Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 25843 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Tảnmạn... Vănhóa...
« vào: 08/03/2017, 08:16:12 »
tảnmạn... vănhóa...
______ ______  ______ ______

01.  Ngày Quốc tế Phụ nữ, nghĩ về tinh thần “Phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương
02.  Đôi dòng cảm nhận về ca khúc “Xuân này con vắng nhà”
03.  Ngày xuân bàn câu đối Tết
04.  Tình thơ Nguyên Sa
05.  Marguerite Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật
06.  Vũ Thành An và những câu chuyện của 10 bài Không Tên
07.  Hai Bà Trưng và bài học “việc nước trước việc nhà”
08.  “Người tình” Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc
09.  Nhà văn Virginia Woolf và “Căn phòng riêng”
10.  50 năm phong trào nhạc trẻ
11.  Sự lùi bước của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX
12.  Truyện Kiều phổ nhạc – nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện
13.  Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH
14.  “Có một dòng sông đã qua đời”, hữu hạn và vô hạn trong Trịnh Công Sơn
               page 2
15.  Trọng Thủy – Mỵ Châu và bài học cảnh giác xâm lược
16.  Ca khúc và giai thoại: 40 năm “Bài Thánh Ca Buồn”
17.  Albert Camus: Đam mê viết báo và “4 phẩm chất của một nhà báo tự do”
18.  Nhà văn Mai Thảo và tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”
19.  Sáng mãi tinh thần Vua Quang Trung: “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
20.  “Chủ nhật buồn”: Bản tình ca “tuyệt mạng” đầy huyền thoại
21.  Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt
22.  Mười năm xa khuất Thanh Tâm Tuyền
23.  “Nam Quốc Sơn Hà”: Chân lý chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam
24.  Giai thoại tình ca: 40 năm nhạc phẩm Love Story
25.  Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie
26.  Thi sĩ Bùi Giáng, nhà thơ kỳ lạ
27.  Trần Hưng Đạo: Tinh hoa quân sự Việt Nam
28.  Nhạc Pháp lời Việt: Solenzara nào có Nắng Xuân
29.  Triển lãm Lão giáo tại Paris trong mắt khách tham quan
               page 3
30.  Về một bài thơ của Phạm Công Thiện
31.  Trầm Tử Thiêng – Một đời “Tưởng Niệm”
32.  Chu Văn An – Sáng ngời đức độ nhà giáo Việt
33.  Rodin, người thổi hồn cho nghệ thuật điêu khắc
34.  Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên
35.  “Tiếng hát quay tơ” Mai Hương, nửa thế kỷ tình tự ca
36.  Nguyễn Trường Tộ: Bài học về sự phối hợp giữa trí thức và nhà cầm quyền
37.  100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Jean Genet
38.  Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn
39.  Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...”
40.  850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris
41.  Cảm nhận sau khi coi phim Buddha 54 tập trên Internet
42.  Clara, người vợ cùng André Malraux vẫy vùng tại Đông Dương
43.  Nhóm “Sáng Tạo” của thập niên 1950
44.  Sách khiêu dâm Fifty Shades soán ngôi Harry Potter
               page 4
45.  Trần Thủ Độ: Đời luận anh hùng
46.  |*
47.  Quầy sách cổ, sách cũ: nét chấm phá dọc bờ sông Seine
48.  Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”
49.  Nhà văn Tennessee Williams, một đời người muôn kiếp sống
50.  Minh Ðức Hoài Trinh đã ra đi, vĩnh viễn ra đi!
51.  1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg
52.  Sài Gòn buổi ấy lạc nhau…
53.  Thành phố Strasbourg: Biểu tượng hòa giải Pháp-Đức
54.  Dương Vân Nga: Đời luận anh hùng
55.  Alexandre Dumas, cực giỏi viết văn, tuyệt đỉnh nấu ăn
56.  Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn
57.  Paris và cà phê vỉa hè
58.  Ông Vũ Tài Lục, một mất đi, khó người thay thế
59.  Ladurée, sức quyến rũ của bánh macaron Pháp
               page 5
60.  Nữ văn sỹ Nguyễn Thị Thụy Vũ
61.  Nghệ thuật làm bánh macaron của người Pháp
62.  Thái Hậu Ỷ Lan: Nữ chính trị gia kiệt xuất Việt Nam
63.  Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo
64.  Nguyễn Ánh 9, tiếng dương cầm vang mãi
65.  “Bánh mì của tổng thống Pháp”: niềm tự hào của thợ làm bánh thủ công
66.  Tuổi trẻ Vạn Hạnh
67.  Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro
68.  Mai Thọ Truyền, từ chùa Xá Lợi tới Phủ Văn Hóa
69.  Luân Đôn: Đồng hồ Big Ben lặng tiếng chuông
70.  Bảo Đại: Từ hoàng đế Việt “lực bất tòng tâm” đến “thường dân” Pháp
71.  Halloween là gì?
72.  Thanh Lan, tiếng hát của tài và sắc
73.  Catacombes – “Vương quốc người chết” trong lòng Paris
74.  Nghề văn, lòng thành và ngộ nhận
               page 6
75.  Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn: Một “kỳ tích” của ngành đường sắt Anh Quốc
76.  Nh. Tay Ngàn, lập lòe trí nhớ
77.  70 ngày cuối đời của Van Gogh ở Auvers-sur-Oise, Pháp
78.  Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger
79.  Hà Lan lập “nhà thổ” tự quản để chống nạn buôn người
80.  Vũ Khanh, tiếng hát của tình yêu và niềm tin
81.  Khám phá nhà thờ Thánh Tâm Montmartre Paris – Basilique du Sacré-Cœur
82.  Con đường Mặc Đỗ từ Hà Nội Sài Gòn tới Trưa trên đảo san hô
83.  Luân vũ mùa đông
84.  “Tha La xóm đạo” và “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”
85.  Truyền thống Giáng sinh tại châu Âu
86.  Nguồn gốc tập tục Cây thông Noël
87.  Đêm Thánh Vô Cùng
88.  Nhận diện lại Nam Phong tạp chí
89.  Bốn “huyền thoại” giúp sâm banh của Pháp nổi tiếng
               page 7
90.  Nhà thơ Viên Linh ra sách “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam”
91.  150 năm Đế chế Áo-Hung: Một thời vang bóng
92.  Nghệ sĩ Thành Lộc với “Tâm Thành và Lộc Đời”
93.  Ga Tây – Budapest, một kiệt tác kiến trúc của Trung Âu thế kỷ 19
94.  Vua Hàm Nghi: Cuộc đời nghệ sĩ
95.  Cách Mạng Hung 1848 và thi phẩm xuất thần “Bài ca Dân tộc”
96.  Song Ngọc và một đời sáng tác
97.  Bộ phim “Sissi”: Một đời vinh quang và cô độc của hoàng hậu Áo Quốc
98.  Nhật ký văn nghệ thời tuổi trẻ, Sài Gòn 1965
99.  Sartre và Beauvoir: tình yêu và triết lý
100.  Một tách café cho hai người
101.  Giải pháp nào cho ổ khóa tình yêu?
102.  Bài tình ca nổi tiếng “Khúc Thụy Du” cho ngày Valentine
103.  Nước hoa Chanel số 5 vẫn là số một
104.  Paris và những bản tình ca
               page 8
105.  |*
106.  Dưới bóng những cây cầu cổ kính, lộng lẫy của Paris
107.  Doãn Quốc Sỹ, một ngòi bút chân phương, cổ điển
108.  “Nhà nổi” trên sông Seine, sở thích đắt tiền của người Paris lãng du
109.  Paris khám phá tranh Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần
110.  400 năm rực trầm vườn Lục Xâm
111.  “Đây, chương trình Thi văn Tao Đàn…”
112.  Champs-Elysées: Từ “bãi sình lầy” tới “đại lộ đẹp nhất thế giới”
113.  Nhạc sĩ Thanh Sơn, người viết cho kỷ niệm
114.  Điện Elysée – nơi ghi dấu quyền lực nước Pháp
115.  Nhà văn Nhật Tiến
116.  Khải Hoàn Môn Paris và ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt
117.  Nguyễn Tất Nhiên: “Thà như giọt mưa”
118.  Cột đá Obélisque: Biểu tượng sức mạnh trên quảng trường Concorde, Paris
119.  Báo cũ, Sáng Tạo 60 năm trước
               page 9
120.  Tháp Eiffel: Từ bà đầm thép bị chế nhạo tới biểu tượng của Paris
121.  Thanh Nam đất khách, những ngày Tháng Tư
122.  Nhà thờ Đức Bà Paris
123.  Ngọc Lan, 15 năm tiếng hát về trời
124.  “Cô bé Quàng khăn đỏ”: Cẩm nang giáo dục giới tính
125.  Nhân Phật Ðản, đọc bài Quốc Tộ
126.  “Alice ở xứ sở thần tiên”: Truyện cho trẻ con hay là cho người lớn?
127.  Những bước tiên phong và thành quả của Ðại Học Huế (1957-1975)
128.  Thần tượng văn học: “Ngôi sao dẫn đường” cho trẻ nhỏ
129.  Nguyễn Đình Toàn từ Đồng cỏ tới Áo mơ phai
130.  Alexandre Dumas đã vào điện Panthéon
131.  Mai Lệ Huyền, một “đệ nhất sexy” và một người phụ nữ bình thường
132.  Pháp: Điện Invalides, nơi yên nghỉ của hoàng đế Napoléon Đệ Nhất
133.  1960, một năm ba tạp chí văn học ra đời
134.  Đi thăm nhà văn John Steinbeck
               page 10
135.  Trần Lê Nguyễn, thơ kịch và phim
136.  Bảo tàng Orsay: từ nhà ga xe lửa tới “kho báu” nghệ thuật
137.  Tháng Bảy, nhớ Nguyễn Mộng Giác
138.  Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Tiểu yêu nữ khả ái
139.  Ý Lan: Tiếng hát đam mê đến từ cảm xúc
140.  Nàng Marianne, biểu tượng của dân tộc Pháp
141.  Tháng Chín nhớ Nguyễn Xuân Hoàng
142.  Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Một cuộc đời ngoại hạng
143.  Trần Quảng Nam: nhạc kịch Truyện Kiều
144.  Nhà hát opéra Garnier và “phong cách của hoàng đế Napoléon III”
145.  Nhóm, tạp chí, và nhà thơ Song Hồ
146.  Norman Mailer, nhà văn “đa sự” của văn chương Hoa Kỳ
147.  Tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Anh Việt Thu
148.  Giới thiệu sách mới của Giao sư Trần Ngọc Ninh
149.  Paris phong cách Haussmann: Dấu ấn thời hoàng đế Napoléon III
               page 11
150.  Văn Nghệ, trong và ngoài tòa soạn
151.  Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết” Pháp
152.  Chúng ta biết gì về nhạc sĩ Hoàng Trọng?
153.  Tuần báo văn chương đầu tiên in offset ở miền Nam
154.  Nhà thờ Đức Bà Paris – “báu vật” kêu cứu
155.  Nguồn gốc của tập tục “trao quà” ngày lễ Giáng sinh
156.  Nguồn gốc ngày lễ Giáng sinh
157.  |*
158.  |*
159.  |*
160.  Hành trình âm nhạc của tài hoa Hoàng Trọng
161.  Tết Tây nói chuyện ngày đầu năm
162.  Sài Gòn trong thơ văn
163.  Tháng Giêng, nhớ Y Uyên
164.  Paris: Hòa âm ánh sáng-pháo hoa đón Năm 2019 trên đại lộ Champs-Elysées
               page 12
165.  Nhà thơ Hồ Ðình Phương và sự nghiệp âm nhạc Hoàng Trọng
166.  |*
167.  |*
168.  Nhân một cái phân ưu
169.  Một số phong tục độc đáo đón Năm Mới trên thế giới
170.  Mùa Xuân, nhìn lại hai mươi năm Tân nhạc miền Nam
171.  Đọc thơ Xuân
172.  Đôi dòng tản mạn đầu Xuân Quý Tỵ
173.  Những ngón tay bắt được của trời
174.  Trang trong trang ngoài một tờ báo
175.  Conciergerie: Chứng nhân lịch sử hàng đầu của kinh thành Paris
176.  Thưởng thức một số “truyện thật ngắn”
177.  Đêm Sài Gòn xưa, và ban hợp ca Thăng Long
178.  Nguyễn Văn Sâm và dòng chảy văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh
179.  “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của Kiên Giang
               page 13
180.  Kim tự tháp bảo tàng Louvre: “viên kim cương” trong lòng Paris
181.  Một tác phẩm của George Orwell đột ngột trở thành “bestseller” của Amazon
182.  Nhạc sĩ Ngọc Chánh, từ soạn sách nhạc tới phát hiện ca sĩ Minh Hiếu
183.  Nhà thơ Nguyên Sa và sự thay đổi cảm nhận thi ca Việt Nam
184.  Tản mạn về chữ nghĩa
185.  Tháp Eiffel – “bà đầm sắt” 130 tuổi và những điều ít được nói tới
186.  Vài kỷ niệm về Trần Phong Giao
187.  Elvis Phương và ban nhạc Shotguns
188.  Đọc lại Truyện Kiều, yêu thêm tiếng Việt
189.  Đi tìm 100 truyện ngắn hay nhất?
190.  50 năm huyền thoại máy bay siêu thanh Concorde
191.  Phúc đức tại mẫu
192.  Thanh Thúy, hiện tượng khó giải thích
193.  Nhớ Tô Thùy Yên
194.  Phan Kế Bính và các nhân vật nước Nam
...


TẠP CHÍ VĂN HÓA  RFI

« Sửa lần cuối: 25/05/2019, 17:32:29 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #1 vào: 08/03/2017, 08:19:30 »
Ngày Quốc tế Phụ nữ, nghĩ về tinh thần “Phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương

Giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, chính quyền Vua Lê-Chúa Trịnh lâm cảnh suy vi, bất công xã hội dâng cao, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trong bối cảnh đó đã lần lượt xuất hiện bốn gương mặt nữ với tài hoa văn thơ xuất chúng, trong đó đặc biệt hơn hết là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chủ nhân của “Cổ Nguyệt Đường” đã thể hiện được tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam, không cam chịu số phận do xã hội áp đặt một cách bất công, một tinh thần có giá trị ở mọi thời đại.

Hồ Xuân Hương trong tranh Bùi Xuân Phái

BỐN NỮ DANH SĨ nêu trên là: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công chúa và Hồ Xuân Hương. Để tìm hiểu về lịch sử văn học giai đoạn này nói chung và tài hoa, tư tưởng của tứ đại nữ sĩ này nói riêng, RFI trao đổi với Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần tại Thành phố Hồ Chí Minh.
            Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần là một nhà sử học, nhà văn hóa kỳ cựu tại Việt Nam với nhiều công trình khoa học có giá trị. Đặc biệt, Giáo sư cũng là một nhà Hán-Nôm lớn, am hiểu sâu sắc về thơ văn chữ Nôm, đặc biệt là về Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Lê Phước: Trước tiên xin Giáo sư sơ lược đôi nét về bối cảnh lịch sử văn học của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19?
Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Văn học dân tộc đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Đó là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam.
            Về lực lượng sáng tác, đây là thời kỳ xuất hiện rất đông đảo đội ngũ những người cầm bút tài hoa. Về tổ chức, đây cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều tổ chức mới, đặc biệt là Tao Đàn Chiêu Anh Các ở phía nam, thành lập vào năm 1736. Về tính đa dạng của đề tài, người ta thấy khác hẳn trước đó. Trong giai đoạn này, văn học tập trung ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi đất nước, ca ngợi thú chơi tao nhã của kẻ sĩ, và đặc biệt là về số phận con người, đồng thời thuật lại rất nhiều câu chuyện ly kỳ.
            Về thể loại, ta thấy văn học giai đoạn này rất phong phú. Ngoài những tác phẩm sáng tác theo niêm luật của Trung Quốc cũ, thì các thể loại văn học dân tộc cũng ra đời và đạt được hiệu quả nghệ thuật rất cao. Về giá trị tư tưởng và giá trị văn học, thì cái mới và nét đặc biệt đã được thể hiện rất rõ.
            Về tác phẩm, trước hết, ngoài một số tác phẩm của văn học Tây Sơn, số còn lại thiếu vắng hẳn những áng hùng văn. Nhưng thay vào đó có nhiều tác phẩm ca ngợi thiên nhiên đất nước, ca ngợi thú vui tao nhã của kẻ sĩ, như cầm, kỳ, thi, họa. Và lần đầu tiên con người, đặc biệt là người phụ nữ được đề cập đến một cách mạnh mẽ.
            Về văn từ sử dụng, thì trong giai đoạn văn học này, chữ Nôm đã chiếm ưu thế trên văn đàn. Những tác phẩm lớn nhất về thể loại sáng tác, thì người ta thấy rằng, ngoài các loại cổ văn viết theo niêm luật cũ vẫn được sử dụng như câu đối, phú, chế, chiếu, biểu và các loại Đường thi… Người ta còn thấy nhiều thể loại văn học dân tộc cũng được sử dụng một cách phổ biến và đạt được những thành tựu nghệ thuật rất lớn lao, ví dụ như thơ lục bát, song thất lục bát, hay truyện thơ Nôm.
            Đây cũng là giai đoạn mà đội ngũ tác giả cũng có những nét mới. Từ đây, thành phần xuất thân của đội ngũ người cầm bút có phong phú hơn giai đoạn trước. Ví dụ ở đây có cả đạo sĩ và nhà sư tham gia vào Tao Đàn Chiêu Anh Các.

Lê Phước: Thưa giáo sư, trong bối cảnh đó ta thấy trên thi đàn xuất hiện bốn nữ sĩ tài hoa, tiếng tăm vẫn còn vang vội đến hiện tại. Vậy xin Giáo sư minh thị đôi điều về bốn cây bút nữ này?
Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Trong giai đoạn lịch sử văn học này, nhiều tác giả nữ tài hoa đã nối nhau xuất hiện. Họ đã làm cho đời sống văn hóa và văn học trở nên sinh động, họ đã có những cống hiến rất đáng để đời đời ghi nhớ. Trong những cây bút nữ tài hoa của giai đoạn này, ta thấy nổi lên bốn tác giả tiêu biểu sau đây:

1) Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm
            Đoàn Thị Điểm sinh vào năm 1705, mất năm 1748, hưởng dương 43 tuổi, quê quán ở huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc cũ, nay thuộc Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên. Thật ra, tổ tiên của bà là người họ Lê, và đến đời cha của bà là Đoàn Doãn Nghi mới đổi sang họ Đoàn. Chồng của bà là tiến sĩ Nguyễn Kiều, và bà là tác giả chính của Truyền Kỳ Tân Xã. Sở dĩ tôi nói là tác giả chính là bởi vì Truyền Kỳ Tân Xã chép nhiều chuyện ly kỳ, nhưng trong đó, theo nhiều nhà nghiên cứu, thì Truyền Kỳ Tân Xã chỉ có một số phần là do bà Đoàn Thị Điểm viết. Dù vậy, tên tuổi của bà trong Truyền Kỳ Tân Xã vẫn được đời đời ghi nhận, bởi bà đã tỏ rõ sự sắc sảo, sự tài hoa của mình.
            Đoàn Thị Điểm cũng là một trong những dịch giả của Chinh Phụ Ngâm Khúc. Bản Chinh Phụ Ngâm được dùng phổ biến ngày nay là bản dịch của Phan Huy Ích. Chinh Phụ Ngâm có nhiều bản dịch khác nhau, trong đó có bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Chúng ta thấy rằng, chất nữ tính trong bản dịch của Đoàn Thị Điểm thể hiện rất rõ, và chất nữ tính này cũng đã được Phan Huy Ích nghiên cứu và kế thừa.

2) Bà Huyện Thanh Quan
            Cây bút nữ thứ hai rất nổi tiếng và tài hoa là Bà Huyện Thanh Quan. Bà có cùng năm sinh và năm mất với Đoàn Thị Điểm. Tên thật của bà Nguyễn Thị Hinh. Chồng bà là Lưu Nghị, từng làm huyện lệnh huyện Thanh Quan, nên người đời mới gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là người làng Nghi Tàm nay thuộc Hà Nội. Cha của bà là Nguyễn Lý, đỗ thủ khoa trong một khoa thi dưới thời hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là học trò của tiến sĩ Phạm Quý Thích. Bà Huyện Thanh Quan từng được giao dạy học cho công chúa và cung nữ dưới thời vua Minh Mạng, vì thế bản thân bà cũng là một trong những học quan tài ba.
            Bà Huyện Thanh Quan đã để lại khá nhiều tác phẩm tiêu biểu, ví dụ như tác phẩm Thăng Long Thành Hoài Cổ. Hẳn là chúng ta ai cũng từng nghe câu:


Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

            Hay là bài Qua Chùa Trấn Bắc, rồi Chiều Hôm Nhớ Nhà, nhưng đặc biệt hơn hết là bài Qua Đèo Ngang hầu như ai cũng đều thuộc cả.

3) Công chúa Ngọc Hân
            Nhân vật thứ ba rất nổi tiếng là Ngọc Hân công chúa. Bà sinh năm 1770 và mất năm 1799, hưởng dương 29 tuổi. Ngọc Hân công chúa là con của hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là Bắc Cung Hoàng Hậu của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, và là tác giả của bài Ai Tư Vãn, một tác phẩm có giá trị.
            Lúc bà đến với Nguyễn Huệ là chuyện “Cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đấy”. Thế nhưng, về sau khi sống với Nguyễn Huệ, trọng đức, phục tài của Nguyễn Huệ, nên tình yêu của bà đối với Quang Trung Nguyễn Huệ trở nên đằm thắm và nồng nàn. Nhưng lúc tình yêu phát triển đến đỉnh cao thì Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Và bà đã viết bài Ai Tư Vãn để khóc chồng, cũng là để khóc một vị hoàng đế tài hoa, khóc một vị danh tướng đã có nhiều công lao to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.

4) Hồ Xuân Hương
            Cây đại bút thứ tư rất nổi tiếng của giai đoạn lịch sử này là Hồ Xuân Hương. Nguyên quán của bà là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thân sinh của bà là Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Lưu, nên chúng tôi mới nói nguyên quán của bà là Quỳnh Lưu. Kỳ thực Hồ Phi Diễn đã ra dạy học ở vùng Kinh Bắc và kết duyên với một người phụ nữ họ Hà, sinh được duy nhất một con gái đó là Hồ Xuân Hương. Ở Bắc Ninh ngày nay vẫn còn một ngôi mộ ghi rõ là mộ của Hồ Xuân Hương, và ở đấy có bia ghi bà sinh năm 1772 và mất năm 1822.

Lê Phước: Trong bốn nữ sĩ nêu trên, ta thấy Hồ Xuân Hương có nhiều nét độc đáo riêng, bởi bà là người có tinh thần “phẫn nộ”, dùng ngòi bút đả phá mọi bất công – những nỗi bất công đè nặng trên đôi vai phụ nữ.
            Trong xã hội phong kiến theo Nho giáo ở Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thân phận người phụ nữ phải chịu nhiều điều thua thiệt so với cánh đàn ông. Ắt hẳn chúng ta ai cũng nằm lòng cái câu: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Người phụ nữ không bao giờ được làm chủ bản thân bởi sự ràng buộc của cái gọi là “Tam tòng”, theo đó “Tại gia tòng phụ – xuất giá tòng phu – phu tử tòng tử”, tức “Khi chưa chồng thì theo ý cha, khi có chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì phải theo con”.
            Trở lại giai đoạn cuối triều Lê đầu triều Nguyễn, thân phận người phụ nữ có lẽ được thể hiện rõ nhất qua mấy câu thơ sau đây của đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều:


Đau đớn thay, phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

            Hay như khi Thúy Kiều nói với Tú Bà:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Nước non lìa cửa lìa nhà đến đây

            Và Hoạn Thư nói với Thúy Kiều:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

            Phản ứng trước thực tại xã hội nam quyền đó, những phụ nữ chân yếu tay mềm biết làm gì hơn ngoài việc cam chịu. Đến như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan hay như Ngọc Hân Công chúa cũng chỉ biết dùng thơ văn để than thân trách phận mà thôi. Thế nhưng, đến với Hồ Xuân Hương lại hoàn toàn khác. Hồ Xuân Hương đã dùng ngòi bút đả phá mọi thứ bất công. Cái chí khí ngất trời của bà nào thua đấng mày râu như câu đối mà bà ứng khẩu đọc lên khi trượt chân vấp ngã và bị đám bạn thanh niên cười nhạo:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

            Cái chí khí đó, cái tinh thần đó được Hồ Xuân Hương thể hiện qua những vần thơ với lời lẽ mộc mạc mà ý tứ thì vô cùng thâm thúy.

Đi sâu vào chủ đề này, Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần phân tích:
            Hồ Xuân Hương từ nhỏ đã nổi tiếng là người tài hoa. Và khi lớn lên thì tài hoa đó đã phát triển mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu to lớn. Vì cha bà là nhà giáo, nên từ nhỏ Hồ Xuân Hương đã được học chữ. Bà đã bắt đầu cầm bút từ nhỏ và trở thành người nổi tiếng về văn chương từ lúc thiếu niên.
            Khi lớn lên, Hồ Xuân Hương đã mấy lần lấy chồng. Người chồng thứ nhất là ông Tổng Cóc. Người chồng thứ hai là ông phủ Vĩnh Tường. Xưa nay người ta cũng chỉ nói đến hai người chồng này thôi. Cả hai lần lấy chồng bà đều làm vợ bé. Và cả hai lần thì hai người chồng đều sớm qua đời. Theo kết quả tìm hiểu của chúng tôi, bà còn có người chồng thứ ba, đó là Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Và lần này bà cũng chỉ là vợ bé. Nhưng rồi ông chồng thứ ba cũng qua đời. Kể từ đó bà không còn kết duyên với ai nữa.
            Hồ Xuân Hương mở một quán giải khát ở Hà Nội, và đấy chính là nơi gặp gỡ của các tao nhân mặc khách. Đó cũng chính là nơi mà tiếng thơ của Hồ Xuân Hương đã vang lên, không những Thăng Long, mà là cả nước, không những ở thế kỷ 18 hay đến thế kỷ 19, mà còn vang mãi đến hôm nay.
            Cố thi sĩ Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm”. Cách gọi ấy rõ ràng là hoàn toàn xứng đáng.
            Trước hết, bà là nhà thơ của phụ nữ, nói lên tiếng nói kết tinh những khát vọng chân chính và cháy bỏng của phụ nữ, thật sự cảm thông sâu sắc và ân cần chia sẻ bao nỗi đắng cay của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đồng thời, Hồ Xuân Hương lên án sự bất công đối với phụ nữ, chất chứa trong vô số những thói tục hủ lậu, mà đặc biệt là tục đa thê:


Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

            Hồ Xuân Hương là một nhà thơ châm biếm cay nghiệt đối với mọi thói hư tật xấu của xã hội. Chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương khiến cho bất cứ ai hễ đọc được cũng đều nhớ ngay, và hễ đã nhớ thì lại muốn đọc cho người khác biết. Quy mô của việc truyền khẩu ngày càng lớn đã biến thơ Hồ Xuân Hương thành một hiện tượng rất độc đáo của đời sống văn học. Những kẻ bất tài mà cũng dám cả gan ngâm vịnh, xướng họa, bị bà mỉa mai, xếp vào hàng:

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa

            Hay những kẻ không hề có lý tưởng tu hành, chỉ chui vào chùa như một cuộc trốn chạy sự truy đuổi của xã hội, và đôi chân lấm bụi đời của họ đã làm ô uế nơi tôn nghiêm bị bà thẳng thừng chỉ trích:

Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà

            Bà thấy rất rõ, phía trong của những áo mũ xênh xang của đấng phụ mẫu tri dân là lòng phàm thô tục. Dáng vẻ đạo mạo bên ngoài của họ không đủ để che khuất những thèm khát tầm thường ẩn giấu bên trong:

Chúa dấu Vua yêu một chút này

            Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, thật hiếm có những ai có tài năng dùng ngôn ngữ bình dân để diễn đạt một cách thiên tài những vấn đề rất tế nhị của cuộc sống đời thường như Hồ Xuân Hương.
            Ngoài sự khẳng khái đấu tranh chống lại bất công đối với phụ nữ, ngoài chất trào lộng và châm biếm gay gắt, Hồ Xuân Hương còn là nhà thơ trữ tình nồng nàn, yêu đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương, thiên nhiên không phải chỉ có vẻ đẹp của dáng hình, mà còn có cả sắc màu âm thanh, và cả cái tâm của người ngắm cảnh:


Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương reo

            Không ít lần trong thơ Hồ Xuân Hương, tình cảm kín đáo và đằm thắm của người phụ nữ Việt Nam hiện lên một cách rất rõ. Có cái gì đó nửa như xa lạ, nửa như gần gũi, cũng là rất Hồ Xuân Hương:

Năm canh lơ lửng chờ ai đó,
Hay có tình riêng với nước non

            Đọc Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy một thiên tài văn học, chúng ta thấy một niềm tự hào về một người phụ nữ tài hoa và về dòng văn học do những người phụ nữ khởi xướng vào thế kỷ 18 và 19.

Lê Phước: Đến đây, ta thấy rằng, ngòi bút của Hồ Xuân Hương không kiêng nể một ai cả. Sự không kiêng nể này không phải là thể hiện thái độ vô lễ trong cách cư xử, mà là để nhắm đến mục tiêu cao cả khác: Đả phá bất công, vượt vòng kiềm tỏa mà xã hội dùng để trói buộc thân phận người phụ nữ. Hồ Xuân Hương chửi từ vua đến quan, từ thói hư tật xấu ngoài đời đến những biến chất tiêu cực trong nhà chùa. Bà đã khéo léo dùng tài văn chương của mình để làm đảo lộn cả trật tự nam-nữ trong xã hội Nho giáo khi bà không ngại mỉa mai người quân tử trong bài Thiếu nữ ngủ ngày:


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông

            Chúng ta thấy thiếu nữ ngủ ngày một cách hết sức hở hang và hớ hênh. Thế nhưng cái thâm ý ở đây là Hồ Xuân Hương muốn cho thấy người phụ nữ nằm ngủ kia đã vượt khỏi những ràng buộc áp đặt người phụ nữ trong chốn khuê phòng, một cách ngủ mà mấy nhà nho cổ hủ đều lên gân chửi.
            Ấy thế mà, bộ mặt thật của đấng quân tử làm ra vẻ đường hoàng kia rốt cuộc cũng chỉ là một tay “phàm phu tục tử”, bởi khi thấy người phụ nữ vô ý vô tứ như thế thì đấng quân tử đã ứng xử như vầy:


Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong

            Hay như trong bài Vịnh cái quạt, Hồ Xuân Hương đã tả cái quạt như sau:

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

            Đọc qua thì chắc là ai cũng hiểu là lợi dụng việc tả cây quạt Hồ Xuân Hương muốn ám chỉ đến cái gì. Ấy thế mà, Hồ Xuân Hương lại đặt “cái đó” lên đầu người quân tử:

Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa

            Trong xã hội phong kiến suy tàn hồi cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, một xã hội Nho giáo cổ hủ, một xã hội chiến tranh loạn lạc, bất công đầy rẫy, thân phận người phụ nữ bị ràng buộc bởi những điều khắc khe nhất của Nho giáo. Ấy thế mà lạ thay, lại xuất hiện tứ đại nữ sĩ với tài văn thơ nào kém cánh mày râu, tài năng hơn xa những “đấng trượng phu” học hành không vì mở mang kiến thức mà vì ngắm nghía công danh lợi lộc chốn quan trường.
            Hồ Xuân Hương nổi lên như một hiện tượng với một tài văn thơ xuất chúng, với một tinh thần “phẫn nộ” trước những bất công đè nặng lên thân phận người phụ nữ. Trong xã hội hiện đại, đâu đó trên thế giới vẫn còn nhiều thân phận phụ nữ “Bảy nổi ba chìm với nước non”, đã có nhiều phụ nữ “phẫn nộ” lao vào những cuộc đấu tranh đòi bình đẳng.
            Và hôm nay ngày Quốc tế Phụ nữ, giở qua các trang báo ta thấy những thống kê gây quan ngại về thân phận người phụ nữ ở một số nơi trên thế giới: nào là nạn hiếp dâm phụ nữ không bị trừng phạt, nào và bạo hành gia đình đối với phụ nữ, nào là nạn tảo hôn… Nói chung là một quang cảnh u ám về quyền phụ nữ. Trong bối cảnh đó, đọc lại tinh thần “phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương ta thấy rằng, tinh thần đó vẫn còn nguyên giá trị.


LÊ PHƯỚC
Tháng 3/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130308-ngay-quoc-te-phu-nu-nghi-ve-tinh-than-%E2%80%9Cphan-no%E2%80%9D-cua-ho-xuan-huong

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #2 vào: 12/03/2017, 21:13:14 »
Đôi dòng cảm nhận về ca khúc “Xuân này con vắng nhà”

Năm nào cũng vậy, khi tiếng chim hót vang trên đầu cành, đánh thức nụ tầm xuân hé nở, những nụ đào hồng, những cánh mai vàng đua nhau khoe sắc, dệt lên bức thảm màu thiên nhiên rực rỡ, bao dung, lay động lòng người, thì cũng là lúc người ta bắt đầu cảm nhận được những tiếng giao hòa của trời đất, đắm mình trong những giai điệu rộn ràng của mùa xuân, lồng lộng sắc xuân.


BẦU TRỜI cao rộng hơn, mặt đất xanh hơn, với những chồi non lộc biếc hòa cùng sắc màu quần áo mới của đàn trẻ nhỏ, khiến người ta lại khắc khoải nhớ về những ngày xuân ấu thơ.
            Đêm giao thừa ngày ấy, trời tối đen như mực, một ngọn đèn nhỏ leo lắt, cũng đủ để thắp sáng trên bàn thờ tổ tiên. Không khí xuân ngập tràn từng góc nhỏ.
            Đã 17 năm rồi, một khoảng thời gian không dài so với một đời người, nhưng cũng đủ để thẩm thấu nhìn lại con đường đã đi qua. Những dòng sông, những cánh buồm, những nẻo đường ngập tràn hoa cỏ của ngày ấy, nay chỉ còn là những ký ức lúc mờ lúc ảo, nhưng lại tái hiện rõ khi mỗi độ xuân về.
            Xuân là thế, thật diệu vợi và luôn bao dung, ngay cả khi đối với những kẻ tha hương, xuân cũng luôn từ bi độ lượng.
            17 khoảng khắc mùa xuân, bao nhiêu mơ ước, xa rời tổ ấm ấy, thế rồi cũng thực hiện được ước mơ trên xứ người, bao nỗi nhớ thương, bao niềm mong đợi, và lại thêm một mùa xuân nữa vắng nhà, chắc hẳn mẹ buồn lắm?
            Hôm nay là những ngày đầu tiên của năm, từ mấy hôm trước, đi mua thêm cặp bánh chưng ở khu chợ quận 13, nơi tập trung đông đảo nhất người Việt tại Paris, mà lòng nặng trĩu nhớ mẹ quê xưa.
            Từ khu nhà cao kế bên trung tâm thương mại, bất chợt nghe văng vẳng bên tai, giọng hát truyền cảm của Quang Lê, với giai điệu bất hủ “Xuân này con vắng nhà”, khiến lòng thêm bồi hồi khắc khoải, nhất là khi biết mẹ ở quê nhà, vẫn còn đang vất vả vì phải lo cho cuộc sống nhật thường.
            Sáng nay, gọi điện về cho mẹ, bất giác mẹ hỏi: “Con còn nhớ món dưa hành mẹ nén, ăn cùng với mắm rươi ngày nào không?”, chợt nước mắt như chực trào.
            Đã hơn 17 năm rồi kể từ khi xa mẹ, tôi không còn cơ hội để ăn lại món ấy nữa, nhưng làm sao có thể quên được món ăn khoái khẩu không thể thiếu trong mâm cỗ tất niên mẹ chuẩn bị cho anh em chúng tôi, vị chua hăng của dưa hành, quyện với mắm rươi đặc trưng, có lẽ chỉ tìm thấy ở vùng quê tôi mà thôi.
            Tất cả đã tạo nên một hương vị có một không hai, đạt đến đỉnh điểm văn minh của ẩm thực ngày Tết, đơn sơ là thế, nghèo nàn là thế, ấy vậy mà cho dù có đi bất cứ nơi đâu, cho đến tận cùng trời cuối đất, dư vị ấy vẫn mãi không thể xóa nhòa trong tâm trí tôi.
            Nuốt tất cả vào lòng để đáp lại lời mẹ hỏi: “con nhớ lắm mẹ”. Tiếng mẹ ở đầu dây bên kia cũng nghèn nghẹn, tôi biết đằng sau tiếng thở dài ấy, là những giọt nước mắt nhớ thương của mẹ mỗi khi nghĩ về những ngày đầu xuân vắng bóng anh em tôi.
            Tôi nhanh chóng phá tan bầu không khi nặng nề đó bằng cách kể cho mẹ nghe hàng loạt chuyện Tết của người Việt mình nơi xứ người, cũng mai, cũng đào, cũng kẹo mứt, bánh chưng xanh, chẳng thiếu thứ gì. Mấy bữa nay ra chợ, không khí cũng náo nhiệt chẳng khác gì Việt Nam.

QUAY TRỞ LẠI với nhạc phẩm “Xuân này con không về” thì đó là một bài hát nổi tiếng do bộ ba nhạc sĩ Trịnh-Lâm-Ngân sáng tác trong khoảng thập niên 60, mở đầu cho một loạt các ca khúc viết về tâm trạng người lính trong mùa xuân.
            Trịnh-Lâm-Ngân là nghệ danh ghép của 3 nhạc sĩ: “Trịnh” tức Trần Trịnh, “Lâm” tức Lâm Đệ, và “Ngân” tức Nhật Ngân. Có lẽ sự kết nối âm nhạc của bộ 3 nhạc sĩ này là một trong những hiện tượng âm nhạc kỳ thú và đặc biệt nhất của làng âm nhạc Việt Nam.
            Trên thực tế, cả 3 ông đều có những sáng tác riêng, nhiều tác phẩm hay, rất thành công, và được người yêu nhạc mến mộ. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa 3 con người, với 3 trạng thái cảm xúc khác nhau, để đúc kết quy về một mối, cho ra đời một “Xuân này con không về” thì quả là đã tạo ra cho ca khúc này một số phận rất riêng biệt.
            Có lẽ cũng chính bởi thế, bên cạnh vô vàn những bản nhạc xuân vui nhộn, công chúng yêu nhạc vẫn lén tìm cho riêng mình một góc nhỏ, để ngồi lắng nghe “Xuân này con không về”, một nhạc phẩm luôn được tôn vinh trong những dịp đầu xuân, không chỉ trong thời chiến chinh loạn lạc, mà ngay cả trong thời bình, nhất là khi người ta mượn nó để biểu thị những cảm xúc, diễn tả thay tâm trạng của những người con xa xứ, mỗi dịp Xuân về.
            Toàn bài hát không hề có chữ “lính” nào, và chỉ khi đến khúc cuối, người nghe mới lờ mờ nhận ra đây là một bài hát viết cho lính, được lồng ghép vào một bức tranh xuân, với những hình ảnh hoàn toàn đối lập, của một bên là gia đình đoàn viên, bên bếp lửa hồng, trông nồi bánh chưng xanh, chờ trời sáng, với bên kia, là hình ảnh người lính đơn côi nơi chiến tuyến, vì cuộc chiến còn đó, bè bạn đồng đội còn đó, nên người lính không thể trở về với gia đình để hưởng cảnh ấm êm một mình, qua đó phần nào làm toát lên tính vô nghĩa của mọi cuộc chiến, và đó cũng là cách sử dụng những hình ảnh đối lập hết sức tài tình ý nhị của bộ 3 nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân, góp phần giảm nhẹ tính đau thương mà mọi cuộc chiến gây ra.
            Một đặc điểm nổi bật nữa của “Xuân này con không về” mà không thể không nhắc tới, đó là bài hát này luôn gắn liền với tên tuổi của cố ca sĩ Duy Khánh. Ca nhạc sĩ Duy Khánh hát thành công “Xuân này con không về” đến mức có nhiều khi, người ta tưởng chính ông là tác giả.
            Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, từ khi mà ca khúc chỉ được biết đến qua các giọng hát kinh điển của làng nhạc Việt như: Duy Khánh, Elvis Phương, Duy Quang, Chế Linh, Tuấn Vũ…, rồi đến Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ… thì nay, đã có biết bao nhiêu những thế hệ ca sĩ trẻ hơn tìm cách tái hiện lại Xuân này con không về, ở những phiên bản khác nhau, với bản hòa âm phối khí âm thanh hiện đại hơn, dàn nhạc dầy hơn, sử dụng nhiều loại nhạc khí tham gia hơn so với thời chiến khi Duy Khánh ghi âm ca khúc, như trường hợp của thế hệ các ca sĩ Quang Lê, Đan Nguyên, hay gần đây hơn nữa là các ca sĩ trẻ trong nước như Thùy Chi, Anh Khang, cũng đã không ngừng tìm tòi, biến đổi và làm mới ca khúc, nhưng vẫn giữ được cái hồn, cái cảm xúc cốt lõi của “Xuân này con không về”, và đó là điều minh chứng cho sự trường tồn của ca khúc.
            Quả thực, có đi xa nhà mới biết không nơi nào bình yên hơn bằng chính con đường trở về ngôi của nhà tuổi thơ, khi nghe những hơi thở của mùa xuân đang đến gần, người lữ khách không thể không chạnh lòng nghĩ về quê mẹ, tuy nghèo mà đầm ấm và nhớ tới lời hẹn ước sẽ trở về một ngày đầu xuân.
            Quay trở lại những hiệu ứng thành công xa hơn của nhạc phẩm “Xuân này con không về”, gần đây nhất, lại một lần nữa, các trang mạng xã hội, và đặc biệt là trên kênh Youtube, người yêu nhạc lại có dịp sửng sốt xôn xao bàn tán, khi một chàng trai có Nick name Thaptoan87, tung lên mạng Youtube bản hòa âm nhạc phẩm “Xuân này con không về”, qua những giai điệu vô cùng mượt mà, liêu trai của cây sáo trúc, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người nghe.
            Qua tìm hiểu, thì chàng trai đó là Giáp Văn Toàn, một kỹ sư quan trắc môi trường, đang công tác tại Hà Nội, mặc dù chỉ đến với cây sáo trúc bằng con đường tự học, mang tính amateur, tuy nhiên, nhạc bản “Xuân này con không về” do Giáp Văn Toàn độc tấu sáo trúc, thực sự đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm, chinh phục và hút hồn người nghe.
            Và đó cũng là nhạc bản khép lại chuyên mục âm nhạc tuần này của đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Trước thềm năm mới Giáp Ngọ 2014, xin được gửi tới cha mẹ ngàn lời cám ơn, cám ơn cha mẹ đã dạy cho con biết yêu thương, yêu thương con người, yêu thương cuộc đời, đã cho con một tuổi thơ hạnh phúc. Con biết xuân này lại không về, nhưng nhất định con sẽ về, sẽ trở về mái ấm xưa. Dù có xa nửa vòng trái đất, nhưng con vẫn mong những lời nhắn gửi yêu thương này sẽ đến được với tất cả những người mà con thương yêu.


ĐỨC BÌNH
Tháng 2/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140201-doi-dong-cam-nhan-ve-ca-khuc-xuan-nay-con-vang-nha

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #3 vào: 18/03/2017, 06:03:57 »
Ngày xuân bàn câu đối Tết

Không biết tự bao giờ, “câu đối đỏ” đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong ngày Tết của người Việt. Mỗi độ xuân về, người người thi nhau tìm cho mình những câu đối hay nhất để treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Đó là một thú chơi tao nhã, một mỹ tục trong ngày Tết Nguyên Đán đã và đang được các thế hệ người Việt Nam ra sức gìn giữ. Nhân dịp xuân về, chúng ta cùng nhau dành chút thời gian thả hồn lãng du cùng câu đối Tết.


TRONG CHƯƠNG TRÌNH hôm nay, giáo sư Nguyễn Khắc Thuần sẽ minh thị một số chi tiết đáng chú nhất của mỹ tục này. Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh, ông là một học giả kỳ cựu và có nhiều công trình đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lịch sử văn hóa Việt Nam.

Câu đối trong văn hóa truyền thống Việt Nam
Lê Phước: Thân chào giáo sư Nguyễn Khắc Thuần. Trước tiên xin chân thành cám ơn giáo sư đã nhận lời tham gia chương trình. Nhân dịp xuân về, Ban biên tập RFI Việt Ngữ tại Paris xin kính chúc giáo sư cùng toàn thể gia quyến một năm mới: Vạn sự như ý.
            Thưa giáo sư, câu đối là một thú chơi tao nhã thể hiện tinh hoa của chữ nghĩa. Vậy trước tiên, xin giáo sư cho biết đôi điều về câu đối trong văn hóa Việt Nam nói chung?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Thân ái chào quý vị và các bạn. Trước hết, cho phép tôi được gửi tới quý vị và các bạn lời chúc một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. Tôi xin được trình bày đôi điều tản mạn về câu đối Tết của người Việt.
            Người Việt chúng ta có truyền thống trọng chữ. Trong lịch sử, người Việt thường sử dụng nhiều loại chữ khác nhau. Nhưng ngày xưa, loại chữ quý giá và được tôn sùng nhất vẫn là chữ Nho, thường được gọi là “chữ của thánh hiền”. Trong lịch sử cũng có hai quy ước bất thành văn, thường được người Việt rất chú ý tuân thủ. Thứ nhất là không viết chữ khiếm nhã lên các tờ giấy, thứ hai là không vứt những tờ giấy có chữ vào chỗ rác bẩn.
            Vậy chữ được dùng để làm gì?
            Có bốn mục đích khác nhau. Một là để ghi chép sự việc, từ đó tạo ra văn tự, từ đó tạo ra khế ước. Hai là chuyển tải suy tư, từ đó tạo ra sử sách, từ đó tạo ra thi phú văn chương, triết lý.
            Thứ ba, chữ để làm quà tặng, từ đó tạo ra lời hay và ý đẹp. Xuân về người ta thường có những chữ như: Cung hạ tân xuân, xuất nhập bình an, vạn sự như ý, ngũ phúc lâm môn, khai trương hùng phát, bình bút hoa khai, an khang thịnh vượng… Đây là những chữ làm quà tặng quá quen thuộc, nên tôi xin phép không dịch lại. Và từ chỗ chữ làm quà tặng, nó tạo ra cả những câu đối-câu liễn với nhiều nội dung phong phú khác nhau.
            Mục đích thứ tư là chữ để trang trí công đường hoặc nhà ở, từ đó tạo ra thư họa hay thư pháp, từ đó tạo ra những bức tranh chữ.

Nét riêng của câu đối Việt
Lê Phước: Thưa giáo sư, trong văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam đều có câu đối. Vậy không biết câu đối của người Việt ta có những nét đặc sắc gì?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Trong các thể cổ văn, câu đối được dùng rất phổ biến. Ở đây có ba vấn đề chúng ta cần lưu ý.
            Vấn đề thứ nhất, người Trung Quốc gọi câu đối là “đối liên”, và chia làm ba loại. Loại thứ nhất là “Tiểu đối”, tức mỗi vế có từ 4 chữ trở xuống. Loại thứ hai là “Thi đối”, mỗi vế là một câu đối ngũ ngôn hoặc một câu thất ngôn, cũng có khi gồm cả hai câu ngũ ngôn và thất ngôn. Loại thứ ba là “Phú đối”, tức là câu đối viết theo niêm luật của thể phú, là một thể cổ văn. “Phú đối” được chia thành: Câu đối “Song quan”, mỗi vế có từ 6 đến 9 chữ, ghép lại thành một đoạn; Rồi câu đối “Cách cú”, mỗi vế chia thành hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài; Rồi câu đối “Hạc tất”, mỗi vế có từ ba đoạn trở lên.
            Vấn đề thứ hai, trong câu đối người Việt, ta có thể chia làm mấy loại sau đây. Thứ nhất là câu đối Tết. Thứ hai là câu đối bày tỏ sự chung vui, ví dụ như chung vui lễ hội hay chung vui trong các cuộc giao lưu. Thứ ba là câu đối chia sẻ, ví dụ như chia sẻ về những tổn thất trong thiên tai địch họa, vì đau ốm hay trong các đám ma chay. Thứ tư là câu đối để chúc mừng, như câu đối mừng tân gia, mừng tân hôn, mừng đỗ đạt, mừng thăng quan, mừng sinh quý tử. Thứ năm là câu đối để ghi nhớ một sự kiện hay một vấn đề, ví dụ như trùng tu chùa chiền, đình miếu, tôn tạo hay xây dựng một số công trình công cộng, dựng bia…
            Vấn đề cần chú ý thứ ba, đó là câu đối người Việt thường được viết bằng nhiều loại chữ khác nhau, trong đó nổi bậc lên có ba loại chữ. Một là câu đối viết bằng chữ Hán. Với loại câu đối này, bạn đọc là những người trẻ tuổi, chưa có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán, thì phải có người dịch ra mới hiểu được. Thứ hai là câu đối viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết của dân tộc, nhưng không phải ai cũng đọc được. Ngày nay, số người Việt đọc được chữ Nôm là quá ít. Thứ ba, là câu đối viết bằng chữ Việt hiện đại, và là câu đối phổ biến nhất hiện ngày nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, rồi trên các công sở hiện nay, câu đối viết bằng chữ Việt rất phổ biến.

Các loại câu đối Tết tại Việt Nam
Lê Phước: Trong các loại câu đối đó, thì câu đối Tết có vai trò như thế nào, thưa giáo sư?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Trong tất cả các loại câu đối, nổi bật hơn cả vẫn là câu đối Tết. Câu đối Tết trở thành sinh hoạt văn hóa rất phổ biến và lâu đời. Ngày nay tuy không ai dùng chữ Hán và chữ Nôm nữa, hay nói đúng hơn là quá ít người dùng chữ Hán và chữ Nôm, nhưng không phải vì thế mà câu đối ít đi. Xưa cũng như nay, câu đối trở thành một món quà không thể thiếu.
            Xem lại, câu đối Tết của người Việt có 07 loại sau đây:
            1) Loại câu đối Tết dùng chung cho tất cả mọi nhà, ai treo cũng được, gia đình sang hèn, nghèo giàu đều treo được. Ví dụ như câu:

                        Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
                        Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh


            Đây là câu đối viết bằng chữ Nôm. Rồi cũng có câu đối viết bằng chữ Hán mà nhà nào treo cũng được:

                        Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
                        Phúc sinh phú quý tử tôn vinh


                        (Tài lộc dẫn đến sự vinh hoa, nhà thì ngày một thêm thịnh đạt
                        Phúc sinh ra sự phú quý, con cháu trở nên vinh hoa)

            2) Loại câu Tết thường để ở các đình làng hay công sở. Chẳng hạn như:

                        Chúc Tết đến trăm điều như ý
                        Mừng xuân sang vạn sự thành công

                        (Câu đối viết bằng chữ Nôm)

            Hoặc câu đối viết bằng chữ Hán:

                        Sơn thủy thanh cao xuân bất tận
                        Thần tiên lạc thú cảnh thần tiên


                        (Núi sông thanh cao, mùa xuân bất tận
                        Thần tiên vui vẻ lạc thú cảnh thần tiên ở nơi trần thế)

            3) Loại câu đối Tết thường để ở đền chùa miếu mạo. Ví dụ câu đối chữ Nôm sau đây:

                        Mừng xuân hỉ xả thêm công đức
                        Đón Tết từ bi bớt não phiền


            Hoặc câu đối chữ Hán:

                        Pháp luân vô ánh oanh thiên hạ
                        Tâm niệm vô thanh chấn tứ phương


                        (Pháp luân tuy không có tỏa sáng nhưng có thể làm run cả trời đất
                        Tâm niệm tuy không phát ra thành tiếng nhưng nó có thể gây chấn động cả bốn phương)

            4) Loại câu đối Tết thường có trong các nhà quyền quý. Ví dụ như:

                        Xuân tái đáo, môn tiền phúc đáo
                        Hoa hựu khai, thiên ngoại thi khai


                        (Xuân lại đến, trước cửa phúc lại đến
                        Hoa lại nở, ngoài trời thơ lại mở ra)

            Hoặc câu:

                        Tiên tổ phương danh lưu quốc sử
                        Tử tôn tích đức hiển gia phong


                        (Tổ tiên để lại tiếng thơm trong sử sách
                        Con cháu tích đức thì gia phong được hiển hách)

            Hay là:

                        Nhập môn tân thị kinh luân khách
                        Mãn tọa giai đồng cẩm tú nhân


                        (Vào cửa khách toàn là người hiểu kinh luân
                        Ngồi đầy nhà toàn là những bậc mặc áo gấm áo thêu, tức là những người sang trọng quyền quý trong xã hội).

            5) Loại câu đối Tết thường có trong các gia đình nghèo khó. Chẳng hạn như câu:

                        Tết đến gượng cười, mong con cháu chăm ngoan, nhà có dư gạo thóc
                        Xuân sang gắng vui, cầu vợ hiền mạnh khỏe, vườn đủ quả đủ rau


            Hay là câu:

                        Nợ nần theo gió lạnh bay đi, vợ lại tươi như hoa nở thắm
                        Của cải cùng khí ấm tràn vào, lòng chồng vui tựa trống hội vang


            Ta thấy ở đây là những ước muốn bình dị, thể hiện ước nguyện giản dị nhưng cũng rất sâu sắc và mãnh liệt của những người bình dân nghèo khó trong xã hội.

            6) Loại câu đối Tết viết theo lối tự trào, viết để cho vui, ai nghe cũng được, không phải treo ở đâu cả, mà để gắn vào tâm tưởng của mỗi người, kích động suy nghĩ của mọi người, và cùng vui với mọi người. Ví dụ như câu đối sau đây của Nguyễn Công Trứ:

                        Chiều ba mười nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
                        Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông phúc vào nhà


            Hoặc là câu đối sau đây của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ lừng danh cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19:

                        Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt kẻo Ma Vương đưa quỉ tới
                        Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang cho thiếu nữ rước xuân vào


            7) Loại câu đối Tết thường thấy trong các gia đình Việt Kiều.
            Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới và gặp gỡ các Việt kiều, thấy trong gia đình họ cũng có những câu đối Tết. Đọc qua tôi thấy rất cảm động, chẳng hạn như:

                        Nghi ngút tỏa khói hương, xa đất mẹ vẫn nhớ về nguồn cội
                        Tôn nghiêm mâm ngũ quả, chốn quê người nặng trĩu nghĩa cố hương


            Hoặc như câu:

                        Xuân tha hương, vấn vương thương đất mẹ
                        Tết xa nhà, xao xuyến nhớ quên cha


            Đó là những lời thể hiện tình nghĩa nồng nàn đầm thắm của những người con xa quê, thực sự xứng đáng là dòng giống con Lạc cháu Hồng. Đó không chỉ là lời bày tỏ tình cảm, mà quan trọng hơn đó còn là lời thể hiện một truyền thống viết câu đối của người Việt dù ở bất cứ nơi đâu.
            Nhân dịp Tết đến, tôi hy vọng rằng, những câu đối hay của bà con Việt kiều lại tiếp tục lan tỏa từ gia đình này đến gia đình khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Và lời câu đối chính là lời nhắc nhở về một truyền thống lâu đời của dân tộc.

Thực trạng văn hóa câu đối Tết tại Việt Nam
Lê Phước: Thưa giáo sư, mấy mươi năm trước, trong bài thơ Ông Đồ, nhà thơ Vũ Đình Liên miêu tả cảnh câu đối Tết ngày càng bị “thất sủng”. Mở đầu bài thơ, Vũ Đình Liên Viết:

                        Mỗi năm hoa đào nở,
                        Lại thấy ông đồ già
                        Bày mực hàng giấy đỏ
                        Trên phố đông người qua
.

            Ngày tháng trôi qua, không biết hiện tại mỹ tục câu đối Tết tại Việt Nam có còn được lưu giữ không, thưa giáo sư?

GS. Nguyễn Khắc Thuần: Ở Việt Nam hiện nay, truyền thống viết câu đối Tết vẫn được lưu giữ và được phổ biến khá mạnh. Bằng chứng là trên tất cả các báo xuân, hầu như báo nào cũng có một vài câu đối, và thường là những câu đối viết bằng tiếng Việt hiện đại. Bằng chứng thứ hai, đó là ở nhiều thành phố lớn và các khu đô thị luôn luôn có những người ngồi viết câu đối Tết, và họ gọi đó là “ông đồ” mặc dù họ chỉ viết chữ Việt hiện đại chứ không phải là chữ Hán hay chữ Nôm.
            Tôi là thành viên của Hội đồng Tư vấn về kỷ lục, có lúc tôi đã chứng kiến sự hội ngộ của cả trăm ông đồ cùng viết câu đối. Tất nhiên, câu đối ở đây là những câu đối đã được phổ biến rộng rãi hoặc những câu đối chủ yếu do khách yêu cầu họ viết và viết câu đối theo thư pháp hiện đại.
            Đó là một trong những biểu hiện của việc tiếp nối truyền thống và phổ biến văn hóa câu đối Tết ở Việt Nam.
            Như đã nói ở trên, câu đối là một thú chơi tao nhã, nhưng rất khó chơi, nó thể hiện trình độ học vấn và chữ nghĩa của những người được gọi là có ăn có học. Các cụ thường cho rằng: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”.

***

NGÀY XƯA, dân gian ta có tục đến gặp ông đồ xin chữ. “Xin chữ” là bởi vì trong làng xã các ông đồ – tức các nhà nho, được xem là người nắm giữ tri thức xã hội. Mỗi câu đối gồm có hai vế. Gọi là “câu đối” vì hai vế này phải “đối nhau” một cách tinh tế về mặt chữ nghĩa. Người xưa thường lấy câu đối ra để thử tài nhau, và lấy việc đối hay đối dở để đánh giá trình độ học vấn.
            Riêng về câu đối Tết, như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nói bên trên, ta thấy rằng, câu đối Tết đã trở nên phổ biến trong dân gian. Nó vẫn luôn còn đó chứ không hề bị mai một. Bên cạnh những bằng chứng đã nêu trên, ta còn thấy ở miền quê Việt Nam, ngày Tết nhiều người vẫn đi tìm mua câu đối Tết. Câu đối được viết bằng chữ Việt hiện đại người mua hiểu đã đành, nhưng có khi người ta còn mua cả câu đối viết bằng chữ Hán dù không biết trong đó nói gì. Không biết ý nghĩa cụ thể mà vẫn mua vì mọi người ai cũng hiểu rằng, tất cả các câu đối Tết đều có một mục đích chung là: cầu mong những điều tốt lành trong năm mới.
            Một điểm đáng mừng nữa, đó là hiện tại, không chỉ có hình ảnh “ông đồ già” mà đã xuất hiện nhiều “ông đồ” tuổi mới đôi mươi mặc áo dài khăn đóng ngồi viết câu đối Tết. Và như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nhận định, đó là một biểu hiện của việc bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, mà cụ thể ở đây là câu đối Tết.
            Thưa quí vị, Tết Nguyên Đán là truyền thống lâu đời và có thể được xem là một bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong khi đó câu đối Tết chính là một bản sắc của ngày Tết Nguyên Đán.Trong thời đại toàn câu hóa ào ạt như ngày nay, việc bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là một yêu cầu cấp thiết để tránh việc các nền văn hóa trên thế giới bị đồng nhất. Trong ý nghĩa đó, tình trạng “khỏe mạnh” của câu đối Tết như đã nêu trên tại Việt Nam rõ ràng là một tin vui.
            Niềm vui đó hòa chung vào niềm vui bất tận của năm mới. Nhân dịp xuân về, chúng ta nâng ly cùng nhau tận hưởng niềm vui bất tận đó:

                        Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
                        Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân
.


LÊ PHƯỚC
Tháng 2/2013

http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130208-ngay-xuan-ban-cau-doi-tet

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #4 vào: 19/03/2017, 07:37:39 »
Tình thơ Nguyên Sa

Nhà thơ Nguyên Sa được nhắc đến nhiều qua tác phẩm “Paris có gì lạ không em” và những dòng thơ tình khác. Người bạn đời của ông chia xẻ về những tình huống của những cảm hứng ấy nhân ngày giỗ của người nghệ sỹ.

Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ ở Paris năm 1954

TỪ MƯƠI năm nay vào thời điểm này của tháng Tư, bạn hữu với thi sĩ Nguyên Sa lại nhắc nhớ đến ông.
            Nguyên Sa Trần Bích Lan từ trần ngày 18 tháng Tư 1998. Thời gian trôi qua như thế là đã 10 năm. Đối với người thân yêu thì hẳn là những tháng năm đó dài… dài lắm. Irvine, thành phố mà ông cùng gia đình tới định cư, nơi ông sinh hoạt báo chí, thơ văn trong hai mươi năm cuối cuộc đời, chỉ cách đường Bolsa một quãng xa lộ.
            Từ xa lộ vào con đường này một chốc là thấy ngay thảm cỏ xanh mướt và khung cảnh êm ả của nghĩa trang, nơi an nghỉ của hầu hết người Việt vùng này. Thi sĩ Nguyên Sa được chôn cất tại đó, “hạt cát nguyên vẹn” óng ánh giữa chốn hồng trần, đã trở về với cát bụi.
            Từ ngày Nguyên Sa qua đời, vợ ông – nhân vật trong bài thơ độc đáo mang tên “Nga” – đã đóng cửa nhà in, và trung tâm băng nhạc.
            Với bà, Thy Nga có mối cảm tình đặc biệt, phải chăng vì cùng tên? Hay vì có một số điểm tương đồng? Lần này điện thoại sang thăm, Thy Nga yêu cầu bà đọc cho nghe thơ của ông. Bài gì thì chỉ nói tựa đề, là bà biết ngay ở trang mấy trong cuốn nào, như về bài thơ “Sợi tóc” khắc trên mộ Nguyên Sa, bà Nga thuật lại:

            “Mộ của Nguyên Sa gần một hồ nước nhỏ, như là trong góc một khu rừng nhỏ. Khi anh ấy làm bài thơ này, không ngờ nó lại giống nơi anh ấy được nằm ở đó:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Những vần thơ cuối
            “Khi biết là mình sắp ra đi, tinh thần vẫn bình thản, chấp nhận, anh ấy làm bài thơ “Thủy chung”. Thường thường, các cụ cứ dặn dò là chôn cất ra làm sao, nhưng mà Nguyên Sa vẫn tếu trong cái bài dặn dò như thế này:

                        … Anh nói anh muốn Saigon,
                        anh muốn đường Phan Thanh Giản,
                        anh muốn nước Mỹ, vùng biển Thái Bình,
                        anh muốn Montpellier, muốn Nice,
                        muốn Cannes, muốn Saint Tropez,
                        muốn tất cả những thị trấn miền Nam nước Pháp,
                        nhất là những thành phố quanh Địa Trung Hải,
                        nhưng anh chỉ có hai chân,
                        anh chỉ xin em ném dùm anh
                        xuống những mảnh đất đầu đời:
                        chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều,
                        con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học.

            Đó là khi người thi sĩ tếu dặn vợ là chôn cất ra làm sao”.

            Đọc đến câu này thì bà Nga đã rất xúc động. Thời gian cùng học ở Paris, gặp gỡ rồi yêu nhau, là quãng đời đẹp nhất của hai người. Do đó, những nơi mà sau khi từ trần, Nguyên Sa muốn linh hồn mình tìm về, là những địa điểm từng ghi dấu kỷ niệm một đời.

“Paris có gì lạ không em”
Thy Nga: Hay là mình đừng nói chuyện buồn nữa… Chị kể lại tình cảnh viết nên các bài thơ nhé, nhất là các bài mà nhiều người yêu thích, như “Paris có gì lạ không em”. Vì sao đang học mà lại có chuyện người phải ra đi, kẻ ở lại “Kinh thành hoa lệ”?
Bà Nga: Năm 1953, ông cụ thân sinh anh Lan mất tại Hà Nội. Anh Lan thấy cần phải ngưng học ở bên Pháp để về giúp đỡ gia đình, thế nhưng mà chị đang học đại học ở Paris thành ra anh ấy mới làm bài thơ:

                        “Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về, em có còn ngoan…”

tức là anh ấy đi Việt Nam rồi sẽ về lại Paris. Anh ấy mới hỏi:


                        “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
                        Chả biết tay ai làm lá sen?”

là Chị có chịu theo anh ấy không?
            Đến lúc mà Chị bằng lòng thì mới là có cái bài “Nga”

                        “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
                        Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
                        Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
                        Ðể anh giận sao chả là nước biển!...”

            Tụi này chỉ có đi ra Mairie 15è làm đám cưới. Sinh viên du học mà lại sau khi Hiệp Định Genève chia cắt đất nước (gia đình không gửi tiền qua được) sinh viên Việt Nam ở bên ấy nghèo lắm. Tụi này không có nhẫn nữa mà. Thành ra in bài thơ Nga đề là thay cho thiệp báo hỷ. Cái bài thơ thì mọi người nghe thích quá, nói là ngộ nghĩnh. Xong rồi, bạn bè đông lắm, sinh viên thì đông lắm, kéo nhau sang cái quán cà-phê trước cửa, uống cà-phê, mọi người chung tiền trả phần cho cô dâu chú rể. Thế thôi!
            Cuối tháng 12 đó (năm 1955) là xuống tàu tại Marseille đi về Saigon. Về đến Sài Gòn thì cả hai vợ chồng đều đi dạy học. Cứ bước vào lớp là bị học sinh nó hát mấy câu đó, mình phải làm rất là nghiêm trang
”.

            Kế tiếp, Nguyên Sa cùng với vợ mở tư thục. Trong nắng ấm chan hòa ở Saigon, hình ảnh những tà áo dài, lụa nội hóa, gợi cảm hứng cho Nguyên Sa viết nên bài thơ “Áo lụa Hà Đông”.
            Thơ Nguyên Sa là thơ của những rung động tình yêu đầu đời, chân thành đến vụng dại, những xúc cảm mà ta khó thể có lại về sau.

                        “Không có anh, lấy ai đưa em đi học về
                        Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học…

                        Ai cầm tay cho đỏ má em hồng
                        Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…

                        Không có anh, lấy ai cười trong mắt
                        Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
                        Ai cầm tay mà dắt mùa Xuân
                        Nghe đường máu run từng cành lộc biếc…”

                        (trích đoạn bài thơ “Cần thiết”)

            Đã biết bao chàng trai nhờ thơ Nguyên Sa để ngỏ ý với cô bạn mà mình thầm yêu trộm nhớ. Và cũng đã biết bao thiếu nữ học thuộc, hay là nắn nót chép, rồi ướp tập thơ Nguyên Sa để dưới gối mà dệt mộng:

                        “… Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
                        Những năm mười sáu, mắt nhìn mây
                        Cánh tay tròn ánh trăng mười bốn
                        Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

                        Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
                        Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
                        Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
                        Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ…”

                        (trích đoạn bài thơ “Tám phố Sài Gòn”)

Dòng thơ và giòng đời
            Nhưng rồi, biến cố 1975 xảy tới, Nguyên Sa và vợ lại phải từ giã thành phố thân thương, lần này là Sài Gòn. Bà Nga cho biết là ông bà ra đi ngày 24 tháng Tư đến đảo Guam, rồi tới trại Pendleton miền Nam California.

Bà Nga: Chúng tôi ra khỏi Camp Pendleton từ tháng 7 năm 1975, sang Pháp để đoàn tụ với hai đứa con đang du học bên ấy. Chúng tôi được học bổng của Đại học Pháp, hai vợ chồng cùng đi học Cao học Kinh Tế tuy nhiên, được hai năm thì tôi sang Mỹ định cư. Nhà tôi ở lại học cho xong Cao học Kinh Tế, sang Cali sau đó một năm (năm 1978) nhưng rồi lại không xài cái bằng đó.
            Đầu tiên thì tôi đi làm tại Đại học UC Irvine. Nhà tôi lại còn đi học nghề điện tử, thì có cái bài thơ “Thi sĩ qua Mỹ làm thợ điện” đó. Ông ấy đi làm Electronic technician hai, ba tháng gì đó thì ông ấy chán cái sự đi làm, sáng đi chiều về, thành ra ông ấy đi làm báo Việt Nam từ năm 81. Tạp chí Đời đến khắp các nơi mà có người Việt tỵ nạn định cư, gửi sang Úc nữa. Đến năm 82 thì chúng tôi thành lập công ty (corporation). Tới năm 98 nhà tôi mất thì tôi đóng cửa cái business đó, tôi dẹp hết
.

            Nguyên Sa Trần Bích Lan từng dạy học (nhất là về Triết), mở tư thục, làm báo, viết văn, thành lập nhà in, và trung tâm băng nhạc, nhưng được biết đến nhiều nhất là về thơ, và nổi bật là các bài thơ tình của lứa tuổi đôi mươi.
            Được coi là “Thi sĩ của Tình Yêu”, Nguyên Sa qua bài “Chia tay” gửi lời “cám ơn những người yêu nhau, những người làm trăng thành trăng, biển thành biển, núi non thành núi non, làm suối trở thành ngọn suối tuyệt vời ca hát…”
            Và qua bài “Có phải em về đêm nay”, Nguyên Sa nói lên ý muốn được làm thơ đến hơi thở cuối cùng:

                        “… Vì lòng anh (em đã biết)
                        có bao giờ thèm khát vô biên
                        có bao giờ anh mong đừng chết, dù để làm thơ
                        nên tất cả chỉ vì yêu em
                        và làm thơ cho đến chết.”


            Thật thế, khi lâm bệnh nặng, Nguyên Sa vẫn làm thơ, các bài thơ chở đầy ký ức những ngày xa xưa, lẫn vào là các bài với chút hoang mang trước cái chết. Và trong bệnh viện, ông vẫn gắng điện thoại, dặn dò nhà in về việc in quyển thơ tập 4.
            Nga, người yêu và là người bạn đời, luôn luôn bên cạnh ông qua những trôi nổi của thế sự cho đến giây phút cuối của cuộc sống. Và như thế, câu hỏi của Nguyên Sa trong bài thơ “Paris có gì lạ không em”:

                        “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
                        Chả biết tay ai làm lá sen?”


đã được trả lời một cách trọn vẹn. Không chỉ là cái gật đầu, ưng thuận kết hôn, mà Nga nguyện làm chiếc lá sen ấp ủ hương cốm Nguyên Sa mãi mãi.
            Sau khi Nguyên Sa qua đời, chính bà đã tiến hành, in tất cả các tập thơ, sách, truyện, và cuốn hồi ký của ông.


THY NGA
Tháng 4/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/Nguyen_Sa_poetry_remembered_by_his_wife_TNga-04222008163350.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #5 vào: 21/03/2017, 15:56:50 »
Marguerite Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật

Hè 3 tháng Sáu năm 1929, trên chuyến phà băng qua một nhánh sông Mêkông để đi về Sài Gòn, một nữ sinh trung học người Pháp tình cờ làm quen với một chàng công tử người Việt gốc Hoa, sống tại Sa Đéc. Người sau đó đã trở thành tình nhân của cô.

Căn nhà của bà Marguerite Duras tại Sa Đéc

MỐI QUAN HỆ tình cảm này đã ghi lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn thiếu nữ và sau này trở thành nguồn cảm hứng cho ba tác phẩm văn học, làm nên tên tuổi nữ sĩ Pháp Marguerite Duras. Trong đó, tác phẩm “L’amant” (Người tình) đã đoạt giải Goncourt năm 1984, giải thưởng văn học danh giá của Pháp. Tác phẩm được đạo diễn Jean-Jacques Annaud chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1990.
            Trong loạt bài mùa hè có tiêu đề “Những nhà văn Viễn Đông” của nhật báo Le Monde số ra trung tuần tháng Tám này, Bruno Philips, tác giả bài viết “Marguerite Duras ở Sa Đéc: Những mối quan hệ nguy hiểm” đã có dịp quay lại vùng đất Nam Bộ năm xưa, tìm kiếm những vết tích còn đọng lại như để hiểu rõ thực tại trong toàn bộ không gian hư ảo của Duras. Cái “thực tại” mà Duras suốt cả cuộc đời mình luôn tìm cách chối bỏ. Và cả nghiền ngẫm nữa.
            “Tôi phải nói gì với bạn đây, khi ấy tôi mười lăm tuổi rưỡi. Đó là chuyến phà băng qua sông Mêkông”, câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm. Chính trên chuyến phà đó, mọi chuyện đã bắt đầu.
            Con phà năm xưa giờ không còn nữa. Thấp thoáng xa xa là hình bóng cây cầu hiện đại, được khánh thành vào năm 2000, bắc qua một nhánh sông Mêkông mà người dân bản xứ gọi là “Cửu Long” tức chín con rồng. Dấu ấn còn lại của con phà năm xưa giờ chỉ là chiếc cầu kè bê-tông vẫn còn nằm trơ ra phía sông. Tuy cảnh vật có thay đổi chút với thời gian, nhưng không gian của Duras như vẫn còn đọng lại đó: cũng dòng sông nặng trĩu phù sa, cuồn cuộn chảy xiết, lu mờ dưới làn mưa không ngớt.

Đông Dương: điểm xuất phát cho sự nghiệp của Marguerite Duras
            Phông cảnh nền đó đã được Jean-Jacques Anneaud tái hiện một cách trung thành trong bộ phim cùng tên, chuyển thể từ tác phẩm “Người tình” của Marguerite Duras. Người xem tại Việt Nam chắc cũng không khỏi ngỡ ngàng trước ống kính tài tình của đạo diễn, đưa một góc sông nước Hậu Giang hiện đại ngày nay trở lại với không gian Đông Dương những thập niên 20 của thế kỷ trước: một miền đất đậm chất Nam Bộ mộc mạc, giản dị của một thời còn là thuộc địa.
            Đây cũng chính là điểm xuất phát cho sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Pháp Duras. Vùng đất Nam Bộ đó như là một phần xương thịt trong con người bà. Khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên người Ý, Leopoldina Pallota della Torre, Duras thổ lộ “Đôi khi tôi cũng nghĩ rằng sự nghiệp viết lách của tôi bắt đầu từ đó, giữa những cánh đồng, những khu rừng, và trong sự hiu quạnh. Có một đứa trẻ da trắng, gầy còm và lạc lõng mà người đó chính là tôi, giống người Việt hơn là Pháp, lúc nào cũng chân đất, không biết giờ giấc, không biết cách sống, thích ngắm chiều hoàng hôn trải dài trên sông, với khuôn mặt bị rám nắng”.
            Trở lại với chuyến phà nối đôi bờ một nhánh sông Mêkông, nơi diễn ra buổi đầu gặp gỡ của đôi tình nhân. Có thể nói buổi gặp định mệnh đó chính là cột mốc quan trọng cho cả cuộc đời nữ sĩ. Nó ám ảnh, đeo đuổi dai dẳng trong tâm hồn Duras, đến nỗi mà trong vòng bốn thập niên liên tiếp bà có đến những ba phiên bản khác nhau cho cuộc phiêu lưu tình cảm đó: Un barrage contre le Pacifique (tạm dịch là Đập chắn Thái Bình Dương – 1950), L’Amant (Người tình – 1984, giải Goncourt cùng năm), cho đến L’Amant de la Chine du Nord (Người tình Hoa Bắc – 1991).
            Nhân vật nam chính trên chuyến phà được bà tái hiện dưới ba nhân dạng khác nhau: Ông “Jo” da trắng trong tác phẩm đầu cho đến “công tử người Hoa”, tình nhân không tên trong tác phẩm “Người tình”. Riêng đến tác phẩm thứ ba “Người tình Hoa Bắc”, nhân vật huyền thoại lại được phác họa dưới một góc cạnh rất là điện ảnh. Cũng chính là anh chàng đó, nhưng lại điển trai hơn và cao to hơn so với nhân vật chính trong L’Amant: một kẻ nghiện ngập, nhu nhược và biếng nhác. Và đây cũng chính là con người thật ở ngoài đời.
            Theo nhà báo Laure Adler, người viết tiểu sử Marguerite Duras, nhân vật “công tử người Hoa” ngoài đời thật sự ra không mấy điển trai như nhân vật Léo trong tác phẩm thứ ba hay như trên phim. Anh ta thật sự rất giàu và rất lịch lãm, nhưng gương mặt xấu xí, bị hủy hoại vì căn bệnh đậu mùa. Thực tế này quả thật quá khác xa với những gì độc giả tưởng tượng, hay chí ít ra như những gì ta đã xem qua trong phim của Jean Jacques Annaud: một anh chàng cao to, gương mặt điển trai, lịch lãm với những cảnh ái ân nồng cháy, khát vọng nhục dục lồng trong một không gian lãng mạn đầy huyễn hoặc. Đây cũng chính là điểm bất đồng giữa nữ sĩ với đạo diễn. Annaud thì nghĩ đến việc khai thác câu chuyện tình giữa một cô gái Pháp mới lớn đầy khêu gợi với người tình gốc Hoa điển trai, trên một phông nền thuộc địa lãng mạn.

Marguerites Duras: “Người tình”, tiểu thuyết ba xu rẻ tiền!
            Nhưng đối với Marguerite Duras, cả “Người tình” lẫn hai tác phẩm còn lại là những quyển tự truyện về chính cuộc đời bà, về tuổi thơ và tuổi trẻ của bà tại cựu thuộc địa Đông Dương, nơi bà được sinh ra và lớn lên, dù rằng cho đến lúc gần cuối đời bà cũng không bao giờ chịu nhìn nhận. Bà nhắc đi nhắc lại là “Người tình” chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Cuộc phiêu lưu tình ái đó không bao giờ tồn tại. Sự phủ nhận của nữ sĩ mãnh liệt đến mức bà chối bỏ cả tuyệt tác của mình một năm sau khi xuất bản. Duras nói rằng: “Người tình, chỉ là một quyển tiểu thuyết ba xu, rẻ tiền. Tôi viết nó trong một lúc say xỉn mà thôi”. Bởi vì Duras nghĩ rằng “chuyện đời bà chẳng có gì đáng để mà kể”.
            Chính vì vậy, trong suốt tác phẩm “Người tình”, các nhân vật chính là những kẻ vô danh, không tên gọi, được hiện ra dưới những cách gọi “cô gái” và “công tử người Hoa”. Trên chuyến phà ngày ấy, đưa “cô bé” đi về Saigon, còn có “anh chàng người Hoa”. “Cô bé” đó không ai khác chính là nữ sĩ, khi ấy cũng vừa được 15 tuổi. Còn “chàng công tử người Hoa”, ngoài đời tên thật là Huỳnh Thủy Lê, lúc ấy được 27 tuổi, là con trai của một điền chủ gốc Hoa sống tại Sa Đéc. Vào thời điểm đó, Marguerite Duras vừa đi thăm mẹ ở Sa Đéc về.
            Ta không khỏi tự hỏi vì sao Marguerite Duras lại có những thái độ tiêu cực đối với đứa con đẻ tinh thần của mình đến như vậy. Bà đã mất tổng cộng bốn thập niên để mà thêu dệt nên ba tuyệt tác, trong đó tác phẩm “Người tình” đã đoạt giải Goncourt năm 1984, một giải thưởng văn học cao quý của Pháp, đưa tên tuổi của bà ra toàn thế giới. Tác phẩm “Người tình” đã được dịch ra 35 thứ tiếng và hơn 2,5 triệu bản đã được bán chạy.

Marguerite Duras: hiện thân của sự nổi loạn
            Theo Bruno Philips, có lẽ chính vì tuổi thơ buồn tủi, đầy khó khăn, cô độc và thiếu vắng tình thương của gia đình đã dẫn nữ sĩ có những hành động “chối bỏ” kỳ quặc như thế. Sinh ngày 04/04/1914, tại Gia Định (tên cũ của Saigon), Marguerite Donnadieu, tên thật của nữ sĩ, là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có ba anh em. Thế nhưng, nữ sĩ lại sớm chịu cảnh mồ côi cha khi vừa được bốn tuổi. Mẹ bà một giáo viên tiểu học, trải qua nhiều nhiệm sở Hà Nội, Phnom Penh, Vĩnh Long rồi sau này là hiệu trưởng một trường nữ sinh tại Sa Đéc (giờ là trường Trưng Vương). Tuổi thơ của nữ sĩ hầu như trải qua tại Đông Dương, nhưng giữa sự hung bạo của người anh cả, sự lạnh lùng và những cơn điên loạn của bà mẹ bởi nỗi ám ảnh thiếu thốn tiền nong.
            Chính vì vậy, Duras cũng có lần nhìn nhận rằng lúc ban đầu khi bà đến với “chàng công tử” triệu phú người Hoa đó cũng chỉ vì tiền. Trong tác phẩm “Người tình”, Duras có nói rằng bà không bao giờ kể cho mẹ bà biết mối quan hệ vụng trộm này. Nữ sĩ nhận thức được rằng, đấy sẽ là một điều sỉ nhục cho gia đình, cho mẹ bà. Nhưng với bản năng của người mẹ, nên có lẽ mẫu thân nữ sĩ cũng có những nghi ngờ.
            Đôi lúc bà vừa đánh đập cô con gái vừa gào thét “con gái bà là một con điếm, bà sẽ vứt cô ra ngoài, bà ước gì thấy cô chết bờ chết bụi và không ai muốn thấy cô nữa, cô ấy đã bị ô uế thanh danh, thà làm con chó còn hơn”. Trên thực tế, chưa bao giờ Duras được hưởng chút tình thương yêu của mẹ. Mọi tình thương và kỳ vọng mẹ bà đều dành trọn cho người anh cả, một kẻ hư hỏng, thô bạo, bê tha cờ bạc rượu chè, nghiện ngập, suốt ngày chỉ biết hành hung hai đứa em của mình.

Marguerite Duras: viết sách là để giải bày những điều thầm kín
            Cuộc đời của Marguerite hầu như tan vỡ, sống không chủ đích. Cuộc phiêu lưu tình ái đó cũng phản ảnh phần nào tâm trạng nổi loạn của bà như để bù đắp lại khoảng trống tình thương trong tâm hồn. Tuy nhiên, cho dù cuộc tình đó nó có thật hay không, điều đó đối với nữ sĩ cũng không có chút tầm quan trọng nào. Nó chỉ là một công cụ để Duras có dịp khuất lấp sự thiếu thốn về tinh thần và vật chất.
            Ngay từ đầu tiểu thuyết “Người tình”, Duras đã viết rằng: “Sử dụng chuyện viết lách không chỉ nhằm tái hiện sự việc dưới dạng huyền thoại mà còn là cách để tiếp cận với nhiều điều khác nữa, vẫn còn ẩn náu trong sâu thẳm tâm hồn mù quáng […]”. Đúng như là lời giải thích của nhà văn Laure Adler, người viết tiểu sử về Marguerite Duras, tham vọng của tác phẩm thể hiện “ao ước được giải bày hơn là để mà tự kể về mình”.
            Về phần nhân vật “người tình”, các nhân chứng hiếm hoi mà Bruno Philips, phóng viên báo Le Monde may mắn gặp được tại Sa Đéc cho biết sau khi chia tay với người bạn tình Pháp, Huỳnh Thủy Lê phải nghe lời cha lấy một cô gái rất xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có khác tại Tiền Giang, nhằm cứu rỗi kinh tế gia đình do làm ăn thất bại. “Người tình gốc Hoa” của bà sau khi đám cưới còn sống chung lén lút với người em vợ.
            Sau thống nhất, Huỳnh Thủy Lê đã cùng gia đình di tản sang Mỹ. Vốn là người rất trọng truyền thống, trước khi mất ông có tâm nguyện muốn được chôn cất tại quê nhà Sa Đéc. Một người cháu của Huỳnh Thủy Lê buồn tủi cho tác giả Bruno Philips biết, các hậu thế trực tiếp của Huỳnh Thủy Lê hiện đều có cuộc sống giàu sang đây đó tại Mỹ hay Pháp, nhưng để ông mồ côi mả quạnh tại Sa Đéc, do vài đứa cháu nghèo khổ còn sót lại trông coi.


MINH ANH
Tháng 11/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131108-marguerite-duras-va-tac-pham-%E2%80%9Cnguoi-tinh%E2%80%9D-tu-huyen-
thoai-cho-den-su-that

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #6 vào: 24/03/2017, 12:25:04 »
Vũ Thành An và những câu chuyện của 10 bài Không Tên

Sau 40 năm kể từ năm 1975, người yêu nhạc Việt Nam đã phải chia tay với rất nhiều những ca khúc một thời làm say mê trái tim của họ. Trong đó, có những bài Không Tên và những bản nhạc nổi tiếng khác của nhạc sĩ Vũ Thành An.

Nhạc sĩ Vũ Thành An

THẾ RỒI Tháng Bảy vừa qua, sau một thời gian khá dài, người yêu nhạc của ông đã có thể ngồi lắng nghe trực tiếp những ca khúc mình yêu thích trong một không gian thật, khi Cục Nghệ Thuật Biểu diễn cấp phép cho phổ biến 10 bài Không Tên và một số tác phẩm khác của ông như: Em đến thăm anh đêm 30, Đêm say, Đời đá vàng...

Viết lên cuộc đời mình bằng những bản nhạc Không Tên
            Chắc chắn, người hạnh phúc nhất, chính là tác giả. Hãy nghe Vũ Thành An bày tỏ niềm vui của mình và kể lại kỷ niệm của những bài Không Tên trong cuộc trò chuyện cùng Cát Linh:

            “Trong thời gian vừa qua, tôi rất hân hạnh được biết rằng những bài hát của mình được các bạn trẻ bên đấy yêu mến, thì mình vui chứ. Mình vui vì những gì mình làm mấy chục năm mà bây giờ các bạn trẻ sau này còn yêu thích nó. Là một người sáng tác thì tôi rất vui và hân hạnh có thêm số bạn mới. Và biết đâu rằng những bài hát đó đã sống được 50 năm rồi thì tôi hy vọng rằng nó sẽ sống thêm ít lâu nữa trong lòng người mến mộ mình”.

            Có ai đó đã ví von rằng, cuộc đời là những chuyến xe, đưa ta đi qua những miền đồng bằng êm ả, hay đồi núi, đèo cao gập ghềnh. Còn Vũ Thành An, thì ông viết lên cuộc đời mình bằng những bản nhạc Không Tên. Những bài hát này được ra đời vốn dĩ không theo trình tự thời gian như tên gọi:

            “Khi tôi ra tập Những bài Không tên vào năm 1969, 1970 gì đó, vì đó là nhu cầu cần phải ra một lúc 10 bài nên tôi sắp xếp lại những bài hát cũ tôi đã có, những bài nổi, bài chưa nổi tôi sắp xếp lại thành tập nhạc Mười bài Không tên”.

            Tuy là “không tên” nhưng hầu như mỗi một bài hát đều “ghi tên” với một cuộc tình. Những cuộc tình mà giờ đây, sau bao nhiêu năm nhìn lại, ông nhìn nhận là nhờ những cuộc tình không trọn vẹn, nhờ cuộc sống gia đình không yên vui cho nên ông mới sáng tác được những Tình Ca cho đời thưởng thức.
            Vũ Thành An tham gia các hoạt động văn nghệ và sáng tác từ năm 1960, khi còn là chàng học sinh lớp Đệ nhị trường Nguyễn Trãi. Bài Không tên số 2 và số 8 đã ra đời trong khoảng thời gian này.

                        “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều
                        Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn
                        Và cơn đau này vẫn còn đấy
                        Chiều về không buông nắng, cho mây âm thầm
                        Một mình trong chiều vắng, nhớ đôi môi mềm
                        Ngày nào ân cần trao thân…”

                        (Bài không tên số 2)

            Ông cho rằng mình là người không có duyên với thi cử, có lẽ giống như Tú Xương ngày xưa. Ngược lại, gia tài âm nhạc của ông thì cho thấy khả năng sáng tác trong con người ông là thiên phú.
            Với tâm hồn lãng mạn và sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, những cuộc tình đến trong đời ông, cho dù là những rung động thoáng qua hoặc đó là tình yêu ngắn ngủi không thành nhưng đều thường để lại trong ông sự khắc khoải, theo thời gian dài mới nguôi ngoai.

                        “Tình vui theo gió mây trôi
                        Ý sầu mưa xuống đời
                        Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
                        Mấy tuổi xa người
                        Ngày thần tiên em bước lên ngôi
                        Đã nghe son vàng tả tơi
                        Trầm mình trong hương đốt hơi bay
                        Mong tìm ra phút sum vầy…”

                        (Tình khúc thứ nhất)

Một ca khúc để kỷ niệm cuộc gặp gỡ
            Vào cuối năm đó, 1964, bài Tình khúc thứ nhất, nhạc của Vũ Thành An, lời của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn được chính nhà thơ hát lần đầu tiên trên Đài Phát thanh Sài Gòn và được sự tán thưởng nồng nhiệt của thính giả bấy giờ.


Nhạc sĩ Vũ Thành An

            Ca khúc được ông sáng tác theo lời yêu cầu của một người mà giờ đây ông xin được tạm gọi là người bạn thân. Người con gái này biết ông có khả năng sáng tác nên muốn ông viết một ca khúc để kỷ niệm cuộc gặp gỡ của hai người:

            “Một buổi khi tôi đi chơi từ Vũng Tàu về, buổi chiều ngồi trên xe đò về tôi nhìn thấy nắng chiều rất đẹp. Tự nhiên melody của Tình khúc thứ nhất nổi lên trong đầu. Tôi về đã viết melody đó xuống và lời đầu tiên là “Bài ca anh hứa cho em bấy lâu nay vẫn còn dang dở”. Hồi đó tôi làm việc tại đài phát thanh, có quen nhà thơ Nguyễn Đình Toàn, tôi có khoe melody đó với anh Toàn. Đương nhiên những lời ngu ngơ của tôi thì không hay. Anh có nói là để anh phổ thơ vào”.

            Tình khúc thứ nhất là bài hát được ra đời trong lúc trái tim của chàng nhạc sĩ Vũ Thành An đang say nồng với cuộc tình vui và êm đềm như áng mây trôi. Thế rồi bỗng dưng “Thần tiên gãy cánh đêm xuân. Bước lạc sa xuống trần. Thành tình nhân đứng giữa trời không. Khóc mộng thiên đường”.

                        “Nhớ em nhiều nhưng chẳng nói
                        Nói ra nhiều cũng vậy thôi
                        Ôi đớn đau đã nhiều rồi
                        Một lời thêm càng buồn thêm
                        Còn hứa gì?...”

                        (Bài không tên cuối cùng)

            “Bài Không tên cuối cùng” không có nghĩa là bài hát được sáng tác cuối cùng trong tập nhạc. Mà đó là nốt lặng cuối cùng trong khung nhạc ông dành cho cuộc tình của mình, cho một kỷ niệm khôn nguôi đến nhiều năm sau. Cho đến năm 1991, khi đến trại tỵ nạn Batawan ở Phi Luật Tân, niềm đau nguôi ngoai, ông viết lời nhạc thứ hai dành riêng cho người một thuở:

            “Năm 1965 mình đặt câu hỏi cho sự chọn lựa của người bạn của mình, “Con đường em đi đó, đúng hay sao em?” Có thể là đúng mà cũng có thể là không đúng. Đến 25 năm sau khi mà tôi viết lại, viết thêm một lời nữa, tức là 1991 thì tôi viết lại là “Con đường em đi đó, đúng đấy em ơi”. Quả thật là như vậy, bởi vì cô đã chọn lựa đúng. Trong suốt hai mươi mấy năm, trong khi tôi phải ở tù 10 năm thì cô sống tự do trong thế giới tự do. Nhìn về khía cạnh đó thì cô ấy đã đúng. Nếu cô ấy chọn lựa mình thì đương nhiên cô ấy sẽ ở trong sự đau khổ. Lúc đó cô ấy chọn con đường đó là rất đúng vì con đường đó đã đưa cô đi đến tương lai hạnh phúc và bình yên”.

            Người ta đến với nhạc của Vũ Thành An không chỉ vì những ca từ da diết chuyên chở tình yêu nồng nàn nhưng không có kết thúc viên mãn, mà còn vì những câu hát mang hình ảnh triết lý trong cuộc sống như “Triệu người quen có mấy người thân. Khi lìa trần có mấy người đưa”.
            Hay đó là sự thấu hiểu cái mất và cái có được trong cuộc đời:

                        “… Có một lần mất mát mới thương người đơn độc
                        Có oằn mình đớn đau mới hiểu được tình yêu
                        Qua dầm dề mưa tuyết mới vui ngày nắng về
                        Có một đời khóc than mới hiểu đời đá vàng...”

                        (Đời đá vàng)

            Năm 31 tuổi, ông loay hoay trong lần mò và leo mãi vẫn không qua được vách sầu. Cho đến 19 năm sau, khi đặt chân đến xứ người, thì ông mới nhận ra rằng để thấu hiểu được Đời đá vàng phải cần đến cả một đời khóc than. Ca khúc Đời đá vàng, còn được ông gọi là Bài Không tên số 40.
            Vẫn còn nhiều lắm những câu chuyện chưa được kể phía sau mười bài Không tên ấy. Nhưng mỗi một người khi nghe tình khúc của ông, sẽ có riêng một câu chuyện cho mình, một câu chuyện không tên trong muôn vàn câu chuyện trong đời.


CÁT LINH
Tháng 9/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vu-thanh-an-n-stories-of-10-unamed-song-cl-09272015085424.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #7 vào: 26/03/2017, 13:40:18 »
Hai Bà Trưng và bài học “việc nước trước việc nhà”

Sử sách Việt Nam, dù mới dù cũ, đều dành phần trang trọng nói về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê, Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim hay Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn còn dành một chương riêng cho hai bà. Đó không phải ngẫu nhiên, mà bởi vì đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt Nam thời Bắc Thuộc, bởi vì cuộc khởi nghĩa Trưng Trắc-Trưng Nhị có vai trò to lớn trong lịch sử Bắc Thuộc nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung. Và bởi vì cuộc khởi nghĩa này đã để lại những bài học quí giá mà đến hiện tại vẫn còn nguyên giá trị.

Hai Bà Trưng khởi nghĩa (Tranh dân gian Đông Hồ)

Phất cờ nương tử
            Triệu Đà là tướng nhà Tần, nhân bên Trung Quốc loạn lạc mà nổi lên lập nghiệp ở vùng Quảng Đông-Quảng Tây. Năm 207 trước Công Nguyên (TCN), Triệu Đà đem binh thôn tính Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Nếu dựa theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, thì Triệu Đà chiếm Âu Lạc vào năm 179 TCN. Thế nhưng, dù năm 207 hay 179 thì việc Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc cũng đã bắt đầu thời kỳ con cháu Hùng Vương bị ngoại bang đô hộ: Thời Bắc Thuộc.
            Nước Nam Việt của Triệu Đà tồn tại đến năm 111 TCN thì mất vào tay nhà Tây Hán. Sau đó, nhà Hán đổi Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đam Nhĩ. Trị sở quận Giao Chỉ thời Đông Hán (23-220 Công Nguyên – CN) đặt ở huyện Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ (Mê Linh sau này còn gọi là Phong Châu mà theo cách đọc của người Việt là Châu Phong). Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quận Giao Chỉ tương đương với vùng Bắc bộ hiện tại.
            Nhà Hán đặt chức Thái Thú để cai trị mỗi quận, trên Thái Thú có quan Thứ Sử là người Trung Quốc có trách nhiệm giám sát các quận. Các Lạc hầu (văn quan), Lạc tướng (võ quan) dưới quyền Thái Thú coi việc trị dân như cũ. Họ vẫn giữ quyền thế tập và chỉ phải mỗi năm nộp thuế cống cho Thái Thú.
            Hai bà Trưng là con của lạc tướng huyện Mê Linh (tức Châu Phong) thuộc quận Giao Chỉ. Trưng Trắc là chị, kết hôn với Thi Sách – con trai của lạc tướng huyện Châu Diên cũng thuộc quận Giao Chỉ. Năm 34 CN, nhà Đông Hán cử Tô Định sang làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, cai trị hà khắc, khiến dân tình ta thán. Vợ chồng Thi Sách muốn dấy binh khởi nghĩa để đánh đuổi ngoại xâm, nhưng chưa kịp khởi binh thì Tô Định đã đánh chiếm Châu Diên và giết chết Thi Sách vào năm 40 CN. Trưng Trắc thay chồng “phất cờ nương tử”, lãnh đạo nghĩa quân tiếp tục cuộc kháng chiến. Nhiều quận khác như Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng theo về dưới lá cờ Hai Bà Trưng. Quân Hai Bà Trưng nhanh chóng chiếm được nhiều thành trì. Tô Định bỏ chạy về nước và bị triều đình Đông Hán giáng chức. Còn Trưng Trắc thì lập tức xưng vương dựng triều Lĩnh Nam đóng đô ở Mê Linh.
            Năm 41 CN, nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân mang quân tiến đánh Hai Bà Trưng. Quân hai bà bị thua phải rút về giữ đất Cấm Khê (phía tây nam huyện Mê Linh). Cầm cự được 2 năm, đến năm 43 CN, quân Hai Bà Trưng bị Mã Viện tấn công phải chạy đến xã Hát Môn huyện Phúc Lộc (Phúc Thọ, Sơn Tây). Đường cùng, hai bà gieo mình xuống sông Hát Giang tự tận vào ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (43 CN).

Một số điểm cần khảo cứu thêm
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tuy rằng sách sử nào cũng đề cập, nhưng hầu hết đều rất đại khái, thiếu chi tiết và còn nhiều điểm chưa rõ. Chẳng hạn như số lượng thành trì mà hai bà chiếm được khi khởi nghĩa, sách Đại Việt Sử Lược khuyết danh và An Nam Chí Lược của Lê Tắc hồi đầu thế kỷ 14, Đại Việt Sử ký Toàn Thư nhà Hậu Lê được biên soạn hồi thế kỷ 17, Khâm Đinh Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn thế kỷ 19, đều ghi là quân Hai Bà Trưng chiếm được 65 thành. Thế nhưng sách Việt Sử U Linh (Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) của Lý Tế Xuyên thế kỷ 14 thì lại chép là 60 thành, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ hồi thế kỷ 18 ghi là 50 thành.
            Tên họ của Trưng Trắc cũng có điểm cần khảo cứu thêm. Đại Việt Sử Lược chép: “Có Trưng Trắc người huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên) là con gái của quan Lạc tướng”. Đại Việt Sử ký Toàn Thư thì ghi: “Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên”. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì chép: “Vương vốn họ Lạc, lại có một tên họ nữa là Trưng. Là con gái quan lạc tướng huyện Mê Linh”. Hay như Thi Sách, thì đa số sách chép họ Thi tên Sách, nhưng cũng có sách cho rằng tên ông là Thi. Sử gia Phạm Văn Sơn trong cuốn Việt Sử Toàn Thư còn cho rằng Thi Sách tên đầy đủ là Đặng Thi Sách, tức cho rằng ông mang họ Đặng.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng: Vì nhà hay vì nước?
            Bàn về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có một chi tiết tối trọng cần làm rõ, nếu không thì tất hẳn ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này ít nhiều sẽ bị giảm sút. Chi tiết đó là: Nguyên nhân khởi nghĩa là gì: Vì thù nhà hay nợ nước?
            Sách Đại Việt sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê chép về nguyên nhân khởi nghĩa của Trưng Trắc như sau: “Xưa kia chồng bà Trắc bị Tô Định giết chết. Bà Trắc căm thù Tô Định, lại khổ vì nỗi Tô Định lấy pháp luật ràng buộc dân, bà bèn cùng em gái là bà Nhị khởi binh đánh”.
            Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn ghi: “Lúc bấy giờ Thái Thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân”.
            Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát hồi thế kỷ 19 cho biết:


“Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”.

            Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hồi đầu thế kỷ 20 cho biết: “Năm Canh Tý (40), người ấy (Tô Định) lại giết chết Thi Sách… Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh cùng với em là Trưng Nhị nổi lên đem quân đánh Tô Định”.
            Đọc qua các đoạn trên ta có cảm giác rằng, Bà Trưng khởi binh đánh Tô Định trước hết là để trả thù Tô Định đã giết chồng bà là Thi Sách, tức mục đích chính của cuộc khởi nghĩa là vì trả thù nhà. Nếu quả thật như vậy, thì cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mất đi ý nghĩa thật sự của nó!

Việc nước trước việc nhà
            Để hiểu chính xác nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thiết nghĩ cần đi vào bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa. Hồi ấy, chính sách cai trị của nhà Hán đối với Giao Chỉ vốn nổi tiếng hà khắc, cái cảnh bị ngoại bang đô hộ thì ngàn đời nay vẫn lắm nhọc nhằn. Sử cũ còn chép, nhiều văn thần võ tướng của nhà Hán khi loạn lạc chạy sang tỵ nạn ở nước ra để được yên ổn, rồi bọn người di cư này được thay thế dần quan lại bản xứ. Họ lại chiếm cả một số ruộng đất ở đây, dựa vào thế họ là người của “Thiên triều”. Bị xâm lăng về quyền hành, lại bị đẽo gọt cả về kinh tế, quý tộc cũng như nhân dân Giao Chỉ rất lấy làm căm phẫn.
            Trước khi Tô Định đến trấn nhậm Giao Chỉ, thái thú quận Giao Chỉ là Tích Quang. Người này có đường lối cai trị mềm dẻo, biết vỗ về dân, du nhập phong tục phương Bắc dạy cho dân bản địa. Thái Thú quận Cửu Chân là Nhâm Diên dạy dân trồng lúa bởi trước đó dân Việt chỉ biết chài lưới và săn bắt. Sử cũ cho biết, Nhâm Diên còn trợ cấp tiền cho trai gái đến tuổi cặp kê làm lễ cưới, nhờ đó mà lúc bấy giờ có tới hơn hai nghìn người được lấy nhau.
            Chính sách của Tích Quang và Nhâm Diên xoa dịu phần nào nỗi đau khổ của dân chúng. Nhưng đây chỉ là những hạt mưa hiếm hoi trên một cánh đồng bị hạn hán lâu ngày. Sự kiện này chỉ trì hoãn được cuộc nổi loạn nhất thời mà thôi bởi Giao Chỉ bộ khi ấy như một thùng thuốc nổ chỉ đợi người ta ném xuống một chiếc que diêm là phát nổ ngay lập tức.
            Huống chi câu chuyện về lòng tốt của hai vị Thái Thú nói trên chưa chắc có thật như lời nhận xét của vua Tự Đức trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: “Triệu Đà vốn là người Trung Quốc, làm vua trên nước Nam Việt và truyền nối đã ngót trăm năm. Xem bức thư trả lời Văn Đế nhà Hán thì Triệu Đà vốn là người có học thức; có lẽ nào lại chưa biết dạy dân phép cấy cày và lễ giá thú mà phải đợi bắt đầu từ hai Thái Thú ấy? Huống chi, lại bảo đồng thời có tới hơn hai nghìn người lấy nhau. Xem thế đủ thấy rõ rằng ghi chép thất thực, không đủ tin”.
            Năm 34 CN, Tô Định được nhà Đông Hán phái làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Sách sử Việt Nam tất cả đều thừa nhận một điểm: Tô Định là người tàn bạo. Đại Việt Sử ký Toàn Thư đánh giá: “Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định chính sự tham lam tàn bạo”, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng cho rằng: “Thái Thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo”, Lĩnh Nam Chích Quái chép: “Tô Định ở Giao Châu rất tham bạo”, Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca nhận định: “Đến như Tô Định là người chí hung”, Việt Nam Sử Lược bàn: “Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao Chỉ đã có lòng oán hận lắm”.
            Qua đó mới thấy, người Việt lúc bấy giờ oán hận Tô Định lắm, bởi thế họ mới đứng lên khởi nghĩa dưới ngọn cờ của vợ chồng Thi Sách để đánh đuổi ngoại bang. Chủ tướng của họ là Thi Sách lại bị Tô Định giết. Thù càng thêm sâu, hận càng thêm lớn, bởi vậy họ chiến đấu càng anh dũng và thiện chiến, và đã đạt được thắng lợi khi giành được độc lập cho dân tộc ngót 3 năm.
            Như vậy ta hiểu rằng, nếu Thi Sách không bị giết thì cuộc khởi nghĩa sớm muộn gì cũng vẫn nổ ra, việc Tô Định giết Thi Sách đã thúc đẩy cuộc khởi nghĩa tiến gấp mà thôi và khiến cho lòng thù hận của người Việt càng lớn, đến mức mà dù thua thiệt mọi bề so với kẻ thù nhưng quân Hai Bà Trưng vẫn giành được chiến thắng.
            Ngoài ra, nên nhớ rằng, nếu lòng người không thù ghét Tô Định và phản đối sự đô hộ của nhà Hán, và nếu sự thù ghét không lớn, thì ai lại có thể vì cuộc báo thù của một cá nhân mà nổi lên như giông bão như vậy? Dân Giao Chỉ, Cửu Chân nổi lên ủng hộ Hai Bà Trưng thì còn có thể cho rằng họ làm thế vì họ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của quí tộc quận Giao Chỉ, chứ còn dân Nhật Nam, Hợp Phố là những dân ở xa ảnh hưởng của quý tộc Giao Chỉ mà còn nổi lên ủng hộ Hai Bà Trưng, đủ thấy mục tiêu của họ không phải để giúp một người trả thù cá nhân, mà là vì nghĩa lớn của dân tộc.
            Tóm lại, khi mà toàn dân nổi lên chiến đấu thì cuộc chiến đấu phải là vì nghĩa lớn của cả dân tộc, chứ không bao giờ vì quyền lợi của một cá nhân, dù cá nhân đó có nhiều uy vọng đến đâu!

Hào khí nhất trời, danh truyền thanh sử!
            Đọc kỹ Đại Nam quốc sử diễn ca ta thấy có đoạn:


“Đến như Tô Định là người chí hung.
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.”

            Theo đó ta thấy rằng, nguyên nhân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là “Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên”, tức có hai nguyên nhân: “Giận người tham bạo” và “Thù chồng”. Trong hai nguyên nhân đó, ta lại thấy việc “Giận người tham bạo” được đặt trước “Thù chồng”, tức “việc nước trước việc nhà”. Tức đánh đuổi kẻ cai trị bạo ngược đúng như mục đích mà vợ chồng Trưng Trắc đồng lòng đặt ra cho cuộc khởi nghĩa, nhưng khi chồng bà bị giết, thì ngọn lửa thù hận càng trở nên mãnh liệt hơn.
            Thiên Nam Ngữ Lục ghi rằng, trước khi xuất binh đánh Tô Định Trưng Trắc đã đăng đàn khấn thiên địa như sau:


“Tôi là con gái phụ nhân,
Thời loạn ơn chúng lập thân trợ đời”

            Qua lời tế cáo trời đất trên ta thấy rõ ràng cái chí của bà Trưng là “Trợ đời”, giúp nước trong thời loạn. Ta thấy toát lên một hào khí anh hùng nào thua kém đấng mày râu: “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”.
            Việt Sử Tiêu Án và một số sách sử khác còn ghi nhận một chi tiết: Khi Trưng Trắc ra quân, chưa hết tang chồng, bà ăn mặc quần áo đẹp, các tướng hỏi, bà trả lời rằng: “Việc binh phải tòng quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để làm cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta có dễ phần thắng”. Qua đó ta càng thấy rõ chí khí đặt việc quốc gia lên trên hết của Bà Trưng. Nếu là một nhi nữ thường tình, bị chuyện chồng con kìm hãm thì làm sao có được dũng mưu và cách ứng xử như vậy.
            Chí khí anh hùng của hai bà Trưng được các sử gia không tiếc lời ca tụng. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lê Văn Hưu nói: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao?
            Vua Tự Đức phê trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục như sau: “Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!
            Sử gia Nguyễn Nghiễm đời Hậu Lê bàn rằng: “Bà Trưng Vương nổi giận, khích lệ đồng bào, nghĩa binh đi đến đâu, gần xa đều hưởng ứng, 50 thành Ngũ Lĩnh đều khôi phục được hết, dân sự đang khổ sở đắng cay, lại được trông thấy mặt trời. Bà quả là bậc anh hùng hơn người nhiều lắm, tuy rằng một đám quân mới tập hợp, mới nhóm lên đã tan vỡ, nhưng cũng hả được lòng phẫn uất của thần, nhân”.
            Sử gia Trần Trọng Kim cũng không tiếc lời ca ngợi: “Hai bà Trưng làm vua được ba năm, lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời”.
            Rõ ràng, nếu Trưng Trắc khởi binh chỉ vì trả thù chồng hoặc chủ yếu vì trả thù chồng, thì sử gia các thế hệ và ngay cả vị hoàng đế trí thức nhất triều Nguyễn là Tự Đức đã không phải tốn lời ca tụng đến thế!

Vai trò Hai Bà Trưng trong lịch sử
            Bàn về vai trò của Hai Bà Trưng trong lịch sử Bắc Thuộc nói riêng và trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, phó giáo sư-tiến sĩ sử học Hà Minh Hồng, trưởng Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh cho rằng:

            “Đối với lịch sử thời Bắc Thuộc nói riêng, thì ta thấy khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 nổ ra và thắng lợi mới chỉ kết thúc hơn một thế kỷ đầu của thời kỳ Bắc Thuộc, tức từ năm 179 TCN cho đến năm 40 mà thôi. Nhưng thắng lợi này có vai trò mở đường cho 10 thế kỷ sau đó, tức từ thế kỷ thứ Nhất đến thế kỷ thứ Mười. Dân tộc Việt Nam liên tục nổi dậy khởi nghĩa, cho đến khi giành được quyền làm chủ và thoát hẳn ra khỏi chế độ Bắc Thuộc ấy”.

            Hơn 1.000 năm, từ năm 179 TCN cho đến năm 907, các đế chế phương Bắc muốn áp đặt một chế độ cai trị áp bức, và hơn thế nữa, họ thực hiện một sự thủ tiêu nền văn hóa Văn Lang-Âu Lạc, đồng hóa văn hóa dân tộc, xóa bỏ quốc gia dân tộc này như là họ từng xóa bỏ Bách Việt vậy. Nhưng người Việt từ Hai Bà Trưng và sau Hai Bà Trưng đã dùng biện pháp bạo lực để chống lại bạo lực, chống lại ách đô hộ ngoại bang, chống lại đồng hóa, kết hợp với nhiều biện pháp khác để mà chống lại sự đô hộ tàn bạo của phương Bắc. Có vậy thì mới kết thúc được chế độ Bắc Thuộc, chứng tỏ là đất Việt, người Việt đến đầu Công Nguyên đã hoàn toàn đủ sức để dựng nghiệp bá vương không thua gì phương Bắc.

Chống ngoại xâm là một trong những dòng chảy mạnh mẽ nhất của suối nguồn lịch sử dân tộc
            Còn trong lịch sử dân tộc hàng ngàn năm, tính từ thời Hùng Vương, chúng ta thấy rằng, chống ngoại xâm là một trong những dòng chảy mạnh mẽ nhất của suối nguồn lịch sử dân tộc. Trong dòng chảy mạnh mẽ ấy có mặt mọi người Việt, và trong cái mọi người Việt ấy có cả những phụ nữ chân yếu tay mềm dám đứng lên làm nữ tướng. Trưng Trắc và Trưng Nhị là những nữ tướng mở đầu cho những nữ tướng Việt. Từ đầu Công Nguyên thì những nữ tướng này đã quyết tâm đền nợ nước trả thù nhà. Về sau thì còn có những nữ tướng khác như Bà Triệu thế kỷ 3, Bùi Thị Xuân thế kỷ 18… Tất cả đều vì lý lẽ đền nợ nước trả thù nhà cả.
            Hai Bà Trưng là hình ảnh thật chứ không phải là hình tượng văn học. Bà Triệu, Bùi Thị Xuân… cũng là những hình ảnh thực như thế. Những hình ảnh thực ấy của các nữ tướng lại có tính tượng trưng cho các giới trong xã hội-quốc gia, biểu tượng cho tinh thần của cả dân tộc, buộc phải đứng lên chống ngoại xâm, chống ách đô hộ tàn bạo của ngoại bang. Họ không phải là không biết phận chân yếu tay mềm, nhưng họ đã tỏ rõ cho tất cả mọi người thấy được một lẽ tự nhiên là, dù chân yếu tay mềm cũng có thể làm được việc lớn là đền nợ nước trả thù nhà. Họ đã làm được, cùng với các tầng lớp khác, cùng với toàn dân Việt, không chịu sống quỳ, không chấp nhận sự bảo hộ.
            Cho nên dù phương Bắc hay phương Tây, dù thời thượng cổ hay thời trung đại, thời cận đại hay hiện đại, dù xa xưa hay ngày nay cũng đều vậy thôi: những người chân yếu tay mềm, những dân tộc như thế, không chấp nhận việc áp đặt cho dân tộc Việt Nam một nền cai trị áp bức dân tộc được.

Hai bài học lịch sử
            Sử gia Hà Minh Hồng rút ra hai bài học lịch sử từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng như sau:

            “Bài học đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là bài học “đền nợ nước trả thù nhà”. Bài học này được toát lên trong lí do mà hai chị em Trưng Trắc-Trưng Nhị đã tuyên bố khi phất cờ nương tử:


“Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ hùng.
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sử công lênh này”.

            Ở đây, một, hai, ba, bốn không phải chỉ là việc xếp đặt 1, 2, 3, 4 để gieo vần, mà là muốn nói phải biết xếp nợ nước trên thù nhà, quốc gia trên dòng họ. Chỉ có như vậy mới thu được ba quân của 65 thành trì của Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Chỉ có như vậy thì mới nổi dậy lật đổ ách thống trị tàn bạo của giặc Hán được.
            Bên cạnh đó, cũng nên thấy một bài học nữa dưới cờ nương tử của năm 40 ấy, đó là bài học về sự đoàn kết, cố kết vì “nghiệp xưa họ Hùng”. Chỉ có sức mạnh đoàn kết ấy để nhứt hộ vạn ứng thì mới có thể “Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thùy”. Và sau đó là xưng vương, lập triều Lĩnh Nam đóng đô ở Mê Linh. Như vậy là sức mạnh đoàn kết từ trong nhà ra ngoài. Từ trong nhà tức là từ chị em Trưng Trắc-Trưng Nhị, và các chị em ở trong dòng họ, ở quê hương ấy, rồi ra đến bên ngoài, đến cả nước như thế, cả 65 thành trì như thế, cả Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Như vậy thì mới đủ sức để chống chọi với kẻ thống trị tàn bạo và dựng nghiệp bá vương sánh cùng phương Bắc.
            Tôi cho rằng, những bài học từ mùa xuân năm 40 ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị
”.

            Hai ngàn năm giở lại trang sử cũ, ta thấy rằng trong cái mà người ta thường nói “Trăm năm đô hộ giặc Tây, ngàn năm đô hộ giặc Tàu”, thì trong cái “Ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đó, cuộc khởi nghĩa thắng lợi giành lại độc lập dân tộc đầu tiên lại do phụ nữ lãnh đạo. Thế mới biết cái tài của phụ nữ Việt Nam, thế mới hiểu được vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử hào hùng của dân tộc.
            Hai ngàn năm giở lại trang sử cũ, qua câu chuyện Hai Bà Trưng, ta lại được thêm một lần ôn về hai truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam là tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm và truyền thống “việc nước trước việc nhà”, đặt lợi ích cộng đồng dân tộc lên trên hết. Đó cũng chính là hai sức mạnh phi thường của dân tộc Việt Nam, đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao bão táp ngoại xâm để giữ vững nền tự do độc lập.


LÊ PHƯỚC
Tháng 10/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121012-hai-ba-trung-va-bai-hoc-%E2%80%9Cviec-nuoc-truoc-viec-nha%E2%80%9D

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #8 vào: 29/03/2017, 12:50:25 »
“Người tình” Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc

Gia Long, Trưng Vương, Đồng Khánh là những trường nữ trung học nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975. Rất nhiều những tản văn, thơ được viết lên trong đó nhắc đến tên những ngôi trường một thời là niềm tự hào cho những người được ngồi dưới mái trường ấy. Âm nhạc cũng thế. Gia Long, Trưng Vương, hay trường Văn khoa, trường Luật xuất hiện trong một số nhạc phẩm trước năm 1975.

Nữ sinh trường Gia Long

                        “Đường xa cô gái Gia Long về đâu
                        Dừng chân cho nhắn thăm cô vài câu
                        Bao cô dưới cùng mái trường
                        Khi xưa đã tặng hoa mừng
                        Nay có còn theo bước thương không
                        Người trai lính chiến em hằng chờ mong
                        Ngày vui sông núi anh lập đầu công
                        Hoa xưa vẫn vẹn sắc màu
                        Trao anh chiếm trọn tâm lòng
                        Một bóng hình em đã ghi sâu…”

                        (Cô nữ sinh Gia Long)

            Gia Long, ngôi trường nữ trung học nổi tiếng nhất Việt Nam trước năm 1975, là niềm tự hào của biết bao nhiêu nữ sinh thời ấy. Và có thể nói, cho đến tận bây giờ, hai tiếng Gia Long vẫn có thể thay cho tiếng chào kết bạn, là sợi dây kết nối khi họ tình cờ gặp nhau ở bất cứ nơi nào trên thế giới, là niềm tự hào của người thiếu nữ trưởng thành trong một nền lễ giáo của gia đình miền Nam thời ấy.
            Một điều thú vị ít ai biết, đó là nhạc sĩ Phượng Linh, tác giả ca khúc Cô nữ sinh Gia Long, cũng chính là nhạc sĩ khoác áo lính Nguyễn Văn Đông, người viết lên những nhạc phẩm xuân nổi tiếng.
            Không phải ngẫu nhiên mà nhạc sĩ Phượng Linh (Nguyễn Văn Đông) chọn tên ngôi trường trung học nổi tiếng nhất Việt Nam lúc ấy là Gia Long để đưa vào ca khúc của mình, và kể lên một câu chuyện tình giữa cô nữ sinh và người lính chiến. Là một người lính nên ông đã diễn đạt rất rõ nét mối tình lãng mạn, thủy chung son sắt của người thiếu nữ và lý tưởng của người trai thời loạn.
            Võ Thị Hai, một cựu nữ sinh Gia Long, hồi tưởng lại một thời áo trắng của bà và của những người cùng thế hệ:

            “Có lẽ đại đa số cựu nữ sinh Gia Long chọn người yêu đi lính là một sự vô tình, không phải là sự chọn lựa. Vì thời đó là thời loạn, đại đa số thanh niên phải đi nhập ngũ, làm nghĩa vụ của người trai. Có những người trở về, có những người mất tích, một thiểu số ở lại nếu họ bị thương.
            Những mối tình của nữ sinh Gia Long rất trong sáng, tuyệt đặt trong vòng lễ giáo, không bao giờ vượt quá lễ nghi của gia đình miền Nam Việt Nam lúc đó
”.

            Cuộc tình của cô nữ sinh và người chiến sĩ trong nhạc phẩm của Phượng Linh là một trong rất nhiều cuộc tình khác đã nảy sinh trong thời kỳ loạn ly ấy. Ông gọi cô gái của mình với cái tên chung là cô nữ sinh Gia Long, đơn giản như món quà là màu hoa thép súng của người lính trao tặng cô ngày anh lập chiến công.

                        “Này cô xuân nữ Gia Long thành đô
                        Màu hoa thép súng xin dành tặng cô
                        Hoa em vẫn vẹn sắc màu
                        Trao anh chiếm cả tấm lòng
                        Một sắc màu em đã ghi sâu
”.

TRÊN MỘT con đường khác ở Sài Gòn, có một ngôi trường mà tên gọi đã đi vào một ca khúc nổi tiếng từ thập niên 60.
            Ai đã từng đi qua hàng cây trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa thì sẽ hiểu vì sao chỉ một mùa thu qua, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trưng Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

                        “Tim em chưa nghe rung qua một lần
                        Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
                        Tình trần mong manh như lá me xanh
                        Ngơ ngác rơi nhanh...

                        (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

            Trưng Vương khung cửa mùa thu, là sáng tác của nhạc sĩ Nam Lộc chuyển lời Việt từ ca khúc Tell Laura I love her.
            Nếu bài hát gốc là một câu chuyện buồn, một cuộc tình lãng mạn nhưng với kết cuộc có thể lấy đi nước mắt của nhiều người, thì Trưng Vương khung cửa mùa thu của Nam Lộc hoàn toàn mang một sắc màu khác, một nét rất riêng của Trưng Vương, của Sài Gòn.


Nữ sinh trường Trưng Vương

            Bước ra từ bài hát cũng là một cuộc tình nhưng đó là cuộc tình tuổi học trò hồn nhiên, ngây thơ, dịu dàng với cô nữ sinh trong tà áo dài trắng. Có vẻ như Nam Lộc đã chọn những hình ảnh thật nhất, mềm mại nhất, thanh khiết nhất để đặt vào ca khúc của mình. Với những ngôn từ đầy chất thơ, ca khúc dường như đã chạm được vào những tâm tư sâu lắng nhất của cô nữ sinh trường Trương Vương vào tuổi vừa biết yêu.

                        “Người mang cho em nghe môi hôn ngọt mềm
                        Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
                        Từng chiều cùng người
                        Về trong cơn mưa bay
                        Nghe thương nhớ tràn đầy
                        Lên đôi mắt thật gầy
                        Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời…”


PHƯỢNG LINH, NAM LỘC, mỗi người nhạc sĩ đã chọn cho mình một ngôi trường để lưu lại tình yêu của tuổi trẻ một thời. Và hai ngôi trường nổi tiếng ấy lại được cố nhạc sĩ PHẠM DUY nhắc đến với những tình cảm mượt mà trong cùng một nhạc phẩm của ông. Với ông, Trưng Vương, Gia Long, Văn Khoa, mỗi ngôi trường, là một “người tình”. Ông yêu người tình ấy, yêu cả con đường dẫn đến ngôi trường đó.

                        “Hỡi người tình Văn Khoa,
                        Bóng người trên hè phố
                        Lá đổ để đưa đường
                        Hỡi người tình Trưng Vương
                        Hỡi người tình Gia Long,
                        Hỡi người trong cuộc sống
                        Con đường này xin dâng
                        Cho người bình thường
                        Hỡi người tình xa xăm,
                        Có buồn ra mà ngắm
                        Con đường thảnh thơi nằm
                        Nghe chuyện tình quanh năm...”

                        (Con đường tình ta đi)

            Ký ức bao giờ cũng đẹp, cũng làm cho người ta dễ thấy bồi hồi khi chạm đến dù chỉ là một mảnh nhỏ. Chính vì vậy mà có lẽ chẳng bao giờ thời gian có thể làm phôi pha những tên gọi Trưng Vương, hay Gia Long, Đồng Khánh, hay trường Văn Khoa, trường Luật trong ký ức của những người một thời thuộc về nơi đó. Đi đôi với những hoài niệm còn là niềm tự hào, khi mà sau một đoạn đường dài gặp lại nhau, họ chào nhau bằng tên gọi của chính ngôi trường ngày cũ.

                        “Người từ trăm năm về qua trường Luật
                        Người từ trăm năm về qua trường Luật
                        Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
                        Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
                        Đau lòng ta muốn khóc
                        Đau lòng ta muốn khóc…”


CÁT LINH
Tháng 5/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/gia-long-trung-vuong-named-in-love-songs-cl-05222016115624.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #9 vào: 31/03/2017, 14:14:03 »
Nhà văn Virginia Woolf và “Căn phòng riêng”

“Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng”. Nhà văn người Anh Virginia Woolf (1882-1941) đưa ra kết luận như trên trong cuốn tiểu luận văn học nổi tiếng của bà: Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929). Ngày nay, cuốn sách được xem là nền tảng của Nữ quyền luận, một cao trào tư tưởng lớn ở thế kỉ XX.

Bìa sách Căn Phòng Riêng của Virginia Woolf, dịch giả Trịnh Y Thư, NXN Tri Thức, 2016

CĂN PHÒNG RIÊNG đã được dịch giả Trịnh Y Thư chuyển ngữ sang tiếng Việt năm 2009 và vừa được nhà xuất bản Tri Thức tái bản lần thứ nhất mùa hè 2016.
            Adeline Virginia Woolf là một tiểu thuyết gia kiêm nhà viết tiểu luận người Anh, được xem là một trong những nhà văn hiện đại lừng danh nhất thế kỉ XX. Trong thời gian giữa hai Thế Chiến, bà là một nhân vật có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong sinh hoạt văn học tại Luân Đôn và là thành viên chính của nhóm trí thức Bloomsbury Group.
            Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Virginia Woolf gồm có Đêm và ngày (Night and Day, 1919), Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922), Bà Dalloway (Mrs. Dalloway, 1925), Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927), Orlando (1928), Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929), Những đợt sóng (The Waves, 1931), Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938).
            Chính trong cuốn Căn phòng riêng có một câu châm ngôn rất nổi tiếng của bà: “Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng”.
            Suốt thời gian tại thế, Woolf chịu đựng chứng bệnh tâm thần mà ngày nay được gọi là bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Năm 1941, ở tuổi 59, bà tự trầm mình xuống sông quyên sinh.

Nền tảng của Nữ quyền luận
            Căn phòng riêng, tiểu luận văn học của nhà văn nữ người Anh Virginia Woolf được hình thành từ loạt bài thuyết trình của bà năm 1928 tại Newham College và Girton College, hai trường cao đẳng dành cho phụ nữ tại Đại học Cambridge, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học”. Cuốn sách không chỉ nói lên tình thế tiêu cực của các nhà văn nữ ở thời kỳ mà người phụ nữ phải chấp nhận nhiều sự bất bình đẳng và định kiến xã hội, nó còn đề xuất một cái nhìn tích cực để từ đó xác định vai trò, vị trí và năng lực của phụ nữ trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa của nhân loại.
            Ngày nay cuốn sách được xem là nền tảng của Nữ quyền luận, một cao trào tư tưởng lớn ở thế kỉ XX, chẳng những đem lại khí quyển mới trong sáng tác mà cả ý thức đọc và phê bình những tác phẩm văn học viết bởi phái nữ xưa cũng như nay.

Tâm huyết của Virginia Woolf trong tiểu luận Căn phòng riêng
Dịch giả Trịnh Y Thư: Với tôi, dịch, nhất là dịch tác phẩm văn học, luôn luôn là thử thách đầy cam go. Ngoài những tiêu chuẩn cơ bản như trung thành tuyệt đối với văn bản nguyên tác, chú trọng đến yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch, người dịch còn phải cố gắng duy trì càng nhiều càng tốt cái phong cách văn học trong tác phẩm nữa. Chính phong cách văn học này trong tác phẩm của Virginia Woolf đã gây khá nhiều khó khăn cho tôi.
            Cuốn sách mang hình thức một tập tiểu luận, nhưng mặc dù không thiếu những ý tưởng uyên bác, nó không được viết bằng thứ ngôn ngữ hàn lâm lạnh lùng, khô cứng, tràn lan những thuật ngữ văn học khó hiểu vô hồn, mà Căn phòng riêng được viết bằng giọng văn sôi nổi đầy cảm tính chứa đựng niềm xác tín mãnh liệt vào những điều mình muốn chia sẻ cùng người đọc.
            Woolf là tiểu thuyết gia, bà thường được ghép vào xu hướng sáng tạo văn học có tên gọi là “dòng ý thức”. Tôi không rõ điều này có ảnh hưởng gì lên văn lí luận của bà, nhưng tôi có cảm tưởng, với cuốn Căn phòng riêng, bà đã dốc tất cả tâm tư mình vào đó với tấm lòng chân thành tuyệt đối. Bà viết nó với trái tim nhiều hơn là khối óc; hơn nữa, nó cũng không thiếu những đoạn trần thuật, miêu tả, độc thoại nội tâm như tiểu thuyết.
            Khi dịch cuốn sách sang Việt ngữ, tôi đã cố gắng duy trì phong cách duy cảm đó trong văn của bà. Điều đó, với tôi, chẳng dễ dàng chút nào, và quả thật tôi không dám chắc mình đã thành công.

Sự ưu việt của khối óc lưỡng tính
Dịch giả Trịnh Y Thư: Chính cái sôi nổi đầy cảm tính của Virginia Woolf trong tập sách đã gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Bạn có thể không đồng ý với nhiều điều trong quan điểm văn chương của bà. Chẳng hạn, khi Virginia Woolf đưa ra quan điểm một thiên tài như Shakespeare không thể sinh ra trong một gia đình tôi đòi, thất học, lao động tay chân; hoặc, phụ nữ viết văn phải có tiền và một căn phòng riêng. Nhưng bà không hề khoan nhượng hoặc chấp nhận một quan niệm hòa giải nào, chẳng hạn như khi bà đưa ra lập luận về sự ưu việt của khối óc lưỡng tính. Bà viết như sau trong cuốn sách:

            “… Trong mỗi chúng ta có hai năng lực chỉ huy song hành, một nam, một nữ; và trong trí óc người đàn ông, đàn ông chiếm ưu thế hơn đàn bà, trong trí óc người đàn bà, đàn bà chiếm ưu thế hơn đàn ông. Khi cả hai chung sống với sự hòa đồng, trong tinh thần hợp tác, thì trạng thái của hiện hữu là trạng thái bình thường và thoải mái. Nếu là đàn ông thì phần đàn bà trong trí óc ông ta phải có hiệu ứng; và ngược lại, người đàn bà cũng phải giao hòa với phần đàn ông trong trí óc mình… Đó là lúc sự hợp nhất xảy ra và trí óc trở nên phong phú, tận dụng tất cả khả năng của nó…”

            Tôi cho đó là sự biểu hiện đặc trưng của nhà văn.
            Nhà văn như bà, khác với chính trị gia, là người không bao giờ chịu ép mình để đi đến sự hòa giải, vo tròn. Phải chăng bà là người cực đoan, có cá tính mạnh, chân thành với niềm tin của mình, xem nó như một đức tin tôn giáo? Và phải chăng bởi thế một hôm bà ra bờ sông, bước xuống dòng nước đang chảy xiết và không bao giờ trở về nhà?

Virginia Woolf, người mở đường
Dịch giả Trịnh Y Thư: Tôi vốn không có thói quen phân biệt nhà văn nam hoặc nữ. Tôi đọc tác phẩm họ viết do ý thích cá nhân nhiều hơn là bởi giới tính của tác giả. Nhưng gần đây tôi đặc biệt yêu thích nhà văn Canada, Alice Munro (giải Nobel Văn Học 2013). Văn chương của Munro thật là phong phú và sâu lắng. Đọc xong truyện của bà, gấp sách lại, tâm hồn tôi như đổi khác; tôi cảm thấy yêu người, yêu cuộc đời này hơn và tôi chợt thấy buồn cười cho những phi lí lẫn nghịch lí của đời sống. Tôi đòi hỏi gì hơn thế ở một nhà văn?

“Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare không?”
Dịch giả Trịnh Y Thư: Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm.
            Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ.


THANH HÀ
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170303-nha-van-virginia-woolf-va-can-phong-rieng

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #10 vào: 04/04/2017, 12:51:35 »
50 năm phong trào nhạc trẻ

Nếu lấy mốc thời gian của thập niên 60-70s thì đã 50 năm từ ngày phong trào nhạc ngoại quốc, nhạc ngoại quốc lời Việt, mà gọi chung là nhạc trẻ du nhập vào Việt Nam. Những chàng hippy tóc dài, quần ống loe ngày xưa giờ đây có người đã trở thành thiên cổ, có người tóc đã trắng như vôi. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ trong tâm hồn của họ quên đi được thời kỳ hưng thịnh nhất của nền nhạc trẻ Việt Nam.

Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963


NHÂN DỊP “Cuộc hội ngộ 50 năm nhạc trẻ” sẽ tổ chức ở Nam California sắp đến, Cát Linh xin mời quí vị cùng quay về thập niên 60-70s, gặp lại những người đã khởi xướng nên ngọn lửa âm nhạc đã trở thành lịch sử của một thế hệ thanh niên 50 năm trước.

            “Tôi đã từng sống trong thời kỳ đó, là một người thanh niên, họ rất hoang mang trong cuộc sống và về cuộc chiến tranh, người ta rất hoang mang. Giới trẻ ngày đó người ta nghĩ rằng không biết sống chết ngày nào. Có một phong trào hippy, gọi là big music du nhập vào. Giới trẻ say đắm vào dòng nhạc cuồng loạn để vơi bớt những tâm trạng, những buồn chán, lo lắng của giới trẻ bấy giờ”.

            Đó là lời tâm tình của nghệ sĩ Kỳ Phát, một trong những chàng trai hippy đã tạo nên phong trào “Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam” khi ông nói về nguyên nhân vì sao những thanh niên thế hệ ấy tìm đến và say mê dòng nhạc trẻ.
            Thập niên 60, 70s là thời gian mà cuộc chiến và sự chia lìa là đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong các tác phẩm văn thơ, âm nhạc. Thế nhưng, bên cạnh những bài ca về lính, những ca khúc chinh chiến đau thương, thì nhạc trẻ xuất hiện như một cơn gió thổi bùng ngọn lửa cuồng nhiệt trong tâm hồn của người thanh niên. Nghệ sĩ Kỳ Phát nói rằng trong một khung cảnh xã hội như thế, nhạc trẻ như một liều thuốc phiện đánh tan nỗi hoang mang, lo lắng về cuộc sống chết nay sống mai.
            Với nghệ sĩ/nhạc sĩ Nam Lộc, người đã viết nhiều ca khúc ngoại quốc lời Việt trong những năm đó thì ông cho rằng, nhạc trẻ, đơn giản là dành cho người trẻ.

            “Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ”.

            Thời điểm đó, đầu những năm 60s, nhạc trẻ đến từ những bản nhạc Rock n Roll của Pháp, cũng như của Anh, Mỹ và du nhập vào Việt Nam, được giới thanh niên thuộc gia đình giàu có thời ấy ưa chuộng. Bên cạnh những bài tình ca, những ca khúc học trò như nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, hay những giai điệu nhẹ nhàng mà ban nhạc Phượng Hoàng trình diễn thì nhạc trẻ được phổ biến một cách rất tự nhiên.
            Những điệu nhạc nhanh, cuồng nhiệt nhanh chóng được giới trẻ đón nhận như một nơi quay về sau những hiện thực mất mát từ cuộc chiến.


Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát

            Vẫn có những cuộc vui xảy ra hàng đêm. Những người lính khi trở về, thay một bộ đồ trận, trở về thì sà vào những cuộc vui, một phần là sở thích của họ, một phần là quên đi những khổ đau vất vả của chiến trường. Tuổi trẻ là như vậy. Nhớ đấy rồi quên đấy. Vui đấy rồi cười đấy rồi khóc đấy. Nên tôi cho rằng đó nó phản ảnh cái tuổi trẻ trung thực, lúc vui lúc buồn, lúc khổ đau lúc sung sướng. Tuổi trẻ là như vậy”.

            Người khởi xướng đầu tiên phong trao nhạc trẻ giai đoạn này là nhạc sĩ Trường Kỳ, người được gọi là ông vua nhạc trẻ, ông vua hippy.

            “Trường Kỳ là người tổ chức nhạc trẻ, viết về nhạc trẻ. Khi phong trào hippy phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, về vóc dáng của Trường Kỳ thì anh để tóc dài, để râu giống như những tay hippy ở Mỹ nên người ta gọi anh là vua hippy, vua nhạc trẻ Trường Kỳ”.

            Nhạc trẻ được du nhập và được đón nhận như bản năng tự nhiên. Thì cũng như một quy luật, sau khi bị cấm một thời gian ngắn, nhạc trẻ được cho phép hoạt động trở lại. Khi đó, người nghe và người chơi nhạc như thiếu liều thuốc nghiện lâu ngày được thỏa mãn sự mong mỏi, thèm muốn với những điệu nhảy và âm thanh cuồng nhiệt. Đó cũng là thời điểm phát triển mạnh nhất của nhạc trẻ.

            “Năm 63 là năm đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, thì trước khi đảo chánh, tổng thống cấm tất cả những cuộc vui, cuộc ăn chơi, những tụ họp nhảy đầm của giới trẻ. Khi bị cấm như vậy thì khi mở cửa ra vào tháng 11/1963 cho phép hoạt động trở lại thì như một phong trào bùng nổ mạnh mẽ”.


Kỳ Phát và Trường Kỳ

            Khi đó, nhạc trẻ không còn đơn thuần chỉ là nhạc Pháp của các học sinh trường Tây, mà đã có sự gia nhập của nhạc Mỹ, nhạc Anh như Elvis Presley, The Beattles, Bee Gee… và cho đến năm 1965 thì nhạc trẻ ngoại quốc đã ở thời kỳ thịnh hành nhất, đã trở thành một loại thời trang không thể thiếu trong cuộc sống của thanh niên thời đó.

            Adieu jolie Candy C’est à Orly Que finissent Les vacances à Paris Adieu jolie Candy Une voix t’appelle C’est l’heure Déjà de t’en aller Dans cet avion Qui t’emmène vers Angleterre
            Từ nay cách xa nghìn trùng Người em bé bỏng Anh tiễn em ra mãi tới nơi phi trường. Còn anh khó quên mùa hè. Gặp em, tóc thề Anh đã yêu người em tuổi say mê

            (Nhạc: Tiễn em nơi phi trường, nhạc Pháp, lời Việt: nhạc sĩ Phạm Duy)

            “Đến năm 65, khi những người lính Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, họ đem theo luôn cả âm nhạc. Và như vậy, phong trào còn phát triển mạnh nữa. Nào là Mama, Papa… đồng thời các club của người Hoa Kỳ, những người lính Mỹ bắt đầu thuê những ban nhạc của người Việt Nam. Lúc đó ban nhạc trẻ không còn chỉ là thuần túy trình diễn nhạc trẻ theo ý thích của mình nữa mà bắt đầu có tiền đi phục vụ tại các tụ điểm của người Mỹ, người lính Hoa Kỳ tại Việt Nam”.

            Và rồi cũng lại là quy luật. Khi cái gì vượt quá tầm kiểm soát thì sẽ có những phản ứng ngược, mà theo nhạc sĩ Nam Lộc nói rằng:

            “Khi phát triển như vậy thì chúng tôi, anh Trường Kỳ và những người bạn khác cảm thấy là đã đến lúc mình cần phải báo động nếu không thì mình sẽ mất giới trẻ đi theo nhạc ngoại quốc mà không đoái hoài gì đến nhạc Việt Nam”.

            Sự báo động đó là nguyên nhân ra đời của phong trào “Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam”.

                        “Tim em chưa nghe rung qua một lần
                        Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
                        Tình trần mong manh như lá me xanh
                        Ngơ ngác rơi nhanh
...”
                        (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

            Từ lúc này, những ca khúc ngoại quốc lời Việt như Trưng Vương khung cửa mùa thu, Chỉ còn là giấc mơ qua do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt và các ca khúc nhạc trẻ khác của Lê Hựu Hà do nhóm Phượng Hoàng trình bày như một cách dung hòa giữa nhạc ngoại quốc và ngôn ngữ, văn hóa của Việt Nam.

Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ

                        “Chiều buồn nhẹ xuống đời
                        Người tình tìm đến người
                        Thấy run run trong chiều phai.
                        Vẻ sầu của đóa cười
                        Tình bền của lứa đôi
                        Thoáng hương trong chiều rơi
…”
                        (Chiều Buồn – Serenade – Lời Việt: Phạm Duy)

            Một chi tiết rất thú vị được kể lại từ những chàng trai hippy của thời ấy, đó là trong nhóm nhạc trẻ, đứng đầu là nhạc sĩ Phạm Duy. Ông là người có nhiều ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt nhiều nhất thời ấy. Nghệ sĩ Kỳ Phát nhớ lại rằng:

            “Tuy ông là một nhạc sĩ cao niên, lớn tuổi nhưng ông rất hoà đồng với loại nhạc trẻ và ông dịch rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng”.

                        “Làm sao có em để ấm giường êm trong một đêm mềm
                        Ðể ta ngất ngây một giấc mộng ngoan mơ màng ảo huyền.
                        Một vòng tay ấm, một ngàn nụ hôn
                        Ðể ta chết đi rồi tái sinh trong kiếp sống cuồng điên.
                        Cấu xé lớp da, tấm thân ngọc ngà
                        Làn tóc bơ phờ, là đó: tình ta
…”
                        (Làm sao có anh –The God Father I, lời Việt của Phạm Duy)

            Chúng ta ai cũng có một kỷ niệm riêng, một quá khứ riêng cho mình để nhớ về. Nhưng có lẽ tất cả những ai đã lớn lên trong thời loạn ly chinh chiến đó, thì chắc chắn sẽ có cùng một trời kỷ niệm mỗi khi hát lại những bài hát đó. Những bài hát của phong trào nhạc trẻ sẽ mãi mãi ở sâu trong tiềm thức của những người muôn năm cũ, được họ trân quý cất riêng trong một chiếc vali đặc biệt giữa rất nhiều chiếc vali đã đi cùng họ trong cuộc đời.


CÁT LINH
Tháng 8/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #11 vào: 06/04/2017, 13:02:29 »
Sự lùi bước của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX

Hồi đầu thế kỷ XIX, triều đại nhà Nguyễn được thiết lập ở Việt Nam với Gia Long là vị hoàng đế đầu tiên. Triều Nguyễn đã phục hưng Nho giáo và lấy học thuyết Khổng Mạnh làm hệ tư tưởng chính thống. Có thể nói rằng, dưới Triều Nguyễn, Nho giáo giữ vị trí độc tôn trong xã hội, từ giáo dục đến chính trị. Nhưng cũng chính dưới thời Nguyễn, Nho giáo đã bị sụp đổ và dần rơi vào quên lãng.

Ông đồ xưa

NHO GIÁO bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc Thuộc, thế nhưng phải chờ đến thế kỷ thứ 10 thì các triều đại phong kiến Việt Nam mới dần chú ý đến Nho giáo. Từ thời nhà Lý đã thấy nhà vua lập Văn Miếu thờ Khổng Tử và tiền hiền ở Thăng Long. Trong lúc Phật giáo còn là quốc giáo thì suốt thời Lý-Trần thực lực của Nho giáo và nho gia ở triều đình và trong dân càng ngày càng phát.

Nhà Nguyễn chấn hưng Nho giáo
            Nho giáo bắt đầu chiếm lĩnh vai trò chủ đạo trong nhà nước Việt Nam từ triều Hậu Lê (thế kỷ 15) sau khi tầng lớp Nho sĩ dân tộc đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến dài 20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, về mặt văn hóa chính trị, có thể được xem là cái vương miện để trao cho Nho giáo Việt Nam.
            Thế nhưng, đến thế kỷ 16 thì Nho giáo bắt đầu lâm khủng hoảng. Trong giai đoạn này, tình hình chính trị trong nước hết sức rối ren, các giềng mối đạo đức xã hội bị đảo lộn. Xung đột liên tiếp xảy ra, hết Lê-Mạc phân tranh đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhiều bề tôi đã giết vua, cảnh huynh đệ tương tàn trên thượng tầng xã hội cũng không phải hiếm…
            Đến năm 1802, Gia Long giành thắng lợi cuối cùng và lập nên Triều Nguyễn. Đây là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử của Việt Nam tính đến hiện tại. Nhà Nguyễn ra sức chấn hưng Nho giáo. Trong các đời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Nho giáo Việt Nam giữ vai trò độc tôn trong xã hội, từ chính trị đến giáo dục.
            Cụ thể Nhà Nguyễn đã chấn hưng Nho giáo như thế nào, Chuyên gia lịch sử văn hóa Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ minh thị đôi điều về vấn đề này:

            “Trước hết, về phía nhà nước, thì nhà Nguyễn đã coi Nho giáo là ngọn cờ tư tưởng chính thống của triều đại mình. Và vị trí đó khiến cho Nho giáo trở nên rất quan trọng.
            Trong giáo dục và thi cử, thì Nho giáo càng có vị trí cao hơn nữa. Trước hết, Nho giáo được đổi mới theo chiều hướng thiết thực hơn, chứ không còn thời kì lạc hậu như trước nữa. Nhà Nguyễn đã cho thay đổi hệ thống học vị. Và chúng ta biết, đây là một sự thay đổi khá mạnh mẽ so với trước đó. Những người đỗ Sinh đồ trước đây thì nhà Nguyễn gọi là Tú Tài, và cách đổi gọi này bắt đầu từ năm 1829, tức năm Minh Mạng thứ 10.
            Nhà Nguyễn cũng không lấy đỗ Trạng nguyên, mà đổi Trạng nguyên thành Đình nguyên. Ví dụ như Phan Đình Phùng là người đỗ Đình nguyên dưới thời Nguyễn. Nhà Nguyễn cũng đặt ra một học vị mới trong khoa thi Hội, đó là học vị Phó bảng. Nhiều nhân vật nổi tiếng đã từng đỗ Phó bảng dưới thời Nguyễn như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc.
            Nhà Nguyễn cũng đã mở rộng qui mô giáo dục, khác hẳn với trước. Thời Nguyễn, giáo dục Nho học được áp dụng trên toàn cõi Việt Nam, từ Bắc chí Nam. Ở đây, cũng chỉ có một nền giáo dục duy nhất, đó là giáo dục Nho học. Cả nước lúc bấy giờ có đến 7 trường thi hương, và tất cả các khoa thi hội đều được tổ chức ở kinh đô Huế.
            Nhà Nguyễn cũng đã trọng dụng những người đỗ đạt. Do đó, các thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, nhìn chung Nho giáo rất phát đạt, và đã thật sự có vị trí lớn trên vũ đài chính trị và tư tưởng nước nhà
”.

Nguyên nhân Nho giáo nhà Nguyễn sụp đổ
            Thế nhưng đến cuối đời Tự Đức, thì Nho giáo lại lâm cảnh khó khăn, nền giáo dục Nho giáo bắt đầu bị thử thách. Và kết quả là, vào năm 1919, nền giáo dục Nho giáo tại Việt Nam đã chính thức cáo chung. Nguyên nhân là do đâu? Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần phân tích:

            “Từ cuối thời Tự Đức, tình hình chính trị của đất nước bắt đầu có những biến đổi rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, gây ảnh hưởng trực tiếp đối với Nho giáo. Đó là thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược nước ta. Nhà nước phong kiến sụp đổ. Chúng ta biết rằng, nhà nước phong kiến là đỉnh cao tôn thờ của nhà Nho. Người ta đi học Nho là để ra phò vua giúp nước. Và người ta lấy việc trung quân làm lý tưởng.
            Vậy mà bấy giờ, vua không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia, triều đình cũng không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia. Cho nên lý tưởng của nhà Nho theo đó mà sụp đổ. Đây là nguyên nhân chính trị. Nhưng nguyên nhân chính trị đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự sụp đổ của Nho giáo.
            Về khách quan, thì Pháp cũng đã truyền bá một nền giáo dục mới. Và chính nền giáo dục mới này đã tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với giáo dục Nho học nói riêng và đối với vị trí của Nho học nói chung.
            Phải khách quan mà nói rằng, nền giáo dục của Pháp có những điểm rất hấp dẫn. Ví dụ như việc người Pháp dùng văn tự La Tinh. Chữ Hán rơi xuống vị trí ngôn ngữ phụ. Mẫu tự La Tinh là một văn tự hoàn toàn mới mẽ, tiến bộ, tích cực. Chúng ta thấy rằng, một người giỏi học cả năm sáu năm chưa chắc đọc được sách chữ Hán. Nhưng một đứa trẻ chỉ cần học một tiếng đồng hồ là có thể ghép vần và đọc được tiếng Việt. Đọc được, còn hiểu được hay không thì đó là chuyện khác, nhưng dù sau cũng là đọc được. Còn nếu học tiếng Hán, thì học chữ nào biết chữ đó. Bởi vậy, người thông minh được gọi là người nhiều chữ.
            Người Pháp cũng truyền bá cách học mới, và hoàn toàn khác với cách học của các trường làng của các nhà Nho. Nền giáo dục mà Pháp du nhập, tất nhiên về bản chất, đó là một nền giáo dục thực dân. Nhưng ở đây chúng ta cũng phải thừa nhận những tác dụng khách quan nằm ngoài ý muốn của người Pháp. Đó là nó tạo ra cái mới trong nhận thức của người học. Và ở đây, chúng ta cũng phải thừa nhận, Pháp đã truyền bá một loạt các ngành khoa học mới vào nền giáo dục của chúng ta. Như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật. Và ngay cả khoa học xã hội, thì người Pháp cũng giảng dạy theo cách của họ, mới hơn, hiện đại hơn, và cũng có những cái đáng suy ngẫm hơn.
            Về mặt chủ quan, thì rõ ràng, Nho giáo đã tự bộc lộ những hạn chế không thể nào khắc phục được. Đây chính là khó khăn khiến cho Nho giáo bị sụp đổ nhanh chóng. Nho giáo chỉ thiên về khoa học xã hội và nhân văn mà ít chú ý đến các khoa học khác. Nho giáo đã quảng bá và cổ súy mạnh mẽ cho tư tưởng hoài cổ trong lúc xã hội đang khao khát vươn lên để theo kịp các nước xung quanh. Và Nho giáo đã thể hiện tính cực đoan. Chính sự cực đoan đó đã khiến cho Nho giáo bị đẩy vào một vị trí hoàn toàn bất lợi.
            Lúc bấy giờ cũng có một điều đáng chú ý nữa, đó là sự đóng cửa vốn là bản chất của giai cấp phong kiến, thì lúc này nó đã khiến cho Nho giáo quay lưng lại với cái mới. Rõ ràng đóng cửa là hợp với qui luật của giai cấp phong kiến. Nhưng hợp với qui luật của giai cấp phong kiến thì không có nghĩa là hợp với qui luật vươn lên của lịch sử. Lúc bấy giờ là lúc mà người ta cần chấp nhận cái mới, thì Nho giáo lại chủ trương đóng cửa. Và đây chính là nguyên nhân gây tác hại từ bên trong của chính Nho giáo, khiến cho nó bị sụp đổ nhanh chóng. Năm 1918, khoa thi hương cuối cùng của nền thi cử Nho giáo Việt Nam đã được tổ chức. Và khoa thi hội năm 1919 cũng là khoa thi hội cuối cùng của nền giáo dục Nho giáo Việt Nam.
            Và từ đó thì giáo dục Nho học hoàn toàn bị đóng cửa. Số người đọc được chữ Nho ngày càng ít. Số người hiểu được triết lý của Nho giáo lại càng ít hơn. Và đặc biệt, những giá trị văn hóa của tổ tiên kết tinh trong các trước tác viết bằng chữ Hán thì không phải ai cũng sử dụng được. Đó là sự sụp đổ cái tính qui luật. Nhưng đó cũng là sự sụp đổ gây ra không ít thiệt hại cho chúng ta ngày nay
”.

Kế thừa mặt tích cực của Nho giáo
            Nền giáo dục Nho giáo đã lùi xa, Nho giáo đã bị xem là lạc hậu. Thế nhưng, có phải tất cả những cái gì thuộc về Nho giáo đều không còn hữu dụng. Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần nhận định:

            “Tất nhiên Nho giáo sụp đổ là hoàn toàn hợp với qui luật, nhưng điều đó không có nghĩa là Nho giáo hoàn toàn bị khép lại trong dĩ vãng, và cũng không có nghĩa là nó không còn điều gì đáng để chúng ta kế thừa. Ngược lại, ngày nay, chúng ta cần phải kế thừa những giá trị tích cực do chính các nhà Nho để lại.
            Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, một bộ phận cấu thành của tư tưởng Hồ Chí Minh đã ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo…
            Chúng ta kế thừa Nho giáo phong thái dung dung của các nhà Nho. Kế thừa sự điềm tỉnh trước mọi biến cố. Và đặc biệt chúng ta kế thừa tinh thần coi trọng gia giáo mà Nho giáo để lại. Chúng ta biết rằng, một xã hội chỉ có thể được bình ổn và giữ được kỉ cương, khi mà gia giáo được bảo vệ và được đề cao.
            Thế thì Nho giáo có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng những thiết chế về đạo đức gia đình. Và trong việc xây dựng, đề cao nền giáo dục gia đình. Gia đình mà yên ổn, thì xã hội mới có thể đi lên được. Cho nên Nho giáo tuy là đã lạc hậu, tuy là nó không thể nào trở lại như thời xưa nữa, nhưng chúng ta cần phải nghiên cứu để kế thừa những giá trị tích cực và tốt đẹp của Nho giáo để lại. Đó có lẽ cũng là cái mệnh lệnh đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa Việt Nam hiện nay
”.

Bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Nho giáo?
            Nho Gia có thuyết “cái quan định luận”, tức là khi một người đã chết và nắp quan tài đã đậy lại rồi, thì mọi người mới có thể bình luận đúng sai về người đó. Gần một thế kỷ sau khi nền giáo dục Nho giáo cáo chung tại Việt Nam, chúng ta thấy rằng, như phân tích của giáo sư Nguyễn Khắc Thuần nói trên, thì một trong những nguyên nhân cốt lõi không thể phủ nhận được của sự lùi bước của Nho giáo, đó là sự bảo thủ của nhà cầm quyền và sự khép kín của Nho giáo nhà Nguyễn.
            Nhà Nguyễn đã phát huy tối đa những mặt bảo thủ nhất của Nho giáo, nền giáo dục Nho giáo thời nhà Nguyễn chỉ nhắm đến việc học để làm quan, các nhà Nho thì rơi vào cái học tầm chương trích cú, khư khư ôm lấy những học thuyết cách đây mấy ngàn năm, cứ cho rằng xưa hơn nay, cứ cho rằng Nho giáo là học thuyết tiến bộ nhất của nhân loại.
            Cần phải thấy rằng, không phải tất cả các nhà Nho thời Nguyễn đều bảo thủ. Khi nền độc lập quốc gia bị đe dọa, khi đất nước lộ rõ sự lạc hậu, khi nền học thuật nước nhà không theo kịp thời cuộc, thì cũng có những nhà Nho bắt đầu nhận thấy sự cần thiết phải cải tổ.
            Nguyễn Trường Tộ đã dâng lên triều đình đến gần 60 bản điều trần chỉ rõ thực trạng yếu kém của nước nhà và đề nghị nhà cầm quyền tiến hành cải cách. Theo bước Nguyễn Trường Tộ, nhà Nho Nguyễn Lộ Trạch cũng không ngừng dâng lên triều đình những kiến nghị cải cách để chấn hưng đất nước, để theo kịp thời đại.
            Trong lĩnh vực giáo dục, nếu Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch tập trung phê phán nội dung giáo dục Nho giáo lạc hậu, thì nhà Nho Đặng Huy Trứ đặt trọng tâm kiến nghị của mình vào phương pháp giáo dục. Ông kiến nghị bỏ lối học tầm chương trích cú, và đề nghị một lối học kích thích sự suy nghĩ và sáng tạo của học trò.
            Thế nhưng, triều đình Nhà Nguyễn lúc bấy giờ đa phần quan lại đều là những nhà Nho bảo thủ. Họ cứ khư khư ôm lấy cái cũ, họ hành xử theo kiểu “thủ cựu bài tân”. Ngay như khi đại thần Phan Thanh Giản đi sứ bên Pháp về kể chuyện đèn điện hay tàu hỏa bên Pháp, thì các quan trong triều con cho rằng cụ Phan kể chuyện viễn vông để lừa phỉnh mọi người.
            Triều thần bảo thủ đến mức mà ngay cả một ông vua bảo thủ như Tự Đức đôi khi còn phải khéo léo nhắc nhở. Trong cái biển người bảo thủ đó, thì rõ ràng đề nghị canh tân của một vài nhà Nho thức thời cũng giống như là muối bỏ biển mà thôi.
            Nói tóm lại, sự thất bại của Nho giáo ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có một nguyên nhân không thể nào chối cãi, đó là sự bảo thủ và cực đoan của nhà cầm quyền. Trong bối cảnh thế giới hiện tại, đây là một bài học đắt giá cho tất cả các nhà cầm quyền trên thế giới.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130802-su-lui-buoc-cua-nho-giao-o-viet-nam-hoi-the-ky-19

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #12 vào: 08/04/2017, 14:14:38 »
Truyện Kiều phổ nhạc – nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện

Chương trình âm nhạc cuối tuần hôm nay, xin được giới thiệu đến quý vị người đã có công phổ nhạc cho tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhạc sĩ hiện đang sinh sống tại Pháp, Quách Vĩnh Thiện. Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện không quá nổi tiếng như một nhạc sĩ chuyên nghiệp với những tác phẩm thành danh, thế nhưng ông lại được biết đến nhờ tài năng cũng như tâm huyết lưu giữ tác phẩm Truyện Kiều cho muôn đời sau bằng một hình thức rất đặc biệt là phổ nhạc cho Truyện Kiều. Điểm đặc biệt hơn là ông đã giữ nguyên vẹn câu chữ của toàn bộ tác phẩm, không thay đổi dù chỉ là một từ.

Bìa CD Kim Vân Kiều 1 – Trăm Năm Trong Cõi Người Ta

THÔNG QUA 77 bản nhạc với 7 thể loại nhạc khác nhau, một lần nữa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã làm sống lại 3254 câu thơ của Truyện Kiều qua những giai điệu đặc biệt và đầy màu sắc, vừa pha trộn nét huyền bí phương Đông đậm chất dân gian Việt Nam, nhưng cũng vừa mang những nét hiện đại của Tây phương hay những nhịp điệu hiện đại của rock.
            Sau đây là phần trao đổi về những suy tư khi thực hiện công việc phổ nhạc cho Truyện Kiều:

Giữ gìn văn hóa Việt
Vũ Hoàng: Trước hết, Vũ Hoàng có một câu hỏi với ông là có một động lực nào mà ông bỏ ra những 5 năm trời để phổ nhạc cho một tác phẩm thơ vĩ đại của Việt Nam mình như là Truyện Kiều?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Thưa chuyện này có lẽ cũng là định mệnh thôi. Tại vì trong nhà có một quyển sách Truyện Kiều rất là mục nát và mình cũng không biết quyển sách này là bói Kiều, nhưng mình chỉ dán lại thôi, lúc dán lại xong xuôi đem quyển sách để lại tủ sách nhưng có linh tính, trở ra phòng khách và đọc lại Truyện Kiều. Khi đọc đến câu 890 thì thấy “Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người” thì số phận của mình cũng giống như vậy, tất cả những người Việt Nam hải ngoại, sống nhờ đất khách, khi chết thì cũng chết ở đây. Từ đó, xúc động quá mình muốn làm ra tiếng nhạc, để cho mai sau này, thế hệ trẻ không quên lãng Truyện Kiều. Bước đầu tôi không nghĩ đến danh lợi, đến tiền bạc. Chuyện tôi làm như vậy từ năm 2005.

Vũ Hoàng: Vâng thưa ông, ông bỏ công sức của mình ra những 5 năm để hoàn tất việc phổ nhạc, sáng tác đến 77 bài hát, nhưng điểm đặc biệt là vẫn giữ nguyên được lời chính của Truyện Kiều. Khi mà sáng tác như vậy, thì ông có gặp những khó khăn gì không?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ rất là khó khăn. Tại vì khi ra đĩa số 1, rất nhiều người gọi điện thoại hỏi sao ông không chịu đổi lời của ông Nguyễn Du, không làm cho nhạc hay hơn, tại sao ông giữ song thất lục bát đúng như vậy. Nhưng Thiện trả lời nói là khi ông Nguyễn Du đặt 3254 câu thơ đã đắn đo về chữ, nếu mình đổi chữ, thì mình đi sai hết vần thơ, mất hết tuyệt tác của ông Nguyễn Du đã được UNESCO công nhận.
            Truyện Kiều đó của Thanh Tâm Tài Nhân viết bằng văn xuôi không thành công, sở dĩ UNESCO công nhận là tuyệt tác áng văn hay “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.” Nếu mình đổi một chữ nghĩa là mình đi sai con đường, thành ra trong 3254 câu thơ, mình không có quyền đổi bất kỳ một chữ nào.


Kỹ sư/nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, viện sĩ hàn lâm viện Âu châu,
người đã bỏ ra 5 năm để phổ nhạc toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du

Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn nhạc sĩ Thiện đã có những chia sẻ về việc ông phổ nhạc là 77 bài hát mà vẫn giữ nguyên lời chính của 3254 câu Kiều. Vũ Hoàng thấy có một điểm đặc biệt nữa là trong những bài hát ông phổ nhạc là thấy ông sử dụng chất liệu là nhạc dân gian rồi cả những chất liệu gọi là âm hưởng tân thời bây giờ. Ông có thể chia sẻ vì sao mà ông có thể sử dụng nhiều chất liệu khác nhau để tạo nên sự phong phú khi mà ông phổ nhạc cho Truyện Kiều?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Vâng, câu hỏi của Vũ Hoàng rất hay. Tại vì trong 6 tháng trước khi phổ nhạc Truyện Kiều, thì đầu tiên Thiện phải thấu hiểu Truyện Kiều, đọc đi đọc lại, trong 6 tháng, Thiện nghiên cứu thì thấy là tại sao Truyện Kiều được UNESCO công nhận là di sản của nhân loại, tại sao mình không làm nhạc của nhân loại, tại sao mình làm nhạc Việt Nam không thôi.
            Từ đó Thiện nghiên cứu và ra 7 CD, mỗi CD có 11 bài, rồi chia ra, CD số 1 Thiện chú trọng nền nhạc dân tộc Việt Nam, CD số 2 Thiện chú trọng nhiều về Âu châu, đĩa thứ 3 là Âu châu phía Đông, đĩa số 4 chú trọng nhiều hơn nhạc về đảo, đĩa số 6 là nhạc rất kích động như rock and roll, đĩa số 7, Thiện quay trở về quê hương với nhạc cổ truyền Việt Nam nhưng tân thời hơn đĩa số 1.

Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn ông đã có những chia sẻ để thấy được là ông đã dành ra rất nhiều tâm huyết. Câu hỏi cuối, ông muốn chia sẻ thêm bất kỳ điều gì để thính giả hiểu hơn về việc mà ông bỏ công sức để phổ nhạc cho tác phẩm Truyện Kiều không?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ tình cơ thôi, về những tháng sau này, thì rất nhiều trường học Việt Nam, thầy cô giáo và học sinh cám ơn Thiện, nói từ khi ông Thiện phổ nhạc Truyện Kiều, chúng em học Truyện Kiều rất là dễ dàng, thấy là mình đã đóng góp phần nào cho văn hóa Việt Nam. Học Truyện Kiều qua âm nhạc, lời văn vô người dễ hơn là cầm cuốn sách đọc, có thể trẻ em nghe CD 5-10 lần là thuộc bài, đó là một sự đóng góp về văn hóa Việt Nam cho những trẻ em sau này.

Vũ Hoàng: Thưa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, thay mặt cho thính giả của đài, Vũ Hoàng cám ơn ông rất nhiều đã chia sẻ những thông tin cũng như những tâm tư của ông khi ông muốn gìn giữ gọi là một phần của văn hóa Việt Nam của mình cho thế hệ trẻ về sau, vâng, cám ơn ông rất nhiều.


VŨ HOÀNG
Tháng 10/2012


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/quvithien-truyen-kieu-vhg-10072012130416.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #13 vào: 11/04/2017, 16:42:59 »
Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH

Nhà văn Trần thị NgH – một bút danh đặc biệt như văn phong của chị – bắt đầu viết rất sớm từ năm 1968 với tác phẩm đầu tay “Nhà Có Cửa Khóa Trái”, được xem là tác phẩm có tính cách đột phá vào thời đó và thường được gọi là “cây viết ngổ ngáo” vào thập niên 70.

Nhà văn Trần thị NgH

SAU THỜI GIAN dài im lặng, hơn 10 năm gần đây chị trở lại với văn học, vẫn với phong cách viết rất đặc biệt của mình: sinh động, trào lộng nhưng vẫn chuyên chở những vấn đề xã hội. Minh Thùy có dịp phỏng vấn nhà văn Trần thị NgH, mời quí vị theo dõi:

Minh Thùy: Chào chị Trần thị NgH, cái tên này có vẻ khá bí hiểm với bạn đọc, vì sao chị có cái bút hiệu không giống ai như vậy, chị có thể cho biết tên thật không?
Trần thị NgH: Tên thật là Trần thị Nguyệt Hồng. Thứ nhất, tôi chọn như vậy vì lấy từ chữ ký, ngắn gọn dễ chịu; thứ hai, cái tên hơi sến nên tôi không thích lắm; thứ ba do… hèn, lúc mới thập thò ở cửa viết lách, không dám xuất đầu lộ diện sợ bị má rầy.

Minh Thùy: Truyện ngắn đầu tiên của chị là truyện gì, khi mới bắt đầu viết chị có gặp khó khăn khi gửi truyện đến các tạp chí văn học không, vì chưa có tên tuổi trong giới văn nghệ?
Trần thị NgH: Truyện ngắn đầu tiên để chuyền tay nhau đọc được viết rất sớm, lúc còn học tiểu học. Để đăng báo ngày là những truyện viết trong thập niên 60. Đầu thập niên 70 mới gửi đến các tạp chí có vẻ cây đa cây đề, sừng sỏ trong giới văn nghệ như tờ Vấn Đề, Văn…
            Truyện ngắn đầu tiên được gửi đến tạp chí Văn – lúc đó anh Trần phong Giao làm tổng thư ký – không được chọn đăng; nhưng cũng truyện đó khi gửi sang tạp chí Vấn Đề của Mai Thảo thì được chọn. Bắt đầu như vậy không thấy có khó khăn gì, thấy rất vui. Truyện có tựa là Chủ Nhật, được viết năm 1968 nhưng mãi mấy năm sau mới dám gửi đăng.

Minh Thùy: Theo Minh Thùy được biết thì trước đây chị được xem là nhà văn ngổ ngáo nhất trong số các nhà văn nữ thì lý do tại sao, và tên gọi như vậy có đúng với phong cách viết văn của chị không?
Trần thị NgH: Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ… xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngổ ngáo.

Minh Thùy: Chị là người đã viết văn trước 1975, hiện nay cuộc sống của chị ra sao, chị có vẫn tiếp tục viết không và có gửi sáng tác đến các báo, tạp chí trong nước không?
Trần thị NgH: Tôi vẫn tiếp tục viết nhưng nghề chính không phải viết văn mà dạy học nên chỉ khi có thì giờ mới viết. Đã có thử gửi một truyện đến một tờ báo Việt Nam nhưng người ta thấy có nhiều vấn đề trong đó. Thí dụ truyện Người Thuận Tay Trái, vài người quen biết trong giới văn học đã đọc truyện đó cho là nó mang tính cách giai cấp và kỳ thị địa phương.
            Truyện được viết rất hồn nhiên không có ý gì cả, nhưng có thể nó được diễn dịch theo một cách nhìn nào đó. Từ đó tôi không thử nữa. Năm 1997, một người bạn về Việt Nam thăm nhà – anh Phạm việt Cường, làm biên tập trong báo Hợp Lưu cùng với anh Khánh Trường, do có sẵn vài truyện ngắn nên tôi để anh mang đi.
            Thế là sau 22 năm truyện của tôi xuất hiện lại trên Hợp Lưu; từ đó thỉnh thoảng tôi gửi truyện ra ngoài. Hiện nay ở Việt Nam có một tạp chí rất đẹp về hình thức và phong phú về nội dung, Saigon City Life, song ngữ, với một số bài viết của vài anh chị khá quen thuộc như Trịnh Cung, Thận Nhiên, Mạch Nha… trong đó có Trần thị NgH…
            Tờ báo đó dung nạp bài của những người đã viết cũ, trước 1975. Tôi viết những bài rất là trên trời dưới đất, như trời mưa, Saigon Mưa, và dưới đất như Sài Gòn Hẻm – những truyện không thể diễn dịch ra cách nào khác ngoài… mưa và hẻm.

Minh Thùy: Trong số các nhà văn nữ của miền Nam trước 1975 hiện giờ còn sống trong nước như chị Nguyễn thị Hoàng, chị Thụy Vũ thì không viết nữa, trừ có mình chị vẫn tiếp tục viết thì theo chị văn phong của chị hiện nay so với trước kia có khác gì không?
Trần thị NgH: Tôi không chắc chị Thụy Vũ và Nguyễn thị Hoàng không viết. Có thể các chị không đưa ra tác phẩm đến bạn đọc chứ tôi nghĩ các chị ấy không ngừng viết. Sau 75 chị Nguyễn thị Hoàng xuất bản một quyển khá dày, khoảng hơn 500 trang, có tựa là Nhật Ký Im Lặng.
            Chỉ chừng đó thôi đã đủ cho tôi nghĩ các chị vẫn viết. Riêng bản thân tôi không thể nào không viết, vì khi đã vận vào người trò chơi chữ nghĩa thì khó có thể ly dị với nó được. Tuy nhiên viết phải có người đọc cũng như hát phải có người nghe. Do đó thỉnh thoảng tôi lại gửi truyện đi, chẳng qua là để bạn bè đọc với nhau và được nhận báo biếu.

Minh Thùy: Sau này chị có xuất bản thêm tác phẩm nào không?
Trần thị NgH: Năm 75 có tập truyện ngắn Những Ngày Rất Thong Thả do nhà xuất bản Trí Đăng in xong chưa kịp phát hành. Sau 75 thì mãi tới năm 1999 mới có tập truyện ngắn Trần thị NgH của nhà xuất bản Văn Nghệ ở California.
            Năm 2000, do đề nghị của anh Nguyễn Tiến Văn ở Toronto, truyện dài Lạc Đạn và 10 truyện ngắn được xuất bản. Đại khái tạm gọi sự nghiệp văn chương chỉ có một nhúm vậy thôi.

Minh Thùy: Gần đây trong nước có cho phép tái bản một số tác phẩm của nhà văn miền nam trước năm 1975 như tác phẩm của Lê Xuyên và Dương nghiễm Mậu mà theo ý kiến của một nhà xuất bản nói là để khơi thông một dòng văn học âm thầm chảy.
            Theo chị thì đây là dấu hiệu gì, có thể là dấu hiệu cho những nhà văn miền nam trước đây được tái bản những tác phẩm của mình không?
Trần thị NgH: Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy truyện của Dương nghiễm Mậu xuất hiện – những quyển sách rất đẹp về hình thức. Một dấu hiệu đáng mừng riêng cho tác giả, nhưng sao tôi vẫn hơi lo ngại và thắc mắc vì truyện của anh Dương nghiễm Mậu rất sâu, rất symbolic, có nhiều biểu tượng lấp ló phía sau những điều anh viết khiến người ta có thể diễn dịch nhiều cách. Truyện của anh được tái bản là một điều rất đáng ngạc nhiên.

Minh Thùy: Cũng như là trong dịp khen thưởng những nhà thơ và chọn lựa những bài thơ hay nhất thế kỷ thì nhà nước có đề cập đến một số nhà thơ miền nam như Đinh Hùng, Thanh tâm Tuyền, như vậy theo chị thì có thể nào có chính sách nhìn lại dòng văn học của miền nam không?
Trần thị NgH: Chuyện này hơi sớm để nói vì năm trước anh Thanh Tâm Tuyền qua đời, tôi đọc báo trong nước không thấy một dòng nào nói về cái chết của một nhà thơ vốn rất được trân trọng trong giới thi ca cũng như trong văn xuôi, thành ra chỉ nhắc đến tên thôi, tôi thấy chưa đủ. Hình như tất cả hãy còn mơ màng, hãy còn sớm. Chưa có gì rõ rệt.

Minh Thùy: Về văn học trong nước hiện nay theo nhận định của chị như thế nào, có những người viết mới và có luồng văn học mới không?
Trần thị NgH: Cũng có đấy, nhưng hình như chưa để lại dấu ấn nào sâu đậm. Chẳng hạn như Vệ Tuệ của Trung Quốc; bây giờ bà mới bắt đầu viết về sự sống buông thả hay tư tưởng tự do của phụ nữ và được đánh giá là đang mang lại luồng gió mới cho văn học Trung Quốc bấy lâu nay vốn rất kỷ cương.
            Tôi cho cái mới như vậy chỉ là sự trở lại cái thời Francoise Sagan của Pháp ngày xưa. Cái mới của Trung Quốc là Vệ Tuệ lại giống như cái mới cách đây 50 năm của Pháp. Quay lại cái mới của Việt Nam, hiện thời cũng có nhiều cây bút trẻ có tâm hồn, yêu chữ nghĩa, có năng khiếu, hoặc có lửa trong cách viết nhưng cũng chưa có gì đậm; giống như lửa phừng lên rồi leo lét.
            Về bên thơ có nhóm nữ gần đây mới ra tác phẩm Dự Báo Phi Thời Tiết, trong đó có Phương Lan, Lynh Bacardi… rất có nét, rất cách mạng trong cách cố ý dùng những chữ không thanh, những từ tự đặt để nói lên cái mới của mình nhưng theo tôi cái mới đó na ná nhiều cái mới khác nên chưa đặc biệt mới.

Minh Thùy: Như người ta đang nói thì dòng văn học hải ngoại đang bị lão hóa và không có những tác phẩm gây ấn tượng, theo chị có gì sáng sủa cho dòng văn học hải ngoại không?
Trần thị NgH: Dòng văn học hải ngoại có nhiều chuyện để nói. Riêng tôi rất trân trọng những anh chị đang tiếp tục hoặc mới bắt đầu viết sau 75 trong đó có những bạn cao niên lẫn những bạn trẻ trên dưới 30. Việc duy trì tờ báo Văn, Hợp Lưu, Đất Nước, Trăm Con… là điều hết sức đáng trân trọng.
            Vô hình chung mà các anh chị đó đã làm nên cái gọi là “luồng văn học hải ngoại”. Nhưng lớp trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không đọc tiếng Việt nữa và các anh chị dần dần cũng cao niên hơn, văn chương của họ vì thế cũng có tuổi theo.
            Tuy nhiên, không có gì đáng bi quan vì đây là một dòng văn học mới lạ, do các anh chị được tiếp thu kiến thức văn học nước ngoài, có được không khí sáng tác tự do, có cuộc sống kinh tế ổn định, do vậy các sáng tác của họ có khí hậu riêng trong mỗi truyện.
            Đây là một nét rất độc đáo, cho dù có lão hóa vẫn khác với những người viết trong nước. Đó là những cây bút cũ và mới, những cây bút đã và đang nuôi dưỡng chữ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

Minh Thùy: Cám ơn chi đã trả lời buổi phỏng vấn hôm nay.


MINH THÙY
Tháng 8/2007


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/TalkWithWriterTranThiNgh_MThuy-20070812.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #14 vào: 13/04/2017, 16:28:03 »
“Có một dòng sông đã qua đời”, hữu hạn và vô hạn trong Trịnh Công Sơn
 
Cuộc sống con người hữu hạn lắm, vạn sự rồi cũng đều mất đi vào hư không. Có lẽ vậy, ngay từ khi còn rất trẻ, Trịnh Công Sơn luôn hoài đau đáu những suy nghĩ về sự sống-chết, sự mất-còn trên thế gian này. Có thể là mất còn về thân xác con người hay cũng có thể là sự mất còn của một cuộc tình. Nhưng tình yêu lại là một cõi khác, vô hạn kéo dài mãi mãi. Vì thế trong hơn 600 ca khúc của Trịnh Công Sơn, phần lớn là những áng tình đẹp bằng âm nhạc. Chúng đôi khi kể về một cuộc tình ươm đầy như nắng sớm, khi lại thủ thỉ về những xúc cảm lứa đôi đã chia xa. Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời nằm trong số những ca khúc như vậy.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

                        Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
                        Ðường xanh hoa muối bay rì rào
                        Có người lòng như khăn mới thêu.

                        Mười năm sau áo bay đường chiều
                        Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
                        Có người lòng như nắng qua đèo.

                        . . . . . .

                        Mười năm chân bước trên đường dài
                        Gặp nhau không nói không nụ cười
                        Chút tình dường như hiu hắt bay.

                        Mười năm khi phố khi vùng đồi.
                        Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
                        Có một dòng sông đã qua đời.


NHẠC SĨ Trịnh Công Sơn là người không muốn nhắc nhiều về năm tháng, anh sợ cái kín đóng của thời gian, rồi từ đó người ta sẽ thôi hết yêu nhau vì dấu tích già nua của nó để lại trên hình hài. Và anh không thể tiếp tục sống và viết nhạc nữa. Như vậy để nói rằng, ca khúc Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời không biết đã ra đời từ bao giờ. Trong một cuộc nói chuyện với nghệ sĩ Thanh Bạch nhân dịp phát hành album của cô em gái, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, Trịnh Công Sơn đã kể lại:

            “Là hôm đó mình ở Đà Lạt đi qua cầu, bắt qua cầu Hồ Xuân Hương thì gặp người tình cũ đi với người yêu qua cầu. Mình nhìn thấy. Mình cảm thấy sự mất mát quá lớn trong cuộc đời này… Bên cạnh đó, khi đi qua cây cầu mình nhìn xuống thấy dòng nước chảy, mình nghĩ không chỉ mất người đó thôi mà mất cả dòng sông, dòng nước… mất hết cả. Cho nên cái mất mát tưởng là nhỏ nhưng cuối cùng lại lớn. Cho nên có một dòng sông đã qua đời không phải chỉ là mình ví von người tình của mình là dòng sông, nhưng mà nàng đi qua một dòng sông, và mình mất nàng và mất luôn dòng sông. Lúc đó dòng sông nó không còn ý nghĩa gì nữa, trước đó đẹp vô cùng tận nhưng mà từ phút đó trở đi thì không có ý nghĩa gì cả. Nó cũng là mang đến cho mình một nỗi buồn giống như sự mất mát kia. Cho nên vì vậy mới có Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời”.

            Xin được phép không bàn nhiều về ca từ của ca khúc này vì có quá nhiều bài viết rất hay đã nói về điều đó. Khi nghe ca khúc của anh, những kẻ mộ nhạc Trịnh, bỗng nhiên một ngày trở thành ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ hay triết gia lưu lạc giữa đời thường. Mà có gì hay để họ có được những cuộc “thoát xác” kì diệu đến vậy?
            Đầu tiên có lẽ là một tiêu đề Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời xuất hiện khá lạ. Đó chỉ có thể là anh, nhạc sĩ họ Trịnh mới trao cho dòng sông một thân phận để rồi một ngày nào đó qua đời cùng với mối tình xa xôi. Sau là sợi dây quyến luyến của lời thơ và ý nhạc. Như trong lòng dòng sông ấy, không còn nữa sự phân định. Vậy nên khi phôi thai một bản nhạc, chính anh đã thừa nhận: “Tôi đang ở trong một trạng thái là không còn biết phân biệt nữa. Tâm hồn tôi đang như là một ngôi nhà mà hội họa, âm nhạc và thi ca, chỉ là thời tiết mùa màng đổi thay của một sự sống đang trú ngụ trong đó”.
            Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời như một lời nói chuyện thường nhật, rất đơn giản về cấu trúc, chỉ có vỏn vẹn bốn câu nhạc, tuy nhiên mỗi câu bao gói từ hai đến ba câu thơ. Âm nhạc lúc đầu được chấm phá màu ngũ cung sau chuyển nhẹ sang điệu thức phương tây. Theo thường lệ, ca khúc này không có những vệt tương phản đậm nét khi chuyển ý, chỉ là một dải màu mỏng tựa mây loang dần ra.
            Điều thú vị mà ít ai để ý đến, đó là Trịnh Công Sơn muốn kể trong câu chuyện Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời là cuộc tình đã qua và sự mất mát nhưng anh lại viết nó ở điệu thức trưởng, cái mà người ta thường dùng để diễn tả cảm xúc vui tươi. Có chăng tình yêu trong anh tuy buồn nhưng không ủy mị thê lương. Nhạc Trịnh Công Sơn không hề có niềm đau tuyệt vọng, vì anh biết trước rằng cuộc đời vốn dĩ là hữu hạn.
            Nhịp điệu trong ca khúc không nhanh nhưng lại khá đều đặn, như thể những bước chân của họ đang chậm rãi lướt qua nhau. “Nhìn nhau ôi cũng như mọi người” nhưng cái cảm xúc xốn xang, lao xao của “mười năm” trước vẫn còn đâu đây.
            Để thể hiện thành công nhạc khúc Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời, không phải bất cứ ca sĩ nào cũng đạt tới, mặc dù hầu như ai cũng có thể xướng lên bài hát đó vì không có những quãng khó, câu nhạc ngắn và không đặt nặng nhiều về kĩ thuật thanh nhạc. Tuy nhiên, để giọng hát người nghệ sĩ đọng lại trong lòng người nghe bằng ca khúc này, thì lại là một chuyện khác.
            Ngoài cái bóng lớn của ca sĩ Khánh Ly, cô hát như thể tự sự về chính cuộc tình của mình, còn có một vài bản thu âm khác để lại nhiều dấu ấn như của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh: trong sáng như bóng hình ai xưa. Có khi lại tình tứ và nuối tiếc trong bản thu của cặp song ca Cẩm Vân, Khắc Triệu. Và gần đây nhất là sự thể hiện của ca sĩ trẻ Nguyên Hà qua phong cách hiện đại cùng lối nhả chữ khá phiêu diêu.
            Qua rồi mười sáu năm “đường xa vạn dặm”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giờ đây đã thoát được cái ngưỡng hữu hạn của một đời người. Anh viết cho trần gian những lời ca để tình yêu không ngừng sinh sôi và hạnh phúc mãi đâm chồi. Và như vậy, chỉ có anh, người nghệ sĩ tài hoa, không chỉ sống một cuộc đời mình mà còn sống vạn cuộc đời khác. Chỉ cần có tình yêu, thì cho dù dòng sông này đã mất đi nhưng sẽ lại có một dòng sông khác ra đời, vẫn đẹp và vẫn tình như vậy.

HOÀI DỊU
Tháng 4/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170401-co-mot-dong-song-da-qua-doi-huu-han-va-vo-han-trong-trinh-cong-son



Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

NGÀY NÀY bảy năm trước, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ trần. Ca Sĩ Khánh Ly, một trong những người thân thiết nhất với ông Trịnh Công Sơn đã dành cho Nguyễn Khanh của Ðài chúng tôi cuộc phỏng vấn ngắn sau đây.

Nguyễn Khanh: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân Phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng”, đó là lời anh Trịnh Công Sơn nói. Khi cất tiếng hát những ca khúc của anh Trịnh Công Sơn, chị thấy gì về tình yêu và thân phận con người trong những ca khúc đó?
Khánh Ly: Thưa anh tôi thấy tôi trong những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tình khúc cũng như da vàng. Tôi thấy cả quê hương của tôi, quan trọng là tôi thấy tổ quốc của tôi, thấy cả dân tộc của tôi. Dẫu tổ quốc nghèo, dẫu dân tộc điêu linh, tôi vẫn yêu quê hương và tổ quốc của tôi.
            Tôi yêu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bởi vì qua nhạc của ông, tôi thấy lại đầy đủ tất cả những cái mà một người sống trong cuộc đời này cần phải nhìn thấy, nhìn rõ hơn, để định hướng mình đi cho đúng, và làm đúng hơn việc mình sẽ làm.

Những kỷ niệm giữ kín
Nguyễn Khanh: Hơn 30 năm rồi, có một lần chị bảo với tôi anh Trịnh Công Sơn nói “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và chị bảo “anh dạy tôi như vậy”. Chị có nghĩ đó có phải là một lời chung cho tất cả mọi người, trong đó có chị hay không?
Khánh Ly: Dạ thưa anh nói dạy chung tôi không dám đâu nhé. Tôi không hề dám nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dạy ai cả. Tôi chỉ nói là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bảo tôi như thế và đó là lời nói đầu tiên, còn cái lời nói sau cùng của ông, ông nói là “hãy sống tử tế với nhau”.
            Tôi tâm niệm lúc nào cũng giữ kín những điều nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dặn tôi, vì ít nhiều, dù ít học, tôi cũng hiểu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã dạy tôi làm những việc đúng.

Vóc dáng Khánh Ly trong nhạc Trịnh
Nguyễn Khanh: Lúc nãy có dịp nói chuyện với ca sĩ Cẩm Vân, thưa với chị Cẩm Vân có nói rằng “cứ nghe nhạc Trịnh Công Sơn là thấy phảng phất vóc dáng của Khánh Ly”. Có khi nào chị nghĩ anh Trịnh Công Sơn đã viết những bản nhạc, những nốt nhạc, những lời ca đó cho chị hay không?
Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi không bao giờ chủ quan cả. Tôi không bao giờ dám nghĩ là tất cả những bài này anh Trịnh Công Sơn viết riêng cho mình.
            Tôi rất yêu Cẩm Vân, yêu tiếng hát Cẩm Vân. Tôi yêu tất cả những người trẻ đã đến với nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và tôi hy vọng, tôi ước ao là các bạn trẻ của tôi giữ được sự chung thủy với nhạc của anh Sơn, để mai kia mốt nọ tôi đi ra khỏi cuộc đời này, vẫn còn có những người hát, hát lên những tình khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chúng ta cùng nhớ lại cái thủa biết yêu lần đầu và có thể chiêm nghiệm được khi tình đã vào lần cuối.

Nguyễn Khanh: Liệu có thể nói rằng từ 1975 đến giờ, đã 33 năm chị xa anh Trịnh Công Sơn, và từ năm 2001 đến giờ đã 7 năm chị mất anh Trịnh Công Sơn. Có đúng như thế không?
Khánh Ly: Thưa anh tôi chẳng bao giờ thấy mất ai cả. Những người thân của tôi từ ông Cụ tôi – Cụ mất trong Lý Bá Sơ ngày tôi còn bé lắm – rồi những người thân của tôi hy sinh trong cuộc chiến, và ngay cả anh Trịnh Công Sơn, tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng đó là những người đã chết, không còn liên quan gì đến cái đời sống này. Không phải. Họ vẫn còn quanh quẩn đâu đây thôi, và họ vẫn ảnh hưởng đến tôi rất nhiều, và tất cả những người đã ra đi đó đều là những người tử tế.

Hình bóng Trịnh Công Sơn
Nguyễn Khanh: Khi chị nói rằng những người đã mất, những người đã xa chị nhưng vẫn quanh quẩn với chị, phải chăng chị muốn bảo rằng chị vẫn gặp anh Trịnh Công Sơn và chị vẫn nói chuyện với anh Trịnh Công Sơn?
Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi biết nói thế nào khi mà nói một cách bình thường là đường đời chia hai ngả thì làm sao mà nói. Nhưng thật tình tôi với anh Trịnh Công Sơn hình như không bao giờ cần phải nói ra lời, ngồi với nhau và trong ánh mắt không thôi, chỉ nhìn là tôi biết anh Sơn muốn cái gì và anh Sơn biết tôi định nói gì, muốn gì.
            Vả lại, tất cả những điều anh Sơn cần phải dặn dò, nhắn nhủ tôi cũng chỉ thu gọn vào trong câu nói đầu tiên và câu nói cuối cùng, tức là “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và “hãy sống tử tế với nhau”.
            Tôi nghĩ rằng đó là tất cả quan niệm sống của anh Sơn. Anh Sơn muốn tôi đi theo và may mắn là trong 40 năm nay, tôi đi theo được đúng cái điều đó. Tôi không hề phụ ai trong đời sống này, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận sự phụ bạc của mọi người đối với tôi, mà tôi không hề buồn gì cả. Tôi cũng để thả đi cho gió cuốn đi thôi. Chẳng có gì quan trọng cả.

Nguyễn Khanh: Và đó cũng chính là Trịnh Công Sơn?
Khánh Ly: Thưa vâng. Anh Sơn đã đi trước tôi thôi. Anh đi không vương vấn gì cả. Anh đi là để che dấu những vết thương, anh che dấu những vết thương của anh, anh không chia sẻ với ai cả như anh viết trong “Hoa Vàng Mấy Ðộ” là “một vết thương thôi riêng cho một người”, tức là anh sẵn sàng nhận cái vết thương đó, đừng làm tổn thương ai cả.
            Mọi người cứ bình an đi, cứ yêu nhau đi, cứ vui đi, cứ hạnh phúc đi, tất cả những khổ đau trong đời sống này anh Sơn gánh chịu hết. Tôi mong mỏi được theo chân của anh Sơn.

Nguyễn Khanh: Lúc anh Sơn còn sống và khi ở Việt Nam, đã biết bao nhiêu lần không chỉ mình tôi mà rất nhiều người được nghe anh Sơn gọi chị “Mai ơi, Mai à”. Thưa chị, có khi nào chị mong được nghe lại tiếng nói đó, lời gọi đó hay không?
Khánh Ly: Thưa anh, chẳng bao giờ có sự xa cách giữa chúng tôi cả. Lúc nào chúng tôi cũng ở bên nhau, thành ra những tiếng gọi đó tôi vẫn nghe, và hình ảnh của anh Sơn hay là chính anh Sơn, tôi vẫn thấy anh đến ngồi cạnh tôi. Không có gì thay đổi cả, chỉ có một điều là… Tôi không thể nói thêm được gì nữa, vì anh Sơn sẽ nói rằng như vậy là tôi quá tham lam.
            Tất cả những gì anh muốn tôi làm, anh đã nói hết rồi. Cho nên giữa chúng tôi chẳng có gì để thắc mắc, để tiếc nuối. Chúng tôi luôn luôn có nhau, có từ ngày xưa và cho đến cuối đời.

Nguyễn Khanh: Ai cũng biết chị là người gần gũi nhất với anh Trịnh Công Sơn. Xin chị một phút nói thật: có khi nào chị giận anh Sơn đến mức chị bảo “anh Sơn ơi, Mai không chơi với anh Sơn nữa”
Khánh Ly: (cười) Dạ không anh. Tôi không bao giờ giận dỗi ngu như thế. Dĩ nhiên là ông Trịnh Công Sơn đâu có cần chơi với tôi, anh thấy không, chỉ có mình cần ông ấy thôi. Không bao giờ chuyện đó xảy ra cả, chưa bao giờ tôi cãi lại anh Sơn một điều gì vì đối với tôi, tất cả những điều anh Sơn nói, anh Sơn làm, đều đúng.

Nguyễn Khanh: Cám ơn chị, chị Mai, chị Khánh Ly. Cám ơn chị rất nhiều.
Khánh Ly: Dạ vâng, cám ơn anh.


NGUYỄN KHANH
Tháng 4/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/KhanhLy_and_a_tribute_to_TrinhCongSon_in_a_conversation_with_RFA-20080401.html