Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 15052 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #90 vào: 29/11/2017, 19:03:35 »
Vở hát Thuyền Ra Cửa Biển với văn chương… cải lương

Vào khoảng giữa năm 1961 đoàn Kim Chưởng lưu diễn miền Trung, và soạn giả Phong Anh đi theo đoàn để tập dượt cho nghệ sĩ vở hát mới vừa được Bộ Thông Tin kiểm duyệt xong, đó là tuồng “Thuyền Ra Cửa Biển” gây chấn động làng cải lương một dạo.

CD cải Lương Thuyền Ra Cửa Biển

THÔNG THƯỜNG soạn giả đi theo đoàn là do hai vấn đề: Một là thu tiền bản quyền nếu như tuồng của mình được hát, và thứ đến là tập dượt cho đào kép diễn tuồng mới. Cái công việc theo đoàn để tập luyện cho đào kép là bổn phận của thầy tuồng, tức soạn giả, coi như kiêm luôn đạo diễn, chớ bầu gánh thì chỉ cố vấn góp ý kiến mà thôi. Dù rằng tuồng được ra mắt khán giả hay không là quyền của bầu gánh, tức chủ nhân đoàn hát.
            Năm đó soạn giả Phong Anh đã hợp soạn với soạn giả Yên Trang cho ra đời vở hát “Thuyền Ra Cửa Biển”. (Nghe nói tình tiết, văn chương của tuồng là do Phong Anh, còn Yên Trang chỉ phụ thêm thôi.) Tuồng vừa tập xong thì cũng là lúc đoàn Kim Chưởng về Sài Gòn khai trương tuồng mới ra mắt khán giả Thủ Đô. Tuồng trình diễn liên tục suốt hai tuần vẫn còn đông nghẹt khán giả, người đi coi hát về hầu như ai cũng khen là “tuồng hay”. Do đó là động lực cho người chưa coi sẽ là khán giả đêm kế tiếp, và người đã đi coi rồi cũng sẵn sàng mua vé đi coi thêm lần nữa. Sự thể đã làm đầy hầu bao của bà bầu Kim Chưởng, đồng thời cũng làm nặng túi soạn giả Phong Anh và Yên Trang.
            Vậy tuồng Thuyền Ra Cửa Biển hay đến cỡ nào mà lại quá ăn khách, cũng như đặc điểm của tuồng là gì mà lại gây ấn tượng sâu sắc cho người coi? Đây là vở tuồng mà tình tiết có hơi lạ, bởi một ông hoàng đế mà khi vợ chết, ông ở vậy chờ đợi cô bé gái mới mười tuổi, chờ cô lớn lên để rước về cung điện. Thế mới lạ!
            Ông nói: “Bao nhiêu cung phi mỹ nữ, biết bao tấm ngọc thân ngà đang mong Trẫm ban ơn mưa móc, nhưng Trẫm vẫn lạnh lùng như mặt nước hồ Thu” (văn chương cải lương của Phong Anh thật là tuyệt vậy). Thuyền Ra Cửa Biển là vở hát thuộc loại dã sử Nhựt Bổn, với hình ảnh kiêu hùng của những chàng kiếm sĩ đất Phù Tang khi xưa, mà khán giả hát bóng thời bấy giờ rất thường thấy trên màn ảnh rộng, lúc phim Nhựt ào ạt nhập vào được Ban Năm Châu chuyển âm tiếng Việt.
            Thấy phim Nhựt nói tiếng Việt ăn khách, nên các soạn giả cải lương nhà ta cũng viết tuồng Nhựt có ca vọng cổ với hy vọng được khán giả sẽ trở lại coi cải lương, bởi phần lớn người coi phim Nhựt được chuyển âm là khán giả cải lương bình dân.
            Lúc ấy hầu như gánh hát lớn, nhỏ nào cũng có tranh cảnh vẽ hoa anh đào, cảnh núi Phú Sĩ, và kép hát thì đêm nào cũng đeo kiếm, cùng với bộ đi tướng đứng, chào hỏi cũng theo cung cách của tài tử Nhựt thủ vai trong phim. Còn các cô đào thì được dịp khoe chiếc Kimono thích hợp với thân hình nhỏ nhắn của các cô gái Việt trông giống như búp bê Nhựt Bổn. Dường như cô đào nào mỗi đêm hát cũng đều tay bưng ly rượu sa kê tiễn chàng ra quan ải, hoặc hội ngộ buổi tương phùng. Tóm lại là người Nhựt không cần quảng cáo đất nước và văn hóa của họ, vì đã có đào kép cải lương Việt Nam thay thế giới thiệu cho tất cả rồi.
            Riêng vở tuồng Nhựt với tên tựa Thuyền Ra Cửa Biển thì tuồng này được coi như có nhiều kịch tính, nội dung tình tiết lại éo le, gay cấn, và đặc biệt là bút pháp của soạn giả Phong Anh… rất là cải lương, đã làm phong phú thêm cho vở tuồng. Nhưng “văn chương cải lương” là gì mà nghe qua ngồ ngộ vậy? Khi xưa một ký giả kịch trường khi phê bình vở tuồng nổi tiếng nói trên, anh ta đã dùng từ ngữ “văn chương cải lương”, bởi theo anh là do trong tuồng Thuyền Ra Cửa Biển, văn phong của soạn giả Phong Anh quá mượt mà, bóng bẩy, lả lướt… nên chỉ dùng trong cải lương mà thôi, chớ đem áp dụng bên ngoài thì không thể được.
            Anh ta còn nói nếu như ai đó dùng lời văn trong vở tuồng ấy để nói với người mình đang tiếp xúc thì người ta sẽ cười cho, nói rằng bộ đang hát cải lương hay sao? Có lần một nhóm thanh thiếu niên đang tụ tập, bỗng thấy một cô gái đẹp đi ngang qua. Một cậu thốt lên: “Trời ơi! Thiên kiều bá mị, sắc nước hương trời” (câu vô vọng cổ của Út Trà Ôn trong dĩa Thuyền Ra Cửa Biển). Tức thì một cậu khác lên tiếng: “Thiên kiều bá mị là gì? Chắc nó vừa ở nhà thương điên Chợ Quán mới ra, hoặc là ở dưỡng trí viện Biên Hòa mới về”.
            Do vậy mà văn phong của Phong Anh có một thời người ta gọi là “văn chương cải lương”. Thông thường khi một vở hát ra đời mà thấy ăn khách, báo chí nói nhiều, thiên hạ bàn tán nhiều, thì hãng dĩa hát sẽ không bỏ lỡ cơ hội để làm giàu thêm. Tuồng Thuyền Ra Cửa Biển hát vài tuần thì hãng dĩa hát Hồng Hoa đã mời soạn giả Phong Anh đến ký hợp đồng để hãng này độc quyền khai thác về mặt dĩa hát.


Dĩa cải Lương Thuyền Ra Cửa Biển trước năm 1975

Vở hát Thuyền Ra Cửa Biển thu thanh dĩa hát
            Xưa nay, nếu là khán giả cải lương sân khấu, thì hầu như người nào cũng là thính giả của cải lương dĩa hát, bởi nếu không được đến rạp coi trình diễn thì nghe dĩa hát cũng… đỡ ghiền. Đó là lời của những ông bà yêu thích cải lương, mỗi trưa mở radio nghe chương trình cổ nhạc phát thanh dĩa hát.
            Người soạn giả có một vở tuồng được đưa lên sân khấu là mừng rồi, vì được lãnh tiền bản quyền sau mỗi đêm hát. Bởi có những kịch bản viết xong, kiểm duyệt rồi, lại bị bỏ nằm trong ngăn kéo từ tháng này sang năm nọ, kéo dài nhiều năm rồi quên luôn.
            Do vậy mà các soạn giả chỉ mong cho tuồng của mình được hát là tốt rồi, chứ chẳng ông nào có cái mơ mộng tuồng được thu dĩa hát hoặc lên phim. Do đó mà khi soạn giả được hãng dĩa mời thương lượng là coi như trúng số, tiền từ trên trời rơi xuống vậy!
            Khi thu thanh vở tuồng Thuyền Ra Cửa Biển thì hãng dĩa Hồng Hoa đã mời các nghệ sĩ sáng giá lúc bấy giờ, và họ phân vai trò như sau: Út Trà Ôn vai Hoàng Đế Diệp Chấn Phong, và tuy đã tứ tuần nhưng lại thích hợp với vai vua cha. Vả lại cái danh hiệu “đệ nhứt danh ca” của Cậu Mười vẫn còn chứ chưa ai thay thế.
            Út Trà Ôn lại đang là kép chánh của đoàn Thủ Đô, là mục tiêu mua vé của khán giả, chưa có nghệ sĩ nào có lương đêm cao hơn ông lúc ấy. Vai này trên sân khấu Kim Chưởng do kép Trường Xuân đóng. Và kép độc thì không ai qua được Hoàng Giang, nên vai Hoàng Hạt Tử Lang về tay ông. Còn nghệ sĩ Minh Chí cũng là danh ca dĩa hát những năm trước đó, cái tên Minh Chí rất quen thuộc với những người từng nghe dĩa hát thời thập niên 1950.
            Hãng dĩa chọn Minh Chí đóng vai Kiến Phương đã không quên khai thác giọng ca xàng xê của ông, vì Minh Chí nổi tiếng là “Vua Xàng Xê”. Và đào Thanh Hương cũng là danh ca dĩa hát, vang lừng với bài vọng cổ “Cô Bán Đèn Hoa Giấy”. Thanh Hương được hãng dĩa giao cho vai Chiêu Lan Đài, tức vai lẳng, độc của tuồng cũng là vai khá quan trọng. Giọng ca vàng của Thanh Hương vẫn được khai thác để ca vọng cổ lúc nàng hối hận.


Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan

            Đặc biệt hai vai nam nữ chánh Diệp Băng Đình và Chiêu Trúc Lệ do đôi uyên ương Thành Được, Út Bạch Lan đảm trách. Đây là cặp đào kép ăn khách nhứt thời bấy giờ, tiếng ca của cả hai còn rất trẻ. Trước đó chẳng lâu Út Bạch Lan đã nổi tiếng, còn Thành Được thì chưa, vì còn ở gánh nhỏ. Út Bạch Lan đã phải lòng Thành Được nên khi mãn hợp đồng với đoàn Kim Chưởng, bà bầu mời tái ký giao kèo. Nhưng Nàng Út ra điều kiện nếu muốn cô không rời đoàn, tiếp tục ở lại hát thì bà bầu phải cho Thành Được về đoàn.
            Thế mới thấy rằng Nàng Út đã quá nặng tình với Thành Được, và khi về hát chung với Út Bạch Lan thì hai người cùng nổi tiếng, được hãng dĩa mời đóng hai vai chánh nói trên.
            Tuồng cải lương có kép mùi, có đào thương, kép độc, có đào lẳng rồi, thì phải có hề cho đủ bộ, và Hề Minh được mời đóng vai Lục Lăng, tức là vai mà hề ta đang diễn ở đoàn Kim Chưởng. Hề Minh là hề ca nổi như cồn với bài vọng cổ hài hước “Vợ Trẻ Chồng Già” được thu dĩa hát phát hành cùng khắp. Do đó mà bộ dĩa này Hề Minh ca đến 3 câu vọng cổ, tức ca gần bằng cặp đào kép chánh.
            Thời điểm này hề Văn Hường chưa xuất hiện nên Hề Minh chiếm ngôi vương. Người ta mua vé đi coi đoàn Kim Chưởng, một phần cũng do giọng ca hài hước của Hề Minh. Chọn thành phần nghệ sĩ gạo cội như trên để thu bộ dĩa “Thuyền Ra Cửa Biển”, hãng dĩa Hồng Hoa đã có cái nhìn của nhà làm thương mại đầy kinh nghiệm.
            Do vậy mà khi bộ dĩa được tung ra thị trường đã bán chạy như tôm tưới. Đài phát thanh Sài Gòn được thính giả yêu cầu nhiều, nên đã cho phát thanh bộ dĩa “Thuyền Ra Cửa Biển” cũng nhiều lần.
            Và bây giờ mời quí vị nghe vở tuồng Thuyền Ra Cửa Biển của soạn giả Phong Anh và Yên Trang, được hãng dĩa Hồng Hoa thu thanh phát hành cuối năm 1961.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/boat-to-the-sea-05032014001641.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-05102014-05102014083203.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #91 vào: 06/12/2017, 20:07:37 »
Các hãng dĩa hát với hợp đồng thu thanh tuồng cải lương

Hãng dĩa hát là một cơ sở kinh doanh nghệ thuật, việc khai thác nhắm vào những tinh hoa trong làng cải lương, từ giọng ca nghệ sĩ cho đến tuồng tích nổi tiếng. Họ có cái nhìn của nhà thương mại làm ăn lớn, và tính toán rất kỹ càng, không để chi phối hoặc rắc rối trong công cuộc làm ăn.


THẾ NHƯNG ít ai để ý đến vấn đề do đâu mà tuồng cải lương được vô dĩa hát. Đâu phải tuồng nào cũng được thâu thanh dĩa hát, kể cả các tuồng hay, ăn khách, bởi đôi khi một vở tuồng rất hay, nhưng lại không được gia nhập làng dĩa hát. Lý do thì rất nhiều mà trong đó phải kể đến việc hãng dĩa không thích người soạn giả đó, do quá trình cư xử không đẹp chẳng hạn. Hoặc giả là lúc đó có đến vài tuồng cũng đều hay, thì dĩ nhiên hãng dĩa không thể cùng một lúc hợp đồng hai, ba tuồng, một nguồn đầu tư quá lớn, mà thị trường thì may rủi kề bên nhau. Tuồng hay mà để lâu quá, hãng dĩa cũng không còn muốn khai thác, khó ăn hơn là tuồng mới, báo chí và dư luận đang bàn tán.
            Một vấn đề nữa cũng ảnh hưởng không ít đến việc hợp đồng thu thanh dĩa hát, đó là “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Tuồng hay nhưng lại ra đời vào thời điểm khó bán dĩa, chẳng hạn như mùa mưa, người nông dân đâu có dư tiền mà mua dĩa hát. Phải từ tháng 10 Âm lịch trở đi là mùa thu hoạch lúa thì người dân nông thôn mới có tiền để mua dĩa chuẩn bị ăn Tết. Theo lời ông Năm Mạnh chủ hãng dĩa Asia tiết lộ với người thân, thì chỉ cần một vụ trúng mùa lúa ở miền Tây là ông có thể mua hai chiếc xe du lịch hiệu Simca, mà còn dư tiền xài thoải mái.
            Do các vấn đề trên mà một khi soạn giả được hãng dĩa mời thương lượng thì các thầy tuồng không để mất cơ hội, đón bắt ngay liền, chớ không thôi thì dịp may sẽ không còn. Và khi đã có cuộc gặp mặt rồi, thì hợp đồng giữa soạn giả và hãng dĩa diễn ra như thế nào?
            Đối với những người có thời gian dài tìm hiểu, họ có thể nói lên vấn đề ấy như sau: Hợp đồng giữa hãng dĩa hát và soạn giả là văn kiện hợp tác làm ăn, do hãng dĩa chủ động và đánh máy sẵn, chớ soạn giả không có ý kiến gì. Nói là “thương lượng” chớ thật ra số tiền do hãng dĩa định đoạt ghi sẵn trong hợp đồng, nếu tuồng hay thì tiền hợp đồng khá cao. Soạn giả đồng ý ký vào thì nhận tiền, bằng không thì ra về chớ không có vấn đề mặc cả, kèo nài gì hết. Tóm lại không đồng ý thì coi như đi luôn, muốn trở lại cũng không ai tiếp, mà còn ảnh hưởng đến các hợp đồng sau này. Tuy vậy chưa nghe nói soạn giả nào từ chối ký hợp đồng có sẵn đó, bởi ký vào thì được nhận liền phân nửa tiền (phân nửa còn lại được trả sau khi thu thanh xong).
            Có rất nhiều điều kiện được ghi trong hợp đồng, ngoài vấn đề chính là giá cả tiền bạc ra, còn có hai điều kiện khác mà hầu như chẳng ông bà thầy tuồng nào mà không bất mãn, đó là: hãng dĩa độc quyền khai thác và quyền tuyển chọn nghệ sĩ thu thanh, có nghĩa là diễn viên cũng có thể thay đổi chứ không phải nhứt thiết phải là người thủ vai trên sân khấu của đoàn hát đang trình diễn.
            Thứ đến là quyền sửa đổi, thêm bớt kịch bản cho thích hợp với kỹ thuật thu dĩa hát. Hai vấn đề trên bị ràng buộc thì coi như quyền hạn của soạn giả đã chẳng còn gì hết, dù rằng hãng dĩa vẫn đề tên soạn giả trong nhãn hiệu.
            Đối với hãng dĩa thì ngoài việc chọn tuồng hay, ăn khách, họ còn phải tuyển chọn nghệ sĩ tên tuổi, vì đó là hai yếu tố quyết định sự thành bại sau này. Kinh nghiệm làm ăn nhiều năm, họ đã thấy rõ vùng quê nông thôn là thị trường tiêu thụ dĩa hát mạnh mẽ nhứt. Người dân nông thôn họ rất cân nhắc trước khi bỏ tiền ra mua dĩa hát, nhưng nếu dĩa hát có nghệ sĩ mà họ quen tên như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Được, Hữu Phước chẳng hạn, thì không ngần ngại móc túi tiền ra mua ngay. Do vậy mà người ta thấy tuồng Thuyền Ra Cửa Biển, lúc ở trên sân khấu Kim Chưởng thì vai Hoàng Đế Diệp Chấn Phong do kép Trường Xuân đóng. Nhưng khi thu dĩa thì vai này hãng dĩa đã chọn Út Trà Ôn, bởi lẽ rất dễ hiểu là Trường Xuân không thể so với đệ nhứt danh ca. Khách hàng mua dĩa hát sẽ so sánh Cậu Mười và kép Trường Xuân ai ca vọng cổ hay hơn.
            Tóm lại là khi tuồng bước sang địa hạt dĩa hát thì thay đổi rất nhiều, và các nghệ sĩ “gà” của soạn giả cũng đương nhiên mất chỗ đứng trong dĩa hát. Vấn đề thứ hai là sửa đổi, cắt xén thêm bớt kịch bản thì chẳng khác gì đứa con tinh thần của thầy tuồng bị xẻ thịt vậy! Khi tuồng bước sang địa hạt dĩa hát thì không còn rườm rà với thời lượng 3 tiếng đồng hồ như trên sân khấu, mà thu gọn lại khoảng 45 phút mà thôi.
            Về vai trò thì cũng chỉ còn những vai chính yếu của tuồng, tức là những vai xét thấy không cần có mặt thì bỏ luôn, các vai trò liên hệ chỉ cần đề cập đến tên cũng đủ rồi. Với công việc này, soạn giả lại chính là người lãnh luôn phần xẻ thịt, cắt ráp bởi do hợp đồng ràng buộc để khỏi rắc rối, tranh cãi về sau.



Nghệ sĩ tên tuổi trong tuồng Thuyền Ra Cửa Biển
            Khi vở tuồng được thu thanh dĩa hát phát hành cùng khắp, thì tuồng lại càng nổi tiếng nhiều hơn, thiên hạ nghe riết rồi thuộc cả lớp lang, lời ca, đối thoại. Nghe dĩa hát Thuyền Ra Cửa Biển, thì những người từng đi coi cải lương đã thấy rõ hãng dĩa đã mời toàn diễn viên gạo cội thay thế cho một số diễn viên lúc tuồng trình diễn trên sân khấu với thành phần như sau: Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn lừng danh tên tuổi, ai ai cũng nghe tên.
            Kế đến là Thành Được và Út Bạch Lan là đôi nghệ sĩ ăn khách ở đoàn Kim Chưởng; kép độc Hoàng Giang coi như số một với vai trò phản diện thời bấy giờ, tiếng nói rang rảng của ông làm ồn cả rạp hát, bay về tận nông thôn, do tuồng được trực tiếp truyền thanh trên làn sóng của đài phát thanh Sài Gòn. Đào Thanh Hương nổi tiếng từ thời đài phát thanh Pháp Á cho tới dĩa hát Cô Bán Đèn Hoa Giấy. Còn danh ca Minh Chí thì giới mộ điệu dĩa hát vọng cổ hoặc tuồng cải lương thu thanh đâu có lạ gì tên tuổi ông trong nhãn hiệu dĩa hát Việt Nam phát hành thập niên 1950. Minh Chí ca chung với cô Năm Cần Thơ trong các bộ dĩa Anh Hùng Liệt Nữ – Phất Cờ Độc Lập, hoặc ca chung với Kim Chưởng trong bộ dĩa Máu Thấm Tần Hoàng Đảo, và dĩa Nguyễn Thái Học ca chung với Thanh Hương (vai Cô Giang).
            Dĩa tuồng Nguyệt Thu Nga trong vai Nguyên Soái Tô Điền. Và Hề Minh là hề ca chiếm ngôi vương, vượt trên tất cả hề nhờ lối ca hài hước trong bài vọng cổ “Chồng Già Vợ Trẻ” nổi tiếng khắp nước. Lúc ấy hề Văn Hường chưa xuất hiện. Tóm lại hầu hết tiếng ca thu thanh trong bộ dĩa Thuyền Ra Cửa Biển là nghệ sĩ đương thời ăn khách lúc bấy giờ, đang được khán thính giả khắp nơi ái mộ. Lời ca tiếng hát của họ hái ra bạc, đem lại nguồn lợi quá lớn cho hãng dĩa là điều có lẽ ai cũng biết, kể cả nghệ sĩ được mời thu thanh cũng biết rõ.
            Hiện nay những danh ca thu thanh bộ dĩa Thuyền Ra Cửa Biển một số lớn đã qua đời: Thanh Hương mất năm 1974 tại Sa Đéc, cô mất rồi thì gánh Thanh Hương – Hùng Minh cũng rã luôn, Hùng Minh gà trống nuôi con, anh về hát chầu cho đoàn Dạ Lý Hương. Và cách đây khoảng 10 năm Út Trà Ôn và Hoàng Giang cũng ra đi, hai ông cùng nằm trong nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp. Danh ca Minh Chí thì sau 1975 đi hát thêm vài năm thì về phụ giúp bà vợ là đào Ánh Hoa, bán cơm tấm ở dưới dạ cầu chữ Y. Cái may mắn cuối cùng của cặp đào kép Minh Chí – Ánh Hoa là đào Ánh Hoa được đạo diễn Trần Anh Hùng tuyển chọn làm tài tử đóng phim, được đi Pháp đóng vai Bà Ti trong phim Mùi Đu Đủ Xanh. Cuộc sống đỡ khổ khoảng hai năm thì Minh Chí về với Tổ nghiệp cải lương.
            Hề Minh thì anh này lãnh tiền lương đêm hát và hợp đồng không thua kép chánh, vậy mà sau năm Mậu Thân gánh hát rã gần hết, anh phải chạy xe ôm ở Thị Nghè. Nghe nói mấy bà khách đi chợ mến tài, nên đi xe không trả giá mà mỗi cuốc xe còn được cho thêm tiền. Từ sau 1975 chẳng nghe Hề Minh làm gì, ở đâu nên không biết hiện tại ra sao. Riêng cặp Út Bạch Lan, Thành Được thì còn mạnh giỏi, nhưng người nào cũng ở tuổi 80 ngoài. Thành Được định cư ở Mỹ nhiều năm nay chẳng thấy hát xướng gì, anh có nhà hàng mang bảng hiệu Thành Được ở San Jose miền Bắc California. Năm 2000 tôi lãnh nhiệm vụ điều hợp cuộc thi cổ nhạc Gò Công, tôi có mời Thành Được về miền Nam California tham gia Ban Giám Khảo.
            Còn đào thương Út Bạch Lan thì ở Việt Nam, lúc có phong trào nghệ sĩ ra hải ngoại, Út Bạch Lan cũng xuất hiện trong nhiều sô hát ở hai miền Nam Bắc California. Báo chí phỏng vấn Nàng Út rằng cô có gặp Thành Được không? Út Bạch Lan trả lời không, vì chàng đã có vợ khác, sợ bị hiểu lầm. Có lẽ Nàng Út sợ miệng đời câu nói nhân gian “vợ chồng cũ không rủ cũng tới”. Nghe nói hiện giờ Út Bạch Lan chỉ đi hát chùa (chùa thật chớ không phải nghĩa bóng đâu).
            Khoảng vài tháng sau ngày vở hát Thuyền Ra Cửa Biển ra mắt khán giả, thì tờ báo Tiếng Dội Miền Nam của ông Trần Tấn Quốc mở cuộc trưng cầu ý kiến độc giả về vở tuồng hay nhứt (không nói rõ hay nhứt năm nào). Do đó mà tất cả tuồng cải lương từng trình diễn trên sân khấu trước đó cũng đều được cho ý kiến.
            Như dự đoán của nhiều người, sau khi kiểm phiếu thì tuồng hay nhứt là “Thuyền Ra Cửa Biển”. Đứng thứ nhì là Nửa Bản Tình Ca, thứ ba là Tiếng Trống Sang Canh, và thứ tư là Con Gái Chị Hằng. Chỉ trưng cầu ý kiến thôi, chớ không có phát giải gì hết, mà nếu có phát giải thì soạn giả Phong Anh cũng không có mặt để mà lãnh giải. Báo chí đề cập rần rần mà soạn giả Phong Anh lại không lên tiếng gì hết, mà cũng chẳng thấy ông xuất hiện ở đâu cả. Phong Anh vắng mặt lý do gì, có giống như trường hợp của đào Thanh Loan không? Kỳ tới tôi sẽ nói tiếp. Và bây giờ mời quí vị thưởng thức tiếp tuồng Thuyền Ra Cửa Biển thu thanh dĩa hát đầu thập niên 1960.


NGÀNH MAI
Tháng 5/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/copy_of_disc-co-for-traditional-music-in-vietnam-05172014141436.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-053114-nm-05312014091444.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #92 vào: 13/12/2017, 22:24:08 »
Nối gót Tư Trang và Thanh Loan, soạn giả Phong Anh vào mật khu

Đầu thập niên 1960 khán giả đi coi tuồng cải lương Thuyền Ra Cửa Biển, hầu như ai cũng khen là tuồng hay. Do đó mà tờ báo Tiếng Dội Miền Nam đã mở cuộc trưng cầu ý kiến về tuồng cải lương hay nhứt, và trong lúc tờ báo Tiếng Dội Miền Nam loan báo tuồng Thuyền Ra Cửa Biển được độc giả chọn, thì người trong giới cải lương xôn xao và bắt đầu chú ý đến soạn giả Phong Anh, cũng như bạn bè thân hữu mong gặp mặt ông để chúc mừng.

Poster quảng cáo vở Thuyền ra cửa biển của Soạn giả Phong Anh

Trả tiền bản quyền cho ai?
            Trước đây Phong Anh thường ngồi tiệm cà phê ở Ngã Tư Quốc Tế phía sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Thế mà khi có tin mừng lại không thấy ông ở đây? Và người trong giới cũng như những người ái mộ cải lương đã hỏi nhau rằng, soạn giả nhà ta đi đâu mà không thấy tăm dạng? Báo chí tìm phỏng vấn hỏi han lung tung vẫn không có câu trả lời.
            Rồi thì cũng có người nói Phong Anh đi theo đoàn Kim Chưởng để thu tiền bản quyền. Nhưng khi đoàn Kim Chưởng về Thủ Đô Sài Gòn, người ta vẫn không thấy Phong Anh. Nhiều người đã hỏi bà bầu Kim Chưởng:
            – Soạn giả Phong Anh có đi theo đoàn lưu diễn?
            Bà bầu Kim Chưởng lắc đầu:
            – Không có, lần lưu diễn miền Trung này, anh ta không đi theo đoàn.
            – Vậy chớ mỗi lần hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển, cô Bảy trả tiền bản quyền cho ai?
            – Chưa thấy ai nhận tiền nên còn để đó.
            Rồi thì người trong giới lẫn bên ngoài đều nghi ngờ Phong Anh đã vào mật khu, vì trước đó Tư Trang đã đi rồi, và tiếp theo là đào Thanh Loan cũng vào chiến khu.
            Thật vậy, năm 1961 sau những lần thu tiền bản quyền vở tuồng ăn khách Thuyền Ra Cửa Biển, người ta tưởng đâu Phong Anh thừa thắng xông lên, tiếp tục cho ra đời tuồng mới. Nhưng không, năm 1962 Phong Anh vào mật khu, coi như vở tuồng đầu tiên nổi tiếng nhứt, và cũng là vở hát cuối cùng của Phong Anh. Không biết lúc vào mật khu ông có viết thêm tuồng nào nữa hay không.
            Soạn giả Phong Anh người gốc ở Mỹ Tho, và là con một trong gia đình. Người ta không biết ông khởi sự viết tuồng cải lương từ lúc nào, chỉ thấy xuất hiện ở đoàn Kim Chưởng khoảng 1960. Lúc ấy cái tên Phong Anh rất xa lạ với khán giả, với làng cải lương, tên tuổi rất ít người biết, báo chí cũng không đề cập. Thế mà đến khoảng giữa năm 1961 thì cái tên soạn giả Phong Anh vụt sáng chói, nổi tiếng cùng với tuồng Thuyền Ra Cửa Biển. Báo chí tập trung vào viết bài phê bình, do bởi tình tiết của tuồng rất hay, rất lạ, lại thêm “văn chương cải lương” mượt mà…
            Tám năm sau ngày cưới vợ thì soạn giả Phong Anh vào chiến khu, ông vào rừng để lại người vợ trẻ và hai con thơ. Có những lúc chị Phong Anh được bí mật đưa vào chiến khu thăm chồng, nhưng đến năm 1966 thì bặt tin chồng đột ngột. Chị lo lắng, đi tìm thì được báo tin chồng chị đã ra đi cùng với ba người đồng đội trong một trận dội bom B.52.
            Phong Anh mất đi, gia tài để lại không có gì, ngoài mớ bản thảo tuồng cải lương viết chưa xong, mà lúc sinh thời anh hết sức giữ gìn. Chị trở thành góa phụ khi mới ngoài ba mươi.


Soạn giả Tư Trang

Soạn giả cải lương tài ba
            Không biết khi vào mật khu, Phong Anh có ở làm việc với soạn giả Tư Trang ở “Hội Văn Nghệ Giải Phóng”? Sưu tầm về lịch sử cải lương, cùng với những nhân vật liên quan gắn liền với hoạt động nghệ thuật sân khấu, tôi ghi nhận như sau:
            Soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang là soạn giả nổi tiếng từ thời thập niên 1930, từng cho ra đời những vở hát làm say mê giới mộ điệu như: Lan và Điệp, Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt v.v…
            Lúc Đồng Khởi nổi lên, Tư Trang lặng lẽ rời khỏi làng ca kịch Sài Gòn, thoát ly vào chiến khu và làm đến chức chủ tịch “Hội Văn Nghệ Giải Phóng”. Tư Trang hoạt động ở chiến khu vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, tiếp giáp với Campuchia. Nơi khu rừng già ngút ngàn, cây cối rậm rạp, chằng chịt che khuất mặt trời, suốt ngày không ánh nắng, nên mới 5 giờ chiều mà như trời đã tối từ lâu. Một dòng suối nhánh của con sông Sa Mát, chảy ngang cánh rừng được gọi là “Suối Cây”. Người ta đã cưa khéo một cây cổ thụ cho ngã nằm vắt ngang con suối để làm chiếc cầu qua lại (có lẽ vì vậy mà địa danh này có tên Suối Cây). Hầu hết những nhà ở đây đều lợp bằng lá trung quân (loại lá đốt không cháy). Trong một mái nhà khá khang trang, hằng ngày vẫn vọng ra tiếng đờn kìm, đờn lục huyền cầm, tranh, cò cùng tiếng tập ca hát vọng cổ, bài bản, cải lương… Tư Trang thường hiện diện tại đây, và cách đó không xa cạnh dòng suối là nhà ở cũng như nơi làm việc của ông.
            Hôm đó ngày 18 tháng Giêng 1966. Nhằm ngày 27 tháng Chạp năm Ất Tỵ, tức còn vài ngày nữa Tết Nguyên Đán, mọi người nôn nao đón mừng Xuân Bính Ngọ. Trong mật khu cũng có không khí Tết với bánh mứt, trà, cà phê, sữa hộp từ ngoài thành gởi vô. Thế nhưng, khoảng 4 giờ sáng thì một trận mưa bom B.52 trút xuống vùng Suối Cây, căn cứ của Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Bom nổ cày nát cánh rừng già, cây cối bị phát quang dòm thấy trống trời.
            Đến 6 giờ tối thì nhiều người có radio mở đài VOA nghe được bản tin “Hôm nay lần đầu tiên pháo đài bay khổng lồ B.52 của không lực Hoa Kỳ đã oanh tạc dữ dội cơ quan đầu não tâm lý chiến Trung Ương Cục Miền Nam, gây thương vong và tổn thất to lớn…” Tư Trang thiệt mạng trong trận dội bom nầy, và Phong Anh theo lời bà vợ thì ông cũng chết năm 1966 do bom B.52, nhưng không biết có phải cùng một trận với Tư Trang hay không. Chứ theo sự đồn đãi trong giới soạn giả thì hai người cùng về với Tổ nghiệp trong trận mưa bom ấy. Chiến tranh đã cướp mất hai người soạn giả cải lương tài ba của sân khấu ca kịch miền Nam.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-060714-nm-06072014073305.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #93 vào: 20/12/2017, 22:41:21 »
Khi đào cải lương Út Bạch Lan đóng phim

Từ sau cái Tết Mậu Thân 1968, cho đến đầu thập niên 1970 cải lương vẫn ở trong tình trạng khủng hoảng kéo dài, chưa thấy có dấu hiệu nào hồi phục. Do đó mà đào kép và những thành phần liên hệ đến cải lương đã lâm vào cảnh khốn đốn, nợ nần chồng chất, ai cũng than vắn thở dài. Những người xưa nay chỉ trông cậy vào bộ môn nghệ thuật này làm sự sống, hầu hết đã không còn tin tưởng vào nghề nghiệp của mình nữa, mà mạnh ai nấy tìm sinh lộ.

Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan trong “Nửa Đời Hương Phấn”

Mạnh ai nấy tìm sinh lộ
            Trong khi cải lương sống dở chết dở, gần như tê liệt, thì bên phía điện ảnh lại khởi sắc, lên như diều, người làm phim rất dễ kiếm ăn, và thời kỳ này một số ít đào kép cải lương tên tuổi đã có cái may mắn hơn đại đa số đồng nghiệp. Họ được các hãng phim mời mọc, chào đón, để rồi một bước trở thành minh tinh màn bạc như Thanh Nga, Hùng Cường, Thanh Tú, Mộng Tuyền…
            Do vậy mà thay vì mất chỗ đứng trong nghệ thuật, các đào kép này lại lên hương thấy rõ mà tiền thù lao cũng cao. Làm tài tử xi nê vừa có tiền, lại vừa được tiếng, và cô đào thương Út Bạch Lan là một trong số đào kép cải lương được mời đóng phim. Có điều là nàng Út chuyển nghề có hơi muộn, cô chậm chơn hơn các đào kép nhỏ tuổi hơn mình, thành thử ra không kiếm được nhiều tiền như các nghệ sĩ thuộc lớp đàn em.
            Từ cuối 1969 thì Thanh Nga đã có mặt trong phim “Loan Mắt Nhung”, đảm nhận vai tài tử chánh đóng cặp với Huỳnh Thanh Trà. Tiếp liền sau đó lại đóng phim “Mãnh Lực Đồng Tiền” với số tiền thù lao gấp đôi phim trước.
            Thấy cuốn phim do đào Thanh Nga đóng dễ ăn quá, những người am tường về điện ảnh căn cứ vào con số khán giả đi coi đã cho rằng phim Loan Mắt Nhung lời tối thiểu cũng mười triệu. Do đó đã thúc đẩy ông Quốc Phong hợp tác với Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh, lấy tên Liên Ảnh Công Ty, quay cuốn phim mà tài tử chánh là kép hát cải lương tên tuổi. Lúc ấy các tài tử điện ảnh chuyên nghiệp nghe vậy đã nằm chờ để “làm giá” như đã từng làm. Thế nhưng, Liên Ảnh đã phớt lờ đi, đã giáng cho các tài tử chuyên nghiệp một đòn đau điếng, bằng cách chọn kép cải lương Hùng Cường làm tài tử chánh đóng cặp với Kim Vui trong cuốn phim “Chân Trời Tím” và phim này cũng hốt bạc.
            Đến năm 1971 thì kép Thanh Tú cũng nối gót Hùng Cường đánh bại các tài tử chiếu bóng chuyên nghiệp, để đóng cặp với người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng ở cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”. Thời gian trước đó đạo diễn Bùi Sơn Duân đã mở cánh cửa điện ảnh cho đào kép cải lương bước vào, và Thanh Tú là anh kép được chọn đóng vai chánh cuốn phim “Ba Cô Gái Suối Châu”, phim thuộc loại tâm lý chiến của Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh, chớ không phải phim thương mại.
            Và rồi thì cô đào trẻ đẹp Mộng Tuyền cũng bước sang điện ảnh với cuốn phim “Gánh Hàng Hoa”, trước sự thèm thuồng của bao nhiêu đồng nghiệp đã không được các hãng phim ngó tới. Rất tiếc là cuốn phim Gánh Hàng Hoa khi tham dự Đại Hội Điện Ảnh đã bị loại, không cho tham dự giải. Lý do phim nhờ kỹ thuật ngoại quốc, mà điều lệ phải là kỹ thuật nội địa.


Nghệ sĩ Út Bạch Lan và Nghệ sĩ Thành Được
 trong vở Nửa Đời Hương Phấn, năm 1959

Không sống chết với cải lương nữa
            Riêng đào thương Út Bạch Lan thì nhận thấy các đào kép thuộc lớp đàn em nhảy sang đóng phim, ai cũng khá, cũng lên hương, nên không còn bảo thủ “sống chết với cải lương” nữa, và bước qua điện ảnh. Dù rằng lúc đó đào ta đã ở tuổi 37, già hơn nhiều so với các cô đào trẻ đẹp đang tung hoành trên sàn quay.
            Đầu năm 1972 thì Nàng Út mới bắt đầu nhảy vào địa hạt phim ảnh, coi như chậm chơn hơn các nghệ sĩ trẻ tuổi hơn mình đến những hai năm, thành thử ra kiếm chẳng được bao nhiêu tiền, lại còn thêm xui xẻo: Suýt chết cháy trong lúc quay cuốn phim “Ba Hận Thù”. Kể ra thì đào Út Bạch Lan khá lận đận trong nghiệp cầm ca, mà bước qua lãnh vực phim ảnh cũng gặp chuyện không may ngay trong cuốn phim đầu tiên.
            Lúc ấy người ta nói rằng Tổ nghiệp cải lương đã đãi ngộ Nàng Út suốt gần hai thập niên, danh vọng cao đến đỉnh, được thiên hạ người đời mệnh danh đệ nhứt đào thương, mà tiền bạc kiếm được nhờ cải lương cũng quá nhiều. Tóm lại tên tuổi của Út Bạch Lan đã gắn liền với nghệ thuật cải lương, ngay trong vở hát Thuyền Ra Cửa Biển nàng cũng nhận vai chánh, tiền thù lao còn cao hơn Út Trà Ôn.
            Rồi giờ đây cải lương bị khủng hoảng, thì phải làm sao đó để cứu vãn, chớ sao lại chạy sang lãnh vực khác. Có lẽ do vậy mà Tổ nghiệp cải lương linh thiêng đã không cho, mới khiến cho Nàng Út bị tai nạn ngay trong cuốn phim đầu tiên.
            Nghe sao tôi ghi vậy, chớ vấn đề thuộc về vô vi thì làm sao biết được.


Dĩa hát Nửa Đời Hương Phấn

Bản ca Phụng Hoàng trong vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”
            Vở hát tâm lý tình cảm xã hội “Nửa Đời Hương Phấn” của hai soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng đưa lên sân khấu Thanh Minh năm 1960 đã gây chấn động giới mộ điệu lúc bấy giờ (thời điểm này đoàn Thanh Minh chưa có chữ Thanh Nga trên bảng hiệu).
            Đây là vở hát thuộc loại tuồng xã hội hiện đại, mà nhân vật chánh là một cô gái giang hồ, đó là điều mà xưa nay chưa có một soạn giả nào dàn dựng kịch bản như thế. Hà Triều-Hoa Phượng đã dựng lên cô gái giang hồ lại có được một nghĩa cử đáng khen, với lòng hy sinh cao đẹp. Cũng như sự thiệt thòi, chịu đựng khổ đau của cô đã làm khán giả bùi ngùi xúc động đến rơi lệ.
            Tuồng trình diễn liên tục tại rạp Nguyễn Văn Hảo suốt cả tháng vẫn còn đông đảo khán giả, do đó tiếng đồn sâu rộng trong thiên hạ, nên đoàn Thanh Minh đi lưu diễn đến nơi nào cũng thành công lớn với vở tuồng này.
            Thêm vào đó hãng dĩa hát Hồng Hoa cũng thu thanh phát hành bộ dĩa “Nửa Đời Hương Phấn” phổ biến cùng khắp, do vậy mà tuồng đã nổi tiếng lại càng nổi tiếng hơn. Rồi từ đó về sau thỉnh thoảng lại được tái diễn và cũng đông đảo người đi coi, người ta ước tính vở hát ấy đã có trên cả trăm lần trình diễn. Đào thương Út Bạch Lan (vai Hương), kép Thành Được (vai Tùng), đào Ngọc Nuôi (vai Diệu).
            Câu chuyện được tóm tắt như sau: Cô The từ vùng thôn dã ra chốn thị thành phồn hoa đô hội, rồi đổi tên là Hương. Cô có nhan sắc dễ nhìn khiến cho bao nhiêu khách tìm hoa mến mộ chạy theo săn đón, trong số ấy có chàng trai tên Tùng đã yêu cô tha thiết, và mong mỏi được cưới cô làm vợ. Hương cũng mềm lòng trước anh chàng trai ấy, vốn chưa biết cô là gái giang hồ.
            Trong khi cả hai ước hẹn thì người anh của Tùng tên là Cang, biết được quá khứ của Hương và vì lý do danh giá gia đình, Cang đã can thiệp vào chia cách hai người. Tuy lòng đau khổ phải xa người yêu, Hương cũng chấp nhận yêu cầu của Cang. Rồi cô dứt tình với Tùng bằng cách giả bộ phản bội phụ rẫy chàng ta.
            Để trả thù người yêu phụ bạc, Tùng đi cưới vợ, nhưng trớ trêu thay, cô Diệu vợ Tùng lại là em ruột của Hương. Diệu đâu có biết trước đó Tùng và chị mình đã từng yêu nhau.
            Sau ngày cưới, Hương về thăm em thì mới vở lẽ ra sự việc. Nỗi ngang trái, đoạn trường này được diễn ta bằng bản ca Phụng Hoàng, một bài ca mà khi xưa lẫn bây giờ hầu như nhóm đờn ca tài tử nào cũng có người thuộc lòng.
            Cái điều đáng nói ở đây là bản ca Phụng Hoàng coi như bất hủ, được soạn giả đưa vào kịch bản đúng lúc, đúng chỗ, với ba nhân vật chính là Tùng, và hai chị em cô Hương, cô Diệu, mà tình tiết câu chuyện thật éo le, gay cấn.
            Riêng ở hải ngoại trong các buổi đờn ca tài tử họp mặt tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, đã có giai nhân tài tử: Thanh Nương, Hồng Châu và một nam tài tử đã nối tiếp nhau trình bày 12 câu Phụng Hoàng nói trên. Có nghĩa là cả ba đều đã thuộc lòng mới liên ca được, mà không vấp váp, bỡ ngỡ.
            Chúng tôi đăng trọn bản ca Phụng Hoàng “Nửa Đời Hương Phấn”, mong rằng tương lai sẽ có thêm giai nhân tài tử học thuộc lòng đưa vào sinh hoạt.

                        Bản Phụng Hoàng – 12 câu
Hương:
      Dù em có thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng về với em…
      Để mừng ngày em xuất giá, cho đẹp lòng ba với má.
      Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
      Còn dượng ba đây, là một thanh niên có học thức lại đàng hoàng.
      Chị vô cùng sung sướng, thấy em có một người chồng đúng như lòng chị ước mong.


Tùng:
      Chị hai ôi, chị nói chi câu đó cho thêm đau lòng,
      Ai kia cũng đau khổ muôn phần.
      Nào có phải tại ai đan tâm phụ bạc,
      Phải chăng số trời biết nói sao đây.


Diệu:
      Anh nói chuyện ai mà em không rõ được,
      Vậy anh hãy nói rõ ngọn ngành,
      Kẻo mà em đây thắc mắc vô cùng.


Hương:
      Nếu thương người thì xin đừng có nói ra,
      Mà tội nghiệp cho em của người ta,
      Thà chịu khổ riêng mình, chớ đừng để sầu cho em.


Tùng:
      Ôi đau đớn thay khi gọi em mà gọi chẳng nên lời,
      Diệu ơi em hãy nghe đây là sự thật,
      Sự thật chị Hai đây là…


Hương:
      Chị đây là chị ruột của em.

            Kỳ tới tôi sẽ nói tiếp rõ hơn chuyện Út Bạch Lan bị tai nạn trong lúc đóng phim.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0614-nm-06122014161131.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #94 vào: 03/01/2018, 18:41:15 »
Tổ nghiệp cải lương có phản đối?

Kỳ trước tôi có đề cập đến việc đào kép cải lương nhảy sang lãnh vực điện ảnh và đã được trọng dụng. Theo chân các nghệ sĩ trẻ thuộc lớp đàn em của mình, đào thương Út Bạch Lan cũng ký hợp đồng đóng cuốn phim thuộc loại kiếm hiệp và Nàng Út đã bị tai nạn ngay trong cuốn phim đầu tiền này và nghỉ luôn. Tổ nghiệp cải lương đã không cho chăng?

Nghệ sĩ Út Bạch Lan

Tận dụng hết khả năng để diễn xuất
            Số là Út Bạch Lan cùng nhiều tài tử khác cộng tác với hãng Mỹ Ảnh, để hợp với các tài tử Đại Hàn và Trung Hoa Quốc Gia thực hiện loại phim kiếm hiệp tại Việt Nam. Cuốn phim kiếm hiệp có mặt Út Bạch Lan đóng có tên là “Ba Hận Thù”, truyện của Đài Loan khởi quay 1971 tại vùng Phú Lâm, Lái Thiêu. Đến khi cùng toán điện ảnh Mỹ Ảnh lên quay ở núi Bửu Long, Biên Hòa thì cô gặp tai nạn.
            Phim “Ba Hận Thù” thuộc loại kiếm hiệp, lẽ đương nhiên cuốn phim này có nhiều màn đánh võ, đánh kiếm, đập phá đốt cháy và bay nhảy hoạt động không ngừng. Đào Út Bạch Lan được đóng một vai khá quan trọng trong cuốn phim. Theo truyện phim thì Út Bạch Lan phải đánh cùng nhân vật khác do tài tử Ngọc Đức đóng. Sau đó Út Bạch Lan chạy vào một ngôi nhà ở chóp núi ẩn trốn, và Ngọc Đức chạy lên phóng hỏa đốt căn nhà này để thiêu chết Út Bạch Lan.
            Khi đóng pha đánh nhau và đốt nhà này, Út Bạch Lan và Ngọc Đức đã cố hết sức mình để đánh theo sự chỉ dạy của võ sư hãng phim và đạo diễn Trung Hoa xem ra rất được. Nhất là đào Út Bạch Lan vừa biết phối hợp điệu bộ đánh kiếm trên sân khấu cải lương, nên múa may điệu bộ có phần trội hơn anh chàng hắc đạo Ngọc Đức. Sau một hồi đánh kiếm nàng Út dậm chơn, rồi chuyên viên kéo dây phi thân cái vút qua đầu Ngọc Đức rồi chạy đi lên đỉnh núi. Ngọc Đức cũng rán ưỡn cái bụng ra cho chuyên viên kéo anh lên để đuổi theo Út Bạch Lan. Khi đó Út Bạch Lan chạy vào căn nhà bằng rơm được chuyên viên dựng sẵn để trốn, Ngọc Đức chạy tới phóng hỏa đốt căn nhà cháy bừng bừng.
            Chuyên viên quay phim mở máy thu hình cảnh cháy nhà rồi quay hình ảnh nhào lăn bị lửa cháy của Út Bạch Lan. Đóng chỗ này đào Út Bạch Lan tận dụng hết khả năng để diễn xuất y như thật, cô đứng sát bên ngọn lửa cháy làm trò để khỏi sợ mấy anh Ba… Chợ Lớn chê tài tử Việt đóng phim nhút nhác.
            Dĩ nhiên lúc đóng phim Út Bạch Lan phải làm sao để chuyên viên quay được hình ảnh cô bị lửa cháy bao quanh rồi gục xuống mà thôi. Khi máy ghi được những hình ảnh độc đáo này rồi thì Út Bạch Lan phải chạy vòng ra phía sau, tức phía trên gió để tránh lửa. Thế nhưng, ngay lúc ấy ngọn gió lại đổi hướng, ngọn gió quái ác quay lại tấn công nàng. Ngọn lửa cháy bừng lên nóc nhà và rớt vào cổ của cô, khiến tay và cổ bị phỏng nặng, rất may là bựng rơm khác không rớt thêm nữa.
            Toán chuyên viên bên ngoài thấy Út Bạch Lan bị tai nạn không ai dám chạy vào cứu giúp. Lúc đó có mặt một tài tử Đại Hàn có võ cao nhảy vào vòng lửa đỏ bồng Út Bạch Lan chạy ra. Sau tai nạn, đào Út Bạch Lan được băng bó và cô tạm nghỉ đóng phim, và chẳng biết có tiếp tục hay không, mà dân ghiền xi nê không nghe thấy phim có nàng Út đóng nói trên xuất hiện trên màn bạc. Cũng theo một số người thì phim có sự cộng tác của Đại Hàn, của Đài Loan, có thể phim được mang về bên đó chiếu.


Nghệ sĩ Út Bạch Lan

Phong trào phim ảnh đi xuống?
            Về phần Út Bạch Lan thì không biết có phải ớn quá, hay là lý do nào khác mà sau đó ngưng luôn việc đóng phim. Phần khác thì do bởi phong trào phim ảnh đã bắt đầu xẹp xuống, nhiều cuốn phim quay xong phải để nằm một xó. Năm đó hầu hết các rạp chiếu bóng và rạp cải lương đã bị các Chú Ba ở Chợ Lớn mua hoặc thuê hết để chiếu phim Tàu. Điện ảnh Việt Nam cũng chết như cải lương!
            Còn Ngọc Đức thì sau vai trò hắc đạo, người ta không thấy anh đóng phim nào nữa. Năm 1985 Ngọc Đức đi định cư ở Pháp, đến năm 1990 thì khăn gói về nước. Báo chí phỏng vấn anh nói rằng 5 năm ở Pháp là giai đoạn “khủng hoảng” đối với anh, những tưởng sang Pháp sum hợp gia đình, nào ngờ gia đình anh sớm tan vỡ.
            Kể từ đó Ngọc Đức đi đi về về nhiều lần. Và rồi một người phụ nữ đã đến đúng lúc giúp anh vượt qua cơn sóng gió, tìm lại sự bình yên trong tâm hồn. Không biết hiện tại Ngọc Đức ra sao, nếu còn mạnh giỏi thì đang ở Pháp hay ở Việt Nam?
            Khoảng 10 năm trước đây Út Bạch Lan có ra hải ngoại tham gia các buổi hát do bầu sô tổ chức, nhưng lâu nay thì không thấy Nàng Út xuất hiện ở hải ngoại nữa.


NGÀNH MAI
Tháng 6/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-06212014-nm-06202014150809.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #95 vào: 10/01/2018, 23:16:09 »
Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa

Thời phong kiến quân chủ ngành hát bội được trình diễn trong phạm vi nhỏ hẹp của quần thần, vua chúa. Vì vậy sân khấu hát bội lúc bấy giờ chỉ có những người trong triều đình, quan lại hay hoàng thân quốc thích mới được thưởng thức. Nói rõ hơn hát bội khi xưa chỉ dành riêng cho kẻ quí tộc trên dùng làm thú tiêu khiển mà thôi.


Hát bội
            Hát bội cũng có nghĩa chỉ các y trang, phục sức của con hát lẫn người xem thời bấy giờ (khi xưa người ta gọi nghệ sĩ đào kép là con hát). Những người coi hát, nếu là quan văn, thì y phục của triều đình tượng trưng nơi thắt lưng, ấy là mang đai ngọc hay là “Ngọc Bội”, nếu là quan võ thì nơi hông có mang thanh kiếm hay thanh gươm, tức “Bội Đao”.
            Ngoài ra, các phi tần, cung nữ mang vàng xuyến, ngọc trai để trang sức và các trang sức ấy được gọi là “Bội Hoàn”. Những con hát khi diễn tuồng, cũng mang bao nhiêu thứ y trang như các văn võ phi tần vậy, nên người thời xưa gọi đấy là Hát Bội. Về sau, mãi sau nầy bộ môn hát bội được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, và lối hát ấy được mang ra để làm thú tiêu khiển trong những khi nhàn rỗi và được nâng lên, với tánh cách trọng đại là làm vui cho thần thánh sau cuộc cúng tế ở đình làng.
            Bắt đầu từ đó có lẽ môn hát bội được cải thiện nhiều hơn, và mãi đến đời nhà Nguyễn môn hát này tuy cũng còn mang lốt “độc quyền” cho riêng các ông chúa, quan lại, nhưng giới bình dân giờ đây vẫn được thưởng thức. Và có khi còn học hỏi lối diễn xuất trên để làm thú tiêu khiển ở bất cứ lúc nào rỗi rảnh. Và “Hát Bội” có lẽ từ đó đã mang dấu hiệu “thoái trào” là chẳng riêng gì cho kẻ có mang Bội Hoàn, Ngọc Bội, Bội Đao xem thưởng thức, mà người dân thường vẫn hỉ hả vỗ tay tán thưởng mỗi khi xem hát như… ai vậy.
            Và tiếp đây tôi xin nói về lệ thưởng đánh trống chầu, quăng quạt giấy. Hát bội thời xưa có thông lệ thưởng bằng cách đánh trống chầu, và người cầm chầu thường là viên chức trong Ban Hội Tề của làng xã, được coi như đại diện khán giả buổi hát đó. Lớp tuồng nào hát hay, diễn đúng là đánh trống, có nhiều khi trống được đánh liên tục, khiến cho diễn viên lên tinh thần, lại càng hát hay hơn.
            Về phía khán giả thưởng tiền cho đào kép đang hát bằng cách kẹp tiền vào chiếc quạt giấy liệng lên sân khấu. Diễn viên khi hết lớp tuồng thì lượm tiền, cám ơn xong mới đi vô. Vào thời xa xưa ấy đâu có điện thì làm gì có quạt máy, thành ra quạt giấy rất cần thiết và trước rạp hát nào cũng có bán nhiều quạt giấy. Những năm hát bội còn thịnh hành thì đào kép đêm hát ngày tập tuồng, dù rằng họ thuộc lòng từng chữ từng câu, từ điệu bộ cho đến đối thoại họ rành như ăn cơm bữa vậy. Thế mà họ lại siêng tập tuồng, họ tập những lớp diễn mà thường hay được thưởng trống chầu và cây quạt giấy kẹp tiền liệng lên sân khấu. Đây là hai hình thức khen thưởng thực tế về tinh thần lẫn vật chất đã có từ lâu đời mà các đào kép hát bội rất hoan nghinh.


Một đoàn hát bội năm xưa

Ông Bầu Cung
            Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh (Ông Bầu Cung là một trong những người đứng ra xin giấy phép thành lập Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu và là hội trưởng đầu tiên năm 1948). Vào thời ấy hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng Hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An. Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.
            Theo lời ông bầu gánh Trần Khiêm Cung thì lớp tuồng thường hay được vị cầm chầu đánh trống khen tặng, cũng như quạt giấy được quăng lên nhiều nhứt là lớp Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân trong tuồng San Hậu. Trong tuồng có lớp linh hồn Khương Linh Tá đưa Đổng Kim Lân qua núi. Kim Lân và Linh Tá phò trợ Hoàng Tử Tề Bang đi lánh nạn. Bọn soán ngôi là anh em Tạ Ôn Đình, Lôi Nhược đuổi theo tìm bắt. Khương Linh Tá chặn đường giặc, Kim Lân ôm hoàng tử thoát thân.
            Lớp diễn mà khán giả hồi hộp, tán thưởng nhiều nhứt, cũng như trống chầu đánh liên tục, quạt giấy quăng lên sân khấu không ngớt là lúc Tạ Ôn Đình chém Khương Linh Tá rụng đầu, nhưng khi chúng nhìn thấy Linh Tá mò mẫm tìm kiếm chiếc đầu rơi chụp gắn vào cổ, chúng sợ quá lui binh không dám đuổi theo Đổng Kim Lân. Hồn nghĩa sĩ Khương Linh Tá thương bạn Kim Lân, bèn hóa thành ngọn đèn hồng, đưa đường Kim Lân và hoàng tử qua núi trước khi trời rạng sáng. Đây là một trong những nét đặc trưng của sân khấu hát bội, đã đem lại sức suy tưởng phong phú đầy thú vị cho khán giả.
            Và đây cũng câu chuyện quạt giấy được quăng lên sân khấu.
            Khoảng đầu thập niên 1970 đoàn hát bội của ông bầu Ba Luông hát tại Lăng Ông Thủy Tướng, thuộc xã Thắng Nhì (Vũng Tàu), và do hát cúng không bán vé, bà con đi coi đông đảo. Đêm ấy đoàn trình diễn vở tuồng “Triệu Hường Lan Đả Hổ”, có lớp bà mẹ chồng cùng nàng dâu đi xin ăn, sau đó bà mẹ chồng chết dọc đường bỏ lại nàng dâu bơ vơ.
            Trong vai mẹ chồng do đào mụ là bà Tám Ngàn thủ diễn, bà hát mấy câu Nam, bi ai thảm thiết làm khán giả xúc động, họ ném tiền lên ào ạt thưởng cho bà. Thế nhưng, bà Tám Ngàn chưa kịp lấy tiền, mới vừa hát dứt câu Nam chót, thì bà trợn mắt rồi… nín thở luôn.
            Cô đào đóng vai nàng dâu kinh hoàng kêu thét lên:
            – Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?
            Khán giả đâu có biết tưởng lớp tuồng là như vậy, hay quá, nên cứ tiếp tục quăng quạt lên thưởng, cho tới khi cô đào la lên bài hãi:
            – Ông bầu ơi, bà Tám chết rồi nè! Mọi người giựt mình trở về thực tại, bàng hoàng trước cái chết thật của một nữ nghệ sĩ già, lẽ ra chỉ làm bộ chết mà thôi.

Ban Vân Hạc
            Và giờ đây tôi xin nói về hát bội Ban Vân Hạc của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975. Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những xuất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn” với các nữ nghệ sĩ Huỳnh Hoa, Ba Út, Sáu Hương, và các nam nghệ sĩ Hữu Thoại, Tám Mẹo, Ba Đính.
            Đó là những xuất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách. Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc cui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi lại chương trình hát bội. Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng, là gánh hát bội đóng trụ hát thường trực ở Đình Cầu Quan, ở gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.
            Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chánh đến phụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trực của Ban Vân Hạc.
            Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được chữ Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của Ban Vân Hạc suốt thời gian dài, đó là các nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, năng động, yêu nghề có duyên với sân khấu nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.
            Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn… tức là ngồi một chỗ chứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không có áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phục và đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.
            Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn, có lúc mỗi tuần có đến hai, ba suất hát đài vẫn không ế. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Đường, Tiết Đinh San chinh Tây, Phàn Lê Huê, La Thông tảo Bắc, Phản Đường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm, Tiền Tống, Hậu Tống…


NGÀNH MAI
Tháng 6/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/soht-vn-old-opera-06292014071247.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #96 vào: 17/01/2018, 22:10:55 »
Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định

Từ trước năm 1930 ở miền Nam nước Việt chỉ có hát bội là nghệ thuật sân khấu duy nhứt để cung ứng cho nhu cầu giải trí của các tầng lớp dân chúng. Hát bội dùng vào các lễ cúng Kỳ Yên cho đình thần mỗi làng, cho các tiệc tùng đăng quan tiến chức, ngay cả các cuộc cầu siêu lớn tại chùa chiềng.

Hát Bội ở Miền Nam là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam

HÁT BỘI là nghệ thuật do phong kiến đẻ ra bởi giai cấp quan lại, cựu trào cho nên nội dung nó cũng phải phục vụ cho phong kiến là lẽ dĩ nhiên. Đức Tả Quân Lê văn Duyệt không thích gì hơn là hát bội và đá gà. Cụ Bùi Hữu Nghĩa lúc bị đày đi làm đốc quân trấn vùng biên giới Việt Miên cũng không giải trí bằng gì hơn là hát bội. Từ Đức Tả Quân cho đến cụ Bùi Hữu Nghĩa đều biết soạn tuồng. Soạn tuồng cho lính hát cho dân xem. Dân thấy quan quân thích hát bội nên cũng tập tành dựng lên những đoàn hát bội đi hát đó đây. Quan trên khích lệ, thì bộ môn nghệ thuật ấy sống dễ dàng. Hát bội được phổ biến sâu rộng trong dân chúng một thời là vì vậy.
            Theo một tài liệu trong lịch sử, hát bội có từ thời vua Lê Ngọa Triều, tính đến nay khoảng gần 1.000 năm. Đầu tiên có một phường chèo người Tống tên Lâm Thủ Tiên sang nước ta vào hầu vua Lê, dạy cung nữ hát tuồng. Đến đời Nhà Trần, Đức Hưng Đạo Vương thắng quân Nguyên bắt được Lý Nguyên Cát, một nghệ sĩ trứ danh về lối hát cổ.
            Lý Nguyên Cát được lưu lại làm thầy tuồng, dạy con quan và dân hát. Đến đời Trần Dụ Tôn ngài tỏ ra ham thích môn hát bội, bắt các vương hầu thi nhau soạn tuồng. Những tuồng hay ngoài việc được đưa ra trình diễn ở hội đình, người viết còn được ban thưởng.
            Về hát bội có câu: “Có chồng say như trong chay ngoài bội. Ngó vô nhà như hội Tầm Dương”. Dư luận cũng tỏ ra khắt khe với nghề hát nên có câu: “Trồng trầu trồng lộn dây tiêu. Con theo hát bội mẹ liều con hư”. Cũng vì thành kiến xướng ca vô loại trên mà Đào Duy Từ, thời Lê Trịnh truất đi khi ông ra Bắc thi đậu thủ khoa. Lấy cớ ông là con nhà hát bội.
            Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ điển có tánh cách văn chương, mỗi giọng hát được soạn ra theo một thể văn, hoặc lục bát, hoặc song thất lục bát, hoặc tứ tuyệt, cho đến lối nói thường cũng phải đối và vần. Nghệ sĩ khi ra sân khấu vừa chú ý đến điệu bộ diễn xuất, lại vừa chú ý đến câu hát cho đúng với bổn tuồng. Lỡ sai một chữ hoặc sơ xuất trong cử chỉ nào đó, gặp phải người cầm chầu sành sỏi, họ sẽ đánh trống để hỏi cho ra lẽ. Diễn viên hát bội vì thế đòi hỏi nhiều công phu trong lúc tập luyện. Từ lối đi đứng, lối cầm một cây roi ngựa cho đến giọng hát, nhất cử nhất động đều phải phù hợp. Ngày xưa, các diễn viên vào nghề phải gia công học tập ít ra cũng vài ba năm mới mong thành thục được.
            Nói tới hát bội thì người ta nghĩ ngay đến các cốt truyện trong truyện Tàu, và khán giả bộ môn nghệ thuật cổ truyền này đã quá quen thuộc với các nhân vật. Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Chung Vô Diệm, Điêu Thuyền, Tiết Ứng Luông, La Thông v.v… Nhưng cũng có soạn giả đã đưa nhân vật lịch sử Việt Nam lên sân khấu hát bội: Soạn giả Đinh Bằng Phi với vở tuồng Phạm Ngũ Lão tùng chinh. Soạn giả Thành Tôn và Hồ Văn Lang với vở tuồng Nguyễn Huệ bình Thăng Long. Đây là một sự cải tiến mạnh mẽ và hợp lý hợp thời của sân khấu cổ mà ai nấy đều phải hoan nghinh. Vào năm 1962 vở hát bội Nguyễn Huệ bình Thăng Long được trình diễn cúng Kỳ Yên tại Đình Nam Chơn, Đa Kao, khán giả đi coi chật đình, và khen ngợi từng diễn viên như sau:
            Trước tiên là kép Thành Tôn và cô đào Ba Út thật xuất sắc trong vai vợ chồng tướng Ngô Văn Sở. Vì Thành Tôn là một trong hai soạn giả của tuồng nầy nên thuộc rành lớp lang và lột tả một cách rất điệu nghệ vai Ngô Văn Sở. Còn cô Ba Út chỉ diễn tuồng nầy đâu có một vài lần, mà cũng làm tròn vai một cách đáng khen. Đến kép Mười Sự từng vang danh với những vai tướng trung như Quan Công, thì hôm đó diễn vai anh hùng Nguyễn Huệ nghiêm chỉnh và sắc bén vô cùng. Còn cô Năm Đồ làm say sưa khán giả với vai Ngọc Hân Công Chúa, trong lớp anh hùng ngộ thuyền quyên, ai ai cũng tán thưởng. Quạt giấy bay lên sân khấu như bướm luyện vườn Xuân. Hội Khuyến Lệ Cổ Ca hân hoan khi thấy vở hát thành công ngoài sức tưởng tượng, càng thấy sự lo lắng duy trì nền cổ kịch phải được xúc tiến mạnh mẽ hơn.
            Tuy khán giả đông đảo và khen đáo để, mà không biết tại sao hát bội ngày càng tàn lụn!


Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi

Hát Bội Bình Định
            Khi xưa ở trong Nam có hát bội Nam Phần, với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Đinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc. Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Định”, đã một thời được khán giả mến chuộng.
            Nhắc đến Bình Định mà quên nói đến hát bội thực là một thiếu sót to lớn. Nếu miền Nam nổi tiếng với môn cải lương, miền Bắc với chèo cổ, thì Bình Định có hát bội góp mặt. Hát bội Bình Định nổi tiếng nhờ hai yếu tố: Tuồng tích giá trị và diễn viên điêu luyện. Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Đồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Định cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng… Thế nhưng, thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Định cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.
            Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một, mà cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972 Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, đã tổ chức ba đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và miền Trung”. Đêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Định, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Đêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Miền Nam, và đêm thứ ba Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần”.
            Khán giả trong lúc xem một số người nói hát bội Bình Định rất dễ nghe, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội Nam Phần. Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam-Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Định là Long Trọng – Thu An (đào hát bội Thu An chớ không phải soạn giả Thu An của cải lương). Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban”, tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi!” Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng – Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. Rõ ràng là nghệ thuật không nuôi sống nổi con người chuyên nghiệp.
            Ai đã làm cho sân khấu cổ truyền sụp đổ như vậy? Một hành động cụ thể khác cũng nhằm bảo tồn bộ môn nghệ thuật hát bội của chính quyền thời đó, là khuyến thích việc đào tạo mầm non bằng cách trợ cấp tiền hàng tháng cho học viên, nhưng rồi cũng chẳng đạt được bao nhiêu, nếu không nói là thất bại.
            Năm 1969 lớp dạy hát bội của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ, lúc đầu ghi tên 15 người, nhưng hôm khai giảng chỉ có 10 học viên. Dạy được một thời gian người ta nhìn lại thì con số 10 người đã nghỉ học hết 7 còn lại 3. Thêm thời gian nữa thì nghỉ hết 2 còn 1 (như trong câu sấm Trạng Trình). Vậy mà lớp vẫn còn y nguyên, các giáo sư vẫn tiếp tục dạy như thường. Có người hỏi Giáo sư Đinh Bằng Phi rằng lớp chỉ còn có một ngoe thì dạy cái nỗi gì chớ! Giáo sư trả lời: “Còn người học thì còn dạy chớ sao!”


NGÀNH MAI
Tháng 7/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vn-opera-binh-dinh-07062014070848.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #97 vào: 24/01/2018, 21:58:33 »
Khi gánh hát xưa di chuyển bằng đường sông

Ở đất Nam Kỳ vùng châu thổ sông Cửu Long với sông ngòi chằng chịt, nên khi xưa mọi sự di chuyển chủ yếu là đường thủy, người ta dùng ghe thuyền làm phương tiện đi đó đi đây. Thời bấy giờ cũng có đường bộ, nhưng cứ vài cây số lại phải cách khoảng bởi chiếc cầu, mà phần lớn là cầu nhỏ hẹp, xe cộ không thể qua được, đôi khi chỉ vừa cho một người đi, thành thử ra thiên hạ dùng đường sông. Và dĩ nhiên gánh hát cải lương cũng thế thôi, lưu diễn từ nơi nầy đến nơi nọ phải có ghe thuyền, tuy chậm chạp nhưng lại là phương tiện rẻ tiền.

Nghệ sĩ Trọng Hữu, Lệ Thủy cùng các đồng nghiệp
di chuyển đường sông đi hát ở miền Tây

Phương tiện rẻ tiền
            Năm 1917 gánh hát Thầy Năm Tú ra đời bên con sông Tiền Giang, và chỉ hát ở Mỹ Tho chớ không lưu diễn các tỉnh ở miền Tây như nhiều gánh hát sau này. Gánh hát Thầy Năm Tú chỉ thỉnh thoảng dọn lên hát ở rạp Moderne Sài Gòn, và đi bằng xe lửa, bởi lúc bấy giờ từ Mỹ Tho lên Sài Gòn đã có xe lửa đi nhanh, thay vì khi xưa thiên hạ phải đi đường sông hoặc xe ngựa.
            Vài năm sau đó thì gánh “Tân Đồng Ban” cũng ra đời ở Mỹ Tho, đã có một chiếc ghe bầu vận chuyển toàn bộ gánh hát trên đường sông qua Vĩnh Long, và lần lượt lưu diễn khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Lúc gần đến bãi hát, trên ghe dùng loa cầm tay quảng cáo chương trình biểu diễn của gánh hát.
            Giữa thập niên 1920, gánh hát Huỳnh Kỳ – Phùng Há của Bạch Công Tử và Má Bảy, cũng dùng hai chiếc ghe chài làm phương tiện đi lưu diễn. Bạch Công Tử có tên là Phước George, là con quan phủ ở Mỹ Tho, từng du học bên Pháp về. Vì quá mê mệt cô đào Phùng Há nên lập gánh hát và câu chuyện nếu kể ra đây thì rất dài.
            Khoảng cuối thập niên 1940, Bạch Công Tử vĩnh viễn ra đi trong cảnh nghèo. Lúc ấy chiến tranh đang diễn ra nên người nhà không đi theo chôn, mà giao cho đạo tỳ đem an táng trong một vườn cây dừa ở Chợ Gạo, Mỹ Tho, ngôi mộ nằm sâu bên trong cách xa con đường Tỉnh Lộ 24 khoảng một cây số. Tôi đã có một lần đến thăm ngôi mộ của ông nhưng quên là ở xã nào, hình như ở xã An Thạnh Thủy thì phải.
            Thời kỳ 20 tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, ông Bầu Lư là bầu cải lương rất nổi tiếng, và người ta không biết ông đã có công trạng gì với chính quyền Pháp mà được ân thưởng cho sợi dây Tam Tài, tức dây đeo huy chương có màu cờ tam sắc, xanh trắng đỏ (cờ Pháp). Bầu Lư nhờ có dây Tam Tài này mà ghe hát của ông đi tới đâu cũng được làng xã địa phương tận tình giúp đỡ.
            Gánh hát Bầu Lư chẳng cần có tiền đạo, hay quản lý để chuyên trách việc xin phép, thuê rạp trước khi cho gánh dọn đến. Nhiều khi ghe di chuyển đến một nơi xa lạ mà tất cả người trên ghe, kể cả Bầu Lư cũng chẳng hề biết ở đó là đâu, là làng xã nào, chỉ đoán chừng mà ghé vào thôi.
            Bởi vậy khi ghe hát rời bến này để đi đến bến khác, nghệ sĩ và công nhân sân khấu cũng chưa biết rằng mình sẽ đi đâu. Có nhiều khi địa điểm sắp đến xa đến hai, ba chục cây số, các tay chèo quá mỏi mệt rồi mới lên tiếng hỏi ông bầu, rằng gánh mình sẽ tới hát ở đâu, thì Bầu Lư mới chợt nhớ ra mà rằng: “Ờ, ờ… thì tụi bây cứ thấy ở đâu có cây dương là ghé vào hát vậy, ở đó thiên hạ đang chờ ghe hát mình đến để coi hát”.
            Sở dĩ bầu Lư nói như vậy, bởi vì xưa kia ở đất Nam Kỳ Lục Tỉnh nơi nào có đình, miễu là nơi đó có trồng cây dương chung quanh, hoặc nhiều hoặc ít. Tức nhiên ghé nơi có cây dương là ghé chỗ có đình, có miễu rồi, không thể nào hiểu khác hơn được. Rồi thì khi ghe hát cập bến, Bầu Lư mặc áo dài, chích khăn đống, mang dây Tam Tài trước ngực, đến thẳng nhà làng kêu Ban Hội Tề phải gọi dân làng mượn ngựa, mượn ván kê sân khấu cho gánh của ông hát. Và lạ thay Ban Hội Tề tuân lời ông răm rắp. Có lẽ là họ thấy dây Tam Tài đeo trước ngực của ông, mà nghĩ rằng ông có uy thế với nhà nước Pháp. Và cứ như vậy, bầu Lư đi hát tới đâu cũng chẳng thèm xin phép tắt của ai cả.
            Có điều cũng cần nói thêm, Bầu Lư là thân phụ tay đua xe đạp Lê Thành Các (tay đua nổi tiếng khắp Đông Dương, từng được mệnh danh “con phượng hoàng Lê Thành Các”). Cô đào Thanh Hoàng (lúc nhỏ có tên Bo Bo Hoàng) từng trúng giải Thanh Tâm 1965, là con của Lê Thành Cát và đào Ngọc Tín, cả hai từng làm bầu gánh hát. Như vậy đào Thanh Hoàng đã có ba đời theo nghề hát vậy.
            Khoảng 1970 tự nhiên rộ lên phong trào nuôi cút, khiến cho hằng bao nhiêu người tiêu tan tài sản, mang nợ cũng vì nuôi cút. Lúc ấy Lê Thành Cát bị rã gánh hát, thấy thiên hạ chạy theo phong trào nuôi cút, nên đã gom góp vốn liếng và vay thêm nợ để nuôi rất nhiều cút, với hy vọng làm giàu nhanh chóng. Thế nhưng, nào ai học được chữ “ngờ”! Khi cút đẻ trứng thì chẳng có ma nào mua, dù rằng hạ giá gấp chục lần. Vợ chồng Lê Thành Cát vớt vát bằng cách ra Vũng Tàu thuê căn nhà gần rạp Duy Tân mở quán hủ tiếu trứng cút.
            Các gánh cải lương ra diễn ở Vũng Tàu, nghệ sĩ gặp ông hỏi thăm vấn đề, thì ông than thở: Cút nó hại tui!


Nghệ sĩ Lệ Thủy

Khó khăn vận chuyển trên sông
            Trở lại vấn đề gánh hát di chuyển đường sông, không phải chỉ khi xưa mới có, mà sau 1975 các gánh cải lương ở miền Tây cũng đi lưu diễn bằng ghe thuyền. Hầu hết đoàn cải lương ở miền Tây đều phải trải qua bước đường lưu diễn trên sông nước, không chỉ vận chuyển mà nhiều đoàn đã tận dụng xuồng, ghe đi quảng cáo chương trình mỗi chiều.
            Vận chuyển trên sông thật vất vả, nhứt là lên xuống đồ đạc thì anh em công nhân dàn cảnh quá khổ cực, có những bãi diễn xa bến sông, ghe đậu cách cả trăm thước. Rồi có những đêm diễn xong, gặp lúc nước sông ròng cạn, đưa đồ đạc xuống là cả vấn đề khó khăn, có khi đến hai, ba giờ khuya ghe mới nhổ neo rời bến. Và khi đến bến mới thì trời gần sáng, diễn viên, công nhân vì quá mệt mỏi sau đêm diễn và chuyển bến, nên chưa đến nơi họ đã ngủ trên ghe thả hồn theo sông nước. Trường hợp này năm 1996, đoàn cải lương Tháp Mười từ Châu Đốc xuống Cà Mau, trên đường di chuyển, đoàn cho ghe ghé lại một bến, tạm nghỉ, đoàn mệt lã nên ai cũng tìm giấc ngủ, trên nóc ghe chỉ để một ngọn đèn dầu làm hiệu thôi. Sóng nước làm chiếc ghe tròng trành, đèn đổ dầu phựt cháy, khi mọi người hay được chỉ còn biết tìm cách thoát thân, ngọn lửa cháy mạnh cho đến khi ghe từ từ chìm lỉm giữa lòng sông. Tài sản của đoàn thiệt hại gần chín mươi lăm phần trăm.
            Đoàn Bến Tre khoảng năm 1993 phục vụ trong tỉnh nhà, chuyển bến từ Bình Đại đi Chợ Lách vào buổi trưa, gần đến nơi ghe bị sóng lớn ập vào làm mất thăng bằng, nước tràn ngập ghe, phần thì chở nặng nên ghe nhanh chóng chìm giữa lòng sông. Những người bơi giỏi cứu người không biết bơi, tất cả được thoát chết, rồi cùng chính quyền và bà con địa phương trục vớt đồ đạc, âm thanh, phong màn đem lên bờ phơi và sửa chữa. Đến hôm sau thì đoàn lại kéo màn trình diễn và khán giả đến xem ủng hộ rất đông nên cũng đỡ khổ. Cũng không ít những đoàn đã gặp tương tự như Bến Tre.
            Có những năm kép Trọng Hữu và đào Lệ Thủy kết hợp đi tăng cường cho các đoàn hát ở miền Tây kiếm khá nhiều tiền (gần 20 đoàn giành giựt để có Lệ Thủy). Do bởi đồng bào ở vùng sông nước xa xôi hiếm khi có dịp thấy tận mắt đôi nghệ sĩ nói trên. Họ thu xếp mọi công việc làm cho ổn, chuẩn bị một số tiền khả dĩ để coi hát, có nhà phải đi vay nợ hoặc bán nông sản dự phòng để lấy tiền đi xem nghệ sĩ tài danh biểu diễn.
            Từ chiều, nếu cả gia đình muốn đi coi hát thì phải lo nấu cơm sớm, ăn không kịp thì gói lại mang đến bãi hát tranh thủ kiếm chỗ cho cả gia đình. Đó là chưa kể chuyện mưa nắng hay phải đứng chen chúc, nhón gót cả tiếng đồng hồ để coi hát… Có người ở xa điểm diễn hàng chục cây số phải chèo xuồng đi từ xế để mong kiếm chỗ ngồi tốt. Ở nhiều vùng sông nước, trong đêm diễn ghe, xuồng chiếm dầy đặc cả một khúc sông, với đủ loại ánh sáng tự có được tỏa sáng cả một vùng. Sông nước thôn quê bỗng nhiên rực sáng, huyên náo như ngày hội, mà thật ngày hội cũng chưa chắc đông vui và có sức hút kỳ diệu như thế.
            Nói chung dù gặp những khó khăn vận chuyển trên sông, lũ lụt, mưa bão anh chị em nghệ sĩ vẫn cùng sát cánh bên nhau khắc phục hoàn cảnh thiên nhiên để đem đến món ăn tinh thần cho khán giả ở những vùng xa xôi hẻo lánh đó. Bù lại là niềm vui trên sông nước, khi ghe vận chuyển vào ban ngày thì mát mẻ, thỏa thích ngắm cảnh đẹp của những dòng sông quê hương vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-071214-nm-07112014132645.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #98 vào: 31/01/2018, 22:34:47 »
Chuyện cổ tích “Trầu Cau”

Qua câu chuyện Con Tấm Con Cám, người ta thấy têm trầu là cả một nghệ thuật, nàng Cám đã têm miếng trầu hình cánh phượng cho bà lão mời Đông Cung Thái Tử. Nếu như giờ đây không lưu lại chuyện cổ tích tự nghìn xưa ấy, thì các thế hệ sau chẳng biết gì đến trầu cau, một vật thể đậm nét văn hóa dân tộc không thể thiếu trong lễ nghĩa.


Lễ nghĩa trầu cau
            Thật vậy, trong lễ cưới hỏi người ta đã gìn giữ cổ tục, dùng trầu cau để nói lên lễ nghĩa. Không riêng gì ở trong nước, mà ở hải ngoại nếu có cưới hỏi là người trong cuộc cũng tìm mua cho được cau trầu. Do vậy mà các tiệm buôn ở hải ngoại luôn có sẵn để cung cấp “món hàng đặc biệt” cho những ai cần đến.
            Và như đã nói, lễ cưới hỏi thiếu thứ gì thì có thể thông qua, nhưng trầu cau thì bắt buộc phải có. Tùy theo hoàn cảnh, người ta có thể không đặt nặng vật sính lễ, kể cả nữ trang vòng vàng cũng có thể được miễn, chớ trầu cau thì hầu như họ nhà trai không thể thiếu được. Nhà gái sẽ không nhận lễ nếu như thiếu cau trầu.
            Trong một bài vọng cổ thu thanh dĩa hát phát hành cuối thập niên 1950, nữ nghệ sĩ Thanh Hương đã hát lên câu: “người ta đòi ruộng đòi trâu, còn em đòi một khay trầu mà thôi”. Khi xưa muốn nói chuyện gì với đối tượng, người ta phải có khay trầu rượu, rót rượu và trầu têm sẵn mời người trước khi mở lời, do bởi “miếng trầu là đầu câu chuyện”.


Bìa dĩa hát Chuyện cổ tích Trầu Cau

Có từ thời Vua Hùng thứ 6
            Đọc truyện cổ tích nhân gian người ta thấy rằng trầu cau có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6. Và sau đây là câu chuyện:
            Ngày xửa, ngày xưa có đôi vợ chồng lão nông phu sống hẩm hiu cùng hai người con trai song sinh, giống nhau như hai giọt nước. Người anh tên Tân Sinh và người em tên Lang Sinh. Ngày qua ngày họ sống êm đềm dưới mái tranh, vui vẻ cày bừa, nương rẫy làm kế sinh nhai. Thời gian cứ thế mà trôi như nước chảy xuôi giòng, và khi hai anh em đến tuổi trưởng thành, thì vợ chồng lão nông phu đã già cả, yếu dần và chết đi. Từ khi cha mẹ mất rồi, anh em Tân Sinh và Lang Sinh như thấu hiểu nỗi cô đơn, quạnh quẽ của mình, họ thương yêu nhau vô cùng.
            Cách nhà không xa lắm có một thôn nữ mỹ miều tuổi vừa mười tám. Tân Sinh và Lang Sinh cả hai đều để lòng thương yêu cô gái láng giềng. Nhưng người anh đã được lọt vào cặp mắt xanh của nàng rồi. Thế là Tân Sinh cưới nàng về, và sự thất vọng tràn ngập trong lòng người em Lang Sinh.
            Mái nhà tìm được sự ấm cúng giữa ba người. Lang Sinh không ganh ghét mà trái lại cố giết mối sầu tuyệt vọng ấy đi. Có nhiều khi sự lầm lẫn xảy ra, khiến Lang Sinh đau lòng vô cùng. Một hôm hai anh em đi làm ruộng, Lang về sớm hơn, chị dâu Lang lui cui dưới bếp nấu cơm. Nàng thấy Lang về, ngỡ là chồng mình về sớm như mọi khi, mừng rỡ chạy ra ôm chầm Lang Sinh âu yếm. Rồi có khi hai anh em đang làm việc ngoài đồng. Chị dâu mang cơm ra, vô tình nàng chạy lại ôm Lang Sinh mà ngỡ là chồng mình.
            Lang Sinh buồn bực, muốn cho hạnh phúc của anh được vuông tròn, nên bỏ nhà ra đi. Băng rừng lội suối, đi mãi, đi mãi! Khóc than, than khóc! Một ngày kia vừa đến trước mái nhà của lão tiều phu, Lang Sinh ngã ra bất tỉnh, Lão tiều đem chàng vào nhà, chờ đợi khi tỉnh lại, ông hỏi Lang Sinh, chàng thuật rõ câu chuyện rồi trút hơi thở cuối cùng.



“18 Thôn Vườn Trầu”
            Ở vùng Bà Điểm, Hóc Môn cách Sài Gòn khoảng hơn 15 cây số về hướng Tây Bắc, nơi đây khi xưa gọi là “18 Thôn Vườn Trầu”. Vùng này hầu như nhà nào họ cũng có trồng trầu, trồng cau không nhiều thì ít. Về kỹ thuật trồng trầu có liên quan đến câu ca dao, mà các thiếu phụ ở miền thôn quê hát ru con: “Trồng trầu thì phải khai mương, làm trai hai vợ sao thương không đồng”.
            Không biết cách ăn trầu ở ngoài Bắc có khác với ăn trầu trong Nam hay không, mà cô đào đất Bắc khi nhận đóng vai Bà Năm Trầu, cô đã phải khổ công nghiên cứu tập dượt. Do bởi nhận một vai trò, mà dù người miền Nam rặt cũng chưa chắc ăn, nếu như không tìm hiểu, nghiên cứu thật kỹ lưỡng thì khó mà nhập vai được, đó là vai Bà Năm Trầu, một bà già trầu Nam Bộ.
            Tuy đã sống hơn 20 năm ở miền Nam, đã nhiều lần gặp các bà già trầu trong Nam, nhưng lần này khi nhận vai diễn, Thanh Vy rất lo, nên ngoài phần tập dượt chung ở sàn tập, cô đã phải bỏ nhiều buổi đi ra chợ để quan sát các bà già trầu, đồng thời tiếp xúc với mấy bà bán trầu cau, để tìm hiểu thêm về cách ăn trầu, têm trầu, xỉa thuốc của các cụ, rồi về nhà tập thử, đến nỗi tối ngủ còn nằm mơ thấy mình nhai trầu đến… cứng hàm!
            Do đạo diễn buộc phải ăn trầu thật, và bởi vì lần đầu mới tập ăn nên Thanh Vy bị say trầu. Ít ai biết được tối nào diễn vai bà Năm Trầu, Thanh Vy cũng như… người say. Đàn ông say rượu, còn cô say… trầu, say đến chảy cả nước mắt vì cả đời chưa hề biết mùi trầu là gì. Suất hát nào cũng vậy, trước giờ diễn hơn nửa tiếng thì Thanh Vi đã phải ăn trầu, nhổ bớt hai lớp nước đầu cho bớt say, để cái cảm giác say nồng giảm đi chỉ còn như lâng lâng. Có người nói vui nhờ cái say lâng lâng ấy mà diễn xuất của Thanh Vy trong vai Bà Năm Trầu dường như bay bổng hơn.
            Thanh Vy làm người xem hết sức thú vị, vì một tính cách rất dễ thương của một bà lão. Bà Năm Trầu vừa xuất hiện đã lập tức gây sự chú ý.


Chuyện cổ tích Trầu Cau

Sự tích Trầu Cau
            Và sau đây tôi xin kể tiếp câu chuyện sự tích Trầu Cau:
            Từ ngày người em bỏ ra đi, Tân Sinh buồn vô cùng, chàng quyết tìm kiếm em. Tân Sinh đến nhà lão tiều, lão tưởng là Lang Sinh sống dậy, vì hai người giống nhau như một, Tân Sinh được biết chuyện như thế, ra thăm mộ người em. Bấy giờ nấm mộ biến thành một phiến đá lớn. Tân Sinh gục đầu bên gò đá mà khóc cho đến chết.
            Vợ chàng ngày tháng trông chờ bên mái tranh hiu quạnh, vẫn vắng bặt bóng chồng, nàng quảy gói lên đường vạn lý tầm phu. Rồi thì cũng lại đến nhà lão tiều, nàng biết rõ câu chuyện. Ra thăm mộ chồng và em, nàng vô cùng kinh ngạc vì chỉ thấy một phiến đá trắng, cạnh bên có một cây cau. Sự đau đớn xé nát lòng người vợ hiền, chị thảo. Nàng dựa vào thân cây, khóc kể đến chết cho trọn lòng chung thủy. Nàng chết rồi, có một dây trầu quấn chặt lấy thân cau, cạnh phiến đá vôi trắng nõn nà.
            Vua Hùng Vương thứ 6 có dịp thân hành ngang qua đây, nhìn thấy cây cau, dây trầu và phiến đá, và nghe lão tiều phu kể lại câu chuyện. Nhà vua lấy trái cau, lá trầu và miếng đá vôi nhai thử, thấy màu đỏ thắm, và mùi vị cay nồng. Cảm thương ba người trong câu chuyện, nhà vua truyền trong nhân gian tập ăn trầu, và dùng trầu cau làm lễ cưới hỏi. Tập tục được lưu truyền từ đó cho tới ngày hôm nay.


NGÀNH MAI
Tháng 7/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-071914-nm-07182014114112.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-072614-nm-07252014135704.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #99 vào: 07/02/2018, 22:34:51 »
Bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”

Bản Dạ Cổ Hoài Lang do ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu cho ra đời từ năm 1918, được rất nhiều tay ca tài tử học thuộc lòng và ca trong các buổi sinh hoạt, tiệc tùng, hội hè, đình đám. Đến khoảng giữa thập niên 1930 thì bản nhạc thịnh hành, lan rộng nhiều nơi vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thời điểm đó bài Dạ Cổ Hoài Lang nhịp 4 được rất nhiều người ca, và trong số có Năm Nghĩa.

Bản Dạ Cổ Hoài Lang do ông Cao Văn Lầu,
tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu cho ra đời từ năm 1918

NĂM NGHĨA tên thật là Lư Hòa Nghĩa, người Bạc Liêu, lúc đó còn là tay ca tài tử chứ chưa đi hát, và cũng chưa lên Sài Gòn. Giới mộ điệu cổ nhạc hầu như ai cũng nhận thấy Năm Nghĩa có làn hơi ca đặc biệt, ru hồn người nghe, độc đáo là tiếng hơ hơ hơ cuối câu ca, đã làm cho bài vọng cổ thêm du dương, mùi mẫn.
            Thế nhưng, bài Dạ Cổ Hoài Lang lúc ấy còn nhịp 4 quá ngắn, khiến cho làn hơi ca thiên phú của Năm Nghĩa bị ngăn chận lại, mất đi sự truyền cảm, nói rõ hơn là nhịp 4 đã không đủ thời gian cho Năm Nghĩa trổ hết tài năng cùng giọng ca độc đáo. Do vậy mà nhiều đêm Năm Nghĩa trằn trọc không ngủ được, suy tính làm sao cho bài Dạ Cổ Hoài Lang dài ra, chữ đờn nhiều gấp đôi mới đáp ứng được làn hơi ca trời cho của ông.
            Trong một đêm nọ (1934) Năm Nghĩa chơi đờn ca tại nhà người bạn ở gần chùa Vĩnh Phước, gặp phải cơn mưa tầm tã không dứt nên ngủ luôn tại đây. Đêm khuya thanh vắng, giữa không gian âm u tĩnh mịch, bỗng tiếng chuông chùa vọng lại từng hồi. Năm Nghĩa giựt mình thức giấc, và không biết đang mang tâm trạng gì mà chỗi dậy viết ngay bài ca theo điệu Dạ Cổ Hoài Lang dài ra. Năm Nghĩa xuất thần viết một loạt 20 câu, với câu mở đầu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”, và đặt tên bài ca là “Vì Tiền Lỗi Đạo”.
            Sáng hôm sau Năm Nghĩa đến nhà thầy là ông Sáu Lầu, ca cho ông nghe thử bài ca vừa sáng tác, cũng theo điệu Dạ Cổ Hoài Lang. Đồng thời đề nghị với thầy là thêm chữ đờn vào mỗi câu, có nghĩa là kéo dài ra gấp đôi cho hợp với bài ca mới viết ấy.
            Nhận thấy có lý, và cũng cảm nhận được giọng ca mùi của Năm Nghĩa cùng tiếng hơ hơ hơ thì mỗi câu phải dài hơn mới hay. Thế là nhạc sĩ Sáu Lầu mời thêm hai ông thầy đờn khác là nhạc sĩ Ba Chột và nhạc sĩ Mười Khói đến bàn luận. Cả ba ông hội ý thêm chữ đờn kéo dài bài Dạ Cổ Hoài Lang tăng lên nhịp 8, tức gấp đôi để đủ thì giờ cho Năm Nghĩa hát thoải mái bài 20 câu “Vì Tiền Lỗi Đạo” do Năm Nghĩa mới sáng tác.
            Thời gian gần một năm sau bài Dạ Cổ Hoài Lang nhịp 8 mang tên “Vì Tiền Lỗi Đạo” phổ biến lên Sài Gòn, giới đờn ca tài tử ở Hòn Ngọc Viễn Đông hân hoan chào đón, đưa vào sinh hoạt và giới hâm mộ hoan nghinh, gọi là bài “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” và cũng kể từ đó thì cái tên “Dạ Cổ” cũng được người ở Sài Gòn gọi trại là “Vọng Cổ” luôn cho tới bây giờ.
            Thuở ấy hãng dĩa hát Asia của ông Ngô Văn Mạnh, mà thiên hạ thường kêu là Thầy Năm Mạnh thành lập trước đó chẳng bao lâu. Nhận thấy bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” rất được giới mộ điệu ưa thích nên cho người liên hệ với Năm Nghĩa để thu thanh dĩa hát.


Ông Cao Văn Lầu, ở Bạc Liêu sinh năm 1892 mất năm 1976

Tài liệu liên quan bộ dĩa “Vì Tiền Lỗi Đạo”
            Liên quan đến vấn đề này, ký giả kịch trường Thiện Mộc Lan người gốc ở Sa Đéc đã trao cho tôi một tài liệu như sau:
            Một nhà báo khi viết về Năm Nghĩa trong những ngày đầu tiên đến với Asia đã ghi: “… có một chàng trai trẻ, độ 20 tuổi người xứ Bạc Liêu. Anh mặc bộ đồ lụa ngà, mang đôi guốc vông, ăn nói chậm rãi. Thầy Năm Mạnh nghe giọng ca, ưng ý, tuyển chọn anh ca ngay bộ dĩa đầu tiên cho hãng. Đó là bản vọng cổ nhịp 8, 20 câu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Giọng ca của anh thật đặc nét, nghe buồn não nuột ở những chữ ngân dài cuối câu hơ… hơ… miên man sầu thảm.”
            Vào năm 1958, ký giả Tô Yến Châu (báo Tiếng Chuông) có mời một số anh em văn nghệ sĩ Sài Gòn về quê ông ở Cần Giuộc (Long An) dự đám giỗ thân phụ. Chuyến đi ấy có nghệ sĩ Năm Nghĩa (đang là bầu gánh đoàn Thanh Minh). Trong bữa tiệc vui, đông đảo anh em có mặt hôm đó đồng thanh đề nghị anh Năm ca lại bản vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”.
            Anh Năm liền đứng lên, lặng người trong phút giây rồi nói chậm rãi:
            – Các anh, các chị, các bạn, hôm nay tôi vui quá nên uống nhiều. Uống nhiều thì hơi say, mà hơi say thì nói hơi nhiều. Nói nhiều vì có nhiều tri âm tri kỷ hiểu mình và từng thương nhau, ôm nhau trên sân cỏ hay trong hậu trường sân khấu. Sao tôi thích ăn nói chớ không thích ca trong khung cảnh này. Mấy chục năm qua rồi, Năm Nghĩa hồi đó và Năm Nghĩa bây giờ đã trải qua bao nhiêu bước thăng trầm. Tuổi đời đã cướp dần tiếng ca. Tôi ca dở hơn hồi nhỏ tôi sẽ buồn, nhưng tôi vẫn ca mặc dù tôi biết tôi sẽ buồn.
            Một tràng pháo tay nổi lên tán thưởng câu nói ấy. Mọi người đều im lặng để lắng nghe “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Trong lúc ca, anh Năm có vẻ mặt buồn khác lạ. Khi vừa ca xong ba câu thì anh “thở ra” rồi nói:
            – Xin lỗi các anh, các chị, các bạn, tôi hơi mệt nên chỉ ca ba câu và hứa năm tới sẽ ca nguyên bản… Lần đám giỗ sau (có lẽ năm 1960) tại Cần Giuộc, cũng đông đảo những người thân của ký giả Tô Yến Châu nhưng vắng bóng nghệ sĩ Năm Nghĩa, vì ông đã vĩnh viễn giã từ sân khấu và bạn bè tri âm tri kỷ vào cuối năm 1959.
            Kể từ ngày bộ dĩa “Vì Tiền Lỗi Đạo” được phát hành phổ biến cùng khắp cả Đông Dương, thiên hạ đã lấy câu mở đầu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” để gọi, rồi dần dần trở thành tên của bài ca luôn
            Ngoài tài liệu trên, anh Thiện Mộc Lan cũng trao cho tôi bộ dĩa hát “Vì Tiền Lỗi Đạo” gồm 2 dĩa mà thiên hạ đã gọi “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Bộ dĩa lịch sử vọng cổ nhịp 8 đầu tiên kia, tính đến nay đã 80 năm rồi, tôi nghĩ rằng chẳng mấy ai còn lưu giữ được, nếu không muốn nói là không còn thêm một bộ dĩa nào nữa mang tên“Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”.
            Tôi cũng nói thêm ký giả kịch trường Thiện Mộc Lan khi xưa cộng tác với tờ báo Đuốc Nhà Nam của ông Trần Tấn Quốc. Trong buổi nói chuyện ngày hôm nay, tôi nhờ làn sóng đài RFA chuyển về lời chân thành cám ơn ký giả Thiện Mộc Lan ở Sa Đéc.
            Bộ dĩa “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”, nghệ sĩ Năm Nghĩa ca do hãng dĩa Asia phát hành năm 1934 gồm 2 dĩa. Đây là bộ dĩa hát vọng cổ lịch sử, tôi đang giữ gìn, với ước muốn sau này nó được có mặt trong bảo tàng văn hóa nghệ thuật nước nhà.


Cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành,
do nhà xuất bản Người Việt phát hành

Sách 100 Năm Cải Lương Việt
            Sách 100 Năm Cải Lương Việt Nam của tác giả Ngành Mai phát hành cách đây hơn ba tháng, và được, khán thính giả các đài phát thanh, đài truyền hình hoan nghinh. Nói chung là những người hâm mộ cổ nhạc cải lương chiếu cố. Theo lời một vị trong ban giám đốc nhựt báo Người Việt, tức cơ sở phát hành quyển sách nói trên tiết lộ, thì đây là một trong những cuốn sách bán chạy nhứt.
            Có nhiều câu hỏi của thính giả bốn phương mà tôi ghi nhận, là ai cũng muốn biết rõ nội dung cuốn sách gồm những vấn đề gì? Có vị còn hỏi rằng trong đó có tuồng cải lương này, tuồng cải lương nọ không v.v… Thật rất khó mà kể ra cho hết, bởi quá nhiều đề mục liên quan đến cải lương từ thời mới hình thành (1914) cho đến những lúc sau này. Tóm lại nếu có quyển sách thì cũng giống như quí vị đã theo dõi hoạt động cải lương từ thời xa xưa đến giờ. Có một vị đã có cuốn sách trong tay rồi, tiếp xúc trên điện thoại bà nói rằng rất xúc động, bởi trọn tuồng cải lương Hoa Rơi Cửa Phật được in lại trong quyển sách, kể cả cái bìa. Bà nói thêm rằng cuốn tuồng cải lương khổ nhỏ kia bà từng có từ thời còn con gái, tức từ nửa thế kỷ trước, và luôn cả dĩa hát cũng được nghe nhiều lần. Và bà yêu cầu nếu như nhà văn Ngành Mai còn lưu giữ được dĩa hát Hoa Rơi Cửa Phật thì xin cho được phát thanh trên đài RFA giờ tạp chí cổ nhạc. Và cũng theo lời bà thì nhiều thính giả cũng rất muốn nghe dĩa hát xưa ấy. Rất may là tôi còn lưu giữ dĩa hát nói trên. Dĩa được phát hành khoảng 1948 với các danh ca thời ấy như: Năm Nghĩa, Tám Thưa và nữ danh ca Tư Sạng.


NGÀNH MAI
Tháng 8/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/trad-music-08072014-08072014113559.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #100 vào: 14/02/2018, 20:38:28 »
Cải lương vay nợ ngày cận Tết

Suốt một năm dài người ta dùng ngày Dương lịch, còn gọi là ngày Tây để bàn bạc, trao đổi về sự làm ăn, học hành, và phần lớn mọi chuyện liên quan đến cuộc sống. Chỉ trừ trường hợp người đi lễ chùa, ngày giỗ ông bà, hoặc người ăn chay thì họ mới xử dụng ngày Ta, hay là ngày Âm lịch cũng thế. Thế nhưng, gần đến Tết Nguyên Đán, đặc biệt là kể từ ngày 23 đưa Ông Táo trở đi, thì hầu như phần lớn thiên hạ quên đi ngày Dương lịch, hoặc để sang một bên để tập trung vào ngày Ta, tính từng ngày để giải quyết mọi vấn đề còn tồn động lại, mà không ai muốn Tết đến mà chưa xong, và một trong số nhiều việc phải giải quyết là nợ nần, bởi không ai muốn mang nợ hai năm.

Từ trái sang: Thanh Nga, Hữu Phước, Thành Được
trong vở Con Gái Chị Hằng

Đến Tết lại vay
            Và câu chuyện đem đến với quí vị thính giả hôm nay, không thuộc về nghệ thuật, nó chỉ liên quan trực tiếp đến những con người làm nghệ thuật mà thôi. Và tôi nghĩ rằng câu chuyện này khi nghe xong, cũng sẽ là câu chuyện vui trong ngày Xuân nếu như nó được kể lại.
            Bữa nay đã là 26 Tết, sở dĩ câu chuyện đến với quí thính giả trong ngày cận Tết, là do có sự khác biệt giữa cải lương và mọi ngành nghề ngoài xã hội. Năm hết Tết đến trong lúc mọi người đang lo trả nợ, thì giới cải lương lại… vay nợ nhiều hơn. Và phía chủ nợ chuyên môn cho vay gánh hát, thì chẳng những họ không đòi nợ, mà còn “thông cảm” bỏ ra số tiền khá lớn cho cải lương vay. Đây là “đặc thù” của cải lương ở xứ ta vậy.
            Đi sâu vào vấn đề cải lương vay mượn tiền Tết, người ta hình dung lại bối cảnh ở hậu trường các rạp hát thời cải lương cực thịnh, mà đối với một số người chắc hẳn không quên trong những ngày giáp Tết này. Xin đơn cử một ngày cận Tết nọ, khoảng 10 giờ sáng tại hậu trường một rạp hát, đại đa số đào kép, thầy đờn, dàn cảnh, công nhân… tập trung đông đảo trên ba mươi người. Họ ngồi chờ bà chủ nợ mang tiền đến, và tâm trạng chung ai cũng mong muốn mình vay được số tiền nhiều đặng lo cho cái Tết đã kề bên.
            Trong bầu không khí khá vui nhộn, bởi người nào cũng tin tưởng rằng nội trong ngày nay mình sẽ có tiền để giải quyết vấn đề gì đó, tùy theo hoàn cảnh riêng của mỗi người. Bỗng không khí hơi ồn lên, bà cho vay gánh hát “giá lâm”, tức thì mặt mày người nào cũng tươi rói, vui vẻ đón chào, niềm nở như chào đón người thân đi xa mới về vậy.
            Từ trên taxi bước xuống tay xách túi bạc nặng trĩu, có hai người đi theo hộ vệ, không nói chớ mọi người cũng biết, hai người đi theo kia sẵn sàng “chết sống” nếu bàn tay nào đó đụng tới túi bạc. (Không bao giờ bà chủ nợ mang tiền đi một mình.)
            Rồi thì căn cứ trong danh sách được lập sẵn, tiền đưa ra cho người nào cũng được cột dây thung, kèm theo tờ giấy cho người nhận ký vào. Khi nhận tiền thì người nào cũng phải đếm, kiểm tiền xong xác nhận đủ mới rời khỏi, do đó không có sự khiếu nại nào. Tùy theo vai trò trên sân khấu mà bà chủ nợ quyết định món tiền cho vay, nếu là đào kép chánh thì được vay nhiều, kép nhì, đào ba thì được vay ít hơn, số tiền thấp nhứt dành cho người có các vai trò phụ, hoặc công nhân, dàn cảnh… Nói một cách khác là tùy theo mức lương của nghệ sĩ mà bỏ tiền ra cho vay, và hiện tượng này đã có từ thời nào đó không biết, nhưng chắc từ lâu lắm rồi. Có điều là mấy ngày này bà chủ nợ không từ chối người nào trong gánh hát muốn vay tiền, không nhiều thì ít bà cũng “làm phước” ban cho người đó nhờ.
            Lấy tiền kiểm xong là đi ngay, không chần chờ thêm giây phút nào, chẳng mấy chốc hậu trường rạp hát trống trơn, chỉ còn lại vài người mà đời sống của họ lấy hậu trường rạp hát làm nhà.
            Và cái luật cho vay, mượn nợ ngày Tết, cũng như cách trả nợ và tiền lãi đã được giới cải lương thông suốt. Tuy rằng “luật bất thành văn” nhưng lại được thi hành nghiêm chỉnh, trừ trường hợp bất khả kháng người ta mới để cho phạm luật. Nói rõ hơn là tiền cho vay trong mấy ngày cận Tết này, con nợ phải trả góp ngay trong đêm mùng Một, tiền lãi cũng cao hơn nợ ngày thường gấp rưỡi, mà có khi còn cao hơn nữa tùy quyết định của bà chủ nợ.
            Tiền cho vay Tết bắt buộc phải trả dứt vào ngày rằm tháng Giêng, mà nếu chịu khó làm bài toán thì tiền lời là ba mươi phân, chớ không phải “xanh xít đít đui” như lãi nợ ngày thường. Dù rằng tiền lãi cao như vậy mà giới cải lương đâu có ngán, chẳng ngần ngại gì hết, được vay càng nhiều càng tốt. Mấy ngày Tết chủ nợ thu tiền chẳng khó, bởi không vắng mặt con nợ nào. Suất hát cuối cùng trước khi vãn là bầu gánh đã sẵn sàng tiền lương cho nghệ sĩ, và bà chủ nợ cũng sẵn sàng chờ con nợ trao qua.
            Do đâu mà bà chủ nợ lại rộng rãi như vậy chớ? Câu trả lời là do Tết! Bởi bà ta chắc ăn, là con nợ dễ dàng trả nợ trong mấy ngày đầu Xuân. Ngay trong đêm mùng Một Tết là bà bắt đầu thu tiền trở lại rồi (cũng có chủ nợ chờ ngày mùng Hai).
            Người cho vay gánh hát nắm vững tình trạng lương bổng của đào kép cải lương trong mấy ngày Tết, người nào cũng lãnh tiền nhiều hơn cả chục lần, hoặc kém hơn thì cũng bảy, tám lần của ngày thường. Chỉ nội ngày mùng Một Tết họ có thể hát đến bốn suất, có gánh hát năm, sáu suất, mà mỗi suất thì đào kép lãnh tiền gấp đôi, tức số tiền lãnh tăng lên gấp tám lần. Nói một cách rõ ràng hơn là đêm 29 Tết hoặc đêm 30 giao thừa, họ còn lãnh một ngàn đồng, nhưng đêm mùng Một thì bầu gánh phải trả đến tám ngàn, mười ngàn mà còn cộng thêm tiền lì xì Tết, nhiều ít tùy theo sự rộng rãi của bầu gánh.
            Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát này vừa vãn thì diễn tiếp liền suất kế tiếp. Hát từ 9 giờ sáng cho đến một, hai giờ khuya, nghỉ xả hơi được vài giờ đồng hồ lại phải chuẩn bị hát cho ngày hôm sau. Tuy mệt thở không ra hơi như vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt.
            Và hầu như chẳng đào kép nào “nghỉ bệnh” trong mấy ngày Tết này. Không như ngày thường, mượn tiền bầu gánh không được thì đào kép chánh, và các anh hề tên tuổi hay… bị bệnh. Một căn bệnh mà bác sĩ giỏi thế mấy cũng bó tay. Khi xưa nghệ sĩ Năm Châu thường nói, thuốc chữa “căn bệnh nghệ sĩ” này mua không có ở nhà thuốc, mà có rất nhiều ở nhà… bà chủ nợ, bầu gánh chỉ cần đến đây mang “thuốc” về thì con bệnh sẽ khỏi ngay, để đặng tối lên sân khấu.


Nghệ sĩ Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp

Vay tiền để trả nợ?
            Trở lại vấn đề cải lương vay tiền Tết. Biết chắc rằng ngày Tết tiền vô nhiều như vậy, nên phần lớn đào kép cải lương người nào cũng vay tiền mua sắm Tết, hoặc để làm gì đó mà có bao giờ họ nói ra đâu. Tóm lại chỉ trừ trường hợp cá biệt nào đó mà thôi, chớ phần đông người của cải lương đều vay nợ Tết.
            Thế nhưng, rất nhiều người thắc mắc là giới cải lương làm ra tiền rất nhiều, ngoài số nghệ sĩ đi xe hơi, xài tiền như nước ra, những người lương thấp như công nhân, dàn cảnh… thì đồng lương của họ cũng cao hơn người làm thuê, làm mướn bên ngoài. Vậy mà tại sao họ lại thiếu thốn, đến đỗi chờ chủ nợ đến để vay tiền với mức lãi quá nặng? Có đi sâu vào vấn đề, tìm hiểu xa hơn thì người ta sẽ thấy sự thiếu thốn của giới cải lương là có vấn đề của nó, một vấn đề mà mới nghe qua ai cũng lắc đầu chán ngán giùm cho giới này.
            Giới cải lương ngồi chờ vay nợ Tết để xài vào việc gì, có phải để mua sắm cần thiết cho ba ngày Xuân? Câu trả lời là cái đó cũng có nhưng ít thôi, mà phần nhiều họ vay nợ Tết là để đi… trả nợ! Cái mâu thuẫn của vấn đề là thế, bởi không phải họ chỉ thiếu nợ ở đây (gánh hát) mà còn nợ ắp lẫm bên ngoài, bắt buộc phải trả trước Tết, không thôi thì chẳng yên thân. Món tiền vay Tết này có khi còn không đủ trả nợ ở những nơi khác.
            Trong số những người vay nợ Tết này, lại có cả những người không phải lấy tiền về lo gia đình, lo cuộc sống, cũng không phải trả nợ chỗ khác, mà sau khi lấy tiền xong là đi đến sòng bài. Các con bạc chờ nghệ sĩ có “máu cờ bạc” đến để cùng sát phạt lẫn nhau, và phần lớn thì tiền vay nợ Tết nó đã hết sạch trước Tết là chuyện thường.
            Có năm nọ đúng vào ngày mùng Một Tết, tại rạp Nguyễn Văn Hảo, suất hát đầu tiên 9 giờ sáng đang diễn, thì có bà đầu thảo hụi đến phía sau rạp, gần ngã tư đường Bùi Viện – Đề Thám. Bà ta chửi bới la lối om sòm, thiên hạ xúm lại coi mỗi lúc nhiều hơn, mấy sòng bầu cua cá cọp cũng ngưng lại để coi. Với giọng nói rang rảng, bà cho biết là chàng kép chánh mấy kỳ qua không đóng hụi, hẹn vay tiền Tết sẽ đóng, mà chờ mãi đến giao thừa cũng không thấy mặt, nên sáng nay dù mùng Một Tết cũng không cử kiêng gì hết, nhứt định phải thanh toán theo luật giang hồ. Thì ra anh chàng kép chánh kia mượn tiền Tết, thay vì đi đóng hụi lại đi thẳng vô sòng bài, cháy túi rồi còn tiền đâu mà đóng hụi.
            Thấy tình thế căng thẳng quá, lại là ngày Tết, ngày cải lương hốt bạc, đâu thể để tình trạng xấu xảy ra, bởi đi theo bà đầu thảo hụi còn có mấy tay mặt rằn mặt rện, sẵn sàng “mần” anh kép chánh. Chẳng cần suy nghĩ lâu, ông bầu gánh kêu bà nầy vô hậu trường rạp hát nói chuyện, giải quyết bằng cách ứng một số tiền cho chàng kép chánh mượn trước đóng hụi. Và rồi thì mọi chuyện êm xuôi, bà chủ hụi ra về, không khí Tết vui tươi ở đây trở lại như lúc nãy.
            Cái cảnh cải lương vay nợ Tết của ngày xưa, giờ đây không còn thấy nữa, cải lương không còn hoạt động thì làm gì có người vay, có người cho mượn nợ, có còn chăng là trong ký ức của những người mang nghiệp cầm ca, của những ai từng theo dõi hoạt động sân khấu. Và mỗi khi Tết đến thì giới cải lương không khỏi thở dài, ngậm ngùi, luyến tiếc cái thuở vàng son của ngày Tết năm xưa có trở lại chăng?


NGÀNH MAI
Tháng 1/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-012514-nm-01252014102744.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #101 vào: 21/02/2018, 21:49:20 »
Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình

Cách đây không lâu trên làn sóng phát thanh này, tôi có nói về hát bội miền Nam, hát bội miền Trung, tức hát bội Bình Định. Sau đó thì giáo sư Đinh Bằng Phi nhà ở Sài Gòn, có liên lạc với tôi nói chuyện về hát bội, và ông gởi cho tôi dĩa hát bội thu thanh từ thời thập niên 1960.

Một gánh hát bội trình diễn ở miền Nam

NGƯỜI TA còn nhớ từ thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, bộ môn hát bội Ban Vân Hạc đã thường xuyên có trên đài phát thanh Sài Gòn. Đến khi truyền hình ra đời thì hát bội cũng vẫn có chỗ đứng, khán giả yêu thích vẫn còn được thưởng thức trên màn ảnh nhỏ, với chương trình hát bội Đinh Bằng Phi được bà con yêu mến bộ môn nghệ thuật này đón coi.
            Nhưng càng về sau do sự chèn ép của cải lương, nhứt là hồ quảng thì hát bội lại càng chịu thua thiệt. Mấy năm đầu đài truyền hình mỗi tuần đều có hát bội, nhưng về sau thì lơi dần, hai ba tuần mới có, và đài đã cho phát cải lương hồ quảng thay thế.
            Đến khoảng 1974 thì hát bội hầu như bị gạt ra ngoài, trên truyền hình ít khi được chiếu, do đó đã gây bất mãn cho giới yêu thích hát bội, họ gởi thơ lên đài truyền hình, gởi cho báo chí đăng tải nói lên vấn đề. Sau đây là lá thư gay gắt của ông Công Thành, một công chức hồi hưu gởi cho đài truyền hình, cho báo chí vào khoảng 1974, tôi đọc lại để cùng quí vị thấy rằng hát bội bị chèn ép ra sao, và có người đã “mê” hát bội đến cỡ nào.
            Và lá thơ có nội dung như sau:

            Mấy lúc gần đây, người ta rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy bộ môn hát bội vắng bóng trên đài Truyền Hình Việt Nam. Là người có chút ít ưu tư cho nền văn hóa dân tộc, chắc không ai là không lưu tâm đến bộ môn sân khấu cổ truyền đó trước tình thế hiện tại. Hát bội không còn đất sống người ta chỉ còn mong được xem trên khung kiếng truyền hình.
            Cái trật tự của ngàn xưa lồng khuôn nền luân lý Khổng Mạnh thể hiện bằng nghệ thuật hát bội. Thế mà bọn già chúng tôi lại bị thất vọng! Không hiểu vô tình hay cố ý, bộ môn hát bội đã bị bỏ quên một cách tệ hại. Này nhé: Cứ cả tháng mới được một lần, chúng tôi phải chờ đợi đến mỏi mắt mãi đến hơn 10 giờ đêm Thứ Tư mới được xem. Bọn khán giả già cố thức để mà xem, nhưng lại không thỏa mãn, vì tuồng quá ngắn, phải xén bớt đi nhiều đoạn hoặc chờ tiếp kỳ sau. Bao nhiêu đó chưa đủ, quý vị còn gạt gẫm chúng tôi loan báo là có hát bội. Thế rồi có hôm chờ mãi, chờ mãi hết tin tức đến phóng sự rồi bình luận, chúng tôi cũng kiên nhẫn ngồi xem cho đến 23 giờ đêm để rồi được quí vị cáo lỗi vì lý do… kỹ thuật, tuồng hát bội hôm nay được thay bằng một chương trình tân nhạc.
            Thế thì đành chờ quí vị thương tình trả cho một buổi hát bội trong kỳ tới vậy. Thế rồi, than ôi! Tuần tới giờ giải trí đêm Thứ Tư lại là tuồng cải lương hồ quảng. Không phải vì óc kỳ thị, nhưng chúng tôi sẽ buồn mà thấy quí vị quá lạm dụng bộ môn cải lương đó. Chúng tôi đã nhiều lần châu mày trước những câu văn rẻ tiền của cái được mệnh danh là cải lương hồ quảng. Xét về nội dung lẫn hình thức, bộ môn này chỉ thỏa mãn được một số đông người bình dân dễ tính.
            Thế mà hát bội lại bị hát hồ quảng chèn ép một cách tệ hại. Không thể ngồi yên một cách tiêu cực, chúng tôi cố gắng sức già gióng lên một tiếng chuông kêu cứu, thỉnh cầu quý giới chức có trách nhiệm ở đài Truyền Hình Việt Nam vui lòng xót thương cho một bộ môn nghệ thuật đang bị diệt vong trước làn sóng văn nghệ ngoại lai, mà giúp cho hát bội được góp mặt khá hơn trên quý đài. Chúng tôi cũng thiết tha mong chương trình này được phát hình sớm hơn thường lệ để bọn già chúng tôi đỡ phải mỏi lưng chờ đợi.


            Lá thư được chấm dứt tại đây.
            Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ truyền lâu đời, thịnh hành qua nhiều thế hệ và mọi người trong chúng ta có lẽ không một ai lại muốn cho nghệ thuật văn hóa dân tộc này bị mai một. Thế nhưng, nói thì nói thế chớ trên thực tế thì trong quá khứ từ thời trước 1975 hát bội đã bị chèn ép một cách thảm hại, và rồi đây không biết có tồn tại được chăng? Giáo Sư Đinh Bằng Phi nguyên là giáo sư dạy tại trường Trung Học Vũng Tàu. Về sau biệt phái về Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, và dạy môn hát bội tại trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài Gòn. Ông từng đoạt giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống về môn hát bội.
            Giáo Sư Đinh Bằng Phi gởi cho tôi dĩa hát bội tuồng Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu với các nghệ sĩ thủ các vai như sau:
            – Nữ nghệ sĩ Năm Đồ vai Lưu Kim Đính.
            – Nữ nghệ sĩ Ba Út vai Triệu Hoàng Cơ.
            – Nghệ sĩ Năm Còn vai Dư Hồng.
            – Nghệ sĩ Chín Luông vai Vua Triệu Khuông Dẫn.
            – Nghệ sĩ Thành Tôn vai Quân sư.
            – Nghệ sĩ Mười Sự vai Cao Quân Bảo.
            Với các nhạc sĩ: Sáu Vững (đờn cò), Tư Phúc (kèn), Hai Giác (đánh trống), Văn Vĩ (thổi tiêu), Năm Cơ (kìm).
            Tất cả các nghệ sĩ, nhạc sĩ trên đây đều qua đời.
            Và bây giờ, trước khi mời quí vị nghe vở tuồng hát bội Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu. Tôi nhờ làn sóng phát thanh này chuyển lời thành thật cám ơn Giáo Sư Đinh Bằng Phi.


NGÀNH MAI
Tháng 8/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-08230-nm-08282014070421.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #102 vào: 01/03/2018, 18:13:33 »
Bài vọng cổ “Kiếp Con Tằm”


Thời cuối thập niên 1940 hãng dĩa hát Việt Nam đã cho ra đời bộ dĩa vọng cổ trọn 20 câu “Kiếp Con Tằm” do nam danh ca Xuân Liễu trình bày đã làm say mê giới mộ điệu thời bấy giờ. Thời ấy tại trụ sở đài phát thanh Pháp Á ở đường Boulevard de la Somme (đường Hàm Nghi sau này) là nơi rất nhiều ca sĩ tài tử từ các nơi quy tụ về đây, gồm những giọng ca cổ nhạc được giới mộ điệu yêu chuộng, như có cô Năm Cần Thơ, Thành Công, Sáu Thoàng, Minh Chí, Xuân Liễu, Bạch Huệ, Thanh Hương, Văn Chung v.v… (thời này Văn Chung còn là tay ca tài tử chớ chưa làm hề).

Con tuấn mã trong “Kiếp con tằm”

THỜI ĐÓ thiên hạ đồn đãi rằng vườn hoa cổ nhạc ở nơi đài Pháp Á này, nên bà Sáu Liên ở căn phố gần đó (đường Võ Di Nguy) đã có cái nhìn chiến lược của nhà làm thương mại. Bà thành lập hãng dĩa hát lấy tên “Việt Nam” khai thác các giọng ca đang được mến mộ, mà khỏi phải đi tìm kiếm ở đâu xa, vì đài Pháp Á đã chọn sẵn.
            Trong số dĩa hát của hãng Việt Nam phát hành thời ấy, có dĩa vọng cổ “Kiếp Con Tằm”. Đặc điểm của bộ dĩa này là nam danh ca Xuân Liễu ca trọn 20 câu vọng cổ, mà tình tiết, nội dung kể lại một câu chuyện thương tâm đầy tính chất hoang đường, nhưng cũng rất cảm động ăn sâu vào tiềm thức người nghe hằng bao thế hệ.
            Câu chuyện không biết xảy ra ở đâu, ở thời kỳ nào, chỉ nghe truyền khẩu trong nhân gian kể lại rằng:

            1) Túp lều tranh bên giòng suối Thạch Tuyền. Đêm vắng canh tàn sao vẫn còn leo lét ngọn đèn xanh. Nàng Mai Nương đang thắp mấy tuần hương, thầm van vái cho cha già sớm được toàn thân phản hồi cố lý.
            2) Chốn sơn khê ngày tháng cô quạnh, giọng đỗ quyên thắt thẻo gọi canh trường. Cảnh huống não nề khiến cho gái má hồng. Phải tuông rơi giòng thảm lệ… ai đốt bóng… Canh chày thổn thức, nàng chỉ thương cho đứng cha già vì con mà một nắng mười sương.
            3) Hỡi ơi đường xa vạn lý chuyện nhân thành. Tri dạ bất tri hà xứ túc. Bước quan san bốn bề hoa cỏ lạ, sớm gió chiều sương, canh tàn khắc lụn, Mai Nương tan nát tấm lòng. Quê trong những ngày mưa Thu nắng Hạ, cớ sao vọng cố hương cha vẫn cứ mãi bơ thờ.
            4) Giữa cô thôn đêm sương vắng lặng như tờ. Gió rít từng đêm, bất giác lòng nàng bỗng cảm thấy u hoài vô hạn. Nàng mới cất tiếng trỗi lên một giọng hát trầm bổng não nùng. Vái trời cho cha sớm hồi viên. Kẻo lòng con trẻ chờ trông đêm ngày. Hò hơ hôm này có phúc tai qua, cùng nhau hôm sớm mà bặt tin cha về.
            5) Nỗi nhớ cha không bớt lệ ưu phiền. Mai Nương rảo bước đến bên than thở với con ngựa thân yêu rằng. Tuấn mã ôi! Khi xưa cha ta nhờ mi đưa mấy dặm đường xa, trèo non vượt suối mi cũng vẫn không dời đổi dạ trung thành.
            6) Nếu mi có phải là con vật trung tín khôn ngoan, biết mến thương chủ cũ, thì mi hãy đi tìm cho được cha ta đem về nơi cố lý để cho phụ tử được trùng phùng. Thì ta xin thề với trời cao đất rộng ta sẽ bằng lòng kết chặt mối lương duyên.
            7) Tuấn mã nghe qua hí lên mấy tiếng vang trời. Bốn vó cuốn mau trong đám bụi mờ. Chạy thẳng ra ngoài hiểm địa quan sơn. Trước để mong bày tỏ dạ trung thành, sau nữa để cùng ai kia vẹn niềm tơ tóc.
            8) Rồi một buổi sáng tinh sương, Mai Nương còn đang tựa gối trông chờ. Bỗng nghe có tiếng vó câu hiện đều bên ngõ vắng. Thì ra con ngựa thân yêu đã tìm ra chủ cũ, nên mới đưa lão ông trở về cho cốt nhục đoàn viên.
            9) Đốt mớ than hồng để sưởi ấm cho cha, Mai Nương mùng rỡ biết bao, khi trông thấy lão ông lần lần hồi tỉnh và cất tiếng nói rằng: Hỡi này Mai Nương yêu dấu con ơi! Bởi nhờ nơi đâu mà cho con ta còn ngày đoàn viên tái ngộ.
            10) Mai Nương nàng mới tỏ rõ để cho lão ông đầu đuôi thấu rõ sự tình. Cha ôi! Sở dĩ hôm nay cha con ta được một nhà sum họp cũng nhờ con ngựa khôn ngoan biết mến thương chủ cũ. Không nài khổ nhọc gian lao, cha con mới được tương phùng ngày nay.


            Thế là nàng Mai Nương đã toại nguyện, cha con được đoàn viên sum vầy. Đây mới là rắc rối, đối với con tuấn mã phải giải quyết làm sao, bởi nàng đã thốt lên câu nói: “Phụ tử được trùng phùng, thì ta xin thề với trời cao đất rộng, ta sẽ bằng lòng kết chặt mối lương duyên.”
            Thật là câu chuyện quá hoang đường!



            Tình tiết câu chuyện diễn tiến và kết cuộc ra sao, tôi sẽ trình bày tiếp. Bài vọng cổ “Kiếp Con Tằm” thu thanh dĩa hát thời cuối thập niên 1940 với tiếng hát ngọt ngào thu hút người nghe của nghệ sĩ Xuân Liễu. Đây là một trong số rất ít bài ca vọng cổ còn đủ 20 câu, được Xuân Liễu ca theo lối tài tử còn lưu lại được đến ngày nay.

            11) Phụ tử sum vầy không ngớt chuyện hàn huyên. Nào hay đâu con vật trung thành vẫn mỏi mắt ngóng trông. Vì mãi nhớ lời của thiếu nữ trước kia cùng nhau hứa hẹn. Nếu ngày nào cha con đoàn viên hội ngộ, thì sẽ được cùng ai có kết chặt giãi tâm đồng.
            12) Tuấn mã suốt mấy hôm nay đã âm thầm. Hỡi ơi tương tư nhứt dạ từ… Nàng ơi! Có phải đâu nào cách trở sơn khê, cớ sao nỗi lòng u ẩn khắt khe. Không thể cùng nhau bày khúc chiết. Tiếng minh thệ sao nàng không giữ vẹn. Lời ước hẹn cùng nhau chỉ là trò điêu ngoa giả dối, vì bạc đen là thói má hồng. Bỗng nhiên tuấn mã đau buồn biếng uống biếng ăn. Lão ông hỏi lại Mai Nương thì nàng mới đầu đuôi giãi bày cặn kẽ. Chỉ vì cha ra đi không có hẹn ngày trở lại, cho nên chốn quê nhà nàng xiết nỗi nhớ thương.
            14) Chợt nhìn đến con ngựa yêu quí của cha mà nỗi nhớ thương đày đọa tấm gan vàng. Chẳng biết ngàn dậm ra đi giữa đất trời tuyết sương phong vũ, cha có được vẹn toàn thân thể, hay là cát bụi giang hồ vùi lấp chí bồng tang.
            15) Động mối thâm tình phụ tử, nàng mới lỡ lời hứa hẹn với con vật rằng: Hỡi này tuấn mã khôn ngoan. Hãy tìm sao cho được phụ thân đem về. Sau khi sum hiệp đoàn viên. Thì nàng cũng nguyện sẽ kết duyên vợ chồng.
            16) Hôm nay tuấn mã ra công cứu cha nàng sống sót đưa về. Con vật khôn ngoan vẫn không quên lời đoan thệ. Lòng căng lên một niềm thương nhớ, mà thấy thiếu nữ sao vẫn thờ ở chẳng chút thương tình. Có lẽ vì buồn duyên tủi phận nên tuấn mã thình lình đã nhuốm bệnh tương tư.
            17) Rõ thấu được nguồn cơn, lão ông vội vã bước đến bên chỉ vào con vật thân yêu cả lời mắng nhiếc: Hỡi này loài hạ tiện súc sanh, sao tham vọng ngông cuồng thế ni. Những loài cầm thú như mi, chớ sao không thác nát thây cho rồi!
            18) Tuấn mã nghe qua càng thêm trăm chiều ủ dột, thét lên một tiếng đau thương rồi tắt hơi ngã xuống bên thềm. Nhưng lão ông vẫn chưa bớt trận lôi đình, cho người phân thây ra muôn đoạn. Rồi đem tấm da ngựa đỏ hồng phơi ngoài nội cỏ, để cho kẻ si tình lại một lần giãi nắng dầm sương.
            19) Mai Nương đau đớn cho con vật trung thành cũng vì nàng mà cam thác thảm thương. Một hôm vắng bóng phụ thân, nàng mới lén đến bên tấm da ngựa mà khóc rằng:
                        Vong hồn tuấn mã chứng tri,
                        Cha ta sỉ nhục mi đành thác oan,
                        Kiếp này lỗi hẹn quên thề,
                        Tái sanh kết chặt đồng tâm duyên hài.
            20) Dứt lời trời nổi trận cuồng phong. Bỗng nhiên tấm da ngựa bay lên phủ vào mình thiếu nữ rồi cả hai hóa ra loài sâu suốt đời cứ nhả sợi tơ lòng muôn đoạn. Vạn kiếp cho duyên kia đừng lỡ dở. Cho mối keo sơn gắn chặt đến muôn đời.
            Hỡi ơi tích ngàn xưa còn lưu lại. Trót mang kiếp con tằm nên phải trả nợ dâu.


            Câu chuyện thật hoang đường khó có thể tin được, nhưng lại là sự tích nhân gian, được viết thành bài ca, được vô dĩa hát thì đương nhiên đã đi vào lịch sử văn học nghệ thuật nước nhà vậy. Chúng ta dù có chấp nhận hay không, có tranh luận đến đâu đi nữa thì cũng thế mà thôi.
            Tôi cũng đã từng nghe thấy bà con ta, sau khi thưởng thức dĩa hát thì đa số đều cho là câu chuyện có thật và bàn tán khá nhiều. Cũng như đã không ít người nói rằng, con tuấn mã kia là kiếp người nên mới khôn quan đến thế và nghe được tiếng người, nhưng đầu thai lộn thành con ngựa, nên khiến cho nó phải chết đi, thành kiếp khác để mà kết chặt duyên hài với cô gái, chung sống với nhau đời đời vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 9/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-09112014-nm-09112014063002.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-09212014-nm-09212014055510.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #103 vào: 14/03/2018, 18:10:38 »
Vở cải lương pha thoại kịch “Tình Cô Gái Huế”

Căn cứ vào thành phần nghệ sĩ được hãng dĩa chọn thu thanh bộ dĩa “Tình Cô Gái Huế”, người ta thấy rằng hãng dĩa đã có nhiều kinh nghiệm của nhà làm thương mại, nắm vững thị trường, nên đã không ngại tốn kém mời đến hai thành phần nghệ sĩ toàn là tên tuổi đang ăn khách. Hãng dĩa đã quá rõ biết người ưa thích cải lương nghe tiếng ca là bỏ tiền ra mua dĩa, nếu đúng người ca mình mến mộ.

Bìa đĩa hát Vở cải lương “Tình Cô Gái Huế”

Nghệ sĩ tên tuổi
            Cũng nên hiểu rằng người nông dân rất cân nhắc trước khi bỏ tiền ra mua sắm, nhưng đã đúng sở thích rồi thì họ cũng dám bỏ tiền ra mua cho bằng được. Hãng dĩa đã đánh đúng tâm lý của người dân thôn quê, đặc biệt là vùng sông nước miền Tây. Tôi còn nhớ một nhà buôn tạp hóa ở Cai Lậy, cũng đồng thời là đại lý hãng dĩa hát. Mặt sau tiệm là đường sông, rất thuận lợi cho việc mua bán ở vùng đất trù phú này.
            Khi dĩa hát từ Sài Gòn mới mang về, tức thì chủ tiệm mang dĩa cho hát hướng ra ngoài sông. Tiếng ca Thanh Hương trong dĩa “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” được phát ra, thì nhiều chiếc ghe xuồng chạy ngang đã tấp vào để mua dĩa. Có người vét sạch tiền trong túi mà còn mượn thêm của người đồng hành để đủ tiền mua cho được dĩa hát tiếng ca Thanh Hương. Và không nói người ta cũng biết là tối hôm ấy, bà con lối xóm sẽ hội tụ tại nhà có dĩa hát để cùng nghe giọng ca vàng mà họ chưa một lần thấy mặt người ca.
            Vai nam chánh trong dĩa hát “Tình Cô Gái Huế” do nghệ sĩ Hữu Phước đảm trách. Kép Hữu Phước với làn hơi ca vọng cổ ru hồn làm rung cảm người nghe, được giới mộ điệu mến mộ còn hơn Út Trà Ôn, dù rằng Cậu Mười vẫn còn ở ngôi vị đệ nhứt danh ca, nhưng có lẽ lớn tuổi nên hãng dĩa đã không mời. Thời điểm này kép Thành Được chỉ mới xuất hiện ở sân khấu chưa nổi tiếng nhiều, các hãng dĩa chưa ngó tới chàng ta, do đó mà Hữu Phước tung hoành ở địa hạt dĩa hát.
            Về phía kịch thì hãng dĩa mời ban Dân Nam, các kịch sĩ quen thuộc với thính giả đài phát thanh Sài Gòn, gồm Anh Lân, Túy Hoa, Túy Phượng. Thời cuối thập niên 1950 này, về thoại kịch hình như chỉ có ban Dân Nam có chương trình trên làn sóng phát thanh của đài Sài Gòn. Ngoài ra tôi không nghe thấy ban kịch nào nữa, hoặc nếu có chăng thì cũng không hoạt động thường xuyên, ít người biết.
            Đến khoảng 1967 Việt Nam có truyền hình thì rất nhiều ban thoại kịch xuất hiện đếm không hết, dù vậy cái tên Anh Lân, Túy Hoa, Túy Phượng đã quá quen thuộc với khán thính giả từng ủng hộ ban này, và ban Dân Nam cũng đổi tên là “Tân Dân Nam”. Đặc biệt Túy Phượng mấy năm trước đó đã đoạt giải Hoa Hậu Hội Chợ Quang Trung. Hãng dĩa chọn ban kịch Dân Nam là nhắm vào số người thích xem kịch, cũng như mến mộ người đẹp Túy Phượng, để tiêu thụ dĩa hát mà trong đó có cả thành phần trí thức.


Bộ dĩa Tình cô gái Huế của hãng dĩa Lam Sơn

Tình tiết vở “Tình Cô Gái Huế”
            Về tình tiết vở “Tình Cô Gái Huế”, soạn giả Quy Sắc đã dựng lên các nhân vật thật thích đáng, thương thì thương lắm, mà ghét thì ghét đậm. Người ta thương cho cô gái Huế đã yêu phải Hoàng, chàng trai ở Sài Gòn ra Huế ăn học (hai vai chánh này do Út Bạch Lan và Hữu Phước đóng). Họ chung sống với nhau và cô gái Huế có thai, chàng xem như vợ. Theo lệnh gọi của cha mẹ Hoàng, chàng dẫn cô gái Huế về ra mắt thân phụ thân mẫu. Thế nhưng, cha mẹ Hoàng (do kép lão Ba Túy và Túy Hoa thủ vai) gọi chàng về là để… cưới vợ, một cô gái thuộc đợt sống mới, con của quan Phủ nhà giàu. Thế rồi mẹ Hoàng đã không bằng lòng, đuổi cô gái Huế ra khỏi nhà.
            Hoàng vâng lời song thân cưới cô vợ thuộc đợt sống mới ấy (Túy Phượng đóng vai). Trớ trêu thay cô này về nhà chồng lại đang bụng mang dạ chửa, do đó xảy ra cuộc cãi vã giữa sui gia. Cha cô gái vốn là nhà quan, hăm dọa sẽ kiện ra tòa. Cuối cùng thì cô gái đợt sống mới gây gỗ lớn tiếng với cha mẹ chồng, và cô theo cha ruột trở về nhà mình.
            Giờ đây thì mẹ của Hoàng mới hối hận, cùng Hoàng đáp xe lửa đi Huế để nhận con dâu và cháu nội. Nhưng rồi đâu có được như ý muốn, đã muộn màng lắm rồi! Kết cuộc vở hát rất bi thương, giống như người ta đi coi phim Áo Người Trinh Nữ của Nhựt trước đó vậy.

Cải lương pha kịch và nhạc
            Bộ dĩa “Tình Cô Gái Huế” thu thanh thời cuối thập niên 1950, đào kép cải lương đang hát bài bản cổ nhạc, bỗng nhiên ca sĩ kích động nhạc Túy Phượng cất tiếng hát bản nhạc mới, khiến cho nhiều thính giả ở thôn quê lấy làm lạ, mà phần lớn là người ở miền Lục Tỉnh, nhưng nghe riết rồi cũng quen.
            Thật vậy, trong vở thoại kịch nếu có ca nhạc xuất hiện thì chẳng ai thắc mắc, bởi nó rất thường xảy ra, nhưng lại gây bất ngờ cho thính giả cải lương thuần túy, do bởi xưa giờ chưa có vở hát nào pha lẫn kịch và nhạc trong đó.
            Tôi từng thấy mấy bà mấy cô ở thôn quê miền Tây đi nghe dĩa hát, họ đã lắc đầu:
            – Chán quá! Hát cái gì khó nghe quá!
            Mấy bà già trầu cũng lên tiếng:
            – Nghe chát lỗ tai quá, thôi hát cái khác đi!
            Thế nhưng, như đã nói, hãng dĩa mời Túy Phượng thu thanh là muốn cho dĩa bán luôn cả phía bên những người thích nghe kịch ban Dân Nam, bởi ban kịch nói này cũng được khá nhiều thính giả đón nghe. Lúc dĩa “Tình Cô Gái Huế” mới tung ra bán, đài phát thanh Sài Gòn cho phát rất sớm (có lẽ do hãng dĩa tặng để quảng cáo), thì tại tiệm cà phê ở Ngã Tư Quốc Tế phía sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Nghệ sĩ Năm Châu nói với ký giả kịch trường Phong Vân rằng, soạn giả Quy Sắc và hãng dĩa dùng một mũi tên mà bắn đến hai con nhạn.
            Thật thế, hãng dĩa đã tính toán khá kỹ, chỉ nội cái tên Thanh Hương, Hữu Phước, Út Bạch Lan trong dĩa “Tình Cô Gái Huế” là hốt bạc phía bên người hâm mộ cải lương rồi. Có thêm tiếng nói Túy Phượng, Túy Hoa, Anh Lân là ăn tiền thêm phía bên kịch vậy. Nghe nói thì bộ dĩa này ngoài phần bán chạy miền Lục Tỉnh, mà cũng bán khá nhiều các tỉnh miền Trung, Cao Nguyên Trung Phần, nhờ giới trẻ và người thích nghe kịch ủng hộ.


Kịch sĩ Túy Phượng

Một bước thành tài tử điện ảnh
            Đây là thời điểm mà tên tuổi Túy Phượng nổi như cồn. Hội chợ Quang Trung mở cuộc thi hoa hậu và Túy Phượng đoạt vương miện. Từ đó cái tên Túy Phượng vụt sáng chói trên vòm trời nghệ thuật, được hãng phim mời và một bước trở thành tài tử điện ảnh. Hình như Túy Phượng đóng phim “Thạch Sanh Chém Chằng” cốt truyện dựa theo sự tích nhân gian. Và phim “Lý Chơn Tâm Cưỡi Củi”, dựa theo tuồng cải lương của soạn giả Cô Giáo Hường.
            Tôi nhớ như vậy, chẳng biết đúng hay không, hay là Túy Phượng đóng những phim nào khác, nên người ta mới gọi nàng là tài tử điện ảnh. Lâu quá rồi không còn nhớ rõ, chỉ nhớ mấy lúc sau này vào những năm đầu thập niên 1970 Túy Phượng được hãng phim Liên Ảnh mời đóng phim “Bẫy Ngầm” tức “Mang Xuống Tuyền Đài” nhưng cô từ chối do bởi phim có cảnh thoát y. Túy Phượng bảo rằng:
            – Tôi không cổ hủ đến mức chẳng dám hở hang trong phim, nhưng nếu là một cảnh hợp lý, cần thiết, chớ thoát y bừa bãi thì không được. Hơn nữa, dù sao tôi cũng đã có chồng con, càng tránh được những cảnh như vậy càng tốt. (Dường như vai trò Liên Ảnh tính mời Túy Phượng sau này do Mộng Tuyền đóng).
            Chẳng hiểu chuyện sự thật có đúng như vậy không, nhưng những tấm ảnh của Túy Phượng ở thời gian ấy cho thấy cô nàng “lên cân” khá nhiều so với thời xuân sắc, chẳng còn gì là đường nét kiều diễm của một nàng hoa hậu mấy năm về trước cả. Người ta nói có lẽ do đó mà nàng chẳng dám thoát y chăng?
            Vở tuồng “Tình Cô Gái Huế” Túy Phượng hát chung với hai cô đào cải lương Út Bạch Lan, Thanh Hương. Nghe nói thì tiền cát sê của Túy Phượng bằng hai cô đào nói trên cộng lại, dù rằng cô chẳng ca được vọng cổ. Do đâu mà Túy Phượng lại “cao giá” đến thế chớ? Có người nói rằng hai cô đào cải lương đã thỏa thuận giá cả xong xuôi rồi. Dù sao đi nữa thì cũng không có vấn đề trả lại tiền, vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại, mà về sau khó được hãng dĩa mời. Nghệ sĩ cải lương thì rất dễ được hãng dĩa mời, còn kịch sĩ thì có mấy khi được mời thu dĩa, do vậy nên hai cô đào cải lương chẳng phân bì làm chi cho sanh chuyện không hay.
            Về phần Túy Phượng thì đang sáng giá phía bên kịch, là một người đẹp mà giới trẻ yêu thích kích động nhạc mến mộ, nhưng chỉ nổi bật trên sân khấu thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 10/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1003-nm-10032014134630.html
http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-101114-nm-10112014073909.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #104 vào: 21/03/2018, 21:15:19 »
Út Hiền – Bạch Tuyết

Hồi xa lắm rồi, một cậu giáo làng ở tỉnh Bạc Liêu cảm thấy nghề giáo trầm lặng quá, thiếu chất rung cảm mà tâm hồn cậu thì tha thiết với đờn ca xương hát, nên cậu cương quyết ra đi, lên Sài Gòn để theo cải lương. Cậu giáo đó về sau là kép Út Hiền.

Bìa dĩa hát Ngày Sau Sẽ Ra Sao của nghệ sĩ Út Hiền

Đệ tử của Út Trà Ôn
            Đến đất Sài Gòn đầu thập niên 1960, năm ấy là năm mà danh tiếng đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vang dội khắp nơi, cậu bị cuốn hút bởi Út Trà Ôn nên đến xin làm đệ tử. Thấy cậu có vẻ hiền, Cậu Mười bèn đặt cho cậu cái biệt danh rất “Nam kỳ” là Út Hiền. Thế là từ đó cậu mang “dòng họ” Út.
            Thời gian sau Út Hiền là kép chánh đoàn Hương Mùa Thu đóng cặp với đào Ngọc Hương. Có những màn tình tự, vai kề vai, má kề má, đã làm cho ông xã của nàng là soạn giả Thu An điên tiết lên, và nhứt định phải cho Út Hiền rời khỏi đoàn.
            Rồi thì Út Hiền đi làm kép chánh của nhiều đoàn hát khác như ai nấy đều biết. Nhưng trên sân khấu Dạ Lý Hương, anh đành thúc thủ đứng hạng nhì sau kép Hùng Cường. Chuyện rõ ràng là thế, Út Hiền không bao giờ chối cả, cũng như mọi người đều xác nhận như vậy.
            Rồi có một lần nọ tại Bạc Liêu, kép Hùng Cường bận về Sài Gòn đi công tác (bởi Hùng Cường là kép lính có lệnh gọi là phải về). Không lẽ vì thiếu một người đoàn hát phải nghỉ? Cũng có thể thay Hùng Cường tạm hát được mà. Thế là Út Hiền “phụng mạng” đứng ra thay thế Hùng Cường để đoàn hát khỏi nghỉ và đào kép khỏi mất đêm lương.
            Tưởng vậy là ơn nghĩa, tròn trịa rồi, không dè việc thay thế ấy không làm hài lòng người đóng cặp với mình, tức đào Bạch Tuyết. Do vậy, đang hát nửa chừng, Bạch Tuyết la ó om sòm, cự nự rùm beng trước mặt đông người.
            Bị chạm tự ái quá mạnh, Út Hiền không thể dằn được, nhứt là về đến xứ sở quê hương Bạc Liêu của mình. Trước mặt bạn bè mà bị Bạch Tuyết “hạ” cho một đòn chí tử, Út Hiền phản công tới tấp và không quên dùng những lời nặng nề thóa mạ trả đũa đối phương. Thế là đôi bên “sáp chiến”, một trận giặc mồm được diễn ra quyết liệt.
            Út Hiền la ó:
            – Cô thần tượng với ai chớ với thằng nầy… xê rô (0) biết không?
            Vừa tới đó thì có người can ra, trận chiến tàn lần không thì chưa biết hồi sau kết cuộc thế nào.



Chuyện Bạch Tuyết
            Và tiếp sau đây là câu chuyện Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu.
            Giai thoại về Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu. Có một dạo trong làng cải lương và khán giả hâm mộ bộ môn nghệ thuật này, đã bàn tán sôi nổi vấn đề ăn mặc của cải lương chi bảo Bạch Tuyết, sau khi đi xem vở tuồng “Tuyệt Tình Ca” của soạn giả Hoa Phượng Ngọc Điệp trên sân khấu Dạ Lý Hương.
            Thật vậy, vở tuồng nói trên Bạch Tuyết với vai Lê Thị Trường An, một cô gái “bao” của mấy ông già háo sắc, nàng mặc quần bó sát, diễn ở Lục Tỉnh làm khán giả nhao nhao lên. Cũng như trong vở hát “Gái Nhảy” Bạch Tuyết thủ vai Sương cũng ăn mặc “hấp dẫn” tương tự, do đó người ta cho rằng trong hầu hết các cô đào cải lương, Bạch Tuyết là nữ nghệ sĩ tiên phong trong lối ăn mặc táo bạo.
            Vấn đề cũng đã lên mặt báo khiến cho dư luận nổi lên với hai khuynh hướng: Kẻ cho rằng lối diễn xuất nàng sexy xa hơn hiện trạng cải lương, không ngờ Bạch Tuyết lại tiến đến mức “quốc tế” đó! Nhưng ngược lại thì số người khác cho rằng nàng dạn dĩ chỉ vì nghệ thuật, bởi bản chất của Bạch Tuyết là tân tiến, cô không từ chối sự chỉ bảo của đạo diễn, phải khen cô ở điểm đó. Có người nói cải lương, bản thân của nó đã có tính cách sửa đổi không ngừng, việc ăn mặc của Bạch Tuyết trong các vai trò cần thiết là một sự dọ dẫm của cải lương, nhằm để cải hướng nghệ thuật sân khấu. Dù thành dù bại, nhưng lối ăn mặc bạo của Bạch Tuyết cũng là một cách thúc đẩy nền ca kịch cải lương tiến bộ theo nhu cầu cuộc sống.
            Về phản ứng của khán giả, theo nhận xét của ký giả kịch trường Kỳ Quân thì ông nói rằng, lúc Bạch Tuyết mặc áo quần “đợt sống mới” bước ra sân khấu, tôi để ý dưới khán giả thấy mấy bà già hỏng chịu, còn mấy cô trẻ thì lặng im chẳng rõ có tán thành hay không. Riêng mấy cậu trai thì ưa lắm…
            Hỏi ý kiến vấn đề này, nữ ký giả kịch trường Cẩm Thi nói rằng: Nếu Bạch Tuyết dám bôi đen mặt để đóng vai cô gái lai Tây đen gạch mặt trong vở “Trường Kịch 20 Năm” thì dĩ nhiên Bạch Tuyết không từ chối việc ăn mặc “bạo phổi” trong các đoạn cần yếu cho nhu cầu diễn xuất. Tôi nghĩ lối ăn mặc của vai trò không can hệ với tư cách cá nhân nghệ sĩ. Tuy nhiên khi diễn ở các tỉnh lẻ xa xôi, Bạch Tuyết nên có ý thức cẩn thận hơn lúc diễn ở Sài Gòn, bởi vì một nơi đồng bào chưa quen mắt, còn một nơi khán giả đã từng thấy nhiều cô ăn mặc còn dữ dội hơn.
            Tóm lại vấn đề chẳng đi đến đâu hết, bởi lập luận của hai khuynh hướng: Kẻ phản đối, người hoan nghinh, nhưng sở dĩ thiên hạ bàn tán là không phải chỉ riêng cá nhân của Bạch Tuyết, mà nó liên quan đến bộ môn văn hóa nghệ thuật nước nhà. Chứ nếu như Bạch Tuyết là một cô gái bình thường như hằng bao người nữ khác, thì chắc chẳng ai bàn tán làm chi, có chăng là chỉ nói một cách chung chung thôi.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1025-nm-10252014071137.html