đường Tú Sương dài tới trường Régina Pacis. Liên tục trong ba ngày ba đêm, số người đến viếng tang kiên nhẫn nối đuôi nhau, tay cầm một cây nhang đã đốt sẵn hoặc một cành hoa do ban tổ chức đưa cho, để khi vào trước quan tài Thanh Nga đỡ tốn thì giờ thắp nhang.
            Số nghệ sĩ các đoàn hát và các em học sinh ái mộ cũng xếp hàng 4 trên đường Nguyễn Văn Trỗi, cũng cầm nhang đốt sẵn, đi vào bằng cổng phụ, tới trước quan tài Thanh Nga, đặt hoa xuống hoặc cắm nhang rồi đi ra về theo cổng chính. Số người theo sau quan tài Thanh Nga đến nơi an nghỉ cuối cùng cũng rất đông, phải kể là một con số kỷ lục. Cứ tưởng tượng, số người đi đưa tang Thanh Nga đứng lấp cả lòng đường Hiền Vương. Đầu đám tang đã tới đường quẹo qua Dakao, dòng người nối đuôi vẫn chưa rời khỏi trụ sở của Hội ở đường Nguyễn Văn Trỗi. Có thể nói là cả mấy chục ngàn người đã đi tiễn Thanh Nga.
            Phát súng bắn vào Thanh Nga đã làm bàng hoàng mọi người. Nhiều nghi vấn đã được đặt ra: Ai là thủ phạm đã giết Thanh Nga? Với mục đích gì?
            Dư luận nói Phục Quốc quân giết Thanh Nga thì căn cứ vào việc Thanh Nga hát những vở tuồng của cộng sản, Thanh Nga là công cụ tuyên truyền của cộng sản, giết Thanh Nga là cảnh cáo những nghệ sĩ khác. Nhưng khi mất Saigon rồi, mất cả miền Nam rồi, có nghệ sĩ nào mà không ca, không hát những tuồng đã được nhà cầm quyền đương thời kiểm duyệt và cho phép hát? Những tuồng như Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tấm lòng của biển… có điểm nào đáng để mà kết án tử hình người nghệ sĩ đã hát những tuồng đó?
            Dư luận nói cộng sản Trung Quốc giết thì căn cứ vào tình hình gay cấn giữa Trung Quốc và Việt Nam (Nạn Hoa kiều ở Hải Phòng, Saigon, Chợ Lớn…) Thanh Nga diễn những vở chống xâm lăng Tàu như Tiếng trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga…
            Lúc đó tình hình giữa Việt Nam và Trung Cộng đang căng thẳng với nhau nên nhà cầm quyền lợi dụng cái chết của Thanh Nga để mà động viên tòng quân chống xăm lăng Tàu Cộng. Thanh Nga chết ngày 26 tháng 11 năm 1978, Tàu cộng đánh qua biên giới tháng 2 năm 1979, hỏng lẽ họ giết chết Thanh Nga ba tháng trước rồi mới tràn qua biên giới sao?
            Đến cuối năm 1987, có phiên “Tòa án nhân dân thành phố“ xử những tên bắt cóc trẻ thơ và giết người. Các báo tường thuật: Vụ án Thanh Nga trước sau chỉ đơn thuần là một vụ bắt cóc con để tống tiền những cha mẹ có tên tuổi, có máu mặt sau 1975 như cô đào Kim Cương, cô đào Thanh Nga, bác sĩ Nguyễn La Hỹ. Họ là những người chỉ có một đứa con duy nhứt và lại lắm bạc nhiều tiền.
            Con trai của đào Kim Cương tên Tô Rô bị bắt vào ngày 26 tháng 12 năm 1977 giá tiền chuộc là 20 lượng vàng. Sau khi Kim Cương nạp đủ số vàng trên, bọn cướp cho Tô Rô uống thuốc ngủ rồi đem tới bỏ trước cửa Sở Bưu Điện Saigon. Kim Cương được báo tin, tới nhận lại con.
            Đến con trai của Thanh Nga, Cúc Cu Phạm Duy Hà Linh, vì Thanh Nga và ông Lân chống cự, kêu cứu, bọn chúng sợ quá, bắn đại để thoát thân (theo lời khai của can phạm Nguyễn Thanh Tân trước Tòa).
            Mấy tháng sau, ngày 6 tháng 2 năm 1979, xảy ra vụ bắt cóc con trai bác sĩ Nguyễn La Hỹ làm việc tại bệnh viện Chợ Rẩy tên là Phương. Bọn bắt cóc người cũng đòi tiền chuộc là 20 lượng vàng.
            Các báo kể: Trong một cuộc phục kích, công an bắn trúng lưng tên Nguyễn Văn Hóa làm tên nầy bị trọng thương, phải vào bệnh viện cứu cấp. Do lời khai của tên Hóa, những tên trong băng bắt cóc cháu Phương bị sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương, con bác sĩ Hỹ được Tân đưa về giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi mà hơn một năm trước chúng cũng giam giữ cháu Tô Rô. Như vậy hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm và giàu có thì đã rõ. Còn những phát đạn bắn vào vợ chồng Thanh Nga thì tên Tân khai là vì phản ứng quyết liệt của hai vợ chồng Thanh Nga, chúng sợ ông Lân có súng, nên ra tay trước để tẩu thoát.
            Mạng sống của con người thì ai cũng phải trân trọng, bởi lẽ người ta sinh ra chỉ một lần và chết đi cũng chỉ một lần. Nhưng cái chết của từng mỗi con người chỉ là tổn thất của từng mỗi gia đình hay trong một phạm vi quan hệ nhỏ. Còn sinh mạng bị cướp đi của Thanh Nga là một tổn thất không gì bù đắp nổi của sân khấu cải lương và là niềm đau của hàng triệu người. Dù tội ác đã được trừng trị, nhưng có lẽ thêm ngàn lần trừng trị nữa cũng không tương xứng với những tổn thất mà tội ác đã gây ra.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 10/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111002-thanh-nga-nu-hoang-san-khau-ma-hong-phan-bac

 
The following users thanked this post: XuTramHuong, huhu, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #4 vào: 18/03/2017, 09:41:34 »
Giỗ Tổ cải lương

Trong chương trình phát thanh kỳ này, Nguyễn Phương xin trình bày về tập tục gỗ Tổ cải lương, thường niên nhằm ngày 11, 12 tháng 8 âm lịch, năm 2011, nhằm ngày 8 và 9 tháng 9 dương lịch là ngày giỗ Tổ cải lương.


TRƯỚC KHI ra sân khấu trình diễn, các nghệ sĩ chấp tay, quay vào trong, xá Tổ ba cái rồi mới ra hát. Các nghệ sĩ cải lương và một số nghệ sĩ tân nhạc ở trong nước vẫn tuân thủ tập tục đó từ xưa đến nay, khi đi định cư nước ngoài, tôi thấy các nghệ sĩ ở bên Cali, bên Pháp, ở Canada hay ở Úc Châu vẫn theo cổ lệ của các nghệ nhân tiền bối, tôi mừng lắm…
            Tôn giáo nào, ngành nghề nào cũng có những mỹ tục được người trong đạo hay trong giới đó tôn trọng, gìn giữ. Ví dụ, ta thấy Thiên Chúa có lễ Pâques, lễ Assomption (Lễ Thăng Thiên), Lễ Toussaint, lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh v.v… Phật Giáo có 3 lễ lớn: Lễ Phật Đản, Lễ Thành Đạo, Lễ Tịch Diệt, có 3 ngày rầm lớn: Rằm Thượng Ngươn tháng giêng, Rằm Trung Ngươn Tháng bảy cúng xá tội vong nhân, Rằm Hạ Ngươn tháng 10, Lễ Vu Lan. Cao Đài có Lễ Cao Đài Đạo Khai. Tam Tông Miếu có lễ Minh Lý Đạo Khai. Phía dân chúng thường dân có ngày lễ Cha (fête des pères), ngày lễ Mẹ (fête des Mères), ngày Tình Nhân (Valentine), ngày lễ chủ nhân (Fête des patrons), lễ những người thợ (fête des ouvriers), người dân Việt Nam có lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ Thánh Gióng, lễ Hai Bà Trưng v.v… Cải Lương cũng có ngày giỗ Tổ.
            Nói tới cúng Tổ nghề, người ta thường liên tưởng đến tập tục của giới nghệ sĩ sân khấu, vì một lẽ dễ hiểu là ở trong nước có hơn trăm đoàn hát cải lương và hát bội, mỗi đoàn có từ bốn đến năm, sáu chục nghệ sĩ và công nhân sân khấu, đó là chưa kể các nghệ sĩ hành nghề tự do trong các đài phát thanh, hãng dĩa, quán ăn có ca nhạc, các lớp dạy cổ nhạc, trường sân khấu kịch nghệ. Lễ cúng Tổ hàng mấy ngàn người, cùng cúng đồng loạt trong hai ngày, ở hàng trăm địa điểm, tự nhiên thấy rất là long trọng.
            Trước hết, phải hiểu là cúng Tổ nghề là một tập tục cúng bái có tầm vóc quan trọng như việc thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình Việt Nam. Hồi xưa, mỗi dòng họ trong dân gian có một từ đường thờ gia tiên, mỗi triều đại của dòng Vua nào thì có Thái Miếu thờ Tiên Đế, mỗi phường nghề đều phải có miếu thờ vị Tổ Sư của nghề đó.
            Vị Tổ Sư một nghề có thể là người phát minh ra nghề đó hoặc là người đầu tiên đem nghề đó ở một nơi khác, về truyền dạy cho dân chúng trong làng hay ở một vùng nào đó.
            Người ta không những thờ cúng vị Tổ Sư như một hành động biết ơn công khai sáng mà còn là sự khẩn cầu xin bảo hộ cho nghề nghiệp và bảo hộ người đang hành nghề.
            Tôi muốn nói về Tổ nghiệp sân khấu và các nghi lễ ngày xưa cúng Tổ như thế nào, vì hiện nay trong hoàn cảnh định cư nước ngoài, có nhiều người không còn nhớ hoặc không coi trọng tập tục cũ nữa. Tôi kể tỉ mỉ ra đây với hy vọng là lưu giữ lại một chút gì những tập tục cũ trong ngành sân khấu để mai sau các nhà nghiên cứu về văn hóa văn nghệ dùng làm tư liệu trong chương trình nghiên cứu của mình. Các bạn trẻ sanh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài, khi nhìn về quê hương Việt Nam, có thể hiểu ngày xưa các bậc trưởng thượng của mình đã có một niềm tin như vậy để mà đeo đuổi theo nghề nghiệp, có niềm tin đó mới cống hiến cả đời mình và nhiều thế hệ nối tiếp để làm cho nghề hát ngày thêm tiến bộ hơn, hay hơn, xứng đáng có một vị trí trên nền văn hóa nghệ thuật của thế giới.
            Theo tài liệu sử sách, Tổ nghề Hát Bội là Lý Nguyên Cát và Liên Thu Tâm. Liên Thu Tâm vốn là kép hát Trung Quốc được vua Lê Ngọa Triều giao cho dạy cung nữ cách hát tuồng từ năm 1005. Lý Nguyên Cát vốn là người Tàu theo đoàn quân Nguyên qua xâm lược nước ta, bị bắt làm tù binh. Vì Lý Nguyên Cát có tài hát xướng nên vua Trần dùng để dạy hát trong cung vua.
            Không biết các đoàn hát bội ở miền Trung có thờ hai ông này không, chớ ở miền Nam thì thờ Ông Làng, giống như hát Tiều thờ Lão lang Quân.
            Ở nhà Truyền Thống của Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ ở số 133 đường Cô Bắc, Quận Nhứt, khánh thờ Ông Tổ làm bằng một loại danh mộc, chạm trổ rất công phu, bên trong có 12 cốt ông, tính đến nay có gần một trăm năm rồi, do bà Tám Đội tặng cho giới nghệ sĩ. Bà Tám Đội là một nhà phú hào, có đồn điền cao su ở Củ Chi và là chủ gánh hát bội và rạp hát tên là Rạp Bà Tám Đội ở đường Les Marins, nay là đường Trần Hưng Đạo Chợ Lớn, người bỏ tiền ra xây cất đình Phú Nhuận.
            Theo khái niệm chung của những nghệ sĩ tiền phong trong nghề hát thì Tổ Nghiệp của nghề hát là danh xưng để gọi chung các bậc tiền bối đã dày công sáng lập nên sự nghiệp có liên quan tới sân khấu như các vị: Tổ Sư, Thánh Sư, Tiên Sư, Tam Giáo đạo Sư, Lão lang Thần (tức Ông Làng theo cách gọi miền Nam) Thập Nhị Công nghệ, nghĩa là mười hai ông Tổ các ngành nghề như nghề thợ mộc, nghề dệt vải, ngành âm nhạc, nghề múa, nghề kim khí, nghề vẽ v.v… Hồi xưa, các nghệ nhân không dùng danh từ: sân khấu là một ngành nghệ thuật tổng hợp, gồm có văn, thơ, họa, nhạc, vũ đạo, trang trí mỹ thuật như ngày nay, nhưng trong khái niệm chung về nghề hát, các nghệ nhân tiền bối đã biết đến công lao của những ngành nghề khác như nghề dệt vải để may y phục hát, ngành kim khí làm gươm giáo, đạo cụ sân khấu, ngành vẽ, vẽ phong cảnh… 12 cốt ông là tượng trưng Thập Nhị Công Nghệ đó, tức là 12 ông Tổ của các ngành nghề có liên quan tới nghề sân khấu như vừa mới kể.
            Hàng năm, đúng vào ngày 11 tháng 8 âm lịch thì lễ giỗ Tổ Sân Khấu. Đêm 11, lễ cúng chay với chè xôi, hoa trái. Sáng 12 là chánh lễ, cúng mặn với heo quay, gà luộc, bánh trái. Năm 2000, tôi có về Việt Nam và đúng vào dịp cúng Tổ. Tôi có quay phim lễ cúng Tổ.
            Quan khách và nghệ sĩ tề tựu đông đủ trước bàn thờ Tổ, mở đầu, ông chấp sự, là người đạo cao đức trọng, được người trong giới nghệ sĩ đề cử thay mặt làm lễ xây chầu, tức là lễ khai tràng. Ông Chấp sự nâng cặp roi trống chiến, xá ba cái, ban ba hồi thỉnh tổ.
            … … … (ba hồi trống chiến thỉnh Tổ) … … …
            Một hồi trống chầu, ba hồi trống chiến, vì vậy mới có câu: Đuôi trống Chầu là đầu trống chiến.
            Ông Bầu, Bà Bầu, Hội Trưởng Cô Bảy Phùng Há vào niệm hương…
            (Người xướng: Thỉnh Hương. Dâng Hương… Quỳ… bái v.v…)
            Các năm xưa đến đây là có pháo nổ, lân múa từ ngoài vô lạy Tổ, năm nay chỉ có lân, không có pháo. Kế đó lễ Đại Bội truyền thống do các nghệ sĩ hát bội đoàn Tấn Thành Cầu Muối phối hợp với nghệ sĩ Bầu Thắng đình Cầu Quan múa Điểm Hương.
            Mở đầu là Điểm Hương, một anh kép sắm mặt tướng, vai Thiên Lôi, cầm bó nhang đốt sẵn, múa bộ mở rộng, xoay bốn phương, tám hướng. Vai Thiên Lôi cắm nhang trên lư hương bán thờ Tổ, chấp tay xá xá, lui ra. Trống vẫn đánh theo nhịp múa.
            Múa Xang Nhật Nguyệt do một nam diễn viên mặc mãng bào, đội mão vua, tay cầm Mặt Nhựt, (một tấm bảng vẽ hình mặt trời, có chữ Nhựt viết theo chữ nho), một nữ diễn viên sắm vai mụ văn, mặc mãng bào, đội mũ cửu phụng, tay cầm mặt Nguyệt, cả hai múa điệu Âm Dương phối họp.
            Kế đó ba người sắm vai ba ông Phước Lộc Thọ, múa điệu múa Tam Hiền, chúc lành cho mọi người.
            Tiếp theo, múa Ngũ Hành, một diễn viên đứng tuổi, sắm mặt đẹp, đội mão văn và bốn cô đào con, tượng trưng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, múa lễ tạ thánh Tổ, cầu an và chúc lành cho bá tánh.
            Sau đó bốn võ tướng múa Tứ Thiên Vương, tượng trưng cho bốn Thiên Vương trấn giữ bốn cõi trời Đông, Tây, Nam, Bắc. Khi Tứ Thiên Vương trụ bộ lại, xổ ra bốn cuộn liễng có viết bốn câu: Quốc Thái Dân An, Phong Hòa Vũ Thuận, Hà Thanh Hải Yến, Nông Ngư Đắc Lợi. Chúc mọi điều may mắn cho tất cả mọi người chớ không riêng gì giới nghệ sĩ.
            Chót hết là Ông Địa ra múa, dâng liễng Gia Quan Tấn Tước. Từ sau 75 đến nay, ông Địa chỉ ra múa vui với lân, không dâng liễng Gia Quan Tấn tước nữa.
            Trên đây là nghi lễ cúng Hội Kỳ Yên, tạ Thần Hoàng Bổn Cảnh, cúng Giỗ Tổ Hùng Vương, Cúng Giỗ Tổ Cải Lương, nói chung phần đầu nghi thức là cúng như vậy. Do đó ta thấy trong phần cúng tế các tiền nhân hay thánh thần, lời nguyện luôn luôn là cầu Thái Bình cho đất nước, dân được an cư lạc nghiệp, mưa thuận gió hoà, nông dân hay ngư phủ đều làm ăn phát đạt. Có lẽ các tiền nhân nghệ sĩ ngày xưa đã nghĩ rằng khi đất nước thái bình, dân an cư lạc nghiệp thì họ mới có tiền để coi hát, do vậy khi cầu cho nghề hát phát triển, bao giờ người nghệ sĩ cũng nhớ là phải cầu cho toàn dân an cư lạc nghiệp, đất nước thái bình.
            Bầu không khí thật là trang nghiêm, khói hương bay quyện, các nghệ sĩ lần lượt vào lên hương, lạy Tổ theo thứ tự vai vế trong đoàn và thứ tự theo tuổi tác, kính lão đắc thọ.
            Người nghệ sĩ hát bội và nghệ sĩ cải lương, trăm người như một đều có lòng thành kính tin Tổ Nghiệp. Dù nghệ sĩ đang ở Việt Nam hay đã đi định cư nước ngoài, bất kỳ ở đâu, khi nhớ ngày giỗ Tổ, khi có tổ chức giỗ Tổ thì mọi người đều tề tựu lại, chung phần tổ chức cúng Tổ. Còn một tập tục rất hay là hát hầu Tổ. Ngày xưa thì tập tục này rất được người trong giới tuân theo, bây giờ đơn giản hóa, có chỗ làm, có chỗ không.
            Hát hầu Tổ là khi tề tựu, niệm hương, vái lạy xong, các diễn viên tùy theo niên kỷ, người lớn hát trước, tới xá Tổ rồi hát một câu hay một đoạn cho tổ nghe, câu hát mà người hát cho là hay nhứt. Xong rồi, tới người khác…
            Trước hết là lão nghệ sĩ Minh Biện hát mấy câu trong vai Tạ Ôn Đình.
            Nhạc và các câu hát hoặc trống, đờn của ngành hát bội.
            Có nghệ sĩ chỉ cầm roi ngựa, biểu diễn lên yên, gò cương, tế ngựa v.v…
            Có nghệ sĩ múa một đường đao.
            Có nghệ sĩ hát khách, hát một câu trong vai Lưu Bị cầu hôn giang tả.
            Có người thủ vai Triệu Tử Long, múa thương đương dương trường bản.
            Mỗi người chỉ hát một câu, múa vài điệu bộ rồi lui ra nhường cho người khác vào hát hầu Tổ. Nhạc, trống cứ tự do tấu cho cuộc biểu diễn tự do của nghệ sĩ.
            Đổi nhạc hòa tấu cải lương.
            Đến đây đến phần các nghệ sĩ cải lương.
            Càng về khuya, anh em ăn nhậu rồi có người ngủ, dàn đờn cũng dẹp, không có đờn nữa, bởi vì đó là khuya rồi, có ông Năm Đại, ổng đi hát chầu về trễ, một mình ổng không có đờn trống gì hết, ổng ca một câu bái trước Tổ rồi ổng thổi kèn miệng…
            Lệ hát hầu Ông trong lễ giỗ, mang một ý nghĩa rất tốt đẹp. Đây là dịp mà các đào kép đem hết khả năng ca diễn của mình, nói là hát cho Tổ coi, thật ra có ý tôn sư trọng đạo, trình cho các bậc đàn anh đàn chị nghệ sĩ thấy sự tiến bộ của từng người, và đặc biệt cho các ông Bầu, ông Nhưng, Thầy tuồng đánh giá khả năng của từng người để giao vai tuồng mới, để định vị trí diễn viên…
            Tôi nghĩ, loại trừ một vài yếu tố có tính cách mê tín trong hình thức tổ chức nghi lễ, tục lệ giỗ Tổ của giới sân khấu cũng như các ngành nghề khác biểu hiện lòng Tôn Sư Trọng Đạo, Uống Nước Nhớ Nguồn, đó là truyền thống của dân Việt Nam. Lễ Giỗ Tổ theo tôi là nên duy trì, bảo tồn để kết chặt tình tương thân tương ái giữa những người làm nghệ thuật hoặc giữa những đồng nghiệp với nhau.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 9/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110918-gio-to-cai-luong

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #5 vào: 20/03/2017, 14:24:15 »
Tuổi thơ trôi dạt của Sầu nữ Út Bạch Lan

Hồi xưa, ở Việt Nam, khán giả ái mộ cải lương, mến thương nghệ sĩ nên tùy theo từng giọng ca mà tặng cho nghệ sĩ một mỹ hiệu hay biệt danh. Khi nghe nhắc Vua vọng cổ là biết nói tới danh ca Út Trà Ôn, nhắc tới Nữ Hoàng vọng cổ, sầu nữ… là người ta biết nói tới nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan, một người có giọng ca rất buồn, một giọng ca hiếm có trong sân khấu cải lương suốt nửa thế kỷ qua.


Nữ Hoàng vọng cổ, sầu nữ Út Bạch Lan

NỮ NGHỆ SĨ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sanh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thân phụ của cô là ông Nguyễn Văn Chưa, làm nghề nài ngựa đua, qua đời năm 1966. Mẹ của cô là bà Đặng Thị Tư dẫn bé Hai (tên của Út Bạch Lan hồi nhỏ) lên Chợ Lớn. Hai mẹ con sống lang thang lề đường xó chợ. Lúc đó bé Hai được tám tuổi, ban ngày em phụ mẹ rửa chén, làm chân sai vặt cho những người trong chợ Bình Tây, buổi tối bé Hai ngủ trên sạp thịt, không mùng màn chiếu gối.
            Bà Tư, mẹ của bé Hai làm quen với một người đàn bà nghèo đồng trạc tuổi, cùng cảnh ngộ nên hai bà kết nghĩa chị em. Con của bà bạn là một em bé mù nhưng biết đàn guitare thùng khá giỏi. Đó là Văn Vĩ. Bé Vĩ mù bẩm sinh, được một nhạc sĩ thương tình dạy cho bé Vĩ đờn guitare cổ nhạc. Văn Vĩ dạy lại cho bé Hai ca. Bé Hai đã học được những bài vọng cổ Đêm Khuya Trông Chồng, Mẹ Dạy Con, Trọng Thủy Mỵ Châu, đó là những bài vọng cổ mà bạn hàng chợ thường hát dĩa nên bé Hai học thuộc lòng.
            Bé Hai thấy người mù đi hát dạo trong chợ được người ta cho tiền nên rũ Văn Vĩ lén mẹ đi hát dạo, từ Chợ Lớn đến Chợ Bến Thành, chợ Bàu Sen, chợ Cầu Ông Lãnh. nơi nào hai em bé Hai và Văn Vĩ hát dạo cũng được đông đảo người tụ tập nghe và cho tiền. Hai em đem tiền về cho mẹ nên cuộc sống đỡ đói khó, vất vả như xưa.
            Lúc đó, năm 1946, 1947, đang có cuộc chiến tranh Việt Pháp, Ban Công Tác Thành Saigon liệng lựu đạn những nơi có đông người tụ tập, các rạp hát, các bar dancing. Bé Hai và Văn Vĩ đờn ca hát dạo, dân chúng tụ tập đông đảo nên lính cảnh sát Tây bắt bé Hai và Văn Vĩ về nhốt trong bót quận Nhì ở đường Hammelin, đường đi hướng về cầu Ông Lãnh.
            Ông xếp bót là người Pháp lai Việt Nam, bạn thân của nhạc sĩ Jean Tịnh đờn vĩ cầm cổ nhạc nên ông bảo Jean Tịnh đến bảo lãnh cho hai em đó ra.
            Nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công đến bót, nghe Văn Vĩ và bé Hai đờn ca. Thành Công bảo lãnh hai em ra, anh theo hai em về chợ Bình Tây, gặp hai bà mẹ để xin cho hai em theo Ban cổ nhạc Thành Công ca trên đài Pháp Á.
            Ca sĩ Thành Công rất mến mộ ngón đàn guitare sắc xảo của Văn Vĩ và giọng ca có chất buồn man mác của bé Hai nên Thành Công đặt nghệ danh Bạch Lan cho bé Hai để đối lại với ca sĩ tí hon Bạch Huệ trên đài Phát Thanh Saigon. Bé Hai xin giữ thêm chữ Út mà mẹ cô thường dùng để gọi cô, từ đó bé Hai có nghệ danh Út Bạch Lan.
            Ngoài việc đờn ca cho Đài Pháp Á, Út Bạch Lan và Văn Vĩ còn được mời đờn ca giúp vui cho các cuộc tiệc, đám cưới, đám giỗ, được dân chúng ở chợ Bàu Sen mời về nhà họ đờn ca. Những lần được mời đờn ca, Văn Vĩ và Út Bạch Lan được thưởng nhiều tiền, người ta cho quần áo đẹp và cho ăn uống phủ phê. Cô Năm Cần Thơ chủ quán ca nhạc Họa Mi ở khu giải trí trường Đại Thế Giới Chợ Lớn, mời Út Bạch Lan và Văn Vĩ đờn ca thường xuyên cho quán Họa Mi.
            Út Bạch Lan được ca sĩ Thành Công, cô Năm Cần Thơ, nhạc sĩ Jean Tịnh và nhạc sĩ Mười Lương dạy ca thêm nhiều bài bản cổ nhạc.
            Năm 1952, Út Bạch Lan gia nhập đoàn hát Kim Khánh của ông bầu Ba Cang, nhưng đoàn Kim Khánh lúc đó đang có bốn cô đào trẻ Thu Ba, Bé Hoàng Vân, Kim Nên, Ngọc An nên chỉ khi nào một trong bốn nữ diễn viên đó bịnh thì Út Bạch Lan mới được đóng thế vai. Thấy ở đoàn Kim Khánh không có tương lai, Út Bạch Lan tìm đi gánh hát khác.
            Năm 1953, Út Bạch Lan theo đoàn hát Tô Huệ, cũng chỉ được cho làm thế nữ, quân hầu nên cô trở về Saigon cộng tác với Ban Cổ Nhạc Thành Công trên đài phát thanh Saigon.
            Năm 1955, Út Bạch Lan gia nhập đoàn hát Kim Thanh do bốn danh ca vọng cổ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng, Thúy Nga hùm vốn làm bầu. Ở đoàn Kim Thanh, Út Bạch Lan cũng không được giao một vai tuồng quan trọng. Soạn giả Viễn Châu biết giọng ca của Út Bạch Lan rất được khán giả tán thưởng nên trong tuồng “Đời Cô Nga” anh viết thêm hai câu vọng cổ cho Út Bạch Lan ca. Thành công quá sức tưởng tượng: khán giả vỗ tay nhiệt liệt không thua gì khi họ nghe Út Trà Ôn vô vọng cổ. Vãn hát, khán giả đứng nghẹt ở cửa sau rạp hát để chờ đón xem mặt Út Bạch Lan.
            Hình của Út Bạch Lan được đăng rất lớn trên các trang kịch trường, ký giả Nguyễn Ang Ca viết: “Út Bạch Lan, một ngôi sao lạ vụt sáng trên vòm trời sân khấu cải lương”.
            Ký giả Trần Tấn Quốc viết: “Út Bạch Lan, một giọng ca vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe!”
            Ký giả Kiên Giang viết: “Sầu nữ Út Bạch Lan, chất giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi, đêm đêm khơi nguồn lệ của hàng ngàn khán giả ái mộ cải lương”.
            Đại diện các hãng dĩa Hồng Hoa, Hoành Sơn, Tứ Hải mời Út Bạch Lan ca thu dĩa vọng cổ. Điều bất ngờ là soạn giả Viễn Châu không được phép viết thêm bài ca vọng cổ để giới thiệu Út Bạch Lan với lý do là không được phép viết thêm khi tuồng đã kiểm duyệt. Út Bạch Lan biết có người sợ soạn giả Viễn Châu viết vọng cổ cho cô ca sẽ làm lu mờ họ nên tung tin ngăn cản.
            Ông bầu Nghĩa đoàn Thanh Minh hay tin này, mời Út Bạch Lan ký hợp đồng 150.000 đồng để Út Bạch Lan về hát. Út Bạch Lan đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Hương, Hữu Phước, Kim Anh, Thu Ba, Văn Chung, Minh Tấn, hề Kim Quang và đã có những vai hát quan trọng trong các tuồng Biên Thùy Nổi Sóng, Cánh Bướm Lửa, Tình Tráng Sĩ, Đồ Bàn Di Hận, Nhớ rừng, Cung Đàn Trên Sông Lạnh, Núi Liễu Sông Bằng, Hồi Trống Vân Lâu, Áo Gấm Khôi Nguyên, Cầu Gỗ Hoàng Mai Thôn, Người Đẹp Bạch Hoa Thôn.
            Năm 1958, Út Bạch Lan ký hợp đồng hai triệu đồng về hát cho đoàn hát Kim Chưởng, hát cặp với kép chánh Thành Được.
            Thành Được và Út Bạch Lan là một cặp diễn viên lý tưởng nhất trong hai thập niên 60, 70… Út Bạch Lan cùng với dàn diễn viên của đoàn Kim Chưởng: Thành Được, Trường Xuân, Kim Nên, Nam Hùng, Mộng Thu, Hề Minh, Phượng Liên, Diệp Lang đã ghi dấu một thời hoàng kim của cải lương với các tuồng Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Thuyền Ra Cửa Biển, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nửa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa…
            Trên sân khấu Kim Chưởng, mối tình đầu nẩy nở giữa Út Bạch Lan và Thành Được đưa tới một cuộc hôn nhơn có hôn thư giá thú đàng hoàng, cô Phùng Há đứng làm chủ hôn.
            Năm 1961, Út Bạch Lan – Thành Được rời đoàn Kim Chưởng, thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Út Bạch Lan – Thành Được, hai nghệ sĩ Phùng Há và Ba Vân làm chỉ đạo nghệ thuật. Đoàn Út Bạch Lan Thành Được có những tuồng Trảm Mã Trà, Đêm Huyền Diệu, Chân Trời Hạnh Phúc, Khi Rừng Mới Sang Thu, Bốn Mùa Hoa Nở, Bao Giờ Vườn Xứ Mưa Hoa, Cuối Đường Hoa Mộng, Thuyền Về Bến Ngự, Khi Hoa Anh Đào Nở, Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng, Sầu Qua Mấy Nhịp Cầu Duyên…
            Cuối năm 1962, đoàn Út Bạch Lan – Thành Được rã gánh, Cặp vợ chồng nghệ sĩ này về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga, hát tuồng Nửa Đời Hương Phấn của Hà Triều Hoa Phượng. Thời gian này soạn giả Viễn Châu viết tặng cho Út Bạch Lan bài vọng cổ Tâm Sự Một Loài Hoa, kề về cuộc đời nhiều gian truân của Út Bạch Lan.
            Trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, Út Bạch Lan – Thành Được hát những tuồng xã hội Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Đôi Mắt Người Xưa, Bóng Chim Tăm Cá, Ngược Dòng Sông Lỗi, Áo Cưới Trước Cổng Chùa, Ngả rẽ Tâm Tình, Đời Hai Mặt, Thầy Cai Tổng Bồi, Đời cô Nga…
            Năm 1965, hôn nhơn của Út Bạch Lan và Thành Được gãy đổ. Út Bạch Lan ký hợp đồng hát cho đoàn Kim Chung của Bầu Long. Thành Được ký hợp đồng hát cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga.
            Năm 1967, Út Bạch Lan lập gánh Tân Hoa Lan hát các tuồng Ai Cho Tôi Tình Yêu, Cỗ Xe Độc Mã, Anh Hùng Xạ Điêu, Đi Biển Một Mình.
            Sau năm 1975, Út Bạch Lan hát cho đoàn cải lương Saigon 1 rồi cô trở về quê hương Long An hát cho đoàn cải lương của tỉnh nhà.
            Trong những năm gần đây, sầu nữ Út Bạch Lan được mời sang Hoa Kỳ, hát tái ngộ với nghệ sĩ Thành Được nhân dịp Phượng Liên tổ chức kỷ niệm 45 năm sân khấu. Út Bạch Lan được khán giả hải ngoại nhiệt liệt ngợi khen giọng ca bi thảm của cô, dù tuổi trên bảy mươi, giọng hát của Út Bạch Lan vẫn êm dịu, mượt mà, thu hút tâm hồn người nghe.
            Út Bạch Lan đã quy y phật pháp, cô thường đi hát giúp gây quỹ từ thiện và hát giúp trong các lễ ở các chùa chiền. Sầu nữ Út Bạch Lan, một giọng ca hiếm có trong nền nghệ thuật Cải lương. Khán giả ái mộ gọi cô là Sầu Nữ, Nữ Hoàng Vọng Cổ, Vương Nữ Sương Chiều… hơn nửa thế kỷ qua, Út Bạch Lan đã rút hết tơ lòng để nhả cho đời những sợi tơ vàng óng ả đẹp vô ngần.


Lắng đọng gồm thâu những cuộc đời,
Vào hồn “sầu nữ” thấm tình người,
Cho nên nghệ thuật thanh xuân mãi,
Tiếng hát ngàn xa vượt tuổi trời
.

***

Nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan

            Nghệ sĩ Út Bạch Lan qua đời vào ngày 4 tháng 11 năm 2016 và tang lễ của bà tuy đơn sơ nhưng đậm tình sân khấu. Chung quanh bàn thờ bà người ta thấy hàng trăm nghệ sĩ của sân khấu cải lương cùng với những người con nuôi mà suốt đời bà che chở. Khán giả của Út Bạch Lan tuy không còn nhiều như xưa nhưng cũng đủ cho người ta thấy rằng tài năng và đức độ là hai mặt của người nghệ sĩ vẫn luôn được mọi người yêu mến, trân trọng như lúc bà bước chân ra sân khấu khóc cười với họ…

NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 8/2011


http://vi.rfi.fr/chau-a/20110821-tuoi-tho-troi-dat-cua-sau-nu-ut-bach-lan

 
The following users thanked this post: XuTramHuong

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #6 vào: 23/03/2017, 12:23:32 »
Giọng ca vàng Hữu Phước theo lời kể của soạn giả Nguyễn Phương

Mở đầu loạt bài cổ nhạc: Soạn giả Nguyễn Phương từ Canada giới thiệu giọng ca vàng của cố nghệ sĩ Hữu Phước. Vào năm 1966, Hữu Phước từng đoạt giải Diễn Viên xuất sắc nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thanh Tâm, nhờ vai bác sĩ Vũ trong vở tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương.

Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Bạch Lan

NĂM 1955, tôi là soạn giả của đoàn hát Kim Thoa của ông bà bầu Ngô Thiên Khai và nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Ngày 19 tháng 12 năm 1955, khi đoàn hát Kim Thoa khai trương vở tuồng dã sử Lấp Sông Gianh của soạn giả Kinh Luân tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, đoàn Kim Thoa bị kẻ xấu liệng lựu đạn lên sân khấu, làm chết nghệ sĩ Ba Cương, nhiếp ảnh viên Nguyễn Mai khi hai ông đang đứng bên cánh gà, ngoài ông Mai và Ba Cương ra còn có em vệ sĩ đóng quân tên Phiên chết một tuần lễ sau đó. Nghệ sĩ Duy Lân bị cắt đứt tiện một bàn chân từ mắt cá, các nghệ sĩ Sáu Thoàng, Hữu Phước, hề Minh, Văn Sa, nữ nghệ sĩ Đoàn Thiên Kim bị thương nhẹ. Vì đoàn hát bị liệng lựu đạn nên khán giả không dám đến xem hát, muốn thu hút khán giả nên mỗi đêm trước khi mở màn, đoàn hát thêm chương trình phụ diễn ca vọng cổ ngoài màn, giới thiệu hai giọng ca trẻ: đó là nghệ sĩ Hữu Phước và hề Minh.
            Năm 1956, đoàn Kim Thoa rã, tôi và Hữu Phước về cộng tác với đoàn Thanh Minh, hát thường trực tại rạp Thành Xương ở đường Yersin quận Nhứt và sau đó là đoàn Thanh Minh Thanh Nga cho đến đầu năm 1969 tôi mới chia tay với Hữu Phước để sang cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương. Lúc còn ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga, khi tôi viết tuồng Đôi Mắt Người Xưa, Bóng Chim Tăm Cá, Chuyện Tình 17, Hai Hình Bóng Một Cuộc Đời, Sông Dài, Mộng Đẹp Nửa Đời Hoa, tôi đến nhà Hữu Phước ở vài ngày. Khi tôi viết đoạn nào đắc ý hoặc các bài vọng cổ cho vai tuồng của Hữu Phước, tôi thường nhờ nhạc sĩ Ba Thu và Ba Tý, hai nhạc sĩ này ăn ở thường xuyên trong nhà Hữu Phước, đàn cho Hữu Phước ca để xem các câu vọng cổ đó có đủ mượt mà để Hữu Phước ca lấy nước mắt của khán giả chưa? Tôi cũng đã sáng tác nhiều vai em bé trong các tuồng của tôi để cho Hương Lan đóng. Lúc đó Hương Lan mới có 6 tuổi.


Nghệ sĩ Hữu Phước

            Cố nghệ sĩ Hữu Phước tên thật là Henry Trần Quang, sanh năm 1932 tại quận Châu Thành tỉnh Sóc Trăng. Cha là ông Trưởng Tòa Trần Quang Cảnh, nhạc sĩ cổ nhạc đờn vĩ cầm, thân mẫu là bà Tám Kiều, một nữ nghệ sĩ trong gánh hát Thầy Thuốc Minh ở Sóc Trăng.
            Hữu Phước khởi nghiệp cầm ca từ năm 1954, được ông Trần Hữu Lương, tức nhạc sĩ Mười Lương, chồng của nữ danh ca Năm Cần Thơ dạy ca và đặt nghệ danh Hữu Phước thay cho tên Henry Trần Quang. Nhạc sĩ Mười Lương dẫn Hữu Phước đến quán ca nhạc Họa Mi của cô Năm Cần Thơ để ca vọng cổ và cổ nhạc. Hữu Phước đã ru hồn biết bao khách mộ điệu và được chủ của các hãng dĩa Hoành Sơn, Hồng Hoa, Tứ Hải tranh nhau mời thu dĩa hát. Hữu Phước nổi danh qua các dĩa hát thu đầu tay như Mặt Trận Ái Tình của soạn giả Thu An, dĩa Tình Huynh Đệ và bộ dĩa Tỉnh Mộng, dĩa Đội Gạo Đường Xa, Gánh Nước Đêm Trăng, Tàu Đêm Năm Cũ, Đời Vũ Nữ, Tình Là Giây Oan của các tác giả Viễn Châu, Kiên Giang, Quy Sắc làm tăng thêm danh tiếng của danh ca Hữu Phước. Danh vị trong làng dĩa nhựa của Hữu Phước lên cao, vượt qua các danh ca đương thời như Việt Hùng, Tám Bằng, Thành Công, Chín Sớm, Văn Chung… có thể nói là danh ca Hữu Phước sóng đôi với vua vọng cổ Út Trà Ôn nhờ vào giọng ca vàng của Hữu Phước.
            Minh họa hai câu vọng cổ trong bài Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.

            Cao Tiệm Ly (Hữu Phước): Hãy uống nữa đi anh để rồi sau khi anh sang tận bên kia bờ Dịch Thủy, Ly ở đây sẽ vắng bóng người tri kỷ đêm từng đêm rũ rượi tiếng tiêu… sầu, Mưa gió thê lương nhỏ lệ xuống chân cầu… khóc người đi không bao giờ trở lại, để nơi này nhớ mãi hận ngàn thu. Biết lấy gì để tiễn đưa nhau, thôi thì mượn tiếng trúc với bầu rượu nóng, tiếng tơ trúc nói lên tình tri kỷ, rượu hoàng hoa sưởi ấm dạ anh hùng.
            Kinh Kha: Đa tạ, xin cám ơn Cao Tiệm Ly hiền hữu. Vâng, Kha uống cạn chung này và xin vĩnh biệt.
            Cao Tiệm Ly: Hiền hữu ơi, rồi đây mang lưỡi gươm thề vào tận đất Hàm Dương, bạn sẽ trả được thù quân quốc. Hãy cho tôi lau dòng nước mắt, bởi cạn chung này mình sẽ chia tay. Lạnh lùng trời lả tả tuyết sương bay, sầu tang tóc đất trời còn nhỏ lệ. Ly tiễn bạn bằng tiếng tiêu nức nở và ngâm câu nhất khứ bất lai hoàn. Nhổ neo rồi thuyền đã ra khơi, mưa hay lệ mịt mờ vương khói sóng. Kha ơi, Kha đã đi rồi, tận chốn phương trời tôi nhớ thương anh.

            Hữu Phước có giọng ca thật rõ ràng, âm sắc đẹp, đậm chất bi ai, nghe sâu lắng mượt mà. Giọng ngâm thơ ngọt như mật, êm như nhung như tơ. Hữu Phước có biệt tài sắp chữ ca, làm nổi bật từng ý từng lời, anh ca vuốt nhẹ khi đến chữ Hò vô vọng cổ, tiếng ca như quyện chặt vào tiếng đàn, nghe thật êm tai, thật mùi. Trong lòng câu ca, với một làn hơi dài, Hữu Phước chạy lả lướt với tốc độ ca dồn chữ, từng đợt từng đợt như những lượn sóng triền miên xô đuổi nhau, một kỹ thuật ca khiến cho người nghe có cảm giác là Hữu Phước bất chấp cả nhịp nhàng, bất chấp trường canh, khán giả e sợ Hữu Phước sẽ hụt hơi hoặc ca rớt nhưng không, trăm lần như một, khi đến dứt câu ca thì Hữu Phước dứt câu rất đúng nhịp và còn có một làn hơi ngân dài, nhỏ dần, nhỏ dần rồi như tan biến vào không gian vô tận. Lối ca của Hữu Phước không chỉ là một kỹ thuật ca điêu luyện, nhịp nhàng vững chắc mà còn có khả năng chuyển tải nội dung bài ca một cách xúc động nhất đến cho khán giả thưởng thức.
            Khán giả đã khóc với những số phận của nhân vật tuồng khi xem đoàn Thanh Minh Thanh Nga nhờ vào giọng ca vàng của Hữu Phước và của các nghệ sĩ danh ca như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Được, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hồng Nga vân vân. Hữu Phước đã được Giải thưởng Thanh Tâm tặng huy chương vàng Diễn Viên xuất sắc nhất năm 1966 qua vai bác sĩ Vũ trong tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương.


Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Trà Ôn

            Hữu Phước cũng được báo chí kịch trường tặng cho mỹ hiệu Giọng Ca Vàng và là một trong các nghệ sĩ danh ca được các bầu gánh hát, các chủ hãng dĩa ký contrat với số tiền cao nhất.
            Thời còn làm việc chung ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga, tôi biết Hữu Phước có ba người con, cô con gái đầu lòng Trần thị Ngọc Ánh. Ngọc Ánh có giọng ca trong suốt, lời ca rõ từng chữ, nhịp nhàng vững chắc. Lúc 6 tuổi, Ngọc Ánh xuất hiện đầu tiên trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga trong vai bé Lệ, con của bác sĩ Vũ tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương. Soạn giả Kiên Giang đề nghị lấy hai tên cuối của hai nữ danh ca Thanh Hương và Út Bạch Lan để đặt nghệ danh cho Ngọc Ánh, đó là chữ Hương chót của Thanh Hương ghép với chữ Lan chót của Út Bạch Lan thành tên Hương Lan.
            Hương Lan được thừa hưởng di truyền của danh ca Hữu Phước và được cha rèn luyện nên cô đã thành danh mấy chục năm qua trên địa hạt ca tân nhạc lẫn cổ nhạc. Cô cũng là một diễn viên xuất sắc của nghệ thuật sân khấu cải lương. Làn hơi ca của nữ nghệ sĩ Hương Lan mang âm hưởng giòng nước chảy, nhẹ tỏa như làn khói lam, lướt êm như cánh chim, tiềm ẩn chất giọng cổ nhạc ở miền đất phù sa trù phú của đồng bằng sông Cửu Long.
            Cô con gái kế tên là Hương Thanh, Hương Thanh cũng có giọng ca quyến rũ trong các cuộc biểu diễn văn nghệ của Cộng đồng người Việt ở thủ đô Paris, Pháp quốc. Các bạn của tôi ở Pháp cho biết Hương Thanh họp cùng ca sĩ Nguyên Lê thực hiện nhiều chương trình ca nhạc mới, mang âm hưởng ngũ cung, một dòng nhạc đẹp của thời đại tân tiến ngày hôm nay.
            Người con trai thứ ba của Hữu Phước tên Sáng. Tôi không được biết hiện nay cháu Sáng làm gì, ở đâu…
            Sau năm 1975, Hữu Phước có quốc tịch Pháp nên cả gia đình được trở về quê hương Pháp Quốc. Hữu Phước xa rời sân khấu cải lương như con cá bị vớt ra khỏi nước, hết phương vùng vẫy. Năm 1986, Hữu Phước quy tụ những nghệ sĩ cải lương đã được định cư ở nước Pháp: Minh Đức, Kiều Lệ Mai, Phương Thanh, Hà Mỹ Liên, Kim Chi, Minh Thanh, Hoàng Long để mong làm sống lại nghệ thuật cải lương ở hải ngoại.
            Một nhóm nghệ sĩ cải lương khác gồm có Minh Tâm, Tài Lương, Ngọc Lựu, Mỹ Hòa, Hùng Tiến, Chí Tâm cũng lập đoàn cải lương. Ý muốn của Hữu Phước và các nghệ sĩ khác muốn làm sống lại nghệ thuật cải lương ở Pháp là một ý rất hay nhưng không dễ gì thành công.
            Hữu Phước thương tiếc cái thời vàng son đã qua, nhiều đêm mơ về quê cũ, thấy mình vẫn còn đứng hát trên sân khấu với các bạn ngày xưa, Hữu Phước viết bốn câu vọng cổ, tự ca lên để nói nỗi niềm xa xứ và nhớ ánh đèn sân khấu.
            Minh họa bài vọng cổ “Nhựt ký đời tôi” của Hữu Phước:

            Hữu Phước:
                        Mười mấy năm rồi biệt cố hương
                        Dòng thơ ghi lại giữa đêm trường
                        Nửa đêm thức giấc, sầu xa xứ
                        Vọng hướng chân trời, để nhớ thương.
            Trải hết tâm tư lên từng trang giấy mỏng, hình ảnh thân thương chập chờn như giấc mộng, kỷ niệm ngày xưa ghi lại giữa

            (Câu 1) … đêm tàn… nhật ký đời tôi là tiếng hát cung đàn… mỗi khi chiều xuống là thấy lòng mình rạo rực, mong đến gặp bạn bè nơi hí viện từng đêm. Say đắm lòng mình qua lớp phấn son, mà sân khấu cải lương như có một linh hồn, nên mới khiến cho kẻ ly hương đêm từng đêm gục đầu tưởng nhớ.
            (Câu 2) Ôi! Nhớ vai Lý Quảng trong vở Hoa Mộc Lan bên cạnh một Thanh Nga, một chiến binh kiều diễm, mà đôi bạn tâm tình đã bao phen vào sanh ra tử, trước làn tên mũi đạn giữa chốn sa trường… Kỷ niệm ngày xưa vương vấn mãi trong lòng… một Nam tước Bảo Sinh trong Cung Đàn Trên Sông Lạnh, một bác sĩ Vũ nhân từ trong Đôi Mắt Người Xưa, Rồi từ huy chương vàng diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm, cùng một lượt với Bạch Tuyết, trong năm sáu mươi bảy, những lúc canh khuya bồi hồi nhớ lại, nước mắt trào ràn rụa giữa làn mi.
            (Nói lối) Có những lúc mơ màng trong giấc ngủ,

                          Tôi cứ ngỡ mình đang sống giữa quê hương,
                          Chợt nhớ ra mình là kẻ tha phương
                          Giữa đêm lạnh ngập ngừng bông tuyết trắng.
            Ôi! Nhớ giọng ca trầm ấm của nghệ sĩ Tám Thưa, nhớ tiếng cười vui của lão độc Hoàng Giang và giọng ca nức nở bi thương của Út Bạch Lan sầu nữ, những người anh người chị thân yêu đã dìu dắt từng bước tôi đi trên bước đường sân khấu, suốt bao năm biết mấy

            (Câu 5) … ân tình… ơn nghĩa ngày xưa ghi đậm giữa tim mình… tiếng đờn của Mười út Trần Hữu Lương như còn văng vẳng trong những đêm buồn nơi đất lạ trời xa, nhớ ngày nào mới tập tễnh học đờn ca, đứng trước khán giả sao lạ lùng bỡ ngỡ, lần đầu tiên tôi bước ra sân khấu, vở Lấp Sông Gianh, tôi nhớ mãi đến bây giờ.
            (Câu 6) … Ôi! Nhớ làm sao tiếng nhạc lời ca, nhớ khán giả, nhớ ánh đèn sân khấu, có ai còn nhớ vai Tấn trong Tấm Lòng Của Biển, hay vở Con Gái Chị Hằng trong vai cậu Tư Kiên, có đêm nằm mơ tôi thấy mình đang đứng cạnh Thanh Nga và hai tôi đang diễn vở Người Vợ Không Bao Giờ Cưới. Sơn Nữ Phà Ca gục đầu nức nở và nước mắt người yêu nghe ràn rụa thấm vai mình… Chuông giáo đường bỗng vọng tiếng ngân nga, tôi tỉnh giấc ngoài trời tuyết đổ, nơi đất khách những đêm không ngủ, tôi cứ ngỡ là mình đang diễn tuồng trên sân khấu quê hương.

            Tâm trạng của Hữu Phước có thể đại diện cho tâm trạng của những nghệ sĩ định cư ở hải ngoại. Không có đông đảo khán giả như ở Việt Nam, không có bạn diễn đồng sức đồng tài, không có soạn giả, không tác phẩm mới, nhịp điệu âm nhạc tân tiến và lối sống văn minh công nghiệp của nước ngoài cũng không phải là môi trường thuận lợi cho nghệ thuật sân khấu cải lương, tài năng như Hữu Phước và nhiều nghệ sĩ vang bóng một thời ở Việt Nam, đến xứ lạ quê người cũng phải khô cạn dần như con cá mắc cạn chờ chết khô, có vùng vẫy đôi chút, mòn mỏi nhớ thương biển rộng sông dài.
            Hữu Phước mất ngày 21 tháng 2 năm 1997 tại Paris. Khi nhắc đến giọng ca vàng Hữu Phước, các bạn nghệ sĩ cải lương Việt Nam còn nhớ lời nhà học giả Vương Hồng Sển khi nói về giọng ca của Hữu Phước, Ông Vương Hồng Sển đã nói: “Mấy mươi năm trước chưa ai ca vọng cổ hay hơn Hữu Phước, e rằng mấy mươi năm sau cũng chẳng có ai”.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 6/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110626-giong-ca-vang-huu-phuoc-theo-loi-ke-cua-soan-gia-nguyen-phuong

 
The following users thanked this post: XuTramHuong, sachlungtung

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #7 vào: 25/03/2017, 10:14:40 »
Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường

Có lẽ vì sân khấu cải lương thường diễn những vở tuồng Tàu và tuồng lịch sử, nhân vật trong tuồng có vai Vua, Hoàng Đế, Hoàng Hậu, nên các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ có thói quen khi thấy nghệ sĩ nào có tài ca hay, diễn giỏi mà họ cho là giỏi bực nhứt trong nghề thì họ tặng cho nghệ sĩ đó những mỹ danh có kèm chức vị Vua hay Hoàng Hậu trước cái tên chính của người nghệ sĩ đó. VÌ vậy sân khấu cải lương có Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hoàng Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua Xàng Xê Minh Chí, Hoàng Hậu Sân Khấu Thanh Nga, Nữ Vương Sầu Mộng Út Bạch Lan, Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường…


Nghệ sĩ Văn Hường tự giới thiệu về mình:
            “Tôi là một nông dân, một nghệ sĩ rất là nông dân, nông dân ở xã nghèo, xã Long Thạnh Mỹ. Tôi mới bèn xuống dưới Saigon ở. Đó, lúc đó thì khổ sở lắm. Đó… mới là đi học ca, mà học ca là toàn anh em dìu dắt mình học, đó chẳng hạn, rồi lúc tôi ca được thì lúc đó tôi gặp anh Văn Vĩ, anh Năm Cơ, rồi gặp nhiều anh nghệ sĩ lớn tuổi mà rất là thương yêu nghệ sĩ Văn Hường, đó… thương mới bèn đưa đi đây đi đó, đám giỗ, đám cưới gì tôi ca hết, đó… lúc đó thì ca tốt rồi đó, cái bà Lệ Liễu mới mời tôi về ở giải trí trường Lệ Liễu ca, lúc đó là quán Lệ Liễu ở giải trí trường… Đó, rồi được anh em thương, rồi bà con đều thương, đó lúc đó thì có anh Viễn Châu cũng vô đó chơi, nhậu nhẹt rồi ca hát, lúc đó anh Viễn Châu thấy Văn Hường ca được quá, mới bèn mời về hợp tác với hãng dĩa, với cái bài đầu tiên của tôi ca, đó là cái bài Đêm Tân Hôn của soạn giả Viễn Châu viết.
            Rồi cái lần hồi ảnh viết qua cái bài Tư Ếch đi Saigon, Vợ tôi nói tiếng Tây, Pháp Sư giải nghệ… nhiều bài lắm, bây giờ kể không hết được… Lần hồi cái rồi anh Bảy Cao cũng về đó hát…, đó anh Bảy Cao đoàn Hoa Sen, gặp Văn Hường, cũng vô ngồi nhậu nhẹt, rồi nói chuyện, đờn chơi, mới mời tôi hợp tác với đoàn Hoa Sen… Hát được mấy năm trời, kế Kim Chung thấy tôi hát được quá, bèn mời tôi hợp tác với đoàn Kim Chung. Lúc đó thì ký giao kèo hơi lớn đó… hà hà… rồi từ từ hát… đâu chín, mười năm, mười một năm… A ký hợp đồng với Kim Chung Hát mười mấy năm
…”

            Thông thường, nghệ sĩ tự giới thiệu mình thì ít khi có mạch lạc và chi tiết.
            Vua Vọng Cổ Hài Văn Hường tên thật là Nguyễn Văn Hường, sanh năm 1934 tại xã Long Thạnh Mỹ, huyện Thủ Đức. Cha mẹ là nông dân, có mười mấy người con mà Văn Hường là người con thứ sáu nên bạn bè gọi anh là anh Sáu Văn Hường.
            Trước năm 1975, tôi sáng tác nhiều bài ca cải lương hài hước cho Văn Hường ca thu dĩa cho hãng Capitol, tôi hỏi do đâu mà anh luyện được giọng ca đưa hơi ự ự hài hước độc đáo đó. Văn Hường cho biết là vì anh nghe danh ca Tám Thưa ca rất hay nhờ cái giọng đưa hơi ợ ợ của ảnh, nhờ đó Văn Hường nảy ra sáng kiến, chế cái tiếng ự ự thay cho cái tiếng ợ ợ, cái tiếng ự ự ăn khách dữ lắm.
            Nghệ sĩ Văn Hường trả lời đơn giản như vậy, vì nếp sống và cách suy nghĩ của Văn Hường rất đơn giản. Văn Hường không nghĩ là nếu gặp một bài ca vọng cổ có nội dung lịch sử như bài ca ca ngợi chiến thắng Đống Đa hay Trần Hưng Đạo Bình Nguyên hay một bài ca tình yêu như Lan và Điệp hay bài Đồi Thông Hai Mộ, Văn Hường có ự ự hay cách mấy thì thính giả cũng không cười được, mà nếu thính giả cười thì là cười Văn Hường làm hư nội dung bài ca. Ví dụ Văn Hường đã ca bài Đời là gì, thính giả chỉ mỉm cười vì nội dung trách hờn đời, chớ thính giả không cười rộ lên khi nghe anh ca những bài hài hước khác.
            Muốn có một bài ca vọng cổ hài hước làm cho thính giả cười lên được, phải có một sự kết hợp chặt chẽ giữa người viết bài ca, nội dung bài ca diễu, người ca sĩ có chất giọng và kỹ thuật ca diễu kết hợp với dàn đờn đờn ăn ý với người ca. Cái lối ca dùng tiếng ự ự thay cho tiếng ơ ơ chỉ là một kỹ thuật ca góp một phần nhỏ vào cách chọc cười thính giả.
            Khi khởi nghiệp cầm ca, nghệ sĩ Văn Hường được cái may mắn là gặp được soạn giả kiêm nhạc sĩ Viễn Châu. Anh Viễn Châu khám phá giọng ca lạ của Văn Hường nên viết nhiều bài ca hài để khai thác giọng ca hiếm có với nội dung viết về những trái khoáy trong xã hội từ chuyện sợ vợ, chuyện mê gái, chuyện mê tín dị đoan, đến nạn tứ đổ tường, những chuyện bình dị trong đời thường.
            Lối viết khéo léo của Viễn Châu và các tác giả chuyên viết vọng cổ hài cộng với lối ca duyên dáng dễ thương của nghệ sĩ Văn Hường đã đánh trúng tâm lý của người nghe. Trong các buổi tiệc đám cưới, đám giỗ, các buổi đờn ca tài tử, người ta bắt chước Văn Hường ca: “Một vợ thì nằm giường lèo, hai vợ thì nằm chèo queo, ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm…” (bài Năm con vợ), hoặc “Uống chi cho đã rồi lủi vô bụi cây cho chó ăn chè…” (bài tâm sự Ba xi đế).
            Sau bài vọng cổ vui đầu tiên Đêm tân hôn, Văn Hường được soạn giả Viễn Châu sáng tác cho rất nhiều bài vọng cổ hài hước như Tư Ếch đi chợ Saigon, Tư Ếch đại chiến Văn Hường, Tư Ếch coi cải lương, Tư Ếch coi hội chợ, Vợ tui tui sợ, Vợ tui nói tiếng Tây, Tôi mê tài xỉu, Văn Hường thua số đuôi, Pháp sư giải nghệ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ Táo Quân…



Văn Hường ca Vợ tui tui sợ của soạn giả Viễn Châu:
            “Hỡi những bậc nam tử tu mi, hỡi các đấng trượng phu từ thanh niên râu chí mấy cụ già lão nhược, hãy đứng lên chung lưng đấu cật mà cùng nhau sợ vợ cho vui cửa
            Vọng cổ câu 1: … vui nhà… Bà con lối xóm họ điệu thì họ kêu là mình thương vợ, còn họ ghét thì gọi là thờ bà… nhưng ở đời mà, hơi sức đâu bận tâm tới miệng lằn lưỡi mối, ăn no cái rồi bươi móc chuyện của người ta hoài vậy hà… Sách có câu Trị Quốc Tề Gia, phu phụ thuận hòa thì gia đạo mới yên, tơ hồng nguyệt lão se duyên, kẻ được vợ hiền còn người rinh con vợ dữ… ư… ư
            Câu 2: … Nói không phải khoe với anh Ba, chớ tôi dám chắc nội cái xóm Nancy nầy không có tay nào sợ vợ cho bằng Văn Hường sợ vợ hết á… nhưng cái sợ của tôi là cái sợ có sách có vở. Mà cái sợ vợ cao cấp, cái sợ vợ có nghệ thuật à… chứ đâu phải thứ sợ vợ tay mơ của mấy cha lục đục thường tài… vì hồi ban sơ mới lấy nhau, tôi nhè lỡ sợ nên tới ngày nay tôi tiếp tục sợ hoài… Vậy bà con lối xóm họ đâu có thông cảm, họ xậm xì xậm xịt, họ nói là hiếu phụ nha nha… sợ vợ như là sợ… sợ… sợ… ối, nhưng mà anh Ba ôi, tôi gẫm lại thì vợ mình mình sợ, phải hông. É chớ mình đâu có điên dại gì mình lại sợ vợ của người ta
            Câu 5: Nhỏ cũng sợ mà già cũng sợ… Sách có câu sợ vợ mới nên! Tại tôi muốn ăn ở cho đúng sách Thánh hiền, chớ thân bảy thước, ai sợ gì phụ nữ… Ủa, lạm gì mà ngó tôi rồi anh cười chúm chím, làm tôi quê quá. É Anh nhớ lại mấy lần đến thăm tôi, anh đều thấy tôi mặt mày sưng húp, mắt bầm đen và lỗ mũi ăn trầu… Ạ, đó là tại con vợ tôi nó nựng tôi hơi nặng tay, nên tôi mới bể đầu… thì đâu có sao… chết chóc gì anh Ba… Sách có câu, đèn nhà ai nấy sáng, thương nhau lắm mới đánh nhau đau, lổ đầu gẫm chẳng có sao, băng keo dán lại, lấy dầu xức vô, máu ra một lát nó khô, chớ còn cãi lại thì ô hô sanh buồn.
            Câu 6: Đọ… Anh Ba thấy hông… từ vua chúa đến thứ dân, từ khố rách áo ôm cho tới tai to mặt lớn, từ quê tới tỉnh, từ ruộng rẫy tới thị thiền, ai ai cũng sợ vợ ráo trơn ráo trọi hết, bởi vì cái vụ sợ vợ là cái sự dĩ nhiên mà anh Ba… xấu hổ gì chuyện đó… Đàn bà là sếp gia đình, Nam tử tụi mình phải rắc rắc tuân theo, Sợ nào bằng sợ vợ làm reo, nổi giận nó dám bỏ chèo queo một mình. Sách Nhị Thiên Đường có câu: Phu xướng phụ tùy, dạy một cách khác nữa là chồng phải quỳ (oui) khi vợ gọi, anh Ba ôi, nên hư số hệ nơi trời, vợ mình mình sợ, ai cười mặc ai.

            Sau 200 bài vọng cổ hài của Viễn Châu sáng tác cho Văn Hường, có rất nhiều vọng cổ hài của các tác giả khác viết khai thác giọng ca hài của Văn Hường như bài Thằng Lãnh bán heo của soạn giả Quy Sắc – hãng dĩa Hồng Hoa, bài Văn Hường đau khổ, Văn Hường ba con vợ của soạn giả Văn Giai – hãng dĩa Quê Hương, bài Già Đa dạy lái Honda, Văn Hường trúng số hụt, Ông Thần ve chai, Văn Hường làm thầy bói, Văn Hường đi Suzuki, Chàng Rể độc đắc, Ông Táo cải lương của hai soạn giả Yên Sơn và Nguyễn Phương – hãng dĩa Capitol, bài Anh hùng náo quán bia hơi của Hoàng Việt – hãng dĩa Việt Hải… đưa danh tiếng của Văn Hường đến tột đỉnh của nghệ thuật ca hài hước lúc bấy giờ.
            Viết vọng cổ thật ra không khó, nhưng muốn viết hay, có tính văn học lại là chuyện khác. Người viết biết giữ đúng lề lối, đúng khung nhạc, đúng chữ đờn cuối khung và văn chương có vần điệu là có thể sáng tác vọng cổ, nhưng viết một bài vọng cổ hài thì tác giả phải có cái nhìn sự việc độc đáo và phải biết sử dụng ngôn ngữ hài. “Nhìn sự việc độc đáo” là nhìn ra khía cạnh nào có thể châm biếm được, chọc cười người nghe, khám phá ra những hủ tục cần đả phá và phải dùng lời châm biếm nhẹ nhàng, gây cười khiến cho người nghe dù là kẻ bị châm biếm cũng phải cười mà không phật lòng, người bình thường thì tán thành lối châm biếm đó như là họ đã nhờ tác giả nói thay cho họ vậy.
            Trước danh ca hài Văn Hường, có nhiều nghệ sĩ ca hài hước vọng cổ như Hề Lập ca trong tuồng Lý Chơn Tâm cưỡi củi, hề Tư Xe trong vai Lôi Nhược ca trong tuồng San Hậu, danh ca Tám Bằng ca bài vọng cổ Thầy bói nói mò, danh ca Hồng Châu ca hài bài vọng cổ Cọp cọp, Bonjour thầy Ba… các nghệ sĩ đó dùng cách ca cà lăm để tạo tiếng cười, nhưng khi đến Văn Hường thì anh biết sáng tạo, khai thác thêm giọng ca và cách ca cho phù hợp với nội dung bài vọng cổ hài, với làn hơi độc đáo, anh sử dụng cách luyến láy, nhấn nhá, kéo dài phụ âm “R”, hoặc lên giọng thật cao, ca “sét” ở những chữ mang dấu sắc, dấu hỏi, đặc biệt câu vô với chữ “Ự… Ự” lên xuống trước khi xuống chữ hò vô vọng cổ. Ngoài ra, Văn Hường còn có một làn hơi phong phú, bộ nhịp vững chắc cho phép anh tùy ý ngân nga, chạy nhảy trong bài vọng cổ hài, vốn có những câu rất nhiều chữ và không có khoảng nghỉ lấy hơi trong lòng câu vọng cổ. Những sáng tạo của nghệ sĩ Văn Hường trở thành khuôn mẫu để những danh hài sau này bắt chước như Hề Sa, Hề Thanh Nam. Cho đến nay, chưa có nghệ sĩ ca vọng cổ hài nào tìm được sáng tạo mới, thoát khỏi cái khung mà Văn Hường đã định.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 11/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20111127-vua-vong-co-hai-van-huong

 
The following users thanked this post: XuTramHuong

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #8 vào: 28/03/2017, 08:23:29 »
Bích Thuận, nghệ sĩ tiền phong sân khấu cải lương

Nghệ sĩ cải lương dù đang còn ở trong nước hay đã định cư nơi hải ngoại, đều rất lấy làm hãnh diện có được một nghệ sĩ bậc thầy, một nghệ sĩ lão thành tiêu biểu cho nghệ thuật sân cải lương Việt Nam: Nữ nghệ sĩ Bích Thuận. Bích Thuận cũng là tấm gương sáng cho nghệ sĩ đàn em về tinh thần học hỏi trau dồi nghề nghiệp, về tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết trong giới nghệ sĩ với nhau và tinh thần biết ơn và tôn trọng khán giả.

Bích chương giới thiệu buổi diễn của nghệ sĩ Bích Thuận năm 1999 tại UNESCO (Paris)

SOẠN GIẢ Nguyễn Phương hân hạnh được gặp lại nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận, người nghệ sĩ cải lương cao niên nhất trong Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Paris nhân dịp Hội tổ chức một tiệc thân hữu đón tiếp vợ chồng Nguyễn Phương khi chúng tôi đến Paris vào ngày 12 tháng 11 năm 2006. Vào thời ấy, giọng ca Bích Thuận nổi bật trong vai Lữ Bố tuồng Phụng Nghi Đình, hát trên sân khấu Maubert Mutualité Paris.
            Lúc đó Cô Bích Thuận đã 84 tuổi, cô vẫn còn giữ được giọng ca thanh thoát và một dung nhan sắc sảo như thuở cô còn hát trên sân khấu những thập niên 50, 60. Các nữ nghệ sĩ cải lương đồng thời với cô, những nữ nghệ sĩ đã vào lứa tuổi trên 80, không có ai còn giữ được một dung nhan kiều diễm bền vững với thời gian như nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận.
            Nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận, quê ở tỉnh Bắc Ninh, quê hương của những điệu hát quan họ. Lúc lên 10 tuổi, cô Bích Thuận và em gái là Tường Vi gia nhập gánh hát Đồng Ấu Nhật Tân Ban của ông Bầu Tài ở Hà Nội. Thời đó ở Hà Nội có phong trào hát cải lương theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ, có người gọi là gánh hát cải lương hát theo điệu Saigon nghĩa là trong tuồng có ca vọng cổ Bạc Liêu, ca các bài cổ nhạc Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung, Xàng Xê, Phụng Hoàng, và các bài cổ nhạc ngắn, nói lối và ngâm thơ theo điệu Tao Đàn Saigon.
            Các đoàn cải lương hát điệu Saigon mới được thành lập gồm nhiều học viên nghệ thuật trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 15 tuổi. Các ông bầu gánh hát Đồng Ấu phỏng theo cách tổ chức của các gánh hát Tiều từ bên Tàu sang Việt Nam trình diễn ở Hà Nội, các học viên trẻ gia nhập đoàn hát của họ phải được cha mẹ làm giấy ký kết cho con học hát nơi đoàn hát đó (vì các em đều ở tuổi vị thành niên). Trong khi học hát, bầu gánh bao ăn, ở, may cho y phục và khi nào hát được trên sân khấu, học viên sẽ được phát lương tháng. Tờ cam kết có thời hạn hai năm kể từ ngày học viên hát được và có lãnh lương. Nếu chưa mãn hạn cam kết mà học viên bỏ sang gánh hát khác thì cha mẹ phải bồi thường công nuôi nấng, dạy dỗ của bầu gánh và của các nghệ sĩ đàn anh chăm sóc sân khấu đó. Thông thường giá tiền bồi thường thiệt hại cho bầu gánh nặng gấp nhiều lần hơn số tiền họ đã bỏ ra để nuôi dạy học viên trẻ, vì vậy khi một học viên trẻ được đào luyện ở đoàn Đồng Ấu nào thì thường hát ở đoàn hát đó ít nhất năm, ba năm.
            Trong thời kỳ mới đi học hát của cô Bích Thuận, tại Hà Nội có ba gánh hát Đồng Ấu nổi danh, đó là gánh hát Nhật Tân Ban của ông bầu Tài, gánh hát Quảng Lạc Ban của ông bầu kiêm họa sĩ Trần Phền, gánh hát Đồng Ấu Sán Nhiên Đài của ông bầu kiêm kép Sáu Cương. Ba ông bầu gánh Đồng Ấu này chung đậu một số tiền lớn để mua chuộc các nghệ sĩ Nam Kỳ trong đoàn hát Nghĩa Hiệp Ban để họ ở lại Hà Nội dạy cho các đoàn hát mang bảng hiệu hát cải lương ca theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ.
            Nữ nghệ sĩ Bích Thuận chỉ qua sáu tháng học ca cổ nhạc và học hát là đã đóng vai đào chánh trên sân khấu đoàn Nhật Tân Ban. Theo lời cô Bích Thuận kể lại, kỷ niệm trong đời đi hát của cô là khi học ca theo điệu nhạc tài tử Nam Kỳ, cô ca vẫn đúng theo bài bản, nhịp điệu nhưng không thể nào bắt chước được giọng Nam Kỳ. Cô ca vọng cổ trong đoàn hát Nhật Tân Ban hay đoàn Tố Như mà đa số diễn viên hát giọng Bắc, cô thấy hòa hợp và diễn xuất được tự nhiên. Khi vô Saigon hát, dầu chỉnh sửa thế nào cũng không giấu được âm hưởng Bắc trong giọng nói và câu ca. Cô chọn lối hát Quảng, hát tuồng Tàu và nổi danh qua các vai Lữ Bố, An Lộc Sơn, Triệu Tử Long.
            Sau khi hết hợp đồng với đoàn Đồng Ấu Nhật Tân Ban, nữ nghệ sĩ Bích Thuận gia nhập đoàn hát Tố Như và nổi danh là nghệ sĩ danh ca thinh sắc lưỡng toàn, đồng thời với các ngôi sao sân khấu miền Bắc như Bích Hợp, Kim Chung, Khánh Hợi, Túy Định…
            Năm 1948, khi đoàn hát Tố Như vào Nam lưu diễn, cô Bích Thuận ở lại miền Nam và lập gánh hát Bích Thuận. Hai năm sau cô giải tán đoàn hát Bích Thuận để đầu quân vô gánh hát Phụng Hảo của cô Phùng Há, và sau đó đi hát cho gánh hát Nam Phi của cô Năm Phỉ và Bảy Nam.
            Sau năm 1954, Bích Thuận lại gia nhập gánh hát Phụng Hảo 3, hát chung sân khấu với các nữ diễn viên tài danh người miền Nam như Phùng Há, Kim Thoa, Thanh Tùng, Ngọc Hải. Cô Bích Thuận và cô Phùng Há cùng hát chia vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình. Cô Tư Thanh Tùng trong vai Điêu Thuyền, kép Năm Định trong vai Đổng Trác. Trong tuồng Trường Hận, cô Bích Thuận chia vai với cô Phùng Há hát vai võ tướng An Lộc Sơn hoặc vai ông vua si tình Đường Minh Hoàng. Trong tuồng Mộng Hoa Vương, Bích Thuận để lại một ấn tượng sâu sắc cho sân khấu Saigon trong vai võ tướng Triệu Tuấn, người si mê Mộng Hoa Vương và là tình địch của sứ thần Ngô Trung Cảnh.
            Thời đó, tuồng Mộng Hoa Vương với các diễn viên tài danh vừa kể là một vở tuồng ăn khách, lấy nước mắt khán giả nhờ vào mối tình tay ba: Mộng Hoa Vương, sứ thần Ngô Trung Cảnh và võ tướng Triệu Tuấn. Kết cuộc của vở Mộng Hoa Vương, vì tranh tình mà võ tướng Triệu Tuấn so tài với Ngô Trung Cảnh, đâm chết Ngô Trung Cảnh. Triệu Tuấn – Bích Thuận tưởng đã giết chết kẻ tình địch thì sẽ cướp được tình yêu của Mộng Hoa Vương. Không ngờ Mộng Hoa Vương bỏ cả ngai vàng, chở xác người yêu xuống thuyền ra khơi trở về cố quốc của Ngô Trung Cảnh. Một cuộc tranh tình mà ba trái tim đều tan vỡ.
            Tôi còn giữ được nhiều ảnh chụp cô Bích Thuận năm 1956 trong tuồng Mộng Hoa Vương của soạn giả Tư Trang. Cô Bích Thuận đóng vai võ tướng Triệu Tuấn, người si mê Mộng Hoa Vương nhưng không được yêu lại. Nam nghệ sĩ Thanh Phong trong vai sứ thần Ngô Trung Cảnh, vai hát để đời của cố nghệ sĩ Tư Út; cô Phùng Há trong vai Mộng Hoa Vương, cô Kim Lan trong vai tướng cướp Bạch Cúc, Kim Cương trong vai nữ tướng Hồng Liên.
            Cô Bích Thuận vì là người Bắc nên ca những bài bản lớn cổ nhạc của miền Nam như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng không hay bằng các diễn viên miền Nam, nhưng bù lại thì cô Bích Thuận ca những bài hát quảng, ca những bài bản nhỏ có âm hưởng và nhịp điệu như tân nhạc của soạn giả Mộng Vân thì rất hay. Bích Thuận có điệu múa theo bộ hát Quảng, hát tuồng Tàu cũng đẹp không thua cô Phùng Há nên Bích Thuận thành công dễ dàng trong các vai tướng võ trong tuồng Tàu như vai Lữ Bố trong tuồng Phụng Nghi Đình; vai An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận, vai tiểu tướng Phùng Mậu trong tuồng Phùng Mậu hạ san; vai vua Trần Khắc Chung trong tuồng Sương Gió Chiêm Thành.
            Trước năm 1975, cô Bích Thuận được mời làm giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon, cô là một nghệ sĩ đa tài trong các bộ môn cải lương, kịch nói, ngâm thơ ba miền, ca tân nhạc và giỏi về các vũ đạo tuồng Tàu theo lối hát Quảng.
            Sau khi định cư ở Pháp vào đầu thập niên 80, Bích Thuận và phu quân, người được giới nghệ sĩ thân mật gọi là Tonton Hiếu, hai ông bà luôn luôn là những khách mời trân trọng nhứt trong các buổi họp mặt văn nghệ, những buổi giới thiệu ra mắt sách, thơ, văn… cô Bích Thuận đến những nơi có kiều bào định cư ở Hải Ngoại để trình diễn những trích đoạn tuồng cải lương nổi tiếng xưa của cô trên các sân khấu Phụng Hảo, Kim Chung. Cô ngâm thơ Tao đàn, ngâm sa mạc, ca quan họ, hát ả đào. Có khi cô thủ diễn lại vai Lữ Bố trong trích đoạn Lữ Bố Hí Điêu Thuyền với nữ nghệ sĩ Kiều Lệ Mai làm Điêu Thuyền, Minh Đức trong vai Tư Đồ Vương Doãn.
            Ngày 13 tháng 6 năm 1999, Hội Đông Y giới Việt Nam Tự Do và các môn sinh của cô Bích Thuận tổ chức vinh danh cho cô tại phòng khánh tiết Trung Tâm Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) nằm trong quận 7 Paris. Gần đây một số Hội đoàn trên đất nước Hoa Kỳ làm lễ vinh danh cho 50 năm sự nghiệp trình diễn văn nghệ của cô Bích Thuận. Cô Bích Thuận đã hát Quan Họ trong màn trẩy hội du xuân vùng Kinh Bắc, cô thủ vai Thúy Kiều trong lớp tâm sự với Thúc Sinh do nghệ sĩ Hoàng Long thủ diễn, cô cũng thủ diễn vai Trưng Trắc, múa song kiếm gợi lại hình ảnh của nghệ sĩ đàn em Thanh Nga trong tuồng Tiếng Tiếng Trống Mê Linh.
            Năm 2009, người bạn đời của nữ nghệ sĩ lão thành tài danh Bích Thuận là ông Tonton Hiếu về cõi vĩnh hằng, bạn bè nghệ sĩ Paris và các nghệ sĩ đàn em ở Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Việt Nam đã gửi thư, e mail, điện thoại chia sẻ nỗi đau đớn mất mát to lớn này với nữ nghệ sĩ tiền phong Bích Thuận.
            Nửa thế kỷ trôi qua, nữ nghệ sĩ Bích Thuận vẫn còn chói sáng một tài năng hiếm có về nhiều bộ môn nghệ thuật ca ngâm diễn xuất. Cô không những không mòn mỏi trong nghệ thuật ca diễn dầu cho tuổi đời chồng chất, Bích Thuận là hạt nhân đoàn kết của các nghệ sĩ cải lương ở Paris và ở Hải ngoại. Cô Bích Thuận có đạo Gia Tô, là người theo đạo Thiên Chúa mà vẫn luôn luôn có mặt trong các dịp cúng Tổ cải lương, khi còn ở trong nước cũng như mấy mươi năm ở hải ngoại. Cô nói “Niềm tin Chúa thì mình vẫn giữ trong lòng, còn theo nghề hát thì Tôn Sư Trọng Đạo là một đạo đức nghề nghiệp, người nghệ sĩ vẫn phải tôn trọng chứ”.
            Nghệ sĩ cải lương chúng tôi dù đang còn ở trong nước hay đã định cư nơi hải ngoại, chúng tôi rất lấy làm hãnh diện có được một nghệ sĩ bậc thầy, một nghệ sĩ lão thành tiêu biểu cho nghệ thuật sân cải lương Việt Nam. Nữ nghệ sĩ Bích Thuận cũng là tấm gương sáng cho nghệ sĩ đàn em về tinh thần học hỏi trau dồi nghề nghiệp, về tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết trong giới nghệ sĩ với nhau và tinh thần biết ơn và tôn trọng khán giả.


NGUYỄN PHƯƠNG
Tháng 2/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120226-bich-thuan-nghe-si-tien-phong-san-khau-cai-luong

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #9 vào: 30/03/2017, 12:25:10 »
Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam

Một bộ môn sân khấu phong phú và có lẽ được yêu chuộng nhất của người dân miền Nam Việt Nam là sân khấu Cải Lương. Nó phong phú ở những điểm nào? Được yêu chuộng vì lẽ gì? Đó là những khía cạnh được soạn giả lão thành Nguyễn Phương đề cập đến trong tạp chí Văn Học Nghệ Thuật kỳ này.

Soạn giả Nguyễn Phương

ĐÂY LÀ bộ môn nghệ thuật giá trị và độc đáo, vốn văn hóa của miền đồng bằng Nam Bộ mà nếu không được nhắc đến, e rằng sẽ bị mai một. Đó là một di sản văn hóa lớn trong ngành nghệ thuật sân khấu của nước Việt.
            Về vấn đề này, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Đài RFA hân hạnh được soạn giả Nguyễn Phương dành cho một cuộc phỏng vấn, xin mời quý thính giả theo dõi:

Phạm Điền: Kính chào soạn giả Nguyễn Phương. Xin ông vui lòng cho thính giả của đài RFA biết khái quát tiểu sử và kinh nghiệm trường trải của soạn giả với sân khấu cải lương cũng như việc trở thành một nhà soạn tuồng cho bộ môn này.
Nguyễn Phương: Chào ông Phạm Điền, xin chào thính giả Đài RFA. Tôi tên là Nguyễn Phương, tôi sanh ngày 1 tháng 7, 1922. Sanh quán ở làng Điều Hòa, Mỹ Tho. Tôi tốt nghiệp trường Bách nghệ Sài Gòn năm 1940, sau đó thì tôi đi học tiếp ở Hà Nội, trường Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp hai năm. Năm 1943 tôi được bổ nhiệm làm cho Sở Bưu Điện ở Sài Gòn, phòng kỹ thuật. Nhà tôi ở đường hẻm Cá Hấp ở gần rạp hát Thành Xương với đường Cầu Quang, nên tôi thường tới coi hát vậy nên tôi quen với nhiều nghệ sĩ lắm. Tới 1948 thì bạn tôi rủ tôi theo gánh hát. Gánh hát Tiếng Chuông của Bầu Căn.
            Từ năm 1948 cho tới luôn năm 1989, tôi bỏ luôn nhiệm sở theo gánh hát liên tục hơn 40 năm, tôi học viết tuồng rồi tôi trở thành soạn giả. Tôi cọng tác với các đoàn như đoàn Tiếng Chuông của Bầu Căn, Đoàn Ánh Sáng của Bầu Tập. Đoàn Diễn Kịch Năm Châu, Đoàn Kim Thoa, Đoàn Thanh Minh của Bầu Nghĩa, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga của Bầu Thơ, Đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân. Lúc đó thì tôi cũng là Trưởng Ban Cải Lương Phát Thanh Phương Nam, cải lương của Đài Phát Thanh Sài Gòn, rồi tôi là trưởng ban của Kịch Phương Nam, đài Truyền hình Sài Gòn. Tôi viết kịch thường xuyên, kịch Sống của Túy Hồng, ban kịch của Kim Cương, ban kịch của Thẩm Thúy Hằng với cái Chương Trình Lúc Không Giờ của Đài Truyền Hình do đạo diễn Lê Hoàng Hoa phụ trách.
            Về phim thì tôi là tác giả của các truyện phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, của Mỹ Vân phim. Sống Đời Tôi với Lệnh Bà Xã là của Mỹ Ảnh phim, Chàng Ngốc Gặp Hên của Trùng Dương phim, Con Ma Nhà Họ Hứa của Dạ Lý Hương phim.
            Sau năm 1975 thì tôi lại chuyên viên kỹ thuật sân khấu của các đoàn hát Thanh Nga, rồi Sài Gòn 3, đoàn Phước Chung, đoàn Hương Nam, Đoàn Sài Gòn 2.

Phạm Điền: Thưa ông Nguyễn Phương, xin cho biết ông đã soạn tất cả bao nhiêu vở tuồng rồi cho đến nay?
Nguyễn Phương: Tôi soạn hơn 100 kịch bản Cải Lương và kịch nói mà bây giờ thì tôi có thể nhớ những tác phẩm tiêu biểu như Đôi Mắt Người Xưa, Ngã Rẽ Tâm Tình, Bọt Biển, Tình Xuân Muôn Tuổi, Hoa Đồng Cỏ Nội, Tình Của Biển, Chuyện Tình 17, Tiền Rừng Bạc Biển, Chén Trà Của Quỷ…
            Năm 1989 tôi định cư ở Canada, tới nay là 15 năm rồi.

Phạm Điền: Thưa soạn giả Nguyễn Phương, ông đã có kinh nghiệm trường trải trong ngành cải lương. Ông đánh giá như thế nào về sân khấu cải lương so với các bộ môn nghệ thuật trình diễn khác.
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, đánh giá một bộ môn Cải Lương trong cái ngành nghệ thuật chung của nước mình thì đó là một việc rất lớn, bao quát, phải phân tích, phải dẫn chứng. So sánh giữa nghệ thuật Cải Lương với các bộ môn sân khấu khác, hát Bội cũng như kịch nói, kịch thì mới có thể làm nổi bật lên được cái tính ưu việt, cái tính đặc sắc của Cải Lương. Trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi như vậy đó, nhất là không đủ tài liệu để minh họa, khi đề cập đến mọi khía cạnh đặc sắc của cải lương.
            Ở nước mình đó, có nhiều người thì thích kịch nói vì cho kịch nói đó là một nghệ thuật tân tiến. Có người lớn tuổi, hoài cổ, thì thích nghệ thuật Hát Bội, vì cho đó là nghệ thuật kinh điển. Có người lại thích nghe Vọng Cổ, coi hát Cải Lương, nhưng mà ngay trong số những người thích coi hát cải lương đó thì có những người có thành kiến, cải lương là một cái gì không thật, phóng đại, đương nói bỗng ca, gần chết rồi mà còn ca vọng cổ mà. Thành ra cái vấn đề sân khấu cải lương có rất nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, nhất là cần phải bàn cho rõ quan niệm của người mình xem hát cải lương như thế nào. Những cái đặc trưng của nghệ thuật sân khấu cải lương ra sao thì mới có thể hiểu được sân khấu cải lương.
            Chắc là phải có nhiều lần nói chuyện mới từ từ nói hết được cái hay, cái đặc biệt, cái đặc sắc của cải lương. Bữa nay đó thì tui chỉ đóng khung trong cái nhìn khái quát về nghệ thuật sân khấu cải lương thôi.

Phạm Điền: Cái khung đó, nếu bây giờ nói một cách khái quát thì nó như thế nào thưa ông?
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, sân khấu cải lương là một loại hình nghệ thuật kỳ diệu, thật là kỳ diệu là bởi vì nó có rất nhiều hình thức để thực hiện rất là độc đáo. Có thể nói cuộc sống phong phú bao nhiêu thì sân khấu cải lương cũng đa dạng bấy nhiêu. Ở cải lương có đủ cả thi, ca, vũ nhạc, kịch, hội họa. Trong cách thể hiện và văn phong cải lương thì có tính cách ước lệ, tính tượng trưng, tả thực, tả ý, tả tình, lịch sử, trữ tình. Nói chung, nó là một nghệ thuật tổng hợp phong phú và hấp dẫn. Chỉ nói riêng về khả năng chuyên chở đề tài của nghệ thuật cải lương. Về khả năng chuyên chở của đề tài cải lương đó thì tôi thấy rằng nó có một sức chuyên chở vô tận.


Nghệ sĩ Ba Vân và Nghệ sĩ Phùng Há trong tuồng cải lương Khi Người Điên Biết Yêu
Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

Phạm Điền: Thưa soạn giả, như thế hẳn lịch sử cải lương cũng để lại các sắc thái đặc sắc trong quá trình hình thành của nó?
Nguyễn Phương: Tôi xin mời ông Phạm Điền và thính giả lướt qua lịch sử hình thành nghệ thuật cải lương và quá trình phát triển của nó, trong hơn 80 năm thì sẽ thấy cái đặc điểm này. Cái đặc điểm mà theo lối các loại nghệ thuật sân khấu khác là không có làm được. Cái hồi cải lương mới ra đời tôi chỉ nhắc từ năm 1910 thôi. Cải lương còn sơ khai trong cái hình thức ca rao bộ thì cải lương đã diễn ca Lục Vân Tiên Bùi Kiệm gặp Nga, những nhân vật trong Lục Vân Tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu ở trong cái thời xa xưa, nhưng mà khán giả coi hát cảm khái như là cái chuyện xảy ra trong thời đại hôm nay. Tới cái chuyện ông Trang Tử Cổ Bồn Ca của ông Mạnh Tư Trương Như Toàn nói chuyện ông Trang Tử giả chết để thử bụng dạ vợ mình.
            Chuyện là chuyện cổ bên Tàu, diễn viên ăn mặc theo y phục cổ trang. Trên sân khấu cải lương nhân vật Tàu được ca hát bằng tiếng Việt Nam, khán giả vẫn chấp nhận, thưởng thức nội dung cốt chuyện đó. Sau đó thì ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Huyền viết chuyện Phụng Nghi Đình, tuồng Quan Công Phục Huê Dung Đạo… Lữ Bố Hí Điêu Thuyền, Lữ Bố tròng ghẹo tình tứ với Điêu Thuyền, Điêu Thuyền mê hoặc Đổng Trác, rồi trong tuồng Huê Dung Đạo, Tào Tháo thua trận Xích Bích tới rớt râu sút mão, rồi ca vọng cổ quên đến mình, tưởng Tháo đã chết nên Tháo khóc một cách ngon lành.
            Chuyện ở bên Tàu đời nhà Hán cách nay mấy ngàn năm, tướng Tàu, đào Tàu đều ca vọng cổ, ca bài bản nhạc Việt Nam. Khán giả nghe như chính người Việt Nam nói chuyện với nhau. Sự khác biệt về ngôn ngữ Tàu Việt, khác về lối sống, khác vì dân tộc tính không ngăn cản được cái sự cảm thụ của khán giả khi khán giả xem tuồng Tàu dưới dạng diễn của nghệ thuật cải lương.
            Đó cũng chưa hết kỳ diệu đâu, phải kể tới cái thời ông Năm Châu, soạn giả Nguyễn Thành Châu, chuyện Tây, hết Tàu rồi bây giờ đem chuyện Tây Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ thành tuồng cải lương, d’Artagnan mặc y phục của Pháp, kể chuyện tình của hoàng hậu nước Pháp với vị quận công nước Anh, vậy mà các nhân vật nước Anh, nước Pháp đó đều ca vọng cổ, ca bài bản Việt Nam, nói tiếng Việt Nam, câu chuyện tình trên đây được chuyên chở dưới dạng cải lương thì khán giả thưởng thức một cách trọn vẹn ngọt sớt như cái chuyện đời xưa nào đó của Việt Nam, hổng phải ở đâu hết.
            Nghệ sĩ Năm Châu viết rất nhiều kịch bản lấy kịch Pháp như là Tứ Hoa Vương Nữ… Trong cái thời kỳ cải lương hát tuồng phương tây đó, nội dung cốt chuyện, tình cảm, nhân vật, nước Anh, nước Pháp, nước Tây Ban Nha. Sân khấu Việt Nam nhưng giống như người Việt Nam chánh gốc. Hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu trong Gió Ngược Chiều do nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn. Tâm tình của Hoàng Hậu Mã Nhi Nương Bửu được Thanh Nga ca vọng cổ khán giả cải lương rất là đồng cảm. Khán giả đã khóc vì cuộc đời bi thương của hoàng hậu, khán giả đã khóc vì Trà Hoa Nữ.
            Tôi thì tôi cảm giác cái hàng rào ngôn ngữ của các quốc gia khác biệt không có hiện diện khi ta đưa câu chuyện ngoại quốc vào kịch cải lương.
            Đó rồi nói tới cái thời kỳ tuồng tiên, tuồng Phật, tuồng Tôn Tẩn Bàng Quyên, Lê Huê Phá Hồng Thủy Trận, tuồng Phật Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính, Phật Nhập Niết Bàn, Thích Ca Cầu Đại Nhân, những câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Sắc Tức Thị Không, Không tức thị Sắc vô vọng cổ lúc Thái tử Sít Đạt ta bỏ hoàng thành đi, cứ ca vọng cổ thì không còn thấy dạng niệm Phật của câu tụng kinh nữa mà nó trở thành một câu vọng cổ, nghe rất là êm dịu. Cái thời đó hát rất là đông khách. Tới thời Nhật Bổn, tuồng Nhật Bổn, các nhân vật như là Khi Hoa Anh Đào Nở của Hà Triều Hoa Phượng với Tô Điền Sơn Thành Được, cái đầu trán sói bóng lưỡng, búi tóc nhỏ sau lưng, mặc áo kimono, gươm võ sĩ đạo trên lưng Tô Điền Sơn Thành Được, một kiếm sĩ Nhật Bổn ca vọng cổ nghe mùi riệu. Tới ngày nay, hơn 40 năm sau tôi còn nghe khán giả nhắc tới Tô Điền Sơn Thành Được.
            Cái nghệ thuật mà hát cải lương mới đưa được những cái đó. Hát Bội cũng thử, diễn cái tuồng Le Cid của Ưng Bình Thúc Dạ ở Huế ông viết, ông đề tựa là Nàng Chim Anh Lộ Địch, nhưng mà Hát Bội vô cái tuồng đó không hay bằng cái tuồng giá trị của Năm Châu. Có đưa thử Roméo Julliette, nhưng mà khi diễn Quan Công Phò Nhị Tẩu, hay Hán Sở Tranh Hùng thì cái kịch người ta coi thành một cái hài kịch thôi.

Phạm Điền: Thưa soạn giả, những vở tuồng có giá trị như thế có được giữ lại trong kho tài liệu văn hóa nghệ thuật hay không?
Nguyễn Phương: Tôi muốn nói thêm một điều nữa, tiếc một điều tiểu thuyết thì có ấn bản, có sách in lưu hậu thế, tuồng tích, nhiều tuồng văn chương đối thoại thiệt là hay, nhưng mà không có in thành sách cho nên khi hát xong rồi, qua một thời gian không còn lưu dấu. Mấy năm sau này thì có cái in dĩa, thu thanh, rồi DVD, nghệ sĩ trẻ còn lưu được. Một điểm nữa tôi nghĩ là các sân khấu khác không có cái đặc điểm của cải lương.
            Sân khấu cải lương sản sinh ra rất nhiều nghệ sĩ tài danh, khán giả ái mộ, tặng cho rất nhiều danh hiệu, giả tỉ như Út Trà Ôn là Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hoàng Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua vọng cổ Hài Văn Hường, Vua viết Vọng Cổ Viễn Châu, Nữ Hoàng Sân Khấu Thanh Nga, Kỳ nữ Kim Cương, Tiếng Hát Liêu Trai Mỹ Châu, Giọng ca Vàng Hữu Phước, Giọng Ca Nhung Lụa Ngọc Giàu, Hoàng Hậu Cải Lương Kim Lan, Mỹ Nhân Sân Khấu Thanh Tùng, Vua Cắc Bùm Bảy Cao, Vua Xàng Xê Minh Trí, Đệ Nhất Hương Kim Thoa, Quái Kiệt Ba Vân, Hề Râu Thanh Việt, Tô Điền Sơn Thành Được, Kép Trọc Trường Xuân, Chế Bồng Nga Hoàng Giang, Cậu Ấm Thân Việt Hùng, Phà Ca Thanh Nga…
            Quá nhiều… Chưa thấy nghệ thuật nước nào giống như nghệ thuật sân khấu cải lương, một nền nghệ thuật có thể chuyên chở tất cả những chuyện ngoại quốc và Việt Nam hóa được hết những chuyện ngoại quốc đó. Những nhân vật Tây Tàu khi vô cải lương được Việt Nam hóa rất tài tình.
            Chỉ có một cái quan điểm khán giả và nghệ thuật chưa gắn bó với nhau đó là tại sao đương hát lại ca, tới cái phút đó còn ca, điều này đó thì tôi thấy cái Opéra Pháp với Mỹ cũng ca hoài, ca liên tục, tôi thấy không có ai đặt vấn đề.

Phạm Điền: Đến đây, chúng tôi xin cảm ơn soạn giả Nguyễn Phương đã đến với tạp chí Văn Học Nghệ Thuật để cho thính giả có dịp hiểu nhiều hơn sân khấu cải lương giá trị của Việt Nam. Chào ông.


PHẠM ĐIỀN
Tháng 7/2004


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/142278-20040728.html

 
The following users thanked this post: XuTramHuong, huhu

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #10 vào: 03/04/2017, 17:26:53 »
Thanh Tòng, người dày công Việt hóa cải lương hồ quảng

Ngày 22/09/2016, Nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng từ trần, thọ 69 tuổi (theo tuổi âm lịch). Nhìn lại hơn 60 năm sự nghiệp sân khấu, ông được xem là đã có công đưa tối đa lịch sử Việt Nam vào nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ. Theo nhận xét của nhà sử học Lê Hồng Phước, nhờ có Thanh Tòng, nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ Việt Nam đã tiếp tục được đưa lên đỉnh cao và đã ngày càng được Việt hóa rõ nét.

Nghệ sĩ Thanh Tòng trong vai Lữ Bố, vở Phụng Nghi Đình

SINH RA trong một gia tộc nhiều đời gắn bó với cải lương tuồng cổ, nghệ sĩ Thanh Tòng đã đóng góp rất nhiều, từ lối diễn xuất đến nghệ thuật dàn dựng, nghiên cứu điệu bộ. Vào thập niên 1970, với Thanh Tòng, cải lương Hồ Quảng thật sự trở thành Cải lương tuồng cổ để đến gần hơn với khán giả Việt Nam, mà ở đó kịch bản ngày càng mang đậm chất sử Việt chứ không chỉ tập trung vào những tích tuồng cổ Trung Quốc.
            Nhà sử học và cũng là nhà bình luận cải lương Lê Hồng Phước trước hết nhắc lại gia tộc đã có nhiều đời gắn bó với cải lương tuồng cổ Việt Nam: Nghệ sĩ Thanh Tòng là hậu duệ của dòng họ Vĩnh-Xuân, của ông Bầu Thắng, Minh Tơ.

Lê Hồng Phước: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở miền Nam đã xuất hiện loại hình Đờn ca tài tử. Trong khi đó nghệ thuật hát bội đã có từ rất lâu đời. Thế nhưng, hát bội thì đặt nặng tính ước lệ, vẽ mặt vẽ mày rằn ri theo lối tuồng hát của Tàu mà còn hay thoại bằng chữ Nho nữa nên dần dần trở nên lỗi thời trong cái thuở văn hóa phương Tây mà đặc biệt là văn hóa Pháp đang xâm nhập rất mạnh mẽ dưới thời Pháp thuộc đầu thế kỷ XX. Ấy thế nên, cái trào lưu cải cách – sửa lại cho tốt mọi thứ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đương nhiên là ảnh hưởng đến lĩnh vực ca hát. Tức là phải “Cải lương” mọi thứ, trong đó có hát bội.
            Nhiều tài liệu kể lại rằng thuở ấy các cụ cũng tranh luận nhiều lắm về vấn đề Cải lương ngành ca hát sao cho văn minh kịp với thời đại. Mà cụ thể là phải làm sao cho ca hát trở nên gần gũi hơn với cuộc sống. Hát bội cũng phải gần hơn với cuộc sống. Thêm vào đó là lối kịch của Pháp xâm nhập vào Việt Nam cũng thu hút được sự chú ý của các nhà có đầu óc muốn cải cách lúc bấy giờ. Kịch Pháp chia thành màn thành lớp và có cốt truyện xuyên suốt dễ hiểu mà lại là biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp. Tất cả đã tạo mảnh đất tốt cho một loại hình mới ra đời vào những năm 1918-1920: tức là Cải lương. Đến năm 1920, gánh hát Tân Thịnh có treo câu đối trước rạp:


                        Cải cách hát ca theo tiến bộ
                        Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

            Cái tên Cải lương có lẽ bắt đầu được sử dụng chính thức từ đó.
            Rồi đến những năm 1940 người ta thấy bắt đầu xuất hiện trên sân khấu Cải lương những điệu hát, điệu múa theo kiểu Tàu (kiểu Quảng Đông là chủ yếu), mà dẫn đầu có lẽ là các nghệ sĩ Phùng Há, Cao Long Ngà, Năm Phỉ… Tuồng tích hát thì chủ yếu là lấy trong cổ sử Trung Quốc với những sự đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa của Nho giáo.
            Loại tuồng này về cách hóa trang thì đơn giản theo lối Cải lương, tức đơn giản hơn nhiều so với bên Hát bội, và ca thì xen lẫn hát bội và các điệu bên Cải lương. Và bắt đầu được công chúng đón nhận. Loại hình này thường được gọi là “Cải lương Hồ Quảng”. Vào những năm 1970 thì được gọi là “Cải lương tuồng cổ”, có thể được xem là một loại hình trung gian giữa Hát bội và Cải lương.
            Nghệ sĩ Thanh Tòng thuộc về một gia tộc có nhiều đời gắn bó với Cải lương tuồng cổ. Khi nhắc Cải lương tuồng cổ ở miền Nam, người ta nghĩ ngay đến hai dòng tộc nổi đình nổi đám nhất và cũng thuộc hai phong cách hát Hồ Quảng tương đối khác nhau: dòng tộc Huỳnh Long và dòng tộc bầu Thắng-Minh Tơ.
            Bên nhánh Huỳnh Long thì hiện tại có hậu duệ đang cầm trịch là nữ nghệ sĩ Bạch Mai. Nghệ sĩ Bạch Mai cũng đã có hậu duệ kế thừa xứng đáng là nữ nghệ sĩ Bình Tinh – người vừa đoạt cúp quán quân chương trình truyền hình dành cho con nhà nòi mang tên Sao Nối Ngôi.
            Bên nhánh Bầu Thắng-Minh Tơ thì có Thanh Tòng là hậu duệ cầm trịch mấy chục năm nay. Hậu duệ kế thừa Thanh Tòng là nữ nghệ sĩ Quế Trân từng được Huy chương vàng Trần Hữu Trang ở tuổi 18 và hiện tại đã được nhà nước Việt Nam phong là Nghệ sỹ Ưu Tú.
            Nói về dòng tộc Thanh Tòng, thì trước tiên là bắt đầu từ nghề Hát bội, bắt nguồn từ ông bầu Vĩnh và cô đào Xuân. Hai vị khởi nghiệp của dòng họ này có một người con trai theo nghề trứ danh từ khi còn rất trẻ, mà sau này cũng trở thành bầu là ông bầu Thắng. Sự nghiệp của bầu Thắng có lẽ bắt đầu chính thức nhất là khi sang lại đoàn hát và làm bầu vào khoảng năm 1924. Gánh hát bội của bầu Thắng ra đời và trụ tại đình Cầu Quan trên đường Yersin quận I ngày nay.
            Bầu Thắng có năm người con theo nghiệp hát: Minh Tơ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai, Bạch Cúc, Đức Phú, trong đó Minh Tơ và Khánh Hồng được biết đến nhiều nhất. Thanh Tòng là con trai của Minh Tơ. Minh Tơ, Khánh Hồng có thể được xem là thế hệ kế tiếp sau thế hệ cô Bảy Phùng Há của Cải lương Hồ Quảng.
            Nghệ sĩ Minh Tơ là người đầu tiên trong dòng tộc khai sinh ra một đoàn đồng ấu Minh Tơ dùng làm đất diễn và làm nơi truyền nghề cho con cháu trong gia tộc. Trong những năm 1990, ta thấy có nghệ sĩ Bạch Long trong dòng tộc cũng tiếp bước tiền bối thành lập đoàn đồng ấu Bạch Long đào tạo ra những diễn viên trẻ và tài năng mà trong đó có Quế Trân là con gái Thanh Tòng.
            Đến với Minh Tơ-Khánh Hồng, thì Cải lương Hồ Quảng cũng dần chuyển mình tìm kiếm những nét Việt nhiều hơn. Đến những năm 1970, ta thấy bắt đầu có sự xuất hiện cách gọi Cải lương tuồng cổ để gọi thay cho Cải lương Hồ Quảng. Tuồng cổ ở đây không chỉ là tuồng tích Tàu như Cải lương Hồ Quảng hồi trước, mà bắt đầu đưa tuồng tích của Lịch sử Việt Nam vào.
            Là con nhà nòi nên Thanh Tòng lên sân khấu từ rất sớm, ở cái tuổi lên ba lên bốn. Như vậy tính đến năm 2016 này khi Thanh Tòng mất ở cái tuổi 69 thì ông đã đứng sân khấu hơn một đời người là 60 năm.
            Nếu tính đến đời Quế Trân, thì gia tộc Thanh Tòng đã ăn cơm tổ nghiệp năm đời. Còn nếu tính luôn cháu nội Thanh Tòng hay con của Tú Sương, thì là sáu đời. Chỉ tiếc rằng, ngày nay khi Thanh Tòng nằm xuống, thế hệ kế thừa dù có tài năng, dù rất triển vọng những vẫn chưa đủ sức để kế tục sự nghiệp quá to lớn của dòng họ, nhất là trong bối cảnh Cải lương nói chung đang gặp khó khăn, và Cải lương tuồng cổ nói riêng cũng như Hát bội lại càng khó khăn.


Vậy đâu là những đóng góp của cố nghệ sĩ Thanh Tòng cho dòng nghệ thuật sân khấu cải lương tuồng cổ Việt Nam?
Lê Hồng Phước: Công lao của nghệ sỹ Thanh Tòng đối với Cải lương tuồng cổ miền Nam rất lớn. Thanh Tòng đã hát trên 60 năm, gắn bó cả đời với Cải lương tuồng cổ. Nay ông mất ở tuổi 69 cũng không phải đúng nghĩa là thọ trong thời đại khoa học tân tiến như ngày nay, bởi vậy có lẽ còn nhiều điều chưa thể thực hiện được cho Cải lương tuồng cổ nhất là đối với một nghệ sĩ tâm huyết với nghề như ông.
            Một sự nghiệp kép hát, đạo diễn, dạy hát, soạn tuồng đồ sộ như Thanh Tòng thì khó mà nói ra đây cho hết, nhưng chúng ta cũng cố gắng tóm về một vài nét chính sau để gọi là làm điểm mốc:
            – Thanh Tòng không phải là người sáng tạo ra Cải lương tuồng cổ mà chỉ là người kế thừa. Nếu tính từ thế hệ đầu của loại hình này là cô Bảy Phùng Há, thì tới Thanh Tòng là thế hệ thứ ba. Thế nhưng, có thể nói rằng, đến với Thanh Tòng thì Cải lương tuồng cổ được truyền bá mạnh mẽ nhất nhờ vào tâm huyết của ông và vào cái thời bắt đầu phát triển những phương tiện truyền thông hiện đại. Nói một cách khác, Thanh Tòng là đại diện của thế hệ phát huy đỉnh cao Cải lương tuồng cổ với rất nhiều tuồng tích do ông sáng tác hay chuyển thể và dàn dựng mà nhắc tới nhiều người dù không mê Cải lương cũng biết tới như: Bức Ngôn đồ Đại Việt, Bão Táp Nguyên Phong, Câu Thơ Yên Ngựa, Bích Vân cung kỳ án…
            – Thanh Tòng dày công đưa tối đa lịch sử Việt Nam vào Cải lương tuồng cổ chứ không chỉ hát tuồng tích Tàu như trước kia. Và rõ ràng Cải lương tuồng cổ rất phù hợp để hát những tuồng lịch sử Việt Nam bởi nó không quá ước lệ mà cách diễn cách hóa trang gần gũi cuộc sống hơn, ngôn từ cũng không khó hiểu như bên Hát bội nhưng nhờ vào quần áo mũ mão cũng uy nghi như Hát bội nên cũng diễn tả được sự uy nghi và oai hùng của những nhân vật lịch sử. Kèm vào đó có hát những bài bản của Cải lương nên cũng thu hút được người mộ điệu Cải lương. Như vậy có thể thu hút được hai bên khán giả của Hát bội và Cải lương.
            – Thanh Tòng đào tạo hay góp phần đào tạo được nhiều nghệ sĩ tuồng cổ kế thừa rất giỏi nghề. Không chỉ trong dòng tộc, mà chúng ta thấy trong cách diễn trong điệu bộ của những nghệ sĩ nổi tiếng như Tài Linh, Vũ Linh, hay Kim Tử Long thì đều có bóng dáng của Thanh Tòng.
            – Thanh Tòng dày công nghiên cứu, vun đắp điệu bộ để Cải lương tuồng cổ có được cái riêng chứ không chỉ bị hạn chế bởi điệu bộ của tuồng Tàu. Tức là ông rất tâm huyết và lúc nào cũng muốn ra sức Việt hóa hoàn toàn loại hình nghệ thuật này.


Những vai diễn để đời?
            Và ngoài những đóng góp cho sân khấu, ở hậu trường Thanh Tòng còn bỏ nhiều công sức đào tạo cho các thế hệ nghệ sĩ đi sau. Theo đánh giá của nhà sử học Lê Hồng Phước, tên tuổi của Thanh Tòng đã gắn liền với một số vai diễn, mà tới nay vẫn chưa ai sánh kịp. Điều đáng khâm phục nơi người nghệ sĩ vừa nằm xuống là dù thể hiện vai nào, trong tuồng cổ cũng như ở thể loại cải lương xã hội, ông đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng giới mộ điệu.

Lê Hồng Phước: Trong sự nghiệp ngần ấy năm thì nghệ sĩ Thanh Tòng để lại rất nhiều vai ấn tượng. Nhất là thế mạnh của Thanh Tòng là nằm ở điệu bộ (vũ đạo) và tài năng diễn xuất thượng thừa. Ở đây chúng ta có thể kể ra một số vai mà khi nhắc đến thì dù là dân không mê Cải lương cũng nghĩ ngay tới Thanh Tòng:
            – Cải lương tuồng cổ: xuất thân là con nhà nòi của Cải lương tuồng cổ, nên Thanh Tòng diễn loại hình này thì người xem chỉ biết không tiếc lời khen mà thôi. Những vai ấn tượng nhất thì có: Lữ Bố, Quan Tư Đồ (Phụng Nghi Đình phỏng theo Tam Quốc Diễn Nghĩa), Nguyễn Địa Lô (trong Bức Ngôn Đồ Đại Việt), Bao Công (trong Bích Vân cung kỳ án), và Lý Đạo Thành (trong Câu thơ yên ngựa).
            Đặc biệt nhất trong những vai đó thì có vai Lý Đạo Thành. Lớp hát Lý Đạo Thành xử tử Hoàng hậu Thượng Dương (do Thanh Tòng thủ vai Lý Đạo Thành, Bạch Lê thủ vai Ỷ Lan và Thanh Loan thủ vai Hoàng hậu Thượng Dương) là ba vai để đời của ba nghệ sĩ thuộc dòng tộc Bầu Thắng-Minh Tơ này. Đối với vai Lý Đạo Thành, Thanh Tòng đã làm khó cho thế hệ sau bởi tới ngày nay khi ông tạ thế thì lớp hậu duệ chưa có người nào đạt tới trình độ ca diễn như ông.
            Đặc biệt nhất là Thanh Tòng có khả năng diễn ánh mắt một cách thượng thừa. Ánh mắt Lý Đạo Thành khi xử Hoàng hậu Thượng Dương khiến người xem video cũng phải rùng mình và đến nay ánh mắt đó trong dòng tộc của ông cũng chưa có lớp hậu duệ kế thừa nổi. Những năm cuối đời, dù bệnh tật hoành hành, bộ tịch không còn linh hoạt nữa, nhất là bộ chân của Thanh Tòng bị hạn chế rất nhiều. Ấy thế mà ánh mắt của Thanh Tòng có vẻ ngày một lợi hại hơn trong diễn xuất!
            – Cải lương kiểu xã hội: không chỉ nổi danh diễn giỏi trong Cải lương tuồng cổ mà Thanh Tòng cũng làm mưa làm gió nhiều trong Cải lương kiểu xã hội. Những vai gắn liền với tên tuổi của ông như: Tân (Tô Ánh Nguyệt), Định (Nửa đời hương phấn), Con rể Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu)… Đặc biệt nhất là vai Tân trong Tô Ánh Nguyệt, đến hiện tại chưa thấy có ai diễn có duyên và đạt được trình độ như Thanh Tòng. Cái hay của Thanh Tòng là ở chỗ, ông là kép Tuồng cổ chánh tông, thế mà khi diễn các tuồng xã hội người ta không thể nào tìm thấy có một dấu vết Tuồng cổ nào trong cách ca diễn của ông, trong khi mà có không ít nghệ sĩ tuồng cổ khi hát Cải lương xã hội vẫn để lộ bộ tịch tuồng cổ của mình.
            Làm được như vậy, thì ngoài tài năng thiên bẩm, Thanh Tòng hẳn nhiên phải khổ luyện không ít.
            Tóm lại, nói về nghệ sĩ Thanh Tòng, theo tôi chúng ta cần nhấn mạnh một số điểm như sau: Thanh Tòng hậu duệ xứng đáng số một của dòng họ Vĩnh Xuân-Bầu Thắng-Minh Tơ. Thanh Tòng đứng hàng đầu trong việc đẩy mạnh đưa lịch sử vào tuồng cổ và góp phần không nhỏ vào việc Việt hóa tối đa Cải lương Hồ Quảng. Nói một cách công bằng thì ở miền Nam không chỉ có hai gia tộc Huỳnh Long và Minh Tơ hát tuồng cổ, mà ngày nay cũng còn khá nhiều đoàn Hát bội và hát Cải lương tuồng cổ hoạt động khá mạnh trong những dịp đển chùa cúng kiến, thế nhưng hai đại gia tộc bền bỉ nhất và xứng đáng đại diện nhất đó là Minh Tơ và Huỳnh Long.
            Thanh Tòng là đại diện hàng đầu của một trong hai đại tộc đó. Với những đóng góp của ông, Thanh Tòng thật sự là một anh hùng Cải tương Tuồng cổ miền Nam.


THANH HÀ
Tháng 9/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160924-thanh-tong-nguoi-day-cong-viet-hoa-cai-luong-ho-quang

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #11 vào: 05/04/2017, 12:06:15 »
Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga

Tôi là Ngành Mai, hôm nay lần đầu tiên được đến với thính giả trong chương trình tạp chí cổ nhạc. Trước hết tôi xin trình bày về giải Thanh Tâm nổi tiếng thời thập niên 1960, và vài nét về nữ nghệ sĩ Thanh Nga là nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên.

Cố nghệ sĩ Thanh Nga

THẬT RA thì giải Thanh Tâm khởi đầu từ năm 1958 và lần đầu tiên ấy chỉ phát cho một người, đó là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó giải được phát liên tục hằng năm, và cho đến năm cuối 1967 phát cho bốn nghệ sĩ gồm hai nam là Bảo Quốc và Phương Bình và hai nữ là Mỹ Châu và Ngọc Bích.
            Như vậy giải Thanh Tâm hoạt động đúng 10 năm. Và cho đến năm Mậu Thân 1968 thì đình chỉ luôn cho tới bấy giờ. Và theo như nhận định của nhiều người, thì giải này sẽ không bao giờ sống lại bởi hai lý do chính:
            1) Tình trạng cải lương ngày một xuống dốc và cho đến ngày nay thì chưa thấy có dấu hiệu nào khôi phục trở lại.
            2) Chủ giải là ông Trần Tấn Quốc, tức ký giả Thanh Tâm thì đã qua đời. Khó có ai đủ tư cách đứng lên dựng lại giải.

Sự ra đời của giải Thanh Tâm
            Số là thời thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn có tờ nhựt báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau nhiều năm mở trang kịch trường nói về hoạt động nghệ thuật cải lương, được độc giả yêu thích nghệ thuật sân khấu hoan nghinh và ủng hộ. Báo bán khá chạy, mỗi ngày một tăng, nhờ con số độc giả cải lương phần nhiều là giới nữ mà vốn ít khi đọc báo. Do vậy mà đến năm 1958 ông Quốc nghĩ đến chuyện cần phải có một giải thưởng cho bộ môn nghệ thuật này, bởi lúc ấy trường Quốc Gia Âm Nhạc đã không có lớp dạy về cổ nhạc cải lương, và các cơ quan văn hóa chính quyền cũng chưa chính thức ra một giải thưởng nào về bộ môn nghệ thuật này.
            Thế là ông Trần Tấn Quốc loan báo trên tờ Tiếng Dội, rằng ông cũng như tờ báo chủ trương một giải thưởng nghệ thuật lấy tên “Thanh Tâm”, tức bút hiệu viết báo của ông. Cái buổi đầu tiên nầy rất đơn giản, ban tổ chức chỉ có mỗi một mình ông Quốc đảm trách, và ban tuyển chọn, tức ban giám khảo cũng chỉ có năm người: Bà Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu là ba nghệ sĩ kỳ cựu, ông Trần Tấn Quốc (chủ giải), và ông Nguyễn Hoàng Minh (ông Minh là công chức tham gia ban tuyển chọn với tư cách khán giả ái mộ).
            Năm người chấm giải Thanh Tâm 1958 đầu tiên trên đây thì các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu và ký giả Trần Tấn Quốc đã qua đời. Riêng ông công chức Nguyễn Hoàng Minh tham gia ban tuyển chọn thì về sau không thấy xuất hiện lần nào nữa.
            Năm đầu tiên giải phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại Bồng Lai tửu quán, một nhà hàng Tàu ở ngay trung tâm Thủ Đô Sài Gòn.
            Lúc bấy giờ rất nhiều người trong giới báo chí cũng như giới cải lương đã thắc mắc nói rằng phát giải tổ chức ở nhà hàng sang trọng như vậy, ông Quốc lấy tiền đâu để tổ chức chớ, bởi tờ Tiếng Dội đâu phải là tờ báo giàu, thì tiền đâu đãi đằng thiên hạ ở tửu lầu Bồng Lai?
            Lúc ấy có nhiều người cố tình tìm hiểu sự việc nhưng chẳng hề có câu trả lời, bởi nếu có ai đó hỏi thì ông Quốc chỉ cười trừ mà thôi chớ chẳng đi vào vấn đề. Cũng có người nói tiền ấy là của đoàn Thanh Minh, nhưng lý lẽ này đã không vững, bởi thời điểm ấy bầu gánh đoàn Thanh Minh là nghệ sĩ Năm Nghĩa bị bệnh trầm kha, thuốc thang mỗi ngày, hát đêm nào đủ tiền phát cho đào kép, công nhân và chủ nợ là mừng rồi.
            Đang nợ nần thì có ai đâu tiền vay bạc hỏi thêm để đi làm cái chuyện mà theo quan niệm lúc ấy chẳng có gì thiết thực, người ta chưa có một ý niệm nào về một giải thưởng cho cải lương, giải Thanh Tâm chỉ nổi tiếng ở những năm về sau mà thôi. Bởi vậy sau này có hai lập luận, kẻ thì nói Thanh Nga nổi tiếng nhờ giải Thanh Tâm, người thì bảo giải Thanh Tâm nổi tiếng nhờ Thanh Nga, không biết cái nào đúng. Có người nói rằng cả hai lập luận trên đều đúng vậy!
            Như đã nói giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga ở Bồng Lai tửu quán đã gây bất ngờ cho giới sân khấu cải lương, cho mọi giới, bởi một rừng ký giả các báo tham dự, vì tờ báo nào ở thời điểm đó cũng được giấy mời. Lâu lắm mới có dịp được mời đi ăn cao lâu thì đâu có báo nào bỏ qua. Ngoài ra còn có các cơ quan truyền thông của chính quyền cũng hiện diện như Đài Phát Thanh Sài Gòn và Nha Điện Ảnh đến quay phim (lúc bấy giờ chưa có truyền hình).
            Mấy ngày sau đoạn phim quay cảnh giải Thanh Tâm được cho vào cuốn phim Thời Sự Việt Nam, để rồi dân chúng Thủ Đô Sài Gòn và luôn cả các tỉnh trên toàn quốc, từ thành thị đến thôn quê thiên hạ phần đông đều biết rằng Thanh Nga lãnh giải Thanh Tâm.
            Điều cần nói rõ thêm là khi xưa, thời Đệ Nhất Cộng Hòa khán giả đi coi chiếu bóng, lúc đèn vừa tắt thì tất cả được yêu cầu đứng lên chào cờ, và kế đó thì phim thời sự được chiếu trước, sau đó mới tới phim chính. Phim thời sự không những được chiếu ở hầu hết các rạp chiếu bóng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn được mấy chục xe chiếu bóng lưu động của Ty Thông Tin các tỉnh hằng đêm chạy đến các bãi đất trống ở vùng quê, chiếu miễn phí cho bà con nông thôn xem.
            Nhờ được vô cuốn phim thời sự này mà tên tuổi Thanh Nga nổi như cồn (lúc ấy cô mới 17 tuổi), cũng như nhờ vậy mà giải Thanh Tâm được nhiều người biết đến. Do phát giải Thanh Tâm lần đầu tiên quá long trọng, lại tổ chức ở tửu lầu, nên đã gây ấn tượng tốt đẹp cho những người đang hoạt động trong lãnh vực sân khấu cải lương.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/historic-tt-award-n-actress-tn-04192011152058.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #12 vào: 07/04/2017, 17:10:38 »
Giải Thanh Tâm năm thứ nhì 1959 bị xuống cấp

Tôi là Ngành Mai, hôm nay lại được hân hạnh tái ngộ quí thính giả của đài Á Châu Tự Do, và trong chương trình tạp chí cổ nhạc, tôi xin trình bày tiếp về giải Thanh Tâm của năm thứ nhì 1959. So với năm trước thì năm thứ nhì này coi như giải bị xuống cấp. Vậy thì do đâu? Và đây xin mời quí vị theo dõi.

Nghệ sĩ Hùng Minh trong vai Mã Tắc. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

SAU KHI đoạt giải Thanh Tâm 1959 thì ngôi sao Hùng Minh vụt sáng ngời, nhờ giọng ca hay, mà lại đẹp trai. Thế nhưng, chỉ một thời gian ngắn thì ngôi sao Hùng Minh mờ dần.
            Mấy năm sau các nam nghệ sĩ khác chiếm giải Thanh Tâm thì ai cũng nổi tiếng lâu dài, như Tấn Tài được hãng dĩa hát mời thu dĩa liên miên, và Thanh Tú, Thanh Sang, Diệp Lang, Phương Quang cũng được báo chí, thiên hạ nhắc nhở mỗi ngày. Tóm lại chỉ có Hùng Minh là ít khi báo chí nhắc tới.
            Thế là do đâu? Cái gì cũng có căn nguyên của nó hết!

Kép Hùng Minh
            Số là lúc Hùng Minh mới vừa nhận giải Thanh Tâm, thì đoàn Hữu Tâm của bầu Ba Khuê đang thiếu một kép ca để đóng cặp với đào Thanh Hương đang được khán giả ái mộ giọng ca, tương đương với Út Bạch Lan thời bấy giờ.
            Lúc ấy thì kép Bửu Tài đang đóng vai chánh, đóng cặp với Thanh Hương, nhưng giọng ca Bửu Tài không thể thu hút khán giả. Cũng do đó mà đoàn Hữu Tâm mất khán giả, nên bắt buộc Bửu Tài phải nhường vai chánh cho Hùng Minh.
            Hùng Minh đóng cặp với Thanh Hương đã thu hút khá đông khán giả, bữa nào cũng đông đảo khán giả đi coi, đêm nào cũng đầy rạp, dọn đến đâu cũng chật rạp và đoàn Hữu Tâm đã lấy lại phong độ, khởi sắc thấy rõ.
            Vở tuồng ăn khách nhứt lúc ấy là tuồng “Nắm Cơm Chan Máu” của hai soạn giả Bạch Diệp – Minh Nguyên, là tuồng dã sử, cốt truyện dựa vào bối cảnh thời Nhà Hậu Lê, quan phục hầu Nguyên Trãi bị tru di tam tộc, con là công tử Hồng Quỳ trốn được đổi tên Trần Ai.
            Trong vở hát này Hùng Minh đóng vai Trần Ai và Thanh Hương đóng vai nàng Đỗ Lệ. Mối tình thiên nan vạn nan của hai nhân vật chính trong tuồng đã làm hằng bao khán giả rơi lệ, thì lại cũng đồng thời đưa đến việc hai diễn viên đóng vai là Hùng Minh – Thanh Hương yêu nhau ngấm ngầm.


Nữ danh ca Thanh Hương. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

            Lúc ấy Thanh Hương đã có chồng là kép Văn Chung và đã có con với nhau. Cặp vợ chồng Văn Chung – Thanh Hương rời đoàn Hữu Tâm nhảy ra lập gánh, lấy tên hai người đặt cho bảng hiệu, và lại kéo theo Hùng Minh về đóng vai chánh. Và việc phải đến đã đến, chẳng bao lâu thì Thanh Hương tuyên bố dứt khoát với Văn Chung, cô cùng Hùng Minh lập đoàn hát lấy tên “Thanh Hương – Hùng Minh”.
            Xã hội, khán giả lúc bấy giờ đã quá khắt khe với sự việc trên, nên đoàn Thanh Hương – Hùng Minh đi đến đâu cũng bị phản đối, bị tẩy chay, đến đỗi đoàn phải dọn đi thật xa, ở những nơi hẻo lánh. Do vậy mà tên tuổi cả Hùng Minh lẫn Thanh Hương bị lu mờ ít nghe nói đến.

Đào Lan Chi
            Còn đào Lan Chi thì sau ngày lãnh giải đã theo đoàn Phước Chung, và đoàn này cũng đi hát ở những vùng thôn quê xa xôi. Tóm lại đôi nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm 1959 đã không được như các nghệ sĩ đoạt giải như mình.
            Riêng đào Thanh Hương thì đến năm 1974 khi đoàn đang hát ở một xã miền quê ở Sa Đéc thì Thanh Hương qua đời trong cảnh nghèo.
            Thanh Hương là con của nghệ sĩ Năm Châu và danh ca Tư Sạng. Cô Tư Sạng là danh ca thu thanh các dĩa hát Hoa Rơi Cửa Phật (tức Lan và Điệp), dĩa Quan Âm Thị Kính, dĩa Tình Mẫu Tử. Nhờ mang dòng máu nghệ sĩ của cha mẹ, nên Thanh Hương đã có giọng ca thu hút người nghe.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/2nd-ttam-downgraded-nmai-04232011155147.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #13 vào: 10/04/2017, 16:29:24 »
Đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt

Khoảng gần cuối năm 1954, nghĩa là sau khi Hiệp Định Genève ký kết, người ở Thủ Đô Sài Gòn, nhứt là khán giả ái mộ cải lương, bỗng thấy một đoàn hát mới từ miền Bắc xuất hiện tại Hòn Ngọc Viễn Đông. Đó là đoàn Kim Chung hay Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt đã theo làn sóng của đồng bào di cư xuôi về miền Nam Việt Nam.

Nghệ sĩ Kim Chung và ông Bầu Long

Cải lương Bắc giữa Sàigòn
            Lúc mới vào Nam, đoàn Kim Chung cũng đi lưu diễn nơi nầy nơi nọ như các gánh hát ở trong Nam. Nhưng sau một thời gian rồi về rạp Trung Ương Hí viện Aristo hát thường trực tại đây. Coi như đóng đô luôn tại địa điểm này. Về sau khi đoàn Kim Chung dời qua rạp chiếu bóng Olympic thì Hí viện Aristo trở thành nhà hàng Lê Lai.
            Lúc đầu mới vô Nam, đoàn Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt hơi kén khách. Vì sao? Phải nhìn nhận rằng khán thính giả ở miền Nam đi coi cải lương, phần đông đều thích nghe ca vọng cổ. Trong khi đó thì các nam nữ nghệ sĩ dưới bảng hiệu Kim Chung lúc bấy giờ toàn là người miền Bắc, cố nhiên, không thể nào sử dụng được bản vọng cổ có âm hưởng du dương đúng mức, đi sâu vào tâm hồn khán thính giả như nghệ sĩ miền Nam được. Vì bản này ra đời tại miền Nam, dường như chỉ đặc biệt dành cho người miền này xử dụng. Chính nghệ sĩ đoàn Kim Chung cũng nhận rõ điều đó nên về sau các cô Kim Chung, Bích Hợp, Bích Sơn, Huỳnh Thái đều cố gắng ca vọng cổ theo giọng Nam.


Bích Hợp, đệ nhất đào thương miền Bắc và Huỳnh Thái
trên sân khấu Kim Chung – 1950. Ảnh Huỳnh công Minh

            Vậy có thể nói sở dĩ lúc đầu bảng hiệu Kim Chung hơi kén khán giả (miền Nam) là do chưa ca được bản vọng cổ đúng giọng miền Nam vậy.
            Đoàn Kim Chung vô Nam gồm đào kép, nhạc sĩ, soạn giả, công nhân, (nghe nói khoảng 40 người), trong số có ba nghệ sĩ nổi tiếng nhứt là đào Kim Chung, đào Bích Hợp và kép Huỳnh Thái. Nếu như ở trong Nam nghệ sĩ Út Trà Ôn được người đời tặng cho danh hiệu đệ nhứt danh ca miền Nam, thì ở ngoài Hà Nội, nghệ sĩ Huỳnh Thái cũng được mệnh danh đệ nhất danh ca miền Bắc. Huỳnh Thái cộng tác với đoàn Kim Chung thời gian khá dài, nhưng về sau thì tách ra thành lập đoàn hát lấy tên là đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái, và đoàn này cũng bị rã gánh khoảng năm Mậu Thân.
            Mới hơn 50 tuổi Huỳnh Thái bị bệnh qua đời năm 1970. Lúc bấy giờ trong số nghệ sĩ đi đưa đám tang có người nói đùa rằng: “Nghệ sĩ Huỳnh Thái sinh Bắc tử Nam”. Nói nghe ngon như vậy, chớ lúc đó đất nước còn chia đôi bờ Bến Hải thì làm sao chết ngoài Bắc, mà phải “tử Nam” vậy thôi.

Bầu Long
            Trở lại vấn đề của đoàn Kim Chung, giám đốc là ông Bầu Long, tên thật là Trần Viết Long, sinh năm 1922 tại Hà Nội trong một gia đình giàu có. Bầu Long từng đi du học ở Pháp, ở Đức nghiên cứu rất nhiều về điện ảnh. Về nước ông Long không làm cho cơ quan nào cả, mà lại rất ái mộ cải lương, và phải lòng đào Kim Chung, để rồi cùng đứng ra thành lập đoàn Kim Chung – Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt. Thời gian sau đó Bầu Long góp tay với ông Phạm Thọ Minh thành lập thêm đoàn Kim Chung – Tiếng Chuông Vàng Hải Cảng (Hải Phòng).
            Hiệp Định Genève 1954 ra đời, chiến tranh Pháp-Việt kết thúc, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam. Nhờ đâu đoàn Kim Chung được đông khách tại rạp Aristo?
            Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, đồng bào di cư, ngoài số lớn đã đi về những nơi định cư ở các tỉnh, mà số ở Thủ Đô Sài Gòn cũng khá đông. Dĩ nhiên tất cả đồng bào di cư hồi ấy đều “thất nghiệp” 100 phần trăm. Cứ ăn rồi đi “bát phố”, song đi mãi thì cũng mỏi chân, mà mắt nhìn phố phường riết rồi cũng chán. Người ta liền nghĩ đến chuyện vào rạp hát để vừa nghỉ chân, vừa đưa mắt lên sân khấu cho đỡ buồn. Bảng hiệu Kim Chung được đồng bào di cư kéo đến ủng hộ đông đảo hằng đêm tại Trung Ương Hí viện Aristo là như thế.
            Sau thời gian hoạt động trong Nam, đoàn Kim Chung đã phát triển mạnh, lập ra nhiều gánh (từ đoàn 1 đến đoàn 6), do đó đòi hỏi phải có nhiều tuồng mới để cung ứng cho các gánh, nên ông Bầu Long đã mời nhiều soạn giả viết tuồng.


Một cảnh trong phim Kiếp Hoa chiếu ở Sàigòn năm 1958,
với nghệ sĩ Kim Chung (trái), Kim Xuân (giữa) và Trần Quang Tứ. Hình của Ngành Mai

Hòa đồng văn nghệ
            Có thể nói rằng công ty Kim Chung đã thực hiện sự “hòa đồng văn nghệ” giữa hai miền Nam Bắc vậy. Vì trong tập thể soạn giả cung cấp tuồng cho bảng hiệu Kim Chung có cả người Nam lẫn người Bắc Việt. Nhưng nếu nói riêng về sự cộng tác trước sau thì có lẽ hai soạn giả Ngọc Huyền Lan tức ký giả Nguyễn Ang Ca (chủ nhiệm nhựt báo Tin Sớm) và ký giả Hoài Ngọc đã hợp tác với Kim Chung trước nhứt. Rồi sau đó mời thêm nhiều soạn giả tên tuổi khác về cộng tác như Yên Ba, Loan Thảo, Thanh Cao, Hoài Điệp… bằng cách làm thường trực hoặc ở ngoài đưa tuồng vào. Ở đây, chúng tôi không kể hai “soạn giả ruột” của Kim Chung là Ngọc Văn và Vạn Lý, vì hai người này được xem như soạn giả thường trực của đoàn.
            Song song với việc mời các cây bút viết tuồng người miền Nam tiếp tay trong việc cung cấp tuồng tích, ban lãnh đạo đoàn Kim Chung còn mời nghệ sĩ miền Nam tham gia.
            Trên đường lối khuếch trương với mục đích vừa thương mại vừa hòa đồng dân tộc trên phương diện văn hóa và nghệ thuật cầm ca. Đã rút kinh nghiệm và cũng do nhu cầu nhân lực, ban đầu não của các đoàn Kim Chung liền “rao bảng cầu hiền” mời các nghệ sĩ gốc miền Nam về tham gia dưới bảng hiệu. Do đó nhiều nam nữ nghệ sĩ miền Nam kéo nhau về “đầu quân” cho Kim Chung. Kép ca Minh Cảnh được nổi tiếng cũng từ sân khấu nầy, và hai cô đào trẻ làm nên danh vọng (đoạt huy chương vàng Giải Thanh Tâm) là Lệ Thủy và Mỹ Châu cũng do bảng hiệu Kim Chung đào tạo.
            Ngoài ra những nam nữ nghệ sĩ miền Nam tên tuổi khác như Hùng Cường, Kim Nguyên, Thanh Hải, Út Trà Ôn, Út Hậu; các cô Kim Hoàng, Diệu Hiền, Hà Mỹ Liên, Hà Mỹ Xuân, Ngọc Bích… đều đã từng đứng “dưới cờ” công ty Kim Chung. Từ lúc có nhiều đoàn hát cùng mang một bảng hiệu Kim Chung thì nhiều đoàn trong số đó được xem như miền Nam hóa hoàn toàn, vì hầu hết nghệ sĩ công nhân trong đó đều là người miền Nam cả.
            Tôi không là ông bầu! Ông Long thường nói thế, bởi vì người ta hay gọi hai tiếng “bầu bì” liền nhau. Bì đây có nghĩa là vỏ, các ông bà bầu trong Nam trước nay hay vay nợ lập gánh, nên chỉ có cái vỏ đó thôi. Còn tôi, tôi là chủ nhân sáng lập với vốn liếng sẵn có của tôi, gánh hát khá được phần lớn cũng nhờ vốn nhà.
            Có thể bầu Long nói đúng, bởi cuốn phim “Kiếp Hoa” của đoàn Kim Chung quay ở Hồng Kông năm 1953 được đem chiếu khắp nước, nghe nói lời trên mười triệu (năm 1953-1954 mười triệu quá lớn). Bầu Long đã đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật nước nhà. Ông mất vào năm 2003 tại Sài Gòn.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/the-kim-chung-co-nmai-05152011102935.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #14 vào: 12/04/2017, 16:45:31 »
Tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” và soạn phẩm “Lan và Điệp”

Thập niên 1940, soạn giả Tư Trang, tức Trần Hữu Trang đã dựa theo cuốn “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan để soạn thành vở ca kịch “Lan và Điệp”, đưa lên sân khấu, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp. Đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính “Lan – Điệp” trở thành bất tử với thời gian.

Soạn giả Trần Hữu Trang

VẬY SAU KHI được đưa lên sân khấu rồi, Lan và Điệp còn bước sang bao nhiêu lãnh vực nghệ thuật khác nữa? Tôi xin trình bày sau đây, mời quí vị theo dõi…

Ăn khách
            Nhận thấy tuồng “Lan và Điệp” quá ăn khách với nhiều đêm hát đông nghẹt khán giả, do đó đã làm động lực cho hãng dĩa hát Asia tìm đến soạn giả Tư Trang để thương lượng thu thanh dĩa hát. Đồng thời hãng cũng yêu cầu soạn giả viết ngắn lại, làm sao cho tuồng thu ít dĩa càng tốt. Bởi trước đó các bộ dĩa “San Hậu” và “Quan Âm Thị Kính”, bộ nào cũng trên 10 dĩa nên tiêu thụ chậm, khó bán.

            Để đáp ứng yêu cầu của hãng dĩa, Tư Trang đã rút gọn tình tiết vở tuồng, bỏ bớt phần đầu nên Lan và Điệp chỉ thu thanh gọn trong 4 dĩa và đặt tên tựa là “Hoa Rơi Cửa Phật”.
            Với bộ dĩa nầy soạn giả chỉ lấy đoạn sau, từ cảnh Lan vào chùa tu – Điệp tìm đến chùa giựt chuông – Lan ra mở cổng thấy Điệp, nàng không mở cổng.
            Điệp kêu:
            – Lan mở cổng cho anh vào.
            – Không được! Anh về đi, đã hết rồi!
            Nói dứt câu, Lan đi ngược trở vô chùa – Điệp tiếp tục giựt chuông liên hồi và Lan cắt đứt dây chuông.
            Điệp thẩn thờ đành quay gót trở về. Cảnh này Tư Trang đã xử dụng bản ca “Chuồn Chuồn” cho Năm Nghĩa ca với lối vô đầu giống như vọng cổ (Năm Nghĩa là dưỡng phụ của nữ nghệ sĩ Thanh Nga).
            Lan cắt dứt dây chuông, nàng ngất xỉu và phát bệnh luôn. Bệnh mỗi ngày một nặng thêm, thuốc thang đều vô phương cứu chữa. Cho đến một ngày kia Lan biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên nàng mới xin vị hòa thượng trụ trì chứng minh cho nàng trao gởi nỗi niềm tâm sự, có nghĩa là nói hết sự thật do đâu mà nàng đi tu. Đồng thời cũng nói cho vị hòa thượng biết rằng mình là gái tên thật là Nguyễn Thị Lan, đã giả trai và mượn tên Điệp để được nhận vào chùa.
            Về phần vị hòa thượng thì nghĩ rằng, ông đã đi tu hơn 30 năm rồi, không còn muốn vương vấn, dính dáng gì đến chuyện thế gian, nên buộc lòng ông từ chối.
            Nhưng đến lúc thấy bịnh tình của Lan trầm trọng, và lúc mê sảng thường kêu gọi ba tiếng Vũ Khắc Điệp luôn. Nhớ lại sự việc trước đây Điệp đến chùa và Lan cắt dứt dây chuông, thì vị hòa thượng đã tìm ra giải pháp: Cho người đi mời Điệp đến thay thế ông đóng vai sư cụ, bằng cách cho Điệp mượn chiếc áo cà sa, giả làm hòa thượng vào hậu liêu chứng minh cho chú tiểu Huệ Minh trao gởi nỗi niềm tâm sự (Huệ Minh là pháp danh của Lan).
            Khi chú tiểu Huệ Thông đưa hòa thượng, do Điệp giả dạng với chiếc áo cà sa mượn mặc vào. Huệ Thông nói:
            – Sư cụ đã nhận lời cầu xin của huynh Huệ Minh rồi. Vậy muốn trao gởi gì thì cứ nói.
            Thế là Lan nói sự thật như trên đã nói, và cảnh nầy soạn giả Tư Trang đã xử dụng bản Nam Ai, nổi tiếng là bản ca diễn tả lúc buồn. Qua bản Nam Ai với lời ca, Lan kể sự thật xong thì hấp hối. Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa ra rồi chạy tới ôm Lan:
            – Em Lan! Anh là Điệp đây!
            Lan mệt nhọc nói tiếng còn tiếng mất:
            – Anh… Điệp. Kiếp nầy không hiệp… hẹn cùng anh theo kịp… em chờ!
            – Em Lan! Lan!
            Lan thở hơi cuối cùng trên tay Điệp.
            Đây là cảnh chót, cảnh xúc động nhứt, hàng vạn các bà, các cô đã rơi lệ ở cảnh nầy.
            Kịch bản Lan và Điệp, soạn giả Tư Trang trao cho nghệ sĩ Năm Châu lúc gánh Việt Kịch Năm Châu còn hoạt động. Đầu thập niên 1960 Tư Trang vào mật khu, người ta không biết kịch bản này nằm ở đâu, và cũng không thấy Năm Châu dàn dựng trở lại vở hát này, bởi lúc ấy Ban Năm Châu chỉ lo việc chuyển âm phim.

Thêm thắt
            Lúc bấy giờ hầu hết các gánh hát bầu tèo, tức các gánh hát nhỏ ở miền quê, do không có kịch bản chính nên đã lấy bài ca và lời đối thoại trong dĩa Hoa Rơi Cửa Phật làm nền chính, và thêm thắt vào để hát tuồng Lan và Điệp. Tuy vậy tuồng vẫn hay, khán giả vẫn đi coi.
            Có điều là đoạn đầu thì mấy gánh hát bầu tèo tùy tiện, viết sao cũng được, miễn là có cảnh Lan tiễn Điệp đi học – Điệp thi đỗ đạt bị gọi đến nhà quan Huyện, bị phục rượu say mèm và đem bỏ vô phòng Thúy Liễu – Cảnh Thúy Liễu hành tội mẹ chồng.
            Các cảnh nầy, mấy gánh hát bầu tèo muốn xử dụng bản ca nào, câu đối thoại nào thì tự viết vào rồi cho nghệ sĩ tập tuồng. Xong cho hát, bởi có ai khiếu nại gì đâu.
            Lại có cả bầu gánh ngang nhiên sửa đổi tình tiết câu chuyện mới thiệt là đáng trách hơn hết!
            Vào khoảng 1962 có gánh hát bầu tèo (không nhớ gánh tên gì) hát ở Suối Cụt, Trảng Bàng, Tây Ninh. Thay vì đoạn cuối Lan chết, thì gánh này lại cho cô Lan sống, và được vị hòa thương cho rời chùa trở lại thế gian, về sống với Điệp và vãn hát.
            Do thấy tuồng đã không đúng với sự hiểu biết của mình, nên sau khi vãn hát, một số khán giả đi ra hậu trường chất vấn ông bầu:
            – Ai cũng biết tuồng Lan và Điệp kết cuộc cô Lan chết, sao bữa nay cô Lan không chết mà lại về sống với Điệp, nghĩa là sao chớ?
            Ông bầu đang ăn cháo lòng, nhậu rượu ba xi đế, đã trả lời:
            – Bộ mấy ông bà muốn cô Lan chết phải hôn?
            – Nhưng mà tuồng nó như vậy, tôi coi tuồng Lan và Điệp cả chục lần rồi, chỉ có lần nầy cô Lan sống mà thôi.
            – Được rồi! Ngày mai đi coi, tôi cho cô Lan chết…
            Tóm lại có những vấn đề trên là do soạn giả đã không có mặt, bầu gánh muốn hát sao thì hát. Cải lương mà!
            Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành được bán khắp cùng từ Nam chí Bắc, bán cả bên Miên, trên Lèo và cả bên Pháp.
            Vài tháng sau khi dĩa hát được phát hành phổ biến khắp nơi rồi, thì cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời đem bán các chợ lớn, nhỏ từ thành thị đến thôn quê. Chính nhờ những cuốn bài ca này mà ca sĩ tài tử đâu đâu cũng thấy, tạo thành một sinh hoạt đờn ca tài tử độc đáo ở miền Nam Việt Nam.


NGÀNH MAI
Tháng5/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/lan-va-diep-nmai-05222011095636.html

 
The following users thanked this post: huhu