Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 3171 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #75 vào: 08/09/2017, 11:40:55 »
Ông Ngô Trọng Hiếu với đề án cải tiến hoạt động cải lương

Sau cái ngày giải quyết xong một cách êm đẹp chuyện của ông Trần Tấn Quốc, và vấn đề khủng hoảng giải Thanh Tâm, thì đến tháng 6-1961 ông Ngô Trọng Hiếu tiếp xúc thân mật với văn nghệ sĩ Thủ Đô tại nhà hàng Đồng Khánh, Chợ Lớn. Trong số văn nghệ sĩ có các nghệ sĩ ca kịch và tân nhạc, mà các báo thời đó đăng ảnh ở trang nhứt, có đăng hình các nữ nghệ sĩ Phùng Há, Bích Thuận, Kim Cương…

Ông Ngô Trọng Hiếu gặp gỡ các đoàn viên Thanh Nữ,
ảnh chụp năm 1963

Chú trọng văn hóa, văn nghệ
            Hai tuần sau cũng tại nhà hàng Đồng Khánh, ông Bộ Trưởng Công Dân Vụ lại vui tiệc liên hoan với anh em ký giả Thủ Đô, mà trong số có một số ký giả kịch trường quen tên như Nguyễn Kiên Giang, Tô Yến Châu, Nguyễn Ang Ca, Thanh Đạm…
            Trong tổng quát, ông Hiếu rất chú trọng đến văn hóa và văn nghệ, và đặc biệt ngành nghệ thuật sân khấu lại được ông chú ý với tinh thần thông cảm sâu đậm. Sau đó thì ông Ngô Trọng Hiếu bắt đầu hoạch định đường hướng cho cải lương, với những đề án lớn lao, thiết thực để phát triển bộ môn nghệ thuật này. Cũng đồng thời đưa nghệ thuật cải lương làm lợi khí trong chiến lược tâm lý chiến, biến các đoàn cải lương thành các đơn vị văn nghệ tuyên truyền một cách tinh vi.
            Điều mà thời bấy giờ người ta nhận thấy tầm quan trọng của Phủ Tổng Ủy Công Dân Vụ, là khi ông Ngô Trọng Hiếu về nhận chức Tổng Ủy Trưởng chẳng bao lâu thì cơ quan này được nâng cấp lên thành một bộ trong nội các: Bộ Công Dân Vụ, và ông Ngô Trọng Hiếu làm bộ trưởng.
            Người ta không biết ông Ngô Trọng Hiếu có phải là người yêu thích cổ nhạc cải lương, hay là do cái nhìn chiến lược của một nhà hoạch định chính sách dân vận, mà ông đã chú trọng nhiều đến cải lương, và chủ trương cải tiến toàn diện bộ môn nghệ thuật này.
            Theo như lời của nghệ sĩ Năm Châu khi tâm sự với các ký giả kịch trường, thì ông Hiếu chẳng thích cải lương bao nhiêu, nhưng ông lại biết rõ bộ môn nghệ thuật này được đại đa số người miền Nam ưa thích, nên đã đề ra chính sách thu phục số người dân đông đảo này.
            Việc đầu tiên người ta thấy những cán bộ Công Dân Vụ đến từng đoàn hát đang hoạt động ở Đô Thành Sài Gòn và phụ cận để nắm vững hiện trạng nghề nghiệp, cũng như đời sống của giới này. Ông Hiếu còn cho người đi khắp các tỉnh đang có gánh hát trình diễn, cũng với mục tiêu trên.
            Sau ba tháng công tác, người chỉ huy các cán bộ Công Dân Vụ trình lên ông Hiếu bản báo cáo đầy dẫy những tác tệ trong làng cải lương, nêu rõ từng thành phần như sau:
            – Bầu gánh: Đa số, lệ thuộc vào chủ nợ, chủ rạp. Vì vậy, trong tâm của họ chỉ nhắm vào khía cạnh thương mãi, họ dễ sợ chánh quyền và cũng sợ mặt trận.
            – Nghệ sĩ: Không hề biết chủ trương văn hóa là gì? Học tập là gì? Nhiều tự ái, thiếu tự tin v.v…
            – Soạn giả: Không thấy chủ trương Chính phủ, mà lại lạc ngõ, sa đọa, dễ bị mua chuộc, viết tuồng ham chỉ trích chánh quyền, gây giai cấp đấu tranh, gieo tinh thần lãng mạn, hạ cấp, mị dân. Làm khán giả khi đi coi hát ra về, có cảm tưởng ê chề, chán chường.
            – Diễn xuất: Không nêu các vai trò diễn xuất mà chỉ chú trọng đến hình thức phát triển tiểu xảo. Không tìm thấy nghệ thuật ca diễn bình dân, bị ảnh hưởng nhiều của sự xâm nhập diễn xuất của phim ảnh xi nê.
            – Ký giả kịch trường: Vô trách nhiệm trong việc phê bình. Định kiến thay đổi luôn, đưa đến tình trạng chán nản, bất mãn, chia rẽ.
            Thật ra thì bản báo cáo trên đây nếu có sai, hoặc quá đáng thì cũng chẳng bao nhiêu, bởi cải lương thời này nó gần như vậy đó.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương

Nâng cao đời sống nghệ sĩ
            Rồi đến tháng 11 của năm đó, ông Hiếu lại mời trên trăm người người gồm bầu gánh, nghệ sĩ và ký giả kịch trường họp mặt tại Bộ Công Dân Vụ ở đường Hiền Vương để trao đổi ý kiến, và cũng để thông báo đề án phát triển bộ môn cải lương.
            Có lẽ vào mùa nắng nóng nực này mà trong phòng họp có trên cả trăm người, nên trước tiên ông Bộ Trưởng Ngô Trọng Hiếu mời các anh em văn nghệ sĩ cùng ông cởi áo ngoài ra cho mát mẻ, khiến cho những người có mặt hôm bữa đó đã có cảm tưởng như đại gia đình văn nghệ vậy.
            Trong bầu không khí thân mật, ông Ngô Trọng Hiếu nói rằng chính quyền chú trọng việc nâng cao đời sống nghệ sĩ, và sẽ thực hiện:
            – Quán cơm nghệ sĩ.
            – Ký nhi viện cho con em nghệ sĩ, nhân viên và chuyên viên.
            – Giúp đỡ các gánh nghèo.
            – Tổ chức một phái đoàn nghệ sĩ đi ngoại quốc trình diễn.
            – Gởi nghệ sĩ và chuyên viên đi ngoại quốc học hỏi. Tuy nhiên một phần lớn cũng còn tùy thiện chí đóng góp và sự giúp đỡ của anh chị em nghệ sĩ, bầu gánh v.v…
            Ngoài ra, ông Bộ trưởng còn cho biết, ông có nguyện vọng thành lập một “làng văn nghệ” và một rạp hát giao cho anh chị em nghệ sĩ khai thác và quản trị. Ông đề nghị anh chị em nghệ sĩ tham gia để lập một quy chế kiểm duyệt mới, và tham gia bộ phận nghiên cứu cải tiến trên sân khấu như tổ chức đoàn hát, nội dung kịch bản, hình thức văn nghệ, phê bình tuồng tích. Ông mong mỏi trong hàng ngũ văn nghệ sĩ sẽ tránh nạn bè phái, cá lớn nuốt cá bé.
            Và ông cũng nói thêm Bộ Công Dân Vụ sẽ tận tình giúp đỡ cho đại gia đình văn nghệ, hội thảo liên tục và sinh hoạt. Riêng các đoàn hát, bộ sẽ phái cán bộ xuống đi theo đoàn để giúp đỡ nếu cần.
            Với các đề án trên nghe qua thì ai lại không nghĩ rằng thời Đệ Nhứt Cộng Hòa đã lưu tâm giúp đỡ nghệ thuật cải lương một cách thiết thực. Cũng như ông Ngô Trọng Hiếu là người mà lịch sử sân khấu cải lương sau này sẽ ghi công ông.
            Nếu như thời các Chúa Nguyễn có những bậc tiền bối Đào Duy Từ, Đào Tấn, đã có công lớn với nền âm nhạc, nghệ thuật sân khấu nước nhà, thì lịch sử nền ca kịch hiện đại cũng có ông Ngô Trọng Hiếu đề ra chính sách làm cho nghệ thuật cải lương có điều kiện phát triển mạnh.
            Thế nhưng, bên cạnh của sự đề cao khen tặng, thì cũng có những dư luận cho rằng ông Ngô Trọng Hiếu muốn gồm thâu nghệ thuật cải lương, để cho giới này phục vụ, củng cố chế độ thời đó.
            Bởi nếu như nhận xét một cách thấu đáo đề án “quy chế kiểm duyệt mới”, có nghĩa là một bộ phận kiểm duyệt sẽ được hình thành gồm các nghệ sĩ có trình độ như Năm Châu, Duy Lân… cùng làm việc với cán bộ Công Dân Vụ, để kiểm duyệt tuồng tích trước khi nó được trình diễn trước khán giả. Trong trường hợp nếu có vở tuồng nào mà người cán bộ Công Dân Vụ xét thấy bất lợi cho chế độ, thì dĩ nhiên các nghệ sĩ trong thành phần kiểm duyệt có dám chống lại không?
            Cũng như đề án mỗi một đoàn hát dù lớn dù nhỏ cũng được một cán bộ Công Dân Vụ theo sát để giúp đỡ khi cần, thì lại chính là người kiểm soát sân khấu trong lúc trình diễn, cùng những vấn đề khác.
            Tóm lại là đề án của ông Ngô Trọng Hiếu nếu thực hiện, sẽ là một cuộc cải tiến toàn bộ cải lương, đưa nghệ thuật sân khấu vào khuôn khổ. Được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần nhưng không thể tự tung tự tác được. Và mỗi gánh hát là một đơn vị tâm lý chiến mà chính quyền không phải trả lương.
            Thế nhưng, “mưu sự do Nhân thành sự do Thiên” hoặc “mưu sự do ông Hiếu mà thành sự do Trời”. Sang năm 1962 thì chiến tranh diễn ra ở nông thôn, ngân sách của chính phủ dành cho nhiều vấn đề cấp thiết quan trọng hơn. Chuyện cải lương quá nhỏ so với quốc sách Ấp Chiến Lược, với tăng cường quân đội, cảnh sát… Đề án cải lương của ông Hiếu chỉ mới thi hành được cái chuyện đưa nghệ sĩ đi nước ngoài trình diễn, học hỏi. Ngay cả quán cơm nghệ sĩ và rạp hát cho nghệ sĩ khai thác cũng chưa có thì nói gì cái “làng văn nghệ” lại quá xa vời.
            Đề án phát triển cải tiến toàn bộ cải lương bị dặm chân tại chỗ cho đến ngày Phật Đản 1963 thì xảy ra vụ Phật Giáo ở Huế, tình trạng bất ổn lan tràn khắp các tỉnh kéo dài cho đến 1-11-63 thì Ngô Triều sụp đổ. Ông Hiếu chạy lánh nạn ở Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân. Rồi thì cũng bị bắt giao cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, để đưa ông vào khám Chí Hòa.
            Về sau được tự do, ông Hiếu đi dạy học, và khi có bầu cử Hạ Nghị Viện, ông ra tranh cử ở Hố Nai, Biên Hòa và đắc cử. Lúc ấy có người nói: “Cận thần trung thành của ông Diệm mà tranh cử ở Hố Nai, nơi đồng bào miền Bắc di cư đông đảo thì không cần tranh cử, nằm ngủ cũng đắc cử”.
            Về tiểu sử thì khi xưa ông Ngô Trọng Hiếu là công chức Bộ Tài Chánh của chính quyền thuộc địa, với chức vụ Tổng Giám Đốc Ngân Khố. Chức vụ này nếu không là người Pháp thì phải có quốc tịch Pháp mới được bổ nhiệm (ông Hiếu là dân Tây có tên Paul Hiếu).
            Năm đầu tiên của nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ giới thiệu ông Hiếu với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và ông Hiếu được bổ nhiệm làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Nam Vang, trước khi về nước làm Bộ Trưởng Công Dân Vụ.
            Sau 1975 ông Ngô Trọng Hiếu ra hải ngoại định cư ở San Jose, Miền Bắc California. Năm 2000 trên trang cổ nhạc kịch trường Nhật Báo Người Việt, tôi có viết bài báo nói về việc khi xưa ông Hiếu hỗ trợ cho đoàn cải lương diễn tại hội chợ quốc tế Nam Vang. Lúc ấy bà Hiếu có điện thoại cho tôi, và gởi bức hình ông Hiếu cho tôi đăng báo. Và bà cũng cho biết ông Hiếu mất trước đó mấy năm.
            Năm Mậu Thân 1968 cải lương oằn oại, ngất ngư, đào kép người nào cũng than trời như bộng. Có người nói nếu như không có đảo chánh 1-11-1963, ông Hiếu còn làm Bộ Trưởng Công Dân Vụ thì cải lương sẽ mạnh biết dường nào, chớ đâu đến đổi te tua “áo vũ cơ hàn” như thế ni. Cái đó chỉ có Trời mới biết!


NGÀNH MAI
Tháng 11/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1130-nm-11292013113150.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #76 vào: 13/09/2017, 14:33:58 »
Cô đào Lương Ngọc Yến và gánh hát Tàu ở Chợ Lớn

Từ thời xa xưa người Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp, họ đã mang theo cả văn hóa, mà trong đó có nghệ thuật sân khấu được dàn dựng trên đất nước ta. Trải qua hằng bao thế hệ nghệ thuật kia vẫn có người tham gia ca hát, trình diễn vừa tiến thân trong sự nghiệp, lại vừa để bộ môn văn hóa được bảo tồn.

Chợ Bình Tây là chợ trung tâm của khu vực Chợ Lớn

Bảo tồn văn hóa
            Cũng nhờ đi vào con đường ca hát với tính cách tài tử, mà cô gái người Hoa tên Lương Ngọc Yến đã có cơ hội trở thành cô đào chánh tài sắc nổi danh của đoàn hát Quảng Đông. Và nếu như tình trạng sân khấu vẫn hoạt động tốt đẹp như thời thập niên 1950-1960 thì cô cũng có thể là một Hồng Tuyến Nữ ở Chợ Lớn, phục vụ khán giả người Hoa trên đất nước Việt Nam. Hồng Tuyến Nữ là cô đào tài sắc ở Hồng Kông thời bấy giờ.
            Những gánh hát Tàu hoạt động liên tục ở nước ta, mà phần đông bà con mọi giới đã rất ít lưu ý đến, có người còn chẳng biết gì hết, dù rằng ở cách xa khu vực của người Hoa tập trung chỉ trên dưới 10 cây số thôi. Nói như thế cũng không có gì quá đáng, thí dụ như có những người dân ở miệt Bà Quẹo, Bà Điểm, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp họ chẳng hề biết ở Chợ Lớn có gánh hát Tàu trình diễn hằng đêm. Đó là do bởi các đoàn hát này chỉ hoạt động trong “lãnh địa” Chợ Lớn của họ mà thôi.
            Thời Pháp thuộc, Chợ Lớn là một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ. Đến thời chính quyền Quốc Gia Việt Nam thì không còn tỉnh Chợ Lớn nữa, khu thị tứ Chợ Lớn nơi người Hoa tập trung đông đảo, cũng đồng thời là trung tâm thương mại của Việt Nam được sáp nhập vào Thủ Đô Sài Gòn, Có lúc những gánh hát Tàu cũng đi trình diễn ở các tỉnh nếu như được mua giàn, và thông thường là những nơi có cộng đồng người Hoa, có tổ chức Bang Hội, và địa điểm trình diễn là những hội trường sinh hoạt hoặc chùa chiềng của người Hoa ở địa phương, chớ không phải ở rạp hát. Những lần đi như vậy thì gánh hát thu hẹp lại với những diễn viên chính yếu của đoàn, và chỉ đi bằng người với trang phục hát mà thôi, chớ không có phông màn hay tranh cảnh gì cả. Thành thử ra bà con ta ở tỉnh cũng không hay biết là có gánh hát Tàu đến đó trình diễn. (Trong nhân gian thiên hạ gọi là người Hoa hoặc người Tàu, nhưng gánh hát thì “gánh hát Tàu” chớ không ai gọi là “gánh hát Hoa” bao giờ.)
            Lại nữa về phía người Việt chúng ta thì lại rất hiếm người chịu đi coi các gánh hát này, do bởi họ hát tiếng Tàu, và tuồng tích thì cũng trích ra từ trong các truyện Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây v.v… Những tuồng ấy thì các gánh cải lương, hồ quảng, hát bội của ta đều có hát. Do vậy mà thiên hạ đã thờ ơ với hát Tàu, để dành thì giờ đi coi các gánh hát tiếng Việt dễ hiểu, dễ thưởng thức hơn.
            Vậy các gánh hát Tàu này tổ chức ra sao, diễn viên đào kép từ đâu đến, từ Hồng Kông, Thượng Hải hay là đào tạo ở Việt Nam? Nếu như không tìm hiểu sâu rộng thì rất khó mà nắm vững được vấn đề. Chúng tôi xin nêu lên trường hợp cô đào Lương Ngọc Yến nổi tiếng tài sắc ở đoàn Quảng Đông, để nói về tổ chức những gánh hát Tàu hoạt động ở vùng Chợ Lớn thời kỳ trước và sau 1975.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở Tô Ánh Nguyệt, năm 1958

Đem lại không khí quê hương
            Như trên đã nói từ lâu đời ở nước ta đã có những gánh hát Tàu, họ trình diễn đem lại không khí quê hương cho những người đồng hương rời bỏ xứ sở đi sang đây lập nghiệp. Và thời ấy gánh hát Tàu chỉ phục vụ cho số khán giả người Hoa mà hầu như chẳng mấy người biết nói và nghe được tiếng Việt.
            Không biết chính xác họ có bao nhiêu đoàn hát, nhưng có gánh Quảng Đông Đại Phụng Minh được coi như gánh lớn, cỡ đại bang cải lương của ta. Do bởi đoàn đã quy tụ được nhiều đào kép tên tuổi nổi tiếng trong cộng đồng người Hoa, đã trình diễn hằng đêm ở Chợ Lớn. Đây là gánh hát duy nhứt mà sau 1975 vẫn còn hoạt động, vì thế đã thu hút đông đảo khán giả, đêm nào cũng không đủ vé bán. Nhưng rồi không hiểu sao chỉ một năm là đoàn Đại Phụng Minh cũng ngưng hoạt động luôn.
            Đến cuối 1976 thì đoàn Thống Nhứt được thành lập thay thế cho đoàn Đại Phụng Minh, và đoàn này lại chia thành hai đoàn nhỏ: Triều Châu và Quảng Đông, hai đoàn hoạt động song song với nhau ở hai rạp Sao Mai và Vàm Cỏ. Đào kép tên tuổi phần nhiều tập trung ở đoàn Quảng Đông như: Dương Ngọc Phấn, Dương Bội Linh, Dương Bội Thuyên, Lý Lệ Châu, Giang Phụng Bình, Giang Tử Thanh, Huỳnh Kiếm Minh, Viên Cẩm Hồng, Đào Chí Hoa, Lâm Chấn Oai, Lâm Giác Thanh, Lệ Thường…
            Thế nhưng, đến năm 1979 thì biến động lớn về diễn viên, những diễn viên chánh của đoàn tự nhiên biến mất mà chẳng ai biết lý do. Tại sao vậy chớ? Lúc ấy theo sự đồn đãi trong giới người Hoa, thì năm ấy có cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, đồng thời cuộc chiến cũng diễn ra trên đất Miên. Trong lúc tình hình giao động ở những nơi có người Hoa sinh sống, thì số đào kép nồng cốt kia có thể đi về Tàu, hoặc vượt biên qua Miên rồi sang Thái Lan và đi định cư ở nước khác.
            Để củng cố thành phần diễn viên của đoàn Quảng Đông bị mất đi nhiều diễn viên chánh, người ta đã phải tìm đến nguồn diễn viên ở các Bang Hội để thay thế. Cô Lương Ngọc Yến và một số diễn viên khác đã được chọn về đoàn chuyên nghiệp Quảng Đông, nhờ đó mà cô trở thành cô đào tài sắc nổi danh luôn.
            Ở vùng Chợ Lớn ngày xưa có rất nhiều đội văn nghệ tài tử, nhưng các đội lớn đáng kể là: Sùng Chính, Tuệ Thành, Hạc Sơn là những đội ca cổ nhạc Quảng Đông. Các đào kép chánh biến mất như nói ở trên họ cũng xuất thân từ những đội văn nghệ của các bang hội này. Riêng đào Lương Ngọc Yến vốn là cô thợ may, nhưng từ nhỏ đã gia nhập đội văn nghệ Sùng Chính, tập ca cổ rồi đi ca hát khắp nơi, thỉnh thoảng cũng có ca ở đình chùa trong những dịp cúng lễ. Cô từng đóng vai chánh trong trích đoạn của vở “Nhất Đại Thiên Kiều” là vở hát rất nổi tiếng mà nữ nghệ sĩ Hồng Tuyến Nữ ở Hồng Kông từng đóng vai chánh. Ngoài ra Lương Ngọc Yến cũng ca những bài bản cổ rút ra từ trong các vở: Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Nàng Đậu Nga, Công Chúa Trường Bình v.v…
            Đến năm 1972 Lương Ngọc Yến về tham gia ca hát ở câu lạc bộ Hội Đồng Hương Họ Lương. Nơi đây cô tập ca diễn nhiều hơn, đóng vai chánh trong nguyên vở hát, chớ ít khi hát trích đoạn như trước, và đã diễn qua các vở: Vân Long Vân Phụng, Trai Tài Gái Sắc, Kim Xuyên Long Phụng Phối… Cô cũng cùng với đoàn đi diễn gây quỹ cứu trợ nhiều nơi như Đà Nẵng, Rạch Giá, Thủ Đức, các đình chùa, và không nhận thù lao.
            Sau 1975 Lương Ngọc Yến vì sinh kế đành rời sân khấu đi làm nhân viên bán hàng ở các cửa hàng tạp hóa để sinh sống và phụ giúp tài chánh cho gia đình. Tuy thế, nhưng dường như nghiệp cầm ca vẫn còn đeo đuổi bên mình, nên cô vừa đi làm vừa tham gia chương trình văn nghệ của Quận 5. Gặp lúc đoàn Quảng Đông đang khủng hoảng về diễn viên, đào kép chánh bỏ đi hết, lại là cơ hội cho đào Lương Ngọc Yến, cô được mời gia nhập đoàn đảm nhận vai chánh, thật là may mắn đưa đến trong nghề.
            Trong suốt gần 10 năm Lương Ngọc Yến đã diễn qua trên 50 vở hát đủ loại, từ cổ tích dân gian, thần thoại, sử, đến những vở xã hội. Đặc biệt là có những tuồng Việt Nam được chuyển thể để hát trên sân khấu Quảng Đông. Khán giả người Hoa rất thích xem những vở hát này như là xem tuồng của Trung Hoa vậy. Nhưng rồi sau cái thời gian 10 năm tốt đẹp kia thì sân khấu đoàn Quảng Đông cũng giống như cải lương Việt Nam, số lượng khán giả đi xem không nhiều như xưa nữa. Tình hình ca hát của đoàn xuống dốc trầm trọng, cả hai đoàn Triều Châu và Quảng Đông đều được hai Ban Bảo Trợ giúp đỡ tận tình mới tồn tại.
            Ở những nơi có đông đảo người Hoa như Song Mao, Sóc Trăng, Định Quán, Cần Thơ có yêu cầu đoàn Quảng Đông, Triều Châu đến hát nhưng không đoàn nào dám tự đi lưu diễn, mà phải có người bao giàn mới dám đi.
            Từ ấy về sau ngày một xấu thêm, lâu lắm đoàn mới tổ chức hát mà cũng chẳng có bao nhiêu người đi coi. Do đó diễn viên không thể ngồi chờ, ai cũng phải tìm nghề khác để sinh sống. Giờ đây người ta hiểu rằng sân khấu cải lương Việt Nam trong tình trạng ngất ngư, nói theo soạn giả Yên Lang thì như là cái thi hài biết thở vậy. Và luôn cả sân khấu hát tuồng của người Hoa ở Chợ Lớn cũng tình trạng như nhau, chẳng khá hơn gì. Coi như cái thời kỳ vàng son của sân khấu đã thật sự đi qua rồi. Cả hai nền nghệ thuật cùng chung một Tổ nghiệp chăng?


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1207-nm-12072013091346.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #77 vào: 15/09/2017, 19:12:33 »
Cuộc đời nhạc sĩ Sáu Lầu lên sân khấu cải lương

Cuối tháng 11 vừa qua Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại, đã nhận được một vở tuồng cải lương gởi tham dự giải Phụng Hoàng kỳ 7. Vở hát mang tên Thu Sầu Nhả Tơ, tức cuộc đời tình ái của nhạc sĩ Sáu Lầu, người sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang, là tiền thân của bản Vọng Cổ được hàng triệu người ưa thích.

Nhạc sĩ Sáu Lầu

Thu Sầu Nhả Tơ
            Vở hát đang được đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang tập dượt và sẽ ra mắt khán giả vào lúc 7 giờ tối Chủ Nhựt ngày 22 tháng 12 năm 2013 tại rạp Sài Gòn Performing, Fountain Valley, miền Nam California. Do đó mà ban tổ chức giải Phụng Hoàng đã thành lập “Hội Đồng Thẩm Định “gồm hai thành phần Ban Giám Khảo và Hội Đồng Giám Sát Thi Cử cùng đi xem tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” trước khi có phiên họp quyết định về việc trao giải Phụng Hoàng vở tuồng hay nhứt trong năm nay.
            Từ ba năm trước, nhằm khuyến khích các soạn giả cải lương viết thêm tuồng mới phục vụ khán giả yêu thích bộ môn nghệ thuật này, nên Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại đã phổ biến thông báo về việc tuyển chọn “tuồng cải lương hay nhứt trong năm”. Và hôm nay soạn giả Trần Văn Hương đã gởi tuồng mới tham dự.
            Nếu như bản vọng cổ đã đưa những người đến chỗ kiếm tiền bạc triệu, các hãng dĩa đã làm giàu, những nghệ sĩ đi xe hơi xài tiền như nước, thì trong lúc ấy cũng đang bắt một ông già cha đẻ của sáu câu vọng cổ, lê chuỗi ngày tàn trong cảnh bần hàn, túng thiếu, vất vả.
            Một nếp nhà tranh, trước nhà là cái sân đất có trồng một cây khá lớn có bóng mát, và bên trong gian nhà đơn sơ, bàn ghế không có gì ngoài bộ ván đã xưa và cái bàn thờ cổ kính.
            Một đoàn âm công trong một buổi chiều nào đó, ông Sáu Lầu sau khi cùng các học trò làm xong phận sự đưa đám tang tới nghĩa địa, ông lại trở về nhà, một nếp nhà tranh nhìn ra lộ, nằm trong ấp Bạch Đằng, xã Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.
            Người cha đẻ ra bài vọng cổ mà thiên hạ đã từng nghe danh, trong những năm cuối đời, vào khoảng 1965 ông đã trên 70 tuổi rồi mà phải đi đờn đám ma kiếm tiền để sống trong một dàn kèn đám ma do ông làm trưởng đoàn.
            Tại Bạc Liêu, đám tang nào cần có âm công là người ta đến nhờ giàn kèn đám ma (có nơi gọi là đờn thổi) của ông Sáu Lầu. Đến cái tuổi gần đất xa trời đáng lẽ có một nơi ấm cũng để dưỡng già, thế mà người cha đẻ của “sáu câu vọng cổ” còn phải dãi dầu sương gió bên cỗ quan tài cho đến tận đêm khuya.


Vở kịch Dạ Cổ Hoài Lang thuở ban đầu với Thành Lộc và Việt Anh

Dạ Cổ Hoài Lang
            Vào giữa thập niên 1960, theo lời ông Sáu Lầu kể lại với một ký giả kịch trường, thì khoảng 1917 ông đang sống với người vợ hiền trong một cảnh gia đình êm ấm, nhưng đã mấy năm mà không có con, nên song thân ông lo tuyệt tự. Theo quan niệm xưa, không có con trai là đủ mang tội bất hiếu rồi, song thân cho vợ ông về lấy chồng khác, để ông tìm người vợ khác có thể sanh con nối dõi… Thời xưa đối với lịnh nghiêm đường, phận làm con mấy ai dám chối cãi lời răn dạy của cha mẹ. Ông buồn đứt ruột song cũng phải vâng dạ ở ngoài miệng và chần chờ không nỡ bỏ người vợ không có phạm một tội lỗi gì.
            Vợ ông hay biết chuyện này cũng buồn rầu lắm, song chỉ có khóc thầm trong lúc đêm khuya. Hồi ấy ông đang chơi đờn tranh, những đêm trăng, ôm đờn ra bờ ruộng, dạo vài cung áo não cho vơi bớt nỗi sầu.
            Ông Sáu Lầu cho biết điệu “hoài lang” mà ông đặt ra lần đầu, tức là tên nguyên thủy của bản “vọng cổ”. Ông nghĩ đến tâm sự của vợ ông mai kia đây sẽ xa chồng, và khi nguồn cảm hứng dâng lên tràn ngập cõi lòng, ông gởi gấm tâm sự vào nhạc điệu. Làm thành 20 câu, nhịp tư, mà ông đặt tên là điệu “Hoài Lang” có nghĩa là “nhớ chồng”.
            Ông đờn đi, đờn lại, nhạc phẩm mới này, và sửa cho thêm ai oán, thích hợp với tâm trạng một người đàn bà xa chồng, vì một phong tục cổ hủ lỗi thời của ngàn xưa để lại. Ông đờn cho vợ ông nghe và bà Sáu cũng xúc động đến chảy nước mắt.
            Lúc ấy ông đang là nhạc sĩ đờn tranh trong giàn đờn của gánh cải lương Ba Xú ở Bạc Liêu. Hàng ngày tiếp xúc với thầy Thống là thầy tuồng, tức soạn giả của gánh này, tên là Tôn Xuân Thơ. Ông Sáu Lầu cho thầy Thống hay ông mới sáng tác ra một điệu mới và đờn cho thầy nghe. Thầy Thống cảm phục và khen ngợi ông, và thầy đề nghị ông để cho thầy đặt lời ca. Thầy hỏi tên điệu đờn, và ông Sáu Lầu đáp: “Tôi đặt tên là “Hoài Lang” để gởi gấm tâm sự một người đàn bà nhớ chồng”.
            Thế là vài hôm sau đó thầy tuồng của gánh Ba Xú đưa ra lời ca để ông Sáu Lầu đờn còn thầy thì ca. Điệu Hoài Lang có lời ca của thầy Thống đã làm cho những nghệ sĩ ngồi nghe phải bùi ngùi xúc cảm. Dưới thời Pháp thuộc chưa ai nghe được một nhạc phẩm buồn rầu, áo não đến thế, và lời ca như sau:

                        Từ (là từ) phu tướng.
                        Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
                        Vào ra luống trông tin chàng.
                        …


            Vì người sáng tác nhạc ôm ấp một tâm sự khác, nên bài ca không diễn đạt hết ý nghĩa của hai chữ “Hoài Lang” hàm xúc ý tình một người vợ miễn cưỡng phải xa chồng, chớ không nghĩ đến một võ tướng “Sắc phong lên đàng” như thầy tuồng tưởng tượng. Vì thế, thầy Thống đề nghị đặt cái tên Vọng Cổ nghĩa là nhớ thời xưa cho rộng nghĩa.
            Đó là câu chuyện về sự ra đời của bài bản Dạ Cổ Hoài Lang, tức bản vọng cổ sau này, theo tôi biết là như vậy. Nhưng đối với soạn giả Trần Văn Hương thì tình tiết của vở hát “Cuộc Đời Tình Ái của nhạc sĩ Sáu Lầu” ra sao, có đúng như vậy không? Do đó mà tôi có đi gặp soạn giả Trần Văn Hương để hỏi vài ba câu, và soạn giả Trần Văn Hương đã trả lời:
            – Tôi có xem qua tiểu sử nhạc sĩ Cao Văn Lầu…
            Xin mời quí thính giả nghe thêm phần âm thanh.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1214-nm-12142013113142.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #78 vào: 20/09/2017, 18:31:23 »
Chuyện về vở hát Tây Thi gái nước Việt

Câu chuyện Việt Vương Câu Tiễn “nằm gai nếm mật” được soạn giả Năm Châu viết thành tuồng cải lương với tên tựa “Tây Thi gái nước Việt” đưa lên sân khấu từ đầu thập niên 1950, gồm các nhân vật chính như: Ngô Phù Sai, Tây Thi, Việt Vương Câu Tiễn, Phạm Lãi, Ngũ Tử Tư…

Phạm Lãi (Phùng Há) và Tây Thi (Kim Cúc) trong tuồng Tây Thi gái nước Việt

Khán giả chật rạp
            Đây là vở tuồng màu sắc khá ăn khách, hát liên tục cả tháng tại rạp Aristo mà đêm nào cũng chật rạp, thậm chí vé bán trước cả tuần. Vở hát lúc mới khai trương, vai Ngô Phù Sai do nghệ sĩ Năm Châu đóng; Má Bảy Phùng Há đảm nhận vai Phạm Lãi; nghệ sĩ Bảy Nhiêu vai Ngũ Tử Tư; ba nghệ sĩ hề là Ba Vân, Văn Lâu, Tám Vân vai Bá Hỉ. Hai cô đào Kim Cúc, Kim Lan trước sau thay nhau đóng vai Tây Thi. Nghe nói với vai nữ chánh này, hai cô đào phải đi học 72 đường kiếm thuật với ông thầy Tàu ở Chợ Lớn.
            Vậy tuồng Tây Thi gái nước Việt hay đến cỡ nào mà khán giả cải lương lại đông đảo như thế? Tình tiết câu chuyện khá dài, tôi sẽ trở lại ở các kỳ sau. Giờ đây tôi trình bày diễn tiến trong việc viết vở tuồng này, cũng như ai là người đã sáng tác lên câu chuyện đã làm say mê khán giả khi nó được chuyển thể thành tuồng cải lương.
            Số là kể từ lúc tuồng được ra mắt cho đến mấy thập niên sau, rất hiếm người biết rằng, soạn giả Năm Châu đã dựa vào vở kịch thơ “Tây Thi gái nước Việt” của Hoàng Mai, được nhà xuất bản Sống Chung phát hành giữa năm 1949. Hoàng Mai, tức Mai Văn Bộ, cán bộ kháng chiến Hội Liên Việt của Thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Về sau ông Mai Văn Bộ được điều động đến khu kháng chiến Nam Bộ và soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang tìm đến đây, để rồi sau đó vở hát “Tây Thi gái nước Việt” được ra đời, đóng góp một cành bông tươi đẹp vào vườn hoa nghệ thuật cải lương. (Lúc có Hòa Đàm Ba Lê ông Mai Văn Bộ làm Đại Sứ Bắc Việt tại Ba Lê.)
            Đầu năm 1950 Đoàn Việt Kịch Năm Châu trên đà mất khán giả vì thiếu tuồng mới, tuồng cũ diễn đi diễn lại nhiều lần không còn ăn khách nữa, nên soạn giả Tư Trang (em bà con với Năm Châu) đã lặn lội vào tận khu kháng chiến Nam Bộ (Khu 9) để gặp tác giả vở kịch thơ Hoàng Mai, xin được chuyển thể vở kịch thơ thành tuồng cải lương. Ông Bộ chấp thuận (không đòi hỏi tiền bản quyền).
            Vở tuồng “Tây Thi gái nước Việt” với nguyên tác là vở kịch thơ đã sẵn mang tính văn chương và nghệ thuật, nhiều kịch tính với nội dung truyền cảm. Việc chuyển thể từ kịch thơ qua tuồng cải lương đòi hỏi soạn giả một trình độ cao về kỹ thuật và kinh nghiệm sân khấu, nếu không phải là Năm Châu, thì khó có ai dám mạo muội làm chuyện này. Người ta cho rằng, chính công sức, thông minh và thiện chí, với kinh nghiệm nghề nghiệp đã khiến cho ông Năm Châu vượt qua được cái khó khăn nhất là đặt bài ca cổ nhạc đúng chỗ, hợp lý để không làm gián đoạn đường dây xuyên suốt của kịch bản. Vở tuồng còn có sự đóng góp của nhạc sĩ Lê Thương viết nhạc, và ba ca khúc hát bè, điều đó cho thấy sân khấu cải lương từ thời xa xưa đã có áp dụng ca tân nhạc vào tuồng cải lương.


Bìa dĩa hát cải lương Hoa Một Lan

Đường lối “mua tuồng cũ”
            Khoảng giữa thập niên 1950 thỉnh thoảng khán giả cũng có đi coi vở Tây Thi gái nước Việt diễn trên sân khấu Phụng Hảo. Thập niên 1960 cải lương lên cao điểm, nhưng hai đoàn Năm Châu và Phụng Hảo lại bị rã gánh nên khán giả đã không còn thấy nàng Tây Thi xuất hiện ở đâu hết.
            Rồi đến năm 1974 thì đoàn Kim Chung cũng cho diễn tuồng “Tây Thi” của soạn giả Yên Lang, mà không phải tuồng của Năm Châu trước đó, khiến cho nhiều người thắc mắc rằng không biết Tây Thi này có phải là Tây Thi gái nước Việt mà nhiều năm trước đó khán giả cải lương đã đi coi? Và câu giải đáp như sau:
            Lúc cao điểm khai thác nghệ thuật cải lương của những năm giữa thập niên 1960, bảng hiệu Kim Chung có đến sáu đoàn hát, hoạt động luân chuyển đều đặn từ Thủ Đô Sài Gòn đến các tỉnh miền Tây, miền Đông, miền Trung. Chỉ trừ những lúc đoàn đang di chuyển thì không có hát chớ đêm nào các gánh cũng mở màn, do đó ông Bầu Long rất cần nhiều soạn giả cộng tác để cung cấp tuồng mới cho các đoàn.
            Ngoài mấy soạn giả thường trực người miền Bắc, đa số là các soạn giả miền Nam đã tập trung dưới trướng của Bầu Long (báo chí gọi là Bầu Rồng). Lúc bấy giờ soạn giả Yên Lang giữ một vai trò quan trọng về tuồng tích cho đoàn Kim Chung, nhưng sau cơn bão lốc Mậu Thân cuốn đi hết mấy đoàn, chỉ còn lại hai đoàn hoạt động cầm chừng.
            Tình hình đen tối như vậy nên Kim Chung không thể nào “nuôi” hết một “tiểu đội” soạn giả để phải trả lương tháng nữa. Đường lối của Bầu Long lúc ấy là mua đứt một số tuồng cũ rồi đổi tựa mới để cho hai đoàn còn lại “hát cho có hát” mà thôi. Như vậy đỡ tốn tiền tuồng, và cũng để nuôi sống những đào kép công nhân từng trung thành với bảng hiệu Kim Chung, nhứt là những người đã theo đoàn từ Bắc vô Nam. Do đường lối “mua tuồng cũ” ấy nên soạn giả Yên Lang đương nhiên không còn chỗ đứng ở Kim Chung nữa, đã phải chạy lung tung qua mấy đoàn Việt Nam, Du Sĩ Ca Quốc Trầm…
            Mãi đến 1974 thì Yên Lang “phản hồi cố quận” được Bầu Long mời cộng tác trở lại cùng lúc với soạn giả Thiếu Linh. Trở về với Kim Chung thì soạn giả nào lại chẳng mừng, bởi viết xong tuồng là có tiền ngay, chớ không như các gánh khác, tuồng hát rồi chưa chắc có tiền. Do vậy mà soạn giả cần đến những câu chuyện ăn khách để cộng tác lâu dài với Bầu Long, và chiêu đầu tiên mà soạn giả Yên Lang tung ra tại rạp Olympic mang tựa đề là Tây Thi.
            Có lẽ biết rõ câu chuyện “nằm gai nếm mật” của Việt Vương Câu Tiễn ăn khách, hát đi hát lại nhiều lần vẫn có đông đảo khán giả đi coi, nên soạn giả Yên Lang đã đưa nàng Tây Thi và các nhân vật trong câu chuyện lên sân khấu Kim Chung.
            Thế nhưng, lấy tên tựa gì đây? “Tây Thi gái nước Việt” thì Năm Châu đã đặt tựa rồi, không lẽ giờ đây đề tựa Tây Thi… gái nước Tàu? Dù rằng câu chuyện này là của Trung Hoa, thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Ngô nước Việt là chư hầu của Nhà Chu (có nhiều người lầm lẫn nước Việt ở đây là Việt Nam).
            Thật ra thì sử sách chính thống của Tàu ghi chép rất ít về nàng Tây Thi, mà phần lớn hình ảnh đẹp của Tây Thi là do nhân gian sáng tạo, gần như là chuyện xưa tích cũ vậy. Chẳng hạn như tuồng cải lương của Năm Châu đã dựng lên một nàng Tây Thi vừa đẹp tuyệt trần, vừa yêu nước mến dân, lại vẹn tình vẹn nghĩa…
            Do cốt truyện gần như chuyện nhân gian của Tàu, thì soạn giả cải lương Việt Nam ai viết được thì viết, chứ đâu phải tác quyền của Năm Châu. Thành thử ra soạn giả Yên Lang viết thoải mái, tạo nên nàng Tây Thi thế nào tùy ý, chỉ có cái khó là đặt tựa làm sao cho khán giả hiểu được Tây Thi này cũng là Tây Thi của Năm Châu mới ăn khách. Cái tựa là cả một vấn đề, và soạn giả nhà ta đã đặt tựa là “Tây Thi”… khơi khơi vậy thôi, ai muốn hiểu sao thì hiểu.
            Đến hôm đăng bảng trình diễn, các ký giả kịch trường phỏng vấn ông Bầu Long:
            – Sao lại chỉ có hai chữ “Tây Thi” thôi, còn “gái nước Việt” bỏ đi đâu?
            Bầu Long trả lời:
            – Mấy anh cứ hỏi thẳng soạn giả Yên Lang.
            – Ông là bầu gánh phải biết chớ!
            Là người Bắc di cư, ông Bầu Long dùng từ ngữ Bắc rặt:
            – Tớ chả cần biết làm gì, miễn tuồng ăn khách là tốt rồi.
            – Vậy có phải Tây Thi gái nước Việt như tuồng của Năm Châu hay là… gái nước Tàu?
            Bầu Long nói:
            – Gái nước Tàu, nước Nhựt, Miên, Lèo, Ấn Độ, Chà Và hay gái nước nào cũng được, tớ chả cần quan tâm làm chi.
            Thế là huề! Đối với Bầu Long thì báo chí có khen cũng vậy, mà chê thì cũng thế thôi!
            Như vậy tuồng “Tây Thi gái nước Việt” đã có hai người viết: Năm Châu và Yên Lang.
            Một điều cũng cần nói thêm, năm 1969 lúc Hòa Đàm Ba Lê đang diễn ra, cả hai miền Nam, Bắc đã đưa các đoàn văn nghệ sang nước Pháp làm công tác văn hóa, thu phục kiều bào. Riêng miền Nam thì trước tiên là đoàn Thanh Minh Thanh Nga như tôi đã từng trình bày với thính giả trên làn sóng phát thanh này. Kế đó thì các đoàn văn nghệ khác cũng được đưa sang, trong số có đoàn của Năm Châu, Phùng Há.
            Thời gian công tác cho đoàn văn nghệ miền Nam tại Ba Lê, hai nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há đã bí mật gặp ông Đại Sứ Mai Văn Bộ của miền Bắc. Giáo sư Trần Văn Khê dùng xe riêng đưa hai người đến gặp ông Bộ tại nhà của Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Hà. Dù là tác giả câu chuyện, nhưng ông Mai Văn Bộ vì ở trong khu kháng chiến, đã không có dịp nào được coi vở hát nói trên. Cuộc gặp gỡ này ông Bộ yêu cầu nghệ sĩ Phùng Há diễn lại một lớp trong tuồng Tây Thi gái nước Việt (Má Bảy diễn lớp Phạm Lãi gặp Tây Thi ở Cô Tô Đài).
            Vấn đề trên về sau ông Mai Văn Bộ kể lại với báo chí rằng: “Năm phút diễn xuất kỳ diệu của chị Bảy trong vai Phạm Lãi, đã giúp tôi hình dung được toàn bộ vở kịch hoành tráng và lộng lẫy Tây Thi gái nước Việt trên sân khấu của Đoàn Việt Kịch Năm Châu năm nào”. Chuyện đời kể ra cũng lạ, trong khi hằng bao khán giả thì được coi nguyên vở tuồng. Còn tác giả câu chuyện thì chỉ được xem một đoạn với thời gian năm phút ngắn ngủi. Sau 1975 vở Tây Thi được diễn trở lại, không biết ông Mai Văn Bộ có dịp đi coi không?


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-122113-nm-12202013223954.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #79 vào: 22/09/2017, 20:44:06 »
Vở tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” – Cao Văn Lầu

Được sự thỏa thuận của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang, hôm 22 tháng Mười Hai 2013 tại rạp Sài Gòn Performing, Fountain Valley, miền Nam California Hoa Kỳ. Ban tổ chức giải Phụng Hoàng và Hội Đồng Thẩm Định đã hiện diện xem tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ”, tức cuộc đời tình ái của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người sáng tác bản Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ ngày nay.



Chấm điểm theo thể thức giải Thanh Tâm
            Vở tuồng Cao Văn Lầu đã được chấm điểm theo thể thức giải Thanh Tâm ngày xưa ở trong nước, tức theo nguyên tắc khảo thí (Festival). Trước đó dù có những đề nghị việc chấm điểm nên đổi mới theo thể thức tùy tuyển như loại Oscar, hoặc như trung tâm băng nhạc Thúy Nga. Thế nhưng, ban tổ chức giải Phụng Hoàng đã quyết định giữ nguyên tắc khảo thí như thể lệ đã đề ra trước đây. Hội Đồng Thẩm Định (gồm Ban Giám Khảo và Hội Đồng Giám Sát Thi Cử) đã đi xem tuồng. Và trong vài ngày sắp tới đây ban tổ chức giải Phụng Hoàng sẽ có một phiên họp chung thẩm để quyết định vấn đề trao giải về tuồng cải lương dự thi năm nay.
            Đây là lần đầu tiên ở hải ngoại có một tuồng cải lương dự thi (tuồng mới). Người ta mong rằng sau vở tuồng này, sẽ là động lực cho các soạn giả viết thêm tuồng mới, có nghĩa tương lai sẽ có thêm nhiều tuồng khác dự tranh giải Phụng Hoàng. Có như vậy những người yêu thích cải lương sẽ được thưởng thức tuồng mới, vấn đề mà nhiều người bi quan cho rằng không thể thực hiện được, nhứt là trong giai đoạn cải lương tê liệt như hiện nay. Do đó mà những người vốn hằng quan tâm đến sự tồn vong của nghệ thuật văn hóa nước nhà đã đặt niềm tin vào Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại, tin tưởng vào giải Phụng Hoàng.
            Nhân dịp tuồng cải lương ở hải ngoại, nội dung nói về cuộc đời nhạc sĩ Sáu Lầu gởi tham dự giải Phụng Hoàng. Tôi xin trình bày cũng vấn đề tuồng cải lương dự tranh giải Thanh Tâm từng diễn ra ở thời kỳ trước 1975, mà cho đến nay không biết những ai còn nhớ đến.
            Số là giải Thanh Tâm năm đầu tiên 1958 phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga, mà việc tuyển chọn thật đơn giản: Ban tuyển chọn chỉ có năm người họp tại Bồng Lai Tửu Quán ở đường Lệ Lợi Sài Gòn. Năm người ban tuyển chọn lúc ấy là nghệ sĩ Bảy Nhiêu, Năm Châu, Phùng Há, nhà báo Trần Tấn Quốc (tức ký giả Thanh Tâm) và người thứ năm là một khán giả yêu thích cải lương, ông tên là Nguyễn Hoàng Minh, công chức Phủ Tổng Thống.
            Chỉ sau một bữa tiệc là xong, chẳng có bàn cãi gì hết, mà điều lệ có hay chưa cũng không nghe nói. Rồi kể từ 1958 ấy cho đến 1964 giải ngày một lớn mạnh. Thời gian đó giải chỉ phát cho nghệ sĩ triển vọng với số tuổi tối đa là là 21 tuổi. Thế nhưng, đến năm 1965 thì giải Thanh Tâm đẻ ra thêm giải diễn viên xuất sắc (không giới hạn hạng tuổi) và năm đầu tiên này hai nghệ sĩ Hữu Phước và Bạch Tuyết đoạt giải. Đồng thời cũng năm 1965 giải Thanh Tâm có thêm giải tuồng cải lương hay nhứt trong năm. Và kết quả vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái” của Hà Triều Hoa Phượng đoạt giải.


Một cảnh diễn của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang

Tuồng đất mẹ, tuồng hương xa
            Do năm 1965 có thêm hai giải nữa nên ban tổ chức phải làm việc nhiều hơn. Sau khi bàn thảo sôi nổi, để tìm đường lối làm việc vững chắc cho ban tổ chức mùa Giải Thanh Tâm 1965, ban thường vụ của giải đã có những quyết định mới:
            Mỗi đoàn hát có quyền gởi đến ban tuyển chọn hai tuồng dự thi (một tuồng thuộc loại đất mẹ, một tuồng thuộc loại hương xa). Trong trường hợp bất thường, một đoàn hát có thể gởi hai vở cùng một loại. Vấn đề thể thức và chi tiết gởi tuồng dự thi, ban thường vụ Giải Thanh Tâm 1965 ra thông cáo chánh thức cho các đoàn hát, và soạn giả gởi tuồng dự thi.
            Tuồng dự thi được ban chấm thi đến xem tại hí viện mà đoàn đang trình diễn, để nhận xét giá trị nghệ thuật tuồng tích và tài nghệ diễn xuất của các diễn viên. Ban chấm thi có nhiệm vụ giới thiệu đặc biệt những soạn phẩm dự thi trước công luận. Ngoài ra, hình thức giới thiệu còn được áp dụng theo phương thức quảng cáo, để tạo sự chú ý của khán giả. Phương thức giới thiệu được áp dụng một cách đồng đều cho các vở hát dự thi.
            Vở tuồng “Nỗi Buồn Con Gái” của Hà Triều Hoa Phượng trúng giải Thanh Tâm 1965. Đêm tổ chức phát giải, vở tuồng được hát trở lại, quan khách được mời nhiều mà khán giả đi coi cũng đông đảo. Vé có ba hạng: Thượng hạng 250 đồng, hạng nhứt 160 đồng, hạng ba (trên lầu ba rạp Hưng Đạo) 60 đồng, vé bán hết mấy ngày trước. Trên 100 vé mời hạng 160 đồng, ban tổ chức đã mời tất cả nhân viên ban tuyển chọn từ năm 1958 cho đến năm đó, mỗi người hai vé.
            Đó là những nghệ sĩ, soạn giả và ký giả có tên như sau: Nguyễn Thành Châu (Năm Châu). Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu), Duy Lân, nữ nghệ sĩ Phùng Há, ông Nguyễn Hoàng Minh, Anh Nguyên, Ngọc Linh, Sĩ Trung, Lê Hiền, Bạch Tùng Hương, Việt Định Phương, Hồng Sơn, Cẩm Thi, Tứ Lang, Thu An, Bạch Diệp, Viễn Châu, Nguyễn Ang Ca. Riêng Má Bảy Phùng Há lúc đó đang ở bên Pháp thì ban tổ chức không mời… về xem.
            Đêm đó phát huy chương vàng (một chiếc) cho soạn giả Hà Triều Hoa Phượng đã đoạt giải tuồng hay nhứt năm 1965 với vở tâm lý tình cảm “Nỗi Buồn Con Gái”. Phát huy chương vàng cho Bạch Tuyết (đoàn Dạ Lý Hương) và Hữu Phước (đoàn Thanh Minh Thanh Nga) đã đoạt giải diễn viên xuất sắc năm 1965. Tổ chức trình diễn vở “Nỗi Buồn Con Gái” là vở đoạt giải với sự có mặt của Bạch Tuyết và Hữu Phước. Bạch Tuyết đóng vai cũ của cô là vai cô Huyền (về sau sửa lại tên Tần). Hữu Phước đóng vai ông Độ là vai tuồng do nghệ sĩ Út Trà Ôn thủ diễn trước đây. Ngoài ra có mặt Thanh Sang và các diễn viên của đoàn Dạ Lý Hương.
            Giờ đây nếu như tuồng Cao Văn Lầu được trúng giải Phụng Hoàng năm nay, thì người ta tin chắc rằng trong ngày lễ phát giải, tuồng cũng sẽ được trình diễn trở lại và khán giả sẽ đông hơn. Hiện giờ theo tin tức nhận được thì rất nhiều người đang trông chờ kết quả. Hiện nay ở hải ngoại, miền Nam California đang là mùa thi giải Phụng Hoàng. Ngoài tuồng cải lương dự thi như tôi vừa trình bày. Các môn văn nghệ khác cũng đang được xúc tiến.
            Theo tinh thần thông báo giải Phụng Hoàng Kỳ 7 sẽ mở rộng gồm các môn: Thi ca vũ nhạc kịch, ban tổ chức đã bắt đầu nhận ghi danh từ tháng trước. Và hôm chủ nhựt vừa qua Trung Tâm Việt Ngữ Minh Đức, thuộc Đại Đạo Thanh Niên Hội Cao Đài đã gởi phiếu ghi danh tham dự cuộc tranh tài các môn, gồm múa, đàn, hát và vọng cổ. Được biết Đại Đạo Thanh Niên Hội Cao Đài là một tổ chức của Tôn Giáo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, hoạt động đã mấy chục năm nay từ trong nước ra hải ngoại. Và hình thức hoạt động tương tợ như Hướng Đạo vậy.
            Từ khi ban tổ chức giải Phụng Hoàng loan báo bắt đầu nhận ghi danh cho các môn thi nói trên, thì nghe nói một số Trung Tâm Việt Ngữ và Gia Đình Phật Tử có tổ chức văn nghệ ở các ngôi chùa thuộc vùng Orange County, đã ráo riết tập dượt để vừa trình diễn các buổi lễ, và cũng để tham dự giải Phụng Hoàng.
            Về phía ban tổ chức giải Phụng Hoàng thì sau cái ngày tuồng cải lương cuộc đời Cao Văn Lầu tham dự giải, và sau khi Hội Đồng Thẩm Định họp quyết định về vấn đề trao giải, thì sẽ khởi sự cho nhiều công việc khác, mà trong đó có việc lập danh sách mạnh thường quân.


Khu lưu niệm Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu)

Hoàn cảnh ông Sáu Lầu khi về già
            Kể từ lúc truyền thông báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình loan tin cuộc đời nhạc sĩ Cao Văn Lầu được đưa lên sân khấu, thì rất nhiều người muốn biết rõ hơn hoàn cảnh của ông Sáu Lầu khi về già ra sao? Có làm giàu nhờ bản vọng cô do mình sáng tác?
            Do vậy mà hôm nay tôi xin trình bày thêm những gì mà tôi biết về ông Sáu Lầu.
            Cách đây gần nửa thế kỷ, một sự việc mang ý nghĩa tốt đẹp đã diễn ra trong giới nghệ sĩ và nhiều thành phần liên quan đến hoạt động cải lương. Đó là việc thiết lập “Hộp Thơ Sáu Lầu” để trợ giúp người nhạc sĩ cha đẻ bản vọng cổ, mà khi về già đã phải chịu vất vả trong cuộc sống nghèo nàn túng thiếu ở Bạc Liêu.
            Số là khoảng cuối năm 1965, ký giả kịch trường Nguyễn Kiên Giang có dịp đi Bạc Liêu, ghé thăm một gánh hát đang diễn ở rạp Chung Bá, vô tình nghe tiếng kèn trống từ một nhà có đám tang. Ông rảo bước đến phía trước nhìn vào thấy một ông già đầu bạc, vóc dáng gầy gò trong bộ đồ bà ba đen đang đánh phèn la.
            Một người đi đám nói với nhà báo Kiên Giang:
            – Anh biết ai không? Ông Sáu Lầu đó, tại Bạc Liêu này đám tang nào cần có âm công đều nhờ giàn kèn của ông Sáu Lầu.
            Thật vậy, ông Sáu Lầu năm đó đã 74 tuổi mà phải đi kiếm tiền để sống trong một dàn kèn đám ma. Cái nghề đờn thổi đám ma phải có mặt cạnh quan tài từ ngày đầu tiên tẩn liệm xác chết, cho tới lúc đưa đám tới nghĩa địa mới xong phận sự.
            Sau đó thì ký giả Kiên Giang viết lên bài báo nhằm đánh động tâm tư những người nhờ bản vọng cổ mà làm giàu, có cuộc sống huy hoàng sung túc, lên xe xuống ngựa thì cũng nên “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.
            Bài báo đã có tác dụng rõ rệt, bởi chỉ vài ngày sau thì có những cuộc họp của giới cải lương. Rồi thì một “Tiểu Ban Vận Động Trợ Giúp Nhạc Sĩ Sáu Lầu” được hình thành, do nhạc sĩ Hai Khuê làm trưởng tiểu ban. Tiếp đó thì “Hộp Thơ Sáu Lầu” được thiết lập, đặt tại nhà của nhạc sĩ Hai Khuê ở đường Cao Thắng, Sài Gòn.
            Nhiều tờ báo có trang kịch trường cũng nhập cuộc, đã kêu gọi các nghệ sĩ sân khấu, các ca sĩ của hãng dĩa, đài phát thanh, các chủ gánh hát, các chủ nhà xuất bản bài ca, và mọi người có lòng hãy hưởng ứng bằng cách gởi thư an ủi, gởi tặng vật và tiền bạc để gia tăng quỹ nầy.
            Tôi không nhớ rõ “Hộp Thơ Sáu Lầu” gây quỹ được bao nhiêu (hình như mấy chục ngàn). Tiểu ban vận động đã tổ chức một buổi hát, đồng thời cử người đi Bạc Liêu rước nhạc sĩ Sáu Lầu lên Sài Gòn trao tiền. Nhạc sĩ xúc động cám ơn…


NGÀNH MAI
Tháng 12/2013


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-122813-nm-12272013144827.html