Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 4146 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #75 vào: 08/09/2017, 11:40:55 »
Ông Ngô Trọng Hiếu với đề án cải tiến hoạt động cải lương

Sau cái ngày giải quyết xong một cách êm đẹp chuyện của ông Trần Tấn Quốc, và vấn đề khủng hoảng giải Thanh Tâm, thì đến tháng 6-1961 ông Ngô Trọng Hiếu tiếp xúc thân mật với văn nghệ sĩ Thủ Đô tại nhà hàng Đồng Khánh, Chợ Lớn. Trong số văn nghệ sĩ có các nghệ sĩ ca kịch và tân nhạc, mà các báo thời đó đăng ảnh ở trang nhứt, có đăng hình các nữ nghệ sĩ Phùng Há, Bích Thuận, Kim Cương…

Ông Ngô Trọng Hiếu gặp gỡ các đoàn viên Thanh Nữ,
ảnh chụp năm 1963

Chú trọng văn hóa, văn nghệ
            Hai tuần sau cũng tại nhà hàng Đồng Khánh, ông Bộ Trưởng Công Dân Vụ lại vui tiệc liên hoan với anh em ký giả Thủ Đô, mà trong số có một số ký giả kịch trường quen tên như Nguyễn Kiên Giang, Tô Yến Châu, Nguyễn Ang Ca, Thanh Đạm…
            Trong tổng quát, ông Hiếu rất chú trọng đến văn hóa và văn nghệ, và đặc biệt ngành nghệ thuật sân khấu lại được ông chú ý với tinh thần thông cảm sâu đậm. Sau đó thì ông Ngô Trọng Hiếu bắt đầu hoạch định đường hướng cho cải lương, với những đề án lớn lao, thiết thực để phát triển bộ môn nghệ thuật này. Cũng đồng thời đưa nghệ thuật cải lương làm lợi khí trong chiến lược tâm lý chiến, biến các đoàn cải lương thành các đơn vị văn nghệ tuyên truyền một cách tinh vi.
            Điều mà thời bấy giờ người ta nhận thấy tầm quan trọng của Phủ Tổng Ủy Công Dân Vụ, là khi ông Ngô Trọng Hiếu về nhận chức Tổng Ủy Trưởng chẳng bao lâu thì cơ quan này được nâng cấp lên thành một bộ trong nội các: Bộ Công Dân Vụ, và ông Ngô Trọng Hiếu làm bộ trưởng.
            Người ta không biết ông Ngô Trọng Hiếu có phải là người yêu thích cổ nhạc cải lương, hay là do cái nhìn chiến lược của một nhà hoạch định chính sách dân vận, mà ông đã chú trọng nhiều đến cải lương, và chủ trương cải tiến toàn diện bộ môn nghệ thuật này.
            Theo như lời của nghệ sĩ Năm Châu khi tâm sự với các ký giả kịch trường, thì ông Hiếu chẳng thích cải lương bao nhiêu, nhưng ông lại biết rõ bộ môn nghệ thuật này được đại đa số người miền Nam ưa thích, nên đã đề ra chính sách thu phục số người dân đông đảo này.
            Việc đầu tiên người ta thấy những cán bộ Công Dân Vụ đến từng đoàn hát đang hoạt động ở Đô Thành Sài Gòn và phụ cận để nắm vững hiện trạng nghề nghiệp, cũng như đời sống của giới này. Ông Hiếu còn cho người đi khắp các tỉnh đang có gánh hát trình diễn, cũng với mục tiêu trên.
            Sau ba tháng công tác, người chỉ huy các cán bộ Công Dân Vụ trình lên ông Hiếu bản báo cáo đầy dẫy những tác tệ trong làng cải lương, nêu rõ từng thành phần như sau:
            – Bầu gánh: Đa số, lệ thuộc vào chủ nợ, chủ rạp. Vì vậy, trong tâm của họ chỉ nhắm vào khía cạnh thương mãi, họ dễ sợ chánh quyền và cũng sợ mặt trận.
            – Nghệ sĩ: Không hề biết chủ trương văn hóa là gì? Học tập là gì? Nhiều tự ái, thiếu tự tin v.v…
            – Soạn giả: Không thấy chủ trương Chính phủ, mà lại lạc ngõ, sa đọa, dễ bị mua chuộc, viết tuồng ham chỉ trích chánh quyền, gây giai cấp đấu tranh, gieo tinh thần lãng mạn, hạ cấp, mị dân. Làm khán giả khi đi coi hát ra về, có cảm tưởng ê chề, chán chường.
            – Diễn xuất: Không nêu các vai trò diễn xuất mà chỉ chú trọng đến hình thức phát triển tiểu xảo. Không tìm thấy nghệ thuật ca diễn bình dân, bị ảnh hưởng nhiều của sự xâm nhập diễn xuất của phim ảnh xi nê.
            – Ký giả kịch trường: Vô trách nhiệm trong việc phê bình. Định kiến thay đổi luôn, đưa đến tình trạng chán nản, bất mãn, chia rẽ.
            Thật ra thì bản báo cáo trên đây nếu có sai, hoặc quá đáng thì cũng chẳng bao nhiêu, bởi cải lương thời này nó gần như vậy đó.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương

Nâng cao đời sống nghệ sĩ
            Rồi đến tháng 11 của năm đó, ông Hiếu lại mời trên trăm người người gồm bầu gánh, nghệ sĩ và ký giả kịch trường họp mặt tại Bộ Công Dân Vụ ở đường Hiền Vương để trao đổi ý kiến, và cũng để thông báo đề án phát triển bộ môn cải lương.
            Có lẽ vào mùa nắng nóng nực này mà trong phòng họp có trên cả trăm người, nên trước tiên ông Bộ Trưởng Ngô Trọng Hiếu mời các anh em văn nghệ sĩ cùng ông cởi áo ngoài ra cho mát mẻ, khiến cho những người có mặt hôm bữa đó đã có cảm tưởng như đại gia đình văn nghệ vậy.
            Trong bầu không khí thân mật, ông Ngô Trọng Hiếu nói rằng chính quyền chú trọng việc nâng cao đời sống nghệ sĩ, và sẽ thực hiện:
            – Quán cơm nghệ sĩ.
            – Ký nhi viện cho con em nghệ sĩ, nhân viên và chuyên viên.
            – Giúp đỡ các gánh nghèo.
            – Tổ chức một phái đoàn nghệ sĩ đi ngoại quốc trình diễn.
            – Gởi nghệ sĩ và chuyên viên đi ngoại quốc học hỏi. Tuy nhiên một phần lớn cũng còn tùy thiện chí đóng góp và sự giúp đỡ của anh chị em nghệ sĩ, bầu gánh v.v…
            Ngoài ra, ông Bộ trưởng còn cho biết, ông có nguyện vọng thành lập một “làng văn nghệ” và một rạp hát giao cho anh chị em nghệ sĩ khai thác và quản trị. Ông đề nghị anh chị em nghệ sĩ tham gia để lập một quy chế kiểm duyệt mới, và tham gia bộ phận nghiên cứu cải tiến trên sân khấu như tổ chức đoàn hát, nội dung kịch bản, hình thức văn nghệ, phê bình tuồng tích. Ông mong mỏi trong hàng ngũ văn nghệ sĩ sẽ tránh nạn bè phái, cá lớn nuốt cá bé.
            Và ông cũng nói thêm Bộ Công Dân Vụ sẽ tận tình giúp đỡ cho đại gia đình văn nghệ, hội thảo liên tục và sinh hoạt. Riêng các đoàn hát, bộ sẽ phái cán bộ xuống đi theo đoàn để giúp đỡ nếu cần.
            Với các đề án trên nghe qua thì ai lại không nghĩ rằng thời Đệ Nhứt Cộng Hòa đã lưu tâm giúp đỡ nghệ thuật cải lương một cách thiết thực. Cũng như ông Ngô Trọng Hiếu là người mà lịch sử sân khấu cải lương sau này sẽ ghi công ông.
            Nếu như thời các Chúa Nguyễn có những bậc tiền bối Đào Duy Từ, Đào Tấn, đã có công lớn với nền âm nhạc, nghệ thuật sân khấu nước nhà, thì lịch sử nền ca kịch hiện đại cũng có ông Ngô Trọng Hiếu đề ra chính sách làm cho nghệ thuật cải lương có điều kiện phát triển mạnh.
            Thế nhưng, bên cạnh của sự đề cao khen tặng, thì cũng có những dư luận cho rằng ông Ngô Trọng Hiếu muốn gồm thâu nghệ thuật cải lương, để cho giới này phục vụ, củng cố chế độ thời đó.
            Bởi nếu như nhận xét một cách thấu đáo đề án “quy chế kiểm duyệt mới”, có nghĩa là một bộ phận kiểm duyệt sẽ được hình thành gồm các nghệ sĩ có trình độ như Năm Châu, Duy Lân… cùng làm việc với cán bộ Công Dân Vụ, để kiểm duyệt tuồng tích trước khi nó được trình diễn trước khán giả. Trong trường hợp nếu có vở tuồng nào mà người cán bộ Công Dân Vụ xét thấy bất lợi cho chế độ, thì dĩ nhiên các nghệ sĩ trong thành phần kiểm duyệt có dám chống lại không?
            Cũng như đề án mỗi một đoàn hát dù lớn dù nhỏ cũng được một cán bộ Công Dân Vụ theo sát để giúp đỡ khi cần, thì lại chính là người kiểm soát sân khấu trong lúc trình diễn, cùng những vấn đề khác.
            Tóm lại là đề án của ông Ngô Trọng Hiếu nếu thực hiện, sẽ là một cuộc cải tiến toàn bộ cải lương, đưa nghệ thuật sân khấu vào khuôn khổ. Được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần nhưng không thể tự tung tự tác được. Và mỗi gánh hát là một đơn vị tâm lý chiến mà chính quyền không phải trả lương.
            Thế nhưng, “mưu sự do Nhân thành sự do Thiên” hoặc “mưu sự do ông Hiếu mà thành sự do Trời”. Sang năm 1962 thì chiến tranh diễn ra ở nông thôn, ngân sách của chính phủ dành cho nhiều vấn đề cấp thiết quan trọng hơn. Chuyện cải lương quá nhỏ so với quốc sách Ấp Chiến Lược, với tăng cường quân đội, cảnh sát… Đề án cải lương của ông Hiếu chỉ mới thi hành được cái chuyện đưa nghệ sĩ đi nước ngoài trình diễn, học hỏi. Ngay cả quán cơm nghệ sĩ và rạp hát cho nghệ sĩ khai thác cũng chưa có thì nói gì cái “làng văn nghệ” lại quá xa vời.
            Đề án phát triển cải tiến toàn bộ cải lương bị dặm chân tại chỗ cho đến ngày Phật Đản 1963 thì xảy ra vụ Phật Giáo ở Huế, tình trạng bất ổn lan tràn khắp các tỉnh kéo dài cho đến 1-11-63 thì Ngô Triều sụp đổ. Ông Hiếu chạy lánh nạn ở Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân. Rồi thì cũng bị bắt giao cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, để đưa ông vào khám Chí Hòa.
            Về sau được tự do, ông Hiếu đi dạy học, và khi có bầu cử Hạ Nghị Viện, ông ra tranh cử ở Hố Nai, Biên Hòa và đắc cử. Lúc ấy có người nói: “Cận thần trung thành của ông Diệm mà tranh cử ở Hố Nai, nơi đồng bào miền Bắc di cư đông đảo thì không cần tranh cử, nằm ngủ cũng đắc cử”.
            Về tiểu sử thì khi xưa ông Ngô Trọng Hiếu là công chức Bộ Tài Chánh của chính quyền thuộc địa, với chức vụ Tổng Giám Đốc Ngân Khố. Chức vụ này nếu không là người Pháp thì phải có quốc tịch Pháp mới được bổ nhiệm (ông Hiếu là dân Tây có tên Paul Hiếu).
            Năm đầu tiên của nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ giới thiệu ông Hiếu với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và ông Hiếu được bổ nhiệm làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Nam Vang, trước khi về nước làm Bộ Trưởng Công Dân Vụ.
            Sau 1975 ông Ngô Trọng Hiếu ra hải ngoại định cư ở San Jose, Miền Bắc California. Năm 2000 trên trang cổ nhạc kịch trường Nhật Báo Người Việt, tôi có viết bài báo nói về việc khi xưa ông Hiếu hỗ trợ cho đoàn cải lương diễn tại hội chợ quốc tế Nam Vang. Lúc ấy bà Hiếu có điện thoại cho tôi, và gởi bức hình ông Hiếu cho tôi đăng báo. Và bà cũng cho biết ông Hiếu mất trước đó mấy năm.
            Năm Mậu Thân 1968 cải lương oằn oại, ngất ngư, đào kép người nào cũng than trời như bộng. Có người nói nếu như không có đảo chánh 1-11-1963, ông Hiếu còn làm Bộ Trưởng Công Dân Vụ thì cải lương sẽ mạnh biết dường nào, chớ đâu đến đổi te tua “áo vũ cơ hàn” như thế ni. Cái đó chỉ có Trời mới biết!


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1130-nm-11292013113150.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #76 vào: 13/09/2017, 14:33:58 »
Cô đào Lương Ngọc Yến và gánh hát Tàu ở Chợ Lớn

Từ thời xa xưa người Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp, họ đã mang theo cả văn hóa, mà trong đó có nghệ thuật sân khấu được dàn dựng trên đất nước ta. Trải qua hằng bao thế hệ nghệ thuật kia vẫn có người tham gia ca hát, trình diễn vừa tiến thân trong sự nghiệp, lại vừa để bộ môn văn hóa được bảo tồn.

Chợ Bình Tây là chợ trung tâm của khu vực Chợ Lớn

Bảo tồn văn hóa
            Cũng nhờ đi vào con đường ca hát với tính cách tài tử, mà cô gái người Hoa tên Lương Ngọc Yến đã có cơ hội trở thành cô đào chánh tài sắc nổi danh của đoàn hát Quảng Đông. Và nếu như tình trạng sân khấu vẫn hoạt động tốt đẹp như thời thập niên 1950-1960 thì cô cũng có thể là một Hồng Tuyến Nữ ở Chợ Lớn, phục vụ khán giả người Hoa trên đất nước Việt Nam. Hồng Tuyến Nữ là cô đào tài sắc ở Hồng Kông thời bấy giờ.
            Những gánh hát Tàu hoạt động liên tục ở nước ta, mà phần đông bà con mọi giới đã rất ít lưu ý đến, có người còn chẳng biết gì hết, dù rằng ở cách xa khu vực của người Hoa tập trung chỉ trên dưới 10 cây số thôi. Nói như thế cũng không có gì quá đáng, thí dụ như có những người dân ở miệt Bà Quẹo, Bà Điểm, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp họ chẳng hề biết ở Chợ Lớn có gánh hát Tàu trình diễn hằng đêm. Đó là do bởi các đoàn hát này chỉ hoạt động trong “lãnh địa” Chợ Lớn của họ mà thôi.
            Thời Pháp thuộc, Chợ Lớn là một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ. Đến thời chính quyền Quốc Gia Việt Nam thì không còn tỉnh Chợ Lớn nữa, khu thị tứ Chợ Lớn nơi người Hoa tập trung đông đảo, cũng đồng thời là trung tâm thương mại của Việt Nam được sáp nhập vào Thủ Đô Sài Gòn, Có lúc những gánh hát Tàu cũng đi trình diễn ở các tỉnh nếu như được mua giàn, và thông thường là những nơi có cộng đồng người Hoa, có tổ chức Bang Hội, và địa điểm trình diễn là những hội trường sinh hoạt hoặc chùa chiềng của người Hoa ở địa phương, chớ không phải ở rạp hát. Những lần đi như vậy thì gánh hát thu hẹp lại với những diễn viên chính yếu của đoàn, và chỉ đi bằng người với trang phục hát mà thôi, chớ không có phông màn hay tranh cảnh gì cả. Thành thử ra bà con ta ở tỉnh cũng không hay biết là có gánh hát Tàu đến đó trình diễn. (Trong nhân gian thiên hạ gọi là người Hoa hoặc người Tàu, nhưng gánh hát thì “gánh hát Tàu” chớ không ai gọi là “gánh hát Hoa” bao giờ.)
            Lại nữa về phía người Việt chúng ta thì lại rất hiếm người chịu đi coi các gánh hát này, do bởi họ hát tiếng Tàu, và tuồng tích thì cũng trích ra từ trong các truyện Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây v.v… Những tuồng ấy thì các gánh cải lương, hồ quảng, hát bội của ta đều có hát. Do vậy mà thiên hạ đã thờ ơ với hát Tàu, để dành thì giờ đi coi các gánh hát tiếng Việt dễ hiểu, dễ thưởng thức hơn.
            Vậy các gánh hát Tàu này tổ chức ra sao, diễn viên đào kép từ đâu đến, từ Hồng Kông, Thượng Hải hay là đào tạo ở Việt Nam? Nếu như không tìm hiểu sâu rộng thì rất khó mà nắm vững được vấn đề. Chúng tôi xin nêu lên trường hợp cô đào Lương Ngọc Yến nổi tiếng tài sắc ở đoàn Quảng Đông, để nói về tổ chức những gánh hát Tàu hoạt động ở vùng Chợ Lớn thời kỳ trước và sau 1975.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở Tô Ánh Nguyệt, năm 1958

Đem lại không khí quê hương
            Như trên đã nói từ lâu đời ở nước ta đã có những gánh hát Tàu, họ trình diễn đem lại không khí quê hương cho những người đồng hương rời bỏ xứ sở đi sang đây lập nghiệp. Và thời ấy gánh hát Tàu chỉ phục vụ cho số khán giả người Hoa mà hầu như chẳng mấy người biết nói và nghe được tiếng Việt.
            Không biết chính xác họ có bao nhiêu đoàn hát, nhưng có gánh Quảng Đông Đại Phụng Minh được coi như gánh lớn, cỡ đại bang cải lương của ta. Do bởi đoàn đã quy tụ được nhiều đào kép tên tuổi nổi tiếng trong cộng đồng người Hoa, đã trình diễn hằng đêm ở Chợ Lớn. Đây là gánh hát duy nhứt mà sau 1975 vẫn còn hoạt động, vì thế đã thu hút đông đảo khán giả, đêm nào cũng không đủ vé bán. Nhưng rồi không hiểu sao chỉ một năm là đoàn Đại Phụng Minh cũng ngưng hoạt động luôn.
            Đến cuối 1976 thì đoàn Thống Nhứt được thành lập thay thế cho đoàn Đại Phụng Minh, và đoàn này lại chia thành hai đoàn nhỏ: Triều Châu và Quảng Đông, hai đoàn hoạt động song song với nhau ở hai rạp Sao Mai và Vàm Cỏ. Đào kép tên tuổi phần nhiều tập trung ở đoàn Quảng Đông như: Dương Ngọc Phấn, Dương Bội Linh, Dương Bội Thuyên, Lý Lệ Châu, Giang Phụng Bình, Giang Tử Thanh, Huỳnh Kiếm Minh, Viên Cẩm Hồng, Đào Chí Hoa, Lâm Chấn Oai, Lâm Giác Thanh, Lệ Thường…
            Thế nhưng, đến năm 1979 thì biến động lớn về diễn viên, những diễn viên chánh của đoàn tự nhiên biến mất mà chẳng ai biết lý do. Tại sao vậy chớ? Lúc ấy theo sự đồn đãi trong giới người Hoa, thì năm ấy có cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, đồng thời cuộc chiến cũng diễn ra trên đất Miên. Trong lúc tình hình giao động ở những nơi có người Hoa sinh sống, thì số đào kép nồng cốt kia có thể đi về Tàu, hoặc vượt biên qua Miên rồi sang Thái Lan và đi định cư ở nước khác.
            Để củng cố thành phần diễn viên của đoàn Quảng Đông bị mất đi nhiều diễn viên chánh, người ta đã phải tìm đến nguồn diễn viên ở các Bang Hội để thay thế. Cô Lương Ngọc Yến và một số diễn viên khác đã được chọn về đoàn chuyên nghiệp Quảng Đông, nhờ đó mà cô trở thành cô đào tài sắc nổi danh luôn.
            Ở vùng Chợ Lớn ngày xưa có rất nhiều đội văn nghệ tài tử, nhưng các đội lớn đáng kể là: Sùng Chính, Tuệ Thành, Hạc Sơn là những đội ca cổ nhạc Quảng Đông. Các đào kép chánh biến mất như nói ở trên họ cũng xuất thân từ những đội văn nghệ của các bang hội này. Riêng đào Lương Ngọc Yến vốn là cô thợ may, nhưng từ nhỏ đã gia nhập đội văn nghệ Sùng Chính, tập ca cổ rồi đi ca hát khắp nơi, thỉnh thoảng cũng có ca ở đình chùa trong những dịp cúng lễ. Cô từng đóng vai chánh trong trích đoạn của vở “Nhất Đại Thiên Kiều” là vở hát rất nổi tiếng mà nữ nghệ sĩ Hồng Tuyến Nữ ở Hồng Kông từng đóng vai chánh. Ngoài ra Lương Ngọc Yến cũng ca những bài bản cổ rút ra từ trong các vở: Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Nàng Đậu Nga, Công Chúa Trường Bình v.v…
            Đến năm 1972 Lương Ngọc Yến về tham gia ca hát ở câu lạc bộ Hội Đồng Hương Họ Lương. Nơi đây cô tập ca diễn nhiều hơn, đóng vai chánh trong nguyên vở hát, chớ ít khi hát trích đoạn như trước, và đã diễn qua các vở: Vân Long Vân Phụng, Trai Tài Gái Sắc, Kim Xuyên Long Phụng Phối… Cô cũng cùng với đoàn đi diễn gây quỹ cứu trợ nhiều nơi như Đà Nẵng, Rạch Giá, Thủ Đức, các đình chùa, và không nhận thù lao.
            Sau 1975 Lương Ngọc Yến vì sinh kế đành rời sân khấu đi làm nhân viên bán hàng ở các cửa hàng tạp hóa để sinh sống và phụ giúp tài chánh cho gia đình. Tuy thế, nhưng dường như nghiệp cầm ca vẫn còn đeo đuổi bên mình, nên cô vừa đi làm vừa tham gia chương trình văn nghệ của Quận 5. Gặp lúc đoàn Quảng Đông đang khủng hoảng về diễn viên, đào kép chánh bỏ đi hết, lại là cơ hội cho đào Lương Ngọc Yến, cô được mời gia nhập đoàn đảm nhận vai chánh, thật là may mắn đưa đến trong nghề.
            Trong suốt gần 10 năm Lương Ngọc Yến đã diễn qua trên 50 vở hát đủ loại, từ cổ tích dân gian, thần thoại, sử, đến những vở xã hội. Đặc biệt là có những tuồng Việt Nam được chuyển thể để hát trên sân khấu Quảng Đông. Khán giả người Hoa rất thích xem những vở hát này như là xem tuồng của Trung Hoa vậy. Nhưng rồi sau cái thời gian 10 năm tốt đẹp kia thì sân khấu đoàn Quảng Đông cũng giống như cải lương Việt Nam, số lượng khán giả đi xem không nhiều như xưa nữa. Tình hình ca hát của đoàn xuống dốc trầm trọng, cả hai đoàn Triều Châu và Quảng Đông đều được hai Ban Bảo Trợ giúp đỡ tận tình mới tồn tại.
            Ở những nơi có đông đảo người Hoa như Song Mao, Sóc Trăng, Định Quán, Cần Thơ có yêu cầu đoàn Quảng Đông, Triều Châu đến hát nhưng không đoàn nào dám tự đi lưu diễn, mà phải có người bao giàn mới dám đi.
            Từ ấy về sau ngày một xấu thêm, lâu lắm đoàn mới tổ chức hát mà cũng chẳng có bao nhiêu người đi coi. Do đó diễn viên không thể ngồi chờ, ai cũng phải tìm nghề khác để sinh sống. Giờ đây người ta hiểu rằng sân khấu cải lương Việt Nam trong tình trạng ngất ngư, nói theo soạn giả Yên Lang thì như là cái thi hài biết thở vậy. Và luôn cả sân khấu hát tuồng của người Hoa ở Chợ Lớn cũng tình trạng như nhau, chẳng khá hơn gì. Coi như cái thời kỳ vàng son của sân khấu đã thật sự đi qua rồi. Cả hai nền nghệ thuật cùng chung một Tổ nghiệp chăng?


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1207-nm-12072013091346.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #77 vào: 15/09/2017, 19:12:33 »
Cuộc đời nhạc sĩ Sáu Lầu lên sân khấu cải lương

Cuối tháng 11 vừa qua Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại, đã nhận được một vở tuồng cải lương gởi tham dự giải Phụng Hoàng kỳ 7. Vở hát mang tên Thu Sầu Nhả Tơ, tức cuộc đời tình ái của nhạc sĩ Sáu Lầu, người sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang, là tiền thân của bản Vọng Cổ được hàng triệu người ưa thích.

Nhạc sĩ Sáu Lầu

Thu Sầu Nhả Tơ
            Vở hát đang được đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang tập dượt và sẽ ra mắt khán giả vào lúc 7 giờ tối Chủ Nhựt ngày 22 tháng 12 năm 2013 tại rạp Sài Gòn Performing, Fountain Valley, miền Nam California. Do đó mà ban tổ chức giải Phụng Hoàng đã thành lập “Hội Đồng Thẩm Định “gồm hai thành phần Ban Giám Khảo và Hội Đồng Giám Sát Thi Cử cùng đi xem tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” trước khi có phiên họp quyết định về việc trao giải Phụng Hoàng vở tuồng hay nhứt trong năm nay.
            Từ ba năm trước, nhằm khuyến khích các soạn giả cải lương viết thêm tuồng mới phục vụ khán giả yêu thích bộ môn nghệ thuật này, nên Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại đã phổ biến thông báo về việc tuyển chọn “tuồng cải lương hay nhứt trong năm”. Và hôm nay soạn giả Trần Văn Hương đã gởi tuồng mới tham dự.
            Nếu như bản vọng cổ đã đưa những người đến chỗ kiếm tiền bạc triệu, các hãng dĩa đã làm giàu, những nghệ sĩ đi xe hơi xài tiền như nước, thì trong lúc ấy cũng đang bắt một ông già cha đẻ của sáu câu vọng cổ, lê chuỗi ngày tàn trong cảnh bần hàn, túng thiếu, vất vả.
            Một nếp nhà tranh, trước nhà là cái sân đất có trồng một cây khá lớn có bóng mát, và bên trong gian nhà đơn sơ, bàn ghế không có gì ngoài bộ ván đã xưa và cái bàn thờ cổ kính.
            Một đoàn âm công trong một buổi chiều nào đó, ông Sáu Lầu sau khi cùng các học trò làm xong phận sự đưa đám tang tới nghĩa địa, ông lại trở về nhà, một nếp nhà tranh nhìn ra lộ, nằm trong ấp Bạch Đằng, xã Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.
            Người cha đẻ ra bài vọng cổ mà thiên hạ đã từng nghe danh, trong những năm cuối đời, vào khoảng 1965 ông đã trên 70 tuổi rồi mà phải đi đờn đám ma kiếm tiền để sống trong một dàn kèn đám ma do ông làm trưởng đoàn.
            Tại Bạc Liêu, đám tang nào cần có âm công là người ta đến nhờ giàn kèn đám ma (có nơi gọi là đờn thổi) của ông Sáu Lầu. Đến cái tuổi gần đất xa trời đáng lẽ có một nơi ấm cũng để dưỡng già, thế mà người cha đẻ của “sáu câu vọng cổ” còn phải dãi dầu sương gió bên cỗ quan tài cho đến tận đêm khuya.


Vở kịch Dạ Cổ Hoài Lang thuở ban đầu với Thành Lộc và Việt Anh

Dạ Cổ Hoài Lang
            Vào giữa thập niên 1960, theo lời ông Sáu Lầu kể lại với một ký giả kịch trường, thì khoảng 1917 ông đang sống với người vợ hiền trong một cảnh gia đình êm ấm, nhưng đã mấy năm mà không có con, nên song thân ông lo tuyệt tự. Theo quan niệm xưa, không có con trai là đủ mang tội bất hiếu rồi, song thân cho vợ ông về lấy chồng khác, để ông tìm người vợ khác có thể sanh con nối dõi… Thời xưa đối với lịnh nghiêm đường, phận làm con mấy ai dám chối cãi lời răn dạy của cha mẹ. Ông buồn đứt ruột song cũng phải vâng dạ ở ngoài miệng và chần chờ không nỡ bỏ người vợ không có phạm một tội lỗi gì.
            Vợ ông hay biết chuyện này cũng buồn rầu lắm, song chỉ có khóc thầm trong lúc đêm khuya. Hồi ấy ông đang chơi đờn tranh, những đêm trăng, ôm đờn ra bờ ruộng, dạo vài cung áo não cho vơi bớt nỗi sầu.
            Ông Sáu Lầu cho biết điệu “hoài lang” mà ông đặt ra lần đầu, tức là tên nguyên thủy của bản “vọng cổ”. Ông nghĩ đến tâm sự của vợ ông mai kia đây sẽ xa chồng, và khi nguồn cảm hứng dâng lên tràn ngập cõi lòng, ông gởi gấm tâm sự vào nhạc điệu. Làm thành 20 câu, nhịp tư, mà ông đặt tên là điệu “Hoài Lang” có nghĩa là “nhớ chồng”.
            Ông đờn đi, đờn lại, nhạc phẩm mới này, và sửa cho thêm ai oán, thích hợp với tâm trạng một người đàn bà xa chồng, vì một phong tục cổ hủ lỗi thời của ngàn xưa để lại. Ông đờn cho vợ ông nghe và bà Sáu cũng xúc động đến chảy nước mắt.
            Lúc ấy ông đang là nhạc sĩ đờn tranh trong giàn đờn của gánh cải lương Ba Xú ở Bạc Liêu. Hàng ngày tiếp xúc với thầy Thống là thầy tuồng, tức soạn giả của gánh này, tên là Tôn Xuân Thơ. Ông Sáu Lầu cho thầy Thống hay ông mới sáng tác ra một điệu mới và đờn cho thầy nghe. Thầy Thống cảm phục và khen ngợi ông, và thầy đề nghị ông để cho thầy đặt lời ca. Thầy hỏi tên điệu đờn, và ông Sáu Lầu đáp: “Tôi đặt tên là “Hoài Lang” để gởi gấm tâm sự một người đàn bà nhớ chồng”.
            Thế là vài hôm sau đó thầy tuồng của gánh Ba Xú đưa ra lời ca để ông Sáu Lầu đờn còn thầy thì ca. Điệu Hoài Lang có lời ca của thầy Thống đã làm cho những nghệ sĩ ngồi nghe phải bùi ngùi xúc cảm. Dưới thời Pháp thuộc chưa ai nghe được một nhạc phẩm buồn rầu, áo não đến thế, và lời ca như sau:

                        Từ (là từ) phu tướng.
                        Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
                        Vào ra luống trông tin chàng.
                        …


            Vì người sáng tác nhạc ôm ấp một tâm sự khác, nên bài ca không diễn đạt hết ý nghĩa của hai chữ “Hoài Lang” hàm xúc ý tình một người vợ miễn cưỡng phải xa chồng, chớ không nghĩ đến một võ tướng “Sắc phong lên đàng” như thầy tuồng tưởng tượng. Vì thế, thầy Thống đề nghị đặt cái tên Vọng Cổ nghĩa là nhớ thời xưa cho rộng nghĩa.
            Đó là câu chuyện về sự ra đời của bài bản Dạ Cổ Hoài Lang, tức bản vọng cổ sau này, theo tôi biết là như vậy. Nhưng đối với soạn giả Trần Văn Hương thì tình tiết của vở hát “Cuộc Đời Tình Ái của nhạc sĩ Sáu Lầu” ra sao, có đúng như vậy không? Do đó mà tôi có đi gặp soạn giả Trần Văn Hương để hỏi vài ba câu, và soạn giả Trần Văn Hương đã trả lời:
            – Tôi có xem qua tiểu sử nhạc sĩ Cao Văn Lầu…
            Xin mời quí thính giả nghe thêm phần âm thanh.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1214-nm-12142013113142.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #78 vào: 20/09/2017, 18:31:23 »
Chuyện về vở hát Tây Thi gái nước Việt

Câu chuyện Việt Vương Câu Tiễn “nằm gai nếm mật” được soạn giả Năm Châu viết thành tuồng cải lương với tên tựa “Tây Thi gái nước Việt” đưa lên sân khấu từ đầu thập niên 1950, gồm các nhân vật chính như: Ngô Phù Sai, Tây Thi, Việt Vương Câu Tiễn, Phạm Lãi, Ngũ Tử Tư…

Phạm Lãi (Phùng Há) và Tây Thi (Kim Cúc) trong tuồng Tây Thi gái nước Việt

Khán giả chật rạp
            Đây là vở tuồng màu sắc khá ăn khách, hát liên tục cả tháng tại rạp Aristo mà đêm nào cũng chật rạp, thậm chí vé bán trước cả tuần. Vở hát lúc mới khai trương, vai Ngô Phù Sai do nghệ sĩ Năm Châu đóng; Má Bảy Phùng Há đảm nhận vai Phạm Lãi; nghệ sĩ Bảy Nhiêu vai Ngũ Tử Tư; ba nghệ sĩ hề là Ba Vân, Văn Lâu, Tám Vân vai Bá Hỉ. Hai cô đào Kim Cúc, Kim Lan trước sau thay nhau đóng vai Tây Thi. Nghe nói với vai nữ chánh này, hai cô đào phải đi học 72 đường kiếm thuật với ông thầy Tàu ở Chợ Lớn.
            Vậy tuồng Tây Thi gái nước Việt hay đến cỡ nào mà khán giả cải lương lại đông đảo như thế? Tình tiết câu chuyện khá dài, tôi sẽ trở lại ở các kỳ sau. Giờ đây tôi trình bày diễn tiến trong việc viết vở tuồng này, cũng như ai là người đã sáng tác lên câu chuyện đã làm say mê khán giả khi nó được chuyển thể thành tuồng cải lương.
            Số là kể từ lúc tuồng được ra mắt cho đến mấy thập niên sau, rất hiếm người biết rằng, soạn giả Năm Châu đã dựa vào vở kịch thơ “Tây Thi gái nước Việt” của Hoàng Mai, được nhà xuất bản Sống Chung phát hành giữa năm 1949. Hoàng Mai, tức Mai Văn Bộ, cán bộ kháng chiến Hội Liên Việt của Thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Về sau ông Mai Văn Bộ được điều động đến khu kháng chiến Nam Bộ và soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang tìm đến đây, để rồi sau đó vở hát “Tây Thi gái nước Việt” được ra đời, đóng góp một cành bông tươi đẹp vào vườn hoa nghệ thuật cải lương. (Lúc có Hòa Đàm Ba Lê ông Mai Văn Bộ làm Đại Sứ Bắc Việt tại Ba Lê.)
            Đầu năm 1950 Đoàn Việt Kịch Năm Châu trên đà mất khán giả vì thiếu tuồng mới, tuồng cũ diễn đi diễn lại nhiều lần không còn ăn khách nữa, nên soạn giả Tư Trang (em bà con với Năm Châu) đã lặn lội vào tận khu kháng chiến Nam Bộ (Khu 9) để gặp tác giả vở kịch thơ Hoàng Mai, xin được chuyển thể vở kịch thơ thành tuồng cải lương. Ông Bộ chấp thuận (không đòi hỏi tiền bản quyền).
            Vở tuồng “Tây Thi gái nước Việt” với nguyên tác là vở kịch thơ đã sẵn mang tính văn chương và nghệ thuật, nhiều kịch tính với nội dung truyền cảm. Việc chuyển thể từ kịch thơ qua tuồng cải lương đòi hỏi soạn giả một trình độ cao về kỹ thuật và kinh nghiệm sân khấu, nếu không phải là Năm Châu, thì khó có ai dám mạo muội làm chuyện này. Người ta cho rằng, chính công sức, thông minh và thiện chí, với kinh nghiệm nghề nghiệp đã khiến cho ông Năm Châu vượt qua được cái khó khăn nhất là đặt bài ca cổ nhạc đúng chỗ, hợp lý để không làm gián đoạn đường dây xuyên suốt của kịch bản. Vở tuồng còn có sự đóng góp của nhạc sĩ Lê Thương viết nhạc, và ba ca khúc hát bè, điều đó cho thấy sân khấu cải lương từ thời xa xưa đã có áp dụng ca tân nhạc vào tuồng cải lương.


Bìa dĩa hát cải lương Hoa Một Lan

Đường lối “mua tuồng cũ”
            Khoảng giữa thập niên 1950 thỉnh thoảng khán giả cũng có đi coi vở Tây Thi gái nước Việt diễn trên sân khấu Phụng Hảo. Thập niên 1960 cải lương lên cao điểm, nhưng hai đoàn Năm Châu và Phụng Hảo lại bị rã gánh nên khán giả đã không còn thấy nàng Tây Thi xuất hiện ở đâu hết.
            Rồi đến năm 1974 thì đoàn Kim Chung cũng cho diễn tuồng “Tây Thi” của soạn giả Yên Lang, mà không phải tuồng của Năm Châu trước đó, khiến cho nhiều người thắc mắc rằng không biết Tây Thi này có phải là Tây Thi gái nước Việt mà nhiều năm trước đó khán giả cải lương đã đi coi? Và câu giải đáp như sau:
            Lúc cao điểm khai thác nghệ thuật cải lương của những năm giữa thập niên 1960, bảng hiệu Kim Chung có đến sáu đoàn hát, hoạt động luân chuyển đều đặn từ Thủ Đô Sài Gòn đến các tỉnh miền Tây, miền Đông, miền Trung. Chỉ trừ những lúc đoàn đang di chuyển thì không có hát chớ đêm nào các gánh cũng mở màn, do đó ông Bầu Long rất cần nhiều soạn giả cộng tác để cung cấp tuồng mới cho các đoàn.
            Ngoài mấy soạn giả thường trực người miền Bắc, đa số là các soạn giả miền Nam đã tập trung dưới trướng của Bầu Long (báo chí gọi là Bầu Rồng). Lúc bấy giờ soạn giả Yên Lang giữ một vai trò quan trọng về tuồng tích cho đoàn Kim Chung, nhưng sau cơn bão lốc Mậu Thân cuốn đi hết mấy đoàn, chỉ còn lại hai đoàn hoạt động cầm chừng.
            Tình hình đen tối như vậy nên Kim Chung không thể nào “nuôi” hết một “tiểu đội” soạn giả để phải trả lương tháng nữa. Đường lối của Bầu Long lúc ấy là mua đứt một số tuồng cũ rồi đổi tựa mới để cho hai đoàn còn lại “hát cho có hát” mà thôi. Như vậy đỡ tốn tiền tuồng, và cũng để nuôi sống những đào kép công nhân từng trung thành với bảng hiệu Kim Chung, nhứt là những người đã theo đoàn từ Bắc vô Nam. Do đường lối “mua tuồng cũ” ấy nên soạn giả Yên Lang đương nhiên không còn chỗ đứng ở Kim Chung nữa, đã phải chạy lung tung qua mấy đoàn Việt Nam, Du Sĩ Ca Quốc Trầm…
            Mãi đến 1974 thì Yên Lang “phản hồi cố quận” được Bầu Long mời cộng tác trở lại cùng lúc với soạn giả Thiếu Linh. Trở về với Kim Chung thì soạn giả nào lại chẳng mừng, bởi viết xong tuồng là có tiền ngay, chớ không như các gánh khác, tuồng hát rồi chưa chắc có tiền. Do vậy mà soạn giả cần đến những câu chuyện ăn khách để cộng tác lâu dài với Bầu Long, và chiêu đầu tiên mà soạn giả Yên Lang tung ra tại rạp Olympic mang tựa đề là Tây Thi.
            Có lẽ biết rõ câu chuyện “nằm gai nếm mật” của Việt Vương Câu Tiễn ăn khách, hát đi hát lại nhiều lần vẫn có đông đảo khán giả đi coi, nên soạn giả Yên Lang đã đưa nàng Tây Thi và các nhân vật trong câu chuyện lên sân khấu Kim Chung.
            Thế nhưng, lấy tên tựa gì đây? “Tây Thi gái nước Việt” thì Năm Châu đã đặt tựa rồi, không lẽ giờ đây đề tựa Tây Thi… gái nước Tàu? Dù rằng câu chuyện này là của Trung Hoa, thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Ngô nước Việt là chư hầu của Nhà Chu (có nhiều người lầm lẫn nước Việt ở đây là Việt Nam).
            Thật ra thì sử sách chính thống của Tàu ghi chép rất ít về nàng Tây Thi, mà phần lớn hình ảnh đẹp của Tây Thi là do nhân gian sáng tạo, gần như là chuyện xưa tích cũ vậy. Chẳng hạn như tuồng cải lương của Năm Châu đã dựng lên một nàng Tây Thi vừa đẹp tuyệt trần, vừa yêu nước mến dân, lại vẹn tình vẹn nghĩa…
            Do cốt truyện gần như chuyện nhân gian của Tàu, thì soạn giả cải lương Việt Nam ai viết được thì viết, chứ đâu phải tác quyền của Năm Châu. Thành thử ra soạn giả Yên Lang viết thoải mái, tạo nên nàng Tây Thi thế nào tùy ý, chỉ có cái khó là đặt tựa làm sao cho khán giả hiểu được Tây Thi này cũng là Tây Thi của Năm Châu mới ăn khách. Cái tựa là cả một vấn đề, và soạn giả nhà ta đã đặt tựa là “Tây Thi”… khơi khơi vậy thôi, ai muốn hiểu sao thì hiểu.
            Đến hôm đăng bảng trình diễn, các ký giả kịch trường phỏng vấn ông Bầu Long:
            – Sao lại chỉ có hai chữ “Tây Thi” thôi, còn “gái nước Việt” bỏ đi đâu?
            Bầu Long trả lời:
            – Mấy anh cứ hỏi thẳng soạn giả Yên Lang.
            – Ông là bầu gánh phải biết chớ!
            Là người Bắc di cư, ông Bầu Long dùng từ ngữ Bắc rặt:
            – Tớ chả cần biết làm gì, miễn tuồng ăn khách là tốt rồi.
            – Vậy có phải Tây Thi gái nước Việt như tuồng của Năm Châu hay là… gái nước Tàu?
            Bầu Long nói:
            – Gái nước Tàu, nước Nhựt, Miên, Lèo, Ấn Độ, Chà Và hay gái nước nào cũng được, tớ chả cần quan tâm làm chi.
            Thế là huề! Đối với Bầu Long thì báo chí có khen cũng vậy, mà chê thì cũng thế thôi!
            Như vậy tuồng “Tây Thi gái nước Việt” đã có hai người viết: Năm Châu và Yên Lang.
            Một điều cũng cần nói thêm, năm 1969 lúc Hòa Đàm Ba Lê đang diễn ra, cả hai miền Nam, Bắc đã đưa các đoàn văn nghệ sang nước Pháp làm công tác văn hóa, thu phục kiều bào. Riêng miền Nam thì trước tiên là đoàn Thanh Minh Thanh Nga như tôi đã từng trình bày với thính giả trên làn sóng phát thanh này. Kế đó thì các đoàn văn nghệ khác cũng được đưa sang, trong số có đoàn của Năm Châu, Phùng Há.
            Thời gian công tác cho đoàn văn nghệ miền Nam tại Ba Lê, hai nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há đã bí mật gặp ông Đại Sứ Mai Văn Bộ của miền Bắc. Giáo sư Trần Văn Khê dùng xe riêng đưa hai người đến gặp ông Bộ tại nhà của Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Hà. Dù là tác giả câu chuyện, nhưng ông Mai Văn Bộ vì ở trong khu kháng chiến, đã không có dịp nào được coi vở hát nói trên. Cuộc gặp gỡ này ông Bộ yêu cầu nghệ sĩ Phùng Há diễn lại một lớp trong tuồng Tây Thi gái nước Việt (Má Bảy diễn lớp Phạm Lãi gặp Tây Thi ở Cô Tô Đài).
            Vấn đề trên về sau ông Mai Văn Bộ kể lại với báo chí rằng: “Năm phút diễn xuất kỳ diệu của chị Bảy trong vai Phạm Lãi, đã giúp tôi hình dung được toàn bộ vở kịch hoành tráng và lộng lẫy Tây Thi gái nước Việt trên sân khấu của Đoàn Việt Kịch Năm Châu năm nào”. Chuyện đời kể ra cũng lạ, trong khi hằng bao khán giả thì được coi nguyên vở tuồng. Còn tác giả câu chuyện thì chỉ được xem một đoạn với thời gian năm phút ngắn ngủi. Sau 1975 vở Tây Thi được diễn trở lại, không biết ông Mai Văn Bộ có dịp đi coi không?


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-122113-nm-12202013223954.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #79 vào: 22/09/2017, 20:44:06 »
Vở tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” – Cao Văn Lầu

Được sự thỏa thuận của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang, hôm 22 tháng Mười Hai 2013 tại rạp Sài Gòn Performing, Fountain Valley, miền Nam California Hoa Kỳ. Ban tổ chức giải Phụng Hoàng và Hội Đồng Thẩm Định đã hiện diện xem tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ”, tức cuộc đời tình ái của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ ngày nay.



Chấm điểm theo thể thức giải Thanh Tâm
            Vở tuồng Cao Văn Lầu đã được chấm điểm theo thể thức giải Thanh Tâm ngày xưa ở trong nước, tức theo nguyên tắc khảo thí (Festival). Trước đó dù có những đề nghị việc chấm điểm nên đổi mới theo thể thức tùy tuyển như loại Oscar, hoặc như trung tâm băng nhạc Thúy Nga. Thế nhưng, ban tổ chức giải Phụng Hoàng đã quyết định giữ nguyên tắc khảo thí như thể lệ đã đề ra trước đây. Hội Đồng Thẩm Định (gồm Ban Giám Khảo và Hội Đồng Giám Sát Thi Cử) đã đi xem tuồng. Và trong vài ngày sắp tới đây ban tổ chức giải Phụng Hoàng sẽ có một phiên họp chung thẩm để quyết định vấn đề trao giải về tuồng cải lương dự thi năm nay.
            Đây là lần đầu tiên ở hải ngoại có một tuồng cải lương dự thi (tuồng mới). Người ta mong rằng sau vở tuồng này, sẽ là động lực cho các soạn giả viết thêm tuồng mới, có nghĩa tương lai sẽ có thêm nhiều tuồng khác dự tranh giải Phụng Hoàng. Có như vậy những người yêu thích cải lương sẽ được thưởng thức tuồng mới, vấn đề mà nhiều người bi quan cho rằng không thể thực hiện được, nhứt là trong giai đoạn cải lương tê liệt như hiện nay. Do đó mà những người vốn hằng quan tâm đến sự tồn vong của nghệ thuật văn hóa nước nhà đã đặt niềm tin vào Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại, tin tưởng vào giải Phụng Hoàng.
            Nhân dịp tuồng cải lương ở hải ngoại, nội dung nói về cuộc đời nhạc sĩ Sáu Lầu gởi tham dự giải Phụng Hoàng. Tôi xin trình bày cũng vấn đề tuồng cải lương dự tranh giải Thanh Tâm từng diễn ra ở thời kỳ trước 1975, mà cho đến nay không biết những ai còn nhớ đến.
            Số là giải Thanh Tâm năm đầu tiên 1958 phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga, mà việc tuyển chọn thật đơn giản: Ban tuyển chọn chỉ có năm người họp tại Bồng Lai Tửu Quán ở đường Lệ Lợi Sài Gòn. Năm người ban tuyển chọn lúc ấy là nghệ sĩ Bảy Nhiêu, Năm Châu, Phùng Há, nhà báo Trần Tấn Quốc (tức ký giả Thanh Tâm) và người thứ năm là một khán giả yêu thích cải lương, ông tên là Nguyễn Hoàng Minh, công chức Phủ Tổng Thống.
            Chỉ sau một bữa tiệc là xong, chẳng có bàn cãi gì hết, mà điều lệ có hay chưa cũng không nghe nói. Rồi kể từ 1958 ấy cho đến 1964 giải ngày một lớn mạnh. Thời gian đó giải chỉ phát cho nghệ sĩ triển vọng với số tuổi tối đa là là 21 tuổi. Thế nhưng, đến năm 1965 thì giải Thanh Tâm đẻ ra thêm giải diễn viên xuất sắc (không giới hạn hạng tuổi) và năm đầu tiên này hai nghệ sĩ Hữu Phước và Bạch Tuyết đoạt giải. Đồng thời cũng năm 1965 giải Thanh Tâm có thêm giải tuồng cải lương hay nhứt trong năm. Và kết quả vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái” của Hà Triều Hoa Phượng đoạt giải.


Một cảnh diễn của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang

Tuồng đất mẹ, tuồng hương xa
            Do năm 1965 có thêm hai giải nữa nên ban tổ chức phải làm việc nhiều hơn. Sau khi bàn thảo sôi nổi, để tìm đường lối làm việc vững chắc cho ban tổ chức mùa Giải Thanh Tâm 1965, ban thường vụ của giải đã có những quyết định mới:
            Mỗi đoàn hát có quyền gởi đến ban tuyển chọn hai tuồng dự thi (một tuồng thuộc loại đất mẹ, một tuồng thuộc loại hương xa). Trong trường hợp bất thường, một đoàn hát có thể gởi hai vở cùng một loại. Vấn đề thể thức và chi tiết gởi tuồng dự thi, ban thường vụ Giải Thanh Tâm 1965 ra thông cáo chánh thức cho các đoàn hát, và soạn giả gởi tuồng dự thi.
            Tuồng dự thi được ban chấm thi đến xem tại hí viện mà đoàn đang trình diễn, để nhận xét giá trị nghệ thuật tuồng tích và tài nghệ diễn xuất của các diễn viên. Ban chấm thi có nhiệm vụ giới thiệu đặc biệt những soạn phẩm dự thi trước công luận. Ngoài ra, hình thức giới thiệu còn được áp dụng theo phương thức quảng cáo, để tạo sự chú ý của khán giả. Phương thức giới thiệu được áp dụng một cách đồng đều cho các vở hát dự thi.
            Vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái” của Hà Triều Hoa Phượng trúng giải Thanh Tâm 1965. Đêm tổ chức phát giải, vở tuồng được hát trở lại, quan khách được mời nhiều mà khán giả đi coi cũng đông đảo. Vé có ba hạng: Thượng hạng 250 đồng, hạng nhứt 160 đồng, hạng ba (trên lầu ba rạp Hưng Đạo) 60 đồng, vé bán hết mấy ngày trước. Trên 100 vé mời hạng 160 đồng, ban tổ chức đã mời tất cả nhân viên ban tuyển chọn từ năm 1958 cho đến năm đó, mỗi người hai vé.
            Đó là những nghệ sĩ, soạn giả và ký giả có tên như sau: Nguyễn Thành Châu (Năm Châu). Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu), Duy Lân, nữ nghệ sĩ Phùng Há, ông Nguyễn Hoàng Minh, Anh Nguyên, Ngọc Linh, Sĩ Trung, Lê Hiền, Bạch Tùng Hương, Việt Định Phương, Hồng Sơn, Cẩm Thi, Tứ Lang, Thu An, Bạch Diệp, Viễn Châu, Nguyễn Ang Ca. Riêng Má Bảy Phùng Há lúc đó đang ở bên Pháp thì ban tổ chức không mời… về xem.
            Đêm đó phát huy chương vàng (một chiếc) cho soạn giả Hà Triều Hoa Phượng đã đoạt giải tuồng hay nhứt năm 1965 với vở tâm lý tình cảm “Nỗi Buồn Con Gái”. Phát huy chương vàng cho Bạch Tuyết (đoàn Dạ Lý Hương) và Hữu Phước (đoàn Thanh Minh Thanh Nga) đã đoạt giải diễn viên xuất sắc năm 1965. Tổ chức trình diễn vở “Nỗi Buồn Con Gái” là vở đoạt giải với sự có mặt của Bạch Tuyết và Hữu Phước. Bạch Tuyết đóng vai cũ của cô là vai cô Huyền (về sau sửa lại tên Tần). Hữu Phước đóng vai ông Độ là vai tuồng do nghệ sĩ Út Trà Ôn thủ diễn trước đây. Ngoài ra có mặt Thanh Sang và các diễn viên của đoàn Dạ Lý Hương.
            Giờ đây nếu như tuồng Cao Văn Lầu được trúng giải Phụng Hoàng năm nay, thì người ta tin chắc rằng trong ngày lễ phát giải, tuồng cũng sẽ được trình diễn trở lại và khán giả sẽ đông hơn. Hiện giờ theo tin tức nhận được thì rất nhiều người đang trông chờ kết quả. Hiện nay ở hải ngoại, miền Nam California đang là mùa thi giải Phụng Hoàng. Ngoài tuồng cải lương dự thi như tôi vừa trình bày. Các môn văn nghệ khác cũng đang được xúc tiến.
            Theo tinh thần thông báo giải Phụng Hoàng Kỳ 7 sẽ mở rộng gồm các môn: Thi ca vũ nhạc kịch, ban tổ chức đã bắt đầu nhận ghi danh từ tháng trước. Và hôm chủ nhựt vừa qua Trung Tâm Việt Ngữ Minh Đức, thuộc Đại Đạo Thanh Niên Hội Cao Đài đã gởi phiếu ghi danh tham dự cuộc tranh tài các môn, gồm múa, đàn, hát và vọng cổ. Được biết Đại Đạo Thanh Niên Hội Cao Đài là một tổ chức của Tôn Giáo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, hoạt động đã mấy chục năm nay từ trong nước ra hải ngoại. Và hình thức hoạt động tương tợ như Hướng Đạo vậy.
            Từ khi ban tổ chức giải Phụng Hoàng loan báo bắt đầu nhận ghi danh cho các môn thi nói trên, thì nghe nói một số Trung Tâm Việt Ngữ và Gia Đình Phật Tử có tổ chức văn nghệ ở các ngôi chùa thuộc vùng Orange County, đã ráo riết tập dượt để vừa trình diễn các buổi lễ, và cũng để tham dự giải Phụng Hoàng.
            Về phía ban tổ chức giải Phụng Hoàng thì sau cái ngày tuồng cải lương cuộc đời Cao Văn Lầu tham dự giải, và sau khi Hội Đồng Thẩm Định họp quyết định về vấn đề trao giải, thì sẽ khởi sự cho nhiều công việc khác, mà trong đó có việc lập danh sách mạnh thường quân.


Khu lưu niệm Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu)

Hoàn cảnh ông Sáu Lầu khi về già
            Kể từ lúc truyền thông báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình loan tin cuộc đời nhạc sĩ Cao Văn Lầu được đưa lên sân khấu, thì rất nhiều người muốn biết rõ hơn hoàn cảnh của ông Sáu Lầu khi về già ra sao? Có làm giàu nhờ bản vọng cô do mình sáng tác?
            Do vậy mà hôm nay tôi xin trình bày thêm những gì mà tôi biết về ông Sáu Lầu.
            Cách đây gần nửa thế kỷ, một sự việc mang ý nghĩa tốt đẹp đã diễn ra trong giới nghệ sĩ và nhiều thành phần liên quan đến hoạt động cải lương. Đó là việc thiết lập “Hộp Thơ Sáu Lầu” để trợ giúp người nhạc sĩ cha đẻ bản vọng cổ, mà khi về già đã phải chịu vất vả trong cuộc sống nghèo nàn túng thiếu ở Bạc Liêu.
            Số là khoảng cuối năm 1965, ký giả kịch trường Nguyễn Kiên Giang có dịp đi Bạc Liêu, ghé thăm một gánh hát đang diễn ở rạp Chung Bá, vô tình nghe tiếng kèn trống từ một nhà có đám tang. Ông rảo bước đến phía trước nhìn vào thấy một ông già đầu bạc, vóc dáng gầy gò trong bộ đồ bà ba đen đang đánh phèn la.
            Một người đi đám nói với nhà báo Kiên Giang:
            – Anh biết ai không? Ông Sáu Lầu đó, tại Bạc Liêu này đám tang nào cần có âm công đều nhờ giàn kèn của ông Sáu Lầu.
            Thật vậy, ông Sáu Lầu năm đó đã 74 tuổi mà phải đi kiếm tiền để sống trong một dàn kèn đám ma. Cái nghề đờn thổi đám ma phải có mặt cạnh quan tài từ ngày đầu tiên tẩn liệm xác chết, cho tới lúc đưa đám tới nghĩa địa mới xong phận sự.
            Sau đó thì ký giả Kiên Giang viết lên bài báo nhằm đánh động tâm tư những người nhờ bản vọng cổ mà làm giàu, có cuộc sống huy hoàng sung túc, lên xe xuống ngựa thì cũng nên “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.
            Bài báo đã có tác dụng rõ rệt, bởi chỉ vài ngày sau thì có những cuộc họp của giới cải lương. Rồi thì một “Tiểu Ban Vận Động Trợ Giúp Nhạc Sĩ Sáu Lầu” được hình thành, do nhạc sĩ Hai Khuê làm trưởng tiểu ban. Tiếp đó thì “Hộp Thơ Sáu Lầu” được thiết lập, đặt tại nhà của nhạc sĩ Hai Khuê ở đường Cao Thắng, Sài Gòn.
            Nhiều tờ báo có trang kịch trường cũng nhập cuộc, đã kêu gọi các nghệ sĩ sân khấu, các ca sĩ của hãng dĩa, đài phát thanh, các chủ gánh hát, các chủ nhà xuất bản bài ca, và mọi người có lòng hãy hưởng ứng bằng cách gởi thư an ủi, gởi tặng vật và tiền bạc để gia tăng quỹ nầy.
            Tôi không nhớ rõ “Hộp Thơ Sáu Lầu” gây quỹ được bao nhiêu (hình như mấy chục ngàn). Tiểu ban vận động đã tổ chức một buổi hát, đồng thời cử người đi Bạc Liêu rước nhạc sĩ Sáu Lầu lên Sài Gòn trao tiền. Nhạc sĩ xúc động cám ơn…


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-122813-nm-12272013144827.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #80 vào: 27/09/2017, 17:36:19 »
Đoàn Kim Chung thành lập ngoài Bắc, an cư lạc nghiệp trong Nam

Trước 1954 đoàn Kim Chung thành lập ở ngoài Bắc, cũng là một đoàn hát có bề thế, nổi tiếng, chủ nhân là ông Trần Viết Long, một công tử con nhà giàu ở Hà Nội. Ông Long từng đi du học bên Pháp, bên Đức nhưng khi về nước đã không làm cho cơ quan nào, mà đi… làm cải lương. Do bởi ông phải lòng cô đào tài sắc Kim Chung, rồi đứng ra thành lập đoàn Kim Chung – tiếng chuông vàng Bắc Việt vào năm 1950. Kế đó cùng với ông Phạm Thọ Minh, lập đoàn Kim Chung – tiếng chuông vàng Hải Cảng (Hải Phòng).

Poster đoàn Kim Chung hát tại rạp Aristo

Khán giả đông chật rạp
            Khi đình chiến Pháp-Việt 1954, theo làn sóng đồng bào di cư, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam. Khi mới vào Nam đoàn Kim Chung phải đi lưu diễn như các gánh trong Nam. Thế nhưng, đoàn đã thất bại ngay trong đợt đầu tiên này, bởi tuy là cải lương đó, nhưng đồng bào ở đây lại không quen với lối ca hát của đào kép đất Bắc. Lại nữa lúc mới vào cũng không thông thạo đường đi nước bước gì hết. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa cũng không kinh nghiệm như các gánh trong Nam. Hơn nữa đoàn Bích Hợp mới ra đời thời gian ngắn đã chết, làm cho Kim Chung cũng phải bối rối. Ấy thế là Bầu Long phải đánh liều, thuê rạp Aristo để nằm hát thường trực vậy chớ biết làm sao.
            Nghe nói ông Bầu Long mướn rạp dài hạn để gánh Kim Chung hát thường trực thì giới cải lương đã mỉm cười, thậm chí có người còn nói rằng chỉ có ở Biên Hòa về mới làm như vậy (đó là câu nói mà thiên hạ dùng để nói người bị tâm thần, vì Biên Hòa là nơi có Bệnh Viện Dưỡng Trí, mà thông thường người ta gọi là “nhà thương điên”. Thiên hạ có cái nhìn như vậy là vì từ trước tới giờ gánh hát diễn một tuần là không còn khán giả, xưa nay chưa gánh nào hát một chỗ thời gian hai tháng. Có ngon lắm, tuồng hay lắm, thì cũng hơn một tháng mà thôi, như gánh Năm Châu hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt của những năm đầu thập niên 1950.
            Rồi giờ đây một đoàn cải lương từ miền Bắc vào, lại thuê một rạp hát dài hạn, mà rạp đó lại là rạp Aristo, các gánh cải lương trong Nam không gánh nào muốn về rạp này, trừ trường hợp bị kẹt rạp. Bởi nếu như đem so sánh với những rạp hát khác ở Sài Gòn, thì rạp Aristo nằm ở địa điểm bất lợi, chỉ có một con đường phía trước rạp, không có đường chạy ngang thông ra nhiều hướng như rạp Thành Xương, và còn kém xa hơn nữa nếu so với rạp Nguyễn Văn Hảo rộng rãi, lại là địa điểm thuận lợi cho khán giả từ miền Lục Tỉnh lên đậu ghe ở bến sông Cầu Ông Lãnh, vừa mua bán, vừa đi coi hát giải trí. Do vậy mà hiếm đoàn hát muốn về đây, trừ trường hợp các rạp khác không còn trống, thì mới thuê mướn rạp Aristo này.
            Rạp Aristo là một rạp hát cải lương ở ngay trung tâm Sài Gòn mà giờ đây người ta không còn thấy nữa, có còn chăng là trong ký ức những người hâm mộ cải lương, họ sẽ hình dung được ngay, nếu như có ai nhắc tới. Rạp Aristo, còn có tên là Trung Ương Hí Viện, nằm trên con đường chạy dọc theo bờ tường rào nhà ga xe lửa, mà thời Pháp có tên là Colonel Grimaux (đường Lê Lai sau này).
            Thuở đầu tiên nó chỉ là một khán trường nhỏ nằm trong một nhà hàng, nhưng vào khoảng những năm thập niên 1940, do khán giả đông, chủ nhân đã xây cất, mở rộng biến thành rạp hát. Có lẽ do yếu thế, ít đoàn hát thuê mướn, nên khi được đoàn Kim Chung thuê dài hạn (hợp đồng năm năm và trả tiền từ năm một) thì chủ rạp đồng ý ngay, dù rằng giá thuê quá rẻ. Nghe nói khoảng một phần ba giá tiền cho các gánh nếu như thuê chỉ một tuần. Ông bầu Long có cái suy nghĩ nếu như giá thuê rạp rẻ thì dù ít khán giả vẫn không lỗ lã, vì không tốn kém di chuyển như hầu hết các gánh.
            Thế nhưng, cái may mắn của đoàn Kim Chung là khi ký hợp đồng rồi thì đêm nào khán giả cũng đông chật rạp, là điều không ai ngờ được. Tuồng có sẵn ngoài Bắc mang hát lại hằng đêm, khán giả xem đông, không phải là khán giả của Sài Gòn, mà là khán giả thuộc đồng bào di cư miền Bắc, vào đây còn nằm tại Sài Gòn chưa được biết định cư ở đâu cả. Họ còn tiền bạc, họ đang nhớ đến quê hương miền Bắc, chợt có gánh hát ngoài Bắc vào, đương nhiên họ ủng hộ hết mình. Giai đoạn đầu của Kim Chung kiếm tiền dễ dàng, ăn bạc là vì thế.


Huỳnh Thái và Kim Chung (từ trái sang) trên sân khấu xưa

Nổi đình nổi đám
            Như vậy rạp Aristo, nơi trụ diễn của đoàn cải lương Kim Chung thuở đầu lập nghiệp tại Sài Gòn, sân khấu cải lương Sài Gòn đón nhận đoàn hát từ ngoài Bắc vào an cư lạc nghiệp. Và cũng từ đó sân khấu Aristo “nổi đình nổi đám”, rầm rộ luôn hàng đêm từ 1955 đến 1960. Đương thời ít có đoàn cải lương nào trụ diễn thường trực tại một rạp hát, mà thường chỉ ghé ở mỗi rạp khoảng một tuần và diễn mỗi đêm một vở khác. Thế nhưng, đoàn cải lương Kim Chung không những trụ diễn lâu dài tại rạp Aristo mà còn gây kinh ngạc cho giới cải lương qua việc diễn nhiều ngày chỉ có một vở hát “Trăng Giãi Đêm Sương” được diễn liên tục trên 40 đêm. Có thể nói rằng, đây là vở cải lương được hát liên tục trên sân khấu lần đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn. Và từ đó, chuyện hát nhiều ngày một vở diễn bắt đầu được các đoàn cải lương khác áp dụng.
            Có thể nói phần lớn tài danh sân khấu cải lương đã ở dưới trướng của Bầu Long. Các nghệ sĩ tên tuổi phục vụ cho Kim Chung người ta phải kể: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và ba chàng Minh: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương…
            Sang đến đầu thập niên 1960, một loạt rạp hát ra đời với tầm cỡ lớn hơn, tiện nghi hơn đã kéo dần khán giả của Aristo. Hơn nữa rạp Aristo lại nằm ở vị trí không thuận tiện, một bên là nhà ga xe lửa bít bùng, một bên là đường cùng. Do đó rạp Aristo gần như bỏ trống và khoảng thời gian sau đó cũng dần biến mất.
            Vậy là hơn 20 năm tồn tại, rạp Aristo từng là điểm diễn của rất nhiều đoàn cải lương, với những kỷ niệm buồn vui khắc ghi trong tâm trí của các nghệ sĩ đương thời. Rạp Aristo cũng chính là “chứng nhân” cho sự ra đời của hai đoàn cải lương nổi tiếng là Kim Chưởng và Kim Chung. Và mỗi khi nhắc đến hai đoàn hát đó, người ta thương nhắc đến tài quán xuyến, lãnh đạo đoàn hát rất giỏi của hai vị bầu gánh.
            Thêm một lần nữa giới cải lương đã thán phục ông Bầu Long, là vấn đề đoàn Kim Chung đi Pháp. Khi nghe tin đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga thành công rực rỡ ở Pháp, thì tại Sài Gòn ông Bầu Long của đoàn Kim Chung cũng xin lên Bộ Thông Tin cho đoàn được nối gót Thanh Minh Thanh Nga thì được chấp thuận dễ dàng, bởi lúc bấy giờ chính quyền đã ý thức được tầm quan trọng của văn nghệ tại nơi có hòa đàm. Vả lại đoàn Kim Chung tự túc mọi vấn đề, có nghĩa là lời ăn lỗ chịu, ngay cả việc đổi ngoại tệ cho người trong đoàn cũng bị giới hạn và phải đổi theo hối xuất tự do. Tóm lại là Kim Chung được đi nhưng không được hưởng quyền lợi đi “công tác” như đoàn Thanh Minh Thanh Nga dù rằng hình thức hoạt động cũng như nhau.
            Thế nhưng, việc ấy đâu có thành vấn đề đối ông Bầu Long, do bởi ông có đủ điều kiện tài chánh, và tin tưởng Kim Chung sẽ gặt hái khả quan, vì tuồng loại “hương xa” của Kim Chung hiện thời đang ăn khách ở quốc nội, thì ở hải ngoại chắc cũng thế thôi. Ông Bầu Long có nhà ở bên Pháp, con cái cũng đang học hành bên đó, đào Kim Chung và ông đi Tây như đi chợ vậy!
            Là bầu gánh hát từ ngoài Bắc vô Nam, làm ăn phát đạt nhờ cải lương, ông Bầu Long đã có cái nhìn của một nhà kinh doanh nghệ thuật, mà những đồng nghiệp khác đã khâm phục, chẳng hạn như chuyến đi Pháp nói trên, thay vì như đoàn Thanh Minh Thanh Nga cho đoàn trình diễn ở Paris trước, rồi sau đó mới đi tỉnh, bởi thủ đô nước Pháp là nơi tập trung đông đảo người Việt hơn ở những nơi khác, nhưng ông Bầu Long lại áp dụng đường lối cho đoàn Kim Chung đi về miền Nam nước Pháp trình diễn trước, và Paris là địa điểm sau cùng. Trước tiên đoàn diễn năm đêm tại Nice, một thành phố có đông Việt kiều, và tiếp đó là các tỉnh cũng rất nhiều kiều bào ta. Cái đang nể của ông Bầu Long là làm được cái việc mà trước đó đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã phải chịu thua.
            Số là trước đó nhà tiền đạo Nguyễn Văn Quận, quản lý của đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã cố hết sức cũng không tìm mướn được rạp ở các tỉnh Lyon và Toulouse, đến đỗi đề nghị với đại diện Việt kiều ở đây tìm rạp tổ chức lấy, đoàn sẽ đến hát không lấy tiền (chỉ lấy tiền do khán giả tặng) nhưng đại diện ở đây cũng không tìm được rạp. Vậy mà ông Bầu Long đã thuê được rạp ở hai tỉnh có đông Việt kiều này và dĩ nhiên thành công thích đáng. Còn thành phố Marseille thì Kim Chung hốt bạc suốt cả tuần. Địa điểm sau cùng trước khi về nước là thủ đô Paris và tuy đoàn không được Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa chiếu cố như Thanh Minh Thanh Nga, nhưng lại được ông Đại Sứ Nguyễn Quốc Định đại diện thường trực của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa cạnh Unesco tiếp đón, và ông Nguyễn Đình Hưng phụ tá cũng có mặt, đồng thời đãi nghệ sĩ một bữa ăn trưa tại trụ sở Unesco.
            Sau 1975, ông Bầu Long và đào Kim Chung cùng gia đình đi Pháp. Đến năm 1981 thì ông về nước mang theo dự tính xây dựng lại đoàn Kim Chung. Nhưng rồi đã không làm gì được “lực bất tòng tâm”. Lại thêm tuổi già sức yếu, ông đành ẩn thân cho đến năm 81 tuổi, năm 2003 thì về với Tổ nghiệp cải lương. Và bà vợ, đào Kim Chung thì mất sau ông năm năm tại Tân Bình, thọ 85 tuổi.


NGÀNH MAI
Tháng 1/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0118-nm-01172014140802.html
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #81 vào: 29/09/2017, 19:00:39 »
Tổ cải lương là ai và thờ Tổ từ bao giờ?

Hằng năm ngành sân khấu Việt Nam có lệ tổ chức lễ Giỗ Tổ (còn gọi là Cúng Ông) để tưởng nhớ đến tiền nhân khai sáng nghề nghiệp, và truyền thống này vẫn được duy trì, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Cúng Tổ cũng là cơ hội để cho giới nghệ sĩ họp mặt những bạn hữu xa gần sau một năm dài làm nghệ thuật phục vụ bà con hâm mộ cải lương.

Nghệ Sĩ Sân Khấu Tổ Chức Lễ Giỗ Tổ

THỜI KỲ trước 1975, hằng năm hễ đến ngày 11 Tháng Tám Âm Lịch thì tại nhà Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, anh chị em đào kép các gánh tụ tập về đây để tổ chức cúng Tổ chung một bữa, để ngày hôm sau 12 Tháng Tám, ai nấy đều trở về gánh mình lo cúng Tổ riêng tại đoàn.
            Trong những năm mà cải lương còn hưng thịnh thì ngày cúng Tổ tại nhà Hội rất linh đình, nhưng những năm từ sau Tết Mậu Thân, cải lương quá kiệt quệ thì lễ cúng Tổ cũng quá sơ sài, khiếm khuyết, nhưng dầu sơ sài hay linh đình gì thì nghi thức cúng lễ vẫn gồm có mấy việc: Tắm Tổ và thay quần áo, chít khăn mới.
            Giờ cử hành chánh lễ thì một vị cao niên nhứt trong ban chấp hành của Hội được bầu làm chủ tế. Một nhạc sĩ lỗi lạc nhứt được giao phó cho chức “trưởng nhạc lễ”. Sau khi vị chủ tế nguyện hương xong thì lần lượt từ lớn đến nhỏ, nghệ sĩ dâng hương, lạy Tổ, cầu mong Tổ ban cho duyên dáng nghề nghiệp và kết cuộc là hưởng lộc Tổ, tức ăn nhậu thả ga…
            Thế nhưng, cúng Tổ thì cúng, chớ như ai đó hỏi người trong giới rằng Tổ là ai và thờ Tổ từ bao giờ thì phần đông đã không có câu trả lời, hoặc trả lời một cách lờ mờ. Đó là do bởi họ chỉ lo hát, lo làm nghệ thuật, chớ ít ai chịu khó tìm hiểu để nắm vững vấn đề, hầu trả lời một cách thống nhứt với thiên hạ.
            Nhân ngày cúng Tổ cải lương hằng năm, tôi xin nói qua về những huyền thoại, mà tôi đã tìm hiểu, ghi lại và hôm nay xin trình bày nhiều chi tiết liên quan đến lễ giỗ Tổ cải lương.
            Tổ cải lương là ai? Thoạt tiên cải lương không hề có Tổ, bởi bộ môn nghệ thuật này không bắt nguồn từ hát bội, như một số người cho rằng thế, mà lại là một hình thành của phong trào cầm ca tâm điệu, do những người có chút Tây học đề xướng và được giới tư sản thành thị ủng hộ.
            Ngày xưa thập niên 1920 những gánh hát Thầy Năm Tú, gánh Thầy Thận (Sađéc Amis), gánh Đồng Nữ Ban… đều không thấy có khánh thờ Tổ, cũng không cúng kiếng chỉ cả. Mãi cho đến khi đoàn Tập Ích Ban của một người Triều Châu ở Thốt Nốt lập nên, người ta mới thấy có việc thờ Tổ, do bởi gánh Tập Ích Ban tổ chức sân khấu giống hệt như hát Tiều, để rồi từ đó các gánh khác thành lập sau mới bắt chước thờ Tổ.
            Cho đến mấy lúc sau này hầu hết các khánh thờ Tổ, cốt Tổ đều được đặt đóng tại Thốt Nốt, bởi người ta nghĩ rằng gốc gác Tổ phát sinh ở đó (nghệ sĩ tiền phong Bảy Nhiêu là người ở Thốt Nốt. Năm 20 tuổi bắt đầu gia nhập gánh hát Tập Ích Ban này).
            Giới cải lương nói Tổ kỵ kim khí, nên làm khánh thờ Tổ thì tuyệt đối không dùng đinh đóng mà chỉ ráp bằng mộng mà thôi, cốt Tổ thì tiện bằng cây vông, bởi vậy nên đào kép không được phép đi guốc vông. Tổ thì thấy rất nhiều, có nơi thì 9, nơi 12, có nơi thì 6, nhưng đứng hàng đầu chỉ có ba vị gọi là Tam Vị Thánh Tổ: Vị ngồi giữa mặc áo vàng, chít khăn vàng, vị bên trái mặc áo đỏ chít khăn đỏ, và vị bên phải mặc áo xanh chít khăn xanh. Đấy ba vị Đại Thánh Tổ, còn những ông khác có thể là tiên hiền, hậu hiền…


Bàn thờ Tổ Nghiệp

            Cứ theo truyền thuyết thì vị mặc áo vàng ấy là một vị hoàng tử đời nhà Tấn (có lẽ thời Đông Châu) có óc phóng đãng, không thích nghi lễ triều đình nên tìm cách trốn ra khỏi hoàng thành để nhập thân vào dân chúng, sống bằng cách kể lại cho dân chúng nghe bí mật thâm cung hầu kiếm cơm. Ông Hoàng rất có duyên nên đi đến đâu cũng được thiên hạ mến mộ cuồng nhiệt, cho đến một ngày nọ triều đình hay được tin đó, mới truyền ra cho quan quân tìm bắt vị hoàng tử nghịch ngợm này về hài tội.
            Khi vòng vây quân binh siết chặt, ông Hoàng sợ quá leo lên cây vông trốn trên đó, quan quân mang võng đến buộc ông Hoàng nhảy xuống, nhưng ông nhứt định cố thủ để chết khô trên cây vông, do đó bây giờ cốt Tổ được tiện bằng cây vông. Nghệ sĩ cữ đi guốc vông và sân khấu cũng kiêng kỵ mắc võng ở hậu trường, hoặc dùng võng trong tuồng hát.
            Ông Tổ chánh như thể là một nghệ sĩ chánh cống, quyết tử vì nghệ thuật. Vị tổ mặc áo đỏ, chít khăn đỏ là Hồng Tào Xạc, một tướng cướp biển vào thời ấy bị triều đình lùng bắt nên cải dạng trốn tránh. Khi đến một ngôi chợ nọ thấy người ta đông đảo bao quanh vị hoàng tử để nghe ông ta kể chuyện thâm cung thì thích thú quá, xin tình nguyện nhập phe với vị hoàng tử để bảo vệ ông này trên đường đi đây đi đó. Nếu có kẻ muốn hiếp đáp hoàng tử hoặc nghe kể chuyện mà không chịu thù lao tiền bạc, cơm nước thì… Hồng Tào Xạc cũng dám ra tay, dùng bạo lực với những kẻ không biết phải. Do đó mà vị hoàng tử được người người mến mộ, nhưng người ta cũng ngán họ Hồng. Cứ theo thuyết này thì ăn cướp không bao giờ dám ăn hàng cải lương, bởi ông Tổ của họ vẫn là em út của Tổ cải lương vậy.
            Vào giữa thập niên 1950 trên quốc lộ đi miền Đông, một toán cướp võ trang xuất hiện, chận cướp xe đò xe hàng, tới xe gánh hát thấy khánh thờ Tổ cải lương để phía trước. Tức thì tên đầu đảng ra lệnh cho đàn em không được cướp. Nhờ “cùng chung một Tổ” nên xe gánh hát thoát nạn.
            Người ta còn nhớ năm nọ kỳ nữ Kim Cương trong lúc đi ngang qua đường để lấy xe, bị một tên cướp cạn chộp ngay vào cổ, lấy mất sợi dây chuyền bằng cẩm thạch rất “quí giá” vừa tinh thần lẫn vật chất. Vì đó là kỷ vật của một người bạn thân. Phản ứng đầu tiên của Kim Cương là run rẩy và cười. Chẳng hiểu tại sao lại cười? Và còn nói thêm một câu:
            – Rồi… giựt mất tiêu rồi!
            Khách qua đường dừng lại rất đông, họ nhìn Kim Cương vừa thương, vừa tò mò xem thái độ của cô đối với sự việc mới xảy ra.
            Thời gian không lâu, một người tới và trả lại cho Kim Cương sợi dây chuyển cẩm thạch với lời lẽ rất đáng ghi nhớ:
            – Bọn đàn em nó ngu lắm. Nó nhè nữ nghệ sĩ Kim Cương mà giựt dây chuyền. Xin lỗi cô. Hãy tha thứ cho tụi nó.
            Rồi anh ta mất dạng.
            Kim Cương giựt mình nói vói theo:
            – Anh ơi, Tổ của mấy anh cũng là một trong tam vị Thánh tổ của sân khấu cải lương. Nghệ sĩ coi “rần rần” như vậy chớ nghèo lắm!
            Đến ông Tổ áo xanh là ông Quách Di, một người ăn mày chính cống, khi thấy vị hoàng tử nói chuyện và tự nguyện không lấy tiền ai. Để tùy hỉ ai muốn cho gì cũng lấy thì vị ăn mày tên Quách Di bèn xin theo hoàng tử. Hễ ông này kể chuyện ở đâu thì họ Quách ngửa nón xin bà con cô bác trả tiền giùm cái sự nghe chuyện lạ ấy, để lấy tiền đó cho toán ba người độ nhựt. Nếu ai không đóng góp tiền, cứ nghe cọp mà thôi thì đã có Hồng Tào Xạc ra tay dùng biện pháp mạnh. Người ta thường bảo ở cải lương vốn có chất ăn mày, nhưng lại cũng có chất ăn cướp, mặc dầu bản thân họ rất ư là nghệ sĩ. Ít có dân ăn mày nào xin tiền đào kép hát, cũng như đào kép hát kiêng kỵ cho tiền ăn mày, vì họ nhìn nhận hai giới họ cũng là một Tổ.
            Những kiêng kỵ khác của cải lương, bất cứ một bàn Tổ nào của cải lương cũng đều có phái người canh giữ cẩn thận, người đó gọi là ông Từ, ông Từ hay bà Từ có bổn phận lo hương đăng trà quả trên bàn Tổ và cấm không cho người lạ mặt xúc phạm đến Tổ nghiệp. Điều cấm ngặt là không ai có quyền mang trái thị chín đi ngang bàn Tổ, bởi người ta tin rằng như thế tam vị Thánh Tổ sẽ đi theo trái thị và bỏ đoàn hát mất.
            Cũng không ai được mang đồ dơ đến gần bàn Tổ, vì Tổ kỵ nhơ uế rất có thể tránh xa, và nếu một ai đóng đinh bàn Tổ, nhét kim khí dưới lư hương của bàn Tổ tức phá hoại cho gánh hát xào xáo, và muốn cho gánh hát đó tan rã hoặc trù ếm cho bầu gánh chết cũng nên. Đèn trên bàn thờ Tổ không ai được dùng đó mà đốt thuốc vì vậy sẽ xúc phạm đến Tổ nghiệp.
            Trên đây là những điều đại khái về Tổ cải lương dựa theo lời truyền khẩu trong giới này. Tuy là huyền thoại, nhưng từ trước đến nay ai làm cải lương cũng đều rất tin tưởng vậy. Những năm có tiền cúng Tổ rất lớn, nhưng cũng có năm gặp khó khăn trong việc cúng Tổ.
            Người ta còn nhớ vào năm 1965 cải lương đang thịnh thời mà giới nghệ sĩ đã không góp sức, chung đậu để cho Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ngặt nghèo trong việc cúng Tổ hằng năm. Lúc bấy giờ khoảng giữa Tháng Bảy Âm Lịch, ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đã họp để bàn nhiều việc… bi đát. Nói bi đát vì qua buổi họp ấy, người ta được biết Hội không còn tiền, mà không tiền thì những việc cần xài tiền đã dồn ban chấp hành Hội vào… ngõ bí.
            Đầu tiên là Giỗ Tổ. Đang không tiền, mà lại chuẩn bị Giỗ Tổ khiến cho Ban Chấp Hành Hội lúng túng, vì không thể không Giỗ Tổ tại hội quán, như từ trước đến giờ.
            Kêu gọi cứu trợ thất bại, Hội nghèo quá không làm gì ra tiền, mà hơn một năm qua Hội không thu được tiền đóng nguyệt liễm của hội viên, nên không có một ngân quỹ tối thiểu. Hội chủ trương đi xin tiền, và đã gởi thơ đến các tòa đại sứ, lãnh sự quán của các nước bạn ở Sài Gòn để nhờ trợ giúp. Hội cũng có gởi thơ đến chánh phủ để xin tiền…
            Thế nhưng, chỉ duy nhứt có Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân trả lời: Tiếc rằng chưa có tiền để giúp Hội. Tùy viên văn hóa Phi thay mặt Tòa Đại Sứ Phi nói rằng đến khi nào quỹ văn hóa được khá, thì… sẽ nghĩ đến Hội. Còn tất cả các tòa đại sứ, lãnh sự quán khác đều không trả lời.
            Riêng chánh phủ trung ương chuyển thơ gởi xin tiền của Hội đến ông giám đốc đài phát thanh Sài Gòn. Nghệ sĩ Duy Lân tổng thơ ký của Hội được mời đến đài, ông giám đốc nói rằng Hội lãnh đạo được giới cải lương trong việc tích cực tuyên truyền thì chánh phủ sẽ giúp Hội rất mạnh…
            Nghệ sĩ Duy Lân nói rằng hồi đó đến giờ Hội chỉ hoạt động trong việc ái hữu tương tế, thì không biết phải làm sao đây? Chắc chắn Hội không hứa với chánh phủ công việc có tánh cách chánh trị ấy, vì Hội không thể hoạt động ngoài phạm vi của Hội. Thật là đen tối… chưa bao giờ Hội Nghệ Sĩ lâm cuộc khủng hoảng như thời kỳ nầy.
            Lúc bấy giờ ông hội trưởng Trần Viết Long, tức ông bầu Long của gánh Kim Chung đang ở Pháp, và Hội chờ ông về nước để có biện pháp hay ho như thế nào, mà vấn đề chánh chỉ là tiền.
            Nghe nói thì năm đó ông bầu Long bỏ tiền túi cho Hội cúng Tổ.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-09052014-nm-09052014121539.html
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #82 vào: 04/10/2017, 22:22:16 »
Nàng vượn bạch – Bạch Viên Thanh Nga

Năm 1972 đài  truyền hình cho phát vở tuồng Bạch Viên Tôn Các, với hai vai chánh: Thanh Sang (vai Tôn Các), và Thanh Nga (vai Bạch Viên). Khán giả khen đáo để, và nhiều người muốn đài phát lần nữa, bởi đây là vở tuồng thuộc loại “tuồng Tiên tuồng Phật” mà kể từ ngày Việt Nam có truyền hình (1967) chưa bao giờ phát hình loại tuồng này.

Bìa đĩa hát vở tuồng Bạch Viên Tôn Các

“Tuồng Tiên tuồng Phật”
            Đây là câu chuyện thần thoại, truyền thuyết nhân gian rất ăn khách, nhưng không hiểu sao suốt hai thập niên 1950-1960 lại không thấy các gánh lớn diễn tuồng này, mà chỉ các gánh nhỏ ở thôn quê mới có hát. Do bởi tâm lý khán giả nông thôn rất thích coi loại tuồng có hóa phép, biến hóa, hào quang lấp lánh, ngựa bay, người bay, lửa phun…
            Sau đây là tình tiết câu chuyện Bạch Viên Tôn Các:
            Chàng thư sinh Tôn Các cùng tên gia đồng trên đường ngang qua một khu rừng, bỗng gặp một nhóm thiếu nữ đi hái thuốc, trong số này có nàng Bạch Viên yêu kiều diễm lệ. Họ gặp gỡ nhau, Bạch Viên mời chàng về động nhà, hai người tỏ lòng quyến luyến, yêu mến nhau rồi sau đó ăn ở có con. Bạn của Tôn Các là Nhàn Vân, vốn là một đạo sĩ, biết được Tôn Các quen biết với Bạch Viên, bèn mách bảo cho Tôn Các là chàng đã gặp phải loài yêu quái. Nhàn Vân đưa cho Tôn Các cây “kiếm trảm yêu” để về treo ở cửa phòng của vợ nhà, trừ hậu hoạn.
            Tôn Các làm y lời bạn, và Bạch Viên lúc hái thuốc trên rừng xa trở về, vừa thấy “kiếm trảm yêu” là nàng tháo lui. Bạch Viên nhớ lại có lần nàng tu luyện chưa thành người, Nhàn Vân đạo sĩ đã dùng cung tên bắn nàng vượn bạch, nhưng nàng đã chụp được mũi tên, ném trả lại, khiến Nhàn Vân bị mù một mắt, do đó ngày hôm nay Nhàn Vân quyết tâm trả mối thù xưa cũ.
            Bạch Viên nhìn “kiếm trảm yêu” một lần nữa, rồi chợt nhớ lời dạy của thầy là Bà Lê Sơn Thánh Mẫu: “Nếu sau này con có gặp kiếm trảm yêu, thì con hãy lấy vòng kim cang của con mà trừ khử!” Bạch Viên bèn rút chiếc vòng kim cang ra đấu với kiếm trảm yêu, nhưng khi phá được thì sức nàng đà mỏi kiệt. Trong lúc Bạch Viên lảo đảo, Tôn Các và Nhàn Vân xuất hiện. Nhàn Vân biết kiếm trảm yêu đã bị trừ khử, nên Tôn Các không còn tin Bạch Viên là yêu quái nữa. Nhàn Vân bèn mách bảo cho Tôn Các biết là nếu chàng không tin Bạch Viên là một loài vượn bạch, thì hãy vạch mái tóc vợ sẽ tìm thấy một chòm tóc trắng. Thừa lúc Bạch Viên quỵ xuống, xiểng niểng, Tôn Các đến đỡ vợ và phát hiện ra chòm tóc trắng. Tôn Các có ý nghi kỵ. Bạch Viên buồn giận bỏ đi… Tôn Các hồi tâm, thương nhớ vợ, chàng bồng con vào rừng tìm kiếm Bạch Viên năn nỉ nàng trở về.


Nghệ sĩ Thanh Nga, 1958

            Vừa lúc đó, đám thiên thần thiên tướng nhà Trời ào đến đòi bắt nàng về cõi Tiên. Tôn Các nài nỉ van xin cho nàng ở lại cõi trần, nhưng không được. Bạch Viên bị Thiên Đình bắt giam vào một cái động tại Cổng Trời, nàng nhớ con thương chồng, khóc lóc, than vãn. Bà Lê Sơn Thánh Mẫu động lòng, cho nàng về trần gian nhưng với điều kiện, là nàng phải mang lớp vượn bạch, không được hóa thành người.
            Lúc trở lại nhà, trong hình dạng một nàng vượn bạch, gặp Tôn Các đang u sầu bồng con thương nhớ vợ, Bạch Viên hỏi:
            “Nếu chàng gặp vợ trong lớp vượn, chàng có còn yêu thương nàng không?”
            Tôn Các chân tình đáp lại, là dù là vượn bạch, nàng vẫn là vợ ta, ta vẫn yêu nàng. Bạch Viên em ơi!
            Hai người ôm chầm lấy nhau, bốn mắt rưng rưng đẫm lệ, khiến động lòng Trời. Bạch Viên được hóa kiếp thành cô nàng diễm lệ như lần đầu gặp chàng Tôn Các…
            Bạch Viên Tôn Các là vở tuồng rất xưa, xuất hiện từ những năm 1930, thời kỳ mà phong trào tuồng Tiên tuồng Phật đang rầm rộ. Lúc bấy giờ gánh Tân Thinh với các xảo thuật lạ mắt làm người xem thích thú. Trước đó đoàn đã cho khai trương vở hát “Phật Thích Ca Đắc Đạo”, khán giả đứng đông nghẹt lề đường kể từ chợ Bến Thành đến cửa rạp Moderne Cinéma ở đường d’Espagne để chen nhau mua vé.
            Nhiều xảo thuật sân khấu lúc đó đã phát triển ly kỳ hấp dẫn, và cái chuyện vượn hóa người như Bạch Viên Tôn Các, hay rắn thành mỹ nữ như Thanh Xà Bạch Xà. Tuy là một loại chuyện thần thoại, giả tưởng, nhưng lại rất người về tình cảm, cá tính. Nhân lễ nghĩa trí tín, thủy chung xuyên suốt câu chuyện. Không biết thời ấy đào kép nào đã đóng vai hai nhân vật chính nói trên, chớ sau này Thanh Nga trong vai nàng Bạch Viên làm xúc động khán giả không ít.


Tuồng “Men Rượu Sa Kê” và đôi nghệ sĩ Thanh Nga – Thành Được

Tuồng “Men Rượu Sa Kê” và đôi nghệ sĩ Thanh Nga – Thành Được
            Vào cuối năm 1965 đoàn Thanh Minh Thanh Nga khai trương vở hát “Men Rượu Sa Kê” của soạn giả Hoàng Lan, được khán giả đi coi đông đảo. Và chỉ nội cái tên tựa của tuồng người ta cũng biết là tuồng Nhựt rồi.
            Trước đó từ những năm cuối thập niên 1950, tuồng Nhựt cũng được lên sân khấu cải lương khá ăn khách. Thế nhưng, chỉ một, hai năm thì khán giả lơ là loại tuồng này, và các soạn giả chuyển sang tuồng kiếm hiệp, tuồng chưởng, tuồng xã hội v.v… Rồi giờ đây nghe nói hát tuồng Nhựt trở lại, dĩ nhiên là phải có cái gì mới lạ thì mới thu hút khán giả.
            Thật vậy, yếu tố ăn khách của vở tuồng Nhựt mới này, là kép Thành Được vừa về đoàn Thanh Minh Thanh Nga đảm nhận vai chánh đóng cặp với Thanh Nga. Khán giả sành điệu ai cũng nhận thấy từ lúc Thanh Nga nổi tiếng, suốt mấy năm chưa có chàng kép nào đóng cặp gọi là “xứng đào xứng kép” với cô nàng. Kép móm Hữu Phước tuy rằng ca hay diễn giỏi, nhưng không phải là kép đẹp, trên sân khấu đóng cặp với cô đào trẻ đẹp Thanh Nga thì chẳng xứng chút nào. Đào kép cải lương nếu gặp người đóng cặp không xứng, có thể giảm đi phần diễn xuất, có nghĩa là hát không hay.
            Do vậy mà khi nghe chàng kép đẹp trai, hào hoa Thành Được về đóng cặp với Thanh Nga thì bà con yêu thích cải lương ùn ùn đi coi thì cũng đúng thôi. Dù vậy, người ta cũng không phủ nhận cái ăn khách của vở hát “Men Rượu Sa Kê”, bởi đây là một kịch phẩm sống động, gút mắc, mang nhiều đặc tính dị biệt của dân tộc Phù Tang: Tinh thần võ sĩ đạo. Bố cục của soạn phẩm khá vững chắc, văn chương tương đối chải chuốt, nhứt là về mặt đối thoại.
            Theo soạn giả cho biết, tài liệu lịch sử của vở ca kịch này, về nhân danh và địa danh đã được ông tùy viên văn hóa Tòa Đại Sứ Nhật Bản tại Sài Gòn giúp đỡ. Đoàn ca kịch Thanh Minh Thanh Nga cho khai trương tuồng “Men Rượu Sa Kê” để đánh dấu ngày nghệ sĩ Thành Được về hợp tác, và Ngọc Giàu, Thanh Thanh Hoa, Nam Hùng đang ở đoàn Thành Được bị rã gánh cũng chính thức trở lại hợp tác với đoàn này. Đây là vở hát đã làm cho bà Bầu Thơ “nặng túi” nhờ trình diễn suốt hai tuần tại rạp Nguyễn Văn Hảo, mà đêm nào cũng hết vé.
            Những nhân vật chính trong vở tuồng trong đợt khởi sắc này của đoàn đã do những nam nữ nghệ sĩ gạo cội của hai đoàn Thanh Minh Thanh Nga và đoàn Thành Được sáp nhập làm một thủ diễn. Sân khấu sáng đẹp nhờ phần tranh cảnh do họa sĩ Loka đảm trách, và y trang cho vở tuồng này cũng đều hoàn toàn mới tinh hảo.


Thành Được và Thanh Nga trong vở Chuyện tình 17

            “Men Rượu Sa Kê” là vở tuồng Nhựt thứ ba của soạn giả Hoàng Lan. Vở đầu nhan đề là “Mặt Nạ Cô Gái Phù Tang”, thoại kịch, do ban kịch Cảnh Sát Quốc Gia trình diễn tại nhà Hát Lớn Hà Nội hồi năm 1954. Vở hát thứ hai của soạn giả là vở “Sầu Lên Ngọn Cỏ”, là một ca kịch phẩm phóng tác theo chuyện Lã Sanh Môn (Rashomon) của Nhựt nhưng lồng trong khung cảnh miền sơn cước Bắc Việt.
            Lúc ấy có tin đồn trong giới rằng, nghe tin đoàn Thành Được không thể sống lâu hơn, do nợ nần quá nhiều, thì những gánh hát giàu tiền giàu bạc như Dạ Lý Hương, Kim Chung đang chực chờ để “bắt” chàng kép đang là mục tiêu mua vé của khán giả này. Trong khi đoàn Thanh Minh Thanh Nga đang xuống dốc, do bởi có đào mà không có kép tương xứng về tuổi tác, cũng như về hình dáng để đóng cặp. Bà bầu Thơ rất muốn kép Thành Được về hát đóng cặp với Thanh Nga để chống đỡ sự suy sụp đã gần kề. Và cũng biết rằng đoàn mình không có thực lực như hai đoàn kia, nên bà nghĩ phương thế khác:
            Soạn giả Hoàng Lan được bà bầu Thơ “đặt hàng” viết tuồng “Men Rượu Sa Kê”, mà trong đó có một cảnh nhân vật nam chánh bồng nhân vật nữ chánh trên tay. Trong lúc Thành Được còn lưỡng lự chưa quyết định cho đoàn hát rã, thì người môi giới bí mật trao cho Thành Được xem role vở tuồng. Và khi biết có “xen” ôm cô đào trẻ đẹp trên tay nên Thành Được ô kê liền, và “mỹ nhân kế” một cách tinh vi của bà bầu Thơ đã thành tựu. Nhưng đó chỉ là tin đồn thôi, chẳng biết có đúng hay không, biết đâu vì lý do khác. Đến khi tuồng “Men Rượu Sa Kê” được hát người ta thấy một cảnh trong tuồng: kép Thành Được bồng người đẹp Thanh Nga trên tay. Và đây là món quà đầu tiên đoàn Thanh Minh Thanh Nga tặng cho nghệ sĩ Thành Được, khi anh kép tài danh này về hợp tác.
            Có người nói đêm hát này Thành Được đâu cần lãnh lương vì đã “đủ vốn” rồi mà còn lời nữa là khác. Và cũng có người nói trên sân khấu thì diễm phúc như thế, nhưng sau khi vãn hát rồi thì ai về nhà nấy. Nghĩ cũng buồn thật!
            Hồi năm 2000, tôi điều hợp cuộc thi cổ nhạc Gò Công, tôi có mời Thành Được về Nam California tham gia Ban giám khảo, nhưng tôi quên hỏi vấn đề trên, mà nếu có hỏi thì chắc gì chàng ta nói thật.


NGÀNH MAI
Tháng 2/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0221-nm-02212014122447.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0816-nm-08162014074339.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #83 vào: 11/10/2017, 13:44:09 »
Người đẹp Bình Dương và cuộc di cư ra Bắc

Trước hết xin nói mau đây không phải người đẹp Bình Dương tài tử điện ảnh Thẩm Thúy Hằng, phu nhân của tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh mà là cô đào Kim Cúc, sinh quán tại Lái Thiêu, Bình Dương. Cô có một cuộc di cư ra miền Bắc, và câu chuyện kể về cuộc đời đi hát của cô cũng khá lý thú.

Cô đào Kim Cúc, sinh quán tại Lái Thiêu, Bình Dương

Chánh hiệu Bình Dương
            Sau 1975 khán giả cải lương miền Nam bắt đầu thấy nữ nghệ sĩ Kim Cúc xuất hiện trong một số vở hát trình diễn trên sân khấu cũng như trên truyền hình. Như vậy chớ còn trước 1975 Kim Cúc hát ở đâu, là người Bắc hay người miền Nam, và tại sao lại di cư ra Bắc?
            Nếu như đào Kim Cúc không là một nữ nghệ sĩ nổi tiếng ở làng sân khấu, mà là một cô gái bình thường thì chắc rằng câu chuyện “di cư ra Bắc” của cô sẽ chìm luôn theo thời gian.
            Trước khi đề cập vấn đề, cũng xin ngược thời gian trở về thời kỳ Hiệp Định Genève 1954 ra đời, lúc ấy đã có gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam, nhưng cũng cùng thời gian ấy lại có số ít người đã di cư ra miền Bắc, đó là trường hợp của cô đào Kim Cúc.
            Số là song thân của Kim Cúc, người quê quán ở huyện Đông Anh gần Hà Nội. Vì hoàn cảnh nghèo nên vào Nam sinh sống lập nghiệp tại Lái Thiêu, Thủ Dầu Một từ những năm trước 1945, làm nghề thợ mộc. Cô và hai người chị được sinh ra tại vùng đất có nhiều trái cây sầu riêng, chôm chôm, măng cụt mà về sau tỉnh này được có tên Bình Dương.
            Cha cô mất năm 1948, thì ít lâu sau bốn mẹ con về Sài Gòn cư ngụ ở khu Vườn Lài gần Ngã Bảy, và vẫn sống cuộc đời lao động nghèo nàn cho đến khi Kim Cúc được 10 tuổi.
            Năm 1955 trong khi đồng bào từ miền Bắc di cư vô Nam, thì thân mẫu của Kim Cúc lại buồn nhớ quê nhà không muốn ở Sài Gòn nữa, nên đã dẫn ba đứa con gái di cư trở ra miền Bắc.
            Hai năm sau thì tình cờ gặp đạo diễn Văn Chiêu, là người quen biết với song thân cô lúc còn ở trong Nam. Ông đi kháng chiến và tập kết ra Bắc, lúc đó đang làm việc tại đoàn Kịch Nói Nam Bộ ở Cầu Giấy, Hà Nội. Lúc đó Kim Cúc mới 12 tuổi đã yêu thích nghề sân khấu nên xin đạo diễn cho đi theo học nghề sân khấu ca hát, thì lại đúng lúc đoàn đang thiếu một vai Bé An (em bé chăn trâu) trong vở kịch “Lòng Dân”. Thế là cô được chấp thuận cho gia nhập đoàn, khởi đầu sự nghiệp sân khấu kể từ đó.
            Năm 1970 nghệ sĩ Kim Cúc được điều vào đoàn Văn Công Trung Ương Cục Miền Nam, và đến 1974 thì lại được lệnh trở về Bắc. Năm 1976 cô được cho đi xuất ngoại thực tập đạo diễn tại Bungary. Cuối năm 1978 về nước và năm sau thì cô được chuyển vào Nam, được điều về đoàn kịch nói Cửu Long Giang. Cô từng là diễn viên một số vở kịch, trong số có vở “Sông Dài” cô thủ vai bà chủ hãng phim, và vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt” vai bà Sáu Liệu. Về hoạt động ở màn ảnh nhỏ đài truyền hình, nữ nghệ sĩ Kim Cúc cũng đã từng có mặt qua nhiều vở kịch, trong đó có vở do chính cô đạo diễn.
            Sau đây là câu chuyện xảy ra mà trong cuộc đời đi hát đã có mấy ai gặp phải? Cô được theo nhà hát Kịch Trung Ương đi Hòn Gay tập huấn. Hôm ấy là ngày 5 tháng 8, 1964 vào khoảng 9 giờ sáng, trong lúc mọi người đang quay quần nghe đạo diễn Lỗ Uy phân tích kịch bản “Đứng Gác Dưới Ánh Đèn Néon” thì bỗng đâu một đội chiến đấu cơ F.105 của Mỹ bất ngờ xuất hiện oanh kích vào những tàu Hải Quân dọc theo bờ biển ngoài Hòn Gay. Tiếng đạn nổ, tiếng máy bay phản lực vang dội rền trời. Đội máy bay F.105 của Mỹ đã bay là là sát mặt nước nên đã xuất hiện bất ngờ bắn vào các tàu Hải Quân. Các tàu cũng phản phản ứng kịp thời bắn trả lại…
            Dân chúng ở bờ biển cũng như anh chị em nghệ sĩ của nhà hát Kịch Trung Ương vội vàng chạy tìm nơi trú ẩn, và có vẻ lo sợ vì đây là lần đầu tiên có chiến tranh xảy ra sau nhiều năm hòa bình không tiếng súng. Sau khoảng gần một giờ, tiếng súng không còn nữa, anh chị em nghệ sĩ vội vã trở về Hà Nội tập tiếp chớ không thể tiếp tục tập ở Hòn Gay nữa. Ở ngoài Bắc thiên hạ thắc mắc tại sao Kim Cúc là người Hà Nội, mẹ cô cũng nói tiếng Bắc mà sao cô lại nói giọng Nam? Người ta đâu có biết cô là người sinh ra ở miền Nam.


Nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng

Sống chết với nghề
            Đầu thập niên 1990 hoạt động sân khấu ở trong nước chuyển qua cơ chế thị trường. Vấn đề trên có kẻ vui người buồn. Thật vậy, đối với nghệ sĩ và những người hoạt động sân khấu trong Nam thì cơ chế thị trường giúp cho họ hoạt động nghề nghiệp dễ dàng hơn, cũng gần giống như trước đây ở trong Nam, chẳng hạn như các nghệ sĩ hữu danh Út Trà Ôn, Minh Cảnh, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Kim Cương, Út Bạch Lan v.v… hoặc các bầu gánh như ông Bầu Xuân, Bầu Long, Kim Chưởng, những nghệ sĩ và người làm nghệ thuật trên đây, cơ chế thị trường rất tốt đối với họ. Nhưng rất tiếc là lúc ấy họ đã già rồi, đâu còn hoạt động được bao nhiêu, thành thử ra dù có cơ chế thị trường họ cũng chẳng còn năng nổ như trước.
            Đó là những người đã từng làm ăn bằng khả năng nghề nghiệp, có nhiều kinh nghiệm, cũng như vốn liếng của mình và có sự may rủi trong đó. Tóm lại là làm “lời ăn lỗ chịu” đã quen rồi. Thế nhưng đối với số nghệ sĩ miền Bắc thì lại không quen, bởi suốt mấy chục năm được bao cấp, rồi giờ đây không được ưu đãi nữa, mà phải tự sống chết với nghề bằng khả năng của mình, mà trường hợp cô đào Kim Cúc là một vậy.
            Kim Cúc vào nghề từ lúc 12 tuổi, hoạt động văn nghệ dưới chế độ bao cấp suốt mấy chục năm. Lần thứ nhứt (1976) đi thực tập đạo diễn ở Bungary, rồi đến năm 1989 lại được đi Bungary lần nữa, cũng thực tập đạo diễn. Lần này có kỳ nữ Kim Cương và cải lương chi bảo Bạch Tuyết cùng đi.
            Nếu như vẫn còn chế độ bao cấp thì với mảnh bằng từ ngoại quốc mang về, Kim Cúc sẽ có chỗ ngồi xứng đáng trong văn nghệ, đồng thời có cả quyền hành, và hành nghề đạo diễn sẽ không khó.
            Thế nhưng, học xong về nước thì đúng lúc hoạt động sân khấu chuyển qua cơ chế thị trường, đã khiến cho cô gần như mất chỗ đứng. Và sau đây là cuộc tiếp xúc của nghệ sĩ Kim Cúc với một nhà báo:
            – Gặp nữ nghệ sĩ ưu tú Kim Cúc khi chị đang trong giai đoạn tìm kiếm kịch bản, thương lượng với các tác giả, đề đạt xin dàn dựng… Tôi thấy chị không có vẻ phấn chấn, vui vẻ cho lắm…

             “Tôi đang gặp khó khăn, một năm qua tôi vẫn chưa làm được gì từ khi sang Bungary lần thứ hai trở về. Tôi ray rức mãi vì điều đó… Giải thích mọi khó khăn của mình? Tôi nghĩ có lẽ không cần thiết.
             “Tôi gặp nhiều trở ngại không chỉ vì hoàn cảnh khách quan, mà ngay bản thân, tôi chưa dốc hết sức mà đã sớm chán nản… Khi sang Bungary lần một trở về, tôi muốn thử thách ngay, nhưng trong thời gian ấy, tôi làm được ít việc (chỉ dựng được hai vở ngắn), có lẽ do bản tính phụ nữ, tôi chưa quen và không bươn chải trong công việc mới của mình, mà cũng có thể phần lớn vì tôi vẫn thích đeo đuổi, chưa rời được cái “nghiệp diễn viên”. Sang Bungary lần hai trở về, tôi cảm thấy đã đến lúc phải bắt tay vào công việc đạo diễn, thì gặp không biết bao nhiêu khó khăn…”
Kim Cúc lại tâm sự thêm. “Hiện giờ, công việc vẫn chưa tiến triển được bao nhiêu, nhưng tôi quyết tâm trong năm nay phải giải tỏa được những ray rức của mình…”

            Tôi chợt nhận ra có lẽ cái không may mắn của chị là ở chỗ chị vừa không đủ sức đầu tư kịch bản, vừa không có nhiều người ủng hộ, và nhất là chẳng có quyền hành gì cả… Ba số không to tướng: (không tiền, không quân, không quyền) phải chăng là tất cả mọi trở ngại?
            Không chính xác nếu nói rằng chị không có người ủng hộ, nhưng làm nghệ thuật bây giờ việc trước tiên là chị phải có khả năng đầu tư kịch bản, và để trở thành vở diễn thì công sức tìm tòi, lao động của chị và sự hỗ trợ các diễn viên không chỉ có tấm lòng là đủ…
            Đến năm 1994, tiếp xúc với ký giả Huy Trường, nhà báo hỏi cô:
            – Cô nghĩ gì sau nhiều năm hoạt động ở sân khấu?
            Suy nghĩ một lúc, Kim Cúc nói:
            “Những điều tôi suy nghĩ, quan tâm về sân khấu đều thuộc về dĩ vãng, một dĩ vãng không thể nào quên được sau khi tôi đã ở trong nghề được 37 năm. Tôi đã từng ca hát trong thời chiến, có đêm vừa diễn vừa nhảy xuống hầm tránh bom cả mười mấy, hai mươi lần, gian khổ rất nhiều, nhưng cạnh đó đời sống không phải lo vì được bao cấp mọi mặt, chỉ có việc phải cố gắng diễn cho đạt yêu cầu nghệ thuật, phục vụ đồng bào khán giả. Sau này khi sân khấu chuyển qua cơ chế thị trường, tính chất cao quý của người nghệ sĩ ngày nào dường như mất mát đi nhiều với sự bon chen, lấn áp lẫn nhau, tranh tiếng lớn tiếng nhỏ, lương cao lương thấp… những điều đó quả tình là tôi không quen, càng không quen tôi lại càng nhớ đến một thời kỳ trong dĩ vãng.
             “Với nghề nghiệp đạo diễn, khi dàn dựng vở diễn, dĩ vãng luôn luôn hiện về như nhắc nhở tôi về cái quá khứ không nên quên…
             “Dù đã lớn tuổi, mỗi lần tôi tìm thấy một kịch bản có ý nghĩa, là tôi muốn lăn thân vào sân khấu làm bất cứ điều gì. Tôi như có ý muốn tìm cái gì đó cao đẹp ở dĩ vãng. Nhưng tôi tự hỏi chẳng biết mình tìm lại có được không? Vì sao cái gì đó như đã mất đi rồi ở trong lòng người hôm nay?”


            Từ khi thực tập đạo diễn lần thứ hai về, Kim Cúc đã không thực hiện được cái nghề đạo diễn bao nhiêu, mà chỉ có mấy vai trò diễn viên đào mụ trên sân khấu, trên truyền hình. Mấy năm sau đó thì hầu như không còn hoạt động văn nghệ, cô về sống ở Trảng Bom, Biên Hòa. Đến năm 2001 mới 56 tuổi cô đã vĩnh viễn ra đi.


NGÀNH MAI
Tháng 3/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0301-nm-03012014091407.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #84 vào: 18/10/2017, 16:26:56 »
Hát cải lương hay là chim bay kiếm mồi

Khán giả cải lương từ thời thập niên 1930-1940 đã thấy diễn viên bay trên sân khấu, và lúc ấy hình thức nghệ thuật này được coi như mới lạ, do vậy đã lối cuốn khá đông người đi coi hát. Và gánh Tân Thinh của ông bầu Trương Văn Thông ở Sa Đéc đã làm giàu nhờ khai thác các diễn viên biết “bay” này.

Đoàn Thanh Minh trong những ngày đầu thành lập

Xem “bay” hay xem hát
            Thời bấy giờ nhiều người họ mua vé chỉ để đi coi những màn bay, chớ còn tuồng hay hoặc dở họ chẳng quan tâm bao nhiêu. Thật vậy đó quí vị, ngay cả chính tôi đây thời đầu thập niên 1950 cũng thích đi coi tuồng cải lương có bay hơn là loại tuồng nào khác.
            Tôi còn nhớ lúc cư ngụ gần Đại Thế Giới, một buổi tối nọ thay vì vô rạp Đông Vũ Đài trong khuôn viên Đại Thế Giới để coi gánh Thanh Minh hát tuồng Người Nô Lệ cũng khá hay. Thế mà tôi không coi, lại lội bộ đến rạp Văn Cầm ở Chợ Quán xa hơn một cây số để coi gánh “Chim Việt” hát tuồng bay, bởi các tấm bảng vẽ giới thiệu tuồng trước rạp hát, hầu như tấm nào cũng vẽ cảnh bay đã thu hút tôi.
            Biết được tâm lý khán giả thích coi bay, nên phần lớn bầu gánh hát thời ấy đã cố học hỏi xem cách bay như thế nào, rồi đem áp dụng ở gánh hát mình, có nghĩa là ít nhiều gì cũng biến sân khấu thành hát xiệc, chớ nếu không thì khó kiếm ăn, bị chê là dở hơn mấy gánh khác.
            Rồi người ta không biết có phải cái nghệ thuật bay đã không ăn khách lâu dài, hay là do tai nạn của diễn viên, thường hay bị đứt dây bay, mà tuồng có đào kép bay giảm dần, chỉ thỉnh thoảng mới nghe các đoàn nhỏ ở thôn quê là còn nhưng cũng ít. Rồi thì suốt cả chục năm không nghe nói bay, thiên hạ tưởng đâu cái trò bay kia đã chấm dứt rồi. Thế nhưng, sau 1975, khán giả lại thấy cải lương bay trở lại, và còn bay “bạo” hơn nhiều. Thay vì khi xưa chỉ bay vòng vòng trên sân khấu, giờ đây bay luôn ra ở những hàng ghế của khán giả, từ ba hàng ghế đến sáu hàng ghế, rồi bay xa đến mười hàng ghế, thật là hát xiệc cũng không bằng.
            Diễn viên hay lượn như chim bay bên trên, bên dưới khán giả đưa quạt giấy có cột tiền lên để “chim” bay ngang đớp cây quạt tiền! Thì ra diễn viên bay ra xa ngoài khán giả là để đớp tiền! Nghệ thuật sân khấu có một không hai, mạng sống chẳng cần để có tiền, thì người ta còn cần thứ gì nữa chớ? Cái trò bay ở sân khấu để kiếm tiền thật là đáng buồn. Khán giả cho tiền đã xem nghệ sĩ như là chim bay kiếm mồi vậy!
            Khoảng 1991 đoàn cải lương Thủ Đức đi lưu diễn ở Phan Thiết, diễn tuồng “Hỏa Sơn Thần Nữ” cũng có bay. Khi vở hát mới mở màn độ 15 phút, nữ diễn viên chánh của đoàn là Lệ Huyền (vai Hỏa Sơn Thần Nữ) trong một lớp đu bay, bất ngờ gặp trở ngại kỹ thuật, cũng dây bay bị đứt, Hỏa Sơn thần nữ rơi xuống sân khấu bất tỉnh nhân sự! Toàn thể khán giả ngày hôm ấy đều xôn xao khi thấy gương mặt của Lệ Huyền bị chảy máu!
            Cô đã không may rớt xuống đất cấn vào bậc tam cấp. Ngay lập tức đoàn phải kéo màn cáo lỗi với khán giả.
            Cũng khoảng thời gian ấy tại rạp Hưng Đạo, đoàn cải lương Thanh Nga diễn tuồng “Duyên Chị Tình Em”, kép Vương Cảnh cũng bay vòng ra ngoài những hàng ghế khán giả, khi trở vào bị chạm vào bục sân khấu, chỗ giàn đờn, bị thương phải vào bệnh viện.
            Trước Lệ Huyền và Vương Cảnh còn rất nhiều nghệ sĩ bị đứt dây bay, khi đang biểu diễn những đường bay đẹp mắt từ sân khấu xuống những hàng ghế khán giả. Và cũng đã nhiều lần khán giả mến mộ sân khấu cải lương đã mục kích những nghệ sĩ “phiêu lưu trên không” này bị “rớt đài” và mang thương tật. Người ta thương cho những nghệ sĩ đã can đảm chấp nhận thuyết định mệnh “sinh nghề tử nghiệp” vậy!
            Đó là các nghệ sĩ có lẽ không nổi tiếng mấy về ca diễn mới liều mình như thế, chớ như danh ca Minh Cảnh, thì chỉ nội làn hơi ca vọng cổ trời cho của anh cũng ăn tiền rồi. Vậy mà anh cũng bay và cứ mỗi hai năm là bị tai nạn một lần, và tất cả bốn lần như vậy mới không nghe thấy anh ta bay nữa.
            Và tiếp đây tôi xin kể một câu chuyện khá buồn cười trong làng sân khấu:


Dĩa hát tân cổ với Bạch Tuyết – Hùng Cường

Chữ ký có tiền và chữ ký không tiền
            Khi một soạn giả mới vào nghề mà có tuồng được gánh lớn cho trình diễn, tức là nấc thang danh vọng đã gần kề. Và nếu như tuồng ăn khách được tái diễn nhiều thì, tiền tài lẫn danh vọng cầm chắc trong tay, cuộc đời lên hương thấy rõ. Chẳng hạn như cặp Hà Triều, Hoa Phượng, lúc từ miền Tây mới lên Sài Gòn ăn nhờ ở đậu, có thể nói là nghèo lắm, nghe nói người nào cũng chỉ có hai, ba bộ quần áo cũ thay đổi.
            Thế mà nhờ có vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn, đoàn Thanh Minh Thanh Nga diễn liên tục cả tháng tại một rạp, tức thì sau đó cặp soạn giả này lên đến địa vị cao ngất, oanh liệt suốt gần hai thập niên. Hoa Phượng thì dư sức cung cấp cho nhiều bà vợ, còn Hà Triều thì hàng tuần đóng góp vô trường đua Phú Thọ không ít, tiền khán giả cải lương đổ vào trường đua ngựa khá nhiều.
            Còn như trường hợp chàng soạn giả nhỏ con Tuấn Khanh, nhờ có tuồng Bí Mật Của Nàng – Bí Mật Của Chàng do Bạch Tuyết Hùng Cường đóng vai chánh. Thế là anh chàng Tuấn Khanh nói tiếng mái này cũng lên như diều, dám mơ mộng đến cả Thanh Nga mới đáng nói chớ! Đó chỉ là số ít soạn giả may mắn, chớ còn số đông thì không được như vậy. Trong làng cải lương, hậu trường sân khấu có những chuyện nho nhỏ và ngộ ngộ, không kém vẻ ly kỳ, và câu chuyện sau đây xảy ra thời thập niên 1960, tức thời kỳ cải lương hoạt động mạnh, soạn giả mới vào nghề khá nhiều.
            Ngày nọ người ta bỗng thấy một chàng soạn giả thuộc dạng mới vào nghề ấy, anh ta hớt hải chạy tìm ông bầu gánh, và đi từ tư gia đến rạp hát, cho đến mấy tiệm cà phê, những nơi ông thường lui tới, nhưng vẫn không thấy tăm dạng ông bầu, khiến cho chàng ta mặt mày bí xị như bánh bao chiều. Có chuyện chi mà như thế chứ?
            Số là chàng soạn giả mới vào nghề này, lần đầu tiên có tuồng được trình diễn sân khấu một đại bang, là điều may mắn mà ít người được. Thông thường gánh hát nhỏ thì bầu gánh tự tay phát lương cho đào kép, công nhân, soạn giả… Nhưng đây là gánh hát lớn có phát ngân viên đàng hoàng. Tuồng trình diễn khi đêm, trưa hôm sau bầu gánh ký cho anh ta tờ giấy lãnh tiền.
            Còn nỗi vui mừng nào bằng, soạn giả nhà ta hí hửng cầm tờ giấy lãnh tiền ấy khoe với cô bạn gái vừa quen trước đó ít lâu, và đồng thời rủ cô nàng đi nghỉ mát Vũng Tàu. Mấy lần trước chàng có rủ đi chơi đây đó cô đều từ chối, nhưng có lẽ lần nầy thấy tờ giấy như thấy cái “kho tàng” trong tương lai nên nàng ô kê gật đầu, cũng như bằng lòng ở lại ngoài đó đến hai ngày đêm, và hứa hẹn sáng mai lên đường.
            Đến xế chiều chàng soạn giả chạy Honda đi tìm người phát ngân viên của đoàn để lãnh tiền. Dọc đường anh ta mường tượng trong trí cái cảnh sẽ du dương ái tình lẩm cẩm với cô em trong hai đêm ở Vũng Tàu đầy hoa mộng ấy.
            Thế nhưng, ở đời có lắm chuyện bất ngờ mà chàng soạn giả kia mất đi một dịp hưởng cảnh thần tiên, non bồng nước nhược. Tại cô nàng đổi ý chăng? Không phải, mà là do ông bầu gánh hát đại bang nói trên “sáng chế” ra một sự đối phó với một số người dưới tay hoặc quen biết, ông dặn riêng người phát tiền của đoàn như sau:
            – Trong vấn đề xuất phát tiền nong, tôi có hai chữ ký tên: Chữ ký thứ nhứt có dấu hiệu như vầy như vầy, gặp giấy có chữ ký ấy anh cứ phát tiền cho người cầm giấy. Còn chữ ký thứ nhì của tôi có dấu hiệu khác hơn, nếu anh gặp giấy có chữ ký đó ấy thì đừng phát tiền.
            Cái anh chàng soạn giả kia cầm phải tờ giấy có chữ ký thứ nhì, nên người phát tiền cười rất tươi nói rằng:
            – Hôm nay kẹt tiền, vì mắc phải chi phí nhiều việc, vậy xin hôm sau, anh đến…
            Đau như bị bò đá, soạn giả nhà ta cầm tấm giấy vừa đi vừa chửi thề, bởi biết ăn làm sao, nói làm sao với người đẹp đây? Dễ gì nàng chấp nhận lần thứ hai. Vì vậy mà chàng chạy lung tung kiếm ông bầu đỏ con mắt vẫn không gặp.


NGÀNH MAI
Tháng 3/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0308-nm-03072014140559.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #85 vào: 25/10/2017, 21:20:17 »
Tuồng cải lương “Con Tấm Con Cám”

Câu chuyện cổ tích nhân gian “Con Tấm Con Cám” từng được đưa lên sân khấu từ thời thập niên 1930, và rất được khán giả thời ấy ưa thích. Không gánh nầy thì gánh khác, tuồng Tấm Cám liên tục năm nào cũng có hát. Do đó mà câu chuyện đã ăn sâu vào lòng con người ta, khiến cho ai cũng muốn đi coi nếu như thấy đăng bảng.

Dĩa hát Tân cổ “Con Tấm Con Cám” với Minh Cảnh – Út Bạch Lan

Chuyện Tấm Cám
            Câu chuyện Tấm Cám hầu như người nào khi con bé cũng đều được nghe ông bà già xưa kể cho nghe, có người nghe kể không biết bao nhiêu lần rồi, mà vẫn còn nghe, nếu có ai đó kể chuyện. Tuy là câu chuyện hoang đường, đầy huyền thoại, vậy mà tuồng hát lại ăn khách, khán giả bình dân rất thích. Từ gánh lớn như Thanh Minh, Phụng Hảo, cho đến các gánh bầu tèo ở thôn quê hễ có diễn tuồng Tấm Cám là thiên hạ lại đi coi.
            Riêng tôi còn nhớ rõ, ngày ấy (năm 1953) thấy chiếc xe ngựa dựng bảng “Con Tấm Con Cám”, vừa chạy vừa đánh trống, phát giấy program, tôi xin một tờ đọc nhanh. Thế là tối hôm lần đầu tiên đi coi tuồng, bằng số tiền 5 đồng để dành (vé hạng cá kèo 10 đồng, trẻ em 5 đồng). Diễn tiến tuồng hát chẳng khác gì câu chuyện từng được nghe kể, thế mà tính đến nay vở tuồng cổ tích kia tôi đã đi coi trên cả chục lần, và câu chuyện như sau:
            Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ, Cám ở với dì ghẻ tức mẹ của Tấm. Cám thì hiền lành, còn Tấm thì hung dữ ác độc. Trong khi Tấm được ăn sung mặc sướng, thì Cám phải vất vả cực nhọc, ngày ngày chăn trâu, và chỉ làm bạn với con cá bống mú nuôi ở ao nhà. Mỗi ngày chăn trâu về là Cám chạy ra ao thăm cá và cho ăn. Ngày nọ ra thăm thì cá đâu không thấy, chỉ thấy nước ao còn máu đỏ. Tấm đã bắt con cá làm thịt ăn. Cám than khóc thì ông Tiên hiện lên bảo đem xương cá chôn đúng 100 ngày đào lên sẽ thấy bảo vật. Cám làm theo lời Tiên và ngày đào lên thì được đôi giày (khi xưa gọi là đôi hài). Ngày nọ, đôi giày giẫm phải sình lầy, Cám rửa sạch máng phơi trên hai sừng trâu. Bỗng con quạ từ đâu bay đến tha đi một chiếc giày, bỏ xuống hoàng cung, ngay cửa ra vào của Đông Cung Thái Tử.
            Thấy chiếc giày đẹp của người con gái nào đó, thái tử lượm và kể từ hôm ấy đêm ngày buồn bã, tư tưởng đến người có chiếc giày. Thấy kỳ lạ ở con người hoàng tử, vua cha gạn hỏi thì hoàng tử trình bày sự thể, và xin vua cha truyền trong thiên hạ rằng, cô gái nào mang vừa chiếc giày thì sẽ sánh duyên cùng hoàng tử.
            Chiếu vua truyền ra thì rất nhiều cô gái từ tiểu thư khuê các cho đến hàng dân giả, cũng đều được về kinh thành mang thử giày. Thấy Tấm được mẹ cho đi dự thi, Cám cũng xin đi, bà dì cho đi nhưng phải lựa cho xong ba thúng đậu lộn mè rồi đi. Công việc này đòi hỏi phải thời gian dài mới xong. Lúc Tấm đã đi thi thì Cám còn ngồi lựa mấy thúng đậu. Nàng vừa lựa vừa khóc thì bỗng nhiên một bầy bồ câu bay vào nhà lựa giúp Cám trong khoảnh khắc thì xong. Cám được đi dự thi nhưng là người đến sau cùng và kết quả mang được chiếc giày, giống y như chiếc giày còn lại được mang theo.
            Thế là Cám được chấm, thái tử cho về nhà hẹn ngày cho kiệu hoa đến rước… Đoạn này của câu chuyện rất là vô lý, bởi khi được chấm đậu như vậy thì kể như là bà Vương Phi rồi. Vậy mà đi về nhà lại đi một mình không có quân sĩ theo “bảo vệ an ninh” đến đỗi phải bị mẹ con nàng Tấm hại cho chết.


Dĩa hát “Chuyện Tấm Cám” của hãng dĩa Continental với Thanh Nga, Thành Được…

Ở hiền gặp lành…
            Câu chuyện Tấm Cám đầy những hoang đường, huyền thoại, kể cả những tình huống vô lý. Thế mà thiên hạ vẫn tin, vẫn cho là có thật ở thời xa xưa, mà người kể chuyện hầu như người nào cũng nói rằng mình kể đúng. Thế hệ người kể lẫn thế hệ được nghe cứ vẫn tin, và càng tin thì tuồng cải lương mới có người coi. Chưa từng nghe một khán giả nào nói rằng tuồng Tấm Cám là câu chuyện không có thật.
            Người ta không biết câu chuyện cổ tích nhân gian Con Tấm Con Cám có từ bao giờ, bởi ai ai cũng chỉ nghe kể lại thôi, hoặc là đi coi cải lương rồi hình dung ra chuyện của ngày xưa ấy.
            Và sau đây tôi xin nói tiếp về diễn tiến câu chuyện cổ tích ấy:
            Cám về đến nhà, nàng đâu có biết lưỡi hái của tử thần đang chờ đón. Bà mẹ ghẻ giả vờ khóc lóc nói rằng cha nàng bệnh nặng, bệnh giập xương, nếu cựa mình thi nghe kêu răn rắc (do để bánh tráng nướng dưới lưng). Đồng thời bà dì ghẻ này cũng nói rằng cha nàng thèm ăn cau tươi (bởi thời ấy ai cũng ăn trầu). Tin lời Cám vội vã trèo lên cây cau hái cau tươi, thì ở dưới gốc cây hai mẹ con nàng Tấm dùng cây sào thọc cho Cám rơi xuống đất chết (cũng có người kể là chặt cây ngã).
            Sau đó thì kiệu hoa từ kinh thành đến rước Cám, vì Cám không còn nên Tấm thay thế lên kiệu hoa về hoàng cung làm vợ thái tử. Lại thêm một vô lý nữa, bởi thái tử đã gặp mặt Cám rồi khi thử giày, thế mà nàng Tấm thay thế vào lại chẳng biết, để cho nàng ta tiếp tục tung hoành.
            Thời giữa thập niên 1950, tờ báo Sài Gòn Mới mỗi ngày tặng tranh chim cò, tranh vẽ chuyện cổ tích nhân gian. Mỗi ngày mua một tờ báo thì được tặng một bức tranh, trong số có tranh câu chuyện Tấm Cám qua nét vẽ của nhà danh họa Lê Trung. Nàng Cám thì hình ảnh đẹp tuyệt trần trông rất dễ thương, còn nàng Tấm thì mặt mày vừa xấu vừa hung ác, đanh đá. Có người coi tranh nói rằng: Tấm và Cám khác xa như vầy, mà thái tử bộ không thấy đường hay sao mà đem kiệu rước về cung. Không lẽ Triều đình và hoàng tử lại để người dân đánh tráo gạt gẫm một cách dễ dàng?
            Trên đây là những gì mà tôi nghe thiên hạ bàn tán khi đi coi tuồng Tấm Cám. Mẹ con Tấm giết Cám chỉ tiêu diệt được thân xác nàng, còn linh hồn thì vẫn sống, vẫn tồn tại. Cám hóa kiếp thành con chim hoành hoạch (sách vở gọi là chim hoàng anh). Mỗi ngày chim bay đến cạnh bên thái tử, và thái tử lại quyến luyến chim hoàng anh, bỏ mặc cho nàng Tấm quạnh hiu. Con chim lại còn kêu tiếng người “giặt áo chồng tao thì giặt cho sạch, phơi thì phơi bằng sào, đừng phơi hàng rào rách áo chồng tao”.
            Lòng ghen tức nổi lên, Tấm lại bắt chim hoàng anh ăn thịt. Và sau đó thì Cám lại biến thành cây măng tre (có người kể là cây xoan). Lòng ghen của Tấm không phải là cái ghen của tình yêu bị thương tổn, mà của lòng ích kỷ độc ác. Cái ghen ấy mới tàn nhẫn kinh khủng. Giết Cám một lần vẫn chưa thỏa cơn ghen, khi Cám hóa thành chim vẫn bị giết. Cơn ghen sôi sục trong lòng Tấm như nỗi ám ảnh không nguôi, con người như Tấm đến chết vẫn không thay đổi.
            Thái tử hằng ngày chăm sóc cây măng tre, và Tấm lại chặt cây măng ăn luôn. Và cuối cùng thì nàng Cám lại ẩn mình trong trái thị chín. Một là lão ăn mày đi ngang bỗng nói: “Trái thị rớt bị bà già”. Tức thì trái thị từ trên cây rớt ngay vào cái bị của bà lão. Các bầu gánh cải lương, gánh bầu tèo hay chế ra thêm cho câu chuyện thêm ly kỳ, nhưng đoạn “trái thị rớt bị bà già” thì gánh hát nào cũng giữ nguyên. Có lẽ lớp này nàng Cám phải hiện thành người để gặp thái tử.


Dĩa hát “Con Tấm Con Cám” của hãng dĩa Việt Tân với danh ca Văn Lục

Một huyền thoại mang đậm màu sắc dân tộc
            Truyện Con Tấm Con Cám quá quen thuộc với người dân Việt, từ thành thị đến thôn quê hầu như ai cũng ít nhứt một vài lần được nghe kể, hoặc do tình huống nào đó mà được biết. Chẳng hạn như đi coi cải lương, hoặc nghe dĩa hát. Do bởi vở tuồng Con Tấm Con Cám đã được thâu thanh dĩa hát từ đầu thập niên 1950, lúc ấy danh ca Văn Lục đóng vai thái tử.
            Nhà khai thác đã in dĩa từ bên Pháp rồi mang về Việt Nam bán, nên chỉ phát hành có một lần, rất hiếm ai còn lưu giữ. Sang thập niên 1960 tuồng Tấm Cám lại được thu thanh lần nữa, và lần này kép ca Minh Cảnh đóng vai thái tử.
            Câu chuyện cổ tích nhân gian này được thể hiện trên sân khấu từ thời thập niên 1930, nhiều đoàn hát đã khai thác chuyện Tấm Cám, và buổi hát nào cũng cho người xem thích thú. Cốt truyện mang tính huyền thoại nhưng đậm màu sắc dân tộc, và nêu lên được bản chất của người dân Việt Nam: chung thủy, hiền hòa, vị tha… Nó còn lên án tệ nạn “mẹ ghẻ, con chồng” trong thời phong kiến, và biết đâu nó vẫn còn tồn tại trong xã hội ngày nay.
            Trong tình hình sân khấu cải lương bị khủng hoảng như hiện nay, người ta thiết nghĩ các vở tuồng được viết theo các truyện cổ tích nhân gian sẽ được khán giả cải lương chiếu cố, hơn là các tuồng phỏng theo phim kiếm hiệp Hông Kông, Đài Loan mà khán giả đã nhàm chán. Hoặc dựa theo tình tiết của các phim Hàn Quốc cũng xa với thực tế xã hội Việt Nam.
            Giờ đây tôi xin nói tiếp câu chuyện:
            Nàng Cám lại hóa kiếp trong trái thị, và “trái thị rớt bị bà già”. Bà lão đem về chờ trái thị chín tỏa mùi thơm mới ăn (khi có trái thị chín thì mùi thơm khắp nhà). Mỗi ngày bà lão đi ăn xin, thì Cám ra khỏi trái thị nấu cơm dọn sẵn một mâm cơm thịnh soạn chờ bà lão về ăn, ngày nào cũng thế, cho tới ngày kia thì bà rình bắt gặp một cô gái đẹp đang lo nấu ăn cho bà. Bà lấy vỏ trái thị giấu đi, nàng Cám không còn chỗ trốn, đành phải kể hết mọi chuyện về số kiếp khổ đau của nàng.
            Và kể từ hôm ấy Cám trở lại kiếp người, sống với bà lão cho vui cửa vui nhà (nhà của bà lão là mái chòi tranh, và các gánh cải lương vẽ cảnh rất giống). Ngày nọ thái tử cùng đoàn tùy tùng đi săn, ghé lại nhà bà lão xin nước uống. Bà mời thái tử ngồi, rồi đi ra phía sau tấm vách tranh bưng nước và miếng trầu têm sẵn mời thái tử. Thái tử đã nhận ra miếng trầu têm hình cánh phượng – một tuyệt tác của Cám khó ai bì nổi.
            Thái tử hỏi:
            – Ai têm miếng trầu này?
            Bà lão không dám nói là phía sau tấm vách có nàng Cám nên nói dối!
            – Dạ bẩm thái tử, chính già này têm, chớ không phải ai hết.
            – Thật không? Đâu bà têm lại miếng trầu khác coi nào.
            Nàng Cám ở đàng sau nghe rõ hết và biết rằng bà lão không thể têm được, nên nàng biến thành con ruồi bay đậu trên tay bà lão, coi như nàng têm trầu qua tay của bà.
            Hiện tượng con ruồi đậu trên tay bà lão đã không qua mắt được vị thái tử. Ngài nói:
            – Tại sao lại có con ruồi trên tay bà, hãy đuổi con ruồi bay đi cái đã.
            Khi con ruồi bay đi rồi, thì miếng trầu của bà lão têm quá vụng về, đâu giống được miếng trầu cánh phượng.
            Thái tử hạch hỏi và dọa:
            – Bà phải nói thật ai têm miếng trầu kia, bà gian dối sẽ bị bắt về trào trị tội.
            Lúc này thì nàng Cám xuất hiện. Thái tử mừng rỡ gặp lại người vợ tiên giáng trần. Vợ chồng Cám lại trùng phùng sau bao ngày xa cách. Và tội lỗi của mẹ con Tấm được thái tử tha chết, nhưng họ bị đuổi về quê để chịu tội với dân làng, và sống trong sự ray rức của lương tâm ở quãng đời còn lại.
            Có tuồng cải lương thì cảnh cuối này, mẹ con Tấm về dọc đường bị trời đánh chết. Không biết cái nào đúng, bầu gánh nào cũng cho là mình hát đúng.
            Giờ đây mời quí vị nghe tuồng “Con Tấm Con Cám” được thu thanh dĩa hát thời đầu thập niên 1960, lúc Minh Cảnh mới ca vài bộ dĩa, giọng ca còn chân phương, chưa pha giọng Huế. Và Út Bạch Lan giọng ca cũng rất trẻ. Đó là hai vai chánh, cùng với Túy Phượng, Túy Hoa, Ba Vân, Kim Quang, Phương Mai.


NGÀNH MAI
Tháng 3/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-03152014-03152014101513.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-03212014-03212014131756.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-03282014-03282014122645.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #86 vào: 01/11/2017, 15:58:58 »
Khi đào kép cải lương hát “nhập vai”

Trên sân khấu một khi đào kép cải lương thành công với vai trò, có nghĩa là “nhập vai” thì coi như nghệ thuật đã đạt được, là nấc thang đi đến trở thành nghệ sĩ nổi tiếng. Thế nhưng, nếu là vai đào hay kép “độc” thì phải đề phòng phản ứng của khán giả. Trong lịch sử cải lương từng xảy ra những sự việc buồn cười, do bởi tài diễn xuất y như thật của nghệ sĩ qua vai trò được gọi là nhập vai.

Dĩa hát Phạm Công Cúc Hoa (Sầu Vương Đáy Mộ)

“Nhập vai” hấp dẫn và nguy hiểm
            Vào thời Pháp thuộc, một ông Tây chức quyền một tỉnh ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, khi xem cải lương (có người thông ngôn ngồi bên cạnh dịch lại lời hát). Đến lúc cô đào thương với vai trò một nữ tướng mang bụng chửa sắp đẻ con, thất trận chạy dài, mà lại bị tướng giặc đuổi nà (do một kép độc đóng). Cô đào ôm bụng chạy mà tướng giặc cố đuổi sắp bắt được. Tức thì ông Tây rút súng lục bắn mấy phát để can thiệp. Rất may là súng nổ lên trời, chớ không thôi thì anh kép hát với vai trò kép độc bị lãnh đạn và sanh nghề tử nghiệp rồi!
            Nếu những giọt nước mắt của khán giả là khen tặng cho những cô đào thương, thì chửi rủa của họ lại là phần thưởng cho những cô đào độc. Người nữ nghệ sĩ thủ vai đào thương để rồi được khán giả ngậm ngùi, xúc động và ngợi khen sau đó, không là chuyện khó. Thế nhưng, dám thủ những vai đanh ác lẳng lơ để làm cho người xem phát ghét và có thể bị nguyền rủa, nhưng sau đó lại khắc được vào lòng họ sự khó quên mới là chuyện khó.
            Đào thương thì nhờ có làn hơi ca thiên phú mà có được giao kèo bạc triệu, trong lúc ấy đào lẳng chỉ cậy ở diễn xuất thần tình, mà không hưởng được bao nhiêu lương bổng. Sự khác biệt giữa cải lương và điện ảnh, thoại kịch nằm trong trường hợp này.
            Một câu chuyện từng xảy ra ở Long Xuyên vào khoảng năm 1970, lúc ấy ông bầu Cần mang đoàn cải lương Đồng Ấu Kim Nam về diễn tại Đình Cái Sao, thuộc tỉnh An Giang, với thành phần đào kép hầu hết là nghệ sĩ còn trẻ từ 12 đến 16 tuổi. Hôm bữa đó cúng đình nên khán giả tới xem đông đảo, các diễn viên trẻ tuổi của đoàn lên tinh thần trổ hết tài năng.
            Đêm ấy đoàn diễn vở tuồng Phạm Công Cúc Hoa, đến lớp Tào Thị bạc đãi, hành hạ hai đứa con riêng của Phạm Công làm khán giả tức giận la ó. Nhiều khán giả bất bình trước sự tàn ác của Tào Thị do đào trẻ Xuân Hoa (mới 15 tuổi) đảm trách vai trò, nên đã liệng đủ thứ lên Tào Thị Xuân Hoa. Tiếp đó một bà tuổi sồn sồn bước nhanh lên sân khấu chỉ vào mặt Tào Thị Xuân Hoa mắng:
            “Đồ độc ác, đồ gái trắc nết lăng loàn, cái thứ bất lương… thứ trời đánh! Mà thôi, đợi ông trời lâu lắm, để tao đánh trước.”
            Vừa dứt lời là bà xáng cho Tào Thị Xuân Hoa mấy bạt tai xiểng niểng. Bị đánh bất ngờ cô đào trẻ ôm mặt khóc hu hu, bỏ hát đi luôn vào hậu trường. Nhân viên dàn cảnh của đoàn chạy ra lôi bà khán giả này xuống, và nhiều khán giả la lớn: “Nó đang hát tuồng chớ đâu phải thiệt, bộ bà khùng rồi sao mà đánh con nhỏ?” Biết mình có lỗi, bà khán giả hành động quá đáng kia đi te te xuống sân khấu rồi lẫn vào đám đông. Trong khi đó thì ở hậu trường, ông bầu gánh cố dỗ dành mà đào Xuân Hoa vẫn khóc tức tưởi không chịu ra hát. Thấy vậy, mấy vị trong Ban Hội Tề Đình Cái Sao mang đồ cúng với nhiều bánh trái, xôi thịt cùng một ít tiền đến tặng đoàn và xin lỗi, chừng đó Tào Thị Xuân Hoa mới chịu tiếp tục hát cho hết vai trò.
            Về sau Xuân Hoa được các đoàn lớn như Minh Cảnh, Cửu Long, Tiền Giang mời về cho nhận vai chánh. Trong vở tuồng “Ngôi Nhà Ma” của soạn giả Thanh Nga (cô đào Thanh Nga thật lắm nghề), cô đã bỏ vai cho đào lẳng Thúy Lan một vai trò đào độc. Thúy Lan đã diễn thật xuất thần, đến nỗi khiến cho khán giả chửi mắng um sùm, quên rằng họ đang xem hát chớ đâu phải ngoài đời. Nghe chửi, Thúy Lan rất khoan khoái, thích thú. Bởi không còn gì làm một cô đào đóng vai độc sung sướng hơn, khi thấy mình gây được sự công phẫn của khán giả qua vai trò của mình.
            Thúy Lan thành thật nói:
            – Đóng vai này nghe chửi chừng nào lại… mát ruột chừng ấy.
            Ở đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, đào lẳng Thúy Lan được coi như là cột trụ duy nhất trên phương diện đào “độc”. Theo như một số người sành sỏi về cải lương thì Thúy Lan gần như là một diễn viên toàn diện so với những cô đào cùng trang lứa với cô thời ấy. Tài năng và sở trường của Thúy Lan được chứng minh rõ ràng qua mùa giải Thanh Tâm 1960, khi cô về nhì khít khao với Ngọc Giàu là người đoạt giải. Đó là một trong hàng trăm cảnh do đào lẳng, đào độc đóng, còn kép độc thì cũng làm cho khán giả không những phản ứng ở trong rạp, mà khi ra ngoài xã hội cũng vẫn bị phản ứng không thua gì lúc đang hát.


Vở tuồng Ngôi Nhà Ma của soạn giả Thanh Nga

Cũng là cái số…
            Đây xin kể trường hợp kép Linh Tâm chuyên đóng các vai sở khanh, khi ra chợ bị khán giả kể tội. Có lần theo đoàn đi diễn ở Cà Mau, sáng ra chợ đến chỗ bà bán trái cây hỏi mua, thì bà ta vừa nhìn thấy anh, lừ mắt giận dữ không nói một tiếng. Tưởng bà ta chưa nghe rõ nên hỏi bao nhiêu tiền một ký, bất thần bà ta cầm cái nia úp lên thúng trái cây rồi rủa anh một tràng dài:
            – Cậu đi chỗ khác, tui thà chịu ế chứ không bán cho mấy thử sở khanh đàng điếm, con gái người ta hiền lành xinh đẹp mà dụ cho mang bầu rồi bỏ, ăn ở thất đức quá dậy?
            Linh Tâm đứng chết trân như trời trồng không nói được câu nào, tưởng bà ta nhầm mình với ai đó, không ngờ mấy bà khác cũng xúm lại chửi đổng:
            – Cái mặt sở khanh, thấy ghét!
            Tiếp theo đó thì mấy bà bên cạnh lại kể thêm nhiều “tội” là khác:
            – Hôm qua xem vở cải lương “Đèn Đêm Nhỏ Lệ” nó làm tôi tức phát điên lên được. Lợi dụng cái mã đẹp trai nó lường gạt con gái nhà lành nhẹ dạ. Hôm trước xem vở “Mùa Nước Nổi” cũng thế, nó dụ dỗ cả cô chị lẫn cô em. Rồi vở “Đèn Khuya” nó phụ bạc người cứu nó mà dụ dỗ vợ người ta bỏ chồng bỏ con theo nó, rồi còn bắt cóc con người ta nữa. Cái hạng người bất nhân ấy mà cũng là nghệ sĩ hả?
            Có mấy người ở chợ bấy giờ mới hiểu ra chuyện liền cười xen vào:
            – Trời ơi, tui tưởng “thằng chả” lường gạt con gái nhà bà, ai dè ổng đóng tuồng mà nhân vật làm bậy chứ có phải ổng đâu mà bà la người ta.
            Bà bán hàng vẫn khăng khăng:
            – Ngó cái mặt thấy người… không đàng hoàng rồi. Cứ nhớ tới mấy cô phải đau khổ vì nó là tôi chịu hổng nổi.
            Linh Tâm lúc ấy mới thở ra. Cái số làm “sở khanh” như anh chắc vẫn còn nghe những lời nguyền rủa dài dài…


NGÀNH MAI
Tháng 4/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/04042014-tradi-music-04042014074848.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #87 vào: 08/11/2017, 20:06:35 »
“Nữ Trạng Hề” của thập niên 1960-1970

Hoạt động cải lương từ cuối thập niên 1950 trở về trước không có nữ hề, mà nữ hề chỉ xuất hiện từ năm 1961 khi nghệ sĩ Bé Hoàng Vân được mời về đoàn Út Bạch Lan – Thành Được. Trước đó trên sân khấu Thanh Minh của ông bầu Lư Hòa Nghĩa, tức nghệ sĩ Năm Nghĩa (dưỡng phụ của Thanh Nga), Bé Hoàng Vân đã nổi danh qua các vai đào độc.

Nghệ sĩ hề nổi tiếng của thập niên 1960-1970

NHẮC TỚI Bé Hoàng Vân, người ta nhớ một bà hoàng hậu ác độc trong vở “Con Trai Người Ăn Mày”, cái ác của bà hoàng hậu trong tuồng, đã được Bé Hoàng Vân khai thác hết mức, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả. Có người xem xong vở tuồng khi về nhà còn giận không ngủ được.
            Một cô gái hiền từ mà lại quá nổi danh trong các vai ác độc, Bé Hoàng Vân nhiều khi đêm về cũng không ngủ được vậy. Khoảng năm 1959, khi gánh Thanh Minh Thanh Nga trình diễn vở tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân (vở hát đã chiếm kỷ lục về số thu). Với sự góp mặt của Má Bảy Phùng Há, Thanh Nga, Thành Được, Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Út Bạch Lan, Tám Vân, Bé Hoàng Vân… Bé Hoàng Vân đã đổi đời trong vai một cô sen ngớ ngẩn, và cũng đã thành công trong vai diễn. Năm 1961, khi gánh Út Bạch Lan – Thành Được thành lập, thì cô Út đã mời Bé Hoàng Vân về cộng tác. Tại gánh này, Bé Hoàng Vân bắt đầu thủ diễn các vai hề cùng với Văn Chung. Trong vở “Tìm Suối Tiên”, hai cây cười đã làm cho sân khấu vui nhộn và rộn rã tiếng cười. Cũng chính thời điểm này, Bé Hoàng Vân đã được gọi là “Nữ Trạng Hề” trên sân khấu cải lương. Sau đó, Bé Hoàng Vân đã về cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương, đoàn Thái Dương và đoàn Tiếng Hát Dân Tộc. Ở các đại bang này, Bé Hoàng Vân càng rạng rỡ trong các vở tuồng Tình Chú Thoòng, Đời Là Một Chữ T…
            Giới sành điệu cải lương nói rằng sở dĩ Bé Hoàng Vân được phong “Nữ Trạng Hề”, bởi xưa giờ chưa có nữ hề nào được phong “Trạng”. Không như hề thuộc phải nam, từ thời xa xưa đã từng xuất hiện các danh hề nổi tiếng như Bảy Xê, Ba Vân, Duy Chức, Sáu Được…
            Rồi đến thập niên 1960-1970, làng hề lại có thêm Thanh Việt, Xuân Phát, Thanh Hoài, Khả Năng, Tùng Lâm… Hầu hết các hề nói trên đều nổi tiếng, kể luôn cả hề ca Văn Hường, Hề Minh những chẳng anh nào được phong “Trạng”. Do bởi bên gánh Kim Chung, ông Bầu Long đã phong cho ba anh hề của mình là “Trạng Hề” rồi. Đó là hề Phúc Lai, hề Tư Vững, và hề Ba Hội. Do vậy mà hề miền Nam dù hay thế mấy cũng không được các chức “Trạng”!


Nghệ sĩ Bé Hoàng Vân

            Theo tờ báo Tia Sáng năm 1965, thuở xưa không hiểu sống trong hoàn cảnh như thế nào, mà Hoàng Vân không có hân hạnh được cắp sách đến trường như bao nhiêu cô bé khác. Rồi Hoàng Vân vào sân khấu cải lương từ lúc còn nhỏ tuổi, được người trong giới gọi là “Bé Hoàng Vân”, rồi dần dần Hoàng Vân được đóng vai đào. Cái này mới rắc rối, bởi không đọc được chữ Quốc ngữ, Hoàng Vân làm sao mà học tuồng? Cô nhờ người đọc từng chữ từng câu vai tuồng của mình, đọc mãi, đọc hoài cho đến khi thuộc làu vai tuồng. Biết phận mình, cô rất siêng năng học tuồng, nên bất cứ vai trò nào Hoàng Vân cũng thuộc bằng cách nhờ người đọc role của mình. Xem Hoàng Vân ca diễn đâu có ai rõ được Hoàng Vân không đọc được chữ Quốc ngữ. Đến khi biết được Hoàng Vân không biết chữ mà diễn rất linh động, chắc nhiều người đã phục cô.
            Thời bấy giờ, kép Văn Chung cũng nhận thấy làn hơi ca vọng cổ của mình không thể tiếp tục làm kép mùi, như lúc còn làm chồng cô đào Thanh Hương, nên ông ta nhảy ra làm hề và đã thành công thích đáng. Văn Chung chuyên thủ vai các ông chồng sợ vợ mà lại hay dê, và đã phối hợp thật ăn ý với một cây cười nữ chuyên đóng vai những bà vợ ghen tuông đanh đá, chuyên ăn hiếp và khủng bố chồng trên sân khấu Út Bạch Lan – Thành Được. Nghề nghiệp dẫn đưa Hoàng Vân trở thành nữ hề, và là một trong số rất ít nữ hề của cải lương. Sau 1975 Hoàng Vân vẫn tiếp tục làm nữ hề và lẳng độc trên sân khấu đoàn Sông Bé 2 của Bầu Quới. Với những vai độc để đời trong thời con gái và các vai hài chanh chua, ăn hiếp chồng khi bước qua tuổi 30.
            Đến năm 1994 do bị bệnh thấp khớp hoành hành cơ thể, đi đứng khó khăn nên Bé Hoàng Vân nghỉ hát. Cách đây trên 10 năm, nghe nói cô đang sống bình yên với gia đình tại con hẻm nhỏ bên đường Hưng Phú, Quận 8. Gương mặt còn trẻ hơn tuổi, có thể người ta sẽ không nhận ra một Bé Hoàng Vân dù đang bị bệnh. Các nghệ sĩ bạn đến thăm, Hoàng Vân vẫn với gương mặt hiền hậu, vui tươi, đôi mắt vẫn rực sáng, khi được nghe người nào đó chỉ cho một người thầy thuốc, hoặc một bài thuốc trị dứt bệnh thấp khớp, căn bệnh đã hành hạ cô suốt nhiều năm. Tính đến nay thì nữ trạng hề Bé Hoàng Vân đã ở tuổi ngoài 80, từ lâu nay không nghe tin tức gì, không biết cô có còn mạnh giỏi.
            Nếu nói về hề trên sân khấu cải lương, thì ai cũng nhìn nhận hề đã có từ lâu, gánh nào cũng có hề, đôi khi một gánh hát có những hai, ba anh hề, chẳng hạn như gánh Thanh Minh khi xưa có hề Văn Núi, hề Châu Hí và hề Kim Quang. Do đó mà trong tuồng vai hề được viết thêm để cho tất cả hề đều có vai trò. Hề cũng xuất hiện ở cảnh chánh, rồi hề cũng được phân vai có liên hệ đến tình huống kịch, như tiểu đồng, gia nhân, tôi tớ của gia đình quan chức, giàu có. Sau đó, soạn giả lại khai thác loại vai hài là ông chủ, con nhà giàu, “công tử bột”, với tính chất lố bịch đáng cười. Tóm lại thời ấy hề nào cũng có vai trò trong tuồng đàng hoàng, chớ không như sau nay hề không có vai trò trong tuồng, lợi dụng lúc tấm đề co phít bỏ xuống chuyển cảnh bên trong, thì phía trước hai anh hề (có khi một nam một nữ) đi ra nói lung tung chẳng ăn nhập gì trong vở hát, gọi là “tấu hài”. Cách đây hơn một thập niên làng sân khấu lại rộ lên phong trào diễn hài, nghệ sĩ không phải hề cũng xông vào lãnh vực hài.
            Tuy rằng cũng làm cho người ta cười, nhưng những người thật sự mua vé vào xem thưởng thức nghệ thuật thì rất chán ngán khi bị coi cái màn này. Tôi đã từng ngồi gần mấy vị khán giả, lúc đang tấu hài, mấy vị nói với nhau:
            – Mất thì giờ quá! Rất bực mình phải coi cái màn hề nói lung tung beng, hằng bà lằng này.
            Theo như phần đông khán giả thì hề rất cần trong kịch bản cải lương, bất cứ loại tuồng nào: Dã sử, xã hội, hương xa màu sắc… nhưng soạn giả nên cho họ có vai trò thì mới hay. Các hề cần phải được đanh giá đúng mức, chớ không tạm bợ bằng cách “tấu hài” thì sẽ không có hiệu quả lâu dài cho cuộc đời nghệ thuật. Cũng cần biết là “tấu hài” chỉ xuất hiện sau 1975, chớ trước kia cải lương đâu có cái món này.


Nghệ sĩ hề nổi tiếng Tùng Lâm (trái) và Thanh Hoài (phải)

Nỗi lòng anh hề Tám Lọ
            Thời kỳ trước 1975 dân nhậu ở Sài Gòn hầu như ai cũng biết quán nhậu “Tám Lọ”, quán nổi tiếng nhờ có nhiều rượu ngoại quốc mà dân sành điệu truyền miệng với nhau là rượu “thiệt” nhập từ bên Tây. Trong khi đó thì trong làng cải lương lại có anh hề Tám Lọ, thành ra nhiều người ngỡ rằng quán nhậu kia là của anh hề. Các nghệ sĩ cải lương vốn là đệ tử lưu linh như Hoàng Giang, Út Hiền… rất thường lui tới quán này, và giới cải lương đồn rằng Hoàng Giang chỉ ngửi mùi là biết rượu thiệt hay giả.
            Một ký giả kịch trường phỏng vấn hề Tám Lọ:
            – Có phải anh là chủ quán nhậu Tám Lọ?
            Tám Lọ mặt mày buồn hiu trả lời:
            – Chủ cái nỗi gì chớ! Có lần tôi từ tỉnh về Sài Gòn ghé vào quán tính mần vài cái còng xôm ma xông, trả tiền đàng hoàng, vậy mà người trong quán thấy tôi đi một mình, lại ăn mặc lôi thôi nên không tiếp. Đỡ tốn tiền!
            Rồi anh tâm sự tiếp, nếu như làm chủ được cái quán nhậu đầy ắp rượu Tây như vậy, thì đâu phải bôn ba theo đoàn hát đi các tỉnh để rồi cả tuần lãnh lương mua chưa được một chai Martell. Không biết do đâu mà người ta lại lấy tên Tám Lọ đặt cho quán nhậu kia, có nhiều lần khán giả cũng thuộc dân nhậu đến hỏi thì được trả lời rằng:
            – Ở đây chẳng có ai là “Tám” và cũng không có ai là “Lọ” cả, tên quán là do khách nhậu đặt đó thôi.
            Có vài nghệ sĩ biết được câu chuyện Tám Lọ không được tiếp tại quán tên mình đã nói: “Thật đáng buồn, cười ra nước mắt, thôi về nhà nằm suy gẫm sự đời cho “dui” vậy!”


NGÀNH MAI
Tháng 4/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/thea-clown-1960-1970-04112014075418.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #88 vào: 15/11/2017, 07:52:34 »
“100 Năm Cải Lương Việt Nam”

Hôm nay thì quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành hôm đầu tuần, và đã phổ biến khắp trên thế giới qua hệ thống sách Amazon. Quyển sách ra đời, ra mắt bạn đọc cùng thân hữu gần xa, đã đáp ứng được sự mong đợi của nhiều người, nhiều giới vốn hằng quan tâm đến việc lưu lại cho các thế hệ sau, những tài liệu quí giá của môn nghệ thuật xuất phát từ trong nhân gian với tên gọi “cải lương”, một cái tên dễ kêu dễ gọi được người đời mặc nhiên chấp nhận.

“100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai

THƯA QUÍ VỊ, trong nhân gian người ta nói cái “tôi” là cái đáng ghét, do vậy mà gần ba năm nay hàng tuần đến với quí vị thính giả trên làn sóng phát thanh của đài RFA, tôi đã tránh nói về cái “tôi”. Do vậy mà rất nhiều thính giả thắc mắc không biết Ngành Mai là ai? Có phải là nghệ sĩ cải lương không mà lại biết nhiều như vậy?
            Thế nhưng, hôm nay trong buổi nói chuyện nầy, nếu không nói về cái “tôi” thì không có gì để nói, thành thử ra tôi có lời xin lỗi trước.
            Vậy trước khi nói về quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” tôi xin giới thiệu lướt qua về tiểu sử của Ngành Mai.
            Tác giả Ngành Mai gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân trường Sĩ Quan Thủ Đức, phục vụ ngành truyền tin và huấn luyện ở các Tiểu Khu Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh. Sau 1975 qua các trại cải tạo Trảng Lớn – Phú Quốc, Long Giao – Phước Long. Định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1990 trong chương trình HO.
            Là tác giả các tiểu thuyết:
            – Cá Bóng Kèo Kho Tộ, 1995.
            – Cô Gái Việt Và Người Chiến Binh Mỹ, 1996. Tác phẩm này được được Giáo sư Lê Tú Vinh dịch sang Anh Ngữ với tên A Vietnamese Girl and an American Soldier, và nhà xuất bản Dorrance Publishing ở Pennsylvania phát hành.
            – Quyển thứ ba Tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga, 2005.
            – Sáng lập Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại và giữ chức vụ Hội trưởng từ năm 2000 đến nay. Hàng năm tổ chức thi cổ nhạc Giải Phụng Hoàng.
            – Phụ trách trang Cổ Nhạc Kịch Trường hàng tuần trên Nhựt Báo Người Việt.
            – Phụ trách tạp chí cổ nhạc RFA gần ba năm nay, mà quí vị đang nghe đây.
            Tôi không phải là nghệ sĩ cải lương, nhưng thời còn trẻ rất thường tham gia đờn ca tài tử. Hiện nay tôi là nhà văn, nhà báo. Thế thôi! Thưa quí vị, nghệ thuật sân khấu cải lương từ buổi hình thành, tính đến nay đã 100 năm với bao nhiêu thăng trầm, biến chuyển. Trong quá trình hoạt động đã diễn ra hằng bao sự kiện, đã xảy ra không biết bao nhiêu là câu chuyện liên hệ từ sân khấu đến hậu trường, liên quan đến nghệ thuật, đến con người làm nghệ thuật.
            Thế nhưng, cho tới bây giờ người ta chưa thấy cuốn sách nào nói về sự ra đời cùng diễn tiến của hoạt động cải lương một cách tương đối rõ ràng. Ngoại trừ cuốn “50 Năm Mê Hát” của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, được in ấn cách đây gần nửa thế kỷ, xuất bản năm Mậu Thân (1968), với hình thức “hồi ký” ghi lại những sự kiện có liên hệ đến “cuộc đời mê hát” của ông. Cụ Vương mê hát đến đỗi từ Sóc Trăng lên học ở Sài Gòn, nhà trọ ở đường Bonard gần chợ Bến Thành, mà đi bộ vô tới Chợ Lớn coi hát, hoặc có lúc thì cũng đi bộ vô Bà Chiểu, Gia Định coi cải lương.
            Với cuốn hồi ký 50 năm mê hát ấy, ông “nhớ gì viết nấy, nghe sao ghi vậy” chớ không có tính cách sưu tầm sâu rộng về lịch sử cải lương, thành thử ra có những sự kiện, cụ Vương đã viết không chính xác, chẳng hạn như khi nói về soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang, người soạn vở hát Lan và Điệp, Đời Cô Lựu…, soạn giả Tư Trang qua đời tại vùng biên giới Việt-Miên, thì ông lại ghi là mất ở miền Bắc. Và điều này chính ông cũng nhìn nhận bằng mấy giòng chữ: “Và cũng không thấy ai chịu viết nên tôi đánh bạo vọc vạch mấy hàng, không dè đếm được trên trăm trang, trong ấy biết bao là sai lạc vì có khi chỉ nghe lóm…”
            Ông nói đúng, không ai chịu viết nên ông đánh bạo vọc vạch mấy hàng, và nghe lóm thì đâu chính xác.


Hồi Ký 50 Năm Mê Hát – Năm Mươi Năm Cải Lương
của cụ Vương Hồng Sển

            Tóm lại là cuốn “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển cũng cho người ta biết được một số sự kiện trong hoạt động cải lương của thời xa xưa, nhưng thu hẹp trong phạm vi nghệ thuật được thể hiện quanh ông mà thôi, trong tầm mắt của một người mê hát như tựa đề cuốn sách vậy.
            Và cũng kể từ ngày cuốn sách “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển ra đời đã gần nửa thế kỷ nay, mà cũng chưa thấy ai viết cuốn nào khác, dù rằng cải lương vẫn tiếp tục hoạt động. Tuy rằng khi thăng lúc trầm, nhưng chung quy cải lương vẫn tồn tại, vẫn được nhiều người hâm mộ. Dù cải lương sân khấu có yếu ớt, tê liệt, nhưng cải lương truyền hình vẫn có mỗi ngày. Các kênh truyền hình trong nước và hải ngoại đều có cải lương. Như vậy cải lương vẫn sống với một hình thức khác, đó là chưa nói đến băng dĩa tràn ngập đầy dẫy khắp nơi.
            Vậy do đâu mà không có người viết về cải lương? Theo tôi thì do bởi cải lương không phải chỉ hoạt động hạn hẹp ở một vài nơi, nào đó, mà môn nghệ thuật này sau khi hình thành ở Nam Kỳ Lục Tỉnh đã tỏa rộng đi khắp ba miền đất nước. Cải lương không dừng lại ở trong nước, mà đã theo chân người Việt đi Miên đi Lèo phục vụ đồng bào xa xứ. Tiếp đó thì đi Pháp cùng các nước Âu châu, và từ năm 1975 thì cải lương hiện diện ở Hoa Kỳ.
            Do cải lương hoạt động cùng khắp, thì cái khó khăn của vấn đề là làm thế nào tập trung hằng bao sự kiện, diễn ra ở mọi nơi để đưa vào một bộ sách. Công việc ấy đòi hỏi người thực hiện phải liên tục sưu tầm suốt thời gian dài, nếu không muốn nói là suốt một đời người bỏ công tìm tòi và ghi lại.
            Thời gian qua nhiều vị thức giả, độc giả bốn phương của nhựt báo Người Việt, là tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại đã khuyến khích tôi nên sớm hoàn thành quyển sách nói về cải lương. Bởi theo như quí vị thì những bài viết về cải lương, được đăng hàng tuần trên tờ báo Người Việt, rất có giá trị về mặt văn hóa, mà kho tàng văn học nghệ thuật nước nhà không thể bỏ sót.
            Riêng tôi, Ngành Mai tác giả quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, thì do hoàn cảnh cuộc sống đã vô tình giúp tôi có được cơ hội, cùng điều kiện thuận lợi để tìm hiểu. Và cũng do yêu thích môn nghệ thuật đặc thù này nên đã lưu giữ được rất nhiều chứng liệu, hình ảnh về cải lương. Trong nhiều thập niên theo dõi hoạt động sân khấu, tôi đã thu thập khá nhiều sự kiện, đồng thời với sự khuyến khích của nhiều người, do đó là động lực cho tôi thực hiện bộ sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”. Ngay chương 1 mở đầu, tôi đề cập đến nguồn gốc phát sinh nghệ thuật cải lương xuất hiện ở Nam Kỳ Lục Tỉnh. Từ ngữ “Cải Lương” có từ bao giờ, ai là người đã “chế” ra hai chữ cải lương, được coi như đại diện cho loại hình văn hóa nghệ thuật dân tộc?
            Sang qua chương 2 của quyển sách, tôi nói về vở hát “Tây Thi gái nước Việt” được gánh Năm Châu đưa lên sân khấu từ mấy năm đầu thập niên 1950. Có nhiều bí ẩn quanh việc ra đời của vở hát lừng danh này, mà trong quyển sách tôi trình bày nhiều chi tiết. Các chương kế tiếp của quyển sách tôi đã đề cập:
            – Cải lương trong khu kháng chiến hoạt động song song với cải lương ngoài thành. Các đoàn hát ở khu kháng chiến miền Đông, miền Tây Nam Việt hát xướng ra sao trong thời chiến. Các nam nữ nghệ sĩ ở trong mật khu gồm những ai? Thời gian có Hòa Đàm Ba Lê đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp, thì trước đó các nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc đã có mặt trình diễn các rạp ở Paris rồi.
            – Soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang đã dựa vào tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của nhà văn Giáo sư Nguyễn Công Hoan để soạn thành kịch bản “Lan và Điệp”, vở hát được coi như sống mãi với thời gian. Cuốn bài ca Hoa Rơi Cửa Phật được sao chép lại đầy đủ trong quyển sách. Từ lâu nay đại đa số khán giả cải lương đâu có biết rằng cô Lan, cậu Điệp là người Bắc. Ngôi chùa Lan đi tu là chùa Phương Thành thuộc tỉnh Bắc Giang nằm cách Ga Kép độ năm cây số.
            – Năm 1961 soạn giả Trần Hữu Trang rời Sài Gòn, vào mật khu hoạt động văn nghệ, với chức vụ chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trong bài nói về soạn giả Trần Hữu Trang, tôi có đề cập đến trận dội bom rải thảm của pháo đài bay B.52 đầu Xuân Bính Ngọ 1966.
            – Ông Ba Bản bầu gánh hát Thủ Đô, sau 1975 định cư ở Hoa Kỳ, ông có đi Pháp gặp Cựu Hoàng Bảo Đại. Cựu Hoàng có hỏi ông về gánh hát, thì ông Ba Bản nói rằng, ông từng cứu mạng sống soạn giả Thu An, lại còn giúp cho làm giàu. Vậy mà Thu An đã phản, dẫn cô đào chánh Ngọc Hương ra đi, khiến cho gánh hát suy sụp và rồi thì rã gánh. Phải ai đó phản thì chẳng nói làm gì, Thu An phản nên ông nhớ hoài…
            Nghe xong Cựu Hoàng nói:
            – Thôi bỏ qua đi ông ơi! Thằng Thu An phản, ông chỉ bị tiêu mất có một gánh hát hát. Còn Ngô Đình Diệm phản tôi, tiêu tan cả một cơ đồ Nhà Nguyễn, thế mà tôi vẫn còn ngồi đây. Ông nhớ lâu dài thằng Thu An phản làm chi cho tổn thọ.
            Câu chuyện này ông Ba Bản nói lại với tôi, lúc đến thăm ông ở San Diego miền Nam California Hoa Kỳ.


NGÀNH MAI
Tháng 4/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/book-100yrs-cailuong-04182014075839.html

 
The following users thanked this post: tnghia