Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 3670 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #60 vào: 19/07/2017, 10:01:07 »
Thanh Tuấn “vua vọng cổ” bên con sông Trà

Nếu như vua vọng cổ Út Trà Ôn là người miền Nam, xuất thân từ vùng đất trù phú của giòng sông Hậu Giang, thì thế hệ sau ông cũng có một nghệ sĩ được mệnh danh “vua vọng cổ”, xuất thân từ miền Trung, Quảng Ngãi, vùng đất khô cằn, có con sông Trà chảy ngang qua.

Nghệ sĩ Thanh Tuấn. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

Giọng ca vọng cổ trữ tình
            Hai thập niên trước đó Út Trà Ôn bỏ quê hương lên Sài Gòn với hành trang mang theo là làn hơi ca vọng cổ trời cho để rồi nên sự nghiệp và tên tuổi lẫy lừng. Thì thế hệ sau Thanh Tuấn rời quê hương Quảng Ngãi, ra đi cũng chỉ mang theo làn hơi ca vọng cổ độc đáo, mà giới sành điệu gọi là làn hơi ngọt ngào, luyến láy đến… “chết người”.
            Thật vậy, Thanh Tuấn có giọng ca vọng cổ trữ tình, ca chân phương, truyền cảm rặt miền Nam, anh đã chọn cho mình lối đi riêng rẽ, không theo chân ai. Nói một cách khác giọng ca Thanh Tuấn có đường nét riêng biệt, không giống với lối ca của bất cứ ca sĩ cổ nhạc nào.
            Năm 1963 nước con sông Trà dâng lên, quê nhà của Thanh Tuấn bị một trận lũ lụt nặng và chiến tranh diễn ra, nên Thanh Tuấn rời bỏ quê hương, dù lúc ấy chỉ mới 15 tuổi. Và do hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành nghệ sĩ cải lương gắn chặt cuộc đời với nghiệp cầm ca.
            Thật ra thì lúc rời bỏ quê hương, Thanh Tuấn chưa biết ca cổ nhạc, mà anh chỉ biết ca tân nhạc lúc còn học ở trường. Lưu lạc vô Sài Gòn xin làm công cho tiệm thuốc Bắc ở đường Thuận Kiều, kế đó học nghề đan ghế mây ở đường Vĩnh Viễn. Một năm sau anh đi coi cải lương, đoàn Trăng Mùa Thu diễn tại rạp Thủ Đô, Chợ Lớn thì bắt đầu say mê cải lương, và quyết định đi học ca cổ nhạc. Ban ngày đi làm, tối đến đi học ca vọng cổ ở lò Út Trọn đường Sư Vạn Hạnh, sau đó học ca thêm với nhạc sĩ Bảy Trạch ở cầu chữ Y.
            Dịp may đưa đến, gánh hát nhỏ Bạch Liên Hoa đang tìm diễn viên, và nhạc sĩ Bảy Trạch giới thiệu Thanh Tuấn với đoàn hát. Có lẽ nhờ giọng ca thiên phú nên Thanh Tuấn được giao liền vai chánh. Thời gian sau Thanh Tuấn sang đoàn Minh Cảnh, rồi đi đoàn Hương Hoa Lan. Năm Mậu Thân đoàn này đang hát tại rạp Thăng Long, Banmêthuột. Ngay đêm giao thừa một trái đạn pháo rơi chỉ cách anh ba thước tây làm hai người thiệt mạng. Hoảng quá Thanh Tuấn ra nhà dân ở thì đêm hôm sau một trái đạn pháo nữa cũng rơi ở rạp hát. Đoàn nghỉ hát suốt nửa tháng, tiền trong túi hết sạch, anh quá giang xe đò đi Sài Gòn hát cho đoàn Hương Mùa Thu, kế đó sang đoàn Kim Chung 2 hát với Lệ Thủy và nổi tiếng luôn.
            Trong đời nghệ sĩ, Thanh Tuấn hai lần làm bầu gánh. Năm 1984 lập đoàn cải lương Cam Ranh. Do chưa có kinh nghiệm làm bầu, lại bị mưa bão tới tấp nên chỉ một mùa mưa là sạt nghiệp, lại phải làm lại từ đầu. Năm 1995 Thanh Tuấn làm bầu đoàn Cao Văn Lầu ở Cà Mau cũng gặp lúc mùa mưa, đoàn gặp khó khăn về nhân sự và tài chánh nên ngưng hoạt động, Thanh Tuấn về thành phố mở quán nghệ sĩ mang tên anh.
            Lâu nay, anh chị em trong giới cải lương ở miền Nam vẫn xem Thanh Tuấn như là “vua vọng cổ” nối gót đệ nhứt danh ca bởi từ sau Út Trà Ôn, giọng ca của anh nhiều năm sau đó và có thể luôn cả bây giờ chưa có ai thay thế được.
            Trước đây khi có dịp tiếp xúc với ông Ba Bản bầu gánh hát Thủ Đô, tôi có nghe ông kể một câu chuyện về Út Trà Ôn mà gần giống với trường hợp của Thanh Tuấn sau này. Ông nói cái hôm đệ nhứt danh ca rời đoàn nhảy ra thành lập đoàn Thống Nhứt, thì đêm ấy con số vé bán ra sụt giảm hơn phân nửa. Có nghĩa là họ chỉ nhắm vào một Út Trà Ôn để mua vé. Ông tính cho đoàn hát ngưng hoạt động, nhưng thấy khổ cho mấy chục người sẽ thất nghiệp, nên ông cố duy trì, đến khi giọng ca Thanh Hải được nhiều người ái mộ, đoàn Thủ Đô mới lấy lại phong độ.
            Và mấy chục năm sau, khán giả cũng chỉ nhắm vào một Thanh Tuấn để mua vé. Năm 1979, Thanh Tuấn hát ở đoàn Bình Minh, đoàn dọn đến hát ở Tiểu Cần huyện Cầu Kè, Trà Vinh. Đoàn quảng cáo nghệ sĩ Thanh Tuấn, Bích Hạnh diễn vở “Lửa Hồng Vạn Kiếp”. Vé đã bán hết buổi trưa hôm đó. Thanh Tuấn đến chiều mới đi xe hơi xuống hát. Thật là không may cho anh, chiếc xe cứ bị hư mấy lần trên đường đi không lăn bánh được. Tại Tiểu Cần, đoàn vắng mặt kép chánh Thanh Tuấn nên không mở màn hát được.
            Khán giả chờ đợi mãi đến 11 giờ khuya vẫn không thấy mặt Thanh Tuấn nên họ nổi giận xông vào hậu trường đập phá tan hoang, bảng hiệu bị hạ xuống, băng đơ rôn bị xé nát. Thật là một thảm cảnh đối với đoàn lưu diễn từ xưa đến nay. Đến 12 giờ khuya Thanh Tuấn mới mướn được xe kéo xe anh về đến Tiểu Cần. Hôm sau khán giả biết được tình trạng này nên đã hối tiếc hành động đêm qua. Rồi đoàn lại mướn đồ đạc để tối lại hát. Đêm đó đoàn diễn “xả giàn”, nghĩa là không thu tiền để đền bù lại đêm trước không hát. Rồi liên tiếp một tuần đoàn đều bán hết vé.
            Tuy là có trở ngại ngoài ý muốn, nhưng Thanh Tuấn cảm thấy hối hận cho trường hợp xảy ra. Đó cũng vì khán giả yêu thích mình mới ra nông nổi. Điều đó cũng giúp anh thêm kinh nghiệm, hễ càng được khán giả yêu mến thì phải cần thận trọng trong khi hành nghề.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/king-traditional-music-thanh-tuan-nm-07192013173716.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #61 vào: 21/07/2017, 09:27:25 »
Đào kép cải lương với điện ảnh

Thời kỳ trước 1975 có một dạo một số đào kép cải lương được các hãng phim mời đóng phim và tình trạng đã gây nên khủng hoảng cho nhiều đoàn hát, có một số đoàn phải chịu rã gánh, do bởi đào kép chánh rời khỏi đoàn. Ngay cả các anh hề của sân khấu cải lương và thoại kịch, chưa một kinh nghiệm nào trong lãnh vực điện ảnh, bỗng phút chốc trở thành tài tử đứng trên sàn quay. Vậy hiện tượng trên do đâu mà có? Người ta tìm hiểu và đi đến kết luận: Do lạm phát hãng phim!

Nghệ sĩ Hùng Cường và Thanh Nga trong phim Nắng Chiều

Lạm phát hãng phim
            Thật vậy, lúc bấy giờ ở Sài Gòn và tính luôn cả nước có đến hơn 50 hãng phim được cấp giấy phép hoạt động, nhưng thực tế thì chỉ trên dưới 10 hãng là có sản xuất phim mà thôi. Lúc bấy giờ nhà sản xuất phim quá thừa, trong khi tài tử lại hiếm và lãnh “cát sê” quá thấp, đó là những điều ghi nhận được về tình trạng của nền điện ảnh Việt Nam lúc ấy.
            Chính sự lạm phát nhà sản xuất đã đưa đến việc tài tử cải lương nhảy sang điện ảnh, trong số khoảng chừng 40 tài tử chuyên nghiệp lúc đó so với con số hãng phim nhiều như vậy. Do đó các nhà sản xuất phim bắt buộc phải “mượn đỡ” đào kép cải lương qua điện ảnh rất có lợi, người ta có thể lợi dụng ngay tên tuổi của đào kép đó như Hùng Cường, Thanh Nga v.v… Dù vậy, với sự tranh nhau xin giấy phép rầm rộ cũng làm cho phong trào sản xuất phim ảnh vùng lên.
            Vấn đề diễn xuất tuy có sự khác nhau giữa “sân khấu” và “ống kính” nhưng nhiều đào kép thông minh chỉ cần nhắc sơ là có thể đóng phim ngay được. Thêm vào đó ở Việt Nam đa số dân chúng bình dân rất dễ dãi khi xem chiếu bóng, vì vậy sự có mặt của đào kép cải lương sẽ làm tăng số khán giả loại này rất nhiều.
            Nếu như gặp thời gặp vận thì đào kép hát cải lương rất dễ trở thành tài tử điện ảnh, sự nghiệp lên như diều, được người đời trọng vọng và đặc biệt là những lúc có dịp trở lại thăm đoàn hát cũ, thì được mọi người trong giới nhìn mình với cặp mắt thán phục, thèm thuồng…
            Do hiện tượng đào kép cải lương nhảy sang đóng phim, nên đầu thập niên 1970, vườn hoa điện ảnh nở rộ, phong trào sản xuất phim ảnh lên cao. Nhiều cuốn phim màu với màn ảnh rộng ra đời thu hút ngày một nhiều khán giả, khiến cho giới thương mại đã không bỏ lỡ cơ hội nhảy vào kinh doanh nghệ thuật điện ảnh.
            Nhận thấy làm phim kiếm ăn được nên có nhiều tay chẳng biết gì về điện ảnh cũng nhảy ra lập hãng phim để hốt bạc. Và đây tôi xin kể ra một trường hợp:
            Một trong số những người có vốn đã nhạy bén bước vào làm ăn thật sự là bà Nguyễn Thị Thân, bà đã nhanh chân đi xin giấy phép thành lập hãng Kim Thân Film. Dù chưa từng làm ăn trong lãnh vực điện ảnh bao giờ, bà Nguyễn Thị Thân đã dám bỏ ra số vốn lớn khai thác thị trường phim ảnh, một thị trường được coi như rất dễ có lời lúc bấy giờ. Kim Thân Film đã thực hiện một cuốn phim với các tài tử chánh là đào kép cải lương, hãng phim này đã thành công theo như nhận định của giới am tường về thị trường phim ảnh thời đó.
            Tuy nhiên, một thắc mắc được đặt ra về phương thức kinh doanh của Kim Thân Film là: căn cứ vào yếu tố nào để một người chưa từng có một kinh nghiệm gì trong địa hạt điện ảnh, lại dám bỏ ra số tiền lớn lao để làm phim? (Nghe nói thì trên cả chục triệu tiền vốn bỏ ra).


Kiều Chinh và Hùng Cường trong phim Chiếc Bóng Bên Ðường

Khán giả có cảm tình
            Báo chí lúc bấy giờ kéo nhau đi tìm hiểu, họ được một trong những người thân cận với bà chủ hãng phim tiết lộ rằng, bà Nguyễn Thị Thân là nhà thương mại, nên có cái nhìn thực tế. Bà đã quan sát thị trường một cách thận trọng trước khi bỏ vốn làm ăn. Sau vài lần đi coi phim “Loan Mắt Nhung” nhận thấy khán giả rất có cảm tình với Thanh Nga, mà phần lớn lại là khán giả cải lương, thành phần mà xưa giờ chẳng mấy khi coi hát bóng. Kế đó khi đi coi phim “Chân Trời Tím”, bà Thân biết rõ Hùng Cường là mục tiêu mua vé của số khán giả vẫn thường đến rạp Quốc Thanh coi các tuồng hát của đoàn Dạ Lý Hương, do đó mới quyết định làm phim và nhắm ngay vào hai nghệ sĩ cải lương đương thời nói trên để mời.
            Hợp đồng của Hùng Cường và Thanh Nga cao gấp đôi lần đóng phim trước, nên hai nghệ sĩ này mới khước từ tất cả các hãng phim đang mời mọc để về đóng phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” cho hãng Kim Thân Film. Muốn cho vững vàng thêm, hãng đã thương lượng mời ca sĩ thuộc hàng ngũ nhạc kích động Mai Lệ Huyền, bởi thời điểm đó Hùng Cường và Mai Lệ Huyền cũng là thần tượng của giới trẻ yêu nhạc rock. Còn các nghệ sĩ Bích Thuận, Việt Hùng, Tám Vân, Bà Năm Sa Đéc thì cũng một thời được khán giả biết tên biết mặt, cùng với những Lý Quốc Mậu, Vương Vũ, Mã Dũng, Việt Châu thì làm giàn bao. Đồng thời để gây sự hiếu kỳ cho khán giả, hãng Kim Thân đã không ngại tốn kém mời thêm một tài tử Mỹ chính cống tên Gardner có mặt trong phim cho nó lạ.
            Về chuyện phim thì chọn tiểu thuyết xã hội “Mãnh Lực Đồng Tiền” của nhà văn Anh Vũ – Lê Ngọc Lê, đang được đăng trên một tờ tuần báo có nhiều người đọc. Còn phần dàn dựng thì giao cho đạo diễn Lê Mộng Hoàng, một đạo diễn kỳ cựu có nghiên cứu tâm lý khán giả miền Nam.
            Tóm lại về phần nhân sự thì hãng Kim Thân đã không ngại việc nâng cao chi phí để có thể hội đủ càng nhiều yếu tố “ăn khách” càng tốt. Sợ để chậm trễ biết đâu tình thế sẽ đổi khác, nên kế hoạch đâu đó xong xuôi hãng Kim Thân xúc tiến ngay việc thu hình với thời gian kỷ lục, để phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” kịp ra mắt khán giả vào Tháng Chín, 1971.
            Từ ngày bắt đầu việc thu hình, hãng Kim Thân đã nghĩ ngay đến vấn đề quảng cáo. Cho nên họ đã nhanh chóng mời các ký giả kịch trường đến quan sát viết bài, và khi phim sắp sửa hoàn thành thì tung ra đợt quảng cáo mạnh mẽ với hình ảnh Hùng Cường, Thanh Nga, Mai Lệ Huyền xuất hiện trên nhiều tờ báo.
            Một tuần lễ trước ngày chiếu ra mắt, hãng đã mời quan khách cùng rất đông ký giả kịch trường tham dự. Nhiều nhựt báo, tuần báo đã cùng lúc viết bài nói về cuốn phim này, do đó mà trong tuần lễ khai trương phim “Mãnh Lực Đồng Tiền”, bốn rạp lớn ở Đô Thành: Rex, Đại Nam, Văn Hoa (Sài Gòn) và Văn Hoa (ĐaKao) đã đông nghẹt người đi coi. Hãng thu lại tiền vốn khá nhanh chóng.
            Cũng theo lời những người thân cận tiết lộ thêm thì Kim Thân Film hãng cũng nghiên cứu kỹ lưỡng vấn đề “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để chọn thời điểm cho ra mắt cuốn phim. Trước tiên, film được chiếu ở Sài Gòn vào Tháng Chín, tháng này hiếm khi mưa chiều và ban ngày, mà đến quá nửa đêm mới có mưa, do đó chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đối với người đi coi hát. Hai tháng sau thì phim được đưa đi tỉnh chiếu đúng vào mùa lúa đang thu hoạch, nhà nông rảnh tay ra chợ mua sắm thì rất khó bỏ qua việc coi phim, nếu như thấy những hình ảnh Thanh Nga, Hùng Cường được treo trước rạp. Rồi thì phim được chiếu ở những rạp từng đón tiếp các đoàn hát cải lương, và chiếu dài dài cho đến Tết Nguyên Đán là thời gian các gánh cải lương đều hốt bạc.
            Đây là một sự tính toán có kế hoạch hẳn hòi, và sự thành công của hãng Kim Thân đã lôi kéo theo sự thành công của số đào kép cải lương, gặp thời vừa tiếp tục làm nghệ thuật mà thu nhập lại còn nhiều hơn lúc còn phục vụ chỉ có sân khấu cải lương thôi. Phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” thời đó được coi là một trong những phim có chi phí cao, thành công về tài chánh, nhưng không phải là một phim thành công về nghệ thuật trong lãnh vực điện ảnh.


Thẩm Thúy Hằng trong phim Sóng Tình

Hãng phim Thẩm Thúy Hằng
            Và tiếp sau đây xin nói về hãng Việt Nam phim của Thẩm Thúy Hằng, cũng mời đào kép cải lương về hãng của mình.
            Giữa thập niên 1960, cái thời kỳ đất nước luôn trong tình trạng sôi động, xáo trộn với những cuộc đảo chánh, xuống đường, giới nghiêm… thì người ta thấy trên chính trường xuất hiện một chính khách được báo chí nói đến nhiều: Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh. Và đồng thời báo chí cũng trao tặng cho ông biệt danh “người đấm bóp thời cuộc”.
            Sang đầu thập niên 1970, ông Oánh lại thêm một lần nữa cũng nổi tiếng không kém, báo chí cũng đề cập nhiều, nhưng lần này thì ông đóng vai “đấm bóp người đẹp”. Ông thành hôn với nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng, cô đào chiếu bóng được người đời tặng cho mỹ danh “người đẹp Bình Dương”, dù rằng cô ta chẳng dính dáng gì đến cái tỉnh có nhiều trái cây sầu riêng, măng cụt ở vùng Lái Thiêu, hay đồn điền cao su ngút ngàn dọc theo Quốc lộ 13.
            Đám cưới của ông Nguyễn Xuân Oánh và minh tinh Thẩm Thúy Hằng tổ chức lớn tại nhà hàng khách sạn Caravelle, khách tham dự phần lớn là những nhân vật chính quyền tại chức, chính khách đương thời và giới điện ảnh có tầm cỡ. Có điều người ta không ngờ người đẹp Bình Dương từng thành danh nhờ điện ảnh, thế mà vừa được cấp môn bài làm chủ hãng phim, Thẩm Thúy Hằng lại nhắm vào việc mời đào kép cải lương đảm nhận các vai trong phim của mình, và người ta đã thấy một giàn nghệ sĩ cải lương: Năm Châu, Phùng Há, Bảy Ngọc, Thanh Tú xuất hiện trong cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”.
            Đây là cuốn phim với lời đối thoại do nghệ sĩ Năm Châu viết, chuyện phim ở mức tầm thường. Báo chí lúc bấy giờ phê bình rằng nội dung phim là chuyện xã hội Việt Nam không phản ảnh được gì nếp sống của người Việt Nam đương thời nên phim này không thành công về mặt nghệ thuật nhưng thành công về tài chánh. Lý do? Nhờ sự có mặt của các nghệ sĩ cải lương danh tiếng, phim đã lôi kéo số khán giả cải lương thuần túy đi coi do đó mà phim “Chiều Kỷ Niệm” hốt bạc khá nhiều, chiếu ra mắt tuần đầu đã thu vào trên mười triệu, Thẩm Thúy Hằng lời to!
            Người đẹp Bình Dương từng nói: Lấy tiếng cũng phải lấy tiền là vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0727-nm-07262013133829.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #62 vào: 26/07/2017, 10:35:48 »
Khi tiệm ăn mang tên đào kép cải lương

Chuyện đào kép cải lương thất thời nhảy ra làm tiệm ăn, đồng thời lấy nghệ danh đi hát của mình đặt tên cho cửa tiệm cũng là một vấn đề để cho khán giả, thiên hạ luận bàn, phê bình không ít, theo từng quan niệm riêng của mỗi người. Do vậy buổi nói chuyện này là phản ảnh “thiên hạ sự” mà tôi ghi nhận nêu lên đây để tùy quyền phê phán của thính giả, đặc biệt là thành phần hâm mộ cải lương, có ít nhiều theo dõi về hoạt động của bộ môn nghệ thuật này.

Nghệ sĩ Thành Được

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh
            Người xưa nói “nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh”, nếu giờ đây đem ra áp dụng cho cải lương thì chắc là không khá, bởi cải lương ở thời này thì “nhất thân vinh” cái nỗi gì chớ! Từ sau cái Tết Mậu Thân cải lương ế ẩm, xuống dốc trầm trọng, đào kép thất nghiệp dài dài, nằm chờ mấy tháng vẫn không thấy dấu hiệu nào hát trở lại, thì trong làng cải lương nảy sinh ra hiện tượng đào kép đi làm nghề khác để kiếm sống, bởi không còn hy vọng gì ở sân khấu, ở tấm màn nhung mà thời gian qua đã là mảnh đất đào tạo sự nghiệp, tên tuổi của họ.
            Thật vậy, sau thời gian nhiều tháng chịu đựng mà tương lai vẫn mịt mờ, tiền vay bạc hỏi cũng không còn ai cho, nên gần như hầu hết nghệ sĩ cải lương nhà ta phải chạy tới chạy lui tìm sinh lộ. Lúc đầu thì ai nấy cũng nghĩ rằng làm nghề mới chỉ tạm thời gian thôi, chờ ngày lên sân khấu trở lại, nhưng chờ mãi từ tháng này sang năm nọ, chỉ thấy tình trạng ngày càng bi đát hơn thôi, do đó mà nghề tạm đã dần dà trở thành nghề chính từ lúc nào không hay.
            Lúc bấy giờ người ta thấy họ bung ra đi làm rất nhiều nghề như: Tài xế, đứng bến, sửa xe, hớt tóc, bán dạo, bán thuốc lá, làm thuê mướn, khuân vác… nói chung thượng vàng hạ cám gì cũng được, miễn là có cơm gạo sống qua ngày, đồng thời cũng có người giải nghệ luôn về quê làm ruộng rẫy, hoặc mua bán gì đó ở nông thôn.
            Có điều là trong thời gian chuyển sang nghề khác, có lẽ do mặc cảm nên đa số giấu đi nghề đi hát của mình, chỉ những người từng biết mặt biết tên, mới rõ biết họ là nghệ sĩ từng ở gánh hát này, đoàn hát kia, chớ hiếm khi họ tiết lộ cái nghề chính hằng đêm lên sân khấu trước đây.
            Thế nhưng, có một nghề họ không giấu giếm mà còn trương bảng hiệu nghệ danh của mình chẳng khác gì trương bảng đoàn hát, đó là: Nghề mở tiệm ăn! Không hiểu nghĩ sao mà họ lại lấy nghệ danh hát xướng của mình đặt tên cho cửa tiệm, mà vốn chẳng ăn nhập gì đến nghệ thuật sân khấu, cũng chẳng dính dáng gì đến cái nghiệp cầm ca của mình.
            Khi xưa, thời thập niên 1950 ở Sài Gòn đường Lý Thái Tổ có quán “Lệ Liễu” do nữ danh ca Lệ Liễu làm chủ, được giới yêu thích cổ nhạc hoan nghênh một thời. Về sau thì quán Lệ Liễu nằm trong Trung Tâm Giải Trí Trường Thị Nghè, và hề Văn Hường coi như xuất thân từ quán này.
            Cô Lệ Liễu, một danh ca đài phát thanh Sài Gòn thời đó, cô đã có mục tiêu rõ ràng khi lấy nghệ danh của mình đặt tên cho quán, bởi quán bán thức ăn song song với tổ chức đờn ca cổ nhạc tài tử. Quán mở mỗi ngày từ chiều cho đến quá nửa đêm, có sân khấu. Hợp tình hợp cảnh như thế nên cái tên quán “Lệ Liễu” chẳng ai thắc mắc gì.


Nghệ sĩ Ngọc Giàu, Thanh Nga và Thành Được

            Ở hải ngoại hiện nay có nghệ sĩ Thành Được, anh này mở nhà hàng dựng bảng hiệu “Thành Được Restaurant” ở San Jose miền Bắc California, và cách đây khoảng 10 năm lại mở thêm “Thành Được Restaurant” thứ hai ở khu Little Sài Gòn, Miền Nam California. Nhưng địa điểm này không thọ, chỉ thời gian ngắn là dẹp bảng không thấy nữa. Thọ sao được, quán đề tên Thành Được, mà anh kép này chỉ hiện diện có một ngày khai trương rồi biệt dạng luôn. Sao kỳ cục vậy hổng biết!
            Có người từng là khán giả đi coi hát nhiều năm qua đã nói rằng, cái tên Thành Được gắn liền với nghệ thuật, ăn sâu vào lòng khán giả, trương bảng “Thành Được” mà vào quán không thấy hơi hướng gì của rạp hát, của đờn ca cổ nhạc thì kể cũng lạ. Vào đây không thấy một kiếm sĩ Tô Điền Sơn, một tướng cướp Thy Đằng, mà chỉ thấy Thành Được làm những công việc của nhà hàng. Giờ đây có người nói rằng phải chi Thành Được tổ chức quán của mình như danh ca Lệ Liễu khi xưa thì hay biết mấy.
            Còn ở trong nước thì có nghệ sĩ Nam Hùng, anh kép độc này cũng lấy nghệ danh Nam Hùng của mình đặt tên cho tiệm phở ở đường Nguyễn Duy Dương, cũng khiến cho thiên hạ thắc mắc, rằng trong quán có ca hát gì không? Kép độc Nam Hùng nổi tiếng từ thời thập niên 1960, từng đóng vai chàng hiệp sĩ, ý trung nhân của cô gái mù do Thanh Nga đóng, trong tuồng “Tiếng Hạc Trong Trăng” của soạn giả Yên Ba.
            Nam Hùng và Thanh Thanh Hoa là đôi vợ chồng nghệ sĩ chung sống với nhau đến những hai thập niên, có lúc báo chí nói họ như “chim liền cánh, cây liền cành” nhưng về sau thì Nam Hùng “kết” với đào Tô Kim Hồng, và gặp lúc cải lương tê liệt, họ nhảy ra mở tiệm phở.
            Người ta nói rằng thấy quán Nam Hùng, vô ăn thử xem có thêm hát xướng gì không? Thật sự là chẳng hề thấy màn cảnh, áo mão, đờn trống gì hết. Thực khách nguyên là khán giả cải lương đến tiệm đã thất vọng, vì không thấy Thầy Đề (tuồng Ngao Sò Ốc Hến). Người ta nói nghệ thuật không có ở đây mà treo bảng cái tên của nghệ thuật thì quả thật là… tréo cẳng ngỗng.


Nghệ sĩ Nam Hùng và Nghệ sĩ Tô Kim Hồng

Bán quán cho đỡ buồn
            Trên đây là hai nghệ sĩ “tiêu biểu” đã lấy nghệ danh đặt tên cửa tiệm, dĩ nhiên còn nhiều nhưng khó mà biết rõ cho hết, chỉ nghe phong phanh ở nơi nào đó mà thôi. Đó là quán xá mang tên nghệ sĩ của thời kỳ sau 1975. Vậy thì trước 1975 có những đào kép nào mở tiệm ăn với bảng hiệu mang tên nghệ danh của mình? Tôi ôn lại hình ảnh xa xưa thì có đào Hà Mỹ Xuân, từng là đào chánh của đoàn “Thế Hệ Dũng Thanh Lâm”, Hương Mùa Thu, Kim Chung 6… và gặp lúc cải lương kiệt quệ thì đào Hà Mỹ Xuân về quê Long Xuyên mở tiệm nhậu lấy tên “Tri kỷ Hà Mỹ Xuân” (không biết ai là tri kỷ của cô đào này?)
            Người ta chẳng biết có phải do quán đẹp, ấm cúng, món nhậu ngon, hay là nhờ cô đào Hà Mỹ Xuân trẻ đẹp mà khách nhậu đông đảo, đều đều mỗi ngày. Tuy nhiên cô này bảo: Bán quán là bán cho đỡ buồn vậy thôi, chớ còn nhớ hát xướng quá, nên lúc nào buồn là vác rương đi hát nữa. Nói vậy chớ cải lương ngày một khốn đốn thêm lên, bởi gánh hát nào cũng sống dở chết dở, do đó mà quán nhậu “tri kỷ Hà Mỹ Xuân” vẫn còn sống nhưng không biết sống đến bao lâu.
            Một trường hợp nữa là đôi vợ chồng nghệ sĩ Phong Sắc, Lệ Hằng. Đã có một thời ai cũng biết một gánh hát nhỏ xuất xứ ở Bạc Liêu mang bảng hiệu Phong Sắc – Lệ Hằng, thường hay có mặt ở ngoại ô Đô Thành Sài Gòn, có khi cũng dám nhào vô rạp Aristo hay rạp Nguyễn Văn Hảo. Thế nhưng, sau cái đòn chỉ tử của năm Mậu Thân, gánh Phong Sắc – Lệ Hằng càng lúc càng xuống dốc, đành chịu rã gánh tại Bến Đình, Vũng Tàu.
            Thế là vợ chồng cặp đào kép này không làm sao hơn là che lều tại đây để bán cà phê sống đắp đổi, mong có ngày lập gánh lại như xưa, nhưng chừng như cái thời đã hết nên bao phen vận động mà vẫn không dựng lại nổi đoàn hát (có ai dám bỏ tiền ra cho gánh hát vay lúc này chớ!) Rồi thì sống mãi với nghề bán cà phê luôn. Anh này lấy tấm bảng gánh hát Phong Sắc – Lệ Hằng bôi bỏ chữ “đoàn ca kịch” viết lại chữ “quán cà phê”, khiến nhiều người lầm tưởng gánh hát còn, đến khi nhìn kỹ thì… thôi vô uống cà phê vậy!
            Còn trường hợp Bầu Quỳ sau khi cho giải tán đoàn Bạch Yến, anh ta ra Vũng Tàu làm quản lý cho khách sạn Ly Ly, rồi nhảy ra mướn quán Mỹ Hương ở Bãi Trước để bán cơm bán rượu. Và chỉ mấy tháng quán phát đạt quá nên trả lại quán cũ, xây lên được quán mới rộng rãi gần đó lấy tên là quán “Việt Nam – Bầu Quỳ” (làm như trong toàn cõi Việt Nam chỉ có quán anh ta là bảnh vậy). Bầu Quỳ được cái nước là chiêu hiền đãi sĩ rất tài tình, tiễn đưa rất niềm nở, và cũng nhờ cái miệng ngọt xớt như lưỡi dao lam, nên khách du lịch ai cũng thích ghé quán Bầu Quỳ để chiêm ngưỡng tài dùng dao cạo của anh.
            Bạn bè thân và khách thì ngày một nhiều hơn, những cuộc hội thảo cấp tỉnh, cấp quận nếu diễn ra ở Vũng Tàu, thì quán Bầu Quỳ là nơi hội họp đủ mặt anh hùng tứ phướng. Khách sành điệu Sài Gòn ra Vũng Tàu thì ít lắm trước hết cũng tấp vào quán Bầu Quỳ trước đã, người ta nói rằng nếu như tuồng cải lương mà Bầu Quỳ đóng vai chủ quán thì tuyệt, làm sếp nhà hàng là cái nghề của chàng! Lúc nào Bầu Quỳ cũng rất quý bạn bè, kính nể báo chí và với anh thì chẳng khi nào lại quên nhắc chuyện cải lương đã bao phen làm cho anh hoảng kinh hồn vía!
            Trên đây là một số trường hợp điển hình đào kép cải lương lấy cái tên đầy nghệ thuật đặt cho cửa hiệu, mà người ta đến đó chẳng thấy gì là nghệ thuật cả. Chỉ tội cho khách nguyên là khán giả, bởi khi vào quán thì ít nhiều gì họ cũng liên tưởng đến những màn cải lương khó quên, do người có tên trên bảng hiệu kia thủ diễn vai trò.
            Thiên hạ nói rằng bán tiệm ăn thì yếu tố để được đông khách lâu dài là phải “ngon”, chứ nếu như dùng cái tên nghệ thuật mà phục vụ không đúng mức, thì lại càng phản tác dụng thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 8/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0831-nm-08292013104805.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #63 vào: 26/07/2017, 10:54:02 »
Chuyện soạn giả cưới vợ đào hát

Lấy vợ đào hát là cả một vấn đề rắc rối, khổ tâm về sau mà người am tường về cải lương ai cũng nhận ra thế, nhưng đó là người ta muốn nói người ngoại giới xông vào lãnh chức “dượng đào”, chứ còn thì nếu như soạn giả mà lấy đào hát làm vợ thì không ai ngạc nhiên gì cả, mà người ta còn cho rằng hợp tình, hợp cảnh nữa là khác, do bởi cùng làm một nghề như nhau thì dễ thông cảm nhau hơn.

Soạn giả Yên Lang và phóng viên Thanh Hiệp tại Mỹ

Cùng một nghề, dễ thông cảm
            Vả lại cuộc tình duyên nào giữa soạn giả và đào hát cũng bắt nguồn bằng một sự rung động, có thể là nàng cảm văn chương của chàng, còn chàng thì mến giọng ca ngâm, thích cái duyên dáng qua nghệ thuật diễn xuất của nàng. Thế nhưng, những cuộc tình duyên hợp tình, hợp cảnh ấy sẽ đi đến đâu? Theo như người ta ước lượng chừng có khoảng hai phần mười cặp vợ chồng như trên là ăn ở với nhau bền bỉ mà thôi, còn thì hầu hết đều sớm hoặc muộn cũng ra rời kim cải.
            Trước hết xin đề cập đến những ai có duyên lấy đào, chừng như cũng là cái số nên trong những người mà soạn giả Mộc Linh ăn ở chính thức chỉ toàn là đào hát, mà lại trước sau đều là đào nổi tiếng. Dạo cộng tác với đoàn Thống Nhứt, soạn giả Mộc Linh phải lòng Bạch Tuyết (lúc đó chưa có biệt danh cải lương chi bảo) và sống ra mặt vợ chồng được hơn một năm.
            Đến khi sang cộng tác với gánh Kim Chưởng thì Mộc Linh mê ngay đào Thanh Nguyệt, sau khi thất bại với một cô đào khác cùng sân khấu, và lễ thành hôn chính thức được tổ chức để sau đó Mộc Linh, Thanh Nguyệt sống êm ấm một thời gian dài. Họ đã có con cái với nhau, cho nên dầu Mộc Linh đã bỏ nghề viết tuồng để nhảy vào làng báo, và Thanh Nguyệt vẫn còn cố theo đuổi nghệ thuật sân khấu.
            Người ta tưởng đâu rằng đôi vợ chồng này sẽ ăn đời ở kiếp được, do sự ràng buộc chặt chẽ giữa họ với nhau là hôn lễ và con cái, nhưng rồi họ cũng xa nhau. Có cái ngộ là trước sau hai cô đào nên duyên với Mộc Linh đều có huy chương vàng Giải Thanh Tâm, vì thế người ta thường gọi Mộc Linh là “dượng huy chương vàng!”


Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng Phạm Duy Lân

            Kế đến là trường hợp soạn giả Thu An và đào Ngọc Hương, vụ này đã gây xôn xao trong làng cải lương một dạo, và khiến cho Thu An, Ngọc Hương phải rời bỏ đoàn Thủ Đô lánh mặt một thời gian, để rồi sang cộng tác với đoàn Kim Chưởng. Cuộc theo đuổi của Thu An đối với Ngọc Hương có phần hơi lâu và khá công phu, bởi lúc đầu nghe đâu gia đình Ngọc Hương không tán thành. Trong khi đó người vợ thứ nhì của Thu An cũng tích cực khuấy rối. Nhưng cuối cùng mọi trở ngại đều được san bằng để họ trở thành vợ chồng, đã có con cái, sự nghiệp với nhau.
            Người ta có lý do thể tin rằng họ sẽ ăn đời, ở kiếp với nhau được. Đôi khi có nghe những xích mích vụn vặt xảy ra giữa đôi vợ chồng này, nhưng đó chỉ là những cơn gió mùa Hè cho thêm mát mẻ, có nghĩa là có xích mích vậy để sau đó họ lại khắng khít với nhau hơn. Thật vậy, cặp Thu An, Ngọc Hương lâu bền mấy chục năm, và trước đây nhân dịp về nước thăm nhà, tôi có đến thăm Thu An lúc ông bệnh nặng, Ngọc Hương tận tình chăm sóc, và vài tháng sau thì nghe tin ông vĩnh viễn ra đi với tuổi đời ngoài 80 tại Gò Vấp.
            Nếu như soạn giả Mộc Linh có duyên lấy đào hát, thì ngược lại đào Trương Ánh Loan lại có duyên lấy chồng là soạn giả. Lúc đầu Trương Ánh Loan kết duyên với soạn giả Tây Giang Tử và qua một thời gian sống rất êm ấm có con cái vài đứa với nhau, thì soạn giả nhà ta vì bận binh nghiệp nên không còn viết tuồng nữa, thế là vợ chồng dần dần xa nhau để rồi sau cùng dứt khoát duyên nợ. Kế đó Trương Ánh Loan làm lại cuộc đời với soạn giả Viễn Hùng, người ta tưởng rằng cặp này sẽ lâu bền, không ngờ biến cố Mậu Thân xảy ra, chồng cộng tác một nơi, vợ cộng tác một ngả, để rồi Trương Ánh Loan rời bỏ luôn sân khấu đi làm nghề khác và cũng chào lui với Viễn Hùng, khiến anh này thở phào chán nản. Vậy là huề, và cũng từ đó Viễn Hùng thề không bao giờ kiếm vợ đào hát nữa, Viễn Hùng thường than vãn với bạn bè rằng: Khổ lắm đó các cha ơi! Khó lòng lắm, giải thích không nổi. Khổ thế nào thì chắc chỉ Viễn Hùng biết và các dượng đào biết mà thôi.

Ăn đời ở kiếp
            Giờ đây xin đề cập đến trường hợp soạn giả Yên Lang lấy vợ đào hát. Lúc cộng tác đắc lực với đoàn Song Kiều, soạn giả Yên Lang phải lòng cô đào chánh đoàn này là Kiều Oanh, thế rồi gia đình đôi bên ưng thuận mang về quê làm đám cưới rình rang. Có điều Kiều Oanh vĩnh viễn rời sân khấu để về nhà lo bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ, đó cũng là một cách đảm bảo hạnh phúc chắc chắn nhứt và họ đã có con đàn, con lũ với nhau. Duy chỉ có Yên Lang thì bám sát nghiệp viết tuồng, viết hăng say đến đỗi lúc bấy giờ có người chọc phá nói rằng anh hy vọng một ngày nào đó sẽ bợ được một cô đào chánh nữa, để rồi khi hòa bình trở lại anh sẽ đựng gánh như Thu An, Ngọc Hương.
            Thế nhưng, khi hết chiến tranh thì Yên Lang đi… cải tạo (bởi gốc là sĩ quan cảnh sát), và định cư Hoa Kỳ diện HO. Cặp này coi như ăn đời ở kiếp với nhau, bởi cho tới giờ này họ vẫn còn khắng khít, mỗi khi Yên Lang tham dự buổi hát đình đám nào thì hầu như đều có Kiều Oanh bên cạnh.
            Năm 2004 do biết rõ thành tích, Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại đã mời hai vợ chồng tham gia Ban Giám Khảo, Kiều Oanh chấm thi sơ khảo ở San Jose Miền Bắc California, và Yên Lang thì chấm thi chung kết ở San Diego Miền Nam California. Hiện không thấy Yên Lang viết tuồng nào nữa, mà chỉ có lần quy tụ đàn em làm sô ra mắt CD kiếm chút cháo thôi.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương. Ảnh tư liệu gia đình

            Đến đây thì dành thời gian để nói tới cái anh chàng soạn giả si đào vào bậc nhứt, mà khi nhắc đến thì người trong giới uống tàn buổi cà phê vẫn còn cười. Thật vậy, từ khi mới vào nghề, soạn giả nhỏ thó Tuấn Khanh mà người trong giới gọi là soạn giả “oắc con”, anh chàng đã si mê đào Kim Phụng (lúc bấy giờ là vũ nữ của gánh Thanh Minh) đến phải viết hằng loạt bài báo ca ngợi nàng này là thần tượng, là mỹ nhân, nhưng thần tượng mỹ nhân đã không ngó ngàng gì tới, khiến cho anh ta chết lên, chết xuống thiếu điều thổ huyết như Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Mối tình câm ấy vừa nguôi ngoai thì chợt Tuấn Khanh đâm ra si Thanh Nga, thế mới chết! Không hiểu tại sao anh ta có cao vọng ấy chớ, mà chẳng rõ Thanh Nga có hay biết hay không nữa?
            Cái thuở mà Thanh Nga đang lên đó, thì chẳng biết bao nhiêu người chạy theo tà áo của cô, nhưng gẫm ra thì chưa có ai can đảm cho bằng soạn giả Tuấn Khanh. Lúc đó thì Thanh Nga chưa phải lòng ai hết. Soạn giả Tuấn Khanh thì lần đầu tiên có vở hát “Xác Hoa Trên Tháp Đá” được đoàn Thanh Minh Thanh Nga vừa trình diễn thì anh ta luôn bám sát Thanh Nga. Lúc ấy ai cũng nghĩ rằng Tuấn Khanh, cái anh chàng soạn giả ốm tong ốm teo, lại nói tiếng mái ấy thì chẳng có nước mầu gì nên chẳng ai để ý. Vừa lúc có anh ký giả tên Văn Tài từ bên Tây mới về nước, chàng này mê mết Thanh Nga và nhờ Má Bảy Phùng Há mai mối giùm.
            Chưa biết là chuyện khởi đầu ra sao, nhưng có hôm Má Bảy đưa Thanh Nga đi coi hát bóng với anh chàng Văn Tài tại rạp Majestic. Và chẳng rõ Tuấn Khanh rình mò từ bao giờ mà biết ra chuyện đó, và khi ba người đang ngồi xem hát, thì bỗng nhiên anh chàng soạn giả Tuấn Khanh xuất hiện ngay trước hàng ghế của ba người ngồi, để rồi la ó ầm ỉ. La rằng:
            – Tại sao cô Bảy lại dụ Thanh Nga đi coi hát với trai? Tôi không bằng lòng chuyện thầm lén này.
            Thảm hơn thế là soạn giả nhà ta lại khóc ồ lên rằng:
            – Nga! Nga, tại sao em đi coi hát với người ta chớ?
            Dĩ nhiên là Má Bảy Phùng Há cười khì:
            – Cậu là cái gì của Thanh Nga? Còn tôi, tôi đưa Thanh Nga đi xem hát có xin phép với bà bầu Thơ rồi kia mà.
            Tuấn Khanh khóc lóc, than thở rồi đòi lao đầu vào xe nhà binh để chết cho rồi. Cũng may là anh ta thấy không ai có phản ứng gì nên lại thôi. Sau đó thì vắng biệt một thời gian không tới sân khấu Thanh Minh nữa. Người ta không hiểu tại sao Tuấn Khanh lại dám ghen kỳ cục như vậy.
            Chưa hết đâu! Đến khi cộng tác với đoàn Thúy Nga thì Tuấn Khanh lại si mê đào Ánh Hồng đến mất ăn mất ngủ, nhưng tội nghiệp cho anh ta là Ánh Hồng không ban bố đến một nụ cười. Trong chuyến Trung du của đoàn Thúy Nga, thì hai soạn giả trụ cột của gánh hát là Trần Hà và Hoài Ngọc không theo đoàn, mà để cho hai soạn giả đàn em là Tuấn Khanh và Phan Yến Thu bám sát để thu tiền bản quyền.
            Lúc đến Phan Thiết hát khá, Phan Yến Thu có được món tiền tuồng bỏ túi nên bao ăn, bao uống luôn cho Tuấn Khanh. Và một chiều nọ, hai soạn giả đi đạo phố, Phan Yến Thu thấy có chỗ bán dép Miên đẹp nên rủ Tuấn Khanh lựa mua, và dĩ nhiên trả tiền luôn cho. Phan Yến Thu chọn đôi dép có quai vàng, còn Tuấn Khanh thì đắc ý đôi dép quai xanh. Tối bữa đó hai soạn giả nhà ta lại ngủ rạp, mỗi người ngủ một nơi. Đào kép cũng ngủ ở rạp hết, trừ ông bầu Phước Trọng và bà bầu Thúy Nga thì ngủ khách sạn mà thôi.
            Đào chánh của đoàn Thúy Nga khi đó là Kim Lành và Ánh Hồng. Kim Lành thì dầu có chồng có con rồi, nhưng đã thôi chồng nên kể ra như chưa chồng. Còn Ánh Hồng thì chưa có mối, thân phụ cô là nhạc sĩ cũng theo đoàn, và tối thì uống trà với mấy ông thầy đờn rồi ngủ tại đây, rất xa con gái.
            Sau khi vãn hát, ăn uống xong, ai nấy tìm chỗ ngủ hết, rạp hát tắt đèn tối thui. Và chẳng rõ giờ đó là giờ nào, bỗng nhiên người ta nghe Ánh Hồng la lên tở mở: Ai? Ai đây? Bớ người ta… Và sau đó thì có tiếng chạy lạch cạch từ sân khấu ra cửa. Khi rọi đèn pin lên chỗ ngủ của Ánh Hồng thì người ta thấy có đôi dép mới tinh khôi nằm.
            Thân phụ Ánh Hồng nổ khí xung thiên thét lớn:
            – Đôi dép này của ai? Thằng nào đi đôi dép này?
            Phan Yến Thu cũng vừa thức dậy chạy tới, nhìn qua đôi dép và trố mắt đáp:
            – Đôi dép quai xanh. À, đôi dép quai xanh.
            Ông già của Ánh Hồng trừng mắt hỏi anh chàng soạn giả:
            – Nhưng mà nó là của ai chớ?
            Phan Yến Thu lấp vấp đáp lại:
            – Dạ, nó là của… của ai chẳng biết nữa.
            Dép quai xanh đây mà, Phan Yến Thu thừa nhớ đó là đôi dép của Tuấn Khanh, nhưng còn biết làm sao mà dám nói sự thật đây?
            Người trong đoàn nói rằng, mục tiêu của chàng ta là Kim Lành, vì cô đào này đã có một đời chồng, dễ chiếm hơn là Ánh Hồng còn con gái. Nhưng tôi hôm đó trước khi đi ngủ hai cô đào này lại đổi chỗ cho nhau. Nếu nói theo nhà quân sự thì do mục tiêu di động, xê dịch bất ngờ nên cuộc hành quân đột kích bị thất bại.
            Tưởng thế là mộng cưới đào hát đã tiêu tan, không ngờ khi ra ngoài Trung làm môn đệ cho soạn giả Hoa Phượng, thì Tuấn Khanh lại nhờ sự hỗ trợ của sư phụ mà cưới đào Mỹ Hạnh và có với nàng này được một con, nhưng rốt cuộc bị gia đình bên vợ tẩy chay luôn, thành ra Tuấn Khanh đâm ra chán đào. Sau đó mới có vụ cưới vợ không phải là đào hát, nhưng nàng này cũng là cháu kêu bà bầu Kim Chưởng bằng dì, và kể từ ấy Tuấn Khanh làm phò mã cho triều đình Kim Chưởng.
            Vẫn còn nhiều trường hợp soạn giả lấy đào hát làm vợ, những xin kể tới đây thôi, có dịp tôi sẽ kể tiếp vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0914-nm-09122013135651.html

« Sửa lần cuối: 27/07/2017, 15:13:03 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #64 vào: 02/08/2017, 12:17:44 »
Văn nghệ Nùng và tuần lễ văn hóa các dân tộc thiểu số

Tựa đề bài nói chuyện hôm nay mới nghe qua chắc “lạ tai” đối với nhiều người, bởi xưa giờ trừ một số rất ít có giao tiếp, hoặc làm ăn mua bán với người Nùng thì có thể hiểu phần nào, chớ đại đa số trong chúng ta chưa từng nghe qua từ ngữ “văn nghệ Nùng” bao giờ.

Trang phục Lễ hội của người dân tộc Nùng

VẬY TRƯỚC KHI nói về văn nghệ Nùng, tôi xin ngược dòng thời gian nhìn lại một biến cố lịch sử, từng xảy ra cách đây nửa thế kỷ, mà có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ.

Những chuyến tàu di cư
            Số là vào năm 1955, một cuộc chiến ngay giữa Đô Thành Sài Gòn, Quân Đội Quốc Gia, các đơn vị người Nùng tác chiến dũng cảm, gan dạ đã đánh tan lực lượng võ trang Bình Xuyên ở vùng Chợ Lớn, đồng thời chiếm luôn tổng hành dinh của Bảy Viễn ở bên kia cầu chữ Y. Đặc biệt là người dân sống ở vùng Nancy Chợ Quán, và từ cầu Chữ Y dọc theo mé sông Bến Hàm Tử, chạy dài vô Chợ Lớn là biết rõ biến cố lịch sử của năm ấy. Đơn vị quân đội thiện chiến này nghe nói về sau là Sư Đoàn 5, có rất nhiều lính Nùng, một số mang cấp bậc lớn, thiếu tá, trung tá, và có cả đại tá.
            Lúc bấy giờ tuy nghe nói, nhưng rất nhiều người chưa rõ người Nùng có gì khác biệt với người Kinh về hình dạng, màu da, ngôn ngữ, đặc tính hoặc ăn mặc ra sao, có giống như người Thượng ở vùng núi Bà Rá, Phước Long ở phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một, hay miền cao nguyên Ban Mê Thuột, Kontum chăng? Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đã thắc mắc rồi, thì nói chi là văn nghệ Nùng thì người ta lại càng mù tịt. Và sau đây là sự kiện có liên quan đến công cuộc bảo tồn văn hóa dân tộc vào những năm cuối của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
            Nếu tính chung mọi hình thức văn nghệ thì Việt Nam ta cũng là quốc gia “đa văn hóa”, bởi ngoài môn nhạc của ba miền của đất nước mà ai ai cũng biết đó là cổ nhạc Bắc Phần, cổ nhạc Trung Phần và cổ nhạc Nam Phần (phát sinh ra cải lương) thì văn nghệ dân tộc đặc thù của các sắc tộc thiểu số, mà hầu như sắc dân nào cũng có âm nhạc riêng, và thường thể hiện trong các lễ hội đình đám, hoặc là được mùa. Ở đây tôi muốn đề cập đến “văn nghệ Nùng”, một sắc dân thiểu số miền Bắc, và họ đã hiện diện trong Nam sau ngày 20 Tháng Bảy 1954 sống hòa nhập với xã hội miền Nam.
            Năm 1954 Hiệp Định Genève ra đời chia đôi đất nước, theo làn sóng người Bắc di cư, sắc dân Nùng cũng có mặt trên những chuyến tàu đi vào Nam, và dĩ nhiên họ cũng mang theo văn nghệ đặc thù văn hóa. Lúc đầu họ cư ngụ rất nhiều ở vùng Song Mao, thuộc tỉnh Phan Rang, nhưng không thấy họ tổ chức văn nghệ ca hát, cũng đâu có ai nghe nói rằng người Nùng có văn nghệ! Có lẽ do cuộc sống mới định cư ở trong Nam, mà người Nùng mải miết lo làm ăn lập nghiệp trước cái đã, mà quên đi cái món văn nghệ, và khi đã thực sự ổn định cuộc sống rồi thì lại nhớ đến.
            Số là vào năm 1972, có nghĩa là sau 18 năm di cư vào Nam người Nùng mới nghĩ đến văn nghệ của mình, và vấn đề được đưa ra trong một buổi nói chuyện tại Bộ Phát Triển Sắc Tộc ở đường Nguyễn Du, Sài Gòn, với sự tham dự của viên chức chính quyền, đại diện các bộ môn văn nghệ trong đó có cải lương, điện ảnh v.v…


Một lớp dạy hát Phưng Nùng của Người dân tộc Nùng

Phát huy văn hóa Nùng
            Lúc bấy giờ ông Châu Thoại Tân, ủy viên báo chí đặc trách khối Nùng trong Ủy Ban Sắc Tộc, loan báo đã quyết định thành lập “Đoàn Văn Nghệ Nùng” để giới thiệu và phát huy văn hóa Nùng, và đoàn nầy sẽ bắt đầu sưu tập đề trình diễn những vũ bộ, những điệu hát, những nhạc bản cổ điển của sắc tộc này. Nếu tính vào thời điểm đó thì có đến gần hai thập niên sau, kể từ ngày vào Nam mới nghĩ tới một đoàn văn nghệ Nùng thì cũng quá trễ, nhưng trễ còn hơn là không.
            Những người tán thưởng quyết định của ông Châu Thoại Tân, là các ông Lý Thiều Quang, chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Sắc Tộc Hạ Viện, Trung Tá Wòng Đồng Phóng, nghệ sĩ Thanh Nga… là những người đã ký tên vào quyển sổ vàng cho Đoàn Văn Nghệ Nùng. Các nghệ sĩ cải lương tham dự buổi nói chuyện còn có nghệ sĩ Năm Châu, Duy Lân, Phùng Há, Bảy Nam, Bảy Cao, nhạc sĩ Chín Trích, Năm Cơ… Riêng Thanh Nga thì không biết cô tham dự với tư cách là nghệ sĩ cải lương hay tài tử điện ảnh, mà lại ngồi chung với nhóm điện ảnh, trò chuyện với đạo diễn Lê Hoàng Hoa, tức đạo diễn cuốn phim “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” do cô là tài tử chánh.
            Sau buổi loan báo thành lập Đoàn Văn Nghệ Nùng, tôi chưa có dịp rà lại xem đoàn này đã hoạt động đến đâu, có tiến triển hay tạo được thành tích gì chưa. Kế đến 30 Tháng Tư năm 1975 thì không nghe nói gì đến đoàn Văn Nghệ Nùng nữa. Không biết sau ngày ấy đoàn văn nghệ của một sắc tộc có tiếng thiện chiến kia có tồn tại được không, mà khi ra hải ngoại tôi cũng chưa một lần nghe ai nói tới.
            Nghe nói ở vùng Phú Hoa, Định Quán, đường đi Đà Lạt, cũng có rất nhiều người Nùng định cư lập nghiệp ở đây, mà người ta lầm lẫn họ với người Tàu. Không thấy họ tổ chức văn nghệ gì hết, mà chỉ thích coi cải lương, bởi thỉnh thoảng cũng có gánh hát hạng B, hoặc gánh bầu tèo về đây trình diễn. Nếu đúng như vậy, thì khó có dịp nào thiên hạ được đi coi văn nghệ Nùng.
            Trước đó hai năm có “Tuần Lễ Văn Nghệ” do phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa tổ chức vào Tháng Chín 1970, tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, dưới sự chủ tọa của Bác Sĩ Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, đại diện thủ tướng chính phủ, dân tộc thiểu số, gồm nhạc của các sắc tộc miền Cao Nguyên Trung Phần ở các tỉnh Darlac, Pleiku, Kontum, Phú Bổn, Tuyên Đức; ban nhạc “Chàm Hoa Phượng” của người Chàm ở Châu Đốc và ban Văn Lân ở Phan Rang. Ban nhạc Khmer ở Sóc Trăng, và cũng có nhạc của các dân tộc thiểu số miền Bắc: Nùng, Mán, Mèo, Thái được thực hiện với sự cộng tác của ban văn nghệ khối Đại Đoàn Kết các dân tộc thiểu số Việt Nam, do Thượng Nghị Sĩ Wòng A Sáng làm chủ tịch.


Người dân tộc Nùng

            Ngay trong buổi đầu khai mạc, ban văn nghệ Hội Đông Phương Cổ Nhạc ở Chợ Lớn đã trình diễn vở tuồng ca vũ nhạc dã sử “Từ Lang Châu”, làm sống lại thời Tống mạt, giang sơn Trung Quốc bị quân Nguyên dày xéo. Trong mấy lời nói đầu, một đại diện Hội Đông Phương Cổ Nhạc đã nhắc lại cảnh khốn đốn của một số người Hoa, gặp cơn quốc nạn phải lìa bỏ quê cha đất tổ, tản mác khắp nơi tìm chỗ dung thân, lại may mắn được Việt Nam mở rộng vòng tay thân hữu đón nhận và giúp họ được an cư lạc nghiệp.
            Sau lời phát biểu của ông, khiến người ta ngược dòng lịch sử hơn 200 năm về trước kể từ lúc số người Tàu Minh Hương chạy trốn Mãn Thanh sang Việt Nam lánh nạn ở Đàng Trong, được Chúa Nguyễn chấp nhận cho tỵ nạn. Số người Minh Hương lập nghiệp luôn ở Việt Nam, họ sống qui tụ từng vùng, đặc biệt ở Chợ Lớn là đông đảo nhứt. Những người Hoa tỵ nạn này đã mang theo văn hóa hệ, họ gìn giữ luôn tới bây giờ. Họ đã hòa mình hội nhập trong nếp sống chung của Việt Nam, và cùng chung sức để xây dựng đất nước này trở thành quê hương của họ.
            Cũng giống như người Việt định cư ở Hoa Kỳ hiện nay, đã dần dần hội nhập vào đời sống ở Mỹ. Tuy nhiên, nằm trong khuôn khổ cộng đồng quốc gia Việt Nam, về mặt nghệ thuật, người Tàu vẫn có những sắc thái riêng biệt, những truyền thống đặc thù.
            Thời kỳ trước 1975 ở Chợ Lớn, người ta thấy nhạc cổ truyền của người Hoa ở Việt Nam, được coi như hình thức văn hóa đặc thù của một trong các dân tộc thiểu số, được thể hiện trong sinh hoạt hằng đêm tại các ngôi nhà Từ Đường, và ngày vía, ngày lễ, ngày Tết thì trình diễn ở các chùa Tàu. Ngoài ra cũng còn phục vụ ở các đám cưới, đám ma, sinh hoạt giống như đờn ca cổ nhạc tài tử của miền Nam vậy.
            Nhạc cổ truyền của Tàu có thể chia ra làm hai loại: Nhạc võ và nhạc văn. Nhạc võ thì rình rang với những trống lớn, trống nhỏ, cồng chiêng, chập chõa, đồng la, phách… Còn nhạc văn gồm: Đờn nguyệt (kìm), đờn gáo… kết hợp với thổi tiêu, sáo.
            Thời ấy ở Chợ Lớn có đến cả chục đội nhạc cổ truyền, mỗi đội trên dưới 50 người, và hầu như đội nào cũng có rất nhiều thiếu nữ Tàu xinh đẹp cộng tác. Không riêng gì ở Chợ Lớn, các tỉnh miền Nam có người Tàu làm ăn phát đạt, mỗi khi có đám cưới, đám ma (thường là đám ma) họ cũng rước đội nhạc cổ từ Chợ Lớn về, và người địa phương lại được dịp nghe trống, chập chõa rình rang ồn ào suốt cả mấy ngày có đám.
            Ngày nay không biết nhạc cổ của Tàu có còn hoạt động mạnh hay không, bởi lẽ cổ nhạc miền Nam cùng bộ môn cải lương gần như tê liệt, thì ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến nhạc cổ của Tàu.


NGÀNH MAI
tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0907-nm-09062013143312.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #65 vào: 04/08/2017, 13:22:50 »
Danh phẩm Kim Vân Kiều lên sân khấu Trung Hoa

Tác phẩm Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du từng được đưa lên sân khấu thời thập niên 1930, được cả giới bình dân lẫn trí thức thời đó đi coi, và có người nói rằng đây là vở hát mà cốt truyện vượt mọi không gian và thời gian. Cũng trong thời kỳ này hãng phim Pháp Indochine Films et Cinemas đưa Kim Vân Kiều lên màn bạc, với các tài tử là đào kép cải lương ở rạp Quảng Lạc, Hà Nội. Phần diễn xuất chẳng khác hơn ở sân khấu, đào kép ăn mặc rườm rà như hát bội, cử chỉ như hát tuồng, cũng như có những sai lằm về nội dung nên phim bị thất bại.

Bìa đĩa hát cải lương Kim Vân Kiều

Thành công trên sân khấu
            Tuy thất bại bên điện ảnh, nhưng phía sân khấu thì thành công vượt bực, những cô đào nổi tiếng hầu như đều có đóng vai Thúy Kiều. Lớp nghệ sĩ tiền phong thì có các cô Năm Phỉ, Phùng Há, Sáu Nết, Thanh Loan và lớp thế hệ sau có Bạch Tuyết, Mộng Tuyền…
            Đoàn Kim Chung được thành lập ngoài Bắc, và đào Kim Chung trong vai Thúy Kiều được hoan nghinh nhiệt liệt. Thời đó từ Bắc chí Nam hễ nói đến cải lương trình diễn vở hát Kim Vân Kiều, là khách mộ điệu không thể nào quên được đào Kim Chung trong vai trò hồng nhan đa truân ấy. Người ta nói hát Kiều mà không có Kim Chung kể như không có gì lý thú nữa để mà xem. Trong hơn 20 năm trời Kim Chung lẫy lừng danh tiếng với điển hình ký thác của cụ Nguyễn Du.
            Không phải chỉ nghệ thuật Việt Nam khai thác danh tác của cụ Nguyễn Du, mà nghệ thuật màn bạc Trung Hoa cũng khai thác. Đầu thập niên 1950, hãng phim Tàu ở Hồng Kông đưa truyện Kiều lên màn ảnh rộng lần thứ hai, do cô đào Hồng Tuyến Nữ đóng vai Thúy Kiều, và kép Mã Sư Tăng vai Kim Trọng, và lần này thì thành công to. Sau thời gian chiếu ở Hồng Kông với số thu kỷ lục, khoảng năm 1954 phim được mang sang Việt Nam chiếu để hốt bạc tiếp. Phim cũng được các Chú Ba ở Chợ Lớn nhiệt liệt hoan nghinh Thúy Kiều Hồng Tuyến Nữ, chiếu suốt một tuần khán giả vẫn đông nghẹt rạp.
            Thừa thắng xông lên, chủ rạp cử người đi Hồng Kông mời gánh hát Đại Kim Long, tức gánh có đôi nam nữ nghệ sĩ nói trên sang hát ở Chợ Lớn để ăn thêm. Bởi chủ rạp biết chắc rằng cặp Mã Sư Tăng – Hồng Tuyến Nữ xuất hiện bằng xương bằng thịt thì sẽ thu hút khán giả nhiều hơn chiếu phim gấp bội.


Vở cải lương Máu nhuộm sân chùa do đoàn cải lương Kim Chung 5 trình diễn

            Khán giả người Hoa ở Chợ Lớn rất quen thuộc và ái mộ Hồng Tuyến Nữ – Mã Sư Tăng, do bởi trước đó khoảng 1949-1950 cặp tài danh sân khấu ở Hông Kông này được giới tài phiệt người Hoa ở Chợ Lớn mời sang trình diễn. Và nhân cơ hội này, cặp nam nữ nghệ sĩ ở Hồng Kông đã đến hội quán Hội Nghệ Sĩ để tìm hiểu sinh hoạt của nghệ sĩ sân khấu ở đây. Ban Chấp Hành đương nhiệm lúc bấy giờ do ông huyện Trần Khiêm Cung (hội trưởng), nghệ sĩ Năm Châu (phó hội trưởng) và ông Nguyễn Văn Chỉ (tổng thư ký) đã vội vã báo tin cho hầu hết các gánh hát đang hoạt động ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và phụ cận biết để chuẩn bị cho buổi đón tiếp.
            Rồi thì tiệc liên quan được tổ chức, cuộc trao đổi kinh nghiệm sân khấu được diễn ra, và nhân cơ hội ngàn năm một thuở này, Mã Sư Tăng đã lưu lại cho Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu một bức tranh lụa và một cặp liễn do chính tay mình đề họa chỉ bằng đầu ngón tay mà thôi. Đây là một kỷ vật coi như vô giá giữa mối tình văn nghệ Việt-Hoa còn lưu lại, mà các nghệ sĩ sau này ít ai để ý đến tác phẩm nghệ thuật nói trên, thậm chí có người không hề biết do đâu mà nhà Hội lại có cặp liễn này.
            Sự hiếu khách của Hội lúc đó đã thể hiện được tinh thần đoàn kết, mà đường lối chủ trương đã có từ buổi ban đầu, qua việc ngày khánh thành trụ sở của Hội, Ban Chấp Hành nhiệm kỳ đầu tiên đã đánh điện mời các nghệ sĩ, bầu gánh, soạn giả miền Bắc vào tham dự. Và lần này khi được tin Mã Sư Tăng và Hồng Tuyến Nữ đến thăm, tức thì những người trong Ban Chấp Hành đã không bỏ lỡ cơ hội tạo sự đoàn kết, nên kịp thời thông báo sự việc cho hầu hết anh chị em nghệ sĩ, thành ra hôm bữa đón tiếp có rất đông nghệ sĩ cải lương.

Gánh Đại Kim Long
            Trở lại sự việc rạp hát ở Chợ Lớn mời đoàn Đại Kim Long sang Việt Nam, họ lên đường và đến Chợ Lớn khoảng tháng 10 năm 1954, và khán giả náo nức chờ ngày đi coi (khán giả nói ở đây là khán giả người Hoa). Thế nhưng, đào kép đến nơi suốt hai tuần mà không lên sân khấu được, khiến cho chủ rạp ở Chợ Lớn muốn điên đầu (lúc đầu tưởng vậy). Vì dù có hát hay không, theo hợp đồng mỗi ngày cũng vẫn phải trả cho Hồng Tuyến Nữ mười ba ngàn đồng, Mã Sư Tăng chín ngàn (vào thời điểm này vàng y một lượng khoảng ba ngàn đồng). Đó là không kể tiền trả cho các đào kép phụ khác. Lại còn tiền ăn, tiền ở, bao nhiêu nữa!


Rạp hát cải lương Long Vân ở Ngã Bảy, Sài Gòn

            Do đâu lại có chuyện như thế chớ! Ấy chỉ vì cái xui xẻo chủ rạp hát (hay là hên chăng?) chỉ vì bao nhiêu rương quần áo hát của đào kép từ Hồng Kông gởi qua bằng đường biển. Người ta đã tính thì tàu phải đến Sài Gòn một ngày trước khi đào kép tới bằng đường hàng không. Dè đâu, chuyến tàu ấy lại đổi hành trình qua Philippines trước rồi ghé Sài Gòn. Ngày ghé Sài Gòn lại nhằm ngày nghỉ, không có ai ở nhà đoan (quan thuế) mà lãnh các rương đồ. Ngày hôm sau tàu lại chạy sang Singapore với những rương mà đào kép cùng chủ rạp mong đợi mòn con mắt. Phải chờ tàu ở Singapore trở về Sài Gòn chuyến sau mới lãnh được.
            Sự thể như vậy người ta tưởng đâu chủ rạp, tức nhà tổ chức mua giàn sẽ lỗ nặng, vì trả tiền khơi khơi nhiều quá mà không thu vô. Nhưng không đâu! Bởi các Chú Ba từng kinh nghiệm trên thương trường, từng làm giàu rồi nên khôn lắm đã chuyển bại thành thắng. Cái chuyện trục trặc mấy rương đồ hát ấy là một dịp bằng vàng cho chủ rạp, cho nhà tổ chức để họ làm giàu thêm.
            Số là trong lúc mọi người chờ đợi đi coi hát, thì mấy rương quần áo đồ hát cứ lênh đênh ngoài biển. Có chuyện như vậy nên báo Hoa Văn ở Chợ Lớn theo dõi sự việc loan tin từng ngày trên trang nhứt, và báo Hồng Kông gởi qua cũng nói đến sự việc ấy không kém. Đồng thời lại có thêm nhiều bài viết nói về cái gánh hát và thành tích của cặp đào kép nổi tiếng ở Hồng Kông, đã vô tình làm quảng cáo không công cho nhà tổ chức mua giàn.
            Lúc ấy thiên hạ trong giới người Tàu bàn tán xôn xao, ở các chợ, nhà hàng, bến xe, tiệm nước đâu đâu cũng nói đến vấn đề. Nhà tổ chức nắm vững ba yếu tố trong binh thơ Tôn Tử: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên chắc ăn như bắp.
            Khi đem đồ hát từ chiếc tàu lên, thì trước rạp hát Hảo Huê ở Chợ Lớn vẽ bảng thật to hình ảnh Hồng Tuyến Nữ – Mã Sư Tăng, nhưng quầy vé thì treo bảng “hết vé!” Thiên hạ đến mua vé hỏi lẫn nhau, rằng vé bán hồi nào mà hết chứ?
            Biết chắc rằng giới thương gia người Tàu giàu có ở Chợ Lớn quá ái mộ cặp nghệ sĩ đóng vai Thúy Kiều, Kim Trọng trong phim, nên cho dù giá vé cao hơn nhiều lần họ vẫn chấp nhận. Cũng như nhiều giới làm ăn khác trong xã hội người Hoa, họ cũng sẵn sàng bỏ tiền ra để thấy tận mắt cặp tài danh sân khấu của đất nước họ.
            Cầm chắc trong tay vấn đề, nên một mặt ở rạp thì “hết vé”, mặt khác thì có những người mang vé đến tận nhà các thương gia tài phiệt với giá cao hơn gấp năm, bảy lần số tiền ghi trên vé. Có vé “chỗ tốt” lên đến hơn mười lần, vậy mà vé cũng không đủ bán. Thế mới thấy sức thu hút mạnh mẽ của cặp đào kép Hồng Tuyến Nữ – Mã Sư Tăng đối với khán giả người Hoa lúc bấy giờ.
            Lâu lâu mới có một lần, được gánh hát lớn từ bên Tàu sang phục vụ là mừng rồi, mua vé có đắt hơn bao nhiêu cũng không tiếc. Tâm lý người Hoa là vậy. Lúc ấy gánh Đại Kim Long hát ở Chợ Lớn suốt một tháng mới đáp ứng nhu cầu khán giả, rồi họ mới lên máy bay về Hồng Kông.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0921-nm-09202013150554.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #66 vào: 09/08/2017, 14:11:21 »
Người đẹp Bình Dương có liên hệ gì đến tỉnh Bình Dương?

Kể từ giữa thập niên 1950 cho đến sau này, khán giả hâm mộ hát bóng, cũng như rất nhiều người trong mọi giới đã không lạ gì với cái tên Thẩm Thúy Hằng, và người đời cũng đặt biệt danh cho nàng là người đẹp Bình Dương. Mới nghe qua thiên hạ tưởng đâu rằng Thẩm Thúy Hằng nếu không xuất thân ở tỉnh Bình Dương thì cũng có liên hệ gì đó đến cái đất địa cách Sài Gòn khoảng hơn 30 cây số về hướng Bắc, trừ phi những người từng biết căn cội của người nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng là đẹp này.

Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng

Không xuất thân ở Bình Dương
            Kể ra thì bên lãnh vực điện ảnh cũng có rất nhiều nữ tài tử, và luôn cả những người nổi tiếng, đóng nhiều phim Việt Nam, phim ngoại quốc, nhưng lại không có biệt danh, trừ trường hợp kỳ nữ Kim Cương đã sẵn có biệt danh bên địa hạt sân khấu từ lâu, ngoài ra chẳng thấy ai hết. Tóm lại trong làng điện ảnh chỉ duy nhứt Thẩm Thúy Hằng là có cái biệt danh “người đẹp Bình Dương”, một mỹ từ mà có lẽ không một người nữ nào lại chẳng muốn.
            Thế nhưng, số đông thiên hạ đâu có biết Thẩm Thúy Hằng chẳng có liên hệ dính dáng gì đến vùng đất nổi tiếng có nhiều trái cây, sầu riêng măng cụt, chôm chôm như Lái Thiêu, hoặc là có nhiều đồn điền cao su như Lai Khê, Bến Cát của tỉnh Thủ Dầu Một, tức Bình Dương. Như vậy do đâu mà Thẩm Thúy Hằng lại mang biệt danh “người đẹp Bình Dương”?
            Thật ra thì chẳng có mấy ai lại bỏ công tìm hiểu làm chi vấn đề “bao đồng” như thế, có ích lợi gì đâu chớ, mà chỉ những người hâm mộ nghệ thuật, muốn lưu lại cho thế hệ sau về lịch sử sân khấu, màn ảnh, cũng như sự thăng trầm ba chìm bảy nổi các bộ môn nghệ thuật nước nhà thì mới tìm hiểu ghi lại thành tài liệu lịch sử cho sau này.
            Theo như tôi tìm hiểu thì nữ mình tinh Thẩm Thúy Hằng sinh quán ở miền Tây, tỉnh Long Xuyên, lên Sài Gòn đang học lớp Đệ Tứ ở trường Huỳnh Thị Ngà thì được hãng phim Mỹ Vân tuyển chọn đóng vai chánh cuốn phim có tên “Người Đẹp Bình Dương” để rồi sau đó người ta dùng nhân vật chính và địa danh trong cuốn phim để đặt biệt danh cho nàng. Có điều là Bình Dương trong cuốn phim kia lại không phải là Thủ Dầu Một, một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ Việt Nam, mà là một địa danh ở… bên Tàu.
            Năm 1957 nghệ sĩ Năm Châu, tức soạn giả Nguyễn Thành Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân, đã dựa vào câu chuyện trong một cuốn sách của Tàu viết kịch bản cho phim, và dùng địa danh cùng nhân vật nữ chánh đặt tựa cho phim “Người Đẹp Bình Dương”. Đây là cuốn phim đầu tiên của minh tinh Thẩm Thúy Hằng, đã đưa nàng lên đài danh vọng, lại đồng thời được khán giả, thiên hạ đặt cho cái biệt danh nghe rất dễ thương.


Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng

            Vấn đề này về sau một ký giả kịch trường có hỏi Năm Châu tại sao lại lấy tên phim là “Người Đẹp Bình Dương”, để cho thiên hạ lầm lẫn với Bình Dương Thủ Dầu Một? Năm Châu trả lời, lúc ấy thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông viết truyện phim dựa vào câu chuyện nhân gian bên Tàu, và lúc quay cuốn phim “Người Đẹp Bình Dương” thì tỉnh Thủ Dầu Một chưa đổi tên. Thế nhưng, khi phim kiểm duyệt xong ra mắt khán giả, thì lại đúng vào lúc có sắc lệnh của chính phủ đổi tên nhiều tỉnh chứ không riêng gì Thủ Dầu Một. Thấy cũng chẳng hại gì, thì thôi để vậy luôn.
            Cũng cần biết thêm lúc tỉnh Thủ Dầu Một đổi tên, thì cùng lúc nhiều tỉnh khác cũng đổi tên mới như: Bà Rịa đổi tên Phước Tuy, Cần Thơ đổi tên Phong Dinh, Long Xuyên mang tên mới An Giang, và Vĩnh Bình thì tên mới của Trà Vinh… Còn các tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ là Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định…
            Vào thời thập niên 1950 phim Việt Nam rất hiếm, lâu lâu mới có một cuốn phim Việt ra đời, nên rất được khán giả ủng hộ. Lúc bấy giờ đối với khán giả bình dân thì phim Việt dù dở cũng thành hay, do bởi người ta nghe được tiếng nói, thay vì phải đọc phụ đề Việt ngữ của các phim ngoại quốc mà đa số người coi đã không đọc kịp.

“Đẹp như Thẩm Thúy Hằng”
            Cái may mắn của nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng thì ngoài việc gia nhập làng điện ảnh ở thời kỳ mà phim Việt Nam rất hiếm, lại cũng chẳng phải tranh đua tài nghệ với ai. Ngoài ra cô còn có sắc đẹp lộng lẫy mà hầu như khán giả nào cũng công nhận, bởi nếu như người ta muốn khen một cô gái đẹp nào đó là thường hay nói “đẹp như Thẩm Thúy Hằng” vậy!
            Thời gian làm tài tử cho nhiều hãng phim, người ta chỉ thấy Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với nam tài tử cùng nghề, nhưng đến khi làm chủ hãng Việt Nam Film thì “người đẹp Bình Dương” nhắm vào thương mại nhiều hơn, và cô đã nhờ soạn giả Năm Châu viết cho kịch bản cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”, đồng thời mời kép cải lương Thanh Tú đóng cặp với cô.
            Dạo đó các nhà làm phim không biết bắt mạch từ đâu mà lại ùn ùn chạy đi tìm đào kép cải lương tên tuổi mời về đóng phim, mà lại còn giao cho các vai trò nòng cốt, khiến cho các tài tử chuyên nghiệp mặc nhiên xuống giá, nếu không muốn thất nghiệp thì phải bằng lòng chấp nhận đứng chung sân quay với đào kép cải lương và chịu lãnh vai trò thấp hơn.
            Thực trạng trên đã gây bất mãn cho một số tài tử điện ảnh chuyên nghiệp, và trong lúc cuốn phim còn đang quay thì họ tung tin rằng đào kép cải lương đóng phim “rất ư là cải lương”, hoặc loan truyền rằng ai đó cho biết cải lương bị chết đứng rồi, giờ đây chạy sang điện ảnh làm sao khá nổi chớ!
            Riêng Thẩm Thúy Hằng trong lúc đang quay cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”, mà tài tử chánh là kép Thanh Tú đóng cặp với cô, thì có người hỏi ngay rằng:
            – Tại sao lại chọn kép cải lương cho đóng phim mà lại là vai chánh nữa, bộ không sợ mất tiếng hãng phim hay sao?
            Thẩm Thúy Hằng trả lời:
            – Lấy tiếng cũng phải lấy tiền chớ!


Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng cùng chồng là Ts Nguyễn Xuân Oánh

            Rồi cô còn nói thêm rằng đào kép cải lương tên tuổi đương nhiên họ có một số khán giả, giờ đây họ đóng phim tức nhiên số khán giả từng ái mộ họ sẽ mua vé đi coi. Sản xuất phim là làm thương mại rồi, cái tiếng rất cần nhưng tiền cần hơn!
            Thế là người hỏi đành chịu thua thôi, và đào kép bên cải lương ào ạt nhảy vào lãnh vực điện ảnh, thao túng sàn quay, khiến cho một số tài tử bên điện ảnh chịu thất nghiệp, bởi các vai nòng cốt bị cải lương nắm hết. Những người bỏ tiền ra làm phim như Thẩm Thúy Hằng mời Thanh Tú cộng tác, cũng như Cosunam mời Thanh Nga là họ đã nhắm vào con số khán giả cải lương đông đảo từng ủng hộ thần tượng của họ.
            Người ta nói làm nghệ thuật điện ảnh không nên lầm lẫn với cải lương, ai mà không đồng ý như vậy chớ, nhưng đâu có ai bỏ tiền ra làm nghệ thuật mà lại chẳng muốn có lợi vào. Lấy tiếng đã đành nhưng cũng phải lấy tiền nữa, vì lẽ đó nên Thẩm Thúy Hằng không thể bỏ qua được Thanh Tú, Phùng Há, Năm Châu, Kim Cúc, dầu những người này lên màn ảnh họ vẫn còn các điệu bộ của sân khấu, như người ta đã xem qua phim “Chiều Kỷ Niệm”. Ấy thế mà phim này Thẩm Thúy Hằng đã lời trên mười triệu bạc, trong vòng tuần lễ đầu trình chiếu ra mắt tại hai rạp ở Thủ Đô Sài Gòn. Tại sao? Vì phim “lô canh” mà không được khán giả bình dân ủng hộ thì chết đi một cửa tứ. Phim của Thẩm Thúy Hằng mà lời được là do phần lớn khán giả cải lương ào tới xem coi thần tượng sân khấu của họ lên màn ảnh ra sao. Họ chẳng cần biết tên của Huy Cường, của Đoàn Châu Mậu, của Tony Hiếu là ai cả!
            Và đến Kim Cương cũng thế, quay cuốn phim “Mưa Trong Bình Minh” kỳ nữ đã mời cải lương chi bảo Bạch Tuyết về giao vai chánh, và hãng thì lấy tên Kim Cương. Như vậy khán giả thoại kịch, cải lương, truyền hình và điện ảnh cùng đi coi phim chớ không hề phân biệt là bên nào, phía nào. Kỳ nữ xuất thân từ cải lương nên biết rõ khán giả của môn nghệ thuật này đông đảo hơn bất cứ môn nào, do đó mà làm ăn khá tậu khách sạn ở Vĩnh Long, mua xe hơi, biệt thự… Có cái nhìn thực tế như vậy mới làm giàu.
            Sau 1975, Thẩm Thúy Hằng vẫn tiếp tục đóng phim, đóng kịch, nhưng rồi lại vắng mặt một thời gian khá dài. Mãi đến năm 1990 mới xuất hiện trở lại cho biết là sẽ cộng tác với hãng phim Ấn Độ, vì cô muốn đi đến đất Phật. Muốn theo chân Đường Tăng đến đất Phật, vừa đóng phim vừa đi thăm những nơi nào mà Đường Tăng đã đi qua, nơi nào ông đến thỉnh kinh, và cô cũng muốn tự mình tìm học những kinh Phật nào mà cô chưa biết đến.
            Ngoài ra hãng phim Ấn Độ còn hứa sẽ thỏa mãn yêu cầu của cô là đi thăm viếng ở bất cứ nơi nào trên đất Ấn Độ còn dấu tích của Phật Thích Ca như Cội Bồ Đề, Vườn Trúc Lâm, Kỳ Viên Tự, những vùng thánh địa…
            Được biết nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng là người thuộc khá nhiều kinh Phật, và cô đã nuôi mộng “theo chân Đường Tăng” đi Ấn Độ từ nhiều năm, chứ không phải đợi đến khi xem bộ phim Tây Du Ký rồi mới muốn đến đất Phật. Sự hứa hẹn đáp ứng yêu cầu của hãng phim Ấn Độ, khiến cô rất vui mừng, sẽ thực hiện được ước mơ… theo chân Đường Tăng đi Ấn Độ!
            Nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng còn cho biết trong phim Tây Du Ký. Tề Thiên Đại Thánh đã cân đẩu vân rất nhanh, nhưng là nhanh đối với phương tiện cổ điển ngày xưa, chớ bây giờ cô ngồi máy bay phản lực bay một vèo là đến đất Phật, có lẽ Tề Thiên Đại Thánh cũng khó nhanh hơn…
            Có điều là khi xưa Đường Tăng đến Ấn Độ rồi thành Phật Bồ Tát, còn Thẩm Thúy Hằng thì chưa thành Phật, mà về nước tiếp tục sống với ông Nguyễn Xuân Oánh cho đến ngày ông qua đời. Và người ta không biết “người đẹp Bình Dương” khi về già ra sao…?


NGÀNH MAI
Tháng 9/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0926-nm-09262013161115.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #67 vào: 11/08/2017, 14:51:09 »
Nếu cải lương tổ chức như gánh hát Tàu ở Thái Lan

Trong chúng ta, những người thuộc lớp tuổi từ trung niên trở lên, yêu thích cổ nhạc cải lương hằng quan tâm đến sự tồn tại, theo dõi hoạt động của bộ môn nghệ thuật độc đáo của dân tộc này, chắc cũng đều nhận thấy có lúc cải lương lên đến đỉnh cao, đó là thời điểm những năm của thập niên 1960. Sự kiện tốt đẹp ấy đã khiến cho các ca sĩ tân nhạc cũng tìm đến lò cổ nhạc để học ca vọng cổ, với hy vọng trở thành đào kép cải lương, kiếm tiền dễ hơn. Các tài tử chiếu bóng nổi tiếng như Thẩm Thủy Hằng, cũng thọ giáo Má Bảy Phùng Há để lên sân khấu làm đào cải lương.

Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng,
với Tám Vân – Thanh Nga – Hữu Phước

THẾ MÀ mà sau cái Tết Mậu Thân, cải lương khủng hoảng trầm trọng, xuống dốc thê thảm, ngày một bi đát thêm lên, và cho đến ngày nay thì đang đi vào ngõ cụt. Nếu như không có biện pháp nào để cứu vãn tình hình, không biết tương lai rồi sẽ ra sao?
            Có điều là người yêu thích cổ nhạc cải lương vẫn còn nhiều, ở đâu cũng có, mà điển hình là ở các tụ điểm có đờn ca tài tử là có người bỏ thì giờ đến ngồi nghe. Các buổi tập tuồng, quay phim ngoài trời, thiên hạ bao quanh coi rất đông. Tóm lại trong xã hội hiện nay số người ham mê cải lương cổ nhạc rất nhiều, mà giới hành nghề sân khấu lại nghẹt thở, sống dở chết dở thì nghĩa làm sao chớ? Sao lại mâu thuẫn như vậy?

Uyển chuyển theo tình thế
            Buổi nói chuyện hôm nay tôi xin đề cập đến các gánh hát Tàu ở Thái Lan, để chúng ta suy nghiệm xem cái mô hình này có thể đem áp dụng với các gánh cải lương của ta trong tương lai, hầu mở ngỏ cho bộ môn nghệ thuật này được sống trở lại.
            Nếu như nghệ thuật cải lương của ta mà có lề lối tổ chức như các gánh hát Tàu ở Thái Lan, thì người ta nghĩ bộ môn này sẽ không bệ rạc như hiện thời. Thật vậy, có lắm người am hiểu đã nói như thế, bởi căn cứ vào cách tổ chức, hình thức hoạt động, cũng như linh động uyển chuyển theo tình thế của các đoàn hát Tàu ở Thái Lan thì rất khó mà bị rã gánh.
            Vậy chớ các gánh hát của người Hoa ở Thái Lan đã tổ chức, hoạt động như thế nào mà lại tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác? Sau đây mời quí vị đi xem hoạt động các gánh hát người Hoa ở Thái Lan:
            Ở Thái Lan xem các đoàn hát dạo Tàu biểu diễn là một trong những món ăn tinh thần của cộng đồng người Hoa tại nước này, cũng tỷ như cải lương là món ăn tinh thần của bà con ta ở thôn quê vậy. Cộng đồng người Hoa ở Thái Lan không đông đảo như các Chú Ba ở Chợ Lớn. Vậy mà vào các dịp lễ hội truyền thống dân tộc, từng nhóm vài chục người, hay nhiều khi đông hơn, là các hội tương tế với hàng trăm, hàng ngàn hội viên, thì người Hoa thường tìm mời các đoàn hát dạo quen thuộc với họ về hát và chung vui với nhau.
            Tuy nói là hát dạo chớ thật ra là đi lưu diễn như các đoàn cải lương ở nước ta thôi. Mỗi đoàn hát như vậy thường chỉ gồm có năm, sáu người, mà đông nhất cũng không quá mười người, có thể hát diễn ở bất cứ nơi nào, đình chùa hay xóm chợ v.v… miễn sao có đồng bào người Hoa tập trung là có thể hát được.


Gánh hát rong nghèo ở miền Bắc Việt Nam, thập niên 1930-1940

            Cũng giống như những gánh hát cải lương ở nước ta, họ trình diễn vừa để phục vụ, vừa để nuôi thân nên rất chịu đi lưu diễn. Chỉ có những lúc quá ế, ít được mời diễn, họ mới tạm rã gánh để làm việc khác, nhưng vẫn giữ các mối liên lạc với nhau, để chờ dịp hội tụ đi diễn tiếp. Họ rất tôn trọng kỷ luật, tuân theo sự chỉ huy của bầu gánh, tập trung là có ngay. Đây là điều rất khó khăn đối với đào kép cải lương của ta, do cái máu làm eo, làm khó, của những kẻ mà xưa kia thiên hạ gọi là “con hát”.
            Gần như đúng với cái tên của mình, các đoàn hát dạo người Tàu khi diễn không cần phông màn, tranh cảnh hay đạo cụ sân khấu chi cho lỉnh kỉnh, nhưng không vì vậy mà nghệ thuật diễn của họ kém. Cách phục trang, hóa trang và diễn của những diễn viên đoàn hát dạo, nhiều khi rất đúng theo nghệ thuật sân khấu. Điều này chứng tỏ họ dày công nghiên cứu, tập luyện về về nghệ thuật ca diễn.
            Khi diễn, nhưng diễn viên các đoàn hát dạo thường trích đoạn từ các câu chuyện truyền thuyết dân gian, cũng giống như các truyện của ta như: Trương Chi Mỵ Nương, Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Chém Chằng, Phạm Công Cúc Hoa v.v… Các truyện xưa tích cũ được mang ra để phóng tác thành những làn điệu ca diễn.
            Do mang tính chất ít người nên các diễn viên đoàn hát dạo, họ thường ca nhiều trong buổi diễn hơn là diễn xuất, và cũng do vậy mà họ phải có giọng ca hay. Đây cũng là thể hiện năng lực câu khách của từng đoàn, do bởi tuy là những đoàn hát dạo, nhưng giữa họ với nhau vẫn mang tính cạnh tranh gay gắt, như các đoàn sân khấu chuyên nghiệp.

Nghệ sĩ cần yêu nghề
            Cải lương ở nước ta, đào kép các đoàn nhỏ nếu tài nghệ giỏi, nổi tiếng sẽ được các đoàn lớn mời về với giao kèo cao giá, mà lương đêm cũng nhiều hơn gấp bội. Đào kép các đoàn hát dạo người Tàu ở Thái Lan cũng na ná, nếu được nổi tiếng thì những người trong một đoàn hát dạo sẽ được mời ca diễn thường xuyên, tại các nhà hàng sang trọng của người Hoa với tiền thù lao khá hơn. Lúc đó, dĩ nhiên cuộc sống của họ sẽ được nâng cao, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
            Với phương cách tổ chức hoạt động như trên của gánh hát Tàu, đã cho chúng ta thấy rằng muốn cho một gánh hát tồn tại là đoàn hát phải có ít người, chớ không đông đảo như các gánh cải lương của ta (nhân số đông gấp ba, bốn lần trở lên), và phông màn cũng đơn giản, rất dễ dàng mỗi khi đi lưu diễn.
            Thứ đến là ca nhiều hơn diễn xuất, hình thức này rất thích hợp với khán giả bình dân, nhiều người đi coi hát chỉ cốt nghe ca vọng cổ với tiếng ca của Út Trà Ôn, Bảy Cao, Năm Nghĩa, Tấn Tài, Minh Cảnh, Út Bạch Lan, Thanh Hương v.v… Tôi từng nghe nhiều khán giả nói rằng, nếu không có Út Trà Ôn ca vọng cổ thì đi coi hát làm chi, cho tốn tiền mua vé.
            Dù thế, họ cũng phải thường xuyên tập luyện để nâng cao nghệ thuật, lúc không hát là họ tập luyện. Không như đào kép cải lương của ta (phần nhiều là kép chánh), họ thường hay bỏ tập tuồng, lại cũng không học tuồng, để khi lên sân khấu thì trông cậy vào người nhắc tuồng đứng sau tấm màn cảnh. Người ta từng biết có những gánh hát, trong lúc mọi người có mặt tập tuồng theo quy định, thì anh kép chánh đang binh xập xám, đi đánh bi da, thậm chí đang ở mâm đèn… Phải chấm dứt tệ trạng này thì nghệ thuật cải lương mới làm ăn nên nổi được.
            Còn một vấn đề nữa là phải dễ dàng tập trung, khi hát ế có thể sống tạm bằng nghề khác, nhưng nếu có hát thì tập trung huy động nhanh, không để cho bầu gánh bị mất uy tín. Gánh hát ít người dĩ nhiên dễ dàng tập trung hơn. Qua hiện thực trên người ta thấy rằng, muốn cho cải lương sống trở lại cũng không khó gì mấy, miễn là nam nữ đào kép phải là những nghệ sĩ yêu nghề, yêu mến thực sự bộ môn nghệ thuật cải lương.


Cô Bảy Phùng Há, một đại danh lừng lẫy của nền cải lương Việt Nam

            Hiện nay ở trong nước hầu như tỉnh nào, huyện nào cũng có những nhóm đờn ca tài tử, họ rất muốn trở thành nghệ sĩ trên sân khấu, nhưng ngặt nỗi là không có gánh hát để thu dụng họ. Bởi người ta luôn nghĩ rằng gánh hát là phải nhiều người, nhiều tranh cảnh, chứ thật ra những thứ đó chẳng cần thiết chi lắm. Đa số khán giả bình dân, nếu có gánh hát, dù nhỏ, nhưng ca hay, diễn khá, mà gần nhà là họ đi coi.
            Những giọng ca tài tử ở cùng khắp là những kho tàng hết sức phong phú, chưa được khai thác. Nếu như ở các địa phương có người yêu thích cải lương, có phương tiện tài chánh tương đối khá, chứ không nhứt thiết phải giàu có, cũng có thể hội tụ các ca sĩ tài tử ngay tại địa phương mình, rồi thành lập gánh hát nhỏ (chỉ năm, bảy người thôi) là có thể hoạt động được. Cũng như điều cần yếu là phải có kịch bản thích hợp với nhân số ít người của đoàn hát, và vấn đề trước hết phải tận dụng những người có năng khiếu ở địa phương chớ không cần phải nhờ soạn giả tên tuổi. Về nhạc sĩ thì chỉ cần một người đờn là đủ, nhưng nếu hát ở chỗ nào có tay đờn thì họ sẽ tham gia ngay, có khi rất nhiều tay đờn mà không phải trả tiền, hoặc chỉ trả chút ít tiền cà phê cà pháo tượng trưng mà thôi.
            Tôi còn nhớ năm Mậu Thân gánh hát rã gần hết, còn lại một số ít đoàn hoạt động cầm chừng, một đêm hát, năm, sáu đêm nghỉ, trung bình mỗi tuần chỉ hát có một đêm. Thế mà đến đầu năm 1969, một gánh hát nhỏ thuộc loại “bỏ túi” được ra đời tại Tây Ninh, vẫn sống được, sống dài dài cho đến năm 1975 vẫn con thấy hát. Đó là gánh hát có tên trên bảng hiệu là Hương Dạ Lý (mới nghe qua xin đừng hiểu lầm Dạ Lý Hương của ông Bầu Xuân), phông màn, tranh cảnh toàn là đồ cũ phai màu, mua lại của các đoàn hát bị rã gánh, và đào kép thì chẳng ai tên tuổi.
            Hai năm đầu, đoàn chỉ hát quanh quẩn các quận, xã, ấp thuộc tỉnh Tây Ninh, sau đó mới bắt đầu đi lưu diễn ở Bình Dương, Biên Hòa. Hễ gặp đình thì hát đình, gặp miễu thì hát miễu, gặp chợ thì hát chợ, chớ chưa từng vô một rạp hát nào.
            Có lần tôi có dịp đi Biên Hòa, ngang qua Tân Vạn, cạnh xa lộ Biên Hòa, bên hương lộ băng qua Chợ Đồn, bỗng thấy treo tấm bảng Hương Dạ Lý treo ở một căn nhà rộng lợp tôn giống như cái kho. Tôi dừng lại, thì đây là một cái ga ra xe hơi, hỏi ra thì gánh hát đến đây không tìm được đình, miễu hay chợ. May nhờ một nhà hào phú trong vùng cho gánh hát chui vô ga ra hát tạm, miễn phí. Vậy mà đêm qua vẫn có nhiều khán giả, nên bầu gánh, đào kép bữa nay có tiền, họ đang ăn điểm tâm với hủ tiếu, cà phê. Tôi vào ngồi chung bàn với ông bầu, và cho biết tôi ở Tây Ninh, thấy gánh hát lưu diễn ở đây nên ghé lại thăm. Tâm sự với ông bầu tôi được biết thành phần nghệ sĩ của đoàn khoảng mười người, đều là người thân, bà con nội ngoại với nhau, không có lương hướng cố định, hát nhiều tiền thì chia nhiều, ít tiền thì chia ít. Cô đào trẻ tên Mộng Nghi mới 15 tuổi được khán giả nông thôn tặng cho biệt danh “Mỹ Châu 2”, bởi cô có giọng ca giống Mỹ Châu. Khoảng tháng 3/1975 tôi còn thấy gánh hát bỏ túi này, đang hát ở một ngôi chợ vùng Bến Cầu, Gò Dầu Hạ, Tây Ninh, sau đó thì chẳng biết ra sao.
            Các hình ảnh, sự kiện như trên đã cho người ta có cái nhìn, nếu giờ đây nếu cải lương có vài đoàn hát kiểu bỏ túi như vậy, chắc nhiều đoàn khác sẽ ra đời, và cũng áp dụng đường lối hoạt động như Hương Dạ Lý khi xưa. Theo tôi nghĩ, cải lương sẽ dần dần sống trở lại. Coi như làm nhỏ mà chắc ăn, hơn là làm lớn rồi đổ nợ, rã gánh…


NGÀNH MAI
Tháng 10/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-100313-nm-10032013165015.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #68 vào: 16/08/2017, 10:24:14 »
Chuyện nghệ sĩ sân khấu trùng tên

Ngoài xã hội nếu như có hai người trùng tên nhau cũng đã gây khó khăn cho thiên hạ xác định, mỗi khi đề cập đến một trong hai người thì trong văn nghệ cũng vậy thôi. Trong làng sân khấu có đến những ba nàng Thanh Lan, do vậy mà thiên hạ rất dễ nhầm lẫn.

Nghệ sĩ Mộng Tuyền

Dễ nhầm lẫn
            Khi nói về một buổi trình diễn ở sân khấu, hoặc ai đó đang nói về người nghệ sĩ mà nghe họ đề cập đến hai chữ Thanh Lan, thì chắc rằng người nghe phải nghĩ ngợi trong vài giây và tự đánh dấu hỏi xem người ta muốn nói đến Thanh Lan nào đây.
            Thật vậy, trong làng sân khấu, ca nhạc có đến ba nàng Thanh Lan xuất hiện ở ba thời kỳ: Thanh Lan thời Đệ Nhứt Cộng Hòa; sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa lại có nàng Thanh Lan khác xuất hiện, và sau 1975 lại có thêm một nàng Thanh Lan nữa. Do đó mà khán giả, thiên hạ rất dễ nhầm lẫn, người ta có thể hiểu ca sĩ này sang nghệ sĩ kia… Cái đặc biệt là cả ba nàng đều có nét đẹp riêng và nổi tiếng mỗi người một cách.
            Chúng tôi tạm thời gọi ba nàng Thanh Lan bằng số 1, 2, 3 theo thứ tự thời gian trước sau mà các nàng ta xuất hiện ở mỗi thời kỳ.
            Trước hết nói về Thanh Lan 1 thì nàng này xuất hiện trước nhất, đã tạo được tên tuổi cùng thời với Thanh Thúy ở những nhà hàng Văn Cảnh, Hòa Bình, Bồng Lai, phòng trà Anh Vũ và các sân khấu đại nhạc hội. Nếu như Thanh Thúy quyến rũ khán giả bằng giọng ca truyền cảm và nét đẹp dịu hiền, thì Thanh Lan 1 đã thu hút được người xem bằng sắc vóc và nét bạo dạn khi trình diễn. Thanh Lan đi vào tâm hồn khán giả do cái “duyên”, cái “bạo” chớ không phải do sự tạo rung động khó quên bằng giọng ca như Thanh Thúy hoặc Hoàng Oanh.
            Thanh Lan 1 còn một lợi điểm nữa là rất ăn ảnh. Vì thế, nàng bước qua địa hạt phim ảnh thật dễ dàng. Trên màn bạc, Thanh Lan đã xuất hiện trong các phim “Đò Chiều”, “Bẽ Bàng”, “Cảnh Đẹp Miền Nam”, và thủ một vai chánh trong phim “Ảo Ảnh”. Con đường nghệ thuật đã đưa Thanh Lan 1 đến nếp sống trưởng giả, từ một nữ vũ sinh trong đoàn Kim Chung vào khoảng năm 1958. Nàng bắt đầu qua tân nhạc năm 1959, người hường dẫn về tân nhạc đầu tiên cho Thanh Lan là nhạc sĩ Phó Quốc Thăng.


Nghệ sĩ Bạch Tuyết và Nghệ sĩ Trang Thanh Lan tại giải Kim Khánh

            Nét đẹp của Thanh Lan được công nhận năm 1962, khi người ta tôn phong nàng làm “hoa hậu nghệ sĩ” và long trọng trao vương miện cho nàng trên sân khấu Anh Vũ. Phòng trà Anh Vũ ở Sài Gòn, là nơi mà những nhân vật tai to mặt lớn thời Đệ Nhứt Cộng Hòa thường lui tới. Tên tuổi và sự giao thiệp đã đưa Thanh Lan lên địa vị một “phu nhân” giàu sang đến mức triệu phú, hồi chế độ Ngô Đình Diệm.
            Thế nhưng, nếp sống trưởng giả không làm Thanh Lan quên nghệ thuật, vì vậy thỉnh thoảng vẫn phải tìm tới một nơi có nhạc để hát, hoặc tự ý, hoặc theo lời mời. Hát không còn là sinh kế, nhưng hát cho… đỡ nhớ. Thanh Lan bảo vậy đó. Thanh Lan cũng không quên mình là một nữ nghệ sĩ có ít nhiều nguồn gốc từ giới cải lương. Vì vậy nàng vẫn yêu sân khấu bộ môn này và vẫn thường đi coi cải lương, ngồi ở hàng ghế đầu theo dõi mà say mê thích thú.
            Do xuất thân từ đoàn cải lương Kim Chung, nên khi nghe tin Thanh Lan được bầu làm hoa hậu thì cả đoàn Kim Chung đã cười rần lên (không biết cười vấn đề gì).
            Có lần một ký giả kịch trường phỏng vấn:
            – Thanh Lan bây giờ muốn những gì?
            Nàng đáp:
            – Chẳng muốn gì nữa, chỉ ngủ trong hạnh phục sẵn có và niềm vui hiện tại là thích nhứt. Mỗi ngày Thanh Lan ở nhà cưng cậu con trai hoặc lái xe đi dạo phố.
            Bấy giờ nàng đã làm chủ những chiếc xe hơi, những ngôi biệt thự trị giá bạc triệu. Nghe nói thì Thanh Lan 1 là phu nhân của ông Cao Xuân Vỹ (chẳng biết có đúng hay sai). Từ sau 1975 người ta không nghe thấy nàng ca sĩ Thanh Lan 1 này ca hát gì cả, đã giải nghệ, và có lẽ đã ra hải ngoại nhưng không xuất hiện.
            Tiếp đây là đề cập đến Thanh Lan 2, nàng này xuất hiện khoảng sau năm Mậu Thân, và nổi tiếng như cồn vào những năm cuối của thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Thanh Lan 2 “lừng danh” nhiều hơn so với Thanh Lan 1, không những ở lãnh vực nghệ thuật mà luôn cả ngoài xã hội. Báo chí tốn khá nhiều giấy mực với nàng Thanh Lan 2 này, từ chuyện Dũng Long Biên (chồng của cô) đến chuyện đóng phim “Tiếng Hát Học Trò”, đóng phim “Tinh Khúc Thứ 10” với tài tử Nhật Bổn trên sông Hương v.v…
            Không biết tại sao mà mỗi lần có việc gì đó xảy ra liên quan đến Thanh Lan 2 thì báo chí tập trung vào để nói. Tóm lại là Thanh Lan 2 nổi tiếng khá nhiều do những xì căng đan, mà báo chí thời bấy giờ đã triệt để khai thác, mà báo nói nhiều là thiên hạ bàn tán nhiều vậy. Hiện nay Thanh Lan 2 đã ở hải ngoại gần 20 năm, thỉnh thoảng vẫn còn đi hát. Khoảng hơn một năm trước đây cô có tham gia sô hát của kịch sĩ Túy Hồng.
            Giờ thì nói đến nàng Thanh Lan 3 nhỏ nhứt, nàng này xuất hiện sau 1975, không có những “dậy sóng” như hai nàng kia, được khán giả biết đến là nhờ ca hát, và từng làm bầu gánh cải lương, nhưng rồi gánh hát rã nghỉ làm bầu luôn.
            Thanh Lan 3 sinh quán ở Vĩnh Long, trong gia đình truyền thống cổ nhạc, và là em chú bác với nghệ sĩ Thành Tôn (hát bội). Nàng từng theo học lớp tân nhạc với Duy Khánh, và cũng từng học lớp có cổ nhạc ờ lò Út Trong. Sau đó thì chính thức đi vào nghề qua việc gia nhập đoàn cải lương tuồng cổ Phước Thành. Kế thì đi đoàn Đất Mũi và điều kiện thuận lợi đẩy nàng nhảy lên làm bầu gánh hát Sân Khấu Mới Đồng Nai. Thanh Lan có dịp kinh nghiệm được nỗi đắng cay nghiệp làm bầu, gặp cảnh đào kép eo sách, làm khó đủ thứ, đòi mượn tiền trước giao kèo rồi lại bỏ đi… Đoàn hát kiệt quệ, Thanh Lan cho đoàn rã gánh và đi hát chầu trở lại cho mấy đoàn khác. Thanh Lan 3 vừa mới nổi tiếng, được báo chí nói đến, đăng hình, nhưng rồi do “ngành cải lương cúc rũ thu tàn” nên hiện nay người ta chẳng biết Thanh Lan này ra sao, ở đâu?
            Trên đây là thành tích của ba nàng Thanh Lan, chúng tôi nêu lên tổng quát những sự kiện nổi bật, chớ nếu như đi vào chi tiết thì quá rườm rà…

            Ngoài ba nàng Thanh Lan cùng mang một tên, thì cũng có hai nàng Kim Loan trùng tên với nhau.
            Vào thời đầu thập niên 1960 trong làng tân nhạc có ca sĩ Kim Loan, vừa đẹp lại vừa hát hay, và nhân lúc Hoa Kỳ phóng phi thuyền Apollo 11, cô nàng nói với báo chí: “Tôi thích lên cung trăng nhưng cũng sợ nguy hiểm quá!” (Không biết nói đùa hay có dụng ý gì chăng?)
            Trong khi đó thì phía bên cải lương cũng có cô đào Kim Loan, và dù rằng khác lãnh vực nhưng cả hai đều đứng trên sân khấu, nên có thể người ta hiểu lầm, gây ngộ nhận giữa Kim Loan này và Kim Loan kia. Cũng như có dư luận cho rằng hai nàng Kim Loan chỉ là một thôi, mà lúc bấy giờ nghe đâu hình như Kim Loan tân nhạc có phàn nàn, rằng bộ hết tên rồi sao mà lại lấy trùng tên với cô, để cho thiên hạ thắc mắc chớ? (Có lẽ Kim Loan cải lương xuất hiện sau).
            Thật vậy, nếu phải chi Kim Loan cải lương mà tài nghệ yếu kém, chỉ là cái bóng mờ ít ai chú ý, hoặc là không được cải nhan sắc mỹ miều trời cho, thì người ta nghĩ chắc sẽ không có vấn đề gì. Đằng này cả hai đều trẻ đẹp, tuổi đời lại cũng được khán giả ái mộ, nên vấn đề mới được đặt ra, mà chung cuộc thì người sau luôn bị thiệt thòi.
            Báo chí thời đó có nêu lên sự thể, thiên hạ cũng lên tiếng phê bình này nọ, chạm đến lòng từ ái của một nghệ sĩ, đồng thời cũng có những đề nghị thế nào đó, nên sau ngày lãnh giải Thanh Tâm 1963, Kim Loan cải lương đã quyết định đổi tên là Mộng Tuyền. Cô tuyên bố với mọi người rằng, cô được khán giả mến chuộng là do khả năng tài sắc của mình, chớ đâu có phải nhờ ở cái tên “Kim Loan”! Quả thật thời gian sau Mộng Tuyền được phía điện ảnh mời đóng phim, đảm nhận vai chánh của mấy cuốn phim, và làm trưởng ban cải lương ở đài truyền hình, tên tuổi nổi như cồn.
            Có thể nói Mộng Tuyền là một trong những cô đào sân khấu đẹp nhứt vào thời đó, cô đã hát qua nhiều gánh, và lọt vào bao nhiêu cặp mắt xanh của bầu bì, vương tôn công tử, cũng như những anh kép cùng trang lứa. Ngày ấy một hoa mai trắng rụng vào tim cô, trung tá Nam được cái diễm phúc ấy, và đám cưới tổ chức tại nhà hàng Bát Đạt ở Chợ Lớn. Có những cơn sóng gió xảy ra, nàng nói bởi vì mình đã chọn, mình đã yêu, thì phải chiều nhau cho đến ngày răng long tóc bạc! Nhưng chưa đến ngày đó, trước ngày tàn cuộc chiến vài tháng thì Mộng Tuyền đã bái bai ông xã hoa mai trắng kia.
            Sau 1975 Mộng Tuyền chánh thức làm vợ ông Bầu Xuân, và khi ông này đi học tập cải tạo hơn ba năm, nàng ôm cầm sang thuyền khác, và ôm theo trên cả trăm cây vàng khiến cho ông này khổ đau, chán ngán quá ở vậy luôn. Người ta nói có lẽ ông Bầu Xuân khó kiếm ra một cô đào nào mà tài sắc như Mộng Tuyền, nên không thèm có vợ nữa.
            Còn Kim Loan tân nhạc thì về sau cũng nổi tiếng không kém, nhưng chỉ ít năm sau vào lúc danh tiếng nổi như cồn thì Kim Loan đi Tây Đức và ở luôn bên Đức. Kể từ lúc ấy trong làng tân nhạc vắng bóng Kim Loan, và khi Kim Loan kia đi rồi, nàng Kim Loan ở lại cũng mang tên khác, thành thử ra sân khấu Việt Nam chẳng còn ai là Kim Loan hết.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-10120-nm-10102013163451.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #69 vào: 18/08/2017, 17:36:28 »
Chuyện cô Năm Cần Thơ vào hát trong khu kháng chiến

Cô Năm Cần Thơ nổi danh từ đầu thập niên 1940, từng được hãng dĩa Asia thu thanh bộ dĩa hát “Mổ Tim Tỷ Cang” và dĩa vọng cổ “Con Chim Họa Mi” của hãng dĩa Việt Nam, và nhiều bộ dĩa khác.

Cô Năm Cần Thơ, người đứng sau cô Kim Hà trong một vở diễn trước đây

Nhiều người mến mộ
            Sau đệ nhị Thế Chiến, Tháng Chín 1945 Pháp trở lại Đông Dương lập lên Đài Phát Thanh Pháp Á, và cô Năm Cần Thơ là ca sĩ cổ nhạc được ưa chuộng nhứt của đài này. Nhờ giọng ca được phát đi trên làn sóng phát thanh, nên dù ở tận nơi thôn quê hẻo lánh nào, nếu có radio là được nghe, luôn cả trong khu kháng chiến người ta cũng nghe tiếng ca của cô Năm. Một trong số những người mến mộ tiếng ca của cô Năm Cần Thơ là tướng Bảy Viễn, chỉ huy lực lượng võ trang Bình Xuyên.
            Lúc bấy giờ trong khu kháng chiến Rừng Sát, tướng Lê Văn Viễn, tức Bảy Viễn tham gia kháng chiến với chức vụ Chi Đội Trưởng Chi Đội 9. Tổng hành dinh đặt tại Tắc Cây Mấm trong Rừng Sát, có ban văn nghệ với nhiều nhạc cụ Tân Nhạc như kèn, trống, violon, piano… nhưng về cổ nhạc thì chưa có. Trưởng ban văn nghệ là nhạc sĩ Hai Dậu (từng là kép hát gánh Kim Thoa).
            Đến cuối 1947 Bảy Viễn được vinh thăng Khu Bộ Phó Chiến Khu 7. Một liên hoan lớn được tổ chức ngay để làm lễ tấn phong Khu Bộ Phó Bảy Viễn. Nhân dịp, nhạc sĩ Hai Dậu được lịnh về thành mời các ca sĩ cổ nhạc để cho đêm liên hoan có đủ tân cổ. Đầu hôm là tân nhạc cho xôm trò, về khuya rỉ rả sáu câu mới thâm trầm sâu lắng. Liên lạc viên đưa Hai Dậu về Cầu Chữ Y, anh ta nghĩ ngay tới ca sĩ lừng danh cô Năm Cần Thơ, mà trước kia anh đã có những giao du tình cảm khó quên, lúc cô Năm đi đoàn hát của Lê Thành Lư.


Cô Năm Cần Thơ, thời làm chủ quán Họa Mi

            Vừa nghe anh ngỏ lời rước vô khu dự lễ lớn, cô Năm Cần Thơ reo lên:                                     
            – Từ lâu em muốn vô khu một lần cho biết! Người ta đi kháng chiến rần rần như các bậc thầy Tư Trang, Tám Danh, Ba Du, Bảy Vân, Tám Củi… mà mình nằm khoanh ở thành coi kỳ kỳ! Đi với anh thì em không lo ngại gì.
            Vô tới nơi, thấy mỗi khúc quanh sông rạch đều có bộ đội thủ súng lớn canh gác nghiêm nhặt, Năm Cần Thơ gật gù:
            – Bộ đội mình súng ống hùng hậu quá chớ!
            Hai Dậu giới thiệu Năm Cần Thơ, Bảy Viễn niềm nở bắt tay kêu to:
            – Cha chả là hay! Lâu nay “văn kỳ thinh” nay mới “kiến kỳ hình”. Nói thiệt với cô Năm, tôi nghe cô Năm ca “Bể Hận Quyết Lắp Cho Bằng” trên dĩa Béka tròng vàng, tôi ao ước được diện kiến giọng oanh vàng.
            Cô Năm Cần Thơ cũng đáp lễ rất lưu loát:
            – Còn em thì lâu nay nghe uy danh của ngài Khu Bộ Phó, hỗn danh là Hắc Hổ Bình Xuyên, nay mới biết danh bất hư truyền: Ngài Khu Bộ Phó đúng là một tay “Từ Hải dọc ngang nào biết trên đầu có ai!”
            Bảy Viễn hứng chí rót rượu đãi các nghệ sĩ trong thành ra, khen ngợi Năm Cần Thơ, Bảy Viễn nói:
            – Chỗ anh em văn nghệ với nhau, cứ gọi tôi là anh Bảy cho thân mật. Đừng gọi “ngài Khu Bộ Phó” như hai cha Tư Sang, Năm Tài bày đặt, nghe quan cách quá!
            (Tư Sang là Lai Văn Sang, và Năm Tài là Lai Hữu Tài).
            Đêm lễ tấn phong Khu Bộ Phó thật vui. Có đầy đủ quan khách trong thành ra như Lâm Ngọc Đường, Maurice Thiên (hai trùm phòng nhì Pháp, xếp của hai anh em Lai Văn Sang, Lai Hữu Tài). Đêm càng khuya, dàn cổ nhạc càng thu hút khách mộ điệu. Hai Dậu đờn kìm thủ song lang, Tấn Thìn đờn lục huyền cầm. Năm Cần Thơ đơn ca bản “Bể Hận Quyết Lắp Cho Bằng” theo lời yêu cầu của Khu Bộ Phó Lê Văn Viễn. Chuyến đi Rừng Sát năm ấy sống mãi trong đời danh ca Năm Cần Thơ.
            Được phong chức chẳng bao lâu thì Bảy Viễn, mang lực lượng võ trang Bình Xuyên về thành đầu Tây, được Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh phong Thiếu Tướng, tổng hành dinh đặt phía bên kia Cầu Chữ Y. Bảy Viễn còn được chính quyền thời ấy cho thầu khai thác sòng bạc Đại Thế Giới, Trường Đua Phú Thọ, và nhiều quyền lợi kinh tế khác.
            Có lẽ nhớ lại lúc cô Năm Cần Thơ vào hát trong buổi lễ tấn phong ở chiến khu Rừng Sát, nên Bảy Viễn cho cô Năm mở quán nhậu có sân khấu nhỏ trong khuôn viên Đại Thế Giới, mang bảng hiệu “Họa Mi”, là tên của dĩa hát Con Chim Họa Mi do chính cô Năm ca. Người làm phổ ky chạy bàn của tiệm cô Năm lúc bấy giờ là nghệ sĩ Hữu Phước lúc chưa gặp thời.
            Khoảng 1953 Hữu Phước nhờ ca vọng cổ hay, được Bảy Viễn viết giấy giới thiệu với ông Ba Bản, chủ hãng dĩa hát Hoành Sơn, thời gian sau thì Hữu Phước nổi danh luôn. Riêng cô Năm Cần Thơ thì năm 1955 sòng bạc Đại Thế Giới bị đóng cửa theo lệnh của Ngô Thủ Tướng. Dĩ nhiên quán nhậu Họa Mi của cô Năm cũng đóng cửa luôn.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-10192013-nm-10182013153637.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #70 vào: 23/08/2017, 21:22:14 »
Khi nữ giới làm soạn giả cải lương

Ngoài xã hội, người phụ nữ hiện diện trong nhiều lãnh vực, đảm trách những việc lớn lao ở mọi ngành nghề. Các thành phần trí thức như luật sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà văn, nhà báo cũng không thiếu những phụ nữ đa tài. Và trong guồng máy chính quyền, các cơ quan dân cử cũng có quý bà tham gia. Tóm lại đâu đâu cũng có bóng dáng người phụ nữ, đôi khi lại còn giữ những vai trò quan trọng hơn cả phái nam.

Nữ soạn giả Nhị Kiều thời trẻ

Nghề hiếm phụ nữ tham gia
            Thế mà có một nghề kể ra cũng chẳng cao quí gì mấy, vậy mà thiên hạ, người đời lại không tin phụ nữ làm được, đó là nghề thầy tuồng, tức soạn giả cải lương.
            Tại sao vậy chớ? Cái nghề ấy có khó khăn lắm đâu! Biết rằng nghề thầy tuồng rất hiếm phụ nữ tham gia, chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng cũng đã xuất hiện từ lâu trong làng ca kịch. Chỉ có cái là thiên hạ đã không tin, nói rằng “thằng cha” nào đó viết, muốn lấy điểm với người nữ, nên viết rồi để cho mấy bả đứng tên, chớ đàn bà con gái làm gì viết được tuồng cải lương (?)
            Trong buổi nói chuyện này tôi nêu lên những nữ soạn giả, từng có những vở hát đề tên mình, được trình diễn trên sân khấu trong nhiều thập niên qua. Cũng đồng nêu lên những lý luận, dẫn giải của thiên hạ, nhằm phủ nhận vai trò thầy tuồng của các bà các cô.
            Trước hết xin nói về cô giáo Hường với vở tuồng “Ngốc Tử Cởi Củi” ra đời thời thập niên 1930-1940. Từ cái thuở cải lương hát tuồng ta như: Nguyệt Nga Cống Hồ, Kim Vân Kiều, Lưu Bình – Dương Lễ. Kế đến diễn tuồng Tây (loại tình cảm xã hội kim thời), rồi chuyển sang tuồng Tàu, thì người ta thấy trên sân khấu Văn Hí Ban, trình diễn một vở hát thần thoại Trung Hoa mang tên là “Ngốc Tử Cởi Củi” hoặc Lý Chơn Tâm anh hùng cởi củi cũng thế, của một nữ soạn giả – cô giáo Hường. Thời ấy không ai tìm biết ông, bà thầy tuồng mà làm gì, chỉ cần khen tuồng hay mà thôi.
            Nếu như có ai đó tọc mạch nhìn kỹ vào chương trình, thấy tên nữ soạn giả thì ai nấy cũng đều bụm miệng cười! Từ chỗ không tin là đàn bà viết tuồng được, đi đến chỗ người ta phải dị nghị rằng, bởi ông Đào Châu (lúc bấy giờ là thầy tuồng cột trụ của đoàn) muốn chọc tức khán giả chơi, nên mới bày trò đề tên cô giáo tưởng tượng nào đó, chớ đánh cá mười ăn một thì “Ngốc Tử Cởi Củi” cũng vẫn là do Đào Châu viết. Không nghe ông Đào Châu tranh cãi gì với ai, và cũng chẳng thấy cô giáo Hường bằng xương bằng thịt xuất hiện tại đoàn hát thầy Mười Vui bao giờ, nên không còn ai thắc mắc chi nữa. Tuy nhiên, thấy trên giấy trắng mực đen như thế, thì chúng ta phải kể cô giáo Hường là nữ soạn giả đầu tiên của nền ca kịch xứ này vậy.


Soạn giả, nghệ sĩ Bảy Nam (giữa) và nghệ sĩ Kim Cương (phải) trong vở diễn “Lá sầu riêng”

            Đến nghệ sĩ Bảy Nam với nhiều vở hát tung ra, diễn trên sân khấu lớn, và người ta không còn lạ gì nữa, do bởi tên tuổi Bảy Nam quá quen thuộc với khán giả cải lương thời bấy giờ. Cô Bảy hát hay và với tuồng Tàu, được coi như nữ nghệ sĩ có lối múa sang trọng nhứt. Về trình độ văn hóa thì nghệ sĩ Bảy Nam đã viết được hồi ký, đoản văn đăng báo rất nhiều. Cho nên trong nghề hát, người ta cũng đã thấy có nhiều vở hát mang tên Bảy Nam mà soạn phẩm đáng ghi nhớ nhứt phải nói là Phấn Hậu Cung, do cô viết để đưa Kim Cương lên sân khấu lần đầu tiên.
            Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, khi có cuộc thi đua sáng tác văn nghệ toàn quốc, thúc bách Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu phải đưa ra những soạn phẩm mới, để tham dự trong một thời gian rất ngắn, cũng chính cô Bảy Nam lãnh trách nhiệm viết ngay vở “Mắng Việt Gian” trao cho Hội gởi dự thi. Tiếc vì vở này Ngô Triều gạt bỏ, nên cô Bảy không đoạt được giải gì trong cuộc thi đua đó. Cuộc thi này soạn giả Điêu Huyền trúng giải vở tuồng “Chén Cháo Chí Linh”. Nhưng sau đó gặp rắc rối bất ngờ, khiến soạn giả nhà ta lên ruột. Vấn đề tôi sẽ trình bày ở các kỳ phát thanh sau.
            Trong làng thì ai cũng phải công nhận là cô Bảy Nam viết được cả, nhưng ngoài ngõ, có mấy tay xấu mồm bảo rằng tuồng của cô Bảy Nam đều do anh chàng Duy Lân viết cả. Mà lại còn cả quyết rằng những vở hát ấy được viết ra từ hồi có đoàn Nam – Lân, nghĩa là lúc cô Bảy còn là bạn đầu ấp tay gối với soạn giả Duy Lân. Thế mới ác, cái miệng con người! Dầu gì thì trong làng ca kịch vẫn coi cô Bảy Nam là nữ soạn giả thứ hai.
            Rồi tới cô Nguyệt, cũng có tên là Nhị Kiều, soạn giả thường trực của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Cô Nguyệt đây không phải là tên ấm ớ như cô giáo Hường để bị nghi ngờ, mà đó là vợ đương thời của nghệ sĩ Tám Vân, tên thật là Hoàng Trúc Mai. Cô Nguyệt có viết lách gì được không thì không ai biết. Thế nhưng, đã có hơn mười vở hát trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga, cô Nguyệt có đứng tên bên cạnh nào là Nguyễn Phương, Tuấn Khanh, Phương Ngọc, Yên Ba, Nguyễn Đạt, Hoàng Lan. Rồi thì ai cũng bảo là cô Nguyệt đúng là nữ soạn giả thời đại. Ngược lại cũng có người phanh phui ra rằng cô Nguyệt chả có viết lách gì được đâu. Vở hát nào có cô đứng tên bên cạnh một người khác, thì đích thị người đứng chung tên với cô đó mới là soạn giả. Còn cái việc “cô Nguyệt hợp soạn” chứng minh rằng soạn phẩm của ai đó, được Tám Vân nhuận sắc lại và kèm tên vợ vào để dễ bề ăn nói trong việc chia chát tiền bản quyền vậy thôi. Điều này nghe có phần hữu lý, bởi vì có ai thấy lần nào cô Nguyệt viết được một bài báo như cô Bảy Nam đâu!
            Người ta cũng không quên cô Lệ Liễu, cô này quả tình là viết được, mà viết rất nhiều bài, hoặc liên ca diễn khúc để diễn trên đài phát thanh. Lại còn làm thơ (đăng tạp chí Phổ Thông), viết tùy bút, hồi ký lung tung. Có dạo Lệ Liễu hứng chí, viết cho Thanh Minh – Thanh Nga vở tuồng dã sử tranh đấu mang nhan đề là “Theo Chơn Nguyễn Thái Học”. Vở hát nội dung đúng đắn, hiềm vì kỹ thuật yếu kém, không ăn khách, khiến người ta dễ quên đi sau đó. Lại khi nhắc tới vở “Theo Chơn Nguyễn Thái Học” thì có kẻ bảo rằng, có thằng kỹ sư nào đó viết trao cho Lệ Liễu làm bài ca, chớ sức mấy mà Lệ Liễu viết tuồng? Kể cũng tội cho phái nữ. Viết bài ca, viết hồi ký, làm thơ thì ai cũng công nhận, nhưng nhảy qua viết tuồng cải lương thì có người nghi ngờ.


Gia đình Soạn giả Nhị Kiều – Tám Vân. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương

            Còn Thanh Nga thì sao? Thanh Nga có vở hát đầu tay là “Căn Nhà Ma”. Đào kép xầm xì liền rằng đó là tuồng của Lưu Thủy, nhờ Thanh Nga đứng tên cho oai. Rồi cô còn viết thêm vở “Cổn Long Vương”. Có người lại nói đó là tuồng của một soạn giả già, giao qua tay Tám Vân để bán rẻ cho Thanh Nga.
            Trong lúc mọi người đang thắc mắc nghi ngờ việc Thanh Nga làm soạn giả, thì có ai đó hỏi Thành Được vấn đề, thì anh kép này xác nhận là chính Thanh Nga viết chớ chẳng phải ai hết. Thế nhưng, lại có người phản bác nói rằng Thành Được đang si mê Thanh Nga, đang mong làm chủ con tim người đẹp thì làm sao dám nói khác hơn, sẽ bị rơi đài tức thời. Tóm lại chuyện Thanh Nga làm soạn giả, có kẻ tin người không.
            Thanh Nga có viết tuồng được không? Trời mà biết. Nhưng thỉnh thoảng thấy Thanh Nga có làm thơ đăng trong các giai phẩm của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Có đứa lại rỉ tai nhà báo: Đó là thơ của Trần Đình (thi sĩ Trần Đình là người phụ trách giai phẩm kỷ yếu hằng năm của gánh Thanh Minh Thanh Nga).
            Không biết vì sao mà trong văn học, người ta chỉ không tin giới nữ duy nhứt là soạn tuồng cải lương. Chớ còn mọi lãnh vực khác thì chẳng thấy ai thắc mắc nghi ngờ. Chẳng hạn như bà Tùng Long với nhiều tác phẩm tiểu thuyết đăng báo, ra sách, chẳng một ai nói là không phải của bà. Còn như tác phẩm “Vòng Tay Học Trò” khá nổi tiếng, từng chấn động trong văn giới một dạo, đâu có ai nói không phải của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng. Chắc chỉ có cải lương là lắm chuyện như vậy thôi!
            Đó là chuyện của thời kỳ trước 1975, chớ sau này ở trong nước nghe nói có những nữ soạn giả xuất hiện, viết kịch bản cho các nghệ sĩ hát trên sân khấu, trên truyền hình, mà chưa nghe ai nói là có người đàn ông con trai nào đó viết thay cho.

Tôn Tẩn mang giày thể thao Adidas
            Do chuyện bầu gánh hát thuộc dạng bầu tèo, bớt xén lương nghệ sĩ mà xảy ra câu chuyện hát xướng phục trang quái đản sau đây. Khoảng năm 1986, có một đoàn cải lương thuộc miền Đông Nam Bộ, về diễn ở một huyện tỉnh Long An. Hôm ấy đoàn diễn vở “Tôn Tẩn Giả Điên”, là vở tuồng ăn khách nhiều nơi, nên về đây khán giả đầy rạp.
            Do bị bớt xén lương nhiều lần liên tiếp, nên anh kép chánh của đoàn đã nghĩ cách “hạ” lại ông bầu một vố. Lớp Tôn Tẩn hạ sơn, anh kép chánh trong vai Tôn Tẩn mặc áo xường xám, mang giày thể thao Adidas, đầu đội nón bêrê đen (kiểu nón binh chủng thiết giáp của quân đội), tay cầm baton bước ra sân khấu. Khán giả tưởng đâu đoàn phụ diễn trích đoạn xen kẽ với tuồng hát chính, nên vẫn im lặng chờ thưởng thức. Nhưng sau đó thấy Tôn Tẩn cứ nói xàm, hết chọc ghẹo đào chánh, đến hề rồi cả kép độc, quân sĩ… mà chẳng chịu ca câu vọng cổ nào nên mới phản ứng dữ dội.
            Anh kép chính này được trời phú cho hơi ca dài, nên khán giả rất thích anh ca vọng cổ. Ông bầu hay tin chạy như bay vào sân khấu kêu đóng màn ngay. Một cuộc mặc cả lương giữa kép chánh và bầu gánh diễn ra chớp nhoáng, phần thắng nghiêng về phía anh kép chánh. Vở diễn được tiếp tục. Tôn Tẩn đã được phục trang đúng với vai diễn, và anh kép chánh hăng hái hát hàng loạt câu vọng cổ dài hơi, làm hài lòng khán giả hôm bữa đó.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-102613-nm-10242013161058.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #71 vào: 26/08/2017, 08:22:35 »
Đoàn Dạ Lý Hương và hiện tượng Hùng Cường, Bạch Tuyết

Khán giả cải lương của những năm giữa thập niên 1960 chắc không quên hiện tượng Hùng Cường, Bạch Tuyết, xuất hiện trên sân khấu Dạ Lý Hương đã gây chấn động làng ca kịch, thu hút giới mộ điệu bộ môn nghệ thuật này một cách mạnh mẽ, mà điển hình là khán giả sân khấu lẫn truyền hình đã chờ đón để đi coi đoàn Dạ Lý Hương.

Bìa đĩa cải lương Yêu Người Điên, soạn giả Thiếu Lĩnh,
đoàn cải lương Dạ Lý Hương

Vị thế không đối thủ
            Thật vậy, cải lương sau thời gian hơn một thập niên, tính từ 1952-53 trở về sau, hầu như phần lớn gánh hát đã nhắm vào nhiều loại tuồng hương xa, màu sắc. Từ những tuồng dựa theo truyện cổ Á Rập 1001 đêm cho đến các tuồng dã sử Nhựt Bổn. Rồi kế đến thì tuồng ma, kiếm hiệp, đánh chưởng với các xảo thuật bay trên sân khấu. Thỉnh thoảng người ta cũng thấy một số tuồng dựa theo truyện cổ tích Việt Nam như Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Con Tấm Con Cám, Lưu Bình Dương Lễ v.v… Nói chung cải lương đã khai thác các câu chuyện nhân gian, thần thoại của nhiều quốc gia được dịch ra in thành sách phổ biến. Thế nhưng những loại tuồng trên chỉ ăn khách một cách vừa phải và thời gian không lâu thì con số khán giả đến rạp thưa dần.
            Đến khi đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân ra đời đã đổi mới sân khấu, mời các soạn giả tên tuổi với các tuồng xã hội, đặc biệt là cặp Hà Triều Hoa Phượng đã tung ra các tuồng xã hội, thích hợp với cảm quan khán giả lúc ấy, và hợp với lối diễn của cặp Hùng Cường Bạch Tuyết nên lần hồi đoàn Dạ Lý Hương đánh bạt những đoàn cải lương khác để tạo vị thế đại ban không đối thủ tại Đô Thành.
            Dạ Lý Hương là đoàn hát chọn lựa tuồng tích rất kỹ lưỡng, thời gian nhiều năm đoàn hát này đã dẫn đầu về số lượng tuồng mới, chưa đoàn nào qua mặt được, do đó đã củng cố địa vị một đại ban. Từ đó thinh danh của Dạ Lý Hương càng vang dội, và nhìn qua thực lực thì Dạ Lý Hương còn đủ điều kiện tiến triển hơn nữa nếu như ban giám đốc đoàn này biết khéo giữ đường hướng nghệ thuật lành mạnh và thành phần nghệ sĩ ưu tú sẵn có. Tiếc rằng, đoàn Dạ Lý Hương không nắm giữ lâu dài cái kết quả tốt đẹp cho mình, do những sự kiện sau đây:
            Đó là khoảng giữa năm 1971, Hùng Cường kép trụ cột của đoàn Dạ Lý Hương vì không thỏa mãn điều kiện giao kèo nên rời đoàn này. Hùng Cường đã chánh thức nghỉ đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân, nơi mà danh tiếng của anh lên cao nhứt trong cuộc đời nghệ sĩ nhờ đóng chung với đào Bạch Tuyết. Hùng Cường Bạch Tuyết là hai tên tuổi khó quên trong lòng của khán giả.
            Hùng Cường ra đi, Bạch Tuyết không có người đóng tuồng cặp với cô nên người ta thấy Bạch Tuyết như lạc lõng trên sân khấu này. Vì thế mà đoàn hát Dạ Lý Hương phải mất đi một số khán giả đáng kể. Hùng Cường bỏ đoàn Dạ Lý Hương phải kể là một biến cố quan trọng trong sinh hoạt cải lương nói chung và đoàn hát Dạ Lý Hương nói riêng. Vì sao Hùng Cường lại làm như thế? Nhiều người đã hỏi như vậy, nhưng người ta cũng tự biết rằng bầu Xuân đã không thỏa mãn điều kiện tiền bạc cho anh kép này nên anh phải ra đi. Mỗi bên đều có lý lẽ riêng. Phía đoàn Dạ Lý Hương thì cho rằng nếu trả lương và giao kèo cho Hùng Cường quá cao thì đoàn hát phải bị lỗ lã, các nghệ sĩ khác phải bị kém lương đi.
            Đó là cái lý của ông bầu Xuân chủ nhân đoàn hát, còn Hùng Cường thì cho rằng giao kèo và lương anh cũng không cao và đoàn hát vẫn có lời. Những người am tường, theo dõi hoạt động cải lương thời đó đã nói, do ông bầu Xuân một người từng thành công trên thương trường, là giám đốc công ty xuất nhập cảng. Đồng thời cũng là chủ nhân hãng giấy Kiss Me duy nhứt ở Việt Nam. Ông có cái nhìn thực tế, bởi sau năm Mậu Thân nghệ thuật cải lương điêu đứng, xuống dốc trầm trọng, ngay cả đoàn Dạ Lý Hương của ông cũng trong tình trạng sa sút. Ông còn giữ vững được đoàn hát là nhờ có vốn lớn, sẵn tiền, chớ đại đa số đều rã gánh. Trừ ông bầu Long của Kim Chung ra, các bầu gánh khác còn lại đều mang nợ, sống cầm chừng không biết chết ngày nào, tháng nào. Cải lương trước tình trạng mù mịt như vậy thì ông đâu có dại gì mà bỏ ra nhiều triệu theo như đòi hỏi của Hùng Cường để giữ anh này lại đoàn hát.
            Nghỉ hát cho Dạ Lý Hương, Hùng Cường bị mất sân khấu hoạt động, vì không có đoàn nào theo nổi giá giao kèo quá cao của anh ta đặt ra. Từ đó Hùng Cường không chánh thức hát trên một sân khấu nào, mà chỉ hoạt động tân nhạc ở đài truyền hình hay đại nhạc hội mà thôi. Không đi đoàn hát nào đó cũng là điều thất lợi cho anh về mặt danh tiếng, vì tân nhạc không làm cho Hùng Cường nổi bật bằng cải lương, nhất là Hùng Cường hát cải lương với Bạch Tuyết.
            Về phía đoàn Dạ Lý Hương cũng bị một khoảng trống lớn vì thiếu Hùng Cường. Và đào Bạch Tuyết, người được xem là “tình nhân nghệ thuật” của Hùng Cường bị mất kép hợp “rơ” nên không sao thi thố được sở trường độc đáo của mình. Như vậy, cách ca diễn của Bạch Tuyết đã xuống dốc, không đủ sức giữ vững ngôi vị thần tượng của mình chớ đừng nói đến lôi kéo được số khán giả vì thiếu Hùng Cường.


Bìa dĩa hát Bạch Tuyết và Hùng Cường

Bạn diễn hợp “rơ” mới phát triển được
            Nghệ thuật cải lương nếu không có người bạn diễn hợp “rơ” thì tài nghệ không phát triển được. Người ta còn nhớ một chuyện từng xảy ra liên quan đến đào Bạch Tuyết cũng vì người bạn diễn không hợp “rơ” mà xảy ra cải vã và câu chuyện như sau:
            Hồi xa lắm rồi, một cậu giáo làng ở tỉnh Bạc Liêu cảm thấy nghề giáo trầm lặng quá, thiếu chất rung cảm mà tâm hồn cậu thì tha thiết với đờn ca xướng hát, nên cậu cương quyết ra đi, lên Sài Gòn để theo cải lương. Cậu giáo đó về sau là kép Út Hiền.
            Đến đất Sài Gòn đầu thập niên 1960, năm ấy là năm mà danh tiếng đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vang dội khắp nơi, cậu bị cuốn hút bởi Út Trà Ôn nên đến xin làm đệ tử. Thấy cậu có vẻ hiền, Cậu Mười bèn thâu nhận và đặt cho cậu cái biệt danh rất “Nam Kỳ” là Út Hiền. Thế là từ đó cậu mang “dòng họ” Út.
            Thời gian sau Út Hiền là kép chánh đoàn Hương Mùa Thu đóng cặp với đào Ngọc Hương. Có những màn tình tự, vai kề vai, má kề má, đã làm cho ông xã của nàng là soạn giả Thu An điên tiết lên, và nhứt định phải cho Út Hiền rời khỏi đoàn.
            Rồi thì Út Hiền đi làm kép chánh của nhiều đoàn hát khác như ai nấy đều biết. Nhưng trên sân khấu Dạ Lý Hương, anh đành thúc thủ đứng hạng nhì sau kép Hùng Cường. Chuyện rõ ràng là thế, Út Hiền không bao giờ chối cả, cũng như mọi người đều xác nhận như vậy.
            Rồi có một lần nọ tại Bạc Liêu, kép Hùng Cường bận về Sài Gòn đi công tác (bởi Hùng Cường là kép lính có lệnh gọi là phải về). Không lẽ vì thiếu một người đoàn hát phải nghỉ? Cũng có thể thay Hùng Cường tạm hát được mà. Thế là Út Hiền “phụng mạng” đứng ra thay thế Hùng Cường để đoàn hát khỏi nghỉ và đào kép khỏi mất đêm lương.
            Tưởng vậy là ơn nghĩa, tròn trịa rồi, không dè việc thay thế ấy không làm hài lòng người đóng cặp với mình, tức đào Bạch Tuyết. Do vậy, đang hát nửa chừng, Bạch Tuyết la ó om sòm, cự nự rùm beng trước mặt đông người. Bị chạm tự ái quá mạnh, Út Hiền không thể dằn được, nhứt là về đến xứ sở quê hương Bạc Liêu của mình. Trước mặt bạn bè mà bị Bạch Tuyết “hạ” cho một đòn chí tử, Út Hiền phản công tới tấp và không quên dùng những lời nặng nề thóa mạ trả đũa đối phương Thế là đôi bên “sáp chiến”, một trận giặc mồm được diễn ra quyết liệt.
            Út Hiền la ó:
             “Cô thần tượng với ai chớ với thằng nầy thì… xê rô (0) biết không?”
            Vừa tới đó thì có người can ra, trận chiến tàn lần không thì chưa biết hồi sau kết cuộc thế nào.
            Trở lại vấn đề của đoàn Dạ Lý Hương thì người ta thừa biết đoàn này tạo được địa vị đại ban không đối thủ, phần lớn là nhờ tuồng xã hội và cặp Hùng Cường Bạch Tuyết. Nay Hùng Cường đã rời khỏi sân khấu và thiếu tuồng xã hội giá trị, nên ban giám đốc Dạ Lý Hương quyết thay đổi đường hướng nghệ thuật bằng cách cho trình diễn đủ các loại tuồng như màu sắc, võ hiệp v.v… để mong giữ được địa vị sẵn có. Thế nhưng đào kép đoàn Dạ Lý Hương đã quen hát tuồng xã hội, nhất là Bạch Tuyết được khán giả ưa thích nhờ cách diễn sống động bạo dạn và cụp lạc với kép Hùng Cường trong các vở tuồng xã hội, chớ cô không xuất sắc trong các vai tuồng màu sắc, võ hiệp cũng như không có giọng ca ngọt ngào ăn khách và sắc vóc lúc ấy lại kém phần tươi trẻ. Do đó đoàn Dạ Lý Hương gặp phải trở ngại to tát trên bước tiến nghệ thuật. Đoàn không thể tiếp tục trình diễn tuồng xã hội để có đông khán giả mà xoay qua hát tuồng màu sắc, võ hiệp thì không thể vượt trội hơn những đoàn khác được.
            Từ đó đoàn Dạ Lý Hương đang đà đổ dốc, ế khách thưa dàn, đào kép thường phải lãnh lương “đờ mi”, ban giám đốc Dạ Lý Hương phải đưa đoàn đi lưu diễn các tỉnh quận hơn là tìm đủ mọi cách để hát tại Sài Gòn như những năm trước đó.
            Đoàn Dạ Lý Hương tuột dốc làm cho tình trạng không sáng sủa của cải lương thêm trầm trọng. Một đoàn hát lớn cỡ như Dạ Lý Hương mà bị lu mờ đi chẳng phải là điều đáng tiếc lắm sao? Vả lại nếu đoàn Dạ Lý Hương vẫn còn hùng hậu như hồi trước đó thì cái vẻ sa sút của cải lương không hiện rõ ra.
            Và điều đáng tiếc nhứt là sự tách rời hai ngôi thần tượng Bạch Tuyết và Hùng Cường. Cặp đào kép linh hồn của Dạ Lý Hương không còn đứng chung với nhau, làm cho đoàn hát này bị suy yếu rõ rệt. Đồng thời nghề nghiệp của hai nghệ sĩ này cũng bị lu mờ đi. Hùng Cường không có sân khấu, Bạch Tuyết không có đối tượng để trình diễn.
            Bởi vậy sự “ly thân nghệ thuật” của đôi thần tượng này thật này thật đáng tiếc, hậu quả của nó chẳng những làm cho bản thân Bạch Tuyết Hùng Cường bị thiệt thòi, mà còn kéo lôi thêm sự suy sụp một bảng hiệu được xem là tượng trưng cho sân khấu cải lương miền Nam. Vì thế hậu quả đó cũng có thể xem là cho sự xuống dốc của cải lương tệ hại thêm nữa.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1101-nm-11012013144613.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #72 vào: 30/08/2017, 18:48:54 »
Những hệ lụy sau ngày đào Thanh Loan vào mật khu

Cách đây không lâu, tôi có đề cặp đến vấn đề cô vợ đào hát của nhà báo Trần Tấn Quốc, người sáng lập giải Thanh Tâm của cải lương nổi tiếng một thời. Khoảng 1961 cô Thanh Loan vợ của ông Quốc đang là đào hát của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, bỗng nhiên vắng bóng trên sân khấu, giới cải lương không ai nghĩ rằng cô đi vào chiến khu, cứ tưởng đâu là đi về thăm nhà ở Lai Vung, Sa Đéc, như hầu hết nghệ sĩ xuất thân từ miền Lục Tỉnh thỉnh thoảng về thăm quê vậy. Bà Bầu Thơ cũng nghĩ thế, cứ ngày một chờ Thanh Loan về, đoàn sẽ cho tái trình diễn vở hát Nửa Đời Hương Phấn, vì tuồng vẫn còn khán giả đi coi nếu như đăng bảng mở màn.

Từ trái: Ký giả Văn Hoàn, nhà văn Doãn Quốc Sỹ,
ký giả Trần Tấn Quốc, ký giả Ngọc Hồ, ký giả Hoàng An

Đường ai nấy đi
            Thế nhưng, chờ mãi vẫn không thấy đào ta trở về, để rồi một ngày nọ có người cho bà hay tin Thanh Loan đã vào rừng đang ca hát trên đài phát thanh giải phóng. Bà Bầu Thơ tá hỏa, nhưng chẳng dám nói với ai chuyện này, kể cả đi gặp ông Trần Tấn Quốc để hỏi han sự việc, bà cũng chẳng dám luôn, dù rằng vợ chồng bà và ông Quốc rất thân từ những ngày nghệ sĩ Năm Nghĩa còn sống. Bà nghĩ bụng đi gặp ông Quốc lúc này là không nên, có thể bị vạ lây.
            Về phần ông Trần Tấn Quốc thì người ta chẳng biết ông có rõ việc vợ ông vào mật khu hay không. Nhưng trước đó khoảng hai năm ông có lên tiếng với các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, rằng ông và đào Thanh Loan đã đường ai nấy đi rồi. Các nghệ sĩ tiền phong nói trên chẳng tin, bởi không hề nghe thấy một dấu hiệu “cơm không lành canh không ngọt” nào giữa hai người. Hơn nữa trong buổi lễ phát giải Thanh Tâm 1958 cho Thanh Nga tại tửu lầu Bồng Lai, người ta thấy hai người vẫn có mặt ngồi chung một bàn thì không lẽ họ thôi nhau một cách êm thắm. (Giải Thanh Tâm 1958 phát vào tháng 4-1959).
            Đến lúc có tin Thanh Loan vào mật khu thì các nghệ sĩ tiền phong kia nhớ lại lời ông ông Quốc từng nói “thôi” nhau với đào Thanh Loan. Lời nói như tung tin ấy có liên quan gì đến sự vắng bóng Thanh Loan trong lúc này?
            Cô Thanh Loan vào mật khu làm gì thì tôi đã nói sơ qua, kể cả về sau cô về thành làm đến chức đại biểu Quốc Hội. Nhưng về phần ông Quốc thì sao? Cô Ba thoát ly gia đình đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì người chồng không thể yên thân được. Trong tình trạng này dù là người dân thường cũng phải điêu đứng với chính quyền hiện tại, huống chi ông Quốc là một nhà báo tên tuổi. Vậy thì những gì đã xảy ra cho ông Quốc?
            Với sự việc như thế thì dĩ nhiên cơ quan an ninh đâu có để yên cho ông Quốc ngồi ở tòa soạn mà làm chủ bút. Tuy rằng ông không bị câu lưu, bắt giữ, nhưng mỗi lần đi lấy lời khai ở bót công an về thì gương mặt ông buồn dàu dàu, không tươi vui như thường khi, làm việc một cách uể oải, do vậy mà không khí đè nặng trong tòa soạn, mọi người không biết ngày mai sẽ ra sao.


Nghệ sĩ Thanh Loan

Giải nghệ
            Từ sau ngày tờ Tiếng Dội bị bị đóng cửa vào cuối năm 1954, ông Quốc cộng tác với tờ báo nào thì cũng chủ trương ba vấn đề:
            – Nắm giữ bút quyền tờ báo (chủ bút).
            – Làm việc với ê kíp, bộ biên tập cũ tờ Tiếng Dội của ông.
            – Dành một trang báo mở trang kịch trường.
            Năm 1958, nhơn báo Buổi Sáng đã tự ý đình bản trên một tháng, vị chủ nhiệm báo này là ông Tam Mộc (Mai Lan Quế) thấy Trần Tấn Quốc và ê kíp của ông thất nghiệp nên ông Tam Mộc kêu giao tờ Buổi Sáng cho ông Quốc khai thác. Trụ sở tòa soạn Buổi Sáng đặt tại căn nhà của ông Trần, số 216 đường Gia Long Sài Gòn. Dưới quyền điều khiển của ông Quốc, nhựt báo Buổi Sáng càng ngày càng có thế đứng vững mạnh. Cuối tháng 2-1961, nhựt báo Buổi Sáng có được số phát hành mỗi ngày từ 23.000 đến 24.000 số.
            Dù rằng tờ báo sống vững vàng, nhưng đứng trước tình trạng căng thẳng như vậy, cũng như biết trước rằng khó mà tiếp tục làm chủ bút tờ Buổi Sáng, bởi trong tòa soạn đã có tiếng xầm xì: “Mai mốt đây tờ báo bị đóng cửa chết đói cả đám!”
            Không thể để cho tình trạng ngột ngạt ấy kéo dài, nên buổi tối của một ngày sau đó, ông chủ nhiệm Tam Mộc và ông Quốc ăn cơm tối tại nhà hàng, bàn bạc số phận tờ báo Buổi Sáng. Ngày hôm sau ông Quốc cho họp toàn bộ những người cộng tác, nói rằng do quá mệt mỏi nên kể từ nay ông nghỉ hẳn nghề làm báo và về quê Cao Lãnh tịnh dưỡng. Thôi thì mạnh ai nấy lo, tìm tờ báo khác mà hành nghề vậy. Ai cũng bùi ngùi, bởi không biết làm sao hơn!
            Về tờ báo coi như ông Quốc giải quyết bằng cách giải nghệ, còn giải Thanh Tâm thì sao? Đây là vấn đề khá rắc rối, bởi thời gian này ban tuyển chọn đang họp để chọn nghệ sĩ triển vọng năm 1960 (thông thường cứ sau khi ăn Tết Nguyên Đán xong thì Ban thường vụ Ban Tuyển Chọn giải Thanh Tâm bắt đầu làm việc).
            Từ hơn một năm nay, ký giả Hoài Ngọc coi như phụ tá cho ông Quốc nắm giữ hồ sơ giải Thanh Tâm. Do về quê, cũng như không còn làm chủ bút tờ báo, nên ông Quốc giao cho Hoài Ngọc (có giấy ủy quyền của ông) thay thế điều hành giải quyết toàn bộ giải Thanh Tâm.
            Ông Quốc về tới Cao Lãnh thì ban tuyển chọn cũng chọn xong nghệ sĩ triển vọng năm 1960: Ngọc Giàu và Bích Sơn. Ai cũng hỏi chừng nào ông Quốc trở lại Sài Gòn để phát giải? Giờ đây thì ký giả Hoài Ngọc đành nói ra sự thật là ông Quốc không trở lại Sài Gòn nữa mà về quê luôn, đồng thời đưa ra tờ giấy ủy quyền.
            Thế nhưng, nghệ sĩ lão thành Năm Châu phản đối, rằng như vậy không được, bởi phát giải mà chủ giải không có mặt thì còn ý nghĩa gì chứ! Ông nói thêm nếu như ông Quốc có qua đời thì phải có đại hội bầu chọn người lên thay, chớ việc ủy quyền thì không đủ tư cách. Rồi thì rất nhiều nghệ sĩ tiền phong cũng lập luận như Năm Châu. Coi như chuyện giải Thanh Tâm đã trở thành lớn chuyện.
            Người ta không biết hai cô đào Ngọc Giàu, Bích Sơn có biết rằng năm này mình đã được chọn? Cũng như có biết chiếc huy chương vàng giải Thanh Tâm của mình treo trên sợi chỉ mành?


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-110913-nm-11072013134344.html
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #73 vào: 01/09/2017, 17:32:16 »
Nghệ sĩ Năm Châu và ý kiến gọi ông Trần Tấn Quốc trở về Sài Gòn

Do vấn đề cô vợ đào hát Thanh Loan là người của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà ông Trần Tấn Quốc phải quá khổ tâm, nhận lãnh nhiều rắc rối, ngoài việc bị mời đến cơ quan an ninh nhiều lần lấy lời khai. Cũng như không còn được tín nhiệm chức vụ chủ bút tờ nhựt báo Buổi Sáng, dù rằng ông rất có tài trong lãnh vực báo chí. Viễn ảnh trước mắt hầu như không có tờ báo nào mời cộng tác trong lúc này, do vậy mà ông quyết định rời Sài Gòn về quê Cao Lãnh tịnh dưỡng.

Nhà báo Trần Tấn Quốc

Tổ nghiệp cải lương an bài
            Nhưng có lẽ do Tổ nghiệp cải lương an bài hay sao, mà ông Quốc về Cao Lãnh vào cuối tháng Hai 1961, lại đúng vào thời điểm ban tuyển chọn giải Thanh Tâm họp tuyển chọn nghệ sĩ triển vọng của năm 1960. Hai nữ nghệ sĩ Ngọc Giàu và Bích Sơn trúng giải nhưng chưa ai dám công bố vì vắng mặt ông chủ giải.
            Năm đó thành viên ban tuyển chọn gồm 15 người, chia ra hai phe: Một phe thì đòi cứ công bố kết quả dù có mặt ông Quốc hay không, với lý luận nếu như ông Quốc chết rồi cũng chờ đợi ông sống dậy hay sao? Còn phe kia có hai thành viên nặng ký là nghệ sĩ lão thành Bảy Nhiêu và Duy Lân thì nhứt quyết không chịu, nói rằng công bố kết quả giải Thanh Tâm mà vắng mặt chủ giải Thanh Tâm không lý do chính đáng thì còn ý nghĩa gì nữa chứ!
            Nghệ sĩ Năm Châu và Má Bảy Phùng Há năm đó không có tên trong ban tuyển chọn, nhưng là nghệ sĩ kỳ cựu được hỏi ý kiến thì cũng chẳng đồng ý việc công bố kết quả mà thiếu vắng ông Trần Tấn Quốc. Do vậy giải Thanh Tâm lâm vào khủng hoảng khó mà giải quyết.
            Tình trạng khủng hoảng kéo dài cả tuần không có lối thoát, chưa ai tìm ra phương thế giải quyết thì sự việc quan trọng diễn ra mà không ai có thể ngờ được. Vấn đề này về sau nghệ sĩ Năm Châu kể lại rằng thời ấy ông đang dạy ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Khoảng hai giờ chiều ngày nọ ông vừa vào lớp thì vị giám đốc trường là giáo sư Nguyễn Phụng xuống báo tin, rằng ông Ngô Trọng Hiếu ở Phủ Tổng Ủy Công Dân Vụ vừa cho người mời ông và Năm Châu đến đó mà không biết có việc chi.
            Số là ông Ngô Trọng Hiếu, một nhân vật được coi như có uy quyền, thân cận với Ngô Triều, ông đã đưa nghệ thuật cải lương vào chiến lược dân vận do ông đề ra. Lúc làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Nam Vang, ông thường “giả dạng thường dân” đi thăm xóm nhà người Việt sinh sống trên đất Miên. Ông nhận thấy cứ mỗi trưa, khi đài phát thanh Sài Gòn, giờ chương trình cổ nhạc thì hầu như mọi chiếc radio trong xóm nhà người Việt đều mở. Và khi hết cổ nhạc thì phần lớn họ tắt máy hoặc đổi sang đài Nam Vang nghe tiếng Miên (người Việt ở Nam Vang rất thông thạo tiếng Miên).
            Sau khi Việt Nam và Miên đoạn giao, ông Hiếu về nước được bổ nhiệm đứng đầu Phủ Tổng Ủy Công Dân Vụ. Từ đó thì bộ môn nghệ thuật cải lương được chính quyền lưu tâm, mà dễ thấy nhứt là mỗi tối Thứ Bảy cho đài phát thanh Sài Gòn trực tiếp truyền thanh tuồng cải lương tại các rạp suốt ba tiếng đồng hồ.


Các nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm (từ trái sang):
Thanh Nga, Ngọc Giàu, Lan Chi, Bích Sơn

Nhà nhà nghe cải lương
            Vào thời này người dân nông thôn chiếm hơn chín mươi phần trăm dân số, quanh năm suốt tháng hầu như chẳng có nguồn vui nào, ngoài cái thú được nghe radio hát tuồng cải lương. Sau một ngày làm lụng cực nhọc ngoài ruộng rẫy, tối đến đỏ đèn là đi ngủ, và mỗi đêm Thứ Bảy là họ tập trung tại mấy nhà có radio để nghe cải lương, theo dõi cho đến vãn hát, tức sau 11 giờ đêm. Dĩ nhiên những đài khác phát thanh cùng giờ đã không có thính giả.
            Cũng nên biết rằng thời đó một xóm chỉ có vài cái radio mà thôi, nên mỗi tụ điểm nghe cải lương chẳng khác gì một rạp hát. Mỗi cái radio có hàng trăm người đến nghe ké, già trẻ bé lớn ngồi từ trong nhà tràn ra sân.
            Thông thường một tuồng cải lương có ba, bốn màn, trong lúc buông màn chuyển cảnh là lúc bản tin của Bộ Thông Tin được đọc thông báo tin tức, chánh sách của chính phủ, do đó mà dù muốn dù không người dân cũng phải nghe bản tin. Sự thể trên chứng tỏ bộ máy tuyên truyền chiến lược của ông Ngô Trọng Hiếu thật tinh vi trong vấn đề cho phát thanh tuồng cải lương.
            Máy radio thời này chạy băng pin khối của máy truyền tin quân đội, mua rất đắt nên đa số máy chỉ mở vào đêm Thứ Bảy, ngày thường họ không mở để tiết kiệm pin. Về sau radio Transistor xài pin 1,5V của Nhựt được nhập cảng vào nhiều với giá vừa phải, nên con số nhà có máy radio tăng lên, người đi nghe ké giảm dần cho đến khi hết hẳn.
            Ngoài ra ông Hiếu cũng từng đến trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc dự lễ cúng Tổ và bầu ban chấp hành. Ngoài việc ban huấn từ, ông còn tặng tiền cho hội mở rộng công tác văn hóa. Tóm lại ông Ngô Trọng Hiếu là người rất quan tâm đến hoạt động cải lương, nên khi biết được giải Thanh Tâm bị khủng hoảng, ông liền cho lệnh gọi Giáo sư Nguyễn Phụng và nghệ sĩ Năm Châu đến.
            Lúc Giáo Sư Nguyễn Phụng và nghệ sĩ Năm Châu đến nơi thì ông Hiếu hỏi ngay về vấn đề khủng hoảng giải Thanh Tâm, và sau khi Năm Châu trình bày tự sự thì ông Hiếu nói: “Vậy theo ý anh Năm Châu thì sự việc phải giải quyết thế nào cho ổn?”
            Từ những năm trước, khi đài phát thanh Sài Gòn cho trực tiếp truyền thanh tuồng cải lương thì nghệ sĩ Năm Châu từng nói với vài nhà báo là ông rất thán phục ông Ngô Trọng Hiếu sự việc trên, đã có cái nhìn thực tế và không ngần ngại khen tặng ông Hiếu là một chiến lược gia lỗi lạc về chính sách dân vận. Giờ đây ông Hiếu hỏi vấn đề, Năm Châu cũng nói thẳng ra sự thật, và ông cặn kẽ giải bày rằng mình từng quen biết với ông Trần Tấn Quốc từ hai mươi năm nay, nhận thấy ông ta có hai cái đam mê: Một là làm báo và thứ hai là yêu thích sân khấu cải lương, làm chủ bút tờ báo nào cũng mở trang kịch trường nói về cải lương. Thế nhưng, từ những tháng đầu tiên Ngô Tổng Thống về nước làm Thủ Tướng thì Bộ Thông Tin liền ra nghị định đóng cửa ba tờ báo: Nhựt báo Thần Chung của Nguyễn Kỳ Nam (Nam Đình), tờ Dân Ta của Nguyễn Vỹ và tờ Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc. Từ ấy đến nay ông Quốc hết làm chủ bút tờ báo này thì đến chủ bút tờ báo khác, và sau cùng là tờ Buổi Sáng đang vững mạnh thì xảy ra chuyện bà vợ Thanh Loan…
            Ông Quốc thấy rằng giờ đây khó mà tiếp tục hành nghề nên bỏ về quê Cao Lãnh, một địa danh sát nách với Đồng Tháp Mười, cứ địa của kháng chiến trong thời kỳ chiến tranh Việt Pháp vừa qua. Theo ông thì ông Quốc đang lo phụng dưỡng mẹ già, do hoàn cảnh mà phải chịu gác bút, thế thôi! Nếu như bị chèn ép quá, ông Quốc chỉ một bước là đi theo bà vợ Thanh Loan dễ dàng, chừng ấy giải Thanh Tâm vô phương cứu vãn, đại đa số người dân miền Nam yêu thích cải lương sẽ bất mãn.
            Năm Châu nói tiếp giờ đây phương thức hay nhứt là gọi ông Quốc về tiếp tục nghề làm báo, nếu ông có mặt ở Sài Gòn thì giải Thanh Tâm đương nhiên được giải quyết mà không cần phải ai yêu cầu. Hiện giờ giải Thanh Tâm chỉ khủng hoảng trong nội bộ, dư luận thiên hạ bên ngoài chưa biết nhiều, phải gọi ông Quốc về liền chớ không thôi thì đã muộn, vì nghe nói thì ông vẫn còn ở Cao Lãnh chứ chưa đi đâu hết. Năm Châu giải thích xong, ông Hiếu tươi cười nói rằng ông sẽ có cách giải quyết vấn đề.
            Thế là sau khi Năm Châu và giáo sư Nguyễn Phụng ra về thì ông Ngô Trọng Hiếu đi ngay vào Dinh Độc Lập trình bày sự thể với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Liền sau đó một công điện hỏa tốc từ Phủ Tổng Thống gởi cho Trung Tá Đinh Văn Phát, Tỉnh Trưởng Kiến Phong, ra lệnh cho viên tỉnh trưởng này phải tìm cho ra ông Trần Tấn Quốc, mời về Sài Gòn gấp để gặp Ngô Tổng Thống tại Dinh Độc Lập.
            Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa mà có một nhà báo nào được Ngô Tổng Thống mời vào Dinh Độc Lập đàm đạo là chuyện hiếm thấy, nếu người ta không muốn nói là khó có thể xảy ra. Thế mà đã có một nhà báo miền Nam: Ông Trần Tấn Quốc lại được mời gặp Ngô Tổng Thống đến bốn lần trong một tháng ắt phải có điều gì quan trọng lắm.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1116-nm-11152013153850.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #74 vào: 06/09/2017, 09:53:57 »
Ông Trần Tấn Quốc về Sài Gòn gặp Ngô Tổng Thống

Tháng Ba năm 1961, ông Quốc cuốn gói về quê nhà ở Cao Lãnh, nói là để an dưỡng một thời gian sau những năm tháng dài quá vất vả gian nan với nghề nghiệp. Chớ thật ra thì đối với một người đam mê nghiệp làm báo từ thuở nhỏ như ông Quốc thì không thể an dưỡng sớm như vậy. Do đó mà những người am tường sự việc, và trong giới báo chí thì quá rành cái nguyên nhân gác bút của ông Quốc là vì cô vợ đào hát Thanh Loan, một cán bộ nằm vùng trước khi thoát ly ra mật khu.

Nhà báo Trần Tấn Quốc

Được “lên hương”
            Lúc bấy giờ không ai có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra cho ông Trần Tấn Quốc sau khi rời Sài Gòn. Do bởi đâu đâu cũng là chính quyền quốc gia, trừ phi ông nối bước theo bà vợ đào hát Thanh Loan.
            Nhưng rồi mới về Cao Lãnh ở được một tuần thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm đánh công điện xuống tỉnh Kiến Phong, lệnh cho Trung Tá Tỉnh Trưởng Đinh Văn Phát bảo tìm cho được Trần Tấn Quốc, và dĩ nhiên ông Quốc phải trở về Sài Gòn (phải về hay được về cũng vậy).
            Khi nhận được tin điện như vậy chính ông Trần Tấn Quốc cũng chả biết chuyện gì đây, và ông phải khăn gói trở lại Sài Gòn theo lời mời của Ngô Tổng Thống.
            Sau này ông Quốc có kể rõ từ ngày 8-3-1961 đến 10-4-1961, trong thời gian một tháng, ông được Ngô Tổng Thống mời đến Dinh Độc Lập tất cả bốn lần. Nội dung đàm đạo giữa hai người thì nào ai biết được, nhưng có ai hỏi thì ông Quốc trả lời chủ yếu là để thăm dò ý kiến về các vấn đề quốc kế dân sinh, và ông được mời hội đàm với Tổng Thống Ngô Đình Diệm với tư cách một ký giả mà thôi. Có điều là sự có mặt của ông Trần Tấn Quốc ở Sài Gòn đã đương nhiên giải tỏa được cuộc khủng hoảng giải Thanh Tâm 1960. Do bởi chính ông Quốc là người công bố hai nữ nghệ sĩ Bích Sơn và Ngọc Giàu đoạt giải nghệ sĩ triển vọng năm đó, lễ phát giải tổ chức tại rạp Hưng Đạo.
            Đến tháng 5-1961, ông Trần Tấn Quốc được phép xuất bản tờ Tiếng Dội Miền Nam, trụ sở vẫn ở 216 đường Gia Long, Sài Gòn. Thế là ông Quốc trở lại làng báo một lần nữa. Với chuyện trở lại Sài Gòn lần này rồi tiếp tục ra báo, ông Quốc có tâm sự rằng: Sau mấy lần hội kiến với Ngô Tổng Thống chính Tổng Thống có nói với ông Quốc câu này:
            “Tôi mến ông là một nhà báo có tài, tôi quý ông là một cây bút có tiết tháo…”
            Khi tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời, lúc đó có những bàn tán xôn xao trong giới báo chí Sài Gòn. Đại khái như: Trần Tấn Quốc được Ngô Tổng Thống chiếu cố, trong tương lai chiếc ghế Bộ Trưởng Thông Tin sẽ giao cho ông là cái chắc! Hoặc có những lời mỉa mai xem tờ Tiếng Dội Miền Nam như là tiếng nói của nhóm “gia nô” v.v…
            Sở dĩ có sự đồn đãi, mỉa mai như vậy cũng có cái lý của nó, bởi từ lúc tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời thì mỗi lần Ngô Tổng Thống đi kinh lý thì y như rằng, chánh văn phòng Phủ Tổng Thống gọi điện thoại báo cho ông Quốc tháp tùng phái đoàn. Và dĩ nhiên mọi tin tức sốt dẻo liên quan đến cuộc kinh lý, và những lời huấn thị của Tổng Thống đã được lên tờ Tiếng Dội Miền Nam trước nhứt.
            Ông Quốc từng nói với bạn bè, với các ký giả cộng tác với ông rằng, dầu được sự chú ý của Ngô Tổng Thống, nhưng ông không bao giờ lợi dụng thời cơ để mưu đồ tư lợi, chạy theo bả công danh. Trần Tấn Quốc này chỉ biết “hành đạo” với đầy đủ lương tâm và chức nghiệp của một ký giả độc lập. Con đường làm báo của ông luôn luôn quyết tâm phục vụ theo quan niệm sống và làm người của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh: là sử dụng ngòi bút mình để “quyết làm cho điều phải nó thắng điều quấy.”
            Với 40 năm làm báo, những người hiểu biết ông đều không thấy ông bị ràng buộc vào một tổ chức chánh trị nào. Từ đó người ta có thể hiểu rằng những năm đầu của thập niên 60 qua lời đồn đãi “Trần Tấn Quốc sẽ làm Bộ Trưởng Thông Tin” củng chỉ là câu chuyện phù phiếm.
            Tờ báo Tiếng Dội Miền Nam của ông vẫn mạnh tiến với số độc giả ủng hộ càng ngày càng cao, xuất bản liên tục cho đến ngày Ngô triều sụp đổ (ngày 1 tháng 11 năm 1963).
            Sự việc trên đây đã cho người ta thấy rằng thời nào cũng vậy, chính quyền rất quan tâm đến cải lương. Sự việc ông Trần Tấn Quốc thay vì “lãnh đủ” do vấn đề bà vợ Thanh Loan, thì ngược lại ông Quốc được gọi về gặp Ngô Tổng Thống, và lại được ra tờ báo Tiếng Dội Miền Nam, tức làm chủ báo, so với trước đó chỉ làm chủ bút cho tờ Buổi Sáng. Có nghĩa là ông được “lên hương”.
            Những người am tường vấn đề trên đã nói rằng đó là nhờ giải Thanh Tâm, nếu như không có chuyện giải Thanh Tâm 1960 bị khủng hoảng thì chưa biết chuyện của ông Trần Tấn Quốc sẽ ra sao? Đó là do Tổ nghiệp cải lương an bài, mới khiến cho ông Ngô Trọng Hiếu can thiệp vào.
            Kỳ tới tôi sẽ nói về ông Bộ Trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, người hoạch định chánh sách đối với cải lương thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông đã đề ra những đề án gì?


Ông Trần Tấn Quốc và Thu Tâm, ảnh chụp năm 1963

Cuộc đời tình cảm
            Và sau đây là cuộc đời tình cảm của ông Trần Tấn Quốc. Cô đào Thanh Loan là người vợ thứ năm, ông Quốc có tất cả sáu mối tình:
            Người đầu tiên tên Xuân Hoa, cô gái Côn Đảo, con của ông giám thị đề lao, mà ông Quốc lại là tù nhân, lúc ấy mới 17 tuổi, ông Quốc hoạt động chống chính quyền thuộc địa Pháp, bị bắt lưu đày Côn Đảo. Mối tình chấm dứt khi cha cô Xuân Hoa thuyên chuyển về đất liền, cô vâng lệnh cha thành hôn với một nhà giáo.
            Mối tình thứ hai là cô Bảy Tới. Lúc ông Quốc mãn tù về hai người yêu nhau, chuẩn bị để “người lớn” đến gặp nhau đặng hôn lễ tiến hành thì thân mẫu của cô Bảy lại trả lời dứt khoát với con gái rằng: “Nó là một thằng ở tù chánh trị ngoài đảo mới về, lại đi làm nghề… viết nhựt trình. Má ghét mấy thằng viết báo dữ lắm, nên tao không chấp nhận nó trở thành con rể nhà này”. Lời “phán quyết” của má cô Bảy Tới làm đứt mối tơ vương giữa ông Quốc và người yêu.
            Sau lần dang dở đó, ông Quốc lại gặp cô Ba Liên, hành nghề buôn bán vải, và có tiệm vải “Chí Thành” rất bề thế ở chợ Thái Bình – Sài Gòn. Nhưng quãng đường tình của ông Quốc và bà chủ tiệm vải cũng chỉ gắn bó được mấy năm thì đường ai nấy bước.
            Người bạn đời đến với ông Quốc sau cô Ba Liên là cô Bảy Tuất, má của nữ nghệ sĩ Kiều Mai Lý. Có nhiều người lầm tưởng Kiều Mai Lý là con ruột của Trần Tấn Quốc. Thực tế không phải như vậy, bởi sau khi chia tay với ông Trần, cô Bảy Tuất bước thêm một bước nữa với ông Nguyễn Văn Kỷ mới sanh ra Kiều Mai Lý.
            Người vợ thứ Năm là cô đào Thanh Loan như đã nói, sống chung với ông 10 năm. Cô Thanh Loan vào rừng khoảng hơn một năm thì người vợ sau cùng là cô Thu Tâm. Bà nhỏ hơn ông 19 tuổi, nên ông thường nghĩ: thế nào ông cũng “ra đi” trước bà, nhưng nào ngờ bà lại chết trước ông mười lăm năm.
            Năm 1952, lúc ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm báo Tiếng Dội, cô Thu Tâm 19 tuổi người cùng quê Cao Lãnh với ông, cô từ giã đời học sinh để làm thơ ký cho báo này. Và cũng từ năm ấy cô là nhân viên tòa soạn của các tờ báo do ông Quốc nắm bút quyền, liên tục cho đến đầu tháng giêng năm 1962 cô Thu Tâm mới chánh thức trở thành phu nhơn của Trần Tấn Quốc.
            Bà Thu Tâm đột ngột ra đi năm 1972, an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn. Năm 1976 ông Quốc cải táng về chôn ở phần đất sau nhà, ngôi mộ nằm cạnh con sông Đình Trung, Cao Lãnh.
            Mấy năm sau soạn giả Yên Lang theo đoàn hát xuống Cao Lãnh, có đến thăm ông Quốc, ông dẫn ra ngôi mộ nói rằng, bà Thu Tâm chôn sâu đến 2,3 thước, chừa phần trên cho ông. Có nghĩa là hai người nằm chung một ngôi mộ. Thật vậy, ngày ông Quốc mất, theo lời trăn trối của ông, người con (con nuôi) hỏa thiêu và tro cốt chôn ở phần trên.
            Trong số sáu bà vợ, có hai bà sống lâu năm hạnh phúc với ông Quốc là cô Ba Thanh Loan (10 năm) và bà Thu Tâm cũng 10 năm. Tất cả sáu bà nói trên không bà nào có con với ông Quốc. Con của các bà là có trước, hoặc sau ngày chia tay với ông Quốc. Người ta nói cái số của ông Quốc là… tuyệt tự.
            Trong những năm cuối đời, cô Bảy Tuất trở về sống với ông Quốc. Hai người “bạn già” gặp nhau sau 1975, cô Bảy Tuất cư xử đầy tình nghĩa với… cố nhân. Chuyện đời, chuyện tình của ông Trần Tấn Quốc, người sáng lập giải Thanh Tâm của cải lương kể đến đây cũng tạm đủ vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1123-nm-11222013153318.html